• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Leaderboard


Popular Content

Showing most liked content on 23/08/2017 in all areas

  1. B.- PHẦN DỊCH :- TRUNG LỤC NHÂM THIÊN CƯƠNG CHƯỞNG QUYẾT (Gia Cát Thiên cương mã tiền Lục nhâm thời khóa) -----00O00----- (Đây là một bản dịch thoát ý có từ lâu của tác giả KHẢI HUYỀN TỬ, xuất hiện giữa thế kỷ 20, vì thấy đầy đủ và hay nên tôi đưa lên luôn khỏi dịch. Còn vị nào xem bằng chữ Hán được thì cứ xem nguyên tác tốt hơn)Bản dịch xưa của Khải Huyền Tử tiên sinh *Cung khởi Nguyệt tướng :- Nguyệt tướng chỉ đóng có 7 cung, từ Dậu đến Mão Dậu : Tháng 5 Tuất : Tháng 4,6 Hợi : Tháng 3,7 Tý : Tháng 2,8 Sửu : Tháng 1,9 Dần : Tháng 10,12 Mão : Tháng 11 --Hễ tháng nào Nguyệt tướng ở đâu thì khởi mồng 1 ngay tại đó,( đi thuận) lần lượt từ Tý đến Hợi, cả 12 cung. Khi đi đến ngày ( hiện tại) mình đang bấm độn, thì khởi Tý ngay tại đó. Hễ tính đến giờ hiện tại mình đang bấm độn, thì lùi lại một cung, khởi ngôi Thiên cương 10 vị, để tìm tam thần. Phép Nhâm độn này của người Việt Nam, theo công thức riêng. Trước hết phải học thuộc lòng những công thức dưới đây. *Ca tìm ngôi Nguyệt tướng: Tháng giêng, tháng 9 tìm trâu (Sửu) Tháng 5 gà( Dậu) gáy ta mau quay về Tháng 4, tháng 6 chó lê (Tuất) Tháng 3, tháng 7 lơn chế cám hầm(Hợi) Tháng 2, tháng 8 chuột nằm(Tý) Tháng 10, tháng chạp hùm dầm rừng hoang(Dần) Tháng 11 thì thỏ lạc đàn(Mão) Những ngôi Thiên Tướng phải thường nhớ ghi *Bàn tay tính nhâm độn: Tháng giêng khởi từ cung Sửu, đi nghịch về cung Tý tháng 2, Hợi tháng 3, Tuất tháng 4, Dậu Tháng 5, quay trở lại đi thuận qua cung Tuất tháng 6, Hợi tháng 7, Tý tháng 8, Sửu tháng 9, Dần tháng 10, Mão tháng 11, Dần tháng 12. (quay trở lại đi nghịch) *Thế nào là Nguyệt Tướng: Nguyệt Tướng là vị tướng thần, lâm vào tháng mình hiện đang bấm độn, tính theo dẫy thập thần, bao gồm :- 1- Thiên Cương 2-Thái Ất 3-Thắng Quang 4-Tiểu Cát 5-Truyền Tống 6-Tòng Khôi 7-Hà Khôi 8-Đăng Minh 9-Thần Hậu 10-Đại Cát Dãy Thiên Cương phải học thuộc lòng, có 10 ngôi, gọi là thập thần, 3 ngôi dưới là ngôi thứ 8,9,10 gọi là tam thần . --Thế nào gọi là tam thần lâm tứ tướng: Mỗi khi khởi tính từ Thiên Cương cho đến ngôi thứ 7 là Hà Khôi thì không kể, kế tiếp theo ngôi thứ 8 là Đăng Minh( thần gia Mạnh) đến ngôi thứ 9 là Thần Hậu( thần gia trọng), đến ngôi thứ 10 là đại cát ( thần gia quý). Như vậy là tam thần. --Tứ tướng: Bốn cung tý, ngọ, mão, dậu, tính từ tý đến hợi là 12 cung, hễ ngôi tam thần trúng vào Tý ngọ mão dậu, tưc là ngôi thần đã đến với tướng rồi, quẻ đã thành khỏi phải tính tiếp. *Bốn tướng tính theo âm dương ngũ hành: Tý là dương tướng thuộc thủy Mão là âm tướng thuộc mộc Mão là dương tướng thuộc hỏa Dậu là âm tướng thuộc kim *Ba thần tính theo ngũ hành là Đăng minh thuộc Mộc Thần hậu thuộc hỏa Đại cát thuộc kim *Thế nào là nội ngoại: 4 tướng đóng ở 4 vị trí , không di hoán( xê dịch) nên gọi là nội, ba thần di chuyển khắp 12 cung, để tìm tướng nên gọi là ngoại ( Ngoài tìm đến) *Phép tính mạnh trọng quý: *Ngôi Đăng Minh lâm vào cung tý hay ngọ hay mão hay Dậu là Mạnh Ngôi Thần Hậu lâm vào cung tý hay ngọ hay mão hay dậu là Trọng. Ngôi Đại cát lâm vào cung tý hay cung ngọ hay cung mão hay cung dậu là Quý. NÓI THÊMPhép định ngôi Thiên Cương để phân Mạnh, Trọng , Quý: (tính nhanh) Ngôi Thiên cương gia vào 4 cung: Dần, thân, tỵ, hợi thì là Mạnh( Ngôi Thiên Cương khởi từ Dần thân tỵ hợi thì Ngôi Đăng Minh phải đóng vào 4 cung: tý ngọ mão dậu) Ngôi Thiên cương gia vào 4 cung: Thìn, tuất ,sửu, mùi thì là Trọng( Ngôi Thiên Cương khởi từ Thìn, tuất ,sửu, mùi thì Ngôi Thần Hậu phải đóng vào 4 cung: tý ngọ mão dậu) Ngôi Thiên cương gia vào 4 cung: Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì là Quý ( Ngôi Thiên Cương khởi từ Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì Ngôi Đại Cát phải đóng vào 4 cung: tý ngọ mão dậu) *Phép biến quẻ theo công thức Mạnh, Trọng, Quý: Có 3 người cùng xem vào 1 giờ, nhằm vào giờ Mão, ngày 18 tháng 6. + Tìm Nguyệt Tướng: Khởi tháng 1 từ cung Sửu, nghịch về cung Tý tháng 2, Hợi tháng 3, Tuất tháng 4, Dậu tháng 5, đến Dậu thì quày về Tuất tháng 6. Vậy tuất là Nguyệt Tướng. + Tìm Nhật Thần: Nay Nguyệt Tướng đóng ở cung Tuất, khởi ngày ngay ở cung Tuất, bắt đầu mùng 1 ( Đi thuận), mung 2 ở Hợi, 3 ở Tý,......18 ở Mão vậy Mão là Nhật Thần. +Tìm Thời Thần : Nay Nhật Thần đóng ở cung Mão, khởi tý ở cung Mão (đi thuận), giwof Sửu ở Thìn,...giờ Mão ở cung Ngọ. Vậy Ngọ là thời Thần của của quẻ đang độn. + Tìm tam Thần: Từ cung Ngọ là nơi Thời thần đang đóng, ta lui lại 1 cung tức là cung tỵ, khởi ngôi Thiên Cương tại cung tỵ, đi thuận sang Ngọ là Thái Ất,....Tý là Đăng Minh, như vậy quẻ đã ứng Đăng Minh lâm Tý. Chỉ việc tìm công thức Đăng minh lâm Tý mà đoán quyết tốt xấu, lành dữ. - Người thứ 2: Vần trong giờ đó, xem cho người thứ 2, khỏi cần tính tìm Nguyệt Tướng, Nhật Thần như trên. Theo công thức biến dịch:" Âm tiến tam, dương thoái ngũ" Thế nào là Dương tiến tam? Căn cứ vào quẻ 1, nếu ngôi tam thần lâm vào cung mão hay cung dậu, tức là 2 cung âm, thì tính thuận lên 3 cung nữa . Thí dụ: Ngôi Tam Thần lâm vào cung Mão là âm, tiến lên 3 cung, tiến 1 là thìn, tiến 2 là tỵ, tiến 3 là Ngọ, ngay cung cung Ngọ khởi ngôi Thiên Cương đi thuận , Mùi : Thái ất, Thân : Thắng Quang,...Mão Đại Cát. Đến đây là Đại Cát lâm mão thì quẻ đã thành. - Người thứ 3: Căn cứ vào quẻ thứ 2 lập quẻ thứ 3. Xem ngôi tam thần ở quẻ 2 lâm vào cung âm, thì theo công thức âm tiến tam, tiến lên 3 cung khởi Thiên Cương đi thuận cho đến tam thần lâm vào tứ tướng như trên đã nói. Nếu ngôi Tam thần ở quẻ trước lâm vào cung dương, thì theo công thức dương thoái ngũ, lui lại 5 cung , khởi Thiên cương, đi thuận đến tam thần lâm tứ tướng như trên. *GIẢI THÍCH CÁC QUẺ:- *Công thức: Đăng minh lâm Tý. --Trong thủy là khảm, ngoài mộc là chấn, quẻ chu dịch là Lôi thủy giải, nghĩa là: giải tán, chủ trong sinh khách ngoài: xấu; mùa xuân bình thường, mùa hạ tốt, mùa thu xấu, mùa đông không lợi . --Tượng quẻ: Xuân lôi hành vũ (sấm đầu mùa xuân, làm mưa), ý đoán lo buồn đã tiêu tan, vui mừng đang nảy nở, thai sản sinh con trai, người ra đi và khách chưa đến nhà, mất của người đàn ông lấy ở mặt đông nam, tìm mau sẽ thấy, cầu quan sẽ thành, hôn nhân sẽ xong, bệnh hoạn không chết, lễ cầu 3,4 ngày sẽ khỏi . *Thơ đoán: Hạng Vũ ngày xưa đánh nước Tần Hầm hè chẳng chịu nghĩ thương dân . Một mai trắc trở sông giang Hán Vài trận thua luôn mất hết quân . *Diễn ca: Đăng minh lâm tý nêu đầu Trong thủy ngoài mộc lẽ hầu tương sinh Quẻ Lôi thủy giải chẳng lành Tượng lo hầu hết nay đành hỷ sinh Hán vương Hạng Vũ giao binh Nhờ thày viên tử thủ thành độn cho Toán rằng họ Hạng sẽ thua Quẻ dạy chép để đem hua sử vàng Hành nhân và khách nhỡ nhàng Mưu cầu sự việc sẵn sàng sẽ nên Cầu quan thì được nhắc liền Hôn nhân đẹp lứa bách niên tuổi già Mất của nam tử lấy ra Đông nam tìm gấp của ta thấy liên Bệnh hoạn trầm trọng triền miên Kíp cầu lễ khấn nguyền mau qua. *Công thức: Đăng minh lâm ngọ --Trong hỏa là ly, ngoài mộc là chấn, quẻ chu dịch là lôi hỏa phong, phong nghĩa là: Thịnh và đầy đủ, ngôi khách ở ngoài sinh ngôi chủ ở trong, tốt. Mùa xuân bình hòa, mùa hạ tốt, mùa thu xấu, mùa đông trung bình. --Tượng quẻ: Nhật lệ trung trung thiên cách ( mặt trời sáng đẹp ở giữa trời). --Ý đoán: Đang ở nơi tối tăm được ra ánh sáng, thai sanh; đẻ con trai, người xuất ngoại sẽ về đến nhà, xuất hànhđược bình an, buôn bán được đảm bảo chắc chắn, trôm giặc sẽ xuất hiện, hôn nhân yên lành, kiện cáo hòa hưu, cầu tài có lợi, cầu quan sẽ được, bệnh hoạn không chết, mất của người đàn bà lấy đem về phương nam, tìm ngày còn thấy. *Thơ đoán: Hoàng công thủa trước độn trang chu Lạ lẫm cho nên sự ngại cho Vững chítheo phò vua nước hán Lập nên công lớn được phong to *Diễn ca: Đăng minh lâm ngọ cho minh Trong hỏa ngoại mộc tương sinh quẻ này Quẻ lôi hỏa phong băng này Phong là thịnh đủ cho hay sự tình Trung thiên nhật lệ cát trinh Quẻ rằng nội ngoại tương sinh tốt lành Kỳ thiên quốc báo rành rành Muôn dân vui vẻ tập tành xướng ca Cầu quan tước lộc vinh hoa Cầu tài thì được đề đa tiên tài Hôn nhân tốt đẹp cả hai Thai sản sinh được con trai đề huề Người ra đi chửa có về Bịnh hoạn không chết tê mê lâu ngày Công Thức: Đăng Minh lâm Mão Trong Mộc ngoài Mộc, là Bát Thuần Chấn, quẻ Chu dịch là Chấn vi Lôi, Chấn nghĩa là: Kinh động ( kinh sợ đông đạc ) quẻ này thuộc tháng sau -Tượng quẻ: Kinh động bách lý ( kinh hải động đạc trăm dậm ). -Ý đoán: Có tiếng mà không thấy hình, ngày xưa ông Lý Tĩnh chơi núi Bồn glai nhờ ông Hoàng Thạch Công độn cho, được quẻ nàỵ Bịnh hoạn dẫu nguy nhưng không chết, thai nghén sinh con trai, tranh tụng đắc lý, người ra đi chưa về, hiện đang đi đường bình an, khách không đến chơi, ca6`u tài không có tài, cầu quan lộc bị trở ngại, hẹn người người thất tín, hôn nhân giá thú không nên, xuất hành không nên đi, mọi việc trước khó khăn, ngang trở, sau vất vả mới thành, mất của nên tìm mặt chính Đông, người đàn bà độc thân lấỵ Thơ đóan: 2 đọan gập ghềnh ngóng đợi Xuân, Hoa mai núi Sấu nhớ Đông quân. Đôi bên gặp gỡ bao mừng tủi, Muôn dậu chia ly biết mấy lần. *Diễn ca: Đăng Minh lâm Mão lại bần, Trong ngoài 2 Mộc giao hoan tỷ hòa, Lý suy trong quẻ luận ra, Bát Thuần Chấn quái ấy là hãi kinh. Tượng quẻ có tiếng không hình, Lý Tĩnh thích tình chơi cảnh Bồng lai, Nhờ Hoàng Thạch độn 1 bài, Quẻ đóan nữ hài, trắc trở gian ngoan. Cầu quan thì chưa được quan, Cầu tài chưa có, không hoàn lại không. Hôn nhân chểnh mảng vợ chồng, Hành nhân còn dở chưa xong trở về. Bịnh nguy sinh mệnh chẳng hề, Hôn mê trầm trọng có bề hiểm kinh, Hẹn người thất tính với mình, Khách không tới viếng, ra tình thờ ợ Việc làm lẩn quẩn trông chờ, Trước ngang sau thuận có cơ lại thành. Đường xa xin chớ xuất hành, Khỏi lo trắc trở hãi kinh sau nàỵ Công Thức: Đăng Minh lâm Dậu Trong Kim là Đoài, ngoài Mộc là Chấn, quẻ Chu dịch là: Lôi trạch Quy Muội, Muội nghĩa là: Tối tăm. Trong khắc ngoài: Xấụ Quẻ thuộc tháng 2: Muà Xuân: xấu, Thu và Đông về cuối muà nên tìm ẩn nghỉ ngơi -Tượng quẻ: Phù vân tế nhật cách ( mây kéo khuất mặt trời ) -Ý đóan: Âm, Dương không giao hòạ Thai sản sih con trai, người y hẹn đang đến, mưu cầu sự gì sẽ có tin, mất của người lấy đem về phương Tây, không tìm thấy, cầu quan không thành, quan tụng đắc lý, người đang đi đường tốt lành, vợ chồng cách trở chia ly, hôn nhân trở ngại khó khăn, bước chân ra đi không trở lại, nhà không có khách. *Thơ đoán: Vũ Vương đánh Trụ trừ tàn bạo, Ân Trụ than thân việc tại Trời, Đâu biết lòng dân đang oán ghét, Nên khi lâm bĩ phải thiệt thòị *Diễn ca: Đăng Minh lâm Dậu tương hình, Trong Kim ngoài Mộc ra tình khắc thương. Lôi trạch Quy Muội đã tường, Phù vân tế nhật Âm Dương bất hòạ Trong Kim ngoài Mộc khắc ra, Muội là mạt vận, để ta xem tường. Hẹn người đang đến nữa đường, Mưu toan việc lớn ta thường được tin. Quan tụng đắc lý bình yên, Cầu quan chưa đạt, bạc tiền chưa thông. Hôn nhân xa cách vợ chồng, Dầu lo cho được cũng không lâu bền. Đi đường 2 chữ bình yên, Thất tài không thấy cho nên thiệt thòị Hành nhân sao chẳng phản hồi, Vì chưng cách trở đôi nơi không thành. Bịnh hoạn thân được nguyên lành, Yếu đau mòn mỏi mặt xanh da vàng. Công thức: Thần Hậu lâm Tý Trong Thủy là Khảm, ngoài Hỏa là Ly, quẻ CHu dịch là: Hỏa Thủy Vị Tế.Vi. nghĩa là: chưa, mọi việc chưa thành. Trong khắc ngoài, khí ở ngoài chìm lặng, khí ở trong không có. Mùa Xuân, Hạ bình thường, mùa thu xấu, mùa Đông rất tốt. -Tượng quẻ: Nhập hải cầu châu ( vượt biển kiếm của báu ) -Ý đoán: Trong những sự lo, mong lấy sự vui mừng. Quẻ Vị Tế, Vị nghĩa là: chưạ Tế nghĩa là: cạn, ý nói: nước cạn thấy ngọc châụ trong khi đang lo buồn mong được sự vui vẻ, Tế còn có nghĩa là chở, là dưới sông dưới nước chở bằng thuyền bè. Thai sanh con gái, cầu quan được danh vị, cầu tài hẳn được càng muộn càng hay, mất của người phụ nữ lấy về phương Đông Nam, tìm kịp còn thấy, do những bạn bèlấy trộm, quan tụng hòa hưu, đi đường được bình an, người hẹn mình sắp có tin, mưu sự nhờ may được gặp, đi sông nước gặp phong ba, hành nhân chưa về, bịnh hoạn rất nguy kịch nhưng được qua khỏị Thơ đoán: Đức Khổng vốn là đấng thánh nhân, Khi qua Trần, Sái phải gian truân. Ra đi rủi gặp đôi người nữ, Than bảo lòng người nở bất nhân. Diễn ca: Thần Hậu lâm Tý giờ này, Trong Thủy ngoài Hỏa trong nay khắc ngoàị Quẻ Dịch Vị Tế không sai, Mưu cầu chưa đến vậ thờ chưa thông. Đương cơn lo ngại hãi hùng, Muốn mua qua khỏi cho lòng mừng vuị Tưởng rằng vượt biển xa xôi, Đi tìm của báo giữa đời phong bạ Chớ chi sông nước thuyền bè, Đi ra sợ gặp khắc khe ngại ngùng. Cầu quan vinh hiển đỉnh chung, Cầu tài dẫu muộn ta đừng có lo, Thai sinh con gái trời cho, Có đi đường bộ khỏi lo tai nàn, Mất của phụ nữ lòng gian, Đông Nam đem giấu kíp toan tìm về. Hành nhân ngang trở mọi bề, Bịnh hoạn không chết nhưng mê tâm thần. Quan tụng hòa giải bình phân, Sự việc trước xấu sau lần hanh thông. Công Thức: Thần Hậu lâm Ngọ Trong Hỏa ngoài Hỏa, quẻ Chu Dịch là Bát Thuần Ly, Ly: nghĩa là lệ ( sáng chói ) soi sáng 4 phương. Muà Xuân xấu, mùa Hạ tốt, mùa Thu bịnh hoạn, mùa Đông bất an. -Tượng quẻ: Phi cầm tại võng ( chim đang bay mắc lưới ) đại minh tiến thiên ( sáng soi khắp trời ). -Ý đoán: đang ở rộng vào hẹp, mặt trời đến Ngọ thì sáng khắp 4 phương, thai sinh con gái, cầu tài được lợi nhỏ, cầu quan cách trở đôi điều, mất của người đàn bà có tuổi lấy đem về phương Nam, gấp tìm về Đông Nam còn thấy, sẽ có người đàn bà cho tin, hành nhân còn nhỡ việc chưa về được, quan tụng hòa hưu, sắp có khách đến nhà, bịnh hoạn nên cầu lễ. Thơ đóan: Mãi Thần nghèo khổ thủa hàn nho, Qũy Cốc tiên sinh bấm độn cho, Tế ngộ phong vân người gặp vận, Mai ngày vinh hiển khỏi âu lọ Diễn ca: Thần Hậu lâm Ngọ kể ra, Bát thuần Ly quái tỷ hòa sáng soị Lệ ly độn quẻ hẳn hoi, Phi cầm tại võng chim rơi lưới hôn`g. Mặt trời soi sáng khoảng không, Đang rộng vào hẹp, vẫy vùn gkhó khăn. Đời xưa thầy Chu Mãi Thần, Bần hàn quẫn bách thanh bần hàn nhọ Gặp thầy Qũy Cốc độn cho, Rằng sau ắt được quan to lộc dàỵ Cầu quan, quan chửa đến ngày, Cầu tài dẫu được lấy may ít nhiềụ Hành nhân cách trở mọi điều, Quan tụng thì được hòa hưu êm đềm. Mất của phụ nữ lấy êm, Đông Nam đem dấu kíp tìm cho maụ Bịnh hoạn lễ bái kêu cầu, Thai sainh con gái mai sau vuông tròn. Công thức: Thần Hậu lâm Mão Trong là Mộc ngoài là Hỏa, trong sinh ngoài, quẻ Chu dịch là: Hỏa Lôi Phệ Hạp. Muà Xuân xấu, mùa Hạ tốt, mùa Thu rất xấu, mùa Đông chết. -Tượng quẻ: Nhật trung vi thị ( giữa ban ngày hợp chợ ) thị trung hữu vật ( trong chợ có hàng hóa ). -Ý đóan: Giữa ngày là nữa ngày mới hộp chợ, ý nói: muộn và chậm. Chợ có hàng hóa, ý nói: muốn mua gì cũng được, nghĩa là: cầu gì cũng được, thai sinh con gái, cầu hôn có duyên tiền định, cầu quan được tước lộc, cầu tài sẽ có tài, quan tụng hòa hưu, mất của tìm về mặt Đông Nam còn thấy, sắp có khách đến nhà, xuất hành tốt, bịnh hoạn sẽ khỏi không chết, mưu vọng với người ta được tin dùng. Thơ đóan: Văn Vương thủơ trước mộng phi hùng, Sông Vị về sau gặp Thái công, Gây dựng nhà Chu nền thịnh trị, Cơ đồ bền vững với non sông. Diễn ca: Thần Hậu lâm Mão kể ra, Trong Mộc ngoài Hỏa quẻ là tương sinh, Hỏa lôi Phệ Hạp cho minh, Phi hùng ứng mộng điềm lành hiền nhân. Cầu người ắt hẳn đắc nhân, Cầu tài thì được mọi phần gặp maỵ Cầu quan tước cả lộc dày, Học trò thi cử trúng ngay bảng vàng. Thai sinh con gái rõ ràng , Hôn nhân đôi lứa thiếp chàng duyên ưạ Bịnh hoạn như hạn gặp mưa, Quan tụng mọi việc kiện thưa hoãn hòa, Mất của đã mang đi xa, Đông Nam giấu đậy nữa ta tìm về. Công thức: Thần Hậu lâm Dậu Trong là Kim, Đoài, ngoài là Hỏa, Lỵ Ngoài khắc trong xấụ Quẻ Chu dịch là Hỏa trạch Khuê, Khuê nghĩa là ngang tráị Muà Xuân tốt, mùa Hạ tốt, mùa Thu bình hòa, mùa Đông xâu -Tượng quẻ: Mãnh hổ hảm tình ( hùm thiêng xa hổ ) nhị nữ đồng cư ( 2 gái ở chung 1 nhà ) -Ý đoán: Càng thịnh, càng hay, lại càng phải đề phòng, có khi bi sụp đổ, 2 người cùn g 1 hoàn cảnh, cần phải đề phòng lúc ghen ghét nhau, thai sinh con gái, có người bạn thân đang muốn giở trò tà dâm, hành nhân đi đường tốt, sắp về đến nhà, bịnh hoạn thập tử nhất sinh, cầu tài sẽ được, mất của người đà ông lấy, đem để ở mé Tây Nam, quan tụng hòa giải êm, sĩ tử đi thi cử đậu, cầu quan thì được ngay, nhưng sau không hay, buôn bán có lờị Thơ đóan: Tương Như thủa trước sứ qua Tần, Bao quản gian nan 1 tấm thân, Vẹn tiết vẹn trung đời mấy kẻ, Tôi hiền muôn thủa gặp vua nhân. Diễn ca: Thần Hậu lâm Dậu kể xong, trong Kim ngoài Hỏa, ngoài xung khắc vàọ Khuê thì ngang trái biết bao, Hùm thiêng sa hố làm sao tung hoành. Đôi gái cùng ở không đành, Cầu quan ắt được, sau thành gian nan. Thai sinh con gái hồng nhan, Giao du gặp bạn những toan dâm hòan. Cầu tài tiền của vẹn toàn, Hành nhân nay mới sắp toan ra về. Khoa danh bảng hổ tên đề, Quan tụng vừa được giải huề đôi bên. Đi đường mọi sự bình yên, Ốm đau trầm trọng triền miên đêm ngàỵ Qua cầu may gặp được thầy, Tính trong cung số đến nay vuông tròn. Công thức: Đại Cát lâm Tý Trong Thủy Khảm, ngoài Kim Đoài, trong sinh ngoài tốt. Quẻ Chu dịch: Trạch thủy Khổn, Khổn nghĩa là nguy khốn. -Tượng quẻ: Hà trung vô thủy ( trong sông không có nước ) -Ý đoán: Sông không có nước thì không chở được thuyền, cho nên thuyền mắc nạn. Cầu cạnh mọi việc khó khăn lúc đầu, sau rất tốt, thai sinh con gái, quan tụng đắc lý, mất của người con trai ở phương Bắc đến lấy, rồi mang sang phương Đông Bắc, chủ và khách giao tiếp 1 lòng tin cậy nhau, cầu quan trước bị trở ngại khó khăn, sau được quyền cao chức trọng, hành nhân cách trở không về, hôn nhân giá thú trước ngang quải sau mới thành, cầu tài trước trắc trở, sau có tài, bịnh hoạn đàn ông bị nặng, đàn bà bị nhẹ . Thơ đoán: Quý Bố xưa kia khi hoạn nạn, Tìm thầy Qủy Cốc độn cho haỵ Rằng: nay khốn khó thân lao lý, Thừa tướng mai sau hẳn có ngàỵ Diễn ca: Đại Cát lâm Tý kể xong, Quẻ Trạch thủy Khổn, Thủy trong Kim ngoài, Khổn là nguy khổn không saị Trước thì trắc trở, sau thời thành công. Khi xưa Hán Sở tranh hùng, Hán Vương lâm Khổn, Đinh công dung tình. Đến khi thiên hạ thái bình, Đinh công phải tội, gia hình không thạ Hôn nhân lời trước sai ngoa, Đến sau lại được duyên hòa đẹp đôị Quan tụng đắc lý vẹn 10, Giao tế chủ khách 2 người cậy tin. Cầu tài muộn mới có tiền, Hành nhân ngang trở cho nên lở đường. Mất của trai ở Bắc phương, Đem sang Đông Bắc tỏ tường ta theo, Mưu cầu trước chịu túng nghèo, Thời sau mới được mọi chiều hiển vinh, Thai sản con gái trời sinh, Bịnh trai thì nặng, gái bình phục mau. Công thức: Đại Cát lâm Ngọ Trong Hỏa Ly, ngoài Kim Đoài, trong khắc ngoài thì trong thi.nh. Mùa Xuân xấu, mùa Hạ bình thường, Thu Đông khá. Quẻ Chu dịch Trạch hỏa Cách, Cách là cải cách, thay đổi -Tượng quẻ: Cẩu biến vi hổ ( chó đội lốt hùm ) -Ý Đoán: Cải cựu tòng tân ( thay cũ đổi mới ) thai sinh ra con gái, cầu quan được tước vị, cầu tài ắt được tài, có tin nhà sắp đến, tìm người sẽ gặp, tranh tụng hòa hưu, mất của người thiếu nữ ở phương Tây Bắc lấy, trao cho đồng bọn đem về phương Nam, có khách bạn thân sắp đến chơi, hôn nhân tốt đẹp. Người bịnh nên kêu cầu mau khỏị Thơ đoán: Bàn canh thủa trước lúc gian truân, Lửa nóng nước sôi khốn khổ dân. Qủy Cốc độn cho rằng quẻ tốt, Thái bình thịnh trị chính lệnh tân. Diễn ca: Đại Cát lâm Ngọ quẻ này, Ngoài Kim trong Hỏa khắc nguy quẻ ngoài, Quẻ Trạch hỏa Cách đâu sai, Cách là thay đổi ra 2 sự tình, Công môn hòa hoãn tụng đình, Bạn thân sẽ đến thăm mình sớm hôm. Cầu tài có lợi bán buôn, Tìm người thuận gió xuôi buồm thấy ngaỵ Cầu quan gặp được vận may, Thai sinh con gái mai ngày đảm đang. Mất của thiếu nữ Bắc phương, Lấy giao đồng bọn tìm đường sang Nam. Cầu hôn gieo ngọc ruộng lam, Duyên may Từ Thức tiên phàm kết đôị Bịnh hoạn cầu khấn đất trời, Trong năm ba bửa thì người kiện khang. Công thức: Đại Cát lâm Mão Trong Mộc, Chấn, ngoài Kim, Đoàị Ngoài khắc trong, trong thịnh ngoài đô.ng. Quẻ Chu dịch Trạch lôi Tùỵ Tùy là thuận theo -Tượng quẻ: Thuận thủy thôi xa ( xuôi nước đẩy xe ) -Ý đoán: Thợ giỏi giũa ngọc, kiên gan bền chí, mọi việc sẽ thành, thai sinh con gái, cầu tài thấy ngay, nhưng không được bền lâu, sắp có khách đến nhà chơi, vui mừng chào đón, xuất hành bị ngăn trở vì quan quân, hôn nhân trước ngang trở sau thuận hòa, mất của nên tìm mặt Đông, người ngoài đến lấy, tranh tụng đuối lý nhưng được hòa, bịnh hoạn Mùa Thu mắc bịnh nặng chết, mùa Xuân, Hạ bịnh nhẹ,sống, kíp mau cầu khẩn, bịnh nguy kịch thập tử nhất sinh, cầu quan gặp may, mưu vọng sự vụ gì cũng khó thành. Thơ đoán: Tôn Tẩn đem quân đánh nước Tần, Lời thầy Qủy Cốc độn như thần, Toàn quân thắng trận danh vang vộng, Có phúc trời cho lại có nhân. Diễn ca: Đại Cát lâm Mão độn tìm, Trong Mộc là Chấn, ngoài Kim là Đoàị Thịnh bên trong, động bên ngoài, Trạch lôi Tùy quẻ không sai đâu mà. Tượng rằng thuận thủy thôi xa, Bền lòng vững chí công ta mới thành, Thai sinh con gái tốt lành, Cầu tài dẫu được nhưng đành giảm đị Xuất hành ngăn trở quan ty, Bạn thân tự đến kể chi đón mời, Hôn nhân trước đã đơn sai, Rồi sau đẹp lứa duyên hài uyên uơng. Mất của tìm mặt Đông phương, Lòng tham trộm cắp là phường ngoại nhân. Bịnh hoạn nguy kịch bội phần, Thu bịnh thì khốn, Hạ Xuân thì lành, Cầu quan danh toại công thành, Quan tụng thất lý ta đành hòa hưu . Công thức: Đại Cát lâm Dậu Trong Kim ngoài Kim tỵ hòạ Quẻ Chu dịch là Bát thuần Đoàị Đoài là duyệt ( nghĩa là đẹp lòng ), mùa Xuân, Thu tốt, mùa Hạ, Đông rất xấu -Tượng quẻ: Thiên giáng vũ trạch ( trời xuống mưa nhuần ) -Ý đóan: trời sinh trời dưỡng, hồ hết lại có, hồ vơi lại đầy, thai sinh con gái nhưng chậm sinh, mất của khó tìm, nếu có phụ nữ đến báo tin sẽ thấy, việc mất của do người đàn bà lấy rồi đem về mặt Tây Bắc, cầu quan sự bình thường, trắc trở, tranh tụng không có lời, cầu tài buôn bán không có lời, mình hẹn người không đến, mưu vọng không thành, xuất hành mắc khách lại chơi, bịnh hoạn mê loạn, nguy khốn, qua mùa Thu sẽ khỏị Thơ đoán: Đường Tăng, Hành Giả thủa cầu kinh, Khi đến nữa đường mắc qủy tinh, Trăm đắng ngàn cay đường vạn dậm, Thành công cũng bởi tại lòng mình. Diễn ca: Đại Cát lâm Dậu độn này: Song kim nội ngoại quẻ nay tỷ hòa, Bát thuần Đoài quái không ngoa, Đoài là vui vẻ người ta đẹp lòng, Tượng rằng: rừng, núi, hồ, sông, Cá mong nước cả, cây mong mưa nhuần. Cầu quan chưa được đượm ân, Cầu tài buôn bán có phần lời thêm. Mưu vọng công việc chưa êm, Bịnh hoạn mắc phải nặng đêm nhẹ ngàỵ Phải mau cầu thánh tìm thầy, Cơm ăn thuốc uống nữa may yên lành, Xuất hành khách đến gia đình, Tranh tụng không lợi cho mình về sau, Thai sinh con gái không mau, Hẹn người không đến, việc hầu không xong, Mất của tìm kiếm tốn công, Phụ nữ có mách mới mong tìm về. Thiên Cương Tam Tự quyết Phép này chỉ tìm ngôi Thiên Cương, xem lâm vào cung nào, rồi căn cứ vào chỗ: Thiên Cương gia Mạnh, gia Trọng, gia Qúy, để quyết đoán tốt,xấụ 1) Đào sinh: Độn coi 1 quẻ Đào Sinh, Thiên Cương gia Mạnh biết mình bình an. Trọng thì bán lộ nhị hoàn , Trốn đi không khỏi người còn thấy ta, Qúy thì đã sắp đến nhà, Lùng quanh tìm bắt liệu ta tếch vờị 2) Theo người: Độn coi 1 quẻ theo người, Gặp chăng chẳng gặp biết chơi sự đờị Mạnh thời theo kịp tức thời, Trọng thì ta sẽ gặp nơi giữa đường. Qúy thì lạc lõng đây cương, Không theo kịp hút, biết phương nào tìm. 3) Thấy tin: Độn xem 1 qủe thấy tin, Cho minh hư thực, cho yên nỗi lòng, Mạnh thì nói dối là không, Trọng là sự thực có trong nội tình, Qúy thì tin thực phân minh, Ngày 2 ắt thấy, lòng mình sẽ yên. 4) Tìm thuyền: Độn coi 1 qủe tìm thuyền, Biết chăng chẳng biết cho yên tấm lòng, Mạnh thời còn đậu bên sông, Trọng thì thuyền đã thay vùng đổi nơị Qúy thì buồm thuận gió xuôi, Theo không có kịp ta hồi quê hương. 5) Lạc đường: Độn chơi 1 quẻ lạc đường, Ngã ba ta biết đi phương nao đày, Mạnh thời tay trái đường ngay, Trọng thì đường giưã nẽo này hẳn thông. Qúy thì tay mặt ta dông, Đường theo nẻo dưới mới mong an toàn. 6) Gặp quan: Độn coi 1 quẻ gặp quan, Người lành hay dữ cho an tấm lòng. Mạnh thì là đấng anh hùng, Lòng người khăn khắn lạnh lùng hiềm ta, Trọng thì xử sự ôn hòa, Qúy thì mừng rỡ 1 nhà vui chung. 7) Giặc hung: Độn xem 1 que giặt hung, Có hay không có để cùng liệu đâỵ Mạnh thì giặc đi đã chầy, Trọng thì quân giặc khi nay ở lỳ. Qúy thì giặc đến tức thì, Liệu cơ mà tránh kẻo khi oan đờị 8) Gặp người: Độn xem 1 qủe gặp người, Hiền, ngu, lành, dữ đoán lời phải chăng. Mạnh thì quan, lại, nho, tăng, Trọng thì gian khách cho rằng thường nhân, Qúy thì đạo tặc cơ bần, Hay người quán Sở lầu Tần đong đưạ 9) Thù xưa: Độn xem 1 quẻ thù xưa, Kẻ gây hiềm khích dây dưa oán hờn. Mạnh thì thù oán vẫn còn, Trọng thì ác khẩu nhưng còn hiền tâm, Qúy thì gian giảo thâm trầm, Khăng khăng 1 mực những trăm phiền hà. 10) Bạn ta: Độn chơi thăm viếng bạn ta, Đoán coi cho biết có nhà hay không. Mạnh thì chủ khách hoan phùng, Gượng vui ngoài mặt nhưng lòng chẳng ưạ Trọng thì chào hỏi mời thưa, Rượu trà khoản đải say sưa thân tình. Qúy thì chủ khách xem khinh, Ngoài mặt vồn vã trong hình lãn nhan. 11) Cầu quan: Độn coi 1 qủe cầu quan, Đến người, người sẽ hỏi han thến nàỏ Mạnh thì hẳn gặp quan cao, Song le ngang trở bởi hào vợ con. Trọng thì giáp mặt cao nhân, Ban quyền phong chức hân hoan trong đời, Khảo thí chiếm được khoa khôi, Vũ môn 3 bậc đến nơi hóa rồng. Qúy thì xin chớ có hòng, Treo người tốn của mất công tức mình. 12) An ninh: Độn xem gỉa sự an ninh. Đoán coi sự vật gia đình thê nhị Mạnh thì êm đẹp mọi bề, Trọng thì khánh hỷ đề huềmừng vuị Qúy thì duyên hẩm vận xui, Hại người hại của lửa thui trộm luồn. 13) Bán buôn: Độn coi 1 qủe bán buôn, Đoán ra cho biết kẻ ngoan người tài, Mạnh thì mua 1 bán 2, Buôn may bán đắt tiền lời vạn thiên, Trọng thì bán lẽ bon chen, Bạn hàng lắm chuyện cho nên bực lòng , Qúy thì đi lại về không, Bán buôn khốn khó, đừng mong lợi quyền. 14) Mượn tiền: Độn xem 1 qủe mượn tiền, Vì ta thiếu vốn cho nên tìm ngườị Mạnh thì ta hỏi dứt lời, Người liền cho mượn tin nơi lòng mình. Trọng thì khéo nói mới thành, Của cho mình tạm phải sanh tiền lờị Qúy thì nói chỉ phí lời, Đi không thì lại về rồi lai giaị 15) Thất tài: Độn xem 1 quẻ thất tài, Thấy chăng thì kiếm kẻo hoài công tạ Mạnh thì của mất đi xa, Trọng thì tìm thấy nhưng mà chậm lâu, Quý thì của mất đi đâu, Tự nhiên tin đến ta mau tìm tòi 16) Đi chơi: Độn coi 1 qủe đi chơi, Ta đến nhà người, người có nhà chăng? Mạnh thì ta gặp liền mừng, Trọng thì đi đến lưng chừng gặp nhaụ Qúy thì đi khỏi đã lâu, Dẫu ta có đến, ta âu trở về. 17) Người về: Độn chơi 1 qủe người về, Bao giờ mới trở lại quê nhà mình, Mạnh thì còn chửa hồi trình, Ở đâu vẫn đấy như hình vắng tin. Trọng thì 2 chữ bình yên, Giữa đường đang trở lại miền quê hương. Qúy thì đang mãi dậm trường, Nay mai sẽ đến bằng dường sớm hơn. 18) Đêm hôm: Độn xem 1 qủe đêm hôm, Trọ nhà khách điếm, hàng cơm, lữ hành. Mạnh thì mọi sự thông hanh, Trọng thì chủ khách trở thành tương thân. Qúy thì đạo tặc bất nhân, Đêm hôm gìn giữ ân cần chớ saị 19) Ù tai: Độn xem 1 qủe ù tai, Cát hung cho biết để mai giữ mình. Mạnh thì điềm tốt phân minh, Sẽ có tin đến gia đình chẳng lâụ Trọng thì khách đến khẩn cầu, Qúy thì hoạn nạn ta mau giữ nhà. 20) Quái xà: Độn xem 1 qủe quái xà, Điềm lành hay dữ trong nhà cho minh, Mạnh thì có sự chẳng lành. Trọng thì rắn đói nó rình mồi ăn, Qúy thì nội thuộc tông thân, Bà cô Ông mãnh đã lần đòi khao . 21) Chiêm bao: Độn xem 1 qủe chiêm bao, Điềm lành hay dữ thế nào cho hay, Mạnh thì hung dữ đến ngay, Tai ương hoạn nạn ta nay coi chừng. Trọng thì có sự vui mừng. Qúy thì vô sự xin đừng hãi kinh. 22) Thai sinh: Độn xem 1 qủe thai sinh, Rằng trai hay gái cho minh 1 lờị Mạnh thì thai sản sinh traị Trọng thì thai sản nữ hài cát nhân. Qúy thì sinh đẻ khó khăn, Gặp cơn sản nạn có phần ưu tự 23) Ngục tù: Độn xem 1 qủe ngục tù, Tha hay giam giữ, quan tư thế nàỏ Mạnh thì còn ở lung lao, Trọng thì minh xét giấy vào tha ra, Qúy thì dẫu tốn tiền ta, Nhưng còn giam hãm chưa tha chonàọ 24) Trộm vào: Độn xem 1 qủe trộm vào, Rằng trai hay gái kẻ nào gian tham, Mạnh thì kẻ trộm là nam, Trọng thì bè bạn anh em trong nhà, Qúy thì phụ nữ gian tà, Người trong lấy trộm mang ra êm đềm. 25) Đi tìm: Độn coi 1 qủe đi tìm, Của ta nó lấy rồi đem phương nào, Mạnh, Trọng cùng ứng 1 hào, Phương Dần, phương Tuất ta vào thấy ngaỵ Qúy thì phụ nữ rón tay, Đem đi dấu kín ai hay sự tình, Kíp nên dọ hỏi đón rình, Có cơ còn thấy của mình vẫn nguyên. 26) Đi thuyền: Độn chơi 1 qủe đi thuey^`n, Cát hung lành dữ ta liền đoán chơị Mạnh thì sóng gío tức thời, Trọng thì bão táp nhưng rồi lại yên. Qúy thì sóng gió êm đềm, Trời quang mây tạnh sóng im bốn bề. 27) Tỉnh mê: Độn chơi thức, ngũ, tỉnh, mê, Ta xem cho biết liệu bề tính chơị Mạnh thì người vẫn còn ngồị Trọng thì nằm nghĩ mé ngoài lơ mợ Qúy thì thức ngũ ù mờ, Bốn bề vắng lặng như tờ say sưạ 28) Nắng mưa: Độn coi 1 qủe nắng mưa, Để mình liệu cách che đưa đi đường. Mạnh thì ròng rã mưa trường, Trọng thì nắng ráo bằng nhườn tạnh dâm. Qúy thì mây gío ầm ầm, Rồi trời quang đãng độn cầm không mưạ 29) Tạnh mưa: Độn đêm nay tạnh hay mưa, Đoán ra cho rõ kẻo chưa được tường, Mạnh thì mưa gío khác thường, Trọng thì quang đãng, bốn phương êm đềm. Qúy thì mưa gío suốt đêm, Rạng ngày tạnh ráo lại thêm mát trờị 30) Chiều trời: Độn xem mây gió chiều trời, Cơn mưa, cơn bão hay thời gió mây, Mạnh thì gió cả mây dày, Trọng thì gió lớn, chớp dây, mưa ràọ Qúy thì cơn kéo ào ào, Rồi sau quang đãng trăng sao sáng liền. 31) Tìm tiền: Độn coi 1 quẻ tìm tiền, Cầu tài có được ta liền ra đi, Mạnh thì tài chẳng có chi, Trọng thì tài vượng, hiềm vì đợi lâụ Quý thì tài đến rất mau, Phương Đông tài vượng ta thâu bội phần. 32) Hành nhân: Độn coi biết ý hành nhân, Rằng đi hay chẳng, ta cần đoán mau, Mạnh thì người chẳng đi đâu, Trọng thì bán lộ đã hầu hồi gia, Quý thì ngay thẳng hiền hòa, Không ngầm ẩn ý lọ là phải coị 33) Tìm người: Độn coi 1 qủe tìm người, Gặp chăng chẳng gặp quyết lời cho minh. Mạnh thì vì nổi bất bình, Dẫu tìm chẳng thấy công trình bỏ đị Trọng thì bán lộ hồ nghi, Lòng đang nghĩ ngợi người thì gặp tạ Qúy thì lời nói thực thà, Không tìm thì cũng về nhà chẳng saọ 34) Đổi trao: Độn coi 1 quẻ đổi trao, Đôi bên trao đổi bên nào không cân. Mạnh thì thoả đáng 10 phần, Trọng thì chủ khách cùng cần cả 2, Qúy thì chênh lệch khôn nài, Đôi bên thương lượng chẳng ai chịu nhờị 35) Với người: Độn xem mưu sự với người, Nên chăng ta sẽ quyết lời hồ nghị Mạnh thì mọi sự bỏ đi, Trọng thì mưu vọng có khi đễ thành. Qúy thì tráo trở lanh quanh, Trăm phương ngàn kế nội tình mới an. 36) Cửa quan: Độn xem mắc nạn cửa quan, Mình làm hay phải hàm oan tội tình. Mạnh thì tội vạ bởi mình, Trọng thì bè bạn bất bình gây nên, Qúy thì mình mắc oan khiên, Rồi sau nhờ được ngọn đèn cao minh. 37) Nóng mặt: Độn xem sao nóng mặt mình, Đoán coi chi biết sự tình ngày maị Mạnh thì điềm báo nạn tai, Trọng thì ưu khứ hỷ lai cấp thời, Qúy thì có khách lại chơi, Bỏ khi mong nhớ mấy lời hàn huyên. 38) Nhân duyên: Độn xem 1 quẻ nhân duyên, Châu Trần 2 họ phỉ nguyền được chăng? Mạnh thì ngoài mặt nói năng, Trong lòng thương nhớ khăng khăng chẳng dờị Trọng thì thấy mặt vui chơi, Nguồn ân bể ái đầy vơi sự tình, Qúy thì đen bạc với mình, Có trăng nên đã phụ tình với saọ 39) Người nào: Độn coi ta tiếp người nào, Rằng gìa hay trẻ tài cao hay hèn. Mạnh thì già cả cao niên, Trọng thì với tuổi người trên có tàị Qúy thì phụ nữ không sai, Có khi niên thiếu cả 2 đồng đềụ 40) Ghét yêu: Độn xem người ghét hay yêu, Để ta liệu cách liệu điều thị phi, Mạnh thì người chẳng nể vì, Trọng hay vui vẻ người thì thương tạ Qúy thì nhớ hận xưa qua, Dở yêu dở ghét thì ta liệu liền. 41) Động tâm: Độn xem phần mộ động yên, Hay là Bát sát Hoàng tuyền tử sinh. Mạnh thì sơn thủy hữu tình, Đông con nhiều cháu hiễn vinh sang giàụ Trọng thì lắm sự lo âu, Vì chưng đoạn mạch ngang đầu chân long. Qúy thì thần hợp với vong, Khí dư chỉ phát có trong 1 đờị 42) Phật trời: Độn xem Thần, Thánh, Phật, Trời, Đình, Chuà, Nghè, Miếu, hoặc nơi am chiền. Mạnh thì hiển ứng tư.nhiên, Nơi thờ chính vị dân yên thái hòạ Trọng thì tọa ngự trên tòa, Ngàn năm hương lửa âu ca phụng thờ. Qúy thì đền, miếu tiêu sơ, Đèn hương bỏ phế, nơi thờ âm u 43) Bán mua: Độn xem 1 qủe bán mua, Để ta liệu thế cho vừa hàng buôn. Mạnh thì lỗ hụt luôn luôn, Liệu chiều thu xếp kẻo buồn lòng nhaụ Trọng thì mua chậm bán lâu, Nhà nghề giữ nhịp có đâu lãi nhiều, Qúy thì tốt đẹp mọi điều, Mua may bán đắt lợi nhiều gọn taỵ 44) Dở hay: Độn coi bạn dở bạ n hay, Để biết tính nết ta nay chơi bời, Mạnh thì yêu nết tin người, Cùng nhau trao đổi 1 lời tâm giaọ Trọng thì cách trở xiết bao, Giao tình cách trở làm sao ta bàn. Qúy thì hiểm độc gian ngoan, Lừa thầy phản bạn những toan hại mình. 45) Tử sinh: Độn coi bịnh hoạn tử sinh, Cát hung lành dữ cho minh 1 bàị Mạnh thì bịnh nặng đau hoài, Trọng thì bịnh nhẹ hết vài bữa saụ Qúy thì lề bái kêu cầu, Cơm ăn thuốc uống mới hầu thành công. 46) Qua sông: Độn coi 1 qủe qua sông, Được chăng chẳng được ta dông sang đò, Mạnh thì cách trở hẹn hò, Trọng thì sóng cả gió to khó lòng, Qúy thì đi lại lọt thông, Mưu toan cũng được mặc lòng sang quạ 47) Gần xa: Độn coi người trốn gần xa, Được chăng chẳng được đặng ta kiếm liền. Mạnh thì bản vị y nguyên, Trọng thì xa tránh dậm nghìn còn đâu, Qúy thì lẩn trước luồn sau, Chim trời cá nước biết đâu là nhà. 48) Bán ra: Độn coi 1 quẻ bán ra, Mạnh thì không gặp khách qua mua hàng. Trọng thì gặp ách giữa đàng, Chúng toan gây lộn sẳn sàng đánh nhau, Qúy thì hàng đắt bán mau, Lại may gặp khách ta hầu lo chị 49) Cố tri: Độn coi thăm bạn cố tri, Có nhà hay vắng ta đi thăm cùng. Mạnh thì ngồi nhà thung dung, Trọng thì đi khỏi ta không gặp ngườị Qúy thì kháchh rủ đi chơi, Dẫu đến không gặp ta thời dạo quanh. 50) Xuất hành: Độn coi ta sắp xuất hành, Mạnh thì Đại cát tốt lành gặp may, Trọng thì họa hoạn không hay, Qúy thì thành sự ta nay biết tình. 51) Máy mắt: Độn coi máy mắt thình lình, Mạnh thì tai họa thất kinh bất thần. Trọng thì sẽ gặp người thân, Qúy có mưu vọng người cần gặp tạ 52) Rượu trà: Độn chơi đâu có rượu trà, Mạnh thì không sẳn mình qua ích gì, Trọng thì trà rượu sẳn y, Nếu mà ta đến tức thì ngồi vô Quý thì chủ khách hàm hồ Tiếp đãi lạnh nhạt tựa hồ không thân 53) Vật đồ: Độn chơi tay nắm có đồ, Mạnh thì tay mặt nắm vô có rồi, Trọng tay trái có hẳn hoi, Qúy 2 tay có đoán lời sai đâụ 54) Sắc màu: Độn trong tay nắm sắc màu, Đoán chơi cho rõ nơi đâu màu gì? Mạnh tay mặt màu xanh rì, Cùng màu trăng trắng ta thì mở xem. Trọng trong tay trái màu đen, Cùng màu đo đỏ cũng xen lẫn vào, Qúy thì 2 tay tía đào, Cùng màu vàng thẩm đóan vào đúng ngaỵ 55) Búng quay: Độn chơi trong bát búng quay, Rằng sấp hay ngữa, rằng nay nghiêng thành. Mạnh thì nằm ngữa tênh hênh, Trọng thì nghiêng dựa đứng thành ép biên. Qúy thì úp sấp đồng tiền, Ấy phép phúc đoán ta liền kể ra . 56) Thấp cao: Độn chơi vật thấp hay cao, Mạnh thì vật cất trên cao mấy là, Trọng thì vật thấp tà tà. Quý thì để lững đoán ra cho tường. ( Hết ) *Phần dịch của cụ KHT đến đây là hết, tôi xin bổ sung phần chót như sau :- *CHÚ Ý :- Phép độn nầy kỵ ngày không vong theo bảng sau :- Ngày giờ phạm Không Vong theo tuần nhật: 1.- Tuần giáp tý :-ngày nhâm tuất + quý hợi và giờ tuất hợi 2.- Tuần giáp tuất :- ngày nhâm thân + quý dậu và giờ thân dậu 3.- Tuần giáp thân :- ngày nhâm ngọ + quý mùi và giờ ngọ mùi 4.- Tuần giáp ngọ:- ngày nhâm thìn + quý tỵ và giờ thìn tỵ 5.- Tuần giáp thìn :-ngày nhâm dần +quý mão và giờ dần mão 6.- Tuần giáp dần:- ngày nhâm tý + quý sửu và giờ tý sửu *Có bài thơ rằng :- Thiên cương ca quyết lục nhâm thì Tử tế suy tường chưởng thượng di . Hoạ phúc định tri hung dữ cát , Thất vật cát hung chuẩn vô nghi . Thủ trung phán định sanh hoà tử , Thành bại giai tri hung dữ nguy . Tiên sinh thử số chân kham tiện , Hữu dữ nhân gian cấp báo tri . (khỏi dịch, để quí vị tự nghiệm) Thân ái.
    1 like