• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Leaderboard


Popular Content

Showing most liked content on 14/09/2018 in all areas

  1. NHỮNG NGUYÊN LÝ CĂN BẢN. III. Mối liên hệ Địa chi trong gia đình. A/ SAO MỘC VÀ THẬP NHỊ ĐỊA CHI. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Tính đặc thù của vấn đề nghiên cứu nền văn minh Đông phương - mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành - chính là một vấn đề chưa từng có trong lịch sử văn minh nhân loại. Đó là vì chúng ta phải phục hồi một lý thuyết cổ xưa đã tồn tại trong lịch sử. Chứ không phải chúng ta tổng hợp những nhận thức trực quan về những hiện tượng qua sát được, để trở thành một lý thuyết. Chính vì vậy, chúng ta cần có phương pháp nghiên cứu, không thể theo lối mòn như trong lịch sử hình thành các học thuyết khoa học của nền văn minh hiện nay. Giáo sư Lê Văn Sửu viết - Đại ý: "Nền khoa học hiện nay có những phương tiện cực kỳ tình xảo. Nhưng để khám phá những bí ẩn của nền văn minh Đông phương thì vẫn gặp khó khăn to lớn". Đó chính là do sai lầm về phương pháp nghiên cứu. Trong trường hợp của việc nghiên cứu những bí ẩn của nền văn minh Đông phương, chẳng ai có thể dùng kính hiển vi điện tử để phóng to ký hiệu quái Càn là gì?! Nhưng với suy nghĩ đã trở thành chấp ngã trong quá trình phát triển của cả một nền văn minh và không có ngoại lệ. Nên khi tìm hiểu về nền văn minh Đông phương, những nhà nghiên cứu cũng bắt đầu từ nếp suy nghĩ cố hữu này. Họ cho rằng các ngành Đông Y, Địa lý phong thủy.... chỉ là do "tích lũy kinh nghiệm". Tức là cũng thực chứng, thực nghiệm y như những gì mà nền văn minh hiện nay dùng để tổng hợp đưa lên thành một lý thuyết. Giở những cuốn sách giới thiệu về Địa Lý Phong thủy phương Đông, phần nhiều, các tác giả nhận định rằng: Địa lý phong thủy là do con người bắt đầu từ cuộc sống ở những hang động, rồi họ rút kinh nghiệm tạo nên môn Địa Lý phong thủy. Rồi họ bưng nguyên si nghĩa đen của từ "Phong thủy" và giải thích "Phong là gió. Thủy là nước" - Phong thủy là gió và nước. Việc xác định độ ẩm và tốc độ gió trong căn hộ là một trong những đề tài nghiên cứu của Tiến Sĩ Bùi Văn Chân từ 50 năm trước, tại khi tập thể Chung Tự ở Hanoi. Wow! Lạy Đức Ala toàn năng và cao cả. Vậy "Phoengshui" là rất có "cơ sở khoa học", vì nó cũng bắt đầu từ những thông số cơ bản của ngành Vật Lý kiến trúc. Hơ! Xin lỗi! Gặp các thày bà như vậy, hoặc những cuốn sách mở đầu như vậy, tôi đi chỗ khác chơi. Tóm lại, với những tư duy lối mòn như vậy thì không thể nào khám phá được những gía trị của nền văn minh Đông phương. Đó chính là những sai lầm về phương pháp nghiên cứu. Một trong những yếu tố cản trở lớn nhất trong việc tìm hiểu bản chất của nền văn minh này. Nhưng sự khám phá những bí ẩn huyền vĩ của nền văn minh này, đòi hỏi một tư duy tổng hợp những tri thức mũi nhọn của nhiều ngành khoa học. Từ lịch sử, xã hội và cả những tri thức của toàn bộ các ngành khoa học tự nhiên, kể cả vật lý thiên văn cho tới những khái niệm toán học. Bởi vì Lý học Đông phương bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, con người và xã hội, cũng như toàn bộ lịch sử hình thành vũ trụ. Do đó, khi nghiên cứu về Lý học Đông phương - mà nền tảng là học thuyết Âm Dương Ngũ hành - cần phải đi tìm và xác định tính cấu trúc hợp lý trong mối liên hệ mọi đại lượng, khái niệm có tính hệ thống và nhất quán trong nội hàm của một lý thuyết vô cùng đồ sộ và bao trùm lên mọi lĩnh vực. Do đó, nó cần những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học, làm chuẩn mực để thẩm định tính khoa học trong việc phục hồi một hệ thống lý thuyết. Khó khăn tiếp theo, chính là vấn đề thuộc phương pháp cụ thể. Nếu như để nghiên cứu hiện tượng hoặc cấu trúc vật chất trong nghiên cứu khoa học hiện đại, có thể dùng phương pháp loại suy đơn giản và cô lập hiện tượng, đối tượng nghiên cứu để đi tìm bản chất của vấn đề. Như việc tìm kiến hạt Higg. Nhưng nghiên cứu Lý học thì không. Bởi vì, nó là kết quả của một sự giải thích mang tính lý thuyết. Thí dụ: Một quẻ Dịch tốt như Địa Thiên Thái, xác định chuyên phát triển của một doanh nghiệp. Nhưng đó là sự giải thích của một phương pháp (Tính dự báo) của một hệ thống lý thuyết. Và cho dù sự lặp lại của quẻ này luôn luôn đúng cho mọi hiện tượng dự báo, thì nó vẫn không thể chứng tỏ được bản chất hình thành nên quả Địa Thiên Thái. Do quẻ này là sự tông hợp của mọi hiện tượng. Nói rõ hơn là: Bằng thực nghiệm trên máy LHC, các nhà khoa học có thể xácđịnh "Không có hạt Higg". Nhưng bằng thực nghiệm ứng dụng của quẻ bói, không nói lên điều gì cho bản chất của quẻ đó và nguyên nhân hình thành nên nó. Mà người ta chỉ có thể xác định phương pháp đó có hiệu quả, quẻ bói nghiệm. Bởi vậy, nghiên cứu Lý học Đông phương - để tìm bản chất chân lý khách quan đằng sau các phương pháp ứng dụng và cả một hệ thống lý thuyết đằng sau nó, phải bằng những chuẩn mực giành cho một hệ thống lý thuyết, mà tôi đã trình bày ở trên. Cụ thể, vấn đề được trình bày trong bài viết này là ý nghĩa của thập Thiên can và ảnh hưởng của nó lên cuộc sống con người. Hiện nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng: Thập Thiên can có nguồn gốc văn hóa phương nam. Cụ thể là của Việt tộc. Cụ thể là nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Quang, đã chứng minh rất xuất sắc về cội nguồn của Thập nhị Địa chi thuộc về văn hiến Việt. Phương pháp của ông chủ yếu là tư liệu lịch sử và so sánh đối chiếu biểu tượng 12 con giáp. Nhưng bằng một phương pháp khác, dựa vào tiêu chí khoa học, phát biểu như sau: "Một lý thuyết khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phải ánh một thực tại có thể kiểm chứng được. Do đó, tôi đặt vấn đề: mô hình chu kỳ 12 con giáp xuất phát từ đâu? Trong các bản văn chữ Hán không thấy nói đến thực tại khách quan nào để lập thành mô hình biểu kiến chu kỳ 12 con giáp?! Đây là sự xác định chắc chắn rằng: Nền văn minh Hán không thể là chủ nhân của mô hình biểu kiến 12 con giáp. Vì nó không xác định được nguyên nhân khách quan để lập thành mô hình này. Trong quá trình nghiên cứu Lý học Đông phương, so sánh đối chiếu các kết quả, tôi xác định rằng: Chính chu kỳ của Sao MỘC quay quanh Địa Cầu là chu kỳ của 12 con giáp trong Lý học Đông phương. Khoa Thiên văn học hiện đại đã chứng minh rằng: Chu Kỳ sao Mộc - Thái Tuế thuộc Mộc trong Lý học Đông phương - quay quanh Mặt trời tương đương 11, 8 năm Địa Cầu (Có sách chép 11, 89). Nhưng năm Dương lịch (Lịch Tây) có 365 ngày. Còn Âm lịch (Lịch Ta) chỉ có 355 (Hoặc 356) ngày. Sai số chính xác của 12 năm lịch Ta (Công thêm ba tháng nhuận) - chu kỳ 12 con giáp = với 11.8 lịch Tây là không đáng kể. Sự xác định sao Mộc - Ngôi sao lớn nhất gần Địa cầu sau Mặt trời, và chính là sao Thái Tuế trong Lý học Đông phương - đã xác định tính khoa học theo đúng tiêu chí khoa học của một lý thuyết khoa học và nó cũng xác định tính quy luật khách quan tương tác của sao Mộc/ Thái Tuế lên địa cầu. Chính quy luật tương tác của sao Mộc trong Thái dương hệ là cơ sở của 12 Địa Chi và là chủ đề của bài viết này. Ảnh hưởng của sao Mộc trong 12 năm Địa chi tất nhiên được phân Âm Dương, mỗi chu kỳ Âm Dương là 6 năm, chính là ý nghĩa của Lục Khí trong 12 con giáp được mô tả trong bàng tuần hoàn LẠC THƯ HOA GIÁP mà tôi đã chứng minh. Trên cơ sở này, tôi tiếp tục trình bày về tương tác của Thập nhị Địa chi trong quan hệ gia đình. Xin cảm ơn sự quan tâm, chia sẻ của quý vị va 2anh chị em. B/ TƯƠNG TÁC 12 ĐỊA CHI. Như tôi đã trình bày ở bài trước. Do chu kỳ của sao Mộc/ Thái Tuế trong Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt - là thực tại làm nên mô hình biểu kiến là 12 Địa Chi. Bội số chung nhỏ nhất của 12 Địa Chi phối với 10 Thiên can chính là con số 60 của LẠC THƯ HOA GIÁP - nhân danh nền văn hiên Việt. Và đó chính là tính phân loại vận khí do tương tác của vũ trụ - 10 Thiên can - và tương tác mạnh ở Thái Dương hệ với sao Thái Tuế / Sao Mộc làm thành vẫn khí hàng năm. Các mối liên hệ về Thiên Can và Vận khí tôi đã trình bày. Trong bài này tôi tiếp tục trình bày về tương tác 12 Địa chi. Thưa quý vị và các bạn. Chính vì tình tương tác phức tạp và không thể có một mẫu số chung cho các tương tác này, nên không thể có cặp vợ chồng nào tuyệt đối tốt. Qua đó thấy rằng: Phương pháp Luận tuổi Lạc Việt phản ánh đúng thực trạng cuộc sống, vì tính không thể tuyệt đối ngay trong lý thuyết này..Ngay cả việc bồ sung tuổi những đứa con với xác xuất cao nhất là 60 Nam x 60 Nữ x 60 tuổi con út cũng không thể tuyệt đối. Lý tưởng nhất về mặt lý thuyết là tập hợp các con trong gia đình thành những cách cục tuyệt hảo - các Đại gia hoặc công chức cao cấp thì vào những vận hạn xung khắc tuổi các thành viên thì vẫn có tính thăng trầm của số phận.. Chưa nói đến vấn đề các yếu tố trong tập hợp "Luận tuổi Lạc Việt", cũng chỉ là một trong ba tập hợp khác là Địa Lý phong thủy và số phận. Tuy nhiên phương pháp "luận tuổi Lạc Việt" là phương pháp có xác xuất chính xác cao nhất so với các phương pháp khác và dễ dự báo nhất. BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH hi xem tuổi hợp khắc, nếu hai tuổi khắc nhau vẫn có thể ăn ở với nhau được nếu như CUNG và MỆNH hoà hợp nhau. * Tuổi Tam hợp: Thân Tý Thìn, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi, Tỵ Dậu Sửu * TuổiI Nhị hợp: Tý Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tỵ Thân, Ngọ Mùi. * Tuổi Tứ hành xung: Tý Ngọ, Sửu Mùi; Dần Thân, Mão Dậu, Thìn Tuất, Tỵ Hợi. * Tuổi Lục Hại: Tý hại Mùi, Sửu hại Ngọ, Dần hại Tỵ, Mão hại Thìn, Thân hại Hợi, Dần hại Tuất. Như tôi đã trình bày ở bài trước.
    1 like
  2. LUẬN TUỔI LẠC VIỆT. Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Nguyễn Vũ Diệu) NHẬP ĐỀ. Cho đến tận ngày hôm nay, khi tiếp các thân chủ đang trong tuổi yêu đương, dựng vợ gả chồng của các bạn trẻ. Tôi thấy những bậc phụ huynh vẫn cố chấp và đôi lứa trẻ vẫn đau lòng về việc bị cha mẹ cấm cản, vì một nguyên nhân lãng nhách, là nghe lời các thày bà nửa mùa, dốt nát. Họ căn cứ vào những kiến thức di sản đã thất truyền và sai lệch từ các bản văn cổ chữ Hán, để cho rằng có những đôi lừa không thể lấy nhau vì không hợp tuổi. Hậu quả của những sự thất truyền và sai lầm này, đã gây ra những kết cục bi thương cho họ. Thậm chí có những đôi lứa tự tử để quyết sống bên nhau, vì lời phán của các loại thày, bà dốt nát. Bởi vậy, hôm nay, tôi quyết định viết lại rõ ràng về phương pháp "LUẬN TUỔI LẠC VIỆT", mà tôi đã dày công nghiên cứu và đã công khai công bố trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn, từ hàng chục năm trước. Có thể nói: Công trình nghiên cứu này đã phổ biến trong tất cả các cao thủ Địa Lý Lạc Việt và các nhà Lý học thiện tâm ứng dụng. Nhưng nó chưa thật sự phổ biến rộng khắp, như một giáo trình Lý học ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành - với tư cách là một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ. Ngày nay, nhờ mạng xã hội và cảm ơn hệ thống Facebook, tôi - Lão Gàn Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh - viết và công bố lại ở đây công trình nghiên cứu về mối quan hệ gia đình trong luận tuổi Lạc Việt với sự bổ sung hoàn hảo nhất,về phương pháp này - nhân danh những gía trị đích thực của Lý Học Đông phương thuộc về nền văn hiến Việt. Tôi viết lại bài viết này với một hy vọng rằng: Sẽ giúp cho đôi lứa yêu nhau thực sự, đủ tự tin để đến với nhau và xây dựng hạnh phúc bên nhau trọn đời với "Luận tuổi Lạc Việt". Tôi cũng hy vọng rằng: "Luận tuổi Lạc Việt" sẽ giúp cho các bậc phụ huynh sẽ hiểu rõ hơn bản chất đích thực của nền văn hiến Việt, thực sự nhân bản với tình yêu con người, hoàn toàn phù hợp với những quy luật tự nhiên trong vấn đề phát triển cuộc sống và xã hội. Từ đó họ sẽ ứng dụng hệ thống tri thức này, hướng dẫn con cái đi tìm hạnh phúc đích thực. Xin cảm ơn vì đã quan tâm, chia sẻ. Còn tiếp. Ngày Tam Nương sát 18. 6. Mậu Tuất Việt lịch. Nhằm ngày 30. 7. 2018. Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh. BẮT ĐẦU TỪ HÌNH TƯỢNG THẦN TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN TRONG NHỮNG NỀN VĂN MINH CỔ. Có lẽ tất cả mọi người trên thế giới này, đều biết đến một hình ảnh phổ biến của thần Tình Yêu, có xuất xứ từ nền văn minh Hy - La. Đó là một chú bé rất xinh xắn, trên lưng có đôi cánh và bộ cung tên bằng vàng. Chú bé cười như nắc nẻ, mỗi khi bắn một mũi tên xuống trần gian và bao giờ nó cũng xuyên qua hai trái tim, một nam, một nữ. Thế là họ phải lấy nhau, như một định mệnh đã an bài. Đó là thần Eros hay Cupid trong thần thoại Hi – La, là xuất xứ ban đầu của nền văn minh phương Tây. Thần Cupid có lúc hiện thân là một thanh niên thân hình tráng kiện với những đường nét chuẩn của tỷ lệ vàng, mà chúng ta thấy ở tượng David của Michelangelo. Vị thần này ngồi trên xe có đôi Thiên Nga trắng kéo. Còn Thần Eros hiện đại và văn minh hơn, lắp ngay đôi cánh Thiên Nga trên lưng mình và hỗ trợ sự di chuyển bằng bánh xe lửa có cánh. "Chúa không chơi trò xúc xắc". Đấy là câu nói nổi tiếng của Anbert Einstein. Nhưng vị thần Tình Yêu trong thần thoại Hy La này có vẻ như chơi trò xúc sắc, khi hứng thú bắn những mũi tên tình yêu của mình. Trong nền văn minh cổ đại của Ấn Độ, thì vị thần Tình Yêu có vẻ chững trạc hơn. Thần hiện thân là một chàng trai tuấn tú, thân hình chuẩn sáu múi do tập thể dục thể hình thường xuyên, chứ không phải là một đứa trẻ hồn nhiên, vô tư với tâm hồn trong trắng, thánh thiên. Ngài cũng có bộ cung tên như hai vị thần tình yêu của Hy La. Nhưng có điều ngài lại ngồi trên xe, do một chú vẹt lắm chuyện kéo xe. Một hiện tượng đáng chú ý là: Thần Tình yêu Ấn Độ, dám chống lại cả Brahma, Shiva, là những vị thần tối cao của Ấn Độ. Nhưng thần tình yêu của Hy La lại là kết quả của tình yêu giữa thần Jupiter lắm vợ với nữ thần Venus. Giống như thần thoại Hy Lạp, thần Tinh yêu Ấn Độ cũng dùng mũi tên của mình để kết nối lứa đôi như thần Tình yêu Hy La. Nhưng có lẽ vị thần Tình yêu của xứ sở cary này, khác hẳn hai vị thần Hy La nói trên, bởi chính danh xưng của vị thần này. Ngài có tên là Kama. Tên của vị thần có từ thời rất cổ xưa này, phát âm gần giống với từ "karma", tức là "Nghiệp chướng" trong triết học Ấn Độ cổ và trong Phật giáo. Đây là một điểm khác biệt hẳn, so với sự vô tư và hồn nhiên, khi kết hợp hôn nhân đôi lứa qua hình tượng đứa trẻ trong thần thoại Hy La với thần thoại Ân Độ. Tên thần Tình Yêu Ấn Độ, đã mang bóng dánh của một định mệnh được an bài. Mà trong đó, tình yêu và hôn nhân thực sự là hậu quả của "nghiệp chướng" karma, ẩn chứa đằng sau sự vô tư khi ban phát tình yêu của thần Kama. "Duyên tình hay nghiệp oan khiên? Mà sao mãi mãi trăng đêm nhắc sầu?! Trăng non bến giang đầu vừa hé. Nghe gió than khe khẽ bên bờ..." Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh phải thốt lên như vậy! Thưa quý vị và các bạn! Trải dài từ nền văn minh cổ Hy La, cho đến Ấn Độ, chúng ta thấy có sự chuyển biến từ một tình yêu hồn nhiên, vô tư và mang tính nguyên sơ của thần thoại Hy Lạp, La Mã, đến dấu ấn của một kết quả có tính nhân quả - nghiệp chướng - trong thần thoại Ấn Độ. Có vẻ như điều này đã dần sáng tỏ danh ngôn của ngài Albert Einstein: "Chúa không chơi trò xúc sắc". Và điều này được khẳng định trong văn minh Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt. THẦN HÔN NHÂN TRONG NỀN VĂN HIẾN VIỆT. Mạch hôn nhân của Hy La vượt qua Ấn Độ, khi đến phương Đông với nền văn minh thứ V cổ xưa ở miền Nam sông Dương Tử - thì tính chất đã khác hẳn. Ở nền văn minh Đông phương, không có thần Tình Yêu. Mà chỉ có vị thần hôn nhân là Nguyệt Lão. Sự tích về Nguyệt Lão được cho rằng có xuất xứ từ thời nhà Đường. Truyện này được mô tả hay nhất trong cuốn "Điển Cố" của Phan Thế Roanh. Sự tích này có nhiều dị bản. Nhưng có thể tóm tắt về hình tượng Nguyệt Lão như sau: Đó là một ông già thường ngồi dưới bóng trăng. Bên canh có chiếc túi chứa đầy những sợi "chỉ hồng" ("Xích thằng"), trên tay ông luôn cầm cuốn sách, trong đó ghi danh tất cả những đôi lứa nam, nữ ở trần gian sẽ phải lấy nhau. Sau khi cân nhắc cẩn thân, Nguyệt Lão lấy sợi chỉ hồng buộc hai người lại với nhau. Và thế là định mệnh đã an bài. Dù cuộc thế bãi bể nương dâu, họ cũng phải đến với nhau và thành vợ, thành chồng. "Dù khi lá thắm, chỉ hồng, Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha. Kiều - Nguyễn Du. Như vậy, trong tiềm thức của nền văn minh cổ Đông phương, không có thần Tình Yêu, không có tỉnh yêu cảm tính, hồn nhiên, như nhiên, vô tư như trẻ nhỏ. Mà đó là sự cân nhắc chín chắn của bậc trưởng thượng, tính toán chi ly mọi yếu tố với sự ghi chép có tư liệu cẩn thận, rồi mới quyết định sự ràng buộc của Định mệnh, bằng sợi chỉ hồng. Theo những truyền thuyết về vị thần Hôn nhân trong văn minh cổ Đông phương, xác định một định mệnh đã an bài và không thể cưỡng lại. Cho dù, nó nằm ngoài ý muốn của con người và cố tình chống lại nó. Rõ ràng ở nền văn minh Đông phương "Chúa không chơi trò xúc sắc". Về nguồn gốc của thần Hôn nhân - Nguyệt Lão - Có vẻ như nó thuộc về văn minh Hán với sự tích phổ biến rộng rãi với nhân vật Vi Cố đời nhà Đường (618-907). Những loại Nho sĩ thuộc hạng "Tầm chương, trích cú"; "Soi từng câu, dò từng chữ", ra rả như ve rằng: Nó có nguồn gốc văn hóa Hớn. Và rằng nền văn hóa Việt chịu ảnh hướng văn hóa Hớn. Thực ra đó chỉ là loại tầm nhìn xa dưới 10km. Dấu ấn của nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử, từ hàng nghìn năm trước - nền văn minh cổ đại thứ V trong lịch sử văn minh nhân loại - chính là sợi chỉ đỏ huyền vĩ buộc định mệnh của những cặp vợ chồng trên thế gian. "Xích thằng" - chỉ Hồng - đó là phát âm nguồn gốc từ LẠC HỒNG mà ra. Từ LẠC trong ngôn ngữ Việt, tiếng Nam Bộ, còn có thể viết và đọc là "LẠT" - sơi dây ràng buộc mọi sự việc, sự vật của thế nhân. Và đấy không phải là bằng chứng duy nhất. Tôi đã chứng minh trên dd lyhocdongphuong và trong các sách đã xuất bản. Đặc biệt tronng cuốn sách: "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt" (Nxb TH T/p HCM 2006), và "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" (Nxb Tri thức 2014), về ý nghĩa của cặp "Bánh chưng, bánh dầy". Trong đó, bên ngoài chiếc bánh chưng chuẩn Lạc Việt, mà tổ tiên để lại, phải buộc theo hình "Cửu Cưng Hà Đồ" với bốn sợi "LẠT HỒNG", Tức "LẠC HỒNG" và chính là "Xích thằng" - sợi chỉ đỏ huyền vĩ biểu tượng của dòng dõi Lạc Hồng một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử (Xin xem hình minh họa kèm theo). Một trời huyền thoại Việt, cũng đã làm rung động con tim của một thiên tài kiệt xuất trong thi ca còn ghi dấu ấn đến đời sau, chính là Lý Bạch - một danh nhân thi sĩ đời Đường với bài thơ nổi tiếng: "Mộng Du Thiên Mụ ngâm lưu biệt". Trong đó ông đã mô tả một nền văn hiến giàu chất thần thoại của Việt tộc. Thiên Sứ đã dịch thơ như sau: MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT Cảm tác thơ Lý Bạch Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh Khách hải hồ kể mãi xứ Doanh Châu. Cõi huyền thoại nơi chân trời giáp biển. Chuyện thần tiên văn hiến Việt ngàn xưa. Nơi ấy. Lồng lộng trên cao Thiên Mụ chắn ngang trời. Giữa huyền không bời bời. Ngũ nhạc còn bé, Xích thành nhỏ nhoi. Núi Thiên Thai hùng vĩ xuyên mây. Trước Thiên Mụ cũng ngả nghiêng chao đảo. Ta ôm mộng sống trong huyền thoại Việt. Mơ vượt sóng trào hồ Động Đình đất Kính. Xuyên Ngô Việt trong trăng thanh lung linh. Về Diễm Khê thanh bình. Theo bóng trăng đến lều tranh Tạ Linh Vân. Nơi nước biếc soi áng mây thơ thẩn. Hạc kêu, vượn hót Gió giục mây vần. Mượn hài thần Tạ công, ta nhẹ bước thanh vân. Lưng chừng núi chợt thấy mặt trời lồng lộng. Mão Nhật kê tinh gáy gọi hừng Đông Đường đi mênh mông. Mây buông ráng hồng. Chợt trời sập tối. Sầm sập mây trôi. Nghe Kỳ lân gào thét. Tiếng Rồng gầm vang khe. Gió giật chớp loè. Núi tan, non lở. Chợt vỡ toang cửa trời rộng mở. Thăm thẳm huyền vi. Chói loà trời trăng soi lầu vàng, gác bạc. Thiên thần lừng lững bay. Giáp trụ hiên ngang, lấp lánh bẩy sắc cầu vồng. Cưỡi thần mã phi nhanh như gió. Cõi trời huyền thoại Việt. Toàn người đẹp nghiêng thành. Ảo huyền như trăng thanh. Dáng tiên thanh tú . Đông như cỏ manh. Nghe hổ chơi đàn. Hồn Bá Nha chứa chan. Chợt nhìn phượng múa. Vũ khúc Nghê Thường mê man… Giật mình tỉnh giấc mơ vàng. Mang mang như khói hương tàn trôi đi. Ngàn thu qua có nhắc gì? Mơ xưa xứ Việt ngang mi dâng sầu. Đất trời nhắc cuộc bể dâu. Nào mơ danh tướng công hầu mà chi. Thiên Sứ MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT Thơ Lý Bạch Bản dịch âm của Khương Hữu Dụng. Hải khách đàm Doanh Châu, Yên đào vi mang tín nan cầu Việt nhân ngữ Thiên Mụ, Vân hà minh diệt hoặc khả đổ. Thiên Mụ liên thiên hướng thiên hoành, Thế bạt Ngũ Nhạc, yểm Xích Thành. Thiên Thai tứ vạn bát thiên trượng, Đối thử dục đảo đông nam khuynh. Ngã dục nhân chi mộng Ngô Việt, Nhất dạ phi đô kính hồ nguyệt. Hồ nguyệt chiếu ngã ảnh, Tống ngã chí Diễm Khê. Tạ công túc xứ kim thượng tại, Lục thuỷ đãng dạng thanh viên đề. Cước trước Tạ công lý Thân đăng thanh vân thê. Bán bích kiến hải nhật Không trung văn thiên kê Thiên nham vạn hác lộ bất định, Mê hoa ỷ thạch hốt dĩ mính, Hùng bào long ngâm âm nham tuyền. Lật thâm lâm hề kinh tằng điên. Vân thanh thanh hề dục vũ, Thuỷ đạm đạm hề sinh yên. Liệt khuyết tích lịch, Khâu loan băng tồi. Động thiên thạch phi, Hoanh nhiên trung khai. Thanh minh hạo đãng bất kiến để, Nhật nguyệt chiếu diệu kim ngân đài. Nghê vi y hề phong vi mã, Vân chi quân hề, phân phân nhi lai hạ. Hổ cổ sắt hề loan hồi xa, Tiên chi nhân hề liệt như ma. Hốt hồn quý dĩ phách động, Hoảng kinh khởi nhi trường ta. Duy giác thì chi chẩm tịch, Thất hướng lai chi yên hà. Thế gian hành lạc diệc như thử. Cổ lai vạn sự đông lưu thuỷ, Biệt quân khứ hề hà thì hoàn ? Thả phóng bạch lộc thanh nhai gian. Tu hành tức kỵ phỏng danh sơn. An năng tồi mi chiết yêu sự quyền quý, Sử ngã bất đắc khai tâm nhan! Thưa quý vị và các bạn. Trong nền văn hóa truyền thống Việt còn ghi dấu ấn của "Ông Tơ, bà Nguyệt". Quý vị và các bạn có thể thấy ngay trong hai bức tranh dân gian làng Đông Hồ minh họa dưới đây, một bức miêu tả "Ông Tơ" và một bức miêu tả "Bà Nguyệt". Vậy bà Nguyệt ở đâu ra, khi nếu được coi là "gốc Hớn" với Nguyệt Lão? Nếu thật sự có "nguồn gốc Hớn" thì người Việt "phịa" thêm hình tượng "Bà Nguyệt" vào làm gì? Nhưng nếu xét theo Lý Âm Dương thì hình tượng Bà Nguyệt hoàn toàn hợp lý và mới chính là gốc của mọi vấn đề. Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành và sự ứng dụng trong tất cả mọi lĩnh vực, thì luôn tôn trọng quy luật "Cân bằng Âm Dương". "Cô Âm", hoặc "cô Dương" đều coi như sai cách cục. Nhưng trong truyền thuyết về Nguyệt Lão của văn hóa Hớn, thì chỉ có minh "Nguyệt lão" cô Dương trong hình tượng. Đây không phải là cách thiết kế một nội dung câu chuyện huyền thoại có tính minnh triết của nền văn minh Đông phương - nếu là chủ nhân thực sự của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chẳng bao giờ có hạnh phúc lứa đôi, nếu chỉ có một đàn ông, hoặc một đàn bà trong gia đỉnh cả. Nhưng nền văn hiến Việt với thần thoại về "Ông Tơ, bà Nguyệt" lại đủ Âm Dương. Ánh trăng soi sáng cho ông lão ngồi dưới trăng, được tách hẳn thành một nữ thần phụ trách hôn nhân trong văn hóa Việt và thành "Bà Nguyệt". Bà Nguyệt - Âm - mới thật sự chủ đạo trong quyết định hôn nhân và hạnh phúc lừa đôi nam, nữ - vốn thuộc sinh hoạt bản năng - Âm tính của con người. Ông Tơ - Dương - chỉ là người thực hiện cụ thể với sợi "lạt hồng" - "Xích thằng" - để ràng buộc lứa đôi. Đấy chính là nguyên lý "Trong Âm, có Dương" và ngược lại. Trong tổng thể Âm của sinh hoạt bản năng nam nữ thì Bà Nguyệt là Âm, nhưng mang tính chủ đạo và trở thành Dương trước (Trong Âm có Dương); Ông Tơ là tuy hình tượng là Dương, nhưng lại có sau nên là Âm sau (Trong Dương có Âm) và là người thực hiện buộc sơi tơ hồng, nên gọi là "Ông Tơ". Bởi vậy, với những phân tích trện, thì chính nền văn hiến Việt là nguồn gốc đích thực của những giá trị văn minh phương Đông. Hình ảnh "Ông Tơ, Bà Nguyệt", mô tả một định mệnh đã an bài trong hôn nhân. "Thượng Đế không chơi trò xúc sắc". Albert Einstein. Còn tiếp.
    1 like
  3. NHỮNG NGUYÊN LÝ CĂN BẢN. Thưa quý vị và các bạn. Trong phương pháp "Luận tuổi Lạc Việt", xác định rất rõ rằng: Tình yêu và hôn nhân Nam Nữ là phần tử nằm trong một tập hợp của quy luật bao trùm của vũ trụ trong tương tác Âm Dương. Cho nên, mọi sự ngăn cản đều trái quy luật được mô tả trong cặp phạm trù Âm Dương này. Đó là nguyên nhân gây nên sự bế tắc và ẩn ức của tình yêu và hôn nhân. Lý học Việt giải thích trên cơ sở lý thuyết rằng: "Do Âm Dương bất tương, sự vật, sự việc không phát triển được". Để giải quyết vấn đề này - nhân danh nền văn hiến Việt - dùng ngay hệ thống lý luận của thuyết ADNH, phục hồi từ những gía văn hóa truyền thống Việt, một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính quy luật và khả năng tiên tri, một cách thỏa đáng bằng chính phương pháp luận của nó. Chứ không đưa một lý thuyết ngoại lai để thuyết phục, như "Tự do yêu đương", "quyền tự quyết định của người trưởng thành"...vv.... Trong phương pháp "Luận tuổi Lạc Việt", vấn đề Thiên Can rất quan trong. Nguyên nghĩa từ "Thiên - Can" cho thấy: Thiên thuộc Dương, so với Địa chi thuộc Âm. "Can" nghĩa là "căn gốc". Theo Nguyên Lý "Âm thuận tùng Dương" thì Thiên Can đóng vai trò quyết định. Do đó, cần xét vai trò của Thiên can trước. Cho nên vấn đề đầu tiên được trình bày trong bài này, là: I. Tương tác của Thiên Can trong quan hệ gia đình. 1/ Trong quan hệ gia đình, người chồng, cha thuộc Dương. Thiên Can thuộc Dương. Nên Thiên Can đóng một vai trò quan trọng liên quan chủ yếu từ người chồng, đến các thành viên trong gia đình và tương tác mạnh với các con trai. Trong nguyên lý quan hệ Âm Dương thì "Dương sinh Âm" là thuận lý. Nên về Thiên Can thì Ngũ hành Thiên Can của chồng phải dưỡng - sinh - Thiên Can của vợ là tốt nhất. Nguyên lý Ngũ hành tương sinh của Thiên Can, là: 1.Giáp, 2 Ất / Mộc - sinh 3. Bính, 4 Đinh/ Hỏa - Sính 5. Mậu, 6 Kỷ/ Thổ - sinh 7.Canh, 8 Tân/ Kim - Sinh 9 Nhâm. 10 Quý/ Thủy...chu kỳ lặp lại 9 Nhâm, 10 Quý/ Thủy sinh 1. Giáp, 2 Ất / Mộc.... Trong đó Thiên Can Dương (Số lẻ) sinh Dương là thuận lý. Thí dụ: Giáp 1 sinh Bính 3, hoặc Canh 7 sinh Nhâm 9...Hoặc Thiên Can Âm (Số chẵn) sinh Âm là thuận lý. Thí dụ Tân 8 sinh Quý 10.... Một lần nữa quý vị và anh chị em cũng thấy rất rõ nguyên lý "Dương trước, Âm sau", hoàn toàn được mô tả một cách nhất quán từ khởi nguyên của vũ trụ (Thái cực sinh Lưỡng Nghi), cho đến mọi ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Bởi vậy, quý vị mới thông cảm, vì sao tôi delete ngay những kẻ tinh thần thiểu năng, khăng khăng "Âm trước, Dương sau". Thiên Sứ tôi không có thời gian thuyết phục những con bò. 2/ Tương tác trong Hậu Thiên của Thiên Can. Cổ thư viết: Giáp hợp Kỷ, Phá Ất xung Canh. Bình hợp Tân phá Nhâm, khắc Đinh. Mậu hợp Quý phá Giáp khắc Kỷ.... Rõ ràng, với nguyên lý này có vẻ như mâu thuẫn, khi Giáp Dương Mộc lại hợp Kỷ Âm Thổ, Trong khi Mộc lại khắc Thổ...? Không có một bản văn chữ Hán nào mô tả điều này trước cuốn "Tìm về cội nguồn kinh Dịch" (2001) và "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt" (2006) ra đời. Chưa hết, trong cổ thư lưu truyền từ thời Tống, cũng mô tả một bài khẩu quyết như sau, về sự tương hợp của các độ số: "Nhất lục cộng tông. Nhị thất đồng đạo. Tam bát vi bằng. Tứ cửu vi hữu Ngũ Thập cư trung". Một lần nữa, bài khẩu quyết này lại được thể hiện trên Hà Đồ. Đây là đồ hình mà Thiên Sứ tôi đã xác định - nhân danh nền văn hiến Việt - chính là "Nguyên lý căn để" của toàn bộ phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Cổ thư chữ Hán dùng Lạc Thư, trong tất cả mọi phương pháp ứng dụng. Qua đó. một lần nữa, quý vị cũng thấy rõ rằng: Tính nhất quán, tính hệ thống, tính hoàn chỉnh, tính quy luật và khách quan với khả năng tiên tri ...là những tiêu chí để thẩm định một hệ thống lý thuyết, hoàn toàn phù hợp với nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ". ["Anh chị em ĐỊA LÝ LẠC VIỆT thân mến. Anh chị em cần phải nhớ, rất nhớ điều này: Chúng ta đang phục hồi một hệ thống lý thuyết - đó là sự tổng hợp của tư duy trừu tượng, trong lịch sử phát triển của cả một nền văn minh. Cho nên, chúng ta cần sự thẩm định tính hợp lý lý thuyết trong cấu trúc nội hàm của toàn bộ hệ thống lý thuyết đó, được thẩm định bằng tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Chứ không phải đi tìm "Vật chất tối" và "Hạt của Chúa". Và khi chúng ta hoàn chỉnh được hệ thống lý thuyết này - Lý thuyết thống nhất - thì chúng ta sẽ biết tất cả những bí ẩn của vũ trụ. Nếu như, "một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại" (Vanga) thì vấn đề sống còn của cả nền văn minh trong tương lai, cần phải khắc cốt ghi tâm rằng: Phải tôn trọng những điều thiêng liêng. Cảm ơn anh chị em quan tâm"]. Quay trở lại với nội dung bài viết. Quý vị và các bạn lấy số thứ tự của Thập Thiên can và đặt đúng vào thứ tự trên Hà Đồ thì chúng hoàn toàn trùng khớp. (Xin xem hình 1). 3/ Mối liên hệ Thập Thiên can trong gia đình: Lần lượt từ tốt đến xấu theo thứ tự sau đây: 3.1/ Thiên can Chồng sinh vợ và sinh con cái - Dương sinh Âm (Chồng, cha, mẹ sinh vợ, con) - là tốt nhất. Thí dụ: Chồng Giáp (Mộc) Tý, vợ Bính (Hỏa) Dần, con Kỷ (Thổ) Sửu. 3.2/ Vợ chồng con cái bình hòa, hoặc thuận Âm Dương là tốt nhì. Thí dụ: Chồng Giáp (Mộc) Tý (Dương), vợ Kỷ (Thổ) Dậu (Âm) - Giáp hợp Kỷ, trong "Nhất lục công tông".... Hoặc chồng Bính (Dương), Vợ Đinh (Âm). Hoặc cùng tuổi và sinh con thuận lý. Thí dụ: Vợ chồng cùng Giáp Tý (1984) sinh con năm Kỷ Sửu 2009. 3.3/ Thiên Can tương sinh ngược. Âm Dương nghịch lý. Đó là trường hợp con cái, vợ sinh cho cha, mẹ hoặc chồng. Thí dụ: Con Nhâm Dần, sinh Bố Giáp Tý, Mẹ Ất Sửu. 3.4/ Thiên Can khắc ngược Vợ con khắc chồng và cha mẹ. Thí dụ Vợ Quí Hợi khắc chồng Đinh Dậu. Trong trường hợp này cần có đứa con Mậu Tuất hóa giải và cân bằng thuận lý trở lại, hoặc Địa Lý phong thủy phải thật chuẩn để ngăn ngừa sự tan vỡ. 3.5/ Thiên Can khắc thuận: Đây là trường hợp xấu nhất trong mối tương tác của Thiên Can. Thí dụ: Chồng Quý (Thủy) Hợi, Vợ Đinh (Hỏa) và con Kỷ (Thổ) Sửu. Nhưng trong cách cực xấu này lại trở thành cực tốt, nếu tuổi vợ chồng và con cái có bố cục như sau: Chồng Quý Hợi. Vợ Đinh Mão, Con trai đầu Nhâm Thìn và con thứ Mậu Tuất. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Trên đây là mối liên hệ tương tác Thiên can - Thuộc Dương so với Mệnh và Địa Chi thuộc Âm. Cho nên mọi sự tương tác theo chiều thuận. Nguyên lý tương tác thuận của Thiên Can sẽ khác với nguyên lý tương tác của Mệnh và Địa chi. Nhưng ít nhất qua mối liên hệ này chúng ta thấy rõ vai trò của đứa con trong gia đình. Ngoài câu thành ngữ lưu truyền: "Giầu con út, khó con út" thì bức tranh "Đánh ghen" nổi tiếng của làng tranh Đông hồ dưới đây, cũng cho thấy vai trò của đứa con trong quan hệ hòa giải gia đình. Nội dung bức tranh này mô tả một hình tượng mâu thuẫn cực đại trong quan hệ gia đình. Một trường hợp bắt 'quả tạ" ông chồng đang hú hí với bà hai - qua hình tượng, không mặc yếm.: "Hai bà không thể đội 'chồng' chung". Nhưng hình tượng đứa con, chính là sự mô tả khả năng dung hòa mâu thuẫn trong quan hệ gia đình. Đây chính là nội dung chủ yếu của "Luận tuổi Lạc Việt". Chỉ có nền văn hiến Việt, chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương, qua những vdi sản còn lại mới có thể phục hồi lại một lý thuyết thống nhất, mà nhân loại đang mới chỉ mơ ước. Sự thăng trầm của lịch sử hàng ngàn năm của Việt tộc, cũng không làm sói mòn được những gía trị huyền vĩ của nó. Điều này chứng tỏ rằng: Vào thời hoàng kim của nên văn hiến Việt thì những di sản văn hiến này phải vô cùng vĩ đại. Người Ai Cập thường tự hào: "Mọi cái đều sợ thời gian. Nhưng thời gian lại sợ Kim Tự Tháp". Nhưng chỉ có nền văn hiến Việt huyền vĩ với bề dày gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tử, mới giải thích được tất cả những bí ẩn của một nền văn minh cô xưa, trong đó có Kim Tự Tháp. Xin cảm ơn quý vị và các bạn quan tâm chia sẻ. Còn tiếp Mối liên hệ bản Mệnh trong gia đình:
    1 like
  4. LUẬN TUỔI LẠC VIỆT. NHỮNG KIẾN THỨC NỀN TẢNG CỦA LUẬN TUỔI LẠC VIỆT. Tiếp theo. Thưa quý vị và các bạn. Để nắm rõ các yếu tố tương tác có tính quy luật, đã được biểu kiến hóa trong sự phân loại của thuyết Âm Dương Ngũ hành thì yếu tố quan trọng nhất là cần phải biết rõ cấu trúc của bảng "Lạc Thư Hoa giáp". Đó chính là tính phân loại vận khí của con người và vũ trụ tương tác với Địa cầu theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Xin mọi người cũng lưu ý: Bảng "Lục thập hoa giáp" theo sách Tàu, không thể chia thành Lục Khí, Ngũ vận. I/ LẠC THƯ HOA GIÁP Sách của người Lạc Việt viết về quy luật tuần hoàn 60 năm trong vũ trụ. KỶ THỨ NHẤT Lục khí - Vận 1 Tam Âm Tam Dương Giáp Tí. Ất Sữu ------------ Hải Trung Kim Bính Dần. Đinh Mão ------Tuyền Trung Thuỷ (Sách Tàu: Hỏa) Mậu Thìn.Kỷ Tỵ------------- Đại Lâm Mộc Lục khí - Vận 2 Tam Âm Tam Dương Canh Ngọ. Tân Mùi --------Lộ Bàng Thổ Nhâm Thân. Quí Dậu------Kiếm Phong Kim Giáp Tuất. Ất Hợi----------Trường Lưu Thuỷ (Sách Tàu: Hỏa) Lục khí - Vân 3 Tam Âm Tam Dương Bính Tí, Đinh Sữu-------------- Tích Lịch Hoả (Sách Tàu: Thủy) Mậu Dần, Kỷ Mão-------------- Thành Đầu Thổ Canh Thìn, Tân Tỵ -------------Bạch Lạp Kim Lục khí - Vận 4 Tam Âm Tam Dương Nhâm Ngọ, Quí Mùi -------------Dương Liễu Mộc Giáp Thân, Ất Dậu--------------Lư Trung Hoả (Sách Tàu: Thủy) Bính Tuất, Đinh Hợi------------ Ốc Thượng Thổ Lục khí - Vận 5 Tam Âm Tam Dương Mậu Tí, Kỷ Sữu---------------- Giáng Hạ thuỷ (Sách Tàu: Hỏa) Canh Dần, Tân Mão---------- Tùng Bách Mộc Nhâm Thìn, Quí Tỵ------------ Sơn Đầu Hoả (Sách Tàu: Thủy) KỶ THỨ II Lục khí - vận 1 Tam Âm Tam Dương Giáp Ngọ, Ất Mùi ---------------Sa Trung Kim Bính Thân, Đinh Dậu---------- Đại Khê Thuỷ (Sách Tàu: Hỏa). Mậu Tuất, Kỷ Hợi--------------- Bình Địa Mộc Lục Khí - Vận 2 Tam Âm Tam Dương Canh Tí, Tân Sữu--------------Bích Thượng Thổ Nhâm Dần, Quí Mão----------Kim Bạch Kim Giáp Thìn, Ất Tỵ----------------Đại Hải Thuỷ (Sách Tàu: Hỏa) Lục Khí - Vận 3 Tam Âm Tam Dương Bính Ngọ, Đinh Mùi--------Thiên Thượng Hoả (Sách Tàu:Thủy) Mậu Thân, Kỷ Dậu------------ Đại Dịch Thổ Canh Tuất, Tân Hợi-----------Thoa Xuyến Kim Lục khí - Vận 4 Tam Âm Tam Dương Nhâm Tí, Quí Sữu-------------- Tang Đố Mộc Giáp Dần, Ất Mão-------------- Sơn Hạ Hoả (Sách Tàu: Thủy) Bính Thìn, Đinh Tỵ------------- Sa Trung Thổ Lục khí - Vận 5 Tam Âm Tam Dương Mậu Ngọ, Kỷ Mùi -------------Thiên Hà Thuỷ (Sách Tàu: Hỏa) Canh Thân, Tân Dậu---------Thạch Lựu Mộc Nhâm Tuất, Quí Hợi----------Phúc Đăng Hoả (Sách Tàu: Thủy). II - ÂM DƯƠNG VÀ NGŨ HÀNH CỦA THẬP THIÊN CAN. Nội dung của vấn đề này thì chắc một nửa thế giới biết rồi. Nhưng vì là một trong yếu tố phân loại ngũ hành mô tả tương tác mạnh trong "Luận tuổi Lạc Việt", nên tôi vẫn trình bày ở đây. Nếu như trong "Lạc thư Hoa giáp" có sự thay đổi Thủy/ Hỏa so với cổ thư chữ Hán, thì ở Thập Thiên Can, không có thay đổi gì. Trong bài viết này, ký hiệu ( + ) là Dương; ( - ) là Âm. Thập Thiên can gồm: 1/ Giáp (+); 2/ Ất (-) > Thuộc Mộc. 3/ Bính (+); 4/ Đinh (-) > Thuộc Hỏa. 5/ Mậu (+); 6/ Kỷ (-) > Thuộc Thổ. 7/ Canh (+); 8/ Tân (-) > Thuộc Kim. 10/ Nhâm (+); Quý (=) > Thuộc Thủy. III - ÂM DƯƠNG VÀ NGŨ HÀNH CỦA THẬP NHỊ ĐỊA CHI. Thập nhị Địa Chi là chu kỳ lặp lại với con số 12, được đinh danh lần lượt, là: III. 1/ Tý; 2/ Sửu; 3; Dần; 4; Mão; 5 Thìn; 6/ Tỵ; 7/ Ngọ; 8/ Mùi; 9/ Thân; 10/ Dậu; 11/ Tuất; 12/ Hợi. Đây chính là chu kỳ TƯƠNG SÍNH - hoàn toàn phủ hợp với QUY LUẬT TƯƠNG SINH CỦA HÀ ĐỒ theo chiều thuận Kim Đồng Hồ. Trong đó, các số lẻ: 1; 3; 5; 7; 9; 11 thuộc Dương. các số chẵn, gồm: 2; 4; 6; 8; 10; 12 thuộc Âm. Quý vị, các bạn và anh chị em cũng thấy rất rõ rằng: Nguyên Lý "Dương trước, Âm sau" được ứng dụng triệt để trong tất cả các phương pháp ứng dụng liên quan đến học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Bởi vậy, những ai cố cãi với Thiên Sứ và đặt vấn đề "Âm trước, Dương sau", đều bị delete ra khỏi Fb của tôi. Tôi không có thời gian để thuyết phục những con bò. III.2/ Tính chất Ngũ hành của 12 Địa Chi. Trong đó: 1/ Hợi - Tý - Sửu thuộc THỦY (Mầu xanh Dương trên Hà Đồ). Trong đó: Hợi/ Thủy Sinh - Tý/ Thủy Vượng - Sửu/ Thủy Mộ. 2/ Dần - Mão - Thìn thuộc MỘC (Mầu Xanh lá cây trên Hà Đồ). Trong đó: Dần/ Mộc Sinh - Mão/ Mộc Vượng - Thìn/ Mộc Mộ. 3/ Tỵ - Ngọ - Mùi thuộc HỎA (Mầu Đỏ trên Hà Đồ) Trong đó: Tỵ/ Hỏa sinh - Ngọ/ Hỏa Vượng - Mùi/ Hỏa Mộ. Trong tam hóa thuộc Hỏa này, có một ngoại lệ là "Tỵ" còn là "Âm Hỏa đới Thổ", do tọa vị cung Khôn ở đây - theo Hậu Thiên Lạc Việt - Nhân danh nền văn hiến Việt. 4/ Thân - Dậu - Tuất thuộc KIM (Mầu Trắng trên Hà Đồ). Trong đó: Thân/ Kim sinh - Dậu/ Kim Vượng - Tuất/ Kim Mộ. Xin xem hình Hà Đồ kèm theo phía dưới. III. 3/ Tam Hợp cục của 12 Địa chi. 1/ Tỵ - Dậu - Sửu > Tam hợp KIM Cục. Trong đó: Tỵ - Âm Hỏa Đới Thổ (Nhân danh nền văn hiến Việt) - sinh Dậu Kim - Mộ ở Sửu Thổ. 2/ Thân - Tý - Thìn > Tam hợp THỦY Cục. Trong đó: Thân Kim - sinh Tý Thủy - Mộ ở Thìn Thổ. 3/ Hợi - Mão - Mùi > Tam hợp MỘC cục. Trong đó: Hợi Thủy - sinh Mão Mộc - Mộ ở Mùi Thổ. 4/ Dần - Ngọ - Tuất > Tam hợp HỎA Cục. Trong đó: Dần Mộc - sinh Ngọ Hỏa - Mộ ở Tuất Thổ. III. 4/ Lục Hại và Tứ Tuyệt của 12 Địa Chi. A/ Tứ Tuyệt: Đó là các cặp: Dần/ Dậu; Mão/ Thân; Tý/ Tỵ; Ngọ/ Hợi. B/ Lục Hại. Đó là các cặp: Thìn/ Mão; Dần/ Tỵ; Sửu/ Ngọ; Mùi/ Tý; Thân/ Hợi; Dậu/ Tuất. III.5/ Tứ Hành Xung của 12 Địa Chi. 1/ Thìn - Tuất - Sửu - Mùi. Thuộc bộ Tứ Phúc. 3/ Dần - Thân = Tỵ - Hợi. Thuộc bộ Tứ Sinh. 3/ Tý - Ngọ - Mão - Dậu. Thuộc bộ Tứ Vượng. Xin lưu ý về bộ Sinh, Vượng, Phúc sẽ dùng trong "Luận tuổi Lạc Việt". III.6/ Lục Hợp trong 12 Địa Chi. 1/ Tỵ hợp Thân; 2/ Ngọ hợp Mùi; 3/ Thìn hợp Dậu; 4/ Mão hợp Tuất; 5/ Dần hợp Hợi; 3/ Sửu hợp Tý. Tôi đã trình bày xong các mối tương quan có tính lý thuyết liên quan đến Thiên can và Địa chi. Trong nghiên cứu của tôi, thì Thiên can là quy ước biểu kiến có tính tập hợp lớn nhất, trong sự phân loại theo Ngũ hành, mô tả những tương tác chủ yếu từ vũ trụ. 12 Địa chi là tương tác mạnh liên quan trong Thái Dương hệ, được phân loại theo Ngũ hành, căn cứ vào tương quan chu kỳ của Sao Mộc tinh trong hệ Mặt trời với Địa cầu" 11. 8 năm/ Địa cầu. Đây cũng chính là khái niệm Thái Tuế trong Lý học Đông phương. Tất cả các mối tương quan có tính quy ước của Thiên Can và Địa chi mà tôi trình bày ở đây, sẽ là những yếu tố quan trọng trong hệ thống lý thuyết - nhân danh nền văn hiến Việt - trong "Luận tuổi Lạc Việt" . Xin cảm ơn vì sự quan tâm. SỰ THẤT TRUYỀN & SAI LẦM CỦA PHƯƠNG PHÁP COI TUỔI TỪ NHỮNG DI SẢN CÒN SÓT LẠI. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Trong nghi lễ cưới hỏi của người Việt cổ - chính xác là của tầng lớp quý tộc Việt cổ - gồm có 6 bước sau đây: 1/ Lễ Nạp Thái (Còn gọi là "Chạm Ngõ". Tức là mới ở ngoài ngõ, chưa vào đến cổng). Các đôi nam nữ ngày xưa, thường do mai mối giới thiệu. Khi sự liên hệ qua bà Mối (Tiếng Nam Bộ là bà Mai) thành công, Nhà trai đưa lễ vật đến nhà gái để xác định một khả năng sẽ cưới. Vào thời tối cổ, thường nhà trai mang theo một cặp chim nhạn (Chim xanh), biểu tượng cho một tin tốt lành. "Thâm nghiêm, kín cổng cao tường Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh". Kiều - Nguyễn Du. 2/ Lễ Vấn Danh: Cũng do bà Mối dẫn dắt, Nhà trai có thể cùng chú rể sang nhà cô dâu. Cô dâu có thể ra rót nước mời khách, để nhà trai và nhà gái có thể xem mặt cô dâu, chú rể. Trong lễ này có vấn tuổi tác của cô dâu chú rể. Mục đích nguyên thủy chỉ để xem chú rể có thuộc dạng Chí Phèo truyền thống và cô dâu có bà con với Thị Nở trá hình không. Còn tuổi tác chỉ để chọn ngày tháng cưới (Tuổi cô dâu) và năm cưới (Tuổi chú rể). Nhưng sau này bị biến tướng thành coi tuổi vợ chồng hợp khắc ra sao (Sẽ trình bày trong bài này). 3/ Lễ Nạp Cát: Nguyên thủy chỉ là lễ báo ngày giờ tốt để rước dâu. Nhưng về sau biến tướng thành lễ báo cô dâu chú rể hợp tuổi để cưới. Hoặc không hợp thì xù. Tuổi xấu thì "Xù' sao gọi là "nạp cát" được? "Nạp bùn" mới đúng. 4/ Lễ Nạp Trưng: (Còn gọi là "Đám hỏi") là lễ nạp đồ sính lễ cho nhà gái, làm bằng chứng cho sự hứa hôn chắc chắn. Thường là cặp nhẫn cưới...tùy theo gia cảnh. Theo luật Hồng Đức thì nam nữ nghèo chỉ việc có miếng trầu, quả cau và nộp lệ phí ở làng là được về sống với nhau. 5/ Lễ Thỉnh Kỳ: là lễ xác định ngày giờ làm rước dâu tức lễ cưới, mà nhà trai đưa ra trước đó, có được sự đồng ý của nhà gái hay không. 6/ Lễ Nghênh Hôn: Tức lễ rước dâu, đám cưới. Tục lệ cổ xưa là như vậy. Và chúng ta cũng thấy rất rõ rằng: Việc coi tuổi hợp khắc là sản phẩm của hai nghi lễ cổ xưa bị biến tướng là lễ "Vấn Danh" và lễ "Nạp Cát". Lễ này bị biến tướng từ hàng ngàn năm trước, qua truyện Kiều, cũng thấy việc này: "Gần miền có một mụ nào Đưa người viễn khách tìm vào "vấn danh" Hỏi tên rằng :''Mã Giám sinh'' Hỏi quê rằng: ''Huyện Lâm Thanh cũng gần''. Tóm lại, sau khi nền văn minh Lạc Việt bị sụp đổ ở miến Nam sông Dương tử, đủ các thứ "dở hơi biết bơi" xuất hiện. Các cụ nhà ta ngày xưa chủ yếu lấy "Môn đăng, hậu đối" (Chứ không phải "hộ" đối), Nghĩa đen là cổng nhà và sau nhà bằng nhau. Đấy là nói chữ. Còn nói nôm là "Nồi nào úp vung đó". Hay nói rõ hơn: Chuyện coi tuổi vợ chồng, không có từ thời trước Bắc thuộc ở Việt tộc. Mà là bị biến tướng sau khi Hán hóa với những di sàn từ những phương pháp sai lầm. Tôi lần lượt chứng minh như sau: I. Phương pháp luận tuổi theo Bát san giao chiếu (Hay "Bát san giao chiến"?). Phương pháp này rất phổ biến. Các thày bà lấy 8 tuổi nữ theo Bát quái, phối với 8 tuổi nam cũng phân loại thành Bát quái. Hai tuổi này phối với nhau thành một cặp quẻ. Tùy theo tính chất quẻ để quyết định họ phối hôn tốt hay xấu. Tổng các trường hợp theo phương pháp này có 64 trường hợp, hoặc xấu, hoặc tốt. II. Phương pháp luận tuổi theo Cao Ly đồ hình. Phương pháp này lấy tuổi Nam theo Thập Thiên Can phối hợp với tuổi nữ theo Thập nhị Địa chi. Tùy theo sự phối hợp này - thí dụ Nam Giáp lấy vợ tuổi Sứu chẳng hạn - để phân định tốt xấu. Tổng các trường hợp theo phương pháp này có 120 trường hợp, hoặc xấu, hoặc tốt. III. Phương pháp luận tuổi theo Địa chi. Đây là phương pháp phổ biến trong các thày bà loại "ve chai, lông vịt" phán cho các cặp đôi nam nữ, Họ căn cứ theo tuổi tam hợp, nhị hợp hoặc tứ tuyệt. tứ hành xung - mà tôi đã trình bày ở bài trước - để phán. Tổng các trường hợp theo phương pháp này có 144 trường hợp, hoặc xấu, hoặc tốt. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Trong tất cả ba phương pháp mà tôi trình bày ở trên thì phương pháp thứ ba có xác xuất cao hơn cả. Nhưng sai lầm của phương pháp này là: 1/ Chỉ sử dụng yếu tố Địa chi (Theo Năm), Trong khi Thị Nở và một tiểu thư con nhà hôi nách vẫn có thể sinh cùng một năm. Hoặc cùng Địa chi, nhưng Giáp Tý chắc chắn khác Bính Tý.... 2/ Yếu tố thân mạng (Vận khí của năm sinh theo Lạc Thư Hoa giáp không được tính đến). 3/ Xác xuất coi theo Địa chi tuy cao hơn hai phương pháp trên, xét về mặt toán học. Nhưng so với khoảng một tỷ cặp vợ chồng giả định trên thế giới này, sự chênh lệch vẫn là không đáng kể. Và rõ ràng về mặt lý thuyết còn rất khiếm khuyết. IV. Phương pháp coi theo lá số Tử Vi. Đây là phương pháp có xác xuất cao nhất. Trong vòng một chu kỳ hoa giáp có: 60 năm x 12 tháng x 30 ngày x 12g = 259. 200 lá Tử vi. Như vậy xác xuất cực kỳ cao với 259. 200 trường hợp nam nũ có thể phối hợp. Ba trường hợp trên chỉ là con số lẻ. Nhưng không thể ông già 60 lấy đứa bé mới 1 tuổi được. Vợ chồng trung bình chênh nhau 15 tuổi là tối đa. Do đó, trong 60 năm chỉ có thể chọn trong 1/ 4 trong số 5. Tức là xác xuất còn: 259. 200 / 4 = 64. 800 trường hợp. Tức là, về mặt lý thuyết xác xuất vẫn ưu việt hơn hẳn ba trường hợp trên. Hy vong sẽ không ai dẫn chứng trường hợp Đại gia Lê Ân 74 tuổi, lấy cô vợ mới 23; hoặc đại gia Playboy 80 tuổi, bồ nhí cả đống. Hay như bà minh tinh Hớn Coỏng lấy ông chồng mới 24 được. Vì đây là những trường hợp rất đặc biệt và hiếm hoi, nên không thể vì thế lấy tuổi chênh lệch lên 50 - để tổng hợp thành một lý thuyêt được. Và dù có lấy lên đến tuổi chênh lệch 50 và xác xuất tăng lên đáng kể thì phương pháp này lại có những vấn nạn sau đây: 1/ Thày coi Tử Vi phải cực giỏi. Tôi có thể xác quyết với quý vị và các bạn rằng: Thày cực giỏi chuyên ngành Tử Vi, cả thế giới này, chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Bằng chứng là phương pháp này không hề phổ biến. Điều này là một bằng chứng cho thấy: để đôi tuổi vợ chông qua Tử Vi xem tốt xấu rất khó. 2/ Phương pháp đôi tuổi qua Tử Vi, thường là các cao thủ đối chiếu hai lá số có truyền tinh (sao) nhau hay không. Nói nôm na là có gần giống nhau hay không. Nhưng chính vì bởi xác xuất rất cao đó, nên để có một cặp đôi có tính gần giống - từ chuyên môn gọi là truyền tinh - rất khó xảy ra. Phần lớn, những cặp đôi lấy nhau được, do các mối liên hệ khác thể hiện trên lá Tử Vi về mặt lý thuyết. Và để nhận thấy mối liên hệ này, không phải dễ dàng gì với những thày dạng khả năng mang tính phổ biến. Cụ thể một trường hợp sau với chứng nghiệm của chính tôi: Chàng là một Việt kiều hồi hộp, nàng là hàng Việt Nam chất lượng cao. Họ yêu nhau rất lâu. Dong chơi cuối mùa quên lãng, Vũng Tàu, Đà Lạt đủ cả. Cuối cùng chàng về nước để cưới nàng. Họ dẫn nhau đến tôi xem Tử Vi. Tôi được cô gái cảnh cáo rằng: Hai lá số này các thày đều bảo hợp và bằng chứng là chàng về cưới nàng. Tôi lướt qua hai lá Tử Vi và thật cảm cảnh cho cô gái. Tôi khuyên cô gái - có mặt vị hôn phu - nên cưới nhau ngay trong vòng một tuần. Nhưng họ không thực hiện được. Và vị hôn phu đúng là Việt kiều hồi hộp thật. Anh ta biến mất sau một tuần. Híc. Sau này cô gái cũng lấy chồng. Nhưng tội nghiệp cô bé, cũng đau khổ một thời gian. Tôi kể câu chuyện này, không phải để khoe khoang gì. Nhưng muốn xác định rằng: Để đôi tuổi vợ chồng qua phương pháp Tử Vi, tuy xác xuất cao về mặt lý thuyết, nhưng lại cực kỳ khó. Lá Tử Vi đầu tiên mà tôi được nghe nói tới, chính là của anh Lai Xuân Hợi ở 20 Phố Hàng Phèn, viết bằng chữ Nho. Ngươi dịch chính là Giáo Sư Minh Muon Nguyễn từ hơn 50 năm trước, nếu bạn tôi còn nhớ việc này. Lúc ấy tôi mới 19 tuổi. Bây giờ, tôi rất chán coi Tử Vi. Đừng ai nhờ tôi xem nữa. Nhưng có thể tôi sẽ viết cuốn Tử Vi Lạc Việt, để chia sẻ với mọi người. Thưa quý vị và các bạn quan tâm, Như vậy, tôi đã trình bày xong về tất cả các phương pháp đôi tuổi vợ chồng từ đơn giản đến phức tạp. Và như tôi đã chứng minh: tất cả đều không hoàn hảo. Phần tiếp theo đây, tôi tiếp tục trình bày về vấn đề "luận tuổi Lạc Việt" trong mối quan hệ hôn nhân và các vấn đề của Tạo Hóa liên quan. Xin cảm ơn vì sự quan tâm của quý vị và các bạn. DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT TRONG HÔN NHÂN. Có lẽ hầu hết người Việt lớn tuổi đều biết bài ca dao này: "Trèo lên cây bưởi hái hoa. Bước xuống vườn cà, hái nụ Tầm Xuân. Nụ Tầm Xuân nở ra xanh biếc. Em có chồng anh tiếc lắm thay. Ba đồng một mớ trầu cay. Sao anh không hỏi những ngày còn không? Bây giờ em đã có chồng. Như chim vào lồng, như cá cắn câu! Cá cắn câu biết đâu mà gỡ? Chim vào lồng biết thuở nào ra?". Các nhà nghiên cứu tốn nhiều giấy mực cho bài ca dao cổ này. Thậm chí họ còn bới ra "Nụ Tầm Xuân" là loại hoa nào? Cãi nhau ỏm củ tỏi ...đen, vốn rất tốt cho huyết áp và bệnh tim, lưu thông máu huyết.,, Í lộn! Thiên Sứ viết nhầm. Vì đang xem quảng cáo cho tỏi đen. Nhưng có một điều rất ít và hầu như không thấy ai nói đến - Hay có nói mà tôi chưa được đọc. Đó là: Tình cảm này giành cho một người con gái đã có chồng! Ở đây chúng ta thấy gì giữa một rung cảm nam nữ rất tự nhiên và chuẩn mực đạo lý? Khi mà những chuẩn mực đạo lý này rất khắc nghiệt vào thuở xa xưa. Nhưng bài ca dao độc đáo này vẫn lưu truyền và phổ biến, như một sự chấp thuận của xã hội cổ xưa?! Ở đây tôi loại trừ hướng phân tích theo kiểu sự phản kháng của tầng lớp bình dân với chuẩn mực khắt khe của xã hội phong kiến đương thời. Mà tôi chỉ muốn mô tả một tình cảm có thật trong con người, được phổ biến bên canh những chuẩn mực đạo đức đương thời, và nó được chấp thuận, lưu truyền. Từ đây, vấn đề được tiếp tục đặt ra và cũng là điều mà tôi đã nhiều lần xác định, là: Những chuẩn mực đạo đức xã hội, về bản chất cũng như một hệ thống Lý thuyết; nó vốn là sự tổng hợp nhận thức của mọi mối quan hệ xã hội - bao gồm cả tình cảm tự nhiên của con người - để tổng hợp thành một chuẩn mực đạo đức xã hội. Tất nhiên, chuẩn mực đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó có những đặc thù riêng, so với một lý thuyết khoa học. Theo sự phân loại của Lý học thì cả lý thuyết khoa học và các hình thái ý thức xã hội khác, như: đạo đức, lễ nghĩa, luật pháp, quy định, quy chế...đều thuộc Dương. Thực tại, thực tế khách quan thuộc Âm. "Âm phải thuận tùng Dương", cho nên những rung cảm tự nhiên của tình yêu nam nữ, không thể vượt qua được những chuẩn mực xã hội: "Em có chồng. Anh tiếc lắm thay!". Tương tự như vậy! Những phương pháp ứng dụng mang tính lý thuyết của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong đời sống, chính là những chuẩn mực của một hệ thống lý thuyết bao trùm, phản ánh quy luật tương tác của vũ trụ. Và con người cũng không thể vượt qua được. Nhưng trong đó, phạm trù Âm Dương bao trùm tất cả. Nam là Dương, nữ là Âm, Sự hài hòa và tương tác đồng đẳng của Âm Dương giải thích rung cảm tự nhiên của cặp nam nữ trong bài ca dao này. Đây chính là nguyên nhân giải thích trên cơ sở tính hợp lý lý thuyết để tình yêu và hôn nhân Nam Nữ, không thể ngăn cản. Bởi vì phạm trù Âm Dương bao trùm lên tất cả mọi hiện tượng trong vũ trụ - theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Cho nên, việc ngăn cản hôn nhân, tình yêu nam nữ là trái quy luật tự nhiên, được phản ánh trong thuyêt Âm Dương Ngũ hành. Các cụ nhà ta có câu ca dao: "Kẻ nào rẽ thúy, chia uyên. Thác xuống cửu tuyền, quỷ sứ cưa thân". Nhưng vấn đề là cuộc hôn nhân ấy, sẽ dẫn đến một kết quả thế nào? Nghèo hèn, hay quyền quý cao sang? Hạnh phúc hay đau khổ? Đấy chính là nội dung của loạt bài viết này. Tôi đã chứng minh với quý vị và các bạn, rằng: Tất cả các phương pháp coi tuổi đều không chính xác. Vì nó chỉ là những mảnh vụn thất truyền và sai lệch. Không phản ánh đúng bản chất của các vấn đề liên quan đến hệ thống của các phương pháp ứng dụng thuộc hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành. Vấn đề bắt đầu từ đâu? Trong di sản tục ngữ ca dao Việt, các cụ có câu: "Vợ chồng cùng tuổi, nằm duỗi mà ăn". Nhưng cũng có câu: "Vợ chồng cùng tuổi, chiếc khố không có mà mang". Vậy cái nào đúng? Có một điều rất đặc biệt mà trong thành ngữ, tục ngữ Việt có câu: "Giầu con út, khó con út". Rồi đây nữa: "Ruộng sâu, trâu nái, không bằng con gái đầu lòng". Phải chăng vấn đề nằm ở tuổi những đứa con? Và đó chính là câu trả lời đầy bí ẩn của phương pháp "Luận tuổi Lạc Việt". "Từ bờ tre, gốc rạ bên đường. Từ mái tranh, góc đình trong làng...Nguồn sử xanh vẫn còn ghi dấu" - Lê Thương. Bài tiếp theo, sẽ trình bày cụ thể phướng pháp "LUẬN TUỔI LẠC VIỆT". Đây cũng là một ví dụ sinh động, chứng tỏ rằng: Chỉ có nền văn hiến Việt - chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương - mới cỏ khả năng phục hồi lại một cách hoàn chính học thuyết Âm Dương Ngũ hành và chính là LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT. mà những trí thức tinh hoa của nhân loại đang tìm kiếm. Xin cảm ơn sự quan tâm của quý vị và các bạn cùng anh chị em. LUẬN TUỔI LẠC VIỆT. Tiếp theo. Thưa quý vị và các bạn. Tôi đã trình bày với các bạn về ba yếu tố tương tác chủ yếu làm nên số mệnh của con người. Đó là: I. Những tập hợp mang yếu tố tương tác chủ yếu. 1/ Định mệnh. Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành thì Định mệnh của một con người có khả năng tiên tri. "Nhất ẩm, nhất trác. Giai do tiền định". Và đây cũng là yếu tố quan trọng - cần - cho một lý thuyết thống nhất. "Nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất, thì chính nó sẽ quyết định chúng ta tìm ra nó hay không?" - SW Hawking. Về mặt lý thuyết, những phương pháp tiên tri liên quan đến thuyết Âm Dương ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt - đã xác định mang tính định tính số mệnh của một con người, một vùng lãnh thổ, một quốc gia...vv...Sự chính xác hay không, còn tùy thuộc vào khả năng của các vị từ thày bà sản xuất hàng loạt, đến các cao thủ thực sự. 2/ Địa lý phong thủy. Sự tập hợp những quy luật vận động và tương tác của tự nhiên, vũ trụ, môi trường và cấu trúc ngôi gia, ảnh hưởng đến định lượng của số phận và có khả năng tiên tri. Sự ứng dụng có tính tổng hợp những quy luật vận động và tương tác của tự nhiên trong ngành Địa Lý Lạc Việt, cũng giống như sự ứng dung các quy luật vật lý để làm ra cái máy bay, xe hơi, chiếc điện thoại di động....mà con người đang sử dụng. Chính người Trung Quốc, cũng chẳng hiểu gì về bản chất của ngành Địa lý phong thủy Đông phương, khi họ công khai viết trong từ điển tiếng Trung: "Phong thủy là một tín ngưỡng cổ xưa của nhân dân Trung Quốc". Theo quy luật "Lượng đổi, dẫn đến chất đổi" của Biện Chứng Pháp và phù hợp với quy luật của Dịch học "Vật (phát triển đến) cùng tắc biến (Chuyển sang giai đoạn khác)", thì về lý thuyết, trong một số trường hợp ngành Địa Lý phong thủy có thể làm chuyển hóa cuộc sống mang tính Định mệnh của bạn trong phạm vi của nó. Và điều này tùy thuộc vào những yếu tố quyết định mang tính chất "Định mệnh" của một tập hợp lớn hơn là những quy luật tương tác của vũ trụ. Tóm lại, suy cho cùng thì Định mệnh chi phối tất cả. 3/ Luận tuổi Lạc Việt. Mối tương quan và ảnh hưởng của những con người gần gũi trong gia đình, dòng tộc của bạn, có khả năng tiên tri. Chưa thấy trong lịch sử và cả truyền thuyết về ngành Địa Lý phong thủy nào, nói về việc một cao thủ Địa Lý, làm Âm phần cho ông hàng xòm để tốt cho dòng tộc, gia đình thân chủ được. Điều này chứng tỏ rằng: Mối quan hệ gia đình, dòng tộc là một yếu tố quan trọng ảnh hướng đến định lượng cho số phận mỗi con người. Đây cũng là nội dung chủ yếu của loạt bài viết này. II. Các phương pháp căn bản của "Luận Tuổi Lạc Việt". 1/ Các yếu tố Thiên Can, Địa Chi và Mệnh khí. Tất cả những yếu tố này, đều được phân loại theo thuyết Âm Dương Ngũ hành, mà tôi đã trình bày ở bài trước. Trong đó Mệnh khí phải dùng bảng LẠC THƯ HOA GIÁP. Cũng hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực của tri thức khoa học hiện đại về sự đồng đẳng tính chất của các đại lượng trong tương tác của vật lý, toán học hiện đại. Tính chất tương tác được mô tả trong thuyết Âm Dương ngũ hành cũng hoàn toàn tương đồng. Trong đó: Thiên Can tương tác với Thiên Can, Địa chi tương tác với Địa chi, mạng vận tương tác với mạng vận. Không thể ba con gà, trừ đi hai con vịt, còn một con gà được. Một ví dụ sinh động trong vấn đề này, trong câu chuyện dưới đây: Thiên Sứ tôi đi làm Địa Lý phong thủy cho một Đại Gia. Sau khi phân tích thực trạng có tính tiên tri, tôi quyết định đặt một bể cá ở một vị trí trong nhà. Mẫu Đại gia từ trên lầu chạy xuống phán: "Con tôi mạng Hỏa. Thày để cái bể cá thuộc Thủy để nó chết à?!". Đây là một ví dụ điển hình về tính thiếu hiểu biết trong nguyên lý đồng đẳng về tương tác của các đại lượng. Đó là tính quy ước trong phân loại vận khí theo Ngũ Hành trong con người và tính biểu tượng của nó - Hỏa là Lửa, và Thủy là Nước. Đồng thời, cũng cho thấy sự nhầm lẫn khái niệm từ các sách Hán cổ mô tả về thuyết Âm Dương Ngũ hành. mà tôi đã trình bày ở bài trước. Chỉ có ngôn ngữ Việt - một ngôn ngữ cao cấp nhất trong lịch sử văn minh nhân loại nhận thức được, mới đủ khả năng diễn đạt một hệ thống lý thuyết cao cấp nhất trong tất cả các lý thuyết của nền văn minh hiện đại - Đó là LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT, mà nhân loại đang tìm kiếm. Tương tự như vậy, hoàn toàn không có tính đồng đẳng về các đại lượng tương tác trong câu nổi tiếng của Hệ Từ Thượng trong kinh Dịch bằng tiếng Hán - vốn được mô tả là Khổng Tử viết. Đó là câu: "Thái cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ Tượng. Tứ tượng sinh "BÁT QUÁI"?! Tôi cũng đã trình bày điều này khi so sánh với sự mô tả về khởi nguyên vũ trụ trong văn hóa truyền thống Việt. Trở lại với câu truyện, phải nói là Thiên Sứ tôi ứng biến cũng nhanh, nếu không độ phoengshui này gặp trục trặc và Thiên Sứ mất lộc vì sự ngớ ngẩn của thế gian. Tôi hỏi lại: "Thưa bà! Con bà có tắm không?". Mẫu Đại gia phản biện: "Tắm nó khác. Còn đây là Phong thủy nó khác!". May quá! Thân chủ tôi mời Mẫu lên lầu ngồi chơi sơi nước. Nếu không, tôi phải trình bày chừng một tuần về tính đồng đẳng của các đại lượng trong tương tác và chứng minh sách Tàu làm những "nhà nghiên cứu" về thuyết Âm Dương Ngũ hành như Mẫu, hiểu sai về khái niệm. Trên Fb thì tôi không thể mời những người như vị Mẫu Đại gia lên gác ngồi chơi sơi nước. Nhưng... Thề có Đức Ala cao cả và nhà tiên tri Mohamet là sứ giả của người. Tôi có thể delete. 2/ Mối tương quan của các đại lượng tuổi trong gia đình trong mô hình Thiên bàn Tử Vi. Trong bài tiếp theo, tôi sẽ thực hiện với các biểu đồ liên quan. Cảm ơn sự quan tâm của quý vị và các bạn. Còn tiếp.
    1 like