• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Leaderboard


Popular Content

Showing most liked content since 12/04/2019 in all areas

  1. HỘI THẢO KHOA HỌC TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT Hà Nội ngày 02 tháng 05 năm 2019 Kính gửi các học giả, các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Cho đến nay, việc tìm về cội nguồn lịch sử văn hóa Việt vẫn còn một câu hỏi then chốt chưa được trả lời thỏa đáng: Cội nguồn lịch sử của dân tộc Việt bắt đầu từ đâu? Mặc dù vào thời Trần-Lê, các sử thần cho rằng, nước ta có sử từ khi lập nước Văn Lang dưới thời các vua Hùng, vào năm Nhâm Tuất 2879 TCN. Tính đến nay là gần 5000 năm lịch sử (2879 BC + 2019 AC = 4898 năm). Và sự xác định Việt sử gần 5000 năm văn hiến trở thành truyền thống văn hóa sử trong di sản dân tộc Việt Nam. Những cuốn chính sử của người Việt từ khi hưng quốc từ thế kỷ thứ 10, đều ghi rất rõ rằng: Nước Văn Lang Bắc giáp Động Đình Hồ , Nam giáp Hồ Tôn ,Tây giáp Ba thục, đông giáp Đông Hải. Đất nước do các vị vua Hùng cai quản truyền được 18 thời. Nhưng có thể nói, ngay khi hoàn thành bộ sử Đại Việt Sử ký toàn thư, nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã tỏ ý hoài nghi phần cổ sử Việt. Cho đến đầu thế kỷ XX, khi các phương pháp luận Sử học của nền văn minh phương Tây du nhập vào Việt Nam theo chân đoàn quân viễn chính Pháp, với quan niệm về các di sản khảo cổ như là một bằng chứng khách quan cần có cho việc nghiên cứu lịch sử. Trên cơ sở phương pháp luận này, đã xuất hiện rất nhiều học giả như: Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, kể cả các học giả Pháp… đều tỏ ra hoài nghi cội nguồn Việt sử vì tính mơ hồ của truyền thuyết và huyền thoại trong giai đoạn cổ sử thời lập quốc của Việt tộc. Tuy nhiên, tất cả những học giả này – tính từ Ngô Sĩ Liên, đều chỉ đặt vấn đề hoài nghi và không phủ nhận cội nguồn văn hóa sử truyền thống Việt trải gần 5000 năm văn hiến. Nhưng, từ những năm 70 của thế kỷ XX, rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong nước, lên tiếng phủ nhận cội nguồn văn hóa sử truyền thống. Hiện nay, các bộ thông sử hầu như đều khẳng định, lịch sử Việt Nam chỉ có khoảng 2700 năm. Và họ coi Thời hùng Vương, cội nguồn Việt sử chỉ là “liên minh gồm 15 bộ lạc”; “Cùng lắm chỉ là một nhà nước sơ khai”, với “Địa bàn hoạt động vỏn vẹn chỉ ở đồng bằng sông Hồng”. Cả hai quan điểm về cội nguồn Việt sử đều chưa có một kết luận ngã ngũ. Trong khi đó, việc tìm về cội nguồn Việt sử một cách trung thực, khách quan, phù hợp với những chuẩn mực khoa học, là một việc cần, cấp thiết cho không riêng gì với dân tộc Việt, mà còn là trách nhiệm của tất cả các dân tộc trên thế giới để xác định lịch sử tiến hóa và phát triển của mỗi dân tộc. Do đó, nếu chúng ta không xác định được thời điểm hình thành của lịch sử dân tộc, thì mọi cuốn sử được viết là không có cơ sở. Không thể chối bỏ tình trạng đáng lo ngại hiện nay là chúng ta đang trong cuộc đại khủng hoảng về Sử học. Vì vậy, vấn đề thiết cốt đặt ra hôm nay là phải xác định thời điểm cội nguồn lịch sử của dân tộc Việt. Điểm lại việc khảo cứu Sử Việt từ đầu thế kỷ tới nay, ta thấy ngoài việc sao chép những tư liệu từ trước của giới học giả kinh viện, và những luận điểm phù nhận cội nguồn văn hóa sử truyền thống của Việt tộc, còn có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra những phát hiện mới về cội nguồn cùng lịch sử dân tộc. Có thể kể đến những học giả, nhà nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu độc lập ở trong và ngoài nước, như Trung Tâm Nghiên cứu Văn Hóa Minh Triết (GĐ Nguyễn Khắc Mai), Trung Tâm Lý Học Phương Đông (GĐ Nguyễn Vũ Tuấn Anh), Trung Tâm Nghiên Cứu Tiền Sử Đông Nam Á (Dr. Nguyễn Việt), Trung Tâm Nghiên Cứu các hiện tượng & khả năng đặc biệt (GĐ Nguyễn Đức Thiện), Nhóm NC Tiền Sử & Văn Minh Việt, Nhóm Bách Việt Trùng Cửu, Nhóm Đá cổ Sa Pa... Ở nước ngoài như TT An Việt Toàn Cầu (Anh, Pháp, Mỹ, Canada...), Nhóm Tư Tưởng Australia, Nhóm Minh Triết Việt (Mỹ)... bằng cách sử dụng nhiều phương pháp học thuật, kinh nghiệm từ truyền thống đến khoa học liên ngành như Cổ Nghệ, Cổ Ngữ, Cổ Sinh, Nhân Chủng, Khảo Cổ, Đạo, Triết, Ngữ Lý, Huyền Sử, Lịch Sử, Cơ Cấu, Tâm Lý miền sâu, Công Nghệ Gene ADN... đã xây dựng được phần quan trọng nền tảng Lịch Sử Văn Hóa Việt thời Tiền sử. Trên hành trình tìm về cội nguồn lịch sử văn hóa Việt phải kể đến Triết gia Lương Kim Định (1915-1997), người đã cống hiến hơn 50 năm nghiên cứu để khẳng định vị thế dân tộc và đất nước Việt, một trong những cội nguồn văn hóa Phương Đông và Nhân Loại. Với triết thuyết văn hóa Việt Nho & triết lý An Vi được xây dựng trên nền tảng hệ thống Triết Lý nguyên Nho thuần Việt từ cội nguồn, ông đã khẳng định vị trí, con người, văn hóa, văn hiến và văn minh lúa nước Việt Nam từ hơn một vạn năm. Ngày nay, tri thức của Thế Kỷ XXI cho chúng ta biết sự ra đời của Công Nghệ Gene ADN, đã chứng minh những tiên tri và dự cảm của các nhà nghiên cứu về nguồn gốc Loài Người & Hành trình Nhân Loại của Thế Kỷ XX. Đó là sự thắng thế của Thuyết Một trung tâm về Nguồn gốc Loài Người (từ Châu Phi), với những trung tâm nghiên cứu Tiền sử Nhân Loại nổi tiếng như Oxford University, Birmingham Uni., Columbia Uni., Nhóm các nhà bác học về Gene J.Y. Chu (Texas Uni.), Stephen Oppenheimer, Balinger, Solhem II, Alice Robert (Birmingham Uni.), Alberto-Pizza (Torino Uni., Italy)... đã đưa ra nhận định: - 70.000 năm trước, người Homo Sapiens từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ di cư tới Việt Nam. Tại đây, các dòng người tiền sử hòa huyết sinh ra người Lạc Việt. - 50.000 năm trước, người Lạc Việt lan ra các đảo Đông Nam Á, chiếm lĩnh Ấn Độ. - 40.000 năm trước đi lên khai phá Hoa lục. Tiếp cận thông tin này, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn và Tiến sỹ Nguyễn Đức Hiệp từ nước Úc đã công bố nhiều bài viết trên tạp chí Tư tưởng. Luật sư Cung Đình Thanh cho in cuốn “Tìm Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam Dưới Ánh Sáng Mới Của Khoa Học”. Ở Pháp, Giáo sư Trần Đại Sỹ có một số công trình có giá khảo sát thực địa Trung Quốc, với tác phẩm “Thử tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam” chứng minh cho thời Tiền sử Việt. Ở Úc có nhà nghiên cứu VH Việt cổ, Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang với những chủ đề đa văn hóa như Ca dao, tục ngữ, Cổ tích Âu Cơ, chữ Việt cổ “Nòng Nọc”, Dịch lý, Giải mã Trống Đồng. Một nữ tác giả người Việt ở Mỹ tên Tao Babe công bố bài viết: “Việt cổ - cái nôi của văn minh châu Á”. Ngoài các tác giả trên, việc chứng minh cho cội nguồn Việt sử truyền thống còn có các tác giả trong nước như Dr Nguyễn Việt, Hà Văn Thùy, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Viên Như, Nguyễn Đức Thiện, Tạ Đức, Nguyễn Đức Tố Lưu… Để việc tìm về cội nguồn dân tộc Việt được kết quả và nhân danh những chuẩn mực khoa học đi tìm chân lý một cách khách quan, công bằng và bình đẳng, Trung tâm Văn hóa Minh triết cùng với Trung tâm Nghiên cứu Lý học phương Đông quyết định tổ chức Hội thảo khoa học TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT với mục đích: 1. Trình bày những khám phá mới về cội nguồn và lịch sử dân tộc. 2. Tiêu chí xác định thời có Sử của dân tộc Việt. 3. Xác định thời điểm hình thành Sử Việt. Chúng tôi mong các học giả, các nhà nghiên cứu thực sự quan tâm đến cội nguồn dân tộc Việt, sẽ bày tỏ quan điểm của mình và viết tham luận đóng góp cho Hội thảo theo ba chủ đề trên. Tham luận xin gửi: Ông Nguyễn Khắc Mai: maiminhtriet@gmail.com Ông Trương Sỹ Hùng: truongdonghao@gmail.com Ông Hà Văn Thùy: thuyhavan@gmail.com Thời gian: muộn nhất là ngày 30 tháng 07 năm 2019. Xin chân thành cảm ơn quý vị học giả và mọi người quan tâm đến cội nguồn Sử Việt. Thay mặt Ban tổ chức Giám đốc Trung Tâm Văn Hóa Minh Triết Nguyễn Khắc Mai
    3 likes
  2. BÁT SÁT TRONG ĐỊA LÝ LẠC VIỆT. Trên cơ sở giả thuyết ban đầu xuất sắc của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn. Chúng tôi đã thực hiện lại mối liên hệ giữa hướng và phương sát trong Bát sát với vòng Tràng sinh. Nhưng để quý vị và ACE thấy rõ được tính nhất quán và tính hệ thống của một lý thuyết nhân danh khoa học, chúng tôi cần nói rõ hơn về vấn đề Vòng Tràng sinh. I. VÒNG TRÀNG SINH TRONG LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG. Khái niệm "Vòng Tràng Sinh" trong ứng dụng của Lý học Đông phương, mô tả một chu kỳ gồm 12 thành tố. Các thành tố này lần lượt theo quy luật là: 1/Trường sinh. 2/ Mộc Dục. 3/ Quan đới, 4/ Lâm Quan, 5/ Đế Vượng, 6/ Suy. 7/ Bệnh. 8/ Tử. 9/ Mộ. 10/ Tuyệt. 11/ Thai. 12/ Dưỡng.... Vòng Trường sinh mô tả chu kỳ sinh trưởng và suy bại của mọi sự vật, sự việc trong cuộc sống, thiên nhiên, vũ trụ và con người. Cho nên, vòng Trường sinh ở trong nhiều hệ thống của các ngành ứng dụng thuộc Lý học Đông phương. Vòng Trường sinh trong ngành dự báo số phận con người là Tử Vi có chu kỳ trong 12 cung và là thành tố dự đoán của chu kỳ Đại Hạn 10 năm trong Tử Vi - Tức là vòng Tràng sinh chi phối 120 năm (Một trăm hai mươi năm) trong chu kỳ vận hạn của một đời người trong lá số Tử Vi. Trong ứng dụng của khoa Tử Vi, vòng Tràng Sinh Dương tính theo chiều thuận. Vòng Tràng sinh Âm tính theo chiều nghịch. Chu kỳ Âm Dương của vòng Trường Sinh là 24 năm. Đây chính nguyên lý chu kỳ 24 năm Sinh - Vượng - Mộ của một hành trong LẠC THƯ HOA GIÁP được thực hiện trên Hà Đồ - đã được Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh chứng minh nguyên lý lập thành bảng này trên Hà Đồ - với sự thay đổi vị trí hai hành Thủy Hỏa. Vòng Tràng sinh thể hiện sự tiêu trưởng của ngũ hành. Ngũ hành phân Âm Dương cho nên vòng Tràng sinh cũng theo Âm Dương và ứng dụng theo tam hợp cục của Địa chi. Vì Địa chi phân Âm Dương nên sự ứng dụng của Trường sinh cũng theo quy luật Dương thuận, Âm nghịch. Thí dụ: Tam hợp cục Hỏa là Dần - Ngọ - Tuất; Tam hợp cục Mộc là Hợi - Mão - Mùi.... ACE và quý vị lưu ý nguyên lý tam hợp cục của ngũ hành để đối chiếu với tính hợp lý trong việc ứng dụng vòng Tràng sinh trong Địa lý Phong thủy Lạc Việt. Quý vị và ACE xem hình minh họa dưới đây cho hai vòng Tràng sinh Âm Dương thuận nghịch. Vòng Tràng sinh Duong thuận Vòng Tràng sinh Âm nghịch Như vậy tôi đã trình bầy khái quát về những nguyên lý ứng dụng của vòng Tràng sinh trong mọi ngành ứng dụng của Lý học Đông Phương nói chung. Trên cơ sở những tri thức căn bản về vòng Tràng sinh này chúng ta ứng dụng tiêu chi khoa học cho một lý thuyết khoa học phát biểu như sau: Trên cơ sở tiêu chí khoa học này, chúng tôi ứng dụng giả thuyết hướng sát của Bát sát lệ thuộc vào vòng Tràng sinh xem có phù hợp với tiêu chí khoa học trên hay không. Vì vòng Tràng sinh có thể phân loại Âm Dương, cho nên chúng tôi cũng phân loại tám phương Bát quái theo Âm Dương, như sau: A/ Bốn quái tứ chính thuộc Dương, gồm: Khảm / - Chấn / - Ly / - Đoài / B/ Bốn quái tứ di thuộc Âm, gồm: Càn / - Khôn / - Cấn / - Tốn / Trên cơ sở này chúng ta một lần nữa áp dụng vòng Tràng sinh theo đúng như cổ thư chứ Hán mô tả về hướng sát của Bát sát để đối chiếu, so sánh. A/ Bốn quái tứ chính: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Thìn (Khảm Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư).....................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Tỵ (Đoài Xà đẩu) B/ Bốn quái tứ di: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..............................6/ Hướng Khôn ( Tốn theo sách Việt), Bát sát ở Mão (Khôn Thỏ 'mão') 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dần (Cấn Hổ)................................8/ Hướng Tốn (Khôn theo sách Việt). Bát sát ở Dậu (Tốn Kê). Thưa quý vị và ACE thân mến Như vậy qua hình mô tả ở trên, khi chúng ta áp vòng Tràng sinh theo giải thiết ban đầu để quán xét thì chúng ta nhận thấy rằng, ở bốn quái tứ chính (vòng Tràng sinh thuận), chỉ có hai quái Ly và Chấn có phương Bát sát nằm ở Tuyệt. Và ở bốn quái tứ Di (vòng Tràng sinh nghịch) thì chỉ có hai quái Càn và Khôn (Tốn theo sách Việt) có phương Bát sát nằm ở Tuyệt. Như vậy nếu theo giải thuyết ban đầu là đúng thì thể hiện phương sát theo cổ thư chữ Hán chỉ đúng được một nửa?! Chúng tôi cho rằng: Vì mối liên hệ chính xác "một nửa" đó - phương sát phải nằm ở vị trí Tuyệt của vòng Tràng sinh - thì tính hợp lý lý thuyết cho toàn bộ vấn đề, tất cả các phương sát đều phải nằm phương Tuyệt của vòng Tràng sinh - Tùy theo tứ chính hay tứ di mà ứng dụng vòng Tràng sinh thuận nghịch. trên cơ sở này chúng ta áp vòng tràng sinh trên cơ sở "Hậu thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn - Khôn) phối Hà Đồ" . Chúng ta sẽ được một sự hoàn hảo phù hợp với tiêu chí khoa học của phương sát trong Bát sát, như mô hình dưới đây: A/ Bốn quái tứ chính: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Tị (Khảm Xà/ Sách Hán: Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư).....................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Dần (Đoài Hổ đẩu. Sách Hán: Xà) B/ Bốn quái tứ di: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..............................6/ Hướng Khôn Bát sát ở Tý (Khôn 'Tý'. Sách Hán: Tốn Kê) 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dậu (Cấn Kê. Sách Hán: Dần)..........8/ Hướng Tốn Bát sát ở Mão (Tốn Mẹo. Sách Hán: Khôn tuyệt ở Mão). Thưa quý vị và ACE, trên cơ sở giả thuyết ban đầu chúng tôi xác định rằng: Tất cả các phương sát trong Bát sát đều phải nằm ở vị trí Tuyệt của vòng Tràng sinh. Trong đó, tứ chính là Dương, thuộc vòng Tràng sinh thuận; tứ Di là Âm thuộc vòng Tràng sinh nghịch. Và chúng tôi đã minh họa ở hình trên. Trên cơ sở này chúng ta thấy rằng: Hai quái tứ chính là Ly - Chấn hoàn toàn trùng khớp phương sát với Lạc Việt, tức giả thuyết của chúng tôi và hai quái tứ Di là Càn - Khôn (Tốn theo Lạc Việt) là hoàn toàn trùng khớp, còn lại như phần trên đã trình bầy thì phương pháp đặt phương sát của chúng tôi nhân danh nền Văn hiến Việt một thời huy hoàng ở bờ Nam sông Dương tử, hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học về tính quy luật, tính khách quan, tính hệ thống, tính nhất quán và tính hoàn chỉnh. Bây giờ chúng ta đối chiếu tiêu chi khoa học mà chúng tôi đã trình bầy ở trên về tính hợp lý lý thuyết toàn diện nhân danh nền Văn hiến Việt: Tất cả những ai nghiên cứu về Lý học thì đều biết rất rõ thì trong 12 Địa chi thì Tý tuyệt Tị, Mão tuyệt Thân, Ngọ tuyệt Hợi, Dậu tuyệt Dần và ngược lại: Hợi tuyệt Ngọ, Tị tuyệt Tý, Dần tuyệt Hợi, Thân tuyệt Mão. Trên cơ sở này chúng ta quán xét lại toàn bộ những hướng và phương sát - nhân danh nền Văn hiến Việt - hoàn toàn phù hợp với cách Tứ Tuyệt trong Địa chi được mô tả trong Lý học Đông Phương, đồng thời phù hợp với phương Tuyệt của vòng Tràng sinh. Đây chính là tính hợp lý lý thuyết của mọi vấn đề liên quan đến nó phù hợp với tiêu chí khoa học. Đó là phù hợp với phương Tuyệt của vòng Tràng sinh; phù hợp với nguyên lý Tứ tuyệt của địa chi. Đó chính là một phương pháp nghiên cứu của chúng tôi căn cứ theo tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Đây là điều mà trong các cổ thư chữ Hán không mô tả được. Vấn đề không phải chỉ riêng một vấn đề phương sát trong Bát sát trong Địa lý Phong thủy. Mà là tất cả hầu hết các di sản từ cổ thư chữ Hán liên quan đến Thuyết Âm Dương ngũ Hành, thì chúng đều rất mơ hồ, mâu thuẫn và bất hợp lý ngay trong nội hàm cấu trúc của hệ thống này. Tính hợp lý lý thuyết phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, chỉ thể hiện nhân danh nền Văn Hiến Việt một thời Huyền Vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử, với nguyên lý căn để Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt. Mới đủ tư cách để xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Bát Quái chính là "Lý thuyết thống nhất vũ trụ" mà nền khoa học hiện đại đang mơ ước! Trên cơ sở này. Rất hy vọng bài viết mà tôi trình bầy trên đây sẽ được quý vị quan tâm. Riêng đối với ACE Địa lý Lạc Việt thì nhân danh một người thầy đang truyền đạt kiến thức và nhân danh nền Văn Hiến Việt, với tinh thần khoa học thực sự, ACE hãy áp dụng phương sát trong Bát sát đã được phục hồi từ nền Văn hiến Việt. Phương pháp ứng dụng nhân danh nền Văn hiến Việt, không chỉ ứng dụng trong Dương trạch để trổ cửa tùy theo hướng nhà, mà còn là ứng dụng trong Loan Đầu để chọn hướng nhà và vấn đề Âm trạch mà ACE sẽ tiếp tục được học tới đây. Xin cảm ơn quý vị và ACE đã đọc và quan tâm đến bài viết này.
    3 likes
  3. CHƯƠNG II. KHẢ NĂNG PHỤC HỒI THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ KINH DỊCH TỪ NỀN VĂN HIẾN VIỆT. MỞ ĐẦU Người viết đã chứng minh với bạn đọc rằng: Nền văn hóa Hán không thể phục hồi được thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Những nền tảng của học thuyết này, làm nên những bí ẩn của nền văn minh Đông phương, vẫn sừng sững thách đố tri thức của nền văn minh hiện đại. Nhưng bản văn cổ chữ Hán thực chất chỉ là sự sao chép lại một cách không hoàn chỉnh và chỉ giới hạn trong các phương pháp ứng dụng như một sự mặc định, chứ không hề được mô tả như một học thuyết hoàn chỉnh. Trong phần đầu của chương II, người viết tiếp tục chứng minh điều này, để bổ xung cho luận điểm minh chứng rằng: Nền văn minh Hán không thể là chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành, đã trình bày ở các phần trước. Vấn đề còn lại của chương II – và cũng là nội dung chính của chương này, là: người viết chứng minh những di sản văn hóa sử truyền thống còn lưu truyền trong nền văn hiến Việt, dù tan nát với sự thăng trầm của Việt sử, cũng đủ để chứng minh sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Hay nói cách khác: Đó chính là sự phù hợp với tiêu chí thứ II là chuẩn mực xác định nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Tiêu chí này phát biểu rằng: Nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết, phải chứng tỏ được nền tảng tri thức đã tạo dựng nên hệ thống lý thuyết đó và có khả năng phục hồi được học thuyết được coi là hình thành từ nền văn minh đó. Chúng ta bắt đầu từ danh từ Âm Dương trong các bản văn chữ Hán cổ trong phần tiếp theo dưới đây. Trong các bản văn cổ chữ Hán, từ Âm Dương được coi là xuất hiện vào thời Chu, trong các bản văn liên quan đến kinh Dịch, kinh Thi, kinh Thư, Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Về Ngũ hành thì được coi là xuất hiện trong kinh Thư với truyền thuyết vua Đại Vũ trị thủy trên sông Lạc Thủy (Một con sông nằm ở thượng nguồn sông Hoàng Hà). Chính vì sự xuất hiện của danh từ Âm Dương trong các bản văn nói trên, khiến các nhà nghiên cứu cho rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành ra đời trong nền văn minh Hán từ thời cổ đại. II. I. NHỮNG DI SẢN TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN VÀ SỰ MƠ HỒ CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH VÀ KINH DỊCH. I.1. DANH TỪ ÂM DƯƠNG TRONG BẢN VĂN CHỮ HÁN CỔ. Trong các tài liệu sự tầm được, người viết nhân thấy tư liệu của Giáo Sư Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dưới đây tương đối đầy đủ, để bạn đọc có một ý niệm cụ thể và khái quát về sự xuất hiện của từ Âm Dương và ngữ cảnh của nó. Từ tư liệu này, người viết sẽ trình bày luận điểm của mình về những vấn đề liên quan. Nguồn: Web của Giáo Sư Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ. Như vậy, qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng thấy đó chỉ là những ngữ cảnh xuất hiện liên quan đến danh từ Âm Dương. Hoàn toàn không phải là sự mô tà một khái niệm nội hàm của hai từ này, chưa nói đến sự xác định một học thuyết quen gọi là thuyết Âm Dương. Nếu cho rằng: Âm Dương xuất hiện từ thời Phục Hy, bởi hai ký hiệu và thì đây lại là việc hết sức phi lý. Bởi vì, đó chỉ là ký hiệu phi ngôn ngữ, để hàng ngàn năm sau, người ta phải sử dụng ngôn ngữ để mô tả nó. Nếu coi hai ký hiệu này là sự thể hiện ý tưởng tổng hợp của khái niệm Âm Dương, thì Hà đồ do vua Phục Hy tìm ra trên lưng Long Mã với những chấm đen trắng, cũng đủ thể hiện khái niệm Âm Dương rồi. Bạn đọc xem lại đồ hình Hà Đồ phối Tiên Thiên bát quái được coi là của vua Phục Hy tìm ra từ khoảng 6000 năm cách ngày nay. Rõ ràng sau vua Phục Hy trải dài 3000 năm, đến tận đời Chu không hề có bản văn cổ chữ Hán nào mô tả nội hàm kháo niệm Âm Dương với tư cách là một học thuyết. Rõ ràng sau vua Phục Hy trải dài 3000 năm, đến tận đời Chu không hề có bản văn cổ chữ Hán nào mô tả nội hàm khái niệm Âm Dương với tư cách là một học thuyết. Rõ ràng đây là sự phi lý nữa trong lịch sử hình thành cái gọi là thuyết Âm Dương trong lịch sử văn minh Hán. Nhưng ngay cả bản văn đời Chu, mà người viết giới thiệu ở trên cũng không làm sáng sủa hơn khái niệm của cặp từ “Âm Dương”. Cho đến 2000 năm tiếp theo trong văn minh Hán, đến đời Tống, Chu Đôn Di mới bàn về Âm Dương. Nhưng chính ông ta lại nhầm lẫn về khái niệm, khi cho rằng Âm Dương có trước “Lưỡng nghi”, mà người viết đã trình bày ở phần trên. Nếu Âm Dương có trước “Lưỡng Nghi” thì nó là một cặp từ mô tả một thực tại xuất hiện và vận động trong sự khởi nguyên của vũ trụ. Đâu phải là hệ quả của tư duy tổng hợp để gọi là một học thuyết?! Hay nói rõ hơn: Với 3000 năm tính từ đời Chu đến Tống, nền văn minh Hán vẫn không hề hiểu được nội hàm khái niệm của chính cặp từ Âm Dương, mà nền văn minh Hán tự nhận. Đấy là kết quả của cái gọi là “Thuyết Âm Dương xuất hiện vào đời Chu, trong nền văn minh Hán”. Mọi việc cũng không hề sáng sửa hơn với học thuyết quen gọi là “Ngũ hành”
    2 likes
  4. chào bạn, trong 2 năm thì năm canh tý 2020 tốt hơn nhé. trong luận tuổi lạc việt, chúng tôi ưu tiên con phải hợp mẹ trước. mẹ hoả sinh thổ. mẹ tuất là mộ của kim, con sửu là mộ của thủy, kim sinh thuỷ là vẫn ổn bạn ha. thân mến!
    2 likes
  5. chào bạn, gia đình sinh con út năm 2020 canh tý hoặc 2021 Tân Sửu nhé. sức khoẻ chưa tốt thì nên xem lại địa lý phong thủy nhà thân mến!,
    2 likes
  6. Cặp vợ chồng 1984 1985 đâu được xem là cùng tuổi? Giáp Tý và Ất SỬu là 2 tuổi riêng biệt rồi. Riêng cặp cùng tuổi ÁT Sửu 1985 thì nên sinh năm 2020 Canh Tý, mạng con hợp cha mẹ, thiên can Canh hợp Ất, rất tốt, sinh đứa này ra mọi việc sẽ vượng. Các năm tiếp theo nên sinh là 2022 Nhâm Dần hoặc 2024 Giáp Thìn. Còn xa hơn thì xa lắm :D Thân mến.
    2 likes
  7. Năm nay hụt rồi thì thôi, đợi đến 2022 Nhâm Dần nhé, 2020 2021 mạng con và mẹ khắc nhau, ko nên sinh!
    2 likes
  8. GIẢI MÃ NGÀY TAM NƯƠNG VÀ NGUYỆT KỴ 1. Mở đầu Mặt Trăng và chu kì của nó ảnh hưởng rất lớn và rất quan trọng đối với cuộc sống trên Trái đất và đặc biệt đối với người Việt, chủ nhân của nền Văn minh Lúa nước. Chu kì con nước cho hoạt động sản xuất gắn liền với chu kì của Mặt Trăng gắn liền với người Việt từ thủa sơ khai, và do đó lịch Âm hay Âm Dương phối lịch, được người Việt sử dụng chính thức cho tới tận ngày hôm nay. Tất cả những việc liên quan tới cuộc sống từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, kinh doanh hay văn hoá, tâm linh chúng ta đều dùng tới Âm Dương lịch. Ông cha ta theo dõi chu kì Trăng đưa cả vào các câu thơ đồng dao, đủ thấy rằng từ xa xưa Người Việt đã làm chủ được chu kì và thời gian của Trăng, vừa dễ nhớ và lại vừa phổ cập, lưu truyền từ đời này qua đời khác: Mồng một lưỡi trai Mồng hai lá lúa Mồng ba câu liêm Mồng bốn lưỡi liềm Mồng năm liềm giật Mồng sáu thật trăng Mồng bảy thượng huyền Mười rằm trăng náu Mười sáu trăng treo Mười bảy sảy giường chiếu Mười tám rám trấu Mười chín đụn dịn Hăm mươi giấc tốt Hăm mốt nửa đêm Hăm hai hạ huyền Hăm ba gà gáy Hăm bốn ở đâu Hăm nhăm ở đấy Hăm sáu đã vậy Hăm bảy làm sao Hăm tám thế nào Hăm chín thế ấy Ba mươi chẳng thấy Mặt mày trăng đâu ? Từ việc gắn liền mọi hoạt động của cuộc sống tới lịch Âm lịch, việc chọn ngày tốt xấu để sản xuất nông nghiệp cho tới các hoạt động khác đã có từ xa xưa. Rõ ràng việc chọn ngày tốt xấu mang yếu tố khoa học, nhưng một thời bị xem là mê tín, bởi việc chọn ngày được thực hiện bởi những người làm những công việc tâm linh. Người ta không giải thích được sự việc hiện tượng vì sao lại có ngày tốt, ngày xấu liên quan tới công việc và cuộc sống hàng ngày. Một nguyên nhân nữa là vì những ngày xấu đó lại liên quan tới những truyền thuyết hay những câu chuyện huyền bí. Chúng ta coi đó là việc liên quan tới Tâm linh, mê tín và những câu chuyện xảy ra đều sẽ gắn liền với mê tín và Tâm linh. Chúng ta cũng mặc nhiên nghĩ rằng đang sử dụng Âm lịch của người Trung hoa. Nhưng lịch sử xa xưa cho thấy nông nghiệp của họ từ xưa là trồng Kê chứ không phải lúa nước. Cũng giống như nền nông nghiệp lúa mì hay ngô, chuyện con nước lên xuống không phải là điều quan trọng so với trồng lúa. Vậy thì vì sao người Hoa Hạ lại nghĩ ra được lịch Mặt Trăng và việc chọn ngày tốt xấu cũng thuộc “bản quyền” của họ? Người ta đã căn cứ vào truyền thuyết, những câu chuyện thần bí và những nhân vật lịch sử Trung Quốc được gán ghép với nguồn gốc và tên gọi, từ ngày tốt xấu tới kinh Dịch, phong thuỷ. Vậy là người ta dễ dàng tin ngày Tam Nương thuộc về văn hóa Hoa Hạ do nó liên quan đến truyền thuyết ba người đàn bà (Tam nương) nổi tiếng của Trung Quốc liên quan tới sự lụn bại của cả một triều đại; rồi vua Phục Hy tìm được rùa thần trên sông Hoàng Hà, để rồi sáng chế ra Hà đồ. Chúng ta dễ dàng tin vào điều hoang đường đó. Nhưng điều đơn giản tổ tiên người Việt là chủ nhân của nền Văn minh lúa nước, là cội nguồn của nền Văn minh Đông phương trực tiếp sử dụng và lưu truyền tới ngày nay thì chúng ta lại phủ nhận. Việc chọn ngày tốt, xấu để thực hiện công việc vốn có nguồn gốc từ việc Tổ tiên chúng ta chọn ngày gieo trồng lúa và các nghi thức tôn giáo, tâm linh. Việc chọn ngày tốt xấu bởi ảnh hưởng lớn của Mặt Trăng lên Trái đất và con người, đặc biệt đối với người Việt thì sản xuất nông nghiệp là chủ đạo. Trong một chu kì Trăng, tức là một tháng Âm lịch thì có tới ít nhất 1/3 số ngày là ngày xấu. Trong những ngày xấu đó, ngày Nguyệt kị được viết thành thơ “ Mùng 5-14-23, đi chơi còn lỡ nữa là đi buôn” để ai cũng nhớ mà tránh. Việc chọn ngày tốt để làm việc hay ngày xấu để tránh đi, đối với công việc và cuộc sống hiện đại lại bị coi là mê tín, bởi nhiều người cho rằng chỉ liên quan tới các công việc thuộc về tâm linh, chẳng liên quan tới trồng trọt hay con nước lên xuống. Trong các ngày xấu trong tháng, có các ngày cố định là 6 ngày Tam nương (3-7-13-18-22-27) và 3 ngày Nguyệt kị (5-14-23). Với Trung tâm lý học đông phương thì chúng tôi tránh tuyệt đối những ngày này cho các việc khởi sự hay kết thúc. Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh , Giám đốc trung tâm đã nhiều lần giải thích về ngày Tam nương và tôi đã đề nghị Ông giao cho tôi nghiên cứu và viết về chủ đề này từ vài năm trước. Để làm rõ vì sao ngày Tam nương lại mang tới những chuyện không hay, tôi xin viết những gì mình tìm hiểu về ngày đặc biệt này và nó chẳng liên quan tới việc xui xẻo của người Hoa Hạ gán với ba đại Mỹ nhân làm mất nước trong lịch sử của họ. 2. Ngày Tam nương và sự mơ hồ theo truyền thuyết. Ngày tam nương theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc là những ngày rất xấu. Do đó, mỗi khi khởi sự làm một việc quan trọng (như khai trương, xuất hành, cưới hỏi, sửa chữa hay cất nhà, v.v...) để khỏi chuốc lấy thất bại, phải tránh khởi sự vào các ngày tam nương, gồm ngày mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22, và 27 trong mỗi tháng Âm lịch. Tam nương hiểu đơn giản là “ba người đàn bà”. Theo dân gian Trung Quốc, tam nương gồm ba nàng Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự. Hầu hết sách sử Trung Quốc đều kết tội ba giai nhân tuyệt sắc này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại Hạ, Thương, Tây Chu trước Công nguyên (TCN). Các sử gia đều phỏng chừng ba sự kiện “tan nhà đổ nước” này lần lượt xảy ra trong các năm như sau: 1. Muội Hỉ (sinh ngày mồng 3 tử ngày mồng 7 ( ngày Mão )mê hoặc vua Kiệt (tức Lý Quý , cai trị? - 1600 TCN), làm sụp đổ nhà Hạ (khoảng 2100 TCN - 1600 TCN). 2. Đát Kỷ (người Việt quen gọi Đắc Kỷ)(sinh ngày 13 tử ngày 18 ( ngày Thìn ) (mê hoặc vua Trụ (tức Đế Tân, cai trị khoảng 1154 TCN - 1066 TCN), làm sụp đổ nhà Thương (khoảng 1600 TCN - 1066 TCN). Huyền thoại đề quyết nàng Đát Kỷ là con cáo cái thành tinh (hồ ly tinh), có phép hoá ra mỹ nhân. 3. Bao Tự (sinh ngày 22, tử ngày 27 ( ngày Mùi ) (?-771 TCN) mê hoặc vua U (tức Cơ Cung Niết , cai trị 781 TCN – 771 TCN), làm sụp đổ nhà Tây Chu (khoảng 1066 TCN - 771 TCN). Tuy nhiên thì không có truyền thuyết nào gắn với ngày nguyệt kỵ ngoài câu thơ lưu truyền trong dân gian: “Mùng 5, 14, 23, đi chơi còn lỡ nữa là đi buôn” Vậy 6 ngày tam nương có liên quan gì tới ba giai nhân này? Có người giải thích rằng là ngày sinh và ngày mất của ba giai nhân này - như chúng tôi đã trình bày ở trên - và điều này thật sự là cưỡng ép để giải thích nguồn gốc của ngày tam nương cũng như để hơp thức hoá chủ nhân của “ngày tốt xấu” trong tháng âm lịch. Đối với những ai là fan của www.lyhocdongphuong.com.vn đều biết ngày tam nương là ngày kiêng kị tuyệt đối để khởi hành hay bắt đầu hoặc kết thúc một công việc nào. Bây giờ chúng ta xem xét cơ sở thực tế của ngày Tam nương từ những tương tác của chu kỳ mặt Trăng. 3. Pha và chu kì của Mặt Trăng: Khoa học đã chứng minh ảnh hưởng của chu kì Mặt Trăng lên Trái Đất và cuộc sống của con người. 1-Trăng mới (Sóc) 2-Trăng lưỡi liềm đầu tháng (Trăng non) 3-Bán nguyệt đầu tháng (Trăng thượng huyền) 4-Trăng khuyết đầu tháng (Trăng trương huyền tròn dần) 5-Trăng tròn (Vọng, hay Trăng rằm) 6-Trăng khuyết cuối tháng (Trăng trương huyền khuyết dần) 7-Bán nguyệt cuối tháng (Trăng hạ huyền) 8-Trăng lưỡi liềm cuối tháng (Trăng tàn, trăng xế) 9-Trăng tối(Không trăng) Mặt Trăng cần 28 ngày (27,3 ngày làm tròn) đi hết quĩ đạo quanh Trái Đất và 30 ngày để đi hết một vòng 12 cung Hoàng đạo tức là trung bình 2,5 ngày đi qua một cung Hoàng đạo. Chúng ta nhận thấy rằng sẽ phải quán xét tới vị trí của Mặt trăng với các cung Hoàng đạo và vị trí đó ảnh hưởng tới Trái đất . Vấn đề ở đây chúng ta sẽ dùng 30 ngày -chu kì trăng hay 28 ngày-thời gian Mặt Trăng quay quanh Trái Đất để xem xét ảnh hưởng tốt xấu của Mặt Trăng tới Trái Đất ? Theo Âm Dương phối lịch từ truyền thống, chúng ta thường dùng lịch Âm (lịch Mặt Trăng) với 30 ngày theo chu kì từ ngày Rằm tháng này tới Rằm tháng sau. Ngày Rằm là 15 và kết thúc vào ngày 30 hàng tháng và với tục đi lễ ngày Rằm và Đầu tháng Âm thì chúng ta nhằm ngày 15 và mùng 1 của tháng 30 ngày. Cách tính ngày tốt-xấu cũng tính theo lịch 30 ngày và nếu là tháng Nhuận thì vẫn tính theo tháng nhuận 30 ngày chẵn. Sau rất nhiều năm tìm hiểu nghiên cứu để giải thích về ngày xấu mà đặc biệt là ngày Tam nương-Nguyệt Kị, cùng với thống kê các sự việc xấu xảy ra vào ngày Tam nương, tôi nhận thấy rằng một số sự kiện xấu lại xảy ra trước ngày Tam nương, tức là nhiều khi không chính xác vào các ngày tam nương: 3-7-13-18-22-27. Trên thực tế, trái đất chịu ảnh hưởng từ lực hấp dẫn của Mặt Trăng khi di chuyển quanh trái đất, do vậy đối với lĩnh vực Tâm Linh tây phương hay Ả rập họ vẫn dùng lịch mặt Trăng với ngày Trăng tròn là ngày thứ 14 và kết thúc vào ngày thứ 29(làm chẵn). Hình ảnh dưới đây mô tả chu kì và vị trí của Mặt Trăng với 12 cung Hoàng Đạo. Người Ả Rập sử dụng 28 ngày và gọi mỗi ngày của Mặt Trăng trên mặt phẳng Hoàng Đạo là một “Nhà”. Điều đặc biệt là khi sử dụng biểu đồ mô tả vị trí tương đối của Mặt Trăng với cung Hoàng Đạo, các nhà Chiêm tinh hay Tâm linh đều tránh các ngày Mặt Trăng nằm ở vị trí giao nhau giữa các cung Hoàng Đạo ! Khi nhìn vào Hình 2, chúng ta dễ dàng nhận thấy các ngày Tam nương và Nguyệt kị đều vào vị trí giao nhau giữa các cung Hoàng đạo. Tất nhiên là vị tri không chính xác theo biểu đồ bởi số ngày là lẻ (27,3 ngày) chia đều cho 12 cung, và chúng ta lại quán xét ngày xấu trên cơ sở lịch âm 30 ngày. Đây cũng là lý do vì sao có một số ngày Tam nương tới “sớm” hay “muộn” hơn một ngày. H1: 30 ngày Trăng với 12 cung Hoàng đạo H2: 28 ngày Trăng Tiếp theo, chúng ta lại xét tiếp tới Pha của măt Trăng. Tổng số là 29,5 ngày và theo Chiêm tinh, họ dùng ngày thứ 29 làm ngày kết thúc một chu kì Trăng thay bởi làm tròn thành 30 ngày như lịch Trăng của Đông Phương. Từ hình vẽ mô tả này, chúng ta cũng có thể nhận thấy ngày Tam nương cũng trùng với ngày kết thúc của một Pha mặt Trăng. Điều thú vị là có 8 Pha nhưng có hai Pha tương tự, do vậy có 2 ngày kết thúc của Pha có đặc tính giống nhau, thu gọn lại ta có 6 ngày kết thúc một Pha, trùng lặp với ngày Tam nương. H3: Pha của Mặt Trăng H4.(thuỷ triều với chu kì Trăng) Ngày Nguyệt Kị, tôi cho rằng đây chính là ngày đỉnh điểm của lực hấp dẫn của Mặt Trăng lên Trái Đất, gây ra hiện tượng thuỷ Triều mạnh nhất. Việc này cũng sẽ ảnh hưởng tới con Người bởi cơ thể chúng ta nước chiếm 78%. Hiện tượng này tạo cho chúng ta dễ mất kiểm soát cho nên công việc sẽ không thuận lợi nếu chúng ta đưa ra quyết định vào ngày này. Ngày Tam nương, là điểm chết vị trí của Mặt Trăng trên cung Hoàng Đạo và cũng là vị trí kết thúc Pha của Mặt Trăng, là vị trí của Mặt Trăng với Trái Đất. Do vậy, mọi sự bắt đầu và kết thúc đều ở điểm “chết” và khó để phát triển. Do vậy, theo Lý Học Đông Phương thì chúng ta không nên bắt đầu hay kết thúc một việc gì đó do tạm thời “mất” đi tương tác của Mặt Trăng lên Trái Đất và “mất” ý nghĩa của Mặt Trăng trong mặt phẳng Hoàng Đạo. Nền Lý Học của người Việt không gán ghép các nhân vật Lịch sử hay huyền sử vào nguồn gốc hay giải thích sự việc tốt xấu nhằm mục đích mê hoặc và đặc biệt để tạo nguồn gốc và sở hữu. Tổ tiên chúng ta truyền lại cho thế hệ sau qua ca dao, qua phong tục tập quán chứ không mê hoặc hay gán ghép vào chuyện thần tiên để mô tả nguồn gốc của lý thuyết thuộc về Lý học. 3. Ngôn ngữ.: Sẽ có người đặt câu hỏi vì sao có 6 ngày mà lại gọi là Tam nương. Theo lý học đông phương thì có 3 ngày cực Âm và cặp với nó là 3 ngày dương. Theo đồ hình chúng ta cũng có thể nhận ra điều này. Cũng là một cách đạt vấn đề về ngôn ngữ, cách gọi và đặt tên ngày Tam nương. Tam Nương theo cách nói và nghe được ghi lại và người Hoa hạ gán ghép với chuyện của ba đại Mỹ nhân trong lịch sử là nguyên nhân mất nước. Đối với người Việt thì từ Nương và Lương khi phát âm thì nhiều người Việt phát âm ý nghĩa của từ này là như nhau. Ví dụ: Nương rẫy Lương thực thì nhiều người phát âm thành “Lương rẫy, Nương thực” hoặc Lương rẫy, Lương thực hoặc Nương rẫy , Nương thực. Xa xưa, có lẽ ngôn ngữ có khác biệt khi sử dụng chữ tượng hình như chữ Nôm. Do đó ta sẽ xem xét ý nghĩa của từ Nương và Lương. 1. Nương: 娘 :Là cô, thiếu nữ, chị, mẹ, bà, vợ, bà chủ.. chỉ chung cho Nữ giới. 碭: Mang ý nghĩa nếu muốn qua thì phải vượt lên, như vượt qua cầu. 2. LƯƠNG:量 : Cân nhắc, coi xem nặng nhẹ Với người Việt, khi cân nhắc điều gì thường nói tới con số 3, ví dụ khuyên răn: Uốn lưỡi ba lần trước khi nói, hay tốt xấu: quá Tam ba bận Tam Lương: Hãy cân nhắc ba lần trước khi làm Phải chăng Tam Lương là cách tổ tiên chúng ra khuyên hãy cân nhắc trước khi làm việc gì vào những ngày này ? * đây chỉ là cách đặt nghi vấn của cá nhân tôi trong cách gọi tên ngày Tam nương Mạnh Đại Quân, 14-12-2015
    2 likes
  9. Vào ngày mùng 10/ 3 Mậu Tý là ngày khai trương diễn đàn. Thiên Sứ sẽ trả lời ba người, mỗi người ba câu hỏi, mỗi câu hỏi không quá 15 chữ, hoặc số về tất cả mọi chuyện trên đời. Thiên Sứ
    1 like
  10. Thầy cho con hỏi. Học đạo thầy chân chính có lấy tiền mình ko thầy? (câu hỏi của người học đạo Pháp sư, nhưng lấy ví dụ từ điển tích đạo Phật cho dễ hiểu) ~Cũng tùy, lấy không có nghĩa là xấu mà không lấy chưa chắc là tốt, ở Tây Tạng, khi đến cầu pháp 1 vị Đạo sư, người học trò phải mang một chút lễ vật tùy theo khả năng nhưng phải thành thật hết lòng để cầu, không có sẽ không đúng quy tắc, có khi còn không được dạy nữa đó. Vì Pháp truyền phải đúng người, nhưng cũng không thể tùy tiện trao truyền, nếu không người cầu pháp sẽ không thành tâm, không thành tâm thì dù có nhận pháp tu hành cũng không dc hộ pháp gia hộ và thành tựu. Bằng chứng là tổ Milarepa cầu pháp ngài Marpa, mẹ ngài đã phải bán mảnh đất khô cằn duy nhất của gia đình đổi lấy 1 con ngựa, 1 miếng Ngọc và ít đồng vàng cho ngài mang đi, tổ Milarepa đã dâng cúng toàn bộ cho tổ Marpa mong được học đạo. Về quy tắc thì người học trò phải tự giác điều này, người thầy chỉ nhận và xem đệ tử có thành tâm để dc mình truyền dạy hay không. Thầy xưa học phải tốn mấy cây vàng và vài bao gạo để xin học, Thầy nay giản tiện 1 mâm trái cây và một bao lì xì có con số 36. Dù xưa hay nay, hoặc trải qua nghìn đời sau, quy củ này vẫn luôn tồn tại không thay đổi. Huyền Tráng Pháp Sư (tôi đọc đúng tên Huyền Tráng chứ không phải Trang) thỉnh kinh, còn phải lấy Kim Bát ra đổi, đó không phải là hối lộ, mà là quy tắc cái Tâm phải đi chung cái Lễ, bằng không pháp truyền ra một cách bừa bãi thiên hạ sẽ không quý trọng. Thêm một minh chứng nữa là Tăng Huệ Khả cầu pháp với Đạt Ma Tổ Sư quỳ dưới tuyết 3 ngày 3 đêm, sau Tổ hỏi ông lấy cái gì chứng minh tấm lòng của mình, Huệ Khả liền chặt đứt cánh tay dâng Tổ, Tổ liền bằng lòng truyền Y Bát. Cho nên người học Đạo chưa từng trải qua đau khổ, nước mắt và máu rơi thì không thể nào quý trọng Đạo Pháp. Pháp Thiện
    1 like
  11. THẦN CHÚ GIẢI THOÁT QUA SỰ NHÌN NGẮM Vì lòng đại bi thương xót chúng sanh, Chư Phật và Bồ Tát đã tạo ra những phương tiện thật thiện xảo để cứu vớt chúng sinh. Xin giới thiệu một phương pháp thanh tịnh nghiệp chướng thông qua sự thấy cho những người hữu duyên. Trong Kinh Thác Nước Mạnh Mẽ (Forceful Waterfall Sutra) có chép: Chỉ cần nhìn thấy câu chú này một lần có thể thanh tịnh nghiệp chướng của ba trăm triệu kiếp trong quá khứ. Xin giới thiệu “Giải Thoát Thông Qua Sự Thấy” (Liberation Upon Seeing). Giải Thoát Thông Qua Sự Thấy là một terma (kho tàng giáo pháp do đức Liên Hoa Sanh và Yeshe Tsogyal ẩn dấu, sẽ được phát hiện tại thời điểm thích hợp bởi một bậc thầy giác ngộ) viết bằng ngôn ngữ của những Không Hành Nam (Dakas) và Không Hành Nữ (Dakinis). Terma này được phát hiện bởi Terton Mingyur Dorje ở thế kỷ 17. Terton Mingyur Dorje (1645-1667) được xem là vị guru thứ 27, dòng Giác Ngộ Hoàn Hảo (Perfect Enlightenment Sect) của trường phái Nyingma. Những người may mắn được thấy hình này sẽ không kinh nghiệm qua ba cõi thấp và sẽ được giải phóng khỏi nỗi sợ rơi vào các cõi thấp; sẽ được thanh lọc năm độc (tham, sân, si, kiêu mạn và đố kị) và giải thoát khỏi nghiệp chướng; được giải thoát khỏi nỗi sợ hãi của phần còn lại trong luân hồi. ( "Those who see this script will not experience the three lower realms and will be liberated from the fear of falling into the lower realms; will be purified of the five poisons and will be freed from the results of one's karma; will be freed from the fear of remaining in samsara.") Trích từ Terma của TERTON Migyur Dorje.
    1 like
  12. Em cảm ơn anh DLLV1_anqilong1979 rất nhiều ạ, nhưng em nhận được trả lời muộn quá vì em đã đưa ra quyết định từ thứ 7 tuần trước trước thời hạn thử việc, em không muốn khi mình không muốn làm rồi nên quyết định sớm thì công ty đỡ phải mất nhiều thời gian về em. Kết quả là em vẫn chọn nơi cũ vì chưa đủ tự tin về bản thân đối với công việc mình sẽ làm. Mặc dù khi em đến nới mới có cảm giác tự tin và thoải mái rất nhiều mặt, nhưng em vẫn cảm thấy lo lắng không yên tâm về lâu dài, mặt khác không gian nơi làm việc cũng làm em chưa thích ghi nên em đã quyết định chọn nơi cũ. Đến hiện tại cả giám đốc và chị trưởng phòng vẫn tiếc cho bản thân em, nhưng thực sự đầu óc em lại cảm thấy thoải mái hơn khi đã quyết định. Anh có thể cho em lời khuyên là lựa chọn của em cuối cùng như vậy đã đúng đắn và hợp lý chưa ạ. Liệu chỗ làm của em về lâu dài có ổn định không ạ. Em cũng nơi stheem với anh nữa là nơi cũ em sẽ làm việc với sếp mới và ở một khoa mới ạ, chỉ có tính chất công việc giống nhau thôi ạ. Em cảm ơn anh rất nhiều ạ.
    1 like
  13. Cháu cảm ơn bác @Thiên Luân rất nhiều! 2 bé nhà cháu sinh đều nhờ bác tư vấn từ năm 2014 đó ạ.
    1 like
  14. chào bạn, gia đình muốn sinh thêm 1 bé nữa thì có 2 năm là 2020 canh tý và 2021 tân sửu. thân mến!
    1 like
  15. chào bạn, gia đình sinh bê út năm 2022 Nhâm Dần hoặc 2023 Quí Mão nhé. năm 2023 gia đình được cách cục song nguyên rất tốt. thân mến!
    1 like
  16. chào bạn, nếu 2020 2021 được năm sinh, thì chúng tôi đã tư vấn bạn rồi, chớ đâu phải tư vấn bạn để gia đình chờ tới 2022 2023 chào bạn, với tuổi vk ck bạn như vậy thì chỉ có 1 năm gần nhất là Giáp Thìn 2024, 2 năm xa hơn là Bính Ngọ 2026 và Đinh Mùi 2027 thân mến!
    1 like
  17. chào bạn, gia đình có 2 năm để sinh bé út là 2022 Nhâm Dần, 2023 Quí Mão nhé thân mến!
    1 like
  18. bạn vui lòng quay lại bài đầu tiên của sư huynh trong topic này và đọc thật kỹ nội dung
    1 like
  19. chào bạn, cả 2 năm đều được bạn nhé. năm 2024 thì cha hơi cực chút nhé. còn 2029 thì cha ổn hơn, nhưng thời gian hơi xa thân mến!
    1 like
  20. chào bạn, sinh con được theo năm tư vấn đã là duyên, phúc của gia đình. gia đình có điều kiện thì có thể sinh thêm bé 2020 Canh Tý, chăm sóc bé kỹ chút còn 1 năm nữa nếu gia đình lỡ 2020 là năm 2024 Giáp Thìn. thân mến!
    1 like
  21. chào bạn, tương tác tuổi gia đình bạn là tốt rồi, cha Quí sinh con Ất, Ngọ Mùi nhị hợp, mẹ Thổ sinh con Kim, bé gái thì tương tác chậm hơn bé trai. theo tôi là gia đình không nên sinh thêm. nếu gia đình vẫn muốn sinh thêm thì nên sinh bé Út năm 2022 Nhâm Dần Thân mến!
    1 like
  22. CHỌN NGÀY TỐT Vận khí Bình Địa Mộc - Kỷ Hợi Năm 2019 PHƯƠNG PHÁP: Phương pháp chọn ngày tốt xấu được lưu truyền từ hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc Việt nam là rất đa dạng. Chúng tôi sử dụng phương pháp loại trừ, tức là dùng tất cả các phương pháp chọn ngày giờ theo phong tục cổ truyền để chọn ra một ngày được coi là tốt nhất sau khi loại ra những ngày xấu dựa trên các phương pháp này. Các phương pháp Cổ bao gồm các phương pháp: ü Sinh khắc của Can Chi ü Nhị thập bát tú ü 12 Chỉ Trực ü Hoàng Đạo – Hắc Đạo ü Sát chủ, Thọ tử, Dương Công Kị Nhật, Tam nương, Nguyệt kị, Vãng vong, Thiên Tai-Địa Họa Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Mậu Tuất 2018 và chào đón năm mới Kỷ Hợi 2019. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 ngàn năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được gìn giữ . Phong tục truyền thống bao gồm ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, đón Lành tránh Dữ. Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) đề xuất về các ngày được coi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Toàn bộ ngày giờ dùng trong năm Kỷ Hợi 2019, vận khí (mệnh tuổi) Bình Địa Mộc theo Lạc Thư Hoa Giáp. Tất Niên: Đây là một nghi thức tổng kết và ghi nhận những thành quả sau 365 ngày lao động sản xuất của Gia Đình và Dòng Tộc. Thông thường sẽ diễn ra vào các ngày 29 và 30 tháng Chạp với một nghi lễ Cúng Thần Linh và Gia Tiên. - 21 tháng chạp : 9-11h; 13-15h; 17-19h - 24 tháng chạp: 7-9h; 11-13h - 25 tháng chạp: 9-11h; 17-19h Ngày Xuất hành, Mở hàng: Ngày xuất hành là ngày đi xa để làm việc hay thực hiện việc quan trong chứ không phải là đêm 30 tết hay sáng mùng 1. Tuy nhiên theo phong tục thì ngày mùng 1 tết là ngày xuất hành để chúc tết và tới Chùa cầu An, nên sẽ có khung giờ tốt . Ngày mùng 1 tết năm nay là ngày Tiểu cát nên chúng ta có thể ra khỏi nhà để đi xông đất hoặc Lễ Chùa từ khung giờ 1-3h; 5-7h; Ngày Tốt Khai Trương ,Mở hàng: v Mùng 2* tháng Giêng: 7-9h; 15-17h. v Mùng 4* tháng Giêng: 11-13h. Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Nam Tuổi xông đất: Giáp Dần , Mậu Tí , Bình Dần, Bính Tý, Giáp Thìn, Mậu Tý Hướng Tốt Để Động Thổ: phương vị động thổ cho năm 2019 là tại hướng Nam: 157.5 độ- 202.5 độ . Các Phương xấu 2019 cần tránh: Năm 2019 các Phương xấu bao gồm: Thái Tuế đóng ở sơn Càn – Hợi thuộc Tây Bắc, Xung Thái Tuế tại các sơn Khôn-Tị thuộc Đông Nam, Tuế phá ở sơn Cấn - Dần thuộc Đông Bắc, Tam sát bao gồm các sơn Thân – Dậu –Tuất, Đại sát ở sơn Mão thuộc phương Đông và Nhị hắc và Ngũ Hoàng tại Đông Bắc, Đông Nam. NGÀY GIỜ TỐT NĂM KỶ HỢI 2019 Là những ngày Tốt dùng để Động thổ, khai trương, xuất hành, cưới hỏi và những việc quan trọng. Tuy nhiên danh mục dưới đây là những ngày dùng chung trong mọi việc nên có những ngày không nằm trong danh mục dưới đây vẫn có những ngày tốt khác dụng cho những công việc cụ thể. Do vậy, quí vị nên tham khảo thêm với chúng tôi cho những công việc và mục đích cụ thể. Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau với những ngày có đánh dấu (*) là ngày Hoàng Đạo 1. Tháng Giêng: v Mùng 2* tháng Giêng:giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 15 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h; 9-11h; 13-15h. v Ngày 25 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h, 9-11h; 17-19h v Ngày 29* tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 15-17h 2. Tháng Hai : v Mùng 8 tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;17-19h v Mùng 9 tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 17-19h; 19-21h v Ngày 20 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 17-19h. v Ngày 29* tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 15-17h. 3. Tháng Ba : v Mùng 4* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 19-21h v Mùng 10* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; v Ngày 16* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 13-15h v Ngày 19* tháng ba: giờ tốt; 3-5h;7-9h ;11-13h; 13-15h v Ngày 28* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 19-21h v Ngày 29* tháng ba: giờ tốt;11-13h;13-15h; 19-21h 4. Tháng Tư: v Mùng 6* tháng Tư : giờ tốt; 9-11h ;13-15h, 15-17h. v Ngày 17 tháng Tư : giờ tốt: 11-13h; 15-17h v Ngày 24 tháng Tư : giờ tốt 5-7h;17-19. v Ngày 29* tháng Tư : giờ tốt 3-5h; 13-15h; 19-21h 5. Tháng Năm : v Mùng 1* tháng Năm : giờ tốt; 5-7h; 9-11h. v Mùng 4* tháng Năm : giờ tốt 3-5h; 7-9h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 12* tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 7-9h; 19-21h. v Ngày 16 tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 19* tháng Năm : giờ tốt 5-7h ;9-11h; 15-17h; 21-23h. v Ngày 25 tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 9-11h. v Ngày 28 tháng Năm : giờ tốt 3-5h;7-9h; 15-17h; 19-21h. 6. Tháng Sáu: v Mùng 1* tháng Sáu: giờ tốt; 7-9h; 19-21h. v Mùng 2 tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 15-17h; 21-23h. v Mùng 8* tháng Sáu : giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 15* tháng Sáu: giờ tốt 11-13h; 15-17h. v Ngày 20* tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 13-15h; 15-17h. v Ngày 26* tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 29* tháng Sáu: giờ tốt 15-17h; 19-21h. 7. Tháng Bảy : v Mùng 10 tháng Bảy : giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. v Ngày 11* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 15-17h. v Ngày 17* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 9-11h. v Ngày 19* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 9-11h; 17-19h. 8. Tháng Tám : v Mùng 8 tháng Tám : giờ tốt 5-7h; 11-13h; 19-21h. v Ngày 16 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h. v Ngày 19 tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 24 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h. v Ngày 25 tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 19-21h. 9. Tháng Chín : v Mùng 1 tháng Chín : giờ tốt 13-15h; 17-19h. v Mùng 6* tháng Chín : giờ tốt 9-11h; 17-19h. v Mùng 10* tháng Chín : giờ tốt 7-9h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 28 tháng Chín: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. 10. Tháng Mười : v Mùng 2* tháng Mười : giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h. v Mùng 8 * tháng Mười : giờ tốt 13-15h; 17-19h; 21-23h. v Mùng 9 tháng Mười: giờ tốt 11-13h: 15-17h; 19-21h. v Ngày 15 tháng Mười : giờ tốt 11-13h: 19-21h. v Ngày 16 *tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 17-19h. v Ngày 21 tháng Mười : giờ tốt 11-13h. v Ngày 28* tháng Mười : giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h. 11. Tháng Một (11): v Mùng 4 * tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h. v Mùng 6 tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. v Mùng 10 tháng Một (11): giờ tốt 11-13h; 15-17h. v Ngày 11* tháng Một (11): giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 26 tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 28* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h. v Ngày 30* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. 12. Tháng Chạp (12): v Mùng 2 tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 15-17h. v Mùng 6 tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h; 21-23h. v Ngày 11 tháng Chạp (12): giờ tốt 7- 9h: 15-17h. v Ngày 12* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 13-15h; 21-23h. v Ngày 15* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 24* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h. v Ngày 26* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 17-19h; 21-23h. v Ngày 30* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 17-19h; 21-23h. CHÚC MỪNG NĂM MỚI, CHÚC QUÍ VỊ MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG Hà nội tháng 12 năm Mậu Tuất Việt Lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    1 like
  23. Quý vị và ACE thân mến! Trong kiến trúc xây dựng theo Địa lý phong thủy Đông Phương nói chung, có một nguyên tắc ứng dụng, đó là BÁT SÁT - HOÀNG TUYỀN. Nếu bị phạm phải những tiêu chí của Bát sát - Hoàng Tuyền thì hệ thống kiến trúc đó được coi là xấu. Bài viết dưới đây là những di sản còn lại từ cổ thư chữ Hán nói về Bát sát - Hoàng Tuyền, tôi đưa lên đây để quý vị và ACE tham khảo. Sau khi đọc tư liệu này, quý vị và ACE sẽ nhanh chóng nhận ra rằng: Tất cả các di sản từ cổ thư chữ Hán, liên quan đến các phương pháp ứng dụng của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành (ADNH) nói chung, và Địa Lý phong thủy nói riêng - đều mang tính mặc định, không hề có một lời giải thích tại sao lại như vậy, và nó xuất phát từ thực tại nào? Tất cả những nhà nghiên cứu và thực hành phong thủy được gọi là Thầy phong thủy, đều chấp nhận sự mặc định này mà không hiểu đằng sau nó là cái gì?! Bài Bát Sát Hoàng tuyền từ cổ thư được đưa lên đây, một lần nữa chứng minh rằng: Thuyết ADNH và Kinh Dịch không thuộc về nền văn minh Hán. Bởi vì chính nền văn minh Hán không giải thích được bất cứ vấn đề gì liên quan đến học thuyết ADNH và Kinh Dịch, phù hợp với tiêu chí khoa học, để làm sáng tỏ các bí ẩn của nền văn minh Đông Phương, trong cuộc hội nhập toàn cầu của các nền văn minh. Bởi vậy tôi đưa bài viết này lên đây hoàn toàn là di sản của cổ thư Hán liên quan đến nguyên tắc Bát sát, Hoàng Tuyền để quý vị tham khảo. Và đối với ACE Địa Lý Lạc Việt cũng cần tham khảo kỹ bài này. Để so sách với bài giảng của tôi trong giảng đường liên quan đến nội dung Bát sát - Hoàng Tuyền, nhân danh nền Văn Hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử. Để từ đó sẽ thấy được tính ưu việt của nền Văn Hiến Việt, là cội nguồn đích thực của Nền Văn Minh Đông Phương. Nguyên lý Bát sát - Hoàng Tuyền chỉ là một ứng dụng trong rất nhiều ứng dụng tương tác của Địa lý Lạc Việt nói chung. Nhưng một thực tại khách quan nào, hoặc một hệ luận mang tính lý thuyết nào liên hệ với nguyên tắc này, mới là điều mà ACE cần biết rõ. ACE đều biết một tiêu chí khoa học phát biểu rằng: 1/ Một lý thuyết được coi là khoa học, thì những mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể kiểm chứng được. 2/ Một lý thuyết khoa học được coi là đúng, nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán, có tính quy luật tính khách quan và khả năng tiên tri. Trên cơ sở này, chúng ta xem xét quy luật phương sát trong nguyên lý Hoàng tuyền Bát sát được mô tả dưới đây từ cổ thư chữ Hán và sự hiệu chỉnh nhân danh nền văn hiến Việt.
    1 like
  24. Ở đây mình chỉ tư vấn về luận tuổi thôi, vậy nên chỉ có thể luận tuổi về tương quan trong gia đình bạn chứ không xem Tử Vi cho bạn được. Nếu xét về tương quan tuổi thì gia đình bạn không phải là xấu. Về hai vợ chồng thì Bính Hỏa khắc Tân Kim nhưng Bính & Tân lại hợp nhau trong hành Thủy. Do đó bạn có thể hợp với những công việc có tính chất đầu tư mạo hiểm, làm một cái gì đó mới mang tính chất khai phá, thành lập mới... Và tính chất tương quan này cũng thể hiện là việc của bạn trước khó khăn mà sau sẽ thuận lợi. Cái xấu trong tương quan tuổi là ở chỗ bạn khắc mạng với chồng bạn, mà khắc cũng không trọn, cho nên khi nào bạn ít muốn quản lý anh ấy, bạn muốn buông bỏ, giải thoát cho bạn, thông cảm và yêu thương anh ấy chứ không phải là cố gắng quản lý anh ấy thì bạn sẽ có sự thoải mái trong tâm hồn và tư tưởng. Lúc đó mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Bé 2016 Tuy là Dần - Thân xung nhau nhưng điều đó không phải là xấu nó chỉ thể hiện là hai bố con hay có những xung đột mà không chơi với nhau lâu được thôi, chứ Bé cùng thiên can với bố nên đó cũng là điều thuận lợi, và từ khi có bê thì công việc của bố thuận lợi hơn, còn của mẹ thì vẫn thế, trước khó mà sau dễ. Về mặt nội bộ và tiền bạc thì cũng có tốt hơn từ khi có bé, anh chồng có thu nhập ổn định hơn, còn bản thân em thì vẫn cảm thấy là khó khăn và chật vật, tuy nhiên vẫn có tích lũy, bé còn nhỏ, trong khi Đang là tam tai của bố (3 năm Thân - Dậu - Tuất) nên phải sang năm thì tình hình gia đình bạn mới thấy sự thay đổi thuận lợi rõ rệt. Năm đẹp tiếp theo của vợ chồng bạn thì không có năm nào thật ưng ý. 2021 có thể sinh thêm một bé rồi sau tính tiếp bạn nhé. Chúc gia đình bạn được vạn sự như ý!
    1 like
  25. NHỮNG LỜI TÂM SỰ. Tiếp theo.... Có người đặt vấn đề: "Tại sao xã hội Châu Âu, không cần đến Địa Lý phong thủy, họ vẫn phát triển. Họ vẫn có những người giàu, người nghèo, vẫn có kẻ thống trị và người bị trị...Vậy thì chúng ta có cần đến Địa Lý phong thủy không?" Và họ cũng cho rằng: Câu hỏi này là một vấn nạn của chính ngành Địa Lý phong thủy Đông phương và "chưa ai trả lời được". Nhưng đối với tôi, đây là một câu hỏi dốt nát nhất mà tôi nghe được. Nó thể hiện tầm nhìn của một con ếch luôn tự cho mình là đúng, khi mô tả bầu trời qua cái miệng giếng của nó. Tôi đã trả lời câu hỏi này trong một cuộc hội thảo khoa học do TTNC Văn Hóa Cổ Đônng phương tổ chức và đã đưa lên Fb của tôi. Tôi chia sẻ với quý vị và các bạn - những người chăm chỉ tư duy và "Chính Tư duy" theo lời Phật day - một lần nữa, ở đây và tâm sự của tôi. Vấn đề tôi đặt ra, như một tiền đề để trả lời câu hỏi này là: 1/ Tất cả những siêu cường trên thế giới này, có chính phủ nào sử dụng thuyết Tương Đối của Albe Einstein vào cấu trúc chính trị của Thượng tầng kiến trúc, như một lý thuyết chủ đạo không? 2/ Tất cả những ai đang đọc hàng chữ này, có ai dùng "Bổ đề Toán học" của Ngô bảo Châu để buôn bán, kinh doanh, hoặc dùng vào bất cứ nghề gì...để kiếm sống không? Tôi chắc chắn là không! Vào đời nhà Đường bên Tàu, cách đây hàng ngàn năm, vẫn là một xã hội phát triển và thịnh trị, Tương tự như vậy vào thời Phục hưng Châu Âu. Và vào những thời đại đó, họ vẫn chưa biết gì đến các lý thuyết đang là mũi nhọn của nền văn minh hiện nay. Nhưng họ vẫn có đầy đủ những mối quan hệ xã hội ...như hiện nay. Bởi vậy, vấn đề không phải ở chỗ "Lý thuyết đó có cần hay không?", Mà là trong sự phát triển tất yếu, có tính quy luật của một nền văn minh - thì - những tri thức tinh hoa của nền văn minh đó, phải liên tục tổng hợp những nhận thức của toàn thể nhân loại - tùy chuyên ngành - để đưa lên thành một hệ thống lý thuyết tổng hợp ngày càng phát triển cho nền văn minh đó. Ở đây tôi đang nói đến những lý thuyết "vĩ đại" và là "mũi nhọn" của cả nền văn minh hiện nay. Vâng! Rất "Vĩ đại" và "mũi nhọn", chứ không phải là những con tính cộng trừ, nhân chia, ứng dụng cụ thể trong tính toán của những người buôn thúng, bán mẹt ở chợ chồm hổm. Những bà mẹ quét rác, nuôi con học hết đại học và thành GS, Tiến sĩ không cần đến lý thuyết Tương Đối của Einstein. Nhưng - với sự phát triển tất yếu có tính quy luật của tất cả các nền văn minh - thì nó phải hoàn thiện những nhận thức trong một tập hợp, quen gọi là "một hệ thống lý thuyết", ngày càng hoàn chỉnh cho những nhận thức mà nền văn minh đó nhận thức được. Nếu như các lý thuyết "vĩ đại" và "mũi nhọn" của nền văn minh hiện nay, chưa thể ứng dụng được trong cuộc sống từ thượng tầng kiến trúc, cho đến bà ve chai lông vịt. Thì toàn bộ hệ thống lý thuyết - chỉ riêng chuyên ngành Địa Lý phong thủy Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt - chính là sự tổng hợp những quy luật vận động và tương tác của tự nhiên và ứng dụng rất cụ thể trong cuộc sống con người, đến từng chi tiết. Ở đây, tôi chưa nói đến một hệ thống lý thuyết là căn nguyên của mọi phương pháp ứng dụng khác. Đó là thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt. BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH
    1 like
  26. VÌ SAO THIỆU VĨ HOA PHỦ NHẬN MỐI LIÊN HỆ HÀ ĐỒ LẠC THƯ VỚI BÁT QUÁI? Thưa quí vị và các bạn quan tâm. Với sự trích dẫn giấy trắng mực đen như trên, chúng ta thấy rằng: Ông Thiệu Vĩ Hoa đã phủ nhận mối liên hệ giữa Hà Đồ Lạc Thư với Bát quái. Ông ta cũng hiên ngang tuyên bố: "Đó là điều không ai phủ nhận được". Sách của ông ta phát hành hàng triệu bản ở Trung Quốc và dịch bán đầy ở nước ngoài, trong đó có Việt Nam. Không thấy ai lên tiếng phản biện?! Tất nhiên, trừ ra Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh - tức DIEU NGUYENVU đã nói với các bạn từ gần 20 năm trước và bây giờ làm rõ ở đây. Muốn biết vì sao ông ta lại phát biểu như đúng rồi vậy, cần xem lại lịch sử hình thành kinh Dịch trong cổ thư chữ Hán. Cái mà ông ta nói là "Kinh Dịch" và "Truyện Dịch", có lịch sử được mô tả trong chính "Truyện Dịch". "Kinh Dịch" trong câu này của Thiệu Vĩ Hoa, là: ông ta muốn nói đến "Soán từ" và Hào từ" được coi là của Chu Văn Vương và con ông ta là Chu Công Đán, làm ra vào 1200 năm trước CN. Nhưng trong "Truyện Dịch", vốn được coi là của Khổng tử, làm ra sau đó vào thế kỷ thứ V sau công nguyên. Tức sau Chu Văn Vương và Chu Công Đán "bảy, tám trăm năm", mà Thiệu Vĩ Hoa nói tới. Trong "Kinh Dịch" mà Thiệu Vĩ Hoa nói tới - của Chu Văn Vương và Chu Công Đán - chỉ mô tả tính chất của quẻ và từng hào trong quẻ. Không hề nói gì đến chính tác giả của nó. Toàn bộ lịch sử Kinh Dịch, lại được suy luận từ chính "Truyện Dịch" ra đời sau đó "bảy, tám trăm năm" như Thiệu Vĩ Hoa nói. Từ chính "Truyện Dịch" này, người sau nói tới lịch sử Kinh Dịch ra đời từ thời Phục Hy hơn 5000 năm trước CN. Trong đó vua Phục Hy lấy Hà Đồ làm cơ sở cho đồ hình Tiên Thiên bát quái, Và cũng chính "Truyện Dịch" này, làm cơ sở để người đới sau cho rằng: Kinh Dịch của Chu Văn Vương làm ra "Hậu Thiên Bát quái căn cứ trên Lạc Thư". Nhưng ông Thiệu Vĩ Hoa không thể tìm thấy "cơ sở khoa học" (*) của sự liên hệ giữa Hà Đồ, Lạc Thư với Bát quái; hay nói cách khác: Chính ông ta cũng nhận thấy tính vô lý của sự phối hợp "Hà Đồ với Tiên thiên bát quái" và "Lạc Thư với Hậu Thiên bát quái", nên đã phủ nhận như trên. Không phải riêng ông Thiệu Vĩ Hoa mới có ý kiến như vậy, mà hầu hết những học giả và các nhà nghiên cứu cổ kim của chính Trung Quốc và cả thế giới này, đều nhận thấy rõ như vậy và không hiểu tại sao (Ngoại trừ những kẻ háo danh, láu cá nhao nhao phản biện)?! Thí dụ như nhận xét của học giả Nguyễn Hiến Lê - nhà nghiên cứu Dich học nổi tiếng của Việt Nam - viết trong cuốn "Kinh Dịch - Đạo của người quân tử" (Nxb Văn học 1994, trang 18), như sau : Chưa hết, nhà nghiêu cứu Nguyễn Hiến Lê còn viết: Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Như vậy, Thiên Sứ tôi đã trình bày đầy đủ nguyên nhân tại sao ông Thiệu Vĩ Hoa - ngôi sao Bắc đẩu dịch học của Tàu - lại phát biểu như vậy! Kết luận: chính vì mâu thuẫn nội tại trong mối liên hệ giữa đồ hình "Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát quái" và "Lạc Thư với Hậu Thiên bát quái" - và toàn bộ lịch sử Kinh Dịch được mô tả trong "Truyện Dịch" vốn được coi - và gán ghép cho "Khổng Tử viết". Tiếc thay cho ông Thiệu Vĩ Hoa - ngôi sao Bắc đầu Dịch học Tàu, sự kết tinh toàn bộ nền văn minh Tàu vốn tự nhận là chủ nhân của kinh Dịch và Bát quái, chính là ở chỗ: Khi đã phủ nhận "Truyện Dịch" thì ông ta và tất cả các học giả trên thế giới này, cũng phủ nhận luôn toàn bộ lịch sử hình thành Kinh Dịch trong lịch sử văn minh Hán. Vì lịch sử hình thành Kinh Dịch được mô tả từ thời "Phục Hy tắc Hà Đồ hoạch quái" (Tức "Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát quái"), lại nằm trong chính ";Truyện Dịch ra đời sau đó "bẩy, tám trăm năm"?! Chưa hết! Phủ nhận "Truyện Dịch" - vốn "ra đời sau kinh Dịch bẩy tám trăm năm", cũng đồng nghĩa với phủ nhận luôn khái niệm Âm Dương - lần đầu tiên được nói đến trong "Truyện Dịch" - và cũng phủ nhận luôn cấu hình "Hậu Thiên Bát quái" vốn được coi là của Chu Văn Vương làm ra trước đó, cũng được mô tả trong Truyện Dịch?! Để hàng ngàn năm sau, các đạo sĩ đời Tống công bố đồ hình này, và nó được mô tả một cách rất mơ hồ trong "Truyện Dịch"?! Hơ?! Thía lày nà thía lào? Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Qua đoạn phân tích trên, đã xác nhận một cấu trúc nội hàm trong chính bản văn kinh Dịch từ cổ thư chữ Hán, lưu truyền từ hơn hai Thiên niên Ký - Tính từ khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miến nam sông Dương tử. Và cũng chính từ trong bản văn chữ Hán của kinh Dịch cũng tự nó phủ nhận lịch sử kinh Dịch trong cổ thư chữ Hán. Nền văn minh Hán và cả thế giới văn minh hiên đại ngày nay, cũng chịu bó tay, không thể phục hồi được những gía trị huyền vĩ, đầy bí ẩn của nền văn minh Đông phương. Nhân danh nền văn hiến Việt và chỉ có nhân danh nền văn hiến Việt, trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ bên bờ nam sông Dương Tử - mới đủ tư cách phục hồi lại những giá trị đích thực của nền văn minh Đông phương. Thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái - siêu công thức toán học của hệ thống lý thuyết này - chính là LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT mà nhân loại đang tìm kiếm. Cảm ơn sự quan tâm và chia sẻ của quý vị và anh chị em. Thiên sứ
    1 like
  27. LỜI GIỚI THIỆU BÀI VIẾT CỦA HOÀNG TRIỆU HẢI. THƯA CÁC NHÀ KHOA HỌC, CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU. THƯA CÁC BẠN VÀ ANH CHỊ EM. Từ hai mươi năm nay, bằng sự phục hồi một hệ thống lý thuyết cổ xưa, nhân danh nền văn hiến Việt, tôi đã tha thiết trình bày về những giá trị của nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương với tất cả những ai quan tâm đến những gía trị văn hóa của nhân loại. Nhân danh nền văn hiến Việt, tôi đã xác định một nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" và phủ nhận nguyên lý "Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư", vốn được coi là thuộc nền văn hóa Hán. Nhưng, sự phức tạp của một hệ thống lý thuyết huyền vĩ - Lý thuyết thống nhất vũ trụ - mà toàn thể nền văn minh nhân loại hiện nay, đang mới chỉ dừng lại ở sự mơ ước. Tất nhiên, tôi rất hiểu rằng: sự tiếp nhận một quan niệm mới - trong khi suốt lịch sử của văn minh nhân loại, con người đã chấp vào một định kiến: nền văn minh Đông phương có xuất xứ từ Hán tộc - là một việc cực kỳ khó khăn. Huống chi, đó lại là một hệ thống lý thuyết - sản phẩm của cả một nền văn minh - tức sản phẩm của một hệ thống tư duy phức hợp, lại càng khó khăn hơn. Khi chính khái niệm "tư duy phức hợp", cũng mới chỉ manh nha xuất hiện trong nền văn minh hiện đại. Cho nên, cá nhân tôi chia sẻ và thông cảm với sự chưa tiếp thu được của không ít những học giả, đã lên tiếng phản bác. Nhưng với những con người cầu tiến và thông minh - những người không bị tính cố chấp với một tâm hồn và tư duy khoáng đạt, đã tiếp thu được những giá trị của nền văn hiến Lạc Việt. Bài nghiên cứu về "Địa Lý phong thủy kinh thành Huế" dưới đây của Hoàng Triều Hải, một nhà nghiên cứu về Lý Học Việt xuất sắc của Trung Tâm nghiên cứu Lý Học Đông phương, và là Giám đốc của Trung Tâm này. Qua công trình nghiên cứu của anh, chúng ta một lần nữa xác đinh chắc chắn bằng thực chứng, về sự hợp lý toàn diện của hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch - nhân danh nền văn hiến Việt - với nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ", trong việc xây dựng Kinh Đô Huế. Đây là một dẫn chứng tuyệt vời và rất trực quan, rất dễ hiểu, cho những ai còn hoài nghi những gía trị văn hiến Việt, một thời huy hoàng ở miền Nam sông Dương tử và là cội nguồn đích thực của nên văn minh Đông phương. Xin cảm ơn vì sự quan tâm và chia sẻ của các bạn. Ta về giữa cõi vô thường. Đào trong kỷ niệm, tìm hương cuối mùa. Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
    1 like
  28. ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT TRONG QUI HOẠCH KIẾN TRÚC KINH ĐÔ HUẾ Mạnh Đại Quân - Hoàng Triệu Hải. Giám đốc TTNC LHDP. Năm 1803 Hoàng đế Gia Long sau khi lên ngôi đã cho khảo sát địa thế và tiến hành xây dựng Kinh đô Huế cho triều đại kéo dài từ 1802 – 1945. Nhiều nhà Địa Sư nói Kinh đô Huế là “Vương đảo” quả cũng không sai, bởi Kinh thành Huế được bao bọc bởi dòng sông Hương phía trước và hai nhánh là sông Kim Long và sông Bạch Yến phía sau rồi cùng hội tụ tại hạ lưu. Kinh thành Huế được thiết kế và qui hoạch kiến trúc theo truyền thống hàng ngàn năm của người Việt. Kinh đô Huế được xây dựng trong suốt 30 năm – năm 1832 hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. Ngành Địa lý phong thủy của người Việt hay Trung Hoa, từ xa xưa vốn dĩ chỉ giành cho Vua Chúa, được lưu trữ và truyền lại trong Hoàng Tộc. Từ đời trước, khi Chúa Nguyễn từ Bắc vào “Đàng Trong”, đã mang theo di sản của cha ông từ “Đàng Ngoài”, và sau này Kinh thành Huế, là nơi được Hoàng Đế Gia Long áp dụng Địa lý cho qui hoạch kiến trúc cũng như Lăng mộ của chính mình. Tôi tin chắc chắn rằng: Vua Gia Long đã tiếp nối những tinh hoa của dân tộc Việt và truyền thừa những di sản của tổ tiên để lại. Và Ngài đã tiếp tục truyền lại cho đời sau, kiến thức từ công trình duy nhất còn tồn tại tới ngày hôm nay – Kinh đô Huế. Dưới góc nhìn Âm trạch thì lăng mộ của Hoàng Đế Gia Long cũng là một ẩn số, bởi cách Ngài bố trí và xây dựng khu lăng mộ này, để triều Nguyễn là Một trong những vương triều trị vị lâu nhất trong lịch sử Việt nam. Lăng mộ hiện nay, theo quan điểm riêng của tôi là mộ gió, tức là phần hài cốt được táng ở một nơi bí mật. Câu chuyện bắt đầu từ ngày tôi được đọc bài viết về Địa lý phong thủy Lăng Mộ của Hoàng Đế Gia Long. Nó cuốn hút tôi bởi những bí ẩn, mà những người theo đuổi bộ môn này đều muốn khám phá. Tôi ước sớm có thể quay trở lại Huế chỉ với một mục đích: Tìm hiểu về ứng dụng Địa lý của người Việt, vẫn còn được lưu lại trên Kinh đô Huế. Thật nhanh chóng chỉ sau đó 1 tuần, cơ duyên cho tôi được toại nguyện. Với sự giúp đỡ của những nhà nghiên cứu tại Huế, tôi được nghe kể và đưa tới những địa điểm mang dấu ấn của Hoàng Đế Gia Long: Lăng Mộ, Đàn tế Nam giao, Đại Nội. Tôi được quay lại các địa điểm Lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, Lăng Khải Định, đồi Vọng Cảnh và mỗi một nơi tôi đều được kể về lịch sử cũng như các câu chuyện của những nhà nghiên cứu văn hóa Huế. Nhìn bản đồ và hình ảnh từ vệ tinh của Kinh đô Huế, chúng ta cũng chưa nhận ra hết được sự đặc biệt của kiến trúc và qui hoạch, dưới góc nhìn Địa lý phong thủy. Phải nói rằng, Kinh đô Huế đã mang lại cho tôi hết bất ngờ này tới bất ngờ khác, liên quan đến sự huyền vĩ của nền văn hiến Việt cho chuyên ngành Địa Lý phong thủy. Hướng của Kinh đô Huế được xác định là hướng của Đại Nội, nơi được coi là trung tâm đầu não của Kinh đô Huế. Hướng của cổng Ngọ Môn và Đại Nội là 142 độ: Tức tọa phương Càn, hướng phương Khôn (theo Lý học Lạc Việt đổi chỗ Tốn/ Tây nam – Khôn đông nam), với nguyên lý căn để là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ', do nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Thiên Sứ phát hiện và làm cơ sở cho việc chứng minh cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương. Mô tả chính xác là Đại Nội Huế tọa Hợi (Tây Bắc), Hướng Tỵ (Đông Nam), kiêm hướng 4 độ. Bản đồ của người Pháp vẽ đầu thế kỷ thứ 19 cũng mô tả chính xác hướng trục Bắc - Nam theo đúng hướng Bắc của la kinh Toàn bộ Kinh thành Huế, được xây dựng mô tả theo 24 Sơn và Thủy pháp cực kì chuẩn và được mô tả trong hình dưới đây. Sau khi phân cung, chúng ta sẽ dễ hiểu vì sao tường hào bao quanh Kinh thành lại có những góc nhô ra và lượn vào như vậy. Và vì sao, lại có khu Mang Cá, khu vực được thiết kế như chiếc Vương Miện của Hoàng Đế. Kinh đô Huế được sử dụng Địa lý phong thủy Tam hợp , trong đó lấy trục Tây Bắc-Đông Nam là trục Đế Vương. Xin được bạn đọc quan tâm lưu ý rằng: Chỉ có Địa lý Lạc Việt, sau khi đổi chỗ Tốn - Khôn với nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" thì mới có hai trục được gọi là Phúc Đức, Bao gồm trục Bắc-Nam và Tây Bắc – Đông Nam. Trong Địa Lý phong thủy Tàu, chỉ có duy nhất một trục Bắc (Khảm)/ Nam (Ly) là Phúc Đức trạch; Còn trục Đông Bắc (Cấn) / Tây Nam - Theo Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư là Khôn - chỉ là Sinh Khí trạch. Trên cơ sở đó, toàn bộ các căn nhà bên trong kinh thành sẽ được lấy theo hướng Trường Sinh của Tứ Đại Cục: Kim – Mộc - Thủy - Hỏa là các sơn Dần - Thân - Tị - Hợi , Cấn - Khôn -Tốn - Càn. Toàn bộ kinh thành là Thủy Cục và Thủy pháp là hệ thống Sông, Hồ nhân tạo cực kỳ chuẩn xác. Chúng ta dễ dàng nhận thấy: khi phân cung và định vị theo Địa Lý Lạc Việt, việc thiết kế khu vực Mang Cá chính là nơi toàn bộ nước được hội tụ về đây, trước khi chảy thoát ra ở phương SUY . Phần sông Ngự Hà chạy thành nửa hình chữ nhật , toàn bộ nằm trong khu Trường Sinh và Đế Vượng , thoát ra ở Suy – Bệnh. Tôi sử dụng phần mềm phân cung - và nếu theo lý thuyết phong thủy từ cổ thư chữ Hán, thì việc bố trí ta thấy đã nằm ngoài thủy pháp trường sinh của Kinh đô Huế. Khi đã sai lệch - giữa Địa Lý Phong Thủy Việt và sách Địa Lý Phong thủy Hán - thì không thể trấn yểm để phá hoại! Quả thật quá cao siêu! Đoạn sau đây, trích từ bài để bạn đọc tham khảo: Toàn bộ hệ thống hồ nước, sông được đào khi xây dựng Kinh thành Huế, đều được bố trí rất chuẩn xác tại các Sơn theo bố cục Loan Đầu tự nhiên của Huế. Bí ẩn ở chỗ, rất nhiều hồ được đặt đủ vào các sơn Canh- Dậu-Tân, Tuất-Càn- Hợi, Nhâm- Tí- Quí. Hình dưới đây được mô tả theo Địa Lý phong thủy Tàu, phân cung và lấy Trường Sinh theo phương pháp từ cổ thư chữ Hán, là tọa Càn, hướng Tốn (Đông Nam - theo "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư" , tứ cổ thư chữ Han). Các bạn cũng thấy sự sai lệch giữa Thủy Pháp Việt và sách Hán. Hình dưới đây. mô tà sự trùng hợp giữa Cung điện mang tên "Trường Sinh" trong Đại Nội, cũng chính là vị trí Trường Sinh của kinh Đô Huế. Hình mô tả trong Đại Nội có cung Trường Sanh, đó chính là vị trí Trường Sinh của Kinh Đô Huế. Tôi không có đủ thời gian để khảo sát dòng chảy các con sông quanh Kinh thành Huế. Nhưng theo bố cục này thì tôi có nhận định dòng chảy như sau: Tôi mong rằng sẽ có người nghiên cứu dòng chảy của Huế xác nhận thông tin này. Từ những thông tin tìm được từ Kinh thành Huế , tôi xác định rằng: nơi đây chính là di sản bảo tồn những lý thuyết và phương pháp Địa lý phong thủy của dân tộc Việt. (Địa Lý Lạc Việt). Và cũng là nơi xác định tính chính xác của của nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" (đổi chỗ Tốn-Khôn). Khả năng rất cao là phương pháp này, cũng đã được áp dụng cho phong thủy của Tử Cấm Thành - công trình do Ông Nguyễn An người Việt thiết kế xây dựng. (còn tiếp) Hà Nội mùng 10 tháng 3 năm Mậu Tuất -Việt Lịch
    1 like
  29. BÁT SÁT TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN Thưa quý vị và anh chị em Địa Lý Lạc Việt thân mến. Đáng nhẽ bài này tôi giảng riêng cho anh chị em DLLV. Nhưng xét thấy một lần nữa, nó chứng minh cho luận điểm của tôi xác định rằng: 1/ Địa Lý Phong thủy là một ngành khoa học ứng dụng trong kiến trúc xây dựng, thuộc về nền văn minh Lạc Việt, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử. Những di sản của Lý học Đông phương ghi nhận trong cổ thư chữ Hán, chỉ là những mảnh vụn còn sót lại của nền văn minh Việt, bị Hán hóa một cách rời rạc, đầy mâu thuẫn, sai lạc và không hoàn chỉnh. 2/ Tính khoa học hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành với nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" nhân danh nền văn hiến Việt, thể hiện tính hợp lý hoàn chỉnh và phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. Bài viết về Hoàng Tuyền Bát Sát, mà chúng tôi trình bày trên với quý vị và anh chị em - có xuất xứ từ cổ thư chữ Hán - là một ví dụ. Nội dung của nó mà quý vị và anh chị em đã đọc, hoàn toàn mang tính mặc định và không hề có - ít nhất là một cơ sở lý thuyết nào liên hệ với nó. Để chứng minh điều này, tôi mô tả lại qua mô hình được trình bày dưới đây: Để tiện theo dõi, tôi trích lại toàn văn như sau: Trên cơ sở này, chúng tôi sắp xếp theo 4 quái Tứ chính là:Khảm, Chấn, Ly, Đoài và 4 quái Tứ duy là Càn, Khôn, Cấn, Tốn - theo mô hình của "Hậu Thiên Văn Vương" từ cổ thư chữ Hán - như sau: A/ Bốn hướng Tứ chính, là: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Thìn (Khảm Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư)......................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Tỵ (Đoài Xà đẩu) B/ Bốn hướng Tứ duy, là: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..........................................................56/ Hướng Khôn Bát sát ở Mão (Khôn Thỏ 'mão') 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dần (Cấn Hổ)...........................................................57/ Hướng Tốn Bát sát ở Dậu (Tốn Kê). Như vậy, qua các mô hình mô tả cụ thể ở trên, quý vị và anh chị em cũng nhận thấy rất rõ các vấn đề sau đây: 1/ Tính phi quy luật trong bản văn chữ Hán về vị trí Bát sát trong ứng dụng Địa Lý phong thủy. 2/ Tính mặc định áp đặt của các phương pháp ứng dụng trong cổ thư chữ Hán về vị trí Bát sát trong ứng dụng Địa Lý phong thủy. Chúng không hề có một mối liên hệ nào, có tính hệ thống với các hệ luận liên quan trong hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nhân danh nền văn hiến Việt và những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tất cả các vấn đề liên quan đến Lý học Đông phương, trong đó có ngành Địa Lý phong thủy và cụ thể là nguyên lý ứng dụng về Bát sát trong ứng dụng Địa Lý phong thủy. Riêng về hiện tượng Bát sát, tôi trân trọng giới thiệu với quý vị và ACE công lao đầu tiên thuộc về Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn - là một trong những học trò theo tôi đã lâu. Trong thời gian phụ việc và theo học Địa Lý phong thủy Lạc Việt, chính Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn đã đặt giả thuyết ban đầu một cách xuất sắc, về: "Hướng "sát" của Bát sát trong ứng dụng Địa Lý phong thủy liên quan đến vòng Trường sinh". Nhưng do phương pháp diễn đạt ban đầu của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn chưa rõ ràng, nên tôi đã yêu cầu mô tả lại. Sự việc xảy ra cách đây cũng đã nhiều năm. Rồi Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn xuống núi hành nghề và những việc mưu sinh với những lo toan của cuộc sống, khiến công việc nghiên cứu về Bát Sát Hoàng Tuyền dừng lại ở đấy. Tuy nhiên, do hiện nay tôi tiếp tục giảng dạy trong lớp Địa Lý Lạc Việt ứng dụng. Nên một trong những yếu tố tương tác quan trọng, sắp sửa được giảng dạy liên quan đến yếu tố Loan Đầu (Sách Hán gọi là "trường phái"), nên tôi phải phục hồi lại các mô hình liên quan để mô tả yếu tố sát (yếu tố xấu) trong nguyên lý tính Bát sát trong phong thủy. Trước khi bắt đầu vào các bài viết tiếp theo, liên quan đến Bát sát, tôi trân trọng ghi nhận giả thuyết ban đầu xuất sắc của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, trong việc phục hồi lại bản chất của yếu tố Bát sát trong Địa Lý Lạc Việt. Còn tiếp. Chú thích: 1/ Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn hiện là thành viên nghiên cứu trong Hội Đồng khoa học của Trung Tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương.
    1 like
  30. Thưa quý vị và anh chị em thân mến. Phần dưới đây là nguyên văn tư liệu có nguồn gốc từ cổ thư chữ Hán và phương pháp hóa giải, để quý vị và anh chị em tham khảo. III. HOÀNG TUYỀN Lập hướng, kỵ thủy lộ, phạm Hoàng Tuyền THƠ CỔ: 1/ Canh Đinh Khôn, thường thị Hoàng Tuyền 2/ Ất Bính tu phòng, Tốn thủy tiêu 3/ Giáp, Quý hướng trung ưu kiến Cấn 4/ Tân Nhâm thủy lộ phụ dương Kiền Theo nghĩa đen của mỗi chữ trong mỗi câu: 1/ Phương Nam là Đinh, thì trên phương Khôn là Hoàng Tuyền. 2/ Phương Ất là Bính, thì nên phòng nước phương Tốn trước hết. 3/ Trong hướng Giáp và hướng Quý thì lo thấp ở phương Cấn 4/ Phương Tân và Nhâm , thì sợ đường nước ở ngay phương Càn 1. NGHĨA LÀ: Giáp, Canh, Nhâm, Bính là tứ Dương can (4 thiên can thuộc Dương), Ất, Tân, Đinh, Quý là tứ can Âm (4 thiên can thuộc Âm), ở về 4 phương chính, mỗi phương có 2 can: một âm, một dương. Càn, Khôn, Cấn, Tốn gọi là tứ Duy, cũng là hàng thiên can ở bốn phương ngung (bốn hướng góc), cộng là tám phương (bát quái) + Giáp, Canh, Nhâm, Bính là 4 dương can hợp với 4 địa chi: Tý, Ngọ, Mão, Dậu, 4 phương chính, theo về lý khí, của vòng trường sinh thì 4 phương này vừa là 4 phương Vượng, vừa là bốn phương Tử của 4 đại cục. + Ất, Tân, Đinh, Quý là 4 âm can hợp với 4 địa chi: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, 4 phương bàng, theo về lý khí, của vòng trường sinh thì 4 phương này vừa là 4 phương Dưỡng, vừa là bốn phương Mộ của 4 đại cục. + Càn, Khôn, Cấn, Tốn là 4 Thiên can hợp với 4 địa chi: Dần, Thân, Tị, Hợi ở 4 phương ngung (tứ duy), theo về lý khí, của vòng trường sinh thì 4 phương này vừa là 4 phương Sinh, vừa là bốn phương Tuyệt của 4 đại cục khác nhau. Ví dụ: Câu: Canh, Đinh, Khôn, thường thị Hoàng Tuyền Như là lập hướng Canh, là hướng Vượng của Kim cục thì Khôn là Lâm Quan, thì thủy ở Khôn phải chảy lại trước huyệt. Nếu chảy đi là thủy phá Lâm Quan, thì bị Hoàng Tuyền. Như lập hướng Đinh, là Dưỡng hướng thủy cục, thì Khôn là Trường sinh, Thủy ở phương Khôn cũng phải chảy lại trước huyệt, nếu chảy đi là thủy phá Trường sinh phương, thì bị Hoàng Tuyền. Nhưng trái lại cũng lập hướng Đinh, nhưng ở Mộc cục, thì Đinh lại đổi là Mộ, Khôn đổi lại Tuyệt, thủy lưu nhập thì bị Hoàng Tuyền. Nếu không biết phép tiêu nạp thủy ở trong 4 phương: Càn, Khôn, Cấn, Tốn này thì phạm Hoàng Tuyền. Vì vậy bảo là Tứ lộ Hoàng Tuyền, Hoàng Tuyền là suối vàng, là nơi vô khí ( tử khí): Nói một cách khác: Dương thế có đường đi của người dương thế. Dưới âm cũng có đường đi của người âm: (Hoàng là Vang, Tuyền là suối) Hoàng Tuyền xuất hiện ở Thiên Can và tứ Duy, không xuất hiện ở Địa chi. Nói tóm lại: - Mặt tiền nhà là Cấn thì Giáp, Quý là Hoàng Tuyền - Mặt tiền rơi vào Giáp, Quý thì Cấn là Hoàng Tuyền - Mặt tiền nhà là Tốn thì Ất, Bính là Hoàng Tuyền - Mặt tiền rơi vào Ất, Bính thì Tốn là Hoàng Tuyền - Mặt tiền nhà là Khôn thì Đinh, Canh là Hoàng Tuyền - Mặt tiền rơi vào Đinh, Canh thì Khôn là Hoàng Tuyền - Mặt tiền nhà là Càn thì Tân, Nhâm là Hoàng Tuyền - Mặt tiền rơi vào Tân, Nhâm thì Càn là Hoàng Tuyền 2. TÁC HẠI CỦA HOÀNG TUYỀN - Nhà phạm Hoàng Tuyền gây cho người mắc các bệnh ác tính như: ung thư, u cục ác tính, rối loại các tuyến nội tiết, rối loạn chức năng các tạng phủ, gây cho người có bệnh cảm giác như giả vờ, lúc có thuốc bệnh cũng không đỡ, không có thuốc bệnh lại khỏi. - Gây cho người thích kiện tụng, thích đấu đá, tù đầy, chết chóc, nóng nảy, điên rồ, hoặc bị những họa không tự mình gây ra (họa vô đơn chí, không biết nguyên nhân) Hoặc mắc bệnh, Đông Tây y không phát hiện ra. 3. NGUYÊN LÝ LẬP BÁT QUÁI TRẤN HOÀNG TUYỀN. HOÀNG TUYỀN LÀ ĐƯỜNG ĐI CỦA NGƯỜI ÂM: Là điểm giữa mặt tiền nha, cửa chính, cửa phụ, cửa sổ và cổng đối diện phải, là đường đi của ma quỷ, Phong thủy dùng bát quái SINH KHÍ TRẤN. - Nếu điểm giữa mặt tiền nhà là Càn: thì Tân, Nhâm rơi vào cổng, cửa chính, phụ, cửa sổ là Hoàng Tuyền thì: 1/ Với Tân: Lấy mã số địa của Đoài đặt trung cung Lạc Thư, phi theo hệ Đoài làm ruột ma phương. 2/ Các sao của 8 cung hệ Đoài phi ra kết hợp với các sao vòng ngoài từng cặp, từng cặp thành sinh khí ra tổng ma phương sinh khí là ma phương phát sinh khí trấn Hoàng tuyền Ngũ quỷ 3/ Ma phương làm xong nạp thần (thông tin) và treo ma phương có số thay số 5 vào trung cung lên trên. Ma phương treo tại vị trí phạm Hoàng Tuyền, đầu ma phương phải có dịch tự quẻ để tăng sức mạnh trấn. Ta lần lượt đi hết 12 vị trí có thể xảy ra Hoàng Tuyền: CUNG CÀN : Mặt tiền nhà là Càn: 1/ Vị trí Tân là Hoàng Tuyền, Tân thuộc Đoài, lấy mã số địa của Đoài là 7 đặt và trung cung Lạc Thư phi theo chiều quỹ đạo của Đoài: Vị trí Tân bị Ngũ Quỷ, ma phương này treo ở vị trí bị Ngũ Quỷ - Hoàng Tuyền Ma phương phát sinh khí trấn Ngũ Quỷ. 2/ Vị trí Nhâm là Hoàng Tuyền, Nhâm thuộc Khảm, lấy mã số địa của Khảm đặt trung cung Lạc Thư phi theo quỹ đạo của Khảm làm ruột ma phương phát Sinh Khí Ma phương treo tại Nhâm. Ma phương phát sinh khí trấn Hoàng Tuyền. 3/ Nếu Tân – Nhâm là mặt tiền, vị trí Càn là Hoàng Tuyền, mã số địa của Càn là (6) Đặt 6 vào trung cung phi theo quỹ đạo Càn Ma phương này treo ở Càn Ma phương phát Sinh Khí CUNG CẤN: Mặt tiền nhà là cấn 1/ Vị trí Quý là Hoàng Tuyền. Quý thuộc Khảm, lấy mã số địa của Khảm đặt vào trung cung Lạc Thư phi theo hệ Khảm (1) Ma phương treo ở Quý Ma phương phát Sinh Khí 2/ Mặt tiền nhà là Cấn: Vị trí Giáp là Hoàng Tuyền. Giáp thuộc Chấn, lấy mã số Địa của Chấn là 3, đặt vào trung cung Lạc Thư, phi theo quỹ đạo Chấn: Ma phương này treo ở Giáp 3/ Quí – Giáp là mặt tiền nhà thì Cấn là Hoàng Tuyền. Mã số địa của Cấn là 8, đặt 8 vào trung cung Lạc Thư phi theo chiều quỹ đọa của Cấn, các số của 8 cung phi ra làm ruột ma phương Sinh Khí, kết hợp với cá số vòng ngoài từng cặp, từng cặp thành ma phương Sinh Khí. Ma phương phát Sinh Khí này treo ở Cấn CUNG TỐN: Mặt tiền nhà là Tốn: Vị trí Ất – Bính là Hoàng Tuyền. 1/ Ất thuộc Chấn; Chấn gồm Giáp - Ất, ma phương hoàn toàn giống ở Giáp, nhưng mặt tiền nhà Tốn thì treo ma phương ở Ất. 2/ Vị trí Bính thuộc Ly, mã số địa của Ly là (9), đặt vào trung cung phi theo quỹ đạo hệ Ly: Ma phương Sinh Khí này treo ở Bính 3/ Ất – Bính là mặt tiền nhà thì Tốn là Hoàng Tuyền Mã số địa của Tốn là 4, đặt 4 vào trung cung Lạc Thư phi theo hệ Tốn Ma phương này treo ở Tốn Ma phương phát Sinh Khí trấn Hoàng Tuyền ở Tốn CUNG KHÔN: Mặt tiền nhà là Khôn: Vị trí Đinh – Canh là Hoàng Tuyền. 1/ Đinh thuộc Ly, Bính thuộc Ly. Ma phương của Đinh giống hoàn toàn như ma phương của Bính. Nhưng mặt tiền nhà là Khôn, thì ma phương này phải treo ở Đinh nơi bị Hoàng Tuyền 2/ Canh thuộc Đoài, Tân cũng thuộc Đoài. Ma phương của Canh giống hoàn toàn ma phương của Tân. Nhưng mặt tiền nhà là Khôn , thì ma phương này phải treo ở Canh nơi bị Hoàng Tuyền. 3/ Đinh – Canh là mặt tiền thì Khôn là Hoàng Tuyền. Mã số địa của Khôn là 2, đặt 2 vào trung cung phi theo quỹ đạo của Khôn Ma phương phát Sinh Khí trấn Hoàng Tuyền ở Khôn (HẾT)
    1 like
  31. 1 like
  32. XÁC ĐỊNH NẠP ÂM CHO CÁC HÀNH TRONG LẠC THƯ HOA GIÁP Sau khi xác định thân mạng của các năm theo cách trên, để ý ta thấy, các hành Sinh Vượng Mộ đều theo vòng Tam Hạp, khởi từ Tý sẽ là Tý Thân Thìn, khởi từ Ngọ sẽ là Ngọ Dần Tuất (Ví dụ với hành Kim hình bên dưới). Từ đó ta có cách an như sau: Một số Vi dụ (lấy từ bài trên) và nên học thuộc lòng nạp âm. Cám ơn Quý vị quan tâm, rất mong phản hồi từ Quý vị. Thiên Bồng (sưu tầm và hiệu chỉnh)
    1 like
  33. GIẢI MÃ NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG MÙNG 10 THÁNG 3 Nguyễn Vũ Tuấn Anh 1. Ý nghĩa ngày giỗ Tổ 10 - 3. Sử sách và truyền thuyết không hề ghi lại ngày mất của vị vua Hùng đầu tiên hoặc cuối cùng. Vậy ngày giỗ Tổ vua Hùng mùng 10 tháng 3 xuất phát từ đâu? Hàng năm vào ngày giỗ Tổ Vua Hùng, là dịp để những người Việt Nam tưởng nhớ đến cội nguồn từ thời huyền sử. Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba. Thời Hùng Vương đã trở thành huyền sử, còn sót lại chăng chỉ còn là những tục ngữ ca dao và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian. Nhưng ngày giỗ Tổ Hùng Vương vẫn ăn sâu vào tâm linh người Lạc Việt. Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, dưới ách đô hộ phong kiến Bắc phương, tiếp theo là 1000 năm hưng quốc với bao thăng trầm của lịch sử, tâm linh của người Lạc Việt vẫn luôn nhớ về cội nguồn. Ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba là một trong những ngày lễ hội thiêng liêng nhất của người Lạc Việt. Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên của người Lạc Việt, theo văn bản xưa nhất tìm được thì được chép lại trong cuốn sách "Lĩnh Nam Chích Quái" của Trần Thế Pháp với tựa đề là “Hồng Bàng Thị”. Người viết lời tựa trong cuốn sách này là Vũ Quỳnh, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An Hải Dương, sinh năm 1453 mất năm 1516, ông viết bài tựa vào năm 1492. Người viết lời tựa sau cho cuốn sách này vào năm 1493 là Kiều Phú người làng Lạp Hạ, huyện An Sơn, tỉnh Sơn Tây, sinh năm 1450. Hai ông đã thừa nhận những truyện chép trong Lĩnh Nam Chích Quái đã được lưu truyền trong dân gian từ lâu. Trong bài tựa của mình , ông Vũ Quỳnh đã viết: “Những truyện chép ở đây là sử ở trong truyện chăng ?”. Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên được các nhà sử học Việt Nam ghi lại trong các bộ chính sử và nằm ở phần ngoại kỷ vì sự huyền ảo của câu chuyện. Đã có rất nhiều học giả phân tích tìm hiểu nội dung kỳ bí của truyền thuyết về thuở ban đầu lập quốc của người Lạc Việt. Những số liệu trong truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên có một sự liên hệ và trùng khớp một cách kỳ lạ với hai đồ hình nổi tiếng thiêng liêng trong truyền thuyết của nền văn minh Hoa Hạ và liên quan đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương, đó là Lạc Thư và Hà Đồ. Độ số của Lạc Thư – Hà Đồ có tổng số là 100 vòng tròn, trong đó có 50 vòng tròn đen, 50 vòng tròn trắng. Hiện tượng này trùng khớp với 100 quả trứng trong bọc theo truyền thuyết. Từ hai đồ hình trên, tạo ra hai hình vuông gọi là Cửu Cung Lạc Thư và Cửu Cung Hà Đồ. HÀ ĐỒ CỬU CUNG LẠC THƯ CỬU CUNG Qua đồ hình trên thì bạn đọc nhận thấy rằng: A/ 100 quả trứng tương ứng với 100 vòng tròn . B/ 50 người con theo cha tương ứng với 50 vòng tròn trắng, thuộc Dương, tượng là theo Cha (Dương). C/ 50 người con theo mẹ tương ứng với 50 vòng tròn đen, thuộc Âm, tượng là theo Mẹ (Âm). D/ 15 bộ mà truyền thuyết nói tới trùng khớp với số của Ma Phương Lạc Thư có tổng ngang dọc chéo đều bằng 15 . E/ 18 đời vua trùng khớp với tổng số Cửu Cung Lạc Thư và Cửu Cung Hà Đồ (9 x 2 = 18). Ngày mùng 10 tháng 3 - ngày giỗ Tổ Hùng Vương? Đây lại là một con số trùng với trung cung Hà Đồ đó là 5 – 10 thuộc về ngôi Hoàng Cực. Quý vị xem lại đồ hình Hà Đồ dưới đây: Trong đó: Tháng 3 là tháng Thìn (tượng là Rồng) – trùng khớp với biểu tượng của Lạc Long Quân (giống Rồng) chính là tháng thứ 5 nếu kể từ tháng Tí (Tức tháng Một năm trước. Trong cách tính tháng của người Việt như sau: * Tháng Một: Tý; * Tháng Chạp - tháng thứ 2: Sửu; * Tháng Giêng - tháng thứ 3: Dần; * Tháng Hai - tháng thứ 4: Mão; * Tháng Ba - tháng thứ 5: Thìn/ Rồng)(*). 18 thời Hùng Vương với nhiều vị vua, không thể giỗ chung một ngày. Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 chính là một biểu tượng của nền văn hiến vĩ đại của người Lạc Việt. Như vậy, truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên và ngày giỗ Tổ Hùng Vương hoàn toàn trùng khớp một cách kỳ lạ với nội dung của Lạc Thư – Hà Đồ. Vấn đề cũng chưa phải dừng ở đây. Trong truyền thuyết về thời Lập quốc của dân tộc Việt còn một chi tiết nữa là: 50 người con theo Mẹ Ấu Cơ suy tôn người con trưởng lên làm vua. 49 người con còn lại đi cai trị khắp nơi. Đây chính là số Đại Diễn trong Kinh Dịch dùng trong Bói cỏ thi - một phương pháp bói tối cổ của Đông phương. Nếu bạn hỏi tại sao lại phải bớt đi một mà không dùng số 50? Tôi xin được trả lời rằng: Chính truyền thuyết Con Rồng - Cháu Tiên đã trả lời rất rõ ràng và người ta không thể tìm được câu trả lời trong các bản văn chữ Hán. Sự trùng khớp hợp lý đến kỳ lạ của các sản phẩm trí tuệ thuộc về văn minh Lạc Việt với một giá trị kỳ vĩ của văn hoá Đông Phương là thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái , đã cho thấy cội nguồn đích thực của những di sản văn hoá đó thuộc về văn minh Lạc Việt. Như vậy, cùng với những di sản văn hoá phi vật thể khác, tổ tiên ta muốn nhắc nhở cho con cháu về một nền văn minh kỳ vĩ của một đất nước gần 5000 năm văn hiến và Lạc Thư – Hà Đồ và Kinh Dịch có nguồn gốc từ nền văn minh Lạc Việt. Cho nên, ngày giỗ Tổ Hùng Vương, không phải là ngày giỗ theo cách hiểu là ngày kỷ niệm ngày mất của một vị Vua Hùng trong 18 thời Hùng Vương(**), mà chính là ngày tưởng niệm giá trị huyền vĩ của nền văn hiến Việt, mà tổ tiên đã tôn vinh, trong thời dựng nước ở miền nam sông Dương tử. 2. Những vấn đề tồn nghi. Qua những tư liệu ở trên cho chúng ta thấy trong quá trình lịch sử, người Việt đã tồn tại nhiều ngày giỗ Tổ. Tại sao lại có nhiều ngày giỗ như vậy, trong khi phong tục Việt chỉ có một ngày giỗ chính? Tất nhiên, đây là điều cần giải thích. Trước khi giải thích điều này, chúng ta cần thừa nhận một thực tế khách quan, tồn tại hiển nhiên rằng: Ngày giỗ Tổ Hùng Vương từ lâu đã in sâu vào tâm linh Việt tộc, từ ngàn xưa và ngay cả trong đêm tối của ngàn năm Bắc Thuộc. Sau này, vào thời Hưng Quốc: Đinh, Lê Lý Trần....các triều đại chính thức coi là ngày Quốc Lễ. Tất nhiên, trong hơn 1000 năm Bắc thuộc đó, người Việt chỉ còn giữ lại trong tâm khảm mình sự tưởng niệm về ngày Giỗ Tổ, như là một sự tưởng niệm và tôn vinh Tổ Tiên. Và ngày đó được ghi nhân vào đầu trung tuần tháng Ba Âm lịch, từ 10, 11 và 12 như các tài liệu nói tới. Vậy cội nguồn đích thực của ngày giỗ tổ đích thực từ đâu trong ba ngày này. Điều này tôi đã chứng minh: Đó chính là ngày 10 - tháng Ba là độ số của Trung Cung Hà Đồ. Xin xem lại đồ hình Hà Đồ dưới đây: Vậy tại sao lại có ngày 11 và ngày 12? Điều này rõ ràng trái với truyền thống văn hiến Việt - chỉ có một ngày giỗ. Vậy trong ba ngày trên : Mùng 10, 11 và 12 sẽ chỉ có một ngày duy nhất đúng và hai ngày kia là sự biến tướng của ngày chính thức. Xét trong phong tục cổ Việt và còn lưu truyền ở các vùng Nam Dương tử về ngày giỗ, có một hiện tượng rất đáng chú ý sau đây: Trong việc chọn ngày giỗ, có một vtậpp quán chọn ngày sau ngày chết một ngày. Thí dụ, ngày mất là ngày mùng 8, thì giỗ vào ngày mùng 9. Ngày mất gọi là ngày Sinh (Tức ngày Dương) với ý nghĩa là trong ngày này, người thân vẫn còn sống dù chỉ một giờ. Về ý nghĩa sinh học thì người mất phải chờ sau 24 giờ, mới xác định được đã chết hẳn. Còn ngày hôm sau gọi là ngày Tử, và chọn làm ngày giỗ cho con cháu. Bởi vậy, sự xác định ngày giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 là ngày chính thức, hoàn toàn chính xác. Còn các ngày sau đó là do sự thất truyền qua hàng ngàn năm Hán hóa về giá trị đích thực của ngày tôn vinh giá trị văn hiến Việt, qua sự giải thích trên, nên đã lùi lại một, hai ngày. Tất nhiên, cũng không loại trừ ông cha ta lấy các ngày 11, 12 để gìn giữ sự bí ẩn của nền văn hiến Việt: Coi Hà Đồ là nguồn gốc của những giá trị Lý Học Đông phương. Các trí giả uyên bác đời Nguyễn đã phục hồi lại những giá trị này: Lấy ngày 10 tháng 3 - độ số của Trung cung Hà Đồ - biểu tượng của nền văn hiến Việt - làm ngày tôn vinh tổ tiên. Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị. ------------------------ Chú thích * : Tháng Tí - tức tháng 11 âm lịch – trong dân gian còn gọi là tháng Một và phân biệt giữa số đếm 1 là số đầu tiên, nên gọi tháng đầu trong năm sau Tết là tháng Giêng. Tháng Một không phải là tiếng gọi tắt của tháng 11 mà là tháng đầu tiên theo thứ tự 12 con giáp. Cũng như tháng Sửu là tháng thứ 2 gọi là tháng Chạp để phân biệt với tháng 2 theo số đếm.Chúng tôi đã có bài viết liên quan đến cách gọi này của người Việt với nội dung có liên hệ với các chòm sao Thiên Cực Bắc với chu kỳ 6000 năm. Xin tham khảo đường kink sau: **: Nguyên văn cổ thư là "Thập bát thế", có thể hiểu là 18 thời đại các vua Hùng. Chứ không thể hiểu là 18 đời vua Hùng. Trong phát âm của người Việt thường gọi nôm và phổ biến là "Đời". Điều này, khiến những người có quan điểm phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt, thường căn cứ vào đấy để suy luận chủ quan cho rằng: 18 đời Hùng Vương chỉ gồm 18 vị vua trị vì.Hiện tượng lẫn lộn "Đời" và "Thời" trong ngôn ngữ Việt còn thể hiện ngay trong văn viết có tính bác học và nghiên cứu cho đến gần đây. Chúng ta xem cuốn "Kinh Dịch - Vũ Trụ quan Đông phương" của giáo sư Nguyễn Hữu Lượng - Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn trước 1975 - thì cũng thấy rằng, ông nhiều lần dùng chữ "Đời" để thể hiện một triều đại. Thí dụ: "Thời nhà Minh" thì ông vẫn viết là "Đời nhà Minh". Edited just now by Thiên Sứ
    1 like
  34. BÀN LUẬN VỀ HẠN 49 &53 DƯỚI GÓC NHÌN CỦA TỬ VIHôm nay người viết bài muốn bàn luận về hạn 49 tuổi và 53 tuổi. Trong dân gian ta thường có câu: “ Bốn chín chưa qua, năm ba đã tới”. Câu này muốn nói lên 2 cái hạn liên tiếp trong đời người, vậy bản chất của cái hạn này là như thế nào? Đã có rất nhiều người viết đi tìm hiểu về cái hạn này, Có những người gán cho nó bằng những con số như 4+9 = 13; và 5+3 = 8; thêm cả độ số bát quái … huyễn hoặc nó lên, chẳng phải đó là gọt chân cho vừa giầy đó sao?Nhưng nếu ai biết sơ bộ về tử vi thì thực sự 49,và 53 không có gì lạ cả. Trước hết ai cũng phải thừa nhận : “ KHÔNG PHẢI NGƯỜI NÀO CŨNG MẮC HẠN 49,53 Và nếu ai hiểu về Tử vi sẽ quán xét điều sau: Các cụ ta thường có nói đến năm tuổi : 13,25,37,49,và 61 (tính theo tuổi âm lịch). Trong tử vi khi lập Cục tính hạn sẽ có Nhị cục, tam cục, tứ cục, ngũ cục, và lục cục. như vậy ứng với 10 năm đại hạn của từng người theo cục là 2,3,4,5,6. Nếu đại hạn 10 năm tính cho nhị cục thì tương đương là 2,22,32,42… tương tự như vậy thì lục cục sẽ là 6,16,26,36….Bây giờ ta lại quán xét đến cung tam hợp trong tử vi gồm có Tuất, Ngọ, Dần ; Mão, Mùi, Hợi ; Thân, Tý, Thìn; Tỵ, Dậu, Sửu . Như vậy cứ cách 4 cung ta sẽ được 1 tam hợp cung. Quán xét tiếp đến đại hạn từ : 40 trở đi ( thực ra là từ 42 đến 46 tuổi) so với tuổi mệnh từ 2-6 tùy theo cục lập tử vi của mỗi người, thì đại hạn ngoài 40 tuổi là 1 tam hợp cục với mệnh, như vậy ở tuổi ngoài 40 sẽ luôn tam hợp cục với mệnh đây chính là điểm mấu chốt để các cụ lấy gốc tuổi năm hạn vào 49 tuổi vì các năm 13,25,37, và 61 không phải là tam hợp cục với mệnh. Ta lại thấy, tuổi 53 cách tuổi 49 đúng 4 cung. Cũng là 1 tam hợp cục. Đến đây mọi người chắc sẽ hiểu là trong tử vi quan trọng nhất là tam hợp Mệnh, Tài Quan, thì năm 49 tuổi và 53 tuổi gốc hạn đều vào ở cung này. ( Duy chỉ có cục nhị thì tuổi 49, 53 sớm trước 1 năm, việc này cũng giải thích là có người hạn đến sớm vào cuối năm 48 tuổi và cuối năm 52 tuổi).Vậy số nào phải chịu hạn 49, 53 nặng nhất? Đó là những số người có Mệnh không vững, hay nói theo cách dân gian là nhỏ khó nuôi: từ 1-13 tuổi thường ốm đau, hoặc nạn tai nặng, thì đến năm 49 tuổi và 53 tuổi sẽ dễ bị lại, và tất nhiên hạn chính sẽ không nặng bằng hạn chiếu được.Điều xấu nhất của hạn 49,53 là trong cung hạn này có đủ bộ Không Kiếp có thể dẫn đến táng mạng. Vậy những ai có thể có hạn 49 53 đủ bộ này ?? đó là những người có cung tam hợp Tỵ, Dậu, Sửu và Mão, Mùi, Hợi và phải là người sinh vào giờ Dần, Thân và giờ Thìn, Tuất . Tuy nhiên mọi người không nên lo lắng xác suất gặp được điều này là rất khó. 12 người mới có 4 người đóng cung mệnh tại đó trong 4 cung đó lại xác suất 12 người có cung đó mới có 4 người sinh vào giờ đó. Và mệnh yểu thì mới táng mạng được. Còn tuổi 49, 53 hạn thì thường vào những người tuổi nhỏ hay ốm đau dặt dẹo thì sẽ bị, nhưng bù lại thì từ tuổi 13 đến 48 người ta thường được thành công hơn người. Đây cũng chính là luật trời lấy chỗ thừa bù chỗ thiếu. và hạn 49,53 có người nặng nhẹ khác nhau. Là số nên không ai giống ai. TL -26/12/2016
    1 like
  35. Thưa quý vị và anh chị em. Để bổ sung cho topic "Ngày Tam nương và sự mơ hồ của truyền thuyết" của tác giả Mạnh Đại Quang, chúng tôi giới thiệu một sự kiện liên quan đến ngày Tam Nương và khả năng tiên tri, qua đường link dưới đây. http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/21221-thai-lan-va-ngay-tam-nuong/
    1 like
  36. Chào Qúy vị và các bạn ! Thu đến, đông về, tôi lại đến Đem tâm góp ích để cho đời Hễ giúp cho ai tròn chữ nghĩa Cũng là chữ phúc để đời sau
    1 like
  37. LÝ HỌC VIỆT VÀ NGUỒN GỐC THÁNG CÔ HỒN Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tiếp theo Trong bài trên, người viết đã trình bày với quý vị và anh chị em rằng: Trên cơ sở này, chúng ta cùng quán xét những điều kiêng cữ được mô tả ngay trong bài báo , mà người viết đã giới thiệu ở trên. Nếu tiếng chuông gió thu hút sự chú ý của ma quý, thì ti vi, dàn âm thanh....còn gây chú ý lớn hơn. Híc! Người yếu bóng vía, là người Dương khí - (các trạng thái tâm lý, tinh thần...) - suy. Nên dễ bị Âm khí của tháng 7 chi phối. Bởi vậy, chỉ không nên đi khuya ở những nơi vắng vẻ và có Âm khí vượng như: nhà hoang, bãi tha ma thôi. Đi vào những nơi như vậy, cần có đèn pin, đuốc là Dương khí để hạn chế tương tác xấu của Âm khí. Những nơi Dương khí vượng, như nơi vui chơi giải trí đông người, phố đông người qua lại, cơ sở sản xuất...vẫn đi được. Nếu cứ theo điều kiêng này thì công nhân đi làm ca đêm phải nghỉ chăng? Đây là quan niệm phổ biến ở bên Tàu. Nó nhằm mô tả một trạng thái khác, không liên quan đến "Tháng Cô hồn". Văn hóa dân gian Việt không có điều này. Nếu "một sợi lông quan ba con quỷ" thì chắc người nào cũng đầy quỷ bám trên người. Và những người lông chân, lông tay...ít, chắc bị ma nhập hết cả. Tuy nhiên, vì tháng Âm Khí vượng, lỗ chân lông là một trong những nơi hấp thụ khí. Bởi vậy, không nên ăn mặc hở hang trong tháng này thôi. Đốt vàng mã, thực chất là dùng lửa để xua đuổi Âm khí. Bởi vậy trong tháng cô hồn, người ta thường đốt vàng mã cúng cô hồn là vậy. Tất nhiên phải đốt vàng mã đúng chỗ, và có phương pháp, như: cho vào thùng tôn, hoặc những nơi quy định đốt vàng mã trong đền chùa....Không đốt tùy tiện với bất cứ địa điểm nào, để....chống hỏa hoạn thôi. Cái này thì nên để khuyên tụi trẻ con. Người lớn câu này thừa. Đồ cúng không ai ăn trước cả. Và không cứ tháng cô hồn. Điều này thì tháng nào cũng nên kiêng, không cứ gì tháng cô hồn. Riêng tháng cô hồn cần đặc biệt kiêng cữ. Nhưng điều này chỉ đúng với việc phơi quần áo ngoài trời. Híc! Chưa bít con ma thuộc dân tộc nào? Nếu gọi tên bằng tiếng Anh, con ma dốt ngoại ngữ chắc chẳng biết đằng nào mà bắt. Nguy hiểm quá! Thế này thì nên đề nghị Liên Hiệp Quốc cấm tất cả các cuộc thi bơi lội trên Địa cầu vào tháng này. Cái này thì tháng nào cũng nên kiêng. Điều này thì chắc những ai thích chặt cây, trồng lại sẽ rất hoan nghênh. Họ sẽ trhay tất cả những cây đa bằng cây mỡ. Chưa hết! Thạch Sanh ngày xưa chắc bị "ma nhập" lâu rùi. Vì anh ấy ở dưới gốc cây đa. Hì. Chắc chỉ trong tháng cô hồn mới không được thức khuya. Còn các tháng khác thì được thức thoải mái chăng? Vậy ngoài tháng Cô hồn ra, các tháng khác được chui vào xó tối chơi chăng? Còn các tháng khác thì lượm thoái mái chăng? Chỉ trong tháng Bảy này thôi hay sao? Người nằm chềnh ềnh ra đấy, ma không nhìn thấy sao, mà phải căn cứ vào mũi giày, dép? Cái này thì tháng nào cũng kiêng, không cứ tháng Bảy. Điều kiêng cữ này, ý muốn nói nên ..đi khách sạn ngủ hai mình đây. Hì. Vậy ai muốn chứng minh có ma, nên tranh thủ chụp ảnh vào tháng cô hồn. Chắc sẽ thấy đầy ma để chứng minh có "cơ sở khoa học" về ma. Hì. Hì. Vậy ai mà tỏ tình trong tháng này, mà người yêu nó bắt thề, nếu kiêng mà không thề thì nó xù đấy! Đợi đến tháng Tám mới tỏ tình thì nhỡ nó yêu người khác mất?! Mưa mà không núp dưới gốc cây thì núp ở đâu? Nếu chung quanh không có chỗ núp nào khác? Chỉ không nên núp dưới gốc cây to , mọc riêng lẻ trong mưa to, đề phòng sét đánh thôi.Tất nhiên cũng không phải chỉ trong tháng Bẩy. Cái này thì cũng còn tùy. Cá nhân tôi không thích những hình quỷ quái ghê sợ, ở bất cứ tháng nào. Với các bà xã trên khắp thế gian này thì đây phải là điều kiêng cữ trong năm. Cái này thì nên kiêng vì cảnh sát giao thông sẽ bắt trong bất cứ tháng nào. Hả?! Vậy các cửa hàng bán thịt, gà lợn, trâu bò....họ chặt thái suốt ngày, nếu không cho mài dao thì họ lấy tay xé à? Ngày xưa các cụ không có Honda, chắc tác giả ý muốn nói là xe ngựa. Không động thổ, nhập trạch thì OK. Nhưng cần giải thích rõ vì sao. Wow! Các cụ ngày xưa đâu có khái niệm xe hơi, xe Honda đâu nhỉ? Chắc tác giả mún nói xe ngựa, hoặc xe cút kít. Ý muốn nói là trong tháng Bẩy phải xem ngày cho kỹ. Còn các tháng khác thì cứ làm vung lên sao? Ui! Thế thì tháng này kinh tế thế giới bị đình trệ vì các hợp đồng phải để tháng sau mất. Để tháng sau chặt? Thảo nào! Vừa rồi Hanoi chặt cho cả đống cây từ mấy tháng trước. Hì. Ủa! Vậy áo đen may thoải mái sao? Cái này thì Ok. Để đỡ tốn tiền. Và vì vậy thì tháng nào cũng nên kiêng. Bệnh viện thì lúc nào đèn đóm chẳng sáng choang. Tất nhiên trừ lúc mất điện. Đâu cứ cô hồn, các đẳng mới "tham , sân si". Con người còn tham sân si hơn. Vậy nên ăn chay luôn cả cái thế giới này cho nó gọn. Quý vị và anh chị em thân mến. Qua những phân tích trên với những vấn đề đặt ra cho từng điều kiêng cữ, cho thấy những điều kiêng cữ đó hầu hết rất ư là ...ngớ ngẩn và không có "cơ sở Lý học". Đây là hậu quả của một nền văn minh bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử từ hơn 2000 năm trước, khiến nó sai lệch và bị thất truyền. Bởi vậy, từ cơ sở Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt - quán xét bản chất của thực tế môi trường với Âm khí vượng trong tháng Bảy thì mối quan hệ tương tác này liên quan như thế nào đối với con người? Còn tiếp
    1 like
  38. Những vấn đề mà Thích Đủ Thứ đặt ra không sai. Nhưng nó phải trong một hoàn cảnh rất cụ thể. 1. Non bộ ko được đặt tiếp đất (tiếp âm) mà phải có bể hoặc chậu rồi đặt non bộ lên trên; Trong phong thủy, khi tôi dùng non bộ để trấn yểm thì luôn yêu cầu tiếp đất. Bởi vì, non bộ lúc đó được đặt đúng vị trí - theo cái nhìn của tôi - nếu không tiếp đất thì sẽ không phát huy tác dụng trấn yểm. Còn non bộ cảnh do được đặt theo thuần túy cảm quan và ý thích của chủ nhân. Do đó, nếu tiếp đất mà sai vị trí theo tiêu chí phong thủy sẽ rất nguy hiểm. Có thể vì thế nên có lời khuyên, nên đặt trên chậu, hoặc bể chẳng hạn. Tác dụng của non bộ với tư cách là cản trở, ngăn cách vì thể sẽ giảm. Tuy nhiên, thực tế ứng dung non bộ tôi thấy dù không tiếp đất cũng rất xấu, nếu đã sai vị trí. Tốt nhất , nếu chơi non bộ nên đặt ở nơi mộ khí. 2. Hạn chế dùng non bộ nguyên khối mà nên ghép; Non bộ ghép, nhưng nếu có gắn kết bằng bất cứ chất liệu gì cũng coi là nguyên khối. 3. Không sử dụng non bộ thay bình phong hay hậu chẩm. Cái này cũng tùy theo từng trường hợp thực tế. Nếu xung sát khí vào nhà quá nặng thì dùng non bộ trấn yểm là tốt nhất. Nhưng làm ăn cũng khó khăn. Theo tôi non bộ dùng hậu chẩm tốt. Nhưng phải là cuối nhà, hoặc cuối đất. Sở dĩ phải dùng màu trắng - tốt nhất là san hộ trắng, hoặc đá trắng cho tiện - chính vì Âm nhô cao, nếu đen thì cực Âm sẽ không tốt.
    1 like
  39. PHONG THỦY LẠC VIỆT ỨNG DỤNG. Trong kiến trúc nhà riêng của Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tiếp theo Phong Thủy Lạc Việt là một hệ thống phương pháp ứng dụng, hệ quả trực tiếp của thuyết Âm Dương ngũ hành với nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử - có một nội dung, nhất quán , hoàn chỉnh, có tính hệ thống, phản ánh tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri; hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một hệ thống lý thuyết khoa học. Đây là sự khác biệt căn bản với những tri thức rời rạc, mâu thuẫn, mơ hồ từ các mảnh vụn còn sót lại về tri thức của ngành học này vốn ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán. Nếu như những tri thức khoa học hiện đại trong kiến trúc và xây dựng là sự thể hiện những nhận thức kỹ thuật kiến trúc và kết cấu xây dựng với tính thẩm mỹ theo nhãn quan thẩm mỹ thời đại - thì - Phong Thủy Lạc Việt chính là một hệ thống tri thức, mô tả quy luật tương tác của tự nhiên với ngôi nhà, được hệ thống hóa, chuẩn hóa và phân loại thành những quy tắc, nguyên lý, tiêu chí và các mô hình biểu kiến trong sự ứng dụng của từng hệ quy chiếu, để quán xét ảnh hưởng của những tương tác này đối với ngôi gia và con người có khả năng tiên tri. Căn cứ vào những tiêu chí và nguyên tắc, quy ước này, các phong thủy gia sẽ thiết kế, bài trí nội thất và tiến hành xây dựng căn nhà, hoặc các công trình xây dựng khác. Tùy theo sự hiểu biết và khả năng của các phong thủy gia, mà có thể cùng một hệ thống kiến thức về phong thủy, căn nhà vẫn có những thể hiện kiến trúc hình thức khác nhau. Tương tự như cùng một khóa kiến trúc sư ra trường và cùng thiết kế một ngôi nhà với chức năng sử dụng như nhau, mỗi người vẫn có thể đưa ra phương án kiến trúc khác nhau. Miễn là đồ án của họ phù hợp với những tiêu chí trong kiến trúc và xây dựng. Kiến thức phong thủy và kiến trúc hiện đại hoàn toàn không hề có mâu thuẫn như nhiều người lầm tưởng. Nhưng nếu chỉ sử dụng kiến thức của kiến trúc và xây dựng hiện đại thì người kiến trúc sư sẽ thiết kế dễ hơn rất nhiều. Vì họ không bị buộc phải tuân thủ một số tiêu chí, và quy định bởi kiến thức phong thủy vốn khá chặt chẽ. Nhưng trong trường hợp này, nếu phạm phải những tiêu chí xấu trong phong thủy thì gia chủ, hoặc người thân của họ có thể gặp phải những điều không may mắn có thể tiên tri. Những phương pháp ứng dụng trong phong thủy hoàn toàn khách quan và đầy đủ tính chất khoa học theo tiêu chí khoa học. Nó không vì quan lớn, hoặc dân đen mà thay đổi tiêu chí và những nguyên tắc của nó. Do đó, tuân thủ theo đúng những nguyên tắc và tiêu chí phong thủy thì cũng như uống đúng thuốc, hoặc thuốc bổ, phạm vào các tiêu chí xấu thì cũng như uống thuốc độc và đều có khả năng tiên tri - chứng tỏ tính quy luật khách quan phản ánh trong các qui định và mô hình biểu kiến của phương pháp này. Bởi vậy, hoàn toàn bất hợp lý khi cùng là hệ quả của một hệ thống lý thuyết mà lại có đến bốn trường phái phong thủy khác nhau và đầy mâu thuẫn được miêu tả trong cổ thư chữ Hán. Phong thủy Lạc Việt là sự hiệu chỉnh và đã xác định cái gọi là bốn trường phái trong cổ thư chữ Hán thực chất là 4 yếu tố tương tác căn bản trong Phong thủy. Chúng có những phương pháp đặc thù với một hệ quy chiếu riêng trong hệ tương tác của nó và hoàn toàn không hề có mâu thuẫn về mặt lý thuyết. Bốn yếu tố tương tác chủ yếu đó là: 1 - Loan Đầu - Cấu trúc môi trường thiên nhiên chung quanh ngôi gia với những quy luật tương tác được mô hình hóa và ảnh hưởng đến ngôi gia, có thể tiên tri. Cổ thư chữ Hán coi đây là một trường phái ứng dụng độc lập. 2 - Cấu trúc hình thể ngôi gia - bao hàm những cơ sở của Dương trạch Tam yếu . Tức là hình thể ngôi gia, bên ngoài và bên trong. Ảnh hưởng của những quy luật tương tác của yếu tố này với con người sống trong ngôi gia có tính quy luật có thể tiên tri.Cổ thư chữ Hán coi đây là một trường phái ứng dụng độc lập 3 - Ảnh hưởng của địa từ trường trái đất lên con người thông qua ngôi gia. Cổ thư chữ Hán gọi là trường phái Bát trạch. 4 - Ảnh hưởng của sự vận đông các hành tinh gần gũi trái Đất lên ngôi gia vào thời điểm xây cất và nhập trạch. Cổ thư chữ Hán gọi là trường phái Huyền không. Những trường phái này theo mô tả trong các bản văn chữ Hán là những phương pháp tách rời, ứng dụng một cách độc lập và không có sự liên hệ với nhau. Nội dung của các trường phái này đều có những yếu tố mơ hồ về khái niệm, mâu thuẫn với nhau và có lịch sử ra đời muộn nhất là phái Huyền Không vào thế kỷ XV AC và hoàn thiện vào thế kỷ XIX AC. Sớm nhất là Bát trạch vào thế kỷ thứ II BC. Phong thủy Lạc Việt coi đây là sự phát hiện riêng phần trong lịch sử Hán hóa các tri thức Việt khi sụp đổ ở miền nam Dương tử và xác định đó chính là bốn yếu tố tương tác với những hệ quy chiếu riêng và là hệ quả thống nhất của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Sự ứng dụng một cách thống nhất và có hệ thống cả 4 yếu tố tương tác này trong kiến trúc nhà ở của người viết là một minh họa cho quan niệm trên. Và không phải là duy nhất. Còn tiếp
    1 like
  40. Trước tiên xin kính chào các quý ông quý bà cùng toàn thể quý cô chiêu và quý cậu ấm. Hiện nay, mục Tử vi luận giải này rất đông khách, đại bộ phận khách khứa là quý cậu ấm và quý cô chiêu, mới 19 đôi mươi nên còn nhiều sự đời chưa hiểu, thiết tưởng mình đỗ đại học đã là nhớn, biết Hun đã là khôn nhưng khi lạc vào thế giới tiên đoán thì đúng là một kiến thức mới. Hiện nay, theo như tôi quan sát, hầu hết các anh chị, cô bác luận giải ở diễn đàn đều dùng từ ngữ tân thời, rất ít từ ngữ cổ hoặc cũ. Nhưng xem ra nhiều người Trẻ không hiểu và nhiều người xấu số (lá số không đẹp như ý) hay hỏi đi hỏi lại, người này trả lời không ưng thì tưng tưng chạy qua hỏi người khác. Giá mà khi đi học mà chăm chỉ chịu khó như thế thì tốt cho nước nhà quá. Vì vậy tôi xin mạn phép mở ra mục này để các cô bác, anh chị luận giải lá số đóng góp các kiến giải vào đây để các quý ông bà, quý cô ấm cậu chiêu đọc hiểu một vài vấn đề cơ bản. Với các quý vị nhờ bình giải lá số thì chỉ nên đọc hiểu chứ đừng View như người Anh. Bởi quý vị viết vài dòng cảm xúc vào đây thì sẽ có nhiều điều không cần thiết. Nếu thấy nhất thiết phải viết thì nên đọc kỹ trước khi đặt tay gõ phím hỏi về vấn đề mình chưa hiểu. Rào trước, Chắn sau như vậy thiết nghĩ cũng đã cạn lẽ. Xin phép quý vị cho tôi vào thẳng vấn đề cần vào như sau: 1/ Không còn là trinh nữ trước khi động phòng hoa trúc: Việc này không nhất thiết cứ phải là quan hệ với người ngoài rồi mới lấy chồng. Hoàn toàn có thể quan hệ với người chồng trước khi cưới và đăng ký kết hôn. 2/ Phải lập gia đình muộn mới tránh được hình khắc chia ly: Muộn là từ tầm 30 tuổi trở đi, Sớm là từ 24 tuổi trở về trước, Trung bình là tự hiểu. 3/ Giải pháp để tránh hình khắc ly dị: muộn lập gia đình, làm lẽ, cưới hỏi dở dang người này rồi lấy người khác, cưới đi và cưới lại 4/ Cưới đi và cưới lại: Là việc hi hữu, ví như vì ở xa nhau nên phải tổ chức cưới ở 2 nơi, bái gia tiên 2 lần, hoặc cưới chui trước khi cưới thật, tức là ra phường làm đăng ký kết hôn hoặc lấy được giấy đăng ký kết hôn rồi về nhà làm lễ bái gia tiên ở 1 trong 2 họ, Hiện nay thiên hạ rất chuộng cái vụ cưới đi rồi cô dâu lẳng lặng bỏ về nhà đẻ, sau đó chú rể mới lóc cóc đi đón dâu về lần nữa. Để gọi là qua 2 lần đò đểu. Vì là đò đểu nên chẳng có gì đảm bảo cái sự giả dối cố ý được biện hộ là chữa mẹo với chẳng méo này có tác dụng gì cả. Chồng 5 thê 7 thiếp vẫn cứ diễn ra, vợ thì có cả bộ sưu tập người tình thì vẫn chẳng tránh khỏi. Thế thì chọn giờ lành tháng tốt làm gì hay tại thầy bói dốt? 5/ Kim lâu đối với nữ nên không được lấy chồng: 1 lần ân ái cũng nên vợ chồng, nếu nói dại chỉ 1 lần nghịch dại mà có thai, vậy lúc nghịch dại ấy ai xem ngày xem giờ cho? Yêu thì Cưới, đó là nét văn hóa của dân tộc Việt, "Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên?", "Ngày xưa ai cấm duyên bà, mà nay bà già bà cấm duyên tôi?", "Hùng Vương kén rể thời nay: Xe bốn bánh, Cánh 2 bên, Lên thang máy (nhà biệt thự cao hơn 5 tầng phải đi thang máy chứ ko phải loại trung cư vớ vỉn) Như vậy Kim lâu hay không, không quan trọng trong việc cưới chồng, bởi nếu quan trọng thế thì sao lúc đẻ con ko tính chuyện kim lâu, chồng thì chỉ sống được vài chục năm cùng mình (lâu hơn cha mẹ mình) nhưng thường thì chồng không sống lâu hơn con mình (Ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con cái). Vậy rõ ràng cái chuyện trăm năm kia là sống với con, con cái lo ma chay - hiếu hỉ cho cha mẹ, quan trọng thế sao không Kiêng? hay sướng quá nên quên mất việc kiêng cữ? 6/ Cải số: Quả có vài trường hợp lá số phán Tử vong, đương số quả nhiên có nhìn thấy Quỷ Môn Quan. Nhưng được cứu giải. Nên không phải xuống mười mấy tầng địa ngục an dưỡng. Đó là những trường hợp hi hữu và không phải tất cả những người có cùng ngày, cùng tháng, cùng năm đó đều được cứu giải như thế. Mình không chết thì người khác chết, số trời đã định ngày hôm đó Tử thần với lưỡi hái Đầu lâu phải gom đủ 3000 đầu lâu vào cái túi đen ngòm, nếu không đủ thì bị phạt, không nhẽ cái lão Sư cọ mốc với lưỡi hái dài ngoằng đó nhận hối lộ của quý vị để giết người khác thế thân cho quý vị hoài? Rõ là không rồi. Như vậy việc cải số cũng giống như việc thi Hoa hậu thế giới vậy, cả năm chỉ có 1 người đăng quang ngôi vị cao nhất mà thôi. Chứ cải được số thì sao không làm cho lá số đẹp cả 12 cung số luôn đi, chỉ cải mỗi cái cung Phu Thê hay Tử tức xấu hoắc để làm gì? vậy cung này tốt lên thì cung nào sẽ xấu đi đây? Tử vi không phải là cái để mọi người xoay chuyển càn khôn mà chỉ để con người nhìn vào đó để chuẩn bị tâm lý cũng như cách ứng xử sao cho tốt nhất trong hoàn cảnh đó mà thôi. Nhưng không có nghĩa là khoanh tay chịu trói, Tức biết được tháng này mình bị mất tiền có thể do bị cướp hoặc bị vay đểu. Thì mình phải tự đưa ra đối xách là cướp thì phải truy hô, vay đểu thì chỉ cho vay ít thôi. 7/ Giầu có đừng vội mừng, nghèo khó đừng vội lo: Biết số mình nghèo, bon chen cũng chẳng lợi gì thì đừng lấy đó làm buồn, mà hãy nghĩ đến việc mình sống có hạnh phúc không, người ta giầu có mà con cái ăn tàn phá hại thì có hạnh phúc không? kiếm tiền nhiều để vợ chồng nem chả mà vẫn chung giường, con cái hút sách mà vẫn đi du học thì khi về già có sướng không? Giầu mà không sang chẳng bằng nghèo khó mà đứng đắn. Sống ở trên đời, cần có 1 cái tâm cùng với cái tầm chứ không phải tiền bạc và địa vị. 8/ Tuổi còn trẻ quá (dưới 25) thì không nên tìm hiểu quá sâu về tương lai xa: Tầm tuổi này chỉ nên biết tương lai gần trong 5 năm tới chứ đừng tham lam mà hỏi thông cả đến lúc vào hòm. Cuộc đời này chỉ có 18% là những điều tuyệt vời, với 2% may mắn, còn lại có đến 80% những điều không may. Vì thế hầu hết xem số nói về điềm gở nhiều và dễ hơn điềm lành. Nhưng với số lượng điềm lành nhỏ bé ấy lại làm lên cả 1 kỳ tích về cuộc sống con người. Vì vậy, hãy nhìn gần để dễ làm, đừng nhìn xa quá mà thêm mệt mỏi. 9/ Tỷ phú tại Thiên, Triệu phú nhờ tích góp, đổi giờ sinh để làm gì?: Giầu không phô, nghèo không xấu hổ. Nếu đã biết số mình nghèo thì cố mà tích góp, để một mai mưa gió đau ốm còn có cái dùng, chứ nợ nần là tự mình bán danh dự của mình đi rồi. Bởi nhỡ một mai chết đi, gánh nợ đó đổ lên đầu ai nếu ko phải là người thân ruột thịt trong nhà? Vì vậy dù giầu hay nghèo thì cũng nên khiếm tốn. Đừng xừng sực đổi giờ sinh, ngày sinh. Nếu đã không biết thì cần làm rõ trước, khi đăng tin lên cần kiểm tra lại kẻo đến lúc người giải đã luận giải cả tràng rất dài rồi mà cuối cùng là sai giờ sinh. Nếu quý vị đi xem mất phí, sẽ có bao nhiêu người nhìn quý vị? người ta đang xếp hàng chờ đến lượt mà lại bị 1 kẻ lãng nhách xếp trước. Như thế là không lịch sự. Đổi giờ sinh, chắc gì đã có lá số tốt hơn 10/ Vợ chồng có ngày xa cách: Xa cách không có nghĩa là ly dị, nhưng lại có ý nghĩa là chia ly tạm thời. vì dận nhau hoặc vì công tác, không thể luận giải chính xác được là vì sao. 11/ Bị làm sao đó: Làm sao là làm sao thì có nhiều trường hợp, nhưng tựu chung là muốn biết nguyên nhân và kết quả, Tử vi không thể chỉ rõ được vấn đề, ví như đụng xe hay đâm xe? đụng thì chỉ là va quệt nhẹ, còn đâm xe thì nặng rồi. Nhưng ai đâm ai và xe đâm là xe gì thì chịu nhé, chỉ có Chúa mới biết nó là cái gì và như thế nào. Khoa học cũng như Tử vi không bao giờ trả lời Tại sao mà chỉ giải thích như thế nào. Đừng hỏi tại sao con người lại sinh ra trên trái đất này mà không phải là ở 1 Ngôi sao cô đơn nào đó trong vũ trụ. Không ai và không bao giờ bạn có câu trả lời. 12/ Sao này và sao kia: Nếu quý vị chưa thông tường hoặc chưa thuộc được ý nghĩa cũng như sự phối kết hợp giữa các sao thì không nên đưa ra những câu hỏi về các vì tinh tú này để tránh chuyện tranh cãi nhiều hơn là trao đổi học thuật. Người luận giải thực sự không có hứng thú đàm đạo với quý vị về vấn đề này (hầu hết là thế) 13/ Học giỏi không đồng nghĩa với giầu có và ngược lại: Cuộc đời là thế đó, quý vị có 1 quá khứ học hành siêu việt, nhưng chẳng có gì đảm bảo là quý vị có 1 tương lai sáng về tiền bạc cả. Tiền và Tài không phải lúc nào cũng song hành với nhau Ngày hôm nay có thu nhập cao thì đừng vội mừng, bao giờ nghỉ hưu ở tuổi 60 thì hãy phán xét việc bói toán là trò nhảm nhí. 14/ Giầu nứt đố đổ vách mà không bền: Ai cũng có 1 thời kỳ 10 năm phát đạt, nhưng không phải cả 10 năm đều phát mà có năm được năm hòa. Nhưng tổng kết là tốt và rất tốt. Cái ngưỡng 10 năm tốt đó nó thể hiện ở con số dưới đáy và ở giữa mỗi cung số. Quý vị có thể xác định được cho mình ở khoảng tuổi nào, ví như Mệnh là số 3 và khoảng thời gian tốt nhất cho mọi vấn đề của cuộc sống có thể là từ 23 đến 32 tuổi bởi cung kế tiếp là cung 33, nếu vận hạn tốt ở cung 43 thì thời kỳ tốt đẹp đó là từ 43 đến 52 tuổi. v.v... Đời người thường chi có 1 thời ký 10 năm này thôi, thường thì chỉ có một vài trường hợp đắc cách mới có 2 vận tốt, có thể là ở cung 33 và cung 53 tuổi, tức cung 43 tuổi ko tốt hoặc hơi xấu so với bình thường. 15/ Mất điện thoại có tìm lại được không? hay các câu hỏi đại loại như thế: Vậy mất người yêu có lấy lại được không? đâu cần bói toán gì cũng đoán được mà. Rất ít trường hợp Tử vi có thể đoán được, nên đi tìm các phương pháp tiên đoán khác thì hơn. Mong các quý vị giải số tiếp phím
    1 like
  41. Luận Hình Thể Nhìn Long lấy Thế, xem Huyệt lấy Hình. Thế là Thần hiện ra, Hình là Tình lộ ra. Bỏ Thế thì lấy gì nhìn Thần của Long; Bỏ Hình lấy gì xem Tình của Huyệt. Bởi thế Tổ Tông cần có Thế cao vút, Lạc Mạch cần có thế giáng xuống, Xuất Thân cần có thê che chắn, Quá Hạp cần có thế dừng lại, Hành Độ cần có thế nhấp nhô, quanh co, Chuyển Thân có chỗ dựa sau lưng, thế đi về trước. Hoặc hăm hở phi lên, tựa như tuấn mã, hoặc phô bày tầng lớp, như sóng lấn sóng...Có thế như vậy tất là Chân Long. Không được như vậy tất là Giả Long. Tuy có mạch núi đi đến, chẳng qua cũng là cứng rắn hoang dối. Thảng có hình Huyệt tất cũng là giả hoa, đó là điều chắc chắn. Pháp xem xét Thế trước cần lên cao mà quan sát, tiếp theo Thân Long mà bước, lại từ hai bên phải trái mà xem xem, đối diện nhìn kỹ, tất có Chân Thần. Chỗ linh hiển với chỗ chạy lại, chỗ dừng tụ đều có thể tự mình biết rõ. Đến như Pháp xét Hình, có sáu thể là Viễn Biển Khúc Trực Phương Ao. Tỷ mỉ là bốn Cách Oa Kiềm Nhũ Đột, tiếp lấy thừa Kim tương Thủy, Huyệt thổ Ấn mộc làm pháp chứng minh, tất là Huyệt Tình khó trốn. Thừa Kim cũng tức trong Ngũ Hành, lấy Tròn làm Kim, lấy uốn lượn làm Thủy, lấy thẳng cao làm Mộc, phàm là Chân Huyệt, tất chỗ viên động, Oa Kiềm viên tại đỉnh, Nhũ Viên tại hạ, Đột viên tại giữa, nếu trong Oa Kiềm có Nhũ Đột, trên Nhũ Đột lại có Oa Kiềm. Tức gọi là Nhật La Văn Thổ Súc, tức là Thiếu Âm và Thiếu Dương của Huyệt vậy. Thừa lại dựa Thừa ở chỗ vầng tròn, động Khí ở giữa. Nếu là giữa thủy có Viên Động có thể thừa, trái phải tất có Vi Mang, thủy quanh co bao bọc, giao nhau trước Huyệt, Tiểu Minh Đường là cái gần nhất ngay trước mắt. Giả tưởng chỗ hai thủy giao mà hướng đến. Ấn Mộc tức là chỗ bên ngoài Thủy, tức là hai bên Chân Sa chầu tụ, khép Hạp trước Huyệt, cách bức một khoảng, hợp với Thủy Nội Minh Đường. Tức cánh ve sừng trâu, tức nếu có Thủy tất ấn chứng nơi Sa đó, cũng là nơi Khí dừng thủy giao, nếu không có Sa đó tất là thoát Khí tiết tán. Không phải Chân Huyệt. Cái gọi Huyệt tất có các điều trên, lại có Ngũ Thổ Tứ Bị, là đất quý báu, đúng là Chân Huyệt. Còn như ngoại hình và nội Khí không phù hợp, thì chỉ là Giả Hình mà thôi. Huyệt chính như Huyệt của người trong châm cứu, nhất định biết nó không dễ. Nếu Tứ Vi đã đủ, ở giữa tất có khí ấm, tức hỏa Khí. Đó là cái cần khi quan sát Huyệt. Bởi vậy cái cần trong Địa Lý không hề ngoài Hình Thế. Nay đã hiểu thuật này, chẳng hư đàm Tinh Quái Phương Vị. Đó là Tinh Nghĩa, nếu ở chỗ hình thế địa lý thực tiễn trái mắt nói sằng, cải biến địa lý hỗ hào, chân nhân không biện, để nhầm người vào tà lộ.
    1 like
  42. Tài liệu tham khảo: Địa Lý Tỉnh Tâm Lục Long thế trú , khán tả hữu , nhất thủ bất hồi chung hữu cữu , tả Long hữu Hổ lưỡng biên tề , nhi tôn hưng vượng đa điền thổ .Tại nơi Long đến , xem trái phải , không có bên nào quay lại thì xấu , hai bên Long Hổ tương bằng thì con cháu hưng vượng ruộng đất nhiều . Tả hữu Long , Hữu hữu Hổ , thử địa tu giáo hậu Phúc cửu , tả hữu Long Hổ hữu ao phong , quả mẫu chủ gia nam đoản thọ . Trái có Long , phải có hổ , nên nhiều Phúc lâu dài , Long Hổ mà bị khuyết hãm thì quả phụ làm chủ gia đình , nam nhân đoản thọ . Long yếu long xiển , hổ yếu phục , Hổ tuần Long bàn phương thị Phúc , nhược hoàn Long Hổ bất tương nhiêu , huynh đệ tương tranh nan cộng ốc . Long cần nhất phải đầy đặn , Hổ cần quy phục , Hổ thuần Long cuộn đó là đất Phúc , Long Hổ mà không đầy đủ khoan thứ thì huynh đệ tranh giành không thể chung 1 nhà . Hổ yếu loan , Long yếu quan , Long Hổ cục tàng tự ngọc hoàn , thử thị phúc Long lai kết huyệt , gia trung kim ngọc tích như sơn . Hổ phải lõm , Long phải thắt , Long Hổ hợp cục như hình chiếc vòng ngọc , đó chính là nơi Long kết huyệt , trong nhà vàng ngọc chất như núi . Long yếu ngang , Hổ yếu giáng , huyệt như khuê nữ thủ Lan Phòng , thử thị chân Long lai tác huyệt , hạ chi tất định xuất Triều Lang . Long phải nghển đầu , Hổ phải phục xuống , thế huyệt như khuê nữ trong Lan Phòng , đó là chân Long thành huyệt , táng vào tất có con cháu làm quan lớn . Long thủ đê , Hổ hùng khi , Hổ cao Long oải bất tương nghi , trưởng tử bần cùng tiểu tử phú , cái duyên sơn thủy bất tương tề . Long hạ thấp , Hổ hùng mạnh coi thường , đó là cái tượng Hổ cao mà Long thấp kém , con cả nghèo khó , con thứ lại giàu đều do sự sơn thủy không cân bằng . Hổ như cung , Long như phong , Long Hổ loan loan tự hữu dung , cánh đắc tài lộc sơn thế khang, kỳ gia phú quý phúc hưng long . Hổ hình vòng cung , Long cao như non , Long Hổ cong cong thế chứa vào , lại thêm tài lộc sơn thế mạnh , gia đình vì thế mà phú quý hưng thịnh . Long vi hồ , Hổ vi thi , tả hữu hoàn bão nhất lưỡng chi , thử thị hoạch tài sơn tác thế , kỳ gia hậu tích vượng tàm ty . Long như hình trái hồ lô , Hổ như hình cái thìa , tả hữu ôm vòng một hai nhánh , đó là long thế của núi hoạch tài , nên trong nhà chứa nhiều lụa là gấm vóc . Thanh Long quý , khởi phong tiêm , điệp điệp bài lai thế tháp thiên , sản xuất tử tôn đa phú quý , vi quan thực lộc vị tam công . Thanh Long quý , khởi lên ngọn nhọn , liên tiếp như những ngọn tháp hướng trời xanh , đó là nơi sinh ra tử tôn phú quý , làm quan hưởng lộc , tới Tam Công . Thanh Long cao , khởi lâu đài , nhi tôn quan chức thử trung lai , định xuất trưởng phòng nhân cập đệ , mã tiền hát đạo trạng nguyên hồi . Thanh Long cao , nhô lên hùng tráng như tòa lâu đài , con cháu dần dần tiến lên trên quan lộ , định ra trưởng phòng con thi đậu , trước đầu ngựa mở đường trạng nguyên về . Thanh Long loan , tự lâu thuyền , uyển chuyển như cung dục thượng huyền , điịnh chủ nhân thương đắc tài bảo , gia trung vạn khoảnh trí trang điền. Thanh Long chạy từ từ , thế cao nhấp nhô như lâu thuyền , uyển chuyển như cung giống trăng thượng huyền , tất chủ nhân buôn bán phát tài , có điền trang rộng lớn . Thanh Long tiêm , như án kiếm , hoành tại diện tiền nhân ác kiến , nhi tôn định chủ pháp trường hạ , xích xuất cát hầu nhân bất thiện . Thanh Long nhọn sắc , như thanh kiếm nhọn , chạy ngang trước mặt người thấy ác , con cháu lần lượt đi ra pháp trường , nếu sát vào hơn thước như cắt cổ thì người trong nhà toàn một lũ độc ác . Long sơn hung , thế thô ác , đái thạch sàm nham tự ngưu giác , trường phòng tất định xuất hung nhân , niên kỷ chu niên ôn hỏa tác . Núi phía Long hung ác , thế thô đá núi nhọn lô nhô như sừng trâu , trưởng phòng tất sản sinh ra kẻ hung ác , năm qua năm lại luôn bị bệnh dịch hỏa tai . Thanh Long thoán , bài chuyển đầu , hướng ngoại tùy lưu thủy bất thu , định sinh nhi tôn ly hương tổ , tam niên ngũ tái tẩu tha châu . Thanh Long tán lọan hồi đầu ngổn ngang , thủy theo hướng ngoại chảy đi không tụ lại , con cháu nhất định ly hương cầu thực , táng sau 3 – 5 năm phải bỏ quê mà đi . Long Thượng Lộ , tung chuyển hành , định chủ niên niên tai họa sinh , nhi tôn định chủ huyền lương tử , chỉ nhân long thượng hữu nhân hành . Trên tay Long có đường đi dọc ngang , thì năm nào cũng sinh tai họa , con cháu treo cổ mà chết cũng chỉ bởi trên Long có người đi lại . Long tiêm tà , tức mao diệp , thử thị Thần Long đái quỷ kiếp , gia chiêu đạo tặc thử trung sinh , canh xuất hung , bại gia nghiệp . Trên Long nhô mũi nhọn mà nghiêng ngửa , đó là Thần Long mang Quỷ Kiếp , nhà như mời trộm cắp đến , rất xấu , bại gia nghiệp . Thanh Long thối , tam lưỡng phiến , băng toái thiết kỵ huyệt tiền kiến , nhi tôn bần chi thụ cô hàn , định chủ đề la mịch thực biến . Thanh Long chia ra làm 2 , 3 lớp kỵ nhất là lở bể trước mặt huyệt , con cháu nghèo khó cô quả , ngày nào cũng vác rá đi vay . Bạch Hổ quý , ngưu giác thế , hựu tự ngân thi đáp phạn sơn , thử thị quan sa nhân hãn kiến , tá phụ tá xã tắc nhập triều . Bạch Hổ quý , thế như sừng trâu , như cái thìa xúc vào núi cơm , thế đất quan sa rất hiếm gặp , làm quan đến thừa tướng trong triều đình . Ban Hổ sơn Phụng như bán nguyệt , hựu tự ngân sơ lai hướng huyệt , thử thị bảo sa nhân hãn thức , tam phòng cập đệ triều kim khuyết . Bên tay Hổ và núi Phụng tạo thành hình bán nguyệt , giống như cái lược bạc hướng vào huyệt , đó là thế sa ít người biết , con của tam phòng ( Con trai thứ 3 ) làm quan triều đình . Bạch Hổ cát , hữu tú phong , lỗi lỗi bài lai tự phúc chung , định chủ tiểu phòng phát tích , môn lan hỷ khí náo thông thông . Bạch Hổ tốt , có đỉnh núi đẹp , đá đẹp xếp lại như cái cốc uống rượu , con thứ vợ lẽ phát , nhà cửa khí lành tràn đầy . Hổ sơn hùng , tam miêu nhi , hồi đầu vọng huyệt dục hàm phàm , định chủ nhi tôn tao Hổ giảo , thời sư ngộ thử yếu tiên tri . Núi bên Hổ hùng mạnh , như ba con mèo quay đầu lại muốn nuốt lấy huyệt , chủ việc con cháu bị hổ cắn , người làm thầy khi gặp cần phải đoán trước . Bạch Hổ tủy , như nhân chỉ , tai sinh quan phi lai điểm chỉ , nhi tôn đổ phó mại điền viên , hựu sinh phụ nhân hoa tửu uyển . Bạch Hổ như cái mỏ chim , như ngón tay người ,tai họa sinh ra từ quan sự điểm chỉ , con cháu vì cờ bạc mà phải bán ruộng vườn , còn con gái thì đàng điếm . Bạch Hổ đầu , tự giảo trường, chủ nhân tự ải điếu cao lương , nhược thị đoạn khanh đầu lạc thủy , tử tôn tao nịch táng hương tuyền . Địa thế Bạch Hổ , dài ra như sợi dây , chủ người treo cổ lên xà nhà , nếu đầu Hổ mà chui xuống nước , con cháu phải cái họa chết chìm . Hổ Sơn thoán , như phản thủ , hựu tự nga mi phong bài liễu , phụ nhân dâm loạn hữu phong thanh , hoa tửu táng thân nhân đoản thọ . Núi bên Hổ tán loạn như cánh tay ngược , lại giống nga my ( Nhỏ cong ) hoặc gió đùa lá liễu , con gái trong nhà dâm loạn có tiếng . Trong gia đình tất cả đều đoản thọ , chôn mình trong hoa rượu . Hổ chủy trường , tự trì thương sang , nhi tôn phá bại đạo hung cường , thương đầu hướng ngoại ngoại hương uất , hướng nội gia trung tự sát thương . Hổ mõm dài , như cầm dáo mác , con cháu là đồ hung cường phá bại , mũi dáo chĩa ra ngoài thì người ngoài hương chết ( Thôn ấp đối diện bị ) , chĩa vào trong thì tự gây sát thương . Bạch Hổ Tiêm , như bả bút , thiết kỵ tiêm tùy lưu thủy xuất , nhi tôn bả huyệt mại điền trang , phụ nữ tùy nhân đào tẩu thất . Bạch Hổ nhọn , như cầm bút , nhất thiết kỵ nơi mũi nhọn đó theo nước chảy đi , ứng con cháu bán nhà cửa ruộng vườn , nữ nhân thì bỏ nhà theo trai . Hổ sơn cao , sinh ác thạch , huyệt nội kiến thời chung bất cát , nhi tôn quải giáp khứ đầu quân , tất tại trung tử phòng trung xuất . Núi bên Hổ cao , sinh đá ác , huyệt nơi đó chẳng bao giờ tốt , con cháu lần lượt mặc giáp đầu quân , tất xuất từ con giữa . Long Hổ lưỡng bình chính , phú quý thiên nhiên định , Long Hổ tự lâu hang , điển tích phóng sinh tiền , Long Hổ lưỡng phân phi , phụ tử các đông tây . Long Hổ cân bằng chính đáng , sự phú quý do trời định , Long Hổ như lâu thuyền , chính là nơi sinh tiền của , Long Hổ chia làm hai đường , cha con không gần nhau . Long Hổ lưỡng trực xứ , nhi tôn tổn thê thất , Long Hổ lưỡng thuần hòa , tử tức tiện đăng khoa , Long Hổ lưỡng tiêm xạ , nhi tôn tao thụ đả . Long Hổ từ hai bên thẳng đến , con cháu hay bị tục huyền , Long Hổ đều thuần hòa , con cháu đều đỗ đạt , Long Hổ hai bên bị mũi nhọn chĩa vào nhau con cháu hay bị đánh đập . Long Hổ lưỡng đê lạc , mại điền vô khâu giác , Long Hổ lưỡng yêu đê , tử tức thụ cô quả , Long Hổ khuất khúc khứ , du thực lộ tử thị . Long Hổ hai bên thấp xuống mà tán loạn , bán ruộng vườn không còn một mảnh nhỏ , Long Hổ mà chỗ eo lưng thấp võng xuống , con cháu chịu cảnh cô quả , Long Hổ cong vẹo đến , chắc chắn đi kiếm ăn rồi chết đường chết chợ . Long Hổ tiêm xạ phần , nội phản tự gia truân , Long Hổ khi huyền vũ , tử tôn thường thụ khổ , Long Hổ lưỡng bài nha , phú quý đạt kinh hoa . Long Hổ chĩa mũi nhọn vào mộ phần , trong nhà có kẻ phản nghịch rất vất vả , Long Hổ coi thường Huyền Vũ , con cháu rất khổ , Long Hổ chầu như nha môn , phú quý thành đạt lớn . Long Hổ quyền đầu khởi , trùy hung ứng khốc tử , Long Hổ lưỡng giao thương , pháp tử mệnh tuthường Long Hổ như thùy chưởng , khất thực thường du đãng . Long Hổ như hai nắm đấm giơ lên đánh , ứng khóc con , Long và Hổ đấu nhau pháp chết phải đền mạng , Long Hổ như bàn tay đánh xuống , con cháu là đồ khất thực du đãng . Long Hổ lưỡng môn nha , đổ bác bất quy gia , Long Hổ tự liên châu , gia môn phú hữu dư , Long Hổ như qua hồ ,tư tài thường truy thủ . Long Hổ hai bên mở ra như chữ Y , cờ bạc không thèm về nhà , Long Hổ như chuỗi hạt châu , trong nhà giàu có dư thừa , Long Hổ như cái bầu , thừơng đeo duổi tiền tài vật chất . Long Hổ trực hạ khanh , thiếu tử nhập hoàng tuyền , hữu Hổ hựu vô Long , trưởng tử thụ cô cùng , hữu Long vô Hổ ứng , lộ tử mao tùng định . Long Hổ thẳng chúi xuống , hay có người chết non , có Hổ không có Long , con trưởng chịu cô đơn khốn cùng , có Long không Hổ ứng , nghèo rồi chết bờ chết bụi . Long trường Hổ trực xúc , mại điền tịnh mại ốc , Long đoản Hổ trực trường , mại ốc cập mại đường , Long bạn tam tiêm nhập , tam tử mệnh trung cấp . Long dài Hổ thẳng đến như khẩn cấp , bán hết ruộng vườn , Long ngắn Hổ thẳng dài , bán nhà dần để ăn , bên cạnh Long có ba mũi nhọn xâm hại . Con trai thứ 3 mệnh nguy cấp . Long bạn tam tiêm trường , tức phụ thụ tai ương , Long bạn sơn vi xuất , gia hữu thử đầu tặc , Hổ bạn kiến vi vi , thường bị tặc nhân khi . Bên cạnh Long là ba mũi nhọn dài , đàn bà trong nhà chịu tai ương , bên cạnh Long có ngọn núi nhỏ nhô ra , trong nhà có kẻ đào tường khoét vách , bên cạnh hổ thấy những thứ nhỏ nhỏ , thường hay bị lừa đảo . Hổ đê Long khuynh niêm , y thực kỳ gia bảo , Long miên Hổ khẩu cao , khẩu thiệt náo tào tào , Long tiêm lai xạ Hổ , thích diện tha hương khứ . Hổ cúi thấp Long nghiêng sát vào , trong nhà cái ăn cái mặc thật quý báu , Long ngủ Hổ há to miệng , hay có chuyện tranh cãi , Long nhọn bắn vào Hổ , bị thích chữ vào mặt đày nơi xa . Hổ tiêm xạ Long đầu , hoàn thị phối tha châu , Long ngoại nhất sơn tùy , dưỡng tử định gian phi , Hổ ngoại nhất sơn tùy , dưỡng nữ bị nhân mê . Mũi nhọn bên Hổ bắn vào Long , cũng bị phát vãng nơi xa , bên ngoài Long có một ngọn núi đi theo , con nuôi là kẻ gian phi , ngoài Hổ có một ngọn núi theo , con gái nuôi bị người ngoài quyến rũ . Thanh Long nhược trực khứ , đoán định mại điền cao , Hổ xuất tự đà thương , ám địa bị nhân thương , Long thượng tiêm bút khởi , tử tức đăng khoa đệ . Thanh Long đi thẳng , đoán là bán ruộng tốt , Hổ như ngọn thương đâm ngược trở lại , là đất xấu chủ người bị đâm lén , trên Long khởi lên như quản bút , con cháu đỗ đạt . Hổ thượng lưỡng tiêm phong , vô tử bả tôn củng , chỉ khả Long khi Hổ , bất khả Hổ khi Long , Long bạn trọng trọng khởi , trưởng nam đa phú quý . Trên Hổ có hai ngọn nhọn , không con phải để cháu cúng , chỉ tốt khi Long mạnh hơn Hổ , không tốt khi Hổ hơn Long , bên Long thế đi hùng dũng , trưởng nam rất giàu có . Hổ bạn điệp phong cao , tiểu tử tận anh hào , Thanh Long tùy Bạch Hổ , liên tịnh mại điền trang , Bạch Hổ cản Long hành , khả Hổ hữu dinh sinh . Bên Hổ trùng trùng ngọn cao , con nhỏ là kẻ rất anh hùng , Thanh Long theo sau Bạch Hổ dần dần bán hết điền trang , Bạch Hổ cản đường đi của Long , thì Hổ nào có thể mưu sinh . Long sơn hồi bão Hổ , tôn ty dâm dục sự , Bạch Hổ bão Long đầu , dâm dục bât tri tu , Thanh Long sinh ác thạch , trưởng tử tao ác tử . Núi bên Long quay lại bọc hết Hổ , trong nhà có sự dâm loạn tôn ty , Bạch Hổ ôm chặt Long đầu , dâm dục không biết xấu hổ , Thanh Long có đá dữ , con lớn chết dữ . Bạch Hổ đầu ngang tàng , tiểu vị chủ ôn hoàng , Long thượng khởi tiêm phong , trưởng tử kết tiền lung , Hổ thượng khởi tiêm phong , dưỡng nữ tự phù dung . Bạch Hổ đầu ngang tàng , tiểu vị ( con út ) chủ bệnh dịch , trên Long khởi mũi nhọn , con lớn có nhiều tiền , trên Hổ khởi mũi nhọn , con gái nuôi đẹp mà mất sớm . Thanh Long vi Cát Thần , nghi khởi khố nhi uyển duyên , Bạch Hổ vi hung Thần , nghi phủ phục nhi thuần phục , vô Long , yếu thủy nhiễu tả biên , vô Hổ , yếu thủy cư hữu bạn , tiên đáo hậu đáo ,loan hoàn bão huyệt , già tế nhập phong , vật linh xuy tán , sinh khí thủy giai , tự bản thân sinh xuất viên tịnh , nghịch thủy sáp thượng giả lực trọng , thuận thủy cung bão giả lực khinh , nghịch thủy bất kỵ hùng cường , thuận thủy tối hiềm nhược nhuyễn . Thanh Long là Cát Thần , nên di chuyền cần mềm mại , Bạch Hổ là Hung Thần , nên cần phải cúi đầu thuần phục , không có Long ,cần có thủy chảy vòng bên trái , không Hổ cần thủy ở bên phải , đến trước đến sau chảy rộng ra ôm bọc huyệt , che chắn để tụ gió , không khiến bị thổi tan đi , sinh khí thế mới tốt , tự bản thân sinh ra đẹp đẽ , nước đi ngược đến thì sức mạnh , nước đi thuận ôm vòng thì lực nhẹ nhàng , nươc đi nghịch không kỵ hùng mạnh , nước đi thuận không nên quá yếu . Thâp Cát Cách Viết ( Mười Cách tốt ) : Giáng phục tỷ hòa , tốn nhượng bài nha , đới ấn , đới kiếm , đới nha đao , giao hội khai tĩnh thị dã . Thập Hung Cách Viết ( Mười cách xấu ) : tương đấu , tương thôn , tương xạ , phi tẩu , thôi xa , chiết tí , phản bối , đoản súc , thuận thoán , giao lộ thị dã . Thêm có : Cao mạnh đè xuống trước mặt , chặt ngang lưng , ghét chủ phá toái , đá nham nhở thô thiển , gầy yếu giơ xương , cắm đầu xuống sông , ôm vào ụ đất , dưới nách gần sa nhọn , tất cả đều kỵ , bên tay Hổ còn sợ hơn . Thế Anh Sưu Tầm Lược Dịch ; Cụ Tri Tri Kiểm Duyệt Hiệu Đính !
    1 like
  43. Ai cũng buồn vì có cung số nào đó của mình ko đẹp, nhưng thực sự không ai có đủ 12 cung số đẹp huy hoàng cả Ai cũng buồn vì mình không mau nổi tiếng và tài năng, nhưng nhìn những ngôi sao đương đại thì hiện nay mấy đĩa CD các bé hát hò đó đã lớn, vậy họ có còn được hâm mộ như lúc còn bé không? Ở VN mọi người có nhiều nổi tiếng đương đại để mọi người chiêm nghiệm, ko tiện nêu ra, nhỡ họ đọc xong lại kéo đổ diễn đàn thì khổ nhiều người. Trên thế giới có thể kể ra vài người đình đám có thể nêu vô tư vì nhiều khả năng họ chẳng biết mình nói gì về họ (toàn sự thật thôi mà) Michael Jackson sống là thế, chết là thế, có ai muốn như anh? Võ sĩ thép Mike Tison đến già mà vẫn có kẻ muốn thách đấu để 1 lần đứng trên đầu người vô địch một thời. Ai muốn được như anh không? Vua bóng đá PeLe chưa bao giờ đoán được đội vô địch, dù ở vòng trung kết. Buồn nhỉ. Thần đồng bóng đá Maradona nghiện ma túy đến độ lấy đầu con gái ra để thề là không nghiện hút mà vẫn hút hít v.v... Rất nhiều người tài đều chỉ có 1 thời và nếu không có sự điều chỉnh bản thân thì sẽ không có con đường tốt trong tương lai. Xem số là để biết ứng xử sao cho hợp lẽ đời và không hổ thẹn với lương tâm. Chứ không phải là để cải số hay thay đổi số phận hay làm sai đi lịch sử. Nếu trước kia tầu Titanic không chìm (trước đó đã có tiên đoán đến chuyện này và nêu đích danh cái tên Titanic) thì ngày nay nó đã ngao du khắp nơi với hàng ngàn lượt khách. Và người ta sẽ không thể tìm ra Vi khuẩn có thể phân hủy Thép (Thép cứng hơn Sắt do đã được bổ xung nhiều hợp chất tăng cứng Si, C, N, Ni...) Cái gì cũng có nguyên do sinh tồn của nó, cái chết của sinh vật này là sự sống của sinh vật khác. Giữa sinh và diệt là ranh giới mong manh.
    1 like
  44. Can Chi phối khóa (720) 1. Ngày Giáp Tý: quẻ số 1 – Nguyên thủ khóa - Càn 2. Ngày Ất Sửu:quẻ số 6 – Mão tinh khóa - Lý 3. Ngày Bính Dần: quẻ số 3 – Tri nhất khóa - Tỷ 4. Ngày Đinh Mão: quẻ số 8 – Bát chuyên khóa – Vô vọng (Kiểm !) 5. Ngày Mậu Thìn: quẻ số 5 – Dao khắc khóa - Khuê 6. Ngày Kỷ Tị: quẻ số 10 - Phản ngâm khóa - Chấn 7. Ngày Canh Ngọ: quẻ số 7 - Biệt trách khóa – Đông nhân 8. Ngày Tân Mùi quẻ số 12 – Tam dương khóa - Tấn 9. Ngày Nhâm Thân quẻ số 9 - Phục ngâm khóa - Cấn 10. Ngày Quý Dậu quẻ số 14 - Lục nghi khóa - Đoài 11. Ngày Giáp Tuất quẻ số 11 – Tam quang khóa - Bí 12. Ngày Ất Hợi quẻ số 16 – Long đức khóa - Ích 13. Ngày Bính Tý quẻ số 13 – Tam kỳ khóa - Dự 14. Ngày Đinh Sửu quẻ số 18 – Phú quý khóa - Đại hữu 15. Ngày Mậu Dần quẻ số 15 - Thời thái khóa - Thái 16. Ngày Kỷ Mão: quẻ số 20 – Chú ấn khóa - Đỉnh 17. Ngày Canh Thìn: quẻ số 17 – Quan tước khóa 18. Ngày Tân Tị quẻ số 22 - Dẫn tòng khóa 19. Ngày Nhâm Ngọ quẻ số 19 – Hiên cái khóa – Thăng 20. Ngày Quý Mùi quẻ số 24 - Phiền xương khóa – Hàm 21. Ngày Giáp Thân quẻ số 21 – Trác luân khóa – Di 22. Ngày Ất Dậu quẻ số 26 - Đức khánh khóa – Nhu 23. Ngày Bính Tuất quẻ số 23 – Hanh thông khóa - Tiệm 24. Ngày Đinh Hợi quẻ số 28 – Hòa mỹ khóa – Phong 25. Ngày Mậu Tý quẻ số 25 – Vinh hoa khóa – Sư 26. Ngày Kỷ Sửu quẻ số 30 - Bế khâu khóa – Khiêm 27. Ngày Canh Dần quẻ số 27 - Hợp hoan khóa - Tỉnh 28. Ngày Tân Mão quẻ số 32 – Tam giao khóa - Cấu 29. Ngày Nhâm Thìn quẻ số 29 - Trảm quan khóa - Độn 30. Ngày Quý Tị quẻ số 34 - Chuế tế khóa - Lữ 31. Ngày Giáp Ngọ quẻ số 31 – Du tử khóa – Quan 32. Ngày Ất Mùi quẻ số 36 – Dâm dật khóa - Ký tế 33. Ngày Bính Thân quẻ số 33 - Loạn thủ khóa – Lâm (kiểm !) 34. Ngày Đinh Dậu quẻ số 38 - Giải ly quái – (???) 35. Ngày Mậu Tuất quẻ số 36 (35) – Xung phá khóa - Quải 36. Ngày Kỷ Hợi quẻ số 40 – Đô ách khóa – Bác 37. Ngày Canh Tý quẻ số 37 – Vu dâm khóa - Tiểu súc 38. Ngày Tân Sửu quẻ số 42 – Truân phúc khóa – Truân 39. Ngày Nhâm Dần quẻ số 39 – Cô quả quái (???) 40. Ngày Quý Mão quẻ số 44 – Hình thương khóa - Tụng 41. Ngày Giáp Thìn quẻ số 41 – Vô lộc tuyệt tự khóa – Bĩ 42. Ngày Ất Tị quẻ số 46 – Thiên họa khóa - Đại quá 43. Ngày Bính Ngọ quẻ số 43 – Xâm hại khóa - Tổn 44. Ngày Đinh Mùi quẻ số 48 – Thiên khấu khóa - Kiển 45. Ngày Mậu Thân quẻ số 45 - Nhị phiền khóa – Minh di 46. Ngày Kỷ Dậu quẻ số 50 – Phách hóa khóa - Cổ 47. Ngày Canh Tuất quẻ số 47 – Thiên ngục khóa - Phệ hạp 48. Ngày Tân Hợi quẻ số 52 – Long chiến khóa – Ly 49. Ngày Nhâm Tý quẻ số 49 – Thiên võng khóa – Mông 50. Ngày Quý Sửu quẻ số 54 – Tai ách khóa – Quy muội 51. Ngày Giáp Dần quẻ số 51 – Tam âm khóa – Trung phu 52. Ngày Ất Mão quẻ số 56 - Cửu xú khóa - Tiểu quá 53. Ngày Bính Thìn quẻ số 53 - Tử kỳ khóa - Vị tê 54. Ngày Đinh Tị quẻ số 58 - Lệ đức khóa – Tùy 55. Ngày Mậu Ngọ quẻ số 55 – Ương cữu khóa - Giải 56. Ngày Kỷ Mùi quẻ số 60 – Toàn cục khóa - Đại súc 57. Ngày Canh Thân quẻ số 57 - Quỷ mộ khóa - Khốn 58. Ngày Tân Dậu quẻ số 2 – Trùng thẩm khóa – Khôn 59. Ngày Nhâm Tuất quẻ số 59 – Bàn châu khóa - Đại tráng 60. Ngày Quý Hợi quẻ số 4 - Thiệp hại khóa - Khảm.
    1 like
  45. Anh buồn cười nhỉ !Tôi đâu có sửa lỗi chính tả cho anh !. Tôi chỉ cho anh rõ, sinh cùng tháng 12 âm lịch, mà địa không, hay địa kiếp cũng thế thôi, chúng được an ở các cung khác nhau anh ạ. Chẳng hạn, địa kiếp ở quan cho lá số thứ hai, địa kiếp ở phúc cho lá số thứ nhất. nay anh có muốn đổi địa kiếp thành địa không, thì cũng sẽ có kết quả: địa không ở quan cho lá số thứ hai, địa không ở phúc cho lá số thứ nhất. hi hi ... thế thôi. anh bị sao thế ?. chả nhẽ viết rõ như vậy mà còn không thấy cái sai ở mức độ học thuật, chứ đâu phải là lỗi chính tả đâu ???. Cho nên, không cần sửa chữa địa kiếp thành địa không đâu. Mà phải viết rõ ràng: Đó là cách an sai. Do không hiểu về bản chất của tử vi, nên suy luận bậy !. Vâng, phải viết như thế mới đúng. Anh cứ thừa nhận xong chuyện này, tôi sẽ từ từ chỉ cho anh lần lượt những cái sai tiếp tục. Thế nhé !. Tôi có xem Tố Vấn của anh - của anh thôi, chứ không phải là Tố Vấn đích thực là cái gì đâu. Tôi có đầy sách có thể biên khảo ra đây để khẳng định anh viết bậy. nhưng trước khi làm cái đó, tôi thích thú chỉ ra cái sai trong cái học của anh, không phải để anh biết sai mà cúi đầu khuất ohujc, mà cái chính là vì hậu học. học phải ba cái thứ mà anh viết bậy ra đó, thật là nguy hiểm.thế nên, anh cứ từ từ, giải quyết từng cái sai của anh, để bạn đọc còn có khả năng theo dõi. Thế nhé.
    1 like
  46. Vâng !, tôi nêu luôn hai lá số mà tôi sẵn có. Chứ thực ra, cái điều anh sai, nó dễ suy quá, mà anh lại vẫn nói ngược được :rolleyes: . Mời các vị an hộ tôi hai lá số, sinh tháng 12 âm lịch. Lá số thứ nhất. theo dương lch, sinh: năm 1989, tháng 01, ngày 09, giờ Dần - nữ nhân. Lá số thứ hai. Dương lịch, sinh: năm 1995, tháng 01, ngày 14, giờ mão - nữ nhân. Theo cách an của anh, địa kiếp phải ở phu/thê cung, bởi sinh tháng 12 âm lịch. Đúng như anh viết nhé: .Đằng này, theo cách an truyền thống, địa kiếp của lá số thứ nhất đóng tại Phúc cung, ở lá số thứ hai thì địa kiếp nằm ở quan lộc cung. Khác nhau đấy nhé. Xin đừng có nói phúc và quan lộc cung là một !!! :P . Thực ra, nếu anh chịu khó lấy nhiều lá số sinh cùng tháng, nhưng giờ khác nhau, là sẽ thấy ngay điều này thôi, chứ có khó gì đâu !!!. và: Thì tôi thấy lạ ???, anh học sách gì mà lạ thế !!!.Anh biết thừa, thiên văn đông phương gọi thìn là thiên la, tuất là địa võng. Bởi vì, vào ngày hạ chí, mặt trời lặn rất muộn. Người xưa ngắm mặt trời lặn, ở ngày đó, tưởng tượng ra rằng mặt đất ở đường chân trời cứ như là bị võng xuống, không muốn cho mặt trời lặn mất tiêu. Và giờ lặn của mặt trời vào ngày hạ chí rơi vào giờ tuất. Nên mới gọi tuất là nơi địa võng, có nghĩa là nơi đó, mặt đất như võng (trũng) xuống. Vào ngày đông chí, mặt trời mọc rất muộn, tới tận giờ thìn mới thấy mặt trời ló dạng ở đường chân trời. Người xưa có cảm tưởng như là mặt trời bị lưới chăng kéo xuống, không cho mọc lên. Vì thế mới gọi nơi thìn cung là thiên la. Nghĩa của thiên la là cái lưới trời. Bởi vậy mới có cái gọi là thiên la - lưới trời ở thìn, địa võng - đất trũng ở tuất. Nay anh lại nói ngược. Hay là anh có sáng kiến đổi giờ thìn về buổi tối, còn giờ tuất lộn thành ban mai ???. Và anh đủ chứng cớ khẳng định thiên môn ở hợi ?. Anh viết rõ ràng, thiên la, địa hộ là cổng trời ?. Tức là thìn là thiên môn ?. tạm cho là thế. Thì xin hỏi anh, anh viết địa hộ cũng là cổng trời ?. vậy địa hộ của anh ở tuất, hay ở hợi ?. nếu không đóng ở hai nơi đó, thì nó đóng ở đâu ? Tôi chưa biên khảo sách ra đây làm gì vội. Nhưng anh học sách nào, hy vọng anh có thể biên đủ cái chỗ mà anh học để cho ra kiến thức như vậy, tôi sẽ phân tích cho anh thấy, hoặc anh hiểu sai ý người viết, hoặc là sách anh có vấn đề. Nay tôi cần anh khẳng định lại, thiên la theo anh là thiên môn, địa hộ cũng là thiên môn, và chúng ở đâu ?. Xin nói cho rõ. Chúng ta cứ thảo luận từ từ. Thân ái.
    1 like
  47. Hy vọng là thế.Một tượng đài sống , một nhân cách lớn của Việt Nam
    1 like
  48. Bạn có thể email và attach file cho tôi, theo địa chỉ email wildlavender89@yahoo.fr Tôi sẽ đưa lên hoặc phục hồi giúp bạn.
    1 like
  49. Đã trả lời cho bác ở bảng tin nhắn blog dienbatn . Thân ái . dienbatn .
    1 like
  50. Ủa, lão đầu đinh Thiên Sứ để tóc dài ra cái vẻ tiên phong đạo cốt hả ? Già Rừng không xử dụng rùa bằng đất- tránh rác rưởi lẫn lộn- mà là đá hoa cương hoặc một loại đá đặc biệt tại Ngũ Hành Sơn- Đà Nẵng, cầu con tại Trung Cung ( Tâm ) Trạch. Kết quả vô cùng khả quan ! Một gia đình hiếm muộn Do Thái cầy cục theo già sang Việt Nam, chỉ để thỉnh thạch quy dưới chân Chùa Non Nước, mang về Montana áp dụng Phong Thủy Lạc Việt xin Thiên-Địa hợp Nhân phù trợ trong phạm trù con cái. Mà phải là gái thì mới thỏa ý nguyện. Kết quả : hai tiểu thư như ngọc, như trăng nhập gia...Do Thái bản sắc cuồng tín, sống chết cho tôn giáo riêng biệt, vậy mà bây giờ cứ mỗi lần nhắc nhở đến già Rừng là cả đại gia đình chắp tay : ""chan thanh cam on Phong Thuy Lac Viet". Già gõ y câu nói ngọng nghịu, dễ "điên" này. Hết biết ! Già Rừng.
    1 like