• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Leaderboard


Popular Content

Showing most liked content since 22/06/2018 in Bài viết

  1. THẨM ĐỊNH NỘI HÀM CÁC KHÁI NIỆM ỨNG DỤNG. Những định nghĩa của Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, về các từ: "Văn hóa"; "Khoa học" và "minh triết" trong loạt bài viết này, chỉ được coi là đúng, nếu những từ đó tương quan một cách hợp lý trong cấu trúc câu mà nó là một bộ phân cấu thành. Quý vị và các bạn có thể chỉ ra cái sai trong những định nghĩa của tôi, nếu các bạn đặt ra một câu trong đó hàm chứa các từ trên, mà nó không hợp lý trong mối liên hệ tương quan cấu trúc nội hàm của câu đó. Mọi việc chỉ đơn giản như vậy. Xin cảm ơn.
    3 likes
  2. Gia đình bạn có 2 năm để sinh là Kỷ Hợi 2019 và Đinh Mùi 2027, với tương tác tuổi gia đình bạn thì 2 năm này là tôi thấy thích hợp nhất
    2 likes
  3. MINH TRIẾT LÀ GÌ? Trich: ["Đại học Chicago (Mỹ) đã công bố một dự án nghiên cứu định nghĩa minh triết với kinh phí cả triệu đô la."] Tiếp theo. Để có một định nghĩa chuẩn mực về những khái niệm, mà thiên họ "chém gió vung xích chó", nhưng lại chẳng hiểu nó là cái gì. Cái mà dân "ten Fb" gọi là "nói cứ như đúng rồi"! Nhớ lại thảm cảnh Giáo sư Viện sĩ - lại hẳn của Viện Hàn lâm khoa học Pháp nữa mới ghê. Phải chi là của Hội đồng tộc trường liên minh các bộ lạc ở Amazon thì không nói làm gì. Đây hẳn Viện Hàn lâm "pha học" của Pháp. Kinh chưa?! Ông ấy mặt lạnh như tiền, với những cơ mặt co giãn một cách rất nghiêm túc, những cái gật đầu trịnh trọng, những cái nhìn lướt trên đầu cử tọa cứ như một chính trị gia đang thuyết phục quần chúng. Ông ta phán: "Hệ thống chứng minh "Chữ Việt cổ" của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền chưa có "cơ sở khoa học". Nhưng khi được hỏi: Thế nào là "cơ sở khoa học". Ông ấy lặn mất tăm. Ông ấy là Phan Huy Lê. Hẳn Viện Sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Hẳn Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, lại còn Chủ tịch Hội Sử Học Việt Nam nữa chứ. Vậy mà còn "Chém gió vung xích chó"; nói cứ như "đúng dồi", mà chẳng hiểu mình đang nói cái gì. Nên thảo nào: Môn Sử trong ngành Giáo Dục Việt Nam và chất lượng học sinh ngày càng tệ hại. Đấy là hẳn báo nói, tôi chỉ thuật lại. Không có chuẩn mực để thẩm định của cái gọi là "cơ sở khoa học" thì bít thế chó nào được, thằng nào đúng, thằng nào sai?! Nhưng ông Đỗ Văn Xuyền thì cứ phải sai mới được. Vì nó chưa có "cơ sở khoa học". Hơ? Còn lão Gàn đây không ngớ ngẩn như ngài Viện Sĩ đâu nhá. Lão chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến có chuẩn mực rõ ràng. Đấy chính là những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Nhưng nó vưỡn chưa được "khoa học" công nhận. Mà đến tận ngày hôm nay, chẳng ai hiểu khái niệm "khoa học" có nghĩa là gì? kể cả anh Gu Gồ. Hic. Nghĩ mà chán đời! Vài dòng "tám xị", cho nó xả cái 'sì choét", Bây giờ lão Gàn bàn về việc đi tìm nguyên nghĩa của các khái niệm được đặt ra trong bài viết này. Vấn đề đầu tiên lão Gàn trình bày ở đây là: 1/ Phân loại khái niệm. a/ Sự cần thiết phải phân loại khái niệm: Chúng ta đang sống trong một thế giới thông tin, mà thời gian bắt đầu từ khi con người có chữ viết. Đến ngày nay, nền văn minh của các dân tộc đã sản sinh ra hàng vạn, hàng chục vạn từ ngữ để trao đổi. Trong quá trình phát triển của nền văn minh. Một tác phẩm văn học, thi ca, một công trình nghiên cứu cũng phải sử dụng hàng ngàn từ chuyên môn, hoặc phổ thông. Trong khi loạt bài viết này chỉ định nghĩa có ba từ: "Văn hóa"; "Khoa học" và "minh triết". Nhưng để mô tả ba từ trên, phải sử dụng hàng vạn từ khác để mô tả. Nhưng chúng ta không thể định nghĩa hết tất cả những từ dùng trong một bài viết. Do đó, cần phải phân loại khái niệm, để dẫn đến sự xác định ba từ trên, trên cơ sở những khái niệm dùng để mô tả nó. a.1/ Từ định danh quy ước. Đây là một tập hợp bao gồm tất cả các từ ngữ mô tả những sự vật, sự việc, sự kiện, trạng thái vật chất được hình thành phổ biến và được tổng hợp và đặt tên cho nó. Con người có thể hiểu được khái niệm bằng sự tập hợp những nhận thức trực quan. Thí dụ: Cái kim, cái nhà, quả táo, con chó, con mèo, cháy, bùng nổ, lạnh, buồn, vui, hỷ, nộ, ái ố....vv.... a.2/ Từ định danh những giá trị trừu tượng. Đây là tập hợp gồm tất cả những từ ngữ mô tả những khái niệm đòi hỏi phải có sự tổng hợp những giá trị nhận thức cụ thể, hoặc kết quả của sự quán xét và tổng hợp mọi hiện tượng, sự việc, sự vật liên quan đến nó. Thí dụ: Văn hóa, khoa học, minh triết, vật chất, tinh thần, tôn giáo, phương trình (Toán học), mệnh đề,..... Những từ ngữ trong tập hợp này - như sự phân loại trên - đôi khi đòi hỏi phải cập nhật, bởi sự tiến hóa của nền văn minh , khi những gía trị nhận thức thay đổi - thí dụ như khái niệm "vật chất". Trong lịch sử văn minh nhân loại, con người phải định nghĩa lại khái niệm "vật chất" đến 4 lần. Tôi là người thứ 5. Chính vi những từ ngữ trong tập hợp "a.2/" này, đòi hỏi phải có "sự quán xét và tổng hợp mọi hiện tượng, sự vật, sự việc liên quan đến nó" (Theo tinh thần phân loại trên). Cho nên, nó còn cần đến cả sự phát triển của các nền văn minh sử dụng nó, để có thể tổng hợp được nhiều nhất những giá trị liên quan đến khái niệm của nó. Đó là một trong những yếu tố quan trọng, gây ra nhận thức khái niệm khác nhau về từ ngữ "văn hóa", hoặc "vật chất"...vv.... b/ Việc phân loại khái niệm của các danh từ, là bước đầu tiên để mô tả những khái niệm mà nó thể hiện. Vấn đề được đặt ra trong loạt bài viết này - "Khoa học"; "văn hóa"; Minh triết" - là mô tả khái niệm thuộc nhóm a.2/ "Từ định danh những giá trị trừu tượng". Từ cơ sở sự phân loại như trên, là tiền đề dẫn đến mô tả nội hàm khái niệm. Cho nên nó cần phải có chuẩn mực cho một khái niệm được coi là đúng. Cụ thể: nó không thể là sự tổng hợp của xấp sỉ 400 định nghiã về "văn hóa" được. Chân lý chỉ có một mà thôi - nói theo "Nghịch lý Cantor": "Chỉ có một tập hợp bao trùm lên tất cả mọi tập hợp và không có một tập hợp nào lớn hơn nó". Đó là vấn đề tiếp theo được đặt ra: 2/ Chuẩn mực cho một khái niệm đúng. Khi một khái niêm về một từ ngữ được mô tả, là sự tổng hợp của tư duy nhận thức về khái niệm đó, thì về nguyên tắc: Chỉ có một định nghĩa được coi là đúng hơn cả. Và nó phải được đối chiếu với một chuẩn mực để thẩm định tính chân lý của nó. Đấy là nội dung của phần 2 này. Trong cuộc sống hàng ngày, có lẽ tất cả mọi con người đều phải, nghe, xem những cuộc cãi nhau như mổ bò. Từ cuộc "tranh luận" của các bà bán cá ở chợ Đồng Xuân, đến việc cãi nhau để xác định chân lý trong những giá trị cao quý của nền văn minh, của các học giả khả kính. Điếc cả tai, mà chẳng biết ai đúng ai sai. Xã hội càng phát triển thì những chuẩn mực càng phải hoàn thiện để so sánh, đối chiếu. Thí dụ như: luật pháp, các giá trị đạo đức...vv...Trong cuộc sống xã hội thì phải chính danh các từ ngữ. Đây chính là sự tối thiểu và giản yếu nhất của phương pháp chính danh theo Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt. a/ Chính danh là gì? Trong Luận ngữ, khi được hỏi: "Nếu thày ra làm quan thì việc đầu tiên thày sẽ làm gì?". Tử viết: "Việc đầu tiên là ta phải chính danh". Lại hỏi: "Thế nào là chính danh?". Trả lời: "Gọi tên đúng sự vật, sự việc!". Không gọi tên đúng thì không chính danh - tối thiểu là như vậy. Bởi vậy, việc mô tả các khái niệm phổ biến nhất hiện nay, là chủ đề của loạt bài viết này và vấn đề được ra ra trong tiểu mục này: "Thế nào là gọi tên đúng sự vật và sự việc?". b/ Chuẩn mực cho một khái niệm đúng: Việc xác định một khái niệm đúng cho một từ ngữ mang tính tổng hợp những giá trị nhận thức cụ thể, hoặc kết quả của sự quán xét và tổng hợp mọi hiện tượng, sự việc, sự vật liên quan đến nó, có tính chất như một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học để giải thích những vấn đề liên quan. Do đó, nó cũng phải tuân thủ những tiêu chí khoa học này. Tiêu chí khoa học phát biểu như sau: "Một lý thuyết hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng. Nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, một cách có hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri". Đây cũng là chuẩn mực ứng dụng để thẩm định sự mô tả những khái niệm về "Minh triết"; "khoa học" và "văn hóa" của loạt bài viết này. Còn tiếp. NỘI HÀM CỦA VĂN HÓA.
    2 likes
  4. Thày Thiên sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh viết: ĐỨC ĐẠTLAILATMA NÓI: "Không có tôn giáo nào cao trọng hơn sự thật!". Nhân danh nền văn hiến Việt: Thuyết Âm Dương Ngũ hành mô tả chân lý cuối cùng và là kết luận cuối cùng. Kết thúc một chương dài đầy gian khổ đến đỉnh vinh quang của toàn bộ lịch sử văn minh nhân loại. Tôi sẽ viết tiếp đề tài đang bỏ dở: PHẬT GIÁO CÓ PHẢI CỨU CÁNH DUY NHẤT CỦA CON NGƯỜI KHÔNG? ==================== TÔN GIÁO NÀO TỐT NHẤT? Đức Đạt Lai Lạt Ma Đây là một mẩu đối thoại ngắn giữa thần học gia người Brazil, Leonardo Boff, và Đức Đạt Lai Lạt Ma. (Leonardo là một trong những người cải cách Thần học Giải phóng). Tại một cuộc hội thảo bàn tròn về tôn giáo và tự do có Đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi cùng tham dự. Lúc tạm nghỉ, tôi hỏi ngài, vừa tinh nghịch vừa tò mò: “Thưa Ngài, tôn giáo nào tốt nhất?”Tôi nghĩ ngài sẽ nói: “Phật giáo Tây Tạng” hoặc “Các tôn giáo phương đông, lâu đời hơn Kitô giáo nhiều” Đức Đạt Lai Lạt Ma trầm ngâm giây lát, mỉm cười và nhìn vào mắt tôi… Điều này làm tôi ngạc nhiên vì tôi biết đây là một câu hỏi ranh mãnh. Ngài trả lời: “Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa anh đến gần Đấng Tối Cao nhất. Là tôn giáo biến anh thành con người tốt hơn.” Để dấu sự bối rối của tôi trước một câu trả lời đầy khôn ngoan như thế, tôi hỏi: “Cái gì làm tôi tốt hơn?” Ngài trả lời: “Tất cả cái gì làm anh biết thương cảm hơn, biết theo lẽ phải hơn, biết từ bỏ hơn, dịu dàng hơn, nhân hậu hơn, có trách nhiệm hơn, có đạo đức hơn. Tôn giáo nào biến anh thành như vậy là tôn giáo tốt nhất.” Tôi thinh lặng giây lát, lòng đầy thán phục, ngay cả bây giờ, khi nghĩ đến câu trả lời đầy khôn ngoan và khó phản bác: -“Anh bạn ơi, tôi không quan tâm đến tôn giáo của anh hoặc anh có ngoan đạo hay không. Điều thật sự quan trọng đối với tôi là cách cư xử của anh đối với người đồng đẳng, gia đình, công việc, cộng đồng, và đối với thế giới. Hãy nhớ rằng vũ trụ dội lại hành động và tư tưởng của chúng ta. Quy luật của hành động và phản ứng không chỉ dành riêng cho vật lý. Nó cũng được áp dụng cho tương quan con người. Nếu tôi ở hiền, thì tôi gặp lành. Nếu tôi gieo gió, thì tôi gặt bão. Những gì ông bà nói với chúng ta là sự thật thuần túy. Chúng ta luôn nhận được những gì chúng ta mong muốn cho người khác. Hạnh phúc không phải là vấn đề số mệnh. Đó là vấn đề lựa chọn.” Cuối cùng ngài nói: -“Hãy suy tư cẩn thận vì Tư Tưởng sẽ biến thành Lời Nói. Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời Nói sẽ biến thành Hành Động. Hãy hành xử cẩn thận vì Hành Động sẽ biến thành Thói quen. Hãy chú trọng Thói Quen vì chúng hình thành Nhân Cách. Hãy chú trọng Nhân Cách vì nó hình thành Số Mệnh, và Số Mệnh của anh sẽ là Cuộc Đời của anh và … Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự Thật.”
    1 like
  5. Thày Thiên sứ viết: BẤT CỨ MỘT LÝ THUYẾT NÀO CỦA NỀN VĂN MINH HIỆN NAY - Muốn chứng tỏ nó là "ứng cử viên" - Ứng cử viên thôi nhá! Chứ chưa được công nhận. Tức là mới nộp hồ sơ dự thầu - rằng: Chính ta mới là "Lý thuyết thống nhất" - Thì phải thể hiện được trong nội hàm của lý thuyết đó - câu nói nổi tiếng của SW Hawking trong cuốn sách "Lược sử thời gian" của ông. Còn không giải thích được ngay trong nội hàm của nó câu nói trên của SW Hawking thì đi chỗ khác chơi. Thiên Sứ không có thời gian nhiều. Từ nay, trên thế giới này, ai muốn mô tả về LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT - phải thể hiện trong nội hàm của chính lý thuyết đó, mô tả được nội dung trên của ngài Hawking. Thế cho nó nhanh! NẾN TẢNG TRI THỨC CỦA NỀN VĂN MINH HIỆN NAY chưa đủ những yếu tố cần để tổng hợp và hình thành nên một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT. Ngay cả những nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh này, mới chỉ có ý tưởng về nó (Thế là cũng tiến bộ lắm rồi). Bởi vậy, họ đặt ra những tiêu chí về LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT. Một trong những tiêu chí cực kỳ quan trong, để thẩm định nội hàm của một Lý thuyết thống nhất, chính là phát biểu của SW Hawking trong cuốn "Lược sử thời gian", mà tôi đã mô tả. Đọc đến câu này trong cuốn sách của ông, tôi phải giật mình vì thiên tài của SW Hawking. Ông quả là xứng đáng được thế gian tôn vinh "Ông Hoàng của nền vật lý lý thuyết". Những thứ tư duy tầm thường nhan nhản trên thế gian, ngay cả trong môi trường giáo dục hoàn hảo và tiếp thu tất cả những tri thức cao cấp của nền văn minh này, cũng không thể nghĩ ra được một ý tưởng xuất sắc như vậy. Tôi đã diễn tả nội hàm ý nghĩa nhận định của SW Hawking qua phát biểu nổi tiếng của ông. Đó chính là vì hệ thống tri thức của cả nền văn minh này, thâm chí nó còn chưa hiểu được tất cả bản chất cấu trúc của vật chất. Thứ mà nó gọi là "Vật chất tối". Và nó cũng mới chỉ nhận thức được một cách trực quan sự vận động và cấu trúc cơ học của một phần CẤU TRÚC VẬT CHẤT, mà nó gọi là "khoa học thực chứng". Về một góc nhìn khác thì hệ thống tri thức của nền văn minh này, còn chưa hiểu được bản chất tương tác và những quy luật tương tác và cả môi trường tương tác, qua những quy luật vận động mang tính cơ học , mà nó nhận thức được. Ít nhất với những khiếm khuyết có tính nền tảng của cả hệ thống tri thức của một nền văn minh như thế đó - Làm sao mà nó có thể tổng hợp được để trở thành một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT? Nhưng những tri thức về quy luật tương tác và trường tương tác của toàn vũ trụ được tổng hợp trong một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT - với điểu kiện phải có của nó - THÌ - nó sẽ phải chi phối trên thực tế sự vận động của toàn thể vũ trụ và tư duy của cả chính con người. Đó là nguyên nhân để WS Hawking phát biểu: "Nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất, thì chính nó sẽ quyết định chúng ta tìm ra nó hay không?". Và đó là nguyên nhân để Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh xác định rằng: Một hệ thống lý thuyết được coi là ứng cứ viên của Lý thuyết thuyết thống nhất, thì trong nội hàm của nó phải thể hiện nội dung nhận định của SW Hawking. Nhưng nền văn minh này chưa đủ những yếu tố cần tạo nên Lý thuyết thống nhất. Do đó, nếu ai đó cho rằng sẽ có một lý thuyết nào đó thuộc về nền văn minh này có khả năng là LY THUYẾT THỐNG NHẤT thì chỉ có hai khả năng: Bị tâm thần phân liệt thể hoang tưởng, hoặc không biết gì, chỉ chém gió cho vui. Do đó, cần loại ngay từ vòng gửi xe. PHÁT BIỂU CỦA ÔNG HOÀNG VẬT LÝ SW HAWKING: Điều này. chính là sự mô tả khái niệm "Định mệnh" trong Lý học Đông phương", nhân danh nền văn hiến Việt. Sự quyết định có tính "Định mệnh" cho đến từng hành vi của con người có khả năng tiên tri, trong các phương pháp bói toán của nền Lý học Đông phương - chính là nội hàm trong phát biểu nổi tiếng của SW Hawking về nội hàm của Lý Thuyết thống nhất. Để quyết định định mệnh của một con người - và cả sự phát triển của nền văn minh đến chân lý cuối cùng - thì chỉ có hai khả năng: A/ Chính là THƯỢNG ĐẾ! B/ Sự tồn tại trên thực tế của một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT. Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT và là ứng cử viên duy nhất trong toàn bộ lịch sử vũ trụ - mà trong đó nền văn minh nhân loại chỉ là một phần tử của lịch sử vũ trụ. Với Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Tức Nguyễn Vũ Diệu) thì chỉ coi LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT đang được giới thiệu thuộc về nền văn hiến Việt, chỉ là phương tiện chứng minh cho Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. Bởi vậy, để phản biện một lý thuyết như thuyết Spin không thể là Lý thuyết thống nhất, Thiên Sứ chỉ cần thời gian của "một nốt nhạc". Đây cũng không phải là lần đầu tiên và duy nhất Thiên Sứ làm điều này. Trước đó cũng có vài lý thuyết bị Thiên Sứ phản bác, thí dụ như Lý thuyết Higg.
    1 like
  6. Thày Thiên sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh viết: NHÂN DỊP NGÀI DONAL TRUMP SẮP ĐI NGA Trước hết tôi bày tỏ nhiệt liệt hoan ngênh ngài TT Hoa Kỳ đi Nga và tôi tin rằng sẽ có sự đón tiếp trọng thị của ngài Putin với quốc khách của nước Nga. Từ rất lâu trên dd lyhocdongphuong.org.vn - tức là ngay cả khi Nga mới chiếm Crimea - trong topic "Sự kiện và vấn đề Châu Á Thái Bình Dương", tôi đã khuyên nước Mỹ bỏ qua vấn đề này và hợp tác với Nga. Về phía ngược lại, tôi cũng khuyên nước Nga không nên quá quan trọng Crimea để làm mất lòng thế giới. Tôi hy vọng Nga Mỹ sẽ công tác như họ đã từng cộng tác và vốn là Đông Minh của nhau từ thời Thế Chiến thứ II. Tôi tin rằng: Một số những điều khoản của những Hiệp Ước Đồng Minh này vẫn còn hiệu lực đến ngay hôm nay. Thế giới này đã phát triển và làm thay đổi về chất những mối quan hệ chiến lược về cả kinh tế và quân sự. Những căn cứ quân sự có từ thời thế chiến thứ II, đã trở nên lỗi thời khi tên lửa có thể bắn qua nửa vòng trái Đất. Và những đội quân viễn chinh có thể di chuyển trong vòng một ngày để đi qua nửa bên kia quả Địa cầu. Cho nên, nó không còn cần thiết những căn cứ quân sự quá gần lãnh thổ đối phương - lúc này trở thành con tin của các cuộc tấn công phủ đầu. Tương tự như vậy với Crimea. Bởi vậy, tôi rất vui khi ngài Trump tỏ ra không quan trọng vấn đề Crimea trước khi gặp ngài Putin. Có thể tôi đã "cầm đèn chạy trước ô tô", khi khuyên quá sớm cho một quan hệ Nga Mỹ mấy năm trước. Vào thời điểm mà cả hai nước còn cần phải giải quyết một vài vấn đề. Nhưng đây là thời điểm thích hợp để các vị tiến lại gần nhau hơn. Cá nhân tôi rất kỳ vọng vào cuộc gặp Thượng đỉnh Nga Mỹ sắp tới. Cho nên tôi chúc các vị sẽ ký được những hiệp định khung cho mối quan hệ lâu dài của hai nước. Ngài Trump rất kính trọng Thượng Đế! Cho nên tôi xin Thượng Đế phù hộ ngài. Mọi sự tốt đẹp đang chờ hai quốc gia này ở phía trước.
    1 like
  7. Chào bạn, Hai vợ chồng bạn nên chăm sóc sức khỏe để sinh năm Kỷ Hợi 2019 nhé. sinh năm này gia đình bạn sẽ rất tốt. Mậu sinh kỷ, Mão Hợi tam hợp, Mẹ Thủy dưỡng con Mộc rất tốt
    1 like
  8. TK của Trung tâm Nghiên cứu Lý học đông phươngSố TK: 0021000411012 ngân hàng Vietcombank chi nhanh Hà nộiGưi ảnh về email: nghiencuulyhocdongphuong@gmail.com
    1 like
  9. TIÊU CHÍ CỦA LỜI TIÊN TRI Nhà tiên tri lừng danh thế giới, bà Vanga có lời tiên tri nổi tiếng như sau: Đây là bản dịch lời tiên tri của bà Vanga trong cuốn: "Vanga - Nhà tiên tri vĩ đại" in khoảng giữa những năm 90 thế kỷ trước, Nxb CAND. Nếu tôi nhớ không nhầm thì vào năm 1996. Nhưng để bảo đảm tính khách quan của sự kiện được phân tích, tôi cũng trình bày một lời tiên tri tương tự từ một bản dịch khác, lưu truyền trên mạng, mà trong đó từ "Lý thuyết" được đổi thành"Tôn giáo". Và lời dịch nguyên văn như sau: "Một TÔN GIÁO cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại. Nhưng còn lâu lắm. Chỉ đến khi dân tộc Arxyria bị tiêu diệt". Như vậy, chỉ có một bản dịch đúng với ý tưởng của bà Vanga (Hoặc cả hai bản dịch và bà Vanga sai - tôi sẽ trình bày sau). Rõ ràng hai từ "Tôn giáo" và "Lý thuyết" khác hẳn nhau. Phải chăng bản dịch "tôn giáo" đúng!? Và phải chăng Đạo Phật chính là "tôn giáo cổ xưa" sẽ quay trở lại với nhân loại!? Và điều này cũng có vẻ như gần tương đồng với nhận xét của ngài Einstein, khi nhận xét rằng: "Phật giáo là tôn giáo của tương lai". Nhưng tất cả những cái gần như và tương đồng ấy, lại rất mâu thuẫn với một mệnh đề sau của lời tiên tri. Đó là từ "cổ xưa quay lại". Phật giáo có căn nguyên từ cổ xưa, nhưng đang hiện hữu và không hể phải "quay lại với nhân loại. Do đó, vẫn có thể xác định ngài Einstein nói đúng: "Phật giáo là tôn giáo của "tương lai", nhưng không phải "quay lại với nhân loại". Chính mệnh đề này xác định bản dịch với từ "tôn giáo cổ xưa" sai. Khoa học - với lý thuyết thống nhất - có thể giải thích được tôn giáo. Nhưng tôn giáo thì không thể tích hợp với khoa học. Giả sử có thật một "tôn giáo cổ xưa" nào đó thì nó không có cơ hội để quay lại. Nhưng những trí thức tinh hoa cho rằng Phật giáo có thể tích hợp với khoa học và làm nên Lý thuyết thống nhất!? Điều này có thể xảy ra hay không? Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Ở bài trước tôi đã trình bày các tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học và tiêu chí cho một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT khoa học. Nếu xét theo tiêu chí khoa học nói chung cho một tiêu chí khoa học, sẽ rất dễ dàng nhận thấy ở Phật giáo có đầy đủ các yếu tố sau: Tính hoàn chỉnh; tính hệ thống, tính nhất quán của hệ thống Phật giáo. Có tính khách quan khi mô tả và phản ánh sự kiện. Nhưng tính quy luật lại chỉ hạn chế trong thuyết "nhân quả". Và tính tiên tri của một nguyên nhân - dẫn đến hậu quả thì hoàn toàn không có yếu tố thời gian. Hay nói cách khác: Khả năng tiên trị rất hạn chế. Một kẻ làm ác; hoặc một người hiền lành, họ sẽ nhận quả báo vào lúc nào? Đấy là một thiếu sót lớn trong Phật giáo. Đây cũng là một tiêu chí để thẩm định một lý thuyết khoa học. Phật giáo đã không thỏa mãn yếu tố này. Nếu xét về tiêu chí Lý thuyết thống nhất, thì trong Phật giáo không giải thích sự hình thành vũ trụ từ khởi nguyên, mặc dù có xác định "Như Lại tạng tính"; "Tính Thấy" có từ khởi nguyên của vũ trụ và là cái tồn tại trong tất cả mọi sự vật , hiện tượng và con người. Nhưng Phật giáo lại không mô tả lịch sử vũ trụ. Do đó - Ngay cả trong trường hợp tất cả các giáo pháp của Phật giáo là hoàn toàn chân lý và con người có thể đạt đến sự giải thoát. Thì điều này cũng chỉ có thể coi Phật giáo là thành tựu cuối cùng. Nhưng không thể coi là kết luận về chân lý cuối cùng. Chính Đức Phật cũng xác định rằng: "Những điều ta nói, như nắm lá trong bàn tay của ta. Còn chân lý như lá trong rừng Kỳ Đà sau lưng ta". Như vậy - với sự xác định của chính Đức Phật và phân tích ở trên, thì sự kết hợp giữa Phật giáo và khoa học, sẽ không bao giờ được coi là tiến tới một lý thuyết thống nhất. Vấn đề còn lại: Chân lý cuối cùng - LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT - nằm ở đâu? Vấn đề này sẽ tiếp tục được trình bày ở bài sau.
    1 like
  10. Thày Thiên sứ viết: LÝ THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH CHÍNH LÀ LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT. Tôi không phát minh ra cái gì cả. Mà chỉ là phát hiện ra điều này. Nếu thế giới thực sự quan tâm, tôi sẽ thuyết trình trước những nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh này. Tuy nhiên, các vị phải chấp nhận một điều mà quý vị rất muốn thông qua - Tôi sẽ thuyết phục các vị về Việt sử 5000 năm văn hiến , cội nguồn đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành, trước khi nói về Lý thuyết thống nhất. Mơ ước về một lý thuyết thống nhất của các nha 2khoa học tính hoa được mô tả trong bài viết được trích dười đây: -------------------------
    1 like
  11. Nên sinh trong năm 2019 à rất tốt, Dần Hợi nhị hợp, cha mẹ mạng Thủy sinh con Mộc, thiên can Bính sinh Kỷ, như vậy là rất hợp. Sinh đước 2019 thì gia đình sẽ phát dần lên về mọi mặt! Thân mến.
    1 like
  12. Thày Thiên sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh viết loạt bài, lý giải "Minh triết là gì?" "MINH TRIẾT" LÀ GÌ? Phần mở đầu. Hôm nay lang thang trên Fb, thấy cô Thu Quỳnh chào bán cuốn "Minh triết: Giá trị văn hóa đang phục hưng". Vốn là tác giả của hai cuốn sách: "Minh triết Việt trong tranh dân gian Việt Nam" và "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương", tôi thật sự ngạc nhiên khi xem lời giới thiệu cuốn sách này. Trong đó có đoạn viết: Trích: ["Câu hỏi được đặt ra - Minh triết là gì?Hai chữ minh triết ngày càng được sử dụng nhiều, trong suy tư, trong những cuộc trò chuyện học thuật, trên những trang chữ. Nhiều cuộc thảo luận nhỏ, những cuộc hội thảo ở Hà Nội, ở Huế, ở Sài Gòn đã được tổ chức để trả lời câu hỏi trên. Cũng không phải ngẫu nhiên mà cách đây ít lâu, Đại học Chicago (Mỹ) đã công bố một dự án nghiên cứu định nghĩa minh triết với kinh phí cả triệu đô la."] Oh! Không lẽ cả thế giới này toàn "chém gió"!? Nói, mà không hiểu đang nói cái gì?! Về khái niệm "Văn hóa" thì có hẳn hơn kém 400 định nghĩa về văn hóa, chẳng biết đúng sai thế nào?! Nhưng lại có cả một cơ quan VĂN HÓA Liên Hiệp Quốc, để quản lý và phát triển cái - 400 định nghĩa khác nhau về "văn hóa"?! Khái niệm "Khoa học" cũng chẳng hế rõ ràng. Nhưng lại phát biểu về "Cơ sở khoa học" và cả "Khoa học công nhận"; hoặc "khoa học chưa công nhận". Nhưng lại có hàng triệu nhà "khoa học", nhưng chưa biết "khoa học" là gì?! Hơ? Bởi vậy, Lão Gàn đành chẳng quản tài hèn, cũng ráng gò lưng phát biểu về mấy cái khái niệm này. Đây là phần mở đầu cho loạt bài viết để định nghĩa về những khái niệm phổ quát của các từ thướng dùng, gồm: "Minh triết"; "Văn hóa"; "Khoa học". Hoàn toàn miễn phí và Thiên Sứ không lấy tiền bản quyền, nếu được "khoa học công nhận" và mọi người cứ vô tư úng dụng. Cảm ơn sự quan tâm của quý vị và anh chị em. PS: Dưới đây là toàn văn bài giới thiệu sách của cô Thu Quỳnh: =============== ["MINH TRIẾT: GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐANG PHỤC HƯNG: hành trình đi tìm định nghĩa minh triết, minh triết phương Đông nói chung và minh triết Việt Nam nói riêng. 245 trang. Giá 55k Hai chữ minh triết đã xuất hiện từ lâu ở phương Đông, cũng như ở phương Tây.Ở phương Đông, minh triết đã được nói đến trong Kinh Thi, một tác phẩm thi ca cổ điển, ra đời đã hơn hai ngàn năm nay. Còn ở phương Tây, từ khởi nguồn của văn minh Hy Lạp - La Mã đã có chữ philosophia, mà phylo có nghĩa là tình yêu, còn sophia, là “Minh triết”. Minh triết là một phạm trù văn hóa vừa xưa cũ lại rất mới mẻ. Các giáo sư, tiến sĩ: Phan Huy Lê, Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Trọng Chuẩn, Trần Ngọc Hiên, Phan Văn Các, Tô Duy Hợp, trong Hội đồng phê duyệt Đề tài nghiên cứu “Minh triết”, đã cho rằng: “Đây là một đề tài rất mới mẻ”. Quả thực, ở nước ta, dẫu phạm trù này xuất hiện đã “ngàn năm”, nhưng việc nghiên cứu hiện nay cũng chỉ là sơ khởi. Trung tâm Minh triết khi thành lập đã đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu: “Minh triết như là phần tinh hoa trong tài sản tư tưởng và văn hóa của nhân loại, đặc biệt là của phương Đông và Việt Nam chúng ta. Những giá trị minh triết của Việt Nam, được hình thành qua tiến trình văn hóa - lịch sử hàng ngàn năm, rất phong phú, sâu sắc.Nó chính là sợi chỉ đỏ, là cốt lõi, là chất tủy của văn hóa Việt.”(Đề cương nghiên cứu “Minh triết trong tiến trình lịch sử - văn hóa Việt Nam”).Như vậy, việc hàng đầu là phải nghiên cứu để có nhận thức về khái niệm, về phạm trù “Minh triết”.Câu hỏi được đặt ra - Minh triết là gì?Hai chữ minh triết ngày càng được sử dụng nhiều, trong suy tư, trong những cuộc trò chuyện học thuật, trên những trang chữ. Nhiều cuộc thảo luận nhỏ, những cuộc hội thảo ở Hà Nội, ở Huế, ở Sài Gòn đã được tổ chức để trả lời câu hỏi trên. Cũng không phải ngẫu nhiên mà cách đây ít lâu, Đại học Chicago (Mỹ) đã công bố một dự án nghiên cứu định nghĩa minh triết với kinh phí cả triệu đô la. Cuốn sách nhỏ này sẽ góp những kiến giải về sự tìm tòi nghĩa của hai chữ vừa xưa cũ vừa mới mẻ ấy, trong một loạt những tham luận, mà chúng tôi đã chọn lựa từ các cuộc hội thảo bàn về minh triết. Mục lục Lời nói đầu Minh triết, giá trị văn hóa nhân loại đang phục sinh Nguyễn Khắc Mai Luận bàn về những vấn đề minh triết Hoàng Ngọc Hiến “Minh triết”, “Minh triết Việt” như tôi hiểu Trần Nghĩa Góp tìm định nghĩa minh triết GS. TS. Tô Duy Hợp Từ “Ký minh thả triết dĩ bảo kỳ thân” trong Kinh Thi, suy nghĩ thêm về vấn đề minh triết Lê Nguyên Cẩn Minh triết và hạ tầng tư duy Giáp Văn Dương Minh triết và phát triển Lê Thanh Hải Minh triết dân gian và bác học Nguyễn Hữu Sơn Đâu là nền văn minh đích thực? Phạm Việt Hưng Mấy suy nghĩ về khái niệm minh triết - mê lầm triết PGS. Bùi Thanh Quất Góp tìm tư tưởng minh triết Việt Nam qua tư liệu thành văn Chương Thâu Minh triết Việt định hướng cho việc phát triển đất nước Vũ Khánh Thành Minh triết và chính trị Nguyễn Sơn Hà Minh triết trong cái nhìn tương quan với triết lý và triết học Nguyễn Khắc Mai"]
    1 like
  13. NỘI HÀM KHÁI NIỆM "VĂN HÓA". 1/ Ngữ nghĩa của "Văn" và "Hóa" Trong tiếng Việt, "Văn hóa" là một từ ghép, "Văn" và "Hóa". Bây giờ chúng ta phân tích nguyên nghĩa từng từ và xác định nội hàm khái niệm của cụm từ "văn hóa" được mô tả trong tiếng Việt. Như tôi đã trình bày: Tiếng Việt là ngôn ngữ cao cấp nhất trong các hệ thống ngôn ngữ đã từng tồn tại trong lịch sử văn minh nhân loại. Bởi vậy, tính phân loại và đồng tính chất trong một tập hợp để mô tả sự vật, sự việc...rất cao cấp. Thí dụ: Trong tập hợp từ mô tả khuôn mặt, gồm các từ bắt đầu từ vần "M": Mặt, Mắt, Mũi, Miệng, Mi, Mày, Môi, Mép. Má. Trong ngôn ngữ Việt, còn tuân thủ các nguyên lý của Âm Dương rất triệt để, khi có dịp tôi sẽ trình bày về vấn đề này. a/ Từ "Văn" trong tiếng Việt. Tương tự như vậy, từ "Văn" trong tiếng Việt là tập hợp của các từ mô tả: Văn, vằn, vết, vệt, vẽ, viết...Ứng dụng trong từ "Thiên Văn" có nghĩa là dấu vết trên trời, "Văn học" có nghĩa là môn học về phương pháp mô tả về những hoạt động của cuộc sống và con người....Tóm lại từ "Văn" có nội hàm khái niệm mô tả tập hợp những ký tự (Chữ viết), chỉ dấu (Ký hiệu) thuộc sản phẩm của con người - tư duy trừu tượng - về các vấn đề liên quan đến Vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, cuộc sống và con người. b/ Từ "Hóa" trong tiếng Việt. Đây là một tứ rất cổ và thuần Việt. Nội hàm khái niệm của nó là chuyển đối từ trạng thái này sang trạng thái khác. Thí dụ: "Hóa học", là môn học về sự chuyển đối của các dạng tồn tại của các cấu trúc vật chất; "Hóa phép" là phương pháp ("Phép") chuyển đổi các dạng tồn tại và tính năng của vật chất. Thí dụ: "Chỉ đá hóa vàng"; "Hóa vàng" là chuyển đổi vàng, tiền giấy thành tiền thật dưới ...Âm phủ (Nhưng mà này, đốt vàng xong phải tưới rượu lên tro nha. Nếu ko nó không "hóa vàng" đâu đấy! Hi)...vv.... 2/ Nội hàm khái niệm "Văn Hóa" trong ngôn ngữ Việt. Đã có nhiều học giả Việt có tên tuổi, như Đào Duy Anh cũng đưa ra định nghĩa về "Văn hóa". Trong Đại cương văn hóa Việt Nam, ông Đào Duy Anh xác định khái niệm văn hóa, là; "Văn hóa là sinh hoạt". Tất nhiên đây là một định nghĩa sai, nếu đối chiếu với chuẩn mực là tiêu chí khoa học cho một khái niệm ứng dụng. Thí dụ: Sinh hoạt bản năng tình dục của sinh vật nói chung thì không thể gọi là "văn hóa" được. Nhưng, với những phân tích đã trình bày, thì nội hàm khái niệm "văn hóa" được định nghĩa theo Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, như sau: "Những giá trị tính túy là sản phẩm của tư duy con người được diễn đạt (Văn), mang tính phổ biến và trở thành nếp sống (Hóa), được lưu truyền theo thới gian trong cuộc sống, xã hội của một cộng đồng con người - thì gọi là "Văn hóa". Tôi đã phân tích, mô tả khái niệm văn hóa trên dd lyhocdongphuong.org.vn . Nhưng bài viết quá lâu, ko tìm thấy. Đây là bài viết lại và định nghĩa cuối cùng của tôi như trên 3/ Thẩm định định nghĩa "Văn hóa" theo Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Trên cơ sở tiêu chí đã nêu, thì một định nghĩa khái niệm chỉ được coi là đúng, nếu nó thỏa mãn những tiêu chí để thẩm định. Chúng được so sánh đối chiếu để thẩm định, như sau: a/ Từ thời cổ sử Việt, những ý tưởng của Thượng tầng của Triều đình Hùng Vương về: Trầu cau, Xâm người, nhuộm răng đen. phong tục lễ Tết..trở thành văn hóa truyền thống; Tục cưới hỏi, nghi lễ trong quan hệ xã hội...trở thành văn hóa truyền thống. b/ Một hình tượng đep trong quan hệ gia đình, về - thí dụ - một người vợ thủy chung, người con hiếu thảo, người bạn trung thành..là "văn". Nhưng nếu nó trở thành biểu tượng được tôn trong và là hành xử phố biến trong xã hội thì nó trở thành "văn hóa". c/ Chính vì - theo định nghĩa "văn hóa" của Thiên Sứ - nên văn hóa là giá trị tinh túy của tư duy được lưu truyền trong xã hội. Bởi vậy, nó mới cần được bảo tồn, chính vì những gia trị tinh túy ấy. Cho nên cơ quan văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO mới xuất hiện và phải có trách nhiệm gìn, giữ và bảo vệ những giá trị tính túy còn lại của nhân loại. Từ những Kim tự Tháp - giá trị tinh túy của một hệ thống tri thức tư duy vượt trội, cho đến những ngôi đền cổ với những đường nét và lối kiến trúc đặc trưng của những tinh hoa cổ đại....là những gía trị cần được bảo tồn. Mỗi dân tộc, có một nét văn hóa đặc trưng riêng và thể hiện tinh túy của tư duy thuộc về dân tộc đó. Một dân tộc sẽ không tồn tại, nếu ko giữ được bản sắc văn hóa của mình. Truyên Kiều còn, Tiếng Việt còn. Tiếng Việt còn dân Việt còn. Dân Việt còn, nước Việt còn" Ngài Thượng Thư Phạm Quỳnh đã phát biểu như vậy. Chính vì truyện Kiều là tinh túy của tư duy Việt và đã phổ biến trong cuộc sống Việt. d/.... Tóm lại, nếu đem đối chiếu định nghĩa về khái niệm văn hóa theo Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, nó sẽ giải thích được hầu hết mọi vấn đề liên quan đến nó, một cách hệ thống, nhất quán, hoàn chình,,,và hoàn toàn thỏa mãn tiêu chí để thâm định nó. Cũng trên những vấn đề được đặt ra, tôi xin tiếp tục chia sẻ với quý vị và các bạn nội hàm khái niệm tiếp theo đó là từ "Khoa học". Cảm ơn sự quan tâm của các bạn và quý vị. NỘI HÀM KHÁI NIỆM "KHOA HỌC".... Nhà khoa học Việt kiều Úc nổi tiếng Nguyễn Văn Tuấn, phàn nàn rằng: Ở Việt Nam, họ nhắc đến từ "khoa học" rất nhiều. Cái gì cũng cứ phải viện dẫn "khoa học"...Đại ý thế. Còn tôi diễn giải thế này: Đúng là ở Việt Nam người ta hay nhắc đến từ "khoa hoc" thật. Hơi một tý thì: "Đã được khoa học công nhận"; hay "Chưa được khoa học công nhận"...Hoặc, hẳn như Giáo sư Tiến sĩ, lại còn Viện sĩ hẳn Viện Hàn Lâm khoa học Pháp - Phan Huy Lê nói về "Cơ sở khoa học". Nhưng bản thân nội hàm khái niệm "Khoa học" là gì thì ngay cả cụ Gù Gồ cũng....chưa biết mặt mũi nó ra làm sao. Và chính ông Phan Huy Lê cũng chẳng biết thế nào là "cơ sở khoa học". Khái niệm "văn hóa", còn được những nhà văn hóa wan tâm tới, nên nó có đến xấp xỉ 400 khái niệm về văn hóa, chẳng cái náo giống cái nào. Thôi gọi chẵn là 400 đi. Còn định nghĩa về "văn hóa" của lão Gàn là cái thứ 401. Gọi là "góp phần nhỏ bé" vào cả đống định nghĩa văn hóa to đùng đến 400 cái. Tức 1/ 400. Hic.. Còn khái niệm "khoa học" thì thật là ..cô đơn trong cõi Ta bà. Chẳng ai nói về nội hàm của nó mặt mũi ra làm siu. Chán wé thật! Số phận của khái niệm khoa học, cũng như "văn hóa", người ta chỉ cảm nhận một khái niệm mơ hồ. Một thí dụ khi tôi đi tìm trên cụ Gù Gồ thì nó như thía này: Trích: Đây không phải là một cuốn tự điển chuyên ngành vì như tác giả đã nói trong lời nói đầu của lần tái bản thứ 2 (1948): "Quyển sách này không phải là Tự điển vì không có định nghĩa. Quyển sách này cũng không phải là sách dịch tiếng Pháp vì muốn dịch, trước hết phải có tiếng tương đương ở Pháp ngữ và Việt ngữ. Quyển sách này chỉ là một tập Danh từ của những ý Khoa học. Những ý ấy lấy Pháp ngữ làm gốc..." Trong sách, ngoài gần 6000 danh từ khoa học, tác giả dành hẳn một phần "Lời dẫn" để bàn về đặc điểm của danh từ khoa học và nêu lên 8 yêu cầu khi đặt một danh từ khoa học mới, chưa có trong tiếng Việt. Đồng thời, tác giả còn nêu lên các phương pháp để đặt danh từ khoa học, có tham khảo đến cách làm của các nước lân cận như Trung Quốc, Nhật... và cách mà tác giả đã sử dụng để tạo ra các danh từ khoa học trong chính cuốn sách này"]. Bởi vậy, khi nói tới khái niệm "khoa học" thì ngay cả cụ Hoàng Xuân Hãn cũng đành dẫn tiếng Tây. Hơ! Vậy bản chất của nội hàm khái niệm "Khoa học" là gì? Chúng ta không thể tìm thấy nội hàm khái niệm này trong tất cả mọi ngôn ngữ trên thế giới. Vậy thì chỉ còn hy vọng sự giải thích nó ngay trong tiếng Việt - một ngôn ngữ cao cấp nhất trong tất cả các ngôn ngữ đã từng tồn tại trong lịch sử văn minh nhân loại. Cũng như khái niệm "văn hóa". "Khoa học" trong tiếng Việt cũng là một từ kép, gồm "khoa" và "học". Và chúng ta bắt đầu từ nguyên nghĩa của hai từ này. 1/ Nguyên nghĩa từ "Học". Đây là một từ tối cổ của ngôn ngữ Việt, nó có từ thời xa xưa: Nhân bất "HỌC", bất tri lý. Ngọc bất trác, bất thành khí. "Học" trong tiếng Việt là một động từ định danh, mô tả hành vi trau dồi kiến thức và tìm hiểu chân lý, trong đó bao gồm cả "học" nghề....Khái niệm của từ "Học" trong tiếng Việt, ngoài nghĩa thu thập kiến thức, còn có nghĩa là tìm hiểu, khám phá, mở rộng kiến thức. "Học thày, không tày học bạn", cho thấy hàm nghĩa này. Tôi nhắc lại là trong tôi không có từ Hán Việt. Mà chỉ có từ Việt Nho được mô tả tương đương bằng ngôn ngữ Hán. Bất cứ ai dẫn sách, mà bảo rằng câu trên trong sách Hán...bala bala, tôi xin phép delete mà không cần lý do. 2/ Nguyên nghĩa từ "Khoa". Đây cũng là một từ cổ trong tiếng Việt. Khoa bảng, Khoa thi, Đại khoa (Trạng Nguyên).....Nguyên nghĩa của từ này mô tả một hệ thống tri thức hoàn hảo và tiếp tục lưu giữ phát triển gọi là "khoa". Thời cổ, hệ thống tri thức này là hệ thống Lý học. Nhưng ngày nay, từ "khoa" trong tiếng Việt dùng để chỉ những hệ thống tri thức khác ngoài Lý học Đông phương, Gồm: Y Khoa; Khoa Toán, Khoa Lý, Khoa Văn (Hoặc Văn Khoa)...vv.... Vậy nội hàm khái niệm "khoa học" là gì? 3/ Định nghĩa về nội hàm khái niệm "Khoa học". "Khoa học" - trong ngôn ngữ của nền văn hiến Việt - là khái niệm mô tả việc học hỏi, khám phá, tìm hiểu để đạt đến một hệ thống tri thức, có tính tổng hợp về một lĩnh vực chuyên môn nào đó, hoặc toàn thể vũ trụ". Trên cơ sở định nghĩa này, và căn cứ vào tiêu chí để thẩm định, 4/ Thẩm định định nghĩa "Khoa học" theo Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Trên cơ sở tiêu chí đã nêu, thì một định nghĩa khái niệm chỉ được coi là đúng, nếu nó thỏa mãn những tiêu chí để thẩm định. Chúng được so sánh đối chiếu để thẩm định, như sau: a - "Phương tiện khoa học": Những công cụ vật chất, hoặc phương pháp tư duy dùng để tìm hiểu, khám phá và tổng hợp một hệ thống tri thức chuyên ngành, hoặc toàn thể vũ trụ, gọi là phương tiện khoa học. b - "Nhà khoa học": là người có kiến thức nền tảng về một chuyên ngành nào đó, họ dùng kiến thức đó để học hỏi, tìm hiểu, khám phá để đạt đến một hệ thống tri thức, có tính tổng hợp về một lĩnh vực chuyên môn nào đó, hoặc toàn thể vũ trụ thì gọi là nhà khoa học". c - "Tư duy khoa học": là hệ thống phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, so sánh, đối chiếu...để tiếp cận, nhằm đạt đến một hệ thống tri thức, có tính tổng hợp về một lĩnh vực chuyên môn nào đó, hoặc toàn thể vũ trụ thì gọi là "tư duy khoa học". Hệ thống phương pháp tư duy khoa học có thể thay đổi khi nhận thức thay đổi. d - "Cơ sở khoa học": là hệ thống tri thức nền tảng ban đầu để để tiếp cận, nhằm đạt đến một hệ thống tri thức, có tính tổng hợp về một lĩnh vực chuyên môn nào đó, hoặc toàn thể vũ trụ thì gọi là "cơ sở khoa học". Hệ thống tri thức nền tảng có thể thay đổi khi nhận thức thay đổi. e -...... Tóm lại, nếu đem đối chiếu định nghĩa về khái niệm "Khoa học" theo Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, nó sẽ giải thích được hầu hết mọi vấn đề liên quan đến nó, một cách hệ thống, nhất quán, hoàn chình,,,và hoàn toàn thỏa mãn tiêu chí để thẩm định nó. Cũng trên những vấn đề được đặt ra, tôi xin tiếp tục chia sẻ với quý vị và các bạn nội hàm khái niệm tiếp theo đó là từ "Minh triết". Cảm ơn sự quan tâm của các bạn và quý vị.
    1 like
  14. Cách tính trùng tang theo quan niệm cổ nhân 05/11/2011 07:07:16 LTS: Sau khi KH&ĐS đăng 2 kỳ liên tiếp trên các số báo 127 và 128 lý giải hiện tượng trùng tang, đã có nhiều chuyên gia, độc giả chia sẻ với tòa soạn về vấn đề này. Lương y Vũ Quốc Trung (tập thể Sông Đà, Mỹ Đình, Hà Nội), người đã có nhiều năm nghiên cứu về trùng tang cũng đã có bài viết gửi tới tòa soạn về vấn đề này. Chúng tôi xin trích đăng để bạn đọc tham khảo (bài viết thể hiện quan điểm riêng của chuyên gia). TIN LIÊN QUAN Trùng tang và những chuyện mang màu sắc mê tín Cách tính trùng tang Từ xa xưa, dựa trên dịch lý, cổ nhân đã xây dựng cách tính (xác định) trùng tang. Người xưa cho rằng đối với người quá cố khi chết phải xem tình trạng ra đi có được "yên ổn" hay không? Có gì oan khuất hay không, được thể hiện qua 3 nhóm biểu hiện trạng thái vong linh của người đã khuất, đó là: 1. Nhập mộ: Yên ổn, đúng số, không có điều gì băn khoăn, oan ức... đóng ở các cung THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI. 2. Trùng tang: Chết thiêng, chết oan, còn vương vấn ở trần gian đóng ở các cung DẦN - THÂN - TỴ - HỢI. 3. Thiên Di: Có ảnh hưởng xấu đến người thân đang còn sống ở các cung TÝ - NGỌ - MÃO - DẬU. Theo sách "Tam Giáo Chính Hội": Nam nhất thập khởi Dần thuận liên tiến, Nữ nhất Thập khởi Thân, nghịch liên tiến, Niên hạ sinh nguyệt, Nguyệt hạ sinh Nhật, Nhật hạ sinh Thời. Ngộ Tý - Ngọ - Mão - Dậu Thiên di. Dần - Thân - Tỵ - Hợi Trùng tang. Thìn - Tuất - Sửu - Mùi Nhập mộ cát dã. Cụ thể như sau: Cách tính: Phải tính cả năm, tháng, ngày, giờ (niên, nguyệt, nhật, thời). Người quá cố phải được ít nhất 1 nhập mộ mới có thể xem là giờ ổn. Nếu được càng nhiều nhập mộ càng tốt (nhiều nhất là 4 nhập mộ). Niên (năm): Người quá cố là nam, khởi từ cung Dần, đi theo chiều thuận kim đồng hồ. Gọi cung Dần là 10 tuổi, cung Mão là 20 tuổi, cung Thìn là 30 tuổi... cứ thế mỗi cung là 10 tuổi cho đến số hàng chục của tuổi thọ người quá cố, rồi cứ tiếp mỗi cung là 1 tuổi cho đến hết số tuổi người quá cố. Người quá cố là nữ, khởi từ cung THÂN, đi theo chiều ngược kim đồng hồ. Gọi cung Thân là 10 tuổi, cung Mùi là 20 tuổi... cứ thế mỗi cung 10 tuổi cho đến số hàng chục của tuổi thọ của người quá cố, rồi tiếp mỗi cung là 1 tuổi cho đến số hàng chục của tuổi thọ của người quá cố. Nếu số đó trùng vào các cung THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI thì được niên nhập mộ, nếu các cung DẦN - THÂN - TỴ - HỢI thì bị trùng tang, vào các cung TÝ - NGỌ - MÃO - DẬU thì bị thiên di. Trường hợp người quá cố dưới 10 tuổi là nam thì cung Dần là 1 tuổi, cung Mão là 2 tuổi, cung Thìn là 3 tuổi... cho đến tuổi mất của người quá cố. Trường hợp người quá cố dưới 10 tuổi là nữ thì cung Thân là 1 tuổi, cung Mùi là 2 tuổi, cung Ngọ là 3 tuổi.. cho đến tuổi mất của người quá cố. Nguyệt (tháng): Tháng giêng tiếp ngay vào sau cung tuổi. Thí dụ: Tuổi dừng ở cung Ngọ thì tháng giêng ở cung Mùi (đối với nam) và tháng giêng ở cung Tỵ (đối với nữ) cứ thế mỗi tháng tiếp 1 cung cho đến tháng mất của người quá cố. Nếu vào THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI thì được nhập mộ; Nếu vào DẦN - THÂN - TỴ - HỢI thì bị trùng tang. Nếu gặp TÝ - NGỌ - MÃO - DẬU thì bị thiên di. Nhật (ngày): Ngày mùng 1 tiếp vào ngay sau cung tháng, cứ thế tiếp mỗi ngày 1 cung cho tới ngày người quá cố qua đời và xem rơi vào nhập mộ, trùng tang hay thiên di như trên. Thời (giờ): Giờ Tý tiếp ngay sau cung ngày và mỗi cung là 1 giờ cho đến giờ người quá cố qua đời và xem rơi vào nhập mộ, trùng tang hay thiên di như trên. Nói chung được 1 nhập mộ trở lên là yên tâm, vì "nhất mộ sát tam trùng" (một nhập mộ xoá được 3 trùng tang). Hoặc được 2 thiên di thì cũng không lo vì "nhị thiên di sát nhất trùng" (2 thiên di xoá được 1 trùng tang). Nếu không có nhập mộ nào thì phải xem ngày mất của người quá cố có phạm vào tam sa sát hay không? Theo người xưa và sách vở ghi chép lại thì: Trùng tang Ngày là nặng nhất. Trùng tang Tháng là nặng nhì. Trùng tang Giờ là nặng thứ ba. Trùng tang Năm là nhẹ nhất. Quan niệm cổ về trùng tang Nếu căn cứ vào phép tính trùng tang như trên thì cả nam và nữ những người chết vào các tuổi (âm lịch): 10, 13, 16, 19, 22, 25, 28, 31, 34, 37, 40, 43, 46, 49, 52, 55, 58, 61, 64, 67, 70, 73, 76, 79, 82, 85, 88, 91... sẽ rơi vào trùng tang. Từ đó quy nạp ngược lại theo hệ can - chi thì những người có tuổi: Tý, Ngọ, Mão, Dậu nếu chết vào một trong các năm TÝ - NGỌ - MÃO - DẬU thì rơi vào trùng tang; Hoặc: Dần, Thân, Tỵ, Hợi nếu chết vào một trong các năm DẦN - THÂN - TỴ - HỢI thì rơi vào trùng tang; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nếu chết vào một trong các năm THÌN - TUẤT - SỬU - MÙI có nghĩa là chết vào các năm "xung (tứ hình xung) sẽ bị TRÙNG TANG (xem bảng). Dưới góc độ của Dịch lý, trên cơ sở học thuyết Âm - Dương và Ngũ hành: Đồng khí (đồng cực) thì đẩy nhau, khác khí (khác cực) thì hút nhau. Tương sinh thì tốt, tương khắc thì xấu, đồng hành thì tị hoà. Vậy thì người chết vào những năm xung (tứ hình xung) thì rất xấu nên bị TRÙNG TANG. Ví dụ: Người tuổi Mão (thuộc Mộc, ở phương Đông) chết năm Dậu (thuộc Kim ở phương Tây) sẽ bị trùng tang vì Kim khắc Mộc, Tây đối lập với Đông; Hoặc người tuổi Ngọ (ở phương Nam thuộc Hoả) chết năm Tý (ở phương Bắc, thuộc Thuỷ) sẽ bị TRÙNG TANG vì Thuỷ khắc Hoả, Bắc với Nam đối lập... Các trường hợp khác cũng tương tự như vậy. Như vậy, việc xác định trùng tang là dựa trên nguyên lý của dịch với học thuyết Âm dương - Ngũ hành chứ không phải sự mê tín, tuỳ tiện. Còn trong thực tế điều này có đúng hay không? Kỳ tới: Đừng "bày cỗ cho ma ăn" Lương y Vũ Quốc Trung
    1 like
  15. Tuổi Giáp Tý 84 mua xe ngày nào giờ nào năm Mậu Tuất 2018 Xem ngày tốt mua xe cho Nam và nữ Giáp Tý 1984, Nam và Nữ tuổi Giáp Tý mua xe ngày nào giờ nào hay chọn ngày tốt mua xe cho Nam và nữ Giáp Tý. Có thể nói đây là câu hỏi mà rất nhiều bạn thắc mắc, bởi vì chỉ cần search thôi là có 900.000.000 kết quả. Vì thế bài viết sau sẽ giúp quý bạn biết được Tuổi Giáp Tý 84 1984 mua xe ngày nào giờ nào nhất năm 2018 Tai sao phải chọn ngày đẹp mua xe cho Nam và Nữ tuổi Giáp Tý cả nam và nữ mạng 1984 Tuổi Giáp Tý 84 sinh năm 1984 thuộc mạng Kim - Hải Trung Kim tức Vàng dưới biển. Nam và nữ Giáp Tý cả nam năm 2018 bị sao Thái Âm chiếu mệnh còn nữ bị sao Thái Bạch chiếu mạng, đây là các sao xấu cho nam và nữ 84. Để xem được ngày tốt mua xe cho Tuổi Giáp Tý 84 thì bạn cần có sự nghiên cứu, phối hợp bát tự, huyền không, hà lạc, … để ra được ngày đại cát, phù hợp với mệnh trời và thích hợp với chính người đó. Do đó, muốn biết được Nam và Nữ tuổi Giáp Tý mua xe ngày nào giờ nào tháng nào đẹp là cực kỳ phức tạp. Các chuyên gia tại PHONGTHUYSO.VN đã dựa trên tuổi của quý bạn, kết hợp niên mệnh, năm sinh, huyền không để tìm ra được ngày đẹp mua xe cho Nam và nữ Giáp Tý. Để không làm quý bạn mất thời gian như đi xem thầy bói, mời thầy luận giải thì các chuyên gia chúng tôi sẽ giúp quý bạn Nam và Nữ tuổi Giáp Tý chọn ngày đẹp mua xe - hợp tuổi - hợp ngày - hợp giờ đại cát... Khi coi ngày đẹp mua xe cho Nam và Nữ tuổi Giáp Tý sẽ mang lại nhiều tài lộc may mắn cho gia chủ. Sau đây là các ngày tốt mua xe hợp mệnh cho Tuổi Giáp Tý 84 năm 2018. Tuổi Giáp mua xe ngày nào giờ nào tháng 5 Tuổi Giáp tý 1984 mua xe ngày nào giờ nào tháng nào đẹp tháng 6 Nam và Nữ tuổi Giáp Tý mua xe ngày nào giờ nào tháng 7 Trên đây là 3 tháng Nam và nữ Giáp Tý mua xe ngày nào tháng nào đẹp, nếu như quý bạn muốn xem thêm các tháng tiếp theo như tháng 8, tháng 9…. Tháng 12 thì mời quý bạn xem chi tiết tại đây: xem ngày tốt mua xe Xem thêm các bài viết cùng chủ đề: + Xem tuổi sinh con hợp tuổi bố mẹ Giáp Tý + Hướng nhà tuổi Giáp tý
    1 like
  16. Cháu chào chú Thiên Luân ạ, Cháu xin nhờ chú xem giúp cho gia đình cháu: - Chồng cháu sn 1986 - Bính Dần - Giáng Hạ Thuỷ - Cháu sn 1986 - Bính Dần - Giáng Hạ Thuỷ - Con gái đầu sn 2007 - Đinh Hợi - Ốc Thượng Thổ - Con trai thứ sn 2015 - Ất Mùi - Sa Trung Kim Thưa chú, vợ chồng cháu ban đầu rất yêu nhau nhưng không hiểu sao kể từ khi sinh bé gái đầu thì tuy kinh tế đi lên nhưng vợ chồng cháu rất khắc khẩu, xa cách, cả năm vc không gần gũi nhau, đã từng tính tới nước ly hôn. Sau khi sinh bé trai thứ hai thì kinh tế đi xuống, chồng cháu mất việc phải tìm công việc mới lương thấp hơn, nhưng vợ chồng cháu tự nhiên lại khá hoà hợp, không khí gia đình cũng vui vẻ hơn rất nhiều. Cháu có đọc nhiều bài chú tư vấn cho nhiều đôi cùng sn 1986 là nên sinh con út năm 2018, 2019. Châu cũng được nghe là theo vòng Tràng Sinh thì tuổi Can Bính nếu sinh con năm Hợi thì sẽ là năm Tuyệt không tốt. Cháu không biết có phải do vậy mà khi sinh bé gái đầu vợ chồng cháu lại xa cách đến vậy, do vậy cháu hơi e ngại nếu sinh con út vào năm 2019. Mong chú giải đáp giúp cháu và chỉ cho cháu một con đường sáng. Cháu đang rất buồn vì mới bị sảy thai mấy hôm trước, vậy là cháu không kịp sinh con vào năm 2018 chú ạ:(
    1 like
  17. HỒ THỦY SINH TRONG PHONG THỦY NGÔI GIA DƯỚI GÓC NHÌN TỪ ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT PHẦN 1: SỰ TÁC ĐỘNG VÀ VỊ TRÍ ĐẶT HỒ THỦY SINH Tác giả: Longphibaccai – Nguyễn Quốc Duy Thành viên nghiên cứu Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương Hướng dẫn: Thầy Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh Ngày nay, phong trào chơi hồ thủy sinh trở nên khá phổ biến và trở thành niềm đam mê của nhiều người, từ một anh doanh nhân giàu có cho đến một cô bé học sinh trung học cơ sở… Thú chơi hồ thủy sinh còn đòi hỏi người chơi thể hiện sự sáng tạo và chinh phục những đỉnh cao mới. Từ việc đưa khung cảnh thiên nhiên, những nét đẹp bình dị của làng quê, sông núi, rừng già, đáy biển vào hồ cho đến việc nuôi những động vật thủy sinh khó nuôi, đòi hỏi cao về chất lượng môi trường nước và nhiệt độ. Thú chơi hồ thủy sinh là vậy, nhưng nhiều người vẫn có thắc mắc hồ thủy sinh có ảnh hưởng hay tác động như thế nào đến ngôi nhà của mình, tốt xấu ra sao, hay người mệnh Hỏa có chơi hồ thủy sinh được không và đặt tại vị trí nào là tốt? 1. Hồ thủy sinh tác động như thế nào đến ngôi gia? Hồ thủy sinh ngoài việc giúp cho những người trong nhà có cảm giác thư giãn, giảm stress sau một ngày làm việc căng thẳng, còn có tác dụng tốt trong Phong Thủy ngôi gia. Cổ nhân có câu: “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc” - Núi thì quản người, nước thì quản tài lộc và tạo sinh khí. Đối với không gian lớn như quán café, quán ăn, nhà hàng, khách sạn lớn … Nhiều Phong Thủy Gia đã dụng Thủy Pháp là các thác nước, các hồ nước, hồ nuôi cá cảnh lớn ngoài trời, và đối với không gian nhỏ hơn là trong gia đình, quán café, các quán ăn nhỏ là các hồ cá, hồ thủy sinh trong nhà … Ngoài việc làm đẹp cảnh quan, hồ thủy sinh còn có mục đích là chiêu tài tụ khí giúp cơ sở kinh doanh phát triển, tăng sự thịnh vượng của ngôi gia. 2. Người mạng Hỏa có nên chơi hồ thủy sinh? . Nên đối với những người mệnh Hỏa hay bất cứ mệnh gì trong ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Thổ) đều có thể chơi hồ thủy sinh trong ngôi gia của mình, vì mạng chỉ là sự phân loại trong Ngũ hành.có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri (1) Thuyết Âm Dương Ngũ Hành là một học thuyếtTheo học thuyết Âm Dương Ngũ Hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt với lịch sử trải gần 5.000 năm, đã xác định rằng: 3. Hồ thủy sinh đặt tại vị trí nào là tốt? … Về nguyên tắc thì đặt hồ ở đâu trong nhà cũng được với điều kiện là ngôi gia phải tụ khí thì hồ thủy sinh mới phát huy hiệu quả của nó. Nhưng ở những vị trí khác nhau, sẽ có những tác động tốt xấu khác nhau. Đặt ở nơi mộ khí thì sẽ có tác dụng xua tan Âm khí. Ở nơi sinh khí và vượng khí có tác dụng kích hoạt sinh khí tốt, có lợi cho sức khỏe, nhưng trong nhà phải thoát khí tốt và hồ thủy sinh đặt trong nhà phải hài hòa, cân đối.(2)Trong Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt thì hồ thủy sinh là nơi tụ khí và luân chuyển sinh khí trong nhà, khí do hồ thủy sinh sinh ra là Âm khí, hồ thủy sinh có tác dụng kích hoạt sinh khí có lợi cho sức khỏe, kích hoạt tài lộc a. Các vị trí tốt đặt hồ thủy sinh: - Có thể đặt hồ thủy sinh tại vị trí hướng Bắc (cung Khảm), hướng Đông (cung Chấn) hoặc hướng Đông Nam (cung Khôn (3)) của ngôi gia sao cho phù hợp. Hướng Bắc thuộc cung Sự Nghiệp, tượng trưng cho sự vững bền, thuận lợi và thăng tiến trong công việc. Hướng Đông thuộc cung Sức Khỏe, Gia Đình, tượng trưng cho sinh lực, sự tươi trẻ, tình cảm và hạnh phúc gia đình. Hướng Đông Nam thuộc cung Phú Quý, tượng trưng cho tài lộc, sự sung túc, của ăn của để trong nhà… Đồ hình "Bát cung hóa khí" theo Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt. - Đối với các căn hộ chung cư có cửa ra vào đối xung với nhau, cửa chính đối xung với cửa thang máy, cầu thang chung cư đâm vào nhà thì ta có thể đặt một hồ thủy sinh để tránh xung sát khí. - Đối với nhà có các cửa thẳng hàng (cửa trước thẳng hàng với các cửa sau) thì ta đặt hồ thủy sinh để hóa giải xuyên tâm sát tác động xấu đến ngôi gia. - Đối với nhà nằm ngay ngã ba có con đường phía trước đâm thẳng vào nhà, tùy vị trí thích hợp có thể đặt một hồ thủy sinh ở phòng khách để hạn chế xung sát khí đâm vào nhà. - Hồ thủy sinh có thể đặt ở phòng bếp nhưng không được đối xung với bếp vì Thủy Hỏa tương khắc. - Hồ thủy sinh có thể đặt ở phòng làm việc, phía trước mặt người ngồi để giúp người làm việc giảm stress và tạo sinh khí cho căn phòng. b. Các vị trí không tốt đặt hồ thủy sinh: - Không nên đặt ở phòng ngủ vì không gian ngủ nghỉ cần sự yên tĩnh, tránh sự tác động của âm thanh do bộ lọc, máy sủi oxy, quạt trong hồ thủy sinh tạo nên. - Không nên đặt hồ thủy sinh ở phòng thờ tự ông bà, tổ tiên đối với nhà có phòng thờ riêng biệt. - Không nên đặt hồ thủy sinh gần nhà vệ sinh vì hồ thủy sinh để lâu ngày sẽ tích tụ xú khí, gây ảnh hưởng đến sức khỏe những người trong nhà. Tóm lại, tùy vào mục đích muốn hướng đến của gia chủ và hóa giải những yếu tố xấu tác động đến ngôi gia thì ta đặt hồ thủy sinh tại những vị trí thích hợp nêu trên, để nó có thể phát huy hiệu quả nhằm hạn chế những tác động xấu và tăng sự thịnh vượng của ngôi gia. Tp.HCM, ngày 9 tháng 9 năm Bính Thân. PHẦN 2: BỐ CỤC HỒ THỦY SINH TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT Tài liệu tham khảo: (1),(3): Sách Minh Triết Việt Trong Văn Minh Đông Phương – Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Xuất bản: 2014 (2): Tài liệu Phong Thủy Lạc Việt – Lưu hành nội bộ
    1 like
  18. Xin chào bác Thiên Luân và anh chị quản trị Xin tư vấn giúp gia đình em ạ Chồng: 28/12/1985 AL Hải Trung Kim Vợ: 02/10/1986 AL Giáng Hạ Thủy Con trai 30/11/2012 AL Tích Lịch Hỏa Con trai 13/6/2017 AL Thiên Hà Thủy Gia đình muốn tiếp sinh cháu thứ 3 thì nên sinh vào năm nào thì tốt ạ. Em xin cảm ơn!
    1 like
  19. Nếu không sống chung với bố mẹ thì chọn hướng Bắc-Nam-Đông và Tây Nam.
    1 like
  20. Cám ơn bạn harry rất nhiều, bạn có thể cho mình thêm thông tin chi tiết không a? chúc bạn một ngày vui vẻ
    1 like
  21. Chào các bạn, Mấy tuần nay đang nghiên cứu đến 28 cầm tú, tình cờ vấn đề Kim Lâu lại được nhắc tới, nên sẳn thời gian tra khảo các cổ thư Ngọc Hạp Ký tiếng Hán, thì khám phá ra cái nguyên lý của Kim Lâu, nay xin chia sẻ cùng các bạn. Theo các sách thì phương pháp tính Kim Lâu như sau: Kim Lâu bảng khởi chánh Khôn cung Thường phi ngũ thập nhập trung cung Khãm Ly Chấn Đoài vi tứ Kiết Ngộ Càn Khôn Cấn Tốn giai Hung. Cái câu tối nghỉa "Thường phi ngũ thập nhập trung cung" tai hại này đã tạo ra nhiều phương pháp tính toán khác nhau, sai vài năm, đúng vài năm. Thật ra phương pháp tính Kim Lâu căn cứ vào 9 tinh (Nhật, Nguyệt, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, La Hầu, và Kế Đô). Cái nghĩa của câu trên thật ra chỉ dẫn cho chúng ta an tuổi hàng chục, khởi từ cung Khôn 10, Đoài 20, Càn 30, Khãm 40, Trung Cung 50, Cấn 60, Chấn 70, Tốn 80, Ly 90, Khôn 100 (Theo Bát Quái Văn Vương). Nếu dùng Hậu Thiên Bát Quái Phối Hà Đồ (Lạc Việt) thì khởi Cấn 10, Chấn 20, Khôn 30, Ly 40, Trung Cung 50, Tốn 60, Đoài 70, Càn 80, Khãm 90, Cấn 100. Theo phương pháp tính như trên ta có bảng như sau: Hậu Thiên Bát Quái Phối Hà Đồ (Lạc Việt) Cấn (Thân) --- 10,19,28,37,46,55,64,73,82,91,100 Chấn --------- 11,20,29,38,47,56,65,74,83,92,101 Khôn (Thê) --- 12,21,30,39,48,57,66,75,84,93,102 Ly ----------- 13,22,31,40,49,58,67,76,85,94,103 Trung -------- 14,23,32,41,50,59,68,77,86,95,104 Tốn (Tử) ----- 15,24,33,42,51,60,69,78,87,96,105 Đoài --------- 16,25,34,43,52,61,70,79,88,97,106 Càn (Súc) ---- 17,26,35,44,53,62,71,80,89,98,107 Khãm---------- 18,27,36,45,54,63,72,81,90,99,108 Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương Khôn (Thân) -- 10,19,28,37,46,55,64,73,82,91,100 Đoài --------- 11,20,29,38,47,56,65,74,83,92,101 Kiền (Thê) --- 12,21,30,39,48,57,66,75,84,93,102 Khãm --------- 13,22,31,40,49,58,67,76,85,94,103 Trung -------- 14,23,32,41,50,59,68,77,86,95,104 Cấn (Tử) ----- 15,24,33,42,51,60,69,78,87,96,105 Chấn --------- 16,25,34,43,52,61,70,79,88,97,106 Tốn (Súc) ---- 17,26,35,44,53,62,71,80,89,98,107 Ly ----------- 18,27,36,45,54,63,72,81,90,99,108 Tại sao VinhL cho đây là phương pháp đúng? Sau khi xem qua quyển cổ thư Ngọc Hạp Ký, thì khám phá ra một bảng liệt kê Cửu Tinh Trực Niên như sau: Nam Thổ ------ 11, 20, 29, 38, 47, 56, 65, 74, 83, 92 Thủy ----- 12, 21, 30, 39, 48, 57, 66, 75, 84, 93 Kim ------ 13, 22, 31, 40, 49, 58, 67, 76, 85, 94 Nhật ----- 14, 23, 32, 41, 50, 59, 68, 77, 86, 95 Hỏa ------ 15, 24, 33, 42, 51, 60, 69, 78, 87, 96 Kế ------- 16, 25, 34, 43, 52, 61, 70, 79, 88, 97 Nguyệt --- 17, 26, 35, 44, 53, 62, 71, 80, 89, 98 Mộc ------ 18, 27, 36, 45, 54, 63, 72, 81, 90, 99 La ------- 19, 28, 37, 46, 55, 64, 73, 82, 91, 100 Nử Hỏa ------ 11, 20, 29, 38, 47, 56, 65, 74, 83, 92 Mộc ------ 12, 21, 30, 39, 48, 57, 66, 75, 84, 93 Nguyệt --- 13, 22, 31, 40, 49, 58, 67, 76, 85, 94 Thổ ------ 14, 23, 32, 41, 50, 59, 68, 77, 86, 95 La ------- 15, 24, 33, 42, 51, 60, 69, 78, 87, 96 Nhật ----- 16, 25, 34, 43, 52, 61, 70, 79, 88, 97 Kim ------ 17, 26, 35, 44, 53, 62, 71, 80, 89, 98 Thủy ----- 18, 27, 36, 45, 54, 63, 72, 81, 90, 99 Kế ------- 19, 28, 37, 46, 55, 64, 73, 82, 91, 100 Chúng ta thấy đấy, hoàn toàn phù hợp, không khác một năm giữa bảng 9 Tinh Trực Niên và bảng tuổi Kim Lâu tính theo cách nhập trung cung cho mổi hàng chục. Nay tra xét thêm ta thấy, đối với Nam nhân, thì các năm có tinh trực niên là Thủy Hỏa Nguyệt La, là phạm Kim Lâu, tại sao? La Hầu là Hỏa, Kế Đô là Thổ (Theo Trương Quả Lão Ngủ Tinh Luận Mệnh) Những tuổi không phạm vào Kim Lâu là thuộc về các Sao Thổ, Kim, Nhật, Kế (Thổ), và Mộc (Nam nhân) Theo các sách về Thất Chính Tứ Duy, Nhật Đế Vượng tại Ngọ, như vậy Sinh tại Dần thuộc Dương Mộc. Nguyệt Đế Vượng tại Mùi, Sinh tại Hợi (âm hành đi nghịch), như vậy thuộc Âm Thủy. Nay ta có các hành của các sao không bị Kim Lâu là Thổ, Kim, Mộc, và các hành bị Kim Lâu là Hỏa Thủy. Thổ Sinh Kim, Kim và Kim đồng đạo, Mộc thì bị Kim khắc. Hành Kim đều chiếm ưu thế. Hỏa Khắc Kim, Kim sinh Thủy, hành Kim đều bị hao tổn. Vì vậy các năm có các tinh trực niên là Hỏa Thủy Nguyệt La tức đều là hành Hỏa Thủy thì bị phạm Kim Lâu. Đang lúc nghiên cứu về 28 tú, thì thấy được bảng an bài các tú vào 12 cung địa chi của bác Hà Uyên, sau khi gom 12 cung lại thành 9 cung ta có bảng như sau: 27 Dực Hỏa Xà ----|24 Liễu Thổ Chương --|20 Chủy Hỏa Hầu 28 Chẩn Thủy Dẫn--|25 Tinh Nhật Mã -----|21 Sâm Thủy Viên 01 Giác Mộc Giảo--|26 Trương Nguyệt Lộc-|22 Tỉnh Mộc Hãn 02 Cang Kim Long--|---------------------|23 Quỷ Kim Dương --------------------------------------------------------- 03 Đê Thổ Bức ----|---------------------|17 Vị Thổ Trệ 04 Phòng Nhật Thố-|---------------------|18 Mão Nhật Kê 05 Tâm Nguyệt Hồ--|---------------------|19 Tất Nguyệt Ô --------------------------------------------------------- 06 Vĩ Hỏa Hổ -----|10 Nữ Thổ Lạc -------|13 Thất Hỏa Trư 07 Cơ Thủy Báo ---|11 Hư Nhật Thử ------|14 Bích Thủy Dư 08 Đẩu Mộc Giải --|12 Nguy Nguyệt Yến --|15 Khuê Mộc Lang 09 Ngưu Kim Ngưu -|---------------------|16 Lâu Kim Cẩu Ta thấy 4 cung tứ duy đều có Hỏa Thủy Mộc Kim, 4 cung tứ chính thì có Nhật Thổ Nguyệt. Kim Lâu tức nói về hành Kim, Kim sợ nhất gặp Hỏa, vì vậy khi vào 4 cung tứ duy đều có các sao Hỏa mà bị khắc. Theo VinhL nghỉ, đây có lẻ chính là cơ sở và nguyên lý của phương pháp tính tuổi Kim Lâu. Nay chúng ta đã biết được nguyên lý của Kim Lâu là căn cứ vào 9 Tinh Trực Niên, và 28 Cầm Tú. Cổ nhân nói Năm tốt không bằng ngày tốt, ngày tốt không bằng giờ tốt, vì vậy VinhL nghỉ rằng có thể dùng 28 Nguyệt Cầm, Nhật Cầm và Thời Cầm để hóa giải Niên Cầm và 9 Tinh. Tự biết kiến thức nông cạn, không dám cho là 100% đúng, có gì sai sót mong các tiền bối chỉ dẫn. Kính
    1 like
  22. Có nhiều tranh luận khác nhau về Thái Tuế, đó là có phải Mộc Tinh hay không? Theo tôi, 100% đó chính là Mộc tinh. Từ định vị này, chúng ta mới xác định nên bảng Lục thập hoa giáp (sau khi đã đổi chỗ Tốn Khôn). Nếu không biết được điểm này, rất khó đi sâu vào tổ hợp các hệ tương tác từ vũ trụ tới trái đất và con người. Tuy nhiên, chu kỳ Mộc tinh theo thiên văn hiện đại là 11.86 năm, không chẵn 12 năm thì tại sao lập được quy tắc này? Các độ lệch thời gian được tự hiệu chính trong các quy luật tương tác và một số khu vực gọi là "Đới" chưa được tính tới giữa Mộc tinh và các hành tinh khác, ta gọi là: Mộc đới hỏa chẳng hạn. Tự thân Hệ Mặt trời đã điều chỉnh chu kỳ này.
    1 like
  23. Hà Tĩnh: Bi hài “quan huyện” lập núi “trấn yểm” bít cổng trụ sở UBND (Dân trí) - Cho rằng việc huyện bất ổn, nhiều cán bộ "ngã ngựa" khi đương chức là do chiếc cổng trụ sở không hợp phong thủy, bị luồng khí xấu xâm nhập, lãnh đạo huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã cho bưng bít cổng, lập núi đá “trừ yểm”. Hiệu quả của việc làm kỳ quái, phản cảm nêu trên chưa thấy đâu, chỉ thấy từ khi núi đá được lập nên đã có quá nhiều rắc rối và vô số câu chuyện bi hài xảy ra. Lãnh đạo UBND huyện Nghi Xuân cho dựng núi đá bít hẳn cổng chính vào trụ sở UBND huyện. Công trình đầy phản cảm tại một cơ quan công quyền đứng đầu của huyện khiến người dân không khỏi... giật mình. Khôi hài! Bất kỳ ai ghé qua trụ sở UBND huyện Nghi Xuân (tỉnh Hà Tĩnh) không khỏi giật mình trước việc chiếc cổng chính rộng lớn, tồn tại nhiều năm qua hiện đã bị bít lại bằng một núi đá nhân tạo "hùng vĩ". Ông H. (một cán bộ đương nhiệm làm việc tại UBND huyện Nghi Xuân) thông tin, núi đá nói trên được xây dựng cách đây hơn 3 năm, thời ông Nguyễn H.L. còn giữ chức Chủ tịch UBND huyện Nghi Xuân. Theo lời kể thì nguyên nhân xây núi đá rất khôi hài. Thời điểm trước khi núi đá được dựng lên, tại UBND huyện Nghi Xuân xảy ra khá nhiều vụ việc bất ổn. Thời điểm đó bỗng nhiên cũng dấy lên thông tin đồn đoán: UBND huyện xảy ra nhiều chuyện không hay là do phong thủy của trụ sở không tốt (!?). Từ lời đồn thổi đó, lãnh đạo huyện này đã âm thầm cho mời một thầy phong thủy tới giúp huyện “ngắt mạch” những chuyện không hay. Thầy phán tất cả những chuyện xảy ra tại huyện là do môn lộ (lối cửa vào) luôn bị các luồng khí xấu xâm nhập; muốn dứt được họa chỉ có cách bít hẳn chiếc cổng rồi lập núi trừ yểm. Quá tin lời thầy, ngay sau đó lãnh đạo huyện Nghi Xuân đã đưa phương án bít cổng chính vào một cuộc họp của huyện để lấy ý kiến. Có nhiều ý kiến không đồng tình song người đứng đầu huyện Nghi Xuân thời điểm đó vẫn nhất quyết cho phá bỏ cổng chính vào trụ sở. Nguồn tin này cho cho biết, kinh phí xây dựng núi đá được xã hội hóa (?). Ngay sau cuộc họp trên chưa đầy một tháng, hạng mục bít cổng, dựng núi đá đã được tiến hành. Toàn bộ kinh phí xây dựng núi đá được một doanh nghiệp trên địa bàn tài trợ. Sau hơn một tháng thi công, núi đá trấn yểm với nguyên liệu được vận chuyển từ tận tỉnh Ninh Bình đã được được hoàn thành. Phản cảm và rắc rối Nhiều cán bộ làm việc tại UBND huyện Nghi Xuân khi trò chuyện với phóng viên đã thẳng thắn nói rằng, hiệu quả của việc phá cổng trụ sở lập non bộ trừ yểm chưa thấy đâu, chỉ thấy từ khi công trình kỳ quái trên được dựng nên đã gây ra bao rắc rối cho cán bộ và người dân. Núi đá án ngữ ngay lối cổng chính vào trụ sở UBND huyện trước kia Phản cảm là điều mà bất cứ ai đến trụ sở UBND huyện Nghi Xuân cũng đều nhận thấy. Nhiều người dân bày tỏ sự ngao ngán khi trước trụ sở một cơ quan công quyền lại chình ình một núi đá âm u, không phù hợp. Lại càng phản cảm hơn khi một cổng chính, nằm ở trung tâm trụ sở một cơ quan công quyền lại bị bịt kín, nhiều người không còn nhận ra trụ sở đơn vị hành chính hàng đầu của huyện. Cán bộ và người dân cũng cho rằng núi đá này đem lại quá nhiều rắc rối. Suốt 3 năm qua, việc đi lại của cán bộ và người dân, quan khách đến trụ sở UBND huyện Nghi Xuân làm việc bị ảnh hưởng nặng nề. Do cổng chính đã bị bít nên mọi người muốn vào trụ sở UBND huyện đều phải đi qua một chiếc cổng vốn là cổng phụ trước đây. Khuôn viên vốn đã chật chội, cổng chính bị bịt kín nên quang cảnh trụ sở UBND huyện cũng không ra dáng một cơ quan công quyền. Làm việc với PV Dân trí, một cán bộ tại Ban quản lý các công trình xây dựng cơ bản huyện Nghi Xuân (Ban A) cho hay, do không muốn tình trạng phản cảm, rắc rối kéo dài, mới đây Chủ tịch UBND huyện - ông Đặng Văn Tính - đã chính thức yêu cầu Ban A lập phương án phá bỏ núi đá, khôi phục lại cổng chính sau hơn 3 năm bị bưng bít. Lãnh đạo mới của UBND huyện Nghi Xuân đã lên phương án phá bỏ núi đá, khôi phục lại cổng chính “Chủ tịch huyện đã có ý kiến yêu cầu khôi phục lại cổng chính. Hiện chúng tôi đang lên phương án gỡ bỏ núi đá, sửa sang lại cổng để phục vụ việc đi lại của cán bộ và người dân” - một cán bộ tại Ban A huyện Nghi Xuân cho hay. Đáng chú ý, khi được hỏi, kinh phí gỡ bỏ núi đá, khôi phục lại cổng (có thể lên đến cả trăm triệu đồng) sẽ được lấy từ nguồn nào? Vị cán bộ trên cho hay, không thể có chuyện xã hội hóa như khi dựng núi đá được mà kinh phí lần này sẽ phải trích từ ngân sách. Văn Dũng - Xuân Sinh ============== Chắc chắn đây là Phoengshui Tàu. Còn Phong Thủy Lạc Việt - Trừ trường hợp rất, rất đặc biệt - ai mà trấn núi trước cửa sẽ bị loại khỏi học môn. Hôm qua, có một người - chắc quân sư cho đại gia đến nói với tôi: "Thân chủ mạng Kim, nhà hướng Nam sẽ bị Hỏa khắc Kim, sao thày không trấn hòn núi trước cửa. Núi là Cấn Thổ, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Tôi thấy cần trấn hòn núi trước cửa. Thầy thấy thế nào?". Tôi nghĩ trong bụng: "Thấy không thể nói chuyện với mấy thằng ngu?".Nghĩ xong, tôi hỏi vặn lại: "Vậy nếu mạng thủy thì xuống nước hay leo lên cây ở hả ông? Cây là Mộc, Thủy dưỡng Mộc mà!". Đúng là vớ vẩn.
    1 like
  24. Sư phụ đây sách Tàu cũng bảo Hỏa, nên lúc đầu cũng sợ tắm lắm. Sau này thấy sách Tàu sai, nên đổi Hỏa thành Thủy. Thảo nào cứ tắm là béo ra. Dạo này - do nhu cầu giảm cân - nên ít tắm trở lại. .Có điều là không thấy ai dám lại ngồi gần sư phụ vì có mùi mồ hôi gián.
    1 like
  25. TƯ LIỆU THAM KHẢO ================ Bí ẩn đường đời qua dấu vân tay Vân tay là điểm nhận dạng mỗi người đồng thời cũng có thể cho ta biết về đường đời hay cá tính của bản thân. Vân tay, điểm nhận dạng con người Từ xa xưa, môn tướng học chỉ tay đã phát triển để tiên đoán tương lai cho con người. Tuy nhiên phải đến cuối thế kỉ thứ XIX, khoa học thực sự về dấu vân tay mới được Francis Galton khởi xướng. Các nhà hình pháp học khi đó mới bắt đầu sử dụng vân tay để nhận dạng con người. Theo GS. Tatjana Abaramova, người đứng đầu phòng thí nghiệm nhân học thể thao, hình thái học và di truyền học thuộc Viện nghiên cứu thể lực Nga, các hoa văn trên da ở đầu ngón tay hình thành hoàn chỉnh ở tháng thứ ba đến tháng thứ năm của bào thai và không thay đổi trong suốt cuộc đời. Da và hệ thần kinh trung ương cùng phát triển đồng thời từ một mầm bào thai. Các chuyên gia có thể dựa vào các dấu vân tay để xác định nhiều loại bệnh tật. Ảnh minh họa: Internet. Vì vậy, hoa văn ở đầu ngón tay là chỉ dấu về đặc điểm tổ chức của não người. Không những thế, dấu vân tay được hình thành dưới tác động của hệ thống gen di truyền mà thai nhi được thừa hưởng và tác động của môi trường phát triển vi mô thông qua hệ thống mạch máu và hệ thống thần kinh nối với cơ thể mẹ. Có thể coi vân tay là một bức tranh tổng thể, phản ánh hệ thống gen mà con người được thừa kế và những dấu ấn của môi trường sống mà con người đã trải qua từ khi còn là bào thai. Vì thế, các chuyên gia có thể dựa vào các dấu vân tay để xác định nhiều loại bệnh tật. Các nhà khoa học nước Nga cũng đã nghiên cứu và khẳng định rằng, nhìn vào đường vân tay họ có thể xác định được các phẩm chất trí tuệ, đạo đức của con người và thậm chí còn có thể nhìn ra lĩnh vực mà người đó có thể đạt thành công trong cuộc sống. Các loại vân tay và tính cách Theo Trần Minh, tác giả cuốn “Bí ẩn bàn tay”, vân tay có nhiều kiểu nhưng được chia thành 4 nhóm: hình sóng, hình túp lều, hình sao chổi, và hình xoáy nước. Vân tay hình sóng và hình túp lều. Vân tay hình sao chổi và hình xoáy nước. Nhìn kỹ các đầu ngón tay, bạn có thể để tay dưới ánh đèn nếu khó nhìn. Nếu có từ hai hình sóng trở lên, đường đời của bạn là trách nhiệm. Nếu có từ 2 hình túp lều trở lên, đường đời của bạn là can đảm. Nếu có từ 4 hình xoáy trở lên, đường đời của bạn là giáo viên. Nếu có từ 7 hình sao chổi trở lên, đường đời của bạn là trái tim. Theo đó, người có đường đời trách nhiệm - có từ 2 hình sóng trở lên - luôn chăm chỉ hoàn thành những việc được giao và cả những việc bản thân họ định làm. Những người đi con đường này thường khó yên tâm nếu họ không làm chủ được mình. Họ trở nên mạnh mẽ và khi gặp khó khăn, họ cũng có thể tự tin vượt qua. Những người đi con đường đời trách nhiệm cũng cảm thấy thoải mái khi được hòa mình vào thiên nhiên. Đi bộ ngoài trời hoặc chăm sóc vườn cây là việc làm khiến họ cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện. Những người đi con đường của cảm xúc - có từ 7 hình sao chổi trở lên - thường đặt cả tâm hồn, trái tim vào bất cứ việc gì. Họ thấy hạnh phúc khi được thể hiện cảm xúc và mơ ước của mình nên việc phải che giấu cảm xúc là điều khó khăn đối với họ. Người đi con đường của lòng can đảm - có từ 2 hình túp lều trở lên - là người nhiệt huyết, dám nghĩ dám làm. Họ có khả năng vạch kế hoạch và biến nó thành sự thật. Những người này cũng có khả năng truyền cảm hứng hoặc động viên mọi người. Họ có thể sắp xếp một cuộc họp lớn, tổ chức buổi từ thiện, thậm chí là biểu tình. Con đường của giáo viên - có từ 4 hình xoáy trở lên - là con đường giúp người khác học tập. Họ thường giỏi chia sẻ với người khác những kinh nghiệm học tập hoặc có khả năng viết truyện để gửi gắm thông điệp ý nghĩa. Họ có khả năng đưa ra ý tưởng và chia sẻ với mọi người, thích khi được mọi người chia sẻ và thích khuyên nhủ người khác. Người có nhiều vân tay hình xoáy có thể có chút độc đoán trong quan điểm của họ, nhưng họ là người có tài. Những người xem chỉ tay quan niệm, con người đi theo đường đời là đi theo bản chất tự nhiên, sống theo con người thật của chúng ta. Khi nhận thức được đường đời của chính mình, người ta sẽ thấy được tài năng, khả năng của bản thân. Cuộc sống sẽ trở nên dễ dàng hơn khi người ta biết và đi đúng đường đời của mình. Tiểu Phong
    1 like
  26. TƯ LIỆU THAM KHẢO ================ Gò trên lòng bàn tay nói lên điều gì? Gò của bàn tay là những mô thịt nằm trên các khu vực khác nhau trong lòng bàn tay. Tính cách và thậm chí đặc điểm của cơ thể cũng được thể hiện qua các gò trong lòng bàn tay. Các gò chính nổi trên lòng bàn tay bao gồm: - Gò Mộc Tinh nằm dưới ngón trỏ, tượng trưng cho uy quyền. - Gò Thổ Tinh nằm dưới ngón giữa, tượng trưng cho định mệnh. - Gò Thái Dương nằm dưới ngón đeo nhẫn, tượng trưng cho năng khiếu và tài năng. - Gò Thủy Tinh nằm dưới ngón út, tượng trưng cho sự thông minh và hiểu biết.- Gò Hỏa Tinh âm nằm dưới gò thủy tinh, phần giữa, gần cạnh bàn tay, tượng trưng cho sức chiến đấu. - Gò Thái Âm nằm dưới gò Hỏa Tinh, phần cuối, gần cạnh bàn tay và cổ tay, tượng trưng cho trí tưởng tượng. - Gò Kim Tinh nằm dưới ngón tay cái, tượng trưng cho tình cảm, sức khỏe và cuộc sống của từng người. - Gò Hỏa Tinh dương nằm giữa gò Kim Tinh và Mộc Tinh, tượng trưng cho lòng can đảm và sự tự tin. - Cánh đồng Hỏa Tinh là phần trũng nhất, nằm ở chính giữa của lòng bàn tay, được xem như cái khóa cuối cùng để kiểm soát các gò khác. Theo Xzone/Sưu tầm
    1 like
  27. Bị ngăn cản kết hôn vì không hợp tuổi Tôi tuổi Dần và anh tuổi Hợi. Mẹ tôi và mẹ anh đã ra sức ngăn cản chuyện tôi và anh yêu nhau, rồi đưa ra các dẫn chứng vợ chồng kỵ tuổi lấy nhau, người chồng đã mất khi còn rất trẻ. Tôi đau khổ và bối rối vô cùng. From: Xuân Thu Sent: Thursday, November 25, 2010 2:44 PM Kính gửi các anh chị Ban biên tập mục Tâm sự! Tôi viết câu chuyện của tôi với mong muốn duy nhất là có thể chia sẻ lòng mình cả với những người tôi không hề quen biết dù câu chuyện của tôi có lẽ đã thuộc vào đề tài quá cũ. Hơn 4 năm trước đây tôi đã gặp và nhận lời yêu người yêu tôi bây giờ. Tình cảm của chúng tôi đã trải qua rất nhiều sóng gió với hiểu lầm, không liên lạc và xa cách. Nhưng khi gặp lại nhau vào năm ngoái, cả hai chúng tôi đã quyết định quay lại. Chúng tôi là tình yêu đầu đời trong sáng và đã có rất nhiều kỷ niệm vui buồn, những lúc vượt qua khó khăn luôn ở bên nhau. Giờ đây khi cả hai có công việc ổn định và có thể tiến đến hôn nhân thì tình yêu của chúng tôi cũng đang đi đến lúc bế tắc vô cùng chỉ vì một lý do duy nhất: tôi và anh kỵ tuổi nhau. Tôi tuổi Dần và anh tuổi Hợi. Mẹ tôi và mẹ anh đã ra sức ngăn cản chuyện tôi và anh yêu nhau, rồi đưa ra các dẫn chứng vợ chồng kỵ tuổi lấy nhau, người chồng đã mất khi còn rất trẻ. Đọc đến đây có thể rất nhiều người sẽ nói rằng thời buổi nào rồi mà còn coi trọng chuyện tuổi tác trong hôn nhân. Nhưng có thể các anh chị nằm trong số ít không coi trọng chuyện này. Trong khi đó người Việt Nam rất xem trọng chuyện tuổi tác trong hôn nhân. Nếu lấy nhau trong sự ngăn cản quyết liệt của gia đình 2 bên hẳn tôi và anh đều sẽ không thực sự hạnh phúc. Tôi có thể khẳng định chúng tôi yêu nhau rất nhiều và tình yêu đã đủ lớn, đã được thời gian chứng minh. Nhưng tôi cũng không hiểu sao giờ đây tôi đang quyết định không liên lạc với anh để chúng tôi suy nghĩ lại chuyện này. Tôi có cảm nhận rằng tình yêu của tôi sắp ra đi. Tôi đau khổ và bối rối vô cùng. Các anh chị ai đã có kinh nghiệm giải quyết vấn đề này xin hãy chia sẻ cùng tôi. Hiện tại tôi cảm thấy hụt hẫng trong lòng. Rất mong Ban biên tập đăng bài viết này của tôi để tôi có thể tìm ra hướng đi đúng đắn cho bản thân mình. Chân thành cảm ơn anh chị! Thu http://vnexpress.net/GL/Ban-doc-viet/Tam-s...10/11/3BA237EF/ Hai mối tình của tôi đều tan vỡ vì không hợp tuổi Khi cô ấy nghe nói không hợp như vậy thì tinh thần yêu đương tan biến đi đâu mất và xoay 180 độ. Cô ấy nói thôi mình chỉ có duyên phận tới đó, dừng lại là đúng mức rồi. Tôi nghe mà không tin vào tai mình nữa. (Hung) Xem tiếp : http://vnexpress.net/GL/Ban-doc-viet/Tam-s...10/12/3BA23EAB/ Đau khổ khôn nguôi sau mối tình kỵ tuổi Phải chia tay anh, tôi hụt hẫng, đau khổ, mất niềm tin. Hơn một năm đầu tiên tôi đã đi tìm anh, nấp ở một góc nào đó để đợi anh đi làm về, để thấy bóng dáng anh cho đỡ nhớ, cho đến ngày anh có người khác thì tôi không còn đến tìm anh nữa. (Hien) Xem tiếp : http://vnexpress.net/GL/Ban-doc-viet/Tam-s...10/12/3BA23E2C/ -------------------------------------- Bài trả lời của TTNC Lý Học Đông Phương Kính gửi ban biên tập mục Tâm sự và quý bạn đọc, Mấy hôm nay chúng tôi theo dõi mục tâm sự và cảm thấy khá bức xúc vì các vấn đề về tuổi hợp hay không hợp trong hôn nhân. Là những người đã và đang nghiên cứu văn hóa truyền thống, nghiên cứu hệ thống lý học Phương Đông nên chúng tôi cũng muốn có đôi lời chia sẻ với quý bạn đọc.Chúng tôi viết bài này nhằm cung cấp cho quý vị quan tâm một cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề tuổi và tương tác tuổi trong mối quan hệ nam nữ. Trong truyền thống văn hóa Á Đông, lúc cưới vợ gả chồng thì những người có tuổi trong gia đình đều quan tâm đến vấn đề luận tuổi. Nhưng qua thời gian cũng như thăng trầm của lịch sử, ngày nay, việc luận tuổi đã bi thất truyền dẫn tới những quan niệm chưa chính xác, lệch lạc và trở thành một nỗi lo sợ vô lý cho các cặp trai gái yêu nhau muốn tiến đến hôn nhân. Và cũng qua cả ngàn năm nay, sự thất truyền, tam sao thất bản đã dẫn đến những phương pháp luận tuổi không đầu không đuôi, gây ra những cảnh dở khóc dở cười, chia ly vô cớ và đầy nước mắt của những đôi yêu nhau. Phương pháp phổ biến hiện nay đa số các “thầy” xem tuổi đều áp dụng phương pháp cung phy. Có 8 cung phi cho nam (Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn) và 8 cung phi tương tự cho nữ, kết hợp lại sẽ cho ra 64 trường hợp, hay còn gọi là 64 cặp tương tác (Càn – Đoài, Càn – Khảm, Đoài – Ly, Cấn – Tốn…), và kết quả của 64 cặp sẽ tương ứng với các chữ : Sinh Khí – Diên Niên – Phúc Đức – Phục Vị - Ngũ Quỷ - Tuyệt Mạng – Lục Sát – Họa Hại. Như vậy chỉ có 64 trường hợp tương tác tuổi. Chúng ta thử làm phép tính nhỏ, với nhân loại mấy tỷ người mà chỉ có 64 trường hợp để xem tốt xấu thì xác xuất giống nhau là rất lớn. Cứ 64 cặp thì có 1 cặp giống nhau. Có thể thấy rằng đây là điều thiếu logic. Ngoài ra, còn có phương pháp ít phổ biến hơn, đó là phương pháp Cao Ly Đồ Hình. Phương pháp này lấy 10 thiên can theo tuổi nam phối 12 địa chi theo tuổi nữ, sau đó sẽ có 1 bảng phân loại và định tuổi cát-hung. Nếu ta lấy 6 tỷ người trên thế giới và giả định có 1 tỷ cặp vợ chồng với trung bình có 4 con một cặp (ứng với 6 tỷ), đem chia cho 120 trường hợp thì ta sẽ có: 1000. 000. 000: 120 = Gần 8.300.000 triệu cặp vợ chồng có chung một hoàn cảnh. Chỉ cần 3/ 10 trong số 120 trường hợp phối cung đó chia ly hoặc chết thì ta sẽ có 8.300.000 x 36 = 298. 800. 000 cặp vợ chồng ly tan. Và hơn 1 tỷ trẻ em mồ côi trên thế gian này. Phổ biến nhất hiện nay là tình trạng trong dân gian vẫn lưu giữ và truyền miệng những câu như “Dần Thân Tỵ Hợi” “Tý Ngọ Mão Dậu” “Thìn Tuất Sửu Mùi” là Tứ hành xung, hoặc “Canh cô Mậu Quả”, “gái tuổi Dần”, nhưng người ta quên rằng đằng sau những câu trên là cả 1 hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh các mối quan hệ của Thiên can, Địa chi, mạng. Qua các phương pháp trên, các bạn cũng có thể nhận thấy thiếu sự hợp lý và khập khiễng trong phương pháp luận tuổi. Nhưng đáng tiếc là sự coi tuổi khập khiểng này đã tồn tại trên thực tế và ăn vào tiềm thức của các bậc ông bà cha mẹ, làm họ tin một cách mù quáng. Các phương pháp coi tuổi vợ chồng khập khiễng trên từ những vị thầy nửa mùa, chẳng hiểu thấu lý, nên vô tình đã để lứa đôi tan nát. Để thay đổi những quan niệm sai lầm trên, chúng tôi cần thấy phải có một phương pháp hoàn chỉnh, logic, nhằm giúp cho những đôi lứa yêu nhau đến được với nhau. Chính vì vậy chúng tôi, những người làm công việc nghiên cứu tại trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương đã tổng hợp, nghiên cứu và kiểm nghiệm để có được một phương pháp luận tuổi đúng đắn, hợp lý và mang tính khái quát cao nhất. Phương pháp này chúng tôi đặt tên là “Luận Tuổi Lạc Việt” với sự điều chỉnh mạng Thủy – Hỏa trong Lạc Thư Hoa Giáp so với Lục Thập Hoa Giáp của Trung Quốc nhằm chứng mính cách so tuổi vợ chồng còn sót lại trong dân gian hiện nay chỉ là những mảnh vụn rời rạc, không hoàn chỉnh dẫn đến những sai lầm tai hại. “Không có tuổi vợ chồng xấu trong tình yêu đôi lứa đích thực” và “yêu nhau cứ lấy” là quan điểm của chúng tôi. Ngoài ra, tương quan vợ chồng chỉ là những điều kiện ban đầu, khi gia đình có con thì tương quan này sẽ thay đổi tốt hoặc xấu phụ thuộc vào tuổi đứa con có hợp với cha mẹ hay không, đặc biệt là con út! Ông bà ta có câu “giàu con út, khó con út” Theo phương pháp này, tương tác giữa người với người xảy ra ở cả 3 yếu tố Thiên can, Địa chi và Mạng thông qua mối quan hệ về ngũ hành sinh khắc và nguyên lý âm dương. Như vậy, để dể hình dùng, ta có thể làm phép tính như sau : 60 tuổi nam phối 60 tuổi nữ, cùng với tuổi của 60 đứa con út có khả năng sinh ra theo tương quan tuổi vợ chồng, Tức là ta sẽ có: 60 x 60 x 60 = 216.000 trường hợp khác nhau. Xác xuất để tinh toán cao hơn nhiều lần so với các phương pháp trên. Ở đây, chúng tôi chưa nói đến các cách cục tốt trong việc phối tuổi vợ chồng và con cái trong gia đình. Nhưng vấn đề không dừng lại ở những con số khô khan và phương pháp lạnh lùng. Phương pháp “Luận tuổi Lạc Việt” còn có tính nhân bản ở chỗ là nó khẳng định một cách hợp lý theo thuyết Âm Dương Ngũ hành về tình yêu nam nữ -"Yêu nhau cứ lấy" và sinh đứa con chính là nguồn hạnh phúc gia đình, dù tuổi cha mẹ có khắc nhau đi chăng nữa. Và một vấn đề chúng tôi cũng muốn chia sẻ với quý bạn đọc, đó là “tuổi tác” là một trong những điều kiện tương tác mang tính căn bản ảnh hưởng đến một hoặc nhiều mối quan hệ giữa người với người, chứ không có nghĩa tuổi tác sẽ quyết định mọi thứ diễn ra xung quanh bạn. Có rất nhiều các yếu tố khác ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi các nhân, mỗi gia đình như : hoàn cảnh gia đình, công việc, thu nhập, tính cách cá nhân… Chính vì vậy khi gặp các vấn đề nan giải trong cuộc sống, các bạn không nên quy hết vào lý do… không hợp tuổi, để rồi có những đáng tiếc xảy ra và xã hội lại tiếp tục duy trì những quan niệm không chính xác về việc xem xét tương quan tuổi giữa người với người! Xin chân thành cám ơn quý báo và quý bạn đọc. Thiên Luân Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương.
    1 like
  28. Trước tiên xin kính chào các quý ông quý bà cùng toàn thể quý cô chiêu và quý cậu ấm. Hiện nay, mục Tử vi luận giải này rất đông khách, đại bộ phận khách khứa là quý cậu ấm và quý cô chiêu, mới 19 đôi mươi nên còn nhiều sự đời chưa hiểu, thiết tưởng mình đỗ đại học đã là nhớn, biết Hun đã là khôn nhưng khi lạc vào thế giới tiên đoán thì đúng là một kiến thức mới. Hiện nay, theo như tôi quan sát, hầu hết các anh chị, cô bác luận giải ở diễn đàn đều dùng từ ngữ tân thời, rất ít từ ngữ cổ hoặc cũ. Nhưng xem ra nhiều người Trẻ không hiểu và nhiều người xấu số (lá số không đẹp như ý) hay hỏi đi hỏi lại, người này trả lời không ưng thì tưng tưng chạy qua hỏi người khác. Giá mà khi đi học mà chăm chỉ chịu khó như thế thì tốt cho nước nhà quá. Vì vậy tôi xin mạn phép mở ra mục này để các cô bác, anh chị luận giải lá số đóng góp các kiến giải vào đây để các quý ông bà, quý cô ấm cậu chiêu đọc hiểu một vài vấn đề cơ bản. Với các quý vị nhờ bình giải lá số thì chỉ nên đọc hiểu chứ đừng View như người Anh. Bởi quý vị viết vài dòng cảm xúc vào đây thì sẽ có nhiều điều không cần thiết. Nếu thấy nhất thiết phải viết thì nên đọc kỹ trước khi đặt tay gõ phím hỏi về vấn đề mình chưa hiểu. Rào trước, Chắn sau như vậy thiết nghĩ cũng đã cạn lẽ. Xin phép quý vị cho tôi vào thẳng vấn đề cần vào như sau: 1/ Không còn là trinh nữ trước khi động phòng hoa trúc: Việc này không nhất thiết cứ phải là quan hệ với người ngoài rồi mới lấy chồng. Hoàn toàn có thể quan hệ với người chồng trước khi cưới và đăng ký kết hôn. 2/ Phải lập gia đình muộn mới tránh được hình khắc chia ly: Muộn là từ tầm 30 tuổi trở đi, Sớm là từ 24 tuổi trở về trước, Trung bình là tự hiểu. 3/ Giải pháp để tránh hình khắc ly dị: muộn lập gia đình, làm lẽ, cưới hỏi dở dang người này rồi lấy người khác, cưới đi và cưới lại 4/ Cưới đi và cưới lại: Là việc hi hữu, ví như vì ở xa nhau nên phải tổ chức cưới ở 2 nơi, bái gia tiên 2 lần, hoặc cưới chui trước khi cưới thật, tức là ra phường làm đăng ký kết hôn hoặc lấy được giấy đăng ký kết hôn rồi về nhà làm lễ bái gia tiên ở 1 trong 2 họ, Hiện nay thiên hạ rất chuộng cái vụ cưới đi rồi cô dâu lẳng lặng bỏ về nhà đẻ, sau đó chú rể mới lóc cóc đi đón dâu về lần nữa. Để gọi là qua 2 lần đò đểu. Vì là đò đểu nên chẳng có gì đảm bảo cái sự giả dối cố ý được biện hộ là chữa mẹo với chẳng méo này có tác dụng gì cả. Chồng 5 thê 7 thiếp vẫn cứ diễn ra, vợ thì có cả bộ sưu tập người tình thì vẫn chẳng tránh khỏi. Thế thì chọn giờ lành tháng tốt làm gì hay tại thầy bói dốt? 5/ Kim lâu đối với nữ nên không được lấy chồng: 1 lần ân ái cũng nên vợ chồng, nếu nói dại chỉ 1 lần nghịch dại mà có thai, vậy lúc nghịch dại ấy ai xem ngày xem giờ cho? Yêu thì Cưới, đó là nét văn hóa của dân tộc Việt, "Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên?", "Ngày xưa ai cấm duyên bà, mà nay bà già bà cấm duyên tôi?", "Hùng Vương kén rể thời nay: Xe bốn bánh, Cánh 2 bên, Lên thang máy (nhà biệt thự cao hơn 5 tầng phải đi thang máy chứ ko phải loại trung cư vớ vỉn) Như vậy Kim lâu hay không, không quan trọng trong việc cưới chồng, bởi nếu quan trọng thế thì sao lúc đẻ con ko tính chuyện kim lâu, chồng thì chỉ sống được vài chục năm cùng mình (lâu hơn cha mẹ mình) nhưng thường thì chồng không sống lâu hơn con mình (Ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con cái). Vậy rõ ràng cái chuyện trăm năm kia là sống với con, con cái lo ma chay - hiếu hỉ cho cha mẹ, quan trọng thế sao không Kiêng? hay sướng quá nên quên mất việc kiêng cữ? 6/ Cải số: Quả có vài trường hợp lá số phán Tử vong, đương số quả nhiên có nhìn thấy Quỷ Môn Quan. Nhưng được cứu giải. Nên không phải xuống mười mấy tầng địa ngục an dưỡng. Đó là những trường hợp hi hữu và không phải tất cả những người có cùng ngày, cùng tháng, cùng năm đó đều được cứu giải như thế. Mình không chết thì người khác chết, số trời đã định ngày hôm đó Tử thần với lưỡi hái Đầu lâu phải gom đủ 3000 đầu lâu vào cái túi đen ngòm, nếu không đủ thì bị phạt, không nhẽ cái lão Sư cọ mốc với lưỡi hái dài ngoằng đó nhận hối lộ của quý vị để giết người khác thế thân cho quý vị hoài? Rõ là không rồi. Như vậy việc cải số cũng giống như việc thi Hoa hậu thế giới vậy, cả năm chỉ có 1 người đăng quang ngôi vị cao nhất mà thôi. Chứ cải được số thì sao không làm cho lá số đẹp cả 12 cung số luôn đi, chỉ cải mỗi cái cung Phu Thê hay Tử tức xấu hoắc để làm gì? vậy cung này tốt lên thì cung nào sẽ xấu đi đây? Tử vi không phải là cái để mọi người xoay chuyển càn khôn mà chỉ để con người nhìn vào đó để chuẩn bị tâm lý cũng như cách ứng xử sao cho tốt nhất trong hoàn cảnh đó mà thôi. Nhưng không có nghĩa là khoanh tay chịu trói, Tức biết được tháng này mình bị mất tiền có thể do bị cướp hoặc bị vay đểu. Thì mình phải tự đưa ra đối xách là cướp thì phải truy hô, vay đểu thì chỉ cho vay ít thôi. 7/ Giầu có đừng vội mừng, nghèo khó đừng vội lo: Biết số mình nghèo, bon chen cũng chẳng lợi gì thì đừng lấy đó làm buồn, mà hãy nghĩ đến việc mình sống có hạnh phúc không, người ta giầu có mà con cái ăn tàn phá hại thì có hạnh phúc không? kiếm tiền nhiều để vợ chồng nem chả mà vẫn chung giường, con cái hút sách mà vẫn đi du học thì khi về già có sướng không? Giầu mà không sang chẳng bằng nghèo khó mà đứng đắn. Sống ở trên đời, cần có 1 cái tâm cùng với cái tầm chứ không phải tiền bạc và địa vị. 8/ Tuổi còn trẻ quá (dưới 25) thì không nên tìm hiểu quá sâu về tương lai xa: Tầm tuổi này chỉ nên biết tương lai gần trong 5 năm tới chứ đừng tham lam mà hỏi thông cả đến lúc vào hòm. Cuộc đời này chỉ có 18% là những điều tuyệt vời, với 2% may mắn, còn lại có đến 80% những điều không may. Vì thế hầu hết xem số nói về điềm gở nhiều và dễ hơn điềm lành. Nhưng với số lượng điềm lành nhỏ bé ấy lại làm lên cả 1 kỳ tích về cuộc sống con người. Vì vậy, hãy nhìn gần để dễ làm, đừng nhìn xa quá mà thêm mệt mỏi. 9/ Tỷ phú tại Thiên, Triệu phú nhờ tích góp, đổi giờ sinh để làm gì?: Giầu không phô, nghèo không xấu hổ. Nếu đã biết số mình nghèo thì cố mà tích góp, để một mai mưa gió đau ốm còn có cái dùng, chứ nợ nần là tự mình bán danh dự của mình đi rồi. Bởi nhỡ một mai chết đi, gánh nợ đó đổ lên đầu ai nếu ko phải là người thân ruột thịt trong nhà? Vì vậy dù giầu hay nghèo thì cũng nên khiếm tốn. Đừng xừng sực đổi giờ sinh, ngày sinh. Nếu đã không biết thì cần làm rõ trước, khi đăng tin lên cần kiểm tra lại kẻo đến lúc người giải đã luận giải cả tràng rất dài rồi mà cuối cùng là sai giờ sinh. Nếu quý vị đi xem mất phí, sẽ có bao nhiêu người nhìn quý vị? người ta đang xếp hàng chờ đến lượt mà lại bị 1 kẻ lãng nhách xếp trước. Như thế là không lịch sự. Đổi giờ sinh, chắc gì đã có lá số tốt hơn 10/ Vợ chồng có ngày xa cách: Xa cách không có nghĩa là ly dị, nhưng lại có ý nghĩa là chia ly tạm thời. vì dận nhau hoặc vì công tác, không thể luận giải chính xác được là vì sao. 11/ Bị làm sao đó: Làm sao là làm sao thì có nhiều trường hợp, nhưng tựu chung là muốn biết nguyên nhân và kết quả, Tử vi không thể chỉ rõ được vấn đề, ví như đụng xe hay đâm xe? đụng thì chỉ là va quệt nhẹ, còn đâm xe thì nặng rồi. Nhưng ai đâm ai và xe đâm là xe gì thì chịu nhé, chỉ có Chúa mới biết nó là cái gì và như thế nào. Khoa học cũng như Tử vi không bao giờ trả lời Tại sao mà chỉ giải thích như thế nào. Đừng hỏi tại sao con người lại sinh ra trên trái đất này mà không phải là ở 1 Ngôi sao cô đơn nào đó trong vũ trụ. Không ai và không bao giờ bạn có câu trả lời. 12/ Sao này và sao kia: Nếu quý vị chưa thông tường hoặc chưa thuộc được ý nghĩa cũng như sự phối kết hợp giữa các sao thì không nên đưa ra những câu hỏi về các vì tinh tú này để tránh chuyện tranh cãi nhiều hơn là trao đổi học thuật. Người luận giải thực sự không có hứng thú đàm đạo với quý vị về vấn đề này (hầu hết là thế) 13/ Học giỏi không đồng nghĩa với giầu có và ngược lại: Cuộc đời là thế đó, quý vị có 1 quá khứ học hành siêu việt, nhưng chẳng có gì đảm bảo là quý vị có 1 tương lai sáng về tiền bạc cả. Tiền và Tài không phải lúc nào cũng song hành với nhau Ngày hôm nay có thu nhập cao thì đừng vội mừng, bao giờ nghỉ hưu ở tuổi 60 thì hãy phán xét việc bói toán là trò nhảm nhí. 14/ Giầu nứt đố đổ vách mà không bền: Ai cũng có 1 thời kỳ 10 năm phát đạt, nhưng không phải cả 10 năm đều phát mà có năm được năm hòa. Nhưng tổng kết là tốt và rất tốt. Cái ngưỡng 10 năm tốt đó nó thể hiện ở con số dưới đáy và ở giữa mỗi cung số. Quý vị có thể xác định được cho mình ở khoảng tuổi nào, ví như Mệnh là số 3 và khoảng thời gian tốt nhất cho mọi vấn đề của cuộc sống có thể là từ 23 đến 32 tuổi bởi cung kế tiếp là cung 33, nếu vận hạn tốt ở cung 43 thì thời kỳ tốt đẹp đó là từ 43 đến 52 tuổi. v.v... Đời người thường chi có 1 thời ký 10 năm này thôi, thường thì chỉ có một vài trường hợp đắc cách mới có 2 vận tốt, có thể là ở cung 33 và cung 53 tuổi, tức cung 43 tuổi ko tốt hoặc hơi xấu so với bình thường. 15/ Mất điện thoại có tìm lại được không? hay các câu hỏi đại loại như thế: Vậy mất người yêu có lấy lại được không? đâu cần bói toán gì cũng đoán được mà. Rất ít trường hợp Tử vi có thể đoán được, nên đi tìm các phương pháp tiên đoán khác thì hơn. Mong các quý vị giải số tiếp phím
    1 like
  29. Đúng là cháu đã phạm sai lầm quá lớn --- Là ko đọc bài của Bác Hoctro trước khi nhờ Tư Vấn Tử Vi Cháu mới 21 , có lẽ ko nên biết nhiều về lá số , cứ xông pha mà chinh chiến , đạp đầu sóng ngọn gió , biết đc tương lai có lẽ chỉ càng làm phiền nào thôi Sau đây cháu xin mạn phép bổ sung thêm vài điều ạ : ( có gì ko phải mong bác lượng thứ ) 16/ Dù là lá số tốt hay xấu , đối với bản thân mà ko làm việc Quang minh chính đại , ko hành thiện tích đức, tu tâm dưỡng tánh , lấy đức năng mà thắng số thì dù có đẹp đến mấy cũng phí của trời ban . Tuổi càng trẻ thì càng phải rèn luyện đạo đức , có nghị lực vươn lên , ko ngại gian khổ khó khăn , dù công việc có trả lương thấp đến đâu -- vẫn tận tâm , tâm huyết với nghề thì cũng có ngày " Nghề " báo đáp cho mình . Đối với cha mẹ , dù con cái mình có lá số tốt đến đâu hay xấu vô cùng , miễn là chúng ta nuôi dạy con cái cho tốt , đừng li dị bỏ nhau làm khổ con cái vì con cái là Tài sản để dành của cha mẹ , nên có phương pháp dạy dỗ con cái 1 cách hợp lý --- Đừng quá bảo thủ cứ nghĩ cách mình làm cho con là tốt , là đúng , mai sau nó sẽ thành đạt ---------> điều đó là sai lầm khi ta bỏ quên mất : trẻ con cần gì và đang suy nghĩ cái gì ----- > đây là suy nghĩ ở khía cạnh khác , còn đương nhiên chuyện dạy con đạo nghĩa , học hành làm người là chuyện bậc cha mẹ nào cũng Phải làm . ( đây là những lời thật lòng của cháu -- chứ ko phải lên lớp , hay dạy bảo ai ) 17 / điều 12 của bác Học trò nói cũng rất có lý , Tử Vi là môn khoa học thực nghiệm , là giải đoán = giải + đoán , giải thì có hàng ngàn cách giả đoán thì có hàng ngàn cách đoán thì Thời gian là nhân chứng lịch sử trung thành và đáng tin cậy nhất . Nếu 1 đương số nhờ xem tử vi rồi lại ko đồng tình , phản bác , ( sao này sao kia ) với cách người tư vấn xem cho ----- > Thì tốt hơn hết nên nhờ người khác xem hoặc sang diễn đàn khác tránh cãi cọ mất hòa khí . ( mỗi thầy có 1 cách riêng để xem , mà xem tử vi để tương lai quyết định , mà ai dám khẳng định thầy xem tử vi xem sai hay đúng đâu --- nói chung ko tin thì thôi ) Trời còn có lúc nhầm lẫn , huống chi gì chúng ta chỉ là con người .
    1 like
  30. Các thành viên trong diễn đàn Lý Học Đông Phương thân mến, " Tử Vi Lạc Việt là hệ quả của công trình nghiên cứu xác định một nguyên lý căn để của Lý học Đông phương là: Hậu Thiên lạc Việt phối Hà Đồ và xác định tính hợp lý từ nguyên lý căn để này của Lạc Thư Hoa giáp" Tử vi Lạc Việt cơ bản khác với tất cả các diễn đàn khác ở chỗ đổi Thủy-Hỏa, vòng Tràng sinh và vị trí an Khôi Việt trên một vài lá số. Điều này gây bỡ ngỡ cho không ít các thành viên mới tham gia trên diễn đàn, từ đó vội vàng kết luận là Trình tử vi Lạc Việt sai và phản ứng của nhiều người có phần không tích cực. Bởi vậy TM xin mở ra topic này với mong muốn lý giải các thắc mắc của nhiều người về sự khác biệt này. Nếu thành viên nào có băn khoăn, trước tiên xin vui lòng đọc và tìm hiểu kỹ trước khi nêu ra câu hỏi hay phản biện lại. Diễn đàn rất chào mừng các bạn có ham muốn tìm hiểu, tư vấn, đóng góp và trao đổi kiến thức. Cảm ơn các bạn vì đã quan tâm. Dưới đây là một vài trích đoạn trong sách của thầy Thiên Sứ và kèm theo đường link các cuốn sách với các bạn muốn tìm hiểu sâu thêm: Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương - Nhà xuất bản tổng hợp TP.HCM Tiên quyết: Hà đồ chính là cơ sở của Hậu thiên bát quái Lạc Việt. Xét về nội dung bản văn thì chỉ duy nhất cuốn Chu Dịch nói về sự ứng dụng khởi nguyên của Hà đồ. Bạn đọc quán xét đồ hình dưới đây: Qua đồ hình trên – tạm thời để sang một bên những vấn đề liên quan đến vị trí Tốn & Khôn (Đã chứng minh trong cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” và tiếp tục chứng minh trong cuốn sách này) – quan tâm cũng nhận thấy một sự trùng khớp hoàn toàn cho 4 phương vị chính Đông – Tây – Nam – Bắc là: * Khảm Thủy / Chính Bắc trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái nằm ở độ số 1 chính Bắc / Thủy của Hà đồ (Hiện tượng này cũng trùng khớp khi Hậu thiên bát quái Văn Vương liên hệ Lạc thư, theo cổ thư chữ Hán). * Chấn Mộc / Chính Đông trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái nằm ở độ số 3 chính Đông / Mộc của Hà đồ (Hiện tượng này cũng trùng khớp khi Hậu thiên bát quái Văn Vương liên hệ Lạc thư, theo cổ thư chữ Hán). * Đoài Kim / Chính Tây trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái Lạc Việt nằm ở độ số 9 chính Tây / Kim của Hà đồ. Trong cổ thư chữ Hán thì Đoài kim nằm ở cung số 7 là độ số thuộc Hỏa của Lạc thư . Hỏa khắc Kim . * Ly Hỏa / Chính Nam trong ứng dụng của Hậu thiên bát quái Lạc Việt nằm ở độ số 7 chính Nam / Hỏa của Hà đồ. Trong cổ thư chữ Hán thì Ly/ Hỏa nằm ở cung số 9 thuộc Kim của Lạc thư. Hỏa khắc Kim Tính chất Ngũ hành của hai phương vị chính trong Hậu thiên Lạc Việt với Hà đồ không đổi so với Hậu thiên bát quái Văn Vương liên hệ với Lạc thư theo cổ thư chữ Hán là Khảm - Thủy Bắc và Chấn - Mộc Đông. Nhưng tính hợp lý và nhất quán hoàn toàn với 4 chính quái trên lại chỉ có ở Hà đồ liên hệ với Hậu thiên bát quái Lạc Việt là: * Khảm Thủy - Bắc nằm ở chính vị cung Dương Thủy Bắc, độ số 1 của Hà đồ . * Chấn Mộc - Đông nằm chính vị cung Dương Mộc Đông, độ số 3 của Hà đồ . * Ly Hỏa - Nam, nằm ở chính vị cung Dương Hỏa Nam, độ số 7 của Hà đồ . * Đoài Kim – Tây, nằm ở chính vị cung Kim Tây của Hà đồ. Như vậy, chỉ có Hà đồ liên hệ với Hậu thiên bát quái Lạc Việt – mới chứng tỏ sự trùng khớp một cách hợp lý, nhất quán với mối liên hệ thực tế của sự khởi nguyên nền Lý học Đông phương trong Chu Dịch. Tính hợp lý trùng khớp hoàn toàn này đã phủ nhận mối liên hệ giữa Hậu thiên Văn Vương với Lạc thư theo cổ thư chữ Hán. Sự kết hợp của Hà đồ với Hậu thiên bát quái Lạc Việt, chính là chìa khóa rất quan yếu để mở kho tàng văn hóa Đông phương đầy huyễn ảo một cách kỳ vĩ, khi bụi thời gian phủ dầy lên nền văn hiến một thời vàng son của người Lạc Việt. Trích dẫn 1: Hà đồ và nguyên lý cấu thành Hoa Giáp I. Hà đồ và nguyên lý nghịch trong cấu thành Lạc thư hoa Giáp từ cổ thư chữ Hán Trước hết, chúng ta xét đến độ số được sử dụng trong “Tinh lịch khảo nguyên”. Tinh lịch khảo nguyên viết: Trong 49 giảm bớt đi, số thừa đủ 10 trở đi dư 1, 6 là Thủy; dư 2, 7 là Hỏa; dư 3, 8 là Mộc; dư 4, 9 là Kim; dư 5,10 là Thổ, đều dùng chỗ Ngũ hành sinh làm nạp âm, như thế thì giống với Hà đồ. Lại như phép đếm cỏ thi dùng sách thừa để định cơ (lẻ) ngẫu (chẵn), như thế dùng số thừa để định Ngũ hành, lý đó đúng và hợp nhau vậy. Như Giáp là 9, Tí là 9; Ất là 8, Sửu là 8, tổng cộng là 34, lấy 49 trừ cho 34 dư ra 15, bỏ 10 không dùng, lấy 5 là Thổ mà Thổ sinh Kim, vì vậy đặt là Kim. Bính Dần, Đinh Mão hợp số là 26, lấy 49 trừ cho 26 dư ra 23, bỏ 20 không dùng, lấy 3 là Mộc mà Mộc sinh Hỏa, vì vậy đặt là Hỏa. Mậu Thìn, Kỷ Tỵ hợp số là 23, lấy 49 trừ cho 23 dư ra 26, bỏ 20 không dùng, lấy 6 là Thủy mà Thủy sinh Mộc, vì vậy đặt là Mộc. Canh Ngọ, Tân Mùi hợp số là 32, lấy 49 trừ đi cho 32 dư ra 17, bỏ 10 không dùng, lấy 7 là Hỏa mà Hỏa sinh Thổ, vì vậy đặt là Thổ. Ngoài ra phỏng theo như thế”. Đây chính là số của Hà đồ và Tinh lịch khảo nguyên cũng công nhận điều này (Phần in đậm). Vì số Hà đồ mang tính qui luật thể hiện sự vận động của ngũ tinh cho nên sự trùng khớp này chứng tỏ bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán cũng phải dựa trên một nguyên tắc hoặc qui luật có liên hệ với Hà đồ. Về tính qui luật và nguyên tắc trong bảng lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán, người viết trình bày và minh chứng như sau: Bắt đầu từ:1. Hành Kim Giáp Tí-Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim sinh (Mạnh); cách 8 năm (Cách bát sinh tử) đến Nhâm Thân-Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim vương (Trọng); cách 8 năm đến Canh Thìn-Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim: Kim mộ (Quý).Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của Kim - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Hỏa là: 2. Hành Hỏa Mậu Tí - Kỷ Sửu = Tích Lịch Hỏa (Sinh); cách 8 năm đến:Bính Thân - Đinh Dậu = Sơn hạ Hỏa (Vượng); cách 8 năm đến: Giáp Thìn - Ất Tỵ= Phúc Đăng Hỏa (Mộ).Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Hỏa - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc là: 3. Hành Mộc Nhâm Tí-Quý Sửu = Tang đố Mộc (Sinh); cách 8 năm đến Canh Thân-Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc (Vượng); cách 8 năm đến Mậu Thìn-Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc (Mộ).Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Mộc - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thủy là: 4. Hành Thuỷ Bính Tí-Đinh Sửu = Giáng hạ Thủy (Sinh); cách 8 năm đến: Giáp Thân-Ất Dậu =Tuyền trung Thủy (Vượng); cách 8 năm đến:Nhâm Thìn-Quý Tỵ = Trường Lưu Thủy(Mộ). Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Thủy - tổng số là 24 năm; nghịch theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ là: 5. Hành Thổ Canh Tí-Tân Sửu = Bích thượng Thổ (Sinh); cách 8 năm đến: Mậu Thân-Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ (Vượng); cách 8 năm đến: Bính Thìn-Đinh Tỵ = Sa trung Thổ (Mộ).Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thổ - tổng số là 24 năm. Qui luật cách bát sinh tử và Sinh Vượng Mộ - được lặp lại với nguyên tắc nghịch chiều kim đồng hồ trên Hà đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết 60 năm của một hoa giáp. Xin bạn đọc xem hình sau đây: Nguyên lý nạp âm Lục thập hoa giáp trong cổ thư chữ Hán Như vậy, người viết đã chứng tỏ một tính quy luật và nguyên lý trong việc sắp xếp nạp âm 60 hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán, liên quan đến Hà đồ. Mặc dù đây là một nguyên lý sai. Nhưng chính tính qui luật nghịch chiều của nguyên lý này đã làm nên sự trùng khớp về độ số với Hà đồ của bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán mà Tinh lịch khảo nguyên nói tới; và sự trùng khớp về Ngũ hành giữa Ngũ Âm (Mang qui luật Ngũ hành) và hành khí của nạp âm trong Lục thập hoa giáp mà Chu Hy nói tới.Tính qui luật là một trong những yếu tố cần của một lý thuyết khoa học. Nhưng đó lại chưa phải là yếu tố đủ và quyết định. Sự sai lầm của tính qui luật chủ quan trong nguyên tắc này trong việc lập thành bảng 60 hoa giáp từ cổ thư chữ Hán thể hiện ở những điểm sau đây: 1. Hà đồ là một đồ hình biểu lý cho sự tương tác của vũ trụ với Địa cầu theo chiều thuận kim đồng hồ (Sự vận động của các thiên thể theo chiều nghịch. Đây chính là biểu lý của Lạc thư =Dương: Biểu lý cho vật thể/ thiên thể = Âm. Hà đồ = Âm: Biểu lý cho sự tương tác theo chiều thuận: Dương). Do đó, không thể căn cứ trên đồ hình căn nguyên của nó mà lại đi theo chiều ngược với chính nguyên lý của nó. 2. Chính vì sai lầm của nguyên tắc ngược chiều kim đồng hồ trên Hà đồ, nên qui luật cách bát sinh tử chỉ thể hiện giới hạn trong chính hành đó (Sinh - Vượng - Mộ) mà không thể hiện được ở các hành tiếp nối. Thí dụ: Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Kim thì đáng lẽ phải là hành Thủy (Con do Kim sinh; Kim sinh Thuỷ) thì trong bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán lại là hành Hỏa? Nhưng có thể nói rằng: Ngay chính cả cái nguyên tắc sai này cũng không được phát hiện trong cổ thư chữ Hán cho đến tận bây giờ. Những phương pháp tính toán trong Tinh lịch khảo nguyên mới chỉ có tính tiếp cận với độ số Hà đồ mà thôi. Chính những sai lệch này đã đẩy nền văn minh Đông phương trở thành huyền bí, khi mà những nguyên lý của một siêu lý thuyết vũ trụ quan thất truyền trải hàng thiên niên kỷ. Đã hàng ngàn năm trôi qua, mặc dù hết sức cố gắng, người ta cũng không thể khám phá những bí ẩn của nền văn hoá phương Đông huyền vĩ. Đơn giản chỉ là: Người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai. Bởi vậy, ông Thiệu Vĩ Hoa - một nhà nghiên cứu nổi tiếng Trung Hoa hiện đại - đã phải thừa nhận rằng: Nạp âm Ngũ hành trong bảng 60 Giáp Tý căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định; người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng 60 Giáp Tý biến hoá vô cùng; đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn là huyền bí khó hiểu”. Sự phục hồi những nguyên lý của học thuật cổ Đông phương chỉ có thể thực hiện từ nền văn minh Lạc Việt, mà hậu duệ chính là dân tộc Việt Nam hiện nay. Để phục hồi lại nạp âm của bảng Hoa giáp này, chúng ta cũng phải tìm trong Hà đồ. II. Hà đồ và nguyên lý thuận trong cấu thành Lạc thư hoa Giáp từ văn minh Lạc Việt Trong phần trên, người viết đã chứng tỏ nguyên tắc nạp âm của bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán là:Chu kỳ cách bát sinh tử và nguyên lý Sinh - Vượng - Mộ của một hành trong 24 năm kết thúc thì chuyển sang hành khác – theo chiều ngược kim đồng hồ trên Hà đồ. Người viết đã chứng tỏ nguyên tắc nạp âm trong bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán là một nguyên tắc sai so với nguyên lý tạo nên nó là Hà đồ. Bởi vì, Hà đồ là đồ hình biểu lý cho sự tương tác có tính qui luật của ngũ tinh - Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ - trong Thái Dương hệ. Điều này đã được chứng minh trên thực tế qua trình thiên văn Skymap pro. Các hành tinh vận động theo chiều ngược kim đồng hồ, nên sự tương tác sẽ theo chiều thuận và đây cũng chính là chiều Ngũ hành tương sinh của Hà đồ; thuận với chiều tương sinh của Ngũ hành trong 4 mùa của Địa Cầu. Do đó, tính hợp lý với phương pháp “Sinh Vượng Mộ” và “Cách bát sinh tử” theo đồ hình biểu lý của nó là Hà đồ thì cũng phải theo đúng qui luật này. Vậy, thực chất bản thể nguyên Thủy của bảng hoa giáp theo nguyên lý của Hà đồ phải là thuận theo chiều tương sinh của nó. Phần tiếp theo đây chứng tỏ điều này. 1. Nguyên tắc nạp âm Lạc thư Hoa giáp Sách của người Lạc Việt viết về chu kỳ 60 năm Nguyên lý nạp âm của Lạc thư hoa giáp vẫn ứng dụng những nguyên lý cơ bản được phát hiện trong cổ thư chữ Hán là: * Qui luật Cách bát sinh tử. * Chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ * Căn cứ trên Hà đồ và tuân theo nguyên lý THUẬN chiều kim đồng hồ của đồ hình này, chúng ta sẽ có bảng Lạc thư hoa giáp. Qui luật sắp xếp của Lạc thư hoa giáp chỉ khác bảng lưu truyền qua cổ thư chữ Hán ở vị trí hai hành Thủy và Hỏa. Điều này được trình bày như sau Bắt đầu từ hành Kim: 1. Hành Kim Giáp Tí- Ất Sửu = Hải trung Kim: Kim Sinh (Mạnh); cách 8 năm (Cách bát sinh tử) đến Nhâm Thân-Quý Dậu = Kiếm phong Kim: Kim Vượng (Trọng); cách 8 năm đến Canh Thìn-Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim:Kim Mộ (Quý). * Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của Kim - tổng cộng 24 năm. Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thủy Bạn đọc lưu ý: Thủy là con do Kim sinh. Theo bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán thì sau hành Kim là Hỏa. Điều này không thể hiện được qui luật “Cách bát sinh tử”. Bởi vì Hỏa khắc Kim và không phải con (Tử) của Kim. 2. Hành Thuỷ: Mậu Tí - Kỷ Sửu = Giản hạ:Thủy (Sinh), cách 8 năm đến: Bính Thân - Đinh Dậu = Tuyền trung: Thủy (Vượng), cách 8 năm đến: Giáp Thìn-Ất Tỵ = Trường lưu:Thủy (Mộ). * Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Thủy - Tổng cộng 24 năm. Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Mộc (Mộc là con do Thủy sinh) là: 3. Hành Mộc: Nhâm Tí-Quý Sửu = Tang đố Mộc (Sinh), cách 8 năm đến Canh Thân-Tân Dậu = Thạch Lựu Mộc (Vượng), cách 8 năm đến Mậu Thìn - Kỷ Tỵ= Đại Lâm Mộc (Mộ). * Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Mộc - Tổng cộng 24 năm. Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Hỏa (Hỏa là con do Mộc sinh) là: 4. Hành Hỏa Bính Tí-Đinh Sửu = Lư trung Hỏa (Sinh), cách 8 năm đến:Giáp Thân-Ất Dậu = Sơn đầu Hỏa (Vượng), cách 8 năm đến: Nhâm Thìn - Quý Tỵ = Tích lịch Hỏa (Mộ). * Kết thúc chu kỳ Sinh - Vượng - Mộ của hành Hỏa - Tổng cộng 24 năm. Thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ; cách 8 năm tiếp theo tới hành Thổ (Thổ là con do Hỏa sinh) là: 5. Hành Thổ Canh Tí-Tân Sửu = Bích thượng Thổ (Sinh); cách 8 năm đến: Mậu Thân-Kỷ Dậu = Đại dịch Thổ (Vượng); cách 8 năm đến Bính Thìn-Đinh Tỵ = Sa trung Thổ (Mộ). * Kết thúc chu kỳ Sinh – Vượng – Mộ của hành Thổ. Đến đây là kết thúc một kỷ 30 năm của Lạc thư hoa giáp. Qui luật “Cách bát sinh tử” được lặp lại với nguyên tắc thuận chiều kim đồng hồ trên Hà đồ ở trên bắt đầu từ Giáp Ngọ - Ất Mùi = Sa Trung Kim (Sinh) tiếp tục cho đến hết tạo thành bảng Lạc thư Hoa giáp với chu kỳ 60 năm. Nguyên tắc thuận theo chiều kim đồng hồ trên Hà đồ (Chiều Ngũ hành tương sinh) và vẫn ứng dụng qui luật Cách bát sinh tử với Sinh - Vượng - Mộ, được minh họa bằng hình sau đây: Nguyên tắc nạp âm Lạc thư hoa Giáp Theo chiều tương sinh thuận chiều kim đồng hồ trên Hà đồ Người viết xin được thể hiện chu kỳ của hai bảng Lạc thư hoa giáp và Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán qua hình tròn để bạn đọc quan tâm dễ dàng so sánh tính tính quy luật và hợp lý giữa hai bảng như sau: Qua hai đồ hình so sánh ở trên, qua những luận điểm chứng minh cho nguyên tắc và qui luật tạo thành bảng Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán và Lạc thư hoa giáp từ nền văn minh Lạc Việt, bạn đọc cũng nhận thấy tính qui luật và sự trùng khớp hợp lý của những giá trị nội tại tạo nên bảng Lạc thư hoa giáp. Đồng thời, bạn đọc cũng nhận thấy tính bất hợp lý trong bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán, chính vì sự sai lệch ngay từ nguyên lý của nó - Nghịch hành theo chiều ngược từ phải sang trái của Hà đồ. Trong khi đó, Hà đồ là đồ hình biểu lý Ngũ hành tương sinh theo chiều thuận. Đó chính là nguyên nhân để hàng ngàn năm trôi qua, biết bao học giả cổ kim thuộc văn minh Hoa Hạ không thể khám phá ra bí ẩn của nó. Người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai. Qua những chứng minh ở trên, người viết đã chứng tỏ rằng: Chính Hà đồ là nguyên lý của chu kỳ hoa giáp 60 năm trong Lý học Đông phương dù theo cách nào: Hán cổ hay Lạc thư hoa giáp. Hà đồ là một đồ hình căn bản trong Lý học Đông phương và được chứng minh trong luận đề “Hà đồ và văn minh Lạc Việt”, đồng thời cũng được chứng tỏ trong di sản văn hoá dân gian Lạc Việt là bức tranh thờ Ngũ Hổ của phường Hàng Trống với danh xưng: Pháp Đại uy nỗ. Đây là điều không hề có trong các bản văn Hán cổ. Dưới đây là bảng Lạc thư hoa giáp từ nền văn minh Lạc Việt để quí vị quan tâm so sánh và ứng dụng thay thế cho bảng Lục thập hoa giáp theo cổ thư chữ Hán. 2. Lạc thư hoa giáp Sách của người Lạc Việt viết về quy luật tuần hoàn 60 năm trong vũ trụ KỶ THỨ NHẤT Lục khí - Vận 1 Tam Âm Tam Dương Giáp Tí. Ất Sữu = Hải Trung Kim Bính Dần. Đinh Mão = Tuyền Trung Thuỷ Mậu Thìn.Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc Lục khí - Vận 2 Tam Âm Tam Dương Canh Ngọ. Tân Mùi = Lộ BàngThổ Nhâm Thân. Quí Dậu = Kiếm Phong Kim Giáp Tuất. Ất Hợi = Trường Lưu Thuỷ Lục khí - Vân 3 Tam Âm Tam Dương Bính Tí, Đinh Sữu = Tích Lịch Hoả Mậu Dần, Kỷ Mão = Thành Đầu Thổ Canh Thìn, Tân Tỵ = Bạch Lạp Kim Lục khí - Vận 4 Tam Âm Tam Dương Nhâm Ngọ, Quí Mùi = Dương Liễu Mộc Giáp Thân, Ất Dậu = Lư Trung Hoả Bính Tuất, Đinh Hợi = Ốc Thượng Thổ Lục khí - Vận 5 Tam Âm Tam Dương Mậu Tí, Kỷ Sữu = Giáng Hạ thuỷ Canh Dần, Tân Mão = Tùng Bách Mộc Nhâm Thìn, Quí Tỵ = Sơn Đầu Hoả KỶ THỨ II Lục khí - vận 1 Tam Âm Tam Dương Giáp Ngọ, Ất Mùi = Sa Trung Kim Bính Thân, Đinh Dậu = Đại Khê Thuỷ . Mậu Tuất, Kỷ Hợi = Bình Địa Mộc Lục Khí - Vận 2 Tam Âm Tam Dương Canh Tí, Tân Sữu = Bích Thượng Thổ Nhâm Dần, Quí Mão = Kim Bạch Kim Giáp Thìn, Ất Tỵ = Đại Hải Thuỷ Lục Khí - Vận 3 Tam Âm Tam Dương Bính Ngọ, Đinh Mùi = Thiên Thượng Hoả Mậu Thân, Kỷ Dậu = Đại Dịch Thổ Canh Tuất, Tân Hợi = Thoa Xuyến Kim Lục khí - Vận 4 Tam Âm Tam Dương Nhâm Tí, Quí Sữu = Tang Đố Mộc Giáp Dần, Ất Mão = Sơn Hạ Hoả Bính Thìn, Đinh Tỵ = Sa Trung Thổ Lục khí - Vận 5 Tam Âm Tam Dương Mậu Ngọ, Kỷ Mùi = Thiên Hà Thuỷ Canh Thân, Tân Dậu =Thạch Lựu Mộc Nhâm Tuất, Quí Hợi = Phúc Đăng Hoả. Trên thực tế, người viết bài này đã ứng dụng Lạc thư hoa giáp thay thế cho bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán, trong tất cả những vấn đề liên quan. Trích dẫn 2: Tính hợp lý của độ số Cục trong Tử vi và Lạc Thư Hoa Giáp Hầu hết những người có tìm hiểu về Tử Vi đều biết cục số của Tử Vi lưu truyền trong cổ thư chữ Hán là: Thủy - NHỊ Cục. Mộc - Tam Cục. Kim - Tứ Cục Thổ - Ngũ Cục Hỏa - LỤC Cục Bây giờ chúng ta cùng quán xét độ số trên Hà đồ với độ số cục do cổ thư viết bằng chữ Hán thì chúng khác nhau ở cục số của Thủy / Hỏa. Điều này được mô tả như sau: Như vậy; chúng ta cũng nhận thấy rằng sự sai lệnh này ở đúng vị trí của hai hành Thuỷ/Hỏa. Chúng ta cũng biết rằng: Hành của cục trong Tử Vi chính là hành của tháng an Mệnh theo năm sinh của đương số. Bởi vậy, khi Thuỷ/ Hỏa đã đổi chỗ cho nhau trong Lục thập hoa giáp thì hành của cục cũng sẽ đổi Thủy & Hỏa. Điều này được miêu tả so sánh như sau: Qua sự so sánh trên, chúng ta lại thấy một sự trùng khớp hợp lý giữa độ số cục trong Lạc thư hoa giáp với Hà đồ, vốn là nguyên lý căn bản của nó. Còn bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền qua cổ thư chữ Hán thì ngay cả người Hán cũng chẳng biết nguyên lý nào tạo ra nó và rối mù. Trước hết là không có tính nhất quán bởi độ số cục ngay từ đồ hình khởi nguyên của nó là Hà đồ (Đã chứng minh ở trên: Nguyên lý nghịch chiều tương sinh của Hà đồ). Người viết đã hân hạnh trình bày về tính qui luật và khả năng tiên tri là hai trong số những tiêu chí để thẩm định một lý thuyết khoa học. Không có tính qui luật thì không có khả năng tiên tri. Xét về góc độ khoa học thì khả năng tồn tại một phương pháp tiên tri là hệ quả tất yếu của một lý thuyết khoa học đã hoàn chỉnh. Bởi vậy, tính qui luật là không thể thiếu được, đó là yếu tố cần trong một lý thuyết thống nhất và hoàn chỉnh. Điều này không thể tìm thấy trong các bản văn chữ Hán lưu truyền từ hàng ngàn năm nay. Bởi vì, một lý thuyết tiền đề bị thất truyền. Khả năng tiên tri trong các phương pháp ứng dụng từ các cổ thư này - vốn là hệ quả của một lý thuyết - bị hạn chế bởi những sai lệch. Ứng dụng của cục số trong Lạc thư hoa Giáp và tử vi Từ khi cuốn “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp” được phát hành 1999, đã được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về ảnh hưởng của sự thay đổi hành Thủy & Hỏa trong Lạc thư hoa giáp trong ứng dụng .Do đó, người viết xin được dành phần này để nói rõ hơn về thực chất của sự thay đổi hai hành Thủy & Hỏa trong bảng Hoa giáp. - Sự thay đổi Thủy Hỏa trong bảng hoa giáp chỉ giới hạn trong hai hành Thủy và Hỏa, không có sự thay đổi ở các hành khác. - Sự thay đổi Thủy Hỏa trong bảng hoa giáp chỉ giới hạn ở nạp âm trong chu kỳ 60 hoa giáp, không phải là sự thay đổi ở những vấn đề liên quan khác giữa Thủy & Hỏa trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Có người cho rằng sự thay đổi này trong bảng hoa giáp thì Thủy & Hỏa trong thập Thiên Can và Địa chi cũng phải thay đổi là một sai lầm. Thí dụ như cho rằng: Bính Đinh Hỏa phải đổi thành Thủy, hoặc Tỵ Ngọ Hỏa cũng đổi thành Thủy là sai lầm. - Sự thay đổi Thủy & Hỏa trong bảng hoa giáp là một sự hiểu chỉnh hạn chế chỉ ứng dụng trong hai hành Thủy & Hỏa, chứ không phải là một sự phủ định tính tương tác của Ngũ hành trong bảng hoa giáp với những vấn đề liên quan. - Sự thay đổi hành Thủy & Hỏa trong Lạc thư hoa giáp so với Lục thập hoa giáp chứng tỏ sự sai lệch trong cổ thư chữ Hán truyền lại, là một trong sự phát triển tất yếu tiến tới sự hoàn chỉnh, nhất quán, nhằm chứng tỏ quan niệm cho rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán, hoàn chỉnh và là một lý thuyết thống nhất, giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến mọi vấn đề liên quan đến con người với khả năng tiên tri. Học thuyết này thuộc về dân tộc Việt, là nền tảng của danh xưng văn hiến với lịch sử gần 5000 năm của dân tộc Việt và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương. Quan niệm này nhân danh khoa học, nên nó phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chí của khoa học hiện đại. Bảng Hoa giáp là một trong những nguyên tắc căn bản về thời gian trong những ứng dụng của học thuật cổ Đông phương. Cho nên,tính tất yếu của sự hiệu chỉnh hai hành Thủy & Hỏa này sẽ dẫn đến sự hiểu chỉnh trong một số sự ứng dụng liên quan. Những bộ môn ứng dụng nào không liên quan đến nạp âm Ngũ hành trong bảng Hoa giáp sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự hiệu chỉnh này. Thí dụ trong Tử Vi sự hiệu chỉnh này sẽ ảnh hưởng tới những người có cục và Mệnh thuộc Thủy và Hỏa. Trong trường hợp chúng ta lấy Tử vi theo các chương trình Tử vi vi tính đã lập sẵn - vốn căn cứ theo bảng Lục thập hoa giáp lưu truyền từ cổ thư chữ Hán - thì chỉ khi: - Gặp mạng Thủy và Hỏa sẽ đối chiếu với bảng Lạc thư hoa giáp để hiệu chỉnh lại. Thí dụ: trước đây mạng là: Giáng Hạ Thủy, nay là Lư Trung Hỏa. - Gặp cục Thủy & Hỏa thì sửa đổi lại và tất yếu những chòm sao và sao liên quan đến Cục Thủy hay Hỏa phải an lại theo đúng tính chất của cục đó. Thí dụ: Theo sách cổ chữ Hán, đương số có Thủy Nhị Cục. Vì Thủy cục nên Trường sinh bắt đầu từ Thân. Nay theo Lạc thư hoa giáp là Hỏa Nhị Cục, Trường sinh bắt đầu từ Dần. - Tất cả những câu phú và phương pháp luận đoán liên quan đến Thủy & Hỏa vẫn giữ nguyên giá trị, nhưng ứng dụng cho bảng Lạc thư hoa giáp. Thí dụ: Người có mệnh (Hoặc hạn) gặp Tử Phủ cư Dần tốt cho Hỏa và không tốt cho Thủy vẫn nguyên giá trị. Nhưng điều này ứng dụng cho Lạc thư hoa giáp. Sự luận đoán đúng sai vẫn còn tuỳ thuộc vào yếu tố khả năng của người luận đoán. Nhưng cùng một người luận đoán và một phương pháp luận đoán sẽ là sự kiểm chứng tính chính xác của Lạc thư hoa giáp. Một trong những tiêu chí khoa học là: Không có tính quy luật thì không thể có khả năng tiên tri. Nền văn minh Lạc Việt, từ những di sản văn hoá phi vật thể đã chứng tỏ tính hoàn chỉnh, nhất quán, tính quy luật, khả năng giải thích một cách hợp lý các vấn đề liên quan và khả năng tiên tri. Người viết rất cảm ơn sự quan tâm của quí vị nghiên cứu về môn Tử Vi sẽ có thời gian thực nghiệm tính hợp lý của Lạc thư hoa giáp, nhân danh nền văn minh Lạc Việt với gần 5000 năm văn hiến. Tính hợp lý của nguyên lý căn bản trong tính ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành là: Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ không chỉ dừng lại ở sự giải thích những phương pháp ứng dụng trong thuật phong thủy. Mà còn phải chứng tỏ tính hợp lý đó trong tất cả những phương pháp ứng dụng liên quan, theo đúng tiêu chí khoa học hiện đại. Trong chương này nguyên lý căn bản Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ tiếp tục chứng minh khả năng chứng giải một cách hợp lý, có tính qui luật, tính khách quan và nhất quán trong một phương pháp tiên tri nổi tiếng và huyền vĩ của học thuật Đông phương cổ là Tử Vi Đẩu số. Đồng thời, người viết tiếp tục minh chứng với bạn đọc quan tâm về một thực tại đàng sau những giá trị của học thuật cổ Đông phương. Đó chính là sự vận động tương tác có tính quy luật của vũ trụ. Bạn đọc tiếp tục quán xét điều này ở những phần dưới đây. I. Tử vi đẩu số trong văn minh Đông Phương Tử Vi đẩu số là một phương pháp tiên tri cho từng số phận con người nổi tiếng trong văn hoá Đông phương vì khả năng tiên tri của nó. Nếu theo tiêu chí khoa học - cho một lý thuyết hoặc phương pháp khoa học thì nó phải có khả năng tiên tri - thì có thể nói rằng: Chưa hề có một lý thuyết khoa học tiên tiến nào của nhân loại bây giờ và hàng trăm năm nữa có thể tạo ra được khả năng tiên tri một cách huyền vĩ vì hiệu quả của nó như khoa Tử Vi đẩu số trong học thuật cổ Đông phương. Hiệu quả trong tiên tri đã tạo cho khoa Tử Vi có một chỗ đứng trong văn hoá Đông phương từ hàng thiên niên kỷ nay. Đây là một thực tại khách quan không thể phủ nhận trong mọi thăng trầm và những quan niệm khác nhau thuộc về lịch sử. Theo dã sử và truyền thuyết thì Trần Đoàn Lão tổ thời khai Tống là người sáng lập ra môn này và Tử Vi được hoàng gia Tống sử dụng rất hiệu quả, sau đó Tử Vi truyền sang Việt Nam từ thời Trần. Phương pháp tiên tri của Tử Vi dựa trên phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành, chia đời người làm 12 thành tố căn bản gọi là 12 cung gồm :Bản Mệnh – Huynh Đệ – Phu Thê – Tử Tức – Tài Bạch – Tật Ách – Thiên Di – Nô Bộc – Quan Lộc – Điền Trạch – Phúc Đức – Phụ Mẫu . Trên cơ sở 12 cung này, Tử Vi có kHỏang từ 120 đến 150 yếu tố tương tác được định danh như các sao trên trời, phân bổ có tính qui luật trên 12 cung. Tính chất qui ước tốt xấu của các sao tương tác trong một cung và tương tác giữa các cung làm nên tính tiên tri của khoa Tử Vi. Chính vì khả năng tiên tri huyền vĩ của nó phản ánh hệ quả một nhận thức thực tại vượt ra ngoài khả năng nhận thức của tri thức khoa học hiện đại, cho nên đến tận bây giờ, khoa Tử Vi vẫn là một hiện tượng đầy bí ẩn trong học thuật cổ Đông phương. Hàng ngàn năm trôi qua, với bao công sức của các nhà nghiên cứu vẫn không thể nào phục hồi được một lý thuyết hoàn chỉnh là cơ sở phương pháp luận của môn Tử Vi và họ cũng không thể khám phá được một thực tại nào là cơ sở nhận thức tạo ra lý thuyết đó. Chính vì tính bí ẩn kỳ vĩ của nó, nên không ít người đã sổ toẹt và cho rằng Tử Vi đẩu số là hiện tượng “mê tín dị đoan”. Đây là một luận điểm không hề có cơ sở khoa học, mặc dù nó nhân danh khoa học. Bởi vì, người ta không thể chỉ ra tính chất mê tín dị đoan của nó. Cũng có một số người tin tưởng vào khoa Tử Vi đẩu số vì hiệu quả tiên tri kỳ vĩ của nó thì cho rằng: sự thành lập môn Tử Vi là do sở ngộ tâm linh của các bậc tiên thánh. Thực ra đây cũng chỉ là một cách lấy sự bí ẩn này để lý giải một cái bí ẩn khác. Sở dĩ có hiện tượng này vì người ta không thể nào căn cứ vào những tri thức trong các bản văn chữ Hán – ở mọi phương diện trong lịch sử văn minh Hán – để phục hồi những nguyên lý và phương pháp hình thành môn Tử Vi. Đây không phải là vấn đề được đặt ra bây giờ, hoặc vài trăm năm trước, mà là đã trải hàng thiên niên kỷ. Việc đặt vấn đề tìm hiểu những thực tại được nhận thức và là tiền đề tạo ra môn Tử Vi và phương pháp an sao, không phải chỉ là làm sáng tỏ sự huyền bí, mà còn là tìm về cội nguồn đích thực của môn dự đoán này. Trong cổ thư chữ Hán, chúng ta chỉ tìm thấy phương pháp luận đoán và qui tắc an sao của Tử Vi, tức là chỉ có phần ứng dụng và hoàn toàn bí ẩn. Trước Trần Đoàn Lão tổ - vốn được coi là người sáng lập ra môn Tử Vi – nền văn minh Hán không hề có những tiền đề tri thức phổ biến để làm nền tảng cho việc hình thành môn này, cũng như tất cả các quy tắc của nó. Môn Tử Vi cùng chung số phận với tất cả các phương pháp ứng dụng khác trong học thuật cổ Đông phương truyền lại từ những bản văn chữ Hán, đều thiếu một học thuyết hoàn chỉnh là cơ sở cho phương pháp luận của nó. Ngoài ra, khi tri thức của con người hiện đại chưa hiểu được một thực tại nào là cơ sở nhận thức tạo ra các phương pháp ứng dụng trong học thuật cổ Đông phương thì người ta cũng không thể hiểu được nội dung những khái niệm phản ánh thực tại ấy. Bởi vậy, người ta đã giải thích những phương pháp và hiện tượng bằng những cách nhìn khác nhau và tất nhiên đầy mâu thuẫn. Nhưng nếu căn cứ vào tiêu chí khoa học hiện đại thì người viết có thể khẳng định rằng: Tử vi là một phương pháp hoàn toàn phù hợp và đáp ứng đầy đủ những tiêu chí khoa học hiện đại. Đó là: Tính quy luật, tính khách quan và có một phương pháp luận nhất quán theo thuyết Âm dương Ngũ hành và khả năng tiên tri. Trong Tử Vi không hề có dấu ấn của thần quyền. Tất cả chúng ta đều biết một vấn đề mặc nhiên rằng: Tất cả những sự ứng dụng có phương pháp luận theo một lý thuyết nào đó, đều phải là hệ quả của chính lý thuyết đó . Lý thuyết này phải phản ánh sự nhận thức một thực tại và nó phải được hình thành trước sự ứng dụng theo phương pháp luận của lý thuyết đó. Nhưng hàng ngàn năm trôi qua, con người với bao công sức vẫn không thể nào phục hồi được một lý thuyết hoàn chỉnh nào làm cơ sở phương pháp luận của môn Tử Vi và cũng không thể khám phá được một thực tại nào là cơ sở nhận thức tạo ra lý thuyết đó. Người ta không thể tìm một cái đúng từ một tiền đề sai. Nhưng sự bí ẩn của một phương pháp tiên tri trong Tử Vi đẩu số sẽ được sáng tỏ từ nguyên lý căn bản: Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ có xuất xứ nguyên Thủy từ văn minh Lạc Việt. Để chứng minh điều này, bạn đọc quán xét và so sánh các hiện tượng sau đây giữa những vấn đề trong Tử Vi Đẩu số với nguyên lý mơ hồ của nó qua đồ hình Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư. II. Những vấn đề trong tử vi đẩu số 1. Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư trong cổ thư chữ Hán Bạn đọc quan tâm so sánh đồ hình Lạc thư phối Hậu thiên Văn Vương và Thiên bàn 12 cung trong Tử Vi đẩu số dưới đây : Hậu thiên phối Lạc thư Theo cổ thư chữ Hán So sánh với đồ hình Thiên bàn Tử Vi Qua cặp hình so sánh trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư từ cổ thư chữ Hán không hề có sự tương thích hợp lý với đồ hình Thiên bàn 12 của Tử Vi. Lạc thư là đồ hình tương khắc của Ngũ hành theo chiều ngược kim đồng hồ, hoàn toàn không hề có sự liên hệ nào với đồ hình 12 cung của khoa Tử Vi vốn thuận theo chiều Ngũ hành tương sinh. Mọi chuyện ngừng lại ở đây và đó là nguyên nhân của sự bế tắc hàng ngàn năm không thể phát triển được của học thuật cổ Đông phương. Học thuật cổ Đông phương chìm sâu trong sự huyền bí. Nhưng ngược lại, mọi sự huyền bí sẽ được sáng tỏ và phát triển hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học hiện đại và chỉ thẳng đến một thực tại huyền vĩ của vũ trụ, chính là cơ sở của học thuật cổ Đông phương. Đó chính là nguyên lý căn bản Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt. Bạn đọc xem phần chứng minh sau đây . 2. Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt và 12 cung thiên bàn Tử Vi Bạn đọc quan tâm xem xét hai đồ hình so sánh dưới đây: Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ So sánh với đồ hình thiên bàn 12 cung tử vi Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ hoàn toàn phù hợp với chiều tương sinh của Ngũ hành trên đồ hình 12 cung của khoa Tử Vi. Bạn đọc sẽ tiếp tục thấy một sự trùng khớp hợp lý đến hoàn hảo, khi đồ hình Hà đồ - Pháp đại uy nỗ của nền văn minh Lạc Việt - được thể hiện bằng hình tròn với 4 điểm kết thúc của Tứ hành thuộc Thổ và sắp xếp vào đó 12 cung địa chi tương ứng với Thiên Bàn Tử Vi.
    1 like
  31. Tôi đã xóa những bài không liên quan đến topic này theo đề nghị của thầy Haithienha
    1 like
  32. Cháu cảm ơn bác nhiều ạ! Chúc sức khỏe bác ạ!
    1 like
  33. Trường hợp này trong luận tuổi gọi là Thiên Khắc Địa Xung, nhưng được hợp mạng nên vẫn có cái tốt, chồng hơi gia trưởng, sẽ khắc khẩu nhiều.. Cưới nhau sẽ khó khăn trong giai đoạn đầu, nên sinh con năm tốt để hóa giải. Nếu cưới năm nay thì còn tháng 12al là tháng tốt. Nên sinh con năm Ất Mùi 2015, con út 2018 Mậu Tuất hoặc Kỷ Hợi 2019 la sẽ hóa giải hết xung khắc, về sau sẽ ổ. Thân mến.
    1 like
  34. Cháu chào bác Thiên Luân ạ! Bác xem giúp cháu hai tuổi sau - Nữ 24 /4 / Đinh Mão - Nam 28/ 4/ Tân Dậu Cháu muốn bác cháu xem giúp cháu hai tuổi này xung- hợp như thế nào? Năm nay cưới tháng nào trong những tháng còn lại là đẹp nhất? Sinh con năm nào thì được tốt ạ? Mà hai tuổi này kết hợp thì đường con cái có thuận lợi không ạ? Cháu rất mong được bác xem giúp cháu ạ. Cháu xin cảm ơn bác ạ!
    1 like
  35. Từ nay đến năm 2019 ban muốn cưới năm nào cũng được cả. Chúc hạnh phúc nhé :D
    1 like
  36. (Tiếp) 3. Hà đồ phối Địa Cầu và hiệu ứng vũ trụ liên quan Trong Đồ hình Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt , người viết đặt vị trí Quả Đất của chúng ta vào Trung Tâm và đây chính là sự lý giải hoàn toàn trùng khớp hợp lý với những hiện tượng chính yếu trong Tử Vi đẩu số. Đồng thời sự so sánh này cũng chỉ thẳng đến một thực tại là qui luật tương tác của từ vũ trụ là cơ sở của tri thức làm nên khoa Tử Vi đẩu số với khả năng tiên tri huyền vĩ có nguồn gốc từ văn minh Lạc Việt. Đồ hình Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt Bổ sung 12 địa chi và phối Địa Cầu ở trung tâm Từ đồ hình trên Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt bạn đọc lại so sánh với hình Thiên Bàn Tử vi sau đây, chúng hoàn toàn trùng khớp một cách hợp lý. Đồ hình so sánh với 12 thiên bàn tử vi Từ đồ hình trên với nguyên lý Hậu thiên bát quái Lạc Việt liên hệ với Hà đồ, chúng ta sẽ nhận thấy một sự trùng khớp hợp lý đến hoàn hảo của hai đồ hình này và vấn đề cũng không dừng ở đây. Từ sự so sánh và bố cục hình tròn của Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt với Địa Cầu chúng ta sẽ thấy một hiệu ứng vũ trụ tương tác với Địa cầu qua môn Tử Vi. Điều này được mô tả và chứng minh như sau: 1. Độ nghiêng của Điạ Cầu (2105 ) gần hoàn toàn trùng khớp với đường phân giác chia đôi cung Khảm / Ly (2205). Tức là trục Bắc / Nam – trong Hậu thiên bát quái Lạc Việt & Hà đồ. Sự phân cung của Hậu thiên Lạc Việt với Hà đồ hoàn toàn trùng khớp với phương vị của Địa Cầu: * Khảm / Thủy / Bắc, Hà đồ/Thủy / Bắc nằm ở phía Bắc của Địa Cầu. * Chấn / Mộc / Đông, Hà đồ / Mộc / Đông nằm ở phía Đông của Địa Cầu. * Ly / Hỏa / Nam, Hà đồ / Hỏa / Nam nằm ở phía Nam của Địa Cầu. * Đoài /Kim/Tây, Hà đồ/Kim/Tây nằm ở phía Tây của Địa Cầu. Sự trùng khớp này cho thấy cơ sở của một thực tế hiện hữu liên quan đến những tri kiến vũ trụ căn bản của tri thức thiên văn hiện đại. 2. * Đường phân cách giữa Tây (Đoài) / Tây Bắc (Càn) và Đông (Chấn) / Đông Nam (Khôn – theo Hậu thiên Lạc Việt) chính là trục Thìn/Tuất và là mặt phẳng “Hoàng Đạo” của Địa Cầu. * Trục phân cách Bắc (Khảm) / Đông Bắc (Càn) và Nam (Ly) / Tây Nam (Tốn – theo Hậu thiên Lạc Việt) chính là trục biểu kiến của mặt phẳng vuông góc với đường Hoàng Đạo (Đường Bạch Đạo). * Hai đường Hoàng Đạo và Bạch Đạo chính là trục Thìn Tuất & Sửu Mùi và là nơi mộ (Kết thúc) của tứ hành trên Hà đồ. Sự trùng khớp hoàn toàn giữa những tri kiến của khoa học hiện đại trong những vấn đề liên quan với Địa Cầu và Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ đã chứng tỏ tính hợp lý và phản ảnh một thực tế. 3. Trong thực tế thiên văn học mà chúng ta đều biết thì mặt phẳng Hoàng Đạo chính là mặt phẳng biểu kiến của hầu hết quỹ đạo các vì sao có ảnh hưởng đến Địa Cầu. Tức là chúng có hiệu ứng mạnh nhất ở hai cung Thìn / Tuất. So sánh với môn Tử Vi Đẩu số thì hầu hết các sao an trong Tử Vi đều bắt đầu từ hai cung Thìn & Tuất này. Đó là những sao xếp vào loại trung tinh trong Tử Vi đẩu số sau đây: Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các, Thiên La, Địa Võng. Ngoài ra còn những sao liên quan đến những sao an từ cung Thìn – Tuất là: Tam Thai, Bát Toạ, Ân Quang, Thiên Quí, Thai Phụ, Phong Cáo. Hai cung Thìn / Tuất cũng là hai cung có ảnh hưởng mạnh đến tính chất các sao. Thí dụ như câu phú đoán trong Tử Vi: “Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất”. 4. Khi an sao Tử Vi dù Thủy Lục cục, Hỏa Nhị cục (hai hành này theo Lạc thư hoa giáp) Thổ ngũ cục, Mộc tam cục thì độ số ngày theo độ số Cục, bao giờ cũng bắt đầu từ cung Dần. Điều này cũng được giải thích bằng Hậu thiên bát quái Lạc Việt & Hà đồ: Qua đồ hình trên, chúng ta cũng nhận thấy rằng: Vị trí cung Dần chính là quái Cấn trong tương quan với Hà đồ. Quái Cấn chính là Trái Đất trong tương quan của Âm Mộc với Mặt Trời và cửu tinh trong Thái Dương hệ. (Đã diễn giải ở phần trên). Bởi vậy hiệu ứng của Tử Vi bắt đầu từ cung này. Theo nguyên tắc đối xứng cân bằng Âm Dương thì đây chính là lý do sao Thiên Phủ đối xứng với sao Tử Vi qua trục Dần Thân và là Nam Đẩu tinh thuộc Âm. 5. Trục Tý/Ngọ: Trục nối Khảm/Ly đó là hai cung khởi đầu của sự phân cách và chuyển hóa Âm Dương trong Hậu thiên bát quái Lạc Việt. * Dương: Ly – Tốn – Đoài => Càn là cực Dương (Chuyển nghịch). * Âm: Khảm – Cấn – Chấn => Khôn là cực Âm (Chuyển thuận). Do sự tiếp thu không hoàn chỉnh của cổ thư Hán, nên Hậu thiên bát quái trong bản văn cổ chữ Hán không thể phân được trục này. Hay nói cách khác: Do vị trí Tốn/Khôn bị sai lệch, nên không có sự chuyển hóa Âm Dương ở trục Tý/Ngọ. 4. Hà đồ và sự xác định qui tắc an một số sao trong Tử Vi * Định vị cung khởi Trường Sinh trên Hà đồ Cũng từ nguyên lý Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ – chính là đồ hình tổng hợp và siêu công thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành liên hệ với Địa Cầu – chúng ta thẩm định lại tính đúng sai của phương pháp an một số sao đang gây tranh cãi trong Tử Vi đẩu số là: Sao Trường Sinh: Vốn có ít nhất hai phương pháp an khác nhau. Trên đồ hình đã trình bày ở trên, chúng ta cũng nhận thấy rằng: Bốn Cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi chính là bốn cung khởi nguyên của bốn hành Kim / Mộc / Thủy / Hỏa tính theo chiều kim đồng hồ. Đây cũng chính là bốn cung khởi Trường sinh theo sách cổ. Tức là nếu Thìn - Tuất- Sửu – Mùi là bốn vị trí Mộ của Tứ hành – và là sự thai nghén bắt đầu cho hành chuyển tiếp – trên Hà đồ thì Dần / Thân / Tỵ / Hợi chính là sự khởi nguyên của Tứ hành, do đó Trường sinh phải khởi từ bốn cung này là hoàn toàn hợp lý. * Lý giải nguyên lý Nhật Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi trên Hà đồ Cũng qua đồ hình trên, chúng ta thẩm định lại câu phú: “Nhật Nguyệt Sửu Mùi, bất hiển công danh” thì thấy rằng: Sửu Mùi chính là đường Bạch Đạo. Tức là nơi ánh sáng của Mặt Trời (Sao Thái Dương / Nhật), Mặt Trăng (Sao Thái Âm / Nguyệt) kết thúc ở đó và cản trở nhau. * Lý giải nguyên lý Tả Hữu giáp biên Sửu Mùi trên Hà đồ “Tả Hữu giáp biên Sửu – Mùi”: Cũng từ đồ hình Hậu thiên bát quái Lạc Việt liên hệ với Hà đồ đã trình bày ở trên, chúng ta cũng nhận thấy rằng: Sửu Mùi là hai cung biểu kiến chia đôi trục Hoàng Đạo và là đường Bạch Đạo của Trái Đất. – Sửu phân Âm Dương nằm trong phần Âm của Hà đồ (Càn / Khảm=> Âm: Âm trong Âm, Cấn / Chấn => Dương: Dương trong Âm). – Mùi phân Âm Dương ở phần Dương của Hà đồ (Khôn / Ly thuộc Âm: Âm trong Dương, Đoài Tốn thuộc Dương: Dương trong Dương). Điều này còn cho thấy tính hợp lý của sự thay đổi Tốn / Khôn trong Hậu thiên Lạc Việt. Nếu không thì không lý giải được chi tiết này. – Tả Phù Hữu Bật là hai sao cùng có tính chất phù trợ (Phân Âm / Dương). Do đó khi nằm cùng ở phần Âm (hoặc Dương) của Hà đồ lại ở hai cung giáp Sửu (hoặc Mùi) tức là nằm ở sự đối xứng Âm Dương nên phát huy tác dụng mạnh mẽ. Do đó, đây là hai vị trí đắc địa của Tả Hữu. * Định vị sao Khôi & Việt trên Hà đồ Đã từ lâu, phương pháp an sao Khôi Việt rất nhiều sách viết khác nhau. Không có cách nào có thể kiểm chứng. Điều này thì các nhà nghiên cứu Tử Vi đều biết. Bởi vậy việc đi tìm nguyên lý an sao Khôi Việt là một đề tài rất đáng quan tâm. Căn cứ vào sách Tử Vi đẩu số của Thái Thứ Lang và một số sách khác thì hai sao này an theo hàng Can như sau: Nhưng cũng có rất nhiều sách an khác thậm chí có sách còn khác phần lớn. Đặc biệt là “Hiệp Kỷ Biện Phương thư” thì càng hiểu không nổi (HKBPT Nxb Mũi Cà Mau 1998, trang 586. Mai Cốc Thành chủ biên. Vũ Hoàng – Lân Bình dịch thuật). Vậy sách nào đúng và nguyên lý an sao Khôi Việt là gì? Từ nguyên lý căn bản Hậu thiên bát quái Lạc Việt liên hệ Hà đồ chúng ta sẽ thẩm định tính hợp lý của nguyên lý này và tính qui luật khi an hai sao Khôi & Việt. Trước hết, xin quí vị xem lại nguyên lý của cung an Khôi Việt chính là từ hàng can của năm sinh. Hàng can này có 3 cặp ổn định và có tính qui luật là: Bính Đinh = Âm Dương Hỏa. Canh Tân = Âm Dương Kim. Nhâm Quí =Âm Dương Thủy. Như vậy, cặp Giáp Mậu (Giáp/ Mộc. Mậu/ Thổ) và Ất Kỷ (Ất/ Mộc. Kỷ/ Thổ) thì không nằm trong qui luật này. Nếu chúng ta đổi vị trí Mậu và Ất thì nguyên lý an Khôi & Việt của hàng Can sẽ mang tính qui luật như sau: Giáp Ất. Mộc Mậu Kỷ. Thổ Bính Đinh. Hỏa Canh Tân . Kim Nhâm Quí. Thuỷ Đến đây vấn đề tiếp tục đặt ra là: * Xét cung an Khôi Việt và đồ hình Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ ta sẽ thấy: Chỉ cần đổi chỗ Ngọ & Dần của Canh & Tân thì: - Thiên Khôi hoàn toàn nằm ở các cung Âm trên Hà đồ: Tý. Hợi. Sửu. Dần. Mão. - Thiên Việt hoàn toàn nằm ở các cung Dương trên Hà đồ: Thân. Dậu. Mùi. Ngọ. Tỵ. * Khi hoán đổi vị trí Mậu Ất thì ta sẽ có cặp nào đi với Sửu Mùi? Mậu Kỷ hay Giáp Ất? Xét về tính chất của sao Khôi Việt cũng phân Âm Dương (Hỏa). Như vậy - từ sự đổi chỗ Ngọ/ Dần của Canh Tân thì ta có: Thiên Khôi/ Bắc đẩu tinh nằm ở phần Bắc (trên) của Hà đồ. Thiên Việt/ Nam đẩu tinh nằm ở phần Nam (dưới) của Hà đồ (Xin quí vị lưu ý: trên dưới là do tương quan với Địa Cầu theo phương vị hiện đại). Trên cơ sở vấn đề đặt ra, chúng ta bắt đầu dùng phương pháp loại suy để tìm hiểu vị trí đích thực của Khôi Việt trong Tử Vi. Bây giờ chúng ta quán xét với giả định tạm thời như sau: Chúng ta quán xét và phân tích vị trí Thiên Khôi và Thiên Việt ứng với nhau trên Hà đồ ở hình trên, và vị trí giả định tạm thời (Hoán vị Ất / Mậu và Dần / Ngọ ở Canh Tân) thì vị trí của Khôi / Việt hoàn toàn đối xứng nhau qua trục Thìn Tuất (Trục Hoàng Đạo của Trái Đất). * Tiếp tục kiểm chứng tính hợp lý của giả thuyết trên chúng ta lại thấy: - Bính Đinh thuộc Hỏa và nằm ở hành Hỏa (Thuộc Âm trong Dương) của Hà đồ: Khôi ứng với Hợi / Âm Thuỷ. - Canh Tân thuộc Kim (Thuộc Dương trong Dương) của Hà đồ: Khôi ứng với Dần / Dương Mộc. - Nhâm Quí thuộc Thủy (Thuộc Âm trong Âm) của Hà đồ: Khôi ứng với Mão / Âm Mộc. Vấn đề còn lại là với Giáp Ất, Thiên Khôi đi với Sửu hay đi với Tý? Bây giờ chúng ta lại quán xét thấy rằng: Giáp Ất / Mộc và Bính Đinh / Hỏa nằm ở bên phải trục Sửu Mùi (Đường Bạch Đạo). Do đó, ở Bính Đinh Thiên Khôi đi với Hợi, thì với Giáp Ất Thiên Khôi đi với Tý là hợp lý. Như vậy, tổng hợp những vấn đề đã trình bày thì chúng ta có một bảng an sao Khôi Việt như sau: Như vậy, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để có thể kết luận rằng: Trục Hoàng Đạo của Trái Đất chính là nguyên lý an sao Khôi Việt (Chúng đối xứng qua trục này). Trục Sửu Mùi (Bạch Đạo) chính là nguyên lý lạc hãm của Khôi Việt. Sự giải thích trên đây cũng cho thấy tính qui luật của hai sao này chỉ có thể giải thích được với nguyên lý căn bản Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ. Xin bạn đọc xem hình dưới đây: Vị trí Khôi và Việt trên Hà đồ * Định vị sao Lưu Hà trên Hà đồ Sự liên hệ việc tìm qui luật an sao Lưu Hà chỉ liên hệ đến Thiên Bàn Tử Vi - vốn là một hệ quả phát triển của Hà đồ. Trước khi trình bày vấn đề này, người viết lặp lại 2 phương pháp chính đang lưu truyền về qui tắc an sao Lưu Hà là: # Theo phương pháp của Thái Thứ Lang * Giáp Kỷ hợp hóa Thổ: Giáp an Lưu Hà tại Dậu, Kỷ an Lưu Hà tại Ngọ. * Ất Canh hợp hóa Kim: Ất an Lưu Hà tại Tuất, Canh an Lưu Hà tại Thân * Bính Tân hợp hóa Thủy: Bính an Lưu Hà tại Mùi, Tân an Lưu Hà tại Mão. * Đinh Nhâm hợp hóa Mộc: Đinh an Lưu Hà tại Thìn, Nhâm an Lưu Hà tại Hợi. * Mậu Quý hợp hóa Hỏa: Mậu an Lưu Hà tại Tỵ, Quý an Lưu Hà tại Dần. Phương pháp an sao của Thái Thứ Lang được miêu tả bằng đồ hình sau: Đồ hình Thiên bàn tử vi và vị trí Thiên can An Lưu Hà Theo Thái Thứ Lang # An Lưu Hà theo cách của Hà Lạc Dã Phu * Giáp Kỷ hợp hóa thổ: Giáp an Lưu Hà tại Dậu, Kỷ an Lưu Hà tại Ngọ. * Ất Canh hợp hóa Kim: Ất an Lưu Hà tại Tuất, Canh an Lưu Hà tại Thìn. * Bính Tân hợp hóa Thủy: Bính an Lưu Hà tại Mùi, Tân an Lưu Hà tại Mão. * Đinh Nhâm hợp hóa Mộc: Đinh an Lưu Hà tại Thân, Nhâm an Lưu Hà tại Hợi. * Mậu Quý hợp hóa Hỏa: Mậu an Lưu Hà tại Tỵ, Quý an Lưu Hà tại Dần. Phương pháp an sao của Hà Lạc Dã Phu được miêu tả bằng đồ hình sau: Đồ hình Thiên bàn tử vi và vị trí Thiên can An Lưu Hà Theo Hà Lạc Dã Phu Như vậy qua hai đồ hình trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: sự khác nhau của hai phương pháp trên chỉ ở hai hiện tượng sau đây: * Liên quan đến Địa Chi: Vị trí của “Thân” và “Thìn” còn tất cả đều giống nhau. * Liên quan đến Thiên Can: Vị trí của Thiên Can Đinh & Canh Nếu quán xét kỹ, chúng ta sẽ nhận thấy rằng: Sự nối tiếp của vòng Thiên Can từ Quý => Nhâm => Ất ……=> Canh và kết thúc ở Tân là một chu kỳ tương sinh liên tục theo chiều ngược kim đồng hồ. Điều này được mô tả như sau: Quí & Nhâm (Thủy) => Ất & Giáp (Mộc) => Đinh & Bính (Hỏa) => Kỷ & Mậu (Thổ) => Canh & Tân (Kim). Trên cơ sở qui luật này, chúng ta lại thấy rằng: Các Thiên Can Dương nằm ở cung Âm và Thiên Can Âm nằm ở cung Dương. Nhưng chỉ có can Canh & Tân là bị ngoại lệ (Can Canh thuộc Dương vẫn nằm ở cung Thìn thuộc Dương, Tân thuộc Âm nằm ở cung Mão thuộc Âm). Phải chăng đây là một sai lầm do tam sao thất bản? Bây giờ, nếu chúng ta đổi lại Canh: Lưu Hà cư ở Mão và Tân: Lưu Hà cư ở Thìn thì sẽ là một qui luật hợp lý và hoàn chỉnh. Khi đổi vị trí Canh & Tân từ cách an sao Lưu Hà theo Hà Lạc Dã Phu sẽ đặt ra những vấn đề và tính chất sau: * Có tính qui luật theo tuần tự: Từ Quí & Nhâm tương sinh theo chiều ngược kim đồng hồ với Thiên Can Dương nằm ở cung Âm và Thiên Can Âm nằm ở cung Dương. * Nguyên lý Giáp hợp Kỷ hoá Thổ….=> Mậu hợp Quí hoá Hỏa chỉ là một cách lý giải. Trên thực tế không hề liên hệ gì tới phương pháp an sao Lưu Hà (Cho dù là phương pháp nào). 5. Quỹ đạo chuyển động của các vì sao quan sát từ Trái Đất & phương pháp an một số sao , lưu đại hạn trong Tử Vi Xin bạn đọc xem hình minh họa dưới đây: Hiệu ứng chuyển động đảo biểu kiến quỹ đạo chuyển động của các vì sao khi quan sát từ Trái Đất. Phương pháp lưu đại hạn trong tử vi Qua hai đồ hình minh họa so sánh ở trên, bạn đọc cũng nhận thấy một sự trùng khớp hoàn toàn giữa một hiệu ứng chuyển động đảo biểu kiến của quĩ đạo những ngôi sao gần Trái Đất với phương pháp lưu đại hạn trong Tử Vi. Trong phương pháp an sao của Tử Vi, những bạn đọc có tìm hiểu môn này cũng nhận thấy rằng có nhiều sao sử dụng hiệu ứng chuyển động đảo biểu kiến này . Trên cơ sở những hiện tượng thiên văn đã trình bày liên hệ với nguyên lý căn bản Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ và các hiện tượng trong Tử Vi, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để chứng tỏ rằng: Khoa Tử Vi chính là hệ quả của sự nhận thức những hiệu ứng của sự vận động tương tác có tính qui luật với Địa Cầu và ảnh hưởng tới môi trường Trái Đất của chúng ta. Phương pháp an sao Tử Vi chính là những qui ước biểu kiến từ chính những qui luật vận động tương tác này. Điều này đã làm nên hiệu quả tiên tri của nó. Đây cũng chính là những thực tại của vũ trụ mà tri thức khoa học hiện đại chưa hề biết đến. Điều này cũng là nguyên nhân của sự huyền vĩ Đông phương trong cái nhìn của tri thức hiện đại. Vấn đề còn lại là sự phát triển của tri thức khoa học hiện đại trong tương lai, có thể định lượng được những hiệu ứng tương tác cụ thể, có tính qui luật của từng vì sao – hoặc những hiệu ứng vũ trụ nào khác nữa – đã làm nên khả năng tiên tri hay không? Đây cũng chính là những giá trị nền tảng tri thức kiến tạo nên nền văn hiến trải gần 5000 năm của người Lạc Việt. Tính hợp lý của Pháp Đại uy nỗ từ văn minh Lạc Việt đã được chứng giải qua những yếu tố căn bản trong thuật Phong Thủy và Tử vi Đẩu số. Nhưng vấn đề sẽ không dừng lại ở đây, nó còn cần phải tiếp tục chứng minh sự lý giải hợp lý những vấn đề liên quan đến nó. Những phần tiếp theo đây sẽ chứng tỏ điều này. Sách của thầy Thiên Sứ: Hà đồ trong văn minh Lạc Việt http://www.lyhocdong...-lac-viet-2302/ Tìm vể cội nguồn Kinh dịch http://www.lyhocdong...ioi-thieu-1586/ Định mệnh có thật hay không http://www.mediafire...zekg67413kxghk8 Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam http://www.lyhocdong...-viet-nam-2303/
    1 like
  37. Thực tình viết ra cái mục này rất thiện chí mà thấy nản quá. Điều mà Biken hỏi, xin trả lời thế này. Nếu ai muốn thắc mắc gì, thì nên nhắn tin hỏi riêng 1 người giải số nào đó, chứ không nên đưa ra diễn đàn về những thắc mắc có luận cứ, luận điểm, nói có sách, mách có chứng. Lý do: Trái đất hình cầu, quả đất quay quanh mặt trời cùng nhiều sao khác, đó là điều không phải tranh cãi bởi con người đã bay ra ngoài vũ trụ và có thể quan sát dễ dàng, còn trước đây thì người ta cãi nhau kinh khủng. Tử vi thì không (hoặc là chưa) có cái may mắn đó, rất nhiều sách viết về nó, nhiều lý dải khác nhau, nhiều ý tứ khác nhau, mỗi người hiểu 1 cách thì lý giải 1 kiểu và còn viết sách để lưu truyền hậu thế. Chính vì thế mà có nhiều ý kiến khác nhau lắm, ví như Ngựa ở Lợn, có người bảo là Ngựa chạy tới đường cùng, ngang với bị Triệt chém, Tuần băm, Tuyệt chảm, Kình giết, v.v.... Đương nhiên sẽ có người nói lại là đi đến cùng mới tốt, hay mọi chuyện vẫn hanh thông, không nên lo lắng quá, hay Chết là hồi sinh, có cơ hội đổi đời, v.v... Tiền lệ ở các diễn đàn đều có sự tranh cãi đến bài xích mất đoàn kết. Vì thế để tránh hoang mang cho cả người hỏi và mọi người đọc lẫn những người hạ tay gõ phím trả lời theo ý kiến riêng hoặc theo sách mà người đó theo học. Nói rất thô thiển thì người đó vô tình đã tạo lên sóng gió hoặc nổi, hoặc ngầm mà nội dung không hề có tính đàm đạo thảo luận. Vậy thì không nên, tôi nói thẳng là thế, không giống như người nào đó luôn nghĩ đến cảm nghĩ của người khác nên phải nói khéo, nói tránh, v.v... Tôi khẳng định với quý vị rằng hầu hết mọi người trên cõi đời này chẳng mấy ai nghĩ đến cảm nghĩ của bạn đâu. Cuộc đời mà, buồn 1 tí (miền Nam là 1 xíu), tôi thích 1 tí hơn, nên tôi chỉ buồn 1 tí thôi. khà khà
    1 like
  38. Ai cũng buồn vì có cung số nào đó của mình ko đẹp, nhưng thực sự không ai có đủ 12 cung số đẹp huy hoàng cả Ai cũng buồn vì mình không mau nổi tiếng và tài năng, nhưng nhìn những ngôi sao đương đại thì hiện nay mấy đĩa CD các bé hát hò đó đã lớn, vậy họ có còn được hâm mộ như lúc còn bé không? Ở VN mọi người có nhiều nổi tiếng đương đại để mọi người chiêm nghiệm, ko tiện nêu ra, nhỡ họ đọc xong lại kéo đổ diễn đàn thì khổ nhiều người. Trên thế giới có thể kể ra vài người đình đám có thể nêu vô tư vì nhiều khả năng họ chẳng biết mình nói gì về họ (toàn sự thật thôi mà) Michael Jackson sống là thế, chết là thế, có ai muốn như anh? Võ sĩ thép Mike Tison đến già mà vẫn có kẻ muốn thách đấu để 1 lần đứng trên đầu người vô địch một thời. Ai muốn được như anh không? Vua bóng đá PeLe chưa bao giờ đoán được đội vô địch, dù ở vòng trung kết. Buồn nhỉ. Thần đồng bóng đá Maradona nghiện ma túy đến độ lấy đầu con gái ra để thề là không nghiện hút mà vẫn hút hít v.v... Rất nhiều người tài đều chỉ có 1 thời và nếu không có sự điều chỉnh bản thân thì sẽ không có con đường tốt trong tương lai. Xem số là để biết ứng xử sao cho hợp lẽ đời và không hổ thẹn với lương tâm. Chứ không phải là để cải số hay thay đổi số phận hay làm sai đi lịch sử. Nếu trước kia tầu Titanic không chìm (trước đó đã có tiên đoán đến chuyện này và nêu đích danh cái tên Titanic) thì ngày nay nó đã ngao du khắp nơi với hàng ngàn lượt khách. Và người ta sẽ không thể tìm ra Vi khuẩn có thể phân hủy Thép (Thép cứng hơn Sắt do đã được bổ xung nhiều hợp chất tăng cứng Si, C, N, Ni...) Cái gì cũng có nguyên do sinh tồn của nó, cái chết của sinh vật này là sự sống của sinh vật khác. Giữa sinh và diệt là ranh giới mong manh.
    1 like
  39. Phương pháp này chính là phương pháp lấy số tuổi chia cho 9 số dư là 1,3,6,8 là tuổi kim lâu. Hoặc phương pháp tính tắt là lấy tổng cá số của tuổi cần xem nếu là 1,3,6,8 là tuổi kim lâu VD 21 = 1+2=3
    1 like
  40. @meifang Bạn trai Tân Dậu mạng Mộc Bạn gái Bính Dần mạng Thủy theo Lạc Thư Hoa Giáp Thiên can Bính hợp Tân -->tốt Mạng nữ sinh mạng Nam -->tốt Dần Dậu lục xung --> xấu Tổng hợp tốt 80%.
    1 like
  41. Thưa bác Thiên Luân Nhờ bác xem giúp cháu Cháu sinh năm 1986 có bạn trai sinh năm 1981. Dự định kết hôn nhưng đi xem người ta lại nói là ko hợp và lấy nhau sẽ tuyệt mạng. Mong bác lý giải giúp cháu ạ Cháu cảm ơn bác nhiều ạ
    1 like
  42. Chào chú Thiên Sứ và mọi người, Phía dưới cổ mà mọc lông ( râu ), hoặc lông mọc phát triển từ nốt ruồi phía dưới cổ ( không phải lông tơ ) có ý nghĩa gì ạ? Cháu có nghiên cứu một số sách nhưng chưa thấy cuốn nào nói về vấn đề này. Một số người thì khuyên không nên cạo đi, họ gọi là râu lộc, cạo đi hay bị ốm... Nhờ chú Thiên Sứ và mọi người có kinh nghiệm chỉ bảo dùm ạ! Cảm ơn!
    1 like
  43. Mái nhà trong phong thủy Nguồn: Thanh Nien Online 20/09/2009 10:40 (TNTT&GT) Trong thành ngữ dân gian Việt có câu: "Con không cha như nhà không nóc".Nhà không có nóc thì không thể gọi là nhà. Chỉ cần thêm một cái mái che là đủ làm chỗ trú ngụ cho con người. Với ý nghĩa thông thường và tính ứng dụng nhận thức đã cho thấy tầm quan trọng của mái nhà. Mái nhà yếu tố quan trong trong phong thủy Trong căn nhà, hai cấu trúc quan trọng nhất là tường nhà và mái nhà. Phong thủy vốn là một phương pháp ứng dụng tổng kết từ những nhận thức thực tế của con người trong mối quan hệ với thiên nhiên môi trường sống của mình, tất nhiên rất quan trọng trong việc thiết kế mái nhà. Mái nhà chính là nơi tụ khí của toàn thể căn nhà. Bít kín thì khí bế, trống trải thì khí tán. Tính bế khí và tán khí trong nhà theo quan niệm phong thủy ảnh hưởng tới cuộc sống của con người trong ngôi gia. Bởi vậy, mái nhà trong phong thủy có vị trí cực kỳ quan trọng. Theo phong thủy, mái nhà là quyết định cuối cùng cho sự ảnh hưởng của toàn bộ căn nhà lên cuộc sống các thành viên. Do đó tính chất của mái nhà được ví như người cha cũng không ngoa. Mối tương quan hình thể giữa mái nhà và cấu trúc nhà. Theo quan niệm của phong thủy với phương pháp luận của thuyết âm dương ngũ hành, bất luận hình thức ngôi nhà có cấu trúc hình thể như thế nào thì bản chất của ngôi nhà – do cấu trúc bởi những góc vuông - vẫn thuộc Thổ hình. Do đó với những ngôi nhà có tính tương sinh giữa mái nhà và cấu trúc nhà được coi là mối quan hệ hoàn hảo về phong thủy. Chúng ta có thể thấy điều này qua mối tương quan giữa cấu trúc bằng - Thổ hình - của ngôi nhà với mái tròn – Kim hình – của tòa Bạch Ốc. Do tính Thổ sinh Kim. Hoặc với mái nhà nhọn – Hỏa hình – vốn là mái nhà phổ biến nhất hiện nay – Hỏa sinh Thổ. Mái nhà Mộc hình rất hiếm gặp. Trường hợp đặc biệt chỉ thấy ở nhà thờ Đức Bà, TP.HCM. Theo thuyết âm dương ngũ hành thì Mộc khắc Thổ. Nhưng với cấu trúc nhiều mái nhọn của nhà thờ Đức Bà - phong thủy gọi là ”Hỏa khí xung thiên” – thì mái nhà Mộc hình vút cao có tính tương sinh cho toàn bộ cấu trúc của nó. Đây là kiến trúc độc đáo theo cái nhìn phong thủy. Như vậy, giữa hình thức mái nhà với cấu trúc nhà tương sinh thì tốt. Khắc thì xấu. Theo phân loại ngũ hành: mái nhà được chia làm 5 loại chính (xem hình): Mái vút cao thuộc Mộc (nhà thờ Đức Bà, TP.HCM) Nhiều mái nhọn hình tam giác đều, hoặc cân với góc nhọn xấp xỉ hoặc lớn hơn 90 độ thuộc Hỏa ở Nhà Thờ Đức Bà. T/p HCM. Nhà mái bằng thuộc Thổ Mái hình tròn thuộc Kim Nhà mái nhọn thuộc Hỏa Nhà mái lượn sóng thuộc Thủy Nguyễn Vũ Tuấn Anh
    1 like
  44. Anh chị em thành viên diễn đàn cần tư vấn Tử Vi thân mến. Website lyhocdongphuong.org.vn là một trang web phục vụ cho việc nghiên cứu học thuật và văn hóa lịch sử cổ Đông phương. Điều tất yếu là những nghiên cứu cần phải có chứng nghiệm thực tế. Tử Vi Lạc Việt là hệ quả của công trình nghiên cứu xác định một nguyên lý căn để của Lý học Đông phương là: Hậu Thiên lạc Việt phối Hà Đồ và xác định tính hợp lý từ nguyên lý căn để này của Lạc Thư Hoa giáp. Nhưng vì Tử Vi Lạc Việt chưa được phổ biến rộng rãi, nên việc dùng trình Tử Vi Lạc Việt - nếu không là điều kiện qui ước sẽ có khả năng xảy ra những thành viên cần tư vấn sẽ không sử dụng. Như vậy, điều kiện thẩm định tính chính xác của Tử Vi Lạc Việt sẽ khó xác định. Bởi vậy việc dùng trình Tử Vi Lạc Việt để dự báo diễn biến có khả năng xảy ra trong cuộc đời là điều kiện qui định cho những ai cần tư vấn trong mục Tư Vấn Tử Vi. Chúng tôi sẽ từ chối tư vấn với những thành viên cần tư vấn, nhưng lại đưa trình Tử Vi phi Lạc Việt vào mục này. Nhưng, để có tính khách quan trong nghiên cứu khoa học và so sánh với phương pháp an sao cổ điển có nguồn gốc từ những bản văn chữ Hán. Chúng tôi tán thành việc những nhà tư vấn Tử Vi chưa tin vào độ chính xác của Tử Vi Lạc Việt, hoặc không quen dùng trình Tử Vi Lạc Việt có thể dùng trình Tử Vi từ các trang web khác để để dự báo giúp những thành viên có nhu cầu. Nhưng việc dùng trình Tử Vi phi Lạc Việt chỉ dành cho các nhà tư vấn. Cảm ơn sự quan tâm của quí vị và anh chị em.
    1 like
  45. Muốn lập đúng bảng số giờ sanh ta cần phải biết pp siêu thời tiếp khí trong KMDG như sau: *Tính tổng số thời gian bằng phút của tiết thực tế rồi đem chia cho 180 giờ để biết" mỗi giờ là bao nhiêu phút." *...........................................từ đầu tiết thực tế đến phút sanh (của ngày giờ sanh) rồi đem chia cho số phút mỗi giờ vừa tìm được ở trên để biết người ấy sanh vào giờ thứ mấy trong 180 giờ .Thế là ta có giờ sanh đã STTK là giờ gì và thuộc nguyên nào .Sau đó thì lập bảng 6 nghi 3 kỳ để thành lập bảng số ....vv Chú ý là trong các Lịch kỳ môn hiện nay của TQ họ tính tiết thực tế theo giờ Bắc Kinh mà giờ chuẩn của KMDG là giờ của vùng Động Đình Hồ tức là gần đúng với giờ Việt Nam hiện nay. Một điêu nữa là khi siêu thời tiếp khí như trên thì một người sanh ban ngày lại tính thành giờ ban đêm hoặc ngược lại, ta vẫn lập bảng số theo giờ đã STTK thôi, nhưng khi xét đoán bảng số thì phải chú ý đến vấn đề Dương tướng và Âm thần :Các tướng Dương mà giờ thực tế (chứ không phải giờ STTK) là ban đêm thì biến thành Âm thần, các tướng Âm thì ngược lại . Các sách Kỳ Môn lâu nay lấy quy luật Tam nguyên phù đầu làm STTK là sai. Đó là quy luật làm Lịch Kỳ Môn của người xưa TN
    1 like
  46. Thực ra Thiên Sứ chẳng có gì để khoái chí cả. Nhận thấy có không ít người khi có tuyệt chiêu thì giấu rất kỹ, Thiên Sứ tôi thì không dấu điều gì. Sự thành công của anh chị em tất nhiên là niềm vui của tôi rồi. Thực ra tôi không bao giờ muốn có sự tranh tài của Lạc Việt độn toán và cũng không muốn anh chị em Lạc Việt độn toán và Phong Thủy Lạc Việt đi so tài với ai cả. Đây là phương pháp ứng dụng, nên nó hay thì nó chứng tỏ ở hiệu quả. Có thể các cao thủ bốc Dịch giỏi hơn anh chị em Lạc Việt độn toán - trong đó cá cả tôi, hoặc một người xem Tử Vi giỏi cũng hay hơn tôi nhiều. Tôi không hơn thua với ai trong chuyện này. Đó không phải mục đích của tôi. Điều tôi cần là văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử là một chân lý phải sáng tỏ. Mọi cái sẽ đều vô ích nếu mục đích không đạt được. Sẽ không có Lạc Việt độn toán và Phong Thủy Lạc Việt và luận tuổi Lạc Việt, Tử Vi Lạc Việt...nếu như không có cội nguồn văn hiến trải gần 5000 năm của người Việt. Mong anh chị em nghiên cứu Lạc Việt độn toán và Phong thủy Lạc Việt thành tâm hiểu được điều này. Nếu hiểu được điều này thì các anh chị em sẽ có những hiểu biết rất sâu về các môn cổ học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt, cho dù nó chưa được sáng tỏ tình chân lý của nó. Khi rảnh tôi sẽ tóm tắt vì sao Kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngụ hành là của người Việt và dân tộc Việt trải gần 5000 năm văn hiến. Thiên Sứ
    1 like