• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Leaderboard


Popular Content

Showing most liked content since 17/01/2018 in all areas

  1. TỔNG QUAN NĂM KỈ HỢI 2019 Kính thưa Quí Vị, Tiếp nối truyền thống của Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương mà khởi xướng là nhà Nghiên Cứu : Nguyễn Vũ Tuấn Anh –Chủ tịch hội đồng khoa học Trung Tâm , nguyên Giám Đốc Trung Tâm, hàng năm cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về đều có những bài dự báo tổng quan cho năm mới dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và nền tảng nguyên lý “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”. Phương pháp dự báo sử dụng của Chúng tôi bao gồm Huyền Không Phi Tinh thuận-nghịch cùng phối hợp quẻ Lạc Việt Độn Toán và đây cũng sẽ luôn là phương pháp xuyên suốt cho tất cả các dự báo của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương . Quẻ Chủ : ĐỖ - VÔ VONG (ngày mùng 1 tháng Giêng năm KỈ HỢI) Quẻ Độn: Cảnh - ĐẠI AN Huyền không lạc việt phi tinh: Bát Bạch nhập trung cung. Thiên Can Kỉ- Thổ và Địa chi Hợi –Thủy tương khắc Lạc thư hoa giáp : Vận khí Bình Địa Mộc Quẻ chủ Đỗ - Vô Vong : Tượng trưng của sự kết thúc mội chuỗi chu kỳ vận động. Dựa trên sơ đồ phân cung của Địa Lý Lạc Việt phối hợp Lượng thiên Xích trên nền tảng Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài 9 – Ly 7, chúng ta xem xét trên từng khu vực - Tả Phù Bát bạch 8 nhập trung: là Lệnh tinh (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Mộc. Vận khí Mộc cực thịnh nên Bát Bạch nhập trung mang lại sự cát lợi cực vượng của sao này. - Sao Hữu Bật Cửu Tử - 9 theo Huyền Không phi tinh là tiến Khí chính Thần – ngũ hành thuộc Kim (khác với HKPT truyền thống thì ngũ hành của Cửu tử 9 thuộc Hỏa) – sao này đáo cung Càn chính là đem lại sự hưng vượng cho phương Tây bắc. - Liêm trinh Nhất bạch 1 đáo cung Ly: là sao tiến khí trong vận 8, ngũ hành Thủy đáo cung Ly tương khắc nên đây là cách cục bất lợi cho phương Nam. - Cự môn Nhị hắc 2 đáo cung Cấn: Là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc âm hỏa đới thổ đáo cung Cấn âm mộc. Đây là cách cục chiêu hung của Nhị hắc tại phương Đông bắc - Lộc tồn Tam Bích 3 đáo cung Đoài: là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc dương mộc đáo cung Đoài dương Kim tương khắc nên hạn chế bất lợi của tam bích tại phương này. - Văn khúc Tứ lục 4 đáo cung Khảm: Là sao tử khí trong vận 8 lại được hỗ trợ từ cung Khảm tương sinh với ngũ hành âm kim của tứ lục nên sao này sẽ phát huy hết tính chất xấu của nó. Tuy nhiên, do Bát bạch nhập trung nên nhờ cát khí của trung cung mà hạn chế phần nào tác hại gây ra từ sao này tại phương Bắc. - Ngũ hoàng 5 đáo cung Khôn-Đông Nam: đây là chủ của Hung sự trong năm tại phương Đông Nam - -Vũ Khúc Lục bạch 6 đáo cung Chấn –Đông: là sao suy khí trong vận 8 lại bị cung Khôn thuộc Hỏa khắc nên đây là tổ hợp chiêu hung. - Phá Quân Thất xích 7 đáo cung Tốn: là sao thoái khí nằm tại cung Tốn thuộc Kim . Do đó giảm bớt tác hại của sao số 7 Từ những hạng mục cát hung của từng phương, tôi xin đưa ra các nhận định tổng quan như sau: 1. Kinh tế Đây là một năm dự báo cho nền kinh tế khó khăn, đặc biệt là Tài Chính Ngân Hàng. Các quyết sách từ các lãnh đạo của các nền kinh tế lớn như trừng phạt kinh tế, các hàng rào thuế quan vv.. sẽ làm cho nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng khó khăn. Các công ty sẽ phải đối mặt với những thách thức về tài chính. Việt nam cũng sẽ bị ảnh hưởng và ngành ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, các công ty đối mặt với lãi suất và chống đỡ với những cơn bão kinh tế từ bên ngoài. BĐS năm nay sẽ chững lại do tác động từ nghành ngân hàng, tuy nhiên sẽ không vỡ như những năm 2012-13 Nửa đầu 2019 Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và nửa sau 2019 sẽ bớt dần nhưng rất chậm. Một số ngân hàng lớn có nguy cơ phá sản, nợ xấu hoặc tranh chấp kiện tụng do bị lừa đảo. Lãi suất tăng tác động ko nhỏ tới nền kinh tế toàn cầu nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng. 2. Xã hội : Bất bình và lộn xộn sẽ xảy ra do kinh tế khó khăn gây ra. Lãnh đạo các nước lớn sẽ phải đối mặt với những thách thức không nhỏ từ những cuộc biểu tình hay bạo loạn tương tự như Pháp năm 2018. Các lãnh đạo tập đoàn lớn, ngân hàng lớn cũng sẽ phải đối mặt với rất nhiều chuyện phiền phức liên quan tới chính sách và pháp luật. 3. Nông nghiệp: Nghành chăn nuôi đặc biệt như Trâu , Bò, Lợn, lại cần hết sức cẩn trọng do bệnh tật. Nông nghiệp thế giới nói chung sẽ mất mùa cục bộ do lũ lụt gây ra ở qui mô cục bộ. Nhưng vùng hay gặp lũ lụt chính là những nơi cần có phương án đối phó với lũ lụt. Một lần nữa phải đề phòng với những khả năng xảy ra với hoa quả xuất khẩu qua biện giới do chính sách thay đổi như đã xảy ra với Thanh Long , Dưa Hấu. Hoa quả được mùa nhưng mất giá cũng là một điểm không thuận lợi cho nông nghiệp. 4. Thiên tai : Lũ lụt xảy ra cục bộ ở một số nơi nhưng thiệt hại rất nặng nề. Các vụ cháy sẽ giảm đi so với năm 2018. Khả năng cao xảy ra sóng thần ở một số nước thường có động đất. 5. Nhân họa , tai nạn: Các vụ rơi máy bay, tai nạn giao thông trên thế giới lại diễn ra, và ít nhất sẽ có một vụ tai nạn khảm khốc làm nhiều người thiệt mạng. Các tranh chấp xã hội với nhà cầm quyền lại xảy ra dẫn tới xô sát làm nhiều người bị thương và thiệt mạng. Việt nam sẽ gặp khó khăn từ ngay tháng 11 của năm Mậu Tuất cho tới giữa nửa đầu năm 2019, tuy không nặng nề nhưng cũng sẽ là những thách thức đáng kể, đặc biệt là nghành tài chính ngân hàng. Trên đây là các cái nhìn tổng quan cho năm Kỷ Hợi 2019 của Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải). Tết đến Xuân sang, xin kính chúc quí vị một năm mới An Khang-Thịnh Vượng và thật nhiều Sức khỏe-Hạnh Phúc. Hà nội tháng 1 năm 2019 Việt lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    12 likes
  2. BÁT SÁT TRONG ĐỊA LÝ LẠC VIỆT. Trên cơ sở giả thuyết ban đầu xuất sắc của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn. Chúng tôi đã thực hiện lại mối liên hệ giữa hướng và phương sát trong Bát sát với vòng Tràng sinh. Nhưng để quý vị và ACE thấy rõ được tính nhất quán và tính hệ thống của một lý thuyết nhân danh khoa học, chúng tôi cần nói rõ hơn về vấn đề Vòng Tràng sinh. I. VÒNG TRÀNG SINH TRONG LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG. Khái niệm "Vòng Tràng Sinh" trong ứng dụng của Lý học Đông phương, mô tả một chu kỳ gồm 12 thành tố. Các thành tố này lần lượt theo quy luật là: 1/Trường sinh. 2/ Mộc Dục. 3/ Quan đới, 4/ Lâm Quan, 5/ Đế Vượng, 6/ Suy. 7/ Bệnh. 8/ Tử. 9/ Mộ. 10/ Tuyệt. 11/ Thai. 12/ Dưỡng.... Vòng Trường sinh mô tả chu kỳ sinh trưởng và suy bại của mọi sự vật, sự việc trong cuộc sống, thiên nhiên, vũ trụ và con người. Cho nên, vòng Trường sinh ở trong nhiều hệ thống của các ngành ứng dụng thuộc Lý học Đông phương. Vòng Trường sinh trong ngành dự báo số phận con người là Tử Vi có chu kỳ trong 12 cung và là thành tố dự đoán của chu kỳ Đại Hạn 10 năm trong Tử Vi - Tức là vòng Tràng sinh chi phối 120 năm (Một trăm hai mươi năm) trong chu kỳ vận hạn của một đời người trong lá số Tử Vi. Trong ứng dụng của khoa Tử Vi, vòng Tràng Sinh Dương tính theo chiều thuận. Vòng Tràng sinh Âm tính theo chiều nghịch. Chu kỳ Âm Dương của vòng Trường Sinh là 24 năm. Đây chính nguyên lý chu kỳ 24 năm Sinh - Vượng - Mộ của một hành trong LẠC THƯ HOA GIÁP được thực hiện trên Hà Đồ - đã được Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh chứng minh nguyên lý lập thành bảng này trên Hà Đồ - với sự thay đổi vị trí hai hành Thủy Hỏa. Vòng Tràng sinh thể hiện sự tiêu trưởng của ngũ hành. Ngũ hành phân Âm Dương cho nên vòng Tràng sinh cũng theo Âm Dương và ứng dụng theo tam hợp cục của Địa chi. Vì Địa chi phân Âm Dương nên sự ứng dụng của Trường sinh cũng theo quy luật Dương thuận, Âm nghịch. Thí dụ: Tam hợp cục Hỏa là Dần - Ngọ - Tuất; Tam hợp cục Mộc là Hợi - Mão - Mùi.... ACE và quý vị lưu ý nguyên lý tam hợp cục của ngũ hành để đối chiếu với tính hợp lý trong việc ứng dụng vòng Tràng sinh trong Địa lý Phong thủy Lạc Việt. Quý vị và ACE xem hình minh họa dưới đây cho hai vòng Tràng sinh Âm Dương thuận nghịch. Vòng Tràng sinh Duong thuận Vòng Tràng sinh Âm nghịch Như vậy tôi đã trình bầy khái quát về những nguyên lý ứng dụng của vòng Tràng sinh trong mọi ngành ứng dụng của Lý học Đông Phương nói chung. Trên cơ sở những tri thức căn bản về vòng Tràng sinh này chúng ta ứng dụng tiêu chi khoa học cho một lý thuyết khoa học phát biểu như sau: Trên cơ sở tiêu chí khoa học này, chúng tôi ứng dụng giả thuyết hướng sát của Bát sát lệ thuộc vào vòng Tràng sinh xem có phù hợp với tiêu chí khoa học trên hay không. Vì vòng Tràng sinh có thể phân loại Âm Dương, cho nên chúng tôi cũng phân loại tám phương Bát quái theo Âm Dương, như sau: A/ Bốn quái tứ chính thuộc Dương, gồm: Khảm / - Chấn / - Ly / - Đoài / B/ Bốn quái tứ di thuộc Âm, gồm: Càn / - Khôn / - Cấn / - Tốn / Trên cơ sở này chúng ta một lần nữa áp dụng vòng Tràng sinh theo đúng như cổ thư chứ Hán mô tả về hướng sát của Bát sát để đối chiếu, so sánh. A/ Bốn quái tứ chính: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Thìn (Khảm Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư).....................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Tỵ (Đoài Xà đẩu) B/ Bốn quái tứ di: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..............................6/ Hướng Khôn ( Tốn theo sách Việt), Bát sát ở Mão (Khôn Thỏ 'mão') 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dần (Cấn Hổ)................................8/ Hướng Tốn (Khôn theo sách Việt). Bát sát ở Dậu (Tốn Kê). Thưa quý vị và ACE thân mến Như vậy qua hình mô tả ở trên, khi chúng ta áp vòng Tràng sinh theo giải thiết ban đầu để quán xét thì chúng ta nhận thấy rằng, ở bốn quái tứ chính (vòng Tràng sinh thuận), chỉ có hai quái Ly và Chấn có phương Bát sát nằm ở Tuyệt. Và ở bốn quái tứ Di (vòng Tràng sinh nghịch) thì chỉ có hai quái Càn và Khôn (Tốn theo sách Việt) có phương Bát sát nằm ở Tuyệt. Như vậy nếu theo giải thuyết ban đầu là đúng thì thể hiện phương sát theo cổ thư chữ Hán chỉ đúng được một nửa?! Chúng tôi cho rằng: Vì mối liên hệ chính xác "một nửa" đó - phương sát phải nằm ở vị trí Tuyệt của vòng Tràng sinh - thì tính hợp lý lý thuyết cho toàn bộ vấn đề, tất cả các phương sát đều phải nằm phương Tuyệt của vòng Tràng sinh - Tùy theo tứ chính hay tứ di mà ứng dụng vòng Tràng sinh thuận nghịch. trên cơ sở này chúng ta áp vòng tràng sinh trên cơ sở "Hậu thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn - Khôn) phối Hà Đồ" . Chúng ta sẽ được một sự hoàn hảo phù hợp với tiêu chí khoa học của phương sát trong Bát sát, như mô hình dưới đây: A/ Bốn quái tứ chính: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Tị (Khảm Xà/ Sách Hán: Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư).....................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Dần (Đoài Hổ đẩu. Sách Hán: Xà) B/ Bốn quái tứ di: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..............................6/ Hướng Khôn Bát sát ở Tý (Khôn 'Tý'. Sách Hán: Tốn Kê) 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dậu (Cấn Kê. Sách Hán: Dần)..........8/ Hướng Tốn Bát sát ở Mão (Tốn Mẹo. Sách Hán: Khôn tuyệt ở Mão). Thưa quý vị và ACE, trên cơ sở giả thuyết ban đầu chúng tôi xác định rằng: Tất cả các phương sát trong Bát sát đều phải nằm ở vị trí Tuyệt của vòng Tràng sinh. Trong đó, tứ chính là Dương, thuộc vòng Tràng sinh thuận; tứ Di là Âm thuộc vòng Tràng sinh nghịch. Và chúng tôi đã minh họa ở hình trên. Trên cơ sở này chúng ta thấy rằng: Hai quái tứ chính là Ly - Chấn hoàn toàn trùng khớp phương sát với Lạc Việt, tức giả thuyết của chúng tôi và hai quái tứ Di là Càn - Khôn (Tốn theo Lạc Việt) là hoàn toàn trùng khớp, còn lại như phần trên đã trình bầy thì phương pháp đặt phương sát của chúng tôi nhân danh nền Văn hiến Việt một thời huy hoàng ở bờ Nam sông Dương tử, hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học về tính quy luật, tính khách quan, tính hệ thống, tính nhất quán và tính hoàn chỉnh. Bây giờ chúng ta đối chiếu tiêu chi khoa học mà chúng tôi đã trình bầy ở trên về tính hợp lý lý thuyết toàn diện nhân danh nền Văn hiến Việt: Tất cả những ai nghiên cứu về Lý học thì đều biết rất rõ thì trong 12 Địa chi thì Tý tuyệt Tị, Mão tuyệt Thân, Ngọ tuyệt Hợi, Dậu tuyệt Dần và ngược lại: Hợi tuyệt Ngọ, Tị tuyệt Tý, Dần tuyệt Hợi, Thân tuyệt Mão. Trên cơ sở này chúng ta quán xét lại toàn bộ những hướng và phương sát - nhân danh nền Văn hiến Việt - hoàn toàn phù hợp với cách Tứ Tuyệt trong Địa chi được mô tả trong Lý học Đông Phương, đồng thời phù hợp với phương Tuyệt của vòng Tràng sinh. Đây chính là tính hợp lý lý thuyết của mọi vấn đề liên quan đến nó phù hợp với tiêu chí khoa học. Đó là phù hợp với phương Tuyệt của vòng Tràng sinh; phù hợp với nguyên lý Tứ tuyệt của địa chi. Đó chính là một phương pháp nghiên cứu của chúng tôi căn cứ theo tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Đây là điều mà trong các cổ thư chữ Hán không mô tả được. Vấn đề không phải chỉ riêng một vấn đề phương sát trong Bát sát trong Địa lý Phong thủy. Mà là tất cả hầu hết các di sản từ cổ thư chữ Hán liên quan đến Thuyết Âm Dương ngũ Hành, thì chúng đều rất mơ hồ, mâu thuẫn và bất hợp lý ngay trong nội hàm cấu trúc của hệ thống này. Tính hợp lý lý thuyết phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, chỉ thể hiện nhân danh nền Văn Hiến Việt một thời Huyền Vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử, với nguyên lý căn để Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt. Mới đủ tư cách để xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Bát Quái chính là "Lý thuyết thống nhất vũ trụ" mà nền khoa học hiện đại đang mơ ước! Trên cơ sở này. Rất hy vọng bài viết mà tôi trình bầy trên đây sẽ được quý vị quan tâm. Riêng đối với ACE Địa lý Lạc Việt thì nhân danh một người thầy đang truyền đạt kiến thức và nhân danh nền Văn Hiến Việt, với tinh thần khoa học thực sự, ACE hãy áp dụng phương sát trong Bát sát đã được phục hồi từ nền Văn hiến Việt. Phương pháp ứng dụng nhân danh nền Văn hiến Việt, không chỉ ứng dụng trong Dương trạch để trổ cửa tùy theo hướng nhà, mà còn là ứng dụng trong Loan Đầu để chọn hướng nhà và vấn đề Âm trạch mà ACE sẽ tiếp tục được học tới đây. Xin cảm ơn quý vị và ACE đã đọc và quan tâm đến bài viết này.
    12 likes
  3. DỰ BÁO NĂM KỶ HỢI VIỆT LỊCH - 2019 Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Kính thưa quý vị. Bài dự báo của tôi trình bày với quý vị hôm nay, trên cơ sở những phương pháp dự báo nhân danh những giá trị thuộc về nền văn minh Đông phương, có cội nguồn từ nền văn hiến Việt. Phương pháp dự báo đầu tiên, mà tôi giới thiệu dưới đây là Huyền không Lạc Việt. Phương pháp này dựa trên những di sản còn lại của nền văn minh Việt bị Hán hóa một cách sai lệch, sau khi nền văn hiến Việt bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Phương pháp Huyền không Lạc Việt trong dự đoán các sự kiện quốc tế, mà tôi hân hạnh trình bày với quý vị sau đây, khác với những di sản ghi nhận trong cổ thư chữ Hán là sự hoán đổi độ số ở vị trí phương Tây/Đoài với phương Nam/Ly. Và độ số giữa Tây Nam/Tốn 4 với Đông Nam/Khôn 2. Sở dĩ phương pháp dự báo mang tính quốc tế của Huyền không Lạc Việt thực hiện được, cũng xuất phát từ sự phục hồi phương pháp Định tâm trong Địa lý phong thủy,với bất cứ hình thể nào, được thể hiện bằng mặt phẳng quy ước. Do đó, sự phân bố các yếu tố tương tác là các vì sao trong Huyền Không có thể mô tả ở cấp độ toàn cầu. Từ đó là cơ sở cho việc dự báo. Sở dĩ phương pháp dự báo mang tính quốc tế của Huyền không Lạc Việt thực hiện được, cũng xuất phát từ sự phục hồi phương pháp Định tâm trong Địa lý phong thủy, nhân danh nền văn hiến Việt. Trên cơ sở phân bố các sao thuộc Huyền không Lạc Việt, quý vị cũng thấy các sao có tính chất xấu có số 5 - 2, phân bố ở các vùng Đông Bắc, Đông Nam. Và đặc biệt ở ngay trung tâm Địa cầu là sao Bát Bạch với độ số 8. Tính chất xấu của hai sao mang độ số 5 Ngũ Hoàng và 2 Nhị Hắc, còn được gia tăng bởi sao Thái Tuế chiếu trục Phúc Đức là Đông Nam/Tây Bắc. Chưa hết, Hai sơn Cấn Dần là phương vị của Hỷ Thần - tượng trưng cho kinh tế lại bị xung Thái Tuế. Xin quý vị xem hình dưới đây (Hình do Thiên Đồng - Bùi Anh Tuấn thực hiện): Nội dung dự báo năm Kỷ Hợi của tôi trình bày với quý vị, có tham khảo hai bài dự báo của Hoàng Triều Hải và sử dụng bản vẽ về các sơn hướng liên quan của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, là hai thành viên nghiên cứu của TTNC Lý học Đông phương. Phương pháp thứ hai mà chúng tôi ứng dụng trong dự báo này là Lạc Việt độn toán. Đây là một phương pháp dự báo được phục hồi, nhân danh nền văn hiến Việt, bằng cách kết hợp giữa hai phương pháp dự báo còn lưu truyền trong dân gian, là: Nhâm cầm độn toán và Lục nhâm đại độn. Quẻ đầu năm Kỷ Hợi, theo Lạc Việt độn toán, vào giờ Tý. ngày mùng Một tháng Giêng là Đỗ Vô Vong. Đây là một quẻ chủ về sự nghiệp bất thành, Mọi cố gắng vô ích, sự ỷ lại và chậm phát triển. Đặc biệt về kinh tế có nhiều biến động. Cơ sở dự báo: - Phân tích bản đồ Huyền Không Lạc Việt. Trên bản đồ Huyền Không Lạc Việt, chúng tôi dùng cả hai phương pháp phi tinh thuận nghịch. Sao Thái Tuế - theo nghiên cứu của chúng tôi chinh là sao Mộc tinh - được ký hiệu độ số 8 - chiếu phương Càn/Hợi và xung Thái Tuế ở Đông Nam - phương Khôn/Tỵ. Đây là lực tương tác mạnh đến hai phương biểu kiến trong Lý học và mang tính chất thuần Dương/Càn và thuần Âm/Khôn. Cho nên, tính chất biểu kiến của hai quái Càn/Khôn là thượng tầng kiến trúc và các mối quan hệ kinh tế đời sống/ Hạ tầng xã hội sẽ bị xáo trộn mạnh. Đặc biệt phương Đông Nam, còn bị sao Ngũ Hoàng Đô Thiên sát tại vị (Huyền không trong bản văn chữ Hán là: Thất Xích/ Thuận và Bát Bạch/ Nghịch). Bởi vậy, kinh tế thế giới năm tới sẽ suy thoái nặng hơn nhiều so với các năm trước. Vài quốc gia bị khủng khoảng nặng và dẫn đến sụp đổ chính phủ. Ngoài ra còn nhiểu yếu tố khác, chúng tôi sẽ mô tả khi dự đoán những sự kiện liên quan. Trên cơ sở của những phương pháp này, tôi trình bày với quý vị về những dự báo về nhiều mặt cho năm Kỷ Hợi 2019 của thế giới, như sau. Về kinh tế thế giới: Có thể nói: Năm Kỷ Hợi 2019, thế giới sẽ chứng kiến một sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng với một tính chất khác. Nếu coi năm 2008, là năm mở đầu cho một cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới, thì năm Kỷ Hợi 2019 là một cuộc suy thoái tiếp tục, do khủng khoảng của hầu hết những nền kinh tế chủ chốt của thế giới. Những biện pháp ổn định kinh tế mang tính cực đoan sẽ xuất hiện ở nhiều quốc gia. Và những biện pháp này lại là nguyên nhân đẩy sâu hơn sự suy thoái, do tính mất cân đối của nền kinh tế toàn cầu. Nhiều ngành nghề với những Cty lớn phá sản, kéo theo những hệ lụy xã hội. Và điều này bổ xung cho hậu quả thêm nặng nề của cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới lần này. Một sự bổ xung cho bức tranh u ám của nền kinh tế toàn cầu trong năm Kỷ Hợi 2019, còn là những biện pháp nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế quốc gia giữa các siêu cường, khiến cho nền kinh tế toàn cầu thêm phần bi đát. Tính chất suy thoái kinh tế thế giới của năm Kỷ Hợi - 2019 tương đồng về định tính với các năm trước trong các dự báo của tôi. Nhưng năm nay, sự khủng khoảng đặc biệt nghiêm trọng, đối với những quốc gia không có một nền tảng kinh tế vững chắc. Một chính sách đúng đắn nhất của những chính phủ thông minh trong lúc này, là cân đối được tương quan kinh tế trong nội bộ quốc gia. Điều này sẽ tránh được những hệ lụy xã hội, do khủng khoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Còn những mơ ước về sự phát triển, nên để khi khác. - Kinh tế Hoa Kỳ. Nhìn lên bản đồ Huyền Không, chúng ta dễ dàng nhận thấy hai sao Tam Bích đều tọa phương Tây là Hoa Kỳ. Đây là hai sao được coi là có tính chất tốt về sự phát triển. Cho nên có thể nói rằng: Nền kinh tế Hoa Kỳ vẫn phát triển tốt và ổn định. Nhưng nó không còn là một đầu tầu kinh tế để kéo theo nền kinh tế thế giới. Nhưng Tam Bích tọa Tây phương là không chính vị. Do đó, trong năm 2019 - Tức Kỷ Hợi Việt lịch, Hoa Kỳ sẽ có những chính sách gây ảnh hưởng lớn đế thế giới về nhiều phương diện. - Về chính trị xã hội và ngoại giao. Những điểm nóng trên thế giới, do tranh chấp lãnh thổ vẫn tiếp tục tăng nặng, và mối đe dọa xung đột lớn rất có khả năng xảy ra. Có thể nói ngay những tháng đầu năm Kỷ Hợi, cả thể giới sẽ có nhiều sự kiện tạo những bước ngoặt về các vấn đề chính trị xã hội được thay thế bằng sự xung đột và mâu thuẫn xã hội ở nhiều quốc gia. Do sao Thái Tuế chiếu đúng cung Càn, Cửu từ bị sinh xuất. Xung Thái Tuế gặp Ngũ Hoàng và Nhất Bạch bị triệt tại Khôn. Càn là quái thuần Dương, biểu tượng cho Thượng tầng kiến trúc. Năm Kỷ Hợi 2019, là năm sẽ chứng kiến nhiều mâu thuẫn chính trị nội bộ ở nhiều quốc gia. Kể cả những quốc gia được coi là phát triển, như: Anh, Pháp, Đức...Mâu thuẫn và xung đột giữa tinh thần tôn giáo cực đoan, - Quan hệ Hoa Kỳ - Trung quốc. Trên bản đồ Huyền Không Lạc Việt, chúng ta thấy rõ trục Đông Tây chính là trục Tuyệt Mạng và gần như bao trọn hai quốc gia là Mỹ Trung. Năm nay hai sao Tam Bích (Gốc phương Đông) và Cửu Tử (Gốc phương Tây) lại chiếm chỗ của nhau (Theo Huyền Không từ cổ thư chữ Hán thì Phương Tây do hai sao Nhất Bạch/ Số 1 và Ngũ Hoàng/ Số 5 quản. Do đó sự phân tích sẽ khác đi). Từ đó, tính sát phạt của mối quan hệ giữa hai siêu cường này, năm nay sẽ rất quyết liệt trên mọi phương diện. Điều mà tôi gọi là "Đấu trường sinh tử" giữa hai siêu cường này, sẽ đi vào hồi kết của cuộc chiến tranh kinh tế vào cuối năm nay. - Về văn hóa xã hội. Nhìn lên bản đồ Huyền không Lạc Việt, chúng ta thấy hai sao Nhất Bạch / Phi thuận và Ngũ Hoàng/ Phi nghịch cùng tọa phương Nam Ly Hỏa. Cung Ly là biểu tượng của văn hóa, tri thức và sự sáng tạo; sao Nhất bạch/ Số 1 - gốc phương Bắc/ Khảm Thủy. Đây là thế Phúc Đức của Khảm/ Ly phối hợp. Bởi vậy, có thể xác định được rằng: Những giá trị tri thức văn hóa xã hội và khoa học nói chung, được phát triển và được tôn trọng (Theo Huyền không từ cổ thư chữ Hán thì phương Nam có hai sao Tam Bích/ số 3 tọa thủ, sự phân tích sẽ khác đi. Vì tính chất sao thay đổi). Những giá trị tri thức đích thực của nền văn minh Đông phương sẽ được sáng tỏ và bắt đầu được chú ý đặc biệt của giới khoa học quốc tế. Trong năm Kỷ Hợi Việt lịch - 2019, thế giới sẽ chứng kiến nhiều thành tựu về văn hóa, lịch sử, giáo dục và những giá trị nhân văn phát triển. Tuy nhiên. do tổng thể thế giới bị hạn chế bởi những sao xấu tọa thủ ở những phương vị quan trọng và ngay tại phương Nam có sao Ngũ Hoàng tọa, cho nên các vấn đề phát triển văn hóa xã hội cũng chưa thể như mong đợi. - Về tệ nạn xã hội. Tính chất tàn bạo của tội phạm giảm dần và ít nghiêm trọng hơn. Những tệ nạn xã hội, như: lừa đảo, trộm cướp....nếu xét về số lượng thì có giảm, tuy không đáng kể. Nhưng cũng không tăng trong một bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái. Tuy nhiên, những vấn đề nổi bật mà xã hội quan tâm, như: Buôn người, ma túy vẫn không có dấu hiệu suy giảm. - Về nhân họa. A/ Tai nạn: Những tai nạn như: Đắm tàu, rơi máy bay, lật tàu hỏa, đâm xe hơi.... tuy giảm về số lượng, nhưng tăng nặng về mức độ nghiêm trọng, do chết nhiều người. Riêng về tai nạn hàng không, năm Kỷ Hợi, tuy không khủng khiếp bằng cách đây vài năm trước, rớt đến 5 máy bay dân sự. Nhưng những vụ rớt máy bay thương tâm cũng sẽ xảy ra tương tự, nhưng ít hơn về số lượng, nếu so với số lượng 5 vụ so với vài năm trước đây. Cụ thể trong năm nay, sẽ có ít nhất một vụ tai nạn máy bay thương tâm, gây chấn động dư luận thế giới. B/ Khủng bố: Các tổ chức khủng bố ngày càng bị bị thu hẹp về quy mô, dẫn đến tan rã. Nhưng hành động khủng bố vẫn diễn ra với những sự kiện thảm khốc. Từ đó dẫn đến tinh thần ứng phó ngày càng cực đoan hơn của chính phủ các nước liên quan. C/ Chiến tranh: Những điểm nóng trên thế giới bùng phát và thay đổi về đối tượng tham gia. Và đó là tiền đề dẫn tới nguy cơ chiến tranh giữa các siêu cường. Nhưng có thể xác định rằng: Mâu thuẫn dẫn đến bế tắc trong quan hệ kinh tế giữa các siêu cường, dẫn đến những nguy cơ chiến tranh căng thẳng vào cuối năm. D/ Dịch bệnh: Cần đề phòng những bệnh liên quan đến thần kinh và hệ tiêu hóa. Dịch bệnh bùng phát và trở thành vấn nạn ở một số quốc gia. Đặc biệt ở thú 4 chân và người. E/ Vệ sinh an toàn thực phẩm: Có nhiều cố gắng mang tính quyết liệt của chỉnh phủ các nước, khiến cho tệ nạn liên quan bị đẩy lùi một cách rất căn bản nhưng không triệt để. - Về Thiên tai. Đặc biệt sẽ có động đất nhiêm trọng xảy ra, mang tính hủy diệt. Tương tự như trận động đất ở Nepan, hoặc Nhật Bản vào năm 2011, hoặc Indo vào năm 2004 trước đây. Sự kiện sẽ xảy ra vào mùa Xuân ở phương Đông, hoặc mùa Thu ở phương Tây. So với năm Mậu Tuất 2018, hạn hán, bão lũ đều tăng nặng và mang tính hủy hoại lớn về tài sản, người và của. - Về khoa học kỹ thuật. A/ Khoa học kỹ thuật quân sự: Năm tới chỉ là sự hoàn thiện những loại vũ khí, khí tài quân sự tiên tiến đã công bố những năm trước đó. Không có phát minh gì nổi bật. B/ Khoa học kỹ thuật dân sự: Có lẽ đây là điểm sáng của năm Kỷ Hợi 2019. Sẽ có nhiều phát minh mang tính đột phá trong các ngành khoa học kỹ thuật, dân sự. Những bệnh về tim mạch có những phát minh mang tính bước ngoặt. Công nghệ thông tin, điện, điện tử cũng rất phát triển về những phát minh mới. Kết luận. Thưa quý vị. Kỷ Hợi Việt lịch 2019, thế giới không có mấy sáng sủa về nhiều phương diện. Ánh sáng lẻ loi của những thành tựu văn hóa, khoa học kỹ thuật, không làm sảng được bức tranh thế giới mờ mịt vào năm 2019. Nhưng truyền thống của người Việt Nam chúng ta luôn hy vọng và tin tưởng vào một năm mới mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Mặc dù thế giới có sự suy thoái nghiêm trong trên đà tiến hóa của nền văn minh. Nhưng nước Việt với tinh hoa của gần 5000 năm lịch sử, hy vọng vẫn đạt những sự tiến bộ về nhiều mặt trong năm Kỷ Hợi Việt lịch. Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý vị. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp, chúc tất cả quý vị có mặt nơi đây cùng gia đình một năm mới an khang thịnh vượng. Xin cảm ơn. ============================ Thưa quý vị và anh chị em. Đúng ra năm nay, phần do già yếu bệnh tật, tôi cũng định sẽ không tham gia các vấn đề dự báo hàng năm. Và nhường cho các anh chị em thuộc hàng cao thủ trong Địa Lý Lạc Việt là Hoàng Triều Hải, Phạm Hùng và Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, thay tôi tiếp tục thực hiện những lời tiên tri. Trên thực tế Hoàng Triều Hải và Thiên Đồng đã thực hiện một cách rất tự tin và có những dự đoán gần giống của tôi. Tuy nhiên, các đồng nghiệp vẫn tín nhiệm và đề nghị có những dự báo của tôi. Nên tôi đã tiếp tục tham gia với bài dự báo - mà tôi đã trình bày ở trên - tại Hội nghị Tổng kết cuối năm của TTNC Văn hóa cổ Đông phương, vào trước Tết Kỷ Hợi, tại Đồng Kỵ Bắc Ninh (Bài dự báo tiên tri của Hoàng Triều Hải cũng được đọc tại Hội nghị này). Đây là bản dự báo chính thức của tôi trong năm Kỷ Hợi Việt lịch. Xin cảm ơn vì sự chia sẻ và quan tâm của quý vị và anh chị em.
    10 likes
  4. ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT TRONG QUI HOẠCH KIẾN TRÚC KINH ĐÔ HUẾ Mạnh Đại Quân - Hoàng Triệu Hải. Giám đốc TTNC LHDP. Năm 1803 Hoàng đế Gia Long sau khi lên ngôi đã cho khảo sát địa thế và tiến hành xây dựng Kinh đô Huế cho triều đại kéo dài từ 1802 – 1945. Nhiều nhà Địa Sư nói Kinh đô Huế là “Vương đảo” quả cũng không sai, bởi Kinh thành Huế được bao bọc bởi dòng sông Hương phía trước và hai nhánh là sông Kim Long và sông Bạch Yến phía sau rồi cùng hội tụ tại hạ lưu. Kinh thành Huế được thiết kế và qui hoạch kiến trúc theo truyền thống hàng ngàn năm của người Việt. Kinh đô Huế được xây dựng trong suốt 30 năm – năm 1832 hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. Ngành Địa lý phong thủy của người Việt hay Trung Hoa, từ xa xưa vốn dĩ chỉ giành cho Vua Chúa, được lưu trữ và truyền lại trong Hoàng Tộc. Từ đời trước, khi Chúa Nguyễn từ Bắc vào “Đàng Trong”, đã mang theo di sản của cha ông từ “Đàng Ngoài”, và sau này Kinh thành Huế, là nơi được Hoàng Đế Gia Long áp dụng Địa lý cho qui hoạch kiến trúc cũng như Lăng mộ của chính mình. Tôi tin chắc chắn rằng: Vua Gia Long đã tiếp nối những tinh hoa của dân tộc Việt và truyền thừa những di sản của tổ tiên để lại. Và Ngài đã tiếp tục truyền lại cho đời sau, kiến thức từ công trình duy nhất còn tồn tại tới ngày hôm nay – Kinh đô Huế. Dưới góc nhìn Âm trạch thì lăng mộ của Hoàng Đế Gia Long cũng là một ẩn số, bởi cách Ngài bố trí và xây dựng khu lăng mộ này, để triều Nguyễn là Một trong những vương triều trị vị lâu nhất trong lịch sử Việt nam. Lăng mộ hiện nay, theo quan điểm riêng của tôi là mộ gió, tức là phần hài cốt được táng ở một nơi bí mật. Câu chuyện bắt đầu từ ngày tôi được đọc bài viết về Địa lý phong thủy Lăng Mộ của Hoàng Đế Gia Long. Nó cuốn hút tôi bởi những bí ẩn, mà những người theo đuổi bộ môn này đều muốn khám phá. Tôi ước sớm có thể quay trở lại Huế chỉ với một mục đích: Tìm hiểu về ứng dụng Địa lý của người Việt, vẫn còn được lưu lại trên Kinh đô Huế. Thật nhanh chóng chỉ sau đó 1 tuần, cơ duyên cho tôi được toại nguyện. Với sự giúp đỡ của những nhà nghiên cứu tại Huế, tôi được nghe kể và đưa tới những địa điểm mang dấu ấn của Hoàng Đế Gia Long: Lăng Mộ, Đàn tế Nam giao, Đại Nội. Tôi được quay lại các địa điểm Lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, Lăng Khải Định, đồi Vọng Cảnh và mỗi một nơi tôi đều được kể về lịch sử cũng như các câu chuyện của những nhà nghiên cứu văn hóa Huế. Nhìn bản đồ và hình ảnh từ vệ tinh của Kinh đô Huế, chúng ta cũng chưa nhận ra hết được sự đặc biệt của kiến trúc và qui hoạch, dưới góc nhìn Địa lý phong thủy. Phải nói rằng, Kinh đô Huế đã mang lại cho tôi hết bất ngờ này tới bất ngờ khác, liên quan đến sự huyền vĩ của nền văn hiến Việt cho chuyên ngành Địa Lý phong thủy. Hướng của Kinh đô Huế được xác định là hướng của Đại Nội, nơi được coi là trung tâm đầu não của Kinh đô Huế. Hướng của cổng Ngọ Môn và Đại Nội là 142 độ: Tức tọa phương Càn, hướng phương Khôn (theo Lý học Lạc Việt đổi chỗ Tốn/ Tây nam – Khôn đông nam), với nguyên lý căn để là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ', do nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Thiên Sứ phát hiện và làm cơ sở cho việc chứng minh cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương. Mô tả chính xác là Đại Nội Huế tọa Hợi (Tây Bắc), Hướng Tỵ (Đông Nam), kiêm hướng 4 độ. Bản đồ của người Pháp vẽ đầu thế kỷ thứ 19 cũng mô tả chính xác hướng trục Bắc - Nam theo đúng hướng Bắc của la kinh Toàn bộ Kinh thành Huế, được xây dựng mô tả theo 24 Sơn và Thủy pháp cực kì chuẩn và được mô tả trong hình dưới đây. Sau khi phân cung, chúng ta sẽ dễ hiểu vì sao tường hào bao quanh Kinh thành lại có những góc nhô ra và lượn vào như vậy. Và vì sao, lại có khu Mang Cá, khu vực được thiết kế như chiếc Vương Miện của Hoàng Đế. Kinh đô Huế được sử dụng Địa lý phong thủy Tam hợp , trong đó lấy trục Tây Bắc-Đông Nam là trục Đế Vương. Xin được bạn đọc quan tâm lưu ý rằng: Chỉ có Địa lý Lạc Việt, sau khi đổi chỗ Tốn - Khôn với nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" thì mới có hai trục được gọi là Phúc Đức, Bao gồm trục Bắc-Nam và Tây Bắc – Đông Nam. Trong Địa Lý phong thủy Tàu, chỉ có duy nhất một trục Bắc (Khảm)/ Nam (Ly) là Phúc Đức trạch; Còn trục Đông Bắc (Cấn) / Tây Nam - Theo Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư là Khôn - chỉ là Sinh Khí trạch. Trên cơ sở đó, toàn bộ các căn nhà bên trong kinh thành sẽ được lấy theo hướng Trường Sinh của Tứ Đại Cục: Kim – Mộc - Thủy - Hỏa là các sơn Dần - Thân - Tị - Hợi , Cấn - Khôn -Tốn - Càn. Toàn bộ kinh thành là Thủy Cục và Thủy pháp là hệ thống Sông, Hồ nhân tạo cực kỳ chuẩn xác. Chúng ta dễ dàng nhận thấy: khi phân cung và định vị theo Địa Lý Lạc Việt, việc thiết kế khu vực Mang Cá chính là nơi toàn bộ nước được hội tụ về đây, trước khi chảy thoát ra ở phương SUY . Phần sông Ngự Hà chạy thành nửa hình chữ nhật , toàn bộ nằm trong khu Trường Sinh và Đế Vượng , thoát ra ở Suy – Bệnh. Tôi sử dụng phần mềm phân cung - và nếu theo lý thuyết phong thủy từ cổ thư chữ Hán, thì việc bố trí ta thấy đã nằm ngoài thủy pháp trường sinh của Kinh đô Huế. Khi đã sai lệch - giữa Địa Lý Phong Thủy Việt và sách Địa Lý Phong thủy Hán - thì không thể trấn yểm để phá hoại! Quả thật quá cao siêu! Đoạn sau đây, trích từ bài để bạn đọc tham khảo: Toàn bộ hệ thống hồ nước, sông được đào khi xây dựng Kinh thành Huế, đều được bố trí rất chuẩn xác tại các Sơn theo bố cục Loan Đầu tự nhiên của Huế. Bí ẩn ở chỗ, rất nhiều hồ được đặt đủ vào các sơn Canh- Dậu-Tân, Tuất-Càn- Hợi, Nhâm- Tí- Quí. Hình dưới đây được mô tả theo Địa Lý phong thủy Tàu, phân cung và lấy Trường Sinh theo phương pháp từ cổ thư chữ Hán, là tọa Càn, hướng Tốn (Đông Nam - theo "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư" , tứ cổ thư chữ Han). Các bạn cũng thấy sự sai lệch giữa Thủy Pháp Việt và sách Hán. Hình dưới đây. mô tà sự trùng hợp giữa Cung điện mang tên "Trường Sinh" trong Đại Nội, cũng chính là vị trí Trường Sinh của kinh Đô Huế. Hình mô tả trong Đại Nội có cung Trường Sanh, đó chính là vị trí Trường Sinh của Kinh Đô Huế. Tôi không có đủ thời gian để khảo sát dòng chảy các con sông quanh Kinh thành Huế. Nhưng theo bố cục này thì tôi có nhận định dòng chảy như sau: Tôi mong rằng sẽ có người nghiên cứu dòng chảy của Huế xác nhận thông tin này. Từ những thông tin tìm được từ Kinh thành Huế , tôi xác định rằng: nơi đây chính là di sản bảo tồn những lý thuyết và phương pháp Địa lý phong thủy của dân tộc Việt. (Địa Lý Lạc Việt). Và cũng là nơi xác định tính chính xác của của nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" (đổi chỗ Tốn-Khôn). Khả năng rất cao là phương pháp này, cũng đã được áp dụng cho phong thủy của Tử Cấm Thành - công trình do Ông Nguyễn An người Việt thiết kế xây dựng. (còn tiếp) Hà Nội mùng 10 tháng 3 năm Mậu Tuất -Việt Lịch
    10 likes
  5. LỜI GIỚI THIỆU BÀI VIẾT CỦA HOÀNG TRIỆU HẢI. THƯA CÁC NHÀ KHOA HỌC, CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU. THƯA CÁC BẠN VÀ ANH CHỊ EM. Từ hai mươi năm nay, bằng sự phục hồi một hệ thống lý thuyết cổ xưa, nhân danh nền văn hiến Việt, tôi đã tha thiết trình bày về những giá trị của nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương với tất cả những ai quan tâm đến những gía trị văn hóa của nhân loại. Nhân danh nền văn hiến Việt, tôi đã xác định một nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" và phủ nhận nguyên lý "Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư", vốn được coi là thuộc nền văn hóa Hán. Nhưng, sự phức tạp của một hệ thống lý thuyết huyền vĩ - Lý thuyết thống nhất vũ trụ - mà toàn thể nền văn minh nhân loại hiện nay, đang mới chỉ dừng lại ở sự mơ ước. Tất nhiên, tôi rất hiểu rằng: sự tiếp nhận một quan niệm mới - trong khi suốt lịch sử của văn minh nhân loại, con người đã chấp vào một định kiến: nền văn minh Đông phương có xuất xứ từ Hán tộc - là một việc cực kỳ khó khăn. Huống chi, đó lại là một hệ thống lý thuyết - sản phẩm của cả một nền văn minh - tức sản phẩm của một hệ thống tư duy phức hợp, lại càng khó khăn hơn. Khi chính khái niệm "tư duy phức hợp", cũng mới chỉ manh nha xuất hiện trong nền văn minh hiện đại. Cho nên, cá nhân tôi chia sẻ và thông cảm với sự chưa tiếp thu được của không ít những học giả, đã lên tiếng phản bác. Nhưng với những con người cầu tiến và thông minh - những người không bị tính cố chấp với một tâm hồn và tư duy khoáng đạt, đã tiếp thu được những giá trị của nền văn hiến Lạc Việt. Bài nghiên cứu về "Địa Lý phong thủy kinh thành Huế" dưới đây của Hoàng Triều Hải, một nhà nghiên cứu về Lý Học Việt xuất sắc của Trung Tâm nghiên cứu Lý Học Đông phương, và là Giám đốc của Trung Tâm này. Qua công trình nghiên cứu của anh, chúng ta một lần nữa xác đinh chắc chắn bằng thực chứng, về sự hợp lý toàn diện của hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch - nhân danh nền văn hiến Việt - với nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ", trong việc xây dựng Kinh Đô Huế. Đây là một dẫn chứng tuyệt vời và rất trực quan, rất dễ hiểu, cho những ai còn hoài nghi những gía trị văn hiến Việt, một thời huy hoàng ở miền Nam sông Dương tử và là cội nguồn đích thực của nên văn minh Đông phương. Xin cảm ơn vì sự quan tâm và chia sẻ của các bạn. Ta về giữa cõi vô thường. Đào trong kỷ niệm, tìm hương cuối mùa. Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
    10 likes
  6. NGÔN NGỮ VIỆT TRONG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH Và TƯƠNG KHẮC Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất vũ trụ, mô tả lịch sử từ hình thành từ giây /O/ của vũ trụ đến mọi quy luật vận động tương tác của mọi dạng tồn tại của vật chất cho đến ngày hôm nay, với khả năng tiên tri. Nó mô tả sự tồn tại của các hạt vật chất nhỏ nhất đến sự vận động của các Thiên hà khổng lồ. giải thích mọi vấn đề và sự kiện, liên quan đến cuộc sống, xã hội và con người với tính qui luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Cho tới ngày nay, chúng ta vẫn ứng dụng và chấp nhận những sự mặc định, tồn tại từ hàng ngàn năm và đa số cho rằng học thuyết đồ sộ này thuộc về nền văn minh Hoa hạ. Tuy nhiên, định nghĩa về Ngũ Hành sinh khắc từ cổ thư chữ Hán còn lưu truyền lại tới nay đều định hướng cho một suy luận sai lệch về Ngũ Hành SINH-KHẮC và một hệ lý thuyết rời rạc, chắp vá dẫn tới tranh cãi không có hồi kết. Trong toàn bộ sách Lý Học, Thuật số thì chúng ta chỉ một định nghĩa hết sức ngắn gọn như sau: Trích: “Ngũ hành chỉ 5 loại vật chất gồm: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ luôn vận động chuyển hóa “Ngũ” trong ngũ hành chỉ 5 loại vật chất cơ bản hoặc nguyên tố cơ bản cấu thành nên thế giới. Kim loại, nước, cây,lửa, và đất. “Hành là chỉ mối liên hệ với nhau trong vận động chuyển hóa của 5 loại vật chất đó” Đây là đoạn trích dẫn từ cuốn “Táng Thư” một trong tứ khố toàn thư do Quách Phác đời Tấn trứ tác, được dịch ra Việt ngữ hiện đang được lưu hành trên các giá sách. Trong cuốn "Tam mệnh thông hội", một cuốn sách trong bộ tứ khố toàn thư đồ sộ, được dịch ra Việt ngữ thì chúng ta có được nhiều thông tin giải thích về Thái Cực, Âm Dương và Ngũ Hành. Tuy nhiên, đúc kết phần Ngũ Hành Sinh khắc chúng ta cũng có được định nghĩa như hình ảnh dưới đây Đây là hai đại diện tiêu biểu cho định nghĩa về Ngũ Hành Sinh Khắc mà tất cả những người đam mê thuật số đều thuộc lòng. Tới đây chúng ta dễ dàng nhận thấy, Ngũ hành theo cổ thư Hán đều được định danh là 5 loại vật chất và từ đó, từ ghép “TƯƠNG SINH –TƯƠNG KHẮC” 五行相生相克 Có được định nghĩa về từ. Tôi có tham khảo một số bạn giỏi tiếng Trung về mặt ngôn ngữ thuần túy thì có được các thông tin sau: Theo bạn có nick face book là Sơn Nguyễn Sơn thì : [ “五行相生相克 từ này trong các sách về thuật số TQ thường đều có ạ. Từ điển không phải tất cả các từ đều có đâu ạ”]. Bạn Ruan Minh: ["Nếu là từ theo tên của ai đó là TƯƠNG SINH thì CHỈ có cách là chọn từng từ để lấy ý nghĩa phù hợp . Ngoài ra nếu TƯƠNG SINH theo hai từ đi liền nhau thì hầu như là từ ghép, mà thường lấy từ tương sinh trong cụm từ :TƯƠNG SINH TƯƠNG KHẮC thì là hai chữ "相生"]. Theo bạn có nịck Facebooj Hai Anh Vu: ["Theo từ điển của họ thì tương sinh chỉ sử dụng trong ngũ hành còn ngoài ra thì không dùng vào hoàn cảnh khác ạ"]. Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Lãn Miên thì không có từ TƯƠNG SINH -TƯƠNG KHẮC trong ngôn ngữ Trung Hoa mà đây là từ ghép của hai từ TƯƠNG và SINH hoặc TƯƠNG VÀ KHẮC. Vậy nên cho dù có thêm chữ TƯƠNG đằng trước từ SINH và KHẮC thì vẫn chỉ hiểu là SINH và KHẮC bởi từ TƯƠNG ko có ý nghĩa khi ghép với từ SINH và KHẮC. Chúng ta sẽ tham khảo ý nghĩa các từ TƯƠNG, SINH và KHẮC theo từ điển Hán –Hán Nôm I/ TƯƠNG Chữ "Tương" trong chữ " tương sinh hay tương khắc như hình ảnh dưới đây. Chữ này bên trái là chữ mộc (là cây hay là 1 trong 5 ngũ hành,...) Bên phải là chữ mục ( là con mắt hay là nhìn,..). Chữ tương này còn có thể đọc là tướng cũng được, chữ này có thể dùng làm phó từ (hỗ tương: 互相 qua lại), danh từ (tể tướng 宰相), hay động từ (tướng du 相攸 kén nơi đáng lấy làm chồng). Vậy là chúng ta có thể thấy, từ TƯƠNG trong tiếng Trung hoàn toàn là từ có tính chất phụ, tức là được thêm vào bởi nó có thể là TƯỚNG trong Tướng quân, hay Tướng trong từ Tể tướng. Trong ngôn ngữ Việt thì Tương là Tương mà Tướng là Tướng, nên từ ghép Tương Sinh có ý nghĩa cụ thể. Còn từ Tương theo ý nghĩa này khi ghép với Sinh vẫn sẽ có ý nghĩa là SINH mà thôi. Các chữ Tương khác trong tự điển: A/ Chữ 驤 tương 骧 xiāng Bộ 187 馬 mã [17, 27] U+9A64 (Danh) Ngựa có chân sau bên phải màu trắng. (Động) Chạy nhanh, nhảy lên. (Động) Ngẩng lên. B/ Chữ 葙 tương xiāng Bộ 140 艸 thảo [9, 13] U+8459 (Danh) Thanh tương 青葙 tục gọi là dã kê quan 野雞冠 hoa mồng gà. C/ Chữ 螿 tương 螀 jiāng Bộ 142 虫 trùng [11, 17] U+87BF (Danh) Hàn tương 寒螿 một loài côn trùng giống như ve sầu nhưng nhỏ hơn D. Chữ 襄 tương xiāng Bộ 145 衣 y [11, 17] U+8944 (Động) Giúp đỡ, phụ tá. ◇Đoạn Ngọc Tài 段玉裁: "Tương: Kim nhân dụng tương vi phụ tá chi nghĩa, danh nghĩa vị thường hữu thử". 襄: 今人用襄為輔佐之義, 名義未嘗有此 (Thuyết văn giải tự chú 說文解字注, Y bộ 衣部). Như: tương trợ 襄助 giúp đỡ, tương lí 襄理 giúp làm. (Động) Bình định. Chương Bỉnh Lân 章炳麟: Xuất xa nhi Hiểm Duẫn tương, Nhung y nhi Quan, Lạc định 出車而玁狁襄, 戎衣而關洛定 (Ngụy Vũ Đế tụng 魏武帝頌). (Động) Hoàn thành, thành tựu. Như: tương sự 襄事 nên việc, xong việc. Tả truyện 左傳: "Táng Định Công. Vũ, bất khắc tương sự, lễ". dã 葬定公. 雨, 不克襄事, 禮也 (Định Công thập ngũ niên 定公十五年). (Động) Tràn lên, tràn ngập. Lịch Đạo Nguyên 酈道元: Ba tương tứ lục, tế ngư bôn bính, tùy thủy đăng ngạn, bất khả thắng kế波襄四陸, 細魚奔迸, 隨水登岸, 不可勝計 (Thủy kinh chú 水經注, Lỗi thủy 耒水). (Động) Trở đi trở lại, dời chuyển. Thi Kinh 詩經: Kì bỉ Chức Nữ, Chung nhật thất tương 跂彼織女, 終日七襄 (Tiểu nhã 小雅, Đại đông 大東) Chòm sao Chức Nữ ba góc, Suốt ngày dời chuyển bảy giờ. (Động) Dệt vải. Hàn Dũ 韓愈: "Đằng thân khóa hãn mạn, Bất trước Chức Nữ tương 騰身跨汗漫, 不著織女襄" (Điệu Trương Tịch 調張籍). (Động) Trừ khử, trừ bỏ. Thi Kinh 詩經: Tường hữu tì, Bất khả tương dã 牆有茨, 不可襄也 (Dung phong 鄘風, Tường hữu tì 牆有茨) Tường có cỏ gai, Không thể trừ khử được. (Danh) Ngựa kéo xe. § Thông tương 驤. Như: thượng tương 上襄 ngựa rất tốt. ◇Thi Kinh 詩經: Lưỡng phục thượng tương, Lưỡng sam nhạn hàng 兩服上襄, 兩驂雁行 (Trịnh phong 鄭風, Thái Thúc ư điền 大叔於田) Hai ngựa thắng hai bên phía trong là thứ ngựa rất tốt, Hai ngựa thắng hai bên phía ngoài như hàng chim nhạn. (Danh) Một phương pháp gieo hạt thời xưa. (Danh) Họ Tương. E/ Chữ 醬 tương酱 jiàng Bộ 164 酉 dậu [11, 18] U+91AC (Danh) Thịt băm nát. § Cũng như hải 醢. (Danh) Thức ăn nghiền nát. Như: quả tương 果醬 món trái cây xay nhuyễn, hoa sanh tương 花生醬 đậu phụng nghiền. (Danh) Món ăn dùng các thứ đậu, ngô, gạo, ngâm ủ nấu gạn, cho muối vào nghiền nát. ◎Như: thố tương 酢醬 tương chua giấm, điềm miến tương 甜麵醬 tương ngọt. (Tính) Đã ướp, ngâm, tẩm (với dầu, muối). Như: tương qua 醬瓜 dưa ướp, tương thái 醬菜 món (rau) ngâm. (Động) Ngâm, ướp, tẩm (thức ăn). G/Chữ 鑲 tương, nhương镶 xiāng, ráng Bộ 167 金 kim [17, 25] U+9472 (Động) Vá, nạm, trám. Như: tương nha 鑲牙 trám răng. Tam quốc diễn nghĩa 三國演義: Bàng khuyết nhất giác, dĩ hoàng kim tương chi 傍缺一角, 以黃金鑲之 (Đệ lục hồi) Bên cạnh (viên ấn ngọc) sứt một góc, lấy vàng trám lại. (Danh) Một loại binh khí thời xưa, giống như kiếm. Một âm là nhương. (Danh) Bộ phận làm mô hình ở trong khuôn đúc đồ đồng, đồ sắt. H/Chữ 緗 tương 缃 xiāng Bộ 120 糸 mịch [9, 15] U+7DD7 (Danh) Lụa vàng nhạt. § Ngày xưa hay dùng để đựng sách hay bao sách, nên gọi sách vở quý báu là phiếu tương 縹緗 hay kiêm tương 縑緗. Quan Hán Khanh 關漢卿: "Độc tận phiếu tương vạn quyển thư" 讀盡縹緗萬卷書 (Đậu nga oan 竇娥冤) Đọc hết sách quý cả vạn cuốn. (Tính) Vàng nhạt. ◇Nhạc phủ thi tập 樂府詩集: Tương khỉ vi hạ quần, Tử khỉ vi thượng nhu 緗綺為下裙, 紫綺為上襦 (Mạch thượng tang 陌上桑) Lụa vàng nhạt làm váy, Lụa tía làm áo ngắn. i/Chữ 纕 tương xiāng, ráng Bộ 120 糸 mịch [17, 23] U+7E95 (Động) Mang, đeo. ◇Khuất Nguyên 屈原: Kí thế dư dĩ huệ tương hề, hựu thân chi dĩ lãm chỉ 既替余以蕙纕兮, 又申之以攬芷 (Li tao 離騷) Bị phế bỏ rồi, ta lấy cỏ bội lan đeo hề, lại còn hái cỏ chỉ. K/ Chữ 漿 tương 浆 jiāng, jiàng Bộ 85 水 thủy [11, 15] U+6F3F (Danh) Chỉ chung chất lỏng sền sệt. ◎Như: đậu tương 豆漿 sữa đậu nành, nê tương 泥漿 bùn loãng. ◇Đỗ Phủ 杜甫: Khu nhi la tửu tương 驅兒羅酒漿 (Tặng Vệ Bát xử sĩ 贈衛八處士) Xua con đi bày rượu và thức uống. (Danh) Hồ (để dán). ◎Như: tương hồ 漿糊 hồ để dán. (Động) Hồ, dùng nước pha bột để hồ quần áo. ◎Như: tương y phục 漿衣服 hồ quần áo, tương tẩy 漿洗 giặt và hồ. ◇Thủy hử truyện 水滸傳: Đãn hữu y phục, tiện nã lai gia lí tương tẩy phùng bổ 但有衣服, 便拿來家裏漿洗縫補 (Đệ thập hồi) Hễ có quần áo, xin cứ đem lại nhà này giặt giũ khâu vá. L/ Chữ 瓖 tươngxiāng Bộ 96 玉 ngọc [17, 21] U+74D6 (Danh) Ngọc trang sức trên dây đái ngựa. (Động) Nạm, trám. § Cũng như tương 鑲. M/ Chữ 箱 tương, sương xiāng Bộ 118 竹 trúc [9, 15] U+7BB1 (Danh) Hòm xe, toa xe. ◎Như: xa tương 車箱 chỗ trong xe để chở người hoặc đồ vật. (Danh) Hòm, rương. ◎Như: bì tương 皮箱 hòm da (valise bằng da), phong tương 風箱 bễ quạt lò, tín tương 信箱 hộp thư. (Danh) Kho chứa. ◎Như: thiên thương vạn tương 千倉萬箱 ngàn vựa muôn kho, ý nói thóc nhiều lắm. (Danh) Chái nhà. § Thông sương 廂. (Danh) Lượng từ: thùng, hòm, hộp. ◎Như: lưỡng tương y phục 兩箱衣服 hai rương quần áo, tam tương thủy quả 三箱水果 ba thùng trái cây. § Ghi chú: Ta quen đọc là sương. N/ Chữ 湘 tương, sương xiāng Bộ 85 水 thủy [9, 12] U+6E58 (Danh) Sông Tương. § Ta quen đọc là sương. O/ Chữ 相 tương, tướng xiāng, xiàng Bộ 109 目 mục [4, 9] U+76F8 (Phó) Lẫn nhau (bên này và bên kia qua lại, cùng có ảnh hưởng). ◎Như: hỗ tương 互相 qua lại, tương thị nhi tiếu 相視而笑 nhìn nhau mà cười. ◇Thôi Hộ 崔護: Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng 去年今日此門中, 人面桃花相映紅 (Đề đô thành nam trang 題都城南莊) Năm ngoái vào ngày hôm nay, ở trong cửa này, Mặt nàng cùng với hoa đào phản chiếu nhau thắm một màu hồng. (Phó) Với nhau (kết quả so sánh hai bên). ◎Như: tương dị 相異 khác nhau, tương tượng 相像 giống nhau, tương đắc ích chương相得益彰 thích hợp nhau thì càng rực rỡ, kì cổ tương đương 旗鼓相當 cờ trống ngang nhau (tám lạng nửa cân). (Phó) Cho nhau (qua lại nhưng chỉ có tác động một bên). § Ghi chú: Phó từ biến nghĩa thành đại danh từ: tôi, anh, ông ta, v.v. (tùy theo văn mạch). ◎Như: hà bất tảo tương ngữ? 何不早相語 sao không sớm cho tôi hay? ◇Sưu thần hậu kí 搜神後記: Nãi ngữ lộ nhân vân: Dĩ cẩu tương dữ 乃語路人云: 以狗相與 (Quyển cửu) Bèn nói với người đi đường: Cho anh con chó này. ◇Hậu Hán Thư 後漢書: Mục cư gia sổ niên, tại triều chư công đa hữu tương thôi tiến giả 穆居家數年, 在朝諸公多有相推薦者 (Chu Nhạc Hà liệt truyện 朱樂何列傳) (Chu) Mục ở nhà mấy năm, tại triều đình có nhiều người tiến cử ông ta. (Danh) Chất, bản chất. ◇Thi Kinh 詩經: Kim ngọc kì tương 金玉其相 (Đại nhã 大雅, Vực bốc 棫樸) Chất như vàng ngọc. Một âm là tướng. (Danh) Dung mạo, hình dạng. ◎Như: phúc tướng 福相 tướng có phúc, thông minh tướng 聰明相 dáng dấp thông minh. ◇Tây du kí 西遊記: (Tôn Hành Giả) hiện liễu bổn tướng (孫行者)現了本相 (Đệ tam thập ngũ hồi) (Tôn Hành Giả) hiện ra hình dạng thật của mình. (Danh) Chức quan tướng cầm đầu cả trăm quan. ◎Như: tể tướng 宰相, thừa tướng 丞相, tướng quốc 相國. (Danh) Tên chức quan có từ đời Hán, tương đương chức thái thú một quận. (Danh) Người giúp lễ. § Ngày xưa tiếp khách, cử một người giúp lễ gọi là tướng. (Danh) Người dẫn dắt kẻ mù lòa. ◇Tuân Tử 荀子: Nhân chủ vô hiền, như cổ vô tướng 人主無賢, 如瞽無相 (Thành tướng 成相) Bậc làm chúa không có người hiền tài (giúp đỡ), thì cũng như kẻ mù lòa không người dẫn dắt. (Danh) Tên một nhạc khí thời xưa, giống như trống, đánh lên để giữ nhịp chung. (Danh) Tiếng hát giã gạo. ◇Lễ Kí 禮記: Lân hữu tang, thung bất tướng 鄰有喪, 舂不相 (Khúc lễ thượng 曲禮上). (Danh) Chỉ vợ. (Danh) Hình chụp. ◇Lỗ Tấn 魯迅: Giá trương tướng chiếu đích ngận hảo 這張相照的很好 (Trí mẫu thân 致母親). (Danh) Trên cột tay đàn tì bà có bốn hoặc sáu khối làm bằng ngà voi, sừng trâu, gỗ hồng... dùng để xác định âm vị. (Danh) Tên riêng chỉ tháng bảy âm lịch. (Danh) Sao Tướng. (Danh) (Thuật ngữ Phật giáo) Chỉ hình trạng bên ngoài sự vật. (Danh) Họ Tướng. (Động) Xem, coi, thẩm xét. ◇Tả truyện 左傳: Lượng lực nhi hành chi, tướng thì nhi động 量力而行之, 相時而動 (Ẩn Công thập nhất niên 隱公十一年) Lượng sức và xem thời cơ mà hành động. (Động) Xem để đoán lành xấu phúc họa. ◇Sử Kí 史記: Tướng quân chi diện, bất quá phong hầu, hựu nguy bất an 相君之面, 不過封侯, 又危不安 (Hoài Âm Hầu liệt truyện 淮陰侯列傳) Coi tướng diện ngài, thì chỉ phong hầu là cùng, mà lại bấp bênh chứ không yên vững. (Động) Giúp đỡ, phụ trợ. ◎Như: tướng phu giáo tử 相夫教子 giúp chồng dạy con. ◇Phù sanh lục kí 浮生六記: Tuyệt xứ phùng sanh, diệc khả vị cát nhân thiên tướng hĩ 絕處逢生, 亦可謂吉人天相矣 (Khảm kha kí sầu 坎坷記愁) Chỗ đường cùng gặp lối thoát, cũng có thể bảo rằng trời giúp người lành vậy. (Động) Cho làm tướng. (Động) Kén chọn. ◎Như: tướng du 相攸 kén nơi đáng lấy làm chồng. ◇Tam quốc diễn nghĩa 三國演義: Lương cầm tướng mộc nhi tê, hiền thần trạch chủ nhi sự 良禽相木而棲, 賢臣擇主而事 (Đệ lục thập ngũ hồi) Chim khôn lựa cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ. (Động) Cai quản, cầm đầu, cai trị. ◇Liễu Tông Nguyên 柳宗元: Thị túc vi tá thiên tử, tướng thiên hạ pháp hĩ 是足為佐天子, 相天下法矣, 物莫近乎此也 (Tử Nhân truyện 梓人傳) Là đủ để phò vua, cai quản phép tắc của thiên hạ vậy. 1. [隱相] ẩn tướng 2. [倒履相迎] đảo lí tương nghênh 3. [同惡相濟] đồng ác tương tế 4. [同惡相助] đồng ác tương trợ 5. [同病相憐] đồng bệnh tương liên 6. [白衣卿相] bạch y khanh tướng 7. [蚌鷸相持] bạng duật tương trì 8. [寶相] bảo tướng 9. [不相得] bất tương đắc10. [不相干] bất tương can 11. [不相能] bất tương năng 12. [布衣卿相] bố y khanh tướng 13. [卜相] bốc tướng 14. [拜相] bái tướng 15. [皮相] bì tướng 16. [骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 17. [骨相] cốt tướng 18. [窮相] cùng tướng 19. [針芥相投] châm giới tương đầu 20. [真相] chân tướng 21. [照相] chiếu tướng 22. [宮相] cung tướng 23. [名相] danh tướng 24. [面面相窺] diện diện tương khuy 25. [互相] hỗ tương 26. [旗鼓相當] kì cổ tương đương 27. [內相] nội tướng 28. [相對] tương đối 29. [相腳頭] tương cước đầu 30. [相配] tương phối 31. [相關] tương quan 32. [首相] thủ tướng 33. [丞相] thừa tướng O/Chữ 將 tương, tướng, thương将 jiāng, jiàng, qiāng Bộ 41 寸 thốn [8, 11] U+5C07 (Phó) Sẽ, có thể. ◇Luận Ngữ 論語: Quý Thị tương phạt Chuyên Du 季氏將伐顓臾 (Quý thị 季氏) Họ Quý có thể sẽ đánh nước Chuyên Du. (Phó) Sắp, sắp sửa. ◎Như: tương yếu 將要 sắp sửa. ◇Luận Ngữ 論語: Điểu chi tương tử, kì minh dã ai; nhân chi tương tử, kì ngôn dã thiện 鳥之將死, 其鳴也哀; 人之將死, 其言也善 (Thái Bá 泰伯) Con chim sắp chết, tiếng kêu bi ai; người ta sắp chết, lời nói tốt lành. (Phó) Gần (số lượng). ◇Mạnh Tử 孟子: Tương ngũ thập lí dã 將五十里也 (Đằng Văn Công thượng 滕文公上) Gần năm mươi dặm. (Phó) Vừa, vừa mới. ◎Như: tương khốc tựu tiếu 將哭就笑 vừa mới khóc đã cười, tha tương tiến môn một nhất hội nhi 他將進門沒一會兒 anh ta vừa mới vào cửa không bao lâu. (Động) Tiến bộ, tiến lên. ◇Thi Kinh 詩經: Nhật tựu nguyệt tương 日就月將 (Chu tụng 周頌, Kính chi 敬之) (Mong) ngày tháng được thành công, tiến bộ. (Động) Cầm, giữ, đem. ◎Như: tương tửu lai 將酒來 đem rượu lại. (Động) Giúp đỡ, phù trợ. ◇Thi Kinh 詩經: Lạc chỉ quân tử, Phúc lí tương chi 樂只君子, 福履將之 (Chu nam 周南, Cù mộc 樛木) Vui thay bậc quân tử (bà Hậu Phi), Phúc lộc sẽ giúp đỡ bà. (Động) Nghỉ, nghỉ ngơi. ◎Như: tương dưỡng 將養 an dưỡng, nghỉ ngơi. ◇Lí Thanh Chiếu 李清照: Sạ noãn hoàn hàn thì hậu, tối nan tương tức 乍暖還寒時候, 最難將息 (Tầm tầm mịch mịch từ 尋尋覓覓詞) Thời tiết chợt ấm rồi lại lạnh, thật khó mà nghỉ ngơi được. (Động) Tiễn đưa. ◇Thi Kinh 詩經: Chi tử vu quy, Bách lượng tương chi 之子于歸, 百兩將之 (Triệu nam 召南, Thước sào 鵲巢) Cô ấy về nhà chồng, Trăm cỗ xe đưa tiễn. (Động) Làm, tiến hành. ◎Như: thận trọng tương sự 慎重將事 cẩn thận làm việc. (Động) Chiếu tướng (đánh cờ tướng). ◎Như: ngã giá nhất bộ trừu xa, hạ nhất bộ tựu yếu tương liễu 我這一步抽車, 下一步就要將了 tôi một bước rút con xe, hạ xuống một bước thế là chiếu tướng! (Động) Nói khích. ◎Như: thoại tương tha 話將他 nói khích anh ta. (Giới) Lại, đi. § Dùng như bả 把. ◎Như: tương hoa sáp hảo 將花插好 cắm hoa vào, tương môn quan hảo 將門關好 đóng cửa lại. (Giới) Lấy, đem. § Dùng như dĩ 以. ◎Như: tương công chiết tội 將功折罪 lấy công bù tội. ◇Chiến quốc sách 戰國策: Tô Tần thủy tương liên hoành thuyết Tần Huệ Vương 蘇秦始將連橫說秦惠王 (Tần sách nhất) Tô Tần mới đầu đem (chủ trương) liên hoành thuyết phục Tần Huệ Vương. (Liên) Với, và. ◇Dữu Tín 庾信: Mi tương liễu nhi tranh lục, Diện cộng đào nhi cạnh hồng 眉將柳而爭綠, 面共桃而競紅 (Xuân phú 春賦) Mi với liễu tranh xanh, Mặt cùng đào đua hồng. (Liên) Vừa, lại. ◎Như: tương tín tương nghi 將信將疑 vừa tin vừa ngờ (nửa tin nửa ngờ). (Trợ) Đặt sau động từ, dùng chung với tiến lai 進來, khởi lai 起來, tiến khứ 進去: nào, đi, lên. ◎Như: đả tương khởi lai 打將起來 đánh đi nào, khốc tương khởi lai 哭將起來 khóc lên đi. Một âm là tướng. (Danh) Người giữ chức cao trong quân. ◎Như: đại tướng 大將, danh tướng 名將, dũng tướng 勇將. (Động) Chỉ huy, cầm đầu. ◎Như: Hàn Tín tướng binh, đa đa ích thiện 韓信將兵, 多多益善 Hàn Tín chỉ huy quân, càng đông càng tốt. Một âm là thương. (Động) Xin, mời, thỉnh cầu. ◇Thi Kinh 詩經: Thương tử vô nộ 將子無怒 (Vệ phong 衛風, Manh 氓) Mong anh đừng giận dữ. 1. [陰將] âm tướng 2. [大將] đại tướng 3. [敗將] bại tướng 4. [部將] bộ tướng 5. [主將] chủ tướng 6. [諸將] chư tướng 7. [戰將] chiến tướng 8. [名將] danh tướng 9. [勇將] dũng tướng 10. [卿將] khanh tướng 11. [健將] kiện tướng 12. [儒將] nho tướng 13. [裨將] tì tướng14. [將領] tướng lĩnh 15. [將將] tướng tướng, thương thương 16. [將來] tương lai 17. [上將] thượng tướng 18. [中將] trung tướng P/Chữ 蔣 tương, tưởng蒋 jiǎng, jiāng Bộ 140 艸 thảo [11, 15] U+8523 (Danh) Tên cây, tức giao bạch 茭白. Một âm là tưởng. (Danh) Nước Tưởng, thời Xuân Thu. Nay thuộc Hà Nam. (Danh) Họ Tưởng. Các từ ghép bao gồm 24. [倒履相迎] đảo lí tương nghênh 25. [同惡相濟] đồng ác tương tế 26. [同惡相助] đồng ác tương trợ 27. [同病相憐] đồng bệnh tương liên 28. [蚌鷸相持] bạng duật tương trì 29. [不相得] bất tương đắc 30. [不相干] bất tương can31. [不相能] bất tương năng 32. [骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 33. [針芥相投] châm giới tương đầu 34. [面面相窺] diện diện tương khuy 35. [互相] hỗ tương 36. [旗鼓相當] kì cổ tương đương 37. [相對] tương đối 38. [湘潭] tương đàm 39. [相腳頭] tương cước đầu 40. [將來] tương lai 41. [相配] tương phối 42. [相關] tương quan Trong toàn bộ liệt kê các từ TƯƠNG, chúng ta hoàn toàn không tìm ra được một từ TƯƠNG mang ý nghĩa của TƯƠNG SINH. II/ SINH – SANH Chúng ta chỉ xét 1 từ SINH CHỮ 生 sanh, sinh shēng Bộ 100 生 sinh [0, 5] U+751F (Động) Ra đời, nẩy nở, lớn lên. ◇Thi Kinh 詩經: Ngô đồng sanh hĩ, Vu bỉ triêu dương ˙梧桐生矣, 于彼朝陽 (Đại nhã 大雅, Quyển a 卷阿) Cây ngô đồng mọc lên, Ở bên phía đông trái núi kia. (Động) Đẻ ra, nuôi sống. ◎Như: sanh tử 生子 đẻ con. ◇Bạch Cư Dị 白居易: Toại lệnh thiên hạ phụ mẫu tâm, Bất trọng sanh nam trọng sanh nữ 遂令天下父母心, 不重生男重生女 (Trường hận ca 長恨歌) Làm cho lòng các bậc cha mẹ trong thiên hạ, (Không coi trọng) không ham đẻ con trai nữa, mà coi trọng sự sinh con gái. (Động) Làm ra, gây ra, sản xuất. ◎Như: sanh bệnh 生病 phát bệnh, sanh sự 生事 gây thêm chuyện, sanh lợi 生利 sinh lời. (Động) Sống còn. ◎Như: sanh tồn 生存 sống còn, sinh hoạt 生活 sinh sống. (Động) Chế tạo, sáng chế. ◎Như: sanh xuất tân hoa dạng 生出新花樣 chế tạo ra được một dạng hoa mới. (Danh) Sự sống, đời sống. ◇Luận Ngữ 論語: Tử sanh hữu mệnh, phú quý tại thiên 死生有命, 富貴在天 (Nhan Uyên 顏淵) (Sự) sống chết có số, phú quý do trời. (Danh) Lượng từ: đời, kiếp. ◎Như: tam sanh nhân duyên 三生姻緣 nhân duyên ba đời, nhất sanh nhất thế 一生一世 suốt một đời. (Danh) Mạng sống. ◎Như: sát sinh 殺生 giết mạng sống, táng sinh 喪生 mất mạng. (Danh) Chỉ chung vật có sống. ◎Như: chúng sanh 眾生, quần sanh 群生. (Danh) Nghề để kiếm sống, việc làm để kiếm sống. ◎Như: mưu sanh 謀生 nghề kiếm sống, vô dĩ vi sanh 無以為生 không có gì làm sinh kế. (Danh) Người có học, học giả. ◎Như: nho sanh 儒生 học giả. (Danh) Học trò, người đi học. ◎Như: môn sanh 門生 đệ tử, học sanh 學生 học trò. (Danh) Vai trong trong hí kịch. ◎Như: tiểu sanh 小生 vai kép, lão sanh 老生 vai ông già, vũ sanh 武生 vai võ. (Danh) Họ Sinh. (Tính) Còn sống, chưa chín (nói về trái cây). ◎Như: sanh qua 生瓜 dưa xanh. ◇Thủy hử truyện 水滸傳: Hữu sanh thục ngưu nhục, phì nga, nộn kê 有生熟牛肉, 肥鵝, 嫩雞 (Đệ thập nhất hồi) Có thịt bò chín và tái, ngỗng béo, gà non. (Tính) Còn sống, chưa nấu chín (nói về thức ăn). ◎Như: sanh nhục 生肉 thịt sống, sanh thủy 生水 nước lã. (Tính) Lạ, không quen. ◎Như: sanh nhân 生人 người lạ, sanh diện 生面 mặt lạ, mặt không quen, sanh tự 生字 chữ mới (chưa học). (Tính) Chưa rành, thiếu kinh nghiệm. ◎Như: sanh thủ 生手 người làm việc còn thiếu kinh nghiệm. (Tính) Chưa luyện. ◎Như: sanh thiết 生鐵 sắt chưa tôi luyện. (Phó) Rất, lắm. ◎Như: sanh phạ 生怕 rất sợ, sanh khủng 生恐 kinh sợ. (Trợ) Tiếng đệm câu. ◇Truyền đăng lục 傳燈錄: Hoàng Bách vấn vân: Nhữ hồi thái tốc sanh? Sư vân: Chỉ vi lão bà tâm thiết黃蘗問云: 汝迴太速生? 師云: 只為老婆心切 (Trấn Châu Lâm Tế Nghĩa Huyền thiền sư 鎮州臨濟義玄禪師) Hoàng Bá hỏi: Sao lại về nhanh thế? Sư trả lời: Vì thầy có lòng thương xót như bà nội. § Ghi chú: Ta quen đọc là sinh. 1. [蔭生] ấm sinh, ấm sanh 2. [誕生] đản sinh, đản sanh 3. [塗炭生民] đồ thán sinh dân 4. [同生共死] đồng sanh cộng tử 5. [白面書生] bạch diện thư sanh 6. [稟生] bẩm sanh, bẩm sinh 7. [本生] bổn sinh 8. [捕生] bộ sinh 9. [百花生日] bách hoa sinh nhật 10. [半生半熟] bán sinh bán thục 11. [平生] bình sinh, bình sanh 12. [貢生] cống sanh, cống sinh 13. [救生] cứu sinh 14. [九死一生] cửu tử nhất sinh 15. [個人衛生] cá nhân vệ sinh 16. [更生] cánh sinh 17. [公共衛生] công cộng vệ sinh 18. [怎生] chẩm sanh 19. [眾生] chúng sanh, chúng sinh 20. [諸生] chư sanh, chư sinh 21. [佾生] dật sinh 22. [養生] dưỡng sanh 23. [好生] hảo sinh, hiếu sinh 24. [學生] học sinh 25. [回生] hồi sanh 26. [化生] hóa sanh, hóa sinh 27. [寄生] kí sanh 28. [今生] kim sanh, kim sinh 29. [來生] lai sanh, lai sinh 30. [廩生] lẫm sanh31. [老蚌生珠] lão bạng sinh châu 32. [陌生] mạch sanh 33. [一生] nhất sanh, nhất sinh 34. [人生朝露] nhân sanh triêu lộ 35. [人生觀] nhân sinh quan 36. [人生] nhân sinh, nhân sanh 37. [儒生] nho sanh 38. [生育] sanh dục 39. [生計] sanh kế 40. [生氣] sanh khí, sinh khí41. [生靈] sanh linh 42. [生產] sanh sản, sinh sản 43. [生肖] sanh tiếu 44. [畜生] súc sinh 45. [初生] sơ sanh 46. [生意] sinh ý 47. [生機] sinh cơ 48. [生活] sinh hoạt, sanh hoạt 49. [生薑] sinh khương 50. [生理] sinh lí 51. [生涯] sinh nhai, sanh nhai 52. [哉生明] tai sinh minh 53. [哉生魄] tai sinh phách 54. [三生] tam sanh, tam sinh 55. [畢生] tất sinh, tất sanh 56. [四生] tứ sinh, tứ sanh 57. [再生] tái sanh58. [喪生] táng sinh 59. [鯫生] tưu sanh 60. [蒼生] thương sinh 61. [先生] tiên sanh, tiên sinh 62. [全生] toàn sinh, toàn sanh 63. [衛生] vệ sanh, vệ sinh 64. [往生] vãng sanh 65. [無國界醫生組織] vô quốc giới y sinh tổ chức 66. [無生] vô sinh 67. [出生] xuất sanh, xuất sinh III/ KHẮC Chúng ta chỉ xét 1 từ KHẮC CHỮ 克 khắc 剋 kè (Động) Đảm đương, gách vác. ◇Lưu Vũ Tích 劉禹錫: Thường cụ bất khắc phụ hà, dĩ thiểm tiền nhân 常懼不克負荷, 以忝前人(Vị Đỗ tư đồ tạ tứ truy tặng biểu 為杜司徒謝賜追贈表) Thường lo sợ không đảm đương gánh vác nổi, làm nhục tiền nhân. (Động) Được, chiến thắng. ◎Như: khắc địch 克敵 chiến thắng quân địch. (Động) Kiềm chế, ước thúc. ◎Như: khắc phục 克復 ước thúc, làm chủ được. ◇Luận Ngữ 論語: Khắc kỉ phục lễ vi nhân 克己復禮為仁 (Nhan Uyên 顏淵) Kiềm chế được chính mình (tư dục) mà trở về lễ (đạo li) là đạt được đức Nhân. (Động) Hạn định, ước định, hẹn. ◎Như: khắc kì động công 克期動工 hẹn định thời kì khởi công. (Động) Khấu trừ. ◇Thủy hử truyện 水滸傳: Quả nhân ngự tứ chi tửu, nhất bình khắc giảm bán bình 寡人御賜之酒, 一瓶克減半瓶 (Đệ bát thập tam hồi) Rượu vua ban cho quả nhân, một bình khấu trừ nửa bình. (Động) Tiêu hóa. ◎Như: đa cật thủy quả năng khắc thực 多吃水果能克食 uống nhiều nước quả thật giúp cho tiêu hóa. (Danh) Lượng từ: gam (tiếng Anh "gram"). ◎Như: nhất khắc đẳng ư thiên phân chi nhất công cân 一克等於千分之一公斤 một gam bằng một phần ngàn kí-lô. (Phó) Có thể. ◎Như: bất khắc phân thân 不克分身 không thể sẻ thân ra được. 1. [不克] bất khắc 2. [克己] khắc kỉ 3. [克己主義] khắc kỉ chủ nghĩa 4. [克服] khắc phục 5. [坦克車] thản khắc xa 6. [捷克] tiệp khắc 7. [巧克力] xảo khắc lực 8. [伊拉克] y lạp khắc Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy, từ ghép Tương Sinh và Tương Khắc không có trong ngôn ngữ Trung Hoa mà họ chỉ giải nghĩa hai từ ghép này thông qua thuật ngữ Ngũ Hành thuật số tức là trong ngôn ngữ thì họ lấy hiện tượng để giải nghĩa cho từ . Tuy nhiên đối với Ngôn Ngữ Việt thì lại hoàn toàn khác, Ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt ý nghĩa và từ ghép Tương Sinh, Tương Khắc trong tiếng Việt lại không phải là SINH ra hay KHẮC chế theo như nghĩa Hán-Việt. Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Lãn Miên, từ Tương Sinh trong tiếng Việt biểu đạt giống như hai cực nam châm khác dấu hút nhau. Tức là cùng hỗ trợ -bù đắp lẫn cho nhau, bổ trợ và thu hút nhau. Sinh khắc thì ngược lại, giống như hai cực nam châm cùng dấu, là cản trở , giảm bớt nhau, không hỗ trợ cho nhau. Xin trích phần bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Thiên Sứ/ Nguyễn Vũ Diệu) về khái niệm ngũ hành: Trích dẫn: ["NGÔN NGỮ VIỆT VÀ BẢN CHẤT KHÁI NIỆM NGŨ HÀNH. 1/ Hành Kim: Khi tiếng Việt nói KIM để mô tả một hành trong Ngũ hành thì phân biệt rất rõ với từ "kim LOẠI". Khái niệm "Kim loại" trong tiếng Việt, đồng nghĩa với khái niệm kim loại trong ngôn ngữ hiện đại. Nhưng khái niệm "KIM" mà ngôn ngữ Việt mô tả hành "KIM' trong Ngũ hành thì hoàn toàn khác hẳn khái niệm "Kim loại'. Từ KIM trong tiếng Việt, không có nghĩa là "Đồng" trong tiếng Hán, và sau đó chỉ có nghĩa là "vàng" (Như chính bài "phản đối" của Trùng Dương Mai viết ở trên và ngay trong bài viết này). Từ KIM trong tiếng Việt cũng không đồng nghĩa với "kim loại". Nhưng nó đồng nghĩa với cây KIM, cái KIM, trong "se chỉ, luồn KIM"; "kim chỉ", Và hình tương "cây kim", "cái kim" trong ngôn ngữ Việt, chính là một HÌNH TƯỢNG mô tả khái niệm về thuộc tính của hành KIM trong Ngũ hành của tiếng Việt, mà chính những cổ thư chữ Hán đã nói tới, là: "Kim": "Nhọn sắc, cứng, mạnh". Rõ ràng, từ KIM - đồng nghĩa với "KIM, chỉ" trong tiếng Việt, mô tả một thuộc tính của một dạng vật chất có khả năng phân loại những cấu trúc và cả sự vận đông của những cấu trúc vật chất có cùng thuộc tính. Chứ không phải mô tả một sự một cấu trúc vật chất cụ thể như trong tiếng Hán, là: Đồng, vàng. 2/ Hành Thủy. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng THỦY, để mô tả hành Thủy trong Ngũ hành, không đồng nghĩa với "nước". Ngược lại, trong tiếng Hán thì 水 > shuǐ (Suẩy) là một từ chung về cả ký tự đều mô tả là "nước". Trong tiếng Việt, từ "THỦY" và "nước" phát âm hoàn toàn khác nhau, ký tự cũng hoàn toàn khác. Cho nên, trong tiếng Việt, khí nói đến "THỦY KHÍ" thì nội hàm khái niệm không thể tương tự là "Khí của nước". Nhưng trong tiếng Hán và ký tự Hán thì chỉ có thể hiểu theo một nghĩa duy nhất là "khí của nước". Ví dụ, cổ thư chữ Hán viết trong "Hồng Phạm cứu trù": Trù thứ nhất, gồm: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim. Thổ. 1.五行,即:水、火、木、金、土. Rõ ràng trong tiếng Hán chỉ có một từ duy nhất, ký tự 水, mà họ đọc là "Suẩy", có nghĩa là "NƯỚC" trong tiếng Việt. Còn tiếng Việt khí mô tả hành THỦY trong Ngũ hành, đọc là "THỦY", và "NƯỚC" hoàn toàn phân biệt khác nhau. Thí dụ, tiếng Hán viết: 引 水 入 田 . Âm Việt Nho đọc: "Dẫn thủy nhập điền". Tiếng Việt với khái niệm tương tự là "Đưa nước vào ruộng". Tương tự như vậy, nếu dịch ra những ngôn ngữ khác phi Hán - kể cả tiếng Việt - thì tất cả các ngôn ngữ phi Hán, đều hiểu - qua tiếng Hán, khi mô tả Ngũ hành - thì ký tự 水, đọc là "Suẩy" có nghĩa là "nước". Hay nói một cách khác: Tiếng Hán, khi mô tả ngũ hành thì ký tự 水, đồng nghĩa với khái niệm "nước" trong tiếng Việt và các ngôn ngữ liên quan. Và đó là từ mô tả một dạng vật chất có cấu trúc cụ thể là "nước", Khoa học hiện đại mô tả cấu trúc vật chất cụ thể là H2O. Nhưng trong tiếng Việt không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt: "THỦY" là "Nước" được. Vì trong tiếng Việt THỦY & NƯỚC, phát âm và chữ viết khác nhau - và mặc dù, nếu dịch ra tiếng Hán thì chung một ký tự 水. Vì trong tiếng Việt, "NƯỚC" chỉ là hình tượng mô tả "THỦY". Cũng như: Nói "Mẫu Thoải" (Thủy) trong tiếng Việt, không thể hiểu là "mẹ của nước", hoặc "Mẹ nước". Mà trong ngôn ngự Việt khi nói "Mẫu Thoải (Thủy)" , cần hiểu rằng nguồn gốc của Thủy. Tôi đã phân tích hình tượng "Tam tòa thánh Mẫu" trong tín ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam, liên quan đến Kinh Dịch Lạc Việt và thuyết Ngũ hành. Trong đó: Mẫu Thượng Thiên áo trắng (Thuộc Kim. Đoài/ Tốn), Mẫu Đệ nhất Áo Đỏ (Quái Khôn). Và Mẫu Thoải (Thủy) áo Xanh biển (Xanh Dương, xanh da trời), trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" (Nxb Tri Thức . 2014). 3/ Hành Mộc. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng MỘC, phát âm và ký tự khác hẳn "gỗ" , "cây", "cỏ". Còn trong tiếng Hán thì chỉ có ký tự 木, tương đương và đồng nghĩa với khái niệm "cây" trong tiếng Việt. Thí dụ: 草木 . Từ Việt Nho là "Thảo MỘC", nghĩa là "CÂY cỏ". Tóm lại, ký tự cây trong tiếng Hán 木 đọc là Mủ, tức là một cấu trúc vật chất cụ thể, có nghĩa tương đương tiếng Việt - và các ngôn ngữ khác - là 'CÂY'. Tiếng Việt Nho là đọc và ký tự trong tiếng Việt là MỘC, để mô tả hành MỘC trong Ngũ Hành, còn để chỉ "thợ MỘC" và không thể nhầm lẫn với "thợ cây", hoặc trong tiếng Việt khi nói "Việc THỔ MỘC" thì hiểu rằng: đó là việc liên quan đến xây, cất nhà cửa. Không ai hiểu là việc của "cây, đất" cả. Vì trong tiếng Việt, đây là những ngôn từ với ký tự khác nhau. 4/ Hành Hỏa. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng HỎA, phát âm và ký tự khác hẳn "lửa". Trong tiếng Hán, từ "lửa" (Hỏa) chỉ dùng một ký tự 火, Trong tiếng Việt, âm Việt Nho là "HỎA", và khác hẳn về âm và ký tự với "LỬA". Tức là tiếng Hán với ký tự 火 đọc là "hủa", chỉ để mô tả một trạng thái vật chất cụ thể tồn tại. Từ 火 trong tiếng Hán dù dịch ra ngôn ngữ nào, cũng tương đương khái niệm Việt là "LỬA" và không phải là khái niệm HỎA trong tiếng Việt khi mô tả một hành trong Ngũ Hành. 5/ Hành Thổ. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng THỔ, phát âm và ký tự khác hẳn "Đất". Ngược lại, trong tiêng Hán, để mô tả khái niệm tương đương khái niệm "Đất" trong tiếng Việt, chỉ có một ký tự 土, đọc là "Thủ". Thí dụ: "Đất nước" trong ký tự tiếng Hán, là 國土; hoặc như các từ sau: “niêm thổ” 黏土 đất thó, đất sét, “sa thổ” 沙土 đất cát, “nê thổ” 泥土 đất bùn. Tóm lại, trong tiếng Hán, ký tự THỔ dùng trong Ngũ hành và mô tả khái niệm tương đương "Đất" trong tiếng Việt - và các ngôn ngữ khác - là như nhau. Nhưng trong tiếng Việt, ký tự THỔ dùng trong Ngũ hành và các ứng dụng trong ngôn ngữ Việt khác như: "THỔ trạch" "Liền Thổ" và khái niệm "Đất" và "sát ĐẤT" khác hẳn nhau. Qua sự mô tả ở trên, thi thấy rất rõ ràng, rằng: Các ký tự Hán mô tả Ngũ hành: 金; 木; 水; 火;土 Được hiểu tương tự khái niệm: "VÀNG, CÂY, NƯỚC, LỬA, ĐẤT" trong tiếng Viêt và các ngôn ngữ khác. Tức là nó mô tả các trạng thái cấu trúc vật chất rất cụ thể tồn tại trên Địa Cầu. Khác hẳn cách phát âm và ký tự của ngôn ngữ Việt mô tả ngũ hành: KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ. Mặc dù từ Việt Nho - Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ này, đều có ký tự tương đương trong tiếng Hán. Nhưng trong tiếng Việt thì nghĩa của chúng khác hẳn ký tự tương đương trong tiếng Hán. Trong tiếng Việt, các từ KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ một tả năm trạng thái và THUỘC TÍNH VẬN ĐỘNG VÀ TƯƠNG TÁC CỦA DẠNG CẤU TRÚC VẬT CHẤT CƠ BẢN, CÓ THỂ PHÂN LOẠI TRONG KHÔNG - THỜI GIAN. Do đó, với các nhà nghiên cứu ở các dân tộc phi Hán - kể cả Việt Nam - nếu mặc định thuyết Âm Dương Ngũ hành của người Hán và hiểu theo cách hiểu của người Hán thì sẽ dẫn tới nhầm lẫn khái niệm về bản chất thật của khái niệm Ngũ hành. Bởi vì, bản chất khái niệm KIM, MỘC THỦY HỎA THỔ theo tiếng Việt là khái niệm hệ quả của tư duy tổng hợp trừu tượng, nhận thức 5 trạng thái THUỘC TÍNH cấu trúc vật chất có tính phân loại, cho tất cả mọi hiện tượng vận đông và tương tác của toàn thể cấu trúc vật chất trong vũ trụ, và trong không/ thời gian. Còn trong tiếng Hán không thể hiện được điều này. Và tiếng Hán, tự nó xác định sự xuất hiện của "VÀNG, CÂY, NƯỚC, LỬA, ĐẤT" - là định tính cấu trúc vật chất cụ thể, đã có trong những giai đoạn đầu tiên của vũ trụ?!? Bởi vậy, nếu các từ KIM, MỘC THỦY HỎA THỔ mô tả NGŨ HÀNH trong tiếng Việt - thì khi dịch ra tiếng nước ngoài thì buộc phải để nguyên văn và diễn giải, chú thích. Chứ không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt : "Kim là vàng, là đồng", Thủy là nước....được. Vì chính tiếng Việt đã có từ tương đương: "KIM > "Cô gái se chỉ, luồn Kim";" "THỦY> Thủy quân bơi dưới nước"; "MỘC> Thợ MỘC, đốn cây, lấy gỗ"; ""HỎA> Hỏa đầu quân dùng súng phun lửa, để đốt..."; "THỔ> Sổ Địa bạ ghi THỔ trạch, có diện tích ĐẤT'....vv...và...vv...Những thí dụ trên cho thấy: Không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt những từ trên. Và tiếng Hán với ký tự Hán sẽ rất buồn cười. Vì xác định khái niệm Ngũ hành và quán xét từ nền văn hiến Việt với sự xác định : Nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông Phương, nên tôi mới xác định ngũ hành là 5 yếu tố phân loại THUỐC TÍNH VẬN ĐỘNG &TƯƠNG TÁC CỦA VẬT CHẤT TRONG KHÔNG THỜI GIAN. Chính điều này, đã dẫn tôi đến sự xác định rằng: Hệ thống Nghịch lý toán học hiện đại Cantor hoàn toàn chính xác. Ngũ hành phân loại cả thời gian, chính bởi yếu tố phân loại các thuộc tính vận động, tương tác của vật chất trong không thời gian đó"]. HẾT trích dẫn Chúng ta có thể nhận thấy rằng, Ngũ Hành KHÔNG phải là định danh của 5 loại vật chất mà đây là 5 hệ thuộc tính vận động và tương tác. Để giải thích vì sao KIM lại sinh THỦY, không thể lý giải nếu như chúng ta qui ước KIM và THỦY là hai loại vật chất. Bởi Thủy vật chất là Nước thì không thể được sinh ra từ KIM là kim loại. Chúng ta cũng không thể dùng hệ bát quái tức là lấy quái Càn là Kim, là Trời để lý giải TRỜI sinh ra Mưa , là nước vì Nếu vậy thì quái Càn cũng là Trời, là Cha, là Con ngựa già,… Vậy Con ngựa già hay người Cha thì cũng SINH được ra Mưa – là sinh Thủy – Nước ???? Hệ thống bát quái không thể dùng để mô tả trạng thái NGũ Hành bởi Ngũ Hành là bản nguyên trong khi đó Bát quái là hệ thống phân loại chi tiết vạn vật. Nếu coi Mộc là vật chất tức là Gỗ, Cây thì nếu theo định nghĩa về TƯƠNG SINH của cổ thư Hán , chúng ta không thể lý giải được vì sao Thủy –Nước lại SINH ra được cây Gỗ ? Với định nghĩa về Ngũ Hành Sinh Khắc của cổ thư Hán, như trong cuốn Tam mệnh thông hội thì SINH là Sinh theo nghĩa 生 sanh, sinh (shēng) thì không có cách nào lại lý giải được từ SINH lại là “Có thủy ẩm ướt thì cây cối càng sinh trưởng tươi tốt” , hay Kim sinh thủy: “ Kim ở nhiệt độ cao nóng chảy thành thể lỏng, hoặc thủy cần nhờ cậy vào đồ vật bằng sắt mới khơi đường lưu thông” ??? vậy thì Thủy là NƯỚC sinh ra từ đâu khi kim nung chảy lại chỉ biến thành thể lỏng ? Với Ngũ Hành Tương Sinh- Tương Khắc từ định nghĩa của người Việt thì “Âm dương tương Giao, thiên nhất sinh thủy” , Nước được sinh ra từ sự giao hòa của trời đất, khi mà khí ÂM lên cao (Âm thăng) giao hòa với khí Dương của trời (Dương giáng) tạo ra Nước : hoàn toàn mô tả được quá trình sinh ra Nước trong tự nhiên. Cũng như vậy đối với hệ Nạp Âm cho Lạc thư hoa giáp (theo cổ thư Hán là Lục thập hoa giáp), thì với định nghĩa ngũ hành là 5 yếu tố vật chất sẽ không thể giải thích được các hành nạp âm, ví dụ như “Hải Trung Kim”: Kim này hoàn toàn không có trong phân loại vật chất hiện hữu, không thể tìm và nhìn thấy được Kim loại dưới biển để sinh ra Nước -theo định nghĩa của từ Tương Sinh trong cổ thư Hán. Như vậy từ Tương SINH và Tương Khắc thể hiện rõ ý nghĩa của hiện tượng và hoàn toàn không phải là Sinh ra , và Khắc chế. Trong Ngôn ngữ Việt thì từ ghép Tương Sinh Tương Khắc mô tả sự tương tác qua lại của các yếu tố trong cùng một môi trường tương tác (Từ tương tác cũng không có ý nghĩa trong ngôn ngữ Trung quốc) . Qua đây chúng ta có thể nhận thấy Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc về nền Văn minh Lạc Việt với bề dầy gần 5000 năm lịch sử, đã bị đánh tráo nguồn gốc nên tiếp thu một cách rời rạc và không thể lý giải ngay cả từ ngôn ngữ dùng để định nghĩa cho một sự tương tác. Ngôn ngữ Việt của chúng ta phức tạp và vô cùng phong phú, đa dạng nên hoàn toàn phù hợp để giải thích mọi ý nghĩa, định nghĩa và quan hệ qua lại một cách khoa học và logic về Lý học Đông Phương- Lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà chủ nhân đích thực là nền Văn Minh Lạc Việt 5000 năm lịch sử.
    7 likes
  7. CHỌN NGÀY TỐT Vận khí Bình Địa Mộc - Kỷ Hợi Năm 2019 PHƯƠNG PHÁP: Phương pháp chọn ngày tốt xấu được lưu truyền từ hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc Việt nam là rất đa dạng. Chúng tôi sử dụng phương pháp loại trừ, tức là dùng tất cả các phương pháp chọn ngày giờ theo phong tục cổ truyền để chọn ra một ngày được coi là tốt nhất sau khi loại ra những ngày xấu dựa trên các phương pháp này. Các phương pháp Cổ bao gồm các phương pháp: ü Sinh khắc của Can Chi ü Nhị thập bát tú ü 12 Chỉ Trực ü Hoàng Đạo – Hắc Đạo ü Sát chủ, Thọ tử, Dương Công Kị Nhật, Tam nương, Nguyệt kị, Vãng vong, Thiên Tai-Địa Họa Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Mậu Tuất 2018 và chào đón năm mới Kỷ Hợi 2019. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 ngàn năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được gìn giữ . Phong tục truyền thống bao gồm ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, đón Lành tránh Dữ. Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) đề xuất về các ngày được coi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Toàn bộ ngày giờ dùng trong năm Kỷ Hợi 2019, vận khí (mệnh tuổi) Bình Địa Mộc theo Lạc Thư Hoa Giáp. Tất Niên: Đây là một nghi thức tổng kết và ghi nhận những thành quả sau 365 ngày lao động sản xuất của Gia Đình và Dòng Tộc. Thông thường sẽ diễn ra vào các ngày 29 và 30 tháng Chạp với một nghi lễ Cúng Thần Linh và Gia Tiên. - 21 tháng chạp : 9-11h; 13-15h; 17-19h - 24 tháng chạp: 7-9h; 11-13h - 25 tháng chạp: 9-11h; 17-19h Ngày Xuất hành, Mở hàng: Ngày xuất hành là ngày đi xa để làm việc hay thực hiện việc quan trong chứ không phải là đêm 30 tết hay sáng mùng 1. Tuy nhiên theo phong tục thì ngày mùng 1 tết là ngày xuất hành để chúc tết và tới Chùa cầu An, nên sẽ có khung giờ tốt . Ngày mùng 1 tết năm nay là ngày Tiểu cát nên chúng ta có thể ra khỏi nhà để đi xông đất hoặc Lễ Chùa từ khung giờ 1-3h; 5-7h; Ngày Tốt Khai Trương ,Mở hàng: v Mùng 2* tháng Giêng: 7-9h; 15-17h. v Mùng 4* tháng Giêng: 11-13h. Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Nam Tuổi xông đất: Giáp Dần , Mậu Tí , Bình Dần, Bính Tý, Giáp Thìn, Mậu Tý, Kỷ Sửu Hướng Tốt Để Động Thổ: phương vị động thổ cho năm 2019 là tại hướng Nam: 157.5 độ- 202.5 độ . Các Phương xấu 2019 cần tránh: Năm 2019 các Phương xấu bao gồm: Thái Tuế đóng ở sơn Càn – Hợi thuộc Tây Bắc, Xung Thái Tuế tại các sơn Khôn-Tị thuộc Đông Nam, Tuế phá ở sơn Cấn - Dần thuộc Đông Bắc, Tam sát bao gồm các sơn Thân – Dậu –Tuất, Đại sát ở sơn Mão thuộc phương Đông và Nhị hắc và Ngũ Hoàng tại Đông Bắc, Đông Nam. NGÀY GIỜ TỐT NĂM KỶ HỢI 2019 Là những ngày Tốt dùng để Động thổ, khai trương, xuất hành, cưới hỏi và những việc quan trọng. Tuy nhiên danh mục dưới đây là những ngày dùng chung trong mọi việc nên có những ngày không nằm trong danh mục dưới đây vẫn có những ngày tốt khác dụng cho những công việc cụ thể. Do vậy, quí vị nên tham khảo thêm với chúng tôi cho những công việc và mục đích cụ thể. Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau với những ngày có đánh dấu (*) là ngày Hoàng Đạo 1. Tháng Giêng: v Mùng 2* tháng Giêng:giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 15 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h; 9-11h; 13-15h. v Ngày 25 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h, 9-11h; 17-19h v Ngày 29* tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 15-17h 2. Tháng Hai : v Mùng 8 tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;17-19h v Mùng 9 tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 17-19h; 19-21h v Mùng 10* tháng Hai: giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h v Ngày 20 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 17-19h. v Ngày 29* tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 15-17h. 3. Tháng Ba : v Mùng 4* tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 19-21h v Mùng 10* tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; v Ngày 16* tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 13-15h v Ngày 19* tháng Hai: giờ tốt; 3-5h;7-9h ;11-13h; 13-15h v Ngày 28* tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 19-21h v Ngày 29* tháng Hai: giờ tốt;11-13h;13-15h; 19-21h 4. Tháng Tư: v Mùng 6* tháng Tư : giờ tốt; 9-11h ;13-15h, 15-17h. v Ngày 17 tháng Tư : giờ tốt: 11-13h; 15-17h v Ngày 24 tháng Tư : giờ tốt 5-7h;17-19. v Ngày 29* tháng Tư : giờ tốt 3-5h; 13-15h; 19-21h 5. Tháng Năm : v Mùng 1* tháng Năm : giờ tốt; 5-7h; 9-11h. v Mùng 4* tháng Năm : giờ tốt 3-5h; 7-9h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 12* tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 7-9h; 19-21h. v Ngày 16 tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 19* tháng Năm : giờ tốt 5-7h ;9-11h; 15-17h; 21-23h. v Ngày 25 tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 9-11h. v Ngày 28 tháng Năm : giờ tốt 3-5h;7-9h; 15-17h; 19-21h. 6. Tháng Sáu: v Mùng 1* tháng Sáu: giờ tốt; 7-9h; 19-21h. v Mùng 2 tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 15-17h; 21-23h. v Mùng 8* tháng Sáu : giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 15* tháng Sáu: giờ tốt 11-13h; 15-17h. v Ngày 20* tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 13-15h; 15-17h. v Ngày 26* tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 29* tháng Sáu: giờ tốt 15-17h; 19-21h. 7. Tháng Bảy : v Mùng 10 tháng Bảy : giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. v Ngày 11* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 15-17h. v Ngày 17* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 9-11h. v Ngày 19* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 9-11h; 17-19h. 8. Tháng Tám : v Mùng 8 tháng Tám : giờ tốt 5-7h; 11-13h; 19-21h. v Ngày 16 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h. v Ngày 19 tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 24 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h. v Ngày 25 tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 19-21h. 9. Tháng Chín : v Mùng 1 tháng Chín : giờ tốt 13-15h; 17-19h. v Mùng 6* tháng Chín : giờ tốt 9-11h; 17-19h. v Mùng 10* tháng Chín : giờ tốt 7-9h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 28 tháng Chín: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. 10. Tháng Mười : v Mùng 2* tháng Mười : giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h. v Mùng 8 * tháng Mười : giờ tốt 13-15h; 17-19h; 21-23h. v Mùng 9 tháng Mười: giờ tốt 11-13h: 15-17h; 19-21h. v Ngày 15 tháng Mười : giờ tốt 11-13h: 19-21h. v Ngày 16 *tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 17-19h. v Ngày 21 tháng Mười : giờ tốt 11-13h. v Ngày 28* tháng Mười : giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h. 11. Tháng Một (11): v Mùng 4 * tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h. v Mùng 6 tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. v Mùng 10 tháng Một (11): giờ tốt 11-13h; 15-17h. v Ngày 11* tháng Một (11): giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 26 tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 28* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h. v Ngày 30* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. 12. Tháng Chạp (12): v Mùng 2 tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 15-17h. v Mùng 6 tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h; 21-23h. v Ngày 11 tháng Chạp (12): giờ tốt 7- 9h: 15-17h. v Ngày 12* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 13-15h; 21-23h. v Ngày 15* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 24* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h. v Ngày 26* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 17-19h; 21-23h. v Ngày 30* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 17-19h; 21-23h. CHÚC MỪNG NĂM MỚI, CHÚC QUÍ VỊ MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG Hà nội tháng 12 năm Mậu Tuất Việt Lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    6 likes
  8. CHỌN NGÀY TỐT Năm 2018 –Mậu Tuất -Vận khí Bình Địa Mộc PHƯƠNG PHÁP: Phương pháp chọn ngày tốt xấu được lưu truyền từ hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc Việt nam là rất đa dạng. Chúng tôi sử dụng phương pháp loại trừ, tức là dùng tất cả các phương pháp chọn ngày giờ theo phong tục cổ truyền để chọn ra một ngày được coi là tốt nhất sau khi loại ra những ngày xấu dựa trên các phương pháp này. Các phương pháp Cổ bao gồm các phương pháp: ü Sinh khắc của Can Chi ü Nhị thập bát tú ü 12 Chỉ Trực ü Hoàng Đạo – Hắc Đạo ü Sát chủ, Thọ tử, Dương Công Kị Nhật, Tam nương, Nguyệt kị, Vãng vong, Thiên Tai-Địa Họa Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Đinh Dậu và chào đón năm mới Mậu Tuất 2018. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được gìn giữ . Phong tục truyền thống bao gồm ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, đón Lành tránh Dữ. Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) đề xuất về các ngày gọi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo.Dùng cho năm Mậu Tuất, vận khí (mệnh tuổi) Bình Địa Mộc theo Lạc Thư Hoa Giáp. Tất Niên: Đây là một nghi thức tổng kết và ghi nhận những thành quả sau 365 ngày lao động sản xuất của Gia Đình và Dòng Tộc. Thông thường sẽ diễn ra vào các ngày 29 và 30 tháng Chạp với một nghi lễ Cúng Thần Linh và Gia Tiên. Đối với Công Ty và Nhà máy thì việc tổ chức ngày Tất niên cần diễn ra sớm hơn do đó những ngày tốt theo Việt lịch hợp với lễ Tất Niên, ngày đánh dấu * là ngày Hoàng Đạo. v Ngày 20 * tháng Chạp: Giờ tốt 7-9h ; 11-13h v Ngày 23* tháng Chạp: Giờ tốt 15-17h v Ngày 26* tháng Chạp: Giờ tốt 9-11h v Ngày 29* tháng Chạp: Giờ tốt 7-9h; 15-17h Ngày Xuất hành, Mở hàng: Ngày xuất hành là ngày đi xa để làm việc hay thực hiện việc quan trong chứ không phải là đêm 30 tết hay sáng mùng 1. Tuy nhiên theo phong tục thì ngày mùng 1 tết là ngày xuất hành để chúc tết và tới Chùa cầu An, nên sẽ có khung giờ tốt . v Ngày mùng 1 tết năm nay là ngày Tiểu cát nên chúng ta có thể ra khỏi nhà để đi xông đất hoặc Lễ Chùa từ khung giờ 23-1.00; 11-13h; 15-17h Thời gian quay lại làm việc là sau mùng 3 tết, cho nên ngày xuất hành tốt nhất là ngày: v Mùng 5 tháng Giêng: giờ tốt 7-9h ( trường hợp này là ngày Nguyệt kị nhưng do tính chất bắt buộc – vì là ngày nghỉ cuối cùng nên dùng ngày mùng 5 tốt hơn mùng 6) v Ngày 16 tháng Giêng: giờ tốt 9-11h; 17-19h. Ngày Tốt Khai Trương ,Mở hàng: v Mùng 2* tháng Giêng: 9-11h; 13-15h v Mùng 4 tháng Giêng: 9-11h; 17-19h v Ngày 16 tháng Giêng: giờ tốt 9-11h; 17-19h. Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Tây Nam Tuổi xông đất: Kỷ Hợi 1959 , Quí Hợi 1983, Kỷ Tỵ 1989. Hướng Tốt Để Động Thổ: phương vị động thổ cho năm 2017 là tại hướng Tây Nam: 202,5 độ- 247,5 độ . NGÀY GIỜ TỐT NĂM MẬU TUẤT 2018 Là những ngày Tốt dùng để Động thổ, khai trương, xuất hành, cưới hỏi và những việc quan trọng Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau: Lưu ý: Các ngày có đánh dấu (*) là ngày Hoàng Đạo 1. Tháng Giêng(kỵ giờ Dần 3-5h): v Mùng 2* tháng Giêng: 9-11h; 13-15h v Ngày 16 tháng Giêng: giờ tốt 9-11h; 17-19h. v Ngày 20 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h, 9-11h. v Ngày 29* tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 15-17h 2. Tháng Hai (kỵ giờ Tỵ 9-11h): v Ngày 8* tháng Hai: 7-9h; 11-13h; 15-17h v Ngày 10 tháng Hai: giờ tốt 7-9h ;11-13h v Ngày 12 tháng Hai: giờ tốt 7-9h, 19-21h. v Ngày 20* tháng Hai: giờ tốt 7-9h, 19-21h v Ngày 21* tháng Hai: giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h v Ngày 24 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h v Ngày 25 tháng Hai: giờ tốt 3-5h; 15-17h 3. Tháng Ba (kỵ giờ Thân 15-17h): v Ngày 4* Tháng Ba: 5-7h; 13-15h; v Ngày 10* Tháng Ba: giờ tốt 7-9h ;11-13h v Ngày 15* Tháng Ba: giờ tốt 11-13h, 15-17h. v Ngày 16* Tháng Ba: giờ tốt 9-11h, 13-15h v Ngày 28 Tháng Ba giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h 4. Tháng Tư kỵ giờ Thìn (7-9h): v Ngày 1* Tháng Tư: 5-7h; 9-11h. v Ngày 12* Tháng Tư: 15-17h; 19-21h. v Ngày 19* Tháng Tư: 5-7h; 13-15h; 17-19h v Ngày 25 Tháng Tư: : 5-7h ; 9-11h 5. Tháng Năm kỵ giờ Dậu(17-19h): 1 2 6 9 17 21 25 26 29 v Ngày 01* Tháng Năm: 7-9h; 15-17h. v Ngày 06* Tháng Năm: 5-7h; 9-11h; v Ngày 21* Tháng Năm: 11-13h; 15-17h v Ngày 26* Tháng Năm: 5-7h; 13-15h v Ngày 29* Tháng Năm: 7-9h; 15-17h 6. Tháng Sáu kỵ giờ Mão (5-7h): v Ngày 08 Tháng Sáu: 7-9h; 15-17h; 19-21h v Ngày 09* Tháng Sáu: 13-15h; 17-19h v Ngày 15* Tháng Sáu: 9-11h; 17-19h v Ngày 21*Tháng Sáu: 9-11h; 13-15h v Ngày 24*Tháng Sáu: 15-17h; 17-19h 7. Tháng Bảy kỵ giờ Dần (3-5h): v Ngày 06* Tháng Bảy: 5-7h; 17-19h v Ngày 10 Tháng Bảy: 9-11h; 13-15h; 17-19h v Ngày 12* Tháng Bảy: 9-11h v Ngày 24* Tháng Bảy: 5-7h ; 17-19h v Ngày 30* Tháng Bảy: 5-7h ; 17-19h 8. Tháng Tám kỵ giờ Tỵ (9-11h):1 4 6 8 11 12 15 16 20 24 25 26 28 v Ngày 01 Tháng Tám: 13-15h ; 17-19h v Ngày 06 Tháng Tám: 7-9h; 15-17h; 19-21h v Ngày 12* Tháng Tám: 7-9h ; 11-13h v Ngày 15 * Tháng Tám: 5-7h ; 13-15h; 17-19h; 21-23h v Ngày 24 Tháng Tám: 11-13h ; 15-17h ; 19-21h v Ngày 25 Tháng Tám: 9-11h ; 13-15h; 17-19h 9. Tháng Chín kỵ giờ Thân (15-17h): 1 2 8 10 11 20 26 29 v Ngày 01 Tháng Chín: 7-9 ; 11-13h v Ngày 02* Tháng Chín: 5-7h; 9-11h ; 13-15h v Ngày 08* Tháng Chín: 9-11h ; 13-15h; 17-19h v Ngày 20* Tháng Chín: 5-7h; 9-11h ; 17-19h v Ngày 29* Tháng Chín: 7-9h; 19-21h 10. Tháng Mười kỵ giờ Thìn (7-9h): v Ngày 08* Tháng Mười: 15-17h v Ngày 10* Tháng Mười: 19-21h v Ngày 20*Tháng Mười: 15-17h; 19-21h v Ngày 21 Tháng Mười: 5-7h; 13-15h; 17-19h 11. Tháng Một (11) kỵ giờ Dậu (17-19h): v Ngày 02 Tháng Một (11): 9-11h v Ngày 04* Tháng Một (11): 5-7h; 13-15h v Ngày 16* Tháng Một (11): 9-11h; 13-15h v Ngày 20 Tháng Một (11): 5-7h; 13-15h v Ngày 26 Tháng Một (11): 9-11h v Ngày 28* Tháng Một (11): 5-7h; 13-15h; 21-23h 12. Tháng Chạp (12) kỵ giờ Mão(5-7h): v Ngày 09* Tháng Chạp (12): 5-7h; 9-11h; 17-19h v Ngày 12* Tháng Chạp (12): 15-17h; 19-21h v Ngày 15* Tháng Chạp (12): 9-11h; 13-15h v Ngày 21* Tháng Chạp (12): 9-11h; 17-19h v Ngày 25* Tháng Chạp (12): 7-9h; 19-21h v Ngày 30* Tháng Chạp (12): 7-9h; 11-13h; 15-17h CHÚC MỪNG NĂM MỚI, CHÚC QUÍ VỊ MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG Hà nội tháng 12 năm Đinh Dậu Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    6 likes
  9. LUẬN TUỔI LẠC VIỆT. Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Nguyễn Vũ Diệu) NHẬP ĐỀ. Cho đến tận ngày hôm nay, khi tiếp các thân chủ đang trong tuổi yêu đương, dựng vợ gả chồng của các bạn trẻ. Tôi thấy những bậc phụ huynh vẫn cố chấp và đôi lứa trẻ vẫn đau lòng về việc bị cha mẹ cấm cản, vì một nguyên nhân lãng nhách, là nghe lời các thày bà nửa mùa, dốt nát. Họ căn cứ vào những kiến thức di sản đã thất truyền và sai lệch từ các bản văn cổ chữ Hán, để cho rằng có những đôi lừa không thể lấy nhau vì không hợp tuổi. Hậu quả của những sự thất truyền và sai lầm này, đã gây ra những kết cục bi thương cho họ. Thậm chí có những đôi lứa tự tử để quyết sống bên nhau, vì lời phán của các loại thày, bà dốt nát. Bởi vậy, hôm nay, tôi quyết định viết lại rõ ràng về phương pháp "LUẬN TUỔI LẠC VIỆT", mà tôi đã dày công nghiên cứu và đã công khai công bố trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn, từ hàng chục năm trước. Có thể nói: Công trình nghiên cứu này đã phổ biến trong tất cả các cao thủ Địa Lý Lạc Việt và các nhà Lý học thiện tâm ứng dụng. Nhưng nó chưa thật sự phổ biến rộng khắp, như một giáo trình Lý học ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành - với tư cách là một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ. Ngày nay, nhờ mạng xã hội và cảm ơn hệ thống Facebook, tôi - Lão Gàn Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh - viết và công bố lại ở đây công trình nghiên cứu về mối quan hệ gia đình trong luận tuổi Lạc Việt với sự bổ sung hoàn hảo nhất,về phương pháp này - nhân danh những gía trị đích thực của Lý Học Đông phương thuộc về nền văn hiến Việt. Tôi viết lại bài viết này với một hy vọng rằng: Sẽ giúp cho đôi lứa yêu nhau thực sự, đủ tự tin để đến với nhau và xây dựng hạnh phúc bên nhau trọn đời với "Luận tuổi Lạc Việt". Tôi cũng hy vọng rằng: "Luận tuổi Lạc Việt" sẽ giúp cho các bậc phụ huynh sẽ hiểu rõ hơn bản chất đích thực của nền văn hiến Việt, thực sự nhân bản với tình yêu con người, hoàn toàn phù hợp với những quy luật tự nhiên trong vấn đề phát triển cuộc sống và xã hội. Từ đó họ sẽ ứng dụng hệ thống tri thức này, hướng dẫn con cái đi tìm hạnh phúc đích thực. Xin cảm ơn vì đã quan tâm, chia sẻ. Còn tiếp. Ngày Tam Nương sát 18. 6. Mậu Tuất Việt lịch. Nhằm ngày 30. 7. 2018. Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh. BẮT ĐẦU TỪ HÌNH TƯỢNG THẦN TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN TRONG NHỮNG NỀN VĂN MINH CỔ. Có lẽ tất cả mọi người trên thế giới này, đều biết đến một hình ảnh phổ biến của thần Tình Yêu, có xuất xứ từ nền văn minh Hy - La. Đó là một chú bé rất xinh xắn, trên lưng có đôi cánh và bộ cung tên bằng vàng. Chú bé cười như nắc nẻ, mỗi khi bắn một mũi tên xuống trần gian và bao giờ nó cũng xuyên qua hai trái tim, một nam, một nữ. Thế là họ phải lấy nhau, như một định mệnh đã an bài. Đó là thần Eros hay Cupid trong thần thoại Hi – La, là xuất xứ ban đầu của nền văn minh phương Tây. Thần Cupid có lúc hiện thân là một thanh niên thân hình tráng kiện với những đường nét chuẩn của tỷ lệ vàng, mà chúng ta thấy ở tượng David của Michelangelo. Vị thần này ngồi trên xe có đôi Thiên Nga trắng kéo. Còn Thần Eros hiện đại và văn minh hơn, lắp ngay đôi cánh Thiên Nga trên lưng mình và hỗ trợ sự di chuyển bằng bánh xe lửa có cánh. "Chúa không chơi trò xúc xắc". Đấy là câu nói nổi tiếng của Anbert Einstein. Nhưng vị thần Tình Yêu trong thần thoại Hy La này có vẻ như chơi trò xúc sắc, khi hứng thú bắn những mũi tên tình yêu của mình. Trong nền văn minh cổ đại của Ấn Độ, thì vị thần Tình Yêu có vẻ chững trạc hơn. Thần hiện thân là một chàng trai tuấn tú, thân hình chuẩn sáu múi do tập thể dục thể hình thường xuyên, chứ không phải là một đứa trẻ hồn nhiên, vô tư với tâm hồn trong trắng, thánh thiên. Ngài cũng có bộ cung tên như hai vị thần tình yêu của Hy La. Nhưng có điều ngài lại ngồi trên xe, do một chú vẹt lắm chuyện kéo xe. Một hiện tượng đáng chú ý là: Thần Tình yêu Ấn Độ, dám chống lại cả Brahma, Shiva, là những vị thần tối cao của Ấn Độ. Nhưng thần tình yêu của Hy La lại là kết quả của tình yêu giữa thần Jupiter lắm vợ với nữ thần Venus. Giống như thần thoại Hy Lạp, thần Tinh yêu Ấn Độ cũng dùng mũi tên của mình để kết nối lứa đôi như thần Tình yêu Hy La. Nhưng có lẽ vị thần Tình yêu của xứ sở cary này, khác hẳn hai vị thần Hy La nói trên, bởi chính danh xưng của vị thần này. Ngài có tên là Kama. Tên của vị thần có từ thời rất cổ xưa này, phát âm gần giống với từ "karma", tức là "Nghiệp chướng" trong triết học Ấn Độ cổ và trong Phật giáo. Đây là một điểm khác biệt hẳn, so với sự vô tư và hồn nhiên, khi kết hợp hôn nhân đôi lứa qua hình tượng đứa trẻ trong thần thoại Hy La với thần thoại Ân Độ. Tên thần Tình Yêu Ấn Độ, đã mang bóng dánh của một định mệnh được an bài. Mà trong đó, tình yêu và hôn nhân thực sự là hậu quả của "nghiệp chướng" karma, ẩn chứa đằng sau sự vô tư khi ban phát tình yêu của thần Kama. "Duyên tình hay nghiệp oan khiên? Mà sao mãi mãi trăng đêm nhắc sầu?! Trăng non bến giang đầu vừa hé. Nghe gió than khe khẽ bên bờ..." Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh phải thốt lên như vậy! Thưa quý vị và các bạn! Trải dài từ nền văn minh cổ Hy La, cho đến Ấn Độ, chúng ta thấy có sự chuyển biến từ một tình yêu hồn nhiên, vô tư và mang tính nguyên sơ của thần thoại Hy Lạp, La Mã, đến dấu ấn của một kết quả có tính nhân quả - nghiệp chướng - trong thần thoại Ấn Độ. Có vẻ như điều này đã dần sáng tỏ danh ngôn của ngài Albert Einstein: "Chúa không chơi trò xúc sắc". Và điều này được khẳng định trong văn minh Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt. THẦN HÔN NHÂN TRONG NỀN VĂN HIẾN VIỆT. Mạch hôn nhân của Hy La vượt qua Ấn Độ, khi đến phương Đông với nền văn minh thứ V cổ xưa ở miền Nam sông Dương Tử - thì tính chất đã khác hẳn. Ở nền văn minh Đông phương, không có thần Tình Yêu. Mà chỉ có vị thần hôn nhân là Nguyệt Lão. Sự tích về Nguyệt Lão được cho rằng có xuất xứ từ thời nhà Đường. Truyện này được mô tả hay nhất trong cuốn "Điển Cố" của Phan Thế Roanh. Sự tích này có nhiều dị bản. Nhưng có thể tóm tắt về hình tượng Nguyệt Lão như sau: Đó là một ông già thường ngồi dưới bóng trăng. Bên canh có chiếc túi chứa đầy những sợi "chỉ hồng" ("Xích thằng"), trên tay ông luôn cầm cuốn sách, trong đó ghi danh tất cả những đôi lứa nam, nữ ở trần gian sẽ phải lấy nhau. Sau khi cân nhắc cẩn thân, Nguyệt Lão lấy sợi chỉ hồng buộc hai người lại với nhau. Và thế là định mệnh đã an bài. Dù cuộc thế bãi bể nương dâu, họ cũng phải đến với nhau và thành vợ, thành chồng. "Dù khi lá thắm, chỉ hồng, Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha. Kiều - Nguyễn Du. Như vậy, trong tiềm thức của nền văn minh cổ Đông phương, không có thần Tình Yêu, không có tỉnh yêu cảm tính, hồn nhiên, như nhiên, vô tư như trẻ nhỏ. Mà đó là sự cân nhắc chín chắn của bậc trưởng thượng, tính toán chi ly mọi yếu tố với sự ghi chép có tư liệu cẩn thận, rồi mới quyết định sự ràng buộc của Định mệnh, bằng sợi chỉ hồng. Theo những truyền thuyết về vị thần Hôn nhân trong văn minh cổ Đông phương, xác định một định mệnh đã an bài và không thể cưỡng lại. Cho dù, nó nằm ngoài ý muốn của con người và cố tình chống lại nó. Rõ ràng ở nền văn minh Đông phương "Chúa không chơi trò xúc sắc". Về nguồn gốc của thần Hôn nhân - Nguyệt Lão - Có vẻ như nó thuộc về văn minh Hán với sự tích phổ biến rộng rãi với nhân vật Vi Cố đời nhà Đường (618-907). Những loại Nho sĩ thuộc hạng "Tầm chương, trích cú"; "Soi từng câu, dò từng chữ", ra rả như ve rằng: Nó có nguồn gốc văn hóa Hớn. Và rằng nền văn hóa Việt chịu ảnh hướng văn hóa Hớn. Thực ra đó chỉ là loại tầm nhìn xa dưới 10km. Dấu ấn của nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử, từ hàng nghìn năm trước - nền văn minh cổ đại thứ V trong lịch sử văn minh nhân loại - chính là sợi chỉ đỏ huyền vĩ buộc định mệnh của những cặp vợ chồng trên thế gian. "Xích thằng" - chỉ Hồng - đó là phát âm nguồn gốc từ LẠC HỒNG mà ra. Từ LẠC trong ngôn ngữ Việt, tiếng Nam Bộ, còn có thể viết và đọc là "LẠT" - sơi dây ràng buộc mọi sự việc, sự vật của thế nhân. Và đấy không phải là bằng chứng duy nhất. Tôi đã chứng minh trên dd lyhocdongphuong và trong các sách đã xuất bản. Đặc biệt tronng cuốn sách: "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt" (Nxb TH T/p HCM 2006), và "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" (Nxb Tri thức 2014), về ý nghĩa của cặp "Bánh chưng, bánh dầy". Trong đó, bên ngoài chiếc bánh chưng chuẩn Lạc Việt, mà tổ tiên để lại, phải buộc theo hình "Cửu Cưng Hà Đồ" với bốn sợi "LẠT HỒNG", Tức "LẠC HỒNG" và chính là "Xích thằng" - sợi chỉ đỏ huyền vĩ biểu tượng của dòng dõi Lạc Hồng một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử (Xin xem hình minh họa kèm theo). Một trời huyền thoại Việt, cũng đã làm rung động con tim của một thiên tài kiệt xuất trong thi ca còn ghi dấu ấn đến đời sau, chính là Lý Bạch - một danh nhân thi sĩ đời Đường với bài thơ nổi tiếng: "Mộng Du Thiên Mụ ngâm lưu biệt". Trong đó ông đã mô tả một nền văn hiến giàu chất thần thoại của Việt tộc. Thiên Sứ đã dịch thơ như sau: MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT Cảm tác thơ Lý Bạch Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh Khách hải hồ kể mãi xứ Doanh Châu. Cõi huyền thoại nơi chân trời giáp biển. Chuyện thần tiên văn hiến Việt ngàn xưa. Nơi ấy. Lồng lộng trên cao Thiên Mụ chắn ngang trời. Giữa huyền không bời bời. Ngũ nhạc còn bé, Xích thành nhỏ nhoi. Núi Thiên Thai hùng vĩ xuyên mây. Trước Thiên Mụ cũng ngả nghiêng chao đảo. Ta ôm mộng sống trong huyền thoại Việt. Mơ vượt sóng trào hồ Động Đình đất Kính. Xuyên Ngô Việt trong trăng thanh lung linh. Về Diễm Khê thanh bình. Theo bóng trăng đến lều tranh Tạ Linh Vân. Nơi nước biếc soi áng mây thơ thẩn. Hạc kêu, vượn hót Gió giục mây vần. Mượn hài thần Tạ công, ta nhẹ bước thanh vân. Lưng chừng núi chợt thấy mặt trời lồng lộng. Mão Nhật kê tinh gáy gọi hừng Đông Đường đi mênh mông. Mây buông ráng hồng. Chợt trời sập tối. Sầm sập mây trôi. Nghe Kỳ lân gào thét. Tiếng Rồng gầm vang khe. Gió giật chớp loè. Núi tan, non lở. Chợt vỡ toang cửa trời rộng mở. Thăm thẳm huyền vi. Chói loà trời trăng soi lầu vàng, gác bạc. Thiên thần lừng lững bay. Giáp trụ hiên ngang, lấp lánh bẩy sắc cầu vồng. Cưỡi thần mã phi nhanh như gió. Cõi trời huyền thoại Việt. Toàn người đẹp nghiêng thành. Ảo huyền như trăng thanh. Dáng tiên thanh tú . Đông như cỏ manh. Nghe hổ chơi đàn. Hồn Bá Nha chứa chan. Chợt nhìn phượng múa. Vũ khúc Nghê Thường mê man… Giật mình tỉnh giấc mơ vàng. Mang mang như khói hương tàn trôi đi. Ngàn thu qua có nhắc gì? Mơ xưa xứ Việt ngang mi dâng sầu. Đất trời nhắc cuộc bể dâu. Nào mơ danh tướng công hầu mà chi. Thiên Sứ MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT Thơ Lý Bạch Bản dịch âm của Khương Hữu Dụng. Hải khách đàm Doanh Châu, Yên đào vi mang tín nan cầu Việt nhân ngữ Thiên Mụ, Vân hà minh diệt hoặc khả đổ. Thiên Mụ liên thiên hướng thiên hoành, Thế bạt Ngũ Nhạc, yểm Xích Thành. Thiên Thai tứ vạn bát thiên trượng, Đối thử dục đảo đông nam khuynh. Ngã dục nhân chi mộng Ngô Việt, Nhất dạ phi đô kính hồ nguyệt. Hồ nguyệt chiếu ngã ảnh, Tống ngã chí Diễm Khê. Tạ công túc xứ kim thượng tại, Lục thuỷ đãng dạng thanh viên đề. Cước trước Tạ công lý Thân đăng thanh vân thê. Bán bích kiến hải nhật Không trung văn thiên kê Thiên nham vạn hác lộ bất định, Mê hoa ỷ thạch hốt dĩ mính, Hùng bào long ngâm âm nham tuyền. Lật thâm lâm hề kinh tằng điên. Vân thanh thanh hề dục vũ, Thuỷ đạm đạm hề sinh yên. Liệt khuyết tích lịch, Khâu loan băng tồi. Động thiên thạch phi, Hoanh nhiên trung khai. Thanh minh hạo đãng bất kiến để, Nhật nguyệt chiếu diệu kim ngân đài. Nghê vi y hề phong vi mã, Vân chi quân hề, phân phân nhi lai hạ. Hổ cổ sắt hề loan hồi xa, Tiên chi nhân hề liệt như ma. Hốt hồn quý dĩ phách động, Hoảng kinh khởi nhi trường ta. Duy giác thì chi chẩm tịch, Thất hướng lai chi yên hà. Thế gian hành lạc diệc như thử. Cổ lai vạn sự đông lưu thuỷ, Biệt quân khứ hề hà thì hoàn ? Thả phóng bạch lộc thanh nhai gian. Tu hành tức kỵ phỏng danh sơn. An năng tồi mi chiết yêu sự quyền quý, Sử ngã bất đắc khai tâm nhan! Thưa quý vị và các bạn. Trong nền văn hóa truyền thống Việt còn ghi dấu ấn của "Ông Tơ, bà Nguyệt". Quý vị và các bạn có thể thấy ngay trong hai bức tranh dân gian làng Đông Hồ minh họa dưới đây, một bức miêu tả "Ông Tơ" và một bức miêu tả "Bà Nguyệt". Vậy bà Nguyệt ở đâu ra, khi nếu được coi là "gốc Hớn" với Nguyệt Lão? Nếu thật sự có "nguồn gốc Hớn" thì người Việt "phịa" thêm hình tượng "Bà Nguyệt" vào làm gì? Nhưng nếu xét theo Lý Âm Dương thì hình tượng Bà Nguyệt hoàn toàn hợp lý và mới chính là gốc của mọi vấn đề. Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành và sự ứng dụng trong tất cả mọi lĩnh vực, thì luôn tôn trọng quy luật "Cân bằng Âm Dương". "Cô Âm", hoặc "cô Dương" đều coi như sai cách cục. Nhưng trong truyền thuyết về Nguyệt Lão của văn hóa Hớn, thì chỉ có minh "Nguyệt lão" cô Dương trong hình tượng. Đây không phải là cách thiết kế một nội dung câu chuyện huyền thoại có tính minnh triết của nền văn minh Đông phương - nếu là chủ nhân thực sự của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chẳng bao giờ có hạnh phúc lứa đôi, nếu chỉ có một đàn ông, hoặc một đàn bà trong gia đỉnh cả. Nhưng nền văn hiến Việt với thần thoại về "Ông Tơ, bà Nguyệt" lại đủ Âm Dương. Ánh trăng soi sáng cho ông lão ngồi dưới trăng, được tách hẳn thành một nữ thần phụ trách hôn nhân trong văn hóa Việt và thành "Bà Nguyệt". Bà Nguyệt - Âm - mới thật sự chủ đạo trong quyết định hôn nhân và hạnh phúc lừa đôi nam, nữ - vốn thuộc sinh hoạt bản năng - Âm tính của con người. Ông Tơ - Dương - chỉ là người thực hiện cụ thể với sợi "lạt hồng" - "Xích thằng" - để ràng buộc lứa đôi. Đấy chính là nguyên lý "Trong Âm, có Dương" và ngược lại. Trong tổng thể Âm của sinh hoạt bản năng nam nữ thì Bà Nguyệt là Âm, nhưng mang tính chủ đạo và trở thành Dương trước (Trong Âm có Dương); Ông Tơ là tuy hình tượng là Dương, nhưng lại có sau nên là Âm sau (Trong Dương có Âm) và là người thực hiện buộc sơi tơ hồng, nên gọi là "Ông Tơ". Bởi vậy, với những phân tích trện, thì chính nền văn hiến Việt là nguồn gốc đích thực của những giá trị văn minh phương Đông. Hình ảnh "Ông Tơ, Bà Nguyệt", mô tả một định mệnh đã an bài trong hôn nhân. "Thượng Đế không chơi trò xúc sắc". Albert Einstein. Còn tiếp.
    5 likes
  10. HỒ THỦY SINH TRONG PHONG THỦY NGÔI GIA DƯỚI GÓC NHÌN TỪ ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT PHẦN 1: SỰ TÁC ĐỘNG VÀ VỊ TRÍ ĐẶT HỒ THỦY SINH Tác giả: Longphibaccai – Nguyễn Quốc Duy Thành viên nghiên cứu Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương Hướng dẫn: Thầy Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh Ngày nay, phong trào chơi hồ thủy sinh trở nên khá phổ biến và trở thành niềm đam mê của nhiều người, từ một anh doanh nhân giàu có cho đến một cô bé học sinh trung học cơ sở… Thú chơi hồ thủy sinh còn đòi hỏi người chơi thể hiện sự sáng tạo và chinh phục những đỉnh cao mới. Từ việc đưa khung cảnh thiên nhiên, những nét đẹp bình dị của làng quê, sông núi, rừng già, đáy biển vào hồ cho đến việc nuôi những động vật thủy sinh khó nuôi, đòi hỏi cao về chất lượng môi trường nước và nhiệt độ. Thú chơi hồ thủy sinh là vậy, nhưng nhiều người vẫn có thắc mắc hồ thủy sinh có ảnh hưởng hay tác động như thế nào đến ngôi nhà của mình, tốt xấu ra sao, hay người mệnh Hỏa có chơi hồ thủy sinh được không và đặt tại vị trí nào là tốt? 1. Hồ thủy sinh tác động như thế nào đến ngôi gia? Hồ thủy sinh ngoài việc giúp cho những người trong nhà có cảm giác thư giãn, giảm stress sau một ngày làm việc căng thẳng, còn có tác dụng tốt trong Phong Thủy ngôi gia. Cổ nhân có câu: “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc” - Núi thì quản người, nước thì quản tài lộc và tạo sinh khí. Đối với không gian lớn như quán café, quán ăn, nhà hàng, khách sạn lớn … Nhiều Phong Thủy Gia đã dụng Thủy Pháp là các thác nước, các hồ nước, hồ nuôi cá cảnh lớn ngoài trời, và đối với không gian nhỏ hơn là trong gia đình, quán café, các quán ăn nhỏ là các hồ cá, hồ thủy sinh trong nhà … Ngoài việc làm đẹp cảnh quan, hồ thủy sinh còn có mục đích là chiêu tài tụ khí giúp cơ sở kinh doanh phát triển, tăng sự thịnh vượng của ngôi gia. 2. Người mạng Hỏa có nên chơi hồ thủy sinh? . Nên đối với những người mệnh Hỏa hay bất cứ mệnh gì trong ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Thổ) đều có thể chơi hồ thủy sinh trong ngôi gia của mình, vì mạng chỉ là sự phân loại trong Ngũ hành.có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri (1) Thuyết Âm Dương Ngũ Hành là một học thuyếtTheo học thuyết Âm Dương Ngũ Hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt với lịch sử trải gần 5.000 năm, đã xác định rằng: 3. Hồ thủy sinh đặt tại vị trí nào là tốt? … Về nguyên tắc thì đặt hồ ở đâu trong nhà cũng được với điều kiện là ngôi gia phải tụ khí thì hồ thủy sinh mới phát huy hiệu quả của nó. Nhưng ở những vị trí khác nhau, sẽ có những tác động tốt xấu khác nhau. Đặt ở nơi mộ khí thì sẽ có tác dụng xua tan Âm khí. Ở nơi sinh khí và vượng khí có tác dụng kích hoạt sinh khí tốt, có lợi cho sức khỏe, nhưng trong nhà phải thoát khí tốt và hồ thủy sinh đặt trong nhà phải hài hòa, cân đối.(2)Trong Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt thì hồ thủy sinh là nơi tụ khí và luân chuyển sinh khí trong nhà, khí do hồ thủy sinh sinh ra là Âm khí, hồ thủy sinh có tác dụng kích hoạt sinh khí có lợi cho sức khỏe, kích hoạt tài lộc a. Các vị trí tốt đặt hồ thủy sinh: - Có thể đặt hồ thủy sinh tại vị trí hướng Bắc (cung Khảm), hướng Đông (cung Chấn) hoặc hướng Đông Nam (cung Khôn (3)) của ngôi gia sao cho phù hợp. Hướng Bắc thuộc cung Sự Nghiệp, tượng trưng cho sự vững bền, thuận lợi và thăng tiến trong công việc. Hướng Đông thuộc cung Sức Khỏe, Gia Đình, tượng trưng cho sinh lực, sự tươi trẻ, tình cảm và hạnh phúc gia đình. Hướng Đông Nam thuộc cung Phú Quý, tượng trưng cho tài lộc, sự sung túc, của ăn của để trong nhà… Đồ hình "Bát cung hóa khí" theo Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt. - Đối với các căn hộ chung cư có cửa ra vào đối xung với nhau, cửa chính đối xung với cửa thang máy, cầu thang chung cư đâm vào nhà thì ta có thể đặt một hồ thủy sinh để tránh xung sát khí. - Đối với nhà có các cửa thẳng hàng (cửa trước thẳng hàng với các cửa sau) thì ta đặt hồ thủy sinh để hóa giải xuyên tâm sát tác động xấu đến ngôi gia. - Đối với nhà nằm ngay ngã ba có con đường phía trước đâm thẳng vào nhà, tùy vị trí thích hợp có thể đặt một hồ thủy sinh ở phòng khách để hạn chế xung sát khí đâm vào nhà. - Hồ thủy sinh có thể đặt ở phòng bếp nhưng không được đối xung với bếp vì Thủy Hỏa tương khắc. - Hồ thủy sinh có thể đặt ở phòng làm việc, phía trước mặt người ngồi để giúp người làm việc giảm stress và tạo sinh khí cho căn phòng. b. Các vị trí không tốt đặt hồ thủy sinh: - Không nên đặt ở phòng ngủ vì không gian ngủ nghỉ cần sự yên tĩnh, tránh sự tác động của âm thanh do bộ lọc, máy sủi oxy, quạt trong hồ thủy sinh tạo nên. - Không nên đặt hồ thủy sinh ở phòng thờ tự ông bà, tổ tiên đối với nhà có phòng thờ riêng biệt. - Không nên đặt hồ thủy sinh gần nhà vệ sinh vì hồ thủy sinh để lâu ngày sẽ tích tụ xú khí, gây ảnh hưởng đến sức khỏe những người trong nhà. Tóm lại, tùy vào mục đích muốn hướng đến của gia chủ và hóa giải những yếu tố xấu tác động đến ngôi gia thì ta đặt hồ thủy sinh tại những vị trí thích hợp nêu trên, để nó có thể phát huy hiệu quả nhằm hạn chế những tác động xấu và tăng sự thịnh vượng của ngôi gia. Tp.HCM, ngày 9 tháng 9 năm Bính Thân. PHẦN 2: BỐ CỤC HỒ THỦY SINH TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT Tài liệu tham khảo: (1),(3): Sách Minh Triết Việt Trong Văn Minh Đông Phương – Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Xuất bản: 2014 (2): Tài liệu Phong Thủy Lạc Việt – Lưu hành nội bộ
    5 likes
  11. ĐỊA LÝ hay PHONG THỦY Cần khẳng định ngay một điều rằng, ĐỊA LÝ chính là tên gọi của bộ môn mà chúng ta thường quen gọi là Phong Thủy. Nếu từ PHONG THỦY - Fengshui mà hiện tại chúng ta đang sử dụng để mô tả bộ môn Địa Lý thì từ Phong thủy chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng 20 năm trở lại đây . Trong nền văn hóa của Việt Nam, từ xa xưa chúng ta đã dùng từ Địa Lý để nói tới bộ môn khoa học cổ trong Qui hoạch thiết kế và xây dựng kinh thành, thành phố, nhà cửa cũng như âm trạch mồ mả . Nếu tra cứu trên thư viện mở, chúng ta có thể thấy bộ môn Địa Lý mà chúng ta quen gọi là Phong Thủy đã xuất hiện trên trái đất từ khoảng ít nhất 6000 năm TCN qua các di tích và tài liệu bảo tồn tại ở Ấn Độ. Từ Fengshui tức là Phong Thủy được người người truyền giáo Tây Âu đặt ra thay cho từ Địa Lý vào khoảng thế kỷ thứ 19 khi họ tới Trung Quốc. Sở dĩ họ đặt tên như vậy là vì họ nhìn hình thức của các Pháp sư hay Linh mục bản đia vận dụng phương pháp của môn Địa Lý thường lựa chọn hướng của các dòng chảy, hướng của nguồn năng lượng dựa trên vị trí, địa điểm, địa thế, hình thể của sông núi hay các công trình xây dựng và khu đất. Do công việc này được thực hiện nhiều từ các Pháp sư địa phương nên những người Châu ÂU cho rằng bộ môn Phong Thủy có xuất phát từ Đạo giáo và cộng đồng khoa học cho rằng bộ môn Phong Thủy là giả khoa học cho dù nó là bộ môn nghiên cứu và thiết kế các công trình hướng tới sự cân bằng giữa con Người và Trái Đất. Thời gian gần đây, từ Phong Thủy được chấp nhận sử dụng rộng rãi thay thế từ Địa Lý và cũng được hiểu như là các hoạt động liên quan tới tâm linh, siêu hình hay các vấn đề khoa học thần bí. Có rất nhiều định nghĩa về Phong Thủy được viết và được hiểu đơn giản là bộ môn nghiên cứu sự ảnh hưởng của Gió và Nước lên đời sống, ảnh hưởng tới phúc họa của một ngôi nhà và những con người sống bên trong đó nhưng thực chất Phong thủy đơn giản như vậy không ? Tôi không dám đưa ra bất kỳ một định nghĩa nào nhưng xin trình bày quan điểm của cá nhân về cụm từ Phong thủy. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, khi xem xét “Phong thủy” của đất đai, nhà cửa, mồ mả thì không có một môn phái hay trường phái nào xem xét hướng Gió cả. Bản chất Phong thủy chính là tên gọi của bộ môn Địa Lý – bộ môn ứng dụng của học thuyết ADNH, và Phong thủy chỉ là hình thức từ góc nhìn trực quan từ những con người không rất xa lạ với nền Lý Học Đông Phương. Tên gọi Phong thủy có từ sự nhìn nhận và mô tả hình thái bên ngoài của bộ môn Địa Lý bởi việc đầu tiên của các Địa Sư chính là tìm Mạch khí của Núi và Sông. Bản chất của KHÍ (Qi theo cách gọi của người Trung Hoa) là vô hình , không nhìn thấy, không đo được, không cảm nhận được. Do đó để nhận biết KHÍ thì phải dựa vào các hình thái tồn tại của KHÍ, trong đó có Gió và Nước. “KHÍ gặp gió thì tán, gặp nước thì tụ”, cho nên khi đặt Mộ (Âm Trạch) thì các Địa Sư phải chọn nơi kín gió, có nước để nhận biết khu vực TỤ Khí. Còn với Dương Trạch tức là xây các công trình để ở thì việc bố trí sao cho không để Gió làm tán Khí trong ngôi gia, tạo ra các khu hồ, ao, bể nước để tụ Khí và hoàn toàn không quán xét gì tới “HƯỚNG GIÓ” cả. Trong cuộc sống hiện đại có rất nhiều các yếu tố tác động lên ngôi nhà và những người sống trong đó, và môn Địa Lý quán xét tất cả các yếu tố đó bao gồm môi trường xung quanh, hướng nhà, thiết kế nhà, hình thể ngôi nhà, bố trí nội thất, màu sắc..vv. nhưng tuyệt nhiên không có nghiên cứu tới “hướng của Gió” mà chỉ có hướng định vị bằng la bàn tức là hướng từ trường tự nhiên của đất, là Mạch Khí của Núi, Hướng của dòng nước chảy. Địa lý quán xét ”Gió” ở một phạm vi khác nhưng Gió và Nước không thể đại diện cho tất cả các yếu tố tương tác khác mà chúng ta gọi là ĐỊA LÝ. Có rất nhiều người dùng cách nhìn trực quan để quán xét bộ môn Địa Lý, cũng giống như cách mà người Tây Âu nhìn để đặt tên môn Địa lý thành Phong thủy. Cách đặt vấn đề là những người giàu có thường không xem xét tới Địa lý (Phong thủy), hoặc những mảnh đất các Địa sư bảo xấu không dùng nhưng lại được bán và giao dịch rất nhiều tiền và người mua từ đầu cũng kiếm được rất nhiều tiền. Hoặc người đó ác lắm sao vẫn giàu thế , hay Đại gia này không đi lễ hay theo đạo gì mà hắn giàu có lắm. vv và vv. Có nhiều người cũng đặt vấn đề, vì sao các Kinh thành được xem xét rất hoàn hảo về Địa lý(Phong Thủy) nhưng rồi các triều đại cũng xụp đổ và mộ các vị Vua đó cũng đặt huyệt Đế Vương mà Vương triều đó cũng bị suy tàn. Vậy phải chăng Địa Lý(Phong Thủy) không có tác dụng gì và là sự lừa bịp trong suốt mấy ngàn năm ? Địa lý(phong thủy) không phải là tôn giáo và không tuân theo bất kỳ một nguyên tắc nào của Tôn giáo bởi Địa lý là những tương tác và tuân thủ theo qui luật của Tự nhiên, chứ không theo khuôn phép và tư tưởng của Tôn giáo. Ngược lại, Tôn giáo lại phải tuân thủ theo qui luật vận động của tự nhiên chứ không thể dùng tư tưởng của Tôn giáo để chi phối qui luật tự nhiên. Do đó, chuyện một người ác hay hiền liên quan tới nhân quả theo thuyết của đạo Phật không ảnh hưởng gì tới tiền bạc vật chất mà người đó được hưởng. Nhưng qui luật ở chỗ nếu người Ác làm ngôi nhà sai hay đúng theo Địa lý thì tức nó sẽ tác động lên cuộc sống của anh ta. Anh ta sẽ gặp “quả báo” sớm hay muộn, nặng hay nhẹ , tức là chịu sự chi phối của qui luật vận động. Bộ môn này cũng không liên quan tới việc giá Đất đắt hay rẻ, khu đất nào tương lai sẽ bán được nhiều tiền. Những Huyệt để đặt âm trạch (mồ mả) thường đạt được đầy đủ các tiêu chí Địa lý nhưng sẽ ở trong tận vùng rừng núi mà khu vực đó thì không ai xây nhà ở trên cái Huyệt đó để ở. Đất đai nhà cửa ở các khu đô thị nhanh chóng lên giá bởi mới có cây cầu, mới có con đường, hay khu đô thị đẳng cấp. Chủ đầu tư làm ra để bán và họ chẳng cần phải bận tâm về việc khu đó có phải là Huyệt mạch tốt hay không. Hai tiêu chí đặt ra là khác nhau, do đó việc “nhậy cảm” trong buôn bán bất động sản để mua rẻ bán đắt hay kiếm lời lãi nhiều hoàn toàn không liên quan tới tiêu chí Địa lý “ phong thủy” ở đó tốt hay xấu. Tốt hay xấu lại phải xét trên quan điểm là khi ta SỐNG trong ngôi nhà hoặc mảnh đất nhiều tiền đó, nó ảnh hưởng Tốt hay Xấu lên cuộc sống bên trong ngôi nhà đó. Tốt hay xấu cũng không thể cảm nhận được ngay trên góc độ TRỰC QUAN, có nghĩa là đo đếm và nhìn thấy được. Địa lý (phong thủy) tác động từ từ, chậm rãi và hoàn toàn chỉ cảm nhận được khi bạn quan tâm theo dõi và để tâm cảm nhận tương tác của Địa lý lên cuộc sống. Có những mảnh đất, ngôi nhà rất xấu xét trên quan điểm Địa lý nhưng người sống trong căn nhà đó thậm trí là những vị lãnh đạo cao cấp, là những đại gia nghìn tỷ. Hướng rất xấu so với tuổi chủ nhà nhưng hướng đó thậm trí sau 9-19 năm nó mới phát tác các vận xấu bởi nó âm ỉ tích lũy chờ thời cơ bùng phát, trong khi chủ nhà đó ở vài năm đã sửa nhà hoặc đổi nhà khác . Cho nên họ chưa kịp nhận biết cái xấu thì đã rời khỏi chỗ đó, thì làm sao biết được Địa lý (phong thủy) nơi đó có tác động xấu lên cuộc sống của họ như thế nào. Một Kinh đô có Địa lý(phong thủy) tốt không có nghĩa là nằm ngoài vận mệnh của một đất nước, không có nghĩa là nó sẽ không bị tàn phá bởi chiến tranh hay bị kẻ khác xâm chiếm thống trị. Nhưng tên tuổi Kinh đô đó cũng như khoảng thời gian trị vị của những vị Hoàng Đế thêm uy danh và quyền lực. Nếu lăng mộ của các Vị Vua đó đặt vào huyệt tốt, dòng dõi của vị Vua đó sẽ được tiếp nối nhưng hậu duệ vị Vua đó không có được huyệt mộ tốt thì dòng dõi Vua chúa cũng sẽ chấm dứt sau 3-4 đời kế tiếp sau đó. Ví dụ như nếu Ông Nội làm Vua truyền ngôi cho con Trai và sau đó là cháu Nội, nếu Ông Nội mất được chôn tại huyệt xấu thì đời cháu thứ 3 hoặc thứ 4 sẽ không còn được làm Vua hoặc sẽ bị tổn hại nhân Đinh mà không có người nối ngôi. Địa lý (phong thủy) không thể cải Mệnh số, tức là biến đổi Định tính đã được đóng khung trong Mệnh Số của con người. Mệnh số làm Vua thì ắt làm Vua nhưng Địa lý (phong thủy) tốt xấu ảnh hưởng tới quyền lực và tên tuổi vị Vua đó. Địa lý quyết định về Định Lượng –Số Lượng, tức là giúp một con người đạt được tối đa những gì tốt nhất, nhiều nhất đã được qui định trong khung Mệnh số. Sẽ có ngừoi đặt câu hỏi, vậy các Đại gia ngàn tỉ họ ko quan tâm và không cần làm gì theo Địa lý nhưng họ vẫn giàu có ? Câu trả lời chính là cuộc sống không chỉ có sự giàu có, tiền bạc và chính vì thế một lá số tử vi của một con người không chỉ có một Cung mà là 12 cung. Nếu chỉ nhìn vào vật chất, thì ngay bản thân các Đại gia ngàn tỉ cũng không thể biết mình sẽ có thêm bao nhiêu ngàn tỉ nữa hay có thể mất hết sau một đêm để rồi hì hục gây dựng lại suốt quãng đời sau đó. Địa lý(phong thủy) có thể giúp những vị Đại gia đó có thêm nhiều hơn, mất ít hơn, gặp ít tai họa hơn nhưng cũng không có nghĩa là nằm ngoài qui luật của Vận số. Chúng ta không thể biết số lượng chính xác vật chất chúng ta có thể được hưởng trong tương lai là bao nhiêu, chính vì thế môn Địa Lý (phong thủy) với tính tư duy khoa học trừu tượng trở nên mơ hồ và mê tín đối với những con người luôn nhìn bộ môn này dứoi con mắt trực quan và vật chất. Theo thời đại hòa nhập và không gian phẳng thì tên gọi chỉ dùng để hiểu việc chúng ta đề cập tới vấn đề gì chứ ít ai lại quan tâm bản chất. Tuy nhiên, tên gọi Địa lý – tiếng Anh : Geomance mới là tên chính xác chứ không phải là Phong Thủy bởi tên Địa Lý đủ để bao trùm mọi tính chất và thể hiện đúng những gì chúng ta nghiên cứu về nó.
    4 likes
  12. Quý vị và ACE thân mến! Trong kiến trúc xây dựng theo Địa lý phong thủy Đông Phương nói chung, có một nguyên tắc ứng dụng, đó là BÁT SÁT - HOÀNG TUYỀN. Nếu bị phạm phải những tiêu chí của Bát sát - Hoàng Tuyền thì hệ thống kiến trúc đó được coi là xấu. Bài viết dưới đây là những di sản còn lại từ cổ thư chữ Hán nói về Bát sát - Hoàng Tuyền, tôi đưa lên đây để quý vị và ACE tham khảo. Sau khi đọc tư liệu này, quý vị và ACE sẽ nhanh chóng nhận ra rằng: Tất cả các di sản từ cổ thư chữ Hán, liên quan đến các phương pháp ứng dụng của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành (ADNH) nói chung, và Địa Lý phong thủy nói riêng - đều mang tính mặc định, không hề có một lời giải thích tại sao lại như vậy, và nó xuất phát từ thực tại nào? Tất cả những nhà nghiên cứu và thực hành phong thủy được gọi là Thầy phong thủy, đều chấp nhận sự mặc định này mà không hiểu đằng sau nó là cái gì?! Bài Bát Sát Hoàng tuyền từ cổ thư được đưa lên đây, một lần nữa chứng minh rằng: Thuyết ADNH và Kinh Dịch không thuộc về nền văn minh Hán. Bởi vì chính nền văn minh Hán không giải thích được bất cứ vấn đề gì liên quan đến học thuyết ADNH và Kinh Dịch, phù hợp với tiêu chí khoa học, để làm sáng tỏ các bí ẩn của nền văn minh Đông Phương, trong cuộc hội nhập toàn cầu của các nền văn minh. Bởi vậy tôi đưa bài viết này lên đây hoàn toàn là di sản của cổ thư Hán liên quan đến nguyên tắc Bát sát, Hoàng Tuyền để quý vị tham khảo. Và đối với ACE Địa Lý Lạc Việt cũng cần tham khảo kỹ bài này. Để so sách với bài giảng của tôi trong giảng đường liên quan đến nội dung Bát sát - Hoàng Tuyền, nhân danh nền Văn Hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử. Để từ đó sẽ thấy được tính ưu việt của nền Văn Hiến Việt, là cội nguồn đích thực của Nền Văn Minh Đông Phương. Nguyên lý Bát sát - Hoàng Tuyền chỉ là một ứng dụng trong rất nhiều ứng dụng tương tác của Địa lý Lạc Việt nói chung. Nhưng một thực tại khách quan nào, hoặc một hệ luận mang tính lý thuyết nào liên hệ với nguyên tắc này, mới là điều mà ACE cần biết rõ. ACE đều biết một tiêu chí khoa học phát biểu rằng: 1/ Một lý thuyết được coi là khoa học, thì những mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể kiểm chứng được. 2/ Một lý thuyết khoa học được coi là đúng, nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán, có tính quy luật tính khách quan và khả năng tiên tri. Trên cơ sở này, chúng ta xem xét quy luật phương sát trong nguyên lý Hoàng tuyền Bát sát được mô tả dưới đây từ cổ thư chữ Hán và sự hiệu chỉnh nhân danh nền văn hiến Việt.
    4 likes
  13. LÝ HỌC VÀ TRIẾT HỌC HIỆN ĐẠI. Thưa quý vị và các bạn thân mến. Lần đầu tiên, tôi được biết đến một buổi tọa đàm liên quan đến nội dung triết học, thông qua hình thức thư mời vô danh (không mời đích danh) qua email của tôi. Kèm thư mời này là bài viết của Tiến sĩ Huỳnh Thanh có tựa là "Khái luận về triết học phát triển". Tôi không hiểu mấy đoạn sau nhà nghiên cứu này nói cái gì, nhưng chí ít đoạn mở đầu mà tôi trích dẫn lại dưới đây, quý vị và các bạn cũng thấy tác giả nói về một khái niệm gọi là "Vũ trụ quan toàn thế". Trong đó, tác giả xác định: "Vũ trụ quan toàn thể là quan niệm hoàn bị về một vũ trụ toàn thể tuần hoàn phát triển". Tác giả cũng nhắc đến các khái niệm về tính "nhất nguyên"; "nhị nguyên", đến trần thời gian - tức “bức tường Planck” vào thời gian trước 10[-43] sau giây O. Quý vị và các bạn có thể xem nguyên văn đoạn trích dẫn dưới đây: Thưa quý vị và các bạn. Như vậy, tất cả đoạn mở đầu của tác giả - Tiến sĩ Nguyễn Huỳnh Thanh - chỉ là sự nhắc lại những vấn đề khởi nguyên của vũ trụ được mô tả nhân danh nền văn hiến Việt, từ hàng chục năm trước trên diễn đàn Lý học Đông phương. Trong đó, chúng tôi đã xác định tính "nhất nguyên" của "Thái cực" trong kinh Dịch, của "Đạo" trong Đạo Đức Kinh. của "Tính thấy" - Như Lai tạng tính - trong minh triết Phật giáo. Chúng tôi cũng rất nhiều lần, nhắc đi nhắc lại rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất, chính là sự nhận thức "một lý thuyết vũ trụ quan toàn thể, với ý nghĩa là quan niệm hoàn bị thống nhất xuyên suốt về một vũ trụ toàn thể tuần hoàn phát triển" mà tác giả nói tới. Chúng tôi cũng rất nhiều lấn nói tới bản chất của tính "nhị nguyên" trong nhận thức của con người, có nguyên nhân thực tế khách quan là "Lưỡng nghi" trong sự mô tả khởi nguyên của vũ trụ. Và tính triết lý "nhị nguyên" trong toàn bộ nhân thức vũ trụ được hính thành bởi một cặp phạm trù là "Âm Dương" - tất nhiên: Nhân danh nền văn hiến Việt. Chúng tôi cũng rất, rất, rất nhiều lần nói đến tính quy luật tương tác trong sự vận động của vũ trụ. được mô tả bằng những mô hình biểu kiến của thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt - đã tạo nên khả năng tiên tri của nó. Bởi vậy, thật là thất vọng, khi đọc những hàng chữ sau đây: Vậy! Cuộc tọa đàm này đang bàn về cái gì? Tôi có một cảm giác về tính "kiêu ngạo học thuật" đang thống trị không gian học thuật. Có vẻ như người ta thích mô tả những gì mình biết và không quan tâm đến cái mình cần biết. SW Hawking khi sinh thời, ông đã để lại một tư tưởng bất hủ, khi phát biểu: Vài lời chia sẻ. Xin cám ơn vì đã quan tâm.
    4 likes
  14. Kính gửi tất cả các ACE đã và đang tham gia hai lớp học: ĐỊA LÝ LẠC VIỆT ỨNG DỤNG 1 & 2! Hiện nay aygia đang giúp Sư Phụ THIÊN SỨ và adm Bảo Ngọc quản lý hai lớp học. Vì thời gian qua Adm Bảo Ngọc có nhiều việc riêng bận rộn trong công việc cũng như gia đình (nuôi con nhỏ) nên rất mong nhận được sự thông cảm từ phía ACE. Vì tổ chức lớp học gồm 2 phần song song nhau đó là: 1/ Học các bài học hàng tuần ở trong Giàng đường của website. Do Sư Phụ THIÊN SỨ trực tiếp giảng dạy. 2/ ACE giao lưu, sinh hoạt, làm bài tập ví dụ trong nhóm FaceBook kín của lớp học. Ở đây cũng là nơi thường được Livestreams các bài giảng chuyên đề, các buổi offline hoặc là các hoạt động liên quan đến lớp học khác. Đây cũng là nơi gắn kết ACE, là nơi thông báo các hoạt động liên quan đến Trung tâm Nghiên cứu Lý Học Đông Phương mà Sư Phụ THIÊN SỨ là người sáng lập và là Nguyên Giám Đốc Trung tâm. Hiện nay được chuyển giao điều hành bời anh Hoàng Triều Hải (nick diễn đàn là Mạnh Đại Quân). Aygia xin thông báo một số vấn đề liên quan đến lớp học như sau: (Vấn đề này đã thông báo trong nhóm FB của lớp học, nhưng vì nhiều ACE chưa từng vào lớp học nên thông báo lại ở đây) 01 - Những ACE đã từng là học viên của lớp học thì nick FB của ACE sẽ vẫn có thể để ở trong nhóm của lớp học, dù ACE không tiếp tục học nữa (còn việc ACE xin ra là quyền của ACE - cái này là nhắc lại) Vậy nên nếu ACE ai biết bạn nào là học viên cũ của lớp thì có thể add vào lớp và Loc Thien sẽ chịu trách nhiệm phê duyệt (Hiện trong nhóm có 6 quản lý là: Anh Hoàng Triệu Hải, Lien Thuy Nguyen, Thiên Luân, Hùng Nguyễn và SP. Vậy nếu ai rành và biết về người nào thì hãy duyệt và không duyệt nhé) 02 - Những nhóm cũ mà một số ACE nghỉ học thì những ACE còn lại tiếp tục tổ chức lại và tiếp tục học, chứ không tự ý đưa người ở nhóm khác sang, hoặc người bên ngoài vào. 03 - Những ACE ở nhóm cũ mà trưởng nhóm đã nghỉ, hoặc nhóm còn lại quá ít thì các bạn có thể báo lên, aygia (Loc Thien) sẽ xin với SP để tổ chức một hoặc nhiều nhóm mới cho các thành viên này, tuỳ vào số lượng ACE rơi vào trường hợp này. 04 - Những ACE của lớp 1 đã nghỉ lâu rồi (trước tháng 7 - 2017) nếu muốn học lại thì có thể vào học cùng lớp 2, vì nếu theo vào lớp 1 thì quá xa, và phải nộp bù học phí cũng nhiều. Lớp 2 hiện tại mới sang tháng thứ 5, và phần Bát trạch mới đi được 2/3. 05 - Những ACE nào mà đang theo học trong hai lớp học trên, vẫn học tập trong lớp mà chưa từng vào nhóm FB thì có thể kết bạn FB với Aygia qua địa chỉ sau: https://www.facebook.com/loc.thien.92, sau đó nhắn tin cho mình, mình sẽ xác minh và add bạn vào nhóm FB. Còn nếu có vấn đề gì gấp thì có thể gọi cho mình qua số 0964.717.868 06 - Vấn đề nộp học phí ACE sau khi nộp thì liên lạc với mình bằng hình thức tin nhắn qua FB hoặc điện thoại tuỳ ý, mình sẽ chờ tin nhắn xác thực từ chủ tài khoản để theo dõi việc nộp học phí của các bạn. Trân trọng/ Aygia. (FB: Loc Thien)
    4 likes
  15. Diễn đàn LHĐP mở topic dành cho năm 2018 cho các bạn quan tấm đến Luận Tuổi Năm Sinh Con, thay cho topic 2017 để các bạn tiện theo dõi. Chú ý khi tư vấn: Không gửi bài viết nhiều lần Tuân thủ nội quy diễn đàn Không trao đổi thảo luận các nội dung khác ngoài lề Không hỏi giúp người khác vì trong Lý Học có nhiều lí do tế nhị. Tư vấn và được tư vấn là do DUYÊN và TÙY DUYÊN và trên tình thần tự nguyện của các nhà nghiên cứu. Ưu tiên tư vấn cho các trường hợp mong muốn sinh con năm 2018 Trước khi tư vấn xem trước: Bảng tra mạng theo Lạc Thư Hoa Giáp Tuổi hợp - xung trong tình yêu Luận tuổi Lạc Việt Tham khảo các bài tư vấn cũ của 2013-2014-2015-2016-2017 trong box Luận Tuổi Chú ý: TUYỆT ĐỐI KHÔNG XEM VÀ TƯ VẤN CHO CÁC TRƯỜNG HỢP ĐANG CÓ THAI VÀ TRƯỜNG HỢP HỎI GIÚP CHO NGƯỜI KHÁC Khi tư vấn chúng tôi sẽ giúp chọn những năm tốt nhất, gần nhất và phù hợp nhất Những năm chúng tôi không chọn hoặc không tư vấn là không phù hợp nên đừng hỏi lại. Gửi nội dung tư vấn theo mẫu sau Chồng: [ngày-tháng-năm sinh - Theo Âm Lịch] - [Mạng] - Bảng tra mạng theo Lạc Thư Hoa Giáp Vợ: [ngày-tháng-năm sinh - Theo Âm Lịch] - [Mạng] - Bảng tra mạng theo Lạc Thư Hoa Giáp Nếu đã có con: [ngày-tháng-năm sinh - Theo Âm Lịch] - [Mạng] ( đã có hơn một con thì mỗi con trên một dòng riêng) Nội dung xin tư vấn: Dự định sinh con năm xyz có tốt không? / Sinh con năm nào thì tốt Nội dung thêm: (lựa chọn, nếu cần thì đưa thêm để tiện việc tư vấn) Ví dụ: Chồng: 16/03/1983 âm lịch - Thiên Thượng Hỏa Vợ: 20/08/1988 âm lịch - Đại Lâm Mộc Con lớn: 15/05/2012 âm lịch Xin tư vấn: Sinh con út năm nào thì tốt
    3 likes
  16. DI TÍCH KHẢO CỔ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA LÝ CỔ ĐÔNG PHƯƠNG - CÁCH HƠN 6000 NĂM TRƯỚC. Cá nhân tôi - Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh - luôn chỉ coi di vật khảo cổ là một giá trị trực quan, chứng minh một cách sắc sảo cho một hệ thống lý thuyết khoa học liên quan đến nó. Không cần đến sự phát hiện - được mô tả trong bài viết dưới đây - tôi cũng xác quyết về mặt lý thuyết về cội nguồn Địa Lý phong thủy Đông phương nói riêng và toàn bộ hệ thống Lý học của nền văn minh Đông phương - mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành - thuộc về nền văn hiến Việt. Rõ ràng đây là một di sản khảo cổ xác định những giá trị tri thức tinh hoa Đông phương xuất hiện ở Nam Dương tử, có trước cả lịch sử hình thành dân tộc Hán. ===================== PHỤ LỤC. MỘ RỒNG. 徐韶杉:从阴宅风水看仰韶天文 Từ Thiều Sam: Tòng âm trạch khán Ngưỡng Thiều thiên văn 2011-01-07 来源:中国建筑风水文化网 作者:一鸣 Xu Shao Shan: Nhìn Yangshao thiên văn học từ Amityville Horror phong thủy 2011-01-07 Nguồn: Trung Quốc Kiến trúc Văn hóa Phong Thủy Tác giả: Yiming 字号:T|T|T 内容摘要:   1987 年五月在河南省濮阳市西水坡(pha:dốc) 发现了仰韶文化遗址。西水坡位于濮阳县城老城墙的北侧,原是濮阳老城内的一块低洼地,该墓葬是西水坡考古现场发现的第45座古墓,考古命名为西水坡45号墓 Tóm tắt: KHÁM PHÁ THIÊN VĂN HỌC NGƯỠNG THIỀU TỪ NGÔI MỘ CỔ Tác giả: Nhất Minh Vào tháng năm 1987, tại dốc Tây Thủy, trấn Bộc Dương, tỉnh Hà Nam, phát hiện di chỉ văn hóa Ngưỡng Thiều. Dốc Tây Thủy nằm ở phía bắc của bức tường thành phố cũ Bộc Dương, phát hiện ra nghĩa trang với 45 ngôi mộ. Ngôi số 45 được khảo sát đặc biệt. Định tuổi bằng C14, ngôi một có niên đại khoảng 6500 năm (6460+/- 135 năm), thuộc trung kỳ văn hóa Ngưỡng Thiều. Đầu mộ quay về hướng nam, chân phía bắc, phía đông là một con rồng làm bằng vỏ sò, có móng vuốt, sống động như thật; phía tây của nó giống như một con hổ bằng vỏ sò, đầu lặng lẽ, uy nghi; phần bụng con hổ bằng vỏ sò có hình giống hoa mai. Phía bắc là hình tam giác bằng vỏ sò và hai xương chày của con người. Ngôi mộ số 45 có ba người tuẫn táng ở ba hướng Đông, Tây, Bắc, được chôn theo một độ xiên cố ý nào đó. Dưới chân mộ chủ có hình tam giác và hai ống xương chày trẻ em từ ngôi mộ số 31. Hiện tượng và kết luận: 1. Đầu tiên, Mộ Bộc Dương số 45 có hình thanh long bạch hổ và 28 địa điểm đồ hình mộ sơn tương ứng với đồ hình thanh long bạch hổ, (cho thấy) thanh long bạch hổ đồ của mộ Bộc Dương số 45 là tứ tựơng đồ. Theo hình dạng và kích thước của thanh long bạch hổ trong mộ Bộc Dương 45 thấy bảy con số phù hợp vị trí có thể được xác định 28 địa điểm đã được thiết lập tại thời điểm chôn cất. 2. xa nhất về phương nam theo hướng tý ngọ của mộ 45 là mộ số 31. chủ nhân mộ số 31ở phái cực nam là một đồng nữ, là thần hạ chí. Ba nạn nhân hiến tế trong mộ 45 thì một là biểu tượng của thần Xuân phân (phía Đông,đồng nam), thần Thu phân (phía Tây,đồng nữ) và thần Đông chí(Bắc,đồng nam),tại đây chu kỳ mùa được hoàn tất. Người xưa đã có một niềm tin văn hóa rất đầy đủ: Đông, Xuân là dương, được biểu thị bằng đồng nam; Hạ Thu là âm được biểu thị bởi đồng nữ. 3.Thứ ba, trong phần bụng con hổ bằng vỏ sò ở ngôi mộ số 45, có một loạt các vỏ sò nằm rải rác. Đống này nằm trong bụng của con hổ bằng vỏ sò, đồ hinh ngọn lửa trong bụng con hổ chỉ nhằm để khẳng định lẫn nhau. Trong đồ án của ngôi mộ 45 với mô hình đồ án đối chiếu, chúng phản ánh chính xác cùng một nội dung, hình ảnh là một "bản đồ sao." Trong bụng hổ là mặt trời hình hoa mai, theo thông lệ là ngày Xuân phân. Khái quát, ngôi mộ được sắp xếp theo tượng sao lúc hoàng hôn ngày Xuân phân. 4.Đo bằng con số ngôi mộ có sẵn ∠ BP'P = ∠ B'P'P = 24 ° 00 ', Thứ hai, theo những vỏ sò trong bụng con hổ có hình hoa mai là mặt trời, theo tiền lệ đó là quỹ đạo của sao vào ngày Xuân phân. 5. Đêm quan sát sao Bắc Dẩu, ngày dựng tiêu. Dưới chân chủ nhân ngôi mộ số 45 có hình tam giác nhỏ và hai xương chày trẻ em. Xương chày như cán của chòm Bắc Đẩu. Bắc Đẩu được người xưa dùng trong chiêm tinh học,đêm quan sát Bắc Đẩu, ngày dựng tiêu đo bóng. Phương pháp cắm tiêu đo hình cổ nhất là người xưa thông qua bóng trên cơ thể người thay đổi phương hướng mà dần dần học được cách thiết kế, đó là “tiêu.” Do cơ thể con người, cọc tiêu và thời gian có mối quan hệ đặc biệt, vì vậy người xưa gọi là thời gian đo đùi, ý nghĩa của chân đùi con người.Bắc Đẩu đồ trong ngôi mộ Bộc Dương 45, chân, tiêu và thời gian liên kết lại, phản ánh người xưa thông qua dựng tiêu đo bóng và quan trắc Bắc Đẩu để xác định thời điểm. 6 Để xương chày như cán của chòm sao Bắc Đẩu, xác định bốn tượng kiến lập trên quan sát tại Bắc đẩu. 7 Tôn thờ vật tổ của Trung Quốc tồn tại trong 6500 năm trước. Từ tính toán vị trí tứ tượng đồ tinh, người xưa tiến hành tối thiểu 100.000 quan sát chiêm tinh trước khi bắt đầu ghi chép 8 Đây là lần đầu tiên ở Trung Quốc phát hiện bố cục âm trạch phong thủy, quyết định phương hướng phát triển của phong thủy sau này. 9. Ngôi mộ số 45 đầu hình bán nguyệt, chân mộ vuông chứng tỏ quan niệm trời tròn đất vuông đã hình thành 10. Theo 28 địa điểm và chia ra bốn thần cho thấy 6500 trước đã nắm được sự vận hành của năm và sáng tạo các hệ thống thiên văn can chi. 1987 年五月在河南省濮阳市西水坡发现了仰韶文化遗址。西水坡位于濮阳县城老城墙的北侧,原是濮阳老城内的一块低洼地,该墓葬是西水坡考古现场发现的第45座古墓,考古命名为西水坡45号墓。 经碳十四测定,并经树轮较正,此墓大概是6460年(正负135年)以前的,属于新石器时代仰韶文化中期。墓主人头居南、足朝北,其东为一蚌壳塑龙像,张牙舞爪,栩栩如生;其西为蚌壳塑虎像,缓步平视,威风凛凛;虎胃部的蚌成梅花状。其北为蚌壳塑三角形和人的两根胫骨构成的图案。45号墓中3具殉葬人的摆放位置在墓穴中东、西、北三个方向,并特意斜置形成一定的角度。通过骨架鉴定,殉葬人的年龄都在12岁至16岁之间,他们的头部有刀砍的痕迹,都属于非正常死亡。Ngôi mộ số 45 có ba ngườituẫn táng ở ba hướng Đông, Tây, Bắc, được chôn theo một độ xiên cố ý nào đó. 濮阳西水坡45号墓的墓主人脚下小小的三角形和两根小孩儿胫骨来自31号墓中。 濮阳西水坡45号墓实拍图 濮阳西水坡45号墓示意图 濮阳西水坡45号墓分析图 Bộc Dương Tây Thủy pha số 45 mộ tích đồ 濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图和曾侯乙墓漆箱盖28宿青龙白虎图对比 Bộc Dương Xishuipo lăng mộ của các con số Rồng 45 ngôi mộ hổ và sơn bao gồm 28 địa điểm Rồng Bạch Hổ biểu đồ so sánh 濮阳西水坡31号墓 濮阳西水坡45号墓与31号相对位置 现象与结论: 一、濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图和曾侯乙墓漆箱盖28宿青龙白虎图对比,濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图为四象图;根据濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图的形状大小与青龙白虎七星所处位置一致,可以确定28宿在墓葬时已确立。 二、在位于45号墓的子午线最南方有31号墓。位于遗址最南端的31号墓的主人(女童)是司掌夏至的神,而45号墓中的3具殉葬人则分别象征着春分神(东)(男童)、秋分神(西)(女童)和冬至神(北)(男童),四时的演变在这里表现完整。 古人当时已经有了很完整的文化观念:认为春分、秋分、夏至、冬至是由四位天文官分别掌管的,即“分至四神”;冬春为阳以男童表示,夏秋为阴以女童表示。 三、在45号墓蚌壳虎的腹部,有一堆散乱的蚌壳。这堆位于虎腹下的蚌壳,与曾侯乙墓中虎腹下的火形图案正好可以相互印证。将濮阳西水坡45号墓中的图案与曾侯乙墓漆箱盖上图案对照,它们反映的内容完全一致,证实蚌塑图像就是一幅“星图”。虎胃部的蚌成梅花状为太阳,此即春分日躔胃宿。该墓是按春分日落时的星象布置。四、由墓图实测可得∠BP'P=∠B'P'P=24°00',其次根据虎胃部的蚌成梅花状为太阳,此即春分日躔胃宿 (triền vị túc) 。证实六千五百年前的先民早已测得的黄赤交角为24°。并有可能建立24节气。 五、夜观北斗,白天立表。濮阳西水坡45号墓的墓主人脚下小小的三角形和两根小孩儿胫骨。胫骨当作北斗斗柄。北斗是古人来计时的星象,夜观北斗,白天用立表测影。最古老的立表测影的方法是古人通过对人体影子的方向的改变而逐渐学会的,最初的测影工具只是模仿人体来设计,这就是“表”。 正因人体、表与时间具有这种特殊关系,所以古人把计量时间的表叫作髀,而髀的意思是人的腿骨。濮阳西水坡45号墓中的北斗图,把腿骨、表和时间这三个方面联系起来,体现了古人通过立表测影和观测北斗来决定时间这两种方法的结合。 六、以胫骨作北斗斗柄,四象的确定是建立在北斗观察之上的。 七、中国的图腾崇拜在6500年前已存在。从四象图星体位置计算,古人最低下线为10万前就开始对星象观察记录。 八、它是中国最早的阴宅风水布局,对后来的风水发展起到决定性指导方向。 九、45号墓主人头部墓室呈半圆形,腿部墓室呈方形。显示天圆地方盖天学已形成
    3 likes
  17. Phản biện bạn Trần Thiên Khánh trong CLB lý học Nguyễn Bỉnh Khiêm Thứ nhất : Xin đươc dịch để mọi người ko đọc được tiếng Trung có thể tham khảo. ++++++++++++ Từ điển Hán - Hán: http://xh.5156edu.com/html5/78297.html: Định nghĩa có luôn bác nhé: "事物由于矛盾转化而生生不已" _______________________________________ 1.事物由于矛盾转化而生生不已。 Sự vật do mâu thuẫn chuyển hóa mà sinh sinh không ngừng. 词语分开解释:(phần giải thích từ ngữ) ________________________________________ 相 : 相 xiāng 交互,行为动作由双方来:互相。相等。相同。相识。相传(chu俷 )。相符。相继。相间(ji 详细>> Tương: tương hỗ,hành vi động tác do song phương mà thành,tương hỗ,tương đẳng,tương đồng,tương tư,tương truyền,tương phụ,tương thuận 生 : 生 shēng 一切可以发育的物体在一定条件下具有了最初的体积和重量,并能发展长大:诞生。滋生。生长 详细>> Sinh: tất cả vật thể có thể sinh ra tại 1 điều kiện nhất định, có thể phát triển lớn lên như SINH RA, SINH TRƯỞNG. , Sinh tồn http://www.zdic.net/c/8/e2/226726.htm… 相生  xiāng shēng  ㄒㄧㄤ ㄕㄥ 相克 词语解释 ◎ 相生 xiāngshēng [interpromoting relation in five elements] 五行学说术语。借木、火、土、金、水五种物质之间互相滋生和促进的关系。来说明脏腑相互协调的生理现象。其次序是木生火、火生土,土生金,金生水,水生木 Tương sinh Thuật ngữ học thuyết ngũ hành bao gồm :mộc,hoả,thổ,kim,thuỷ,5 loại vật chất tương hỗ, Các hiện tượng có quan hệ với nhau ,mộc sinh hoả,hoả sinh thổ,thổ sinh kim,kim sinh thuỷ,thuỷ sinh mộc -------------------------- 相生(xiāng shēngㄒㄧㄤ ㄕㄥ) 1. 彼此互為因果。老子.第二章:「故有無相生、難易相成、長短相較、高下相傾。」 2. 孫子.勢:「奇正相生,如循環之無端。孰能窮之?」反相剋 Lão tử đệ nhị chương: Cố hữu vô tương, Sinh nan dịch tương, Thành trưởng đoản tương, giác cao hạ tương, khuynh (do đó, có và ko tương s inh, khó dễ tương thành, dài ngắn tương giao, cao thấp tương khuynh Tôn tử thế: kì chính tương sinh như tuần hoàn chi mô đoan thục nại cùng chi ++++++++++++++++++ Sau khi tra cứu hai trang từ điển Hán ngữ của bác Khánh, chỉ có một trang là có giải nghĩa khá chuẩn. Tôi cho rằng đây là một từ điển duy nhất có sự khác biệt về định nghĩa của từ Tương Sinh Tương Khắc. Tuy nhiên, vị học giả đưa định nghĩa này cũng không thể cho ra một định nghĩa rõ hơn về NGũ Hành Tương Sinh Tương Khắc và dẫn giải các lý luận từ vẫn dẫn giải ra ngũ hành là 5 dạng vật chất. do đó Tương Sinh vẫn được hiểu là SINH RA. Điều chúng ta cần bàn ở đây là 5 ngàn năm trước không có cái gọi là từ điển, và đương nhiên từ mượn không thể diễn tả được ý nghĩa và bản chất của một tên gọi cho một học thuyết. Chúng ta hiện có tên con sông Tiêu Tương ở Bắc Ninh, ít nhất được biết tới tồn tại tên này từ thời nhà Lý Công Uẩn. Hoặc trong đạo Mẫu , giá Chầu quan Đệ Tam cũng có nhắc tới Sông Tương. TQ có Sông Tương thuộc tỉnh Hồ Nam, và xin nhắc lại đó là thuộc về Bách Việt cổ. Tương cũng còn là một món quen thuộc của người dân miền Bắc mà thậm trí không cần từ điển nào giải thích “Nát như Tương” thì người Việt đều hiểu về chữ “tương “ này. Thứ hai, Rất cảm ơn bác đã đưa ra một lý giải chuẩn xác. Chính xác để phản ánh đầy đủ bản chất sẽ sẽ phải là Thủy Hỏa Tương Khắc, Kim Thủy Tương sinh. Vấn đề chính là khi tiếp nhận học thuyết này, người Hán vẫn hiểu là TƯƠNG SINH là SINH RA và từ TƯƠNG không còn có tác dụng của vai trò trong từ ghép tương sinh nữa, phó từ TƯƠNG mất giá trị trong từ ghép này. Do đó, họ mới hiểu sai Ngoại động từ thành nội động từ để từ đó sinh ra định nghĩa NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH thành Kim sinh thủy, Thủy sinh mộc. vv như hiện nay, và hóa thành vật chất được sinh ra theo như các định nghĩa sai lệch kéo dài hàng ngàn năm cho tới ngày nay. Với định nghĩa này, chúng ta sẽ không thể lý giải vì sao KIM là kim loại, lại sinh ra được THỦY là nước. … Thứ ba: Từ Tương ngoài chủ để này tức là các từ Tương dùng trong tục ngữ hay ngôn ngữ đều giống như người Việt chúng ta. Đặt lại vấn đề, Chữ Ngo và ngôn ngữ Việt ảnh hưởng tới chữ viết và văn hóa Hán , chúng ta sẽ có lập luận khác. Ngôn ngữ Mẹ Đẻ là công cụ giao tiếp có thể thay đổi theo thời gian nhưng ý nghĩa vẫn được thấu hiểu mà không cần từ điển. Thứ tư: Tôi có nhầm lẫn khi viết, từ Tướng Tương là tể tướng 宰相, không phải là tướng quân 将军 . Xin được cảm ơn và đính chính lại. Thứ năm, Như tôi đã trình bày, Ngôn ngữ Việt là một trong những hệ ngôn ngữ phong phú và phức tạp nhất . Vậy nên khó có thể có từ điển nào định nghĩa hết được các từ trong ngôn Ngữ Việt. Ngôn ngữ Mẹ Đẻ vốn để giao tiếp và sử dụng trong đời sống hàng ngày, nên khi nói đã thể hiện đầy đủ hàm ý của người muốn diễn đạt. TƯƠNG là món ăn được làm từ đậu tương vốn không có trong thực phẩm của người Hán, nhưng khi nói rau chấm tương thì ai cũng hiểu tương là gì. Ví dụ từ “Vãi Lúa” mới xuất hiện trong cách nói của thế hệ trẻ hiện nay, ko có từ điển nào nói về từ này. Nhưng khi nói thì đa số đều hiểu, “khôn vãi lúa, ngu vãi lúa…vv” là có ý gì. Thứ 6: Với cụm từ khi mang ý nghĩa Tương Sinh Tương Khắc mà vẫn được hiểu ý nghĩa thành SINH RA, với từ Tương có chung với tư TƯỚNG. Như vậy, ý nghĩa của Tương SInh TƯơng khắc theo ngôn ngữ Hán là SINH RA. Cho nên lẽ ra sẽ phải là Hỏa thổ tương Sinh, Hỏa kim tương khắc vvv. Trong ngôn ngữ Việt, từ ghép nhiều khi mang ý nghĩa định vị. Ví dụ: SÂN TRƯỜNG. Khi chúng ta ở trong Trường thì khi giao tiếp, chỉ cần chữ SÂN là hiểu SÂN ở trong sân trường. Còn khi ở ngoài khu vực, chúng ta sẽ nói SÂN trường để phân biêjt với SÂN ĐÌNH, SÂN NHÀ..vv. hoặc trong ngữ cảnh, nói về trường mà đứng ở ngoài sân trường thì sẽ nói SÂN TRƯỜNG. ,vv. NGôn ngữ Việt hoàn toàn phân định rõ ràng ngữ cảnh, không gian, thời gian và các tập hợp nhóm.
    3 likes
  18. NHỮNG NGUYÊN LÝ CĂN BẢN. Thưa quý vị và các bạn. Trong phương pháp "Luận tuổi Lạc Việt", xác định rất rõ rằng: Tình yêu và hôn nhân Nam Nữ là phần tử nằm trong một tập hợp của quy luật bao trùm của vũ trụ trong tương tác Âm Dương. Cho nên, mọi sự ngăn cản đều trái quy luật được mô tả trong cặp phạm trù Âm Dương này. Đó là nguyên nhân gây nên sự bế tắc và ẩn ức của tình yêu và hôn nhân. Lý học Việt giải thích trên cơ sở lý thuyết rằng: "Do Âm Dương bất tương, sự vật, sự việc không phát triển được". Để giải quyết vấn đề này - nhân danh nền văn hiến Việt - dùng ngay hệ thống lý luận của thuyết ADNH, phục hồi từ những gía văn hóa truyền thống Việt, một cách nhất quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính quy luật và khả năng tiên tri, một cách thỏa đáng bằng chính phương pháp luận của nó. Chứ không đưa một lý thuyết ngoại lai để thuyết phục, như "Tự do yêu đương", "quyền tự quyết định của người trưởng thành"...vv.... Trong phương pháp "Luận tuổi Lạc Việt", vấn đề Thiên Can rất quan trong. Nguyên nghĩa từ "Thiên - Can" cho thấy: Thiên thuộc Dương, so với Địa chi thuộc Âm. "Can" nghĩa là "căn gốc". Theo Nguyên Lý "Âm thuận tùng Dương" thì Thiên Can đóng vai trò quyết định. Do đó, cần xét vai trò của Thiên can trước. Cho nên vấn đề đầu tiên được trình bày trong bài này, là: I. Tương tác của Thiên Can trong quan hệ gia đình. 1/ Trong quan hệ gia đình, người chồng, cha thuộc Dương. Thiên Can thuộc Dương. Nên Thiên Can đóng một vai trò quan trọng liên quan chủ yếu từ người chồng, đến các thành viên trong gia đình và tương tác mạnh với các con trai. Trong nguyên lý quan hệ Âm Dương thì "Dương sinh Âm" là thuận lý. Nên về Thiên Can thì Ngũ hành Thiên Can của chồng phải dưỡng - sinh - Thiên Can của vợ là tốt nhất. Nguyên lý Ngũ hành tương sinh của Thiên Can, là: 1.Giáp, 2 Ất / Mộc - sinh 3. Bính, 4 Đinh/ Hỏa - Sính 5. Mậu, 6 Kỷ/ Thổ - sinh 7.Canh, 8 Tân/ Kim - Sinh 9 Nhâm. 10 Quý/ Thủy...chu kỳ lặp lại 9 Nhâm, 10 Quý/ Thủy sinh 1. Giáp, 2 Ất / Mộc.... Trong đó Thiên Can Dương (Số lẻ) sinh Dương là thuận lý. Thí dụ: Giáp 1 sinh Bính 3, hoặc Canh 7 sinh Nhâm 9...Hoặc Thiên Can Âm (Số chẵn) sinh Âm là thuận lý. Thí dụ Tân 8 sinh Quý 10.... Một lần nữa quý vị và anh chị em cũng thấy rất rõ nguyên lý "Dương trước, Âm sau", hoàn toàn được mô tả một cách nhất quán từ khởi nguyên của vũ trụ (Thái cực sinh Lưỡng Nghi), cho đến mọi ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Bởi vậy, quý vị mới thông cảm, vì sao tôi delete ngay những kẻ tinh thần thiểu năng, khăng khăng "Âm trước, Dương sau". Thiên Sứ tôi không có thời gian thuyết phục những con bò. 2/ Tương tác trong Hậu Thiên của Thiên Can. Cổ thư viết: Giáp hợp Kỷ, Phá Ất xung Canh. Bình hợp Tân phá Nhâm, khắc Đinh. Mậu hợp Quý phá Giáp khắc Kỷ.... Rõ ràng, với nguyên lý này có vẻ như mâu thuẫn, khi Giáp Dương Mộc lại hợp Kỷ Âm Thổ, Trong khi Mộc lại khắc Thổ...? Không có một bản văn chữ Hán nào mô tả điều này trước cuốn "Tìm về cội nguồn kinh Dịch" (2001) và "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt" (2006) ra đời. Chưa hết, trong cổ thư lưu truyền từ thời Tống, cũng mô tả một bài khẩu quyết như sau, về sự tương hợp của các độ số: "Nhất lục cộng tông. Nhị thất đồng đạo. Tam bát vi bằng. Tứ cửu vi hữu Ngũ Thập cư trung". Một lần nữa, bài khẩu quyết này lại được thể hiện trên Hà Đồ. Đây là đồ hình mà Thiên Sứ tôi đã xác định - nhân danh nền văn hiến Việt - chính là "Nguyên lý căn để" của toàn bộ phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Cổ thư chữ Hán dùng Lạc Thư, trong tất cả mọi phương pháp ứng dụng. Qua đó. một lần nữa, quý vị cũng thấy rõ rằng: Tính nhất quán, tính hệ thống, tính hoàn chỉnh, tính quy luật và khách quan với khả năng tiên tri ...là những tiêu chí để thẩm định một hệ thống lý thuyết, hoàn toàn phù hợp với nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ". ["Anh chị em ĐỊA LÝ LẠC VIỆT thân mến. Anh chị em cần phải nhớ, rất nhớ điều này: Chúng ta đang phục hồi một hệ thống lý thuyết - đó là sự tổng hợp của tư duy trừu tượng, trong lịch sử phát triển của cả một nền văn minh. Cho nên, chúng ta cần sự thẩm định tính hợp lý lý thuyết trong cấu trúc nội hàm của toàn bộ hệ thống lý thuyết đó, được thẩm định bằng tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Chứ không phải đi tìm "Vật chất tối" và "Hạt của Chúa". Và khi chúng ta hoàn chỉnh được hệ thống lý thuyết này - Lý thuyết thống nhất - thì chúng ta sẽ biết tất cả những bí ẩn của vũ trụ. Nếu như, "một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại" (Vanga) thì vấn đề sống còn của cả nền văn minh trong tương lai, cần phải khắc cốt ghi tâm rằng: Phải tôn trọng những điều thiêng liêng. Cảm ơn anh chị em quan tâm"]. Quay trở lại với nội dung bài viết. Quý vị và các bạn lấy số thứ tự của Thập Thiên can và đặt đúng vào thứ tự trên Hà Đồ thì chúng hoàn toàn trùng khớp. (Xin xem hình 1). 3/ Mối liên hệ Thập Thiên can trong gia đình: Lần lượt từ tốt đến xấu theo thứ tự sau đây: 3.1/ Thiên can Chồng sinh vợ và sinh con cái - Dương sinh Âm (Chồng, cha, mẹ sinh vợ, con) - là tốt nhất. Thí dụ: Chồng Giáp (Mộc) Tý, vợ Bính (Hỏa) Dần, con Kỷ (Thổ) Sửu. 3.2/ Vợ chồng con cái bình hòa, hoặc thuận Âm Dương là tốt nhì. Thí dụ: Chồng Giáp (Mộc) Tý (Dương), vợ Kỷ (Thổ) Dậu (Âm) - Giáp hợp Kỷ, trong "Nhất lục công tông".... Hoặc chồng Bính (Dương), Vợ Đinh (Âm). Hoặc cùng tuổi và sinh con thuận lý. Thí dụ: Vợ chồng cùng Giáp Tý (1984) sinh con năm Kỷ Sửu 2009. 3.3/ Thiên Can tương sinh ngược. Âm Dương nghịch lý. Đó là trường hợp con cái, vợ sinh cho cha, mẹ hoặc chồng. Thí dụ: Con Nhâm Dần, sinh Bố Giáp Tý, Mẹ Ất Sửu. 3.4/ Thiên Can khắc ngược Vợ con khắc chồng và cha mẹ. Thí dụ Vợ Quí Hợi khắc chồng Đinh Dậu. Trong trường hợp này cần có đứa con Mậu Tuất hóa giải và cân bằng thuận lý trở lại, hoặc Địa Lý phong thủy phải thật chuẩn để ngăn ngừa sự tan vỡ. 3.5/ Thiên Can khắc thuận: Đây là trường hợp xấu nhất trong mối tương tác của Thiên Can. Thí dụ: Chồng Quý (Thủy) Hợi, Vợ Đinh (Hỏa) và con Kỷ (Thổ) Sửu. Nhưng trong cách cực xấu này lại trở thành cực tốt, nếu tuổi vợ chồng và con cái có bố cục như sau: Chồng Quý Hợi. Vợ Đinh Mão, Con trai đầu Nhâm Thìn và con thứ Mậu Tuất. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Trên đây là mối liên hệ tương tác Thiên can - Thuộc Dương so với Mệnh và Địa Chi thuộc Âm. Cho nên mọi sự tương tác theo chiều thuận. Nguyên lý tương tác thuận của Thiên Can sẽ khác với nguyên lý tương tác của Mệnh và Địa chi. Nhưng ít nhất qua mối liên hệ này chúng ta thấy rõ vai trò của đứa con trong gia đình. Ngoài câu thành ngữ lưu truyền: "Giầu con út, khó con út" thì bức tranh "Đánh ghen" nổi tiếng của làng tranh Đông hồ dưới đây, cũng cho thấy vai trò của đứa con trong quan hệ hòa giải gia đình. Nội dung bức tranh này mô tả một hình tượng mâu thuẫn cực đại trong quan hệ gia đình. Một trường hợp bắt 'quả tạ" ông chồng đang hú hí với bà hai - qua hình tượng, không mặc yếm.: "Hai bà không thể đội 'chồng' chung". Nhưng hình tượng đứa con, chính là sự mô tả khả năng dung hòa mâu thuẫn trong quan hệ gia đình. Đây chính là nội dung chủ yếu của "Luận tuổi Lạc Việt". Chỉ có nền văn hiến Việt, chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương, qua những vdi sản còn lại mới có thể phục hồi lại một lý thuyết thống nhất, mà nhân loại đang mới chỉ mơ ước. Sự thăng trầm của lịch sử hàng ngàn năm của Việt tộc, cũng không làm sói mòn được những gía trị huyền vĩ của nó. Điều này chứng tỏ rằng: Vào thời hoàng kim của nên văn hiến Việt thì những di sản văn hiến này phải vô cùng vĩ đại. Người Ai Cập thường tự hào: "Mọi cái đều sợ thời gian. Nhưng thời gian lại sợ Kim Tự Tháp". Nhưng chỉ có nền văn hiến Việt huyền vĩ với bề dày gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tử, mới giải thích được tất cả những bí ẩn của một nền văn minh cô xưa, trong đó có Kim Tự Tháp. Xin cảm ơn quý vị và các bạn quan tâm chia sẻ. Còn tiếp Mối liên hệ bản Mệnh trong gia đình:
    3 likes
  19. THẨM ĐỊNH NỘI HÀM CÁC KHÁI NIỆM ỨNG DỤNG. Những định nghĩa của Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, về các từ: "Văn hóa"; "Khoa học" và "minh triết" trong loạt bài viết này, chỉ được coi là đúng, nếu những từ đó tương quan một cách hợp lý trong cấu trúc câu mà nó là một bộ phân cấu thành. Quý vị và các bạn có thể chỉ ra cái sai trong những định nghĩa của tôi, nếu các bạn đặt ra một câu trong đó hàm chứa các từ trên, mà nó không hợp lý trong mối liên hệ tương quan cấu trúc nội hàm của câu đó. Mọi việc chỉ đơn giản như vậy. Xin cảm ơn.
    3 likes
  20. TỪ CÁI NHÌN CỦA THIÊN SỨ - thì đây không phải đơn giản chỉ là một bài báo phân tích kinh tế đơn thuần. Nó là một sự chuẩn bị dư luận cho "Canh Bạc cuối cùng" của Hoa Kỳ và Đồng Minh. Bài báo này - Thiên Sứ mới chỉ xem lướt qua cái tựa và vài dòng đâu - đã xác định ngay rằng: Đó chỉ là động tác mở đầu của vị nhạc trưởng kích hoạt một dàn đồng ca, trên khắp các phương tiện truyền thống quốc tế về mối nguy hiểm của sự bành trướng của Trung Quốc, đang đe dọa thế giới. Từ rất lâu trên dd lyhocdongphuong. org vn - ngay lúc biến động ở Ucraina và Nga chiếm Crime - lão đã khuyên Hoa Kỳ và Nga nên hợp tác chiến lược và bỏ qua vấn đề Crime. Đến nay, những dấu hiệu thân thiên giữa Nga và Hoa Kỳ đang diễn biến tốt đẹp. Họ vốn là Đồng Minh của nhau từ hồi thế chiến thứ II. Thời buổi hội nhập toàn cầu với sự phát triển của các nền kinh tế và khoa học kỹ thuật, mọi thứ tư duy cổ điển về căn cứ quân sự, Địa chiến lược...đã lỗi thời. Khi mà tên lửa chiến lược có thể từ trên trời rơi xuống và thông tin từ bên kia quả Đất, có thể đến từng ngôi nhà rách nát, trong con hẻm nhỏ ở một khu ổ chuột của đất nước nghèo nhất thế giới. Lão ủng hộ sự hợp tác chiến lược giữa Nga và Hoa Kỳ. Không phải bây giờ, mà từ khi Tổng Thống Ucraine bị phế truất và Nga đem quân chiếm Crime. Và ngay trên Fb này, rất gần đây thôi, lão cũng đã xác định: Ổn đinh xong vấn đề Trung Đông, Hoa Kỳ tất yếu sẽ giải quyết "Canh Bạc cuối cùng". Mọi chuyện đang diễn tiến y như theo lão Gàn Thiên Sứ đã phán. Nhưng Biển Đông và những quốc gia liên quan sẽ bắt đầu dậy sóng. Số phận những kiếp phù du sẽ "Cuốn theo chiều gió", như một định mệnh đã được an bài và có thể tiên tri. Nhưng lão cần nhắc lại rằng: Biển Đông, cùng lắm là dây dẫn nổ. Cuộc chiến chính sẽ ở Hoa Đông. --------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Trung Quốc đang thôn tính châu Âu ra sao? (P1) Posted on 20/06/2018 by The Observer Biên dịch: Việt Xuân Lời người dịch: Một nhóm tác giả Phần Lan vừa công bố chùm bài điều tra gồm 4 phần về quá trình “thôn tính” châu Âu của Trung Quốc trên trang mạng của YLE (cơ quan phát thanh truyền hình quốc gia Phần Lan). Cụ thể, loạt phóng sự chỉ ra những phương thức mà Trung Quốc đã và đang tiến hành ở châu Âu nhằm thâu tóm kinh tế châu lục này. Chuỗi bài gồm các phần Trung Quốc thâu tóm châu Âu với từng mảnh nhỏ, Đồng tiền Trung Quốc đã đánh hơi sự thành công, Trung Quốc trên những mảnh đất hoang tàn của Hy Lạp, và Cảnh quan quốc gia hay phông nền của người Trung Quốc? Chúng tôi xin lần lượt giới thiệu chuỗi phóng sự này tới độc giả Nghiên cứu Quốc tế. Bài 1: Trung Quốc thâu tóm châu Âu với từng mảnh nhỏ[1] Khách du lịch yêu thích rượu đi lại nhộn nhịp trên đường phố cổ kính của thị trấn nhỏ Saint-Émilion. Cô gái trẻ Trung Quốc gần như đánh rơi que kem xuống đất khi có người hỏi cô nghe tên diễn viên Triệu Vi không? “Dĩ nhiên rồi, ở Trung Quốc ai mà chẳng biết đến cô ấy! Trang trại nho của cô ấy có thật ở gần đây không?” Một người phụ nữ họ Vương hỏi. Triệu Vi là một ngôi sao điện ảnh, người mẫu và ca sĩ nhạc pop 42 tuổi – người được trả thù lao cao nhất ở Trung Quốc. Ngoài điện ảnh và âm nhạc, Triệu Vi còn có niềm đam mê thứ ba là rượu Pháp. Năm 2011 cô thực hiện được niềm mơ ước của mình và mua một trang trại rộng 7 hecta ở vùng rượu nổi tiếng Saint-Émilion miền tây nam nước Pháp. “Khi nhìn thấy trang trại này cô Triệu nhận ra ngay đây chính là trang trại trồng nho mà cô ao ước. Trước đó chúng tôi đã đi xem hàng trăm trang trại nho”, Sue Zhang – người đại diện ở Pháp của Triệu Vi cho biết. Cô Zhang đón khách đến thăm lâu đài cổ hơn 400 năm tuổi. Trên cổng lâu đài có treo cờ Pháp, Trung Quốc và EU. Chủ nhân tòa lâu đài không có mặt vì đang bận việc ở châu Á, nhưng hàng ngày vẫn theo dõi tình hình diễn ra ở lâu đài. Sếp của tôi luôn bảo: “Rượu là một nghệ thuật. Cô ấy đã nếm đủ các loại rượu trên khắp thế giới, nhưng cô thích nhất là rượu ở Saint-Émilion. Đích mà cô hướng tới là sản xuất được một loại rượu tốt nhất không đếm xỉa đến kinh phí”, cô Zhang kể. Vì vậy, lâu đài Château Monlot nằm trong vùng đất được UNESCO đưa vào danh sách di sản thế giới đã được sửa chữa lại từ hầm rượu cho đến mái. Một trong những chuyên gia giỏi nhất về loại nho Merlot đã được thuê tới làm việc ở đây. Trang trại nho của Triệu Vy Những mùa rượu đầu tiên vừa được đem ra thị trường và các tiệm ăn nổi tiếng của Pháp đã đặt hàng. Rượu này cũng nhận được nhiều lời ngợi khen cả từ người Pháp. Đây là điều đặc biệt đối với trang trại có chủ sở hữu là người Trung Quốc, bởi vì thông thường rượu của người Trung Quốc sản xuất tại Pháp được chuyển về Trung Quốc cho những bàn tiệc của những người trung lưu đang ngày một nhiều thêm ở nước này. Hiện nay 1/10 dân số Trung Quốc, tức là khoảng hơn 100 triệu người, uống rượu hàng ngày. Cho đến nay người Trung Quốc đã mua tất cả 140 trang trại nho ở vùng Bordeaux này. Chúng ta chưa có thể nói con số này là lớn vì nó chỉ chiếm 3% diện tích đất trồng nho ở đây. Những nơi khác trên đất Pháp việc mua đất của người Trung Quốc không hiếm. Thế nhưng người Trung Quốc không chỉ muốn sở hữu những chùm nho ngon ngọt trên đất Pháp mà hiện tượng mới hơn và gây tranh cãi nhiều hơn là mục đích mua đất của người Trung Quốc trong những năm gần đây. Tại Pháp, các nhà đầu tư Trung Quốc đã mua hàng ngàn hecta đất canh tác. Gần đây nhất là cuối năm ngoái, một thương gia Trung Quốc đã mua gần 900 hecta đất trồng trọt ở vùng Allien, miền trung nước Pháp. Ông ta trả 10 triệu euro cho thương vụ đó. Vị thương gia này là đại diện cho công ty đa ngành Reward Group. Thông tin này đã khiến người dân địa phương bức xúc. Không ai hiểu được vì sao người Trung Quốc lại muốn mua đất ở vùng quê yên bình của họ, ngay cả vị thị trưởng. “Không biết họ định làm gì ở đây? Những người chủ mới này có định trồng trọt hay không và nếu có thì đến mức độ nào? Hay họ định thay đổi gen?”, thị trưởng Daniel Marchand đã bày tỏ sự bức xúc khi trả lời phỏng vấn kênh truyền hình France 2. Công ty khổng lồ Trung Quốc này trước đây cũng đã mua nhiều đất ở miền trung nước Pháp. Cho tới nay, họ đã là chủ nhân của tất cả khoảng 3.000 hecta đất canh tác ở Pháp, tức khoảng 1/5 diện tích của Helsinki. Vấn đề không phải là việc sở hữu đất quá lớn. Nhưng Reward Group không phải là công ty duy nhất muốn sở hữu đất canh tác ở Pháp. Tờ báo kinh tế Challenges cho biết một công ty lớn khác của Trung Quốc hình như cũng đang xúc tiến những thương vụ mua đất tương tự ở Pháp. Theo tin từ báo này, một công ty đang được giấu tên có lẽ đã thuê một văn phòng luật tại Paris đứng ra thương thảo về việc mua những cánh đồng trồng yến mạch ở vùng Beauce, phía nam Paris. Người dân ở những nơi khác cũng thấy khó hiểu: tại sao người Trung Quốc lại mua đất canh tác đắt đỏ cách xứ sở họ hàng ngàn cây số? Chẳng lẽ ngoài vang Bordeaux họ còn muốn đem cả bánh mỳ Pháp về Trung Quốc? Tỉ phú Hu Keqin đang có những dự định rất lớn. Ông ta muốn dân tộc vốn chỉ quen với gạo và mì làm bạn với bánh mì Pháp vỏ giòn. Tỉ phú này chính là người lãnh đạo và giữ cổ phần của tập đoàn Reward Group đã mua hàng ngàn hecta đất nói đến ở trên. Trong vòng 5 năm tới ông ta sẽ khai trương đến 1.500 xưởng bánh mỳ trên khắp Trung Quốc, nơi người ta sẽ bán bánh mỳ được làm từ ngũ cốc Pháp. “Chúng tôi muốn bánh mỳ Pháp chiếm lĩnh Trung Quốc. Sức mua sẽ khổng lồ. Tôi tin rằng thế hệ sinh ra từ thập niên 80, 90 của thế kỷ trước đã đi du lịch nhiều nơi trên thế giới sẽ thích bánh mỳ của chúng tôi”. Ông Hu Keqin chia sẻ khi trả lời phỏng vấn hãng AFP. Ở Trung Quốc, Pháp là thương hiệu được tin cậy. Reward Group đã quảng cáo ở Trung Quốc rằng họ bán các sản phẩm được làm ra từ ngũ cốc của Pháp. Họ hy vọng quảng cáo này có sức hấp dẫn người Trung Quốc vốn rất sợ hãi lương thực, thực phẩm giả nội địa. Tập đoàn này tin tưởng việc xuất khẩu ngũ cốc từ Pháp về Trung Quốc là rất triển vọng về kinh tế vì ngoài thương hiệu ra nó còn đảm bảo khâu an toàn. Reward Group đã hợp tác với một công ty ở Pháp nhằm tiếp thu quá trình sản xuất và công nghệ của Pháp về an toàn thực phẩm. Đối với Hu Keqin, những thương vụ mua đất này là việc kinh doanh, nhưng với Trung Quốc nó là chiến lược. Thông qua các thương vụ này Trung Quốc muốn bảo đảm lương thực cho công dân của họ trong tương lai. Hiện nay Trung Quốc có 1,4 tỉ dân, tức 20% dân số thế giới. Nhưng quốc gia này chỉ sở hữu 10% đất canh tác của thế giới. Tương lai tỉ lệ này sẽ giảm đi vì dân số tăng lên trong khi đất canh tác sẽ bị đô thị hóa. Trung Quốc đang tính rằng nên mua đất canh tác ngay từ bây giờ, vì theo họ trong tương lai việc mua đất sẽ khó khăn hơn. Dân số trên trái đất tăng lên không ngừng cùng với hiện tượng sa mạc hóa do trái đất nóng dần lên và môi trường bị hủy hoại. Pháp không phải là quốc gia duy nhất mà Trung Quốc mua đất. Họ còn mua ở nhiều nơi khác như Ukraine, Bulgaria. Ngoài châu Âu, người Trung Quốc còn mua hoặc thuê đất canh tác, nhất là ở châu Phi, châu Mỹ Latinh và Đông Nam Á. Ở Australia, những thương vụ Trung Quốc mua đất đã gây nên nhiều lo ngại, vì vậy năm 2015 nước này đã thắt chặt quy định mua đất đối với người nước ngoài. Ngoài đất canh tác, Trung Quốc còn quan tâm đến những vị trí mang tính chiến lược của châu Âu. Nhiều mạng lưới điện, sân bay, hải cảng đã được mua hay cố mua bằng tiền của Trung Quốc. Vụ mua bán nổi tiếng nhất có lẽ là việc mua hải cảng Pireus của Hy Lạp, quốc gia chìm trong khủng khoảng kinh tế. Ngoài ra Tập đoàn vận tải biển Cosco của nhà nước Trung Quốc còn sở hữu hải cảng Zeebrugge của Bỉ, có đa số cổ phần trong các cảng Valencia và Bilbao của Tây Ban Nha. Tiền Trung Quốc được đầu tư vào các mạng lưới điện ở Bồ Đào Nha và Italia. Người Trung Quốc cũng có đa số cổ phần ở sân bay Hahn (Frankfurt). Đầu tư của Trung Quốc vào cơ sở hạ tầng châu Âu. Ở Pháp, Trung Quốc đầu tư vào các chuỗi khách sạn và thời trang, các câu lạc bộ bóng đá và vào các hải cảng và sân bay. Công ty China Merchants Holdings đã sở hữu 49,9% sân bay Toulouse và 49% ở cảng hàng hóa Terminal Link (Marseille). Người Trung Quốc cũng mua đất ở gần sân bay Châteauroux, miền trung nước Pháp. Phần của người Trung Quốc trong vốn đầu tư của nước ngoài vào Pháp hiện chỉ chiếm 2%, song giờ đây nó đang tăng từng ngày. Reward Group đã từng mua đất ở miền trung nước Pháp là một công ty tư nhân. Nhưng khi mua đất canh tác nó đã thực hiện chiến lược mang tính quốc gia của Trung Quốc. Giới truyền thông Pháp đã cố gắng săn lùng thông tin về công ty này và mục đích của họ khi thực hiện việc mua đất. Kênh truyền hình France 2 đã phỏng vấn doanh nhân Christophe Dequidt, người đã từng gặp tỉ phú Hu Keqin ở Trung Quốc trước đây. Dequidt cho biết khi đó Hu có nói mình đang làm việc vì lợi ích quốc gia. “Hu Keqin kể rằng ông được lệnh rời vị trí là một vị tướng trong quân đội sang lãnh đạo một công ty công nghiệp và nhiệm vụ của ông là chiếm lĩnh thế giới.” Dequit nói trong cuộc phỏng vấn. Không chỉ người Trung Quốc, mà người các nước như khác Anh và Hà Lan cũng mua khá nhiều đất canh tác của Pháp. Nhưng theo suy nghĩ của người Pháp, người Trung Quốc đáng sợ hơn người nước khác. Các tổ chức công đoàn của những người trồng trọt coi việc làm của doanh nhân Hu Keqin là việc cướp đất dưới vỏ bọc mua đất. Trên nguyên tắc, chính phủ Pháp có khả năng ngăn chặn việc bán đất canh tác cho người nước ngoài. Công ty Safe – một công ty phi lợi nhuận do các nhà trồng trọt và nhà nước cùng sở hữu, phụ trách việc cân đối việc mua đất trồng trọt có quyền mua trước tất cả các khu đất canh tác. Người ta sử dụng quyền này vào việc mua từng phần đất mà không mua toàn thể. Nhưng lỗ hổng này đã bị các nhà đầu tư Trung Quốc lợi dụng: ví dụ Tập đoàn Reward của ông Hu Keqin đã mua 900 hecta đất ở vùng Allier bằng cách mua các phần nhỏ ở những vị trí khác nhau và chỉ mua 98%. Tổng thống Emmanuel Macron đã nhận thấy cần phải lên tiếng mạnh mẽ trong vấn đề mua bán đất này. Ông đã đưa ra chính sách nghiêm ngặt hơn đối với những người tiền nhiệm trong việc mua đất của người Trung Quốc. “Chúng ta không thể cho quốc gia khác mua hàng trăm, hàng ngàn hecta đất, nhất là khi chúng ta không biết rõ mục đích sử dụng đất này của họ.” Ông Macron đã nói như vậy với những người làm nông trẻ của Pháp vào tháng 2/2018 vừa qua. Emmanuel Macron hứa sẽ thắt chặt quy định liên quan đến việc mua bán đất. Theo Tổng thống điều đó là cần thiết, bởi vì sự đầu tư này có tính chiến lược, liên quan đến chủ quyền của nước Pháp. Bức tranh đe dọa thực phẩm trong nước đã gây ra những phản ứng mạnh ở nước Pháp. Ngoài ra, gần đây nước Pháp cũng đã thức tỉnh để bảo vệ những vị trí mang tính chiến lược của mình. Tháng 2/2018 vừa qua, chính phủ Macron đã ngăn ngừa một công ty Trung Quốc mua đa số cổ phần của sân bay Toulouse, bởi vì sân bay này có tầm quan trọng chiến lược đối với nước Pháp, nhất là đối với ngành công nghiệp sản xuất máy bay Airbus. Là một nước lớn trong EU, Pháp tích cực hơn trong việc bảo vệ nền kinh tế của nước mình. Trong chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 1/2018, ông Macron lên tiếng về sáng kiến “Một vành đai, một con đường” mà Trung Quốc đang chuẩn bị và thúc đẩy. Mục tiêu của dự án này là tạo ra những con đường thương mại mới và kết nối Trung Quốc với các nước láng giềng, Trung cận Đông, châu Phi và châu Âu. Nhưng phương Tây nghi ngờ rằng ý tưởng này là nhằm tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc. “Chúng ta xây dựng đường sá để kết nối chứ không thể chỉ nhằm một hướng,” ông Marcon nói. Phát biểu này được hiểu nó ám chỉ rằng thương mại giữa EU và Trung Quốc quá chênh lệch. Theo ông Marcon, những kế hoạch này của Trung Quốc đòi hỏi các nước châu Âu có sự đồng thuận mạnh hơn. “Trong quan hệ với Trung Quốc, châu Âu đã bị chia rẽ quá lớn. Trung Quốc sẽ không coi trọng những phần đất mà ai đó để hở”, ông Marcon nói. Pháp và Đức có cách nhìn khác với các nước nhỏ khác của EU trong việc phản ứng như thế nào với đầu tư từ Trung Quốc. Không chỉ các nước Đông, Trung Âu mà các nước Bắc Âu, trong đó có Phần Lan cho rằng không nên cân nhắc việc đầu tư này trên phạm vi toàn EU. Dư âm về người Trung Quốc ở Pháp, ngay cả vùng rượu nho Bordeaux, mấy năm trước đây đã rất xấu. Khi đó người ta nghĩ rằng người Trung Quốc gom các trang trại nho ở Pháp vì tiền và vị thế của chúng chứ không để ý đến truyền thống cũng như chất lượng của nho và rượu nơi đây. Những suy nghĩ này có cơ sở vì người Trung Quốc đã bỏ mặc nhiều trang trại mà họ mua khi thiếu hiểu biết hoặc không quan tâm lâu dài tới việc sản xuất. Theo cách nhìn của người Pháp, điều này không chỉ gây bức xúc mà còn rất nguy hiểm. Những trang trại nho ở Bordeaux là một phần di sản văn hóa của Pháp và thật đáng xấu hổ khi những trang trại này lọt vào tay những trọc phú không tên tuổi. Ngay từ khi đó người Pháp đã cân nhắc tới việc có nên thắt chặt quy định về việc mua bán đất hay không để hạn chế sự hiện diện của người nước ngoài trên các mảnh đất canh tác của họ. Tuy nhiên, bây giờ cách nhìn này đã thay đổi. Địa vị của những người mua đất Trung Quốc đã được cải thiện. Đó là ý kiến của nhà văn Laurence Lemaire, một chuyên gia về rượu và là người rất am hiểu về Trung Quốc. Theo Lemaire, ngày nay những người mua trang trại nho ở Pháp là những người giàu có, yêu thích rượu kiểu như diễn viên Triệu Vi, còn nếu không là những trọc phú mua rồi để lại cho người Pháp quản lý. “Tiếng tăm của những người sản xuất rượu Trung Quốc đã được cải thiện. Những người chủ mới đã coi trọng việc sản xuất và tiền của họ là sự giải cứu với nhiều trang trại”, Leimaire nói. Những năm gần đây, các trang trại nho ở Pháp không phải là những đầu tư đem lại nhiều lợi nhuận nhất. Rượu Bordeaux được sản xuất theo phương pháp truyền thống và nho của vùng này rất nhạy cảm đối với thay đổi của thời tiết. Những đêm sương giá của mùa xuân năm trước cũng như những trận mưa đá của mùa xuân năm nay đã hủy hoại hết những cánh đồng nho. Sản lượng nho thu được ở Bordeaux thấp kỉ lục. Vậy nên các trang trại nho được rao bán rất nhiều và không phải trang trại nào cũng có người mua từ Pháp hay châu Âu. Đối với những người Pháp đang vật lộn với khó khăn trong chính sách thuế thừa kế và chi phí cao khác thì đồng tiền của Trung Quốc được chào đón. Cách đây vài tháng rất nhiều doanh nhân và các nhân vật nổi tiếng trên thế giới đã được mời đến dự khai trương trang trại rượu vừa được khôi phục lại của Triệu Vi ở Château Monlot, trong đó có cả ca sĩ Sting cũng đến biểu diễn. Dân địa phương cũng được tham dự. Những người chủ sở hữu mới của các trang trại kể rằng có mấy người Pháp đến nắm tay họ và cảm ơn họ đã giải cứu trang trại. Cho tới lúc này Triệu Vi được biết đến nhiều nhất trên thế giới là vai diễn trong bộ phim đắt nhất của châu Á do Ngô Vũ Sâm đạo diễn, có tên Đại chiến Xích Bích. Nhưng hiện giờ Triệu Vi lại nổi tiếng ở Pháp trong giới say mê rượu vang. —————- [1] Nguyên bản tiếng Phần Lan: “Kiina ostaa Eurooppaa pala kerrallaan” của Annastiina Heikkilä, Stina Tuominen, Eemeli Martti và Maria Tolsa.
    3 likes
  21. Bài viết của Sư phụ Thiên sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh TRƯỜNG TƯƠNG TÁC LÝ HỌC, TRONG LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG - NHÂN DANH NỀN VĂN HIẾN VIỆT. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Giáo sư Cao Chi đã biên dịch một đề tài mới nhất trong vật lý thiên văn hiện đại, mô tả các liên đới trong vũ trụ, để từ đó giải thích các hiện tượng rối lượng tử. Mà trong đó, hai hạt lượng tử dù cách xa bao nhiêu thì chúng cũng có sự vận đông tương đồng, nếu ta tác đông vào chỉ một trong hai hạt. Đây là một thực tế chứng nghiệm trực quan. Và các nhà khoa học đã tìm cách giải thích hiện tượng này bằng lý thuyết "liên đới", như bài mà tôi chia sẻ với các bạn dưới đây. TRƯỜNG TƯƠNG TÁC VIỆT. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Trên diễn đàn Lý học Đông phương, trong các bài viết của mình, Thiên Sứ tôi đã xác định rằng: Hệ thống tri thức Vật lý Thiên Văn hiện đại, có thể "nhìn thấy" một cách trực quan sự vận động từ những hạt vật chất nhỏ nhất, cho đến những Thiên hà khổng lồ. Họ có thể lập trình cho tất cả mọi hiện tượng vận động có tính quy luật của các hành tính, các vì sao và cả những Thiên hà trong vũ trụ này. Nhưng nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay, chưa thể nào biết được bản chất tương tác có tính quy luật sự vận động của toàn thể những giá trị vật chất trong vũ trụ với những bí ẩn của nó. Những công thức Vật lý cơ học của Newton, phép tính năng lượng của Einstein trong thuyết Tương đối với công thức nổi tiếng E= mC. 2(Bình phương), chỉ diễn tả được tính cơ học của những hiện tượng cục bộ liên quan. Và ngay bây giờ, khái niệm về "Liên kết lượng tử" - mà GS Cao Chi giới thiệu - cũng mới chỉ chạm nhẹ vào bản chất của các quy luật tương tác của vũ trụ với những giả thuyết chưa hoàn hảo với khả năng sai. Đồng thời, cũng trong các bài viết của mình trên dd lyhocdongphuong.org,vn, tôi cũng nhiều lần xác định rằng: Nền văn minh Đông phương, có cội nguồn từ nền văn hiến Việt với hệ thống tri thức nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành - chính là LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ - đã tổng hợp tất cả mọi sự vận đông tương tác có tính quy luật của mọi sự tồn tại của vật chất trong vũ trụ trong hệ thống lý thuyết này với khả năng tiên tri. Tất nhiên - nhân danh nền văn hiến Việt - hệ thống tri thức Việt không chỉ "nhìn thấy" tất cả mọi sự vận động cơ học như nền văn minh hiện nay. Mà nó còn biết rất rõ những quy luật tương tác, năng lượng tương tác, và cả sự ảnh hưởng của những tương tác có tính quy luật đó, đến mọi vấn đề trong vũ trụ và cả trái Đất của chúng ta, với khả năng tiên tri chính xác đến từng hành vi của con người - trong cuộc sống nhỏ nhoi và ngắn ngủi của con người - so với tinh chất gần như vĩnh hằng của vũ trụ mà chúng ta nhìn thấy. Tất nhiên, để có được những khả năng tiên tri huyền bí đó. Nền văn hiến Việt phải biết rất rõ - ngoài sự vận động cơ học của các hạt vật chất và những Thiên hà khổng lồ - thì nó cũng phải biết rất rõ bản chất của "TRƯỜNG TƯƠNG TÁC VIỆT" Đây chính là hệ thống tri thức bí ẩn lớn nhất của những gía trị văn minh Đông phương, nhân danh nền văn hiến Việt - một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương từ, trải gần 5000 năm lịch sử. Không biết rõ điều kiện và trường tương tác, tất cả sẽ hết sức mơ hồ. Và đây cũng chính là nội dung mà tôi trình bày với quý vị và các bạn trong loạt bài viết này. Tôi chính thức đặt tên cho sự mô tả của tôi cho vấn đề mà tôi đặt ra, là "TRƯỜNG TƯƠNG TÁC VIỆT". Nếu tôi sai thì chẳng có gì để bàn. Trong trường hợp này, Thiên Sứ sẽ chỉ là một kẻ chém gió như bao kẻ chém gió ầm ĩ trên thế gian. Nhưng nếu chẳng may tôi đúng thì cụm từ "Trường tương tác Việt" sẽ nhắc nhở cho cả qua trình tiến hóa của nền văn minh tiếp theo, phải nhớ tới cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử - chủ thể đích thực của nền văn minh phương Đông. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Như vậy, tôi đã định danh xong về "Trường tương tác Việt". Cụm từ này mô tả những thực trạng tồn tại của những dạng vật chất có tính chất truyền dẫn các tính chất tương tác của vật chất có khối lượng và hình thể, từ hạt vật chất nhỏ nhất đến thiên hà khổng lồ.- mà khoa học hiện đại gọi là "Liên kết Lương tử" với các thứ giả thuyết đã được mô tả tóm tắt trong bài viết của GS Cao Chi - và đó chính là điều kiện để tất cả mọi tương tác được thể hiện. Điều này cũng xác định rằng: Khái niệm "Trường tương tác Việt" bao hàm tất cả môi trường truyền dẫn các lực tương tác, từ hạt vật chất nhỏ nhất, đến Thiên hà khổng lồ. Tất nhiên, nó không chỉ giới hạn như khái niệm "Liên kết lượng tử", vốn chỉ mô tả tương tác của những hạt lượng tử cùng tính chất. Tôi thường nhắc nhở các học viên Địa Lý Lạc Việt, rằng: "Một lý thuyết được coi khoa học, thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được". Do đó, khi khoa học hiện đại xác định tính chất đồng đẳng của hai hạt lương tử - dù cách xa nhau đến mấy - sẽ có sự vận động tương đồng, nếu chúng ta tác động vào một trong hai hạt còn lại. Vậy thì nó phải có một "Trường tương tác", để qua đó chúng nhận biết sự tương tác của nhau. Nếu không hiểu biết về bản chất của môi trường truyền dẫn tương tác - tức "Trường tương tác Việt" - thì hiện tượng này thì chỉ còn cách giải thích: "Đó là do ý Chúa!". Nhưng - nhân danh nền văn hiến Việt - sự hiểu biết đích thực về Thương Đế theo tiêu chí: Một Lý thuyết thống nhất phải giải thích được cả vấn đề tôn giáo và tâm linh - thí khái niệm về Thượng Đế và sự giải thoát đích thực, sâu sắc hơn nhiều. Tôi có thể chắc chắn với các bạn quan tâm rằng: Tạm thời Thượng Đế không can thiệp trong tương tác lượng tử, mà khoa học gọi là "Liên kết lượng tử". Bây giờ chúng ta quay lại với vấn đề thời gian trong "liên kết lượng tử". Có vẻ như có sự mâu thuẫn khí các nhà khoa học xác định rằng: Nếu ta tác động vào một hạt lượng tử thì "lập tức" hạt lượng tử cùng tính chất sẽ vận động đúng như hạt kia, DÙ KHOẢNG CÁCH BẤT KỲ. Vấn đề được đặt ra: Nếu hai hạt lượng tử đó cách nhau chỉ 8 phút tốc độ ánh sáng - thì theo lý thuyết Tương Đối với giới hạn tốc độ vũ trụ bằng tốc độ ánh sáng - thì phải 8 phút sau, hạt thứ hai mới chịu sự tương tác để có sự đồng đẳng với hạt thứ nhất?! Nhưng về lý thuyết thì các nhà khoa học lại xác định tính tương tác tức thời của hai hạt lượng tử với khoảng cách bất kỳ?! Vậy điều này đã tự phản bác tính giới hạn của tốc độ vũ trụ bằng tốc độ ánh sáng?! Ở đây, tôi mới thí dụ về khoảng cách bằng 8 phút tốc độ ánh sáng - Tức là khoảng cách từ Mặt trời đến trái Đất của chúng ta. Nếu khoảng cách là vô cùng lớn - vài chục năm ánh sáng chẳng hạn - thì sẽ ko thể giải thích tính tức thời vận động đồng đẳng, khi ta tương tác vào một hạt so với khoảng cách với hạt lương tử còn lại. Nhưng sự tương tác tức thời này, lại được chứng minh trên một lý thuyết chặt chẽ và các nhà khoa học gọi là "Liên kết lượng tử". Vậy thì - về bản chất - phải có một sự tồn tại của một dạng vật chất như một môi trường truyền dẫn tương tác tức thời - gần như tuyết đối (Tính Tuyệt đối chỉ có thể tạm định danh là Thượng Đế), mới có thể chứng minh cho lý thuyết về "liên kết lượng tử", về tính tương tác tức thời của hai hạt lượng tử đồng tính chất. Trên cơ sở này, tạm thời tôi đặt một giả thuyết rằng: Phải có một dạng tồn tại trên thực tế, để dẫn đến một tương tác tức thời giữa hai hạt lượng tử đồng tính chất, với dẫn xuất tương tác tức thời - tạm gọi là : Vượt không/ thời gian và nhanh hơn hằng số tốc độ vũ trụ - vốn chỉ coi giới hạn bởi tốc độ ánh sáng theo Thuyết Tương Đối. Và dạng vật chất tồn tại trên thực tế, để có dẫn xuất tương tác tức thời giữa hai hạt lượng tử cùng tính chất đó, chính là khái niệm, mà tôi định danh là "Trường tương tác Việt". Khái niệm "Trường tương tác Việt" - như tôi đã trình bày ở trên - bao hàm luôn khái niệm "Liên kết lương tử" của khoa học hiện đại. Nhưng nó là dạng tồn tại như thế nào của vật chất? "Một lý thuyết được coi là khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể kiểm chứng được". Thực tại vật chất trong khái niệm "Trường tương tác Việt" sẽ được mô tả tiếp theo trong loạt bài viết này. VẬT CHẤT PHI KHỐI LƯỢNG, PHI HÌNH THỂ. Cho đến ngày hôm nay, tri thức nền tảng của nền văn minh hiện đại đã xác định rằng: Tất cả mọi dạng tồn tại của vật chất có khối lượng và có hình thể đều có cấu trúc từ những hạt cơ bản. Những nhà khoa học đẳng cấp Viện Sĩ của các Viện Hàn lâm khoa học trên thế giới, đã so sánh một cách lãng mạn sự tương đồng giữa chiếc chìa khóa và bông hoa hồng, khi chúng có cùng cấu trúc hạt. Nhưng cũng chính sự tiến bộ của khoa học cũng đã xác định rằng: Những hạt cơ bản làm nên những Thiên hà khổng lồ và bông hoa hồng, lại chưa hẳn đã có cấu trúc vật chất có khối lượng. Mà nó có tính chất lưỡng tính "sóng" và "hạt". Có vẻ như vật chất - theo khái niệm vật chất hiện đại (Trừ tôi - có định nghĩa về vật chất của riêng tôi) như đang "biến mất"?! Lý thuyết Higg ra đời như một cứu cánh của nhận thức khoa học hiện đại về sự biến mất của vật chất. Nhưng như tôi đã trình bày - Từ 2008, tôi đã khẳng định: Lý thuyết Higg sai! KHÔNG CÓ HẠT CỦA CHÚA! Cũng ngay từ những bài viết đầu tiên trong topic "Có hay không Hạt của Chúa", tôi đã xác quyết rằng: Đây không phải là một quẻ bói - cho dù tôi đang sống bằng nghề coi bói. Mà nhân danh một hệ thống lý thuyết khoa học vượt trội, có cội nguồn văn hiến Việt, đã dẫn đến sự khẳng định của tôi về điều này. Và tôi cũng xác định sẽ sẵn sàng trình bày để chứng minh - nhân danh khoa học - trước tất cả các nhà khoa học tinh hoa, rằng: Vì sao lý thuyết Higg sai! Nhưng cho đến ngày hôm nay, chẳng ai quan tâm vì sao lý thuyết Higg sai. Mặc dù để thực nghiệm lý thuyết Higg, người ta đã tiêu tốn cả trăm tỷ Dollar. Nhưng nguyên nhân để lý thuyết Higg sai, sẽ được mô tả trong loạt bài viết này, khi tôi chứng minh rằng: những dạng tồn tại của vật chất phi khối lượng, phi hình thể, là tiền đề và cũng là nguyên nhân tạo nên cấu trúc của tất cả các hạt cơ bản, các hạt lưỡng tính... cho đến những Thiên hà khổng lồ đang vận động trong vũ trụ, và cũng chính là MÔI TRƯỜNG TRUYỀN DẪN TƯƠNG TÁC CỦA CÁC DẠNG TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT CÓ KHỐI LƯỢNG, ĐƯỢC MÔ TẢ BẰNG CÁC CÔNG THỨC VẬT LÝ CỦA NỀN VĂN MINH HIỆN ĐẠI, Môi trường truyền dẫn tương tác đó, tôi đã định danh là: "Trường tương tác Việt" và tôi đang trình bày ở đây. Thưa quý vị và các bạn quan tâm, Sự tồn tại của các dạng vật chất phi khối lương và phi hình thể này, chính là "trường tương tác Việt" và là tiền đề cấu thành các dạng HẠT CƠ BẢN. Tôi hiểu rất rõ bản chất của chúng - nhân danh nền văn hiến Việt. Và đó cũng là nền tảng tri thức để tôi xác định: Lý thuyết Higg sai. Nhưng có một điều chắc chắn răng: Hầu hết trong hệ thống tri thức khoa học hiện đại, người ta có thể mô tả một cách chi tiết những cấu trúc vật chất hữu thể và có khối lương, cũng như sự vận động của các hạt cơ bản và cả những hành tinh trong Thái Dương hệ với những Thiên hà xa xôi. Tri thức của nền văn minh hiện đại cũng nói đến khái niệm "VẬT CHẤT CÓ KHỐI LƯỢNG" một cách rất trực quan. Nhưng có vẻ giới khoa học tinh hoa, chưa quan tâm lắm đến những dạng vật chất phi khối lượng, phi hình thể. Và thậm chí tôi chưa thấy ai trong giới khoa học tinh hoa, có tính chính thống của nền văn minh hiện đại - (Cũng có thể do tri thức của tôi bị giới hạn) - mô tả dạng tồn tại của vật chất phi khối lượng, phi hình thể. Nếu có thì người ta mới chỉ đặt vấn đề về nó. Mặc dù chính những dạng tồn tại của loại vật chất này, đã tạo ra các hạt cơ bản và chính là "Trường tương tác Việt". Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Những thuật ngữ "Vật chất phi khối lượng, phi hình thể" và "Trường tương tác Việt" - mà tôi đang nói ở đây - không phải là những khái niệm mơ hồ, không thể kiểm chứng. Mà nó rất thật, đang tồn tại ngay trong cấu trúc sinh học của muôn loài, trong các dạng vật chất có khối lượng, trong mỗi con người chúng ta, trong cơ thể của những kẻ ăn mày và các con người thuộc giới thượng lưu cao quý, trong cuộc sống, trong xã hội, trong từng hạt cơ bản và cả những Thiên hà khổng lồ và khắp vũ trụ này. Tôi có thể khẳng định ngay bây giờ và chứng minh sau: Nếu không có sự tồn tại của các dạng vật chất phi khối lượng, phi hình thể thì tất cả mọi tương tác trong vũ trụ này đều chỉ là những khái niệm rất mơ hồ. Tri thức khoa học hiện đại cũng thừa nhận rằng: "Tương tác là nguyên nhân hình thành tất cả mọi sự vật, sự việc. Bản chất tương tác như thế nào thì sự hình thành sự vật, sự việc sẽ như thế đó". Có những lúc tôi mỉm cười một mình như một gã dở hơi, rằng: Nếu vô hiệu hóa "Trường tương tác Việt" thì đầu đạn hạt nhân của các siêu cường trên thế giới này, sẽ nổ to hơn tiếng pháo chuột của trẻ em Việt, chơi trong những ngày Tết từ những thời xa vắng. Vâng! Nhiều lúc tôi "dở hơi biết bơi như thế". Và mỗi lần như vậy, chỉ để nghe thiên hạ đàm tiếu về tính "Chém gió" của tôi. Thí dụ như việc "Đuổi mưa" trong Đại Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hanoi. Tôi trở thành "người của công chúng", không phải vì kết quả sự việc đúng như tôi xác định. Mà là...thiên hạ chửi to quá. Hi. Đây chính là sự ứng dụng vô hiệu hóa "Trường tương tác Việt" trong tương tác của thời tiết. Trong vụ việc này, có một người duy nhất làm tôi giật mình và rất ngạc nhiên. Đó chính là Giáo sư Viện sĩ Đào Vọng Đức. Ông phát biểu trên báo chí: "Về mặt lý thuyết, tôi tin Nguyễn Vũ Tuấn Anh làm được" (?!). Nhưng đó là lý thuyết nào? Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Để mô tả một cách hoàn hảo một hệ thống lý thuyết - nhân danh nền văn hiến Việt - liên quan đến vật chất phi khối lượng, phi hình thể - là những dạng tồn tại trên thực tế và chính là "Trường tương tác Việt" và là nguyên nhận tạo thành tất cả các dạng vật chất có khối lượng - lại rất phức tạp. Vì nó nằm ngoài hệ thống tri thức nền tảng của nền văn minh hiện nay. Do đó, nó cần những "TIỀN ĐỀ" ("Tiền" có dấu huyền, không phải "Tiên đề" không thể chứng minh). Tôi sẽ tiếp tục trình bày những "TIỀN ĐỀ" trong loạt bài có chủ đề này. TIỀN ĐỀ THỨ NHẤT: ĐỊNH NGHĨA VỀ VẬT CHẤT - NHÂN DANH NỀN VĂN HIẾN VIỆT. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Trong lịch sử văn minh nhân loại, các triết gia và khoa học gia đã bốn lần định nghĩa về vật chất. Và định nghĩa được chính thức công nhận và phổ biến ở Việt Nam, chính là đường link mà tôi dẫn trong đường link dưới đây: http://thanhtra.edu.vn/category/detail/157-trinh-bay-dinh-nghia-vat-chat-cua-le--nin-va-y-nghia-cua-phuong-phap-luan-nay.html Sở dĩ tại sao những triết gia và những nhà khoa học phải định nghĩa lại vật chất?! Đó chính là vì sự phát triển của nhận thực trực quan trong quá trình tiến hóa của lịch sử văn minh và nhu cầu tổng hợp những gía trị nhận thức để khái quát hóa trong những khái niệm mô tả nó. Cho nên, con người đã định danh lại những khái niệm căn bản trong nền tảng tri thức của nền văn minh, để tiếp tục phát triển. Và cho đến ngày hôm nay - như tôi đã trình bày ở bài trước: các cấu trúc vật chất lưỡng tính của các hạt lượng tử, đã dẫn đến kết luận của các nhà khoa học và cả các triết gia, là "Vật chất đang biến mất"!? Vậy bản chất của "vật chất" là gì? Khi nó "Biến mất"?! Để tóm gọn vấn đề, tôi đặt lại một câu hỏi từ rất lâu, từ khi tôi còn tuổi trung niên, là: "Có dạng tồn tại nào của vật chất, mà không chứa đựng năng lượng và tương tác không?". Câu trả lời chắc chắn là "KHÔNG"! Chính công thức nổi tiếng của Albe Einstein xác định điều này: E = mC. 2( Bình phương). Vậy thì, TIỀN ĐỀ THỨ NHẤT của tôi làm cơ sở cho việc mô tả "Trường tương tác Việt", chính là một định nghĩa về vật chất như sau: "Bất cứ một dạng tồn tại nào, chứa đựng năng lương và tương tác, thì đó là vật chất". Như vậy, với định nghĩa mới nhất này - nhân danh nền văn hiến Việt - đã chấm dứt 5000 năm trong lịch sử văn minh nhân loại, về các cuộc tranh luận giữa Duy tâm và Duy vật. Không có cái gì gọi là : "Phi vật chất" cả. Kể cả Thượng Đế và hạt cơ bản. Nếu Thượng Đế có tương tác thì tất yếu Ngài phải có năng lượng và Ngài là một thực trạng của vật chất. Với định nghĩa này, chẳng ảnh hường gì đến niềm tin tôn giáo vốn được xếp vào "Chủ nghĩa Duy Tâm", nếu những người có tín ngưỡng vẫn tôn vinh Ngài như là một thực thể Toàn Năng. Và cũng chẳng ảnh hưởng gì đến tư duy của những nhà khoa học, vốn hay hoài nghi về sự hiện diện của Thượng Đế và những người theo chú nghĩa Vô Thần, vì tất cả cũng là "vật chất" cả. Đấy là TIỀN ĐỀ THỨ NHẤT CỦA TÔI. Và các nhà khoa học, hay triết học tinh hoa có thể không công nhận tiền đề này. Vâng! Xin cứ tự nhiên. Thiên Sứ vốn rất dân chủ và tôn trọng tự do học thuật. Nhưng rất mong tiền đề này phải được công nhận. Vì nếu ko, sẽ không thể tiếp tục trình bày về "Trường tương tác Việt". Xin hãy tạm thời gác lại các cuộc tranh luận về Duy Tâm và Duy vật, vốn hăng say như hát hay trong lịch sử văn minh nhân loại, để xác định chân lý đã. Thời gian còn dài mà. Bây giờ tôi xin trình bày tiếp tiền đề thứ II. TIỀN ĐỀ THỨ HAI: VẬN TỐC TỚI HẠN CỦA VŨ TRỤ BẰNG /O/ Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Về mặt lý thuyết, tôi tin rằng có hai vấn đề mà quý vị và các bạn sẽ đồng ý với tôi rằng: 1/ Nếu tốc độ giới hạn của vũ trụ bằng tốc độ ánh sáng, thì chúng ta sẽ không thể nào nhìn thấy những vật thể có tốc độ bằng tốc độ ánh sáng, cho dù với những phương tiện tối tân nhất. Nhưng thực tế trực quan cho thấy các nhà khoa học vẫn nhìn thấy và đo được các hạt cơ bản có tốc độ ánh sáng. Vậy chứng tỏ rằng: Phải có một môi trường nhận thức nhanh hơn tốc độ ánh sáng để chúng ta có thể nhận thức được nó. 2/ Chính sự tương tác tức thời của hai hạt lương tử cách xa nhau bất kỳ khoảng cách nào, đã xác định một môi trường tương tác lượng tử - nào đó, có thật (Đang trình bày trong loạt bài viết này) - nhanh hơn tốc độ ánh sáng cho những khoảng cách đó, để xác định tính tức thời của "Liên kết lượng tử". Nhưng về mặt lý thuyết, nếu tốc độ vũ trụ được giới hạn bởi bất cứ tốc độ nào - thì - nhận thức của chúng ta sẽ bị giới hạn trong tính cục bộ của những phần tử nằm trong tập hợp của giới hạn đó. Và thực tế, những khái niệm về sự giải thoát, về lý thuyết thống nhất sẽ là không có thật, chính vì giới hạn nhận thức này. Vậy thì về mặt lý thuyết và có tính TIỀN ĐỀ cho loạt bài viết này, chính là giới hạn tốc độ vũ trụ phải là TUYỆT ĐỐI. Và điều này sẽ giải thích tất cả những vấn đề của một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT cho tất cả mọi vấn đề liên quan tới nó, từ khởi nguyên vũ trụ, quá trình lịch sử hình thành vũ trụ, cho đến một hệ thống lý thuyết mô tả những quy luật tương tác và vận đông của vũ trụ có tính tiên tri, trong học thuyết Âm Dương ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt. KHÍ TRONG LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Như vậy, với hai tiền đề đã trình bày, thì sự cấu thành của vũ trụ này không đơn giản chỉ là vật chất có khối lượng. Mà chúng còn tồn tại những dạng vật chất phi khối lượng và phi hình thể. Nhưng vẫn được coi là vật chất, vì có khả năng truyền dẫn năng lượng và tương tác. Nếu thuyết Tương Đối của ngài Albe Einstein xác định rằng: Tốc độ vũ trụ chỉ giới hạn bằng tốc độ ánh sáng; và rằng: khi đạt tới tốc độ này thì vật chất chỉ có thể tồn tại dưới dạng hạt cơ bản - thì - bằng chính những thực nghiệm lượng tử, đã cho thấy: có một thực trạng tồn tại có tính truyền dẫn thông tin, từ hạt lượng từ này, đến hạt lượng tử tương đồng ở bất cứ khoảng cách nào với tốc độ gần như tuyệt đối. Thực trạng tồn tại đó, được tôi mô tả bằng cụm từ, gọi là "Trường tương tác Việt". Và cũng chính là dạng tồn tại của vật chất phi hình thể, phi khối lượng. Đây cũng là hiện tượng mà trong các bản văn cổ Đông phương, tồn tại dưới dạng bản văn chữ Hán - kết quả của hàng ngàn năm Hán hóa nền văn hiến Việt, một thời huy hoàng bên bờ nam sông Dương tử - gọi là "KHÍ". Bỏ qua tất cả các dạng mô tả một cách cục bộ về :Khí" trong các bản văn chữ Hán, được nhắc đến trong tất cả các ngành liên quan; từ Đông Y, Thiên Văn, Địa Lý phong thủy, bốc Dịch....Bởi vì, tôi cần xác định ngay rằng: Tất cả những danh từ mô tả trong bản văn chữ Hán liên quan đến "Khí" đều hết sức mơ hồ, cho đến tận ngày hôm nay, khi tôi đang gõ những hàng chữ này. Tôi cũng cần xác định ngay rằng: Tất cả các nhà nghiên cứu Hán Nho kim cổ từ hàng ngàn năm nay, vẫn chẳng hiểu gì về bản chất của khái niệm "Khí" . Nhân danh nền văn hiến Việt, tôi định nghĩa về "Khí" như sau: "KHÍ" là một danh từ mô tả khái niệm về sự tồn tại của những dạng vật chất phi hình thể, phi khối lượng, được hình thành bới chính sự tương tác của vật chất và tương tác trở lại với vật chất". Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành và siêu công thức toán học mô tả nội hàm của học thuyết này - nhân danh nền văn hiến Việt - thì "Khí" chính là nguyên nhân cấu tạo nên các hạt cơ bản của vật chất có khối lượng. Và cũng trong học thuyết này thì "các dạng tồn tại của "KHÍ" cũng được phân loại theo Ngũ hành và Âm Dương". Trong lịch sử hình thành vũ trụ ở dạng khởi nguyên - sau giây /O/ - thì KHÍ chính là dạng vật chất đầu tiên xuất hiện và tiếp tục tương tác dẫn đến sự bùng nổ với vận tốc gần như TUYỆT ĐỐI. Những "hạt cơ bản" được hình thành trong giai đoạn của bùng nổ và tương tác phức tạp của nhiều dạng "khí". Không hề có một loại "KHÍ" duy nhất tạo ra các "hạt cơ bản", dù được định danh bằng bất cứ khái niệm nào. Tất nhiên sẽ không thể có "HẠT CỦA CHÚA" với ý nghĩa là điều kiện duy nhất tạo ra "hạt cơ bản". Nhưng trình bày ở đoạn trên của tôi, đó là sự tóm tắt về sự mô tả một thực tại, được xác định bởi thuyết ADNh - nhân danh nền văn hiến Việt - để giải thích: Vì sao tôi xác quyết ngay, mà không cần tư duy sâu: "KHÔNG CÓ HẠT CỦA CHÚA!". Nói một cách khác: Sự tương tác của các dạng vật chất phi hình thể, phi khối lượng - mà Lý học Việt gọi là "Khí" - trong điều kiện với tốc độ gần như tuyệt đối - đã tạo những "Hạt cơ bản" ở trạng thái khởi nguyên của vũ trụ. Những trạng thái tồn tại của "Khí" - vật chất phi hình thể - nguyên nhân của các loại hạt - vẫn tồn tại với tư cách là những môi trường dung chứa những loại hạt cơ bản sinh ra từ nó. Và đó cũng chính là môi trường truyền dẫn cho sự vận động tức thời của những hạt cơ bản tương đồng sinh ra từ nó. Điều này giải thích vì sao, sự tương tác gần như tức thì. Điều này giải thích tính vận động gần như tuyệt đối ở trạng thái khởi nguyên của các dạng "Khí" hình thành ban đầu trong vũ trụ và tiếp tục là dung môi hàm chứa các hạt lượng tử sinh ra từ nó. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Tôi đã trình bày xong về bản chất của "Trường tương tác Việt". Có thể so sánh nội dung trình bày của tôi với kết luận của bài viết mà Giáo sư Cao Chi biên dịch và giới thiệu, được trích dẫn như sau: Trích: ["Kết luận Như vậy câu hỏi không thời gian được dệt nên bằng điều gì dường như không còn là vô nghĩa mà còn gợi nên một hướng đi quan trọng để trả lời câu hỏi dó. Câu hỏi đã có hướng trả lời :không thời gian (hấp dẫn) được dệt nên nhờ những liên đới (lượng tử). Câu trả lời này có thể đã vén một góc màn của vấn đề lớn là vấn đề thống nhất lượng tử với hấp dẫn.Không thời gian không phải là một ý niệm trừu tượng nào đó mà là một vật thể được cấu tạo bởi những liên đới lượng tử. Ngoài ra hướng nghiên cứu này lại có liên quan đến vật lý môi trường đông đặc thông qua mạng tensor đến thông tin , máy tính thông qua mã lượng tử sửa chữa lỗi. Ở đây các nhà vật lý chưa đề cập đến hệ quả triết học của vấn đề IfQ."] Còn tôi, qua những gì đã trình bày, tôi cần xác định ngay rằng: Không có vấn đề "thống nhất Lượng tử với hấp dẫn"; cũng chẳng có vấn đề "Không thời gian không phải là một ý niệm trừu tượng nào đó mà là một vật thể được cấu tạo bởi những liên đới lượng tử". Bởi vì làm gì có thời gian tồn tại như một thực tế để trở thành một giá trị thực tế?! Khái niệm "Thời gian" cũng như khái niệm "Điểm" trong Toán học, nó chỉ là những khái niệm quy ước của chính con người đặt ra. Nó không có thật, nên nó không thể thống nhất với những thực tại khách quan để trở thành những dạng tồn tại có năng lương và tương tác. Cũng chẳng có một "hệ quả triết học" nào cho "vấn đề IfQ". Hình như các tri thức tinh hoa của nền văn minh hiện đại lại tiếp tục lặp lại sai lầm, như hiện tượng "Hạt Của Chúa"?! Bởi vì, chỉ có "Trường tương tác Việt" với các dạng tồn tại của vật chất phi hình thể, phi khối lượng đang chi phối mọi sự tương tác và vận đông có tính quy luật trong vũ trụ này. Nó tồn tại ngay cả trong tôi, trong anh/ chị, trong tất cả các bạn, trong tất cả các hạt cơ bản và cả trong những Thiên hà xa xôi. . Xin cảm ơn quý vị và các bạn quan tâm chia sẻ. SG, Giờ Tý 16. Tháng Tư Mậu Tuất Việt lịch. Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
    3 likes
  22. THANH LONG – BẠCH HỔ TỨ TƯỢNG (Tứ THÚ) HUYỀN VŨ-CHU TƯỚC ; TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY Bộ môn Địa Lý Phong Thủy có gốc rễ từ học thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH, và tất nhiên mọi yếu tố trong Địa lý đều tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc của học thuyết này. Tứ Tượng hay tứ thánh thú là một khái niệm hình tượng trong Lý học Đông Phương. Huyền Vũ của phương Bắc, Thanh Long của phương Đông, Bạch Hổ của phương Tây và Chu Tước của phương Nam. Tuy nhiên, cách định nghĩa về tứ tượng hiện nay đều không mang tính hệ thống và từ đó chúng ta không thể có được một sự thống nhất trong ứng dụng của các yếu tố cơ bản này. Nhân sự việc tôi có xem một video trên youtube của một vị chuyên gia phong thủy bên Mỹ, ông ta cho rằng yếu tố Thanh Long – Bạch Hổ trong Âm trạch (mồ mả) khác với Dương Trạch (nhà ở) tức là Âm trạch thì Tả Thanh Long tức bên trái quan tài xác định theo đầu người đã khuất, Nhưng dương trạch là nhà ở thì phải đứng từ ngoài nhìn vào nhà, thì bên tay trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ. Từ đây cho chúng ta thấy một điều, các lập luận kiểu như thế này thể hiện một sự sai lầm khi không hiểu bản chất cốt lõi trong mô hình biểu kiến này. 1. Định nghĩa và cách hiểu hiện nay Định nghĩa hiện nay đa phần được hiểu các yếu tố này như sau: “Hình thế núi cao ba bề gợi cho ta nhớ tới một chiếc “ghế bành”, biểu tượng của cuộc sống tiện nghi. Thế đất Tứ Tượng bao gồm: - Huyền Vũ (rùa đen) là trái núi phía sau ngôi nhà, lý tưởng nhất là nằm ở phương Bắc. - Thanh Long (rồng xanh) là ngọn đồi phía tay trái ngôi nhà, tốt nhất là nằm ở phương Đông. - Bạch Hổ (hổ trắng) là ngọn đồi phía tay phải ngôi nhà, nó phải thấp hơn đồi Thanh Long bên trái và núi Huyền Vũ sau nhà. - Chu Tước (chim sẻ đỏ) là gò đồi nhỏ trước mặt nhà, lý tưởng nhất là ở phương Nam.” Việc qui định các yếu tố tứ tượng hay tứ thú này trong Địa Lý Phong Thủy theo định nghĩa như trên là sự áp đặt dẫn tới việc thiếu tính chặt chẽ và hiểu sai lệch. Ví dụ như nếu nhà hướng Tây thì tức là không xác định được các yếu tố còn lại bởi định danh hướng - Chu tước do Chu tước định danh là hướng Nam và tọa sơn là Huyền Vũ. Với cách hiểu thế này thì chỉ có ngôi nhà có hướng Nam thì mới hợp các yếu tố Địa Lý ? điều này hoàn toàn vô lý. 2.Đi tìm định danh Tứ Thú hay Tứ Tượng - Biểu tượng tứ thú trong Địa Lý dùng để mô tả tính âm dương : Trước-Sau, Phải-Trái , xuất phát từ mô hình chuẩn được nền văn minh Cổ Xưa xây dựng nên. Trong Địa Lý Lạc Việt, nguyên tắc Âm Dương là : Dương trước – Âm Sau, Dương thấp- Âm Cao, Dương tả-Âm hữu, Nam tả-Nữ hữu, Nam nghịch-Nữ Thuận. a. Huyền Vũ bản chất không liên quan tới tên của loài Rùa nhưng vì sao lại lấy hình tượng loài Rùa cho yếu tố Huyền Vũ ? và trong ĐLPT thì Huyền Vũ lại được coi là Sơn ? “Con rùa chính là biểu tượng của nền văn hiến Việt ở thời sơ khai: "Vào thời vua Nghiêu, có sứ giả Việt Thường dâng con rùa lớn. Trên lưng có khắc văn Khoa Đầu, ghi việc trời đất mở mang". Hình tượng chim Hạc (Lạc) đứng trên lưng rùa chầu tiên thánh, cũng là một biểu tượng khác xác định giá trị của nền văn minh Lạc Việt. Sự xác định Huyền Vũ chính là thực tại vũ trụ thì đối xứng với Huyền Vũ phương Bắc, chính là sự nhận thức của văn hóa, tri thức: Phượng hoàng lửa phương Nam. “ Trích dẫn: Thầy Thiên Sứ -Nguyễn Vũ Tuấn Anh Sơn hay điểm tựa vững chắc,, chính là sự nhận thức văn hóa và tri thức, và vì thế được coi là yếu tố phía sau- Thuộc ÂM. Lạnh và tối ở phương Bắc trái với nóng và Sáng ở phương Nam, Tri thức và văn hóa thuộc về phương Bắc , vậy nên mô hình biểu kiến Huyền Vũ thuộc phương Bắc và Trong đồ hình Tiên Thiên , quẻ khôn được xếp vào phương Bắc – Khôn-Lạnh thuộc Âm – phía Sau. Tất nhiên, mô hình biểu kiến Huyền Vũ ở phương Bắc nhưng không có nghĩa là Phương Bắc nhất định là yếu tố Huyền Vũ. Huyền Vũ thuộc Âm- Nhô cao - là Sơn . b. Chu tước: lấy tượng là chim Tước Đỏ. là Nóng – Sáng Đối với phương Bắc Lạnh- tối, đại diện là Phương Nam – thuộc Dương. Tiên thiên quái Càn- Dương được xếp ở phương Nam. Đây là yếu tố Hướng trong ĐLPT bởi Dương trước – thấp. Trong ĐLPT thì Thấp trũng là hình tượng của Thủy – tụ. Chính vì thế, yếu tố Thủy không phài là nước và Sơn không phải là núi. Hai yếu tố này là cùng cặp DƯƠNG -ÂM : TRƯỚC-SAU, THẤP-CAO. Vì vậy tính chất của cặp Âm Dương này là : phía trước thuộc DƯƠNG là Thấp hơn, là phía Trước, là Sáng sủa đối với nó là phía Sau, là Cao hơn, là tối. c. Thanh Long : lấy tượng là rồng Xanh và tất nhiên Rồng không có thật.Tuy nhiên, Rồng là biểu tượng sức mạnh, là Dương, là linh vật tạo ra mưa , nước. Trên mô hình biểu kiến nếu đứng tựa lưng vào phía Bắc, hướng về phương Nam thì bên Trái là Biển cả ,là nơi Rồng ẩn náu. Dương bên Trái, thấp hơn so với bên Phải, và đó chính là vì sao tiên thiên lại xếp quái Ly-Hỏa ở phương Đông. d. Bạch Hổ: lấy tượng là Hổ trắng, mà trong tự nhiên Hổ nương náu trên núi rừng. Trên mô hình biểu kiến nếu đứng tựa lưng vào phía Bắc hướng về phương Nam , bên Trái là Biển cả thì bên phải là núi rừng. Núi cao hơn –thuộc Âm- Bên Phải . Trong Tiên Thiên quái Khảm được xếp ở phương Tây. Cặp Dương – Âm : Trái – Phải, Thấp –Cao không có nghĩa theo mô hình biểu kiến là con Hổ, con Rồng, hướng Đông-Tây hay nước và núi mà tính chất của nó chính là: Bên Phải thuộc Âm cao hơn bên Trái thuộc Dương. Qui các yếu tố về các cặp Âm-Dương, chúng ta có thể áp dụng vào mọi trường hợp trong Địa Lý Phong Thủy mà không cần chấp vào biểu tượng hay mô hình biểu kiến. Đây là chính là lý thuyết nền tảng của Địa Lý Lạc Việt, một bộ môn ứng dụng từ học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành của nền Văn Vinh Lạc Việt 5000 năm một thời rực rỡ huy hoàng phía Nam sông Dương Tử. Hà nội Tháng một năm Mậu Tuất tức tháng 12 năm 2017 Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    3 likes
  23. HOA KỶ NĂM MẬU TUẤT VIỆT LỊCH. Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh Nền kinh tế đất nước này tiếp tục phát triển và khởi sắc. Nhưng nó vẫn chưa thể kéo toàn bộ nền kinh tế thế giới phát triển theo nó. Tuy nhiên, nó bắt đầu hỗ trợ sự phát triển của các nước Đồng Minh và các đối tác chiến lược quan trọng. Về ngoại giao, đất nước này vẫn tiếp tục chính sách ngoại giáo đặc thù của TT Donal Trumf. Nhưng một trong những thành tựu xuất sắc của nền ngoại giao Hoa Kỳ năm nay là: Cô lập các đối thủ chiến lược bằng sức mạnh kinh tế và quân sự của họ. Và một điều đáng quan tâm là mối quan hệ giữa Nga và Hoa Kỳ cải thiện đáng kể. Tổng Thống Donal Trumf ngày càng khẳng định vị thế và uy tín của mình.
    3 likes
  24. Bị ngăn cản kết hôn vì không hợp tuổi Tôi tuổi Dần và anh tuổi Hợi. Mẹ tôi và mẹ anh đã ra sức ngăn cản chuyện tôi và anh yêu nhau, rồi đưa ra các dẫn chứng vợ chồng kỵ tuổi lấy nhau, người chồng đã mất khi còn rất trẻ. Tôi đau khổ và bối rối vô cùng. From: Xuân Thu Sent: Thursday, November 25, 2010 2:44 PM Kính gửi các anh chị Ban biên tập mục Tâm sự! Tôi viết câu chuyện của tôi với mong muốn duy nhất là có thể chia sẻ lòng mình cả với những người tôi không hề quen biết dù câu chuyện của tôi có lẽ đã thuộc vào đề tài quá cũ. Hơn 4 năm trước đây tôi đã gặp và nhận lời yêu người yêu tôi bây giờ. Tình cảm của chúng tôi đã trải qua rất nhiều sóng gió với hiểu lầm, không liên lạc và xa cách. Nhưng khi gặp lại nhau vào năm ngoái, cả hai chúng tôi đã quyết định quay lại. Chúng tôi là tình yêu đầu đời trong sáng và đã có rất nhiều kỷ niệm vui buồn, những lúc vượt qua khó khăn luôn ở bên nhau. Giờ đây khi cả hai có công việc ổn định và có thể tiến đến hôn nhân thì tình yêu của chúng tôi cũng đang đi đến lúc bế tắc vô cùng chỉ vì một lý do duy nhất: tôi và anh kỵ tuổi nhau. Tôi tuổi Dần và anh tuổi Hợi. Mẹ tôi và mẹ anh đã ra sức ngăn cản chuyện tôi và anh yêu nhau, rồi đưa ra các dẫn chứng vợ chồng kỵ tuổi lấy nhau, người chồng đã mất khi còn rất trẻ. Đọc đến đây có thể rất nhiều người sẽ nói rằng thời buổi nào rồi mà còn coi trọng chuyện tuổi tác trong hôn nhân. Nhưng có thể các anh chị nằm trong số ít không coi trọng chuyện này. Trong khi đó người Việt Nam rất xem trọng chuyện tuổi tác trong hôn nhân. Nếu lấy nhau trong sự ngăn cản quyết liệt của gia đình 2 bên hẳn tôi và anh đều sẽ không thực sự hạnh phúc. Tôi có thể khẳng định chúng tôi yêu nhau rất nhiều và tình yêu đã đủ lớn, đã được thời gian chứng minh. Nhưng tôi cũng không hiểu sao giờ đây tôi đang quyết định không liên lạc với anh để chúng tôi suy nghĩ lại chuyện này. Tôi có cảm nhận rằng tình yêu của tôi sắp ra đi. Tôi đau khổ và bối rối vô cùng. Các anh chị ai đã có kinh nghiệm giải quyết vấn đề này xin hãy chia sẻ cùng tôi. Hiện tại tôi cảm thấy hụt hẫng trong lòng. Rất mong Ban biên tập đăng bài viết này của tôi để tôi có thể tìm ra hướng đi đúng đắn cho bản thân mình. Chân thành cảm ơn anh chị! Thu http://vnexpress.net/GL/Ban-doc-viet/Tam-s...10/11/3BA237EF/ Hai mối tình của tôi đều tan vỡ vì không hợp tuổi Khi cô ấy nghe nói không hợp như vậy thì tinh thần yêu đương tan biến đi đâu mất và xoay 180 độ. Cô ấy nói thôi mình chỉ có duyên phận tới đó, dừng lại là đúng mức rồi. Tôi nghe mà không tin vào tai mình nữa. (Hung) Xem tiếp : http://vnexpress.net/GL/Ban-doc-viet/Tam-s...10/12/3BA23EAB/ Đau khổ khôn nguôi sau mối tình kỵ tuổi Phải chia tay anh, tôi hụt hẫng, đau khổ, mất niềm tin. Hơn một năm đầu tiên tôi đã đi tìm anh, nấp ở một góc nào đó để đợi anh đi làm về, để thấy bóng dáng anh cho đỡ nhớ, cho đến ngày anh có người khác thì tôi không còn đến tìm anh nữa. (Hien) Xem tiếp : http://vnexpress.net/GL/Ban-doc-viet/Tam-s...10/12/3BA23E2C/ -------------------------------------- Bài trả lời của TTNC Lý Học Đông Phương Kính gửi ban biên tập mục Tâm sự và quý bạn đọc, Mấy hôm nay chúng tôi theo dõi mục tâm sự và cảm thấy khá bức xúc vì các vấn đề về tuổi hợp hay không hợp trong hôn nhân. Là những người đã và đang nghiên cứu văn hóa truyền thống, nghiên cứu hệ thống lý học Phương Đông nên chúng tôi cũng muốn có đôi lời chia sẻ với quý bạn đọc.Chúng tôi viết bài này nhằm cung cấp cho quý vị quan tâm một cái nhìn đúng đắn hơn về vấn đề tuổi và tương tác tuổi trong mối quan hệ nam nữ. Trong truyền thống văn hóa Á Đông, lúc cưới vợ gả chồng thì những người có tuổi trong gia đình đều quan tâm đến vấn đề luận tuổi. Nhưng qua thời gian cũng như thăng trầm của lịch sử, ngày nay, việc luận tuổi đã bi thất truyền dẫn tới những quan niệm chưa chính xác, lệch lạc và trở thành một nỗi lo sợ vô lý cho các cặp trai gái yêu nhau muốn tiến đến hôn nhân. Và cũng qua cả ngàn năm nay, sự thất truyền, tam sao thất bản đã dẫn đến những phương pháp luận tuổi không đầu không đuôi, gây ra những cảnh dở khóc dở cười, chia ly vô cớ và đầy nước mắt của những đôi yêu nhau. Phương pháp phổ biến hiện nay đa số các “thầy” xem tuổi đều áp dụng phương pháp cung phy. Có 8 cung phi cho nam (Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn) và 8 cung phi tương tự cho nữ, kết hợp lại sẽ cho ra 64 trường hợp, hay còn gọi là 64 cặp tương tác (Càn – Đoài, Càn – Khảm, Đoài – Ly, Cấn – Tốn…), và kết quả của 64 cặp sẽ tương ứng với các chữ : Sinh Khí – Diên Niên – Phúc Đức – Phục Vị - Ngũ Quỷ - Tuyệt Mạng – Lục Sát – Họa Hại. Như vậy chỉ có 64 trường hợp tương tác tuổi. Chúng ta thử làm phép tính nhỏ, với nhân loại mấy tỷ người mà chỉ có 64 trường hợp để xem tốt xấu thì xác xuất giống nhau là rất lớn. Cứ 64 cặp thì có 1 cặp giống nhau. Có thể thấy rằng đây là điều thiếu logic. Ngoài ra, còn có phương pháp ít phổ biến hơn, đó là phương pháp Cao Ly Đồ Hình. Phương pháp này lấy 10 thiên can theo tuổi nam phối 12 địa chi theo tuổi nữ, sau đó sẽ có 1 bảng phân loại và định tuổi cát-hung. Nếu ta lấy 6 tỷ người trên thế giới và giả định có 1 tỷ cặp vợ chồng với trung bình có 4 con một cặp (ứng với 6 tỷ), đem chia cho 120 trường hợp thì ta sẽ có: 1000. 000. 000: 120 = Gần 8.300.000 triệu cặp vợ chồng có chung một hoàn cảnh. Chỉ cần 3/ 10 trong số 120 trường hợp phối cung đó chia ly hoặc chết thì ta sẽ có 8.300.000 x 36 = 298. 800. 000 cặp vợ chồng ly tan. Và hơn 1 tỷ trẻ em mồ côi trên thế gian này. Phổ biến nhất hiện nay là tình trạng trong dân gian vẫn lưu giữ và truyền miệng những câu như “Dần Thân Tỵ Hợi” “Tý Ngọ Mão Dậu” “Thìn Tuất Sửu Mùi” là Tứ hành xung, hoặc “Canh cô Mậu Quả”, “gái tuổi Dần”, nhưng người ta quên rằng đằng sau những câu trên là cả 1 hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh các mối quan hệ của Thiên can, Địa chi, mạng. Qua các phương pháp trên, các bạn cũng có thể nhận thấy thiếu sự hợp lý và khập khiễng trong phương pháp luận tuổi. Nhưng đáng tiếc là sự coi tuổi khập khiểng này đã tồn tại trên thực tế và ăn vào tiềm thức của các bậc ông bà cha mẹ, làm họ tin một cách mù quáng. Các phương pháp coi tuổi vợ chồng khập khiễng trên từ những vị thầy nửa mùa, chẳng hiểu thấu lý, nên vô tình đã để lứa đôi tan nát. Để thay đổi những quan niệm sai lầm trên, chúng tôi cần thấy phải có một phương pháp hoàn chỉnh, logic, nhằm giúp cho những đôi lứa yêu nhau đến được với nhau. Chính vì vậy chúng tôi, những người làm công việc nghiên cứu tại trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương đã tổng hợp, nghiên cứu và kiểm nghiệm để có được một phương pháp luận tuổi đúng đắn, hợp lý và mang tính khái quát cao nhất. Phương pháp này chúng tôi đặt tên là “Luận Tuổi Lạc Việt” với sự điều chỉnh mạng Thủy – Hỏa trong Lạc Thư Hoa Giáp so với Lục Thập Hoa Giáp của Trung Quốc nhằm chứng mính cách so tuổi vợ chồng còn sót lại trong dân gian hiện nay chỉ là những mảnh vụn rời rạc, không hoàn chỉnh dẫn đến những sai lầm tai hại. “Không có tuổi vợ chồng xấu trong tình yêu đôi lứa đích thực” và “yêu nhau cứ lấy” là quan điểm của chúng tôi. Ngoài ra, tương quan vợ chồng chỉ là những điều kiện ban đầu, khi gia đình có con thì tương quan này sẽ thay đổi tốt hoặc xấu phụ thuộc vào tuổi đứa con có hợp với cha mẹ hay không, đặc biệt là con út! Ông bà ta có câu “giàu con út, khó con út” Theo phương pháp này, tương tác giữa người với người xảy ra ở cả 3 yếu tố Thiên can, Địa chi và Mạng thông qua mối quan hệ về ngũ hành sinh khắc và nguyên lý âm dương. Như vậy, để dể hình dùng, ta có thể làm phép tính như sau : 60 tuổi nam phối 60 tuổi nữ, cùng với tuổi của 60 đứa con út có khả năng sinh ra theo tương quan tuổi vợ chồng, Tức là ta sẽ có: 60 x 60 x 60 = 216.000 trường hợp khác nhau. Xác xuất để tinh toán cao hơn nhiều lần so với các phương pháp trên. Ở đây, chúng tôi chưa nói đến các cách cục tốt trong việc phối tuổi vợ chồng và con cái trong gia đình. Nhưng vấn đề không dừng lại ở những con số khô khan và phương pháp lạnh lùng. Phương pháp “Luận tuổi Lạc Việt” còn có tính nhân bản ở chỗ là nó khẳng định một cách hợp lý theo thuyết Âm Dương Ngũ hành về tình yêu nam nữ -"Yêu nhau cứ lấy" và sinh đứa con chính là nguồn hạnh phúc gia đình, dù tuổi cha mẹ có khắc nhau đi chăng nữa. Và một vấn đề chúng tôi cũng muốn chia sẻ với quý bạn đọc, đó là “tuổi tác” là một trong những điều kiện tương tác mang tính căn bản ảnh hưởng đến một hoặc nhiều mối quan hệ giữa người với người, chứ không có nghĩa tuổi tác sẽ quyết định mọi thứ diễn ra xung quanh bạn. Có rất nhiều các yếu tố khác ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi các nhân, mỗi gia đình như : hoàn cảnh gia đình, công việc, thu nhập, tính cách cá nhân… Chính vì vậy khi gặp các vấn đề nan giải trong cuộc sống, các bạn không nên quy hết vào lý do… không hợp tuổi, để rồi có những đáng tiếc xảy ra và xã hội lại tiếp tục duy trì những quan niệm không chính xác về việc xem xét tương quan tuổi giữa người với người! Xin chân thành cám ơn quý báo và quý bạn đọc. Thiên Luân Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương.
    3 likes
  25. Trước tiên xin kính chào các quý ông quý bà cùng toàn thể quý cô chiêu và quý cậu ấm. Hiện nay, mục Tử vi luận giải này rất đông khách, đại bộ phận khách khứa là quý cậu ấm và quý cô chiêu, mới 19 đôi mươi nên còn nhiều sự đời chưa hiểu, thiết tưởng mình đỗ đại học đã là nhớn, biết Hun đã là khôn nhưng khi lạc vào thế giới tiên đoán thì đúng là một kiến thức mới. Hiện nay, theo như tôi quan sát, hầu hết các anh chị, cô bác luận giải ở diễn đàn đều dùng từ ngữ tân thời, rất ít từ ngữ cổ hoặc cũ. Nhưng xem ra nhiều người Trẻ không hiểu và nhiều người xấu số (lá số không đẹp như ý) hay hỏi đi hỏi lại, người này trả lời không ưng thì tưng tưng chạy qua hỏi người khác. Giá mà khi đi học mà chăm chỉ chịu khó như thế thì tốt cho nước nhà quá. Vì vậy tôi xin mạn phép mở ra mục này để các cô bác, anh chị luận giải lá số đóng góp các kiến giải vào đây để các quý ông bà, quý cô ấm cậu chiêu đọc hiểu một vài vấn đề cơ bản. Với các quý vị nhờ bình giải lá số thì chỉ nên đọc hiểu chứ đừng View như người Anh. Bởi quý vị viết vài dòng cảm xúc vào đây thì sẽ có nhiều điều không cần thiết. Nếu thấy nhất thiết phải viết thì nên đọc kỹ trước khi đặt tay gõ phím hỏi về vấn đề mình chưa hiểu. Rào trước, Chắn sau như vậy thiết nghĩ cũng đã cạn lẽ. Xin phép quý vị cho tôi vào thẳng vấn đề cần vào như sau: 1/ Không còn là trinh nữ trước khi động phòng hoa trúc: Việc này không nhất thiết cứ phải là quan hệ với người ngoài rồi mới lấy chồng. Hoàn toàn có thể quan hệ với người chồng trước khi cưới và đăng ký kết hôn. 2/ Phải lập gia đình muộn mới tránh được hình khắc chia ly: Muộn là từ tầm 30 tuổi trở đi, Sớm là từ 24 tuổi trở về trước, Trung bình là tự hiểu. 3/ Giải pháp để tránh hình khắc ly dị: muộn lập gia đình, làm lẽ, cưới hỏi dở dang người này rồi lấy người khác, cưới đi và cưới lại 4/ Cưới đi và cưới lại: Là việc hi hữu, ví như vì ở xa nhau nên phải tổ chức cưới ở 2 nơi, bái gia tiên 2 lần, hoặc cưới chui trước khi cưới thật, tức là ra phường làm đăng ký kết hôn hoặc lấy được giấy đăng ký kết hôn rồi về nhà làm lễ bái gia tiên ở 1 trong 2 họ, Hiện nay thiên hạ rất chuộng cái vụ cưới đi rồi cô dâu lẳng lặng bỏ về nhà đẻ, sau đó chú rể mới lóc cóc đi đón dâu về lần nữa. Để gọi là qua 2 lần đò đểu. Vì là đò đểu nên chẳng có gì đảm bảo cái sự giả dối cố ý được biện hộ là chữa mẹo với chẳng méo này có tác dụng gì cả. Chồng 5 thê 7 thiếp vẫn cứ diễn ra, vợ thì có cả bộ sưu tập người tình thì vẫn chẳng tránh khỏi. Thế thì chọn giờ lành tháng tốt làm gì hay tại thầy bói dốt? 5/ Kim lâu đối với nữ nên không được lấy chồng: 1 lần ân ái cũng nên vợ chồng, nếu nói dại chỉ 1 lần nghịch dại mà có thai, vậy lúc nghịch dại ấy ai xem ngày xem giờ cho? Yêu thì Cưới, đó là nét văn hóa của dân tộc Việt, "Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên?", "Ngày xưa ai cấm duyên bà, mà nay bà già bà cấm duyên tôi?", "Hùng Vương kén rể thời nay: Xe bốn bánh, Cánh 2 bên, Lên thang máy (nhà biệt thự cao hơn 5 tầng phải đi thang máy chứ ko phải loại trung cư vớ vỉn) Như vậy Kim lâu hay không, không quan trọng trong việc cưới chồng, bởi nếu quan trọng thế thì sao lúc đẻ con ko tính chuyện kim lâu, chồng thì chỉ sống được vài chục năm cùng mình (lâu hơn cha mẹ mình) nhưng thường thì chồng không sống lâu hơn con mình (Ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con cái). Vậy rõ ràng cái chuyện trăm năm kia là sống với con, con cái lo ma chay - hiếu hỉ cho cha mẹ, quan trọng thế sao không Kiêng? hay sướng quá nên quên mất việc kiêng cữ? 6/ Cải số: Quả có vài trường hợp lá số phán Tử vong, đương số quả nhiên có nhìn thấy Quỷ Môn Quan. Nhưng được cứu giải. Nên không phải xuống mười mấy tầng địa ngục an dưỡng. Đó là những trường hợp hi hữu và không phải tất cả những người có cùng ngày, cùng tháng, cùng năm đó đều được cứu giải như thế. Mình không chết thì người khác chết, số trời đã định ngày hôm đó Tử thần với lưỡi hái Đầu lâu phải gom đủ 3000 đầu lâu vào cái túi đen ngòm, nếu không đủ thì bị phạt, không nhẽ cái lão Sư cọ mốc với lưỡi hái dài ngoằng đó nhận hối lộ của quý vị để giết người khác thế thân cho quý vị hoài? Rõ là không rồi. Như vậy việc cải số cũng giống như việc thi Hoa hậu thế giới vậy, cả năm chỉ có 1 người đăng quang ngôi vị cao nhất mà thôi. Chứ cải được số thì sao không làm cho lá số đẹp cả 12 cung số luôn đi, chỉ cải mỗi cái cung Phu Thê hay Tử tức xấu hoắc để làm gì? vậy cung này tốt lên thì cung nào sẽ xấu đi đây? Tử vi không phải là cái để mọi người xoay chuyển càn khôn mà chỉ để con người nhìn vào đó để chuẩn bị tâm lý cũng như cách ứng xử sao cho tốt nhất trong hoàn cảnh đó mà thôi. Nhưng không có nghĩa là khoanh tay chịu trói, Tức biết được tháng này mình bị mất tiền có thể do bị cướp hoặc bị vay đểu. Thì mình phải tự đưa ra đối xách là cướp thì phải truy hô, vay đểu thì chỉ cho vay ít thôi. 7/ Giầu có đừng vội mừng, nghèo khó đừng vội lo: Biết số mình nghèo, bon chen cũng chẳng lợi gì thì đừng lấy đó làm buồn, mà hãy nghĩ đến việc mình sống có hạnh phúc không, người ta giầu có mà con cái ăn tàn phá hại thì có hạnh phúc không? kiếm tiền nhiều để vợ chồng nem chả mà vẫn chung giường, con cái hút sách mà vẫn đi du học thì khi về già có sướng không? Giầu mà không sang chẳng bằng nghèo khó mà đứng đắn. Sống ở trên đời, cần có 1 cái tâm cùng với cái tầm chứ không phải tiền bạc và địa vị. 8/ Tuổi còn trẻ quá (dưới 25) thì không nên tìm hiểu quá sâu về tương lai xa: Tầm tuổi này chỉ nên biết tương lai gần trong 5 năm tới chứ đừng tham lam mà hỏi thông cả đến lúc vào hòm. Cuộc đời này chỉ có 18% là những điều tuyệt vời, với 2% may mắn, còn lại có đến 80% những điều không may. Vì thế hầu hết xem số nói về điềm gở nhiều và dễ hơn điềm lành. Nhưng với số lượng điềm lành nhỏ bé ấy lại làm lên cả 1 kỳ tích về cuộc sống con người. Vì vậy, hãy nhìn gần để dễ làm, đừng nhìn xa quá mà thêm mệt mỏi. 9/ Tỷ phú tại Thiên, Triệu phú nhờ tích góp, đổi giờ sinh để làm gì?: Giầu không phô, nghèo không xấu hổ. Nếu đã biết số mình nghèo thì cố mà tích góp, để một mai mưa gió đau ốm còn có cái dùng, chứ nợ nần là tự mình bán danh dự của mình đi rồi. Bởi nhỡ một mai chết đi, gánh nợ đó đổ lên đầu ai nếu ko phải là người thân ruột thịt trong nhà? Vì vậy dù giầu hay nghèo thì cũng nên khiếm tốn. Đừng xừng sực đổi giờ sinh, ngày sinh. Nếu đã không biết thì cần làm rõ trước, khi đăng tin lên cần kiểm tra lại kẻo đến lúc người giải đã luận giải cả tràng rất dài rồi mà cuối cùng là sai giờ sinh. Nếu quý vị đi xem mất phí, sẽ có bao nhiêu người nhìn quý vị? người ta đang xếp hàng chờ đến lượt mà lại bị 1 kẻ lãng nhách xếp trước. Như thế là không lịch sự. Đổi giờ sinh, chắc gì đã có lá số tốt hơn 10/ Vợ chồng có ngày xa cách: Xa cách không có nghĩa là ly dị, nhưng lại có ý nghĩa là chia ly tạm thời. vì dận nhau hoặc vì công tác, không thể luận giải chính xác được là vì sao. 11/ Bị làm sao đó: Làm sao là làm sao thì có nhiều trường hợp, nhưng tựu chung là muốn biết nguyên nhân và kết quả, Tử vi không thể chỉ rõ được vấn đề, ví như đụng xe hay đâm xe? đụng thì chỉ là va quệt nhẹ, còn đâm xe thì nặng rồi. Nhưng ai đâm ai và xe đâm là xe gì thì chịu nhé, chỉ có Chúa mới biết nó là cái gì và như thế nào. Khoa học cũng như Tử vi không bao giờ trả lời Tại sao mà chỉ giải thích như thế nào. Đừng hỏi tại sao con người lại sinh ra trên trái đất này mà không phải là ở 1 Ngôi sao cô đơn nào đó trong vũ trụ. Không ai và không bao giờ bạn có câu trả lời. 12/ Sao này và sao kia: Nếu quý vị chưa thông tường hoặc chưa thuộc được ý nghĩa cũng như sự phối kết hợp giữa các sao thì không nên đưa ra những câu hỏi về các vì tinh tú này để tránh chuyện tranh cãi nhiều hơn là trao đổi học thuật. Người luận giải thực sự không có hứng thú đàm đạo với quý vị về vấn đề này (hầu hết là thế) 13/ Học giỏi không đồng nghĩa với giầu có và ngược lại: Cuộc đời là thế đó, quý vị có 1 quá khứ học hành siêu việt, nhưng chẳng có gì đảm bảo là quý vị có 1 tương lai sáng về tiền bạc cả. Tiền và Tài không phải lúc nào cũng song hành với nhau Ngày hôm nay có thu nhập cao thì đừng vội mừng, bao giờ nghỉ hưu ở tuổi 60 thì hãy phán xét việc bói toán là trò nhảm nhí. 14/ Giầu nứt đố đổ vách mà không bền: Ai cũng có 1 thời kỳ 10 năm phát đạt, nhưng không phải cả 10 năm đều phát mà có năm được năm hòa. Nhưng tổng kết là tốt và rất tốt. Cái ngưỡng 10 năm tốt đó nó thể hiện ở con số dưới đáy và ở giữa mỗi cung số. Quý vị có thể xác định được cho mình ở khoảng tuổi nào, ví như Mệnh là số 3 và khoảng thời gian tốt nhất cho mọi vấn đề của cuộc sống có thể là từ 23 đến 32 tuổi bởi cung kế tiếp là cung 33, nếu vận hạn tốt ở cung 43 thì thời kỳ tốt đẹp đó là từ 43 đến 52 tuổi. v.v... Đời người thường chi có 1 thời ký 10 năm này thôi, thường thì chỉ có một vài trường hợp đắc cách mới có 2 vận tốt, có thể là ở cung 33 và cung 53 tuổi, tức cung 43 tuổi ko tốt hoặc hơi xấu so với bình thường. 15/ Mất điện thoại có tìm lại được không? hay các câu hỏi đại loại như thế: Vậy mất người yêu có lấy lại được không? đâu cần bói toán gì cũng đoán được mà. Rất ít trường hợp Tử vi có thể đoán được, nên đi tìm các phương pháp tiên đoán khác thì hơn. Mong các quý vị giải số tiếp phím
    3 likes
  26. Kính chào ACE! Mình vốn là người mới học, nên sở học còn nhiều điều thiếu sót, nhưng xin mở topic này để giao lưu cùng ACE. Bác Thiên Luân đã có topic riêng và duy trì lâu năm, rất tốt. Mình chỉ là giải đáp những gì ACE có thể thấy còn thắc mắc thôi.. trong giới hạn có thời gian thì cố gắng ở mức trao đổi học thuật và thực chứng. Vì cung là LUẬN TUỔI LẠC VIỆC. Nên các bạn vui lòng: Chú ý khi tư vấn: Không gửi bài viết nhiều lần Tuân thủ nội quy diễn đàn Không trao đổi thảo luận các nội dung khác ngoài lề Không hỏi giúp người khác vì trong Lý Học có nhiều lí do tế nhị. Tư vấn và được tư vấn là do DUYÊN và TÙY DUYÊN và trên tình thần tự nguyện của các nhà nghiên cứu. Ưu tiên tư vấn cho các trường hợp mong muốn sinh con năm 2018 Trước khi tư vấn xem trước: Bảng tra mạng theo Lạc Thư Hoa Giáp Tuổi hợp - xung trong tình yêu Luận tuổi Lạc Việt Tham khảo các bài tư vấn cũ của 2013-2014-2015-2016-2017 trong box Luận Tuổi Chú ý: TUYỆT ĐỐI KHÔNG XEM VÀ TƯ VẤN CHO CÁC TRƯỜNG HỢP ĐANG CÓ THAI VÀ TRƯỜNG HỢP HỎI GIÚP CHO NGƯỜI KHÁC Trân trọng!
    2 likes
  27. Chuyên gia Phong thủy Hoàng Triệu Hải - Giám đốc Trung tâm thực hiện chương trình Talk show về các vấn để liên quan đến Lý học nói chung, bao gồm Phong thủy Lạc Việt, Luận tuổi Lạc Việt .... Số đầu tiên: Phong Thủy Nhà Đất - Mối Quan Hệ Giữa Phong Thủy Và Thiết Kế Nhà Ở Số thứ 2: Xem tuổi là một điều kiện bắt buộc hay chỉ cần tình yêu là đủ? Số thứ 3: Phong Thủy Trong Cưới Hỏi Số thứ 4: Phong Thủy Với Căn Bệnh Ung Thư
    2 likes
  28. Thày Thiên sứ - Nguyễn Vũ Diệu viết VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KIÊNG CỮ Và CÁC NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG LIÊN QUAN. Thưa quý vị và các bạn. Người Việt rất hay kiêng cữ. Nếu thống kê thì người Việt kiêng cữ nhiều nhất so với các dân tộc khác trong lịch sử văn minh nhân loại. Kiêng "ra ngõ gặp gái"; kiêng "chim sa, cá nhảy"; kiêng...kiêng....kiêng đủ thứ. Tác giả Thích Tâm Hiệp đã đặt vấn đề rất chính xác: ["Vấn đề của chúng ta, của người sau là ghi nhận khách quan với sự trân trọng và tìm hiểu ngọn nguồn xem tại sao ông cha kiêng"]. Và tác giả cũng phê phán sự ấu trĩ, khoác áo khoa học: ["Thế mà, một thời, do cái thói tư duy chủ quan, tự cho mình có "khoa học" hơn người trước, nên chúng ta đã bôi bẩn, hủy hoại bao giá trị văn hóa của tiền nhân"]. Tôi cảm ơn tác giả và ủng hộ cách đặt vấn đề của ông. Nên tôi mới chia sẻ bài này. Tuy nhiên, tôi trình bày nguyên nhân cốt lõi của tục kiêng cữ của người Việt - theo cách hiểu của tôi - và chia sẻ với các bạn để cùng suy ngẫm. Theo tôi có hai hính thức kiêng cữ. 1/ Kiêng cữ những hiện tượng xảy ra mang tính khách quan. Thí dụ: Kiêng chim sa, cá nhảy; kiêng gương vỡ; kiêng chuyển giương khi phụ nữ mang bầu.... 2/ Thực hiện những nghi lễ truyền thống có tính kiêng cữ. Cúng 49 ngày, cúng 100 ngày, cúng cơm người mất, kiêng nói những điều xui xẻo.... Tất cả nhưng điều này, đúng như tác giả viết: ["Vấn đề của chúng ta, của người sau là ghi nhận khách quan với sự trân trọng và tìm hiểu ngọn nguồn xem tại sao ông cha kiêng"]. Thưa quý vị và các bạn. Tất cả những nguyên nhân vì sao ông cha ta kiêng, đều xuất phát từ một nguyên nhân chính yếu: Đó chính là xuất phát từ hệ thống nhận thức vũ trụ và thế giới, cũng như cuộc sống, xã hội và con người, của một dân tộc đã tồn tại với danh xứng văn hiến trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tử. Tôi xin bắt đầu phần I. PHẦN I. Kiêng cữ những hiện tượng xảy ra mang tính khách quan. Theo tôi, tất cả các tục kiêng cữ của người Việt đều có nguyên nhân thực tế. Thí dụ: Kiêng gương vỡ. Chính là hiệu ứng bức xạ không đồng đều tương tác lên người soi gương. Kiêng chuyển giường phụ nữ mang thai gần ngày sinh, chính là sự thay đồi sự tương tác ổn định của Khí trong môi trường chỗ nghỉ ngủ. Người phụ nữ khi mang thai thường yếu. Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của họ. Hoặc khó hiểu hơn: Kiêng chim sa, cá nhảy, chính là sự tương tác của trường khí môi trường cụ thể, khi người nào đó đi ngang, bị chim sa, cá nhày lên bờ. Do trường khí thay đổi, nên chim đột ngột sa xuống, hoặc cá nhảy lên bờ. Đương nhiên là trường khí xấu, Và nó sẽ ảnh hưởng tới người đi qua môi trường đó....Tương tự như vậy, với các hiện tượng kiêng cữ. Đương nhiên, với cách giải thích này, đã xác định, những tri thức tinh hoa của tổ tiên người Việt phải hiểu rất rõ về tương tác của "Khí" trong môi trường cuộc sống. Và khái niệm "Khí" cho đến hôm nay - trừ nhân danh nền văn hiến Việt - vẫn còn là một khái niệm bí ẩn trong hệ thống tri thức của nền văn minh Đông phương. PHẦN II. Những nghi lễ truyền thống có tính kiêng cữ. Thưa quý vị và các bạn. Ngoài những hiện tượng khách quan và phải kiêng cữ theo truyền thống, thì ông cha ta còn có những nghi lễ mang tính kiêng cữ. Thí dụ - được đề cập đến ngay trong bài viết của ông Thích Tâm Hiệp về nghi lễ Tang ma, như: lễ 49 ngày, 100 ngày. Căn cứ vào đâu để có nghi lễ này? Tại sao không 21 ngày, 36 ngày...? Mà cứ phải đúng 49 và 100? Hoặc tại sao "Mùng 5/ 14/ 23" Âm lịch lại kiêng? Tại sao đám tang phải mặc áo sô trắng, con trai đội mũ rơm? Vì sao mẹ mất phải đi giật lùi trước quan tài, bố mất đưa đằng sau quan tài, đúng với câu "cha đưa, mẹ đón"? ,,,vv.... Những nghi lễ này mang tính chủ quan , do con người quy định. Vậy nó xuất phát từ cái gì để có nhận thức đó? Thưa quý vị và các bạn. Rất nhiều kẻ tự nhận mình là trí thức, là hiểu biết, thậm chí có học hàm, học vị và cả quyền lực học thuật, một thời ra rả như ve rằng: Văn hóa Việt ảnh hưởng của Tàu. Nhưng chính người Tàu lại không hiểu gì về nguyên nhân của nó (?!). Ví dụ như kiêng ngày Tam Nương, được giải thích do ba người đàn bà nổi tiếng Trung Hoa vào cung cấm, là Bao Tự, Đát Kỷ và Điêu Thuyền (Có vài dị bản khác nhau). Vấn đề kiêng cữ trong truyền thống dân gian Việt, nhiều đến nỗi có hẳn những cuốn sách dày cộp viết về đề tài này. Do đó, nếu giải thích hết thì không thể là việc của một cá nhân và hoàn toàn không tưởng; hoặc phải mất cả đời, như cụ Lê Gia giải thích bản chất nội hàm các ca6un thành ngữ, tục ngự, phương ngôn....Việt Nam. Nhưng tôi hy vọng rằng, tôi đưa ra được một định hướng cho các hiện tượng kiêng cữ này, và thế hệ sau tiếp tục. Trước hết tôi cần xác định rằng: tất cả mọi hiện tượng văn hóa truyền thống Việt, chi tiết đến từng nghi lễ trong các phong tục truyền thống Việt, trong đời sống của người Việt, thâm chí trong cả ngôn ngữ Việt... đều là hệ quả của thuyết ADNH và kinh Dịch. Ngay cả những nghi lễ mà tôi đã trình bày ở trên. Tôi xin lần lượt trình bày những vấn đề đã nêu. a/ Tục cúng cơm 49 và 100 ngày. Tất cả người Việt chúng ta đều biết rõ câu chuyện "Con Rồng, cháu Tiên" trong đó bọc trứng có 100 quả, 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo Mẹ lên núi. Đây chính là mô tả độ số của vũ trụ với Hà Đồ - Lạc Thư. Tổng có 100 vòng tròn. 50 vòng đen (Âm) và 50 vòng trắng (Dương). * Tục cúng 100 ngày. Khi hết chu kỳ tính theo ngày của một năm là 100 ngày cúng cơm, thì sẽ chuyển bàn thờ người quá cố lên bàn thờ chung của gia đình. * Tục cúng 49 ngày. con số 50 ngày là hết một chu kỳ Dương (Dương trước), nhưng nếu vậy thì cô Dương, hay thuần Dương. Bởi vậy bớt một ngày là 49. Để không phạm vào Cô Dương. b/ Các kiêng cữ mùng 5/ 14/ 23. Đây là chu kỳ 9 với độ số của trung cung là 5. Trong đó, các ngày 14 = 5 + 9; 23 = 14 + 9. Tức Ngũ Hoàng nhập Trung theo Huyền không phi tinh. Hay nói cách khác: Nó cũng thuộc về hệ quả của thuyết ADNH. Ngũ hoành là một sao xấu. Nên nhập trung ứng với công việc sẽ không tốt. c/ Kiêng cữ 6 ngày Tam Nương sát. Gồm: mùng 3; 7; 13; 18; 22; 27 Âm lịch hàng tháng. Đây chính là điểm chết của chu kỳ Lục Khí trong sự vận động của 30 ngày. Hoàng Triệu Hải - GD TTNC LHDP đã có một bài viết chi tiết về vấn đề này. Thưa quý vị và các bạn. d/ "Cha đưa, mẹ đón" trong nghi lễ tang chế. Cha là Dương, nên theo cha theo nguyên lý "Dương trước, Âm sau". mẹ là Âm nên con đi trước giật lùi, nhưng hướng về linh cữu. vì Mẹ là Dương so với các con, theo nguyên lý "Âm thuận tùng Dương", nên các con phải đi giật lùi để hướng về linh cữu của mẹ.. e/ Mặc áo sô trắng để chống bức xạ của Tử Khí. Sau này những nhà khoa học cũng xác định màu trắng có tác dụng tán các bực xạ xáu. Nên trong các phòng có liên quan đến bức xạ, các người làm việc thường mặc áo Blu trắng. Nhất là trong các lò phản ứng hạt nhân. h/ Con trai đội mũ rơm. Hiện tượng này, anh chị em học viên các lớp Địa Lý Lạc Việt đều đã được biết rằng: Mọi vật thể xốp có tính hấp thụ và ngăn cản các bức xạ xấu. Mũ rơm là một dạng vật thể xốp. Và những người con trai phải đi sát quan tài. Nên đội mũ rơm để tránh bức xạ của Tử Khí xâm nhập vào não. Thưa quý vị và các bạn. Tất cả những điều mà tôi trình bày trên đây, chỉ là nhưng ví dụ, có tính định hướng nghiên cứu , khi xác định rằng: Thuyết ADNH và kinh Dịch, chi phối tất cả đời sống và văn hóa truyền thống Việt. Bởi vì, dân tộc Việt chính là chủ nhân đích thức của nền văn minh Đông phương. Có thể có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng tôi không tranh luận. Nhưng cách giải thích của tôi, có tính hệ thống và nhất quán với mối liên hệ hợp lý cho tất cả các vấn đề liên quan đến nó. Đồng thời, nó cũng xác định câu nói nổi tiếng của SW Hawking, khi ông phát biểu - Đại ý - rằng: "Khi xác định một lý thuyết thống nhất, thì những quy luật tự nhiên của vũ trụ được nhân thức, sẽ giúp điều hành xã hội của chúng ta". Những nghi lễ, tập tục văn hóa truyền thống Việt, hoàn toàn thuận theo thuyết ADNH - chính là Lý thuyết thống nhất, mà nhân loại đang tìm kiếm. Xin cảm ơn sự quan tâm và chia sẻ.
    2 likes
  29. Âm lịch, nguồn gốc địa lý phong thủy THẦY THIÊN SỨ - NGUYỄN VŨ TUẤN ANH trực tiếp giảng dạy
    2 likes
  30. 2020 và 2021 mạng Thổ, sẽ rơi vào trường hợp mạng mẹ Mộc khắc con Thổ. Đây là tối kỵ trong việc sinh con hợp tuổi cha mẹ. Nên cân nhắc kỹ trước khi tư vấn và nên có trách nhiệm hơn với lời tư vấn của mình. Thân.
    2 likes
  31. Tìm hiểu phong tục, văn hoá của tộc người Việt cổ ở Indonesia 31/08/2018 07:21 TĐO-Truyền thông quốc tế tán thành giả thuyết bộ tộc người Minangkabau sinh sống phía tây đảo Sumatra (Indonesia) có nguồn gốc từ Việt Nam. Giả thuyết lịch sử cho rằng sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, một bộ phận người Việt đã lên thuyền ra khơi đến eo biển Malacca, sau đó định cư tại phía tây đảo Sumatra, Indonesia. Cũng từ đó, dân tộc người Minangkabau sống tại quốc đảo này cho đến ngày nay. Theo The Daily Beast, từ lâu đời, tộc người Minangkabau theo chế độ thị tộc mẫu hệ như người Việt cổ. Người Minangkabau phần lớn theo đạo Hồi nhưng tín ngưỡng của họ là thuyết vật linh. Họ tin rằng vạn vật đều có linh hồn. Thuyết này cũng là tín ngưỡng đầu tiên của người Việt cổ trước khi các đạo khác du nhập vào đất nước. Tộc Minangkabau có những điệu nhảy và bản nhạc truyền thống mà họ luôn tự hào như điệu múa nến kinh điển. Nhắc đến đạo Hồi, nhiều người thường nghĩ đến các chế độ hà khắc và số phận nhỏ bé của người phụ nữ. Nhưng với tộc người Minangkabau, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội đặc biệt hơn cả. Đến đảo Sumatra, nếu hỏi người dân chắc chắn du khách sẽ nhận được câu trả lời: “Phụ nữ là chủ gia đình”. Theo đó, phụ nữ và nam giới trong gia đình chia sẻ quyền lực và tuân thủ nguyên tắc giữ trọn vẹn trách nhiệm, bảo vệ lẫn nhau trong xã hội. Người dân Minangkabau sinh sống bằng nghề trồng lúa nước với tục ăn trầu, nhuộm răng từ lâu đời. Họ còn có những nét văn hoá khác gần gũi với người Việt. Ảnh tư liệu về phụ nữ tộc Minangkabau thời xa xưa tại Indonesia. Phụ nữ cũng giữ trách nhiệm sở hữu mọi tài sản trong gia đình tộc Minangkabau. Cụ thể, đất đai, nhà ở, trại chăn nuôi… đều phải truyền từ mẹ sang con gái. Người cha trong gia đình có thể chuyển tài sản thừa kế cho con trai bằng thu nhập từ công việc kinh doanh của họ. Lễ cưới truyền thống của các cặp đôi Minangkabau. Mọi nghi thức, lễ hội quan trọng đều do phụ nữ chủ trì như lễ nhậm chức lãnh đạo trong gia tộc, đám cưới, thu hoạch mùa màng… Đám cưới của các cặp đôi Minangkabau được tổ chức, trang hoàng lộng lẫy với lễ phục truyền thống. Người Minangkabau trong trang phục truyền thống cổ đã sinh sống tại Indonesia từ lâu đời. Đàn ông và phụ nữ tộc người Minangkabau có những khái niệm bình đẳng như các xã hội khác. Dù căng thẳng có thể xảy ra đôi lúc, vị trí người phụ nữ vẫn được tôn trọng bởi toàn thể cộng đồng. Phụ nữ có thể tự do báo cáo, lên án mọi hành động bạo lực về tinh thần hay thể xác trong gia đình mình. Phụ nữ tộc Minangkabau được tôn vinh và giữ vị trí quan trọng trong xã hội. Khi một cặp vợ chồng kết hôn, chú rể sẽ chuyển đến sinh sống tại nhà cô dâu. Mọi quyết định trong gia đình đều được cân nhắc giữa ý kiến của cả vợ và chồng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, phụ nữ nắm quyền quyết định chính trong các vấn đề liên quan đến hoạt động gia đình, thu chi, mua sắm và giáo dục trẻ em… “Phụ nữ là mối liên hệ quan trọng của hiện tại và quá khứ. Nếu gặp một phụ nữ người Minangkabau đang mang thai, mọi người đều thực sự hy vọng cô ấy sẽ cho ra đời một bé gái đầu lòng”, cựu giáo sư Taufil Abdullah, chủ tịch Uỷ ban Khoa học Xã hội tại Học viện Khoa học Indonesia chia sẻ. Phụ nữ có vị trí quan trọng với tộc người Minangkabau. Ngôi nhà truyền thống của người Minangkabau với tên gọi Rumah Gadang sở hữu kết cấu đặc biệt, có mái cong vút như mái chùa cổ Việt Nam. Mái nhà được làm từ gỗ surian địa phương với cấu trúc hình vòm, cong vút như chiếc sừng trâu. Những bức tường dệt bằng tre là biểu tượng phong cách xây dựng nhà truyền thống của người Minangkabau. Kiến trúc bề thế đặc biệt của ngôi nhà này không chỉ giúp tộc người Minangkabau có nơi cư trú mà còn là không gian phục vụ các cuộc họp, nghi lễ trang trọng. Ngôi nhà truyền thống Rumah Gadang. N.H Tổng hợp từ báo chí nước ngoài Nguồn: Báo Thời Đại
    2 likes
  32. NHỮNG NGUYÊN LÝ CĂN BẢN. III. Mối liên hệ Địa chi trong gia đình. A/ SAO MỘC VÀ THẬP NHỊ ĐỊA CHI. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Tính đặc thù của vấn đề nghiên cứu nền văn minh Đông phương - mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành - chính là một vấn đề chưa từng có trong lịch sử văn minh nhân loại. Đó là vì chúng ta phải phục hồi một lý thuyết cổ xưa đã tồn tại trong lịch sử. Chứ không phải chúng ta tổng hợp những nhận thức trực quan về những hiện tượng qua sát được, để trở thành một lý thuyết. Chính vì vậy, chúng ta cần có phương pháp nghiên cứu, không thể theo lối mòn như trong lịch sử hình thành các học thuyết khoa học của nền văn minh hiện nay. Giáo sư Lê Văn Sửu viết - Đại ý: "Nền khoa học hiện nay có những phương tiện cực kỳ tình xảo. Nhưng để khám phá những bí ẩn của nền văn minh Đông phương thì vẫn gặp khó khăn to lớn". Đó chính là do sai lầm về phương pháp nghiên cứu. Trong trường hợp của việc nghiên cứu những bí ẩn của nền văn minh Đông phương, chẳng ai có thể dùng kính hiển vi điện tử để phóng to ký hiệu quái Càn là gì?! Nhưng với suy nghĩ đã trở thành chấp ngã trong quá trình phát triển của cả một nền văn minh và không có ngoại lệ. Nên khi tìm hiểu về nền văn minh Đông phương, những nhà nghiên cứu cũng bắt đầu từ nếp suy nghĩ cố hữu này. Họ cho rằng các ngành Đông Y, Địa lý phong thủy.... chỉ là do "tích lũy kinh nghiệm". Tức là cũng thực chứng, thực nghiệm y như những gì mà nền văn minh hiện nay dùng để tổng hợp đưa lên thành một lý thuyết. Giở những cuốn sách giới thiệu về Địa Lý Phong thủy phương Đông, phần nhiều, các tác giả nhận định rằng: Địa lý phong thủy là do con người bắt đầu từ cuộc sống ở những hang động, rồi họ rút kinh nghiệm tạo nên môn Địa Lý phong thủy. Rồi họ bưng nguyên si nghĩa đen của từ "Phong thủy" và giải thích "Phong là gió. Thủy là nước" - Phong thủy là gió và nước. Việc xác định độ ẩm và tốc độ gió trong căn hộ là một trong những đề tài nghiên cứu của Tiến Sĩ Bùi Văn Chân từ 50 năm trước, tại khi tập thể Chung Tự ở Hanoi. Wow! Lạy Đức Ala toàn năng và cao cả. Vậy "Phoengshui" là rất có "cơ sở khoa học", vì nó cũng bắt đầu từ những thông số cơ bản của ngành Vật Lý kiến trúc. Hơ! Xin lỗi! Gặp các thày bà như vậy, hoặc những cuốn sách mở đầu như vậy, tôi đi chỗ khác chơi. Tóm lại, với những tư duy lối mòn như vậy thì không thể nào khám phá được những gía trị của nền văn minh Đông phương. Đó chính là những sai lầm về phương pháp nghiên cứu. Một trong những yếu tố cản trở lớn nhất trong việc tìm hiểu bản chất của nền văn minh này. Nhưng sự khám phá những bí ẩn huyền vĩ của nền văn minh này, đòi hỏi một tư duy tổng hợp những tri thức mũi nhọn của nhiều ngành khoa học. Từ lịch sử, xã hội và cả những tri thức của toàn bộ các ngành khoa học tự nhiên, kể cả vật lý thiên văn cho tới những khái niệm toán học. Bởi vì Lý học Đông phương bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, con người và xã hội, cũng như toàn bộ lịch sử hình thành vũ trụ. Do đó, khi nghiên cứu về Lý học Đông phương - mà nền tảng là học thuyết Âm Dương Ngũ hành - cần phải đi tìm và xác định tính cấu trúc hợp lý trong mối liên hệ mọi đại lượng, khái niệm có tính hệ thống và nhất quán trong nội hàm của một lý thuyết vô cùng đồ sộ và bao trùm lên mọi lĩnh vực. Do đó, nó cần những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học, làm chuẩn mực để thẩm định tính khoa học trong việc phục hồi một hệ thống lý thuyết. Khó khăn tiếp theo, chính là vấn đề thuộc phương pháp cụ thể. Nếu như để nghiên cứu hiện tượng hoặc cấu trúc vật chất trong nghiên cứu khoa học hiện đại, có thể dùng phương pháp loại suy đơn giản và cô lập hiện tượng, đối tượng nghiên cứu để đi tìm bản chất của vấn đề. Như việc tìm kiến hạt Higg. Nhưng nghiên cứu Lý học thì không. Bởi vì, nó là kết quả của một sự giải thích mang tính lý thuyết. Thí dụ: Một quẻ Dịch tốt như Địa Thiên Thái, xác định chuyên phát triển của một doanh nghiệp. Nhưng đó là sự giải thích của một phương pháp (Tính dự báo) của một hệ thống lý thuyết. Và cho dù sự lặp lại của quẻ này luôn luôn đúng cho mọi hiện tượng dự báo, thì nó vẫn không thể chứng tỏ được bản chất hình thành nên quả Địa Thiên Thái. Do quẻ này là sự tông hợp của mọi hiện tượng. Nói rõ hơn là: Bằng thực nghiệm trên máy LHC, các nhà khoa học có thể xácđịnh "Không có hạt Higg". Nhưng bằng thực nghiệm ứng dụng của quẻ bói, không nói lên điều gì cho bản chất của quẻ đó và nguyên nhân hình thành nên nó. Mà người ta chỉ có thể xác định phương pháp đó có hiệu quả, quẻ bói nghiệm. Bởi vậy, nghiên cứu Lý học Đông phương - để tìm bản chất chân lý khách quan đằng sau các phương pháp ứng dụng và cả một hệ thống lý thuyết đằng sau nó, phải bằng những chuẩn mực giành cho một hệ thống lý thuyết, mà tôi đã trình bày ở trên. Cụ thể, vấn đề được trình bày trong bài viết này là ý nghĩa của thập Thiên can và ảnh hưởng của nó lên cuộc sống con người. Hiện nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng: Thập Thiên can có nguồn gốc văn hóa phương nam. Cụ thể là của Việt tộc. Cụ thể là nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Quang, đã chứng minh rất xuất sắc về cội nguồn của Thập nhị Địa chi thuộc về văn hiến Việt. Phương pháp của ông chủ yếu là tư liệu lịch sử và so sánh đối chiếu biểu tượng 12 con giáp. Nhưng bằng một phương pháp khác, dựa vào tiêu chí khoa học, phát biểu như sau: "Một lý thuyết khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phải ánh một thực tại có thể kiểm chứng được. Do đó, tôi đặt vấn đề: mô hình chu kỳ 12 con giáp xuất phát từ đâu? Trong các bản văn chữ Hán không thấy nói đến thực tại khách quan nào để lập thành mô hình biểu kiến chu kỳ 12 con giáp?! Đây là sự xác định chắc chắn rằng: Nền văn minh Hán không thể là chủ nhân của mô hình biểu kiến 12 con giáp. Vì nó không xác định được nguyên nhân khách quan để lập thành mô hình này. Trong quá trình nghiên cứu Lý học Đông phương, so sánh đối chiếu các kết quả, tôi xác định rằng: Chính chu kỳ của Sao MỘC quay quanh Địa Cầu là chu kỳ của 12 con giáp trong Lý học Đông phương. Khoa Thiên văn học hiện đại đã chứng minh rằng: Chu Kỳ sao Mộc - Thái Tuế thuộc Mộc trong Lý học Đông phương - quay quanh Mặt trời tương đương 11, 8 năm Địa Cầu (Có sách chép 11, 89). Nhưng năm Dương lịch (Lịch Tây) có 365 ngày. Còn Âm lịch (Lịch Ta) chỉ có 355 (Hoặc 356) ngày. Sai số chính xác của 12 năm lịch Ta (Công thêm ba tháng nhuận) - chu kỳ 12 con giáp = với 11.8 lịch Tây là không đáng kể. Sự xác định sao Mộc - Ngôi sao lớn nhất gần Địa cầu sau Mặt trời, và chính là sao Thái Tuế trong Lý học Đông phương - đã xác định tính khoa học theo đúng tiêu chí khoa học của một lý thuyết khoa học và nó cũng xác định tính quy luật khách quan tương tác của sao Mộc/ Thái Tuế lên địa cầu. Chính quy luật tương tác của sao Mộc trong Thái dương hệ là cơ sở của 12 Địa Chi và là chủ đề của bài viết này. Ảnh hưởng của sao Mộc trong 12 năm Địa chi tất nhiên được phân Âm Dương, mỗi chu kỳ Âm Dương là 6 năm, chính là ý nghĩa của Lục Khí trong 12 con giáp được mô tả trong bàng tuần hoàn LẠC THƯ HOA GIÁP mà tôi đã chứng minh. Trên cơ sở này, tôi tiếp tục trình bày về tương tác của Thập nhị Địa chi trong quan hệ gia đình. Xin cảm ơn sự quan tâm, chia sẻ của quý vị va 2anh chị em. B/ TƯƠNG TÁC 12 ĐỊA CHI. Như tôi đã trình bày ở bài trước. Do chu kỳ của sao Mộc/ Thái Tuế trong Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt - là thực tại làm nên mô hình biểu kiến là 12 Địa Chi. Bội số chung nhỏ nhất của 12 Địa Chi phối với 10 Thiên can chính là con số 60 của LẠC THƯ HOA GIÁP - nhân danh nền văn hiên Việt. Và đó chính là tính phân loại vận khí do tương tác của vũ trụ - 10 Thiên can - và tương tác mạnh ở Thái Dương hệ với sao Thái Tuế / Sao Mộc làm thành vẫn khí hàng năm. Các mối liên hệ về Thiên Can và Vận khí tôi đã trình bày. Trong bài này tôi tiếp tục trình bày về tương tác 12 Địa chi. Thưa quý vị và các bạn. Chính vì tình tương tác phức tạp và không thể có một mẫu số chung cho các tương tác này, nên không thể có cặp vợ chồng nào tuyệt đối tốt. Qua đó thấy rằng: Phương pháp Luận tuổi Lạc Việt phản ánh đúng thực trạng cuộc sống, vì tính không thể tuyệt đối ngay trong lý thuyết này..Ngay cả việc bồ sung tuổi những đứa con với xác xuất cao nhất là 60 Nam x 60 Nữ x 60 tuổi con út cũng không thể tuyệt đối. Lý tưởng nhất về mặt lý thuyết là tập hợp các con trong gia đình thành những cách cục tuyệt hảo - các Đại gia hoặc công chức cao cấp thì vào những vận hạn xung khắc tuổi các thành viên thì vẫn có tính thăng trầm của số phận.. Chưa nói đến vấn đề các yếu tố trong tập hợp "Luận tuổi Lạc Việt", cũng chỉ là một trong ba tập hợp khác là Địa Lý phong thủy và số phận. Tuy nhiên phương pháp "luận tuổi Lạc Việt" là phương pháp có xác xuất chính xác cao nhất so với các phương pháp khác và dễ dự báo nhất. BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH hi xem tuổi hợp khắc, nếu hai tuổi khắc nhau vẫn có thể ăn ở với nhau được nếu như CUNG và MỆNH hoà hợp nhau. * Tuổi Tam hợp: Thân Tý Thìn, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi, Tỵ Dậu Sửu * TuổiI Nhị hợp: Tý Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tỵ Thân, Ngọ Mùi. * Tuổi Tứ hành xung: Tý Ngọ, Sửu Mùi; Dần Thân, Mão Dậu, Thìn Tuất, Tỵ Hợi. * Tuổi Lục Hại: Tý hại Mùi, Sửu hại Ngọ, Dần hại Tỵ, Mão hại Thìn, Thân hại Hợi, Dần hại Tuất. Như tôi đã trình bày ở bài trước.
    2 likes
  33. Vì là bài nghiên cứu quan trọng. Tôi comment để cập nhật trên diễn đàn.
    2 likes
  34. Thày Thiên sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh viết: ĐỨC ĐẠTLAILATMA NÓI: "Không có tôn giáo nào cao trọng hơn sự thật!". Nhân danh nền văn hiến Việt: Thuyết Âm Dương Ngũ hành mô tả chân lý cuối cùng và là kết luận cuối cùng. Kết thúc một chương dài đầy gian khổ đến đỉnh vinh quang của toàn bộ lịch sử văn minh nhân loại. Tôi sẽ viết tiếp đề tài đang bỏ dở: PHẬT GIÁO CÓ PHẢI CỨU CÁNH DUY NHẤT CỦA CON NGƯỜI KHÔNG? ==================== TÔN GIÁO NÀO TỐT NHẤT? Đức Đạt Lai Lạt Ma Đây là một mẩu đối thoại ngắn giữa thần học gia người Brazil, Leonardo Boff, và Đức Đạt Lai Lạt Ma. (Leonardo là một trong những người cải cách Thần học Giải phóng). Tại một cuộc hội thảo bàn tròn về tôn giáo và tự do có Đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi cùng tham dự. Lúc tạm nghỉ, tôi hỏi ngài, vừa tinh nghịch vừa tò mò: “Thưa Ngài, tôn giáo nào tốt nhất?”Tôi nghĩ ngài sẽ nói: “Phật giáo Tây Tạng” hoặc “Các tôn giáo phương đông, lâu đời hơn Kitô giáo nhiều” Đức Đạt Lai Lạt Ma trầm ngâm giây lát, mỉm cười và nhìn vào mắt tôi… Điều này làm tôi ngạc nhiên vì tôi biết đây là một câu hỏi ranh mãnh. Ngài trả lời: “Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa anh đến gần Đấng Tối Cao nhất. Là tôn giáo biến anh thành con người tốt hơn.” Để dấu sự bối rối của tôi trước một câu trả lời đầy khôn ngoan như thế, tôi hỏi: “Cái gì làm tôi tốt hơn?” Ngài trả lời: “Tất cả cái gì làm anh biết thương cảm hơn, biết theo lẽ phải hơn, biết từ bỏ hơn, dịu dàng hơn, nhân hậu hơn, có trách nhiệm hơn, có đạo đức hơn. Tôn giáo nào biến anh thành như vậy là tôn giáo tốt nhất.” Tôi thinh lặng giây lát, lòng đầy thán phục, ngay cả bây giờ, khi nghĩ đến câu trả lời đầy khôn ngoan và khó phản bác: -“Anh bạn ơi, tôi không quan tâm đến tôn giáo của anh hoặc anh có ngoan đạo hay không. Điều thật sự quan trọng đối với tôi là cách cư xử của anh đối với người đồng đẳng, gia đình, công việc, cộng đồng, và đối với thế giới. Hãy nhớ rằng vũ trụ dội lại hành động và tư tưởng của chúng ta. Quy luật của hành động và phản ứng không chỉ dành riêng cho vật lý. Nó cũng được áp dụng cho tương quan con người. Nếu tôi ở hiền, thì tôi gặp lành. Nếu tôi gieo gió, thì tôi gặt bão. Những gì ông bà nói với chúng ta là sự thật thuần túy. Chúng ta luôn nhận được những gì chúng ta mong muốn cho người khác. Hạnh phúc không phải là vấn đề số mệnh. Đó là vấn đề lựa chọn.” Cuối cùng ngài nói: -“Hãy suy tư cẩn thận vì Tư Tưởng sẽ biến thành Lời Nói. Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời Nói sẽ biến thành Hành Động. Hãy hành xử cẩn thận vì Hành Động sẽ biến thành Thói quen. Hãy chú trọng Thói Quen vì chúng hình thành Nhân Cách. Hãy chú trọng Nhân Cách vì nó hình thành Số Mệnh, và Số Mệnh của anh sẽ là Cuộc Đời của anh và … Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự Thật.”
    2 likes
  35. Thày Thiên sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh viết: NHÂN DỊP NGÀI DONAL TRUMP SẮP ĐI NGA Trước hết tôi bày tỏ nhiệt liệt hoan ngênh ngài TT Hoa Kỳ đi Nga và tôi tin rằng sẽ có sự đón tiếp trọng thị của ngài Putin với quốc khách của nước Nga. Từ rất lâu trên dd lyhocdongphuong.org.vn - tức là ngay cả khi Nga mới chiếm Crimea - trong topic "Sự kiện và vấn đề Châu Á Thái Bình Dương", tôi đã khuyên nước Mỹ bỏ qua vấn đề này và hợp tác với Nga. Về phía ngược lại, tôi cũng khuyên nước Nga không nên quá quan trọng Crimea để làm mất lòng thế giới. Tôi hy vọng Nga Mỹ sẽ công tác như họ đã từng cộng tác và vốn là Đông Minh của nhau từ thời Thế Chiến thứ II. Tôi tin rằng: Một số những điều khoản của những Hiệp Ước Đồng Minh này vẫn còn hiệu lực đến ngay hôm nay. Thế giới này đã phát triển và làm thay đổi về chất những mối quan hệ chiến lược về cả kinh tế và quân sự. Những căn cứ quân sự có từ thời thế chiến thứ II, đã trở nên lỗi thời khi tên lửa có thể bắn qua nửa vòng trái Đất. Và những đội quân viễn chinh có thể di chuyển trong vòng một ngày để đi qua nửa bên kia quả Địa cầu. Cho nên, nó không còn cần thiết những căn cứ quân sự quá gần lãnh thổ đối phương - lúc này trở thành con tin của các cuộc tấn công phủ đầu. Tương tự như vậy với Crimea. Bởi vậy, tôi rất vui khi ngài Trump tỏ ra không quan trọng vấn đề Crimea trước khi gặp ngài Putin. Có thể tôi đã "cầm đèn chạy trước ô tô", khi khuyên quá sớm cho một quan hệ Nga Mỹ mấy năm trước. Vào thời điểm mà cả hai nước còn cần phải giải quyết một vài vấn đề. Nhưng đây là thời điểm thích hợp để các vị tiến lại gần nhau hơn. Cá nhân tôi rất kỳ vọng vào cuộc gặp Thượng đỉnh Nga Mỹ sắp tới. Cho nên tôi chúc các vị sẽ ký được những hiệp định khung cho mối quan hệ lâu dài của hai nước. Ngài Trump rất kính trọng Thượng Đế! Cho nên tôi xin Thượng Đế phù hộ ngài. Mọi sự tốt đẹp đang chờ hai quốc gia này ở phía trước.
    2 likes
  36. Gia đình bạn có 2 năm để sinh là Kỷ Hợi 2019 và Đinh Mùi 2027, với tương tác tuổi gia đình bạn thì 2 năm này là tôi thấy thích hợp nhất
    2 likes
  37. MINH TRIẾT LÀ GÌ? Trich: ["Đại học Chicago (Mỹ) đã công bố một dự án nghiên cứu định nghĩa minh triết với kinh phí cả triệu đô la."] Tiếp theo. Để có một định nghĩa chuẩn mực về những khái niệm, mà thiên họ "chém gió vung xích chó", nhưng lại chẳng hiểu nó là cái gì. Cái mà dân "ten Fb" gọi là "nói cứ như đúng rồi"! Nhớ lại thảm cảnh Giáo sư Viện sĩ - lại hẳn của Viện Hàn lâm khoa học Pháp nữa mới ghê. Phải chi là của Hội đồng tộc trường liên minh các bộ lạc ở Amazon thì không nói làm gì. Đây hẳn Viện Hàn lâm "pha học" của Pháp. Kinh chưa?! Ông ấy mặt lạnh như tiền, với những cơ mặt co giãn một cách rất nghiêm túc, những cái gật đầu trịnh trọng, những cái nhìn lướt trên đầu cử tọa cứ như một chính trị gia đang thuyết phục quần chúng. Ông ta phán: "Hệ thống chứng minh "Chữ Việt cổ" của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền chưa có "cơ sở khoa học". Nhưng khi được hỏi: Thế nào là "cơ sở khoa học". Ông ấy lặn mất tăm. Ông ấy là Phan Huy Lê. Hẳn Viện Sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Hẳn Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, lại còn Chủ tịch Hội Sử Học Việt Nam nữa chứ. Vậy mà còn "Chém gió vung xích chó"; nói cứ như "đúng dồi", mà chẳng hiểu mình đang nói cái gì. Nên thảo nào: Môn Sử trong ngành Giáo Dục Việt Nam và chất lượng học sinh ngày càng tệ hại. Đấy là hẳn báo nói, tôi chỉ thuật lại. Không có chuẩn mực để thẩm định của cái gọi là "cơ sở khoa học" thì bít thế chó nào được, thằng nào đúng, thằng nào sai?! Nhưng ông Đỗ Văn Xuyền thì cứ phải sai mới được. Vì nó chưa có "cơ sở khoa học". Hơ? Còn lão Gàn đây không ngớ ngẩn như ngài Viện Sĩ đâu nhá. Lão chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến có chuẩn mực rõ ràng. Đấy chính là những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Nhưng nó vưỡn chưa được "khoa học" công nhận. Mà đến tận ngày hôm nay, chẳng ai hiểu khái niệm "khoa học" có nghĩa là gì? kể cả anh Gu Gồ. Hic. Nghĩ mà chán đời! Vài dòng "tám xị", cho nó xả cái 'sì choét", Bây giờ lão Gàn bàn về việc đi tìm nguyên nghĩa của các khái niệm được đặt ra trong bài viết này. Vấn đề đầu tiên lão Gàn trình bày ở đây là: 1/ Phân loại khái niệm. a/ Sự cần thiết phải phân loại khái niệm: Chúng ta đang sống trong một thế giới thông tin, mà thời gian bắt đầu từ khi con người có chữ viết. Đến ngày nay, nền văn minh của các dân tộc đã sản sinh ra hàng vạn, hàng chục vạn từ ngữ để trao đổi. Trong quá trình phát triển của nền văn minh. Một tác phẩm văn học, thi ca, một công trình nghiên cứu cũng phải sử dụng hàng ngàn từ chuyên môn, hoặc phổ thông. Trong khi loạt bài viết này chỉ định nghĩa có ba từ: "Văn hóa"; "Khoa học" và "minh triết". Nhưng để mô tả ba từ trên, phải sử dụng hàng vạn từ khác để mô tả. Nhưng chúng ta không thể định nghĩa hết tất cả những từ dùng trong một bài viết. Do đó, cần phải phân loại khái niệm, để dẫn đến sự xác định ba từ trên, trên cơ sở những khái niệm dùng để mô tả nó. a.1/ Từ định danh quy ước. Đây là một tập hợp bao gồm tất cả các từ ngữ mô tả những sự vật, sự việc, sự kiện, trạng thái vật chất được hình thành phổ biến và được tổng hợp và đặt tên cho nó. Con người có thể hiểu được khái niệm bằng sự tập hợp những nhận thức trực quan. Thí dụ: Cái kim, cái nhà, quả táo, con chó, con mèo, cháy, bùng nổ, lạnh, buồn, vui, hỷ, nộ, ái ố....vv.... a.2/ Từ định danh những giá trị trừu tượng. Đây là tập hợp gồm tất cả những từ ngữ mô tả những khái niệm đòi hỏi phải có sự tổng hợp những giá trị nhận thức cụ thể, hoặc kết quả của sự quán xét và tổng hợp mọi hiện tượng, sự việc, sự vật liên quan đến nó. Thí dụ: Văn hóa, khoa học, minh triết, vật chất, tinh thần, tôn giáo, phương trình (Toán học), mệnh đề,..... Những từ ngữ trong tập hợp này - như sự phân loại trên - đôi khi đòi hỏi phải cập nhật, bởi sự tiến hóa của nền văn minh , khi những gía trị nhận thức thay đổi - thí dụ như khái niệm "vật chất". Trong lịch sử văn minh nhân loại, con người phải định nghĩa lại khái niệm "vật chất" đến 4 lần. Tôi là người thứ 5. Chính vi những từ ngữ trong tập hợp "a.2/" này, đòi hỏi phải có "sự quán xét và tổng hợp mọi hiện tượng, sự vật, sự việc liên quan đến nó" (Theo tinh thần phân loại trên). Cho nên, nó còn cần đến cả sự phát triển của các nền văn minh sử dụng nó, để có thể tổng hợp được nhiều nhất những giá trị liên quan đến khái niệm của nó. Đó là một trong những yếu tố quan trọng, gây ra nhận thức khái niệm khác nhau về từ ngữ "văn hóa", hoặc "vật chất"...vv.... b/ Việc phân loại khái niệm của các danh từ, là bước đầu tiên để mô tả những khái niệm mà nó thể hiện. Vấn đề được đặt ra trong loạt bài viết này - "Khoa học"; "văn hóa"; Minh triết" - là mô tả khái niệm thuộc nhóm a.2/ "Từ định danh những giá trị trừu tượng". Từ cơ sở sự phân loại như trên, là tiền đề dẫn đến mô tả nội hàm khái niệm. Cho nên nó cần phải có chuẩn mực cho một khái niệm được coi là đúng. Cụ thể: nó không thể là sự tổng hợp của xấp sỉ 400 định nghiã về "văn hóa" được. Chân lý chỉ có một mà thôi - nói theo "Nghịch lý Cantor": "Chỉ có một tập hợp bao trùm lên tất cả mọi tập hợp và không có một tập hợp nào lớn hơn nó". Đó là vấn đề tiếp theo được đặt ra: 2/ Chuẩn mực cho một khái niệm đúng. Khi một khái niêm về một từ ngữ được mô tả, là sự tổng hợp của tư duy nhận thức về khái niệm đó, thì về nguyên tắc: Chỉ có một định nghĩa được coi là đúng hơn cả. Và nó phải được đối chiếu với một chuẩn mực để thẩm định tính chân lý của nó. Đấy là nội dung của phần 2 này. Trong cuộc sống hàng ngày, có lẽ tất cả mọi con người đều phải, nghe, xem những cuộc cãi nhau như mổ bò. Từ cuộc "tranh luận" của các bà bán cá ở chợ Đồng Xuân, đến việc cãi nhau để xác định chân lý trong những giá trị cao quý của nền văn minh, của các học giả khả kính. Điếc cả tai, mà chẳng biết ai đúng ai sai. Xã hội càng phát triển thì những chuẩn mực càng phải hoàn thiện để so sánh, đối chiếu. Thí dụ như: luật pháp, các giá trị đạo đức...vv...Trong cuộc sống xã hội thì phải chính danh các từ ngữ. Đây chính là sự tối thiểu và giản yếu nhất của phương pháp chính danh theo Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt. a/ Chính danh là gì? Trong Luận ngữ, khi được hỏi: "Nếu thày ra làm quan thì việc đầu tiên thày sẽ làm gì?". Tử viết: "Việc đầu tiên là ta phải chính danh". Lại hỏi: "Thế nào là chính danh?". Trả lời: "Gọi tên đúng sự vật, sự việc!". Không gọi tên đúng thì không chính danh - tối thiểu là như vậy. Bởi vậy, việc mô tả các khái niệm phổ biến nhất hiện nay, là chủ đề của loạt bài viết này và vấn đề được ra ra trong tiểu mục này: "Thế nào là gọi tên đúng sự vật và sự việc?". b/ Chuẩn mực cho một khái niệm đúng: Việc xác định một khái niệm đúng cho một từ ngữ mang tính tổng hợp những giá trị nhận thức cụ thể, hoặc kết quả của sự quán xét và tổng hợp mọi hiện tượng, sự việc, sự vật liên quan đến nó, có tính chất như một giả thuyết, hoặc một lý thuyết khoa học để giải thích những vấn đề liên quan. Do đó, nó cũng phải tuân thủ những tiêu chí khoa học này. Tiêu chí khoa học phát biểu như sau: "Một lý thuyết hoặc một giả thuyết khoa học được coi là đúng. Nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, một cách có hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri". Đây cũng là chuẩn mực ứng dụng để thẩm định sự mô tả những khái niệm về "Minh triết"; "khoa học" và "văn hóa" của loạt bài viết này. Còn tiếp. NỘI HÀM CỦA VĂN HÓA.
    2 likes
  38. Chủ đề này được lập ra để mọi người đưa ra các thắc mắc cũng như trao đổi với nhau về nội dung các bài giảng của khóa học Tứ Trụ sơ cấp và trung cấp. Tôi sẽ cố gắng giải đáp mọi thắc mắc. Thân chào.
    2 likes
  39. ĐI TÌM CỘI NGUỒN KINH DỊCH (bài tham luận hội thảo Tìm Về Cội Nguồn Kinh Dịch) tác giả: Mạnh Đại Quân (Hoàng Triệu Hải) Đã có rất nhiều Học giả, các nhà nghiên cứu, Giáo Sư, Tiến sỹ công bố những nghiên cứu rất bài bài và sâu sắc về nguồn gốc của Kinh Dịch cũng như sự liên quan chặt chẽ giữa Kinh Dịch và Lịch sử 5000 năm Văn Hiến của người Việt. Tuy nhiên, sự đóng góp đó dường như chưa đủ để minh chứng cho nguồn gốc của một trong những kì quan thuộc về nền Văn minh Phương Đông mà chủ nhân đích thực chính là nền Văn minh Lạc Việt 5000 năm lịch sử. Sự khó khăn lớn nhất chính là chúng ta không có bất kì một bằng chứng và tài liệu lịch sử nào liên quan tới Kinh Dịch của người Việt, ngoại trừ việc lưu truyền thông qua văn hóa truyền thống, văn hóa tín ngưỡng và huyền sử. Đại đa số những người học và nghiên cứu Kinh Dịch hiện nay đều cho rằng việc đi tìm cội nguồn của Kinh Dịch là việc làm không cần thiết bởi không quan trọng bằng việc hiểu và ứng dụng Dịch. Cho dù có tìm được hay không tìm được nguồn gốc của Kinh Dịch thì cũng chẳng thể đăng ký bản quyền hay thay đổi được tuyên bố nguồn gốc và sở hữu của người Trung Hoa, kể cả khi chính người Trung Hoa cũng không giải thích được nguồn gốc mơ hồ do chính họ tạo ra. Việc đi tìm nguồn gốc Kinh Dịch chính là để giải mã toàn bộ hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành – một lý thuyết khoc học cổ xưa nhất của nền văn minh loài người. Trên cơ sở đó sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn tổng thể về quá trình lịch sử của nền văn minh Lạc Việt huyền vỹ một thời bên bờ Nam sông Dương Tử. 1. Lịch sử hình thành. Trích dẫn từ nguồn Wikipedia: “Kinh Dịch được cho là có nguồn gốc từ huyền thoại Phục Hy (伏羲 Fú Xī). Theo nghĩa này thì ông là một nhà văn hóa, một trong Tam Hoàng của Trung Hoa thời thượng cổ (khoảng 2852-2738 TCN, theo huyền thoại), được cho người sáng tạo ra bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của ba hào. Dưới triều vua Vũ (禹 Yǔ) nhà Hạ, bát quái đã phát triển thành quẻ, có tất cả sáu mươi tư quẻ (六十四卦 lìu shí­ sì gùa), được ghi chép lại trong kinh Liên Sơn (連山 Lián Shān) còn gọi là Liên Sơn Dịch. Liên Sơn, có nghĩa là "các dãy núi liên tiếp" trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng quẻ Thuần Cấn (艮 gèn) (núi), với nội quái và ngoại quái đều là Cấn (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là Tiên Thiên Bát Quái. Sau khi nhà Hạ bị nhà Thương thay thế, các quẻ sáu hào được suy diễn ra để tạo thành Quy Tàng (歸藏 Gūi Cáng; còn gọi là Quy Tàng Dịch), và quẻ Thuần Khôn (坤 kūn) trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua Văn Vương nhà Chu diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ Thuần Càn (乾 qián) (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong Thoán Từ (卦辭 guà cí) và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. Hậu Thiên Bát Quái ra đời. Khi vua Chu Vũ Vương (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là Chu Công Đán tạo ra Hào Từ (爻辭 yáo cí), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời nhà Chu (khoảng 1122-256 TCN). Muộn hơn, trong thời kỳ Xuân Thu (khoảng 722-481 TCN), Khổng Tử đã viết Thập Dực (十翼 shí yì), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn."[1]. Vào thời Hán Vũ Đế (漢武帝 Hàn Wǔ Dì) của nhà Tây Hán (khoảng 200 TCN), Thập Dực được gọi là Dịch truyện (易傳 yì zhùan), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành Chu Dịch (周易 zhōu yì)” Hết trích dẫn Theo các nguồn thông tin khác thì Liên Sơn Dịch được cho là có từ thời Thần Nông (2737BC – Liên Sơn Thị hay còn gọi là Thần Nông thị) , Qui Tàng có từ thời Hoàng Đế (2699BC). Cuốn Liên Sơn Dịch được cho là có khoảng 10 tập- 80 ngàn chữ và được làm ra vào thời nhà Hạ dựa trên bát quái của Phục Hi. Trong ba bộ Kinh Dịch thì Liên Sơn Dịch và Qui Tàng Dịch được cho là thất lạc cho dù vẫn có sách về hai bộ Kinh này. Chỉ còn Chu Dịch được coi là đại diện cho dù về mặt lịch sử hình thành thì Chu Dịch được ra đời sau cùng, vào thời nhà Chu . Như vậy, Kinh Dịch hay 64 trùng quái phải có mặt ít nhất là từ thời Thần Nông tức Liên Sơn thị (2737-2699 BC). Kinh dịch bao gồm 64 quẻ được lập nên từ 8 Quái được cho là do Vua Phục Hy (2800-2737 BC) sáng tạo ra. Đây là một vị Vua không có thực và chỉ tồn tại trong truyền thuyết. Tới đây chúng ta bắt đầu thấy sự mơ hồ và mù mờ trong nguồn gốc của Bát quái. Tiếp tục đi ngược dòng lịch sử, phải có Tứ Tượng rồi mới có Bát Quái, nhưng trước khi có Tứ Tượng lại phải có Lưỡng Nghi và Thái Cực. Thái Cực sinh Lưỡng Nghi Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng Tứ Tượng biến hóa vô cùng. Như vậy, Bát quái là một sản phẩm được sinh ra từ học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Bát quái thể hiện sự nhận thức của con người với sự vận động của vạn vật xung quanh mình. Bát quái là một siêu công thức được sinh ra từ học thuyết ADNH, và học thuyết ADNH mang tính bao trùm Vũ trụ. Triết lý về Âm Dương được cho là do Phục Hy sáng tạo ra, và cũng có nguồn ghi rằng do Đạo Giáo (400BCE) sáng tạo nên do được tiếp thu từ nhà Chu (1040 BCE). Phục Hy là nhân vật huyền thoại không có thực trong lịch sử và không thể nào một học thuyết lại được tạo ra từ một nhân vật không có thật. Còn nếu Đạo Giáo sáng tạo ra hoặc giả như được tiếp nhận được từ nhà Chu thì đúng là “Sinh Con rồi mới sinh Cha, sinh Cháu giữ nhà rồi mới sinh Ông” bởi người ta không thể sáng tạo ra bát quái , Kinh Dịch rồi mới sáng tạo ra thuyết Âm Dương ngũ hành. Âm Dương trích từ nguồn wiki “Âm dương là hai khái niệm được hình thành cách đây rất lâu. Về nguồn gốc của âm dương và triết lý âm dương, rất nhiều người theo Khổng An Quốc và Lưu Hâm (nhà Hán) mà cho rằng Phục Hy là người có công sáng tạo và được ghi chép trong kinh dịch (2800 TCN). Một số người khác thì cho rằng đó là công lao của "âm dương gia", một giáo phái của Trung Quốc. Cả hai giả thuyết trên đều không có cơ sở khoa học vì Phục Hy là một nhân vật thần thoại, không có thực còn âm dương gia chỉ có công áp dụng âm dương để giải thích địa lý-lịch sử mà thôi. Phái này hình thành vào thế kỷ thứ 3 nên không thể sáng tạo âm dương được Các nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung Quốc đã kết luận rằng "khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam". ("Phương Nam" ở đây bao gồm vùng nam Trung Hoa, từ sông Dương Tử trở xuống và vùng Việt Nam. Xem thêm dân tộc Việt Nam để biết thêm khu vực của người Cổ Mã Lai sinh sống.) Trong quá trình phát triển, nước Trung Hoa trải qua hai thời kỳ: 1. "Đông tiến" là thời kỳ Trung Hoa mở rộng từ thượng lưu (phía tây) xuống hạ lưu (phía đông) của sông Hoàng Hà; 2. "Nam tiến" là thời kỳ mở rộng từ lưu vực sông Hoàng Hà (phía bắc) xuống phía nam sông Dương Tử. Trong quá trình nam tiến, người Hán đã tiếp thu triết lý âm dương của các cư dân phương nam, rồi phát triển, hệ thống hóa triết lý đó bằng khả năng phân tích của người du mục làm cho triết lý âm dương đạt đến hoàn thiện và mang ảnh hưởng của nó tác động trở lại cư dân phương nam. Cư dân phương nam sinh sống bằng nông nghiệp nên quan tâm số một của họ là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người. Sinh sản của con người thì do hai yếu tố: cha và mẹ, nữ và nam; còn sự sinh sôi nảy nở của hoa màu thì do đất và trời - "đất sinh, trời dưỡng". Chính vì thế mà hai cặp "mẹ-cha", "đất-trời" là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn đến triết lý âm dương. Về mặt ngôn ngữ học, "âm dương" là phát âm của yin yang trong tiếng Hán, nhưng chính tiếng Hán để chỉ khái niệm âm dương lại vay mượn từ các ngôn ngữ phương Nam trước đây. Ví dụ, so sánh yang với giàng (trong tiếng Mường), yang sri (thần lúa), yang Dak (thần nước), yang Lon (thần đất) (trong tiếng của nhiều dân tộc Tây Nguyên); so sánh yin với yana (tiếng Chàm cổ, ví dụ Thiên Yana = mẹ trời), ina (tiếng Chàm hiện đại), inang(tiếng Indonesia), nạ (tiếng Việt cổ, ví dụ: nạ ròng = người đàn bà có con, hay tục ngữ Việt Nam: "Con thì na, cá thì nước"),... thì thấy rõ điều đó. Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp "mẹ-cha" và "đất-trời" này, người ta đã mở rộng ra nhiều cặp đối lập phổ biến khác. Đến lượt mình, các cặp này lại là cơ sở để suy ra vô số các cặp mới. Nếu so sánh phương Đông với phương Tây thì phương Tây chú trọng đến tư duy phân tích, siêu hình còn phương Đông chú trọng đến tư duy tổng hợp, biện chứng. Nhưng nếu xét riêng ở phương Đông thì nếu đi từ bắc xuống nam ta sẽ thấy phía bắc Trung Quốc nặng về phân tích hơn tổng hợp, còn phía nam thì ngược lại, nặng về tổng hợp hơn phân tích. Triết lý âm dương bắt nguồn từ phương Nam, nhưng đối với các dân tộc Đông Nam Á, do tính phân tích yếu nên họ chỉ lại ở tư duy âm dương sơ khai mang tính tổng hợp. Trong khi đó khối Bách Việt đã phát triển và hoàn thiện nó. Tổ tiên người Hán cũng vậy, sau khi tiếp thu triết lý âm dương sơ khai, họ cũng phát triển nó nhưng do năng lực phân tích của họ mạnh hơn năng lực phân tích của người Bách Việt mà từ triết lý âm dương ban đầu, người Bách Việt và người Hán đã xây dựng nên hai hệ thống triết lý khác nhau. Ở phương Nam, với lối tư duy mạnh về tổng hợp, người Bách Việt đã tạo ra mô hình vũ trụ với số lượng thành tố lẻ (dương): hai sinh ba (tam tài), ba sinh năm (ngũ hành). Chính vì thế mà Lão Tử, một nhà triết học của nước Sở (thuộc phương Nam) lại cho rằng: "nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Tư duy số lẻ là một trong những nét đặc thù của phương Nam. Trong rất nhiều thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, các số lẻ như 1, 3, 5, 7, 9 xuất hiện rất nhiều. Ví dụ: "ba mặt một lời"; "ba vợ, bảy nàng hầu"; "tam sao, thất bản"... Ở phương Bắc, với lối tư duy mạnh về phân tích, người Hán đã gọi âm dương là lưỡng nghi, và bằng cách phân đôi thuần túy mà sinh ra mô hình vũ trụ chặt chẽ với số lượng thành tố chẵn (âm). Chính vì vậy Kinh Dịch trình bày sự hình thành vũ trụ như sau: "lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hóa vô cùng" (hai sinh bốn, bốn sinh tám). Người phương Bắc thích dùng số chẵn; ví dụ, "tứ đại", "tứ mã", "tứ trụ",... Lối tư duy như vậy, hoàn toàn không có chỗ cho ngũ hành - điều này cho thấy, quan niệm cho rằng "âm dương - ngũ hành - bát quái" chỉ là sản phẩm của người Hán có lẽ là một sai lầm, nhưng theo quan niệm trong phong thủy thì " lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh ngũ hành, ngũ hành sinh vạn vật" ngũ hành lại được sinh từ bát quái ứng với Đoài-Càn (kim),Tốn-Chấn(mộc),Khảm(thủy),ly(hỏa),Cấn-Khôn(thổ) tạo thành vòng tuần hoàn luôn bổ trợ lẫn nhau nhưng vì một số bất cập nên không được nhiều người biết đến, vào thời nay phong thủy đa số đều dùng cách này để đọc phong thủy. Hết trích dẫn Tôi chưa thấy thuyết phục từ chứng cứ về cách lập luận số chẵn – lẻ của người viết trên thư viện mở WIKI nhưng đây là một bằng chứng cho thấy ngày càng nhiều người nhận ra rằng Âm Dương Ngũ Hành, Hà Đồ-Lạc Thư-Bát Quái-Kinh Dịch không thể được tạo ra bởi người Trung Hoa. Ngay từ những thời điểm mà người Trung Hoa cố gắng hợp thức hóa nguồn gốc và tác giả của học thuyết Âm Dương nhưng chúng ta vẫn có thể tìm thấy sự lộn xộn và mù mờ trong chính những gì họ công bố. THÁI CỰC ĐỒ (ÂM DƯƠNG ĐỒ HÌNH) 1. Dấu tích lịch sử: Theo các tài liệu lịch sử còn lưu lại thì Thái cực đồ hình (Taijitu 太極圖) được biết tới do Chu Đôn Di Zhou Dunyi (周敦頤 1017–1073) đời Tống (960-1279) sáng tạo ra cùng với cơ sở Học thuyết Thái cực . Đồ hình Thái Cực này được coi là đồ hình đầu tiên mô tả Thái Cực sinh Lưỡng Nghi do được ghi chép và lưu giữ nguồn gốc. Đồ hình H1 là đồ hình được Joseph Adler chụp từ nguyên gốc trong cuốn Thông Thư (通書) của Chu Đôn Di. Trong suốt thời kì nhà Minh (1368–1644), Đạo giáo lúc đó rất phát triển và dựa trên nền tảng Đạo giáo đã có rất nhiều sáng tạo Thái Cực đồ hình mô tả cơ sở học thuyết của họ lúc đó. Trong khi nguyên gốc đồ hình của Chu Đôn Di sử dụng các vòng tròn thì trong thời kì nhà Minh (1368-1644) bắt đầu xuất hiện các đồ hình vòng xoáy.Đồ hình có vòng xoáy sớm nhất được cho là của Triệu Huy Khiên - Zhao Huiqian (趙撝 , 1351–1395) trong cuốn Lục Thư Bản Nghĩa viết năm 1370s thuộc bộ Tứ Khố Toàn Thư. Đồ hình này được ghép thêm với bát quái và được được gọi là Thái Cực Hà Đồ . Tới cuối đời nhà Minh thì mới xuất hiện thêm hai chấm bên trong thay bởi hai hình giọt nước, và được sử dụng rộng rãi trở thành Vũ Trụ Quan của người Trung Hoa. H1: Chu Đôn Di đồ hình H2: Triệu Huy Khiêm Đồ hình LAI TRÍ ĐƯC (來瞿唐 / 来瞿唐, 1525–1604) sau đó lại thiết kế lại Thái Cực Hà Đồ dựa trên khuôn mẫu của biểu tượng Phật giáo Tây tạng Gankyil H4: Lai Zhide vs Gankyil Tiên thiên thái cực đồ và vô cực đồ được phát triển và sử dụng nhiều nhất vào thời kì nhà Thanh (1644–1912) THÁI CỰC ĐỒ HIỆN ĐẠI Vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20, người Trung Hoa công bố rộng rãi Thái Cực đồ hình với hai vòng xoáy của thời Minh và gọi đó là Đồ Hình Âm-Dương. Khoảng từ những năm 1960 thì Âm Dương Đồ Hình được thêm vào hai chấm ở mỗi xoáy cùng kết hợp với Hà Đồ được sử dụng rộng rãi. Đồ hình này được dùng trong thiết kế và nhận diện của môn Thái Cực Quyền từ những năm 1970 để thể hiện tinh thần của bộ môn này. 2. DẤU HIỆU TỪ ROMAN Tại Rome, người ta tìm thấy dấu tích của Âm Dương Đồ Hình trên khiên và phù hiệu của Kỵ Binh của đế chế La Mã (AD 430). Trong bài viết "The Ying-Yan Among The Insignia of The Roman Empire - Âm Dương Đồ Hình bên trong dấu hiệu của Đế Chế La Mã" của Giovanni Monastra, người đã phát hiện ra dấu hiệu của Đồ Hình này từ thư tịch cổ có tên là "Notitia Dignitatum Omnium tam Civilium quam Militarium " được viết từ cuối thế kỷ thứ 4 đầu thế kỉ thứ 5. Trong cuốn thư tịch cổ này, ngoài việc viết về các đơn vị hành chính và quân sự của Đế chế La Mã người ta tìm thấy rất nhiều ký hiệu và đồ hình cùng 4 màu sắc Đỏ-Xanh-Vàng-Trắng thể hiện thế giới Siêu hình, Tôn giáo và Tri thức. Ở trang tiếp theo, người ta lại tìm thấy Thái Cực Đồ của Chu Đôn Di theo hình ảnh dưới đây (hình thứ ba hàng thứ ba từ dưới lên) Theo tác giả, không có một nhà nghiên cứu La Mã Cổ nào kể cả nhà nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa Á Đông Franz Cumont phát hiện và đặt ra câu hỏi nghi vấn này ? liệu có phải đây là Thái Cực Đồ hay Âm Dương Đồ Hình của Á Đông xuất hiện trong Đế chế La Mã. Ngay cả đối với giới khoa học và nghiên cứu khảo cổ tại Châu Âu, không một ai đề cập tới vấn đề này và chủ yếu họ tìm hiểu sự giao thoa giữa các nền văn hóa cổ đại và tác giả cho rằng đây là một sai lầm. 3. Quốc Kỳ Hàn Quốc Ra đời đầu tiên vào thời kì Joseon 1882, được nói rõ sử dụng "BAT QUAI DO" cho Hoàng Gia. Vậy từ thế kỉ 18, Thái Cực Đồ của người Việt đã được biết tới và sử dụng tại Hàn Quốc 4. Đặt lại vấn đề Trong cuốn " Reconstructing the confucian dao" của Adler Joseph tạm dịch là Tái Thiết Đạo Khổng, chương năm trang 153, tác giả viết :" Mặc dù cho tới nay, sự xuất hiện của học thuyết Âm Dương được coi là nguồn gốc của Thái Cực Đồ vào thời Chu Hi ( 朱熹, October 18, 1130 – April 23, 1200) và Chu Đôn Di (周敦頤; Zhou Dunhyi; 1017–1073) có được học thuyết này từ Đạo Giáo. Chu Đôn Di và những người theo ông ta luôn khẳng định Chu Đôn Di là người sáng tạo ra Thái Cực Đồ. Chu Hi thì không chấp nhận học thuyết của Chu Trấn -hay Chu Hoàng - Hậu Lương Mạt Đế (Zhu Zhen (朱瑱) (October 20, 888–November 18, 923) cũng như đồ hình từ Đạo Giáo bởi theo Chu Hy, nó phá hoại tính đặc thù của Khổng Giáo. Trang 154, tác giả lại viết " Câu hỏi đặt ra là Thái Cực Đồ Hình của Chu Đôn DI lại được đem ra tranh luận kịch liệt suốt từ thế kỷ thứ 12. Theo ghi chép thì học thuyết đáng lưu ý nhất là của Chu Hoàng, và truyền cho Đôn Di thông qua Mục Tu ( Mu Xiu 穆修, 979–1032). Mục Tu là quan Trung phẩm chết khi Chu Đôn Di mới 15 tuổi: Mục Tu nhận được từ Chủng Phóng ( Chong Fang 种放956-1015) là một quan lại triều đình từ quan ẩn dật. Chủng Phóng học được Trần Đoàn Lão Tổ. Trần Đoàn ghi lại rằng, ông thu nhận được rất nhiều đồ hình trong đó bao gồm Quẻ, Quái trong Kinh Dịch được truyền bá rộng rãi bởi Thiệu Ung ( 邵雍 Shao Yung; 1011–1077) và Chu Hy . Một điều khá quan trọng là Tiên Thiên Đồ của Phục Hy được cả Thiệu Ung và Chu Hi. Chu Trấn đã đưa các đồ hình vào lý thuyết này từ trước, tới năm 1134 tức là 61 năm sau khi Chu Đôn Di chết thì những nguồn gốc lý thuyết của ông ta đều không xác định và tính xác thực về những gì ông ta đưa ra đáng để tranh luận. Thêm một sự liên hệ rõ ràng tới Đạo giáo là một khả năng Thái Cực Đồ bị ảnh hưởng từ Phật giáo bởi Chu Đôn Di được biết là Thầy cũng như bạn của Ông ta đều theo đạo Phật. Người được nhắc tới nhiều nhất là Thọ Nhai (Shou Ya) chùa Helin tại Runzhou (tỉnh Jiangsu), nơi Chu Đôn Di sống một thời gian những năm 20 tuổi. Theo Triều Thuyết Chi (Chao Yuezhi 1059-1129), Thọ Nhai dạy Chu Đôn Di nhưng dạy những gì thì không biết và Chu có phải là người KHÔNG theo Đạo Phật cũng đầy hoài nghi . Có một yếu tố đặc trưng của Phật giáo ảnh hưởng tới Thái Cực Đồ, là Guifeng Zongmi (圭峰 宗密 780-841) là nhà người Nhật dạy Phật giáo thời nhà Đường, là ông Tổ của Thiền Tông và Hoa Nghiêm Tông. Một trong những tựa hay sử dụng trong tác phẩm về Thiền Tông chính là Đồ hìnhcủa sự Khai Sáng, yếu tố Siêu Hình đại diện cho tàng Vô Thức. Nó chính là sự nhận diện cho Thái Cực Đồ. Tuy nhiên, Chu Hi bỏ hình tròn nhỏ vào giữa Đồ hình này và nói rằng nó đại diện cho Thái Cực. (Đồ hình của Tsungmi ) Đồ hình này được tìm thấy từ tàng thư tại hang Mogao, Dunhuang xác định là năm 952. Như vậy, đây là bằng chứng cho thấy Đồ hình Chu Đôn Di có nguồn gốc từ Phật giáo. Như vậy, chúng ta có thể thấy đồ hình ÂM DƯƠNG ngày nay chỉ mới xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu TK 20. Nó không thể hiện được tính minh triết của lý thuyết Âm Dương mà là thể hiện qua tư duy và lý thuyết của Đạo giáo. Thế nhưng rất nhiều tác giả vẫn khăng khăng cho là, hai chấm đen trong lưỡng nghi thể hiện Thiếu Âm và Thiếu Dương là từ thời Chu Đôn Di, khi mà ngay cả Chu Đôn Di cũng không được coi là người tạo ra Thái Cực Đồ. Thái Cực Đồ hay ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG được lưu giữ từ nền văn hóa Việt trải gần 5000 năm Lịch sử , mô tả đầy đủ triết lý của lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã cho ta thấy, người Việt mới là người nắm giữ đầy đủ học thuyết này. Những vòng xoáy âm dương được tìm thấy ở rất nhiều các công trình cổ đại, các di vật khảo cổ trên khắp thế giới. Niên đại lâu nhất của cổ vật được tìm thấy tới 12000 năm BCE (trước CN). · Phế tích tại Chichen izta từ nền văn minh Aztecs. Dấu hiệu âm dương Việt lại tiếp tục xuất hiện trên các cong trình kiến trúc tại thánh địa của người Maya ! Cổ vật từ nền văn minh maya cổ đại tìm thấy tại Ecuador Con Cá Vettersfelde hay là witaszkowo ( một thành phố tại Ba lan) nơi con cá được tìm thấy. Đây là con cá được làm khoảng 500 năm trước công nguyên do người Scythians (gốc iran) chế tạo từ vàng nguyen chất. Một loại vũ khí của người Maori , thổ dân new Zealand Đây là viên đá cổ thuộc kỳ đồ đá mới Neolithic 10200 năm Bc và kết thúc khoảng 4500Bc được tìm thấy ở Knowth- Ireland, được gọi là viên đá mặt trăng Dấu tích đồ hình âm dương Việt trên họa tiết trang phục trong nền văn minh Trylolye 5400-2750 TCN. (nay thuộc nước cộng hòa Moldova, Romania và Ukraina) ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TRONG ĐẠO HINDU “Thái cực sinh lưỡng nghi Lưỡng nghi sinh tứ tượng Tứ tượng biến hoá vô cùng” Âm Dương Ngũ Hành vỗn vẫn được biết tới là một nền tảng lý thuyết của nền văn minh Đông phương. Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân của tôi thì ADNH là một lý thuyết thuộc về một nền văn minh cổ của nhân loại đã bị huỷ diệt, và mỗi một nền văn minh sau này nắm giữ một mảnh của lý thuyết vĩ đại đó. Qua các nghiên cứu cá nhân, tôi vô tình phát hiện ra sự mô tả lý thuyết ADNH trong đạo HINDU, một trong những Đạo lâu đời nhất và cũng là Đạo có nhiều CHÚA Trời nhất (khoảng 330 triệu vị Thần). Một trong những biểu tượng có trong các ngôi Đền Hindu, đó là biểu tượng LINGA SHIVA, biểu tượng của sự Huỷ Diệt và Tái Sinh. Có rất nhiều sự sai lầm về hình tượng này. Một số thì cho rằng đây là Biểu tượng tôn thờ tín ngưỡng phồn thực, rằng đây chỉ là mô tả bộ phận sinh dục của người đàn ông, và ở dưới là hình tượng mô tả bộ phận sinh dục của đàn bà. Trong Hindu giáo, biểu tượng này được gọi là Linga Shiva và cũng có sự hiểu sai lệch rằng đây là hình tượng Dương vật của thần Shiva(một trong những vị Thần vĩ đại nhất trong Hindu giáo), và phía dưới là biểu tượng Âm vật của thần Shakti. Từ Shiva có nghĩa là Tốt Lành, Linga (hay Lingam) có nghĩa là hình tượng, là dấu hiệu. Và Linga Shiva tức là hình tượng của sự bất tử của Thần Shiva. Đó là biểu tượng của Đấng sáng tạo, là sự tự nhận thức vượt qua sự sinh sôi, sự huỷ diệt, sự tốt-xấu, Thần Linh và Ma Quỉ, thời gian và Vũ trụ. Là điểm khởi nguồn của vạn vật. Nếu dịch nghĩa từ Dương Vật trong ngôn ngữ Hindi (Sanskrit), thì sẽ là từ SHISHNAM, không phải là từ Linga. Sự hiểu sai ngay từ chính người theo Đạo Hindu cũng do bởi sự cố tình làm sai lệch ý nghĩa, xuất phát từ những kẻ xâm lược và muốn huỷ diệt Hindu giáo. Biểu tương này là thể hiện sự bất tử của Thần Shiva nhưng từ sự sai lệch dẫn tới từ này mang ý nghĩa khác, Từ Yoni cũng vậy, có nghĩa là Mẹ Thiên Nhiên, là biểu tượng của sự sinh sôi nhưng lại được hiểu sai thành bộ phận sinh dục phụ nữ. Đây là hình tượng của Thần Parvati, vợ của Thần Shiva. Biểu tượng Linga có hai dạng chính: 1. Tại Ấn độ, Nepal: Linga hình tròn và Yoni cũng hình tròn. Trên Linga có biểu tượng ba gạch liền và hình tượng Con Mắt thứ Ba ở giữa. Con mắt này đều xuất hiện trên Trán của Thần Shiva thể hiện sự thông hiểu, là ý thức, nhận thức, là sự xuyên suốt. Đây cũng chính là mô tả hình thái của Vũ Trụ 2. Tại Đông Nam Á: Biểu tượng Linga phức tạp hơn, thể hiện hình tượng của ba vị Thần tối cao trong Hindu giáo. 3 vị thần thể hiện vòng tròn cuộc sống (Samsara) : SINH-VƯỢNG-MỘ a. Thần Shiva-hình Tròn và chạm khắc mặt của vị Thần này- Là vị thần của sự huỷ diệt,sự tái sinh, là công lý, phán xét. b. Thần Visnu-Bát giác, là vị thần của sự che trở, bao bọc, bảo vệ c. Brahma-hình Vuông. là đấng sang tạo.Là vị thần tạo ra nguồn gốc của con người. d. Yuni: địa cầu, đất Mẹ Nhìn vào Biểu tượng Linga , điều nhận thấy đầu tiên đó là hình tượng Quẻ CÀN trong Bát Quái của Lý Học Đông Phương. Đây là tượng của Thần Shiva là Đấng sáng tạo nhưng cũng là vị Thần của sự Huỷ Diệt, và đó cũng chính là ý nghĩa của quẻ CÀN :Hình Trụ/Tròn Là Trời, là Cha, thuộc Dương. Biểu tượng Yoni: Là tượng của Trái Đất, là Mẹ,thuộc ÂM. Tuy nhiên Yoni ở vùng ĐNA như Campuchia, Vietnam thì lại là hình Vuông – Là quẻ Khôn,. Vẫn là hình Tròn và Vuông trong Lý Học Đông Phương thể hiện sự Sinh Sôi, Sáng Tạo, là hình tượng của Cha –Mẹ. Tuy thể hiện qua nhiều hình thể khác nhau do ảnh hưởng của tôn giáo nhưng về bản chất vẫn là sự mô tả nhận thức của con Người với Vũ Trụ quan. Chúng ta cũng có thể nhận thấy đâu đó có sự xuất hiện của Tứ Tượng và Bát quái trên Linga. Ví dụ Linga tại Nepal, tượng bát quái mô phỏng bằng bông hoa Sen Theo các tài liệu nghiên cứu thì các vị Thần Hindu giáo được đặt tên cho các Chòm Sao Hoàng Đạo của chiêm tinh học Vệ Đà vào khoảng 5000 năm trước công nguyên. Do đó, Thiên Chúa giáo cũng nhận được ảnh hưởng của biểu tượng Linga (Âm Dương) và hình dưới chính là quảng trường Thánh Peter tại Vatican. Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành là lý thuyết gốc để rồi từ đó chúng ta mới có các bộ môn ứng dụng như lịch Can Chi, Kinh Dịch, Địa Lý, Tử Vi, vv..Người Trung Quốc tin rằng học thuyết ADNH cùng những bộ môn ứng dụng đó là do tổ tiên họ sáng tạo ra, từ những nhân vật thần thoại như vua Phục Hy nửa người nửa rắn hay linh vật như Long Mã , Rùa thần. Người Trung Hoa kể rằng vua Phục Hy - thời tam Hoàng ngũ Đế , là thủy tổ của loài người (nhưng không xác định được là thần hay là người) niên đại khoảng năm 2852–2737 TCN (nguồn Wiki) . Phục Hy là người tạo ra Bát Quái, Hà Đồ , Kinh Dịch và Tiên Thiên bát quái đồ. Tuy nhiên chúng ta đều biết rằng vào thời kì niên đại khoảng 3000 năm TCN thì đã tồn tại các nền văn minh khác, và cùng thời với nền Văn Minh Lạc Việt của Vua Hùng (2879 TCN) 1. Bát quái , Hà Đồ và Kinh Dịch được vua Phục Hy tạo ra, Lạc Thư do vua Đại Vũ tạo ra nhưng mãi sau gần 2000 năm sau thì người Trung Quốc mới có học thuyết Âm Dương ngũ hành ? Phải có Thái Cực và ÂM DƯƠNG thì mới sinh ra Bát Quái nhưng thật tài tình là người Trung Quốc sáng tạo ra Bát Quái rồi mới tạo ra lý thuyết Thái Cực sinh Lưỡng Nghi !Đấy chẳng phải là câu chuyện “ Sinh Con rồi mới Sinh Cha”? ! 2. Lục Thập hoa Giáp và lịch Can Chi thì người Trung Quốc nói rằng họ có từ năm 1250 TCN vào thời nhà Thương. Nhưng hệ thống Ngũ Hành thì lại được tuyên bố được sáng tạo vào khoảng 168 TCN thời nhà Hán (206-220 BCE) ? chưa có ngũ hành mà lại có lịch Can Chi và Lục Thập Hoa Giáp ? 3. Hà Đồ - Lạc Thư mô tả chiều Ngũ Hành Tương Sinh và Tương Khắc thế nhưng Ngũ Hành lại sinh ra sau Hà Đồ - Lạc Thư tới hơn 2700 năm ? 4. Hà Đồ -Lạc Thư được người Trung Hoa khẳng định là ma trận toán học đầu tiên và cổ xưa nhất trên thế giới. Thế nhưng họ lại cũng khẳng định hệ thống toán học cổ xưa nhất của Trung Quốc có trên mai rùa và thư tịch cổ lại có từ thời nhà Thương (1600-1046 TCN), tức là ma trận toán học lại có trước cả khi có hệ thống toán học ? vậy làm sao lại có được ma trận 3x3 mà tổng các hàng, cột đều bằng 15 và có hệ thống số đếm trên Lạc Thư- Hà Đồ do vua Phục Hy và Đại Vũ làm ra từ trước cả hơn 1000 năm ? 5. Tử Vi đẩu số, một bộ môn ứng dụng từ thuyết Âm Dương Ngũ Hành được coi là sự sáng tạo của một Đạo sỹ thời nhà Đường (681-907) tên là Lã Thuần Dương(Lu Chun Yang - 呂純陽), sau đó được Ông Hy Di Trần Đoàn đời nhà Tống phát triển bổ xung, rồi tới cuối cùng hoàn thiện như ngày hôm nay bởi La Hồng Tiên ( Luo Hong Xian -羅洪先) đời nhà Thanh . Thời điểm mà người Trung Hoa nói rằng tạo ra thái cực đồ với hệ lý thuyết Âm Dương ( Thái cực sinh lưỡng nghi) là vào thời nhà Tống, do Chu Đôn Di sáng tạo ra. Người ta nói rằng đây là bộ môn thiên văn cổ dùng để tiên tri, bói toán nhưng nó hoàn toàn dựa vào học thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà ra. Nếu bạn đã một lần xem tử vi đẩu số, chắc hẳn ngoài chữ "SAO" thì bạn sẽ không tìm được dấu vết nào liên quan tới Thiên văn học cả. Câu hỏi là : - Nếu chưa có lý thuyết về Âm-Dương thì làm sao sinh ra Ngũ Hành để rồi có được lá số tử vi với hệ thống phức tạp liên quan tới Âm Dương ? Như vậy chẳng phải là Sinh Cháu giữ nhà rồi mới Sinh Ông ? Chỉ duy nhất có Thái Ất thần số là bộ môn thiên văn học cổ của người Việt không bị gắn vào thời kỳ nào hay tác giả nào, chỉ nói chung chung là của người Trung Hoa. Chúng ta cũng nên biết rằng Thái Ất là bộ môn tính toán Lịch cao cấp nhất cho tới ngày nay, từ năm GIÁP TÝ thời thượng cổ cách nay(2017) là 10,141,313 năm. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là người nắm giữ đầy đủ nhất về bộ môn này. Trong lịch sử Trung Quốc đã ghi lại lịch Can Chi của người Việt đã được Vua Hùng tặng cho vua Nghiêu (Yao Emperor 2356-2255 TCN) viết dưới dạng chữ Khoa Đẩu. Hệ Can Chi cũng là hệ duy nhất sử dụng trong các ĐỜI trị vị của HỒNG BÀNG THỊ. 18 Thời Vua Hùng bao gồm (trích dẫn từ WIkipedia tiếng Anh, tiếng Việt không đề cập tới chi tiết này): I. Kỷ thứ nhất (2879–2000 BC) • Càn hệ (Hùng Dynasty I, c. 2879 – 2794 BC) • Khảm hệ (Dynasty II, c. 2793 – 2525 BC) • Cấn hệ (Dynasty III, c. 2524 – 2253 BC) • Chấn hệ (Dynasty IV, c. 2254 – 1913 BC) II. Kỷ Phùng Nguyên (2000–1500 BC) • Tốn hệ (Dynasty V, c. 1912 – 1713 BC) • Ly hệ (Dynasty VI, c. 1712 – 1632 BC) • Khôn hệ (Dynasty VII, c. 1631 – 1432 BC) III. Kỷ Đồng Đậu (1500–1100 BC) • Đoài hệ (Dynasty VIII, c. 1431 – 1332 BC) • Giáp hệ (Dynasty IX, c. 1331 – 1252 BC) • Ất hệ (Dynasty X, c. 1251 – 1162 BC) • Bính hệ (Dynasty XI, c. 1161 – 1055 BC) IV. Kỷ Gò Mun (1100–800 BC) • Đinh hệ (Dynasty XII, c. 1054 – 969 BC) • Mậu hệ (Dynasty XIII, c. 968 – 854 BC) • Kỷ hệ (Dynasty XIV, c. 853 – 755 BC) V Kỷ Đông Sơn (800–258 BC) • Canh hệ (Dynasty XV, c. 754 – 661 BC) • Tân hệ (Dynasty XVI, c. 660 – 569 BC) • Nhâm hệ (Dynasty XVII, c. 568 – 409 BC) • Qúy hệ (Dynasty XVIII, c. 408 – 258 BC) Không có Âm Dương Ngũ Hành, Bát Quái, Can Chi thì làm sao Tổ Tiên của Việt tộc lại sử dụng tri thức đó cho chính các thời kỳ trị vị, Hiến pháp (Hồng Phạm Cửu trù), lịch Can Chi, Lạc thư Hoa Giáp (nạp âm 60 năm khởi từ Giáp Tý) ? Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành của nền Văn Minh Lạc Việt đã phải có từ trước khi Thủy Tổ của Việt tộc -Vua Kinh Dương Vương lâp quốc tới nay là 4896 năm. Người Trung Quốc sau khi Tần Thủy Hoàng xâm chiếm và hủy hoại toàn bộ nước Văn Lang để thống nhất Trung Quốc, đốt sách và hủy hoại nền văn minh Lạc Việt nhằm viết lại lịch sử. Ông ta đã không lấy được đầy đủ học thuyết ADNH từ nền văn minh Lạc Việt nên sau đó hễ cứ lấy được mẩu nào thì gắn truyền thuyết vào mẩu đó mà không có tính hệ thống nên đã trở thành sự chắp vá, thậm trí gán cả vào các truyền thuyết mơ hồ. Cái nào tìm được trên khảo cổ hay văn bản cổ thì họ công bố luôn mà không cần tìm hiểu nguồn gốc trước đó, ví dụ như hệ thống toán học cổ và Lạc Thư-Hà Đồ. Cho nên Ông Cha ta mới tạo ra chuyện Sinh con rồi mới sinh cha,Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh Ông để nhắn nhủ cho thế hệ con cháu đi tìm sự mâu thuẫn trong nguồn gốc của học thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH của người Trung Hoa cũng như tìm lại Cội nguồn đích thực của học thuyết này.
    2 likes
  40. Cháu chào chú Thiên Luân ạ, Cháu xin nhờ chú xem giúp cho gia đình cháu: - Chồng cháu sn 1986 - Bính Dần - Giáng Hạ Thuỷ - Cháu sn 1986 - Bính Dần - Giáng Hạ Thuỷ - Con gái đầu sn 2007 - Đinh Hợi - Ốc Thượng Thổ - Con trai thứ sn 2015 - Ất Mùi - Sa Trung Kim Thưa chú, vợ chồng cháu ban đầu rất yêu nhau nhưng không hiểu sao kể từ khi sinh bé gái đầu thì tuy kinh tế đi lên nhưng vợ chồng cháu rất khắc khẩu, xa cách, cả năm vc không gần gũi nhau, đã từng tính tới nước ly hôn. Sau khi sinh bé trai thứ hai thì kinh tế đi xuống, chồng cháu mất việc phải tìm công việc mới lương thấp hơn, nhưng vợ chồng cháu tự nhiên lại khá hoà hợp, không khí gia đình cũng vui vẻ hơn rất nhiều. Cháu có đọc nhiều bài chú tư vấn cho nhiều đôi cùng sn 1986 là nên sinh con út năm 2018, 2019. Châu cũng được nghe là theo vòng Tràng Sinh thì tuổi Can Bính nếu sinh con năm Hợi thì sẽ là năm Tuyệt không tốt. Cháu không biết có phải do vậy mà khi sinh bé gái đầu vợ chồng cháu lại xa cách đến vậy, do vậy cháu hơi e ngại nếu sinh con út vào năm 2019. Mong chú giải đáp giúp cháu và chỉ cho cháu một con đường sáng. Cháu đang rất buồn vì mới bị sảy thai mấy hôm trước, vậy là cháu không kịp sinh con vào năm 2018 chú ạ:(
    2 likes
  41. TẢN MẠN VỀ TỲ HƯU Trong phong thủy có một vật phẩm được tôn vinh là đệ nhất tài thần. Đó là con tỳ hưu. Nó được giới thiệu là một con vật chỉ có ăn và không hề đào thải, nó được coi là hình tượng của sự tích lũy và phát triển tài lộc vì chỉ có vào không có ra. Người ta đồn rằng chính Hòa Thân, một vị đại thần bậc nhất đời nhà Thanh có một con tỳ hưu bằng bạch ngọc rất lớn. Lớn đến nỗi ông ta phải xây cả một ngôi nhà để chứa con tỳ hưu. Nhưng nó được ông ta giấu rất kỹ, chỉ đến khi nhà ông bị khám, mọi người mới biết đến con tỳ hưu này. Bởi vậy, người ta đồn rằng sở dĩ ông ta giàu có đến bậc "Phú gia địch quốc" chính nhờ con tỳ hưu bằng bạch ngọc đồ sộ đó. Huyền thoại từ xa xưa đã nói đến con tỳ hưu. Theo truyền thuyết Tỳ Hưu là đứa con thứ chín của Long Vương, thức ăn của nó là kim ngân châu báu, vì thế toàn thân nó toát lên bảo khí một cách tự nhiên. Đem Tỳ Hưu ra so sánh với các con vật cát tường khác như Cóc vàng thì Tỳ Hưu luôn đứng đầu, vì thế nó rất được Ngọc Hoàng ưa chuộng. Nhưng ăn nhiều thì nặng bụng, cho nên có một lần vì không nhịn được nó đã đi bậy trên Thiên Đình khiến Ngọc Hoàng Đại Đế rất tức giận và cho một tát vào mông khiến cho hậu môn bị bịt kín luôn, từ đó kim ngân châu báu chỉ có thể vào mà không thể ra. Sau khi chuyện đó được truyền đi, Tỳ Hưu được xem như con vật chiêu tài tiến bảo cát tường. Bởi vậy, tỳ hưu bán đầy ở các cửa hàng phong thủy, người giàu thì mua con to giá đến vài trăm triệu, người làng nhàng thì cũng vài triệu một con, người có chút dư dả cũng mua loại nhỏ vài trăm một cặp. Trong lý học Đông phương thì ở trong vũ trụ này mọi sự vận động đều tuần hoàn theo quy luật tạo hóa. Sinh sinh diệt diệt chẳng có cái gì là sự vĩnh cửu. Có nhập thì phải có xuất đó là lẽ tự nhiên. Chẳng có cái gì chỉ có nạp mà không có thải. Những căn nhà, hoặc căn phòng bế khí là một thí dụ cho những hậu quả tai hại của những con người cư ngụ trong đó. Đó là hậu quả của sự có nạp mà không có thải. Cứ cho rằng con tỳ hưu mà hình tượng của nó chỉ nap khí và tụ lại trong hình tượng đó, không có thải ra theo nguyên tắc "hình nào khí đó". Và nếu đúng như vậy thì quả là sự nguy hại cho những ai sử dụng nó. Bởi vậy, tôi chẳng bao giờ khuyên thân chủ tôi mua tỳ hưu. Mua nó về, lúc đầu thì có vẻ như phát tài , phát lộc thật, Nhưng đến khi khí bế thì tài lộc không thể vào được nữa. Kinh doanh ngày càng lụn bại. Nếu đã lỡ mua rồi , tôi thường khuyên thân chủ của tôi tạo ra một cái hậu môn - cũng chỉ là hình tượng - phía dưới đuôi để thông khí.
    2 likes
  42. TỔNG QUAN NĂM MẬU TUẤT 2018 Kính thưa Quí Vị, Tiếp nối truyền thống của Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương mà khởi sướng là nhà Nghiên Cứu : Nguyễn Vũ Tuấn Anh –Chủ tịch hội đồng khoa học Trung Tâm , nguyên Giám Đốc Trung Tâm, hàng năm cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về đều có những bài dự báo tổng quan cho năm mới dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và nền tảng nguyên lý “Hà Đồi phối hậu Thiên Lạc Việt”. Phương pháp dự báo sử dụng của Chúng tôi bao gồm Huyền Không Phi Tinh thuận-nghịch cùng phối hợp quẻ Lạc Việt Độn Toán và đây cũng sẽ luôn là phương pháp xuyên suốt cho tất cả các dự báo của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương . Quẻ Chủ : ĐỖ - TIỂU CÁT (ngày mùng 1 tháng Giêng năm Mậu Tuất) Quẻ Độn: Cảnh - Xích Khẩu Huyền không lạc việt phi tinh: Cử Tử nhập trung cung. Thiên Can Mậu- Thổ bình hòa Địa chi Tuất –Thổ Lạc thư hoa giáp : Vận khí Bình Địa Mộc Quẻ chủ Đỗ - Tiểu Cát : Tượng trưng của sự phát triển và thành công trong lĩnh vực văn hóa, kết nối, Dựa trên sơ đồ phân cung của Địa Lý Lạc Việt phối hợp Lượng thiên Xích trên nền tảng Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài 9 – Ly 7, chúng ta xem xét trên từng khu vực -Cửu Tử nhập trung: Sao Hữu Bật Cửu Tử - 9 theo Huyền không đại quái là Lệnh Tinh, theo Huyền Không phi tinh là tiến Khí chính Thần – ngũ hành thuộc Kim (khác với HKPT truyền thống thì ngũ hành của Cửu tử 9 thuộc Hỏa). Đây chính là sự cát lợi bởi được hỗ trợ từ Thiên can và Địa chi cho dù khắc vận khí Mộc. -Tả Phù Bát bạch 8 đáo cung Tốn - Tây Nam : là Sao đương lệnh (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Mộc. Cho dù là cát tinh nhưng nằm tại cung Tốn thuộc Kim (Huyền không Lạc Việt) nên cũng giảm đi rất nhiều sự cát lợi của sao này. -Phá Quân Thất xích 7 đáo cung Chấn: là sao thoái khí nhưng vẫn được coi là cát tinh trong vận 8.Được hỗ trợ cung Chấn Mộc lại càng gia tang thuộc tính Hỏa của nó. -Vũ Khúc Lục bạch 6 đáo cung Khôn –Đông Nam: là sao suy khí trong vận 8 lại bị cung Khôn thuộc Hỏa khắc nên đây là tổ hợp chiêu hung. -Ngũ hoàng 5 đáo cung Khảm- Bắc: đây là chủ của Hung sự trong năm tại phương Bắc. -Văn khúc Tứ lục 4 đáo cung Đoài: Là sao tử khí trong vận 8 lại được hỗ trợ từ cung Đoài thuộc kim nên sao này sẽ phát huy hết tính chất xấu của nó. Tuy nhiên, do cửu tử 9 nhập trung nên nhờ cát khí của trung cung mà hạn chế phần nào tác hại gây ra từ sao này cũng như tăng thêm cát khí cho cung Đoài. -Lộc tồn Tam Bích 3 đáo cung Cấn: là sao tử khí trong vận 8 lại là một cặp âm dương với cung Cấn. Đây cũng sẽ là cách cục chiêu hung của sao tam bích tại phương này. -Cự môn Nhị hắc 2 đáo cung Ly: Là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc âm hỏa đới thổ đáo cung Ly dương hỏa. Một cặp âm dương là cách cục chiêu hung của Nhị hắc -Liêm trinh Nhất bạch 1 đáo cung Càn: là sao tiến khí trong vận 8, ngũ hành Thủy đáo cung Càn nên đây là cách cục Cát lợi cho phương Càn. Từ những hạng mục cát hung của từng phương, tôi xin đưa ra các nhận định tổng quan như sau: 1. Kinh tế Đặc trưng của năm Mậu Tuất chính là sự phát triển và phục hồi cho các nền Kinh tế. Các ngành nghề như ngân hàng, kinh doanh bất động sản, kim loại quí, chứng khoán, tiền ảo sẽ là một năm khởi sắc. Sắt và kim loại sẽ tăng giá trị, do đó cũng rất phù hợp với việc BĐS sẽ tăng tốc . Tuy nhiên cần hết sức thận trọng bởi tiềm ẩn khá nhiều rủi ro khi mà xung Thái tuế thêm với sao Lục Bạch ở phương Khôn – đại diện cho Tiền Tài. Sao Lục Bạch chủ về tiền bạc thất bại, hao tổn, hình ngục do tiền bạc gây ra, trộm cướp. Do đó các Tiệm Vàng , Ngân Hàng cần hết sức đề phòng nâng cao cảnh giác với các vụ trộm cướp. Các nghành nghề như Cầm Đồ hoặc cho vay lãi ngày cần đề phòng dễ mất mát vì do quá ham lợi nhuận. 2. Nông nghiệp: Nghành chăn nuôi đặc biệt như Trâu , Bò, Lợn, Cá lại cần hết sức cẩn trọng do bệnh tật, do tranh chấp thương mại hoặc chính sách nhập khẩu của đối tác đối với các mặt hàng xuất khẩu như Cá, Lợn. 3. Văn hóa: Sẽ là một năm phát triển và nhiều thành tựu đối với ngành văn hóa. Bên cạnh đó cũng sẽ có nhiều vụ scandan liên quan tới nghành Văn hóa nói chung. 4. Chính sách: Đây là năm có nhiều cơ hội thuận lợi cho các nhà Lãnh đạo ra những quyết sách, chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chúng ta sẽ đón nhận những chính sách rất tốt để phát triển cũng như giải quyết những bế tắc tồn đọng. Cho dù kết quả cuối cùng sẽ còn nhiều bàn cãi nhưng tựu chung vẫn là những bước tiến đáng ghi nhận. 5. Ngoại giao: Là năm rất dễ xảy ra xung đột vào các tháng 3-6-9-12 âm lịch, do đó cần có những cái đầu lạnh của các nhà lãnh đạo cho một nền hòa bình toàn cầu. 6. Thiên tai : Chúng ta đã trải qua một năm 2017 với lũ lụt và bão tố hoành hành , như tôi đã dự báo trong bài Tổng quan 2017. Năm nay lũ lụt sẽ giảm đi rất nhiều nhưng vẫn có, tuy nhiên mức độ nhỏ và dễ dàng đối phó . Năm nay thiên tai và tai họa lại là từ Hỏa hoạn, do đó việc phòng cháy chữa cháy cần đặt lên hàng đầu. 7. Nhân họa , tai nạn: Cướp bóc mang tính hung tợn lại gia tăng, các cửa hàng kinh doanh Vàng bạc và Ngân hàng cần hêt sức đề phòng cảnh giác. Tai nạn giao thông mang tính thảm khốc khi số lượng người chết gia tăng trên các trục đường chính Bắc – Nam. Cháy nổ tuy ít nhưng mức độ thiệt hại gia tăng, thủy tai tuy giảm so với năm 2017 nhưng cũng vẫn là những thiệt hại nặng nề do bão lũ. 8. Bệnh tật: Các bệnh liên quan tới Máu huyết, dịch sốt xuất Huyết sẽ lại xảy ra ở phía Bắc và Nam với mức độ cao hơn năm ngoái. Các loại bệnh khác cần lưu tâm liên quan tới Thận, Tiêu Hóa. Trên đây là các cái nhìn tổng quan cho năm Mậu Tuất 2018 của Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải). Tết đến Xuân sang, xin kính chúc quí vị một năm mới An Khang-Thịnh Vượng và thật nhiều Sức khỏe-Hạnh Phúc. Hà nội tháng 1 năm Mậu Tuất 2018 Việt lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    2 likes
  43. LÝ HỌC VÀ TRIẾT HỌC HIỆN ĐẠI. Thưa quý vị và các bạn thân mến. Với hệ thống của thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt - thì tính "Nhất nguyên" không phải chỉ là một phạm trù triết học, không phải chỉ là một quan điểm xuất phát từ nhận thức của tư duy; mà là một thực tại ở trạng thái khởi nguyên của vũ trụ: Là giây/O/ của vũ trụ, là "Thái cực", là "Đạo", là "Như lai tạng tính" và là Thượng Đế toàn năng theo cách mô tả của các tôn giáo.
    2 likes
  44. Về cơ bản năm xấu sinh con trai hay gái gì cũng xấu thôi :D chỉ là con gái tương tác xấu sẽ ko mạnh như con trai! Trong trường hợp sinh con hợp tuổi thì con trai tương tác cũng mạnh và nhanh, con gái thì hợp nhưng chậm và ko mạnh và khó thấy sự thay đổi đi lên rõ ràng. Và quan trọng hơn là bạn ko thể biết mình sẽ sinh trai hay gái lúc đậu thai. Cho nên cứ chắc ăn nhất là sinh năm hợp! Còn lỡ sinh năm ko hợp thì tùy tương tác, vì còn nhiều yếu tố khác như Phong Thủy, Tử Vi mà có xấu nhiều hay xấu ít. Và phải đợi thêm mấy năm nữa để sinh tiếp năm hợp, cũng lôi thôi đấy. Có thể trong mấy năm chờ đợi đó cũng đủ thức việc xảy đến rồi. Mà người mẹ càng lớn tuổi thì sinh con càng khó khăn. Cho nên bạn cứ cân nhắc và quyết định! Thân
    2 likes
  45. tuổi nhà này cũng ổn rồi đấy, không cần sinh nữa đâu. Nhưng giai đoạn hiện tại con còn nhỏ nên chưa vượng phát được, phải đợi con út lớn lên tầm 8-10t thì sự nghiệp mới tiến triển tốt. Nhưng hiện tại cũng đang có dấu hiệu thuận lợi lên dần, mặc dù chưa rõ ràng. Nhà bạn thì nên cẩn thận vào cá năm Hợi, Tý, Sửu, do nhà có tam hợp Tỵ Dậu Sửu, đến các năm trên thì vào hạn Tam Tai cả 3 người nên sẽ vất vả hơn bình thường. Nhà này vợ vất vả nhiều! Thân mến.
    2 likes
  46. DỰ BÁO NĂM MẬU TUẤT VIỆT LỊCH 2018 Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Kính thưa quý vị. Lời đầu tiên tôi xin gửi lời chúc mừng đến Ban tổ chức và quý vị có mặt nơi đây, cùng gia đình, một năm mới vạn sự an lành và tràn đầy hạnh phúc. Kính thưa quý vị. Bài dự báo của tôi trình bày với quý vị hôm nay, trên cơ sở những phương pháp dự báo nhân danh những giá trị thuộc về nền văn minh Đông phương, có cội nguồn từ nền văn hiến Việt. Phương pháp dự báo đầu tiên, mà tôi giới thiệu dưới đây là Huyền không Lạc Việt. Phương pháp này dựa trên sự hiệu chỉnh những di sản còn lại của nền văn minh Việt bị Hán hóa một cách sai lệch, sau khi nền văn hiến Việt bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Phương pháp Huyền không Lạc Việt trong dự đoán các sự kiện quốc tế, mà tôi hân hạnh trình bày với quý vị sau đây, dựa trên nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", khác với những di sản ghi nhận trong cổ thư chữ Hán, là: sự hoán đổi độ số ở vị trí phương Tây/ Đoài với phương Nam/ Ly. Và độ số giữa Tây Nam/ Tốn 4 với Đông Nam / Khôn 2. Sở dĩ phương pháp dự báo mang tính quốc tế của Huyền không Lạc Việt thực hiện được, cũng xuất phát từ sự phục hồi phương pháp Định tâm trong Địa lý phong thủy Lạc Việt với bất cứ hình thể nào, được thể hiện bằng mặt phẳng quy ước. Do đó, sự phân bố các yếu tố tương tác - là các vì sao trong Huyền Không - có thể mô tả ở cấp độ toàn cầu. Đó là cơ sở cho việc dự báo. Trên cơ sở phân bố các sao thuộc Huyền không Lạc Việt, quý vị cũng thấy các sao có tính chất xấu có số 5 - 2, phân bố ở các phương Bắc và Nam, Tây (Nhị Hắc), Tây Bắc (Ngũ Hoàng). Xin quý vị xem hình dưới đây: Phương pháp thứ hai mà chúng tôi ứng dụng trong dự báo này là Lạc Việt độn toán. Đây là một phương pháp dự báo được phục hồi, nhân danh nền văn hiến Việt, bằng cách kết hợp giữa hai phương pháp dự báo còn lưu truyền trong dân gian, là: Nhâm cầm độn toán và Lục nhâm đại độn. Quẻ đầu năm Mậu Tuất, theo Lạc Việt độn toán, vào giờ Tý. ngày mùng Một tháng Giêng là Đỗ Tiểu Cát. Đây là một quẻ chủ về sự phát triển, văn hóa, tình cảm, sự liên kết. Đặc biệt về kinh tế dấu hiệu phát triển. Vì Tiểu cát thuộc Mộc. Trên cơ sở của những phương pháp này, tôi trình bày với quý vị về những dự báo về nhiều mặt cho năm Mậu Tuất 2018 của thế giới, như sau. Về kinh tế thế giới: Có thể nói: Năm Mậu Tuất, thế giới sẽ chứng kiến một sự khởi sắc về kinh tế nói chung với một tính chất khác, mang tính lệ thuộc lẫn nhau nhiều hơn. Nhưng có phần phát triển hơi chậm so với nhu cầu. Nếu coi năm 2008, là năm mở đầu cho một cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới, thì năm Mậu Tuất 2018 là một sự khởi sắc ban đầu sau 10 năm khủng khoảng của những nền kinh tế chủ chốt của thế giới. Những biện pháp ổn định kinh tế bắt đầu có hiệu quả ở nhiều quốc gia. Nhưng đấy chỉ là một cái nhìn toàn cảnh, nói chung. Về chi tiết, một số quốc gia vừa và nhỏ vẫn đang chìm trong sự khủng khoảng. Ở các quốc gia này vẫn tiếp tục có những ngành nghề bị đình trệ với những Cty lớn phá sản, kéo theo những hệ lụy xã hội. Và điều này khiến cho người dân ở những quốc gia này cảm giác thất vọng với cuộc sống của họ. Những biện pháp nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế quốc gia giữa các siêu cường vẫn tiếp tục được áp dụng. Và điều này khiến cho nền kinh tế ở các siêu cường mang tính khởi sắc, nhưng nó cũng làm cho nền kinh tế toàn cầu nói chung chậm tiến độ phát triển trong bức tranh toàn cảnh của nó. Cũng như năm ngoái, tôi vẫn xác định rằng: Một chính sách đúng đắn nhất của những chính phủ thông minh trong lúc này, là cân đối được tương quan kinh tế trong nội bộ quốc gia. Điều này sẽ tránh được những hệ lụy xã hội, do ảnh hưởng của cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Còn những mơ ước về sự phát triển, có thể nói trong năm nay, mọi người có quyền hy vọng so với các năm trước. Nhưng cũng cần xác định rằng: Bóng ma của sự khủng khoảng kinh tế vẫn ám ảnh và chờ cơ hội quay trở lại với nền kinh tế toàn cầu. Về chính trị xã hội và ngoại giao. Năm Mậu Tuất 2018, vẫn tiếp tục là năm chứng kiến nhiều mâu thuẫn chính trị nội bộ ở nhiều quốc gia. Kể cả những quốc gia được coi là phát triển, như: Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp, Đức...Mâu thuẫn và xung đột với tinh thần tôn giáo cực đoan vẫn tồn tại. Đặc biệt là đầu năm và giảm dần cường độ về cuối năm. Mặc dù về phương diện tổ chức của các tổ chức cực đoan, tiếp tục bị tan rã nghiêm trọng. Những điểm nóng trên thế giới - đặc biệt là Trung Đông - do tranh chấp lãnh thổ sẽ tăng nặng, và mối đe dọa xung đột lớn rất có khả năng xảy ra. Nhưng đến nửa cuối năm, mọi việc dần ổn định và sự xuất hiện hy vọng cho một cuốc sống yên bình sẽ xuất hiện ở vùng đất này. Mặc dù chưa được giải quyết rốt ráo những mâu thuẫn xã hội, tôn giáo tiềm ẩn. Tuy nhiên, về ngoại giao, sẽ có những đột phá lớn ở cấp độ quốc tế. Nhiều mâu thuẫn giữa các quốc gia được giải quyết. Đặc biệt hai siêu cường là Nga và Hoa Kỳ sẽ có những mối quan hệ tốt đẹp hơn trong năm nay. Tuy không hoàn toàn như mong đợi, nhưng đây sẽ là sự kiện ngoại giao tạo bước ngoặt làm thay đổi lịch sử phát triển của nền văn minh. Về văn hóa xã hội. Nhìn lên bản đồ Huyền không Lạc Việt, chúng ta thấy hai sao Nhị Hắc và Tứ lục quản phương Nam, Sao Ngũ Hoàng và Nhất Bạch quản phướng Bắc. Bởi vậy, có thể xác định được rằng: Những giá trị tri thức văn hóa xã hội và khoa học nói chung, vẫn được phát triển và được tôn trọng, Nhưng bắt đầu xuất hiện những tư tướng bảo thủ cùng những âm mưu xung đột với chân lý. Những giá trị thật giả về học thuật và khoa học và chân lý lẫn lộn. Khiến cho xuất hiện nhiều cuộc tranh luận xã hội gây xáo trộn sẽ xảy ra. Trong năm Mậu Tuất 2018, thế giới sẽ chứng kiến nhiều thành tựu về văn hóa, lịch sử, giáo dục và những giá trị nhân văn không phát triển như mong muốn. Bởi những sao xấu tọa thủ ở những phương vị quan trọng, cho nên các vấn đề phát triển văn hóa xã hội cũng chưa thể như mong đợi. Về tệ nạn xã hội. Tính chất tàn bạo của tội phạm vẫn tiếp tục nghiêm trọng. Những tệ nạn xã hội, như: lừa đảo, trộm cướp....nếu xét về số lượng thì có giảm, tuy không đáng kể. Nhưng cũng không tăng trong một bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái. Tuy nhiên, về mặt luật pháp sẽ ngày càng hoàn chỉnh ở một số quốc gia và quốc tế trong việc quản lý xã hội. Về nhân họa. A/ Tai nạn: Những tai nạn như: Đắm tàu, rơi máy bay, lật tàu hỏa, đâm xe hơi....tuy giảm về số lượng, nhưng tăng nặng về mức độ nghiêm trọng, do chết nhiều người. Riêng về tai nạn hàng không, năm Đinh Dậu, tuy không khủng khiếp bằng cách đây vài năm trước, rớt đến 5 máy bay dân sự. Nhưng những vụ rớt máy bay thương tâm cũng sẽ xảy ra tương tư , nhưng ít hơn về số lượng, nếu so với số lượng 5 vụ so với vài năm trước đây. B/ Khủng bố: Những tổ chức khủng bố tiếp tục tan rã, bởi sự kiên quyết đối phó giữa các quốc gia. Nhưng những hành vi khủng bố vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt các nước từ Bắc Mỹ đến phần châu Âu nước Nga, rất dễ trở thành những hoạt động của các tổ chức khủng bố. Do các sao Ngũ Hoàng Tây Bắc/ Bắc và Nhị Hắc phương Tây chiếu ở các phương này. Tuy nhiên, thiệt hại là không đáng kể. C/ Chiến tranh: Nguy cơ chiến tranh vẫn tiếp tục đe dọa ở các điểm nóng như vùng Hoa Đông và được bổ xung bằng một địa danh mới là Đài Loan với Hoa Lục. Ở các nơi khác, như Trung Đông, nguy cơ chiến tranh cũ giảm dần, nhưng nổi lên sự mâu thuẫn mới. Tuy nhiên, nó cũng chỉ căng thẳng ở đầu năm. D/ Dịch bệnh: Cần đề phòng những bệnh liên quan đến hệ tiêu hóa. Đặc biệt ở Tây Phi, Bắc Mỹ và phần Châu Âu. E/ Vệ sinh an toàn thực phẩm: Có nhiều cố gắng mang tính quyết liệt của chỉnh phủ các nước, khiến cho tệ nạn liên quan bị đẩy lùi một cách rất căn bản. Nhưng lại xuất hiện các thực phẩm giả, thuốc giả cần phải đề phóng. Về Thiên tai. Hạn hán, bão lũ đều tăng nặng và mang tính hủy hoại lớn về tài sản, người và của. Về khoa học kỹ thuật. A/ Khoa học kỹ thuật quân sự: Năm tới chỉ là sự hoàn thiện những loại vũ khí, khí tài quân sự tiên tiến đã công bố những năm trước đó. Không có phát minh gì nổi bật. Nhưng trong năm Mậu Tuất sẽ xuất hiện một loại vũ khí, hoặc chí ít là sự manh nha về ý tưởng thực nghiệm một loại vũ khí, dựa trên những nguyên lý vật lý hoàn toàn mới. B/ Khoa học kỹ thuật dân sự: Đây tiếp tục là điểm sáng của năm Mậu Tuất 2018. Sẽ có nhiều phát minh mang tính đột phá trong các ngành khoa học kỹ thuật dân sự. Những bệnh về tim mạch có những phát minh mang tình bước ngoặt. Công nghệ thông tin, điện, điện tử cũng rất phát triển về những phát minh mới. Kết luận. Thưa quý vị. Mậu Tuất Việt lịch 2018, thế giới tuy có sáng sủa hơn về nhiều phương diện. Nhưng sự phát triển chậm chạp và với những thành tựu ít ỏi, không xóa đi được những ám ảnh của sự khủng khoảng kinh tế trong những năm qua vẫn còn ghi dấu ấn trong cuộc sống của con người. Nhưng truyền thống của người Việt Nam chúng ta luôn hy vọng và tin tưởng vào một năm mới mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Và nước Việt với tinh hoa của gần 5000 năm lịch sử, hy vọng vẫn đạt những sự tiến bộ về nhiều mặt trong năm Đinh Dậu Việt lịch. Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý vị. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp, chúc tất cả quý vị có mặt nơi đây cùng gia đình một năm mới an khang thịnh vượng. Xin cảm ơn. ============================
    2 likes
  47. CHÂN THÀNH CẢM ƠN ANH CHỊ EM. Chúc anh chị em một đời hạnh phúc và vạn sự an lành.
    2 likes
  48. Thân gửi quý vị quan tâm, Diễn đàn Lý Học Đông Phương sử dụng Lạc Thư Hoa Giáp của người Việt, thay đổi ở mạng Thủy và Hỏa so với Lục Thập Hoa Giáp của Trung Quốc. Tính hợp lý và logic của Lạc Thư Hoa Giáp đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh chứng minh trong các sách "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch" hoặc "Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục Thập Hoa Giáp". Vì vậy trong mục này chúng tôi không chứng minh lại nữa. Quý vị quan tâm có thể tìm các sách trên để tham khảo. Trước khi đặt câu hỏi liên quan đến Luận Tuổi, quý vị vui lòng kiểm tra lại mạng của mình, của các thành viên trong gia đình để biết chính xác. Trân trọng.
    2 likes
  49. Thực tình viết ra cái mục này rất thiện chí mà thấy nản quá. Điều mà Biken hỏi, xin trả lời thế này. Nếu ai muốn thắc mắc gì, thì nên nhắn tin hỏi riêng 1 người giải số nào đó, chứ không nên đưa ra diễn đàn về những thắc mắc có luận cứ, luận điểm, nói có sách, mách có chứng. Lý do: Trái đất hình cầu, quả đất quay quanh mặt trời cùng nhiều sao khác, đó là điều không phải tranh cãi bởi con người đã bay ra ngoài vũ trụ và có thể quan sát dễ dàng, còn trước đây thì người ta cãi nhau kinh khủng. Tử vi thì không (hoặc là chưa) có cái may mắn đó, rất nhiều sách viết về nó, nhiều lý dải khác nhau, nhiều ý tứ khác nhau, mỗi người hiểu 1 cách thì lý giải 1 kiểu và còn viết sách để lưu truyền hậu thế. Chính vì thế mà có nhiều ý kiến khác nhau lắm, ví như Ngựa ở Lợn, có người bảo là Ngựa chạy tới đường cùng, ngang với bị Triệt chém, Tuần băm, Tuyệt chảm, Kình giết, v.v.... Đương nhiên sẽ có người nói lại là đi đến cùng mới tốt, hay mọi chuyện vẫn hanh thông, không nên lo lắng quá, hay Chết là hồi sinh, có cơ hội đổi đời, v.v... Tiền lệ ở các diễn đàn đều có sự tranh cãi đến bài xích mất đoàn kết. Vì thế để tránh hoang mang cho cả người hỏi và mọi người đọc lẫn những người hạ tay gõ phím trả lời theo ý kiến riêng hoặc theo sách mà người đó theo học. Nói rất thô thiển thì người đó vô tình đã tạo lên sóng gió hoặc nổi, hoặc ngầm mà nội dung không hề có tính đàm đạo thảo luận. Vậy thì không nên, tôi nói thẳng là thế, không giống như người nào đó luôn nghĩ đến cảm nghĩ của người khác nên phải nói khéo, nói tránh, v.v... Tôi khẳng định với quý vị rằng hầu hết mọi người trên cõi đời này chẳng mấy ai nghĩ đến cảm nghĩ của bạn đâu. Cuộc đời mà, buồn 1 tí (miền Nam là 1 xíu), tôi thích 1 tí hơn, nên tôi chỉ buồn 1 tí thôi. khà khà
    2 likes
  50. Địa Sư Thiết Luật Hiện nay Phong Thủy đã có ít nhiều biến tướng, đặc biệt là giới Địa học thu nhận đồ đệ theo kiểu lớp nọ nối lớp kia, nên đã có ít nhiều xa mất cái gốc. Chỉ dạy cho học viên các kỹ thuật hành nghề mà không giáo dục về các chuẩn tắc cơ bản về Đạo Đức, có một số học viên đến chỗ đó xem loạn điểm loạn Huyệt Địa, thậm chí trực tiếp điểm huyệt đất ngay trên mạng Internet, đây là hành vi rất nguy hại, một mặt đã vô ý phá hoại hoàn cảnh sinh thái, một mặt lại làm cho mọi người quay trở lại với tư tưởng Phong Kiến, khiến cho con người ngày nay đua nhau chiếm đất để xây mộ lớn, như vậy trong vài năm tới thì đâu còn đất để mà dùng. Đất đai là gốc của lập Nước, vậy thì xà hội mai sau, quãng khoảng trăm nghìn năm sau, mọi người dựa vào đâu để mà sinh tồn, lấy gì để tiếp tục phát triển. Địa Lý Phong thủy vốn là việc tốt, song cần giữ gìn hoàn cảnh, bảo vệ đất đai nguồn nước, làm trong sạch khí, tiết kiệm đất dùng, tiếp tục phát triển đó chính là nguyên tắc để làm nền cho ứng dụng, song hành giữa nhu cầu và thời gian, việc Chôn Cất nên cải cách, hỏa táng cần giản dị, chỉ cần thấy nguyên thổ 1 thước để an. Trồng cây để có bóng mát, nhiều mà vô ích thì có hại. Chớ nên lập Bia Lớn, bê tông cốt thép với gạch cứng, ấy là tự mình đoạn Khí Mạch mà giam mình, nên thừa tiếp Khí tinh vi của trời đất tự nhiên. 1. Cầu Phúc Tạo Phúc Trước Lấy Thành Làm Đầu : Bất kể mời người xem Phong Thủy hay xem hộ Phong thủy cho người, cả hai đều tất lấy thành tâm thành ý làm đầu. Tâm mà không thuần tức Ý Niệm không thuần, như thế Khí sẽ không định, Khí đã không định tất không thể hợp nhất hai Khí Âm Dương, thế thì nói gì đến thu hoạch Phúc Đức. Còn như thành tâm thành ý mà không có được Phong Thủy cực tốt, thì cũng không đem đến Đại Hung, giả gặp hung họa cũng đã giảm lực. Phong Thủy tốt không ở Tâm tốt, Tâm tốt không khỏi cần tích Đức. 2. Phong Thủy Có Thể Trấn Không Thể Đào Lên, Oán Gia Nên Giải Không Nên Kết. Thạch cao điểm đậu hũ nhất vật giáng nhất vật, hại người tổn thương mình, người nguy đã diệt trước, tổn Chân Long Đại Địa tất nguy cho xã tắc….. Đó là nói không nên lợi dụng nguyên lý Phong Thủy để làm tổn hại tha nhân để mình kết oán tình với người, càng không nên vô cớ phá hoại Phong thủy của người khác làm tổn thương Địa Mạch. Giăc khoảng đất trời hưng suy có luật, người không thể vì cải biến mà phá hoại, nguy cấp cho người mà cũng họa hại đến thân mà diệt vong, chỉ có thể lấy cái chết của mình mà làm điều khắc nghiệt mới có thể hại người, cũng giống như mượn tay người này hại người kia, như nếu tổn hoại phải Chân Long Đại Địa (Các Khí Mạch Lớn) thì có thể tổn hại đến cả một quốc gia, có thể đưa đến những vấn đề nghiêm trọng hoặc tai biến lớn, như nếu là Can Long, Đại tôn Quý Long hoặc Sông Lớn bị phá hoại nghiêm trọng, tất phát sinh sự vận chuyển gãy đổ của Khí vận Thiên Địa, nhân tâm cũng vì thế mà thành ra khô khan cứng lạnh, xã hội trong khoảng 10 năm cũng bị hỗn loạn….. 3. Đất Tốt Cần Có Pháp Đối Dụng, Phát Phúc Cần Phải Xem Thời Vận. Âm Trạch, Dương Trạch không giống nhau, xí nghiệp hay các nhân có sự phân biệt, đất tốt cần phải phối hợp mệnh, lập hướng nên cần xem tháng năm. Xem được Đất tốt, Đất lớn không thể tự dùng cho mình, Chân Long Chính Huyệt không thể coi nhẹ thu lấy không thể lần phân chia loạn xạ. Đó là vì nói đến Đất Tốt khi thu dùng cần hội đủ Thiên Thời Địa Lợi Nhân Hòa khi đó mới phát huy hết tác dụng, đất tốt không thể tùy tiện từ dùng, Chân Địa không thể coi thường lấy loạn, tức chỉ cần chia lấy đất bên cạnh Huyệt Địa cũng đã coi như phá hoại Địa Mạch, Chân Huyệt khi đó coi như bỏ phế, tai vạ do đó mà sinh, đồng thời coi như đã làm lộ Bí Mật Địa Lý cho người đời biết vậy ! 4. Đất Nhỏ Xem Phúc Đức, Đất Lớn Xem Cơ Duyên. Phúc bạc duyên mỏng không thể chiếm Đại Địa, thời vận chưa đến không thể cưỡng tạo cưỡng chiếm Địa Mạch. Đó là nói về xem đất cầu đất trước tiên cần xem xem tự thân mệnh cách có phúc phần và đức tháo hay không rồi quyết định, nghèo thì lấy Phú Cục, Nguy thì lấy Bình Cục, Phú thì cầu giữ gìn trường tồn cho con cháu; Quý thì cầu An Khang bảo bình ổn, Trí với Dũng thì thu lấy Quý Cục mà cứu đời, các sự thu ấy đều cần xem thời vận đến hay chưa. Hiện nay bởi vì xã hội là thông tin giao lưu phát triển, cầu lấy Phong Thủy cũng có sự biến đổi trở lên dễ dàng, có một số người đi xa trăm dặm thậm chí nghìn dặm để mà tìm Chân Long Bảo Địa, họ cũng cũng không tiếc bỏ số vàng lớn để mà sở hữu, trộm sao cho một vận trong Tam Nguyên có thể đại phát đặc biệt, đúng là lầm lớn. Bằng vào phân tích khảo chứng phàm là các Chân Long Đại Địa vận hành một vòng cần một vài trăm năm, thậm chí nghìn năm mới quay lại một vòng, có một số đất tốt của một số gia tộc ở đã vài trăm năm sau mới phát một lần, có cái 3, 5 trăm năm rồi chưa phát, như Thiều Sơn là đất Tổ của Mao Trạch Đông từ đời Minh Hồng Vũ đã đến đó cư trú, vài trăm năm sau chưa có hiển đạt, thậm chí 5 trăm năm sau mới xuất Vĩ Nhân một đời Mao Trạch Đông. Lại có một số Phong Thủy Bào Địa ở đó vài trăm năm không phát, đến khi chuyển đi đất khác thì đại phát cát tường, như đất Tổ của thủ tướng Lý Quang Diệu đó. Cũng có một số khác rất kỳ quái, cả dòng họ đến ở vài trăm năm không phát, mà có người vừa mới dọn đến thì đã sinh quý tử thậm chí qua đường tạm trú một thời gian đã phát phúc. Cho nên mới nói Đất Phú Quý cũng cần xem cơ duyên. Đặc biệt nói rõ hiện nay lưu hành Tam Nguyên Huyền Không Đại Nguyên Pháp dùng để đoán xem Tọa Hướng với nguyên vận có hay không phù hợp, lại đoán Long vận thế vận tất vạn vạn không thể, Chân Long hành vận không thể theo Tam Nguyên (Thiên vận), mà theo Can Long và Can Khôn Đại Quái, Tam Nguyên Cửu vận cũng là Thiên tinh Lưu Hành vận, đối ứng là Thiên Khí (Ngoại Khí), mà Càn khôn Đại Quái lại là Địa Long Hành Vận, đối ứng là Địa Khí (Nội Khí), chỉ có khi nọi Khí và Ngoại Khí đồng thời cùng đến giao hỗ cảm ứng tương sinh thì Chân Long mới có thể đại nhả Tinh Hoa, Tinh Hoa Quý Nhân ứng theo vận mà sinh. Đó là dó Tiên Hiền 10 đời Tổ Sư của bản môn tập hợp trí tuệ hàng trăm năm tổng kết kinh nghiệm mà có, tức cũng có rất nhiều các Phong thủy Đại Gia và Quốc Sư trong triều đã không hề được nhìn qua. Đến như Thiên vận Địa Vận khi nào cùng đến, Thiên Khí Địa Khí giao ở điểm nào (Phương vị), làm thế nào để tính toán thì đó là một bí mật, không có được Pháp đó thì không thể nào biết! Theo Tiên Sư nói Cổ Thánh Hiền cũng là xem tượng trời rồi đoán định, có thể thấy đó là Thiên Cơ Cấm Học không phải sức người có thể thấy được! Đất lớn bất kể là Quý Cục, Phú Cục hoặc Cục Hào Cường, đều không thể coi thường lấy dùng loạn, thuộc Sơn Xuyên Kỳ Trân thì triệu người mới có một mới dùng được, trong nghìn năm chỉ được vài chỗ, để được phú quý cũng còn rất nhiều hiểm hung, đùa bỡn không tốt cầu phúc tất thành họa, thực tế là được không đủ mất cho nên hầu như bất lợi cho người. Đến như đất lớn đại phú đại quý ở thế gian có rất ít, trong khoảng hơn trăm năm mới có thể thấy một lần Vận Địa Vận Thế với Nhân Đức hợp một, không thấy không cầu là tốt, bởi vì đa số các đất kiểu đó đều sinh ra các bậc danh thần, vũ tướng, đại nho Trị Quốc An Bang, anh hùng hào kiệt hoặc đều là vua một nước mới có thể dùng, chứ còn Phong Thủy Sư và các cá nhân chớ mơ tưởng. Vì sao như thế, có người cho rằng như thế là chỉ có ở xã hội Phong Kiến, kỳ thực không phải vậy, thí tưởng như chỉ có khi sau một thời gian quốc gia động loạn và xã hội phát sinh biến động lớn thì mới xuất hiện nhân tài kiệt xuất, họ là người sẽ nắm trong tay đại quyền quyết định sự hưng suy của quốc gia, sinh tử an nguy của nhân dân. Thế nên trong thiên hạ loại Địa Sư loạn dùng loạn tác có rất nhiều, họ có thể tác đọng đến một đất, làm một huyệt là Thiên Hạ Đại Loạn, hỏi rằng con cháu mai này phải làm sao !? Người xưa có cảnh cáo rằng : Âm Dương Bất Khán Chân Long Địa, Khăn Liễu Chân Địa Nhãn Tình Hạt !cổ nhân thực là đã cảnh cáo không nên đem sự an nguy của quốc gia, nhân dân cùng sự phúc đức trường tồn của con cháu mình ra làm trò đùa, từ xưa đã có vô số các ví dụ về vẫn đề này, phàm không tuân thủ tích đức thì tất sau này tuyệt hậu, nếu giữ gìn được thì có thể giữ gìn con chàu sau này bình an nhân đinh hưng vượng. Điều này thế nhân không thể không nhớ. Đến như nghìn năm một Thánh Hiền ( Văn Vương – Khổng Tử - Chu Tử), năm trăm năm một Minh Quân (Là Vua Khai Quốc Trị Loạn Hưng Thế, Công Nghiệp Truyền Nghìn Năm, Đức Lớn Ra Khắp Bốn Biển) tất là thừa người Thiên Vận Địa Vận Thế Vận ứng thời mà sinh, trời giáng tượng, đất ứng vận, người theo sáng sủa, chẳng phải do sức người mà có, không ngờ không nói, ngẫu nhiên gặp được dấu tượng cũng không được lan truyền, nếu không tất tai họa liên miên. Như có người hỏi, đã có sự cấm kỵ thế thì làm sao để dùng Phong Thủy, kỳ thực là cổ nhân đã cho chúng ta về phương pháp giải quyết, từ đời Thanh đến nay có lưu hành Tam Nguyên Huyền Không Đại Vận Pháp cũng có thể lấy vận dụng( Phương pháp tại hướng chọn lựa ngày giờ của Tam Hợp Phái cũng có thể vận dụng), chỉ cần hợp vận hợp thủy Cục Hình Cục lại được năm tốt, ngày tốt tức tính là đại cát, không cần phải tìm tòi Long Huyệt, tức không cần hợp thủy cục không cần chọn lựa đại vận, chỉ cần chọn lựa giữa Trạch Vận với vận trình Mệnh Chủ tương sinh tương hợp cùng năm tốt ngày tốt xây dựng hoặc vào ở cũng có thể thu được đại lợi. Vì sao lại thế, cần biết rằng hiện nay xã hội vận động biến đổi rất nhanh, tuy nhiên Thiên Vận (Tam Nguyên Đại Vận cùng Lưu Niên) không đổi, nên tủy xem hoàn cảnh mà cải biến, sông lớn, đường đi, cầu cống, hầm ngầm đều được con người tạo ra rất nhanh, quy luật vận hành của Địa Vận Địa Khí cũng theo đó mà cải biến, không chỉ nên chấp vào cổ pháp, nếu không ứng dụng sẽ không chuẩn xác sẽ phát snh hung họa ! Ở đây tôi đã đưa toàn bộ các kiến thức tổng hợp bí truyền của các bậc Tiên Hiền Thánh Sư không lưu dấu điều gì, kết hợp với thực tế xã hội ngày nay làm sự tổng kết cho hậu thế, hy vọng có thể đối với người đời có sự giúp đỡ và chỉ rõ. 5. Đất Đại Quý Không Quá Hai Triều, Đất Đại Phú Không Quá Ba Đời. Lại nói về các quan chức lớn nắm đại quyền thế cũng không thể vượt qua 2 triều đại khác nhau, đấy là cảnh báo người đời khi đắc quyền nên chú ý giữ gìn tự mình xem xét không nên dựa vào quyền lực mà lừa dối thế nhân. Ba đời có thể hình dung quãng trăm năm, ở đây nói rõ giàu nghèo cũng không quá trăm năm không biến đổi, cảnh báo chúng ta chớ vì giàu có mà bất nhân, cần lúc ở yên nhớ khi nguy cấp. 6. Phong Thủy Sư Chỉ Nên Làm Công Thần Chớ Nên Làm Tội Nhân. Thuật Phong Thủy vốn là vũ khí để điều tiết sự sai lạc của tự nhiên, quân bình sự giàu nghèo trong xã hội, cũng lại là lợi khí làm cho tăng tốc phát triển của xã hội. Phong Thủy một mặt là vì đại chúng xã hội tạo phúc, mặt khác cũng lại là tăng thêm sự tranh đấu phân hóa giàu nghèo trong xã hội, cho nên đất tốt cần thận trong mà điểm, nếu để rơi vào tay kẻ gian tà là tạo tội vậy. Thận Trọng. 7. “Một Người Ngồi Kiệu Mấy Người Khiêng, Một Nhà Phú Quý Nghìn Nhà Nghèo, Một Tướng Nên Công Vạn Xương Phơi !” Nguyên lý chọn phúc của Phong Thủy giống như nguồn nước hoặc sức học giống như cách làm cho cán cân giữ được thăng bằng, là đem lực lượng vật chất giàu có chia làm làm chuyển dịch tụ tập mà thành kết quả có được sự cân bằng tương đối, đối với một số người giàu có cần khiến họ bỏ ra một phần làm việc thiện để duy trì, cho nên mới nói Đại Phong Thủy mà không có Đại Phúc Đức thì không thể hưởng dụng, nếu có ngẫu nhiên cưỡng làm hoặc có được thì phúc cũng chẳng lâu dài, đó là nguyên lý chuyển hóa năng lượng của Phong Thủy( Tạm gọi là Quy Luật Phong Thủy Lực Học) nó cũng giống như nguyên lý Tàng Phong Tụ Khí của Phong Thủy Học. Chẳng qua toàn bộ mà nói Thuật Phong Thủy tức tại trong vô hình thúc đẩy xã hội phát triển, cân bằng điều chỉnh chuyển hóa sự giàu nghèo trong xã hội, ở vào một cấp độ cao nó có lợi cho sự bảo hộ hoàn cảnh nói chung. 8. Trồng Cây Được Mát, Khơi Nước Mở Nguồn, Mời Người Xem Đất Nên Có Hậu Tạ. Phàm việc gì cũng có sự tác dụng của Nhân Quả, chọn lựa một chỗ Phong Thủy tốt đương nhiên cần có sự bắt đầu tốt thì mới thu hoạch, các Thầy Phong Thủy Chân Chính thay người làm Phúc (Phong Thủy Bậc Cao) tức là đã tự mình làm tiêu giảm Phúc Đức của mình (Âm Đức), bởi vì khi tạo phúc cho một người thì đồng thời trong vô hình huyền minh cũng làm tổn hại lợi ích một số người, tiết lộ Thiên Cơ Địa Lý phản bội lại quy luật sự vận chuyển trong tự nhiên, đầu tiên đã làm tổn hại Phúc Lực của bản thân và hậu thế, (Có một số kẻ tục nhân không hiểu biết về Phong Thủy đi lừa đảo người trong thiên hạ là đã tự chôn mất Đạo Đức Thiên Lương vậy thì tất ngày tuyệt diệt không xa) cho nên nói đối với Phong Thủy Sư cần có sự hồi báo tương ứng nhất định. Hậu tạ ít nhiều là ở nơ mỗi người, nếu không tất cả hai bên cùng bất lợi, sự ứng nghiệm không xa gì. Thế nhưng người thường không hiểu lại hay cho rằng ấy là lừa đảo lấy tiền bạc. 10. Phong Thủy Chuyển Luân Lưu, Phú Quý Đều Có Thời. Đạt được Phong Thủy tốt rất cần không “Đắc ý vong hình” là làm không kịp, Khí Vận có số định, vinh khổ cũng có thời; không vì có được sự trợ giúp của Phong thủy đến khi sa vào cảnh khốn cùng lại oán thán, chỉ cần nỗ lự sẽ đến hồi thông thoáng, thời đến vận chuyển, Phong Thủy sẽ giúp rập cho ta. Mười Điều Đại Thiết Luật “Ngũ Bất – 5 Điều Không Được” : Không vọng ngôn, nói bừa, nói quá, nói vô căn cứ. Không vọng tác, làm bừa, làm ẩu, làm hại người. Không tự dùng cho mình; Không điểm Chân Long Càn Khôn Huyệt;(Giữ lại cho người có nhân duyên, do Trời Xanh định rồi). Không tiết lộ Thiên Cơ; tốt nhất là tại các đất chưa phát tích thì không được tiết lộ trước bí mật cơ trời; đề phòng người làm hỏng. “Ngũ Yếu – 5 Điều Cần Phải Có” : Cần vì người mà làm điều Phúc; Cần giúp nghèo cứu yếu; Cần trừng ác dương thiện; Cần bảo hộ địa mạch; Cần cẩn thận dạy học trò; Tích Đức Và Tổn Đức Tích Đức : Tức là vì người làm Phúc; giúp nghèo trợ khổ; trừng ác dương thiện; cứu người khi nguy khốn; không lừa không dối; giữa miệng như bình; phúc đức tương đương; bảo vệ đất có công; khuông phù xã tắc. Tổn Đức : Mê người làm hại; Phúc Đức không cần; tham tự lấy dùng; mang tâm hại người; Dối người gạt tiền; Đấu Pháp Phong thủy; Giúp kẻ ác làm điều tai ngược; loạn điểm Long Huyệt; tiết lậu Địa mạch. Chú Ý : Cổ truyền loạn điểm Chân Long Chân Huyệt và phá hoại Long mạch là đệ nhất đại kỵ của Phong Thủy Sư, với mê hoặc người với làm hại người lấy tiền cũng tính gấp trăm lần. Bởi vì trời đất để tạo ra được một nơi Long Huyệt cần đến cả vạn triệu năm, tổn hại khó phục hồi, tiết thoát cũng cần đến vài trăm nghìn năm mới khôi phục được, nhớ điều đó nên cần thận trọng! Tất cả sự tạo táng đều nên lấy Sơn Hướng Nguyên Vận và năm tháng ngày giờ tốt là thu cát lợi, nên hạn chế sử dụng các Long Huyệt, nếu như gặp được Chân Long Chính Huyệt thì chớ coi thường thu dùng.
    2 likes