• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Leaderboard


Popular Content

Showing most liked content since 03/06/2019 in all areas

  1. NGÀY GIỜ TỐT 2020 Năm CANH TÝ Vận khí Bích Thượng Thổ PHƯƠNG PHÁP: Phương pháp chọn ngày tốt xấu được lưu truyền từ hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc Việt nam là rất đa dạng. Chúng tôi sử dụng phương pháp loại trừ, tức là dùng tất cả các phương pháp chọn ngày giờ theo phong tục cổ truyền để chọn ra một ngày được coi là tốt nhất sau khi loại ra những ngày xấu dựa trên các phương pháp này. Các phương pháp Cổ bao gồm các phương pháp: - Sinh khắc của Can Chi - Nhị thập bát tú - 12 Chỉ Trực - Hoàng Đạo – Hắc Đạo - Sát chủ, Thọ tử, Dương Công Kị Nhật, Tam nương, Nguyệt kị, Vãng vong, Thiên Tai-Địa Họa Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Kỷ Hợi 2019 và chào đón năm mới Canh Tý 2020. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 ngàn năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được gìn giữ . Phong tục truyền thống bao gồm ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, đón Lành tránh Dữ. Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) đề xuất về các ngày được coi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Toàn bộ ngày giờ dùng trong năm Canh Tý vận khí Bích Thượng Thổ theo Lạc Thư Hoa Giáp. Tất Niên: Đây là một nghi thức tổng kết và ghi nhận những thành quả sau 365 ngày lao động sản xuất của Gia Đình và Dòng Tộc. Thông thường sẽ diễn ra vào các ngày 29 và 30 tháng Chạp với một nghi lễ Cúng Thần Linh và Gia Tiên. - Ngày 24* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h. - Ngày 26* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 17-19h; 21-23h. - Ngày 30* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 17-19h; 21-23h. Ngày Xuất hành, Mở hàng: Ngày xuất hành là ngày đi xa để làm việc hay thực hiện việc quan trong chứ không phải là đêm 30 tết hay sáng mùng 1. Tuy nhiên theo phong tục thì ngày mùng 1 tết là ngày xuất hành để chúc tết và tới Chùa cầu An, nên sẽ có khung giờ tốt . * Ngày mùng 1* tết năm nay là ngày Hoàng Đạo nên chúng ta có thể ra khỏi nhà để đi xông đất hoặc Lễ Chùa từ khung giờ 23-01h; 7h-9h; Ngày Tốt Khai Trương ,Mở hàng: - Mùng 6* tháng Giêng: 5h-7h; 17-19h - Mùng 9* tháng Giêng: 7h-9h; 11-13h. Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Tây Bắc Tuổi xông đất: Tục xông đất đầu năm là một nét đặc trưng của dân tộc Việt nam được lưu giữ qua hàng ngàn năm. Đây là tập tục không thể thiếu trong ngày đầu năm mới bởi đây là người đầu tiên bước vào nhà trong năm mới. Người xông đất được coi là người đại diện cho một năm mang tới cho chủ nhà sự may mắn và an lành cho một năm. Người được chọn phải là người không có tang, mạnh khỏe, tính tình cởi mở và vui vẻ. Năm 2020 thì người xông đất nên mặc áo màu vàng, đại diện cho màu của vận khí năm 2020 và những tuổi sau là những tuổi phù hợp nhất để xông đất : Mậu Dần(1998), Ất Sửu (1985); Mậu Thìn(1988), Tân Hợi (1971), Mậu Thân(1968). Riêng năm Ắt Sửu tuy tốt nhưng đang hạn tam tai, cho nên cần cân nhắc sử dụng Hướng Tốt Để Động Thổ: Phương vị động thổ cho năm 2020 là tại hướng Tây Bắc: 292.5 độ- 337.5 độ. Đây là phương vị tốt nhất trong năm Canh Tý, tại phương này chỉ cần cuốc 01 cuốc sâu xuống là xong. Lưu ý người động thổ không được cuốc thêm bất kì phương vị nào khác. Người được chọn động thổ phải là người không phạm kim lâu, hoang ốc, tam tai và là người bề trên có cùng huyết thống với chủ nhà –trong trường hợp mượn tuổi. Không được mượn tuổi người ngoài bởi đây là phương pháp sai. Các Phương xấu 2020 cần tránh: Năm 2020 các Phương xấu bao gồm: Thái Tuế đóng ở sơn Tý – Quí thuộc hướng Bắc, Xung Thái Tuế tại các sơn Ngọ-Đinh thuộc hướng Nam, Tuế phá ở sơn Mão - Ất thuộc hướng Đông, Tam sát bao gồm các sơn Tị – Ngọ –Mùi, Đại sát ở sơn Tý thuộc phương Bắc và Nhị hắc và Ngũ Hoàng tại lần lượt tại hướng Tây, và hướng Đông. Trung tâm hàng năm duy trì và phát huy những nghiên cứu của mình, chúng tôi đã phải tốn rất nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, chọn lọc theo đúng các tiêu trí "tốt" để thông tin đến cho Quí vị sử dụng. Chúng tôi mong quí vị quan tâm, động viên, chia sẻ với công sức của các nhà nghiên cứu bằng hình thức ủng hộ vào quĩ của Trung tâm (Số tiền là thì tùy tâm Quí vị) Mọi đóng góp xin chuyển vào: TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG số Tài Khoản: 0021000411012 Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Hà Nội NGÀY GIỜ TỐT NĂM CANH TÝ 2020 Là những ngày Tốt dùng để Động thổ, khai trương, xuất hành, cưới hỏi và những việc quan trọng. Tuy nhiên danh mục dưới đây là những ngày dùng chung trong mọi việc nên có những ngày không nằm trong danh mục dưới đây vẫn có những ngày tốt khác dụng cho những công việc cụ thể. Do vậy, quí vị nên tham khảo thêm với chúng tôi cho những công việc và mục đích cụ thể. Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau với những ngày có đánh dấu (*) là ngày Hoàng Đạo 1. Tháng Giêng: a. Mùng 1* tháng Giêng: giờ tốt 23-01h;7-9h; 11-13h; 15-17h. b. Ngày 6* tháng Giêng: giờ tốt 15-17h; 17-19h. c. Ngày 9* tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 15-17h; d. Ngày 19 tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 11-13h; 19-21h 2. Tháng Hai : a. Mùng 1 tháng Hai: giờ tốt: 13-15h ;19-21h b. Mùng 2 tháng Hai: giờ tốt : 11-13h; 17-19h; c. Mùng 9* tháng Hai: giờ tốt 15-17h; 17-19h; 21h-23h d. Ngày 12* tháng Hai: giờ tốt 3-5h; 7-9h; 15-17h. e. Ngày 15 tháng Hai: giờ tốt 3-5h; 7-9h; 15-17h. f. Ngày 16 tháng Hai: giờ tốt. 7-9h; 15-17h g. Ngày 21 tháng Hai: giờ tốt 5-7h; 15-17h; 17-19h; 21h-23h h. Ngày 24* tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 15-17h i. Ngày 26 tháng Hai: giờ tốt 11-13h; 17-19h;21h-23h j. Ngày 28 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 13-15h; 19-21h 3. Tháng Ba : a. Mùng 4 tháng Ba: giờ tốt; 5-7h ;17-19h; 21-23h b. Ngày 8 tháng Ba: giờ tốt; 13-15h c. Ngày 10 tháng Ba: giờ tốt; 5-7h ;9-11h; 17-19h d. Ngày 16*tháng Ba: giờ tốt: 5-7h; 9-11h; 13-15h e. Ngày 25* tháng Ba: giờ tốt 7-9h; 17-19h f. Ngày 28* tháng Ba: giờ tốt: 5-7h; 13-15h;17-19h 4. Tháng Tư: a. Mùng 10* tháng Tư : giờ tốt; 15-17h;19-21h b. Ngày 11 tháng Tư : giờ tốt: 5-7h; 17-19h c. Ngày 24* tháng Tư : giờ tốt 3-5h;17-19h. d. Ngày 30* tháng Tư :15-17h; 19-21h 5. Tháng Tư (Nhuận): a. Mùng 6* tháng Tư : giờ tốt; 7-9h; 15-17h b. Ngày 12* tháng Tư : giờ tốt: 9-11h; 15-17h;19-21h c. Ngày 15 tháng Tư : giờ tốt 5-7h;13-15h. d. Ngày 19* tháng Tư :15-17h; 17-19h e. Ngày 24* tháng Tư : giờ tốt 3-5h;17-19h;19-21h f. Ngày 25* tháng Tư :giờ tốt : 9-11h; 15-17h; 21-23h 6. Tháng Năm : a. Mùng 1 tháng Năm : giờ tốt; 7-9h;15-17h; 19-21h b. Mùng 4 tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 9-11h. c. Ngày 8 tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 15-17h. d. Ngày 17 tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 15-17h; 19-21h e. Ngày 20* tháng Năm : giờ tốt 9-11h; 13-15h. f. Ngày 29*tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 13-15h. 7. Tháng Sáu: a. Mùng 2* tháng Sáu: giờ tốt; 9-11h; 15-17h;19-21h. b. Mùng 8* tháng Sáu: giờ tốt 7-9h; 13-15h; 15-17h; 19-21h. c. Mùng 11* tháng Sáu : giờ tốt 9-11h; 13-15h;17-19h. d. Ngày 15* tháng Sáu: giờ tốt 17-19h e. Ngày 17* tháng Sáu: giờ tốt 13-15h; 17-19h; 19-21h. f. Ngày 24* tháng Sáu: giờ tốt 7-9h; 13-15h; 15-17h; 19-21h. 8. Tháng Bảy : a. Mùng 10 tháng Bảy : giờ tốt 13-15h; 19-21h. b. Ngày 11* tháng Bảy: giờ tốt 7-9h; 11-13h ;15-17h. c. Ngày 17* tháng Bảy: giờ tốt 11-13h; 15-17h; 19-21h. d. Ngày 19* tháng Bảy: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h. e. Ngày 24 tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h; 21-23h f. Ngày 26* tháng Bảy: giờ tốt 7-9h;9-11h; 13-15h; 17-19h. 9. Tháng Tám : a. Mùng 1 tháng Tám : giờ tốt 5-7h; 11-13h; 19-21h. b. Ngày 9 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h. c. Ngày 12 tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. d. Ngày 19 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h; 19-21 e. Ngày 25* tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 13-15h; 17-19h. f. Ngày 28* tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 19-21h 10. Tháng Chín : a. Mùng 1* tháng Chín : giờ tốt 7-9h. b. Mùng 4* tháng Chín : giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h; 21-23h. c. Mùng 10* tháng Chín : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 13-15h. d. Ngày 16* tháng Chín: giờ tốt 11-13h; 17-19h. e. Ngày 19* tháng Chín: giờ tốt 7-9h; 17-19h; 19-21h f. Ngày 29 tháng Chín: giờ tốt 3-5h;7-9h;19-21h. 11. Tháng Mười : a. Mùng 4* tháng Mười : giờ tốt 3-5h; 13-15h; 15-17h; 19-21h. b. Mùng 9* tháng Mười : giờ tốt 5-7; 9-11h; 21-23h. c. Mùng 15 tháng Mười: giờ tốt 9-11h: 13-15; 17-19h. d. Ngày 16 tháng Mười : giờ tốt 15-17h. e. Ngày 21* tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 17-19h; 21-23h. f. Ngày 25 tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 9-11h. g. Ngày 29 tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h; 21-23h. 12. Tháng Một (11): a. Mùng 1* tháng Một (11): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 19-21h. b. Mùng 10* tháng Một (11): giờ tốt 5-7h; 9-11h. c. Mùng 17* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. d. Ngày 26* tháng Một (11): giờ tốt 5-7h;9-11h; 21-23h. e. Ngày 29* tháng Một (11): giờ tốt 9-11h; 11-13h; 15-17h;19-21h. 13. Tháng Chạp (12): a. Mùng 6* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 15-17h. b. Ngày 9* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 17-19h. c. Ngày 12* tháng Chạp (12): giờ tốt 11-13h: 15-17h; 19-21h. d. Ngày 15* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 13-15h. e. Ngày 21* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 9-11h; 13-15h; 17-19h. f. Ngày 26* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 15-17h; 19-21h. g. Ngày 28* tháng Chạp (12): giờ tốt 11-13h: 15-17h; 19-21h. CHÚC MỪNG NĂM MỚI, CHÚC QUÍ VỊ MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG Hà nội tháng 12 năm KỶ HỢI Việt Lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    5 likes
  2. HỘI THẢO KHOA HỌC TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT Hà Nội ngày 02 tháng 05 năm 2019 Kính gửi các học giả, các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Cho đến nay, việc tìm về cội nguồn lịch sử văn hóa Việt vẫn còn một câu hỏi then chốt chưa được trả lời thỏa đáng: Cội nguồn lịch sử của dân tộc Việt bắt đầu từ đâu? Mặc dù vào thời Trần-Lê, các sử thần cho rằng, nước ta có sử từ khi lập nước Văn Lang dưới thời các vua Hùng, vào năm Nhâm Tuất 2879 TCN. Tính đến nay là gần 5000 năm lịch sử (2879 BC + 2019 AC = 4898 năm). Và sự xác định Việt sử gần 5000 năm văn hiến trở thành truyền thống văn hóa sử trong di sản dân tộc Việt Nam. Những cuốn chính sử của người Việt từ khi hưng quốc từ thế kỷ thứ 10, đều ghi rất rõ rằng: Nước Văn Lang Bắc giáp Động Đình Hồ , Nam giáp Hồ Tôn ,Tây giáp Ba thục, đông giáp Đông Hải. Đất nước do các vị vua Hùng cai quản truyền được 18 thời. Nhưng có thể nói, ngay khi hoàn thành bộ sử Đại Việt Sử ký toàn thư, nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã tỏ ý hoài nghi phần cổ sử Việt. Cho đến đầu thế kỷ XX, khi các phương pháp luận Sử học của nền văn minh phương Tây du nhập vào Việt Nam theo chân đoàn quân viễn chính Pháp, với quan niệm về các di sản khảo cổ như là một bằng chứng khách quan cần có cho việc nghiên cứu lịch sử. Trên cơ sở phương pháp luận này, đã xuất hiện rất nhiều học giả như: Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, kể cả các học giả Pháp… đều tỏ ra hoài nghi cội nguồn Việt sử vì tính mơ hồ của truyền thuyết và huyền thoại trong giai đoạn cổ sử thời lập quốc của Việt tộc. Tuy nhiên, tất cả những học giả này – tính từ Ngô Sĩ Liên, đều chỉ đặt vấn đề hoài nghi và không phủ nhận cội nguồn văn hóa sử truyền thống Việt trải gần 5000 năm văn hiến. Nhưng, từ những năm 70 của thế kỷ XX, rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong nước, lên tiếng phủ nhận cội nguồn văn hóa sử truyền thống. Hiện nay, các bộ thông sử hầu như đều khẳng định, lịch sử Việt Nam chỉ có khoảng 2700 năm. Và họ coi Thời hùng Vương, cội nguồn Việt sử chỉ là “liên minh gồm 15 bộ lạc”; “Cùng lắm chỉ là một nhà nước sơ khai”, với “Địa bàn hoạt động vỏn vẹn chỉ ở đồng bằng sông Hồng”. Cả hai quan điểm về cội nguồn Việt sử đều chưa có một kết luận ngã ngũ. Trong khi đó, việc tìm về cội nguồn Việt sử một cách trung thực, khách quan, phù hợp với những chuẩn mực khoa học, là một việc cần, cấp thiết cho không riêng gì với dân tộc Việt, mà còn là trách nhiệm của tất cả các dân tộc trên thế giới để xác định lịch sử tiến hóa và phát triển của mỗi dân tộc. Do đó, nếu chúng ta không xác định được thời điểm hình thành của lịch sử dân tộc, thì mọi cuốn sử được viết là không có cơ sở. Không thể chối bỏ tình trạng đáng lo ngại hiện nay là chúng ta đang trong cuộc đại khủng hoảng về Sử học. Vì vậy, vấn đề thiết cốt đặt ra hôm nay là phải xác định thời điểm cội nguồn lịch sử của dân tộc Việt. Điểm lại việc khảo cứu Sử Việt từ đầu thế kỷ tới nay, ta thấy ngoài việc sao chép những tư liệu từ trước của giới học giả kinh viện, và những luận điểm phù nhận cội nguồn văn hóa sử truyền thống của Việt tộc, còn có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra những phát hiện mới về cội nguồn cùng lịch sử dân tộc. Có thể kể đến những học giả, nhà nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu độc lập ở trong và ngoài nước, như Trung Tâm Nghiên cứu Văn Hóa Minh Triết (GĐ Nguyễn Khắc Mai), Trung Tâm Lý Học Phương Đông (GĐ Nguyễn Vũ Tuấn Anh), Trung Tâm Nghiên Cứu Tiền Sử Đông Nam Á (Dr. Nguyễn Việt), Trung Tâm Nghiên Cứu các hiện tượng & khả năng đặc biệt (GĐ Nguyễn Đức Thiện), Nhóm NC Tiền Sử & Văn Minh Việt, Nhóm Bách Việt Trùng Cửu, Nhóm Đá cổ Sa Pa... Ở nước ngoài như TT An Việt Toàn Cầu (Anh, Pháp, Mỹ, Canada...), Nhóm Tư Tưởng Australia, Nhóm Minh Triết Việt (Mỹ)... bằng cách sử dụng nhiều phương pháp học thuật, kinh nghiệm từ truyền thống đến khoa học liên ngành như Cổ Nghệ, Cổ Ngữ, Cổ Sinh, Nhân Chủng, Khảo Cổ, Đạo, Triết, Ngữ Lý, Huyền Sử, Lịch Sử, Cơ Cấu, Tâm Lý miền sâu, Công Nghệ Gene ADN... đã xây dựng được phần quan trọng nền tảng Lịch Sử Văn Hóa Việt thời Tiền sử. Trên hành trình tìm về cội nguồn lịch sử văn hóa Việt phải kể đến Triết gia Lương Kim Định (1915-1997), người đã cống hiến hơn 50 năm nghiên cứu để khẳng định vị thế dân tộc và đất nước Việt, một trong những cội nguồn văn hóa Phương Đông và Nhân Loại. Với triết thuyết văn hóa Việt Nho & triết lý An Vi được xây dựng trên nền tảng hệ thống Triết Lý nguyên Nho thuần Việt từ cội nguồn, ông đã khẳng định vị trí, con người, văn hóa, văn hiến và văn minh lúa nước Việt Nam từ hơn một vạn năm. Ngày nay, tri thức của Thế Kỷ XXI cho chúng ta biết sự ra đời của Công Nghệ Gene ADN, đã chứng minh những tiên tri và dự cảm của các nhà nghiên cứu về nguồn gốc Loài Người & Hành trình Nhân Loại của Thế Kỷ XX. Đó là sự thắng thế của Thuyết Một trung tâm về Nguồn gốc Loài Người (từ Châu Phi), với những trung tâm nghiên cứu Tiền sử Nhân Loại nổi tiếng như Oxford University, Birmingham Uni., Columbia Uni., Nhóm các nhà bác học về Gene J.Y. Chu (Texas Uni.), Stephen Oppenheimer, Balinger, Solhem II, Alice Robert (Birmingham Uni.), Alberto-Pizza (Torino Uni., Italy)... đã đưa ra nhận định: - 70.000 năm trước, người Homo Sapiens từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ di cư tới Việt Nam. Tại đây, các dòng người tiền sử hòa huyết sinh ra người Lạc Việt. - 50.000 năm trước, người Lạc Việt lan ra các đảo Đông Nam Á, chiếm lĩnh Ấn Độ. - 40.000 năm trước đi lên khai phá Hoa lục. Tiếp cận thông tin này, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn và Tiến sỹ Nguyễn Đức Hiệp từ nước Úc đã công bố nhiều bài viết trên tạp chí Tư tưởng. Luật sư Cung Đình Thanh cho in cuốn “Tìm Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam Dưới Ánh Sáng Mới Của Khoa Học”. Ở Pháp, Giáo sư Trần Đại Sỹ có một số công trình có giá khảo sát thực địa Trung Quốc, với tác phẩm “Thử tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam” chứng minh cho thời Tiền sử Việt. Ở Úc có nhà nghiên cứu VH Việt cổ, Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang với những chủ đề đa văn hóa như Ca dao, tục ngữ, Cổ tích Âu Cơ, chữ Việt cổ “Nòng Nọc”, Dịch lý, Giải mã Trống Đồng. Một nữ tác giả người Việt ở Mỹ tên Tao Babe công bố bài viết: “Việt cổ - cái nôi của văn minh châu Á”. Ngoài các tác giả trên, việc chứng minh cho cội nguồn Việt sử truyền thống còn có các tác giả trong nước như Dr Nguyễn Việt, Hà Văn Thùy, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Viên Như, Nguyễn Đức Thiện, Tạ Đức, Nguyễn Đức Tố Lưu… Để việc tìm về cội nguồn dân tộc Việt được kết quả và nhân danh những chuẩn mực khoa học đi tìm chân lý một cách khách quan, công bằng và bình đẳng, Trung tâm Văn hóa Minh triết cùng với Trung tâm Nghiên cứu Lý học phương Đông quyết định tổ chức Hội thảo khoa học TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT với mục đích: 1. Trình bày những khám phá mới về cội nguồn và lịch sử dân tộc. 2. Tiêu chí xác định thời có Sử của dân tộc Việt. 3. Xác định thời điểm hình thành Sử Việt. Chúng tôi mong các học giả, các nhà nghiên cứu thực sự quan tâm đến cội nguồn dân tộc Việt, sẽ bày tỏ quan điểm của mình và viết tham luận đóng góp cho Hội thảo theo ba chủ đề trên. Tham luận xin gửi: Ông Nguyễn Khắc Mai: maiminhtriet@gmail.com Ông Trương Sỹ Hùng: truongdonghao@gmail.com Ông Hà Văn Thùy: thuyhavan@gmail.com Thời gian: muộn nhất là ngày 30 tháng 07 năm 2019. Xin chân thành cảm ơn quý vị học giả và mọi người quan tâm đến cội nguồn Sử Việt. Thay mặt Ban tổ chức Giám đốc Trung Tâm Văn Hóa Minh Triết Nguyễn Khắc Mai
    3 likes
  3. TỔNG QUAN NĂM CANH TÝ 2020 Kính thưa Quí Vị, Hàng năm cứ mỗi dịp đầu Xuân, Tôi đều có những bài dự báo tổng quan cho năm mới dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và nền tảng nguyên lý “Hậu Thiên Lạc Việt phối HÀ ĐỒ”. Phương pháp dự báo sử dụng của Tôi bao gồm Huyền Không Phi Tinh thuận-nghịch cùng phối hợp quẻ Lạc Việt Độn Toán và đây cũng sẽ luôn là phương pháp xuyên suốt cho tất cả các dự báo của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương mà khởi sướng là nhà Nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh – chủ tịch Hội đồng khoa học của Trung tâm . Quẻ Chủ : ĐỖ - ĐẠI AN (ngày mùng 1 tháng Giêng năm CANH TÝ) Quẻ Độn: Cảnh - ĐẠI AN Huyền không lạc việt phi tinh: Thất Xích nhập trung cung. Thiên Can Canh- Kim và Địa chi Tý –Thủy tương sinh Lạc thư hoa giáp : Vận khí Bích Thượng Thổ Dựa trên sơ đồ phân cung của Địa Lý Lạc Việt phối hợp Lượng thiên Xích trên nền tảng Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài 9 – Ly 7 , chúng ta sẽ xem xét các tổ hợp Cát Hung như sau: - Phá Quân Thất xích 7 nhập trung: là thoái khí (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Hỏa. Vận khí Thổ cực thịnh tương sinh với Thất Xích Hỏa nhập trung nên trung cung vẫn được sự cát lợi của sao này - Tả Phù Bát bạch 8 đáo cung Càn: là Lệnh tinh (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Mộc lại ở Càn cung thuộc Kim nên cung này tuy có được cát khí nhưng cũng bị suy giảm. - Sao Hữu Bật Cửu Tử - 9 theo Huyền Không phi tinh là tiến Khí chính Thần – ngũ hành thuộc Kim (khác với HKPT truyền thống thì ngũ hành của Cửu tử 9 thuộc Hỏa) – sao này đáo cung Ly chính là đem lại sự hưng vượng cho phương Nam. Tuy nhiên do Tam sát và tương khắc tại phương Nam nên cát khí của sao này cũng bị suy giảm. - Liêm trinh Nhất bạch 1 đáo cung Cấn: là sao tiến khí trong vận 8, ngũ hành Thủy đáo cung Cấn thuộc Mộc tương Sinh nên đây là tổ hợp chiêu cát cho phương Đông Bắc. - Cự môn Nhị hắc 2 đáo cung Đoài: Là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc âm hỏa đới thổ đáo cung Đoài thuộc Kim. Đây là cách cục chiêu hung của Nhị hắc tại phương Tây. - Lộc tồn Tam Bích 3 đáo cung Khảm: là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc dương mộc đáo cung Khảm thuộc Thủy tương sinh nên đây là tổ hợp chiêu hung tại phương Bắc - Văn khúc Tứ lục 4 đáo cung Khôn: Là sao tử khí trong vận 8 ngũ hành Kim đáo cung Khôn ngũ hành Âm hỏa Đới thổ nên đây là tổ hợp chiêu Hung của phương Đông Nam. - Ngũ hoàng 5 đáo cung Chấn-Đông đây là chủ của Hung sự trong năm tại phương Đông. - Vũ Khúc Lục bạch 6 đáo cung Tốn –Tây Nam: là sao suy khí trong vận 8 lại được tương sinh từ Cung Tốn ngũ hành Kim nên nên đây là tổ hợp chiêu hung ở Tây Nam. Tôi xin đưa ra dự báo ngắn gọn nhất như sau: 1. Kinh tế - Năm Canh Tý sẽ là một năm Kinh tế bắt đầu đi vào hồi phục nhưng khó khăn ở đầu nămg và chỉ ổn định từ sau quí 3 của năm 2020. - Trong năm 2020 thì chúng ta sẽ tiếp tục phải chịu ảnh hưởng của những xung đột giữa các nền kinh tế lớn như Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc. Tuy nhiên căng thẳng đối với nền kinh tế của chúng ta sẽ giảm dần từ giữa năm 2020. - Bất động sản khởi sắc và sẽ là một năm tốt đẹp cho cả ngân hàng cũng như các nhà đầu tư BDS. 2. Xã hội : - Năm 2020 sẽ được dự báo là có những trào lưu mới xuất hiện , và mạng xã hội sẽ lại là một năm bùng nổ. - Y tế sẽ phải đối diện với một loạt các dịch bệnh như cúm, bệnh virus truyền nhiễm và ô nhiễm. - Nghành giáo dục với những cải cách chưa thực sự đúng đắn sẽ lại tạo ra những phản ứng trái chiều. - Một loạt các sự việc nghiêm trọng như tham nhũng và quan chức cao cấp sẽ lại được đưa ra ánh sáng. - Năm 2020 Chúng ta sẽ lại được đón tiếp những tin vui từ Thể thao, văn hóa. 3. Nông nghiệp: Nghành chăn nuôi đặc biệt như Lợn lại tiếp tục gặp vấn đề cho hậu quả từ năm 2019 và khả năng phục hồi phải tới cuối năm 2020. Các loại cá , tôm và thủy sản năm nay cần đề phòng dịch bệnh hoặc xuất khẩu sẽ kém. Hoa quả xuất khẩu đặc biệt là qua biên giới sẽ lại gặp trở ngại nên cần có sự điều chỉnh phù hợp để chúng ta không phải chứng kiến cảnh hoa quả thối bị vứt dọc biên giới. 4. Thiên tai : Cháy rừng, hỏa tai sẽ là hiện tượng trong năm 2020. Động đất lớn sẽ quay trở lại và các nước có Sóng thần như Nhật bản, Indonesia hết sức cẩn trọng. 5. Nhân họa , tai nạn: Hỏa hoạn sẽ là thứ chúng ta cần đề phòng trong năm 2020, đặc biệt là nhà ống cần hết sức lưu ý phòng trống hỏa hoạn. Các vụ tai nạn giao thông trên các quốc lộ lớn đặc biệt là trục Đông Tây sẽ gây ra nhiều hơn và đặc biệt thảm khốc. Dịch bệnh sẽ bùng phát từ mùa Xuân, các bệnh mang virus phát tán rộng rãi gây chết người hàng loạt. Chúng ta cần đề phòng và từng cá nhân phải cẩn trọng với những bệnh tưởng chừng như đơn giản. Trên đây là các cái nhìn tổng quan cho năm Canh Tý 2020 của Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải). Tết đến Xuân sang, xin kính chúc quí vị một năm mới An Khang-Thịnh Vượng và thật nhiều Sức khỏe-Hạnh Phúc. Hà nội tháng 11 năm Kỷ Hợi Việt lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    2 likes
  4. CHƯƠNG II. KHẢ NĂNG PHỤC HỒI THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ KINH DỊCH TỪ NỀN VĂN HIẾN VIỆT. MỞ ĐẦU Người viết đã chứng minh với bạn đọc rằng: Nền văn hóa Hán không thể phục hồi được thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Những nền tảng của học thuyết này, làm nên những bí ẩn của nền văn minh Đông phương, vẫn sừng sững thách đố tri thức của nền văn minh hiện đại. Nhưng bản văn cổ chữ Hán thực chất chỉ là sự sao chép lại một cách không hoàn chỉnh và chỉ giới hạn trong các phương pháp ứng dụng như một sự mặc định, chứ không hề được mô tả như một học thuyết hoàn chỉnh. Trong phần đầu của chương II, người viết tiếp tục chứng minh điều này, để bổ xung cho luận điểm minh chứng rằng: Nền văn minh Hán không thể là chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành, đã trình bày ở các phần trước. Vấn đề còn lại của chương II – và cũng là nội dung chính của chương này, là: người viết chứng minh những di sản văn hóa sử truyền thống còn lưu truyền trong nền văn hiến Việt, dù tan nát với sự thăng trầm của Việt sử, cũng đủ để chứng minh sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Hay nói cách khác: Đó chính là sự phù hợp với tiêu chí thứ II là chuẩn mực xác định nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Tiêu chí này phát biểu rằng: Nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết, phải chứng tỏ được nền tảng tri thức đã tạo dựng nên hệ thống lý thuyết đó và có khả năng phục hồi được học thuyết được coi là hình thành từ nền văn minh đó. Chúng ta bắt đầu từ danh từ Âm Dương trong các bản văn chữ Hán cổ trong phần tiếp theo dưới đây. Trong các bản văn cổ chữ Hán, từ Âm Dương được coi là xuất hiện vào thời Chu, trong các bản văn liên quan đến kinh Dịch, kinh Thi, kinh Thư, Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Về Ngũ hành thì được coi là xuất hiện trong kinh Thư với truyền thuyết vua Đại Vũ trị thủy trên sông Lạc Thủy (Một con sông nằm ở thượng nguồn sông Hoàng Hà). Chính vì sự xuất hiện của danh từ Âm Dương trong các bản văn nói trên, khiến các nhà nghiên cứu cho rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành ra đời trong nền văn minh Hán từ thời cổ đại. II. I. NHỮNG DI SẢN TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN VÀ SỰ MƠ HỒ CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH VÀ KINH DỊCH. I.1. DANH TỪ ÂM DƯƠNG TRONG BẢN VĂN CHỮ HÁN CỔ. Trong các tài liệu sự tầm được, người viết nhân thấy tư liệu của Giáo Sư Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dưới đây tương đối đầy đủ, để bạn đọc có một ý niệm cụ thể và khái quát về sự xuất hiện của từ Âm Dương và ngữ cảnh của nó. Từ tư liệu này, người viết sẽ trình bày luận điểm của mình về những vấn đề liên quan. Nguồn: Web của Giáo Sư Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ. Như vậy, qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng thấy đó chỉ là những ngữ cảnh xuất hiện liên quan đến danh từ Âm Dương. Hoàn toàn không phải là sự mô tà một khái niệm nội hàm của hai từ này, chưa nói đến sự xác định một học thuyết quen gọi là thuyết Âm Dương. Nếu cho rằng: Âm Dương xuất hiện từ thời Phục Hy, bởi hai ký hiệu và thì đây lại là việc hết sức phi lý. Bởi vì, đó chỉ là ký hiệu phi ngôn ngữ, để hàng ngàn năm sau, người ta phải sử dụng ngôn ngữ để mô tả nó. Nếu coi hai ký hiệu này là sự thể hiện ý tưởng tổng hợp của khái niệm Âm Dương, thì Hà đồ do vua Phục Hy tìm ra trên lưng Long Mã với những chấm đen trắng, cũng đủ thể hiện khái niệm Âm Dương rồi. Bạn đọc xem lại đồ hình Hà Đồ phối Tiên Thiên bát quái được coi là của vua Phục Hy tìm ra từ khoảng 6000 năm cách ngày nay. Rõ ràng sau vua Phục Hy trải dài 3000 năm, đến tận đời Chu không hề có bản văn cổ chữ Hán nào mô tả nội hàm kháo niệm Âm Dương với tư cách là một học thuyết. Rõ ràng sau vua Phục Hy trải dài 3000 năm, đến tận đời Chu không hề có bản văn cổ chữ Hán nào mô tả nội hàm khái niệm Âm Dương với tư cách là một học thuyết. Rõ ràng đây là sự phi lý nữa trong lịch sử hình thành cái gọi là thuyết Âm Dương trong lịch sử văn minh Hán. Nhưng ngay cả bản văn đời Chu, mà người viết giới thiệu ở trên cũng không làm sáng sủa hơn khái niệm của cặp từ “Âm Dương”. Cho đến 2000 năm tiếp theo trong văn minh Hán, đến đời Tống, Chu Đôn Di mới bàn về Âm Dương. Nhưng chính ông ta lại nhầm lẫn về khái niệm, khi cho rằng Âm Dương có trước “Lưỡng nghi”, mà người viết đã trình bày ở phần trên. Nếu Âm Dương có trước “Lưỡng Nghi” thì nó là một cặp từ mô tả một thực tại xuất hiện và vận động trong sự khởi nguyên của vũ trụ. Đâu phải là hệ quả của tư duy tổng hợp để gọi là một học thuyết?! Hay nói rõ hơn: Với 3000 năm tính từ đời Chu đến Tống, nền văn minh Hán vẫn không hề hiểu được nội hàm khái niệm của chính cặp từ Âm Dương, mà nền văn minh Hán tự nhận. Đấy là kết quả của cái gọi là “Thuyết Âm Dương xuất hiện vào đời Chu, trong nền văn minh Hán”. Mọi việc cũng không hề sáng sửa hơn với học thuyết quen gọi là “Ngũ hành”
    2 likes
  5. BÁT SÁT TRONG ĐỊA LÝ LẠC VIỆT. Trên cơ sở giả thuyết ban đầu xuất sắc của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn. Chúng tôi đã thực hiện lại mối liên hệ giữa hướng và phương sát trong Bát sát với vòng Tràng sinh. Nhưng để quý vị và ACE thấy rõ được tính nhất quán và tính hệ thống của một lý thuyết nhân danh khoa học, chúng tôi cần nói rõ hơn về vấn đề Vòng Tràng sinh. I. VÒNG TRÀNG SINH TRONG LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG. Khái niệm "Vòng Tràng Sinh" trong ứng dụng của Lý học Đông phương, mô tả một chu kỳ gồm 12 thành tố. Các thành tố này lần lượt theo quy luật là: 1/Trường sinh. 2/ Mộc Dục. 3/ Quan đới, 4/ Lâm Quan, 5/ Đế Vượng, 6/ Suy. 7/ Bệnh. 8/ Tử. 9/ Mộ. 10/ Tuyệt. 11/ Thai. 12/ Dưỡng.... Vòng Trường sinh mô tả chu kỳ sinh trưởng và suy bại của mọi sự vật, sự việc trong cuộc sống, thiên nhiên, vũ trụ và con người. Cho nên, vòng Trường sinh ở trong nhiều hệ thống của các ngành ứng dụng thuộc Lý học Đông phương. Vòng Trường sinh trong ngành dự báo số phận con người là Tử Vi có chu kỳ trong 12 cung và là thành tố dự đoán của chu kỳ Đại Hạn 10 năm trong Tử Vi - Tức là vòng Tràng sinh chi phối 120 năm (Một trăm hai mươi năm) trong chu kỳ vận hạn của một đời người trong lá số Tử Vi. Trong ứng dụng của khoa Tử Vi, vòng Tràng Sinh Dương tính theo chiều thuận. Vòng Tràng sinh Âm tính theo chiều nghịch. Chu kỳ Âm Dương của vòng Trường Sinh là 24 năm. Đây chính nguyên lý chu kỳ 24 năm Sinh - Vượng - Mộ của một hành trong LẠC THƯ HOA GIÁP được thực hiện trên Hà Đồ - đã được Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh chứng minh nguyên lý lập thành bảng này trên Hà Đồ - với sự thay đổi vị trí hai hành Thủy Hỏa. Vòng Tràng sinh thể hiện sự tiêu trưởng của ngũ hành. Ngũ hành phân Âm Dương cho nên vòng Tràng sinh cũng theo Âm Dương và ứng dụng theo tam hợp cục của Địa chi. Vì Địa chi phân Âm Dương nên sự ứng dụng của Trường sinh cũng theo quy luật Dương thuận, Âm nghịch. Thí dụ: Tam hợp cục Hỏa là Dần - Ngọ - Tuất; Tam hợp cục Mộc là Hợi - Mão - Mùi.... ACE và quý vị lưu ý nguyên lý tam hợp cục của ngũ hành để đối chiếu với tính hợp lý trong việc ứng dụng vòng Tràng sinh trong Địa lý Phong thủy Lạc Việt. Quý vị và ACE xem hình minh họa dưới đây cho hai vòng Tràng sinh Âm Dương thuận nghịch. Vòng Tràng sinh Duong thuận Vòng Tràng sinh Âm nghịch Như vậy tôi đã trình bầy khái quát về những nguyên lý ứng dụng của vòng Tràng sinh trong mọi ngành ứng dụng của Lý học Đông Phương nói chung. Trên cơ sở những tri thức căn bản về vòng Tràng sinh này chúng ta ứng dụng tiêu chi khoa học cho một lý thuyết khoa học phát biểu như sau: Trên cơ sở tiêu chí khoa học này, chúng tôi ứng dụng giả thuyết hướng sát của Bát sát lệ thuộc vào vòng Tràng sinh xem có phù hợp với tiêu chí khoa học trên hay không. Vì vòng Tràng sinh có thể phân loại Âm Dương, cho nên chúng tôi cũng phân loại tám phương Bát quái theo Âm Dương, như sau: A/ Bốn quái tứ chính thuộc Dương, gồm: Khảm / - Chấn / - Ly / - Đoài / B/ Bốn quái tứ di thuộc Âm, gồm: Càn / - Khôn / - Cấn / - Tốn / Trên cơ sở này chúng ta một lần nữa áp dụng vòng Tràng sinh theo đúng như cổ thư chứ Hán mô tả về hướng sát của Bát sát để đối chiếu, so sánh. A/ Bốn quái tứ chính: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Thìn (Khảm Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư).....................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Tỵ (Đoài Xà đẩu) B/ Bốn quái tứ di: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..............................6/ Hướng Khôn ( Tốn theo sách Việt), Bát sát ở Mão (Khôn Thỏ 'mão') 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dần (Cấn Hổ)................................8/ Hướng Tốn (Khôn theo sách Việt). Bát sát ở Dậu (Tốn Kê). Thưa quý vị và ACE thân mến Như vậy qua hình mô tả ở trên, khi chúng ta áp vòng Tràng sinh theo giải thiết ban đầu để quán xét thì chúng ta nhận thấy rằng, ở bốn quái tứ chính (vòng Tràng sinh thuận), chỉ có hai quái Ly và Chấn có phương Bát sát nằm ở Tuyệt. Và ở bốn quái tứ Di (vòng Tràng sinh nghịch) thì chỉ có hai quái Càn và Khôn (Tốn theo sách Việt) có phương Bát sát nằm ở Tuyệt. Như vậy nếu theo giải thuyết ban đầu là đúng thì thể hiện phương sát theo cổ thư chữ Hán chỉ đúng được một nửa?! Chúng tôi cho rằng: Vì mối liên hệ chính xác "một nửa" đó - phương sát phải nằm ở vị trí Tuyệt của vòng Tràng sinh - thì tính hợp lý lý thuyết cho toàn bộ vấn đề, tất cả các phương sát đều phải nằm phương Tuyệt của vòng Tràng sinh - Tùy theo tứ chính hay tứ di mà ứng dụng vòng Tràng sinh thuận nghịch. trên cơ sở này chúng ta áp vòng tràng sinh trên cơ sở "Hậu thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn - Khôn) phối Hà Đồ" . Chúng ta sẽ được một sự hoàn hảo phù hợp với tiêu chí khoa học của phương sát trong Bát sát, như mô hình dưới đây: A/ Bốn quái tứ chính: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Tị (Khảm Xà/ Sách Hán: Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư).....................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Dần (Đoài Hổ đẩu. Sách Hán: Xà) B/ Bốn quái tứ di: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..............................6/ Hướng Khôn Bát sát ở Tý (Khôn 'Tý'. Sách Hán: Tốn Kê) 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dậu (Cấn Kê. Sách Hán: Dần)..........8/ Hướng Tốn Bát sát ở Mão (Tốn Mẹo. Sách Hán: Khôn tuyệt ở Mão). Thưa quý vị và ACE, trên cơ sở giả thuyết ban đầu chúng tôi xác định rằng: Tất cả các phương sát trong Bát sát đều phải nằm ở vị trí Tuyệt của vòng Tràng sinh. Trong đó, tứ chính là Dương, thuộc vòng Tràng sinh thuận; tứ Di là Âm thuộc vòng Tràng sinh nghịch. Và chúng tôi đã minh họa ở hình trên. Trên cơ sở này chúng ta thấy rằng: Hai quái tứ chính là Ly - Chấn hoàn toàn trùng khớp phương sát với Lạc Việt, tức giả thuyết của chúng tôi và hai quái tứ Di là Càn - Khôn (Tốn theo Lạc Việt) là hoàn toàn trùng khớp, còn lại như phần trên đã trình bầy thì phương pháp đặt phương sát của chúng tôi nhân danh nền Văn hiến Việt một thời huy hoàng ở bờ Nam sông Dương tử, hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học về tính quy luật, tính khách quan, tính hệ thống, tính nhất quán và tính hoàn chỉnh. Bây giờ chúng ta đối chiếu tiêu chi khoa học mà chúng tôi đã trình bầy ở trên về tính hợp lý lý thuyết toàn diện nhân danh nền Văn hiến Việt: Tất cả những ai nghiên cứu về Lý học thì đều biết rất rõ thì trong 12 Địa chi thì Tý tuyệt Tị, Mão tuyệt Thân, Ngọ tuyệt Hợi, Dậu tuyệt Dần và ngược lại: Hợi tuyệt Ngọ, Tị tuyệt Tý, Dần tuyệt Hợi, Thân tuyệt Mão. Trên cơ sở này chúng ta quán xét lại toàn bộ những hướng và phương sát - nhân danh nền Văn hiến Việt - hoàn toàn phù hợp với cách Tứ Tuyệt trong Địa chi được mô tả trong Lý học Đông Phương, đồng thời phù hợp với phương Tuyệt của vòng Tràng sinh. Đây chính là tính hợp lý lý thuyết của mọi vấn đề liên quan đến nó phù hợp với tiêu chí khoa học. Đó là phù hợp với phương Tuyệt của vòng Tràng sinh; phù hợp với nguyên lý Tứ tuyệt của địa chi. Đó chính là một phương pháp nghiên cứu của chúng tôi căn cứ theo tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Đây là điều mà trong các cổ thư chữ Hán không mô tả được. Vấn đề không phải chỉ riêng một vấn đề phương sát trong Bát sát trong Địa lý Phong thủy. Mà là tất cả hầu hết các di sản từ cổ thư chữ Hán liên quan đến Thuyết Âm Dương ngũ Hành, thì chúng đều rất mơ hồ, mâu thuẫn và bất hợp lý ngay trong nội hàm cấu trúc của hệ thống này. Tính hợp lý lý thuyết phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, chỉ thể hiện nhân danh nền Văn Hiến Việt một thời Huyền Vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử, với nguyên lý căn để Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt. Mới đủ tư cách để xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Bát Quái chính là "Lý thuyết thống nhất vũ trụ" mà nền khoa học hiện đại đang mơ ước! Trên cơ sở này. Rất hy vọng bài viết mà tôi trình bầy trên đây sẽ được quý vị quan tâm. Riêng đối với ACE Địa lý Lạc Việt thì nhân danh một người thầy đang truyền đạt kiến thức và nhân danh nền Văn Hiến Việt, với tinh thần khoa học thực sự, ACE hãy áp dụng phương sát trong Bát sát đã được phục hồi từ nền Văn hiến Việt. Phương pháp ứng dụng nhân danh nền Văn hiến Việt, không chỉ ứng dụng trong Dương trạch để trổ cửa tùy theo hướng nhà, mà còn là ứng dụng trong Loan Đầu để chọn hướng nhà và vấn đề Âm trạch mà ACE sẽ tiếp tục được học tới đây. Xin cảm ơn quý vị và ACE đã đọc và quan tâm đến bài viết này.
    2 likes
  6. PHONG THỦY LẠC VIỆT ỨNG DỤNG. Trong kiến trúc nhà riêng của Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tiếp theo Về yếu tố Loan đầu - Cảnh quan môi trường - thì trên thực tế của cuộc sống hiện đại rất khó lựa chọn theo ý muốn. Thế đất của tôi còn bị một yếu tố xấu nữa: Đó chính là mỗi khi triều cường, lòng đường lại ngập nước. Xét tương quan ngôi nhà và môi trường lại phạm cách "Dương thịnh, Âm suy". Về mặt kỹ thuật thì Thiên Anh (Hoàng Anh) - Học viên khóa Phong thủy Lạc Việt cao cấp - Giám đốc Cty xây dựng và Nội thất Gia Phúc - bảo đảm làm rất kỹ nền móng. Tất nhiên Thiên Anh sẽ hiểu tôi muốn gì và biết cần phải làm gì với ngôi gia của tôi theo Phong Thủy Lạc Việt. Kết quả của sự xây dựng này về mặt phong thủy chính là nội dung của bài viết này. Về mặt lý thuyết của thuyết Âm Dương Ngũ hành ứng dụng trong phong thủy - thì - việc đóng cọc, gia cố nền móng , cũng chính là một biện pháp cân bằng Âm Dương ở những cuộc đất nền không cứng chắc (Âm suy). Việc quy hoạch đường nội bộ trong tương lai sẽ nâng cao mặt đường lên khoảng nửa mét (Âm vượng) - Do đó, để cân bằng Âm Dương trước quy hoạch thì nền nhà phải cao - trường hợp này lại phạm cách "Cô Âm" cho chính ngôi gia, khi nền đường chưa nâng cao. Để khắc phục các cách phạm tiêu chí phong thủy này, cũng còn có cả chút may mắn. Đó là xung quanh ngôi gia của tôi, đều đã có nhà xây cất từ trước. Nền của họ khá cao. Nên cách "cô Âm" của ngôi gia của tôi không hoàn toàn cô Âm. Có thể nói rằng: nếu như ngôi gia của tôi được xây đầu tiên trong cuộc đất này và xung quanh trống trải thì chắc chắn tôi không thể mua miếng đất ở đây để xây nhà. Qua đó, bạn đọc cũng thấy rất rõ rằng: Chỉ riêng về yếu tố cảnh quan môi trường tác động lên ngôi gia, cũng cho thấy những liên hệ tương tác từ tổng hợp cảnh quan khu vực rộng, cho đến chi tiết chung quanh ngôi gia đều cần phải xét đến. Trên thực tế thì yếu tố cảnh quan xấu, chỉ có thể khắc phục bởi chính cấu trúc hình thể nhà tương quan. Phần tiếp theo đây là phần nội dung ứng dụng chính của Phong Thủy Lạc Việt trong kiến trúc ngôi gia của tôi. Bát trạch Lạc Việt & Cấu trúc hình thể - Hình Lý khí Lạc Việt Ứng dụng trong kiến trúc ngôi gia Nguyễn Vũ Tuấn Anh Trong cấu trúc hình thể nhà được quán xét trên cơ sở hai yếu tố tương tác căn bản - mà cổ thư chữ Hán gọi là "trường phái Bát Trạch" và trường phái "Dương trạch tam yếu", có cân nhắc và tham chiếu với yếu tố cảnh quan môi trường (Loan đầu). Sự nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy đây chính là hai yêu tố tương tác có mối liên hệ khá chặt chẽ và hoàn toàn không hề mâu thuẫn nhau. Mặc dù chúng có hệ quy chiếu khác nhau và hệ thống phương pháp luận ứng dụng riêng; nhưng chúng hoàn toàn hỗ trợ và bổ sung cho nhau khá chặt chẽ. Nó tương tự như ngành "gây mê hồi sức" và ngành mổ xẻ trong y học vậy. Không thể coi đây là hai "trường phái" trong y học được. Chính vì tính tương tác phức tạp của các yếu tố trên trong phong thủy và là hệ quả của sự thống nhất từ hệ thống lý thuyết căn bản là thuyết Âm Dương ngũ hành - cho nên có thể sử dụng ưu thế của hệ quy chiếu của yếu tố tương tác này, để khắc phục những yếu tố xấu xét từ một hệ quy chiếu của yếu tố tương tác khác. Sự mâu thuẫn giữa các "trường phái" trong phong thủy; sự mơ hồ về những khái niệm cũng như nội dung từ cổ thư chữ Hán và tính bất hợp lý trong sự xuất hiên của chính những cái gọi là "trường phái" trong lịch sử phong thủy từ văn minh Hán, thì chúng tôi đã có nhiều bài viết chứng minh trên diễn đàn, bạn đọc có thể tham khảo. Ở đây, chúng tôi chỉ trình bày về sự ứng dụng của Phong Thủy Lạc Việt, nhằm thể hiện tính nhất quán, hoàn chỉnh, tính hệ thống tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri của ngành học này - hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một hệ thống phương pháp luận ứng dụng, nhân danh khoa học - thuộc về một nền văn minh cổ xưa, được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt. Sơ đồ mặt bằng nhà, phân cung theo Bát Trạch Lạc Việt - Tức nhất quán với nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt " (Đổi chỗ Tốn/ Khôn). Cấu trúc hình thể - Hình Lý khí Lạc Việt " - tương đương "Dương trạch tam yếu" Sơ đồ phiên tinh phòng. Cấu trúc hình thể nhà. Từ sơ đồ kiến trúc nhà và hình ảnh bạn đọc cũng nhận thấy những tiêu chí và nguyên tắc ứng dụng trong phong thủy đều được ừng dụng triệt để và hoàn toàn nhất quán với nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt - Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt trong việc phân cung, điểm hướng và kiến trúc. Quí vị và anh chị em quan tâm thân mến. Nếu như tri thức khoa học hiện đại xác định được rằng: Bản chất của mọi vật thể có khối lượng trong vũ trụ, đều có cấu trúc từ những hạt vật chất vi mô, gọi là những hạt cơ bản. Thuyết Lượng tử của Vật Lý hiện đại nhận thấy sự giống nhau giữa cái chìa khóa lạnh ngắt và bông hồng đầy cảm xúc. Nhận thức của khoa học hiện đại mới chỉ đạt tới tính trực quan - thông qua các phương tiện kỹ thuật - và mang tính cơ học. Nhưng trong Lý học Đông phương, nền tảng nhận thức không những hoàn toàn tương đồng như tri thức khoa học hiện đại, khi xác định rằng: "Vạn vật đông nhất thể";mà còn tỏ ra vượt trội hơn rất nhiều khi ứng dụng trong cuộc sống của con người - cụ thể là ngành phong thủy. Phong thủy Lạc Việt xác định rằng: Mọi ngôi gia, thậm chí từng căn phòng trong ngôi gia đều có thể coi như những sinh thể sống. Tính biểu tượng và mối liên hệ giữa các biểu tượng với ngôi gia đều được ứng dụng triệt để. Thí dụ như tính tương sinh của Ngũ hành - mái nhà nhọn, đỏ thuộc Hỏa sinh căn nhà vuông ,màu vàng thuộc Thổ; hoặc nhà hình cái ấn: hình "lộ cốt phòng"....vv....Tất cả những cái đó đều mang tính biểu tượng và mối liên hệ tương quan với những biểu tượng đó trong việc tương tác với con người trong ngôi gia. Qua đó, bạn đọc cũng thấy rằng: Khi khoa học hiện đại mới chỉ dừng lại ở tính nhận thức thì nền văn minh cổ xưa không những cũng có sự tương đồng về nhận thức, mà còn tỏ ra vượt trội khi ứng dụng cụ thể trong cuộc sống của con người, qua mối liên hệ giữa các biều tượng trong sự ứng dụng trong phong thủy. Do đó, việc nghiên cứu và ứng dụng Phong Thủy Lạc Việt - và Lý học Đông phương nói chung - đòi hỏi một tư duy trừu tượng rất phong phú và phát triển, để quán xét mối liên hệ giữa mọi hiện tượng. Còn tiếp
    2 likes
  7. PHONG THỦY LẠC VIỆT ỨNG DỤNG. Trong kiến trúc nhà riêng của Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tiếp theo Phong Thủy Lạc Việt là một hệ thống phương pháp ứng dụng, hệ quả trực tiếp của thuyết Âm Dương ngũ hành với nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử - có một nội dung, nhất quán , hoàn chỉnh, có tính hệ thống, phản ánh tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri; hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một hệ thống lý thuyết khoa học. Đây là sự khác biệt căn bản với những tri thức rời rạc, mâu thuẫn, mơ hồ từ các mảnh vụn còn sót lại về tri thức của ngành học này vốn ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán. Nếu như những tri thức khoa học hiện đại trong kiến trúc và xây dựng là sự thể hiện những nhận thức kỹ thuật kiến trúc và kết cấu xây dựng với tính thẩm mỹ theo nhãn quan thẩm mỹ thời đại - thì - Phong Thủy Lạc Việt chính là một hệ thống tri thức, mô tả quy luật tương tác của tự nhiên với ngôi nhà, được hệ thống hóa, chuẩn hóa và phân loại thành những quy tắc, nguyên lý, tiêu chí và các mô hình biểu kiến trong sự ứng dụng của từng hệ quy chiếu, để quán xét ảnh hưởng của những tương tác này đối với ngôi gia và con người có khả năng tiên tri. Căn cứ vào những tiêu chí và nguyên tắc, quy ước này, các phong thủy gia sẽ thiết kế, bài trí nội thất và tiến hành xây dựng căn nhà, hoặc các công trình xây dựng khác. Tùy theo sự hiểu biết và khả năng của các phong thủy gia, mà có thể cùng một hệ thống kiến thức về phong thủy, căn nhà vẫn có những thể hiện kiến trúc hình thức khác nhau. Tương tự như cùng một khóa kiến trúc sư ra trường và cùng thiết kế một ngôi nhà với chức năng sử dụng như nhau, mỗi người vẫn có thể đưa ra phương án kiến trúc khác nhau. Miễn là đồ án của họ phù hợp với những tiêu chí trong kiến trúc và xây dựng. Kiến thức phong thủy và kiến trúc hiện đại hoàn toàn không hề có mâu thuẫn như nhiều người lầm tưởng. Nhưng nếu chỉ sử dụng kiến thức của kiến trúc và xây dựng hiện đại thì người kiến trúc sư sẽ thiết kế dễ hơn rất nhiều. Vì họ không bị buộc phải tuân thủ một số tiêu chí, và quy định bởi kiến thức phong thủy vốn khá chặt chẽ. Nhưng trong trường hợp này, nếu phạm phải những tiêu chí xấu trong phong thủy thì gia chủ, hoặc người thân của họ có thể gặp phải những điều không may mắn có thể tiên tri. Những phương pháp ứng dụng trong phong thủy hoàn toàn khách quan và đầy đủ tính chất khoa học theo tiêu chí khoa học. Nó không vì quan lớn, hoặc dân đen mà thay đổi tiêu chí và những nguyên tắc của nó. Do đó, tuân thủ theo đúng những nguyên tắc và tiêu chí phong thủy thì cũng như uống đúng thuốc, hoặc thuốc bổ, phạm vào các tiêu chí xấu thì cũng như uống thuốc độc và đều có khả năng tiên tri - chứng tỏ tính quy luật khách quan phản ánh trong các qui định và mô hình biểu kiến của phương pháp này. Bởi vậy, hoàn toàn bất hợp lý khi cùng là hệ quả của một hệ thống lý thuyết mà lại có đến bốn trường phái phong thủy khác nhau và đầy mâu thuẫn được miêu tả trong cổ thư chữ Hán. Phong thủy Lạc Việt là sự hiệu chỉnh và đã xác định cái gọi là bốn trường phái trong cổ thư chữ Hán thực chất là 4 yếu tố tương tác căn bản trong Phong thủy. Chúng có những phương pháp đặc thù với một hệ quy chiếu riêng trong hệ tương tác của nó và hoàn toàn không hề có mâu thuẫn về mặt lý thuyết. Bốn yếu tố tương tác chủ yếu đó là: 1 - Loan Đầu - Cấu trúc môi trường thiên nhiên chung quanh ngôi gia với những quy luật tương tác được mô hình hóa và ảnh hưởng đến ngôi gia, có thể tiên tri. Cổ thư chữ Hán coi đây là một trường phái ứng dụng độc lập. 2 - Cấu trúc hình thể ngôi gia - bao hàm những cơ sở của Dương trạch Tam yếu . Tức là hình thể ngôi gia, bên ngoài và bên trong. Ảnh hưởng của những quy luật tương tác của yếu tố này với con người sống trong ngôi gia có tính quy luật có thể tiên tri.Cổ thư chữ Hán coi đây là một trường phái ứng dụng độc lập 3 - Ảnh hưởng của địa từ trường trái đất lên con người thông qua ngôi gia. Cổ thư chữ Hán gọi là trường phái Bát trạch. 4 - Ảnh hưởng của sự vận đông các hành tinh gần gũi trái Đất lên ngôi gia vào thời điểm xây cất và nhập trạch. Cổ thư chữ Hán gọi là trường phái Huyền không. Những trường phái này theo mô tả trong các bản văn chữ Hán là những phương pháp tách rời, ứng dụng một cách độc lập và không có sự liên hệ với nhau. Nội dung của các trường phái này đều có những yếu tố mơ hồ về khái niệm, mâu thuẫn với nhau và có lịch sử ra đời muộn nhất là phái Huyền Không vào thế kỷ XV AC và hoàn thiện vào thế kỷ XIX AC. Sớm nhất là Bát trạch vào thế kỷ thứ II BC. Phong thủy Lạc Việt coi đây là sự phát hiện riêng phần trong lịch sử Hán hóa các tri thức Việt khi sụp đổ ở miền nam Dương tử và xác định đó chính là bốn yếu tố tương tác với những hệ quy chiếu riêng và là hệ quả thống nhất của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Sự ứng dụng một cách thống nhất và có hệ thống cả 4 yếu tố tương tác này trong kiến trúc nhà ở của người viết là một minh họa cho quan niệm trên. Và không phải là duy nhất. Còn tiếp
    2 likes
  8. Như mọi năm, diễn đàn LHĐP mở topic dành cho năm 2020 cho các bạn quan tấm đến Luận Tuổi Năm Sinh Con, thay cho topic 2019 để các bạn tiện theo dõi. Chú ý khi tư vấn: Không gửi bài viết nhiều lần Tuân thủ nội quy diễn đàn Không trao đổi thảo luận các nội dung khác ngoài lề Không hỏi giúp người khác vì trong Lý Học có nhiều lí do tế nhị. Tư vấn và được tư vấn là do DUYÊN và TÙY DUYÊN và trên tình thần tự nguyện của các nhà nghiên cứu. Ưu tiên tư vấn cho các trường hợp mong muốn sinh con năm 2020 trở đi Trước khi tư vấn xem trước: Bảng tra mạng theo Lạc Thư Hoa Giáp Tuổi hợp - xung trong tình yêu Luận tuổi Lạc Việt Tham khảo các bài tư vấn cũ của 2013-2014-2015-2016-2017-2018-2019 trong box Luận Tuổi Chú ý: TUYỆT ĐỐI KHÔNG XEM VÀ TƯ VẤN CHO CÁC TRƯỜNG HỢP ĐANG CÓ THAI VÀ TRƯỜNG HỢP HỎI GIÚP CHO NGƯỜI KHÁC Khi tư vấn chúng tôi sẽ giúp chọn những năm tốt nhất, gần nhất và phù hợp nhất Những năm chúng tôi không chọn hoặc không tư vấn là không phù hợp nên đừng hỏi lại. Gửi nội dung tư vấn theo mẫu sau Chồng: [ngày-tháng-năm sinh - Theo Âm Lịch] - [Mạng] - Bảng tra mạng theo Lạc Thư Hoa Giáp Vợ: [ngày-tháng-năm sinh - Theo Âm Lịch] - [Mạng] - Bảng tra mạng theo Lạc Thư Hoa Giáp Nếu đã có con: [ngày-tháng-năm sinh - Theo Âm Lịch] - [Mạng] ( đã có hơn một con thì mỗi con trên một dòng riêng) Nội dung xin tư vấn: Dự định sinh con năm xyz có tốt không? / Sinh con năm nào thì tốt Nội dung thêm: (lựa chọn, nếu cần thì đưa thêm để tiện việc tư vấn) Ví dụ: Chồng: 16/03/1983 âm lịch - Thiên Thượng Hỏa Vợ: 20/08/1988 âm lịch - Đại Lâm Mộc Con lớn: 15/05/2012 âm lịch Xin tư vấn: Sinh con út năm nào thì tốt
    1 like
  9. Không rõ tuổi cha mẹ là ngày dương hay ngày âm?
    1 like
  10. Để đáp ứng nhu cầu cho một số bạn trẻ hôm nay TL lập topic này tư vấn trong điều điều kiện có thể và với mức độ tương đối trong tầm hiểu biết của mình : Các điều kiện : 1- Mọi người lấy lá số tử vi trên diễn đàn lý học đông phương. 2- Giờ ngày tháng năm sinh chính xác. nếu có sự nghi vấn cần báo trước. 3- Tử vi còn hạn chế không nên hỏi quá chi tiết sẽ làm khó người xem. 4- Chỉ nên hỏi khi gặp khó khăn thực sự trong cuộc sống hoặc khi không có định hướng, hay đứng trước sự lựa chọn, không nên đặt câu hỏi theo tính chất tò mò, biết cho vui hay có ý định bông đùa. (như vậy sẽ làm mất thời gian của người khác...).
    1 like
  11. Tôi cũng nghĩ chẳng có thứ thuốc nào chữa được bệnh ung thư cả. Chỉ ngăn ngừa hoặc làm chậm lại quá trình thôi chứ nhỉ Bài viết này rất hay. Mọi người nên đọc để tránh mắc sai lầm
    1 like
  12. Do nhu cầu mở rộng kinh doanh, công ty TNHH Phế Liệu Việt Đức cần tìm đối tác kinh doanh phế liệu trên cả nước. Với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thu mua phế liệu TPHCM, phục vụ hàng ngàn khách hàng, hồ sơ năng lực lớn, áp dụng chính sách trợ giá với khách hàng, chi hoa hồng mạnh tay cho người giới thiệu đã và đang là các chính sách nhận được sự ưu ái của khách hàng. Xem nhanh TÌM ĐỐI TÁC KINH DOANH PHẾ LIỆU LÀ ĐIỀU VIỆT ĐỨC CẦN Các đối tác thu mua phế liệu của chúng tôi bao gồm: xí nghiệp. công ty, cá nhân, nhà sản xuất có nguồn hàng lớn hoặc đều ổn định. Chỉ cần bạn có mối hàng. Mọi thứ còn lại từ vốn, nhân lực, giá cả thị trường, bốc xếp vận chuyển hàng hóa cứ để Phế Liệu Việt Đức lo. Trước khi đi vào chi tiết chúng ta cùng tìm hiểu 1 số điều quan trọng sau nhé: Điều kiện kinh doanh thu mua phế liệu cần những điều kiện gì? Để bắt đầu kinh doanh thu mua phế liệu không thực sự dễ như mọi người vẫn nghĩ. Việc mất tiền cho những bài học thường làm những người ít vốn rối trí và chán nản. Vậy nên muốn đi xa bạn cần đi chậm. Phải học được cách phân loại, đánh giá tất cả các chủng loại phế liệu trước thì chúng ta mới bàn đến việc tìm cơ sở để thực hiện kinh doanh. Việc đầu tiên để bắt đầu là tiếp xức với tư tưởng và ánh nhìn của mọi người. Ngày mưới bắt đầu, chúng tôi cũng cố tập quen với ánh mắt của người đời nhắc về: ” ui ông ve chai, bà đồng nát kìa”. xem thêm: https://phelieuvietduc.com/thu-mua-phe-lieu-dong/ Thứ 2 là phế liệu lại có rất nhiều chủng loại đa dạng, chất liệu, mẫu mã và cả về giá trị. Để có thể bắt đầu và làm được nghề này thì bạn cần phải phụ việc như lái xe phế liệu, bốc xếch hàng phế liệu hoặc tìm hiểu thông tin thật kỹ từ nhiều nguồn khác nhau như người đi trước, sách báo và rút ra kinh nghiệm buôn phế liệu cho mình. Từ đó mới có thể nắm được chủng loại hàng hóa và định giá đúng sản phẩm cần mua, bán. Với những người kinh doanh thu mua đồng nát nhỏ chỉ cần chiếc xe đẩy hoặc xe đạp cạch, một cái loa vừa với bài thu âm: “Ai bán tivi, tủ lạnh, máy lạnh, máy hàn, vi tính mua tủ sắt đồ sắt, máy giặt, mua loa tivi, mua đồ cũ bán không…” Là có thể đi rong ruổi khắp nơi để hành nghề. Với những người muốn kinh doanh thu mua phế liệu nhôm, đồng, inox với quy mô lớn hơn thì cần tìm được mặt bằng, xe cộ, máy móc và người phụ việc. Ngoài ra chúng ta còn phải tìm đối tác chung và khách hàng. Tìm đơn vị có chức năng xử lý, tái chế đồ phế liệu để chúng ta phân phối lại các đồ phế liệu sau khi mua. Một điều nữa mà các bạn cần lưu ý là môi trường làm việc. Chúng ta khi tiếp xúc với phế liệu, phải phân loại phể liệu nên môi trường sẽ không sạch sẽ lắm. Một số loại kim loại có thể gây độc hai khi tiếp xúc lâu dài như chì, niken, hợp kim là 1 cái giá chúng ta cũng xác định phải đánh đổi để theo nghề. Đi chào giá cũng là việc làm quan trọng để tìm khách khi mới bắt đầu. bạn có thể xem bảng giá phế liệu cao nhất hôm nay tại đây để tham khảo Sử dụng nhiều chính sách makerting để thu hút khách đến bán phế liệu, có thể là khách hàng trực tiếp bán phế liệu hoặc những người thu mua phế liệu nhỏ lẻ. Khi mới bắt đầu khởi nghiệp dù nghề gì cũng vậy, chắc hẳn sẽ gặp không ít khó khăn. Nhưng bạn cũng như tôi, chúng ta biết rằng việc kiếm tiền chưa bao giờ là dễ dàng. Nên chúng tôi mong rằng bạn luôn cố gắng và vững tin rằng bên con đường dài sau này trong ngành của bạn, công ty phế liệu Việt Đức sẽ là đối tác tin cậy hỗ trợ bạn hết lòng. xem chi tiết tại: https://phelieuvietduc.com/tim-doi-tac-kinh-doanh-phe-lieu/
    1 like
  13. TƯƠNG SINH TƯƠNG KHÁC HỢP NHẤT NHẬT TÂM [còn tiếp các phiên bản ĐỊA LÝ] 20191028
    1 like
  14. Xem ngày tốt chuyển nhà nhập trạch tháng 8 năm 2019. Có cụ nào tinh thông không cho em hỏi chút.
    1 like
  15. Vào ngày mùng 10/ 3 Mậu Tý là ngày khai trương diễn đàn. Thiên Sứ sẽ trả lời ba người, mỗi người ba câu hỏi, mỗi câu hỏi không quá 15 chữ, hoặc số về tất cả mọi chuyện trên đời. Thiên Sứ
    1 like
  16. Thầy cho con hỏi. Học đạo thầy chân chính có lấy tiền mình ko thầy? (câu hỏi của người học đạo Pháp sư, nhưng lấy ví dụ từ điển tích đạo Phật cho dễ hiểu) ~Cũng tùy, lấy không có nghĩa là xấu mà không lấy chưa chắc là tốt, ở Tây Tạng, khi đến cầu pháp 1 vị Đạo sư, người học trò phải mang một chút lễ vật tùy theo khả năng nhưng phải thành thật hết lòng để cầu, không có sẽ không đúng quy tắc, có khi còn không được dạy nữa đó. Vì Pháp truyền phải đúng người, nhưng cũng không thể tùy tiện trao truyền, nếu không người cầu pháp sẽ không thành tâm, không thành tâm thì dù có nhận pháp tu hành cũng không dc hộ pháp gia hộ và thành tựu. Bằng chứng là tổ Milarepa cầu pháp ngài Marpa, mẹ ngài đã phải bán mảnh đất khô cằn duy nhất của gia đình đổi lấy 1 con ngựa, 1 miếng Ngọc và ít đồng vàng cho ngài mang đi, tổ Milarepa đã dâng cúng toàn bộ cho tổ Marpa mong được học đạo. Về quy tắc thì người học trò phải tự giác điều này, người thầy chỉ nhận và xem đệ tử có thành tâm để dc mình truyền dạy hay không. Thầy xưa học phải tốn mấy cây vàng và vài bao gạo để xin học, Thầy nay giản tiện 1 mâm trái cây và một bao lì xì có con số 36. Dù xưa hay nay, hoặc trải qua nghìn đời sau, quy củ này vẫn luôn tồn tại không thay đổi. Huyền Tráng Pháp Sư (tôi đọc đúng tên Huyền Tráng chứ không phải Trang) thỉnh kinh, còn phải lấy Kim Bát ra đổi, đó không phải là hối lộ, mà là quy tắc cái Tâm phải đi chung cái Lễ, bằng không pháp truyền ra một cách bừa bãi thiên hạ sẽ không quý trọng. Thêm một minh chứng nữa là Tăng Huệ Khả cầu pháp với Đạt Ma Tổ Sư quỳ dưới tuyết 3 ngày 3 đêm, sau Tổ hỏi ông lấy cái gì chứng minh tấm lòng của mình, Huệ Khả liền chặt đứt cánh tay dâng Tổ, Tổ liền bằng lòng truyền Y Bát. Cho nên người học Đạo chưa từng trải qua đau khổ, nước mắt và máu rơi thì không thể nào quý trọng Đạo Pháp. Pháp Thiện
    1 like
  17. Chúc mừng bạn đã có quyết định cho chính mình . Căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp cùng với quẻ độn ( liên quan nhiều đến tri thức ) thì công việc của bạn sẽ tốt và ổn định .
    1 like
  18. Giống như việc xem hướng nhà, xem số hợp tuổi hay nhiều những yếu tố phong thủy bổ trợ khác nhau thì việc xem tuổi Tân Dậu hợp màu gì cũng vô cùng tốt cho việc bổ trợ thêm cho bản mệnh người sinh năm 1981. Yếu tố màu sắc hợp tuổi được sử dụng khá bổ biến trong việc kích hoạt vượng khí giúp người tuổi này gặp nhiều may mắn và tốt lành hơn trong cuộc sống. Ngoài ra trong phong thủy hay như việc hóa giải vận hạn điềm xấu việc sử dụng màu sắc hợp tuổi cũng rất được chú trọng để giảm bớt đi những điều không may, nguồn năng lượng xấu xung quanh tác động đến với mỗi tuổi. Nếu quý bạn sinh năm 1981 đang băn khoăn và thắc mắc về màu hợp tuổi Tân Dậu thì cùng tham khảo chi tiết bài viết dưới đây để có thêm những thông tin hữu ích hơn. Luận xem sinh năm 1981 hợp màu gì dựa trên yếu tố nào Để lý giải cho việc tuổi Tân Dậu hợp màu gì và tại sao lại hợp với màu này mà không phải màu khác. Thì ứng dụng với những nguyên lý cơ bản trong Phong Thủy Ngũ Hành để luận giải. Theo học thuyết ngũ hành được vận dụng và nghiên cứu từ xa xưa thì vạn vận trong vũ trụ được cấu thành từ năm nguyên tố cơ bản Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. 5 nguyên tố này chịu sự vận động theo quy luật tương sinh và tương khắc để phát triển. Bởi vậy việc tìm luận giải tuổi Tân Dậu sinh năm 1981 hợp màu gì cũng cần được xác định dựa trên những yếu tố tương sinh, hòa hợp trong ngũ hành để luận giải. Người sinh năm 1981 tuổi Tân Dậu thuộc mệnh Mộc - Thạch Lựu Mộc bởi vậy nên sử dụng những yếu tố màu sắc tương sinh và hòa hợp với bản mệnh. Theo thuyết Ngũ Hành Thủy sinh Mộc nên những màu sắc thuộc hành Thủy sẽ hỗ trợ rất tốt cho bản mệnh người sinh năm 1981. Ngoài ra người mệnh Mộc cũng có thể sử dụng các màu sắc thuộc mệnh Mộc cùng mang đến sự bổ trợ rất tốt cho người tuổi này. Nếu bạn quan tâm và đang thắc mắc về loại cây phong thủy hợp với tuổi có thể tham khảo thêm: Tuổi Tân Dậu hợp cây gì theo phong thủy để kích tài lộc và may mắn. Những màu hợp tuổi Tân Dậu là màu gì? Dựa vào những luận giải tuổi Tân Dậu hợp màu gì theo ngũ hành phong thủy ở trên thì màu sắc tương sinh với mệnh Mộc là những màu Đen, Xanh Nước thuộc hành mệnh Thủy. Những màu sắc hòa hợp với người tuổi Tân Dậu là màu xanh lá cây thuộc hành mệnh Mộc. => Màu hợp với tuổi Tân Dậu bao gồm: Xanh nước, Đen, Xanh lá đây là những màu sắc hợp với bản mệnh người sinh năm 1981 mang nhiều sự bổ trợ cho bản mệnh người tuổi này. Việc sử dụng màu hợp tuổi 1981 vào trang phục, đồ nội thất, màu xe, đồ vật hay cây phong thủy theo tuổi Tân Dậu để tạo sự gắn kết với người sử dụng sẽ cực kỳ tốt và mang đến nhiều may mắn, tài lộc và hành thông trong cuộc sống người tuổi này. Màu sắc tương khắc với tuổi 1981 cần tránh Bên cạnh những yếu tố về màu hợp tuổi Tân Dậu luôn song hành bổ trợ cho người sinh năm 1981 thì vẫn luôn có những yếu tố về màu sắc tương khắc hiện hữu trong cuộc sống người tuổi này. Những màu tương khắc với tuổi Tân Dậu bao gồm màu Vàng, Trắng, Xám, Ghi, ánh Kim thuộc mệnh Kim. Bởi xét theo thuyết Ngũ Hành thì Kim khắc Mộc nên những yếu tố thuộc mệnh Kim sẽ rất xấu cho người sinh năm 1981. Và trong cuộc sống người sinh năm 1981 cũng cần tránh và hạn chế sử dụng những màu tương khắc này để được may mắn và thuận lợi hơn. Xem thêm về: https://vnexpress.net/doi-song/chon-mau-sac-theo-menh-gia-chu-2934957.html
    1 like
  19. Hai quẻ cho việc của Bạn , Đỗ - Lưu Niên và Cảnh - Tốc Hỷ , Lưu niên - việc làm nơi cũ lâu năm khiến bạn quyến luyến không muốn rời đi dù bạn đã có tìm hiểu bằng kiến thức của mình ( Đỗ ) đối với công việc mới , nơi mà đem lại cho bạn nhiều niềm vui cơ hội cho sư thành công thăng tiến hơn , tiếp tục vững tin vào cảm nhận của chính mình bạn sẽ có quyết định chính xác về nơi bạn thực sự muốn làm việc . Ba hỏa ( Đỗ , Cảnh , Tốc hỷ ) sẽ khiến Lưu niên không thể khắc được nữa . Bạn sẽ nhanh chóng tìm được niềm vui ở đơn vị làm việc mới . Chúc bạn sớm có quyết định cho lựa chọn của mình và phản hồi lại khi có kết quả .
    1 like
  20. Cháu cảm ơn bác @Thiên Luân rất nhiều! 2 bé nhà cháu sinh đều nhờ bác tư vấn từ năm 2014 đó ạ.
    1 like
  21. KHAI BÚT ĐẦU NĂM. Xin chia sẻ với các bạn, phần Lời nói đầu của cuốn sách sẽ xuất bản: Thuyết Âm Dương Ngũ hành - Lý thuyết thống nhất. Xin chân thành cảm ơn vì sự quan tâm, chia sẻ. =============================== LỜI NÓI ĐẦU. LỜI NÓI ĐẦU. Cùng các bạn đọc thân mến. Nhà tiên tri Vanga nổi tiếng, người Bulgaria đã có lời phán xét: "Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại". Với những người không quan tâm nhiều đến các lý thuyết khoa học mũi nhọn, có vẻ như không ai quan tâm nhiều lắm đến lời tiên tri này của bà. Vì sao nhân loại lại cần đến một lý thuyết cổ xưa? Nó quay lại để làm gì? Trong khi nhân loại hiện đại với những tiến bộ khoa học kỹ thuật như vũ bão, đang mang lại cho cuộc sống phồn vinh và đầy đủ tiện nghi cho cuộc sống con người. Một nền văn minh cổ xưa với những hệ thống tri thức lạc hậu, từ thời đồ đồng, đồ đá.... làm sao có thể có được một hệ thống lý thuyết, để nhân loại văn minh hiện nay có thể chấp nhận được nó? Nhưng về phía các nhà khoa học tinh hoa,những trí thức đầu bảng của nền văn minh hiện đại, lại đang có tham vọng đi tìm một lý thuyết của cái toàn thể. Một lý thuyết lớn, bao trùm tất cả mọi lý thuyết riêng phần, để có thể giải thích được tất cả mọi thứ, từ sự vận động của những Thiên hà khổng lồ, đến các hạt vật chất nhỏ nhất,giải thích được mọi hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ, cuộc sống cho đến từng hành vi của con người. Họ gọi đó là Lý thuyết thống nhất - Grand Unification Theory. Nhưng đối với những nhà khoa học thì ngay cả Thượng Đế, cũng không phải là đối tượng để quán xét. Do đó, với những nhà khoa học thì những câu chuyện của các nhà tiên tri, như Nostradamus, Vanga, Edgar Cayce.... chỉ là những truyền thuyết, có tính giải trí. Và họ có thể không cần quan tâm lắm đến lời tiên tri của bà Vanga. Hoặc cũng chẳng cần biết đến lời tiên tri này. Tuy nhiên, cuốn sách này: 'Thuyết Âm Dương Ngũ hành - Lý thuyết thống nhất vũ trụ', lại là sự giới thiệu tính chính xác trong lời tiên tri của bà Babar Vanga về một lý thuyết cổ xưa, chính là một hệ thống lý thuyết, mà tất cả những nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh hiện nay đang mơ ước. Cuốn sách này, sẽ chứng minh với các bạn đọc về một sự kết hợp tuyệt vời trước khả năng tiên tri huyền bí và những nhu cầu của tri thức khoa học hiện đại. Bởi vì, thuyết Âm Dương Ngũ hành và ký hiệu siêu công thức của nó là hệ thống Bát quái - nhân danh nền văn hiến Việt, với lịch sử trải gần 5000 năm, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử - là một hệ thống lý thuyết hoàn chính, nhất quán, nhân danh khoa học, dù khái niệm khoa học được hiểu như thế nào. Và nó chính là Lý thuyết thống nhất, mà những tri thức tinh hoa của nhân loại đang mơ ước. Sẽ không bao giờ có hai lý thuyết thống nhất. Cho nên thuyết Âm Dương Ngũ hành và siêu công thức cùa nó là kinh Dịch, là ứng cử viên duy nhất cho lời tiên tri huyền vĩ của bà Vanga và là chân lý cuối cùng với mơ ước của hệ thống tri thức khoa học hiện đại. Tuy nhiên, Stephen Hawking trong cuốn sách Lược sử thời gian nổi tiếng của ông, đã nói về một nền tảng tri thức cần có, để xuất hiện một lý thuyết khoa học, hoặc một phát minh. Ông viết: "Einstein đã để phần lớn những năm cuối đời để đi tìm một lý thuyết thống nhất, nhưng vô vọng. Vì thời điểm chưa chín muồi. Mặc dù, lúc bấy giờ, người ta đã có lý thuyết riêng phần của Lực hấp dẫn; của điện tử, Nhưng người ta còn biết rất ít về lực hạt nhân. Hơn nữa, Einstein lại phủ nhận thực tại của Cơ học lượng tử. Mặc dù, ông đã đóng góp vai trò quan trọng xây dựng nên nó." Như vậy, ông Stephen Hawking đã xác định một chân lý hiển nhiên: Nếu không có một nền tảng tri thức tương ứng đủ hình thành nên một lý thuyết, hoặc một phát minh, thì sẽ không thể có cơ sở để hinh thành nên một lý thuyết vào thời đại xuất hiện nó. Điều này được xác định rõ hơn, bởi tiêu chí khoa học, làm chuẩn mực thẩm định một lý thuyết thuộc về một nền văn minh nào đó, thì nó phải thỏa mãn những điều kiện liên quan đến nó. Tiêu chí này phát biểu như sau: Một nền văn minh được coi là chủ nhân của một lý thuyết, thì nó phải có khả năng phục hồi lại chính lý thuyết đó. Vậy thì, đồng nghĩa với việc một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại, chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch , cũng có nghĩa là phải chứng minh cho sự tồn tại của cả một nền văn minh đã có mặt trên Địa cầu, và có trước lịch sử nền văn minh của chúng ta nhận thức được. Điều đó cũng có nghĩa rằng: Nền văn minh đó phải có một nền tảng tri thức rất siêu việt, so với nền văn minh của chúng ta, mới có thể tạo dựng nên một lý thuyết thống nhất, mà tất cả những tri thức tinh hoa của nhân loại hiện đại mới chỉ đang mơ ước. Trong nhận thức lịch sử nền văn minh hiện nay, chúng ta chỉ thấy một sự phát triển, tiến hóa từ đơn giản, đến phức tạp, trong khoảng vài vạn năm cách ngày nay. Từ thời đồ đá, đồ đồng....Rõ ràng, không thể có một Lý thuyết thống nhất xuất hiện trong vài vạn năm tiến hóa của con người, trong lịch sử nhận thức được của chúng ta. Tất yếu, một lý thuyết thống nhất, được xác định là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, nhân danh nền văn hiến Việt, nó không thể từ trên trời rơi xuống. Vậy nó thuộc về nền văn minh nào trong toàn bộ lịch sử đã nhận thức được của nền văn minh hiện nay? Vậy thì việc xác định một lý thuyết cổ xưa, như thuyết Âm Dương Ngũ hành, là một lý thuyết thống nhất. Đồng nghĩa với việc xác định đây là một hệ thống lý thuyết vượt trội so với nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay, mới chỉ đang mơ ước về nó. Hay nói cách khác: Nó phải xuất hiện từ một nền văn minh đã phát triển hết sức cao cấp, so với nền văn minh của chúng ta ngay nay. Như vậy, trên cơ sở tiêu chí khoa học và luận điểm của ông SW Hawking, đã xác định nền tảng tri thức cần thiết để hình thành nên một học thuyết. Nói rõ hơn, là: Một nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết, thì nó phải thể hiện một nền tảng tri thức để có thể phục hồi lại học thuyết được coi là thuộc về nó. Và đây, cũng mới chỉ là một trong ba tiêu chí, nhằm thẩm định một lý thuyết thuộc về nền văn minh nào đó. Chứ chưa phải tất cả. Vậy thì, đồng nghĩa với việc chứng minh một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại, chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch , cũng có nghĩa là phải chứng minh cho sự tồn tại của cả một nền văn minh đã có mặt trên Địa cầu, và có trước lịch sử nền văn minh của chúng ta nhận thức được. Điều đó cũng có nghĩa rằng: Nền văn minh đó phải có một nến tảng tri thức rất siêu việt, so với nền văn minh của chúng ta, mới có thể tạo dựng nên một lý thuyết thống nhất, mà tất cả những tri thức tinh hoa của nhân loại hiện đại mới chỉ đang mơ ước. Trong nhận thức lịch sử nền văn minh hiện nay, chúng ta chỉ thấy một sự phát triển, tiến hóa từ đơn giản, đến phức tạp, trong khoảng vài vạn năm cách ngày nay. Từ thời đồ đá, đồ đồng....Rõ ràng, không thể có một Lý thuyết thống nhất xuất hiện trong vài vạn năm tiến hóa của con người, trong lịch sử nhận thức được của chúng ta. Tất yếu, một lý thuyết thống nhất, được xác định là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, nhân danh nền văn hiến Việt, nó không thể từ trên trời rơi xuống. Vậy nó thuộc về nền văn minh nào trong toàn bộ lịch sử đã nhận thức được của nền văn minh hiện nay? Vậy thì việc xác định một lý thuyết cổ xưa, như thuyết Âm Dương Ngũ hành, là một lý thuyết thống nhất. Đồng nghĩa với việc xác định đây là một hệ thống lý thuyết vượt trội so với nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay, mới chỉ đang mơ ước về nó. Hay nói cách khác: Nó phải xuất hiện từ một nền văn minh đã phát triển hết sức cao cấp, so với nền văn minh của chúng ta ngay nay. Như vậy, trên cơ sở tiêu chí khoa học và luận điểm của ông SW Hawking, đã xác định nền tảng tri thức cần thiết để hình thành nên một học thuyết. Thì cũng phải chứng minh một nền văn minh siêu việt có trước lịch sử của nền văn minh của chúng ta. Mong các bạn hãy bình tĩnh và xem hết quyển sách này. Và người viết sẽ rất yên tâm, khi bạn đã xem hết quyển sách và sẽ có những nhận xét quý báu. Nhưng Đây là bước khó khăn đầu tiên mà người viết cuốn sách này phải vượt qua, sau khi chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất, nhân danh nền văn hiến Việt. Tất nhiên để chứng minh được điều này là một việc cực kỳ khó khăn. Và nếu sự chứng minh được thừa nhân, thì việc đầu tiên là nó sẽ làm đảo lộn mọi nhận thức của chúng ta về lịch sử nhận thức được của nền văn minh hiện nay. Người viết đã khẳng định thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch là hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh và chính là Lý thuyết thống nhất, nhân danh khoa học, dù khoa học định nghĩa như thế nào. Như vậy, về nội dung cuốn sách này, mà người viết chia sẻ và chứng minh với bạn đọc, có mục đích chính là Thuyết Âm Dương Ngũ hành, chính là Lý thuyết thống nhất. Nhưng mọi chuyện lại không hề đơn giản khi hàng loạt những vấn đề được đặt ra sau đó: 1/ Về nền tảng tri thức của nên văn minh tạo ra hệ thống Lý thuyết thống nhất. Tất yếu dẫn đến việc phải chứng minh một nền văn minh toàn cầu siêu việt, đã từng tồn tại trên Địa cầu , có trước nền văn minh của chúng ta. Đây là công việc cực kỳ khó khăn. 2/ Phải hiệu chỉnh và định nghĩa lại rất nhiều khái niệm liên quan đến nhận thức phổ biến của khoa học hiện đại; và cả những nhận thức trở thành lối mòn, được mặc định, như một tiền đề để có thể chứng minh cho một Lý thuyết thống nhất đã tồn tại trên thực tế. Thí dụ, như bản chất khái niệm điểm, không gian ba chiều hay 'n' chiều, tốc độ ánh sáng và hằng số tốc độ vũ trụ, vấn đề vật chất tối, các vần đề liên quan đến Lý thuyết Dây, Hạt Higg, Big bang...vv... Như vậy, như tựa đề của cuốn sách 'Thuyết Âm Dương Ngũ hành - Lý thuyết thống nhất vũ trụ', và cũng là mục đích cuối cùng của nó; người viết sẽ phải giải quyết hàng loạt vấn đề liên quan vô cùng phức tạp và hết sức đồ sộ. Thưa quý bạn đọc. Người viết không quản tài hèn, cũng ráng hết sức minh để chia sẻ với quý bạn đọc những ý tưởng trong cuốn sách này, nhằm chứng minh cho sự tồn tại trên thực tế của một hệ thống lý thuyết thống nhất vũ trụ từ một nền văn minh cổ xưa. Và cũng như tất cả các cuốn sách của người viết đã xuất bản, mục đích cuối cùng vẫn là chứng minh cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương. Xin chia sẻ với các bạn đọc. Sài Gòn. Ngày mùng 1 tháng Giêng Kỷ Hợi Việt lịch. Nhằm ngày 5 - 2 - 2019. Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
    1 like
  22. NHỮNG NGUYÊN LÝ CĂN BẢN. III. Mối liên hệ Địa chi trong gia đình. A/ SAO MỘC VÀ THẬP NHỊ ĐỊA CHI. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Tính đặc thù của vấn đề nghiên cứu nền văn minh Đông phương - mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành - chính là một vấn đề chưa từng có trong lịch sử văn minh nhân loại. Đó là vì chúng ta phải phục hồi một lý thuyết cổ xưa đã tồn tại trong lịch sử. Chứ không phải chúng ta tổng hợp những nhận thức trực quan về những hiện tượng qua sát được, để trở thành một lý thuyết. Chính vì vậy, chúng ta cần có phương pháp nghiên cứu, không thể theo lối mòn như trong lịch sử hình thành các học thuyết khoa học của nền văn minh hiện nay. Giáo sư Lê Văn Sửu viết - Đại ý: "Nền khoa học hiện nay có những phương tiện cực kỳ tình xảo. Nhưng để khám phá những bí ẩn của nền văn minh Đông phương thì vẫn gặp khó khăn to lớn". Đó chính là do sai lầm về phương pháp nghiên cứu. Trong trường hợp của việc nghiên cứu những bí ẩn của nền văn minh Đông phương, chẳng ai có thể dùng kính hiển vi điện tử để phóng to ký hiệu quái Càn là gì?! Nhưng với suy nghĩ đã trở thành chấp ngã trong quá trình phát triển của cả một nền văn minh và không có ngoại lệ. Nên khi tìm hiểu về nền văn minh Đông phương, những nhà nghiên cứu cũng bắt đầu từ nếp suy nghĩ cố hữu này. Họ cho rằng các ngành Đông Y, Địa lý phong thủy.... chỉ là do "tích lũy kinh nghiệm". Tức là cũng thực chứng, thực nghiệm y như những gì mà nền văn minh hiện nay dùng để tổng hợp đưa lên thành một lý thuyết. Giở những cuốn sách giới thiệu về Địa Lý Phong thủy phương Đông, phần nhiều, các tác giả nhận định rằng: Địa lý phong thủy là do con người bắt đầu từ cuộc sống ở những hang động, rồi họ rút kinh nghiệm tạo nên môn Địa Lý phong thủy. Rồi họ bưng nguyên si nghĩa đen của từ "Phong thủy" và giải thích "Phong là gió. Thủy là nước" - Phong thủy là gió và nước. Việc xác định độ ẩm và tốc độ gió trong căn hộ là một trong những đề tài nghiên cứu của Tiến Sĩ Bùi Văn Chân từ 50 năm trước, tại khi tập thể Chung Tự ở Hanoi. Wow! Lạy Đức Ala toàn năng và cao cả. Vậy "Phoengshui" là rất có "cơ sở khoa học", vì nó cũng bắt đầu từ những thông số cơ bản của ngành Vật Lý kiến trúc. Hơ! Xin lỗi! Gặp các thày bà như vậy, hoặc những cuốn sách mở đầu như vậy, tôi đi chỗ khác chơi. Tóm lại, với những tư duy lối mòn như vậy thì không thể nào khám phá được những gía trị của nền văn minh Đông phương. Đó chính là những sai lầm về phương pháp nghiên cứu. Một trong những yếu tố cản trở lớn nhất trong việc tìm hiểu bản chất của nền văn minh này. Nhưng sự khám phá những bí ẩn huyền vĩ của nền văn minh này, đòi hỏi một tư duy tổng hợp những tri thức mũi nhọn của nhiều ngành khoa học. Từ lịch sử, xã hội và cả những tri thức của toàn bộ các ngành khoa học tự nhiên, kể cả vật lý thiên văn cho tới những khái niệm toán học. Bởi vì Lý học Đông phương bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, con người và xã hội, cũng như toàn bộ lịch sử hình thành vũ trụ. Do đó, khi nghiên cứu về Lý học Đông phương - mà nền tảng là học thuyết Âm Dương Ngũ hành - cần phải đi tìm và xác định tính cấu trúc hợp lý trong mối liên hệ mọi đại lượng, khái niệm có tính hệ thống và nhất quán trong nội hàm của một lý thuyết vô cùng đồ sộ và bao trùm lên mọi lĩnh vực. Do đó, nó cần những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học, làm chuẩn mực để thẩm định tính khoa học trong việc phục hồi một hệ thống lý thuyết. Khó khăn tiếp theo, chính là vấn đề thuộc phương pháp cụ thể. Nếu như để nghiên cứu hiện tượng hoặc cấu trúc vật chất trong nghiên cứu khoa học hiện đại, có thể dùng phương pháp loại suy đơn giản và cô lập hiện tượng, đối tượng nghiên cứu để đi tìm bản chất của vấn đề. Như việc tìm kiến hạt Higg. Nhưng nghiên cứu Lý học thì không. Bởi vì, nó là kết quả của một sự giải thích mang tính lý thuyết. Thí dụ: Một quẻ Dịch tốt như Địa Thiên Thái, xác định chuyên phát triển của một doanh nghiệp. Nhưng đó là sự giải thích của một phương pháp (Tính dự báo) của một hệ thống lý thuyết. Và cho dù sự lặp lại của quẻ này luôn luôn đúng cho mọi hiện tượng dự báo, thì nó vẫn không thể chứng tỏ được bản chất hình thành nên quả Địa Thiên Thái. Do quẻ này là sự tông hợp của mọi hiện tượng. Nói rõ hơn là: Bằng thực nghiệm trên máy LHC, các nhà khoa học có thể xácđịnh "Không có hạt Higg". Nhưng bằng thực nghiệm ứng dụng của quẻ bói, không nói lên điều gì cho bản chất của quẻ đó và nguyên nhân hình thành nên nó. Mà người ta chỉ có thể xác định phương pháp đó có hiệu quả, quẻ bói nghiệm. Bởi vậy, nghiên cứu Lý học Đông phương - để tìm bản chất chân lý khách quan đằng sau các phương pháp ứng dụng và cả một hệ thống lý thuyết đằng sau nó, phải bằng những chuẩn mực giành cho một hệ thống lý thuyết, mà tôi đã trình bày ở trên. Cụ thể, vấn đề được trình bày trong bài viết này là ý nghĩa của thập Thiên can và ảnh hưởng của nó lên cuộc sống con người. Hiện nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng: Thập Thiên can có nguồn gốc văn hóa phương nam. Cụ thể là của Việt tộc. Cụ thể là nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Quang, đã chứng minh rất xuất sắc về cội nguồn của Thập nhị Địa chi thuộc về văn hiến Việt. Phương pháp của ông chủ yếu là tư liệu lịch sử và so sánh đối chiếu biểu tượng 12 con giáp. Nhưng bằng một phương pháp khác, dựa vào tiêu chí khoa học, phát biểu như sau: "Một lý thuyết khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phải ánh một thực tại có thể kiểm chứng được. Do đó, tôi đặt vấn đề: mô hình chu kỳ 12 con giáp xuất phát từ đâu? Trong các bản văn chữ Hán không thấy nói đến thực tại khách quan nào để lập thành mô hình biểu kiến chu kỳ 12 con giáp?! Đây là sự xác định chắc chắn rằng: Nền văn minh Hán không thể là chủ nhân của mô hình biểu kiến 12 con giáp. Vì nó không xác định được nguyên nhân khách quan để lập thành mô hình này. Trong quá trình nghiên cứu Lý học Đông phương, so sánh đối chiếu các kết quả, tôi xác định rằng: Chính chu kỳ của Sao MỘC quay quanh Địa Cầu là chu kỳ của 12 con giáp trong Lý học Đông phương. Khoa Thiên văn học hiện đại đã chứng minh rằng: Chu Kỳ sao Mộc - Thái Tuế thuộc Mộc trong Lý học Đông phương - quay quanh Mặt trời tương đương 11, 8 năm Địa Cầu (Có sách chép 11, 89). Nhưng năm Dương lịch (Lịch Tây) có 365 ngày. Còn Âm lịch (Lịch Ta) chỉ có 355 (Hoặc 356) ngày. Sai số chính xác của 12 năm lịch Ta (Công thêm ba tháng nhuận) - chu kỳ 12 con giáp = với 11.8 lịch Tây là không đáng kể. Sự xác định sao Mộc - Ngôi sao lớn nhất gần Địa cầu sau Mặt trời, và chính là sao Thái Tuế trong Lý học Đông phương - đã xác định tính khoa học theo đúng tiêu chí khoa học của một lý thuyết khoa học và nó cũng xác định tính quy luật khách quan tương tác của sao Mộc/ Thái Tuế lên địa cầu. Chính quy luật tương tác của sao Mộc trong Thái dương hệ là cơ sở của 12 Địa Chi và là chủ đề của bài viết này. Ảnh hưởng của sao Mộc trong 12 năm Địa chi tất nhiên được phân Âm Dương, mỗi chu kỳ Âm Dương là 6 năm, chính là ý nghĩa của Lục Khí trong 12 con giáp được mô tả trong bàng tuần hoàn LẠC THƯ HOA GIÁP mà tôi đã chứng minh. Trên cơ sở này, tôi tiếp tục trình bày về tương tác của Thập nhị Địa chi trong quan hệ gia đình. Xin cảm ơn sự quan tâm, chia sẻ của quý vị va 2anh chị em. B/ TƯƠNG TÁC 12 ĐỊA CHI. Như tôi đã trình bày ở bài trước. Do chu kỳ của sao Mộc/ Thái Tuế trong Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt - là thực tại làm nên mô hình biểu kiến là 12 Địa Chi. Bội số chung nhỏ nhất của 12 Địa Chi phối với 10 Thiên can chính là con số 60 của LẠC THƯ HOA GIÁP - nhân danh nền văn hiên Việt. Và đó chính là tính phân loại vận khí do tương tác của vũ trụ - 10 Thiên can - và tương tác mạnh ở Thái Dương hệ với sao Thái Tuế / Sao Mộc làm thành vẫn khí hàng năm. Các mối liên hệ về Thiên Can và Vận khí tôi đã trình bày. Trong bài này tôi tiếp tục trình bày về tương tác 12 Địa chi. Thưa quý vị và các bạn. Chính vì tình tương tác phức tạp và không thể có một mẫu số chung cho các tương tác này, nên không thể có cặp vợ chồng nào tuyệt đối tốt. Qua đó thấy rằng: Phương pháp Luận tuổi Lạc Việt phản ánh đúng thực trạng cuộc sống, vì tính không thể tuyệt đối ngay trong lý thuyết này..Ngay cả việc bồ sung tuổi những đứa con với xác xuất cao nhất là 60 Nam x 60 Nữ x 60 tuổi con út cũng không thể tuyệt đối. Lý tưởng nhất về mặt lý thuyết là tập hợp các con trong gia đình thành những cách cục tuyệt hảo - các Đại gia hoặc công chức cao cấp thì vào những vận hạn xung khắc tuổi các thành viên thì vẫn có tính thăng trầm của số phận.. Chưa nói đến vấn đề các yếu tố trong tập hợp "Luận tuổi Lạc Việt", cũng chỉ là một trong ba tập hợp khác là Địa Lý phong thủy và số phận. Tuy nhiên phương pháp "luận tuổi Lạc Việt" là phương pháp có xác xuất chính xác cao nhất so với các phương pháp khác và dễ dự báo nhất. BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH hi xem tuổi hợp khắc, nếu hai tuổi khắc nhau vẫn có thể ăn ở với nhau được nếu như CUNG và MỆNH hoà hợp nhau. * Tuổi Tam hợp: Thân Tý Thìn, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi, Tỵ Dậu Sửu * TuổiI Nhị hợp: Tý Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tỵ Thân, Ngọ Mùi. * Tuổi Tứ hành xung: Tý Ngọ, Sửu Mùi; Dần Thân, Mão Dậu, Thìn Tuất, Tỵ Hợi. * Tuổi Lục Hại: Tý hại Mùi, Sửu hại Ngọ, Dần hại Tỵ, Mão hại Thìn, Thân hại Hợi, Dần hại Tuất. Như tôi đã trình bày ở bài trước.
    1 like
  23. HỒ THỦY SINH TRONG PHONG THỦY NGÔI GIA DƯỚI GÓC NHÌN TỪ ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT PHẦN 1: SỰ TÁC ĐỘNG VÀ VỊ TRÍ ĐẶT HỒ THỦY SINH Tác giả: Longphibaccai – Nguyễn Quốc Duy Thành viên nghiên cứu Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương Hướng dẫn: Thầy Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh Ngày nay, phong trào chơi hồ thủy sinh trở nên khá phổ biến và trở thành niềm đam mê của nhiều người, từ một anh doanh nhân giàu có cho đến một cô bé học sinh trung học cơ sở… Thú chơi hồ thủy sinh còn đòi hỏi người chơi thể hiện sự sáng tạo và chinh phục những đỉnh cao mới. Từ việc đưa khung cảnh thiên nhiên, những nét đẹp bình dị của làng quê, sông núi, rừng già, đáy biển vào hồ cho đến việc nuôi những động vật thủy sinh khó nuôi, đòi hỏi cao về chất lượng môi trường nước và nhiệt độ. Thú chơi hồ thủy sinh là vậy, nhưng nhiều người vẫn có thắc mắc hồ thủy sinh có ảnh hưởng hay tác động như thế nào đến ngôi nhà của mình, tốt xấu ra sao, hay người mệnh Hỏa có chơi hồ thủy sinh được không và đặt tại vị trí nào là tốt? 1. Hồ thủy sinh tác động như thế nào đến ngôi gia? Hồ thủy sinh ngoài việc giúp cho những người trong nhà có cảm giác thư giãn, giảm stress sau một ngày làm việc căng thẳng, còn có tác dụng tốt trong Phong Thủy ngôi gia. Cổ nhân có câu: “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc” - Núi thì quản người, nước thì quản tài lộc và tạo sinh khí. Đối với không gian lớn như quán café, quán ăn, nhà hàng, khách sạn lớn … Nhiều Phong Thủy Gia đã dụng Thủy Pháp là các thác nước, các hồ nước, hồ nuôi cá cảnh lớn ngoài trời, và đối với không gian nhỏ hơn là trong gia đình, quán café, các quán ăn nhỏ là các hồ cá, hồ thủy sinh trong nhà … Ngoài việc làm đẹp cảnh quan, hồ thủy sinh còn có mục đích là chiêu tài tụ khí giúp cơ sở kinh doanh phát triển, tăng sự thịnh vượng của ngôi gia. 2. Người mạng Hỏa có nên chơi hồ thủy sinh? . Nên đối với những người mệnh Hỏa hay bất cứ mệnh gì trong ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Thổ) đều có thể chơi hồ thủy sinh trong ngôi gia của mình, vì mạng chỉ là sự phân loại trong Ngũ hành.có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri (1) Thuyết Âm Dương Ngũ Hành là một học thuyếtTheo học thuyết Âm Dương Ngũ Hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt với lịch sử trải gần 5.000 năm, đã xác định rằng: 3. Hồ thủy sinh đặt tại vị trí nào là tốt? … Về nguyên tắc thì đặt hồ ở đâu trong nhà cũng được với điều kiện là ngôi gia phải tụ khí thì hồ thủy sinh mới phát huy hiệu quả của nó. Nhưng ở những vị trí khác nhau, sẽ có những tác động tốt xấu khác nhau. Đặt ở nơi mộ khí thì sẽ có tác dụng xua tan Âm khí. Ở nơi sinh khí và vượng khí có tác dụng kích hoạt sinh khí tốt, có lợi cho sức khỏe, nhưng trong nhà phải thoát khí tốt và hồ thủy sinh đặt trong nhà phải hài hòa, cân đối.(2)Trong Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt thì hồ thủy sinh là nơi tụ khí và luân chuyển sinh khí trong nhà, khí do hồ thủy sinh sinh ra là Âm khí, hồ thủy sinh có tác dụng kích hoạt sinh khí có lợi cho sức khỏe, kích hoạt tài lộc a. Các vị trí tốt đặt hồ thủy sinh: - Có thể đặt hồ thủy sinh tại vị trí hướng Bắc (cung Khảm), hướng Đông (cung Chấn) hoặc hướng Đông Nam (cung Khôn (3)) của ngôi gia sao cho phù hợp. Hướng Bắc thuộc cung Sự Nghiệp, tượng trưng cho sự vững bền, thuận lợi và thăng tiến trong công việc. Hướng Đông thuộc cung Sức Khỏe, Gia Đình, tượng trưng cho sinh lực, sự tươi trẻ, tình cảm và hạnh phúc gia đình. Hướng Đông Nam thuộc cung Phú Quý, tượng trưng cho tài lộc, sự sung túc, của ăn của để trong nhà… Đồ hình "Bát cung hóa khí" theo Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt. - Đối với các căn hộ chung cư có cửa ra vào đối xung với nhau, cửa chính đối xung với cửa thang máy, cầu thang chung cư đâm vào nhà thì ta có thể đặt một hồ thủy sinh để tránh xung sát khí. - Đối với nhà có các cửa thẳng hàng (cửa trước thẳng hàng với các cửa sau) thì ta đặt hồ thủy sinh để hóa giải xuyên tâm sát tác động xấu đến ngôi gia. - Đối với nhà nằm ngay ngã ba có con đường phía trước đâm thẳng vào nhà, tùy vị trí thích hợp có thể đặt một hồ thủy sinh ở phòng khách để hạn chế xung sát khí đâm vào nhà. - Hồ thủy sinh có thể đặt ở phòng bếp nhưng không được đối xung với bếp vì Thủy Hỏa tương khắc. - Hồ thủy sinh có thể đặt ở phòng làm việc, phía trước mặt người ngồi để giúp người làm việc giảm stress và tạo sinh khí cho căn phòng. b. Các vị trí không tốt đặt hồ thủy sinh: - Không nên đặt ở phòng ngủ vì không gian ngủ nghỉ cần sự yên tĩnh, tránh sự tác động của âm thanh do bộ lọc, máy sủi oxy, quạt trong hồ thủy sinh tạo nên. - Không nên đặt hồ thủy sinh ở phòng thờ tự ông bà, tổ tiên đối với nhà có phòng thờ riêng biệt. - Không nên đặt hồ thủy sinh gần nhà vệ sinh vì hồ thủy sinh để lâu ngày sẽ tích tụ xú khí, gây ảnh hưởng đến sức khỏe những người trong nhà. Tóm lại, tùy vào mục đích muốn hướng đến của gia chủ và hóa giải những yếu tố xấu tác động đến ngôi gia thì ta đặt hồ thủy sinh tại những vị trí thích hợp nêu trên, để nó có thể phát huy hiệu quả nhằm hạn chế những tác động xấu và tăng sự thịnh vượng của ngôi gia. Tp.HCM, ngày 9 tháng 9 năm Bính Thân. PHẦN 2: BỐ CỤC HỒ THỦY SINH TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT Tài liệu tham khảo: (1),(3): Sách Minh Triết Việt Trong Văn Minh Đông Phương – Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Xuất bản: 2014 (2): Tài liệu Phong Thủy Lạc Việt – Lưu hành nội bộ
    1 like
  24. THANH LONG – BẠCH HỔ TỨ TƯỢNG (Tứ THÚ) HUYỀN VŨ-CHU TƯỚC ; TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY Bộ môn Địa Lý Phong Thủy có gốc rễ từ học thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH, và tất nhiên mọi yếu tố trong Địa lý đều tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc của học thuyết này. Tứ Tượng hay tứ thánh thú là một khái niệm hình tượng trong Lý học Đông Phương. Huyền Vũ của phương Bắc, Thanh Long của phương Đông, Bạch Hổ của phương Tây và Chu Tước của phương Nam. Tuy nhiên, cách định nghĩa về tứ tượng hiện nay đều không mang tính hệ thống và từ đó chúng ta không thể có được một sự thống nhất trong ứng dụng của các yếu tố cơ bản này. Nhân sự việc tôi có xem một video trên youtube của một vị chuyên gia phong thủy bên Mỹ, ông ta cho rằng yếu tố Thanh Long – Bạch Hổ trong Âm trạch (mồ mả) khác với Dương Trạch (nhà ở) tức là Âm trạch thì Tả Thanh Long tức bên trái quan tài xác định theo đầu người đã khuất, Nhưng dương trạch là nhà ở thì phải đứng từ ngoài nhìn vào nhà, thì bên tay trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ. Từ đây cho chúng ta thấy một điều, các lập luận kiểu như thế này thể hiện một sự sai lầm khi không hiểu bản chất cốt lõi trong mô hình biểu kiến này. 1. Định nghĩa và cách hiểu hiện nay Định nghĩa hiện nay đa phần được hiểu các yếu tố này như sau: “Hình thế núi cao ba bề gợi cho ta nhớ tới một chiếc “ghế bành”, biểu tượng của cuộc sống tiện nghi. Thế đất Tứ Tượng bao gồm: - Huyền Vũ (rùa đen) là trái núi phía sau ngôi nhà, lý tưởng nhất là nằm ở phương Bắc. - Thanh Long (rồng xanh) là ngọn đồi phía tay trái ngôi nhà, tốt nhất là nằm ở phương Đông. - Bạch Hổ (hổ trắng) là ngọn đồi phía tay phải ngôi nhà, nó phải thấp hơn đồi Thanh Long bên trái và núi Huyền Vũ sau nhà. - Chu Tước (chim sẻ đỏ) là gò đồi nhỏ trước mặt nhà, lý tưởng nhất là ở phương Nam.” Việc qui định các yếu tố tứ tượng hay tứ thú này trong Địa Lý Phong Thủy theo định nghĩa như trên là sự áp đặt dẫn tới việc thiếu tính chặt chẽ và hiểu sai lệch. Ví dụ như nếu nhà hướng Tây thì tức là không xác định được các yếu tố còn lại bởi định danh hướng - Chu tước do Chu tước định danh là hướng Nam và tọa sơn là Huyền Vũ. Với cách hiểu thế này thì chỉ có ngôi nhà có hướng Nam thì mới hợp các yếu tố Địa Lý ? điều này hoàn toàn vô lý. 2.Đi tìm định danh Tứ Thú hay Tứ Tượng - Biểu tượng tứ thú trong Địa Lý dùng để mô tả tính âm dương : Trước-Sau, Phải-Trái , xuất phát từ mô hình chuẩn được nền văn minh Cổ Xưa xây dựng nên. Trong Địa Lý Lạc Việt, nguyên tắc Âm Dương là : Dương trước – Âm Sau, Dương thấp- Âm Cao, Dương tả-Âm hữu, Nam tả-Nữ hữu, Nam nghịch-Nữ Thuận. a. Huyền Vũ bản chất không liên quan tới tên của loài Rùa nhưng vì sao lại lấy hình tượng loài Rùa cho yếu tố Huyền Vũ ? và trong ĐLPT thì Huyền Vũ lại được coi là Sơn ? “Con rùa chính là biểu tượng của nền văn hiến Việt ở thời sơ khai: "Vào thời vua Nghiêu, có sứ giả Việt Thường dâng con rùa lớn. Trên lưng có khắc văn Khoa Đầu, ghi việc trời đất mở mang". Hình tượng chim Hạc (Lạc) đứng trên lưng rùa chầu tiên thánh, cũng là một biểu tượng khác xác định giá trị của nền văn minh Lạc Việt. Sự xác định Huyền Vũ chính là thực tại vũ trụ thì đối xứng với Huyền Vũ phương Bắc, chính là sự nhận thức của văn hóa, tri thức: Phượng hoàng lửa phương Nam. “ Trích dẫn: Thầy Thiên Sứ -Nguyễn Vũ Tuấn Anh Sơn hay điểm tựa vững chắc,, chính là sự nhận thức văn hóa và tri thức, và vì thế được coi là yếu tố phía sau- Thuộc ÂM. Lạnh và tối ở phương Bắc trái với nóng và Sáng ở phương Nam, Tri thức và văn hóa thuộc về phương Bắc , vậy nên mô hình biểu kiến Huyền Vũ thuộc phương Bắc và Trong đồ hình Tiên Thiên , quẻ khôn được xếp vào phương Bắc – Khôn-Lạnh thuộc Âm – phía Sau. Tất nhiên, mô hình biểu kiến Huyền Vũ ở phương Bắc nhưng không có nghĩa là Phương Bắc nhất định là yếu tố Huyền Vũ. Huyền Vũ thuộc Âm- Nhô cao - là Sơn . b. Chu tước: lấy tượng là chim Tước Đỏ. là Nóng – Sáng Đối với phương Bắc Lạnh- tối, đại diện là Phương Nam – thuộc Dương. Tiên thiên quái Càn- Dương được xếp ở phương Nam. Đây là yếu tố Hướng trong ĐLPT bởi Dương trước – thấp. Trong ĐLPT thì Thấp trũng là hình tượng của Thủy – tụ. Chính vì thế, yếu tố Thủy không phài là nước và Sơn không phải là núi. Hai yếu tố này là cùng cặp DƯƠNG -ÂM : TRƯỚC-SAU, THẤP-CAO. Vì vậy tính chất của cặp Âm Dương này là : phía trước thuộc DƯƠNG là Thấp hơn, là phía Trước, là Sáng sủa đối với nó là phía Sau, là Cao hơn, là tối. c. Thanh Long : lấy tượng là rồng Xanh và tất nhiên Rồng không có thật.Tuy nhiên, Rồng là biểu tượng sức mạnh, là Dương, là linh vật tạo ra mưa , nước. Trên mô hình biểu kiến nếu đứng tựa lưng vào phía Bắc, hướng về phương Nam thì bên Trái là Biển cả ,là nơi Rồng ẩn náu. Dương bên Trái, thấp hơn so với bên Phải, và đó chính là vì sao tiên thiên lại xếp quái Ly-Hỏa ở phương Đông. d. Bạch Hổ: lấy tượng là Hổ trắng, mà trong tự nhiên Hổ nương náu trên núi rừng. Trên mô hình biểu kiến nếu đứng tựa lưng vào phía Bắc hướng về phương Nam , bên Trái là Biển cả thì bên phải là núi rừng. Núi cao hơn –thuộc Âm- Bên Phải . Trong Tiên Thiên quái Khảm được xếp ở phương Tây. Cặp Dương – Âm : Trái – Phải, Thấp –Cao không có nghĩa theo mô hình biểu kiến là con Hổ, con Rồng, hướng Đông-Tây hay nước và núi mà tính chất của nó chính là: Bên Phải thuộc Âm cao hơn bên Trái thuộc Dương. Qui các yếu tố về các cặp Âm-Dương, chúng ta có thể áp dụng vào mọi trường hợp trong Địa Lý Phong Thủy mà không cần chấp vào biểu tượng hay mô hình biểu kiến. Đây là chính là lý thuyết nền tảng của Địa Lý Lạc Việt, một bộ môn ứng dụng từ học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành của nền Văn Vinh Lạc Việt 5000 năm một thời rực rỡ huy hoàng phía Nam sông Dương Tử. Hà nội Tháng một năm Mậu Tuất tức tháng 12 năm 2017 Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    1 like
  25. XÁC ĐỊNH NẠP ÂM CHO CÁC HÀNH TRONG LẠC THƯ HOA GIÁP Sau khi xác định thân mạng của các năm theo cách trên, để ý ta thấy, các hành Sinh Vượng Mộ đều theo vòng Tam Hạp, khởi từ Tý sẽ là Tý Thân Thìn, khởi từ Ngọ sẽ là Ngọ Dần Tuất (Ví dụ với hành Kim hình bên dưới). Từ đó ta có cách an như sau: Một số Vi dụ (lấy từ bài trên) và nên học thuộc lòng nạp âm. Cám ơn Quý vị quan tâm, rất mong phản hồi từ Quý vị. Thiên Bồng (sưu tầm và hiệu chỉnh)
    1 like
  26. trích lược sách "Vận Khí Bí Điển" - do Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác viết. Trong sách có nhiều nội dung liên quan tới vận, khí, số mệnh. Và vấn đề về ngũ hành được thảo luận một cách tinh vi thấu đáo - nay post lên đây để các bạn tham khảo. -------------- 1. PHƯƠNG PHÁP XEM GIÓ, MÂY, KHÍ, SẮC 1.1 PHƯƠNG PHÁP PHÁN ĐOÁN KHÍ MÂY GIÓ ĐẦU NĂM 1.2 PHƯƠNG PHÁP PHÁN ĐOÁN 8 THỨ GIÓ BỐN MÙA 1.3 PHƯƠNG PHÁP XEM GIÓ ĐỘC 1.4 PHƯƠNG PHÁP XEM 8 THỨ GIÓ TRONG 9 CUNG 2. VẬN KHÍ 2.1 THUYẾT CHỦ KHÍ 2.2 PHƯƠNG PHÁP ĐOÁN CHỦ KHÍ 2.3 THUYẾT KHÁCH VẬN 2.4 PHÉP ĐOÁN KHÁCH VẬN 2.5 THUYẾT KHÁCH KHÍ 2.6 PHÉP ĐOÁN KHÁCH KHÍ 2.7 TÓM TẮT CÁCH ĐOÁN VẬN KHÍ 2.8 HƯỚNG DẪN CÁCH ĐOÁN VẬN KHÍ 2.9 CƠ CHẾ BỆNH CỦA VẬN KHÍ 2.10 CHÍNH HÓA VÀ ĐỐI HÓA 2.11 PHƯƠNG PHÁP SUY LƯỜNG VỀ 5 THỨ THIÊN KHÍ 2.12 SỰ TƯƠNG QUAN, ĐỒNG HÓA GIỮA VẬN VÀ KHÍ ------------------- 1. PHƯƠNG PHÁP XEM GIÓ, MÂY, KHÍ, SẮC Bậc thánh nhân thời xưa xem "ngũ sắc" của mây, thấy vàng - trắng - đen - đỏ qua năm phương mà lâm vào vị nào trong 10 can, mới lập ra "ngũ vận". Lại xét ngũ khí kể trên đi qua 28 sao, dưới ứng với 28 phương vị mà lập ra "lục khí". Cho nên cổ nhân trông khí mây, nếu có điềm lành/điềm dữ về phương nào là biết ngay, khí của núi bốc lên thường có gió theo, mà mây là khí thăng giáng của âm dương. Ta hãy xem lúc oi bức, âm khí bốc lên, dương khí giáng xuống mà thành mây thành gió, khi có mưa mới thôi. Cho nên mưa rồi ở nơi núi trầm, mây khói bốc lên chả phải là âm khí phát tiết hay sao? Lại xem loài chim bay đè khí mà đi lên, lá rụng đảo đi đảo lại rồi mới rơi xuống, cũng bởi khí vướng lại. Cho nên xem mây phải xem đến gió, xem gió không thể bỏ qua được khí của mây; mỗi khi xem khí của mây lại xem gió ứng về phương nào: Phương tốt: là những phương có Thiên đức, Nguyệt đức, Chi đức, Can đức, Sinh khí. Phương xấu: các hung thần tướng, tử khí, tam hình, lục hại. Xét tam hợp, lục hợp, sinh khắc, suy vượng, Thái tuế, không vong... để hiểu hết được triệu chứng tốt hay xấu. PHÉP XEM GIÓ/MÂY Lập Kính Thiên đài: đắp một cái đài ở chỗ tịch mịch, cao 12 trượng (theo về 12 chi), chung quanh rộng 4 thước (theo về 24 khí), quay lưng về hướng Tý, mặt quay về hướng Ngọ. Ở giữa cắm một cụm cờ để xem gió: Cán cờ xem mùa Xuân mùa Hạ cao 15 thước (vì mùa Xuân và mùa Hạ thì khí của gió trở đi trở lại) Cán cờ xem mùa Thu cao 20 thước (vì khí gió mùa Thu đi trên cao) Cán cờ xem mùa Đông cao 10 thước (vì khí gió mùa Đông đi thấp) ở dưới cán cờ đặt một cây kim để định phương hướng. Trên mặt đài, xung quanh cắm biển 12 giờ để chỉ rõ từng khu vực Hàng năm, nên xem vào lúc giờ Dần ngày mùng 1 tháng Giêng. Người xem phải tắm rửa trai tịnh, sạch sẽ, lên đài thắp hương, kính lễ xong lui ra, đứng ở chính xem giữa, xem khí mây khắp cả 5 phương, hoặc thấy mây ở phương nào đó, hoặc là thấy hai lần ở cùng một phương nào, đầu hướng về phương nào, đuôi chỉ về phương nào (to mà đậm đặc là đầu, nhỏ mà loãng nhạt là đuôi), khí sắc thế nào, nhạt hay đậm? Rồi lại xem gió thổi trái chiều lá cờ từ phương nào thì biết gió từ phương ấy tới. Như trên đã nói, phải xem gió từ phương tốt hay phương xấu tới, có gặp hình khắc xung phá gì không, sinh vượng hay hưu tù... để xét tốt xấu; trong tốt có thể ẩn xấu, trong xấu có thể ẩn tốt, hoặc tốt mà gặp sinh vượng thì càng thêm tốt, xấu mà gặp hưu tù, khắc, hình hại xung phá thì càng thêm xấu. Phải xem ứng xa hay ứng gần, ngày nào giờ nào, xem xét xong, lạy tạ mà lui ra. 1.1 PHƯƠNG PHÁP PHÁN ĐOÁN KHÍ MÂY GIÓ ĐẦU NĂM Phương pháp đoán, hễ thấy: khí xanh là phong khí đỏ là nhiệt khí vàng là thấp khí đen là hàn khí trắng là táo lại nói, nếu khí hiện kiêm nhiều màu thì phải xem màu nào chiếm nhiều, màu nào kiêm ít mà làm chủ đạo, đây là nói sơ lược. Điều cốt yếu là người coi phải xem khí mây gì, sắc gì, hiện phương nào để xem biết sinh khắc chế hóa, ví dụ: thấy sắc vàng tức hành thổ hiện ra ở phương Tý, tức là khí thổ khắc khí phương vị thì phương Tý ấy gặp nhiều dịch bệnh. Lại xem phương ấy có gì sinh khắc chế hóa hay không, ví như có Can đức, Chi đức, Sinh khí lâm vào, được vượng tướng khí thì trong xấu có tốt, bệnh dịch sinh ra sẽ phải lui. Còn ngược lại bị hưu tù, gặp Tử khí, Tử thần tức là đã xấu còn xấu thêm tất bệnh dịch nghiêm trọng. Lại xem gió lúc ấy từ phương nào thổi tới, ví như gió từ phương Ngọ thổi tới, tức là Hỏa phong xung khắc phương Tý thì tình hình càng tệ hại; còn nếu gió từ phương Thân thổi tới là Kim phong, tam hợp với phương Tý thì tai dịch đó nhất định sẽ nhẹ đi. Lại tiếp tục xem phương ấy với Thái tuế có xung khắc hình hại gì không, tốt xấu như thế nào mà phán đoán thành bại. Như năm Mão xem phương Tý thủy sinh Mão mộc thì phương Tý ấy có triệu hao tán rồi, tuy Mão mộc có thể khắc Thổ sắc vàng, nhưng Mão Tý tương hình, cái xấu không giải được, tuy có ý đến giải nhưng không thực tâm đến cứu. Nếu năm Dậu xem phương Tý thì Dậu sinh Tý, phương này có tai biến sẽ giải được. Sau lại xem phương nào ứng với thời sở nào, xa hay gần: ví dụ xem phương Tý có khí vàng Thổ thì suy ra phương Tý bị hại, thời gian bị hại vào các năm tháng ngày giờ hành thủy, xa thì ứng ngoài nghìn dặm, gần thì ứng trong nghìn dặm, hoặc ứng vào ngày, giờ. Còn như thấy trời trong gió nhẹ, bốn phương tạnh sáng thì đều là tươi tốt, không cần phải truy tìm nghiên cứu, hoặc thảng trên trời phảng phất có sắc hơi đỏ, hơi vàng, như hơi có ráng (hào quang), đó là mây lành triệu tốt, thì năm ấy chẳng những mọi việc yên ổn, mà còn được mùa. Nếu xem về ngày, mà suốt ngày mây dầm gió lạnh, âm u ảm đạm đều là triệu xấu, tuy có Nguyệt đức, Thiên đức sinh hợp với Thái tuế cũng đều vô dụng, hoặc sắc mây dầm xanh xanh như màu khí sắt, thì năm đó không những dịch lệ tai thương, mà trong nước phải có triệu binh đao. Phép xem trên đây, hễ thấy hoặc tốt hoặc xấu, hãy nên im lặng suy nghĩ. Nếu trong 3 ngày, ngày nào cũng thấy hiện tượng như vậy thì sự tốt xấu mới ứng nghiệm; nếu trong 3 ngày mà có một trận gió to hay mưa to thì việc xem hôm đầu, xấu cũng không thành xấu, tốt cũng không thành tốt, cho nên gọi là "không vong" Ví dụ: năm Giáp Tý (nạp âm kim), tháng giêng Bính Dần (hỏa), ngày mùng 1 Ất Mão (thủy), giờ Mậu Dần (thổ) bỗng xem thấy phương Mão (mộc) hiện ra một đám mây đầu hướng về phương Tý (thủy) mà đuôi hướng về phương Ngọ (hỏa), sắc mây màu trắng phá xanh lơ - là sát khí. Lúc bấy giờ lại thấy gió từ phương Dậu tới, nghe tiếng gió giống như kêu gào thảm thương, phải rợn tóc gáy thì đoán rằng: phương Mão tuy có 3 sao tốt là Niên đức, Niên vượng và Tuế sinh (Tý đức ở Mão, Tý thủy, nên phương Mão mộc vượng, thái tuế là Tý thủy sinh phương Mão mộc), song khí mây là hành kim, tháng Bính thì hành kim của khí mây bị bệnh ở Thân, tử ở Dậu (tức khí mây là tử khí), kiêm có triệu tiếng gió kêu gào thảm thương, lại thêm phương Mão hình thái tuế Tý: kết luận năm Giáp Tý đó về phương Mão phải bị mất mùa và bệnh dịch, người chết nhiều vô kể. Nếu về mùa Hạ hỏa vượng mộc suy thì tai họa xảy ra ở nơi xa (gần thì dưới nghìn dặm, xa thì ứng trên nghìn dặm)... Trên đây là ví dụ của phép suy luận, gặp các trường hợp cứ thế mà suy ra. Lại nói đậm đặc là mây mà loãng nhạt là khí, tuy loãng nhạt mà di động thì là mây bay. Tuy đậm đặc mà trong thì là khí (trích trong quyển Kinh Thiên). 1.2 PHƯƠNG PHÁP PHÁN ĐOÁN 8 THỨ GIÓ BỐN MÙA Hễ xem 8 thứ gió thì gọi là "phong giốc", giốc nghĩa là đánh trọi, giốc phong tức là gió trái thời tiết, gió phát đột ngột, kêu gào như sát khí, phải rợn tóc gáy trong cả 4 mùa - loại gió như vậy đều có thể chiêm nghiệm, chỉ lấy 8 phương mà xem, không cần hỏi tới năm, tháng, ngày, giờ. Ngoài ra chỉ chú trọng lúc đó khí trời thế nào, hoặc ban ngày, hoặc ban đêm: nếu khí trời sáng sủa, được gió tốt thì càng tốt, nếu gặp gió xấu cũng có thể cứu được. nếu khí trời âm u ảm đạm, tuy được gió tốt cũng xấu lại như trời mưa thì không kể, chỉ tính khi không mưa tự nhiên bỗng có gió tới như trào tuôn, nghe như ngựa hí, cát chạy thì gọi là "quỷ sầu phong". Hễ phương nào mà có gió này thổi tới là sẽ có đao binh dịch lệ, những người gặp phải gió này thì hay xảy ra chứng đột tử. Lại nghiệm xem tiếng gió hoặc du dương như tiếng ca nhạc, hoặc rầm rập như xe ngựa rong ruổi, hoặc bi thảm giống như tiếng kêu thương khóc lóc, gào thét như tiếng tức giận quát mắng, hoặc là tiếng đánh giết nhau, đều nên xem xét sự tốt xấu của nó. Còn như kỳ hạn ứng việc, thì xem sức gió thổi tới dài hay ngắn, chậm hay nhanh mà đoán nhật kỳ xa hay gần. Lại lấy bên bị khắc là báo ứng của kỳ xấu, bên tương sinh là báo ứng của kỳ tốt. Lại như những nơi đi qua, những phương gió tới đều là những phương bị dính tai họa/hay được cát lợi (tùy theo triệu). Bài phú "Phong giốc" nói "muốn thông tai biến của trời đất, phải đọc thuộc sách phong giốc. Lại nói "người trên có thể đem quân đi đánh giặc, giúp nước yên dân, người dưới có thể biết điềm tốt xấu, tìm phương lánh nạn". Hoặc nói "biết rõ sự trái hướng của bốn mùa, mới định được gió mây trong 8 cõi". MÙA XUÂN gió phương Càn, nhân dân bệnh tật gió phương Khảm, cảm bệnh nhiều hơn Cấn lai, tai biến gây nên, Chấn phong phát động muôn nghìn hoa tươi Gió phương Tốn thuận thời lúa tốt Gió Ly tới mất hết mùa màng Khôn phong mưa gió thuận thường Đoài phong đồng ruộng vắng tràng tiếng ca. MÙA HẠ Gió phương Càn, không an súc vật Gió phương Khảm bệnh tật tai ương, Cấn phong, hạn hán khác thường Chấn phong, dịch đậu rõ ràng nơi nơi, Gió phương Tốn hoa tươi cỏ tốt Gió phương Ly, bệnh tật gây ra Khôn phong, khan hiếm quả hoa Đoài phong, đồng ruộng nhiều nhà thất thu MÙA THU Gió phương Càn, cỏ cây chen chúc Gió phương Khảm, lục súc thảm thương Cấn phong, chim chóc tai ương, Chấn phong lục súc khó đường chăn nuôi Tốn phong tật dịch nhiều nơi, Ly phong phương ấy lại người bất an Khôn phong ác dịch nhiều nơi Đoài phong cây cỏ héo mòn khó tươi MÙA ĐÔNG Càn phong lúa tốt đầy đồng Khảm phong tật dịch bỗng dưng chết người Cấn phong trâu dê bị toi, Chấn phong dịch lệ nơi nơi hoành hành Tốn phong trâu dê chẳng lành Ly phong tật dịch phát sinh rõ ràng Khôn phong lục súc bất thường Đoài phong tuyết xuống đầy đường đầy sân 1.3 PHƯƠNG PHÁP XEM GIÓ ĐỘC Nội kinh nói "tà khí, gió độc phải lựa chiều mà tránh" 1.4 PHƯƠNG PHÁP XEM 8 THỨ GIÓ TRONG 9 CUNG Thiên "bát phong" trong Kim Quỹ nói: sao Thái Nhất thường bắt đầu từ ngày Đông chí là ở cung Hiệp trập, qua 46 ngày đêm lại ở cung Thiên lưu, qua 46 ngày đêm lại ở cung Thương môn, qua 46 ngày đêm lại ở cung Âm lạc, qua 46 ngày đêm lại ở cung Thiên cung, qua 46 ngày đêm lại ở cung Huyền ủy, qua 46 ngày đêm lại ở cung Thương quá, qua 46 ngày đêm lại ở cung Tân lạc, qua 45 ngày nữa lại trở lại cung Hiệp trập - tức ngày Đông chí, cứ như vậy hết vòng này qua vòng khác. Hễ những ngày sao Thái nhất đổi cung thì trời phải có mưa gió ứng, nên những ngày đó có mưa gió thì tốt, vì mùa màng tốt, dân yên, ít bệnh tật. Còn nếu mưa gió ứng vào trước khi sao Thái nhất đổi cung thì năm đó gió nhiều, ứng vào sau ngày đó thì năm đó đại hạn. Những cái gọi là tai biến, tức là ngày mà sao Thái nhất di chuyển qua 5 cung có gió mạnh gãy cây cối, cát đá tung bay nên căn cứ vào sở chủ của từng cung(sở chủ, nghĩa là ý nghĩa của cung đó nói về cái gì) mà phán đoán tốt xấu, lại xem phương gió thổi tới mà chiêm nghiệm. Lại xem phương gió thổi tới là chiêm nghiệm: Gió thổi tới từng phương có sao Thái nhất tới: gọi là Thực phong, chủ sinh trưởng muôn vật; Gió thổi tới từ phương đối xung (với sao Thái nhất) gọi là Hư phong, nó làm hại người, chủ sát hại; Tôi (Hải Thượng Lãn Ông) căn cứ vào phương pháp xem gió trong 9 cung ở lịch Đại Thống, phối hợp với số Cửu diệu (tử bạch cửu tinh), mà nhà xem số Thái ất lấy ngày lập thành tính toán ra phương pháp Kỳ Môn Độn Giáp từ chỗ bắt đầu qua chỗ nối tiếp, ứng nghiệm của nó rất là quan trọng: như sao Thái nhất tức là nơi chuyển động hàng ngày của mặt trời (trên vòng hoàng đạo), nhà xem số Lục nhâm, chỗ là Nguyệt tướng, từ Đông chí một ngày tính số bắt đầu, rồi di chuyển đi 9 cung - từ cung Hiệp trập tới cung Tân lạc - phân bố thành 24 tiết khí là tròn 1 năm rồi lại bắt đầu Đông chí. Hễ ngày khởi đầu cung, không những (có thể biết được) trong nước có điều hay dở, (dùng cho việc) xuất quân đánh giặc, cực kỳ linh nghiệm. Như sao Thái nhất ở 5 cung, quan trọng là ở các ngày Đông chí, Xuân phân, Thu phân, Hạ chí, những ngày đó các nhà làm lịch gọi là ngày Tứ tuyệt - lúc âm dương giao hội, là nơi khởi phát điềm của các việc tốt xấu. 2. VẬN KHÍ - THUYẾT CHỦ VẬN Ngũ vận so với Ngũ hành, thì ngũ vận là bản thể mà ngũ hành là tác dụng: Mộc: nghĩa là xúc, dương khí tiếp xúc với đất mà sinh ra, quẻ thuộc loại Khúc trực (cong thẳng: là hình tượng của cây, gỗ); Hỏa: nghĩa là biến hóa, đốt cháy mạnh để biến hóa mọi vật, quẻ thuộc loại Viêm thượng (bốc lên, hình tượng của lửa); Kim: nghĩa là cấm, ngăn cấm mọi vật thay đổi, quẻ thuộc loại Tòng cách (tòng cách: thay đổi tùy theo lúc); Thủy: có tính thấm nhuận nuôi dưỡng vạn vật, quẻ thuộc loại Nhuận hạ (tính của nước); Thổ: nghĩa là nhả ra, ngậm mọi vật vào. Cái lẽ sinh ra cũng do đất, mà chết đi cũng về đất (quy thổ), quẻ thuộc loại Giá sắc (là cày cấy). Vì trời lấy ngũ hành ngự trị ngũ vị để sinh ra khí: hàn, thử, táo, thấp, phong; người có ngũ tạng, hóa sinh ra 5 khí để sinh ra mừng, giận, lo, nghĩ, sợ; do đó ta thấy vạn vật, muôn lý, âm dương trời đất gì cũng không ra khỏi được lý của ngũ hành. CHỦ VẬN LÀ GÌ? Chủ vận có nghĩa là thời gian vận hành cố định của thời tiết trong tự nhiên của một năm, mỗi năm có 5 giai đoạn. Suy đoán chủ vận bắt đầu từ ngày tiết Đại hàn, mỗi vận quý chiếm khoảng 73 ngày lẻ 5 khắc. Theo ngũ hành tương sinh: Mộc thuộc sơ vận: bắt đầu từ Đại hàn, tới Lập xuân, Vũ thủy, Kinh trập, Xuân phân, giao nhau 3 ngày trước Thanh minh. Sơ vận: mộc khí chủ phong Hoả thuộc nhị vận: giao nhau khoảng Thanh minh, tới Vũ cốc, Lập hạ, Tiểu mãn, giao nhau 3 ngày trước Mang chủng. Nhị vận hoả khí chủ thử nhiệt Thổ thuộc tam vận: từ Mang chủng, Hạ chí, Tiểu thử, Đại thử, giao nhau 3 ngày sau Lập thu. Tam vận hoả khí chủ thấp Kim thuộc tứ vận: từ Lập thu, Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, giao nhau 6 ngày trước Sương giáng. Tứ vận kim khí chủ táo Thuỷ thuộc cuối vận: từ Sương giáng, Lập đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết, Đông chí, Tiểu hàn, giao nhau sau 9 ngày Đại hàn. cuối vận thuỷ khí chủ hàn Thơ rằng: Ngày Đại hàn bắt đầu giao mộc vận Hỏa vận sang ba hôm trước Thanh minh Sau mang chủng 3 hôm là thổ vận, Lập thu qua sáu tối vận kim tinh Thủy vận sau Lập đông ngày thứ 9 Muôn ngàn năm cứ thế vần quanh. Phương pháp này cứ mỗi năm đều lấy tiết Đại hàn làm mộc vận thứ nhất; trước tiết Thanh minh 3 ngày giao hỏa vận thứ hai; sau tiết Mang chủng 3 ngày giao thổ vận thứ 3; sau tiết Lập thu 6 ngày giao kim vận thứ tư; sau tiết Lập đông 9 ngày giao thủy vận thứ năm, năm nào cũng thế - không thay đổi. Mỗi vận làm chủ 73 ngày 5 khắc, nhân với 5 vận là 365,25 ngày mỗi năm. Đại khái lấy lý mà suy thì ngũ vận không thay đổi, chỉ lấy vị thứ xếp đặt trên dưới nhau, không bao giờ biến đổi mới thành ra mùa xuân ấm, mùa hạ nóng, mùa thu mát, mùa đông lạnh. Cho nên khí Phong để chuyển Đông, Hỏa để ấm nóng, nắng để nung nấu, thấp để tẩm nhuần, táo để khô ráo, hàn để cứng rắn là sự đồng hóa trong bốn mùa mà thành ra chính khí của trời đất. Chỉ có khách khí "gia" lên chủ vận (ví dụ như khách khí hỏa, chủ vận mộc, tức là chủ vận sinh khách khí, chủ vận là mẹ khách khí là con, con ở trên mẹ gọi là gia lên) là lúc thời tiết không bình thường, nhân dân bị bệnh tật nhiều, như thấy khí tự nhiên đến khắc chủ vận thì thuận, khách khí đến khắc chủ vận thì không thuận. Phương pháp chữa tùy theo, nghịch thì ức chế, dùng công phạt khí thiên hòa (thiên lệch), đó là điều cốt yếu. LÀM QUEN VỚI ĐỊNH NGHĨA Chủ khí: là khí chủ thời dùng để chỉ rõ quy luật khí hậu bình thường trong mỗi năm, có ý nghĩa giống như vận chủ tứ thời. Lục khí chủ thời cố định hay biến đổi được gọi là chủ khí. Khách vận: chỉ sự biến đổi khí hậu khác thường trong 5 vận quý của mỗi năm. Suy đoán khách vận dựa theo năm thiên can đại vận là sơ vạn, khách vận kết hợp với 5 tiết quý và 5 bước suy đoán. Đại vận: là suy đoán biến hoá khí tượng của các năm, 10 năm một vòng theo thiên can (5 năm thái quá, 5 năm bất cập). Chủ vận: là chủ biến hoá khí hậu bình thường của 5 giai đoạn trong một năm. Khách vận là suy đoán khí hậu khác thường của năm giai đoạn (tiết quý) của mỗi năm. Chuyển dịch của lục khí: là sáu khí trong vũ bao gồm: phong, nhiệt, hoả, thấp, táo, hàn. Mỗi năm lục khí được chia làm hai loại: chủ khí và khách khí. Chủ khí là chỉ biến đổi khí hậu bình thường Khách khí là chỉ khí hậu biến đổi thất thường Khách chủ gia lãm (khách khí thêm chủ khí) phân tích sâu thêm sự biến hoá phức tạp của khí hậu. Đoạn trên có nghĩa là năm nào thì cũng đều đặn 4 mùa xuân hạ thu đông chia đều cho 12 tháng thành ra mỗi mùa 3 tháng, nhưng tháng âm lịch có khi vận hành không trùng với tiết khí cho nên phân ra làm 5 giai đoạn vận hành (tức 5 vận) lấy mốc theo tiết khí. Đoạn tiếp theo sẽ trình bày về "khí" thời tiết... ----------------- 2.1 THUYẾT CHỦ KHÍ Chủ khí tức là lục khí, do tương ứng với lục phủ của cơ thể con người nên gọi là "lục hóa":, bao gồm: Mộc khí, hóa phong, là Quyết âm phong mộc, chủ về mùa xuân. Dương khí cổ vũ mà làm thành hiệu lệnh. Hỏa khí, Thiếu âm Quân hỏa hóa nhiệt, chủ về cuối mùa xuân và đầu mùa hạ, thời lệnh ấm áp mà không nắng nực; Hỏa khí, Thiếu dương Tướng hỏa chủ về mùa hạ, nắng nực dữ dội Thổ khí, Thái âm Thấp thổ, nắng làm cho đất ướt hóa nóng ẩm, thấp hóa lưu hành. Vì ẩm thấp thì thổ mới sinh trưởng được. Còn thổ mà hàn/lạnh thì mọi vật trong đất đều phải chết. Kim khí, Dương minh táo kim: hóa thành táo, thời lệnh mát mẻ, vì kim là phần âm của Bính, có kèm hỏa khí cho nên khô táo. Thủy khí, Thái dương hàn thủy, thời lệnh rét dữ dội. Suối ở trong lòng đất/thổ, đó là thấp hóa phong (mộc), cho nên linh khí của ở trời là Phong, ở đất là mộc, ở người là giận dữ. Linh khí của hành hỏa ở trời là nhiệt, ở đất là hỏa, ở người là mừng rỡ; Linh khí của hành thổ ở trời là thấp, ở đất là đất, ở người là suy nghĩ; linh khí của hành kim ở trời là táo, ở đất là kim loại, ở người là lo lắng; linh khí của hành thủy ở trời là khí hàn, ở đất là nước, ở người là sợ sệt. Các khí đều có chỗ xuất phát của nó, đúng vào vị trí thì gọi là chính khí, không đúng vào vị trí của nó thì là tà khí, chính khí suy thì tà khí vượng. PHƯƠNG PHÁP LẬP CHỦ KHÍ thơ rằng: Đại hàn, mộc khí đầu tiên, Xuân phân, Quân hỏa tiếp liền thứ hai Ba Tiểu mãn Tướng hỏa ngay, Thái âm Đại thử khí này thứ tư Năm, Thu phân dương minh chờ Thứ sáu Tiểu tuyết khí là Thái dương Phương pháp này hàng năm đều lấy từ ngày Đại hàn đến ngày Kinh trập làm mộc khí thứ nhất; từ ngày Xuân phân khởi hỏa khí thứ hai; từ ngày Tiểu mãn khởi hỏa khí thứ ba; từ ngày Đại thử khởi thổ khí thứ tư; từ ngày Thu phân khởi kim khí thứ năm; từ ngày Tiểu tuyết khởi thủy khí thứ sáu. Cứ thế hết vòng này qua vòng khác, không bao giờ thay đổi. 2.2 PHƯƠNG PHÁP ĐOÁN CHỦ KHÍ Đại khái chủ khí chỉ tuân theo khách khí ở trên mà thôi, khách thắng (khắc) chủ thì thuận, chủ thắng khách thì nghịch, hai khí ấy chỉ có thắng mà không có phục (con phục thù cho mẹ). Chủ thắng thì tả chủ bổ khách, khách thắng thì tả khách bổ chủ. Lại nói: chủ khí mà "lâm" vào dưới khách khí, thiên thời vì thế không điều hòa, tật bệnh trong nhân dân do đó mà sinh ra. Ví dụ: năm Thìn, năm Tuất (Thìn/Tuất quy định là Thái dương hàn thủy): Khách khí của vận 1 là Thiếu dương tướng hỏa, "gia" lên chủ khí là Quyết âm phong mộc Khách khí thứ hai là Dương minh Táo kim, "gia" lên chủ khí Thiếu âm quân hỏa; Khách khí thứ ba là Thái dương hàn thủy, "gia" lên chủ khí Thiếu dương tướng hỏa; Khách khí thứ tư là Quyết âm phong mộc, gia lên chủ khí Thái âm thấp thổ... Lấy hai nằm Thìn Tuất này làm ví dụ, các năm khác cứ theo đó mà suy ra. Hễ gọi là "lâm", tức là con lại ở trên, mẹ lại ở dưới: như mộc chủ khí sinh ra hỏa khách khí chẳng hạn - đó là nghịch. Nếu mẹ ở trên, mà con ở dưới - đó là thuận. Chú thích rằng: Chủ thắng thì nghịch, nghịch thì dùng phương pháp chính trị (có nghĩa là bản chất của bệnh bên trong phù hợp với triệu chứng bên ngoài, ví dụ thấy chứng hàn thì lấy thuốc nhiệt để trị, thấy chứng nhiệt thì lấy thuốc hàn để trị - như thế gọi là chính trị). Khách thắng thì thuận, thuận thì dùng phương pháp phản trị (nghĩa là triệu chứng bệnh không phù hợp hợp với bản chất của bệnh, ví dụ như chứng chân nhiệt giả hàn... mặc dầu thầy thuốc thấy triệu chứng hàn nhưng vẫn cho thuốc hàn để trị - như thế gọi là phản trị). Như nói: chỉ có thắng mà không có phục - nghĩa là thịnh quá thì sẽ hại chỗ nó thắng, chỗ thắng nó không ức chế lại (theo lý ngũ hành thì chỗ bị khắc sẽ sinh ra một hành để ức chế lại, ví dụ như hỏa cương thịnh quá sẽ khắc hại kim, kim phải sinh thủy để ức chế hỏa - như thế gọi là phục thù... nhưng trong việc trị bệnh không nói như thế, nếu có một hành thái quá khắc chế, hành bị khắc sẽ tổn hại chứ không có chuyện sinh ra hành khác khắc chế lại).</p> --------------------- Đoạn này diễn giải giữa Chủ khí: tức là khí hậu tự nhiên bản chất phải có tại một thời điểm nhất định. Lấy ví dụ như vào vận 1 của mỗi năm thì Chủ khí là Quyết âm Phong mộc (tức khí của mùa Xuân), nếu năm đó là năm Thìn/Tuất thì khách khí tới thăm chính là Thiếu dương tướng hỏa - tức Chủ khí sinh Khách khí. --------------------- 2.3 THUYẾT KHÁCH VẬN Âm dương ngũ hành chu lưu thành 10 can, ngũ hành vận hành quanh khắp trong trời đất thành ra nguồn gốc của vạn vật, cho nên hàng năm xoay vần biến đổi theo thứ tự mà làm khách vận. Tính vận thì theo 10 thiên can, phối hợp lại chia thành 5 vận. Theo tính chất anh em, âm dương, phương vị của 10 can thì: Giáp dương là anh, Ất âm là em, vị trí ở phương Đông thuộc quẻ Chấn, Tốn - hành mộc; Bính dương là anh, Đinh âm là em, vị trí ở phía phương Nam, thuộc quẻ Ly - hành hỏa; Mậu dương là anh, Kỷ âm là em, vị trí thuộc trung ương, thuộc quẻ Cấn, Khôn - hành thổ; Canh dương là anh, Tân âm là em, vị trí ở phía Tây, thuộc quẻ Càn, Đoài - hành kim; Nhâm dương là anh, Quý âm là em, vị trí ở phía Bắc, thuộc quẻ Khảm - hành Thủy. Cho nên nói: Giáp là đầu mùa xuân, cây cỏ bắt đầu từ trong vỏ phát triển ra; Ất là dương khí còn ẩn khuất; Bính là vạn vật xuất hiện ra rõ rệt; Đinh là gặp lúc đương hành động mạnh mà được lớn mạnh lên; Mậu là dương thổ, vạn vật sinh trưởng cũng từ đó mà ra - mà tiêu diệt cũng từ chỗ đó; Kỷ là âm thổ không làm gì được riêng một mình; Canh là dương biến đổi mà bao gồm; Tân là âm cực ở chỗ đó mà thay đổi mới; Nhâm là dương khí mới sinh - cũng "nhâm" là đã có thai - cùng với chữ "tử" là con có chung một ý nghĩa; Quý là vạn vật bế tàng, trong thai nghén, chứ mầm mống một cách kín đáo, đó là sự tinh vi của trời đất. PHƯƠNG PHÁP LẬP KHÁCH VẬN (theo thiên âm dương trong sách "Tam tài bí chỉ") Phương pháp này mô tả sự hình thành khách vận theo nguyên tắc "vợ chồng lấy nhau, rồi sinh con đẻ cháu" - theo lịch pháp lấy vượng số sinh thành, còn lẻ ra thì lấy số trưởng nam để làm nguyệt kiến cho tháng giêng. Theo nghĩa "vợ chồng phối hợp", "con cháu sinh thành" thì: Giáp là chồng, Kỷ là vợ; vượng ở Dần mới sinh con là Bính, Bính sinh cháu là Mậu - vận hành thổ. Canh là chồng, Ất là vợ; vượng ở Kỷ (hay Tị?) mới sinh con là Mậu, Mậu sinh cháu là Canh - vận hành kim. Bính là chồng, Tân là vợ; vượng ở Sửu mới sinh con là Canh, Canh sinh cháu là Nhâm - vận hành thủy. Đinh là chồng, Nhâm là vợ; vượng ở Hợi mới sinh con là Nhâm, Nhâm sinh cháu là Giáp - vận mộc. Mậu là chồng, Quý là vợ, vượng Mùi mới sinh con là Giáp, Giáp sinh cháu là Bính - vận hỏa. (chú thích: bảng này VN cũng không hiểu "vượng" là thế nào, có lẽ người dịch sách bị nhầm) 2.4 PHÉP ĐOÁN KHÁCH VẬN Phương pháp này lấy: những năm Giáp Bính Mậu Canh Nhâm dương can - là những năm thái quá - gọi là thiên thiên, thì tuế vận giao trước tiết Đại hàn là 13 ngày. những năm Ất Đinh Kỷ Tân Quý âm can - là những năm bất cập - gọi là hậu thiên, thì tuế vận giao sau tiết Đại hàn 13 ngày. Căn cứ vào sơ đồ và dự đoán sau: 6 NĂM GIÁP Thổ vận thái quá thì mưa thấp lan tràn, bệnh thấp phát sinh, thận thủy bì tà. Điều trị nên trừ thấp bổ thận. Lại nói: người ta cảm phải bệnh tà trước tiên tổn thận, sau thương tổn Tỳ, mạch thận suy, gây thành bệnh thổ thắng khắc thủy. Người bệnh hay đau bụng, âm quyết (chứng chân tay lạnh), mình nặng nề, buồn phiền vật vã, bí kết, da vàng, chân liệt, tay không cất nhắc lên được: Giáp Tý: hỏa kim hợp thổ Giáp Dần: đầu, giữa thịnh; cuối hư Giáp Thân: đầu, giữa thịnh; cuối hư Giáp Thìn: đầu rất thịnh Giáp Tuất: cuối rất thịnh Thổ thắng thì khắc thủy, khinh nhờn thủy, sắc vàng kiêm sắc trắng; vàng là sắc thổ thắng, trắng là sắc mẹ của thủy. Khí của con và mẹ cần phải tương ứng, cho nên thấy cả hai sắc cùng hiện ra. Thấp khí lưu hành mạnh, cho nên nước suối chảy mạnh, sông tràn đầy, tưới nhuần loài cá sinh nở; thấp nhiều phong lấn vào; mưa to gió lớn đến đất bị lở vỡ, loài cá ngược lên trên đất cạn. 6 NĂM ẤT kim vận bất cập thì hỏa khí thừa thế vượng, lại hóa thành nhiệt mới lan ra. Điều trị nên thanh phế để giáng hỏa. Lại nói: người ta cảm phải thời khí ấy, kim bị hỏa tà, thì mũi hắt hơi, ỉa ra máu. Lại nói: bệnh âm quyết cách dương (tức chứng âm thịnh quá ngăn trở dương, âm dương không giao hợp nhau tạo thành chứng thượng giả nhiệt, hạ chân hàn), dương đó ngược lên làm thành chứng hỏa không có gốc. Đầu, não, miệng, lưỡi đều bị bệnh, nặng thì đau ở tâm. Ất Sửu: thổ thủy hợp kim Ất Mùi: thổ thủy hợp kim Ất Mão: kim khí hợp Ất Dậu: kim khí hợp Ất Tị: kim hư, hỏa khắc, thủy thịnh Kim bất cập, hỏa thừa thế bốc lên mạnh, kim không thắng được mộc nên cây cỏ tươi tốt, chỉ có một hỏa khí vượng nên thiêu đốt mạnh, hỏa quá thịnh, thủy phục thù lại thì mưa rét bỗng chốc đến, tiếp theo đó là có băng giá, mưa đá, sương tuyết làm tai họa muôn vật, mùa màng cũng mất. Nếu mùa hạ có biến cố: nắng nóng thiêu đốt thì đến mùa thu có tổn hại nạn băng giá, mưa đá, sương giá. Không thắng thì không có phục thù lại (nghĩa là mùa hạ không hạn thì mùa thu không nạn băng giá). 6 NĂM BÍNH Thủy vận thái quá, thì hàn khí lan tràn, bệnh hàn sinh ra, tâm hỏa bị tà. Điều trị nên trục hàn để bổ tâm. Lại nói: người cảm phải thời khí ấy thì phát bênh mình nóng tâm phiền, kinh sợ, âm quyết (lạnh) khắp trên dưới, nói nhảm, đau ở tâm, (nếu bệnh) nửa người trên còn chưa nặng lắm, nếu nặng thì thủy tự khắc sinh bệnh bụng to, chân thũng, suyễn ho, ra mồ hôi trộm, sợ gió. Lại nói: âm thịnh dương suy, thủy khắc ngược tỳ thổ sinh chứng bụng sôi, ỉa lỏng, ăn không tiêu. Nếu thủy khinh nhờn thổ, thì tâm mất chức năng, sinh bệnh khát mà hôn mê, thành bệnh tâm phế suy. Bính Tý: thủy hợp khắc hỏa Bính Ngọ: thủy hợp khắc hỏa Bính Dần: kiêm thủy hỏa, không rét lắm Bính Thân: kiêm thủy hỏa, không rét lắm Bính Thìn: kiêm thủy hỏa, không rét lắm Bính Tuất: kiêm thủy hỏa, không rét lắm Thủy thắng khắc hỏa, thủy thắng thổ phục thù cho nên mưa lụt đến, mưa mù u uất, năm Bính Thìn và Bính Tuất đầu năm gặp khí Thái dương hàn thủy tư thiên gia lâm, nên mưa lụt sương giá xuống đột ngột, thấp khí làm biến đổi mọi vật, âm thịnh dương suy. 6 NĂM ĐINH Mộc vận bất cập thì kim khí thừa thế vượng lên, ngược lại hóa táo. Bệnh táo lan tràn, điều trị nên lấy thanh táo để bổ can. Lại nói: người ta cảm phải thời khí ấy thì kim khác mộc, hàn ở trong và gân đau, bụng dưới đau, mộc mất chức năng không sinh được hỏa nên sinh bệnh sôi bụng, ỉa chảy. Lại nói: người ta mắc bệnh chân tay bại liệt, phong, ung nhọt, tê liệt, phù thũng, mụn lở. Đinh Sửu: mộc quá bất cập Đinh Mùi: mộc quá bất cập Đinh Mão: mộc quá bất cập Đinh Dậu: mộc quá bất cập Đinh Tị: mộc bất cập, có giúp đỡ Đinh Hợi: mộc bất cập, có giúp đỡ Mộc bất cập, kim thừa thế lấn át, cây cỏ ủ rũ, nếu kim khí nặng lắm thì cả loài gỗ cũng bị nứt nẻ, loài gỗ mềm thì héo khô - những năm ấy thường có mưa lạnh. Mộc vận bất cập thì thổ không được ức chế, những quả chính bị sâu ăn. Kim thịnh hỏa phục thù, nên sinh nhiều giống sâu mọt - do hỏa khí hóa ra. Tới bước hỏa vận (tức tới năm Mậu) lại củng cố nhiều. Kim thắng mộc thì héo nát, hỏa phục thù thì nắng nóng dữ, mộc uất thì phát sấm sét. 6 NĂM MẬU Hỏa vận thái quá thì nhiệt khí lan tràn, bệnh nhiệt mới sinh ra, phế kim bị tà. Điều trị nên giáng hỏa để thanh phế. Lại nói, người ta cảm phải khí ấy thì sinh sốt rét, ho. Nhiệt thì bụng đau, sườn đầy tức, vai lưng đau, mình nóng, xương nhức. Lại nói, trước tổn thương tỳ, sau tổn thương tâm. Mậu Tý: hỏa thái quá không được ức chế Mậu Ngọ: hỏa thái quá không được ức chế Mậu Dần/Mậu Thân: hỏa rất mạnh Mậu Thìn: thủy ức chế hỏa không nhiều Mậu Tuất: thủy ức chế hỏa không nhiều Hỏa thịnh kim suy, thủy tất lấn vào, những năm ấy nhiều mưa lụt, sương giá, hòa quá thịnh kim phục thù lại. 6 NĂM KỶ Thổ vận bất cập thì mộc khí thừa thế vượng, lại hóa sinh hỏa, bệnh phong mới sinh ra. Điều trị nên lấy bổ tỳ để bình mộc. Lại nói, người ta cảm phải thời khí ấy thì mình nặng, bụng đầy, da thịt máy dựt, hay giận. Thổ hư nên thủy không còn gì nữa. Kỷ Sửu: thổ hư có giúp đỡ Kỷ Mùi: thổ bất cập Kỷ Mão: thổ bất cập Kỷ Dậu: thổ bất cập Kỷ Tị: thổ bất cập, thủy thắng Kỷ Hợi: thổ bất cập, thủy thắng Thổ bất cập, mộc thừa thế lấn vào, gió to thịnh hành, mộc thịnh thì cây cỏ tốt tương, nhưng thành quả là do ở thổ, do thổ khí không đầy đủ nên tuy cây cối tốt mà không ra trái. Trên khí quyết âm gia lâm, dưới khác tướng hỏa, nước không thành băng - sâu bọ xuất hiện. Lửa ẩn nấp dưới đất cho nên thủy không có tác dụng mà kim khí không phục vụ cho được. Chưa được chuyên chủ về thời bệnh của nó, nên người cũng được khỏe mạnh ít bệnh. Năm Kỷ Mão và Kỷ Dậu mộc thăng thổ rung chuyển trời đất, phục thù kim, phục thù mộc cho nên bệnh ghẻ lở khô và tróc vảy, 4 tháng cuối bốn mùa có gió to là do mộc khắc thổ. Mùa thu heo hắt mưa dầm là do kim phục thù mộc, không có thắng thì không có phục thù. 6 NĂM CANH Kim vận thái quá thì táo khí lan tràn, bệnh táo mới sinh ra, can mộc bị tà. Điều trị nên lấy thanh táo bổ can. Lại nói, người ta cảm phải thời khí ấy thì kim thắng tổn thương tới can, bị bệnh đau gân, mắt đỏ, mình lở, tai điếc. Nặng thì tổn thương phế, bản thân phế bị bệnh thì ho nghịch lên, đau vai. Kim bị bệnh không sinh được thủy, gây ra bộ phận dưới đều bị bệnh. Lại nói, trước tổn thương gan, sau tổn thương tỳ. Canh Tý/Canh Ngọ: kim khí thái quá có giúp đỡ Canh Dần/Canh Thân: kim khắc quá, hóa hình lại Canh Tuất/Canh Thìn: kim thái quá, không có ức chế Kim thịnh thì mộc suy, cây cỏ khô gầy, kim thịnh quá hỏa mới lấn vào. 6 NĂM TÂN Thủy vận bất cập thì thổ khí vượng, lại hóa thành thấp, bệnh thấp mới lan ra. Điều trị nên bổ thận để trừ thấp. Lại nói, người cảm phải thời khí này phần nhiều là bệnh ở bộ phận dưới, sắc mặt thường biến đổi, gân xương co rút, thịt máy dựt, mắt không trông rõ ràng, phong chẩn phát ra ngoài, đau bụng, đau vùng tim. Tân Sửu/Tân Mùi: thủy trên hư, dưới thực thịnh Tân Mão/Tân Dậu: thủy bất cập Tân Tị/Tân Hợi: thủy đại hư Thủy bất cập, thổ thừa thế lấn át, thấp lan tràn. Thủy suy, thổ với hỏa đồng hóa, cho nên gọi là "hỏa khí dụng sự". Hóa nhanh chóng, nắng mưa luôn, giống lúa đen không thu hoạch, giống lúa vàng cũng không tốt. người phần đông bị bệnh ở hạ bộ. Thổ mạnh quá thì mộc phục thù cho nên gió to phát ra bất ngờ, cỏ lướt cây đổ, sự sinh trưởng sai mùa, mọi vật không tươi sáng. 6 NĂM NHÂM Mộc vận thái quá thì phong khí lan tràn, bệnh phong sinh ra, tỳ thổ bị tà. Điều trị nên bình mộc để bổ tỳ. Lại nói, người ta cảm phải thời khí ấy thì tỳ tổn thương nặng nên hay giận, hay đau bụng, về 6 tháng cuối năm mạnh tỳ hơi vi, thì bệnh càng phát triển. Lại nói, trước tổn thương tỳ sau tổn thương can. Nhâm Tý/Nhâm Ngọ: mộc thái qua Nhâm Dần/Nhâm Thân: mộc thịnh quá Nhâm Thìn/Nhâm Tuất: mộc thái quá, không có ức chế Mộc thái quá nên nhiều gió to, mộc thịnh thổ suy, trong không gian mây mù bay chuyển, cây cỏ không yên. Mộc thắng kim lấn vào, đến nỗi cây cỏ tàn rụng. Sao Thái bạch sáng thì kim khí phục thù lại. Các năm Tý Ngọ Dần Thân mộc khí có thừa (thái quá), mà hỏa khí tư thiên (hỏa khí làm chủ nửa năm đầu) thì khí của mẹ (mộc) và khí của con (hỏa) đều ngược lên, nên sinh ra bệnh nôn mửa. 6 NĂM QUÝ Hỏa vận bất cập thì thủy khí thừa thế vượng lại hóa thành hàn, bệnh hàn phát sinh. Điều trị nên bổ tâm để trục hàn. Lại nói, người ta cảm phải thời khí ấy thì sinh bệnh hỏa bất cập mà âm tà thịnh, tâm khí tổn thương nên đau gân vai, lưng đau, mắt mờ, bụng đau nặng, đau khắp sườn eo và lưng. Lại nói, người ta cảm phải thời khí ấy thì sinh bệnh ỉa lỏng, bụng đầy, không ăn được, bổng nhiên co rút, tê liệt, chân không đứng được xuống đất. Quý Sửu/Quý Mùi: hỏa mộc bất cập Quý Mão/Quý Dậu: hỏa hợp với tuế hội Quý Tị/Quý Hợi: hỏa hư có giúp đỡ Hỏa khí bất cập, thủy khí thừa thế lấn át, hàn khí lan tràn, mọi vật chỉ tươi tốt ở phần dưới mà không tươi tốt ở phần trên, rét lắm dương suy, mất hết tươi tốt. Thủy mạnh quá thì thổ phục thù, thành bụi mù ra u uất, mưa lụt to. Thủy thắng thì hỏa ngưng, nên rét dữ run rẩy. Thổ phục thù thì bỗng nhiên mưa dầm, hỏa uất thì sấm sét dữ dội, khiến cho mùa hạ mà có thắng khí; rét mướt, ngưng đọng, nứt nẻ; bất thình lịnh lại có phục khí: bụi mù, tối tăm, mưa to. Nếu không có thắng khí thì không có phục khí. SỰ THUẬN NGHỊCH GIỮA VẬN VÀ KHÍ Khách khí tư thiên tới khắc khách vận, thì năm đó khí và vận thuận với nhau, người và súc vận đều yên ổn ít tật bệnh. Nếu thấy khách vận tới thắng khách khí thì khí và vận nghịch với nhau, người và súc vật không yên, nhiều bệnh tật. Phương pháp điều trị: khí và vận thuận nhau: thì thuận theo khí và vận nghịch nhau: thì ức chế đi chớ nên phục khí thiên hòa (là khí của thời bệnh, ví dụ: năm thiếu âm quân hỏa tư thiên thì mạch hai bộ thốn không ứng, tức là hai mạch bộ thốn trầm tế, hễ thấy như thế là phù hợp với tuế vận. Nếu cho là mạch hai bộ thốn kém rồi dùng thuốc nâng hai bộ mạch đó lên tức là phát khí thiên hòa). Ví dụ: năm Tý thiếu âm quân hỏa tư thiên sẽ khắc vận Canh kim; năm Thìn khách khí là Thái dương hàn thủy tư thiên sẽ khắc vận Mậu hỏa; năm vận Giáp thổ khắc khách khí năm Thìn là Thái dương hàn thủy tư thiên..vv... về phần khách khí sẽ nói rõ ở phần sau. 2.5 THUYẾT KHÁCH KHÍ Phương pháp lập khách khí như sau: ví dụ như xem năm Tý thì lấy Thiếu âm quân hỏa ở Tý là khí tư thiên (khí 6 tháng đầu năm), như vậy: Ngọ đối diện với Tý Sửu Thái âm thấp thổ phía bên trái của Tý gọi là "tả gian" Dần Thiếu dương tướng hỏa là khí bên phải "hữu gian" của khí tại tuyền (đó là hai khí bên trái khí tư thiên, chi phối thiên khí và mọi vật) Một khí ở trên là Ngọ, chi phối thiên khí một năm, lại chủ về nửa năm đầu; một khí ở dưới là Tý, chi phối địa khí một năm, lại chủ về nửa năm cuối. Sau Tý 3 vị trí là Dậu Dương minh Táo kim tại tuyền (tư địa), sau Tý 2 vị trí là Tuất Thái dương hàn thủy là khách khí đầu thuận chiều tới Hợi Quyết âm phong mộc là khách khí thứ hai; Tý thiếu âm quân hỏa là khách khí thứ 3; Sửu thái âm thấp thổ là khách khí thứ 4; Dần thiếu dương tướng hỏa là khách khí thứ năm; Mão dương minh táo kim là khách khí thứ 6. Cứ thế mà suy ra. Mỗi khí chủ vượng 60 ngày lẻ 87 khắc rưỡi (mỗi ngày có 100 khắc) NĂM TÝ NGỌ Năm Tý Ngọ Thiếu âm quân hỏa tư thiên, Dương minh táo kim tại tuyền. Nếu là năm thuộc Nam chính thì mạch hai bộ thốn không ứng; nếu là năm thuộc Bắc chính thì mạch hai bộ xích không ứng (Nam chính là năm Giáp/Kỷ, Bắc chính là năm Bính, Mậu, Canh, Nhâm. Mạch không ứng là mạch trầm tế). Khí thứ 1: nếu năm trước là năm Kỷ Hợi thì từ tiết Đại Hàn trở về trước, ấm ấp tới lúc này mới bắt đầu rét, loại sâu bọ trước vì ấm mà ra, đến lúc này lại ẩn nấp; nước thành băng, sương lại xuống, gió bắt đầu đến dương khí uấư thiên, nhân dân bị bệnh hàn, cơ da răng và eo lưng bị đau. Đến đầu tháng 3, nắng bức sắp bắt đầu - các nơi có chứng mụn lở, do Thiếu âm quân hỏa tư thiên, lại gặp chủ khí thứ 2 nên có bệnh ấy. Khí thứ 2 khách khí phong mộc gia lên chủ khí quân hỏa dương khí phân bố, phong khí mới hành động. Xuân khí phát sinh, muôn vật tươi tốt, lúc khí tư thiên quân hỏa chưa thịnh, hàn khí thường đến, mộc hỏa tương ứng với thời tiết, người bị bệnh mắt mờ, mắt đỏ, khí uất ở trên và nóng, là bệnh thuộc quân hỏa. Khí thứ 3 Khách khí quân hỏa tư thiên gia lên chủ khí tướng hỏa, khí tư thiên phân bố, hỏa hành động mạnh, mọi vật phồn thịnh tươi tốt. Hỏa đến cực độ thì thủy phục thù lại, nhiệt cực sinh hàn, hàn khí thường đến, quân hỏa và tướng hỏa kết hợp nhau thiêu đốt. Người bị bệnh khí quyết (bỗng nhiên tay chân giá lạnh, ngã lăn ra) đau vùng tim, nóng rét thay đổi nhau, ho suyễn, mắt đỏ. Khí thứ 4 Thấp thổ thịnh, nắng nóng đến thường có mưa to, nóng lạnh thay đổi nhau đến, người bị bệnh nóng rét họng khô, hoàng đản, đổ máu mũi, nhiệt khát. Khí thứ 5 Sợ hỏa đến (chủ khí kim sợ khách khí hỏa) nên nắng đến một cách bất thường, thì dương khí mới hóa muôn vật tươi tốt, dân mới khỏe mạnh. Song thời tiết lạnh mà khí lại nóng, dương tà thắng nên nhân dân bị bệnh ôn. Khí cuối cùng Khách khí kim gia lên chủ khí thủy, kim chủ thu liễm, khí thời bệnh lưu hành là táo, dư hỏa (tà hỏa còn sót lại) của ngũ hành làm ngăn cách ở trong, hàn khi1bo61c lên luôn thì sương mù che lấp; nhân dân bị bệnh thũng, ho suyền, ra máu, đau các đốt xương chân tay, thớ thịt và gan. Mười năm kể trên năm nào quân hỏa tư thiên thì kim uất; táo kim tại tuyền thì mộc uất. Dùng vị mặn làm cho mềm đi, để điều hòa quân hỏa ở trên, nặng lắm thì dùng vị đắng để cho hỏa phát tiết ra, dùng vị chua để cho kim thu liễm lại. Quân hỏa bình thì táo kim được yên, song hỏa thuộc nhiệt, kim thuộc táo, nếu không có vị đắng tính hàn làm cho phát tiết ra là không phát được. Hỏa khắc kim, năm ấy nóng nhiệt nhiều, mụn lở và bệnh dịch nhiều. Phương pháp điều trị chung: bộ phận trên thuộc quân hỏa, chữa nên dùng vị mặn, tính lạnh (lấy thủy trị hỏa); bộ phận giữa thuộc Giáp thấp thổ, Canh táo kim, chữa nên dùng vị đắng tính nóng, vị cay khí ôn làm cho phát tiết ra, làm cho ấm lại. Bính là hàn thủy, chữa nên dùng phương pháp tòng chị (tức chính trị) làm cho ấm lại. Bộ phận dưới thuộc táo kim, chữa nên dùng vị chua cho ôn lại. Nửa năm trước nên xa vị nóng, chữa bộ phận giữa và bộ phận dưới nên xa vị lạnh (riêng năm Mậu Ngọ thì không xa vị lạnh). Tóm lại, năm Tý/Ngọ hỏa tư thiên ở trên nên nhiệt hóa. Khiến cho mùa xuân hay mát lạnh, gió to không mưa; đó là do phong vận của năm Tị/Hợi chưa lui hết. Cho nên dùng phương pháp tả quyết âm là phải, nhưng đến thiết Xuân phân đã tới thì vị trí hỏa, mộc tuy có thừa cũng không thể quá mức. Táo tại tuyền ở dưới thì vật ẩm thấp không thành được, loại có lông cánh hòa đồng với thiên khí thì yên ổn, không bị tổn hại; loại thực trùng (sâu) hòa đồng với địa khí, sinh dục nhiều. Kim tới thì mộc suy, loài có lông không thành thai. Kim hỏa không điều hòa, loài có lông cánh cũng không thành. Năm Canh Tý/Ngọ kim thừa kim vận thì loài có lông tổn thương càng nhiều. NĂM SỬU MÙI năm Sửu Mùi: Thái âm thấp thổ tư thiên; Thái dương hàn thủy tại tuyền. Nếu là năm thuộc Nam chính thì mạch bộ thốn bên trái không ứng; nếu là năm thuộc Bắc chính thì mạch bộ xích không ứng (nam chính là năm Giáp Kỷ, bắc chính là Ất, Bính, Đinh, Mậu, canh, Tân, Nhâm Quý. Mạch không ứng là mạch trầm tế). Khí thứ 1 khách khí, chủ khí đều là phong, rét hết, khí mùa xuân đến phong khí lại về; mọi vật tươi tốt, thấp thổ tư thiên, phong thấp kết hợp nhau, phong thắng thấp sau khi mưa; phong thương can, phong lại lan ra. Nhân dân bị các chứng huyết tràn ra các khiếu (huyết giật), gân co cứng, khớp xương không thuận lợi, mình nặng, liệt gân. Khí thứ 2 chủ khí, khách khí đều là quân hỏa, giữa mùa khí nóng, Thái âm tư thiên, thấp nhiệt kết hợp nhau, mùa mưa xuống, hỏa thịnh khí nóng; người bị bệnh ôn dịch nặng, xa gần một loạt như nhau. Khí thứ 3 Chủ khí hỏa sinh khách khí thổ, thời lệnh của khí tư thiên phân bố ra, thấp khí giáng xuống, sau khi mưa có lạnh tiếp theo, vì Thái dương tại tuyền bắt đầu tác dụng. Cảm về khí hàn thấp, thì nhân dân bị bệnh mình nặng, chân thũng, ngực bụng đầy. Khí thứ 4 Khách khí tướng hỏa sinh chủ khí thấp thổ, thổ hỏa khí hợp lại thì thấp khí bốc lên, thiên khí ngăn cách. Song khí Thái dương tại tuyền, gió lạnh theo đó mà phát ra hàng ngày, thấp nhiệt kết hợp nhau, cây có có hơi đọng lại do thấp gặp hỏa. Thấp không hóa được, chỉ có sương buông tỏa trong đêm để thành thời lệnh mùa thu. Thấp nhiệt cũng lan ra, nhân dân bị bệnh nhiệt ở thấu lý, huyết bỗng tràn ra, sốt rét, bụng trên đầy, nóng lắm thì sinh phù thũng. Khí thứ 5 Khách khí, chủ khí đều thuộc kim, thời lệnh thê thảm (do tính sát của kim), sương lạnh xuống, sương giá có sớm, cây cỏ úa rụng, khí lạnh làm cho người ta rùng rợn, bệnh gây ra ở da và thớ thịt. Mười năm kể trên Thấp thổ tư thiên, thổ khắc, thủy ứng, tâm hỏa bị bệnh; hàn thủy tại tuyền, thủy khắc hỏa, hay bị bệnh ở bụng dưới. Trong hai năm Ất Sửu Ất Mùi thừa vận kim, kim có thể sinh thủy, lại gặp lục thủy vượng, lúc đó rét càng dữ (đất lạnh, vật nóng không thành được), loại động vật không lông đồng hóa với thiên khí yên tĩnh thì không bị tổn hại, song khí thủy thổ không điều hòa, tuy sinh nở mà không nuôi được. Loài cá cùng đồng hóa với địa khí thì sinh dục nhiều. Thủy thịnh hỏa suy nên loài chim (thuộc hỏa) không sinh nở. Hai năm Tân Sửu Tân Mùi thủy thừa thủy vận, hỏa bị khắc nặng nên loài chim thương tổn càng nặng. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ NÓI CHUNG bộ phận trên là thấp thổ, chữa dùng vị đắng tính ôn, hóa theo hỏa để trị thấp, bộ phận giữa là Ất táo kim, Đinh phong mộc, nên dùng vị đắng, hóa theo hỏa để trị kim; vị cay tính ôn, hóa theo kim để trị mộc; Kỷ thấp thổ, Tân hàn thủy, nên dùng vị đắng tính hòa bình. Chữa chứng hàn dùng vị nhiệt, nếu bất cập thì nên ôn bổ. Bổ bộ phận dưới nên dùng vị ngọt tính nhiệt, hóa theo thổ để chữa hàn. Năm Tân không nên dùng vị đắng tính nhiệt. Hai năm Sửu Mùi thổ tư thiên, nên hóa theo mưa, mà nhiệt khí vẫn còn nhiều là do dư hóa của hai năm Tý Ngọ chưa lui hết, hỏa lại trở thành hỏa, thì tà hỏa là đúng. Thấp sinh về mùa xuân, là hiện tượng Thiếu âm không thoái vị, thổ khí không được di chuyển đúng chỗ, muôn vật đương lúc vượng mà không phát sinh được, người ta hay bị bệnh ở tỳ. Về mùa đó hay nóng không mưa, tức là hỏa lui mà thổ hợp lại, gặp tiết Tiểu thử thì thổ không thể hợp lại mà đến lúc hỏa nung nấu. NĂM DẦN THÂN năm Dần Thân: Thiếu dương tướng hỏa tư thiên; Quyết âm phong mộc tại tuyền. Nếu là năm thuộc nam chính (Giáp) thì bộ mạch xích bên trái không ứng; nếu năm thuộc bắc chính (ngoài năm Giáp ra) thì mạch bộ thốn bên phải không ứng. Khí thứ 1 là Quân hỏa kiêm tướng hỏa tư thiên, phong thắng làm lay động lạnh hết; khí hậu lại quá ấm, cây cỏ sớm tươi tốt, lạnh tới mà không buốt; quân hỏa và tướng hỏa hợp lại, bệnh ôn bắt đầu có, bệnh khí nghịch lên trên, huyết tràn ra, mắt đỏ, ho rực lên, đau đầu, băng huyết, gân căng tức, trong làn da thớ thịt bị lở. Khí thứ 2 Thấp thổ tác dụng, chủ khí Quân hỏa bị uất lại, bụi trắng bốc lên khắp nơi, mây mưa dồn dập, phong không thắng thấp, mưa vặt, chủ khí và khách khí tương sinh, nhân dân được khỏe mạnh. Thấp nhiệt gây bệnh, nhiệt uất lên trên, nôn nghịch lnê, phát lở bên trong, ngực đầy không thoải mái, đau đầu, mình nóng, hôn mê, lở loét. Khí thứ 3 Chủ khí và khách khí đều là tướng hỏa, nắng nực đến, mưa ít, hai hỏa kết hợp nhau bốc lên gây thành bệnh nhiệt: tai điếc, chảy máu, khát, hắt hơi, ngáp, họng tê, mắt đỏ, hay chết đột tử. Khí thứ 4 Khách khí kim, chủ khí thổ, khí mát đến, nắng nực lục có lúc không, biến hóa xen kẽ nhau, thổ và kim tương sinh, sức khỏe của dân bình thường. Táo thắng thì phế bị bệnh ngực đầy; thấp thắng thì tỳ bị bệnh mình nặng. Khí thứ 5 Khách khí thủy gia lên chủ khí, thủy hàn làm kim han rỉ, dương đi thì hàn tới, mưa xuống khí bế tắc, loài cây cứng tàn rụng sớm, người phải tránh hàn tà, giữ gìn cơ thể cho kín đáo. Khí cuối cùng Mộc tác dụng được chủ khí thủy tương sinh, khí tại tuyền được chính đáng, phong khí đến, sương móc xuống, vừa thời lệnh bế tàng, mà có phong khí lưu động, phong tà dương tà, sinh bệnh đau vùng tim, dương khí không bế tàng lại được mà sinh ho. Mười năm kể trên: hỏa ở trên khắc kim, năm đó nắng nhiều tổn thương phế, nhiều bệnh nhiệt, mộc khắc thổ; nửa năm sau nhiều phong, nhiều bệnh ở tỳ vị; dương đúng vị trí của nó thì khí trời chính thường, phong động ở dưới, địa khí rối loạn, phong mới cử động dữ dội, cây lướt cát bay, hỏa bốc nóng khắp, âm vận hành, dương biến hóa; nửa năm trước mưa là thời tiết ứng trong vòng hai khí tư thiên và tại tuyền. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CHUNG Tướng hỏa ở trên chữa dùng vị chua (lấy mộc trị hỏa), Bính thủy, Mậu hỏa ở giữa - chữa dùng vị mặn tính ôn Canh kim, Nhâm mộc, Giáp thổ: chữa dùng vị cay tính ôn, lấy kim trị mộc năm Mậu dùng vị cay khí ôn để đề phòng hỏa thái quá năm Dần Thân tướng hỏa tư thiên, nên hóa theo cách đó. Nếu mưa ẩm thấp còn nhiều đó là dư khí thổ của hai năm Sửu Mùi chưa lui hết, thổ lại làm hại trở lại, nên tả trung châu (vị) là đúng. Khí thái âm không chịu lui, bốn tháng cuối mùa nắng rét bất thường, mùa hạ lại mát, mùa thu lại nóng, mùa màng thu hoạch đều muộn. Nếu tiết Tiểu mãn, Tiểu thư nóng tợn, là hỏa lệnh, nếu không thì tai hại; phong mộc tại tuyền, mát mà không sinh nở, giống thú đống hóa với địa khí nên sinh dục nhiều. Mộc uất ở dưới hỏa mất thời lệnh, giống sinh trùng tuy không sinh nở, song song đồng hóa với thiên khí yên tĩnh nên không bị tổn hại. Mộc khắc thổ, loài động vật không long bị hao tổn. Năm Nhâm Dần, Nhâm Thân, mộc ở vào vị trí mộc nên (động vật không lông) càng thương tổn nặng. (còn tiếp)
    1 like
  27. PHONG THỦY LẠC VIỆT ỨNG DỤNG. Trong kiến trúc nhà riêng của Nguyễn Vũ Tuấn Anh Kính thưa quí vị và anh chị em quan tâm. Trong quá trình nghiên cứu Lý học Đông phương, nhân danh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miến nam sông Dương tử, cá nhân tôi đã thay đổi nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành - "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" - thay thế cho "Lạc Thư phối Hậu Thiên Văn Vương". Từ sự thay đổi nguyên lý căn để này, tôi đã hiệu chỉnh, hệ thống hóa và xác định thuyết Âm Dương ngũ hành là một học thuyết hoàn toàn khoa học - căn cứ vào tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng của tri thức khoa học hiện đại. Thuyết Âm dương Ngũ hành tồn tại trong nền văn minh Đông phương qua những phương pháp ứng dụng bao trùm lên mọi lĩnh vực: Từ thiên nhiên, vũ trụ, xã hội, cuộc sống và cho đến từng hành vi của con người có khả năng tiên tri. Đó là các bộ môn dự báo cho mọi lĩnh vực, Đông y...trong đó có kiến trúc xây dựng - mà chúng ta quen gọi là phong thủy. Sự phổ biến của các phương pháp ứng dụng bao trùm lên tất cả cuộc sống xã hội Đông phương từ hàng thiên niên kỷ. Trong từ mỗi căn nhà, góc đình, phố chợ...gần như ngay cả những bà buôn thúng bán mẹt cũng có thể biết "Thìn , Tuất, Sửu, Mùi, tứ hành xung", sinh năm nào thì mạng gì..vv... cho đến một ông lang, hoặc thày bói trung bình cũng có thể kể vanh vách về lịch sử kinh Dịch, ý nghĩa của các quẻ, sự ứng dụng của kinh mạch và các huyệt đạo...vv...Nhưng tất cả những kiến thức đó và tất cả những bộ môn ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành, không phản ánh bản chất của học thuyết này, khi nó bao trùm lên mọi lĩnh vực từ thiên nhiên, vũ trụ, xã hội cuộc sống cho đến từng hành vi của con người với khả năng tiên tri. Thuyết Âm dương Ngũ hành giải thích từ sự khởi nguyên của vũ trụ : "Thái cực sinh lưỡng nghi..." cho đến từng hành vi con người - với những phương pháp ứng dụng có hiệu quả trải hàng thiên niên ký - tạo nên giá trị tự thân của nó, để tồn tại một cách khách quan, vượt thời gian trải hàng thiên nên kỷ cho đến ngày hôm nay - Với thực tế đó, đã chứng tỏ học thuyết này phải là sự tổng hợp của những trí thức vô cùng đồ sộ, mà nhân loại của nền văn minh cổ xưa đã nhận thức được và hệ thống hóa trở thành một học thuyết bao trùm lên mọi lĩnh vực. Tri thức khoa học hiện đại - niềm tự hào của nền văn minh hiện đại - chưa hề có một lý thuyết nào có khả năng như vậy, cho dù, đã có thể sử dụng tất cả những tri thức vật lý, toán học...vv... để có thể đưa con người lên sao Hỏa. Nhưng đó chỉ là sự tổng hợp nhưng tri thức rất cục bộ và ứng dụng riêng lẻ - so với hệ thống lý thuyết của thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện qua những phương pháp ứng dụng bao trùm lên mọi lĩnh vực. Nếu như chúng ta chỉ cần xét một trong nhiều bộ môn ứng dụng của học thuyết này, và nghiên cứu theo định hướng đi tìm bản chất đích thực của toàn bộ hệ thống học thuyết - là cơ sở phương pháp luận của hệ thống ứng dụng đó - thì cũng đủ nhận thấy một hệ thống tri thức rất bao la, kỳ vĩ của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Trong bài viết này, tôi cố gắng mô tả một bộ môn ứng dụng rất phổ biến của thuyết Âm Dương ngũ hành, đó là ngành Phong Thủy của nền văn minh Đông phương - Nhân danh nền văn hiến Việt với danh xưng Phong Thủy Lạc Việt, một cách rất cụ thể là kiến trúc ngay trong căn nhà của tôi. Danh xưng Phong Thủy Lạc Việt, không phải là một trường phái mới trong phong thủy. Mà đó là sự xác định cội nguồn lịch sử của ngành học này trong văn minh Đông phương. Nó là kết quả của sự hiệu chính có tính học thuật, từ nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành - "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" và ứng dung thay thế cho nguyên lý "Lạc thư phối Hậu Thiên Văn Vương" - trong tất cả mọi lĩnh vực của học thuyết này và cụ thể trong Phong Thủy Lạc Việt. Chính sự hiệu chính này, đã xác định cội nguồn của ngành Phong thủy và hệ thống hóa toàn bộ những tri thức rời rạc, mâu thuẫn của bộ môn này - được miêu tả trong cổ thư chữ Hán, quen gọi là trường phái, còn lưu truyền trong nền văn minh Đông phương, khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương tử - trở thành một ngành nghiên cứu có tính hệ thống,nhất quán và hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan trong việc lý giải tất cả mọi hiện tương liên quan đến nó với khả năng tiên tri. Điều này hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học và nhân danh khoa học. Đến đây, tôi cũng xin được lưu ý rằng: Sự hiệu chính nguyên lý căn để của thuyết Âm dương Ngũ hành và ứng dụng trong hệ thống phương pháp luận của ngành Phong thủy mang tính lý thuyết. Nó chỉ có tác dụng hiệu chỉnh rất cục bộ khi có sự sai lệch giữa hai nguyên lý ứng dụng. Nó không phải là sự phủ định những gía ứng dụng của ngành này. Những tuyệt chiêu bí truyền và những pho sách ứng dụng có giá trị của các cao thủ phong thủy vẫn là những vấn đề chúng tôi cần học hỏi và tham khảo. Tuy nhiên, sự hiệu chính này xác định tính khoa học về mặt lý thuyết của bộ môn này. Và nó chỉ xác định tính khoa học với Phong thủy Lạc Việt vì sự phủ hợp với tiêu chí khoa học của nó. Kính thưa quý vị và anh chị em quan tâm. Trước đây, chỉ hơn nửa thế kỳ, có thể nói rằng: tất cả các bộ môn ứng dụng của thuyết Âm Dương ngũ hành đều bị coi là "mê tín dị đoan". Yếu tố căn bản để có sự nhìn nhận sai lệch này chính vì cả một hệ thống lý thuyết liên quan đến hệ thống phương pháp luận trong các bộ môn ứng dụng đã thất truyền, nên nó trở nên mơ hồ và người ta không thể giải thích được mối liên hệ hợp lý của nó giữa những nền tảng lý thuyết là cơ sở tạo ra hệ thống phương pháp luận trong ứng dung. Nhưng khi tri thức khoa học hiện đại càng phát triển, thì sự nhìn nhận các bộ môn ứng dụng của nền văn minh Đông phương đã được xem xét lại. TTNC LHDP đã tổ chức một cuộc hội thảo quy mô và chứng minh "Phong thủy là một ngành khoa học". Nhưng cuộc hội thảo này, chúng tôi chỉ dừng lại ở sự so sánh những tiêu chí khoa học với một hệ thống những nguyên lý lý thuyết ứng dụng trong bộ môn này. Và chúng tôi chưa có sự thuyết trình sâu về nội dung của nó. Bài viết này như là một sự bổ sung phần nào cho khoảng trống của cuộc hội thảo nói trên. Người viết bài này, hy vong qua nội dung của nó, sẽ xác định những gía trị đích thực của ngành phong thủy, tính khoa học và cội nguồn lịch sử của nó - thuộc về nền văn hiến Việt với gần 5000 năm lịch sử. Hiện nay, rất nhiều người hiểu sai về bản chất của ngành học này. Họ gán ghép tất cả mọi thứ ăn theo phong thủy: Sim số cũng theo phong thủy, biển số xe, cũng theo phong thủy, đặt tên con cái, bảng hiệu cũng theo phong thủy....vv.....Thậm chí gần đây, bùa chú cũng được gán vào môn phong thủy. Thực ra , tất cả những hiện tượng đó, không liên quan gì đến những gía trị đích thực của ngành Phong Thủy học Đông phương. Nó cũng giống như ngành cơ khí chế tạo có thể làm ra những dụng cụ y học, nhưng nó không liến quan gì đến ngành y vậy. Tất cả những gì mà tôi đã trình bày là nội dung của bài viết này sẽ đề cập đến. Và để có sự liền mạch có tính hệ thống. Trong bài viết này, tôi sẽ lặp lại một cách tóm tắt nội dung của một số bài viết đã trình bày trong sách và các bài viết khác trên diễn đàn - liên quan đế Hà Đồ, Lạc thư và các nguyên lý khác của Phong Thủy - để quí vị và anh chị em quan tâm nhưng không có chuyên môn sâu về Lý học có thể đối chiếu, so sánh. Xin cảm ơn sự quan tâm của quí vị và anh chị em. Còn tiếp. .
    1 like
  28. Nhà này đã thuê một vài thày phoengshui Tàu ....dởm đến xem. Và đã sửa Phoengshui theo mấy ông thầy này. Kết quả thật bi đát. Chưa biết bên trong thế nào, nhưng nhìn cái cửa xéo lấy hướng đủ thấy dởm. Vì bị cột đâm vào cửa. Chưa bàn tới bên trong, do chưa biết.
    1 like
  29. Thưa quý vị và anh chị em quan tâm. Mạnh Đại Quân là ký danh (Nickname) của Hoàng Triệu Hải, là Phó giám đốc thường trực của TTNC LHDP, đồng thời là trưởng đại diện của Trung tâm chúng tôi ngoài Hanoi. Anh cũng là một trong những phong thủy gia tên tuổi cùng với các phong thủy gia khác của Địa Lý (Phong thủy) Lạc Việt. Quan điểm nhất quán của Trung Tâm chúng tôi là tất cả những tri thức nền tảng của Lý học Đông phương, đều có nguyên nhân tương tác của những quy luật vũ trụ, ảnh hưởng đến thiên nhiên, cuộc sống, xã hội và con người có thể tiên tri vì tính quy luật của nó. Hay nói một cách khác: Khả năng tiên tri của các phương pháp tiên tri của Lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt, thực chất là sự phản ánh tương tác có tính quy luật của mọi sự vận động trong bầu trời vũ trụ ngoài Địa Cầu. Chính tính quy luật này làm nên khả năng tiên tri của Lý học Đông phương. Chúng hoàn toàn phản ánh một chân lý và không hề "mê tín dị đoan". Bài viết của tác giả Manh Đại Quân về bản chất của ngày Tam nương liên quan đến chu kỳ Mặt trăng ảnh hưởng đến sinh hoạt trên Địa Cầu đã chứng tỏ điều này. Vấn đề là bản chất vận động và tương tác của những sự vận đông có quy luật của vũ trụ lại vượt xa kiến thức của nền văn minh hiện đại, cho nên một thời nó đã bị gán ghép là "mê tín dị đoan". Bài viết của tác giả Mạnh Đại Quân đã chỉ ra bản chất thật của ngày Tam Nương và Nguyệt Kỵ, chỉ là phần mở đầu cho mọi sự nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi liên quan đến vấn đề này. Cho nên nó chưa phải là kết luận cuối cùng. Trong bài viết, tác giả Mạnh Đại quân đã cho thấy sự sớm muộn về thời gian ảnh hưởng của ngày Tam Nương. Đây chính là sự chênh lệch giữa sự vận động thực tế của vũ trụ - cụ thể trong bài viết này là mặt Trăng và tính quy ước về thời gian của con người. Công lao của tác giả đã mô tả được một thực tại liên quan đến một quy ước vốn bị coi là huyền bí trong Lý học Đông phương và góp phần làm sáng tỏ bản chất khoa học của Lý học. Điều này hoàn toàn phủ hợp với một tiêu chí khoa học đã xác định: "Một giả thuyết hay một lý thuyết nhân danh khoa học thì nó phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được". Chu kỳ Mặt trăng liên quan đến ngày Tam Nương - qua bài viết của tác giả Mạnh Đại Quân - chính là một thực tại có thể quan sát được. Trân trọng cảm ơn tác giả. Chúc tác giả ngày một thành công trong việc nghiên cứu sâu về bản chất của những vấn đề khác trong Lý học Đông phương , nhân danh nền văn hiến Việt.
    1 like
  30. LÝ HỌC VIỆT VÀ NGUỒN GỐC THÁNG CÔ HỒN Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tiếp theo Trong bài trên, người viết đã trình bày với quý vị và anh chị em rằng: Trên cơ sở này, chúng ta cùng quán xét những điều kiêng cữ được mô tả ngay trong bài báo , mà người viết đã giới thiệu ở trên. Nếu tiếng chuông gió thu hút sự chú ý của ma quý, thì ti vi, dàn âm thanh....còn gây chú ý lớn hơn. Híc! Người yếu bóng vía, là người Dương khí - (các trạng thái tâm lý, tinh thần...) - suy. Nên dễ bị Âm khí của tháng 7 chi phối. Bởi vậy, chỉ không nên đi khuya ở những nơi vắng vẻ và có Âm khí vượng như: nhà hoang, bãi tha ma thôi. Đi vào những nơi như vậy, cần có đèn pin, đuốc là Dương khí để hạn chế tương tác xấu của Âm khí. Những nơi Dương khí vượng, như nơi vui chơi giải trí đông người, phố đông người qua lại, cơ sở sản xuất...vẫn đi được. Nếu cứ theo điều kiêng này thì công nhân đi làm ca đêm phải nghỉ chăng? Đây là quan niệm phổ biến ở bên Tàu. Nó nhằm mô tả một trạng thái khác, không liên quan đến "Tháng Cô hồn". Văn hóa dân gian Việt không có điều này. Nếu "một sợi lông quan ba con quỷ" thì chắc người nào cũng đầy quỷ bám trên người. Và những người lông chân, lông tay...ít, chắc bị ma nhập hết cả. Tuy nhiên, vì tháng Âm Khí vượng, lỗ chân lông là một trong những nơi hấp thụ khí. Bởi vậy, không nên ăn mặc hở hang trong tháng này thôi. Đốt vàng mã, thực chất là dùng lửa để xua đuổi Âm khí. Bởi vậy trong tháng cô hồn, người ta thường đốt vàng mã cúng cô hồn là vậy. Tất nhiên phải đốt vàng mã đúng chỗ, và có phương pháp, như: cho vào thùng tôn, hoặc những nơi quy định đốt vàng mã trong đền chùa....Không đốt tùy tiện với bất cứ địa điểm nào, để....chống hỏa hoạn thôi. Cái này thì nên để khuyên tụi trẻ con. Người lớn câu này thừa. Đồ cúng không ai ăn trước cả. Và không cứ tháng cô hồn. Điều này thì tháng nào cũng nên kiêng, không cứ gì tháng cô hồn. Riêng tháng cô hồn cần đặc biệt kiêng cữ. Nhưng điều này chỉ đúng với việc phơi quần áo ngoài trời. Híc! Chưa bít con ma thuộc dân tộc nào? Nếu gọi tên bằng tiếng Anh, con ma dốt ngoại ngữ chắc chẳng biết đằng nào mà bắt. Nguy hiểm quá! Thế này thì nên đề nghị Liên Hiệp Quốc cấm tất cả các cuộc thi bơi lội trên Địa cầu vào tháng này. Cái này thì tháng nào cũng nên kiêng. Điều này thì chắc những ai thích chặt cây, trồng lại sẽ rất hoan nghênh. Họ sẽ trhay tất cả những cây đa bằng cây mỡ. Chưa hết! Thạch Sanh ngày xưa chắc bị "ma nhập" lâu rùi. Vì anh ấy ở dưới gốc cây đa. Hì. Chắc chỉ trong tháng cô hồn mới không được thức khuya. Còn các tháng khác thì được thức thoải mái chăng? Vậy ngoài tháng Cô hồn ra, các tháng khác được chui vào xó tối chơi chăng? Còn các tháng khác thì lượm thoái mái chăng? Chỉ trong tháng Bảy này thôi hay sao? Người nằm chềnh ềnh ra đấy, ma không nhìn thấy sao, mà phải căn cứ vào mũi giày, dép? Cái này thì tháng nào cũng kiêng, không cứ tháng Bảy. Điều kiêng cữ này, ý muốn nói nên ..đi khách sạn ngủ hai mình đây. Hì. Vậy ai muốn chứng minh có ma, nên tranh thủ chụp ảnh vào tháng cô hồn. Chắc sẽ thấy đầy ma để chứng minh có "cơ sở khoa học" về ma. Hì. Hì. Vậy ai mà tỏ tình trong tháng này, mà người yêu nó bắt thề, nếu kiêng mà không thề thì nó xù đấy! Đợi đến tháng Tám mới tỏ tình thì nhỡ nó yêu người khác mất?! Mưa mà không núp dưới gốc cây thì núp ở đâu? Nếu chung quanh không có chỗ núp nào khác? Chỉ không nên núp dưới gốc cây to , mọc riêng lẻ trong mưa to, đề phòng sét đánh thôi.Tất nhiên cũng không phải chỉ trong tháng Bẩy. Cái này thì cũng còn tùy. Cá nhân tôi không thích những hình quỷ quái ghê sợ, ở bất cứ tháng nào. Với các bà xã trên khắp thế gian này thì đây phải là điều kiêng cữ trong năm. Cái này thì nên kiêng vì cảnh sát giao thông sẽ bắt trong bất cứ tháng nào. Hả?! Vậy các cửa hàng bán thịt, gà lợn, trâu bò....họ chặt thái suốt ngày, nếu không cho mài dao thì họ lấy tay xé à? Ngày xưa các cụ không có Honda, chắc tác giả ý muốn nói là xe ngựa. Không động thổ, nhập trạch thì OK. Nhưng cần giải thích rõ vì sao. Wow! Các cụ ngày xưa đâu có khái niệm xe hơi, xe Honda đâu nhỉ? Chắc tác giả mún nói xe ngựa, hoặc xe cút kít. Ý muốn nói là trong tháng Bẩy phải xem ngày cho kỹ. Còn các tháng khác thì cứ làm vung lên sao? Ui! Thế thì tháng này kinh tế thế giới bị đình trệ vì các hợp đồng phải để tháng sau mất. Để tháng sau chặt? Thảo nào! Vừa rồi Hanoi chặt cho cả đống cây từ mấy tháng trước. Hì. Ủa! Vậy áo đen may thoải mái sao? Cái này thì Ok. Để đỡ tốn tiền. Và vì vậy thì tháng nào cũng nên kiêng. Bệnh viện thì lúc nào đèn đóm chẳng sáng choang. Tất nhiên trừ lúc mất điện. Đâu cứ cô hồn, các đẳng mới "tham , sân si". Con người còn tham sân si hơn. Vậy nên ăn chay luôn cả cái thế giới này cho nó gọn. Quý vị và anh chị em thân mến. Qua những phân tích trên với những vấn đề đặt ra cho từng điều kiêng cữ, cho thấy những điều kiêng cữ đó hầu hết rất ư là ...ngớ ngẩn và không có "cơ sở Lý học". Đây là hậu quả của một nền văn minh bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử từ hơn 2000 năm trước, khiến nó sai lệch và bị thất truyền. Bởi vậy, từ cơ sở Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt - quán xét bản chất của thực tế môi trường với Âm khí vượng trong tháng Bảy thì mối quan hệ tương tác này liên quan như thế nào đối với con người? Còn tiếp
    1 like
  31. Thực ra để trấn Xuyên môn sát có nhiều phương pháp. Thí dụ như: treo Phong linh,gương chiếu hướng, bình phong, tường chặn.....Nhưng như thế nó "phong thủy" quá. Một phong thủy gia thực sự thì khi ứng dụng phong thủy không thể để lại dấu ấn. Tất nhiên trừ trường hợp bất đắc dĩ.
    1 like
  32. PHONG THỦY LẠC VIỆT ỨNG DỤNG. Trong kiến trúc nhà riêng của Nguyễn Vũ Tuấn Anh KẾT LUẬN II. Sự khác biệt trong cấu trúc nội hàm của Phong thủy Lạc Việt và những di sản liên quan trong cổ thư chữ Hán. Thông qua bài viết này về việc ứng dụng Phong Thủy Lạc Việt, quí vị và anh chị em cũng nhận thấy rằng: Đó là sự tổng hợp có tính hệ thống tất cả những hệ quy chiếu mô tả 4 yếu tố tương tác căn bản nhất. Tính khoa học của Phong Thủy Lạc Việt được xác định trên cơ sở tiêu chí khoa học cho một lý thuyết, giả thuyết khoa học....vv.... được coi là đúng. Tiêu chí khoa học căn bản nhất xác định tính khoa học cho một lý thuyết khoa học - tôi đã nhiều lần trình bày là: Lấy tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để đối chiếu thì toàn bộ hệ thống Phong Thủy Lạc Việt hoàn toàn phù hợp. Trong khi đó, sự ứng dụng phong thủy theo cổ thư chữ Hán là sự ứng dụng riêng phần - gọi là "trường phái". Cái gọi là "Trường phái" phong thủy xuất hiện trong lịch sử văn minh Hán, được mô tả như một hệ thống phương pháp ứng dụng độc lập,không liên quan gì đến nhau. Thậm chí mâu thuẫn nhau. Những cái bếp quay như chong chóng bởi các phong thủy gia khác nhau theo cổ thư chữ Hán đến làm phong thủy cho các ngôi gia đã chứng tỏ điều này. Như vậy, xét theo chuẩn mực là "tiêu chí khoa học" cho một hệ thống lý thuyết khoa học thì tất cả những di sản liên quan đến ngành Phong Thủy theo cổ thư chữ Hán thiếu tính hệ thống, tính nhất quán. Ở đây tôi chưa nói đến những phương pháp ứng dụng còn lưu truyền trong dân gian mà chưa biết nó nằm trong cái gọi là "trường phái" nào?! Hoặc với một cái nhìn với một góc độ lớn hơn thì Phong Thủy Hàn Quốc - đang xin Liên Hiệp Quốc công nhận - chắc chắn không thuộc về "lịch sử văn minh Hán". Thật là một sự hết sức vô lý rất rõ ràng như vậy, những vì một lối mòn tư duy từ hàng ngàn năm nay, người ta cứ rầm rầm mặc định cho rằng: Lý học Đông phương và ngành phong thủy học có nguồn gốc Hán. Chẳng bao giờ một học thuyết lại sinh ra những sản phẩm hệ quả của nó lại tự mâu thuẫn nhau và cùng một mục đích và đối tượng ứng dụng - nhà ở - lại đầy những mâu thuẫn , quen gọi là "trường phái". Đúng là vớ vẩn! Trở lại vấn đế phong thủy - trên những ý tưởng đã trình bày - người viết xác định tính khoa học của ngành phong thủy được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt - cội nguồn đích thực của văn minh Đông phương - chính là một hệ thống phương pháp luận ứng dụng chuyên ngành mà đối tượng của nó chính là con người sống trong những ngôi gia, chịu ảnh hưởng của những quy luật tương tác từ môi trường xung quanh. Vì là một hệ thống phương pháp luận mang tính lý thuyết, cho nên để xác định tính khoa học của nó phải cần so sánh đối chiếu với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. So sánh với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học và thỏa mãn với nó, giữa Phong Thủy Lạc Việt và những di sản từ cổ thư chữ Hán thì chỉ có Phong thủy Lạc Việt hoan toàn thỏa mãn. Bởi: 1/ Tính hệ thống. Phong thủy cổ thư chữ Hán không mang tính hệ thống. Cụ thể: các cái gọi là "trường phái" mang tính độc lập và mâu thuẫn nhau với sự hoàn toàn khác biệt trong phương pháp ứng dụng. - Trong khi đó Phong Thủy Lạc Việt hoàn toàn mang tính hệ thống trong mối liên hệ hệ quả với thuyết Âm Dương Ngũ hành và các mối liên hệ liên quan đến các nguyên tắc, tiêu chí và các khái niệm.vv..trong hệ thống phương pháp luận và những mô hình biểu kiến của nó. Nó tổng hợp được bốn yếu tố tương tác - gọi là "trường phái" từ những di sản trong cổ thư chữ Hán. Trong Phong Thủy Lạc Việt, bốn hệ thống mô tả 4 yếu tố tương tác căn bản đúng trong hệ quy chiếu của nó và không mâu thuẫn với các hệ thống mô tả các yếu tố khác;mà là chỉ có sự khác biệt liên quan đến từng hệ quy chiếu. Thí dụ: Hướng Tây Bắc là tốt với người Tây Trạch - theo sự mô tả của yếu tố Bát trạch. Nhưng nó có thể xấu trong trường hợp cụ thể vào một khoảng thời gian liên quan đến vận Huyền Không - theo sự mô tả của yếu tố Huyền Không. 2/ Tính nhất quán. Tất nhiên Phong thủy cổ thư hoàn toàn không mang tính nhất quán, mà điều thể hiện rõ nhất chính bởi sự cấu thành căn bản của nó là cái gọi là bốn trường phái mâu thuẫn nhau và mâu thuẫn ngay trong nội tại của hệ thống ứng dụng trong từng trường phái. Thí dụ ngay trong cái gọi là phương pháp tính tuổi cất nhà - không biết thuộc "trường phái" nào - cũng có nhiều cách khác nhau và mâu thuẫn lẫn nhau để tính. Hoặc như phương pháp phi tinh sơn, hương trong huyền không cũng có nhiều cách, chẳng biết cách nào đúng. Hoặc liên quan đến những di sản Lý học nói chung là môn Tử Vi, cũng có nhiều phương pháp an sao khác nhau và tính chất một số sao cũng mâu thuẫn. Cái nào đúng? Chẳng ai trả lời được điều này. Nhưng trước sự hiệu chỉnh và hệ thống hóa để phục hồi lại toàn bộ những gía trị di sản đó thì nhao nhao phê phán, chỉ trích rất phi học thuật. - Ngược lại Phong thủy Lạc Việt hoàn toàn mang tính nhất quán - về tính tổng hợp thì tất cả mọi cái gọi là "trường phái" mang tính độc lập trong cổ thư chữ Hán , chỉ được coi là bốn yếu tố tương tác căn bản trong tính hệ thống của ngành Phong Thủy Lạc Việt. Chúng là những hệ thống phương pháp luận riếng phần mô tả cụ thể quy luật tương tác từ hệ quy chiếu của nó, được mô hình hóa, biểu kiến hóa và không mâu thuẫn lẫn nhau. Cụ thể: Tất cả các yếu tố này đều ứng dụng trong một ngôi gia là nhà tôi. Tính nhất quán này không chỉ ở chi tiết là một căn nhà nhỏ bé của tôi - so với cả cái vũ trụ bao la này và so với những căn nhà lớn hơn. Mà nó nhất quán vì nhân danh khoa học theo tiêu chi cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Ở mức độ tổng quát liên quan đến toàn bộ thuyết ADNH - mà Phong thủy Lạc Việt, cũng như tất cả ngành học khác của Lý học Việt - tôi muốn nói đến một ví dụ nữa, là: Đã xác định bản chất của Hà Đồ - chính là một hình biểu kiến quy luật vận hành của Mặt trời, mặt trăng và Ngũ Tinh (được phân loại theo thuyết Ngũ Hành) trong mối quan hệ tương tác với địa cầu. Một trong những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học xác định rằng: Đây là một mô hình biểu kiến mô tả mối liên hệ giữa Hà Đồ và Địa Cầu, nhân danh nền văn hiến Việt. - Còn những di sản từ cổ thư chữ Hán lại xác định Hà Đồ là đồ hình do con Long Mã hiện lên trên sống Hoàng Hà và vua Phục Hi "chợt ngộ tâm linh" làm ra Hà Đồ. Tất nhiên nó không có cái gọi là "cơ sở khoa học" - cho dù cái "cơ sơ khoa học" do ông Phan Huy Lê nêu ra đó , nó được hiểu theo bất cứ cách nào. Cá nhân tôi cũng đang chờ cái nội dung khái niệm "cơ sở khoa học" của ông Phan Huy Lê , để đối chiếu, so sánh với những luận cứ của mình trong việc chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến, nó có điểm nào chưa trùng khớp với cái "cơ sở khoa học" của ông. Đương nhiên, với con Long mã trên sông Hoàng Hà và con thần Quy trên sông Lạc thủy thì không thể lấy bất cứ một tiêu chí khoa học nào để có được tính nhất quán - trên phương diện khoa học - mô tả những gì còn lại trong cổ thư chữ Hán - ngay từ tính khởi nguyên của nó. Chưa nói đến sự lộn xộn trong lịch sử của học thuyết này và tính mơ hồ,mâu thuẫn ngay trong nội dung không thể phục hồi từ hơn 2000 năm qua. 3/ Tính hoàn chỉnh. Do xuất phát từ hai nền văn minh khác nhau từ nền tảng tri thức và cơ sở phương tiện kỹ thuật, xã hội khác nhau. Nên khổng thể gọi là hoàn chỉnh - nếu xét một cách chi tiết đến từng khái niệm liên quan - trong qúa trình phục hồi toàn bộ hệ thống của thuyết Âm Dương Ngũ hành nói chung và phong Thủy Lạc Việt nói riêng. Nhưng những gía trị được phục hồi đã xác định tính hoàn chỉnh của học thuyết này và cụ thể ở ngành Phong Thủy Lạc Việt trong quá khứ. Và nó chứng tỏ được rằng một khả năng hoàn chỉnh hoàn toàn trong tương lai. Bởi chính tính hệ thống và nhất quán đã được chứng tỏ. Tính hoàn chỉnh và khả năng hoàn chính của Phong Thủy Lạc Việt nói chung và của tất cả mọi ngành ứng dụng liên quan đến học thuyết Âm Dương Ngũ hành, như: Tử Vi, Kinh Dịch.... chính là sự xác định từ tính hệ thống và nhất quán của nó với khả năng phục hồi hoàn chỉnh. - Ngược lại, những di sản từ cổ thư chữ Hán liên quan đến Lý học nói chung - kể cả Đông y - không có khả năng phục hồi và phát triển về tính hoàn chỉnh - chưa nói đến phát triền. Tất nhiên nó chìm đắm trong bức màn huyền ảo, huyền bí. Không phải bây giờ mà đã hơn 2000 năm đã trôi qua. Tất cả tri thức của nền văn minh nhân loại vẫn đang bị thách đố bởi những bí ẩn của văn minh Đông phương. Ngay cả những nhà khoa học của chính Trung Quốc - nơi tự nhận là cái nôi của nền văn minh Đông phương kỳ vĩ, cũng bất lực khi tìm hiểu về những gía trị thật của nó. Sự bất lực này thể hiện ở sự tự phủ nhận những di sản tự nhận là của chính họ. Đây là một ví dụ: Qua bài viết trên, quí vị và anh chị em cũng thấy rằng: Ngay cả người phản đối và ủng hộ Đông Y, cũng chỉ là dạng "Thờn bơn méo miệng, chê trai lệch mồm". Họ chẳng có một cơ sở nào để chỉ ra cái đúng và sai trong hệ thống luận cứ của nhau. Nhưng chủ đề bài viết này không phục vụ cho môn Đông Y. Nên người viết chỉ coi là một ví dụ. 4/ Tính hợp lý khi giải thích các vấn đề liên quan. Chính sự phục hồi toàn bộ những giá trị của nền văn minh Đông phương , nhân danh nền văn hiến Việt với lịch sử gần 5000 năm (2879 BC - 2012), cho nên những khái niệm mơ hồ, như "Khí" trong Lý học....vv...được định danh và sử dụng như một gía trị để quán xét đối chiếu và hệ thống hóa một cách nhất quán và lý giải một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan trong tính hệ thống và nhất quán trong từng khái niệm ứng dụng trong hệ thống. Sự ứng dụng những nguyên tắc, tiêu chí ....trên từng chi tiết trong căn nhà của tôi là một ví dụ cụ thể. 5/ Tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Tiêu chí khoa học phát biểu rằng: . Chính khả năng tiên tri của Lý học Đông phương đã chứng tỏ một quy luật vũ trụ được tổng hợp và mô tả qua những mô hình biểu kiến, siêu công thức của nó, đã xác định những quy luật vũ trụ và cơ chế tương tác của toàn thể vũ trụ liên quan đến con người. Tính quy luật trong Lý học Việt hoàn hảo hơn nhiều so với di sản cổ thư chữ Hán. Một ví dụ trong trường hợp này là Tử Vi Lạc Việt và bảng Lạc Thư hoa giáp.... Xét về toàn cục thì tất cả những bộ môn khác nhau của Lý học Đông phương, được hiệu chỉnh nhân danh nền văn hiến Việt là một hệ thống hoàn chỉnh và phù hợp với tiêu chí khoa học. Khả năng tiên tri và tính khách quan rõ ràng được xác định hoàn toàn minh bạch và rõ nét. Bởi vậy, thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang tìm kiếm. Bởi vì nó thỏa mãn tất cả những gì cần có của lý thuyết thống nhất khoa học. Có một vị giáo sư phát biểu rằng: "Một lý thuyết thống nhất phải lý giải được cả vấn đề tôn giáo và tâm linh". Hoàn toàn chính xác! Thuyết Âm Dương Ngũ hành chinh là nguyên nhân của một tôn giáo cổ Đông phương: Đạo Giáo, chính là căn nguyên của Tứ Phủ công đồng và cả Đạo Mẫu của Việt Nam. Bạn hãy xem kỹ lại tất cả những y phục Ngũ sắc và ký hiệu Âm Dương, bát quái trên y phục của các đạo sĩ và trên những lá bùa của cac thuật sĩ, đạo sĩ Đông phương.... Giáo sư Bùi Văn Nguyên đã chứng minh trong tác phẩm của ông - "Cội nguồn trăm họ" - rằng: Kinh Dương Vương chính là Thượng Đế. Không chỉ Đông Phương mà thuyết ADNH còn lý giải những hình tượng tôn giáo của tất cả các nền văn minh cổ xưa: Phật giáo; Thiên Chúa giáo, Do Thái Giáo, Ấn độ giáo...vv...., Còn tiếp
    1 like
  33. Tôi trả lời tiếp hai câu hỏi của Thích Đủ Thứ: 1/ Cháu có xem thi công vườn thiền của Nhật thì họ có đặt đá trong vườn xuống đất, sau đó mới làm bên trên là ao nước nuôi cá Koi hoặc nền đất trải sỏi/đá. Cháu muốn hỏi chú những điều này liệu có cơ sở gì từ phong thủy không ạ? Liệu có phải đó cũng là sự khác biệt giữa Phong thủy Lạc Việt và phong thủy theo cổ thư chữ Hán ko ạ? Phong thủy Lạc Việt không phải là một trường phái. Mà là một danh xưng xác định cội nguồn của ngành Phong thủy học. Do đó về căn bản không có sự khác biệt các phương pháo ứng dụng - còn gọi là những chiêu thức . Sự khác biệt duy nhất chính là khi ứng dụng các mô hình biểu kiến, như: Bát Quái, Cửu cung...vv.....thì nguyên lý căn để Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt thay thế cho Lạc Thư phối hậu thiên văn Vương. Chỉ có vậy thôi. Nhưng chính vì sự thay đổi nguyên lý căn để đó, mà Phong thủy Lạc Việt phục hồi một cách hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học với toàn bộ hệ thống phương pháp luận trong ngành phong thủy. Nó có thể dung nạp tất cả các phương pháp ứng dụng của tất cả những di sản liên quan đến phong thủy của tất cả các nước Đông phương có lưu truyền ngành này. Kể cả Nhật Bản. Điều này tôi đã nói ở trên rồi. Nếu người Nhật ứng dụng được và có thể giải thích được bằng hệ thống phương pháp luận Phong thủy Lạc Việt thì nó sẽ được ứng dụng trong phong thủy Lạc Việt. Còn nếu phương pháp của người Nhật nó thuộc về kỹ thuật xây bể cá thì nó thuộc về ngành kiến trúc, xây dựng. 2/ Hôm trước cháu về lễ hội đền Hai Bà Trưng ở Phụng Công, Văn Giang, Hưng Yên, có nói chuyện với 1 bác về các huyền tích về Hai Bà. Cháu có hỏi về xuất xứ của chữ Hùng của vua Hùng thì bác ấy bảo đó là xuất xứ từ chữ Hùng nghĩa là con gấu của chòm Đại Hùng tinh, 7 ngôi sao hiện diện trong nền văn hóa Việt xưa từ cuộc sống hàng ngày đến khi chết đi người giàu được ướp xác thì có tấm ván thất tinh đỡ lưng, ai cũng có 7 ngọn nến cắm trên nóc quan tài theo hình thất tinh để dẫn đường về với tổ tiên. Cháu nghe thấy cũng có lý, hỏi căn cứ thì chú ấy bảo nghe các cụ truyền lại chứ ko có sách sử nào cả. Sau thời Hai Bà Trưng là gần 1000 năm đô hộ của Hán tộc - gọi là Bắc thuộc lần thứ II. Do đó, nếu đòi hỏi có sách sử Việt nào ghi lại không thì có thể nói luôn là không có. Người Do Thái sau 2000 năm ly tán cũng không thể còn một cuốn sử nào, ngoại trừ truyền thuyết, hoặc dã sử. Bởi vậy, tổ tiên ta cũng phải lưu truyền cho con cháu bằng những truyền thuyết và dã sử, hoặc chúng ta tìm lại dấu ấn của cổ sử Việt qua các sách vở của các nước gần gũi liên quan, Chữ Hùng có xuất xứ từ chòm sao Đại Hùng tinh là hoàn toàn chính xác. Tôi có nói điều này trong sách đã xuất bản. Đó chính là một trong ba chòm sao Thiên Cực Bắc của trái Đất. Vũ Tiên, Đại Hùng tinh và Thiên Lang. Kinh Dương Vương với tằng tổ mẫu của Việt Tộc là Vũ Tiên. Hùng Vương chính là lấy biểu tượng của chòm Đại Hùng Tinh. Quan Lang con của vua Hùng chính là chòm Thiên Lang. Mỗi một chòm sau Thiên Cực Bắc này cai quản bầu trời hơn 6000 năm. Bây giờ chúng ta đang trong thời kỳ chòm sao Bắc Đầu - Đại Hùng tinh quản.
    1 like
  34. PHONG THỦY LẠC VIỆT ỨNG DỤNG. Trong kiến trúc nhà riêng của Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tiếp theo Hữu Bạch Hổ I. Những tiêu chí và nguyên tắc trong Phong thủy Lạc Việt Một công trình nghiên cứu khoa học bị lãng quên. Cách đây nhiều thập kỷ, đã có một nhà khoa học Hoa Kỳ xác định rằng: "Trái đất là một sinh thể sống". Kết luận này được đăng tải trên một tờ báo chính thống - Nhưng vì quá lâu, hơn nữa ngày ấy, tôi cũng không quan tâm lắm đến những thông tin loại này, nên không nhớ chính xác nguồn tin. Nhưng kết luận này đã gây ấn tượng trong tôi. Và khi tìm hiểu về Lý học Đông phương với ngành phong thủy, tôi đã rất ngạc nhiên khi Lý học Đông phương đã ứng dụng từ hàng ngàn năm trước quan niệm này. Tổng hợp từ những mảnh vụn trong cổ thư còn lại, Phong Thủy Lạc Việt xác định rằng: Một trong những sự ứng dụng của ngành Phong thủy Lạc Việt và coi là yếu tố căn bản bao trùm chính là sự vận động của dòng "Khí". Những khái niệm trong phong thủy, như: Thoái khí, thoát khí, suy khí, bế khí, tù khí...vv....đều là những khái niệm mô tả sự vận động , hay thông thoáng của dòng "khí" lưu thông trong nhà. Và nguyên lý coi một ngôi gia như là một sinh thể sống, chính là quán xét nguyên lý vận động của dòng khí ( Tức là chi tiết hơn rất nhiều và đã mang tính ứng dụng, chứ không cần vĩ mô như việc coi "Trái Đất chính là một sinh thể sống" của khoa học gia Hoa Kỳ và ông cũng mới chỉ có tính đặt vấn đề). Sự định nghĩa về "khí", tôi đã xác định trong Phong Thủy Lạc Việt và công bố trong Hội thảo "Phong thủy là khoa học", bạn đọc có thể tham khảo trong chuyên đề: "Hội thảo phong thủy", ngay trong mục Phong thủy của diễn đàn. Ở đây tôi cần xác định rõ ràng và công khai một lần nữa rằng: Sở dĩ tôi cần xác định công khai, minh bạch, chính vì có những sự "phản biện" sau lưng tôi, cho rằng: Cổ thư chữ Hán có định nghĩa về "khí". Nhưng tôi cấn khẳng định rằng: Trong tất cả các cổ thư chữ Hán từ hàng ngàn năm nay, không hề có sự định nghĩa về khái niệm "Khí" nói chung. Mặc dù tôi không thể xem tất cả các sách chữ Hán từ hàng ngàn năm nay có nội dung liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nhưng sự mơ hồ khi ứng dụng khái niệm "khí" và những cố gắng tìm hiểu bản chất của "khí" của các nhà nghiên cứu cổ kim từ hàng ngàn năm nay, đã xác định điều này. Trện cơ sở định nghĩa về khí, đối chiếu với những mảnh vụn còn sót lại của nền văn hiến Việt - - sau khi sụp đổ ở miến nam Dương Tử từ hơn 2000 năm trước và ghi nhận trong cổ thư chữ Hán trong quá trình Hán hóa nền văn hiến này - chúng tôi thẩm định và phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt - thì - những tiêu chí và nguyên tắc cần trong phong thủy Lạc Việt được xác định như sau: I. 1. Cầu thang trong phong thủy Lạc Việt: Diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn đã có bài viết mô tả một cầu thang chuẩn theo Phong thủy Lạc Việt là phải có tính dẫn khí. Căn cứ theo bài nghiên cứu của Hà Mạnh Hùng - trong Hội thảo Phong thủy, có tựa là: "Khí và mô hình đồng dạng chất lưu" - chúng tôi xác định như sau: Một cầu thang chuẩn về khí phải bảo đảm rằng: Khi đổ nước ở tầng trên cùng thì nước phải chảy theo hàng lang và cầu thang, như một nguồn nước liên tục xuống phía dưới nhà. Với một cầu thang như vậy, mới bảo đảm tính "dẫn khí" lên các lầu trên. Những loại cầu thang model, như: Cầu thang xương cá, hở thành một hoặc hai bên, đều không có tính dẫn khí. Do đó một cầu thanh chuẩn theo Phong thủy Lạc Việt phải có hai bờ cầu thang. Dưới đây là cầu thang được xây cất theo chuẩn phong thủy Lạc Việt trong nhà của tôi: Đây là một tiêu chí bắt buộc thep Phong thủy Lạc Việt. Nếu không thực hiện tiêu chí này thì các tầng càng cao, càng bị vô hiệu hóa chức năng sử dụng. Vì "khí" không được dẫn lên các tầng trên. Chính sự hài hòa và vận động có tính quy luật của "Khí" mang lại sự sống trong ngôi gia. I.2. Nền nhà phải có tính dẫn khí. Phong Thủy Lạc Việt căn cứ vào sự tổng hợp những mảnh vụn còn sót lại trong cổ thư và lưu truyền trong dân gian, đã xác định rằng: Nền nhà trong cùng một tầng nhà phải bằng phẳng từ đằng trước ra đằng sau, không được phép có sự chênh lệch, tạo những khoảng cao thấp . Do đó, Phong thủy Lạc Việt hoàn toàn không chấp nhận các kiểu nhà lệch tầng, tạo hồ cá giữa nhà, hoặc khoảng trũng khi vào những căn phòng. Với một nền nhà phẳng từ trước ra sau là điều kiện để dòng khí luân chuyển dễ dàng, tránh được sự bế khí, hay khí tù hãm.. Hình dưới đây chụp từ phòng sau nhà (Nhà tôi có hai phòng mỗi tầng) cho thấy: Nền nhà hoàn toàn bằng phẳng. Tất cả các tầng trong nhà đều được thiết kế như vậy. Còn tiếp
    1 like
  35. PHONG THỦY LẠC VIỆT ỨNG DỤNG. Trong kiến trúc nhà riêng của Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tiếp theo Hữu Bạch Hổ Toàn bộ căn nhà và cấu trúc trong sự tương quan với Thanh Long là Bạch Hổ. Trong nội thất căn nhà so với hành lang thì bên phải là Bạch Hổ, so với hồ cả ngoài sân thì căn nhà là Bạch hổ, so với hẻm bên trái nhà - nếu có - thì căn nhà là Bạch Hổ...vv.... Bạch Hổ là một khái niệm trừu tương, mô tả tất cả những thực tại hiện hữu bên phải cân đối với Thanh Long, hoặc qua tâm nhà, căn nhà. Trong bài viết này - nếu so với bề cá trong sân thì nó chính là căn nhà. Nếu so với hành lang trong nhà thì nó chính là cấu trúc phía bên phải nhà. Thanh Long và Bạch hổ phải uy nghi, nhưng không hung sát. Phong Thủy Lạc Việt - cũng như Lý học - lấy sự hài hòa, cân đối làm chuẩn mực, không thái quá, không bất cập. Tức là tính cân bằng Âm Dương trong mối quan hệ của các yếu tố Thanh Long - Bạch Hổ; Huyền Vũ - Chu tước. Tính cân bằng âm dương trong bố cục kiến trúc, không cực đoan như nhiều người lầm tưởng theo kiểu bên phải và bên trái phải giống y như nhau. Có một câu chuyện hài có thật như sau: Đám học sinh chúng tôi sơ tán chiến tranh. Về một vùng quê. Một thằng trong lớp hỏi: "Mày đến nhà bà Năm Gánh cuối xóm chưa?".Mặc dù chưa đến nhà bà này bao giờ, nhưng thằng bạn láu cá của tôi trả lời: "Tao đến rồi! Nhà bà ấy ở giữa có bàn thờ và hai bên có hai cái giường chứ gì!". Thực ra thì bố cục nội thất trong các nhà ở nông thôn Bắc Việt Nam hầu hết đều như vậy. Ngay đến bây giờ, bạn cũng có thể thấy cách bổ cục này ở những căn nhà xưa. Điều này cho thấy tính phổ biến văn hóa Lý học về sự cân bằng Âm dương trong sinh hoạt của từng gia đình Việt Nam. Nhưng đó chỉ là cách hiểu đơn giản nhất về tính cân bằng Âm dương trong sự cân đối. Thí dụ như tính hài hòa trong bức tranh thủy mặc dưới đây - chính hàng chữ bên trái bức tranh làm cân bằng bố cục toàn bộ bức tranh,mà không phải là sự cân đối cơ học theo kiểu: "Ở giữa bàn thờ, hai bên hai cái giường". Quí vị và anh chị em thân mến. Trong sự tiến hóa của muôn loài thì tính phân loại xuất hiện ngay từ khi xuất hiện giới sinh vật. Sinh vật càng cao cấp thì khả năng nhận thức để có thể phân loại mọi hiện tượng càng phát triển. Ngay con cá cũng biết phân loại - và động vật càng cao cấp thì khả năng nhận thức và phân loại giữa mọi sự kiện và hiện tượng càng phát triển. Đấy là một thực tại khách quan. Do đó, một lý thuyết khoa học càng cao cấp thì phải phản ánh được sự phân loại mọi hiện tượng và sự vật, sự việc - tức là phản ánh hiện thực khách quan này. Trong tri thức của khoa học hiện đại chưa có một lý thuyết nào đạt đến khả năng phân loại tổng hợp mọi hiện tượng, sự vật, sự việc...Kể cả thuyết Tương đối của Einstein. Ngoại trừ lý thuyết toán của Cantor, gọi là "nghịch lý Cantor". Nhưng lý thuyết này cũng chỉ mới chạm tới khả năng phân loại khi mô tả các tập hợp. Nhưng chính thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn minh cổ xưa lại là một lý thuyết có tính phân loại cực kỳ cao cấp: Phân loại tất cả mọi hiện tượng, sự kiện, sự vật, sự việc trong vũ trụ, cả không gian và thời gian. Tính phân loại được mô tả ngay trong khái niệm Âm Dương và Ngũ hành. Ngành phong thủy Lạc Việt là hệ quả của học thuyết này. Do đó nó cũng phải mang yếu tố phân loại. Trong phong thủy Lạc Việt - và Lý học nói chung - bao giờ cũng phải xét đến tính tổng thể trước, hay còn gọi là Đại cục. Tức là yếu tố bao hàm. Sau đó mới xét đến các yếu tố hàm chứa trong đó. Trong những yếu tố hàm chưa lại tiếp tục xét đến yếu tố căn bản rồi mới xét đến tiểu tiết - tức là những yếu tố trong yếu tố căn bản hàm chứa nó...Nói theo thuật toán Cantor thì đó là những phần tử trong một tập hợp. Và luôn có một tập hợp lớn hơn hàm chứa các tập hợp con. Trong phong thủy Lạc Việt thì yếu tố lớn nhất chính là yếu tố Loan đầu, tức cảnh quan môi trường - Khí có vượng thì các yếu tố khác trở thành thứ yếu. Khí trong Phong thủy Lạc Việt lại chia làm hai loại Âm Khí và Dương khí. Tôi xin lưu ý một lần nữa là: Khái niệm Âm Dương khí chỉ mang tính phân loại, so sánh. Âm khí không hàm chứa ý nghĩa xấu. Âm Khí chỉ mang ý nghĩa xấu khi mang lại tính tương tác xấu với con người trong từng trường hợp cụ thể. Thí dụ như trong nghĩa trang - "Âm khí nặng nề"....Thì Âm khí ở đây mang hàm ý xấu. Cho nên một cảnh quan - loan đầu - tốt thì Âm khí vận động trong lòng đất vùng đó phải tụ và hài hòa với Dương khí - Cây cỏ, non nước phải thuận hòa và tươi tốt là hình tướng thể hiện của Khí thịnh vương. Ở những nơi vượng khí thì các yếu tố khác trở thành thứ yếu. Cho nên Phong thủy Lạc Việt lấy "khí" làm trọng. Thí dụ: Một cái dù với một chiếc xe đẩy bán nước giải khát bình dân lề đường, ở một phố đông đúc trong Quận 1 Sài gòn, đôi khi thu nhập còn nhiều hơn một tiệp chạp pô đúng phong thủy ở vùng quê hẻo lánh. Ngoài yếu tố Loan đầu thì yếu tố tiếp theo chính là Vận của vị trí xây cất. Đó là yếu tố Huyền không. Yếu tố này sẽ quyết định nhiều thành tố khác trong việc xây cất nằm trong tập hợp của nó, như: Vị trí động thổ, hình thể nhà, ngày động thổ và còn phải kết hợp với tuổi gia chủ...vv...Người viết sẽ phân tích yếu tố này ở cuối bài - Tất nhiên, trên cơ sở Huyền Không Lạc Việt với nguyên lý căn để của thuyết Âm dương ngũ hành phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt là "Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt". Từ những yếu tố căn bản này, và thực tế cuộc đất hình Thổ (Chữ nhật), Sơn hướng đều thuộc Thổ và là cửa Thiên Môn, Địa hộ (Thìn - Tuất), lại có Thái Tuế - Mộc - chiếu năm 2012 (Năm nay 2013 - Thái Tuế chiếu Khôn/ Tỵ và đối xung Càn / Hợi). Tất cả những yếu tố này quyết định hình thể nhà từ mái nhà đến mái cổng đều thuộc Hỏa hình (Hình nhọn) và mái ngói đỏ. Bậc tam cấp đầu tiên qua cổng phần giữa cũng lót đá granit đỏ. ở giữa. Mục đích của hình tượng Hỏa này là hóa giải Thái Tuế. Đây cũng là ý nghĩa của quả cầu đỏ phía sau nhà. Những tiêu chí phong thủy tiếp theo trong ứng dụng kiến trúc nhà của tôi, sẽ được tiếp tục mô tả tiếp tục trong các bào viết tiếp theo. Nhằm chứng tỏ một cách cụ thể chứng minh rằng: 1 . Cội nguồn ngành Phong thủy học của nền văn minh Đông phương là một ngành học hoàn toàn khoa học có tính ứng dụng. Cụ thể: Đó là một hệ thống nhất quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính khách quan, tính quy luật hết sức phức tạp và có khả năng tiên tri - Tức là hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học hiện đại cho một lý thuyết khoa học. Trong yếu tố thứ nhất này, tôi lưu ý quí vị và anh chị em quan tâm rằng: Ngành phong thủy và thuyết Âm Dương Ngũ hành là những hệ thống lý thuyết, tổng hợp thực tại và mô tả thực tại bằng những khái niệm trừu tượng và những mô hình biểu kiến. Cho nên việc quán xét tính chân lý của nó, phải căn cứ trên tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học - tức là quán xét trên một tổng thể bao quát cho một lý thuyết nhân danh khoa học. Chứ không thể so sánh với chính cổ thư chữ Hán nói về một hiện tượng cục bộ liên quan. Hay nói rõ hơn: Khi phân biệt đúng sai thì phải có một chuẩn để phân biệt. Chứ không thể phán xét sự đúng sai trên cơ sở chi tiết trong một trường hợp ứng dụng cục bộ. Tôi sẽ không mất thì giờ để tranh luận vô bổ với những kiến thức loại này trên diễn đàn. Chuẩn phân biệt này chính là những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. 2. Nội dung của ngành học này mô tả những quy luật của tự nhiên gây ảnh hưởng đến cuộc sống con người trong ngôi gia và có cội nguồn từ nền văn minh toàn cầu cổ xưa đã từng tồn tại trên trái Đất này mà văn hiến Lạc Việt - một thời huy hoàng ở miến nam sông Dương Tử - chính là chủ thể tiếp nối những gía trị của nó, sau khí nền văn minh toàn cầu này bị hủy diệt bởi một thiên tai trên toàn cầu. Những kiến thức này bổ sung cho kiến thức của ngành kiến trúc và xây dựng mang tính cơ học của nền khoa học hiện đại. Danh xưng Phong thủy Lạc Việt chỉ nhằm xác định cội nguồn của ngành học này. Sự hiệu chính từ nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" - có tính hệ thống, tính nhất quán, tính hoàn chỉnh, tính hợp lý khi giải thích mọi hiện tượng liên quan thể hiện tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri - phù hợp với tiêu chí khoa học cho một hệ thống lý thuyết nhân danh khoa học xác định điều này. Còn đối với "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư" và tất cả mọi thay đổi vị trí bát quái của những nhà nghiên cứu sau này trong lịch sử văn minh Đông phương - sau khi nền văn minh Việt sụp đổ miến nam Dương tử cách đây hơn 2000 năm - cho đến tận ngày hôm nay, khi tôi đang viết bài này - đều không thỏa mãn được những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Tôi cũng xin lưu ý quí vị và anh chị em quan tâm là: Cho dù phong thủy ngôi gia căn nhà của tôi là tuyệt hảo và thỏa mãn tất cả các yếu tố phong thủy (Huống chi nó chưa phải tuyệt hảo) - thì - nó cũng chỉ là một phần tử trong một tập hợp của môi trường tự nhiên. Cho nên nó vẫn phụ thuộc vào những diễn biến mang tính quy luật - quen gọi là định mệnh - giành cho tập hợp hàm chưa nó. Tôi vẫn luôn xác định rằng: Kiến thức phong thủy cũng như kiến thức Dược học trong việc dùng thuốc. Uống phải thuốc độc - cũng như phong thủy sai - thì chắc chắn chết. Nhưng uống thuốc bổ - cũng như phong thủy đúng - thì mọi việc có vẻ bình thường. Sở dĩ tôi nhận xét vậy - mọi việc bình thường - vì có thể nói ngay rằng: Tất cả những tri thức của nền khoa học học hiện đại, không có một hệ thống kiến thức nào có thể giải thích hiện tượng trên cơ sở lý thuyết - có mối liên hệ có tính hệ thống với mọi hiện tượng liên quan. Điều này, chính các nhà khoa học hàng đầu đẳng cấp quốc tế cũng thừa nhận. Cụ thể và chi tiết hơn: Người ta chỉ giải thích hiện tượng mang tính trực quan sau khí hiện tượng xảy ra. Thí dụ: Một sự cố đụng xe. Người ta có thể giải thích nguyên nhân sau khí sự cố xảy ra. Nhưng chỉ với một thày Tử Vi giỏi của Lý Học, sẽ căn cứ vào các đại lượng trên lá số Tử Vi Đông phương có thể tiên tri trước hiện tượng tai nạn xảy ra cho đương số. Hay nói rõ hơn: Giữa sự giải thích trực quan phổ biến trong cuộc sống và sự giải thích trên cơ sở một hệ thống phương pháp luận của một lý thuyết rõ ràng hoàn toàn khác nhau và là một khoảng cách cực kỳ lớn lao. Do đó, khi phong thủy tốt thì người ta thấy bình thường là vậy. Và ngay cả phương pháp xem Tử Vi Đông Phương cũng chỉ là mô hình biểu kiến, hệ quả có tính ứng dụng riêng phần của một nền tảng trí thức được mô tả trong thuyết Âm Dương ngũ hành, chứ không phải bản chất và nội dung của lý thuyết đó. Qua đó thì bạn đọc cũng thấy giá trị thực chất của hệ thống lý thuyết này - mà tất cả các ngành ứng dụng của nó, từ Đông y, Tử Vi, Thái Ất, Phong thủy...vv...chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Mặc dù chỉ cần thế thôi, cũng đủ là sự bí ẩn huyền vĩ hàng thiên niên kỷ trong văn minh nhân loại, chưa nói đến bản chất tri thức của học thuyết đó. Mà một ví dụ nhỏ và không phải là duy nhất: "Không có Hạt của Chúa" - nếu "chẳng may" tôi đúng - thì đây là một điều rất rõ ràng và rất trực quan cho tất cả nhưng ai quan tâm đến Lý học. Còn tiếp
    1 like
  36. PHONG THỦY LẠC VIỆT ỨNG DỤNG. Trong kiến trúc nhà riêng của Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tiếp theo Thanh Long - Bạch Hổ - Huyền Vũ - Chu Tước. Một trong những phương pháp nghiên cứu trong khoa học hiện đại, người ta thường loại suy mọi yếu tố bên ngoài đối tượng nghiên cứu, đặt đối tượng nghiên cứu vào một môi trường chuẩn, từ đó làm rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu. Trong qúa trình nghiên cứu Lý học Đông phương và Phong thủy - là hệ qủa ứng dụng của Lý học - người viết nhận thấy những dấu ấn "hóa thạch" trong phương pháp nghiên cứu của nền văn minh đã tạo dựng nên những giá trị của nền văn minh Đông phương, hoàn toàn phù hợp với phương pháp nghiên cứu của tri thức khoa học hiện đại. Đó chính là những khái niệm : Huyền Vũ, Chu Tước, Thanh Long, Bạch hổ. Những khái niệm này trong ứng dụng phong thủy được mô tả như sau: Huyền Vũ - biểu tượng bằng con rùa đen: Phương chính Bắc Thanh Long - Biểu tượng bằng con rồng xanh lá cây. Phương chính Đông. Chu Tước - Biểu tượng bằng con chim sẻ đỏ, hoặc phượng hoàng lửa. Phương chính Nam. Bạch Hổ - biểu tượng bằng con hổ trắng: Chính Tây. Trong truyền thuyết và huyền thoại Nhật Bản cũng nói đến 4 vị thần ở bốn phương với biểu tượng như trên. Nhưng ứng dụng trong phong thủy thì Huyền Vũ - Rùa đen - là sơn nhà; Chu Tước là hướng nhà, Thanh Long bên trái, Bạch Hổ bên phải - bất luận nhà hướng nào thì những quy ước trên vẫn phải tuân thù như một nguyên tắc trong phong thủy: Huyền Vũ phải nhô cao; Chu Tước phải quang đãng, sáng sủa - nếu tụ thủy gọi là cách "Minh đường tụ thủy" - thì rất tốt. Bạch Hổ phải uy vũ, ngắn hơn Thanh Long và nhô cao, Thanh Long phải uyển chuyên và vươn dài ôm lấy cuộc đất. Nguyên lý lý thuyết để có quy định như trên về Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền vũ, Chu Tước đã được giảng và phân tích trong lớp Phong thủy Lạc Việt cao cấp. Người viết chỉ nhắc lại vài yếu tố ở đây - vì giới hạn bài viết chỉ là ứng dụng. Nhưng những phong thủy gia đều biết quy định này của 4 yếu tố trên. Tuy nhiên ứng dụng như thế nào thì vấn đề lại không đơn giản.Vấn đề được đặt ra: Tại sao cổ thư ghi rõ Huyền Vũ phương Bắc; Chu Tước phương Nam..vv..thì tại sao thực tế với mọi phương hướng của ngôi gia thì Huyền Vũ được coi là sơn, Chu Tước thuộc hướng? Như phần trên tôi đã trình bày: Chính nền văn minh cổ xưa cũng đã xây dựng một mô hình chuẩn, sau khi loại suy các yếu tố tương tác bên ngoài để quán xét bản chất của hiện tượng. Mô hình chuẩn này là một ngôi gia tọa Bắc, hướng Nam. Tất nhiên bên trái (Tả) là phía Đông và phải (Hữu) là phía Tây. Tọa Bắc triều Nam chính là trục từ trường và hướng Bắc là Thiên cực của Trái Đất (Thiên cực Bắc hiện nay là chòm sao Đại Hùng tinh). Bởi vậy phía Bắc được gọi là Huyền Vũ - Vũ trụ sâu thẳm. Nhưng tại sao lại biểu tượng là con rùa? Con rùa chính là biểu tượng của nền văn hiến Việt ở thời sơ khai: "Vào thời vua Nghiêu, có sứ giả Việt Thường dâng con rùa lớn. Trên lưng có khắc văn Khoa Đầu, ghi việc trời đất mở mang". Hình tượng chim Hạc (Lạc) đứng trên lưng rùa chầu tiên thánh, cũng là một biểu tượng khác xác định gía trị của nền văn minh Lạc Việt. Sự xác định Huyền Vũ chính là thực tại vũ trụ thì đối xứng với Huyền Vũ phương Bắc, chính là sự nhận thức của văn hóa, tri thức: Phượng hoàng lửa phương Nam. Huyền Vũ là cái có trước - theo hệ quy chiếu "Dương trước, Âm sau" thì Huyền Vũ thuộc Dương, Chu Tước thuộc Âm. Chính vì Chu Tước thuộc Âm, nên sự tác động của Dương khí - nếu Âm Dương hài hòa thì Thủy sinh. Hiện tượng "minh đường tụ thủy" chính là biểu hiện của sự hài hòa Âm Dương. Tương tự như vậy, Thanh Long - Bạch Hổ chính là trục Đông Tây của Địa cầu quay từ trái sang phải - nếu quán xét từ bên ngoài Địa Cầu và theo trục Bắc Nam - Nếu đừng từ trong ngôi gia mô hình chuẩn - tọa Bắc, triều Nam - thì trái Đất quay từ phải (Bạch Hổ) sang Trái (Thanh Long). Đương nhiên chiều tương tác của vũ trụ sẽ từ Đông sang Tây. Chính sự tương tác này làm nên mọi phát sinh và phát triển trên Địa Cầu , nên biểu tương là Rồng - sức mạnh vũ trụ - thuộc Dương. Đó là lý do vì sao Tả Thanh Long có sông, ngòi, kênh rạch....lại là biểu hiện của Âm Dương hài hòa. Đối xứng với Thanh Long Dương là Bạch Hổ âm nên phải nhô cao, hơn Thanh Long và phải ngắn và hùng vi. Vì đã cực Âm thì phải là màu trắng (Dương) để cân bằng âm dương - Đây là nguyên nhân để Phong Thủy Lạc Việt gần như cấm tuyệt đối dùng non bộ màu đen, hoặc màu tối - trừ trường hợp đặc biệt. Đến đây, tôi muốn nói thêm về một điều mà ai cũng biết: Đó là vì sao tôi cho rằng Thủ Đô Hanoi đặt ở vị trí hiện tại là tốt nhất và không nên chuyển về Ba Vì - Hồ Đồng Mô không đủ thủy khí thể hiện bằng sông Hồng Hà. Cho nên Âm sẽ cực thịnh và Dương suy. Cuộc sống gồm nhiều yếu tố tương tác phức tạp. Hạn chế những cái xấu và phát huy những cái tốt thì cuộc sống cũng đỡ hơn. "Có kiêng, có lành" - các cụ bảo thế! Không có vấn đề "khoa học tâm linh", hay "khoa học huyền bí". Khoa học là khoa học và chỉ có sự chưa hiểu biết mà thôi! Trên đây, người viết chỉ phân tích một vài khia cạnh của 4 yếu tố trong phong thủy và ứng dụng trong ngôi gia của chính tôi. Tả Thanh Long Trong ngôi gia của Nguyễn Vũ Tuấn Anh Từ sự phân tích trên, phía bên trái của ngôi gia được thiết kế một hồ cá cảnh dài 10m x 2 m Hồ cá này tôi vẫn chưa thực sự vừa ý. Nhưng tạm vậy. Tả Thanh Long không chỉ là hồ nước, sông ngòi..vv.....trong pham vi cảnh quan môi trường bên trong và ngoài ngôi gia. Một con đường bên trái nhà - thâm chí một con hẻm cũng coi là Thanh Long. Ngay cả trong một ngôi gia thì hành lang lưu thông trong nhà - trong điều kiện mặt phẳng khu vực cảnh quan được coi là bằng phẳng - thì cũng phải thiết kế bên trái. Bạn đọc xem sơ đồ nhà của tôi: Hành lang lưu thông được thiết kế bên trái nhà. Xin lưu ý: Đây là trường hợp phổ biến trong điều kiện mặt bằng xây dưng tương đối phẳng so với khu vực cảnh quan. Điều này còn tùy thuộc vào con đường trước mặt nhà dốc từ phía nào hoặc phẳng. Nhà tôi hơi dốc về phía bên trái. Nhưng độ dốc không đáng kể. Còn tiếp Hữu Bạch Hổ
    1 like
  37. Luận Hình Thể Nhìn Long lấy Thế, xem Huyệt lấy Hình. Thế là Thần hiện ra, Hình là Tình lộ ra. Bỏ Thế thì lấy gì nhìn Thần của Long; Bỏ Hình lấy gì xem Tình của Huyệt. Bởi thế Tổ Tông cần có Thế cao vút, Lạc Mạch cần có thế giáng xuống, Xuất Thân cần có thê che chắn, Quá Hạp cần có thế dừng lại, Hành Độ cần có thế nhấp nhô, quanh co, Chuyển Thân có chỗ dựa sau lưng, thế đi về trước. Hoặc hăm hở phi lên, tựa như tuấn mã, hoặc phô bày tầng lớp, như sóng lấn sóng...Có thế như vậy tất là Chân Long. Không được như vậy tất là Giả Long. Tuy có mạch núi đi đến, chẳng qua cũng là cứng rắn hoang dối. Thảng có hình Huyệt tất cũng là giả hoa, đó là điều chắc chắn. Pháp xem xét Thế trước cần lên cao mà quan sát, tiếp theo Thân Long mà bước, lại từ hai bên phải trái mà xem xem, đối diện nhìn kỹ, tất có Chân Thần. Chỗ linh hiển với chỗ chạy lại, chỗ dừng tụ đều có thể tự mình biết rõ. Đến như Pháp xét Hình, có sáu thể là Viễn Biển Khúc Trực Phương Ao. Tỷ mỉ là bốn Cách Oa Kiềm Nhũ Đột, tiếp lấy thừa Kim tương Thủy, Huyệt thổ Ấn mộc làm pháp chứng minh, tất là Huyệt Tình khó trốn. Thừa Kim cũng tức trong Ngũ Hành, lấy Tròn làm Kim, lấy uốn lượn làm Thủy, lấy thẳng cao làm Mộc, phàm là Chân Huyệt, tất chỗ viên động, Oa Kiềm viên tại đỉnh, Nhũ Viên tại hạ, Đột viên tại giữa, nếu trong Oa Kiềm có Nhũ Đột, trên Nhũ Đột lại có Oa Kiềm. Tức gọi là Nhật La Văn Thổ Súc, tức là Thiếu Âm và Thiếu Dương của Huyệt vậy. Thừa lại dựa Thừa ở chỗ vầng tròn, động Khí ở giữa. Nếu là giữa thủy có Viên Động có thể thừa, trái phải tất có Vi Mang, thủy quanh co bao bọc, giao nhau trước Huyệt, Tiểu Minh Đường là cái gần nhất ngay trước mắt. Giả tưởng chỗ hai thủy giao mà hướng đến. Ấn Mộc tức là chỗ bên ngoài Thủy, tức là hai bên Chân Sa chầu tụ, khép Hạp trước Huyệt, cách bức một khoảng, hợp với Thủy Nội Minh Đường. Tức cánh ve sừng trâu, tức nếu có Thủy tất ấn chứng nơi Sa đó, cũng là nơi Khí dừng thủy giao, nếu không có Sa đó tất là thoát Khí tiết tán. Không phải Chân Huyệt. Cái gọi Huyệt tất có các điều trên, lại có Ngũ Thổ Tứ Bị, là đất quý báu, đúng là Chân Huyệt. Còn như ngoại hình và nội Khí không phù hợp, thì chỉ là Giả Hình mà thôi. Huyệt chính như Huyệt của người trong châm cứu, nhất định biết nó không dễ. Nếu Tứ Vi đã đủ, ở giữa tất có khí ấm, tức hỏa Khí. Đó là cái cần khi quan sát Huyệt. Bởi vậy cái cần trong Địa Lý không hề ngoài Hình Thế. Nay đã hiểu thuật này, chẳng hư đàm Tinh Quái Phương Vị. Đó là Tinh Nghĩa, nếu ở chỗ hình thế địa lý thực tiễn trái mắt nói sằng, cải biến địa lý hỗ hào, chân nhân không biện, để nhầm người vào tà lộ.
    1 like
  38. Anh chị em nên nghiên cứu trường hợp này. Theo tôi có vấn đề về Phong thủy. ============================= Nước mắt người chị trong gia đình bố mất, mẹ và em bạo bệnh (Dân trí) - Trong căn nhà nhỏ tềnh toàng, 3 chị em rạp mình bên chiếc bàn cũ kỹ để học bài. Người chị cả tên Nhàn ngồi đó nhưng không thể nhập tâm đến bài vở… Nỗi đau mất bố chưa qua, cô học trò đang chênh vênh với bao nỗi lo đang chờ mình phía trước. Cô gái “già trước tuổi” đó Thái Thị Thanh Nhàn, hiện đang HS lớp 12A1 trường THPT Vĩnh Bình huyện Gò Công Tây (Tiền Giang). Cùng hai người em là Thái Thành Danh 16 tuổi và Thái Thị Thanh Xuân 7 tuổi. Đớn đau một gia cảnh Là thương binh trở về từ chiến trường K (Campuchia) với đôi chân không còn lành lặn, anh Thái Thành Sơn ở Gò Công Tây (Tiền Giang) nên duyên với chị Nguyễn Thị Thanh Hoa. Vợ chồng làm thuê làm mướn để sống nhưng gia đình họ vô cùng hạnh phúc cùng 3 đứa con lần lượt ra đời. Dù sức khỏe không được tốt nhưng để có tiền cho con ăn học, hàng ngày anh Sơn không kể nắng mưa chạy từng cuốc xe ôm. Quần quật lao động, người cha ấy vẫn luôn dạy các con: nghèo đến mấy cũng phải học. Ba chị em Nhàn bên bàn học Có lẽ nhờ vậy mà khi khó khăn đổ ập xuống, người cha vẫn cố gắng gượng. Đứa con thứ út của chị anh là cháu Xuân, khi lên 3 tuổi được phát hiện mắc bệnh sốt xuất huyết giảm tiểu cầu. Vợ chồng anh ôm con đi chữa khắp nơi, không có tiền lại chạy đi vay… 5 năm trời họ chạy ngược chạy xuôi kiếm tiền thay máu và duy trì sự sống cho con. Cám cảnh gia đình thêm cơ cực nhưng người bố không than nửa lời, quyết không để các con dang dở học hành. “Những lúc bệnh, ho sặc sụa nhưng ba vẫn đi chở khách trong đêm. Mẹ và em chỉ biết nhìn cha lòng quặn đau… Hai đứa em giữ cha lại, cha cười: “Ba đi chút rồi về ngay mua bánh cho hai đứa”, Nhàn nhớ lại. Tai họa lại ập xuống gia đình anh Sơn khi người vợ mắc bệnh ung bướu. Tiền bạc hết, cũng chẳng thế vay mượn được thêm chị Hoa thể không đi chữa trị đành giao tính mệnh “phó thác cho trời”. Khối u đã di căn sang tim, sức khỏe của chị Hoa sa sút. Sau đó chị lại phải mổ ruột thừa nên tình trạng càng xấu. Không những chẳng thể đi làm mướn kiếm tiền nuôi con mà chị còn trở thành gánh nặng cho chồng - chị Hoa tự dằn vặt mình như vậy. Bởi sau đó không lâu chị Hoa lại phát hiện mình mắc bệnh u xơ tử cung. Từ ngày người bố ra đi, căn nhà mẹ con Nhàn lại càng thêm tiêu điều Số phận nghiệt ngã chưa dừng lại với người đàn ông ốm yếu đầy nghị lực và gia đình của anh. Bước qua tuổi bốn mươi chín, đang gồng mình cõng trách nhiệm lo cho vợ con trên vai thì đầu tháng 10 vừa rồi, anh Sơn bị đột quỵ và qua đời. Anh đi không kịp để lại trăn trối nhưng mọi người đều hiểu rằng anh mang theo nỗi đau đáu về đàn con thơ, người vợ bệnh và khoản tiền vay nợ chữa bệnh cho vợ con hơn 100 triệu đồng… Nỗi lòng người chị cả Từ ngày bố mất, Nhàn chông chênh vì chỗ dựa tinh thần, vật chất trong gia đình không còn mà còn quãng đường rất dài phía trước đang chờ người chị cả giờ trở thành “trụ cột” trong nhà. Thầy Lê Thiện Phước, giáo viên chủ nhiệm lớp 12A1 trường THPT Vĩnh Bình cho hay, hoàn cảnh của học trò Thái Thị Thanh Nhàn vô cùng éo le. Đoàn trường đã phát động kêu gọi thầy cô, học sinh giúp đỡ Nhàn nhưng chỉ được một khoản tiền nhỏ để em có thể ổn định tạm thời sau khi bố qua đời. Gia cảnh của em quá bế tắc sau khi bố mất, mẹ và em đều bệnh nặng. Những ngày này, Nhàn thường đứng bên bàn thờ của cha mà khóc như tìm niềm an ủi cho mình. Nhàn viết những dòng tâm sự: “Trong cuộc sống, ai cũng có một ước mơ và em cũng vậy. Ước mơ của em là rất nhỏ bé là được sống cùng cha mẹ và các em trong một ngôi nhà đơn sơ, mộc mạc đầy tiếng cười và hạnh phúc. Nhưng ước mơ nhỏ bé đó của em không thành sự thật khi cha đã đi thật xa không bao giờ trở lại. Em cảm thấy rất hụt hẫng, ngỡ ngàng và không tin đó là sự thật”. Nhàn ví mình “Như một con chim nhỏ đang lạc vào rừng sâu mà không tìm ra ánh sáng”. Nhiều lần Nhàn muốn ngã quỵ theo cha buông xuôi tất cả nhưng nghĩ đến người mẹ bệnh tật, cô em út vẫn cần tiền để duy trì sự sống rồi cậu em trai vừa vào lớp 10… Nhàn tự nhủ mình phải mạnh mẽ. “Em cũng không thể buông xuôi vì cha em khi sống đã luôn dặn dù thế nào các con cũng không được nghỉ học. Nếu em không thể đến trường thì phải cố gắng em Danh và Xuân có thể thực hiện mong ước của cha”, Nhàn chia sẻ. Nếu vậy, Nhàn sẽ phải xếp gọn sách vở, xếp cả những ước mơ của mình để lao vào cuộc mưu sinh mới mong tìm được lối thoát cho gia đình. Cô gái đấu tranh, dằn vặt vì chưa tìm được định hướng lối thoát trước khó khăn của cuộc đời ập đến quá sớm. Đúng với lứa tuổi, Nhàn ước mơ sẽ có một phép màu nào đó đến với mình… Hoài Nam - Huỳnh Như
    1 like
  39. PHONG THỦY LẠC VIỆT VÀ VỊ TRÍ NGỒI NƠI LÀM VIỆC Thiên Đồng - Bùi Anh TuấnThành viên nghiên cứu Phong thủy Lạc Việt Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương. Vị trí ngồi ngoài ý nghĩa tiện ích, tiện lợi cho công việc trong một không gian nhất định, còn thể hiện vị thế, năng lực và uy quyền của người ngồi, của cấp quản lý, của người chủ doanh nghiệp, của cấp lãnh đạo. Nhất là trong các cơ quan làm việc, công sở, doanh nghiệp, hội nghị…vị trí ngồi thể hiện tầm quan trọng của người ngồi. Tuy vậy ,một vị trí gọi là tốt theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt không những giúp cho ngồi nơi ấy làm việc có hiệu quả tốt đẹp mà còn mang lại những thuận lợi, những phát triển trong vị thế công việc. Như Thế Nào Là Vị Trí Tốt? Vị trí tốt theo quan niệm của Phong thủy Lạc Việt, trước tiên là cần tránh những vị trí sau đây: 1.Ngồi đối diện cửa ra vào: Người quản lý đối diện của ra vào thường sẽ chịu những áp lực trong công việc, bị động và chịu nhiều khó khăn trong công việc, hiệu quả kém. 2. Lưng hướng ra cửa phòng, cửa bên hông: Kém hiệu quả và năng lực trong công việc, cấp dưới lấn lướt và thường chủ quan trong quyết định. 3. Cửa ra vào đâm hông: Công việc nhiều rắc rối, chịu áp lực vô cớ, quyết định bộp chộp, hiệu quả công việc kém hay thời vụ. 4. Ngồi đối diện cửa toillette: Người quản lý ngồi đối diện cửa toa lét thường có những quyết định sai lầm trong công việc và dễ thất bại trước đối tác. 5. Ngồi đối diện cửa thoát hiểm: Sẽ không có những ý tưởng mới, quyết định sai lầm hay trì trệ trong hành động. 6. Sau lưng ngồi là cửa toillette: Thường gặp thất bại về tài chính, công nợ không giải quyết được và vị thế trong công việc có nguy cơ lung lay. 7.Sau lưng ngồi là cửa thoát hiểm: Dễ có ý tưởng biển thủ, hiệu quả công việc kém, không được lòng cấp dưới và vị thế thăng tiến gặp nhiều nguy cơ. 8.Sau lưng ngồi là cửa sổ. Thường gặp những quyết định sai lầm, chịu nhiều áp lực hay kẻ tiểu nhân cản trở, dễ thất thế trong ngoại giao, thất bại với đối tác hay cạnh tranh. 9.Cửa toillette đâm hông: Tài chính kém, người xấu dễ làm hại, cơ hội trong ngoại giao hay công việc dễ vuột mất, vị trí thăng tiến kém. 10.Cửa thoát hiểm đâm hông: Cấp dưới dễ chống đối, công việc chịu nhiều áp lực và cơ hội thăng tiến kém. 11.Hai cửa hai bên tường sau: Có thể gọi là "nhị quỷ trương khẩu" (hai quỷ há miệng). Hoàn toàn thất thế, sẽ là cấp quản lý hay lãnh đạo bù nhìn, thường quyết định sai lầm, năng lực kém và không tồn tại lâu trong vị thế đảm nhiệm, thuộc cấp coi khinh hay tiếm quyền. 12. Cửa phòng thông cửa hậu: Hiệu quả công việc kém, không phát huy được năng lực cá nhân, nhân sự luôn bất ổn, biến động, luôn trong tình trạng đối phó với công việc, vị trí công việc dễ gặp nguy cơ. 13. Phòng làm việc có trần thấp: Dầu cho vị trí ngồi tốt, nhưng trần nhà thấp cũng sẽ tạo ảnh hưởng xấu đối với người ngồi. Với vị trí ngồi như thế thì người ngồi không có sáng kiến năng động hay táo bạo, kém quyết đoán và thường ở "dưới cơ" đối với thuộc cấp hay đối tác trong công việc. Vị Trí Lý Tưởng Theo Phong Thủy Lạc Việt Vị trí lý tưởng cho cấp quản lý, người chủ hay cấp lãnh đạo ngoài việc tránh những sai phạm nêu trên thì phải là vị trí cát vượng, phía sau có tường dựa và nền sàn nơi ngồi hay phòng riêng phải cao hơn nền sàn chung ít nhất 3cm. Có thể nâng nền sàn cao hơn hoặc chỉ cần trải một thảm dầy và quan trọng hơn nữa là trần nhà phải cao thoáng hài hòa với không gian làm việc. Vị trí góc chéo với cửa luôn là vị trí vượng cát, vị trí lý tưởng tạo mọi sự tốt lành theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt. Tóm lại: Theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt có nguồn gốc là Văn hiến Việt 5000 năm huyền vĩ, phong thủy cho vị trí ngồi là thể hiện quy luật tương tác mang hiệu quả tốt xấu với không gian và môi trường nhất định, tận dụng quy luật tương tác tốt phục vụ cho mục đích của con người là một cách hòa hợp với quy luật tự nhiên khách quan đầy uyển chuyển. ngày 24 tháng 10 năm 2011 Thiên Đồng Tham khảo: - Phong thủy Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, lưu hành nội bộ. - Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2007 - Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2003 - Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam.
    1 like
  40. Theo Thiên Đồng nghĩ, tư vấn phong thủy từ thiện thì phải nhắm tới những đối tượng thật sự khó khăn, nghèo khó, bế tắt trong cuộc sống và nếu đến độ bi đát thì trung tâm kết hợp cung cấp chi phí cho việc sửa chữa như trường hợp ở Bảo An Ni Tự, chứ không phải ai cũng từ thiện được. Những trường hợp ưu tiên cho phong thủy từ thiện là bệnh hoạn, ốm đau, bệnh năng...như trường hợp Trung tâm đã tư vấn cho gia đình nhà có mẹ bệnh đâu tim và Trung tâm cũng giúp việc làm cho con gái của bệnh nhân này. Vì người mẹ nhà này là kinh tế chính mà lâm bệnh hiểm nghèo. Đã là từ thiện thì phải đúng đối tượng, chứ không thể để những đối tượng không xứng đáng lợi dụng. Ngay cả những học viên đang theo học lớp Phong thủy Lạc Việt, Trung tâm cũng không làm miễn phí cho ai để tránh đi những đối tượng lợi dụng. Vài hàng trao đổi. Thiên Đồng
    1 like
  41. Ngày tháng thì như tôi cho bạn ở trên! Riêng việc cưới năm Tam Tai thì nên tránh các thủ tục truyền thống nhu rước dâu, đốt đèn, bái gia tiên. Chỉ nên đăng kí kết hôn rồi làm tiệc báo hĩ! Đợi hết 3 năm tam tai, đến năm 2013 rồi bái lạy gia tiên!
    1 like
  42. Amour thấy rằng học tập mà có thể cùng bạn bè trao đổi, các bậc tiền bối vào chỉ bảo cho thì nhanh thành tựu. Nay muốn lập topic này để post bài học lên đây, qua đó mọi người cùng trao đổi, không biết có nên chăng? Nếu được thì Amour xin đánh liều post từng bài theo dạng giáo án, căn cứ vào bộ NHÂM ĐỘN ĐẠI TOÀN mà tiến hành, ACE thấy sao? xin cho biết ý kiến
    1 like
  43. Can Chi phối khóa (720) 1. Ngày Giáp Tý: quẻ số 1 – Nguyên thủ khóa - Càn 2. Ngày Ất Sửu:quẻ số 6 – Mão tinh khóa - Lý 3. Ngày Bính Dần: quẻ số 3 – Tri nhất khóa - Tỷ 4. Ngày Đinh Mão: quẻ số 8 – Bát chuyên khóa – Vô vọng (Kiểm !) 5. Ngày Mậu Thìn: quẻ số 5 – Dao khắc khóa - Khuê 6. Ngày Kỷ Tị: quẻ số 10 - Phản ngâm khóa - Chấn 7. Ngày Canh Ngọ: quẻ số 7 - Biệt trách khóa – Đông nhân 8. Ngày Tân Mùi quẻ số 12 – Tam dương khóa - Tấn 9. Ngày Nhâm Thân quẻ số 9 - Phục ngâm khóa - Cấn 10. Ngày Quý Dậu quẻ số 14 - Lục nghi khóa - Đoài 11. Ngày Giáp Tuất quẻ số 11 – Tam quang khóa - Bí 12. Ngày Ất Hợi quẻ số 16 – Long đức khóa - Ích 13. Ngày Bính Tý quẻ số 13 – Tam kỳ khóa - Dự 14. Ngày Đinh Sửu quẻ số 18 – Phú quý khóa - Đại hữu 15. Ngày Mậu Dần quẻ số 15 - Thời thái khóa - Thái 16. Ngày Kỷ Mão: quẻ số 20 – Chú ấn khóa - Đỉnh 17. Ngày Canh Thìn: quẻ số 17 – Quan tước khóa 18. Ngày Tân Tị quẻ số 22 - Dẫn tòng khóa 19. Ngày Nhâm Ngọ quẻ số 19 – Hiên cái khóa – Thăng 20. Ngày Quý Mùi quẻ số 24 - Phiền xương khóa – Hàm 21. Ngày Giáp Thân quẻ số 21 – Trác luân khóa – Di 22. Ngày Ất Dậu quẻ số 26 - Đức khánh khóa – Nhu 23. Ngày Bính Tuất quẻ số 23 – Hanh thông khóa - Tiệm 24. Ngày Đinh Hợi quẻ số 28 – Hòa mỹ khóa – Phong 25. Ngày Mậu Tý quẻ số 25 – Vinh hoa khóa – Sư 26. Ngày Kỷ Sửu quẻ số 30 - Bế khâu khóa – Khiêm 27. Ngày Canh Dần quẻ số 27 - Hợp hoan khóa - Tỉnh 28. Ngày Tân Mão quẻ số 32 – Tam giao khóa - Cấu 29. Ngày Nhâm Thìn quẻ số 29 - Trảm quan khóa - Độn 30. Ngày Quý Tị quẻ số 34 - Chuế tế khóa - Lữ 31. Ngày Giáp Ngọ quẻ số 31 – Du tử khóa – Quan 32. Ngày Ất Mùi quẻ số 36 – Dâm dật khóa - Ký tế 33. Ngày Bính Thân quẻ số 33 - Loạn thủ khóa – Lâm (kiểm !) 34. Ngày Đinh Dậu quẻ số 38 - Giải ly quái – (???) 35. Ngày Mậu Tuất quẻ số 36 (35) – Xung phá khóa - Quải 36. Ngày Kỷ Hợi quẻ số 40 – Đô ách khóa – Bác 37. Ngày Canh Tý quẻ số 37 – Vu dâm khóa - Tiểu súc 38. Ngày Tân Sửu quẻ số 42 – Truân phúc khóa – Truân 39. Ngày Nhâm Dần quẻ số 39 – Cô quả quái (???) 40. Ngày Quý Mão quẻ số 44 – Hình thương khóa - Tụng 41. Ngày Giáp Thìn quẻ số 41 – Vô lộc tuyệt tự khóa – Bĩ 42. Ngày Ất Tị quẻ số 46 – Thiên họa khóa - Đại quá 43. Ngày Bính Ngọ quẻ số 43 – Xâm hại khóa - Tổn 44. Ngày Đinh Mùi quẻ số 48 – Thiên khấu khóa - Kiển 45. Ngày Mậu Thân quẻ số 45 - Nhị phiền khóa – Minh di 46. Ngày Kỷ Dậu quẻ số 50 – Phách hóa khóa - Cổ 47. Ngày Canh Tuất quẻ số 47 – Thiên ngục khóa - Phệ hạp 48. Ngày Tân Hợi quẻ số 52 – Long chiến khóa – Ly 49. Ngày Nhâm Tý quẻ số 49 – Thiên võng khóa – Mông 50. Ngày Quý Sửu quẻ số 54 – Tai ách khóa – Quy muội 51. Ngày Giáp Dần quẻ số 51 – Tam âm khóa – Trung phu 52. Ngày Ất Mão quẻ số 56 - Cửu xú khóa - Tiểu quá 53. Ngày Bính Thìn quẻ số 53 - Tử kỳ khóa - Vị tê 54. Ngày Đinh Tị quẻ số 58 - Lệ đức khóa – Tùy 55. Ngày Mậu Ngọ quẻ số 55 – Ương cữu khóa - Giải 56. Ngày Kỷ Mùi quẻ số 60 – Toàn cục khóa - Đại súc 57. Ngày Canh Thân quẻ số 57 - Quỷ mộ khóa - Khốn 58. Ngày Tân Dậu quẻ số 2 – Trùng thẩm khóa – Khôn 59. Ngày Nhâm Tuất quẻ số 59 – Bàn châu khóa - Đại tráng 60. Ngày Quý Hợi quẻ số 4 - Thiệp hại khóa - Khảm.
    1 like
  44. Chú đang ký ít nhất một cái. Tạm thời vậy đi. Mặc dù chú đã có một cái Laido tăng và theo chú đi khắp thế giới. Chú sắp sửa mở một lớp Phpong Thủy Lạc Việt do chú trực tiếp giảng, nếu mọi chuyện suôn sẻ thì mỗi học viên sẽ mua một cái.
    1 like
  45. Các A/C khi nhờ Tư vấn, ngoài thông tin cần thiết (theo như NOTE của anh phamthaihoa) xin chú ý một vài điểm sau: KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) Lá số Tử vi của các bạn phải lấy từ Trình Tử Vi Lạc Việt ở Trang chủ của trang www.lyhocdongphuong.org.vn Các Thầy xem Tử Vi trong diễn đàn cũng khá lớn tuổi nên mong các bạn sử dụng ngôn ngữ giao tiếp cho phù hợp. Bài viết bắt buộc phải sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt, có dấu. Một vài chú ý nhỏ, mong các A/C lưu ý.
    1 like
  46. Để thuận tiện nhất cho các "thầy" Tử Vi có thể tư vấn, các bạn chú ý những điểm sau khi đặt câu hỏi . Nêu cụ thể giờ, ngày tháng năm sinh, ghi rõ là Dương Lịch hay Âm Lịch. Cụ thể giới tính Nam hay Nữ Bạn là người nhờ tư vấn, yêu cầu link sẵn lá số Tử Vi thông qua trình Tử Vi Lạc Việt của diễn đàn tại: Lấy lá số Tử Vi Bạn nêu cụ thể thông tin các sự kiện qua trọng trong đời để người xem kiểm chứng giờ sinh. Nêu vấn đề bạn quan tâm, muốn xin tư vấn. Bạn có thể tham khảo một ví dụ sau:
    1 like
  47. Anh buồn cười nhỉ !Tôi đâu có sửa lỗi chính tả cho anh !. Tôi chỉ cho anh rõ, sinh cùng tháng 12 âm lịch, mà địa không, hay địa kiếp cũng thế thôi, chúng được an ở các cung khác nhau anh ạ. Chẳng hạn, địa kiếp ở quan cho lá số thứ hai, địa kiếp ở phúc cho lá số thứ nhất. nay anh có muốn đổi địa kiếp thành địa không, thì cũng sẽ có kết quả: địa không ở quan cho lá số thứ hai, địa không ở phúc cho lá số thứ nhất. hi hi ... thế thôi. anh bị sao thế ?. chả nhẽ viết rõ như vậy mà còn không thấy cái sai ở mức độ học thuật, chứ đâu phải là lỗi chính tả đâu ???. Cho nên, không cần sửa chữa địa kiếp thành địa không đâu. Mà phải viết rõ ràng: Đó là cách an sai. Do không hiểu về bản chất của tử vi, nên suy luận bậy !. Vâng, phải viết như thế mới đúng. Anh cứ thừa nhận xong chuyện này, tôi sẽ từ từ chỉ cho anh lần lượt những cái sai tiếp tục. Thế nhé !. Tôi có xem Tố Vấn của anh - của anh thôi, chứ không phải là Tố Vấn đích thực là cái gì đâu. Tôi có đầy sách có thể biên khảo ra đây để khẳng định anh viết bậy. nhưng trước khi làm cái đó, tôi thích thú chỉ ra cái sai trong cái học của anh, không phải để anh biết sai mà cúi đầu khuất ohujc, mà cái chính là vì hậu học. học phải ba cái thứ mà anh viết bậy ra đó, thật là nguy hiểm.thế nên, anh cứ từ từ, giải quyết từng cái sai của anh, để bạn đọc còn có khả năng theo dõi. Thế nhé.
    1 like
  48. Vâng !, tôi nêu luôn hai lá số mà tôi sẵn có. Chứ thực ra, cái điều anh sai, nó dễ suy quá, mà anh lại vẫn nói ngược được :rolleyes: . Mời các vị an hộ tôi hai lá số, sinh tháng 12 âm lịch. Lá số thứ nhất. theo dương lch, sinh: năm 1989, tháng 01, ngày 09, giờ Dần - nữ nhân. Lá số thứ hai. Dương lịch, sinh: năm 1995, tháng 01, ngày 14, giờ mão - nữ nhân. Theo cách an của anh, địa kiếp phải ở phu/thê cung, bởi sinh tháng 12 âm lịch. Đúng như anh viết nhé: .Đằng này, theo cách an truyền thống, địa kiếp của lá số thứ nhất đóng tại Phúc cung, ở lá số thứ hai thì địa kiếp nằm ở quan lộc cung. Khác nhau đấy nhé. Xin đừng có nói phúc và quan lộc cung là một !!! :P . Thực ra, nếu anh chịu khó lấy nhiều lá số sinh cùng tháng, nhưng giờ khác nhau, là sẽ thấy ngay điều này thôi, chứ có khó gì đâu !!!. và: Thì tôi thấy lạ ???, anh học sách gì mà lạ thế !!!.Anh biết thừa, thiên văn đông phương gọi thìn là thiên la, tuất là địa võng. Bởi vì, vào ngày hạ chí, mặt trời lặn rất muộn. Người xưa ngắm mặt trời lặn, ở ngày đó, tưởng tượng ra rằng mặt đất ở đường chân trời cứ như là bị võng xuống, không muốn cho mặt trời lặn mất tiêu. Và giờ lặn của mặt trời vào ngày hạ chí rơi vào giờ tuất. Nên mới gọi tuất là nơi địa võng, có nghĩa là nơi đó, mặt đất như võng (trũng) xuống. Vào ngày đông chí, mặt trời mọc rất muộn, tới tận giờ thìn mới thấy mặt trời ló dạng ở đường chân trời. Người xưa có cảm tưởng như là mặt trời bị lưới chăng kéo xuống, không cho mọc lên. Vì thế mới gọi nơi thìn cung là thiên la. Nghĩa của thiên la là cái lưới trời. Bởi vậy mới có cái gọi là thiên la - lưới trời ở thìn, địa võng - đất trũng ở tuất. Nay anh lại nói ngược. Hay là anh có sáng kiến đổi giờ thìn về buổi tối, còn giờ tuất lộn thành ban mai ???. Và anh đủ chứng cớ khẳng định thiên môn ở hợi ?. Anh viết rõ ràng, thiên la, địa hộ là cổng trời ?. Tức là thìn là thiên môn ?. tạm cho là thế. Thì xin hỏi anh, anh viết địa hộ cũng là cổng trời ?. vậy địa hộ của anh ở tuất, hay ở hợi ?. nếu không đóng ở hai nơi đó, thì nó đóng ở đâu ? Tôi chưa biên khảo sách ra đây làm gì vội. Nhưng anh học sách nào, hy vọng anh có thể biên đủ cái chỗ mà anh học để cho ra kiến thức như vậy, tôi sẽ phân tích cho anh thấy, hoặc anh hiểu sai ý người viết, hoặc là sách anh có vấn đề. Nay tôi cần anh khẳng định lại, thiên la theo anh là thiên môn, địa hộ cũng là thiên môn, và chúng ở đâu ?. Xin nói cho rõ. Chúng ta cứ thảo luận từ từ. Thân ái.
    1 like
  49. Anh Vuivui thân mến. Việc chứng minh Kinh Dịch là của Việt tộc khó khăn, tôi xin bổ xung thêm một ý nữa: Cái khó không phải không chứng minh được - ít nhất là với tôi - huống chi còn có những người giỏi hơn - Mà là có điều kiện để chứng minh không? Ngày trước Hội Sử học Việt đã ồn ào về việc sẽ lập hội thảo để phản biện ông Lê Mạnh Thát v/v ông chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến qua các bản văn của Phật giáo. Cứ tưởng phen này nuốt chửng cụ Thát. Nhưng rồi im re. Bởi vậy, bài báo này cũng có thể viết cho vui thôi. Có lần có người hỏi ý kiến mấy vị cao thủ trong làng sử học về việc Thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch thuộc người Việt - tất nhiên điều này có nghĩa là Việt sử 5000 năm văn hiến - thì các vị cao thủ khả kính trong làng Sử học - thành viên của cái đám "hầu hết" - phát biểu: "Hổng có chuyên môn" - nên đi gam lờ. Vậy thì làm sao mà Hội Sử Học đủ tư cách chuyên môn mà mở hội thảo về cội nguồn Kinh Dịch được. Ngay bản thân danh xưng của Bát quái cũng đủ cho thấy nguồn gốc Việt tộc của nó - được phiên âm ra tiếng hán. Xập xí xập ngầu với hơn 2000 năm thành của Hoa tộc. Nực cười châu chấu đá xe, Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng :) .
    1 like
  50. Bà nói với tôi giọng phẫn uất: -"Thằng ấy chính là chú tôi. Lúc không nhà không cửa tôi cho nó ở nhờ 800 m vuông đất. Nó ở từ năm 76 đến giờ (2000). Bây giờ đòi nó không trả. Tôi bán nhà bán cửa theo kiện, tốn kém cả chục năm trời. Nhưng nó vẫn trơ ra. Tôi còn cái nhà hơn 300 cây sẽ bán nốt. Tôi sẽ theo kiện đến cùng. Không xong tôi ra giữa chợ Bến Thành tẩm xăng tự tử. Tôi cũng ăn chay, làm công quả. Sao tôi khổ thế này!". Nhìn người đàn bà đăng quằn quại trong tâm hồn, tôi không khỏi cám cảnh cho bà ta. Bà ấy chỉ có một mẹ một con. Bản thân bà cũng là con gái duy nhất của một bà mẹ mà bố bà ấy đã bỏ đi từ nhỏ. Tôi ra được quẻ: Kinh Lưu Niên. Tôi giật mình: "Đây chính là quẻ của định mệnh, quẻ của nghiệp chướng phải trả". Tôi hỏi bà: "Bà đã bán đi nhiều nhà lắm hả?". "Dà! Mẹ tôi chết đi để lại cho tôi gần chục căn nhà, tôi đã bán hết theo kiện. Tôi nay chỉ còn một cái đang ở. Tôi sẽ bán nốt theo kiện đến cùng. Tôi tức lắm. Nó ăn không, ăn hỏng của tôi". Kinh Lưu Niên, một sự lừa đảo, chèn ép, bất lương.... Tôi chợt hỏi bà: -"Có phải mẹ của bà ngày xưa sống bằng nghề cho vay nặng lãi không?". -"Sao thầy biết?". -"Quẻ nói vậy! Đây chính là nghiệp chướng của bà! Ngày xưa mẹ bà sau khí ông chồng bỏ đi chỉ còn một cái nhà duy nhất. Còn ít vốn mẹ bà đã sống bằng nghề cho vay nặng lãi. Tài sản mà mẹ bà để lại cho bà chính là do xiết nợ người ta mà có. Cái nhà bà đang ở chính là cái tài sản mẹ bà có trước khi làm nghề này...". -"Đâu! Thày nói sai rồi! Nhà mẹ tôi ngày xưa bán lâu rồi. Đây là cái nhà tôi mua sau này!". -"Bà không hiểu ý tôi. Tôi muốn nói rằng: Nó tương đượng với cái nhà mà mẹ bà chỉ còn một cái trước khi làm nghề này. Nó là giá trị tài sản đích thực của mẹ bà". Bà ta ngồi im lặng. Tôi nói tiếp: -"Bà hãy bình tĩnh nghĩ lại! Những người ngày xưa cũng đã bao lần uất ức vì họ nghèo không trả được nợ khiến gia đình họ phải tan nát. Bây giờ nghiệp quả báo ứng thì bà phải mất đi dưới hình thức khác. Có thể chính do bà ăn chay và làm công quả, nên dun dủi bà đến đây và tôi coi thấy được điều này. Nên tôi khuyên bà đừng theo kiện nữa. Của trời, Trời lại lấy đi. Bà có cái nhà trị giá 300 cây , bà còn sướng hơn nhiều người. Nếu tối nói đúng thì bà hãy rũ bỏ và bình tâm sống với tài sản còn lại . Theo tôi nó mới đích thực của bà. ...". Tôi không nhớ tôi còn nói gì nữa không. Nhưng người đàn bà ấy im lặng ra về. Nhìn người đàn bà thất thểu ra cửa vì tự thấy mình oan trái. Tôi ngậm ngùi nghĩ đến câu của các cụ truyền lại: Ngày xưa quả báo thì lâu. Bây giờ quả báo ở đâu đến liền. Hình như bài ca này có nguyên ủy từ vũ trụ: Các thiên thể quay theo hình xoắn ốc rời khỏi tâm với tốc độ góc ngày càng nhanh. Có thể chính tốc độ vũ trụ ngày càng nhanh cho một thiên thể, nên sự tương tác cũng nhanh theo tốc độ chuyển động trong một chu kỳ của nó.
    1 like