• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Leaderboard


Popular Content

Showing most liked content since 16/09/2018 in all areas

  1. TỔNG QUAN NĂM KỈ HỢI 2019 Kính thưa Quí Vị, Tiếp nối truyền thống của Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương mà khởi xướng là nhà Nghiên Cứu : Nguyễn Vũ Tuấn Anh –Chủ tịch hội đồng khoa học Trung Tâm , nguyên Giám Đốc Trung Tâm, hàng năm cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về đều có những bài dự báo tổng quan cho năm mới dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và nền tảng nguyên lý “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”. Phương pháp dự báo sử dụng của Chúng tôi bao gồm Huyền Không Phi Tinh thuận-nghịch cùng phối hợp quẻ Lạc Việt Độn Toán và đây cũng sẽ luôn là phương pháp xuyên suốt cho tất cả các dự báo của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương . Quẻ Chủ : ĐỖ - VÔ VONG (ngày mùng 1 tháng Giêng năm KỈ HỢI) Quẻ Độn: Cảnh - ĐẠI AN Huyền không lạc việt phi tinh: Bát Bạch nhập trung cung. Thiên Can Kỉ- Thổ và Địa chi Hợi –Thủy tương khắc Lạc thư hoa giáp : Vận khí Bình Địa Mộc Quẻ chủ Đỗ - Vô Vong : Tượng trưng của sự kết thúc mội chuỗi chu kỳ vận động. Dựa trên sơ đồ phân cung của Địa Lý Lạc Việt phối hợp Lượng thiên Xích trên nền tảng Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài 9 – Ly 7, chúng ta xem xét trên từng khu vực - Tả Phù Bát bạch 8 nhập trung: là Lệnh tinh (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Mộc. Vận khí Mộc cực thịnh nên Bát Bạch nhập trung mang lại sự cát lợi cực vượng của sao này. - Sao Hữu Bật Cửu Tử - 9 theo Huyền Không phi tinh là tiến Khí chính Thần – ngũ hành thuộc Kim (khác với HKPT truyền thống thì ngũ hành của Cửu tử 9 thuộc Hỏa) – sao này đáo cung Càn chính là đem lại sự hưng vượng cho phương Tây bắc. - Liêm trinh Nhất bạch 1 đáo cung Ly: là sao tiến khí trong vận 8, ngũ hành Thủy đáo cung Ly tương khắc nên đây là cách cục bất lợi cho phương Nam. - Cự môn Nhị hắc 2 đáo cung Cấn: Là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc âm hỏa đới thổ đáo cung Cấn âm mộc. Đây là cách cục chiêu hung của Nhị hắc tại phương Đông bắc - Lộc tồn Tam Bích 3 đáo cung Đoài: là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc dương mộc đáo cung Đoài dương Kim tương khắc nên hạn chế bất lợi của tam bích tại phương này. - Văn khúc Tứ lục 4 đáo cung Khảm: Là sao tử khí trong vận 8 lại được hỗ trợ từ cung Khảm tương sinh với ngũ hành âm kim của tứ lục nên sao này sẽ phát huy hết tính chất xấu của nó. Tuy nhiên, do Bát bạch nhập trung nên nhờ cát khí của trung cung mà hạn chế phần nào tác hại gây ra từ sao này tại phương Bắc. - Ngũ hoàng 5 đáo cung Khôn-Đông Nam: đây là chủ của Hung sự trong năm tại phương Đông Nam - -Vũ Khúc Lục bạch 6 đáo cung Chấn –Đông: là sao suy khí trong vận 8 lại bị cung Khôn thuộc Hỏa khắc nên đây là tổ hợp chiêu hung. - Phá Quân Thất xích 7 đáo cung Tốn: là sao thoái khí nằm tại cung Tốn thuộc Kim . Do đó giảm bớt tác hại của sao số 7 Từ những hạng mục cát hung của từng phương, tôi xin đưa ra các nhận định tổng quan như sau: 1. Kinh tế Đây là một năm dự báo cho nền kinh tế khó khăn, đặc biệt là Tài Chính Ngân Hàng. Các quyết sách từ các lãnh đạo của các nền kinh tế lớn như trừng phạt kinh tế, các hàng rào thuế quan vv.. sẽ làm cho nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng khó khăn. Các công ty sẽ phải đối mặt với những thách thức về tài chính. Việt nam cũng sẽ bị ảnh hưởng và ngành ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, các công ty đối mặt với lãi suất và chống đỡ với những cơn bão kinh tế từ bên ngoài. BĐS năm nay sẽ chững lại do tác động từ nghành ngân hàng, tuy nhiên sẽ không vỡ như những năm 2012-13 Nửa đầu 2019 Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và nửa sau 2019 sẽ bớt dần nhưng rất chậm. Một số ngân hàng lớn có nguy cơ phá sản, nợ xấu hoặc tranh chấp kiện tụng do bị lừa đảo. Lãi suất tăng tác động ko nhỏ tới nền kinh tế toàn cầu nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng. 2. Xã hội : Bất bình và lộn xộn sẽ xảy ra do kinh tế khó khăn gây ra. Lãnh đạo các nước lớn sẽ phải đối mặt với những thách thức không nhỏ từ những cuộc biểu tình hay bạo loạn tương tự như Pháp năm 2018. Các lãnh đạo tập đoàn lớn, ngân hàng lớn cũng sẽ phải đối mặt với rất nhiều chuyện phiền phức liên quan tới chính sách và pháp luật. 3. Nông nghiệp: Nghành chăn nuôi đặc biệt như Trâu , Bò, Lợn, lại cần hết sức cẩn trọng do bệnh tật. Nông nghiệp thế giới nói chung sẽ mất mùa cục bộ do lũ lụt gây ra ở qui mô cục bộ. Nhưng vùng hay gặp lũ lụt chính là những nơi cần có phương án đối phó với lũ lụt. Một lần nữa phải đề phòng với những khả năng xảy ra với hoa quả xuất khẩu qua biện giới do chính sách thay đổi như đã xảy ra với Thanh Long , Dưa Hấu. Hoa quả được mùa nhưng mất giá cũng là một điểm không thuận lợi cho nông nghiệp. 4. Thiên tai : Lũ lụt xảy ra cục bộ ở một số nơi nhưng thiệt hại rất nặng nề. Các vụ cháy sẽ giảm đi so với năm 2018. Khả năng cao xảy ra sóng thần ở một số nước thường có động đất. 5. Nhân họa , tai nạn: Các vụ rơi máy bay, tai nạn giao thông trên thế giới lại diễn ra, và ít nhất sẽ có một vụ tai nạn khảm khốc làm nhiều người thiệt mạng. Các tranh chấp xã hội với nhà cầm quyền lại xảy ra dẫn tới xô sát làm nhiều người bị thương và thiệt mạng. Việt nam sẽ gặp khó khăn từ ngay tháng 11 của năm Mậu Tuất cho tới giữa nửa đầu năm 2019, tuy không nặng nề nhưng cũng sẽ là những thách thức đáng kể, đặc biệt là nghành tài chính ngân hàng. Trên đây là các cái nhìn tổng quan cho năm Kỷ Hợi 2019 của Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải). Tết đến Xuân sang, xin kính chúc quí vị một năm mới An Khang-Thịnh Vượng và thật nhiều Sức khỏe-Hạnh Phúc. Hà nội tháng 1 năm 2019 Việt lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    12 likes
  2. DỰ BÁO NĂM KỶ HỢI VIỆT LỊCH - 2019 Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Kính thưa quý vị. Bài dự báo của tôi trình bày với quý vị hôm nay, trên cơ sở những phương pháp dự báo nhân danh những giá trị thuộc về nền văn minh Đông phương, có cội nguồn từ nền văn hiến Việt. Phương pháp dự báo đầu tiên, mà tôi giới thiệu dưới đây là Huyền không Lạc Việt. Phương pháp này dựa trên những di sản còn lại của nền văn minh Việt bị Hán hóa một cách sai lệch, sau khi nền văn hiến Việt bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Phương pháp Huyền không Lạc Việt trong dự đoán các sự kiện quốc tế, mà tôi hân hạnh trình bày với quý vị sau đây, khác với những di sản ghi nhận trong cổ thư chữ Hán là sự hoán đổi độ số ở vị trí phương Tây/Đoài với phương Nam/Ly. Và độ số giữa Tây Nam/Tốn 4 với Đông Nam/Khôn 2. Sở dĩ phương pháp dự báo mang tính quốc tế của Huyền không Lạc Việt thực hiện được, cũng xuất phát từ sự phục hồi phương pháp Định tâm trong Địa lý phong thủy,với bất cứ hình thể nào, được thể hiện bằng mặt phẳng quy ước. Do đó, sự phân bố các yếu tố tương tác là các vì sao trong Huyền Không có thể mô tả ở cấp độ toàn cầu. Từ đó là cơ sở cho việc dự báo. Sở dĩ phương pháp dự báo mang tính quốc tế của Huyền không Lạc Việt thực hiện được, cũng xuất phát từ sự phục hồi phương pháp Định tâm trong Địa lý phong thủy, nhân danh nền văn hiến Việt. Trên cơ sở phân bố các sao thuộc Huyền không Lạc Việt, quý vị cũng thấy các sao có tính chất xấu có số 5 - 2, phân bố ở các vùng Đông Bắc, Đông Nam. Và đặc biệt ở ngay trung tâm Địa cầu là sao Bát Bạch với độ số 8. Tính chất xấu của hai sao mang độ số 5 Ngũ Hoàng và 2 Nhị Hắc, còn được gia tăng bởi sao Thái Tuế chiếu trục Phúc Đức là Đông Nam/Tây Bắc. Chưa hết, Hai sơn Cấn Dần là phương vị của Hỷ Thần - tượng trưng cho kinh tế lại bị xung Thái Tuế. Xin quý vị xem hình dưới đây (Hình do Thiên Đồng - Bùi Anh Tuấn thực hiện): Nội dung dự báo năm Kỷ Hợi của tôi trình bày với quý vị, có tham khảo hai bài dự báo của Hoàng Triều Hải và sử dụng bản vẽ về các sơn hướng liên quan của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, là hai thành viên nghiên cứu của TTNC Lý học Đông phương. Phương pháp thứ hai mà chúng tôi ứng dụng trong dự báo này là Lạc Việt độn toán. Đây là một phương pháp dự báo được phục hồi, nhân danh nền văn hiến Việt, bằng cách kết hợp giữa hai phương pháp dự báo còn lưu truyền trong dân gian, là: Nhâm cầm độn toán và Lục nhâm đại độn. Quẻ đầu năm Kỷ Hợi, theo Lạc Việt độn toán, vào giờ Tý. ngày mùng Một tháng Giêng là Đỗ Vô Vong. Đây là một quẻ chủ về sự nghiệp bất thành, Mọi cố gắng vô ích, sự ỷ lại và chậm phát triển. Đặc biệt về kinh tế có nhiều biến động. Cơ sở dự báo: - Phân tích bản đồ Huyền Không Lạc Việt. Trên bản đồ Huyền Không Lạc Việt, chúng tôi dùng cả hai phương pháp phi tinh thuận nghịch. Sao Thái Tuế - theo nghiên cứu của chúng tôi chinh là sao Mộc tinh - được ký hiệu độ số 8 - chiếu phương Càn/Hợi và xung Thái Tuế ở Đông Nam - phương Khôn/Tỵ. Đây là lực tương tác mạnh đến hai phương biểu kiến trong Lý học và mang tính chất thuần Dương/Càn và thuần Âm/Khôn. Cho nên, tính chất biểu kiến của hai quái Càn/Khôn là thượng tầng kiến trúc và các mối quan hệ kinh tế đời sống/ Hạ tầng xã hội sẽ bị xáo trộn mạnh. Đặc biệt phương Đông Nam, còn bị sao Ngũ Hoàng Đô Thiên sát tại vị (Huyền không trong bản văn chữ Hán là: Thất Xích/ Thuận và Bát Bạch/ Nghịch). Bởi vậy, kinh tế thế giới năm tới sẽ suy thoái nặng hơn nhiều so với các năm trước. Vài quốc gia bị khủng khoảng nặng và dẫn đến sụp đổ chính phủ. Ngoài ra còn nhiểu yếu tố khác, chúng tôi sẽ mô tả khi dự đoán những sự kiện liên quan. Trên cơ sở của những phương pháp này, tôi trình bày với quý vị về những dự báo về nhiều mặt cho năm Kỷ Hợi 2019 của thế giới, như sau. Về kinh tế thế giới: Có thể nói: Năm Kỷ Hợi 2019, thế giới sẽ chứng kiến một sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng với một tính chất khác. Nếu coi năm 2008, là năm mở đầu cho một cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới, thì năm Kỷ Hợi 2019 là một cuộc suy thoái tiếp tục, do khủng khoảng của hầu hết những nền kinh tế chủ chốt của thế giới. Những biện pháp ổn định kinh tế mang tính cực đoan sẽ xuất hiện ở nhiều quốc gia. Và những biện pháp này lại là nguyên nhân đẩy sâu hơn sự suy thoái, do tính mất cân đối của nền kinh tế toàn cầu. Nhiều ngành nghề với những Cty lớn phá sản, kéo theo những hệ lụy xã hội. Và điều này bổ xung cho hậu quả thêm nặng nề của cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới lần này. Một sự bổ xung cho bức tranh u ám của nền kinh tế toàn cầu trong năm Kỷ Hợi 2019, còn là những biện pháp nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế quốc gia giữa các siêu cường, khiến cho nền kinh tế toàn cầu thêm phần bi đát. Tính chất suy thoái kinh tế thế giới của năm Kỷ Hợi - 2019 tương đồng về định tính với các năm trước trong các dự báo của tôi. Nhưng năm nay, sự khủng khoảng đặc biệt nghiêm trọng, đối với những quốc gia không có một nền tảng kinh tế vững chắc. Một chính sách đúng đắn nhất của những chính phủ thông minh trong lúc này, là cân đối được tương quan kinh tế trong nội bộ quốc gia. Điều này sẽ tránh được những hệ lụy xã hội, do khủng khoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Còn những mơ ước về sự phát triển, nên để khi khác. - Kinh tế Hoa Kỳ. Nhìn lên bản đồ Huyền Không, chúng ta dễ dàng nhận thấy hai sao Tam Bích đều tọa phương Tây là Hoa Kỳ. Đây là hai sao được coi là có tính chất tốt về sự phát triển. Cho nên có thể nói rằng: Nền kinh tế Hoa Kỳ vẫn phát triển tốt và ổn định. Nhưng nó không còn là một đầu tầu kinh tế để kéo theo nền kinh tế thế giới. Nhưng Tam Bích tọa Tây phương là không chính vị. Do đó, trong năm 2019 - Tức Kỷ Hợi Việt lịch, Hoa Kỳ sẽ có những chính sách gây ảnh hưởng lớn đế thế giới về nhiều phương diện. - Về chính trị xã hội và ngoại giao. Những điểm nóng trên thế giới, do tranh chấp lãnh thổ vẫn tiếp tục tăng nặng, và mối đe dọa xung đột lớn rất có khả năng xảy ra. Có thể nói ngay những tháng đầu năm Kỷ Hợi, cả thể giới sẽ có nhiều sự kiện tạo những bước ngoặt về các vấn đề chính trị xã hội được thay thế bằng sự xung đột và mâu thuẫn xã hội ở nhiều quốc gia. Do sao Thái Tuế chiếu đúng cung Càn, Cửu từ bị sinh xuất. Xung Thái Tuế gặp Ngũ Hoàng và Nhất Bạch bị triệt tại Khôn. Càn là quái thuần Dương, biểu tượng cho Thượng tầng kiến trúc. Năm Kỷ Hợi 2019, là năm sẽ chứng kiến nhiều mâu thuẫn chính trị nội bộ ở nhiều quốc gia. Kể cả những quốc gia được coi là phát triển, như: Anh, Pháp, Đức...Mâu thuẫn và xung đột giữa tinh thần tôn giáo cực đoan, - Quan hệ Hoa Kỳ - Trung quốc. Trên bản đồ Huyền Không Lạc Việt, chúng ta thấy rõ trục Đông Tây chính là trục Tuyệt Mạng và gần như bao trọn hai quốc gia là Mỹ Trung. Năm nay hai sao Tam Bích (Gốc phương Đông) và Cửu Tử (Gốc phương Tây) lại chiếm chỗ của nhau (Theo Huyền Không từ cổ thư chữ Hán thì Phương Tây do hai sao Nhất Bạch/ Số 1 và Ngũ Hoàng/ Số 5 quản. Do đó sự phân tích sẽ khác đi). Từ đó, tính sát phạt của mối quan hệ giữa hai siêu cường này, năm nay sẽ rất quyết liệt trên mọi phương diện. Điều mà tôi gọi là "Đấu trường sinh tử" giữa hai siêu cường này, sẽ đi vào hồi kết của cuộc chiến tranh kinh tế vào cuối năm nay. - Về văn hóa xã hội. Nhìn lên bản đồ Huyền không Lạc Việt, chúng ta thấy hai sao Nhất Bạch / Phi thuận và Ngũ Hoàng/ Phi nghịch cùng tọa phương Nam Ly Hỏa. Cung Ly là biểu tượng của văn hóa, tri thức và sự sáng tạo; sao Nhất bạch/ Số 1 - gốc phương Bắc/ Khảm Thủy. Đây là thế Phúc Đức của Khảm/ Ly phối hợp. Bởi vậy, có thể xác định được rằng: Những giá trị tri thức văn hóa xã hội và khoa học nói chung, được phát triển và được tôn trọng (Theo Huyền không từ cổ thư chữ Hán thì phương Nam có hai sao Tam Bích/ số 3 tọa thủ, sự phân tích sẽ khác đi. Vì tính chất sao thay đổi). Những giá trị tri thức đích thực của nền văn minh Đông phương sẽ được sáng tỏ và bắt đầu được chú ý đặc biệt của giới khoa học quốc tế. Trong năm Kỷ Hợi Việt lịch - 2019, thế giới sẽ chứng kiến nhiều thành tựu về văn hóa, lịch sử, giáo dục và những giá trị nhân văn phát triển. Tuy nhiên. do tổng thể thế giới bị hạn chế bởi những sao xấu tọa thủ ở những phương vị quan trọng và ngay tại phương Nam có sao Ngũ Hoàng tọa, cho nên các vấn đề phát triển văn hóa xã hội cũng chưa thể như mong đợi. - Về tệ nạn xã hội. Tính chất tàn bạo của tội phạm giảm dần và ít nghiêm trọng hơn. Những tệ nạn xã hội, như: lừa đảo, trộm cướp....nếu xét về số lượng thì có giảm, tuy không đáng kể. Nhưng cũng không tăng trong một bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái. Tuy nhiên, những vấn đề nổi bật mà xã hội quan tâm, như: Buôn người, ma túy vẫn không có dấu hiệu suy giảm. - Về nhân họa. A/ Tai nạn: Những tai nạn như: Đắm tàu, rơi máy bay, lật tàu hỏa, đâm xe hơi.... tuy giảm về số lượng, nhưng tăng nặng về mức độ nghiêm trọng, do chết nhiều người. Riêng về tai nạn hàng không, năm Kỷ Hợi, tuy không khủng khiếp bằng cách đây vài năm trước, rớt đến 5 máy bay dân sự. Nhưng những vụ rớt máy bay thương tâm cũng sẽ xảy ra tương tự, nhưng ít hơn về số lượng, nếu so với số lượng 5 vụ so với vài năm trước đây. Cụ thể trong năm nay, sẽ có ít nhất một vụ tai nạn máy bay thương tâm, gây chấn động dư luận thế giới. B/ Khủng bố: Các tổ chức khủng bố ngày càng bị bị thu hẹp về quy mô, dẫn đến tan rã. Nhưng hành động khủng bố vẫn diễn ra với những sự kiện thảm khốc. Từ đó dẫn đến tinh thần ứng phó ngày càng cực đoan hơn của chính phủ các nước liên quan. C/ Chiến tranh: Những điểm nóng trên thế giới bùng phát và thay đổi về đối tượng tham gia. Và đó là tiền đề dẫn tới nguy cơ chiến tranh giữa các siêu cường. Nhưng có thể xác định rằng: Mâu thuẫn dẫn đến bế tắc trong quan hệ kinh tế giữa các siêu cường, dẫn đến những nguy cơ chiến tranh căng thẳng vào cuối năm. D/ Dịch bệnh: Cần đề phòng những bệnh liên quan đến thần kinh và hệ tiêu hóa. Dịch bệnh bùng phát và trở thành vấn nạn ở một số quốc gia. Đặc biệt ở thú 4 chân và người. E/ Vệ sinh an toàn thực phẩm: Có nhiều cố gắng mang tính quyết liệt của chỉnh phủ các nước, khiến cho tệ nạn liên quan bị đẩy lùi một cách rất căn bản nhưng không triệt để. - Về Thiên tai. Đặc biệt sẽ có động đất nhiêm trọng xảy ra, mang tính hủy diệt. Tương tự như trận động đất ở Nepan, hoặc Nhật Bản vào năm 2011, hoặc Indo vào năm 2004 trước đây. Sự kiện sẽ xảy ra vào mùa Xuân ở phương Đông, hoặc mùa Thu ở phương Tây. So với năm Mậu Tuất 2018, hạn hán, bão lũ đều tăng nặng và mang tính hủy hoại lớn về tài sản, người và của. - Về khoa học kỹ thuật. A/ Khoa học kỹ thuật quân sự: Năm tới chỉ là sự hoàn thiện những loại vũ khí, khí tài quân sự tiên tiến đã công bố những năm trước đó. Không có phát minh gì nổi bật. B/ Khoa học kỹ thuật dân sự: Có lẽ đây là điểm sáng của năm Kỷ Hợi 2019. Sẽ có nhiều phát minh mang tính đột phá trong các ngành khoa học kỹ thuật, dân sự. Những bệnh về tim mạch có những phát minh mang tính bước ngoặt. Công nghệ thông tin, điện, điện tử cũng rất phát triển về những phát minh mới. Kết luận. Thưa quý vị. Kỷ Hợi Việt lịch 2019, thế giới không có mấy sáng sủa về nhiều phương diện. Ánh sáng lẻ loi của những thành tựu văn hóa, khoa học kỹ thuật, không làm sảng được bức tranh thế giới mờ mịt vào năm 2019. Nhưng truyền thống của người Việt Nam chúng ta luôn hy vọng và tin tưởng vào một năm mới mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Mặc dù thế giới có sự suy thoái nghiêm trong trên đà tiến hóa của nền văn minh. Nhưng nước Việt với tinh hoa của gần 5000 năm lịch sử, hy vọng vẫn đạt những sự tiến bộ về nhiều mặt trong năm Kỷ Hợi Việt lịch. Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý vị. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp, chúc tất cả quý vị có mặt nơi đây cùng gia đình một năm mới an khang thịnh vượng. Xin cảm ơn. ============================ Thưa quý vị và anh chị em. Đúng ra năm nay, phần do già yếu bệnh tật, tôi cũng định sẽ không tham gia các vấn đề dự báo hàng năm. Và nhường cho các anh chị em thuộc hàng cao thủ trong Địa Lý Lạc Việt là Hoàng Triều Hải, Phạm Hùng và Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, thay tôi tiếp tục thực hiện những lời tiên tri. Trên thực tế Hoàng Triều Hải và Thiên Đồng đã thực hiện một cách rất tự tin và có những dự đoán gần giống của tôi. Tuy nhiên, các đồng nghiệp vẫn tín nhiệm và đề nghị có những dự báo của tôi. Nên tôi đã tiếp tục tham gia với bài dự báo - mà tôi đã trình bày ở trên - tại Hội nghị Tổng kết cuối năm của TTNC Văn hóa cổ Đông phương, vào trước Tết Kỷ Hợi, tại Đồng Kỵ Bắc Ninh (Bài dự báo tiên tri của Hoàng Triều Hải cũng được đọc tại Hội nghị này). Đây là bản dự báo chính thức của tôi trong năm Kỷ Hợi Việt lịch. Xin cảm ơn vì sự chia sẻ và quan tâm của quý vị và anh chị em.
    11 likes
  3. CHỌN NGÀY TỐT Vận khí Bình Địa Mộc - Kỷ Hợi Năm 2019 PHƯƠNG PHÁP: Phương pháp chọn ngày tốt xấu được lưu truyền từ hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc Việt nam là rất đa dạng. Chúng tôi sử dụng phương pháp loại trừ, tức là dùng tất cả các phương pháp chọn ngày giờ theo phong tục cổ truyền để chọn ra một ngày được coi là tốt nhất sau khi loại ra những ngày xấu dựa trên các phương pháp này. Các phương pháp Cổ bao gồm các phương pháp: ü Sinh khắc của Can Chi ü Nhị thập bát tú ü 12 Chỉ Trực ü Hoàng Đạo – Hắc Đạo ü Sát chủ, Thọ tử, Dương Công Kị Nhật, Tam nương, Nguyệt kị, Vãng vong, Thiên Tai-Địa Họa Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Mậu Tuất 2018 và chào đón năm mới Kỷ Hợi 2019. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 ngàn năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được gìn giữ . Phong tục truyền thống bao gồm ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, đón Lành tránh Dữ. Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) đề xuất về các ngày được coi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Toàn bộ ngày giờ dùng trong năm Kỷ Hợi 2019, vận khí (mệnh tuổi) Bình Địa Mộc theo Lạc Thư Hoa Giáp. Tất Niên: Đây là một nghi thức tổng kết và ghi nhận những thành quả sau 365 ngày lao động sản xuất của Gia Đình và Dòng Tộc. Thông thường sẽ diễn ra vào các ngày 29 và 30 tháng Chạp với một nghi lễ Cúng Thần Linh và Gia Tiên. - 21 tháng chạp : 9-11h; 13-15h; 17-19h - 24 tháng chạp: 7-9h; 11-13h - 25 tháng chạp: 9-11h; 17-19h Ngày Xuất hành, Mở hàng: Ngày xuất hành là ngày đi xa để làm việc hay thực hiện việc quan trong chứ không phải là đêm 30 tết hay sáng mùng 1. Tuy nhiên theo phong tục thì ngày mùng 1 tết là ngày xuất hành để chúc tết và tới Chùa cầu An, nên sẽ có khung giờ tốt . Ngày mùng 1 tết năm nay là ngày Tiểu cát nên chúng ta có thể ra khỏi nhà để đi xông đất hoặc Lễ Chùa từ khung giờ 1-3h; 5-7h; Ngày Tốt Khai Trương ,Mở hàng: v Mùng 2* tháng Giêng: 7-9h; 15-17h. v Mùng 4* tháng Giêng: 11-13h. Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Nam Tuổi xông đất: Giáp Dần , Mậu Tí , Bình Dần, Bính Tý, Giáp Thìn, Mậu Tý Hướng Tốt Để Động Thổ: phương vị động thổ cho năm 2019 là tại hướng Nam: 157.5 độ- 202.5 độ . Các Phương xấu 2019 cần tránh: Năm 2019 các Phương xấu bao gồm: Thái Tuế đóng ở sơn Càn – Hợi thuộc Tây Bắc, Xung Thái Tuế tại các sơn Khôn-Tị thuộc Đông Nam, Tuế phá ở sơn Cấn - Dần thuộc Đông Bắc, Tam sát bao gồm các sơn Thân – Dậu –Tuất, Đại sát ở sơn Mão thuộc phương Đông và Nhị hắc và Ngũ Hoàng tại Đông Bắc, Đông Nam. NGÀY GIỜ TỐT NĂM KỶ HỢI 2019 Là những ngày Tốt dùng để Động thổ, khai trương, xuất hành, cưới hỏi và những việc quan trọng. Tuy nhiên danh mục dưới đây là những ngày dùng chung trong mọi việc nên có những ngày không nằm trong danh mục dưới đây vẫn có những ngày tốt khác dụng cho những công việc cụ thể. Do vậy, quí vị nên tham khảo thêm với chúng tôi cho những công việc và mục đích cụ thể. Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau với những ngày có đánh dấu (*) là ngày Hoàng Đạo 1. Tháng Giêng: v Mùng 2* tháng Giêng:giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 15 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h; 9-11h; 13-15h. v Ngày 25 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h, 9-11h; 17-19h v Ngày 29* tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 15-17h 2. Tháng Hai : v Mùng 8 tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;17-19h v Mùng 9 tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 17-19h; 19-21h v Ngày 20 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 17-19h. v Ngày 29* tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 15-17h. 3. Tháng Ba : v Mùng 4* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 19-21h v Mùng 10* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; v Ngày 16* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 13-15h v Ngày 19* tháng ba: giờ tốt; 3-5h;7-9h ;11-13h; 13-15h v Ngày 28* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 19-21h v Ngày 29* tháng ba: giờ tốt;11-13h;13-15h; 19-21h 4. Tháng Tư: v Mùng 6* tháng Tư : giờ tốt; 9-11h ;13-15h, 15-17h. v Ngày 17 tháng Tư : giờ tốt: 11-13h; 15-17h v Ngày 24 tháng Tư : giờ tốt 5-7h;17-19. v Ngày 29* tháng Tư : giờ tốt 3-5h; 13-15h; 19-21h 5. Tháng Năm : v Mùng 1* tháng Năm : giờ tốt; 5-7h; 9-11h. v Mùng 4* tháng Năm : giờ tốt 3-5h; 7-9h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 12* tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 7-9h; 19-21h. v Ngày 16 tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 19* tháng Năm : giờ tốt 5-7h ;9-11h; 15-17h; 21-23h. v Ngày 25 tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 9-11h. v Ngày 28 tháng Năm : giờ tốt 3-5h;7-9h; 15-17h; 19-21h. 6. Tháng Sáu: v Mùng 1* tháng Sáu: giờ tốt; 7-9h; 19-21h. v Mùng 2 tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 15-17h; 21-23h. v Mùng 8* tháng Sáu : giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 15* tháng Sáu: giờ tốt 11-13h; 15-17h. v Ngày 20* tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 13-15h; 15-17h. v Ngày 26* tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 29* tháng Sáu: giờ tốt 15-17h; 19-21h. 7. Tháng Bảy : v Mùng 10 tháng Bảy : giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. v Ngày 11* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 15-17h. v Ngày 17* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 9-11h. v Ngày 19* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 9-11h; 17-19h. 8. Tháng Tám : v Mùng 8 tháng Tám : giờ tốt 5-7h; 11-13h; 19-21h. v Ngày 16 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h. v Ngày 19 tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 24 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h. v Ngày 25 tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 19-21h. 9. Tháng Chín : v Mùng 1 tháng Chín : giờ tốt 13-15h; 17-19h. v Mùng 6* tháng Chín : giờ tốt 9-11h; 17-19h. v Mùng 10* tháng Chín : giờ tốt 7-9h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 28 tháng Chín: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. 10. Tháng Mười : v Mùng 2* tháng Mười : giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h. v Mùng 8 * tháng Mười : giờ tốt 13-15h; 17-19h; 21-23h. v Mùng 9 tháng Mười: giờ tốt 11-13h: 15-17h; 19-21h. v Ngày 15 tháng Mười : giờ tốt 11-13h: 19-21h. v Ngày 16 *tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 17-19h. v Ngày 21 tháng Mười : giờ tốt 11-13h. v Ngày 28* tháng Mười : giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h. 11. Tháng Một (11): v Mùng 4 * tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h. v Mùng 6 tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. v Mùng 10 tháng Một (11): giờ tốt 11-13h; 15-17h. v Ngày 11* tháng Một (11): giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 26 tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 28* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h. v Ngày 30* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. 12. Tháng Chạp (12): v Mùng 2 tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 15-17h. v Mùng 6 tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h; 21-23h. v Ngày 11 tháng Chạp (12): giờ tốt 7- 9h: 15-17h. v Ngày 12* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 13-15h; 21-23h. v Ngày 15* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 24* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h. v Ngày 26* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 17-19h; 21-23h. v Ngày 30* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 17-19h; 21-23h. CHÚC MỪNG NĂM MỚI, CHÚC QUÍ VỊ MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG Hà nội tháng 12 năm Mậu Tuất Việt Lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    8 likes
  4. NGÔN NGỮ VIỆT TRONG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH Và TƯƠNG KHẮC Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất vũ trụ, mô tả lịch sử từ hình thành từ giây /O/ của vũ trụ đến mọi quy luật vận động tương tác của mọi dạng tồn tại của vật chất cho đến ngày hôm nay, với khả năng tiên tri. Nó mô tả sự tồn tại của các hạt vật chất nhỏ nhất đến sự vận động của các Thiên hà khổng lồ. giải thích mọi vấn đề và sự kiện, liên quan đến cuộc sống, xã hội và con người với tính qui luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Cho tới ngày nay, chúng ta vẫn ứng dụng và chấp nhận những sự mặc định, tồn tại từ hàng ngàn năm và đa số cho rằng học thuyết đồ sộ này thuộc về nền văn minh Hoa hạ. Tuy nhiên, định nghĩa về Ngũ Hành sinh khắc từ cổ thư chữ Hán còn lưu truyền lại tới nay đều định hướng cho một suy luận sai lệch về Ngũ Hành SINH-KHẮC và một hệ lý thuyết rời rạc, chắp vá dẫn tới tranh cãi không có hồi kết. Trong toàn bộ sách Lý Học, Thuật số thì chúng ta chỉ một định nghĩa hết sức ngắn gọn như sau: Trích: “Ngũ hành chỉ 5 loại vật chất gồm: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ luôn vận động chuyển hóa “Ngũ” trong ngũ hành chỉ 5 loại vật chất cơ bản hoặc nguyên tố cơ bản cấu thành nên thế giới. Kim loại, nước, cây,lửa, và đất. “Hành là chỉ mối liên hệ với nhau trong vận động chuyển hóa của 5 loại vật chất đó” Đây là đoạn trích dẫn từ cuốn “Táng Thư” một trong tứ khố toàn thư do Quách Phác đời Tấn trứ tác, được dịch ra Việt ngữ hiện đang được lưu hành trên các giá sách. Trong cuốn "Tam mệnh thông hội", một cuốn sách trong bộ tứ khố toàn thư đồ sộ, được dịch ra Việt ngữ thì chúng ta có được nhiều thông tin giải thích về Thái Cực, Âm Dương và Ngũ Hành. Tuy nhiên, đúc kết phần Ngũ Hành Sinh khắc chúng ta cũng có được định nghĩa như hình ảnh dưới đây Đây là hai đại diện tiêu biểu cho định nghĩa về Ngũ Hành Sinh Khắc mà tất cả những người đam mê thuật số đều thuộc lòng. Tới đây chúng ta dễ dàng nhận thấy, Ngũ hành theo cổ thư Hán đều được định danh là 5 loại vật chất và từ đó, từ ghép “TƯƠNG SINH –TƯƠNG KHẮC” 五行相生相克 Có được định nghĩa về từ. Tôi có tham khảo một số bạn giỏi tiếng Trung về mặt ngôn ngữ thuần túy thì có được các thông tin sau: Theo bạn có nick face book là Sơn Nguyễn Sơn thì : [ “五行相生相克 từ này trong các sách về thuật số TQ thường đều có ạ. Từ điển không phải tất cả các từ đều có đâu ạ”]. Bạn Ruan Minh: ["Nếu là từ theo tên của ai đó là TƯƠNG SINH thì CHỈ có cách là chọn từng từ để lấy ý nghĩa phù hợp . Ngoài ra nếu TƯƠNG SINH theo hai từ đi liền nhau thì hầu như là từ ghép, mà thường lấy từ tương sinh trong cụm từ :TƯƠNG SINH TƯƠNG KHẮC thì là hai chữ "相生"]. Theo bạn có nịck Facebooj Hai Anh Vu: ["Theo từ điển của họ thì tương sinh chỉ sử dụng trong ngũ hành còn ngoài ra thì không dùng vào hoàn cảnh khác ạ"]. Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Lãn Miên thì không có từ TƯƠNG SINH -TƯƠNG KHẮC trong ngôn ngữ Trung Hoa mà đây là từ ghép của hai từ TƯƠNG và SINH hoặc TƯƠNG VÀ KHẮC. Vậy nên cho dù có thêm chữ TƯƠNG đằng trước từ SINH và KHẮC thì vẫn chỉ hiểu là SINH và KHẮC bởi từ TƯƠNG ko có ý nghĩa khi ghép với từ SINH và KHẮC. Chúng ta sẽ tham khảo ý nghĩa các từ TƯƠNG, SINH và KHẮC theo từ điển Hán –Hán Nôm I/ TƯƠNG Chữ "Tương" trong chữ " tương sinh hay tương khắc như hình ảnh dưới đây. Chữ này bên trái là chữ mộc (là cây hay là 1 trong 5 ngũ hành,...) Bên phải là chữ mục ( là con mắt hay là nhìn,..). Chữ tương này còn có thể đọc là tướng cũng được, chữ này có thể dùng làm phó từ (hỗ tương: 互相 qua lại), danh từ (tể tướng 宰相), hay động từ (tướng du 相攸 kén nơi đáng lấy làm chồng). Vậy là chúng ta có thể thấy, từ TƯƠNG trong tiếng Trung hoàn toàn là từ có tính chất phụ, tức là được thêm vào bởi nó có thể là TƯỚNG trong Tướng quân, hay Tướng trong từ Tể tướng. Trong ngôn ngữ Việt thì Tương là Tương mà Tướng là Tướng, nên từ ghép Tương Sinh có ý nghĩa cụ thể. Còn từ Tương theo ý nghĩa này khi ghép với Sinh vẫn sẽ có ý nghĩa là SINH mà thôi. Các chữ Tương khác trong tự điển: A/ Chữ 驤 tương 骧 xiāng Bộ 187 馬 mã [17, 27] U+9A64 (Danh) Ngựa có chân sau bên phải màu trắng. (Động) Chạy nhanh, nhảy lên. (Động) Ngẩng lên. B/ Chữ 葙 tương xiāng Bộ 140 艸 thảo [9, 13] U+8459 (Danh) Thanh tương 青葙 tục gọi là dã kê quan 野雞冠 hoa mồng gà. C/ Chữ 螿 tương 螀 jiāng Bộ 142 虫 trùng [11, 17] U+87BF (Danh) Hàn tương 寒螿 một loài côn trùng giống như ve sầu nhưng nhỏ hơn D. Chữ 襄 tương xiāng Bộ 145 衣 y [11, 17] U+8944 (Động) Giúp đỡ, phụ tá. ◇Đoạn Ngọc Tài 段玉裁: "Tương: Kim nhân dụng tương vi phụ tá chi nghĩa, danh nghĩa vị thường hữu thử". 襄: 今人用襄為輔佐之義, 名義未嘗有此 (Thuyết văn giải tự chú 說文解字注, Y bộ 衣部). Như: tương trợ 襄助 giúp đỡ, tương lí 襄理 giúp làm. (Động) Bình định. Chương Bỉnh Lân 章炳麟: Xuất xa nhi Hiểm Duẫn tương, Nhung y nhi Quan, Lạc định 出車而玁狁襄, 戎衣而關洛定 (Ngụy Vũ Đế tụng 魏武帝頌). (Động) Hoàn thành, thành tựu. Như: tương sự 襄事 nên việc, xong việc. Tả truyện 左傳: "Táng Định Công. Vũ, bất khắc tương sự, lễ". dã 葬定公. 雨, 不克襄事, 禮也 (Định Công thập ngũ niên 定公十五年). (Động) Tràn lên, tràn ngập. Lịch Đạo Nguyên 酈道元: Ba tương tứ lục, tế ngư bôn bính, tùy thủy đăng ngạn, bất khả thắng kế波襄四陸, 細魚奔迸, 隨水登岸, 不可勝計 (Thủy kinh chú 水經注, Lỗi thủy 耒水). (Động) Trở đi trở lại, dời chuyển. Thi Kinh 詩經: Kì bỉ Chức Nữ, Chung nhật thất tương 跂彼織女, 終日七襄 (Tiểu nhã 小雅, Đại đông 大東) Chòm sao Chức Nữ ba góc, Suốt ngày dời chuyển bảy giờ. (Động) Dệt vải. Hàn Dũ 韓愈: "Đằng thân khóa hãn mạn, Bất trước Chức Nữ tương 騰身跨汗漫, 不著織女襄" (Điệu Trương Tịch 調張籍). (Động) Trừ khử, trừ bỏ. Thi Kinh 詩經: Tường hữu tì, Bất khả tương dã 牆有茨, 不可襄也 (Dung phong 鄘風, Tường hữu tì 牆有茨) Tường có cỏ gai, Không thể trừ khử được. (Danh) Ngựa kéo xe. § Thông tương 驤. Như: thượng tương 上襄 ngựa rất tốt. ◇Thi Kinh 詩經: Lưỡng phục thượng tương, Lưỡng sam nhạn hàng 兩服上襄, 兩驂雁行 (Trịnh phong 鄭風, Thái Thúc ư điền 大叔於田) Hai ngựa thắng hai bên phía trong là thứ ngựa rất tốt, Hai ngựa thắng hai bên phía ngoài như hàng chim nhạn. (Danh) Một phương pháp gieo hạt thời xưa. (Danh) Họ Tương. E/ Chữ 醬 tương酱 jiàng Bộ 164 酉 dậu [11, 18] U+91AC (Danh) Thịt băm nát. § Cũng như hải 醢. (Danh) Thức ăn nghiền nát. Như: quả tương 果醬 món trái cây xay nhuyễn, hoa sanh tương 花生醬 đậu phụng nghiền. (Danh) Món ăn dùng các thứ đậu, ngô, gạo, ngâm ủ nấu gạn, cho muối vào nghiền nát. ◎Như: thố tương 酢醬 tương chua giấm, điềm miến tương 甜麵醬 tương ngọt. (Tính) Đã ướp, ngâm, tẩm (với dầu, muối). Như: tương qua 醬瓜 dưa ướp, tương thái 醬菜 món (rau) ngâm. (Động) Ngâm, ướp, tẩm (thức ăn). G/Chữ 鑲 tương, nhương镶 xiāng, ráng Bộ 167 金 kim [17, 25] U+9472 (Động) Vá, nạm, trám. Như: tương nha 鑲牙 trám răng. Tam quốc diễn nghĩa 三國演義: Bàng khuyết nhất giác, dĩ hoàng kim tương chi 傍缺一角, 以黃金鑲之 (Đệ lục hồi) Bên cạnh (viên ấn ngọc) sứt một góc, lấy vàng trám lại. (Danh) Một loại binh khí thời xưa, giống như kiếm. Một âm là nhương. (Danh) Bộ phận làm mô hình ở trong khuôn đúc đồ đồng, đồ sắt. H/Chữ 緗 tương 缃 xiāng Bộ 120 糸 mịch [9, 15] U+7DD7 (Danh) Lụa vàng nhạt. § Ngày xưa hay dùng để đựng sách hay bao sách, nên gọi sách vở quý báu là phiếu tương 縹緗 hay kiêm tương 縑緗. Quan Hán Khanh 關漢卿: "Độc tận phiếu tương vạn quyển thư" 讀盡縹緗萬卷書 (Đậu nga oan 竇娥冤) Đọc hết sách quý cả vạn cuốn. (Tính) Vàng nhạt. ◇Nhạc phủ thi tập 樂府詩集: Tương khỉ vi hạ quần, Tử khỉ vi thượng nhu 緗綺為下裙, 紫綺為上襦 (Mạch thượng tang 陌上桑) Lụa vàng nhạt làm váy, Lụa tía làm áo ngắn. i/Chữ 纕 tương xiāng, ráng Bộ 120 糸 mịch [17, 23] U+7E95 (Động) Mang, đeo. ◇Khuất Nguyên 屈原: Kí thế dư dĩ huệ tương hề, hựu thân chi dĩ lãm chỉ 既替余以蕙纕兮, 又申之以攬芷 (Li tao 離騷) Bị phế bỏ rồi, ta lấy cỏ bội lan đeo hề, lại còn hái cỏ chỉ. K/ Chữ 漿 tương 浆 jiāng, jiàng Bộ 85 水 thủy [11, 15] U+6F3F (Danh) Chỉ chung chất lỏng sền sệt. ◎Như: đậu tương 豆漿 sữa đậu nành, nê tương 泥漿 bùn loãng. ◇Đỗ Phủ 杜甫: Khu nhi la tửu tương 驅兒羅酒漿 (Tặng Vệ Bát xử sĩ 贈衛八處士) Xua con đi bày rượu và thức uống. (Danh) Hồ (để dán). ◎Như: tương hồ 漿糊 hồ để dán. (Động) Hồ, dùng nước pha bột để hồ quần áo. ◎Như: tương y phục 漿衣服 hồ quần áo, tương tẩy 漿洗 giặt và hồ. ◇Thủy hử truyện 水滸傳: Đãn hữu y phục, tiện nã lai gia lí tương tẩy phùng bổ 但有衣服, 便拿來家裏漿洗縫補 (Đệ thập hồi) Hễ có quần áo, xin cứ đem lại nhà này giặt giũ khâu vá. L/ Chữ 瓖 tươngxiāng Bộ 96 玉 ngọc [17, 21] U+74D6 (Danh) Ngọc trang sức trên dây đái ngựa. (Động) Nạm, trám. § Cũng như tương 鑲. M/ Chữ 箱 tương, sương xiāng Bộ 118 竹 trúc [9, 15] U+7BB1 (Danh) Hòm xe, toa xe. ◎Như: xa tương 車箱 chỗ trong xe để chở người hoặc đồ vật. (Danh) Hòm, rương. ◎Như: bì tương 皮箱 hòm da (valise bằng da), phong tương 風箱 bễ quạt lò, tín tương 信箱 hộp thư. (Danh) Kho chứa. ◎Như: thiên thương vạn tương 千倉萬箱 ngàn vựa muôn kho, ý nói thóc nhiều lắm. (Danh) Chái nhà. § Thông sương 廂. (Danh) Lượng từ: thùng, hòm, hộp. ◎Như: lưỡng tương y phục 兩箱衣服 hai rương quần áo, tam tương thủy quả 三箱水果 ba thùng trái cây. § Ghi chú: Ta quen đọc là sương. N/ Chữ 湘 tương, sương xiāng Bộ 85 水 thủy [9, 12] U+6E58 (Danh) Sông Tương. § Ta quen đọc là sương. O/ Chữ 相 tương, tướng xiāng, xiàng Bộ 109 目 mục [4, 9] U+76F8 (Phó) Lẫn nhau (bên này và bên kia qua lại, cùng có ảnh hưởng). ◎Như: hỗ tương 互相 qua lại, tương thị nhi tiếu 相視而笑 nhìn nhau mà cười. ◇Thôi Hộ 崔護: Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng 去年今日此門中, 人面桃花相映紅 (Đề đô thành nam trang 題都城南莊) Năm ngoái vào ngày hôm nay, ở trong cửa này, Mặt nàng cùng với hoa đào phản chiếu nhau thắm một màu hồng. (Phó) Với nhau (kết quả so sánh hai bên). ◎Như: tương dị 相異 khác nhau, tương tượng 相像 giống nhau, tương đắc ích chương相得益彰 thích hợp nhau thì càng rực rỡ, kì cổ tương đương 旗鼓相當 cờ trống ngang nhau (tám lạng nửa cân). (Phó) Cho nhau (qua lại nhưng chỉ có tác động một bên). § Ghi chú: Phó từ biến nghĩa thành đại danh từ: tôi, anh, ông ta, v.v. (tùy theo văn mạch). ◎Như: hà bất tảo tương ngữ? 何不早相語 sao không sớm cho tôi hay? ◇Sưu thần hậu kí 搜神後記: Nãi ngữ lộ nhân vân: Dĩ cẩu tương dữ 乃語路人云: 以狗相與 (Quyển cửu) Bèn nói với người đi đường: Cho anh con chó này. ◇Hậu Hán Thư 後漢書: Mục cư gia sổ niên, tại triều chư công đa hữu tương thôi tiến giả 穆居家數年, 在朝諸公多有相推薦者 (Chu Nhạc Hà liệt truyện 朱樂何列傳) (Chu) Mục ở nhà mấy năm, tại triều đình có nhiều người tiến cử ông ta. (Danh) Chất, bản chất. ◇Thi Kinh 詩經: Kim ngọc kì tương 金玉其相 (Đại nhã 大雅, Vực bốc 棫樸) Chất như vàng ngọc. Một âm là tướng. (Danh) Dung mạo, hình dạng. ◎Như: phúc tướng 福相 tướng có phúc, thông minh tướng 聰明相 dáng dấp thông minh. ◇Tây du kí 西遊記: (Tôn Hành Giả) hiện liễu bổn tướng (孫行者)現了本相 (Đệ tam thập ngũ hồi) (Tôn Hành Giả) hiện ra hình dạng thật của mình. (Danh) Chức quan tướng cầm đầu cả trăm quan. ◎Như: tể tướng 宰相, thừa tướng 丞相, tướng quốc 相國. (Danh) Tên chức quan có từ đời Hán, tương đương chức thái thú một quận. (Danh) Người giúp lễ. § Ngày xưa tiếp khách, cử một người giúp lễ gọi là tướng. (Danh) Người dẫn dắt kẻ mù lòa. ◇Tuân Tử 荀子: Nhân chủ vô hiền, như cổ vô tướng 人主無賢, 如瞽無相 (Thành tướng 成相) Bậc làm chúa không có người hiền tài (giúp đỡ), thì cũng như kẻ mù lòa không người dẫn dắt. (Danh) Tên một nhạc khí thời xưa, giống như trống, đánh lên để giữ nhịp chung. (Danh) Tiếng hát giã gạo. ◇Lễ Kí 禮記: Lân hữu tang, thung bất tướng 鄰有喪, 舂不相 (Khúc lễ thượng 曲禮上). (Danh) Chỉ vợ. (Danh) Hình chụp. ◇Lỗ Tấn 魯迅: Giá trương tướng chiếu đích ngận hảo 這張相照的很好 (Trí mẫu thân 致母親). (Danh) Trên cột tay đàn tì bà có bốn hoặc sáu khối làm bằng ngà voi, sừng trâu, gỗ hồng... dùng để xác định âm vị. (Danh) Tên riêng chỉ tháng bảy âm lịch. (Danh) Sao Tướng. (Danh) (Thuật ngữ Phật giáo) Chỉ hình trạng bên ngoài sự vật. (Danh) Họ Tướng. (Động) Xem, coi, thẩm xét. ◇Tả truyện 左傳: Lượng lực nhi hành chi, tướng thì nhi động 量力而行之, 相時而動 (Ẩn Công thập nhất niên 隱公十一年) Lượng sức và xem thời cơ mà hành động. (Động) Xem để đoán lành xấu phúc họa. ◇Sử Kí 史記: Tướng quân chi diện, bất quá phong hầu, hựu nguy bất an 相君之面, 不過封侯, 又危不安 (Hoài Âm Hầu liệt truyện 淮陰侯列傳) Coi tướng diện ngài, thì chỉ phong hầu là cùng, mà lại bấp bênh chứ không yên vững. (Động) Giúp đỡ, phụ trợ. ◎Như: tướng phu giáo tử 相夫教子 giúp chồng dạy con. ◇Phù sanh lục kí 浮生六記: Tuyệt xứ phùng sanh, diệc khả vị cát nhân thiên tướng hĩ 絕處逢生, 亦可謂吉人天相矣 (Khảm kha kí sầu 坎坷記愁) Chỗ đường cùng gặp lối thoát, cũng có thể bảo rằng trời giúp người lành vậy. (Động) Cho làm tướng. (Động) Kén chọn. ◎Như: tướng du 相攸 kén nơi đáng lấy làm chồng. ◇Tam quốc diễn nghĩa 三國演義: Lương cầm tướng mộc nhi tê, hiền thần trạch chủ nhi sự 良禽相木而棲, 賢臣擇主而事 (Đệ lục thập ngũ hồi) Chim khôn lựa cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ. (Động) Cai quản, cầm đầu, cai trị. ◇Liễu Tông Nguyên 柳宗元: Thị túc vi tá thiên tử, tướng thiên hạ pháp hĩ 是足為佐天子, 相天下法矣, 物莫近乎此也 (Tử Nhân truyện 梓人傳) Là đủ để phò vua, cai quản phép tắc của thiên hạ vậy. 1. [隱相] ẩn tướng 2. [倒履相迎] đảo lí tương nghênh 3. [同惡相濟] đồng ác tương tế 4. [同惡相助] đồng ác tương trợ 5. [同病相憐] đồng bệnh tương liên 6. [白衣卿相] bạch y khanh tướng 7. [蚌鷸相持] bạng duật tương trì 8. [寶相] bảo tướng 9. [不相得] bất tương đắc10. [不相干] bất tương can 11. [不相能] bất tương năng 12. [布衣卿相] bố y khanh tướng 13. [卜相] bốc tướng 14. [拜相] bái tướng 15. [皮相] bì tướng 16. [骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 17. [骨相] cốt tướng 18. [窮相] cùng tướng 19. [針芥相投] châm giới tương đầu 20. [真相] chân tướng 21. [照相] chiếu tướng 22. [宮相] cung tướng 23. [名相] danh tướng 24. [面面相窺] diện diện tương khuy 25. [互相] hỗ tương 26. [旗鼓相當] kì cổ tương đương 27. [內相] nội tướng 28. [相對] tương đối 29. [相腳頭] tương cước đầu 30. [相配] tương phối 31. [相關] tương quan 32. [首相] thủ tướng 33. [丞相] thừa tướng O/Chữ 將 tương, tướng, thương将 jiāng, jiàng, qiāng Bộ 41 寸 thốn [8, 11] U+5C07 (Phó) Sẽ, có thể. ◇Luận Ngữ 論語: Quý Thị tương phạt Chuyên Du 季氏將伐顓臾 (Quý thị 季氏) Họ Quý có thể sẽ đánh nước Chuyên Du. (Phó) Sắp, sắp sửa. ◎Như: tương yếu 將要 sắp sửa. ◇Luận Ngữ 論語: Điểu chi tương tử, kì minh dã ai; nhân chi tương tử, kì ngôn dã thiện 鳥之將死, 其鳴也哀; 人之將死, 其言也善 (Thái Bá 泰伯) Con chim sắp chết, tiếng kêu bi ai; người ta sắp chết, lời nói tốt lành. (Phó) Gần (số lượng). ◇Mạnh Tử 孟子: Tương ngũ thập lí dã 將五十里也 (Đằng Văn Công thượng 滕文公上) Gần năm mươi dặm. (Phó) Vừa, vừa mới. ◎Như: tương khốc tựu tiếu 將哭就笑 vừa mới khóc đã cười, tha tương tiến môn một nhất hội nhi 他將進門沒一會兒 anh ta vừa mới vào cửa không bao lâu. (Động) Tiến bộ, tiến lên. ◇Thi Kinh 詩經: Nhật tựu nguyệt tương 日就月將 (Chu tụng 周頌, Kính chi 敬之) (Mong) ngày tháng được thành công, tiến bộ. (Động) Cầm, giữ, đem. ◎Như: tương tửu lai 將酒來 đem rượu lại. (Động) Giúp đỡ, phù trợ. ◇Thi Kinh 詩經: Lạc chỉ quân tử, Phúc lí tương chi 樂只君子, 福履將之 (Chu nam 周南, Cù mộc 樛木) Vui thay bậc quân tử (bà Hậu Phi), Phúc lộc sẽ giúp đỡ bà. (Động) Nghỉ, nghỉ ngơi. ◎Như: tương dưỡng 將養 an dưỡng, nghỉ ngơi. ◇Lí Thanh Chiếu 李清照: Sạ noãn hoàn hàn thì hậu, tối nan tương tức 乍暖還寒時候, 最難將息 (Tầm tầm mịch mịch từ 尋尋覓覓詞) Thời tiết chợt ấm rồi lại lạnh, thật khó mà nghỉ ngơi được. (Động) Tiễn đưa. ◇Thi Kinh 詩經: Chi tử vu quy, Bách lượng tương chi 之子于歸, 百兩將之 (Triệu nam 召南, Thước sào 鵲巢) Cô ấy về nhà chồng, Trăm cỗ xe đưa tiễn. (Động) Làm, tiến hành. ◎Như: thận trọng tương sự 慎重將事 cẩn thận làm việc. (Động) Chiếu tướng (đánh cờ tướng). ◎Như: ngã giá nhất bộ trừu xa, hạ nhất bộ tựu yếu tương liễu 我這一步抽車, 下一步就要將了 tôi một bước rút con xe, hạ xuống một bước thế là chiếu tướng! (Động) Nói khích. ◎Như: thoại tương tha 話將他 nói khích anh ta. (Giới) Lại, đi. § Dùng như bả 把. ◎Như: tương hoa sáp hảo 將花插好 cắm hoa vào, tương môn quan hảo 將門關好 đóng cửa lại. (Giới) Lấy, đem. § Dùng như dĩ 以. ◎Như: tương công chiết tội 將功折罪 lấy công bù tội. ◇Chiến quốc sách 戰國策: Tô Tần thủy tương liên hoành thuyết Tần Huệ Vương 蘇秦始將連橫說秦惠王 (Tần sách nhất) Tô Tần mới đầu đem (chủ trương) liên hoành thuyết phục Tần Huệ Vương. (Liên) Với, và. ◇Dữu Tín 庾信: Mi tương liễu nhi tranh lục, Diện cộng đào nhi cạnh hồng 眉將柳而爭綠, 面共桃而競紅 (Xuân phú 春賦) Mi với liễu tranh xanh, Mặt cùng đào đua hồng. (Liên) Vừa, lại. ◎Như: tương tín tương nghi 將信將疑 vừa tin vừa ngờ (nửa tin nửa ngờ). (Trợ) Đặt sau động từ, dùng chung với tiến lai 進來, khởi lai 起來, tiến khứ 進去: nào, đi, lên. ◎Như: đả tương khởi lai 打將起來 đánh đi nào, khốc tương khởi lai 哭將起來 khóc lên đi. Một âm là tướng. (Danh) Người giữ chức cao trong quân. ◎Như: đại tướng 大將, danh tướng 名將, dũng tướng 勇將. (Động) Chỉ huy, cầm đầu. ◎Như: Hàn Tín tướng binh, đa đa ích thiện 韓信將兵, 多多益善 Hàn Tín chỉ huy quân, càng đông càng tốt. Một âm là thương. (Động) Xin, mời, thỉnh cầu. ◇Thi Kinh 詩經: Thương tử vô nộ 將子無怒 (Vệ phong 衛風, Manh 氓) Mong anh đừng giận dữ. 1. [陰將] âm tướng 2. [大將] đại tướng 3. [敗將] bại tướng 4. [部將] bộ tướng 5. [主將] chủ tướng 6. [諸將] chư tướng 7. [戰將] chiến tướng 8. [名將] danh tướng 9. [勇將] dũng tướng 10. [卿將] khanh tướng 11. [健將] kiện tướng 12. [儒將] nho tướng 13. [裨將] tì tướng14. [將領] tướng lĩnh 15. [將將] tướng tướng, thương thương 16. [將來] tương lai 17. [上將] thượng tướng 18. [中將] trung tướng P/Chữ 蔣 tương, tưởng蒋 jiǎng, jiāng Bộ 140 艸 thảo [11, 15] U+8523 (Danh) Tên cây, tức giao bạch 茭白. Một âm là tưởng. (Danh) Nước Tưởng, thời Xuân Thu. Nay thuộc Hà Nam. (Danh) Họ Tưởng. Các từ ghép bao gồm 24. [倒履相迎] đảo lí tương nghênh 25. [同惡相濟] đồng ác tương tế 26. [同惡相助] đồng ác tương trợ 27. [同病相憐] đồng bệnh tương liên 28. [蚌鷸相持] bạng duật tương trì 29. [不相得] bất tương đắc 30. [不相干] bất tương can31. [不相能] bất tương năng 32. [骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 33. [針芥相投] châm giới tương đầu 34. [面面相窺] diện diện tương khuy 35. [互相] hỗ tương 36. [旗鼓相當] kì cổ tương đương 37. [相對] tương đối 38. [湘潭] tương đàm 39. [相腳頭] tương cước đầu 40. [將來] tương lai 41. [相配] tương phối 42. [相關] tương quan Trong toàn bộ liệt kê các từ TƯƠNG, chúng ta hoàn toàn không tìm ra được một từ TƯƠNG mang ý nghĩa của TƯƠNG SINH. II/ SINH – SANH Chúng ta chỉ xét 1 từ SINH CHỮ 生 sanh, sinh shēng Bộ 100 生 sinh [0, 5] U+751F (Động) Ra đời, nẩy nở, lớn lên. ◇Thi Kinh 詩經: Ngô đồng sanh hĩ, Vu bỉ triêu dương ˙梧桐生矣, 于彼朝陽 (Đại nhã 大雅, Quyển a 卷阿) Cây ngô đồng mọc lên, Ở bên phía đông trái núi kia. (Động) Đẻ ra, nuôi sống. ◎Như: sanh tử 生子 đẻ con. ◇Bạch Cư Dị 白居易: Toại lệnh thiên hạ phụ mẫu tâm, Bất trọng sanh nam trọng sanh nữ 遂令天下父母心, 不重生男重生女 (Trường hận ca 長恨歌) Làm cho lòng các bậc cha mẹ trong thiên hạ, (Không coi trọng) không ham đẻ con trai nữa, mà coi trọng sự sinh con gái. (Động) Làm ra, gây ra, sản xuất. ◎Như: sanh bệnh 生病 phát bệnh, sanh sự 生事 gây thêm chuyện, sanh lợi 生利 sinh lời. (Động) Sống còn. ◎Như: sanh tồn 生存 sống còn, sinh hoạt 生活 sinh sống. (Động) Chế tạo, sáng chế. ◎Như: sanh xuất tân hoa dạng 生出新花樣 chế tạo ra được một dạng hoa mới. (Danh) Sự sống, đời sống. ◇Luận Ngữ 論語: Tử sanh hữu mệnh, phú quý tại thiên 死生有命, 富貴在天 (Nhan Uyên 顏淵) (Sự) sống chết có số, phú quý do trời. (Danh) Lượng từ: đời, kiếp. ◎Như: tam sanh nhân duyên 三生姻緣 nhân duyên ba đời, nhất sanh nhất thế 一生一世 suốt một đời. (Danh) Mạng sống. ◎Như: sát sinh 殺生 giết mạng sống, táng sinh 喪生 mất mạng. (Danh) Chỉ chung vật có sống. ◎Như: chúng sanh 眾生, quần sanh 群生. (Danh) Nghề để kiếm sống, việc làm để kiếm sống. ◎Như: mưu sanh 謀生 nghề kiếm sống, vô dĩ vi sanh 無以為生 không có gì làm sinh kế. (Danh) Người có học, học giả. ◎Như: nho sanh 儒生 học giả. (Danh) Học trò, người đi học. ◎Như: môn sanh 門生 đệ tử, học sanh 學生 học trò. (Danh) Vai trong trong hí kịch. ◎Như: tiểu sanh 小生 vai kép, lão sanh 老生 vai ông già, vũ sanh 武生 vai võ. (Danh) Họ Sinh. (Tính) Còn sống, chưa chín (nói về trái cây). ◎Như: sanh qua 生瓜 dưa xanh. ◇Thủy hử truyện 水滸傳: Hữu sanh thục ngưu nhục, phì nga, nộn kê 有生熟牛肉, 肥鵝, 嫩雞 (Đệ thập nhất hồi) Có thịt bò chín và tái, ngỗng béo, gà non. (Tính) Còn sống, chưa nấu chín (nói về thức ăn). ◎Như: sanh nhục 生肉 thịt sống, sanh thủy 生水 nước lã. (Tính) Lạ, không quen. ◎Như: sanh nhân 生人 người lạ, sanh diện 生面 mặt lạ, mặt không quen, sanh tự 生字 chữ mới (chưa học). (Tính) Chưa rành, thiếu kinh nghiệm. ◎Như: sanh thủ 生手 người làm việc còn thiếu kinh nghiệm. (Tính) Chưa luyện. ◎Như: sanh thiết 生鐵 sắt chưa tôi luyện. (Phó) Rất, lắm. ◎Như: sanh phạ 生怕 rất sợ, sanh khủng 生恐 kinh sợ. (Trợ) Tiếng đệm câu. ◇Truyền đăng lục 傳燈錄: Hoàng Bách vấn vân: Nhữ hồi thái tốc sanh? Sư vân: Chỉ vi lão bà tâm thiết黃蘗問云: 汝迴太速生? 師云: 只為老婆心切 (Trấn Châu Lâm Tế Nghĩa Huyền thiền sư 鎮州臨濟義玄禪師) Hoàng Bá hỏi: Sao lại về nhanh thế? Sư trả lời: Vì thầy có lòng thương xót như bà nội. § Ghi chú: Ta quen đọc là sinh. 1. [蔭生] ấm sinh, ấm sanh 2. [誕生] đản sinh, đản sanh 3. [塗炭生民] đồ thán sinh dân 4. [同生共死] đồng sanh cộng tử 5. [白面書生] bạch diện thư sanh 6. [稟生] bẩm sanh, bẩm sinh 7. [本生] bổn sinh 8. [捕生] bộ sinh 9. [百花生日] bách hoa sinh nhật 10. [半生半熟] bán sinh bán thục 11. [平生] bình sinh, bình sanh 12. [貢生] cống sanh, cống sinh 13. [救生] cứu sinh 14. [九死一生] cửu tử nhất sinh 15. [個人衛生] cá nhân vệ sinh 16. [更生] cánh sinh 17. [公共衛生] công cộng vệ sinh 18. [怎生] chẩm sanh 19. [眾生] chúng sanh, chúng sinh 20. [諸生] chư sanh, chư sinh 21. [佾生] dật sinh 22. [養生] dưỡng sanh 23. [好生] hảo sinh, hiếu sinh 24. [學生] học sinh 25. [回生] hồi sanh 26. [化生] hóa sanh, hóa sinh 27. [寄生] kí sanh 28. [今生] kim sanh, kim sinh 29. [來生] lai sanh, lai sinh 30. [廩生] lẫm sanh31. [老蚌生珠] lão bạng sinh châu 32. [陌生] mạch sanh 33. [一生] nhất sanh, nhất sinh 34. [人生朝露] nhân sanh triêu lộ 35. [人生觀] nhân sinh quan 36. [人生] nhân sinh, nhân sanh 37. [儒生] nho sanh 38. [生育] sanh dục 39. [生計] sanh kế 40. [生氣] sanh khí, sinh khí41. [生靈] sanh linh 42. [生產] sanh sản, sinh sản 43. [生肖] sanh tiếu 44. [畜生] súc sinh 45. [初生] sơ sanh 46. [生意] sinh ý 47. [生機] sinh cơ 48. [生活] sinh hoạt, sanh hoạt 49. [生薑] sinh khương 50. [生理] sinh lí 51. [生涯] sinh nhai, sanh nhai 52. [哉生明] tai sinh minh 53. [哉生魄] tai sinh phách 54. [三生] tam sanh, tam sinh 55. [畢生] tất sinh, tất sanh 56. [四生] tứ sinh, tứ sanh 57. [再生] tái sanh58. [喪生] táng sinh 59. [鯫生] tưu sanh 60. [蒼生] thương sinh 61. [先生] tiên sanh, tiên sinh 62. [全生] toàn sinh, toàn sanh 63. [衛生] vệ sanh, vệ sinh 64. [往生] vãng sanh 65. [無國界醫生組織] vô quốc giới y sinh tổ chức 66. [無生] vô sinh 67. [出生] xuất sanh, xuất sinh III/ KHẮC Chúng ta chỉ xét 1 từ KHẮC CHỮ 克 khắc 剋 kè (Động) Đảm đương, gách vác. ◇Lưu Vũ Tích 劉禹錫: Thường cụ bất khắc phụ hà, dĩ thiểm tiền nhân 常懼不克負荷, 以忝前人(Vị Đỗ tư đồ tạ tứ truy tặng biểu 為杜司徒謝賜追贈表) Thường lo sợ không đảm đương gánh vác nổi, làm nhục tiền nhân. (Động) Được, chiến thắng. ◎Như: khắc địch 克敵 chiến thắng quân địch. (Động) Kiềm chế, ước thúc. ◎Như: khắc phục 克復 ước thúc, làm chủ được. ◇Luận Ngữ 論語: Khắc kỉ phục lễ vi nhân 克己復禮為仁 (Nhan Uyên 顏淵) Kiềm chế được chính mình (tư dục) mà trở về lễ (đạo li) là đạt được đức Nhân. (Động) Hạn định, ước định, hẹn. ◎Như: khắc kì động công 克期動工 hẹn định thời kì khởi công. (Động) Khấu trừ. ◇Thủy hử truyện 水滸傳: Quả nhân ngự tứ chi tửu, nhất bình khắc giảm bán bình 寡人御賜之酒, 一瓶克減半瓶 (Đệ bát thập tam hồi) Rượu vua ban cho quả nhân, một bình khấu trừ nửa bình. (Động) Tiêu hóa. ◎Như: đa cật thủy quả năng khắc thực 多吃水果能克食 uống nhiều nước quả thật giúp cho tiêu hóa. (Danh) Lượng từ: gam (tiếng Anh "gram"). ◎Như: nhất khắc đẳng ư thiên phân chi nhất công cân 一克等於千分之一公斤 một gam bằng một phần ngàn kí-lô. (Phó) Có thể. ◎Như: bất khắc phân thân 不克分身 không thể sẻ thân ra được. 1. [不克] bất khắc 2. [克己] khắc kỉ 3. [克己主義] khắc kỉ chủ nghĩa 4. [克服] khắc phục 5. [坦克車] thản khắc xa 6. [捷克] tiệp khắc 7. [巧克力] xảo khắc lực 8. [伊拉克] y lạp khắc Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy, từ ghép Tương Sinh và Tương Khắc không có trong ngôn ngữ Trung Hoa mà họ chỉ giải nghĩa hai từ ghép này thông qua thuật ngữ Ngũ Hành thuật số tức là trong ngôn ngữ thì họ lấy hiện tượng để giải nghĩa cho từ . Tuy nhiên đối với Ngôn Ngữ Việt thì lại hoàn toàn khác, Ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt ý nghĩa và từ ghép Tương Sinh, Tương Khắc trong tiếng Việt lại không phải là SINH ra hay KHẮC chế theo như nghĩa Hán-Việt. Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Lãn Miên, từ Tương Sinh trong tiếng Việt biểu đạt giống như hai cực nam châm khác dấu hút nhau. Tức là cùng hỗ trợ -bù đắp lẫn cho nhau, bổ trợ và thu hút nhau. Sinh khắc thì ngược lại, giống như hai cực nam châm cùng dấu, là cản trở , giảm bớt nhau, không hỗ trợ cho nhau. Xin trích phần bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Thiên Sứ/ Nguyễn Vũ Diệu) về khái niệm ngũ hành: Trích dẫn: ["NGÔN NGỮ VIỆT VÀ BẢN CHẤT KHÁI NIỆM NGŨ HÀNH. 1/ Hành Kim: Khi tiếng Việt nói KIM để mô tả một hành trong Ngũ hành thì phân biệt rất rõ với từ "kim LOẠI". Khái niệm "Kim loại" trong tiếng Việt, đồng nghĩa với khái niệm kim loại trong ngôn ngữ hiện đại. Nhưng khái niệm "KIM" mà ngôn ngữ Việt mô tả hành "KIM' trong Ngũ hành thì hoàn toàn khác hẳn khái niệm "Kim loại'. Từ KIM trong tiếng Việt, không có nghĩa là "Đồng" trong tiếng Hán, và sau đó chỉ có nghĩa là "vàng" (Như chính bài "phản đối" của Trùng Dương Mai viết ở trên và ngay trong bài viết này). Từ KIM trong tiếng Việt cũng không đồng nghĩa với "kim loại". Nhưng nó đồng nghĩa với cây KIM, cái KIM, trong "se chỉ, luồn KIM"; "kim chỉ", Và hình tương "cây kim", "cái kim" trong ngôn ngữ Việt, chính là một HÌNH TƯỢNG mô tả khái niệm về thuộc tính của hành KIM trong Ngũ hành của tiếng Việt, mà chính những cổ thư chữ Hán đã nói tới, là: "Kim": "Nhọn sắc, cứng, mạnh". Rõ ràng, từ KIM - đồng nghĩa với "KIM, chỉ" trong tiếng Việt, mô tả một thuộc tính của một dạng vật chất có khả năng phân loại những cấu trúc và cả sự vận đông của những cấu trúc vật chất có cùng thuộc tính. Chứ không phải mô tả một sự một cấu trúc vật chất cụ thể như trong tiếng Hán, là: Đồng, vàng. 2/ Hành Thủy. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng THỦY, để mô tả hành Thủy trong Ngũ hành, không đồng nghĩa với "nước". Ngược lại, trong tiếng Hán thì 水 > shuǐ (Suẩy) là một từ chung về cả ký tự đều mô tả là "nước". Trong tiếng Việt, từ "THỦY" và "nước" phát âm hoàn toàn khác nhau, ký tự cũng hoàn toàn khác. Cho nên, trong tiếng Việt, khí nói đến "THỦY KHÍ" thì nội hàm khái niệm không thể tương tự là "Khí của nước". Nhưng trong tiếng Hán và ký tự Hán thì chỉ có thể hiểu theo một nghĩa duy nhất là "khí của nước". Ví dụ, cổ thư chữ Hán viết trong "Hồng Phạm cứu trù": Trù thứ nhất, gồm: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim. Thổ. 1.五行,即:水、火、木、金、土. Rõ ràng trong tiếng Hán chỉ có một từ duy nhất, ký tự 水, mà họ đọc là "Suẩy", có nghĩa là "NƯỚC" trong tiếng Việt. Còn tiếng Việt khí mô tả hành THỦY trong Ngũ hành, đọc là "THỦY", và "NƯỚC" hoàn toàn phân biệt khác nhau. Thí dụ, tiếng Hán viết: 引 水 入 田 . Âm Việt Nho đọc: "Dẫn thủy nhập điền". Tiếng Việt với khái niệm tương tự là "Đưa nước vào ruộng". Tương tự như vậy, nếu dịch ra những ngôn ngữ khác phi Hán - kể cả tiếng Việt - thì tất cả các ngôn ngữ phi Hán, đều hiểu - qua tiếng Hán, khi mô tả Ngũ hành - thì ký tự 水, đọc là "Suẩy" có nghĩa là "nước". Hay nói một cách khác: Tiếng Hán, khi mô tả ngũ hành thì ký tự 水, đồng nghĩa với khái niệm "nước" trong tiếng Việt và các ngôn ngữ liên quan. Và đó là từ mô tả một dạng vật chất có cấu trúc cụ thể là "nước", Khoa học hiện đại mô tả cấu trúc vật chất cụ thể là H2O. Nhưng trong tiếng Việt không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt: "THỦY" là "Nước" được. Vì trong tiếng Việt THỦY & NƯỚC, phát âm và chữ viết khác nhau - và mặc dù, nếu dịch ra tiếng Hán thì chung một ký tự 水. Vì trong tiếng Việt, "NƯỚC" chỉ là hình tượng mô tả "THỦY". Cũng như: Nói "Mẫu Thoải" (Thủy) trong tiếng Việt, không thể hiểu là "mẹ của nước", hoặc "Mẹ nước". Mà trong ngôn ngự Việt khi nói "Mẫu Thoải (Thủy)" , cần hiểu rằng nguồn gốc của Thủy. Tôi đã phân tích hình tượng "Tam tòa thánh Mẫu" trong tín ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam, liên quan đến Kinh Dịch Lạc Việt và thuyết Ngũ hành. Trong đó: Mẫu Thượng Thiên áo trắng (Thuộc Kim. Đoài/ Tốn), Mẫu Đệ nhất Áo Đỏ (Quái Khôn). Và Mẫu Thoải (Thủy) áo Xanh biển (Xanh Dương, xanh da trời), trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" (Nxb Tri Thức . 2014). 3/ Hành Mộc. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng MỘC, phát âm và ký tự khác hẳn "gỗ" , "cây", "cỏ". Còn trong tiếng Hán thì chỉ có ký tự 木, tương đương và đồng nghĩa với khái niệm "cây" trong tiếng Việt. Thí dụ: 草木 . Từ Việt Nho là "Thảo MỘC", nghĩa là "CÂY cỏ". Tóm lại, ký tự cây trong tiếng Hán 木 đọc là Mủ, tức là một cấu trúc vật chất cụ thể, có nghĩa tương đương tiếng Việt - và các ngôn ngữ khác - là 'CÂY'. Tiếng Việt Nho là đọc và ký tự trong tiếng Việt là MỘC, để mô tả hành MỘC trong Ngũ Hành, còn để chỉ "thợ MỘC" và không thể nhầm lẫn với "thợ cây", hoặc trong tiếng Việt khi nói "Việc THỔ MỘC" thì hiểu rằng: đó là việc liên quan đến xây, cất nhà cửa. Không ai hiểu là việc của "cây, đất" cả. Vì trong tiếng Việt, đây là những ngôn từ với ký tự khác nhau. 4/ Hành Hỏa. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng HỎA, phát âm và ký tự khác hẳn "lửa". Trong tiếng Hán, từ "lửa" (Hỏa) chỉ dùng một ký tự 火, Trong tiếng Việt, âm Việt Nho là "HỎA", và khác hẳn về âm và ký tự với "LỬA". Tức là tiếng Hán với ký tự 火 đọc là "hủa", chỉ để mô tả một trạng thái vật chất cụ thể tồn tại. Từ 火 trong tiếng Hán dù dịch ra ngôn ngữ nào, cũng tương đương khái niệm Việt là "LỬA" và không phải là khái niệm HỎA trong tiếng Việt khi mô tả một hành trong Ngũ Hành. 5/ Hành Thổ. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng THỔ, phát âm và ký tự khác hẳn "Đất". Ngược lại, trong tiêng Hán, để mô tả khái niệm tương đương khái niệm "Đất" trong tiếng Việt, chỉ có một ký tự 土, đọc là "Thủ". Thí dụ: "Đất nước" trong ký tự tiếng Hán, là 國土; hoặc như các từ sau: “niêm thổ” 黏土 đất thó, đất sét, “sa thổ” 沙土 đất cát, “nê thổ” 泥土 đất bùn. Tóm lại, trong tiếng Hán, ký tự THỔ dùng trong Ngũ hành và mô tả khái niệm tương đương "Đất" trong tiếng Việt - và các ngôn ngữ khác - là như nhau. Nhưng trong tiếng Việt, ký tự THỔ dùng trong Ngũ hành và các ứng dụng trong ngôn ngữ Việt khác như: "THỔ trạch" "Liền Thổ" và khái niệm "Đất" và "sát ĐẤT" khác hẳn nhau. Qua sự mô tả ở trên, thi thấy rất rõ ràng, rằng: Các ký tự Hán mô tả Ngũ hành: 金; 木; 水; 火;土 Được hiểu tương tự khái niệm: "VÀNG, CÂY, NƯỚC, LỬA, ĐẤT" trong tiếng Viêt và các ngôn ngữ khác. Tức là nó mô tả các trạng thái cấu trúc vật chất rất cụ thể tồn tại trên Địa Cầu. Khác hẳn cách phát âm và ký tự của ngôn ngữ Việt mô tả ngũ hành: KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ. Mặc dù từ Việt Nho - Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ này, đều có ký tự tương đương trong tiếng Hán. Nhưng trong tiếng Việt thì nghĩa của chúng khác hẳn ký tự tương đương trong tiếng Hán. Trong tiếng Việt, các từ KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ một tả năm trạng thái và THUỘC TÍNH VẬN ĐỘNG VÀ TƯƠNG TÁC CỦA DẠNG CẤU TRÚC VẬT CHẤT CƠ BẢN, CÓ THỂ PHÂN LOẠI TRONG KHÔNG - THỜI GIAN. Do đó, với các nhà nghiên cứu ở các dân tộc phi Hán - kể cả Việt Nam - nếu mặc định thuyết Âm Dương Ngũ hành của người Hán và hiểu theo cách hiểu của người Hán thì sẽ dẫn tới nhầm lẫn khái niệm về bản chất thật của khái niệm Ngũ hành. Bởi vì, bản chất khái niệm KIM, MỘC THỦY HỎA THỔ theo tiếng Việt là khái niệm hệ quả của tư duy tổng hợp trừu tượng, nhận thức 5 trạng thái THUỘC TÍNH cấu trúc vật chất có tính phân loại, cho tất cả mọi hiện tượng vận đông và tương tác của toàn thể cấu trúc vật chất trong vũ trụ, và trong không/ thời gian. Còn trong tiếng Hán không thể hiện được điều này. Và tiếng Hán, tự nó xác định sự xuất hiện của "VÀNG, CÂY, NƯỚC, LỬA, ĐẤT" - là định tính cấu trúc vật chất cụ thể, đã có trong những giai đoạn đầu tiên của vũ trụ?!? Bởi vậy, nếu các từ KIM, MỘC THỦY HỎA THỔ mô tả NGŨ HÀNH trong tiếng Việt - thì khi dịch ra tiếng nước ngoài thì buộc phải để nguyên văn và diễn giải, chú thích. Chứ không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt : "Kim là vàng, là đồng", Thủy là nước....được. Vì chính tiếng Việt đã có từ tương đương: "KIM > "Cô gái se chỉ, luồn Kim";" "THỦY> Thủy quân bơi dưới nước"; "MỘC> Thợ MỘC, đốn cây, lấy gỗ"; ""HỎA> Hỏa đầu quân dùng súng phun lửa, để đốt..."; "THỔ> Sổ Địa bạ ghi THỔ trạch, có diện tích ĐẤT'....vv...và...vv...Những thí dụ trên cho thấy: Không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt những từ trên. Và tiếng Hán với ký tự Hán sẽ rất buồn cười. Vì xác định khái niệm Ngũ hành và quán xét từ nền văn hiến Việt với sự xác định : Nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông Phương, nên tôi mới xác định ngũ hành là 5 yếu tố phân loại THUỐC TÍNH VẬN ĐỘNG &TƯƠNG TÁC CỦA VẬT CHẤT TRONG KHÔNG THỜI GIAN. Chính điều này, đã dẫn tôi đến sự xác định rằng: Hệ thống Nghịch lý toán học hiện đại Cantor hoàn toàn chính xác. Ngũ hành phân loại cả thời gian, chính bởi yếu tố phân loại các thuộc tính vận động, tương tác của vật chất trong không thời gian đó"]. HẾT trích dẫn Chúng ta có thể nhận thấy rằng, Ngũ Hành KHÔNG phải là định danh của 5 loại vật chất mà đây là 5 hệ thuộc tính vận động và tương tác. Để giải thích vì sao KIM lại sinh THỦY, không thể lý giải nếu như chúng ta qui ước KIM và THỦY là hai loại vật chất. Bởi Thủy vật chất là Nước thì không thể được sinh ra từ KIM là kim loại. Chúng ta cũng không thể dùng hệ bát quái tức là lấy quái Càn là Kim, là Trời để lý giải TRỜI sinh ra Mưa , là nước vì Nếu vậy thì quái Càn cũng là Trời, là Cha, là Con ngựa già,… Vậy Con ngựa già hay người Cha thì cũng SINH được ra Mưa – là sinh Thủy – Nước ???? Hệ thống bát quái không thể dùng để mô tả trạng thái NGũ Hành bởi Ngũ Hành là bản nguyên trong khi đó Bát quái là hệ thống phân loại chi tiết vạn vật. Nếu coi Mộc là vật chất tức là Gỗ, Cây thì nếu theo định nghĩa về TƯƠNG SINH của cổ thư Hán , chúng ta không thể lý giải được vì sao Thủy –Nước lại SINH ra được cây Gỗ ? Với định nghĩa về Ngũ Hành Sinh Khắc của cổ thư Hán, như trong cuốn Tam mệnh thông hội thì SINH là Sinh theo nghĩa 生 sanh, sinh (shēng) thì không có cách nào lại lý giải được từ SINH lại là “Có thủy ẩm ướt thì cây cối càng sinh trưởng tươi tốt” , hay Kim sinh thủy: “ Kim ở nhiệt độ cao nóng chảy thành thể lỏng, hoặc thủy cần nhờ cậy vào đồ vật bằng sắt mới khơi đường lưu thông” ??? vậy thì Thủy là NƯỚC sinh ra từ đâu khi kim nung chảy lại chỉ biến thành thể lỏng ? Với Ngũ Hành Tương Sinh- Tương Khắc từ định nghĩa của người Việt thì “Âm dương tương Giao, thiên nhất sinh thủy” , Nước được sinh ra từ sự giao hòa của trời đất, khi mà khí ÂM lên cao (Âm thăng) giao hòa với khí Dương của trời (Dương giáng) tạo ra Nước : hoàn toàn mô tả được quá trình sinh ra Nước trong tự nhiên. Cũng như vậy đối với hệ Nạp Âm cho Lạc thư hoa giáp (theo cổ thư Hán là Lục thập hoa giáp), thì với định nghĩa ngũ hành là 5 yếu tố vật chất sẽ không thể giải thích được các hành nạp âm, ví dụ như “Hải Trung Kim”: Kim này hoàn toàn không có trong phân loại vật chất hiện hữu, không thể tìm và nhìn thấy được Kim loại dưới biển để sinh ra Nước -theo định nghĩa của từ Tương Sinh trong cổ thư Hán. Như vậy từ Tương SINH và Tương Khắc thể hiện rõ ý nghĩa của hiện tượng và hoàn toàn không phải là Sinh ra , và Khắc chế. Trong Ngôn ngữ Việt thì từ ghép Tương Sinh Tương Khắc mô tả sự tương tác qua lại của các yếu tố trong cùng một môi trường tương tác (Từ tương tác cũng không có ý nghĩa trong ngôn ngữ Trung quốc) . Qua đây chúng ta có thể nhận thấy Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc về nền Văn minh Lạc Việt với bề dầy gần 5000 năm lịch sử, đã bị đánh tráo nguồn gốc nên tiếp thu một cách rời rạc và không thể lý giải ngay cả từ ngôn ngữ dùng để định nghĩa cho một sự tương tác. Ngôn ngữ Việt của chúng ta phức tạp và vô cùng phong phú, đa dạng nên hoàn toàn phù hợp để giải thích mọi ý nghĩa, định nghĩa và quan hệ qua lại một cách khoa học và logic về Lý học Đông Phương- Lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà chủ nhân đích thực là nền Văn Minh Lạc Việt 5000 năm lịch sử.
    7 likes
  5. PHẦN 4: NGŨ HÀNH Trục chính của Tử Cấm Thành chạy dọc theo trục Thần Đạo từ Bắc xuống nam chia toàn bộ Cố cung thành hai phần Đông và Tây.Đi vào từ Ngọ môn, sẽ thấy một con sông (Kim Thủy) được bắc qua bởi năm cây cầu, dẫn đến Thái Hòa môn, đằng sau là một quảng trường lớn. Phía cuối quảng trường là bậc thang làm bằng đá cẩm thạch trắng, dẫn vào Tam Đại điện (三大殿) là Thái Hòa điện (太和殿), Trung Hòa điện (中和殿) và Bảo Hòa điện (保和殿).[4]. Thái Hòa điện ban đầu có tên là Phụng Thiên điện (奉天殿) là điện lớn nhất, cao 30 m so với quảng trường xung quanh, là nơi diễn ra các nghi thức và lễ tế quan trọng. Trung Hòa Điện ban đầu có tên là Hoa Cái điện (华盖殿) nhỏ hơn, là nơi Hoàng đế chuẩn bị và nghỉ ngơi trong các buổi lễ. Phía sau là Bảo Hòa điện ban đầu có tên là Cẩn Thân điện (谨身殿), để tập dượt chuẩn bị cho các nghi lễ, và cũng là nơi tổ chức vòng thi cuối cùng của kỳ thi khoa cử. Cả ba điện đều có ngai vàng, và cái lớn nhất được đặt ở Thái Hòa điện.Đông và Tây của khu vực Tiền triều là Võ Anh điện (武英殿) (H) và Văn Hoa điện (文華殿) (J). Theo các phân tích của người Trung quốc thì do Vua ưu tiên quan Văn hơn quan Võ nên đặt hệ thống các quan Võ bên Phải và quan Văn bên Trái. Tuy nhiên, theo qui ước Âm Dương của người Việt thì Sở dĩ Văn được xếp bên Đông thuộc Dương và Võ được xếp bên Tây thuộc Âm bởi đây là phân loại Âm Dương : Tư tưởng, ý thức, suy nghĩ và định hướng, chính sách có trước hành động nên thuộc Dương. Võ bị là hành động, là thực hiện có sau ý thức nên thuộc Âm. đó là tới Hậu Cung là nơi ở của Hoàng đế và Hoàng thất.Hậu cung được phân cách với Tiền triều bởi một sân thuôn dài,. Ở triều Thanh, Hoàng đế ở và làm việc chủ yếu ở Hậu cung, còn Tiền triều chỉ được sử dụng cho các lễ nghi quan trọng. Tổ hợp ba cung Thái Trung Bảo ở chính giữa Tử Cấm Thành tạo ra quẻ Càn ở chính tâm, sau Ở trung tâm của Hậu cung là ba cung lớn (Hậu tam cung 后三宫): Càn Thanh cung (乾清宮), Giao Thái điện (交泰殿) và Khôn Ninh cung (坤宁宫). Hoàng đế, biểu thị cho Dương và Trời, ở Càn Thanh cung. Hoàng hậu, biểu thị cho Âm và Đất, ở Khôn Ninh cung. Giao Thái điện ở giữa hai cung, tượng trưng cho sự giao hòa Âm - Dương. Về lý thuyết thì đây là cách bố trí rất hợp do “tổ Rồng” là Giao thái điện, là nơi Vua và Hoàng Hậu gặp nhau nhằm sinh ra Hoàng Tử nối ngôi. Phía trước là Càn cung và sau là Khôn cung. Nếu chúng ta đứng từ cổng Chính nhìn vào, chúng ta sẽ có quẻ BĨ (Thiên Địa Bĩ) và nếu chúng ta đứng từ phía trong hậu cung nhìn ra sẽ có quẻ THÁI (Địa Thiên Thái). Có lẽ đây là lời “xui dại” của ông KTS trưởng Nguyễn An bởi tính logic hợp lý về bố cục tức là Càn ở trước nhưng xét theo Dịch phong thủy thì cách cục hợp phải là Địa Thiên Thái tức là Khôn trước rồi tới Càn theo trục nạp Khí. Chính vì bố cục này là BĨ ở hậu cung nên Hoàng Hậu rất khó sinh Hoàng Tử, các Triều đại Vua tại đây đều loạn ở Hậu cung, đấu đá tranh giành và thường sinh biến do đảo chính cướp ngôi. Lịch sử đã chứng minh cuộc sống vô cùng khắc nghiệt trong hậu cung của 24 đời Vua trị vì tại đây. Vua cũng thường ít sủng ái Hoàng Hậu và thường nối ngôi từ nghành thứ, tức là các Con của Phi tần hay cung nữ. Thậm trí, Từ Hi từ một cung nữ ở đây trở thành Hoàng Đế của Trung Hoa với sự ăn chơi và tàn bạo khét tiếng trong lịch sử Trung Quốc Đây là cách cục khi đánh giá từ ngoài thì bên trong vô cùng yên bình và thịnh trị, nhưng bên trong thì rất lục đục, bế tắc cho dù tới thời Ung Chính thì Hoàng hậu có thể chọn các cung trong 12 cung ở Đông và Tây cung của cung Càn Thanh gọi là Đông lục và Tây lục. Trích một đoạn bài viết giới thiệu Phong thủy Tử Cấm Thành +++ NGŨ HÀNH Thuyết ngũ hành là một trong những học thuyết quan trọng của Trung Quốc thời cổ đại, gồm kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Khắp Tử Cấm Thành, du khách có thể tìm thấy những chi tiết đặc trưng của các hành này. “Thổ” xuất hiện ở điện trước và sau (được xây trên hai nền lớn tạo thành chữ thổ trong tiếng Trung). Ngoài ra, màu tượng trưng cho đất là màu vàng - màu cao quý nhất. Do đó, mái của các công trình ở khu điện trước và sau trong Tử Cấm Thành được lợp ngói vàng - thể hiện tầm quan trọng của chúng, đồng thời đánh dấu đây là trung tâm của cả nước. Yếu tố “hỏa” nằm ở phía Nam, với cổng Ngọ Môn có hình năm con phượng hoàng. Cột trên năm cây cầu đá ngoài cổng được tạc họa tiết lửa. Phía bắc là “thủy” kết hợp với truyền thuyết về Huyền Vũ (rùa đen). Cổng Huyền Vũ (sau này được đổi thành Thần Vũ) tượng trưng cho vị thần nước, nắm giữ sự sống và cái chết, cùng khả năng xua tà ma. Do đó, các phòng phía Đông và phía Tây của điện Tần An đều có ngói màu đen. “Kim” là yếu tố ở phía Tây. Theo phong thủy, kim sinh hỏa, nên dòng sông chảy quanh cung điện bắt đầu từ phía Bắc (chính vì thế mà có tên sông Kim Thủy). Cuối cùng, “mộc” nằm ở phía Đông, thể hiện sự sinh trưởng và thay đổi của vạn vật. Phía đông rất giàu năng lượng, nơi lý tưởng để làm chỗ ở cho các hoàng tử. Màu của hành mộc là xanh lục, do đó các khu nhà ở của hoàng tử đều lợp ngói xanh - thể hiện mong mỏi các hoàng tử luôn mạnh khỏe và có tiềm năng không giới hạn. +++ Xét về mặt hình khí của các công trình bên trong Tử Cấm Thành, mái nhà là gạch lưu li màu vàng kết hợp với màu đỏ của gỗ và phần xây dựng. Theo nguyên tắc ngũ hành của người Việt thì mái tượng hỏa màu đỏ thuộc Dương bên trên và nhà hình thổ màu vàng thuộc Âm bên dưới. Mái thuộc Dương tương Sinh cho Thổ thuộc âm bên dưới. Tuy nhiên theo cách xây dựng của Tử Cấm Thành thì Mái hình hỏa tượng Thổ và nhà hình Thổ tượng Hỏa cho dù là tương Sinh nhưng là Âm sinh Dương , đi nghịch qui luật. Hơn nữa, việc mái Vàng hình hỏa lại làm cho Hỏa càng thêm vượng. Trên các mái nhà đều có hình tượng rồng,giống như Si vẫn của ngừoi Việt nhưng hoàn toàn không phải là Si vẫn chống cháy. Rồng trên mái các công trình Tử Cấm Thành Si vẫn trên mái của các công trình cổ của người Việt Chính vì lẽ đó, trong lịch sử của Tử Cấm Thành có rất nhiều vụ cháy lớn xảy ra như Diên Hi cung nằm gần Thương Chấn Môn - cửa ra vào Tử Cấm Thành dành cho cung nữ, thái giám và hạ nhân nên khá ồn ào và phức tạp. Nơi này từng nhiều lần xảy ra hỏa hoạn: năm Đạo Quang thứ 12 (1832), cháy lớn ở phòng bếp phía nam đông điện, năm Đạo Quang thứ 25 (1845), Diên Hi cung xảy ra 1 trận đại hỏa hoạn, thiêu hủy toàn bộ chính điện, hậu điện cùng với đông tây phối điện, tổng cộng 25 gian, cháy gần đến cửa cung. Sau khi trùng tu, đến năm Hàm Phong thứ 5 lại xảy ra hỏa hoạn. Năm Đồng Trị thứ 11 (1872), từng có đề nghị phục kiến Diên Hi cung nhưng chưa thực hiện được. Cho dù Tử Cấm Thành là hiện thân của công trình khoác lên mình tấm áo Phong thủy của người Trung Hoa, nhưng về bản chất cốt lõi thì hoàn toàn mang đậm dấu ấn của người Việt và sự tài tình của Ông Nguyễn An thiết kế đưa những yếu tố mang tính chất mầm gây họa vào công trình này. Sẽ có Người nói rằng, nếu Phong thủy xấu thế sao Tử Cấm Thành lại còn nguyên vẹn trong khi Kinh đô Huế có Phong thủy tốt hơn theo bài viết này, lại bị phá hủy và Hoàng Thành Thăng Long thì hoàn toàn biến mất. Và sao, nếu theo quan điểm của Tôi là Địa lý Phong thủy người Việt giỏi hơn hay nói kiểu khác đi tức là chủ nhân đích thực của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Địa lý phong thủy là của người Việt chứ không phải người Trung Quốc mà họ lại giỏi và phát triển hơn chúng ta ? Xin trả lời thế này, việc Lãnh đạo và người Dân Trung Hoa đều rất tin và tự hào vì họ ứng dụng các công trình theo Phong thủy. Họ tự hào vì lịch sử dân tộc của họ và đó chính là nền tảng để trở thành một quốc gia phát triển, cũng như Singapore không hề dấu mà công khai các công trình xây dựng theo Phong thủy. Địa lý phong thủy không thể thay đổi định tính, tức là vận mệnh của một dân tộc quốc gia. Vậy nên các công trình cho dù tốt về Phong thủy cũng không thể thay đổi định mệnh của một triều đại hay một quốc gia. Nhưng ĐLPT lại giúp thay đổi định lượng tức là sự phát triển nhiều hay ít, suy tàn nhanh hay chậm. Vì thế, xin đừng nhầm lẫn tác động của Địa lý phong thủy lên định mệnh của một Triều đại hay một Quốc gia. Địa lý phong thủy của Người Việt cổ hoàn toàn khác biệt bởi nguồn gốc của nền Lý Học Đông Phương này xuất phát từ nền Văn minh Lạc Việt. Ngày nay, có rất nhiều các nhà nghiên cứu Việt nam đã từng sống ,học tập và nghiên cứu tại Trung Quốc cũng đã chỉ ra tính bất hợp lý trong vùng địa lý, phong tục tập quán của người Trung Quốc phía bắc sông Dương tử. Nơi đây họ trông lúa mì, uống sữa và không trồng lúa nước thì không thể là chủ nhân của nền Văn minh Lúa nước của người Lạc Việt. Tuy thế, họ vẫn tự hào với nền lịch sử lâu đời mà thời gian thì ít hơn cả của ngừoi Bách Việt ở Nam sông Dương Tử mà chúng ta gọi là nền Văn minh Lạc Việt. Xin nhớ rằng, chủ nhân của nền Lý học không có nghĩa là sáng tạo ra nó mà là sự hiểu biết và gìn giữ nó từ những nền Văn minh cổ xưa có từ trước đó trao lại. Chúng ta cần nhìn lại một cách khách quan rằng nền Lý học Đông phương huyền vĩ nói chung và Địa lý phong thủy nói riêng không phải có nguồn gốc từ Trung Hoa, mà đó là di sản của nền Văn minh Lạc Việt 5000 năm lịch sử. Hãy tự hào, gìn giữ và phát huy những gì mà Tổ tiên chúng ta, tổ tiên của dòng dõi LẠC VIỆT bởi đó chính là nền tảng cho một Việt Nam thịnh vượng trong tương lai ! TẾT KỶ HỢI 2019 MẠNH ĐẠI QUÂN (Tức Hoàng Triệu Hải)
    6 likes
  6. ĐỊA LÝ PHONG THỦY TỬ CẤM THÀNH DẤU ẤN CỦA NGƯỜI VIỆT TRÊN ĐẤT TRUNG HOA PHẦN 1 : NGUYỄN AN - TỔNG CÔNG TRÌNH SƯ Khi còn thời niên thiếu, tôi luôn mơ ước được đặt chân tới Tử Cấm Thành và Vạn lý trường Thành bởi ảnh hưởng lớn từ văn học Trung Hoa. Vậy mà mãi tới cái tuổi Ngài Khổng Tử gọi là “Ngũ thập tri thiên mệnh” cận kề, ước mơ ấy mới được thực hiện. Tôi tới Bắc Kinh lần này chỉ một mục đích là được nhìn thấy công trình được xây nên bởi kiến thức của người Việt, điều mà cho tới mãi sau này tôi mới biết và thậm trí là rất nhiều người Việt của chúng ta cũng không hề biết. Đó là Tổng công trình sư của công trình này là một người VIỆT. Tôi xin trích một đoạn từ Wikipedia về tiểu sử của Ngài Nguyễn An, Tổng công trình sư của thành Bắc Kinh. “trích dẫn: Nguyễn An (chữ Hán: 阮安, 1381-1453), còn gọi là A Lưu (chữ Hán: 阿留, tên gọi ở Trung Hoa),[1] kiến trúc sư thời xưa, người Việt. Ông cùng với Sái Tín (蔡信)[2][3], Trần Khuê (陳珪), Ngô Trung (吳中) là một trong những kiến trúc sư trưởng của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, Trung Quốc.[4] Ông cũng tham gia trị thủy hệ thống sông Hoàng Hà. Nguyễn An sinh năm Tân Dậu (1381), quê ở vùng Hà Đông (có lẽ là ở một làng nghề nào đó thuộc phía Nam trấn Sơn Tây hay Tây Bắc trấn Sơn Nam lúc đó, sau vào thời nhà Nguyễn thuộc tỉnh Hà Đông, nay thuộc địa phận thành phố Hà Nội. Khi gần 16 tuổi (khoảng năm 1397), thời vua Trần Thuận Tông nhà Trần, ông đã tham gia các hiệp thợ xây dựng cung điện ở kinh thành Thăng Long nhà Trần. Năm 1407, nhà Minh sang đánh bại nhà Hồ, chiếm được Việt Nam. Tướng nhà Minh là Trương Phụ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Trung Quốc (Hồ Nguyên Trừng sau làm quan nhà Minh), còn tiến hành lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang sang Trung Hoa, chọn để hoạn làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh. Trong số này có nhiều người sau trở nên nổi tiếng vì tài giỏi như: Nguyễn An, Phạm Hoằng, Vương Cấn,... Lúc này là những năm Vĩnh Lạc, thời vua Minh Thành Tổ Chu Đệ (1403 - 1424), ông vua này cho dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh (của nhà Nguyên trước đó), đổi tên là thành Bắc Kinh và cho xây dựng lại to đẹp hơn và đúng theo ý muốn của mình. Đầu tiên vua Minh cho xây dựng tử cấm thành tức Cố Cung trước (xây từ năm 1406 đến năm 1420 thì hoàn thành). Trong số thái giám phục vụ ở cung vua, Minh Thành Tổ thấy Nguyễn An rất giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc xây dựng, lại liêm khiết hiếm thấy nên tin dùng. Kiến trúc sư trưởng Bắc Kinh Năm Vĩnh Lạc 14 (1416) theo lệnh của Minh Thành Tổ, Nguyễn An khi ấy mới ngoài 30, đã được giao trọng trách "tổng công trình sư" xây dựng thành Bắc Kinh mới (Cố Cung). Đến đời vua Minh Anh Tông thành Bắc Kinh lại được trùng tu và xây dựng bổ sung. Năm 1437, vua Minh Anh Tông giao cho bộ Công xây dựng lại kinh thành, viên Thị lang bộ Công là Sái Tín tâu xin trưng dụng 18 vạn dân phu giỏi nghề và chi tiêu tốn kém, thu mua rất nhiều vật liệu song phải đợi 5 năm xây xong; vua Minh thấy vậy liền giao cho Nguyễn An làm tổng đốc công (tổng công trình sư) trùng tu thành Bắc Kinh. Sách Kinh thành ký thắng của Dương Sĩ Kỳ viết: “ Nguyễn An tự tay vạch kiểu, thành hình là lập được thế, mắt ngắm là nghĩ ra cách làm, tất cả đều đúng với quy chế. Bộ công và các thợ thuyền đành chịu khoanh tay, bái phục, nghe ông chỉ bảo, sai khiến, thật là người đại tài, xuất chúng. ” Minh sử quyển 304 - Liệt truyện 192 - Hoạn quan nhất chép về ông rất ngắn (sau Trịnh Hòa, Hầu Hiển, Kim Anh, Hưng An, Phạm Hoằng, Vương Cấn), nhưng có đề cập tới việc xây dựng thành trì, cung điện, các sở quan tại Bắc Kinh cũng như trị thủy như sau: 阮安有巧思,奉成祖命營北京城池宮殿及百司府廨,目量意營,悉中規制,工部奉行而已。正統時,重建三殿,治楊村河,並有功。景泰中,治張秋河,道卒,囊無十金。 (Nguyễn An hữu xảo tư, phụng Thành Tổ mệnh doanh Bắc Kinh thành trì cung điện cập bách ti phủ giải, mục lượng ý doanh, tất trúng quy chế, Công bộ phụng hành nhi dĩ. Chính Thốngthì, trùng kiến tam điện, trì Dương Thôn hà, tịnh hữu công. Cảnh Thái trung, trì Trương Thu hà, đạo tuất, nang vô thập kim). Như vậy, từ vẽ đồ án thiết kế, đào tạo nhân lực, đến chỉ đạo thi công ông đều tham gia. Công việc của ông làm chính là kết hợp nhiệm vụ của một nhà kiến trúc sư công trình, một nhà quy hoạch, một kỹ sư xây dựng lẫn một nhà quản lý dự án xây dựng, ở thời đại ngày nay. Ông xứng đáng là kiến trúc sư trưởng của thành Bắc Kinh lúc đó. Năm Chính Thống thứ hai (1437), ông xây dựng Thành nội tức là Hoàng thành (thêm hai cung, ba điện, năm phủ, sáu bộ, và dinh thự công sở các ty), Thành ngoại với 9 cửa kinh sư: cửa Chính Dương (có 1 chính lầu và 3 gian Nguyệt thanh lâu), và các cửa: Sùng Văn, Tuyên Vũ, Triệu Dương, Phụ Thành, Đông Trực, Tây Trực, An Dinh, Đức Thắng (mỗi cửa này đều có 1 chính lầu và 1 Nguyệt thanh lâu (lầu ngắm trăng)). Công việc trên được ông chỉ huy thực hiện hoàn thành trong hơn hai năm, rút ngắn tiến độ được gần một năm, mà lại chỉ dùng hết một vạn nhân lực để thi công. Tháng 3 năm Chính Thống thứ 5 (1440), ông lại được nhà vua giao cho 7 vạn thợ và lệnh cho xây dựng và trùng tu ba điện: Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân, cùng hai cung: Càn Thanh, Khôn Ninh (hai cung, ba điện này được xây xong năm 1420, nhưng năm 1421 lại bị sét đánh hư hại). Đến tháng 10 năm sau (1441) thì công việc này xong, vua nhà Minh thưởng cho Nguyễn An: 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấn thóc và 1 vạn quan tiền. Đến tháng 10 năm Chính Thống 10 (1445), ông lại được giao xây dựng lại tường thành Bắc Kinh, vốn trước bên ngoài xây bằng gạch nhưng ở trong đắp đất nên hễ mưa là sụt. Nhà sử học Trương Tú Dân từng làm việc tại Thư viện Bắc Kinh, có điều kiện khảo cứu về Nguyễn An và đã từng sang Đài Bắc tập trung tài liệu để viết sách về Nguyễn An, nhận xét: "Từ xưa đến nay, người tốt trong hoạn quan trăm ngàn người không được một. Còn An hết lòng vì công việc, thanh bạch, liêm khiết, khắc khổ, khi lâm chung không có nén vàng nào trong túi, là một con người cao thượng, chỉ để lại công đầu ở Bắc Kinh. Nguyễn An là người kiệt xuất trong hoạn quan, công với quốc gia không thể phai mờ. Ngày nay tên Tam Bảo thái giám, đàn bà trẻ con đều tỏ tường, còn tên nhà đại kiến trúc Nguyễn An - A Lưu thì ngay học giả, chuyên gia ít ai hay biết. Thật bất hạnh thay. Tôi nghĩ, với An không chỉ riêng giới công trình đáng ngưỡng mộ mà thị dân Bắc Kinh cũng nên uống nước nhớ nguồn, kỷ niệm chớ quên." Từ năm 1953, các nhà sử học Việt Nam như Trần Văn Giáp, Minh Tranh, Đào Duy Anh và Đặng Thai Mai lần lượt sang thăm Trung Quốc, đến Thư viện Bắc Kinh thu thập sử liệu Việt Nam, trong đó có các tài liệu về Nguyễn An. Hêt trích dẫn” Trong một bài trả lời phỏng vấn của báo SGGP , Giáo sư Trần Ngọc Thêm có trả lời như sau: +++++++++ “”- PV: Thưa giáo sư, bộ phim tài liệu của CHLB Đức cho thấy Nguyễn An có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng Tử Cấm Thành. Vì sao một người tài như vậy lại lưu lạc sang Trung Quốc và được các vua Minh trọng dụng? S-TSKH TRẦN NGỌC THÊM: Theo Minh Sử, vào tháng 12 năm Bính Tuất (1406) tướng nhà Minh là Trương Phụ đem quân sang An Nam với danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”, giúp nhà Trần đánh nhà Hồ sau sự kiện Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Trương Phụ bắt Hồ Quý Ly (Thượng hoàng) và Hồ Hán Thương (con trai thứ được Hồ Quý Ly truyền ngôi) đưa về đày ở Quảng Châu. Tháng 7 năm Đinh Hợi (1407), Trương Phụ sai tuyển chọn 9.000 người tài, có học vấn cao và 7.700 thợ giỏi đưa về Trung Quốc xây dựng kinh đô. Một số thanh niên tuấn tú, thông minh được tuyển chọn để thiến, đào tạo thành thái giám phục vụ trong cung. Trong số này có Nguyễn An. Nguyễn An sinh năm Tân Dậu (1381), quê vùng Hà Đông, nổi tiếng thần đồng là người giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc, cương nghị và liêm khiết. Năm 1397, khi chưa đầy 16 tuổi, Nguyễn An đã có mặt trong các kíp thợ xây dựng các công trình kiến trúc tuyệt tác cung điện nhà Trần (đời vua Trần Thuận Tông). Chính vì vậy, khi quyết định xây dựng Tử Cấm Thành, nghe tiếng Nguyễn An là có người tài kiến trúc lại liêm khiết, vua Minh Thành Tổ (niên hiệu Vĩnh Lạc) giao cho ông trọng trách là tổng đốc công xây dựng công trình này. - Là một người Việt Nam, khi xây dựng Tử Cấm Thành chắc hẳn Nguyễn An đã đưa những tư duy văn hóa Việt vào công trình này. Theo giáo sư thì điểm nào thể hiện điều này rõ nét nhất? Tử Cấm Thành có diện tích 72 vạn m2, gồm 800 cung và 8.886 phòng, được Nguyễn An thiết kế gồm một vòng cung hình chữ nhật bao quanh cả kinh thành. Toàn thành có 9 cổng và 3 lớp vòng thành (tam trùng thành quách). So với Nam Kinh và các kinh thành trước đó của Trung Quốc, Tử Cấm Thành có hai điểm mới. Thứ nhất, Tử Cấm Thành có hình chữ nhật trong khi các các kinh thành cũ thiết kế kiểu hình vuông, theo nguyên tắc “tiền triều, hậu thị”, tức cung điện phía trước, chợ búa phía sau. Thứ hai, Tử Cấm Thành có 3 lớp vòng thành trong khi kinh thành cũ thường chỉ có 1 đến 2 lớp. Hai sự thay đổi này được đánh giá là chịu ảnh hưởng của tư duy kiến trúc Việt Nam coi trọng số lẻ, chẳng hạn như Cổ Loa cũng có 3 vòng thành. - Không chỉ Nguyễn An, giai đoạn này nhiều người tài của Việt Nam đã bị đưa sang Trung Quốc, đúng không, thưa ông? Các vua nhà Minh đều xem Nguyễn An như một “kỳ nhân”. Bên cạnh đó, còn một số người Việt Nam khác tài giỏi cũng được sử sách công nhận như Hồ Nguyên Trừng (con trưởng của Hồ Quý Ly), Phạm Hoằng, Vương Cẩn… Hồ Nguyên Trừng là một thiên tài kỹ thuật quân sự. Chính ông đã sáng tạo nên súng thần công, được vua Minh dùng chống các đội quân xâm lược phía Bắc và phong cho ông chức Thượng thư bộ Công, coi ông là ông tổ của súng thần công Trung Quốc. Ông còn là một nhà văn với tác phẩm đặc sắc để lại cho đời là “Nam Ông mộng lục”. Còn Phạm Hoằng là người chủ trì xây dựng ngôi chùa lớn Vĩnh An tự ở Tây Nam Bắc Kinh. Vua Anh Tông nhà Minh tặng ông biệt danh “Bồng Lai Cát Sĩ”. Vương Cẩn (Trần Vũ) là thái giám giả, bị phát hiện nhưng nhờ ông rất tài giỏi nên được vua miễn tội chết, lại được ban cho cung nữ và nhiều vàng bạc… - Thưa giáo sư, ông là người 15 năm trước đây đã nhắc đến Nguyễn An trong tác phẩm “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của mình và bây giờ lại đưa những thước phim “Tử Cấm Thành - bản di chúc của một bạo chúa” lên giới thiệu trên trang web vanhoahoc.edu.vn. Theo ông, những thông tin quý như vậy tại sao chưa được nhiều người biết đến? Đúng là trong số chúng ta chưa có nhiều người biết đến một trong công lao đóng góp của Nguyễn An - những người tài giỏi Việt Nam trong những công trình để đời tại thủ đô của Trung Quốc. Mặc dù nhiều sử sách Trung Quốc thời trung đại như “Hoàng Minh thông kỷ”, “Anh Tông chính thống thực lục” hay những sách như “Kinh kỳ ký thắng” của Dương Sĩ Kỳ, “Thủy Động nhật ký” của Diệp Thanh… đều ghi nhận công lao của Nguyễn An. Nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn sống vào thế kỷ 18 (1726-1784) cũng đã viết trong cuốn “Kiến Văn tiểu lục” ca tụng tài năng và công lao của Nguyễn An trong việc xây dựng và tu tạo thành Bắc Kinh. Tại Mỹ, trong tập 7 của bộ sách lịch sử Trung Quốc do Đại học Cambridge biên soạn, trong phần viết về triều đại nhà Minh, cũng đã kể rõ vai trò của kiến trúc sư trưởng người Việt Nam là Nguyễn An trong việc xây dựng cung điện Bắc Kinh. Tuy nhiên, người Trung Quốc đời sau đã không công bằng với Nguyễn An khi cố tình lờ đi chuyện này. Sau này, có một nhà sử học đương đại Trung Quốc tên là Trương Tú Dân đã công bố trên tờ “Ích Thế báo” số ra ngày 11-11-1947 một bài báo với nhan đề: “Thị dân Bắc Kinh nên kỷ niệm Nguyễn An, người An Nam, Thái giám nhà Minh, tổng công trình sư tạo dựng lầu thành Bắc Kinh thế kỷ XV”. Trong đó, sau khi kể các công lao của Nguyễn An, ông nêu rõ: Nguyễn An sống cùng thời với Tam Bảo thái giám Trịnh Hòa (người ba lần sang Tây Dương), đều là những người kiệt xuất trong các hoạn quan, có công với quốc gia không thể phai mờ. Trong khi nói đến Trịnh Hòa, người dân Trung Quốc ai cũng rõ, còn tên của nhà đại kiến trúc Nguyễn An gốc An Nam thì ngay cả học giả, chuyên gia cũng ít ai hay biết, thật là bất công. Do đó với Nguyễn An, không chỉ giới công trình sư ngưỡng mộ mà người dân Bắc Kinh nên uống nước nhớ nguồn, tổ chức kỷ niệm ông. Gần đây, Đài truyền hình ZDK của CHLB Đức đã xây dựng bộ phim tài liệu nhan đề “Tử Cấm Thành Trung Quốc - bản di chúc của một bạo chúa” đã một lần nữa xác quyết công lao của Nguyễn An. Bộ phim đã cung cấp cho ta thêm một bằng chứng khách quan bằng hình ảnh, nó giúp chúng ta có thêm cơ sở để tiến hành vinh danh công lao của ông sòng phẳng trước lịch sử. Để rồi không chỉ chúng ta mà con cháu chúng ta cũng tự hào về những con người tinh hoa của dân tộc.”” Đón đọc phần 2
    6 likes
  7. BÁT SÁT TRONG ĐỊA LÝ LẠC VIỆT. Trên cơ sở giả thuyết ban đầu xuất sắc của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn. Chúng tôi đã thực hiện lại mối liên hệ giữa hướng và phương sát trong Bát sát với vòng Tràng sinh. Nhưng để quý vị và ACE thấy rõ được tính nhất quán và tính hệ thống của một lý thuyết nhân danh khoa học, chúng tôi cần nói rõ hơn về vấn đề Vòng Tràng sinh. I. VÒNG TRÀNG SINH TRONG LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG. Khái niệm "Vòng Tràng Sinh" trong ứng dụng của Lý học Đông phương, mô tả một chu kỳ gồm 12 thành tố. Các thành tố này lần lượt theo quy luật là: 1/Trường sinh. 2/ Mộc Dục. 3/ Quan đới, 4/ Lâm Quan, 5/ Đế Vượng, 6/ Suy. 7/ Bệnh. 8/ Tử. 9/ Mộ. 10/ Tuyệt. 11/ Thai. 12/ Dưỡng.... Vòng Trường sinh mô tả chu kỳ sinh trưởng và suy bại của mọi sự vật, sự việc trong cuộc sống, thiên nhiên, vũ trụ và con người. Cho nên, vòng Trường sinh ở trong nhiều hệ thống của các ngành ứng dụng thuộc Lý học Đông phương. Vòng Trường sinh trong ngành dự báo số phận con người là Tử Vi có chu kỳ trong 12 cung và là thành tố dự đoán của chu kỳ Đại Hạn 10 năm trong Tử Vi - Tức là vòng Tràng sinh chi phối 120 năm (Một trăm hai mươi năm) trong chu kỳ vận hạn của một đời người trong lá số Tử Vi. Trong ứng dụng của khoa Tử Vi, vòng Tràng Sinh Dương tính theo chiều thuận. Vòng Tràng sinh Âm tính theo chiều nghịch. Chu kỳ Âm Dương của vòng Trường Sinh là 24 năm. Đây chính nguyên lý chu kỳ 24 năm Sinh - Vượng - Mộ của một hành trong LẠC THƯ HOA GIÁP được thực hiện trên Hà Đồ - đã được Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh chứng minh nguyên lý lập thành bảng này trên Hà Đồ - với sự thay đổi vị trí hai hành Thủy Hỏa. Vòng Tràng sinh thể hiện sự tiêu trưởng của ngũ hành. Ngũ hành phân Âm Dương cho nên vòng Tràng sinh cũng theo Âm Dương và ứng dụng theo tam hợp cục của Địa chi. Vì Địa chi phân Âm Dương nên sự ứng dụng của Trường sinh cũng theo quy luật Dương thuận, Âm nghịch. Thí dụ: Tam hợp cục Hỏa là Dần - Ngọ - Tuất; Tam hợp cục Mộc là Hợi - Mão - Mùi.... ACE và quý vị lưu ý nguyên lý tam hợp cục của ngũ hành để đối chiếu với tính hợp lý trong việc ứng dụng vòng Tràng sinh trong Địa lý Phong thủy Lạc Việt. Quý vị và ACE xem hình minh họa dưới đây cho hai vòng Tràng sinh Âm Dương thuận nghịch. Vòng Tràng sinh Duong thuận Vòng Tràng sinh Âm nghịch Như vậy tôi đã trình bầy khái quát về những nguyên lý ứng dụng của vòng Tràng sinh trong mọi ngành ứng dụng của Lý học Đông Phương nói chung. Trên cơ sở những tri thức căn bản về vòng Tràng sinh này chúng ta ứng dụng tiêu chi khoa học cho một lý thuyết khoa học phát biểu như sau: Trên cơ sở tiêu chí khoa học này, chúng tôi ứng dụng giả thuyết hướng sát của Bát sát lệ thuộc vào vòng Tràng sinh xem có phù hợp với tiêu chí khoa học trên hay không. Vì vòng Tràng sinh có thể phân loại Âm Dương, cho nên chúng tôi cũng phân loại tám phương Bát quái theo Âm Dương, như sau: A/ Bốn quái tứ chính thuộc Dương, gồm: Khảm / - Chấn / - Ly / - Đoài / B/ Bốn quái tứ di thuộc Âm, gồm: Càn / - Khôn / - Cấn / - Tốn / Trên cơ sở này chúng ta một lần nữa áp dụng vòng Tràng sinh theo đúng như cổ thư chứ Hán mô tả về hướng sát của Bát sát để đối chiếu, so sánh. A/ Bốn quái tứ chính: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Thìn (Khảm Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư).....................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Tỵ (Đoài Xà đẩu) B/ Bốn quái tứ di: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..............................6/ Hướng Khôn ( Tốn theo sách Việt), Bát sát ở Mão (Khôn Thỏ 'mão') 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dần (Cấn Hổ)................................8/ Hướng Tốn (Khôn theo sách Việt). Bát sát ở Dậu (Tốn Kê). Thưa quý vị và ACE thân mến Như vậy qua hình mô tả ở trên, khi chúng ta áp vòng Tràng sinh theo giải thiết ban đầu để quán xét thì chúng ta nhận thấy rằng, ở bốn quái tứ chính (vòng Tràng sinh thuận), chỉ có hai quái Ly và Chấn có phương Bát sát nằm ở Tuyệt. Và ở bốn quái tứ Di (vòng Tràng sinh nghịch) thì chỉ có hai quái Càn và Khôn (Tốn theo sách Việt) có phương Bát sát nằm ở Tuyệt. Như vậy nếu theo giải thuyết ban đầu là đúng thì thể hiện phương sát theo cổ thư chữ Hán chỉ đúng được một nửa?! Chúng tôi cho rằng: Vì mối liên hệ chính xác "một nửa" đó - phương sát phải nằm ở vị trí Tuyệt của vòng Tràng sinh - thì tính hợp lý lý thuyết cho toàn bộ vấn đề, tất cả các phương sát đều phải nằm phương Tuyệt của vòng Tràng sinh - Tùy theo tứ chính hay tứ di mà ứng dụng vòng Tràng sinh thuận nghịch. trên cơ sở này chúng ta áp vòng tràng sinh trên cơ sở "Hậu thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn - Khôn) phối Hà Đồ" . Chúng ta sẽ được một sự hoàn hảo phù hợp với tiêu chí khoa học của phương sát trong Bát sát, như mô hình dưới đây: A/ Bốn quái tứ chính: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Tị (Khảm Xà/ Sách Hán: Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư).....................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Dần (Đoài Hổ đẩu. Sách Hán: Xà) B/ Bốn quái tứ di: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..............................6/ Hướng Khôn Bát sát ở Tý (Khôn 'Tý'. Sách Hán: Tốn Kê) 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dậu (Cấn Kê. Sách Hán: Dần)..........8/ Hướng Tốn Bát sát ở Mão (Tốn Mẹo. Sách Hán: Khôn tuyệt ở Mão). Thưa quý vị và ACE, trên cơ sở giả thuyết ban đầu chúng tôi xác định rằng: Tất cả các phương sát trong Bát sát đều phải nằm ở vị trí Tuyệt của vòng Tràng sinh. Trong đó, tứ chính là Dương, thuộc vòng Tràng sinh thuận; tứ Di là Âm thuộc vòng Tràng sinh nghịch. Và chúng tôi đã minh họa ở hình trên. Trên cơ sở này chúng ta thấy rằng: Hai quái tứ chính là Ly - Chấn hoàn toàn trùng khớp phương sát với Lạc Việt, tức giả thuyết của chúng tôi và hai quái tứ Di là Càn - Khôn (Tốn theo Lạc Việt) là hoàn toàn trùng khớp, còn lại như phần trên đã trình bầy thì phương pháp đặt phương sát của chúng tôi nhân danh nền Văn hiến Việt một thời huy hoàng ở bờ Nam sông Dương tử, hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học về tính quy luật, tính khách quan, tính hệ thống, tính nhất quán và tính hoàn chỉnh. Bây giờ chúng ta đối chiếu tiêu chi khoa học mà chúng tôi đã trình bầy ở trên về tính hợp lý lý thuyết toàn diện nhân danh nền Văn hiến Việt: Tất cả những ai nghiên cứu về Lý học thì đều biết rất rõ thì trong 12 Địa chi thì Tý tuyệt Tị, Mão tuyệt Thân, Ngọ tuyệt Hợi, Dậu tuyệt Dần và ngược lại: Hợi tuyệt Ngọ, Tị tuyệt Tý, Dần tuyệt Hợi, Thân tuyệt Mão. Trên cơ sở này chúng ta quán xét lại toàn bộ những hướng và phương sát - nhân danh nền Văn hiến Việt - hoàn toàn phù hợp với cách Tứ Tuyệt trong Địa chi được mô tả trong Lý học Đông Phương, đồng thời phù hợp với phương Tuyệt của vòng Tràng sinh. Đây chính là tính hợp lý lý thuyết của mọi vấn đề liên quan đến nó phù hợp với tiêu chí khoa học. Đó là phù hợp với phương Tuyệt của vòng Tràng sinh; phù hợp với nguyên lý Tứ tuyệt của địa chi. Đó chính là một phương pháp nghiên cứu của chúng tôi căn cứ theo tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Đây là điều mà trong các cổ thư chữ Hán không mô tả được. Vấn đề không phải chỉ riêng một vấn đề phương sát trong Bát sát trong Địa lý Phong thủy. Mà là tất cả hầu hết các di sản từ cổ thư chữ Hán liên quan đến Thuyết Âm Dương ngũ Hành, thì chúng đều rất mơ hồ, mâu thuẫn và bất hợp lý ngay trong nội hàm cấu trúc của hệ thống này. Tính hợp lý lý thuyết phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, chỉ thể hiện nhân danh nền Văn Hiến Việt một thời Huyền Vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử, với nguyên lý căn để Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt. Mới đủ tư cách để xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Bát Quái chính là "Lý thuyết thống nhất vũ trụ" mà nền khoa học hiện đại đang mơ ước! Trên cơ sở này. Rất hy vọng bài viết mà tôi trình bầy trên đây sẽ được quý vị quan tâm. Riêng đối với ACE Địa lý Lạc Việt thì nhân danh một người thầy đang truyền đạt kiến thức và nhân danh nền Văn Hiến Việt, với tinh thần khoa học thực sự, ACE hãy áp dụng phương sát trong Bát sát đã được phục hồi từ nền Văn hiến Việt. Phương pháp ứng dụng nhân danh nền Văn hiến Việt, không chỉ ứng dụng trong Dương trạch để trổ cửa tùy theo hướng nhà, mà còn là ứng dụng trong Loan Đầu để chọn hướng nhà và vấn đề Âm trạch mà ACE sẽ tiếp tục được học tới đây. Xin cảm ơn quý vị và ACE đã đọc và quan tâm đến bài viết này.
    6 likes
  8. BÀI VIẾT XÁC ĐỊNH ĐỊA LÝ LẠC VIỆT QUA THỦY PHÁP TRƯỜNG SINH GHI DẤU TRÊN TỬ CẤM THÀNH BẮC KINH. CỦA GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG HOÀNG TRIỆU HẢI. Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Thưa quý vị và các bạn.Hơn 20 năm chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, chính là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương huyền vĩ với nguyên lý căn để 'Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt'. Đấy là nguyên lý lý thuyết mang tính căn để và là cái chìa khóa duy nhất để mở ra kho tàng bí ẩn của nền văn minh Đông phương huyền vĩ, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch.Nguyên lý lý thuyết căn để này là một bằng chứng xác định rất quan trọng, chứng minh cho cội nguồn văn hiến Việt, nhân danh khoa học. Dù khái niệm khoa học được định nghĩa như thế nào. Bởi vì, nó phù hợp với mọi chuẩn mực thẩm định thể hiện ở những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Một trong nhưng tiêu chí quan trọng nhất - và chưa phải là duy nhất - được phát biểu như sau:'Một lý thuyết, hoặc một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, phải giải thich một cách hợp lý hầu hết mọi vấn đề liên quan đến nó, một cách có tính hệ thống, tính nhất quán, hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri'.Nguyên lý căn để 'Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt', hoàn toàn thỏa mãn tất cả những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. Nó đã giải thích hầu hết những vấn đề liên quan đến Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ ở miền nam sông Dương tử - trong hầu hết những di sản của nền văn minh Đông phương, gồm hầu hết những các bộ môn dự báo của Lý học Đông phương. Từ Đông y, Địa Lý phong thủy, Tử Vi và cả mọi ngành ứng dụng khác trong mọi lĩnh vực khác....Một trong những ngành ứng dụng được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, một cách hoàn hảo nhất chính là Địa Lý phong thủy Lạc Việt. Trong đó có một phương pháp ứng dụng cụ thể, gọi là 'Thủy pháp trường sinh'.Thưa quý vị và các bạn.Thủy pháp trường sinh là một phương pháp ứng dụng cụ thể trong ngành kiến trúc xây dựng cổ Đông phương, quen gọi là Địa Lý phong thủy. Đối tượng nghiên cứu của nó là sự tương tác của các dòng Khí vận động của môi trường bên ngoài một đơn vị kiến trúc. Cụ thể trong các bản văn chữ Hán gọi là "nước" (Ngôn ngữ Hán phát âm là 'Shuẩy' - Trong tiếng Việt phát âm là 'Thủy' và phân biệt với 'Nước'. Trong tiếng Việt, hai từ này không đồng nghĩa '*').Tuy nhiên, mô hình biểu kiến mô tả phương pháp này, trong các bản văn chữ Hán, không mang tính quy luật và tính hệ thống. Nhân danh nền văn hiến Việt, trên cơ sở nguyên lý căn để 'Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt', tôi đã hiệu chỉnh lại mô hình 'Thủy Pháp trường sinh'.Một trong những tiêu chí khoa học, xác định rằng:- 'Một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, thì những mô hình biểu kiến của nó, phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được'.Thưa quý vị và các bạn.Những dòng nước chảy quanh Tử Cấm Thánh Bắc Kinh, do nhà kiến trúc thiên tài của Việt tộc là Nguyễn An, là một thực tại có thể quan sát được, đã xác định một phương pháp phù hợp với những mô hình thủy pháp nhân danh nền văn hiến Việt. Và điều này được Hoàng Triệu Hải - một cao thủ Địa Lý Lạc việt mô tả trong bài viết thực địa dưới đây.Xin hân hạnh giới thiệu.
    5 likes
  9. CHỌN TUỔI XỐNG ĐẤT: Câu I: Năm Kỷ Hợi tuổi nào xông đất sẽ tốt. Ví dụ với gia chủ sinh năm 1960, 1987, 1979, 1976...thì nên chọn tuổi xông đất ra sao? Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Theo quan niệm của tôi. Chọn tuôi xông đất phải lấy Vận Khí của năm làm căn bản. Thí dụ: 1/ Vận khí năm Kỷ Hợi là Bình Địa Mộc, tượng của cây cỏ, có màu Xanh lá cây. Thì người xông đất phải có mạng là Thủy - màu xanh biển, hoặc Hỏa - màu đỏ, Môc - Màu Xanh lá cây. 2/ Về Thiên Can Kỷ của năm Kỷ Hợi thuộc Thổ, phải chọn người có Thiên Can Giáp (Mộc); Bính (Hỏa); Mậu (Thổ); Kỷ (Âm Thổ), Nhâm (Dương Thủy); Tân (Âm Kim) để phù hợp hoặc không khắc với Thiên Can Kỷ của năm Kỷ Hợi. 3/ Những người mạng Kim, Thổ không nên xông đất. Sau khi quán xét theo tiêu chí trên, mang tính tổng hợp và tương sinh với Thiên Can và vận khí của năm Kỷ Hợi, mới xét đến chi tiết tốt hay xấu với gia chủ. Tuy nhiên, ngay cả khi đã chọn được các tuổi theo tiêu chí trên, thì phải loại những người năm trong Tam tai là Tỵ Dậu Sửu và một số tiêu chí khác phải kiêng, sẽ trình bày tiếp theo dưới đây. Trong câu hỏi cụ thể: Gia chủ 1960, 1987, 1979, 1976... thì chọn người như thế nào? \- Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Sau khì chọn tuổi theo tiêu chí trên, chúng ta có thể chọn tuổi phù hợp với năm, nhưng lại khắc gia chủ. Cụ thể: Nếu chọn Tân Mão xông đất, hoàn toàn phù hợp với tiêu chí của năm Kỷ Hợi. Nhưng Vận khí của mệnh Tân Mão thuộc Mộc, khắc vận khí của mệnh Canh Tý 1960. Thì ta có thể chọn Nhâm Thin làm tuổi xông đất. Những tuổi có tính tương sinh tốt với năm Kỷ Hợi 2019 là: Thiên Can mang chữ Giáp: Dần / Thìn/ Tuất/ Thân. Thiên Can mang chữ Bính: Tý/ Dần/ Ngọ/ Thân. Thiên Can mang chữ Mậu: Tý/ Thìn/ Ngọ/ Tuất. Thiên Can mang chữ Kỷ: Kỷ Mùi. Thiên Can mang chữ Tân: Tân Mão. Thiên Can mang chữ Nhâm: Tuất Tuất, Nhâm Thin. Câu 2: Khi chọn người xông đất có cần phải kiêng kỵ gì hay không để tránh những điều không may trong năm mới? Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Tất nhiên phải chọn người hiền lành tủ tế, gia đình hòa thuận. thông minh, tài trí, phúc hậu. mặt mũi sáng sủa. Kiêng những người sau: Thường gặp vận không may, quá vất vả, gia đình ly tán, có tang hoặc kiện cáo, nợ nần chồng chất. Đặc biệt phụ nữ đang trong thời kỳ kinh kỳ. Những người này, dù hợp tuổi, cũng không thể chọn xông đất. Câu 3: Nhiều người cho rằng trong năm mới trang phục xông đất, mặc đầu năm cũng ảnh hưởng tới năm đó. Theo chuyên gia điều này có đúng và nếu phải thì năm nay có cần phải chú ý tới trang phục không? Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Điều này theo tôi rất quan trọng. Bởi trong Lý học, Âm Dương Ngũ hành phân loại theo màu sắc. Cho nên tính kiêng kỵ theo màu sắc khá quan trọng. Cho nên đặc biệt kiêng kỵ tuyết đối hai màu Đen và Trắng. Bởi tính thuần Dương và tượng cho sao Thái Bạch của màu trắng và thuần Âm, tượng sao Nhị Hắc của màu đen. Nếu y phục comple thuần trắng, hoặc thuần đen đều cực xấu. Bởi ngoài ý nghĩa trên , còn ý nghĩa cô Âm (Thuần đen); hoặc cô Dương (Thuần trắng). Màu trang phục tốt nhất trong năm nay, là: Xanh biển, Đỏ và Xanh lá cây. Câu IV. Xuất hành đầu năm cũng được các gia đình chú trọng. Năm nay hướng xuất hành thế nào cho tốt. Những điều cần lưu ý khi xuất hành? Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Năm nay, khi xét tất cả mọi phương vị, chỉ có hướng Nam là tốt nhất. Dù nhà của mình ở bất cứ hướng nào, hãy chọn một địa điểm đến thích hợp ở hướng Nam so với vị trí của căn nhà. Thí dụ: Quán cafe, đình, đền, khu vui chơi giải trí...Chúng ta đến đó, dừng chân ít phút trong giới hạn thời gian giờ tốt, xong quay về. Trong thời điểm này, nên tập trung tư tưởng nghĩ về những mục đích sẽ thực hiện trong năm và kết quả tốt cho những điều đó. Bạn cũng có thể khấn nguyện theo tín ngưỡng và niềm tin của bạn. Thời điểm xuất hành tốt: Trong ngày mùng 1 tháng Giêng là: Từ 17 đến 19g chiều. Trong ngày mùng 2 tháng Giêng là: 13 đến 17g chiều. Ngày mùng 2 và mùng 8 tháng Giêng, có thể chọn làm ngày khai trương. Câu V: Chuyên gia có thể nói cụ thể với một hai tuổi để chọn hướng xuất hành. Chẳng hạn như năm 76, 87,80... Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Như tôi đã trình bày ở trên: Lý học Đông phương, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành, có tính phân loại và tổng hợp rất cao cấp. Cho nên, không có hướng xuất hành cho riêng từng tuổi. Trong năm nay, chỉ có hướng tốt nhất mang tính tổng hợp là hướng Nam. Tất nhiên, tùy từng tuổi cụ thế sẽ hưởng đặc tính tốt của hướng Nam năm nay nhiều hay ít mà thôi. Nó cũng ví như một dòng sông có thể rẽ nhiều nhánh. Có nhánh vực sâu nước xoáy, có nhánh ba ba, thuồng luồng, có nhánh nước êm ả. Là con người thì do tính tổng hợp của nó, cần theo dòng sông êm ả. Chứ không thể có tuổi nào phù hợp với nhánh sông vực sâu nước xoáy, ba ba thuồng luồng mà đi. Việc chọn một hướng tốt cho riêng một tuổi nào đó là quan niệm sai và xa lạ với Lý học đích thực. Điều này các cụ gọi là: Ma đưa lối, quỷ đưa đường. Cớ sao tìm lối đoạn trường mà đi. Vài lời chia sẻ với bạn đọc. Chân thành chúc quý vị và các bạn đọc một năm mới an khang thịnh vượng. Vạn sự tốt lành.
    5 likes
  10. ĐỊA LÝ hay PHONG THỦY Cần khẳng định ngay một điều rằng, ĐỊA LÝ chính là tên gọi của bộ môn mà chúng ta thường quen gọi là Phong Thủy. Nếu từ PHONG THỦY - Fengshui mà hiện tại chúng ta đang sử dụng để mô tả bộ môn Địa Lý thì từ Phong thủy chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng 20 năm trở lại đây . Trong nền văn hóa của Việt Nam, từ xa xưa chúng ta đã dùng từ Địa Lý để nói tới bộ môn khoa học cổ trong Qui hoạch thiết kế và xây dựng kinh thành, thành phố, nhà cửa cũng như âm trạch mồ mả . Nếu tra cứu trên thư viện mở, chúng ta có thể thấy bộ môn Địa Lý mà chúng ta quen gọi là Phong Thủy đã xuất hiện trên trái đất từ khoảng ít nhất 6000 năm TCN qua các di tích và tài liệu bảo tồn tại ở Ấn Độ. Từ Fengshui tức là Phong Thủy được người người truyền giáo Tây Âu đặt ra thay cho từ Địa Lý vào khoảng thế kỷ thứ 19 khi họ tới Trung Quốc. Sở dĩ họ đặt tên như vậy là vì họ nhìn hình thức của các Pháp sư hay Linh mục bản đia vận dụng phương pháp của môn Địa Lý thường lựa chọn hướng của các dòng chảy, hướng của nguồn năng lượng dựa trên vị trí, địa điểm, địa thế, hình thể của sông núi hay các công trình xây dựng và khu đất. Do công việc này được thực hiện nhiều từ các Pháp sư địa phương nên những người Châu ÂU cho rằng bộ môn Phong Thủy có xuất phát từ Đạo giáo và cộng đồng khoa học cho rằng bộ môn Phong Thủy là giả khoa học cho dù nó là bộ môn nghiên cứu và thiết kế các công trình hướng tới sự cân bằng giữa con Người và Trái Đất. Thời gian gần đây, từ Phong Thủy được chấp nhận sử dụng rộng rãi thay thế từ Địa Lý và cũng được hiểu như là các hoạt động liên quan tới tâm linh, siêu hình hay các vấn đề khoa học thần bí. Có rất nhiều định nghĩa về Phong Thủy được viết và được hiểu đơn giản là bộ môn nghiên cứu sự ảnh hưởng của Gió và Nước lên đời sống, ảnh hưởng tới phúc họa của một ngôi nhà và những con người sống bên trong đó nhưng thực chất Phong thủy đơn giản như vậy không ? Tôi không dám đưa ra bất kỳ một định nghĩa nào nhưng xin trình bày quan điểm của cá nhân về cụm từ Phong thủy. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, khi xem xét “Phong thủy” của đất đai, nhà cửa, mồ mả thì không có một môn phái hay trường phái nào xem xét hướng Gió cả. Bản chất Phong thủy chính là tên gọi của bộ môn Địa Lý – bộ môn ứng dụng của học thuyết ADNH, và Phong thủy chỉ là hình thức từ góc nhìn trực quan từ những con người không rất xa lạ với nền Lý Học Đông Phương. Tên gọi Phong thủy có từ sự nhìn nhận và mô tả hình thái bên ngoài của bộ môn Địa Lý bởi việc đầu tiên của các Địa Sư chính là tìm Mạch khí của Núi và Sông. Bản chất của KHÍ (Qi theo cách gọi của người Trung Hoa) là vô hình , không nhìn thấy, không đo được, không cảm nhận được. Do đó để nhận biết KHÍ thì phải dựa vào các hình thái tồn tại của KHÍ, trong đó có Gió và Nước. “KHÍ gặp gió thì tán, gặp nước thì tụ”, cho nên khi đặt Mộ (Âm Trạch) thì các Địa Sư phải chọn nơi kín gió, có nước để nhận biết khu vực TỤ Khí. Còn với Dương Trạch tức là xây các công trình để ở thì việc bố trí sao cho không để Gió làm tán Khí trong ngôi gia, tạo ra các khu hồ, ao, bể nước để tụ Khí và hoàn toàn không quán xét gì tới “HƯỚNG GIÓ” cả. Trong cuộc sống hiện đại có rất nhiều các yếu tố tác động lên ngôi nhà và những người sống trong đó, và môn Địa Lý quán xét tất cả các yếu tố đó bao gồm môi trường xung quanh, hướng nhà, thiết kế nhà, hình thể ngôi nhà, bố trí nội thất, màu sắc..vv. nhưng tuyệt nhiên không có nghiên cứu tới “hướng của Gió” mà chỉ có hướng định vị bằng la bàn tức là hướng từ trường tự nhiên của đất, là Mạch Khí của Núi, Hướng của dòng nước chảy. Địa lý quán xét ”Gió” ở một phạm vi khác nhưng Gió và Nước không thể đại diện cho tất cả các yếu tố tương tác khác mà chúng ta gọi là ĐỊA LÝ. Có rất nhiều người dùng cách nhìn trực quan để quán xét bộ môn Địa Lý, cũng giống như cách mà người Tây Âu nhìn để đặt tên môn Địa lý thành Phong thủy. Cách đặt vấn đề là những người giàu có thường không xem xét tới Địa lý (Phong thủy), hoặc những mảnh đất các Địa sư bảo xấu không dùng nhưng lại được bán và giao dịch rất nhiều tiền và người mua từ đầu cũng kiếm được rất nhiều tiền. Hoặc người đó ác lắm sao vẫn giàu thế , hay Đại gia này không đi lễ hay theo đạo gì mà hắn giàu có lắm. vv và vv. Có nhiều người cũng đặt vấn đề, vì sao các Kinh thành được xem xét rất hoàn hảo về Địa lý(Phong Thủy) nhưng rồi các triều đại cũng xụp đổ và mộ các vị Vua đó cũng đặt huyệt Đế Vương mà Vương triều đó cũng bị suy tàn. Vậy phải chăng Địa Lý(Phong Thủy) không có tác dụng gì và là sự lừa bịp trong suốt mấy ngàn năm ? Địa lý(phong thủy) không phải là tôn giáo và không tuân theo bất kỳ một nguyên tắc nào của Tôn giáo bởi Địa lý là những tương tác và tuân thủ theo qui luật của Tự nhiên, chứ không theo khuôn phép và tư tưởng của Tôn giáo. Ngược lại, Tôn giáo lại phải tuân thủ theo qui luật vận động của tự nhiên chứ không thể dùng tư tưởng của Tôn giáo để chi phối qui luật tự nhiên. Do đó, chuyện một người ác hay hiền liên quan tới nhân quả theo thuyết của đạo Phật không ảnh hưởng gì tới tiền bạc vật chất mà người đó được hưởng. Nhưng qui luật ở chỗ nếu người Ác làm ngôi nhà sai hay đúng theo Địa lý thì tức nó sẽ tác động lên cuộc sống của anh ta. Anh ta sẽ gặp “quả báo” sớm hay muộn, nặng hay nhẹ , tức là chịu sự chi phối của qui luật vận động. Bộ môn này cũng không liên quan tới việc giá Đất đắt hay rẻ, khu đất nào tương lai sẽ bán được nhiều tiền. Những Huyệt để đặt âm trạch (mồ mả) thường đạt được đầy đủ các tiêu chí Địa lý nhưng sẽ ở trong tận vùng rừng núi mà khu vực đó thì không ai xây nhà ở trên cái Huyệt đó để ở. Đất đai nhà cửa ở các khu đô thị nhanh chóng lên giá bởi mới có cây cầu, mới có con đường, hay khu đô thị đẳng cấp. Chủ đầu tư làm ra để bán và họ chẳng cần phải bận tâm về việc khu đó có phải là Huyệt mạch tốt hay không. Hai tiêu chí đặt ra là khác nhau, do đó việc “nhậy cảm” trong buôn bán bất động sản để mua rẻ bán đắt hay kiếm lời lãi nhiều hoàn toàn không liên quan tới tiêu chí Địa lý “ phong thủy” ở đó tốt hay xấu. Tốt hay xấu lại phải xét trên quan điểm là khi ta SỐNG trong ngôi nhà hoặc mảnh đất nhiều tiền đó, nó ảnh hưởng Tốt hay Xấu lên cuộc sống bên trong ngôi nhà đó. Tốt hay xấu cũng không thể cảm nhận được ngay trên góc độ TRỰC QUAN, có nghĩa là đo đếm và nhìn thấy được. Địa lý (phong thủy) tác động từ từ, chậm rãi và hoàn toàn chỉ cảm nhận được khi bạn quan tâm theo dõi và để tâm cảm nhận tương tác của Địa lý lên cuộc sống. Có những mảnh đất, ngôi nhà rất xấu xét trên quan điểm Địa lý nhưng người sống trong căn nhà đó thậm trí là những vị lãnh đạo cao cấp, là những đại gia nghìn tỷ. Hướng rất xấu so với tuổi chủ nhà nhưng hướng đó thậm trí sau 9-19 năm nó mới phát tác các vận xấu bởi nó âm ỉ tích lũy chờ thời cơ bùng phát, trong khi chủ nhà đó ở vài năm đã sửa nhà hoặc đổi nhà khác . Cho nên họ chưa kịp nhận biết cái xấu thì đã rời khỏi chỗ đó, thì làm sao biết được Địa lý (phong thủy) nơi đó có tác động xấu lên cuộc sống của họ như thế nào. Một Kinh đô có Địa lý(phong thủy) tốt không có nghĩa là nằm ngoài vận mệnh của một đất nước, không có nghĩa là nó sẽ không bị tàn phá bởi chiến tranh hay bị kẻ khác xâm chiếm thống trị. Nhưng tên tuổi Kinh đô đó cũng như khoảng thời gian trị vị của những vị Hoàng Đế thêm uy danh và quyền lực. Nếu lăng mộ của các Vị Vua đó đặt vào huyệt tốt, dòng dõi của vị Vua đó sẽ được tiếp nối nhưng hậu duệ vị Vua đó không có được huyệt mộ tốt thì dòng dõi Vua chúa cũng sẽ chấm dứt sau 3-4 đời kế tiếp sau đó. Ví dụ như nếu Ông Nội làm Vua truyền ngôi cho con Trai và sau đó là cháu Nội, nếu Ông Nội mất được chôn tại huyệt xấu thì đời cháu thứ 3 hoặc thứ 4 sẽ không còn được làm Vua hoặc sẽ bị tổn hại nhân Đinh mà không có người nối ngôi. Địa lý (phong thủy) không thể cải Mệnh số, tức là biến đổi Định tính đã được đóng khung trong Mệnh Số của con người. Mệnh số làm Vua thì ắt làm Vua nhưng Địa lý (phong thủy) tốt xấu ảnh hưởng tới quyền lực và tên tuổi vị Vua đó. Địa lý quyết định về Định Lượng –Số Lượng, tức là giúp một con người đạt được tối đa những gì tốt nhất, nhiều nhất đã được qui định trong khung Mệnh số. Sẽ có ngừoi đặt câu hỏi, vậy các Đại gia ngàn tỉ họ ko quan tâm và không cần làm gì theo Địa lý nhưng họ vẫn giàu có ? Câu trả lời chính là cuộc sống không chỉ có sự giàu có, tiền bạc và chính vì thế một lá số tử vi của một con người không chỉ có một Cung mà là 12 cung. Nếu chỉ nhìn vào vật chất, thì ngay bản thân các Đại gia ngàn tỉ cũng không thể biết mình sẽ có thêm bao nhiêu ngàn tỉ nữa hay có thể mất hết sau một đêm để rồi hì hục gây dựng lại suốt quãng đời sau đó. Địa lý(phong thủy) có thể giúp những vị Đại gia đó có thêm nhiều hơn, mất ít hơn, gặp ít tai họa hơn nhưng cũng không có nghĩa là nằm ngoài qui luật của Vận số. Chúng ta không thể biết số lượng chính xác vật chất chúng ta có thể được hưởng trong tương lai là bao nhiêu, chính vì thế môn Địa Lý (phong thủy) với tính tư duy khoa học trừu tượng trở nên mơ hồ và mê tín đối với những con người luôn nhìn bộ môn này dứoi con mắt trực quan và vật chất. Theo thời đại hòa nhập và không gian phẳng thì tên gọi chỉ dùng để hiểu việc chúng ta đề cập tới vấn đề gì chứ ít ai lại quan tâm bản chất. Tuy nhiên, tên gọi Địa lý – tiếng Anh : Geomance mới là tên chính xác chứ không phải là Phong Thủy bởi tên Địa Lý đủ để bao trùm mọi tính chất và thể hiện đúng những gì chúng ta nghiên cứu về nó.
    5 likes
  11. Thày Thiên sứ - Nguyễn Vũ Diệu viết VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KIÊNG CỮ Và CÁC NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG LIÊN QUAN. Thưa quý vị và các bạn. Người Việt rất hay kiêng cữ. Nếu thống kê thì người Việt kiêng cữ nhiều nhất so với các dân tộc khác trong lịch sử văn minh nhân loại. Kiêng "ra ngõ gặp gái"; kiêng "chim sa, cá nhảy"; kiêng...kiêng....kiêng đủ thứ. Tác giả Thích Tâm Hiệp đã đặt vấn đề rất chính xác: ["Vấn đề của chúng ta, của người sau là ghi nhận khách quan với sự trân trọng và tìm hiểu ngọn nguồn xem tại sao ông cha kiêng"]. Và tác giả cũng phê phán sự ấu trĩ, khoác áo khoa học: ["Thế mà, một thời, do cái thói tư duy chủ quan, tự cho mình có "khoa học" hơn người trước, nên chúng ta đã bôi bẩn, hủy hoại bao giá trị văn hóa của tiền nhân"]. Tôi cảm ơn tác giả và ủng hộ cách đặt vấn đề của ông. Nên tôi mới chia sẻ bài này. Tuy nhiên, tôi trình bày nguyên nhân cốt lõi của tục kiêng cữ của người Việt - theo cách hiểu của tôi - và chia sẻ với các bạn để cùng suy ngẫm. Theo tôi có hai hính thức kiêng cữ. 1/ Kiêng cữ những hiện tượng xảy ra mang tính khách quan. Thí dụ: Kiêng chim sa, cá nhảy; kiêng gương vỡ; kiêng chuyển giương khi phụ nữ mang bầu.... 2/ Thực hiện những nghi lễ truyền thống có tính kiêng cữ. Cúng 49 ngày, cúng 100 ngày, cúng cơm người mất, kiêng nói những điều xui xẻo.... Tất cả nhưng điều này, đúng như tác giả viết: ["Vấn đề của chúng ta, của người sau là ghi nhận khách quan với sự trân trọng và tìm hiểu ngọn nguồn xem tại sao ông cha kiêng"]. Thưa quý vị và các bạn. Tất cả những nguyên nhân vì sao ông cha ta kiêng, đều xuất phát từ một nguyên nhân chính yếu: Đó chính là xuất phát từ hệ thống nhận thức vũ trụ và thế giới, cũng như cuộc sống, xã hội và con người, của một dân tộc đã tồn tại với danh xứng văn hiến trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tử. Tôi xin bắt đầu phần I. PHẦN I. Kiêng cữ những hiện tượng xảy ra mang tính khách quan. Theo tôi, tất cả các tục kiêng cữ của người Việt đều có nguyên nhân thực tế. Thí dụ: Kiêng gương vỡ. Chính là hiệu ứng bức xạ không đồng đều tương tác lên người soi gương. Kiêng chuyển giường phụ nữ mang thai gần ngày sinh, chính là sự thay đồi sự tương tác ổn định của Khí trong môi trường chỗ nghỉ ngủ. Người phụ nữ khi mang thai thường yếu. Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của họ. Hoặc khó hiểu hơn: Kiêng chim sa, cá nhảy, chính là sự tương tác của trường khí môi trường cụ thể, khi người nào đó đi ngang, bị chim sa, cá nhày lên bờ. Do trường khí thay đổi, nên chim đột ngột sa xuống, hoặc cá nhảy lên bờ. Đương nhiên là trường khí xấu, Và nó sẽ ảnh hưởng tới người đi qua môi trường đó....Tương tự như vậy, với các hiện tượng kiêng cữ. Đương nhiên, với cách giải thích này, đã xác định, những tri thức tinh hoa của tổ tiên người Việt phải hiểu rất rõ về tương tác của "Khí" trong môi trường cuộc sống. Và khái niệm "Khí" cho đến hôm nay - trừ nhân danh nền văn hiến Việt - vẫn còn là một khái niệm bí ẩn trong hệ thống tri thức của nền văn minh Đông phương. PHẦN II. Những nghi lễ truyền thống có tính kiêng cữ. Thưa quý vị và các bạn. Ngoài những hiện tượng khách quan và phải kiêng cữ theo truyền thống, thì ông cha ta còn có những nghi lễ mang tính kiêng cữ. Thí dụ - được đề cập đến ngay trong bài viết của ông Thích Tâm Hiệp về nghi lễ Tang ma, như: lễ 49 ngày, 100 ngày. Căn cứ vào đâu để có nghi lễ này? Tại sao không 21 ngày, 36 ngày...? Mà cứ phải đúng 49 và 100? Hoặc tại sao "Mùng 5/ 14/ 23" Âm lịch lại kiêng? Tại sao đám tang phải mặc áo sô trắng, con trai đội mũ rơm? Vì sao mẹ mất phải đi giật lùi trước quan tài, bố mất đưa đằng sau quan tài, đúng với câu "cha đưa, mẹ đón"? ,,,vv.... Những nghi lễ này mang tính chủ quan , do con người quy định. Vậy nó xuất phát từ cái gì để có nhận thức đó? Thưa quý vị và các bạn. Rất nhiều kẻ tự nhận mình là trí thức, là hiểu biết, thậm chí có học hàm, học vị và cả quyền lực học thuật, một thời ra rả như ve rằng: Văn hóa Việt ảnh hưởng của Tàu. Nhưng chính người Tàu lại không hiểu gì về nguyên nhân của nó (?!). Ví dụ như kiêng ngày Tam Nương, được giải thích do ba người đàn bà nổi tiếng Trung Hoa vào cung cấm, là Bao Tự, Đát Kỷ và Điêu Thuyền (Có vài dị bản khác nhau). Vấn đề kiêng cữ trong truyền thống dân gian Việt, nhiều đến nỗi có hẳn những cuốn sách dày cộp viết về đề tài này. Do đó, nếu giải thích hết thì không thể là việc của một cá nhân và hoàn toàn không tưởng; hoặc phải mất cả đời, như cụ Lê Gia giải thích bản chất nội hàm các ca6un thành ngữ, tục ngự, phương ngôn....Việt Nam. Nhưng tôi hy vọng rằng, tôi đưa ra được một định hướng cho các hiện tượng kiêng cữ này, và thế hệ sau tiếp tục. Trước hết tôi cần xác định rằng: tất cả mọi hiện tượng văn hóa truyền thống Việt, chi tiết đến từng nghi lễ trong các phong tục truyền thống Việt, trong đời sống của người Việt, thâm chí trong cả ngôn ngữ Việt... đều là hệ quả của thuyết ADNH và kinh Dịch. Ngay cả những nghi lễ mà tôi đã trình bày ở trên. Tôi xin lần lượt trình bày những vấn đề đã nêu. a/ Tục cúng cơm 49 và 100 ngày. Tất cả người Việt chúng ta đều biết rõ câu chuyện "Con Rồng, cháu Tiên" trong đó bọc trứng có 100 quả, 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo Mẹ lên núi. Đây chính là mô tả độ số của vũ trụ với Hà Đồ - Lạc Thư. Tổng có 100 vòng tròn. 50 vòng đen (Âm) và 50 vòng trắng (Dương). * Tục cúng 100 ngày. Khi hết chu kỳ tính theo ngày của một năm là 100 ngày cúng cơm, thì sẽ chuyển bàn thờ người quá cố lên bàn thờ chung của gia đình. * Tục cúng 49 ngày. con số 50 ngày là hết một chu kỳ Dương (Dương trước), nhưng nếu vậy thì cô Dương, hay thuần Dương. Bởi vậy bớt một ngày là 49. Để không phạm vào Cô Dương. b/ Các kiêng cữ mùng 5/ 14/ 23. Đây là chu kỳ 9 với độ số của trung cung là 5. Trong đó, các ngày 14 = 5 + 9; 23 = 14 + 9. Tức Ngũ Hoàng nhập Trung theo Huyền không phi tinh. Hay nói cách khác: Nó cũng thuộc về hệ quả của thuyết ADNH. Ngũ hoành là một sao xấu. Nên nhập trung ứng với công việc sẽ không tốt. c/ Kiêng cữ 6 ngày Tam Nương sát. Gồm: mùng 3; 7; 13; 18; 22; 27 Âm lịch hàng tháng. Đây chính là điểm chết của chu kỳ Lục Khí trong sự vận động của 30 ngày. Hoàng Triệu Hải - GD TTNC LHDP đã có một bài viết chi tiết về vấn đề này. Thưa quý vị và các bạn. d/ "Cha đưa, mẹ đón" trong nghi lễ tang chế. Cha là Dương, nên theo cha theo nguyên lý "Dương trước, Âm sau". mẹ là Âm nên con đi trước giật lùi, nhưng hướng về linh cữu. vì Mẹ là Dương so với các con, theo nguyên lý "Âm thuận tùng Dương", nên các con phải đi giật lùi để hướng về linh cữu của mẹ.. e/ Mặc áo sô trắng để chống bức xạ của Tử Khí. Sau này những nhà khoa học cũng xác định màu trắng có tác dụng tán các bực xạ xáu. Nên trong các phòng có liên quan đến bức xạ, các người làm việc thường mặc áo Blu trắng. Nhất là trong các lò phản ứng hạt nhân. h/ Con trai đội mũ rơm. Hiện tượng này, anh chị em học viên các lớp Địa Lý Lạc Việt đều đã được biết rằng: Mọi vật thể xốp có tính hấp thụ và ngăn cản các bức xạ xấu. Mũ rơm là một dạng vật thể xốp. Và những người con trai phải đi sát quan tài. Nên đội mũ rơm để tránh bức xạ của Tử Khí xâm nhập vào não. Thưa quý vị và các bạn. Tất cả những điều mà tôi trình bày trên đây, chỉ là nhưng ví dụ, có tính định hướng nghiên cứu , khi xác định rằng: Thuyết ADNH và kinh Dịch, chi phối tất cả đời sống và văn hóa truyền thống Việt. Bởi vì, dân tộc Việt chính là chủ nhân đích thức của nền văn minh Đông phương. Có thể có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng tôi không tranh luận. Nhưng cách giải thích của tôi, có tính hệ thống và nhất quán với mối liên hệ hợp lý cho tất cả các vấn đề liên quan đến nó. Đồng thời, nó cũng xác định câu nói nổi tiếng của SW Hawking, khi ông phát biểu - Đại ý - rằng: "Khi xác định một lý thuyết thống nhất, thì những quy luật tự nhiên của vũ trụ được nhân thức, sẽ giúp điều hành xã hội của chúng ta". Những nghi lễ, tập tục văn hóa truyền thống Việt, hoàn toàn thuận theo thuyết ADNH - chính là Lý thuyết thống nhất, mà nhân loại đang tìm kiếm. Xin cảm ơn sự quan tâm và chia sẻ.
    5 likes
  12. CÁCH CHỌN TUỔI XÔNG ĐẤT NĂM KỶ HỢI 2019 3 TUỔI TỴ, DẬU, SỬU TAM TAI NĂM KỶ HỢI 2019, CÁCH HÓA GIẢI RA SAO? Vì sao không nên đợi đến 30 Tết mới mua hoa, cây cảnh? NHỮNG TUỔI SẼ ĐÓN ĐƯỢC VẬN KHÍ TỐT NHẤT NĂM KỶ HỢI 2019!
    3 likes
  13. HỘI THẢO KHOA HỌC TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT Hà Nội ngày 02 tháng 05 năm 2019 Kính gửi các học giả, các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Cho đến nay, việc tìm về cội nguồn lịch sử văn hóa Việt vẫn còn một câu hỏi then chốt chưa được trả lời thỏa đáng: Cội nguồn lịch sử của dân tộc Việt bắt đầu từ đâu? Mặc dù vào thời Trần-Lê, các sử thần cho rằng, nước ta có sử từ khi lập nước Văn Lang dưới thời các vua Hùng, vào năm Nhâm Tuất 2879 TCN. Tính đến nay là gần 5000 năm lịch sử (2879 BC + 2019 AC = 4898 năm). Và sự xác định Việt sử gần 5000 năm văn hiến trở thành truyền thống văn hóa sử trong di sản dân tộc Việt Nam. Những cuốn chính sử của người Việt từ khi hưng quốc từ thế kỷ thứ 10, đều ghi rất rõ rằng: Nước Văn Lang Bắc giáp Động Đình Hồ , Nam giáp Hồ Tôn ,Tây giáp Ba thục, đông giáp Đông Hải. Đất nước do các vị vua Hùng cai quản truyền được 18 thời. Nhưng có thể nói, ngay khi hoàn thành bộ sử Đại Việt Sử ký toàn thư, nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã tỏ ý hoài nghi phần cổ sử Việt. Cho đến đầu thế kỷ XX, khi các phương pháp luận Sử học của nền văn minh phương Tây du nhập vào Việt Nam theo chân đoàn quân viễn chính Pháp, với quan niệm về các di sản khảo cổ như là một bằng chứng khách quan cần có cho việc nghiên cứu lịch sử. Trên cơ sở phương pháp luận này, đã xuất hiện rất nhiều học giả như: Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, kể cả các học giả Pháp… đều tỏ ra hoài nghi cội nguồn Việt sử vì tính mơ hồ của truyền thuyết và huyền thoại trong giai đoạn cổ sử thời lập quốc của Việt tộc. Tuy nhiên, tất cả những học giả này – tính từ Ngô Sĩ Liên, đều chỉ đặt vấn đề hoài nghi và không phủ nhận cội nguồn văn hóa sử truyền thống Việt trải gần 5000 năm văn hiến. Nhưng, từ những năm 70 của thế kỷ XX, rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong nước, lên tiếng phủ nhận cội nguồn văn hóa sử truyền thống. Hiện nay, các bộ thông sử hầu như đều khẳng định, lịch sử Việt Nam chỉ có khoảng 2700 năm. Và họ coi Thời hùng Vương, cội nguồn Việt sử chỉ là “liên minh gồm 15 bộ lạc”; “Cùng lắm chỉ là một nhà nước sơ khai”, với “Địa bàn hoạt động vỏn vẹn chỉ ở đồng bằng sông Hồng”. Cả hai quan điểm về cội nguồn Việt sử đều chưa có một kết luận ngã ngũ. Trong khi đó, việc tìm về cội nguồn Việt sử một cách trung thực, khách quan, phù hợp với những chuẩn mực khoa học, là một việc cần, cấp thiết cho không riêng gì với dân tộc Việt, mà còn là trách nhiệm của tất cả các dân tộc trên thế giới để xác định lịch sử tiến hóa và phát triển của mỗi dân tộc. Do đó, nếu chúng ta không xác định được thời điểm hình thành của lịch sử dân tộc, thì mọi cuốn sử được viết là không có cơ sở. Không thể chối bỏ tình trạng đáng lo ngại hiện nay là chúng ta đang trong cuộc đại khủng hoảng về Sử học. Vì vậy, vấn đề thiết cốt đặt ra hôm nay là phải xác định thời điểm cội nguồn lịch sử của dân tộc Việt. Điểm lại việc khảo cứu Sử Việt từ đầu thế kỷ tới nay, ta thấy ngoài việc sao chép những tư liệu từ trước của giới học giả kinh viện, và những luận điểm phù nhận cội nguồn văn hóa sử truyền thống của Việt tộc, còn có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra những phát hiện mới về cội nguồn cùng lịch sử dân tộc. Có thể kể đến những học giả, nhà nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu độc lập ở trong và ngoài nước, như Trung Tâm Nghiên cứu Văn Hóa Minh Triết (GĐ Nguyễn Khắc Mai), Trung Tâm Lý Học Phương Đông (GĐ Nguyễn Vũ Tuấn Anh), Trung Tâm Nghiên Cứu Tiền Sử Đông Nam Á (Dr. Nguyễn Việt), Trung Tâm Nghiên Cứu các hiện tượng & khả năng đặc biệt (GĐ Nguyễn Đức Thiện), Nhóm NC Tiền Sử & Văn Minh Việt, Nhóm Bách Việt Trùng Cửu, Nhóm Đá cổ Sa Pa... Ở nước ngoài như TT An Việt Toàn Cầu (Anh, Pháp, Mỹ, Canada...), Nhóm Tư Tưởng Australia, Nhóm Minh Triết Việt (Mỹ)... bằng cách sử dụng nhiều phương pháp học thuật, kinh nghiệm từ truyền thống đến khoa học liên ngành như Cổ Nghệ, Cổ Ngữ, Cổ Sinh, Nhân Chủng, Khảo Cổ, Đạo, Triết, Ngữ Lý, Huyền Sử, Lịch Sử, Cơ Cấu, Tâm Lý miền sâu, Công Nghệ Gene ADN... đã xây dựng được phần quan trọng nền tảng Lịch Sử Văn Hóa Việt thời Tiền sử. Trên hành trình tìm về cội nguồn lịch sử văn hóa Việt phải kể đến Triết gia Lương Kim Định (1915-1997), người đã cống hiến hơn 50 năm nghiên cứu để khẳng định vị thế dân tộc và đất nước Việt, một trong những cội nguồn văn hóa Phương Đông và Nhân Loại. Với triết thuyết văn hóa Việt Nho & triết lý An Vi được xây dựng trên nền tảng hệ thống Triết Lý nguyên Nho thuần Việt từ cội nguồn, ông đã khẳng định vị trí, con người, văn hóa, văn hiến và văn minh lúa nước Việt Nam từ hơn một vạn năm. Ngày nay, tri thức của Thế Kỷ XXI cho chúng ta biết sự ra đời của Công Nghệ Gene ADN, đã chứng minh những tiên tri và dự cảm của các nhà nghiên cứu về nguồn gốc Loài Người & Hành trình Nhân Loại của Thế Kỷ XX. Đó là sự thắng thế của Thuyết Một trung tâm về Nguồn gốc Loài Người (từ Châu Phi), với những trung tâm nghiên cứu Tiền sử Nhân Loại nổi tiếng như Oxford University, Birmingham Uni., Columbia Uni., Nhóm các nhà bác học về Gene J.Y. Chu (Texas Uni.), Stephen Oppenheimer, Balinger, Solhem II, Alice Robert (Birmingham Uni.), Alberto-Pizza (Torino Uni., Italy)... đã đưa ra nhận định: - 70.000 năm trước, người Homo Sapiens từ châu Phi theo ven biển Ấn Độ di cư tới Việt Nam. Tại đây, các dòng người tiền sử hòa huyết sinh ra người Lạc Việt. - 50.000 năm trước, người Lạc Việt lan ra các đảo Đông Nam Á, chiếm lĩnh Ấn Độ. - 40.000 năm trước đi lên khai phá Hoa lục. Tiếp cận thông tin này, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn và Tiến sỹ Nguyễn Đức Hiệp từ nước Úc đã công bố nhiều bài viết trên tạp chí Tư tưởng. Luật sư Cung Đình Thanh cho in cuốn “Tìm Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam Dưới Ánh Sáng Mới Của Khoa Học”. Ở Pháp, Giáo sư Trần Đại Sỹ có một số công trình có giá khảo sát thực địa Trung Quốc, với tác phẩm “Thử tìm lại biên giới cổ của Việt-Nam” chứng minh cho thời Tiền sử Việt. Ở Úc có nhà nghiên cứu VH Việt cổ, Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang với những chủ đề đa văn hóa như Ca dao, tục ngữ, Cổ tích Âu Cơ, chữ Việt cổ “Nòng Nọc”, Dịch lý, Giải mã Trống Đồng. Một nữ tác giả người Việt ở Mỹ tên Tao Babe công bố bài viết: “Việt cổ - cái nôi của văn minh châu Á”. Ngoài các tác giả trên, việc chứng minh cho cội nguồn Việt sử truyền thống còn có các tác giả trong nước như Dr Nguyễn Việt, Hà Văn Thùy, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Viên Như, Nguyễn Đức Thiện, Tạ Đức, Nguyễn Đức Tố Lưu… Để việc tìm về cội nguồn dân tộc Việt được kết quả và nhân danh những chuẩn mực khoa học đi tìm chân lý một cách khách quan, công bằng và bình đẳng, Trung tâm Văn hóa Minh triết cùng với Trung tâm Nghiên cứu Lý học phương Đông quyết định tổ chức Hội thảo khoa học TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT với mục đích: 1. Trình bày những khám phá mới về cội nguồn và lịch sử dân tộc. 2. Tiêu chí xác định thời có Sử của dân tộc Việt. 3. Xác định thời điểm hình thành Sử Việt. Chúng tôi mong các học giả, các nhà nghiên cứu thực sự quan tâm đến cội nguồn dân tộc Việt, sẽ bày tỏ quan điểm của mình và viết tham luận đóng góp cho Hội thảo theo ba chủ đề trên. Tham luận xin gửi: Ông Nguyễn Khắc Mai: maiminhtriet@gmail.com Ông Trương Sỹ Hùng: truongdonghao@gmail.com Ông Hà Văn Thùy: thuyhavan@gmail.com Thời gian: muộn nhất là ngày 30 tháng 07 năm 2019. Xin chân thành cảm ơn quý vị học giả và mọi người quan tâm đến cội nguồn Sử Việt. Thay mặt Ban tổ chức Giám đốc Trung Tâm Văn Hóa Minh Triết Nguyễn Khắc Mai
    3 likes
  14. NGUYÊN LÝ ĐỘNG THỔ VÀ CHỌN TUÔI ĐỘNG THỔ XÂY DỰNG NHÀ NĂM 2019 KỶ HỢI Nhà nghiên cứu NGUYỄN VŨ DIỆU (Thiên Sứ) xin giới thiệu đến quý vị khán giả một bài nghiên cứu về Khí của Ông trong lý học Đông Phương Nhà nghiên cứu NGUYỄN VŨ DIỆU ( Thiên Sứ) xin giới thiệu tới quý vị khán giả cách định tâm trong địa lý phong thủy Lạc Việt Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Diệu (Thiên Sứ) xin gửi đến quý vị khán bài nghiên cứu của ÔNg về cội nguồn lý thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH trong Lý học Đông Phương Nhà nghiên cứu NGUYỄN VŨ DIỆU (Thiên Sứ) xin giới thiệu bài nghiên cứu của Ông về cách tính mệnh trạch trong bát trạch tới quý khán giả
    3 likes
  15. CHƯƠNG V THUỘC TÍNH VÀ BẢN THỂ CỦA VẬT CHẤT. Khi lên mạng tìm hiểu về những thuộc tính của vật chất, chúng ta có ngay một loạt sự mô tả liên quan, từ nhận thức mới nhất có tính nền tảng của hệ thống tri thức của nền văn minh hiện nay, chon đến những mô tả cổ điển nhất về thuộc tính của vật chất. Phần dưới đây, được trích dẫn từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: V.I. Sự phát triển của nhận thức những thuộc tình của vật chất: Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. 1/ Vật chất cùng với không gian và thời gian là những vấn đề cơ bản mà tôn giáo, triết học và vật lý học nghiên cứu. Vật lý học và các ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu cấu tạo cũng như những thuộc tính cụ thể của các dạng thực thể vật chất khác nhau trong thế giới tự nhiên. Các thực thể vật chất có thể ở dạng trường (cấu tạo bởi các hạt trường, thường không có khối lượng nghỉ, nhưng vẫn có khối lượng toàn phần), hoặc dạng chất (cấu tạo bởi các hạt chất, thường có khối lượng nghỉ) và chúng đều chiếm không gian. Với định nghĩa trên, các thực thể vật chất được hiểu khá rộng rãi, như một vật vĩ mô mà cũng có thể như bức xạ hoặc những hạt cơ bảncụ thể và ngay cả sự tác động qua lại của chúng. Đôi khi người ta nói đến thuật ngữ phản vật chất trong vật lý. Đó thực ra vẫn là những dạng thức vật chất theo định nghĩa trên, nhưng là một dạng vật chất đặc biệt ít gặp trong tự nhiên. Mọi thực thể vật chất đều tương tác lẫn nhau và những tương tác này cũng lại thông qua những dạng vật chất (cụ thể là những hạt tương tác trong các trường lực, ví dụ hạt photon trong trường điện từ). Các tính chất cơ bản của vật chất Khối lượng Khối lượng là một thuộc tính cơ bản của các thực thể vật chất trong tự nhiên. Quán tính Theo lý thuyết của Isaac Newton mọi vật có khối lượng đều có quán tính (định luật 1 và 2 của Newton, xem thêm trang cơ học cổ điển), do đó cũng có thể nói mọi dạng thực thể của vật chất trong tự nhiên đều có quán tính. Năng lượng Năng lượng là một thuộc tính cơ bản của tất cả các thực thể vật chất trong tự nhiên. Theo lý thuyết của Albert Einstein mọi vật có khối lượng đều có năng lượng (công thức E=mc², xem thêm trang lý thuyết tương đối), do đó cũng có thể nói mọi dạng thực thể của vật chất trong tự nhiên đều có năng lượng. Công thức ΔE=Δmc² không nói rằng khối lượng và năng lượng chuyển hóa lẫn nhau. Năng lượng và khối lượng đều là những thuộc tính của các thực thể vật chất trong tự nhiên. Không có năng lượng chuyển hóa thành khối lượng hay ngược lại. Công thức Einstein chỉ cho thấy rằng nếu một vật có khối lượng là m thì nó có năng lượng tương ứng là E=mc². Trong phản ứng hạt nhân, nếu khối lượng thay đổi một lượng là Δm thì năng lượng cũng thay đổi một lượng tương ứng là ΔE. Phần năng lượng thay đổi ΔE có thể là tỏa ra hay thu vào. Nếu là tỏa ra thì tồn tại dưới dạng năng lượng nhiệt và bức xạ ra các hạt cơ bản. Lưỡng tính sóng - hạt Lưỡng tính sóng hạt là một đặc tính cơ bản của vật chất, thể hiện ở điểm mọi vật chất di chuyển trong không gian đều có tính chất như là sự lan truyền của sóng tương ứng với vật chất đó, đồng thời cũng có tính chất của các hạt chuyển động. Cụ thể, nếu một vật chất chuyển động giống như một hạt với động lượng p thì sự di chuyển của nó cũng giống như sự lan truyền của một sóng với bước sóng λ là: λ = h/p - với: h là hằng số Planck. Các hạt có động lượng càng nhỏ thì tính sóng thể hiện càng mạnh. Ví dụ electron luôn thể hiện tính chất sóng khi nằm trong nguyên tử, và cũng bộc lộ tính chất di chuyển định hướng như các hạt khi nhận năng lượng cao trong máy gia tốc. Ánh sáng có động lượng nhỏ và thể hiện rõ tính sóng như nhiều bức xạ điện từ trong nhiều thí nghiệm, nhưng đôi lúc cũng thể hiện tính chất hạt như trong hiệu ứng quang điện. Tác động lên không thời gian Vật chất, theo thuyết tương đối rộng, có quan hệ hữu cơ - biện chứng với không-thời gian. Cụ thể sự có mặt của vật chất gây ra độ cong của không thời gian và độ cong của không thời gian ảnh hưởng đến chuyển động tự docủa vật chất. Không thời gian cong có những tính chất hình học đặc biệt được nghiên cứu trong hình học phi Euclide. Trong lý thuyết tương đối rộng, lực hấp dẫn được thay bằng hình dáng của không thời gian. Các hiện tượng mà cơ học cổ điển mô tả là tác động của lực hấp dẫn (như chuyển động của các hành tinh quanh Mặt Trời) thì lại được xem xét như là chuyển động theo quán tính trong không thời gian cong. Một Luận thuyết cho rằng Vật chất là do các nguyên tử chịu tác động của sự rung động (vibrations), hay chuyển động (motions), ở tần số hay vận tốc cao sinh từ trường (electro-magnetism) gây kết dính mà thành. Tất cả các dạng chất rắn, chất lỏng, chất khí; hay các dạng năng lượng như âm thanh, ánh sáng; cũng đều được tạo ra bằng các sóng rung động như thế. Albert Einstein đã phát biểu rằng: “Everything in life is vibration” (mọi thứ trên đời đều là rung động). Vật chất tối Hình dung về tỷ lệ thành phần vũ trụ: năng lượng tối 73%, vật chất tối 23%, khí Hidro, Heli tự do, các sao, neutrino, thành phần chất rắn và các phần còn lại 4% Vật chất tối là phần vật chất mà con người chưa thể quan sát, cân đo được mà chỉ biết đến nó thông qua tác động tới những vật thể khác. Có những tính toán cho thấy vật chất tối chiếm phần lớn khối lượng của các thực thể vật chất trong vũ trụ. Phản vật chất Phản vật chất cũng là vật chất, nhưng cấu thành bởi các phản hạt... Năm 1928, trong khi nghên cứu kết hợp thuyết lượng tử vào trong thuyết tương đối rộng của Albert Einstein, Paul Dirac đã phát hiện ra rằng các tính toán không phản đối chuyện tồn tại các hạt cơ bản đặc biệt, có hầu hết mọi đặc tính cơ bản như các hạt cơ bản thông thường, nhưng mang điện tích trái dấu. Từ đó hình thành nên giả thiết tồn tại các hạt phản vật chất. Theo tính toán, nếu một hạt phản vật chất gặp (tương tác) hạt vật chất tương ứng, chúng sẽ nổ tung và tỏa ra 1 năng lượng rất lớn, theo phương trình Einstein. Một trích dẫn khác mô tả các công trình nghiên cứu hiện đại của Vật lý học, cho thấy những thuộc tình mới nhất của vật chất. Đoạn trích dẫn dưới đây trên web https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/sieu_hinh_vat_ly_tinh_than_vat_chat.html 2. Trường vật chất, Trường Thông tin Trong những cuộc bàn thảo “Vũ trụ là gì?”, nhà Vật lý lớn người Mỹ Heinz Pagels, đã nói: Cũng như phần đông các nhà Vật lý, Tôi cho rằng Vũ trụ là một thông điệp được soạn thảo bằng một mật mã - mã Vũ trụ - mà nhiệm vụ của các nhà Khoa học là giải thứ mã ấy. Quá trình tìm kiếm chiếc chìa để mở khóa thứ mã ấy, được triển khai với 3 giai đoạn: Vật chất, Năng lượng và cuối cùng là Thông tin. Làm rõ các giai đoạn đó, ta có thể hiểu như sau: bởi vì một hạt không phải tồn tại tự bản thân nó, mà chỉ là qua những hiệu ứng tương tác do nó đẻ ra. Tập hợp những hiệu ứng ấy được gọi là một “Trường”. Như vậy, những vật thể xung quanh ta chỉ là những tập hợp Trường: Trường điện từ, Trường hấp dẫn, Trường Proton, Trường électron, các Trường bức xạ v. .v.. Nghĩa là, hiện thực chủ yếu là một tập hợp của các Trường tác động lẫn nhau thường xuyên. Chúng dao động, và các hạt cơ bản với bản chất khác nhau được gắn vào. Đó là biểu hiện “chất” của Trường. Dao động làm cho chúng di chuyển trong không gian và đi vào sự tương tác lẫn nhau. Nhưng Trường bao giờ cũng gắn với Sóng. Vật chất, đó cũng là các Sóng ? - Đúng thể, Nhà Vật lý lý thuyết rất nổi tiếng Louis de Broglie đã chứng minh rằng, Vật chất của các vật thể, tự nó cũng bao gồm nhiều cấu hình sóng, do chúng giao thoa với năng lượng. Mà Sóng thì bao giờ cũng mang Thông tin. Đến đây, có vẻ như có một sự mâu thuẫn giữa vật lý cổ điển và vật lý hiện đại, về vấn đề liên quan đến thuộc tính của vật chất. Vật lý cổ điển cho rằng: Năng lượng Năng lượng là một thuộc tính cơ bản của tất cả các thực thể vật chất trong tự nhiên. Nguồn: Thư viện mở Wikipedia. Nhưng Vật lý hiện đại thì có vẻ như năng lượng tách rời thuộc tính của vật chất. Nhà Vật lý lý thuyết rất nổi tiếng Louis de Broglie đã chứng minh rằng, Vật chất của các vật thể, tự nó cũng bao gồm nhiều cấu hình sóng, do chúng giao thoa với năng lượng. Mà sóng thì bao giờ cũng mang Thông tin. Nguồn: chungta.com Đến đây, người viết cần xác định rằng: Năng lượng chính là một thuộc tính căn bản của vật chất. Những định luật của vật lý cổ điển, đến hiện đại đều xác định thuộc tính hàm chứa năng lượng của vật chất. Công thức nổi tiếng của thuyết Tương Đối rộng: E = m.c2 đã xác định điều này. Qua những trích dẫn trên, người viết xác định rằng: Trong quá trình phát triển của nhận thức về vật chất trong lịch sử văn minh nhân loại, con người ngày càng hiểu biết hơn về những thuộc tình của vật chất quan sát được. Do đó, chúng ta thấy rõ khái niệm ‘vật chất’ là một phạm trù mô tả những thuộc tính của nó, mà con người nhận thức được trong quá trình phát triển của nền văn minh. Bởi vậy, nội hàm khái niệm vật chất, cũng thay đổi qua các thời kỳ phát triển. Phần tiếp theo đây, chứng tỏ điều này. V.II. Những định nghĩa về phạm trù vật chất trong lịch sử nền văn minh. Ở đoạn trên, người viết đã chứng tỏ với bạn đọc về sự phát triển nhận thức về những thuộc tính của vật chất trong lịch sử văn minh nhân loại nhận thức được. Do đó, nội hàm khái niệm vật chất cũng thay đổi theo những nhận thức về thuộc tính của nó. Đoạn trích dẫn sau đây, xác định điều này: Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật thời cổ đại là đi tìm một thực thể ban đầu nào đó và coi nó là yếu tố tạo ra tất cả các sự vật, hiện tượng khác nhau của thế giới, tất cả đều bắt nguồn từ đó và cuối cùng đều tan biến trong đó. Tức là họ muốn tìm một thực thể chung, là cơ sở bất biến của toàn bộ tồn tại, là cái được bảo toàn trong sự vật dù trạng thái và thuộc tính của sự vật có biến đổi và được gọi là vật chất (tiếng Latin là materia). Trong lịch sử triết học cổ đại, các nhà triết học duy vật cũng quan niệm vật chất rất khác nhau. Ví dụ Thales (624-547 trước Công nguyên) coi vật chất là nước, Anaximenes (585-524 trước Công nguyên) coi vật chất là không khí, Heraclitus (540-480 trước Công nguyên) coi vật chất là lửa, Democritus (460-370 trước Công nguyên) coi vật chất là các nguyên tử,... Nói chung các nhà triết học cổ đại quan niệm vật chất dưới dạng cảm tính và quy vật chất thành một thực thể cụ thể, cố định. Mặc dù có những hạn chế về mặt lịch sử, song những quan niệm trên lại có ý nghĩa tích cực trong việc đấu tranh chống lại quan niệm duy tâm thời bấy giờ. Đến thời kỳ cận đại, khoa học phát hiện ra sự tồn tại của nguyên tử, cho nên quan niệm của thuyết nguyên tử về cấu tạo của vật chất ngày càng được khẳng định. Quan niệm này tồn tại và được các nhà triết học duy vật cũng như các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng sử dụng cho đến tận cuối thế kỷ 19. Trong giai đoạn thế kỷ 17 - thế kỷ 18, mặc dù đã có những bước phát triển, đã xuất hiện những tư tưởng biện chứng nhất định trong quan niệm về vật chất, song quan niệm đó ở các nhà triết học duy vật thời kỳ này về cơ bản vẫn mang tính chất cơ giới, đó là khuynh hướng đồng nhất vật chất với nguyên tử hoặc với khối lượng. Quan niệm này chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi cơ học cổ điển của Newton, một lĩnh vực của vật lý được coi là phát triển hoàn thiện nhất thời bấy giờ. Cơ học cổ điển coi khối lượng của vật thể là đặc trưng cơ bản và bất biến của vật chất; thế giới bao gồm những vật thể lớn nhỏ khác nhau, cái nhỏ nhất không thể phân chia nhỏ hơn là các nguyên tử; đặc trưng cơ bản của mọi vật thể là khối lượng; tính tất yếu khách quan trong hiện thực là tính tất yếu khách quan được thể hiện qua các định luật cơ học của Newton; vật chất, vận động, không gian và thời gian là những thực thể khác nhau cùng tồn tại chứ không có quan hệ ràng buộc nội tại với nhau. Nguồn Wikipedia. Định nghĩa cuối cùng và phổ biến nhất về vật chất, do V.I Lenin mô tả như sau: "vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác". Định nghĩa này của V.I. Lenin xuất hiện vào đầu thế kỷ XX. Sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật trong hơn 100 năm qua, đã bổ xung thêm những thuộc tính của vật chất, mà người viết đã trình bày ở trên. Những thuộc tính mới của vật chất đã vượt ra ngoài sự thực chứng của cảm giác. Một số nhà bác học đã phải thốt lên: “Phải chăng ‘vật chất’ đã biến mất?!” Do đó, một nhu cầu mới xuất hiện và đặt ra vấn đề cần phải định nghĩa lại bản thể của vật chất. V.III. Bản thể và nội hàm khái niệm vật chất. Sự phát triển của những tri thức nền tảng của nền văn minh hiện đại, cũng đã xác định rằng: “Tương tác là nguyên nhân hình thành tất cả mọi sự vật, sự việc. Bản chất của tương tác như thế nào thì sẽ hình thành sự vật, sự việc như thế đó”. Như vậy, một trong những thuộc tính quan trọng nữa của vật chất, cũng chính là sự tương tác giữa các thực thể vật chất. Trên cơ sở tất cả những vấn đề đã trình bày, người viết tổng hợp và mô tả một định nghĩa về ‘vật chất’, như sau: Khái niệm ‘vật chất’ là sản phẩm của tư duy trừu tượng tổng hợp, mà nội hàm của nó mô tả một phạm trù hàm chứa mọi sự tồn tại có chứa ‘năng lượng’ và ‘tương tác’ thì gọi là ‘vật chất’. Như phần trên, người viết đã trình bày: Nếu như định nghĩa mới nhất về phạm trù ‘vật chất’ của người viết, chưa được sự công nhận rộng rãi của các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học, thì người viết sẽ coi như là một như một ‘tiền đề’, để tiếp tục chứng minh cho chủ đề được đặt ra cho bộ sách này, là: Thuyết Âm Dương Ngũ hành – Lý thuyết thống nhất vũ trụ. Và nếu như những tiền đề được đặt ra từ bộ sách này, tích hợp một cách hợp lý trong hệ thống luận cứ của nó, một cách nhất quán, hoàn chỉnh để xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất, thì tiền đề đó được coi là đúng. Trên cơ sở tiền đề về phạm trù ‘vật chất’ đã được xác định, như một tiền đề, người viết tiếp tục mô tả về bản thế khái niệm ‘Không gian’.
    3 likes
  16. DI TÍCH KHẢO CỔ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA LÝ CỔ ĐÔNG PHƯƠNG - CÁCH HƠN 6000 NĂM TRƯỚC. Cá nhân tôi - Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh - luôn chỉ coi di vật khảo cổ là một giá trị trực quan, chứng minh một cách sắc sảo cho một hệ thống lý thuyết khoa học liên quan đến nó. Không cần đến sự phát hiện - được mô tả trong bài viết dưới đây - tôi cũng xác quyết về mặt lý thuyết về cội nguồn Địa Lý phong thủy Đông phương nói riêng và toàn bộ hệ thống Lý học của nền văn minh Đông phương - mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành - thuộc về nền văn hiến Việt. Rõ ràng đây là một di sản khảo cổ xác định những giá trị tri thức tinh hoa Đông phương xuất hiện ở Nam Dương tử, có trước cả lịch sử hình thành dân tộc Hán. ===================== PHỤ LỤC. MỘ RỒNG. 徐韶杉:从阴宅风水看仰韶天文 Từ Thiều Sam: Tòng âm trạch khán Ngưỡng Thiều thiên văn 2011-01-07 来源:中国建筑风水文化网 作者:一鸣 Xu Shao Shan: Nhìn Yangshao thiên văn học từ Amityville Horror phong thủy 2011-01-07 Nguồn: Trung Quốc Kiến trúc Văn hóa Phong Thủy Tác giả: Yiming 字号:T|T|T 内容摘要:   1987 年五月在河南省濮阳市西水坡(pha:dốc) 发现了仰韶文化遗址。西水坡位于濮阳县城老城墙的北侧,原是濮阳老城内的一块低洼地,该墓葬是西水坡考古现场发现的第45座古墓,考古命名为西水坡45号墓 Tóm tắt: KHÁM PHÁ THIÊN VĂN HỌC NGƯỠNG THIỀU TỪ NGÔI MỘ CỔ Tác giả: Nhất Minh Vào tháng năm 1987, tại dốc Tây Thủy, trấn Bộc Dương, tỉnh Hà Nam, phát hiện di chỉ văn hóa Ngưỡng Thiều. Dốc Tây Thủy nằm ở phía bắc của bức tường thành phố cũ Bộc Dương, phát hiện ra nghĩa trang với 45 ngôi mộ. Ngôi số 45 được khảo sát đặc biệt. Định tuổi bằng C14, ngôi một có niên đại khoảng 6500 năm (6460+/- 135 năm), thuộc trung kỳ văn hóa Ngưỡng Thiều. Đầu mộ quay về hướng nam, chân phía bắc, phía đông là một con rồng làm bằng vỏ sò, có móng vuốt, sống động như thật; phía tây của nó giống như một con hổ bằng vỏ sò, đầu lặng lẽ, uy nghi; phần bụng con hổ bằng vỏ sò có hình giống hoa mai. Phía bắc là hình tam giác bằng vỏ sò và hai xương chày của con người. Ngôi mộ số 45 có ba người tuẫn táng ở ba hướng Đông, Tây, Bắc, được chôn theo một độ xiên cố ý nào đó. Dưới chân mộ chủ có hình tam giác và hai ống xương chày trẻ em từ ngôi mộ số 31. Hiện tượng và kết luận: 1. Đầu tiên, Mộ Bộc Dương số 45 có hình thanh long bạch hổ và 28 địa điểm đồ hình mộ sơn tương ứng với đồ hình thanh long bạch hổ, (cho thấy) thanh long bạch hổ đồ của mộ Bộc Dương số 45 là tứ tựơng đồ. Theo hình dạng và kích thước của thanh long bạch hổ trong mộ Bộc Dương 45 thấy bảy con số phù hợp vị trí có thể được xác định 28 địa điểm đã được thiết lập tại thời điểm chôn cất. 2. xa nhất về phương nam theo hướng tý ngọ của mộ 45 là mộ số 31. chủ nhân mộ số 31ở phái cực nam là một đồng nữ, là thần hạ chí. Ba nạn nhân hiến tế trong mộ 45 thì một là biểu tượng của thần Xuân phân (phía Đông,đồng nam), thần Thu phân (phía Tây,đồng nữ) và thần Đông chí(Bắc,đồng nam),tại đây chu kỳ mùa được hoàn tất. Người xưa đã có một niềm tin văn hóa rất đầy đủ: Đông, Xuân là dương, được biểu thị bằng đồng nam; Hạ Thu là âm được biểu thị bởi đồng nữ. 3.Thứ ba, trong phần bụng con hổ bằng vỏ sò ở ngôi mộ số 45, có một loạt các vỏ sò nằm rải rác. Đống này nằm trong bụng của con hổ bằng vỏ sò, đồ hinh ngọn lửa trong bụng con hổ chỉ nhằm để khẳng định lẫn nhau. Trong đồ án của ngôi mộ 45 với mô hình đồ án đối chiếu, chúng phản ánh chính xác cùng một nội dung, hình ảnh là một "bản đồ sao." Trong bụng hổ là mặt trời hình hoa mai, theo thông lệ là ngày Xuân phân. Khái quát, ngôi mộ được sắp xếp theo tượng sao lúc hoàng hôn ngày Xuân phân. 4.Đo bằng con số ngôi mộ có sẵn ∠ BP'P = ∠ B'P'P = 24 ° 00 ', Thứ hai, theo những vỏ sò trong bụng con hổ có hình hoa mai là mặt trời, theo tiền lệ đó là quỹ đạo của sao vào ngày Xuân phân. 5. Đêm quan sát sao Bắc Dẩu, ngày dựng tiêu. Dưới chân chủ nhân ngôi mộ số 45 có hình tam giác nhỏ và hai xương chày trẻ em. Xương chày như cán của chòm Bắc Đẩu. Bắc Đẩu được người xưa dùng trong chiêm tinh học,đêm quan sát Bắc Đẩu, ngày dựng tiêu đo bóng. Phương pháp cắm tiêu đo hình cổ nhất là người xưa thông qua bóng trên cơ thể người thay đổi phương hướng mà dần dần học được cách thiết kế, đó là “tiêu.” Do cơ thể con người, cọc tiêu và thời gian có mối quan hệ đặc biệt, vì vậy người xưa gọi là thời gian đo đùi, ý nghĩa của chân đùi con người.Bắc Đẩu đồ trong ngôi mộ Bộc Dương 45, chân, tiêu và thời gian liên kết lại, phản ánh người xưa thông qua dựng tiêu đo bóng và quan trắc Bắc Đẩu để xác định thời điểm. 6 Để xương chày như cán của chòm sao Bắc Đẩu, xác định bốn tượng kiến lập trên quan sát tại Bắc đẩu. 7 Tôn thờ vật tổ của Trung Quốc tồn tại trong 6500 năm trước. Từ tính toán vị trí tứ tượng đồ tinh, người xưa tiến hành tối thiểu 100.000 quan sát chiêm tinh trước khi bắt đầu ghi chép 8 Đây là lần đầu tiên ở Trung Quốc phát hiện bố cục âm trạch phong thủy, quyết định phương hướng phát triển của phong thủy sau này. 9. Ngôi mộ số 45 đầu hình bán nguyệt, chân mộ vuông chứng tỏ quan niệm trời tròn đất vuông đã hình thành 10. Theo 28 địa điểm và chia ra bốn thần cho thấy 6500 trước đã nắm được sự vận hành của năm và sáng tạo các hệ thống thiên văn can chi. 1987 年五月在河南省濮阳市西水坡发现了仰韶文化遗址。西水坡位于濮阳县城老城墙的北侧,原是濮阳老城内的一块低洼地,该墓葬是西水坡考古现场发现的第45座古墓,考古命名为西水坡45号墓。 经碳十四测定,并经树轮较正,此墓大概是6460年(正负135年)以前的,属于新石器时代仰韶文化中期。墓主人头居南、足朝北,其东为一蚌壳塑龙像,张牙舞爪,栩栩如生;其西为蚌壳塑虎像,缓步平视,威风凛凛;虎胃部的蚌成梅花状。其北为蚌壳塑三角形和人的两根胫骨构成的图案。45号墓中3具殉葬人的摆放位置在墓穴中东、西、北三个方向,并特意斜置形成一定的角度。通过骨架鉴定,殉葬人的年龄都在12岁至16岁之间,他们的头部有刀砍的痕迹,都属于非正常死亡。Ngôi mộ số 45 có ba ngườituẫn táng ở ba hướng Đông, Tây, Bắc, được chôn theo một độ xiên cố ý nào đó. 濮阳西水坡45号墓的墓主人脚下小小的三角形和两根小孩儿胫骨来自31号墓中。 濮阳西水坡45号墓实拍图 濮阳西水坡45号墓示意图 濮阳西水坡45号墓分析图 Bộc Dương Tây Thủy pha số 45 mộ tích đồ 濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图和曾侯乙墓漆箱盖28宿青龙白虎图对比 Bộc Dương Xishuipo lăng mộ của các con số Rồng 45 ngôi mộ hổ và sơn bao gồm 28 địa điểm Rồng Bạch Hổ biểu đồ so sánh 濮阳西水坡31号墓 濮阳西水坡45号墓与31号相对位置 现象与结论: 一、濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图和曾侯乙墓漆箱盖28宿青龙白虎图对比,濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图为四象图;根据濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图的形状大小与青龙白虎七星所处位置一致,可以确定28宿在墓葬时已确立。 二、在位于45号墓的子午线最南方有31号墓。位于遗址最南端的31号墓的主人(女童)是司掌夏至的神,而45号墓中的3具殉葬人则分别象征着春分神(东)(男童)、秋分神(西)(女童)和冬至神(北)(男童),四时的演变在这里表现完整。 古人当时已经有了很完整的文化观念:认为春分、秋分、夏至、冬至是由四位天文官分别掌管的,即“分至四神”;冬春为阳以男童表示,夏秋为阴以女童表示。 三、在45号墓蚌壳虎的腹部,有一堆散乱的蚌壳。这堆位于虎腹下的蚌壳,与曾侯乙墓中虎腹下的火形图案正好可以相互印证。将濮阳西水坡45号墓中的图案与曾侯乙墓漆箱盖上图案对照,它们反映的内容完全一致,证实蚌塑图像就是一幅“星图”。虎胃部的蚌成梅花状为太阳,此即春分日躔胃宿。该墓是按春分日落时的星象布置。四、由墓图实测可得∠BP'P=∠B'P'P=24°00',其次根据虎胃部的蚌成梅花状为太阳,此即春分日躔胃宿 (triền vị túc) 。证实六千五百年前的先民早已测得的黄赤交角为24°。并有可能建立24节气。 五、夜观北斗,白天立表。濮阳西水坡45号墓的墓主人脚下小小的三角形和两根小孩儿胫骨。胫骨当作北斗斗柄。北斗是古人来计时的星象,夜观北斗,白天用立表测影。最古老的立表测影的方法是古人通过对人体影子的方向的改变而逐渐学会的,最初的测影工具只是模仿人体来设计,这就是“表”。 正因人体、表与时间具有这种特殊关系,所以古人把计量时间的表叫作髀,而髀的意思是人的腿骨。濮阳西水坡45号墓中的北斗图,把腿骨、表和时间这三个方面联系起来,体现了古人通过立表测影和观测北斗来决定时间这两种方法的结合。 六、以胫骨作北斗斗柄,四象的确定是建立在北斗观察之上的。 七、中国的图腾崇拜在6500年前已存在。从四象图星体位置计算,古人最低下线为10万前就开始对星象观察记录。 八、它是中国最早的阴宅风水布局,对后来的风水发展起到决定性指导方向。 九、45号墓主人头部墓室呈半圆形,腿部墓室呈方形。显示天圆地方盖天学已形成
    3 likes
  17. Phản biện bạn Trần Thiên Khánh trong CLB lý học Nguyễn Bỉnh Khiêm Thứ nhất : Xin đươc dịch để mọi người ko đọc được tiếng Trung có thể tham khảo. ++++++++++++ Từ điển Hán - Hán: http://xh.5156edu.com/html5/78297.html: Định nghĩa có luôn bác nhé: "事物由于矛盾转化而生生不已" _______________________________________ 1.事物由于矛盾转化而生生不已。 Sự vật do mâu thuẫn chuyển hóa mà sinh sinh không ngừng. 词语分开解释:(phần giải thích từ ngữ) ________________________________________ 相 : 相 xiāng 交互,行为动作由双方来:互相。相等。相同。相识。相传(chu俷 )。相符。相继。相间(ji 详细>> Tương: tương hỗ,hành vi động tác do song phương mà thành,tương hỗ,tương đẳng,tương đồng,tương tư,tương truyền,tương phụ,tương thuận 生 : 生 shēng 一切可以发育的物体在一定条件下具有了最初的体积和重量,并能发展长大:诞生。滋生。生长 详细>> Sinh: tất cả vật thể có thể sinh ra tại 1 điều kiện nhất định, có thể phát triển lớn lên như SINH RA, SINH TRƯỞNG. , Sinh tồn http://www.zdic.net/c/8/e2/226726.htm… 相生  xiāng shēng  ㄒㄧㄤ ㄕㄥ 相克 词语解释 ◎ 相生 xiāngshēng [interpromoting relation in five elements] 五行学说术语。借木、火、土、金、水五种物质之间互相滋生和促进的关系。来说明脏腑相互协调的生理现象。其次序是木生火、火生土,土生金,金生水,水生木 Tương sinh Thuật ngữ học thuyết ngũ hành bao gồm :mộc,hoả,thổ,kim,thuỷ,5 loại vật chất tương hỗ, Các hiện tượng có quan hệ với nhau ,mộc sinh hoả,hoả sinh thổ,thổ sinh kim,kim sinh thuỷ,thuỷ sinh mộc -------------------------- 相生(xiāng shēngㄒㄧㄤ ㄕㄥ) 1. 彼此互為因果。老子.第二章:「故有無相生、難易相成、長短相較、高下相傾。」 2. 孫子.勢:「奇正相生,如循環之無端。孰能窮之?」反相剋 Lão tử đệ nhị chương: Cố hữu vô tương, Sinh nan dịch tương, Thành trưởng đoản tương, giác cao hạ tương, khuynh (do đó, có và ko tương s inh, khó dễ tương thành, dài ngắn tương giao, cao thấp tương khuynh Tôn tử thế: kì chính tương sinh như tuần hoàn chi mô đoan thục nại cùng chi ++++++++++++++++++ Sau khi tra cứu hai trang từ điển Hán ngữ của bác Khánh, chỉ có một trang là có giải nghĩa khá chuẩn. Tôi cho rằng đây là một từ điển duy nhất có sự khác biệt về định nghĩa của từ Tương Sinh Tương Khắc. Tuy nhiên, vị học giả đưa định nghĩa này cũng không thể cho ra một định nghĩa rõ hơn về NGũ Hành Tương Sinh Tương Khắc và dẫn giải các lý luận từ vẫn dẫn giải ra ngũ hành là 5 dạng vật chất. do đó Tương Sinh vẫn được hiểu là SINH RA. Điều chúng ta cần bàn ở đây là 5 ngàn năm trước không có cái gọi là từ điển, và đương nhiên từ mượn không thể diễn tả được ý nghĩa và bản chất của một tên gọi cho một học thuyết. Chúng ta hiện có tên con sông Tiêu Tương ở Bắc Ninh, ít nhất được biết tới tồn tại tên này từ thời nhà Lý Công Uẩn. Hoặc trong đạo Mẫu , giá Chầu quan Đệ Tam cũng có nhắc tới Sông Tương. TQ có Sông Tương thuộc tỉnh Hồ Nam, và xin nhắc lại đó là thuộc về Bách Việt cổ. Tương cũng còn là một món quen thuộc của người dân miền Bắc mà thậm trí không cần từ điển nào giải thích “Nát như Tương” thì người Việt đều hiểu về chữ “tương “ này. Thứ hai, Rất cảm ơn bác đã đưa ra một lý giải chuẩn xác. Chính xác để phản ánh đầy đủ bản chất sẽ sẽ phải là Thủy Hỏa Tương Khắc, Kim Thủy Tương sinh. Vấn đề chính là khi tiếp nhận học thuyết này, người Hán vẫn hiểu là TƯƠNG SINH là SINH RA và từ TƯƠNG không còn có tác dụng của vai trò trong từ ghép tương sinh nữa, phó từ TƯƠNG mất giá trị trong từ ghép này. Do đó, họ mới hiểu sai Ngoại động từ thành nội động từ để từ đó sinh ra định nghĩa NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH thành Kim sinh thủy, Thủy sinh mộc. vv như hiện nay, và hóa thành vật chất được sinh ra theo như các định nghĩa sai lệch kéo dài hàng ngàn năm cho tới ngày nay. Với định nghĩa này, chúng ta sẽ không thể lý giải vì sao KIM là kim loại, lại sinh ra được THỦY là nước. … Thứ ba: Từ Tương ngoài chủ để này tức là các từ Tương dùng trong tục ngữ hay ngôn ngữ đều giống như người Việt chúng ta. Đặt lại vấn đề, Chữ Ngo và ngôn ngữ Việt ảnh hưởng tới chữ viết và văn hóa Hán , chúng ta sẽ có lập luận khác. Ngôn ngữ Mẹ Đẻ là công cụ giao tiếp có thể thay đổi theo thời gian nhưng ý nghĩa vẫn được thấu hiểu mà không cần từ điển. Thứ tư: Tôi có nhầm lẫn khi viết, từ Tướng Tương là tể tướng 宰相, không phải là tướng quân 将军 . Xin được cảm ơn và đính chính lại. Thứ năm, Như tôi đã trình bày, Ngôn ngữ Việt là một trong những hệ ngôn ngữ phong phú và phức tạp nhất . Vậy nên khó có thể có từ điển nào định nghĩa hết được các từ trong ngôn Ngữ Việt. Ngôn ngữ Mẹ Đẻ vốn để giao tiếp và sử dụng trong đời sống hàng ngày, nên khi nói đã thể hiện đầy đủ hàm ý của người muốn diễn đạt. TƯƠNG là món ăn được làm từ đậu tương vốn không có trong thực phẩm của người Hán, nhưng khi nói rau chấm tương thì ai cũng hiểu tương là gì. Ví dụ từ “Vãi Lúa” mới xuất hiện trong cách nói của thế hệ trẻ hiện nay, ko có từ điển nào nói về từ này. Nhưng khi nói thì đa số đều hiểu, “khôn vãi lúa, ngu vãi lúa…vv” là có ý gì. Thứ 6: Với cụm từ khi mang ý nghĩa Tương Sinh Tương Khắc mà vẫn được hiểu ý nghĩa thành SINH RA, với từ Tương có chung với tư TƯỚNG. Như vậy, ý nghĩa của Tương SInh TƯơng khắc theo ngôn ngữ Hán là SINH RA. Cho nên lẽ ra sẽ phải là Hỏa thổ tương Sinh, Hỏa kim tương khắc vvv. Trong ngôn ngữ Việt, từ ghép nhiều khi mang ý nghĩa định vị. Ví dụ: SÂN TRƯỜNG. Khi chúng ta ở trong Trường thì khi giao tiếp, chỉ cần chữ SÂN là hiểu SÂN ở trong sân trường. Còn khi ở ngoài khu vực, chúng ta sẽ nói SÂN trường để phân biêjt với SÂN ĐÌNH, SÂN NHÀ..vv. hoặc trong ngữ cảnh, nói về trường mà đứng ở ngoài sân trường thì sẽ nói SÂN TRƯỜNG. ,vv. NGôn ngữ Việt hoàn toàn phân định rõ ràng ngữ cảnh, không gian, thời gian và các tập hợp nhóm.
    3 likes
  18. GIẢI MÃ NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG MÙNG 10 THÁNG 3 Nguyễn Vũ Tuấn Anh 1. Ý nghĩa ngày giỗ Tổ 10 - 3. Sử sách và truyền thuyết không hề ghi lại ngày mất của vị vua Hùng đầu tiên hoặc cuối cùng. Vậy ngày giỗ Tổ vua Hùng mùng 10 tháng 3 xuất phát từ đâu? Hàng năm vào ngày giỗ Tổ Vua Hùng, là dịp để những người Việt Nam tưởng nhớ đến cội nguồn từ thời huyền sử. Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba. Thời Hùng Vương đã trở thành huyền sử, còn sót lại chăng chỉ còn là những tục ngữ ca dao và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian. Nhưng ngày giỗ Tổ Hùng Vương vẫn ăn sâu vào tâm linh người Lạc Việt. Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, dưới ách đô hộ phong kiến Bắc phương, tiếp theo là 1000 năm hưng quốc với bao thăng trầm của lịch sử, tâm linh của người Lạc Việt vẫn luôn nhớ về cội nguồn. Ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba là một trong những ngày lễ hội thiêng liêng nhất của người Lạc Việt. Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên của người Lạc Việt, theo văn bản xưa nhất tìm được thì được chép lại trong cuốn sách "Lĩnh Nam Chích Quái" của Trần Thế Pháp với tựa đề là “Hồng Bàng Thị”. Người viết lời tựa trong cuốn sách này là Vũ Quỳnh, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An Hải Dương, sinh năm 1453 mất năm 1516, ông viết bài tựa vào năm 1492. Người viết lời tựa sau cho cuốn sách này vào năm 1493 là Kiều Phú người làng Lạp Hạ, huyện An Sơn, tỉnh Sơn Tây, sinh năm 1450. Hai ông đã thừa nhận những truyện chép trong Lĩnh Nam Chích Quái đã được lưu truyền trong dân gian từ lâu. Trong bài tựa của mình , ông Vũ Quỳnh đã viết: “Những truyện chép ở đây là sử ở trong truyện chăng ?”. Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên được các nhà sử học Việt Nam ghi lại trong các bộ chính sử và nằm ở phần ngoại kỷ vì sự huyền ảo của câu chuyện. Đã có rất nhiều học giả phân tích tìm hiểu nội dung kỳ bí của truyền thuyết về thuở ban đầu lập quốc của người Lạc Việt. Những số liệu trong truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên có một sự liên hệ và trùng khớp một cách kỳ lạ với hai đồ hình nổi tiếng thiêng liêng trong truyền thuyết của nền văn minh Hoa Hạ và liên quan đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương, đó là Lạc Thư và Hà Đồ. Độ số của Lạc Thư – Hà Đồ có tổng số là 100 vòng tròn, trong đó có 50 vòng tròn đen, 50 vòng tròn trắng. Hiện tượng này trùng khớp với 100 quả trứng trong bọc theo truyền thuyết. Từ hai đồ hình trên, tạo ra hai hình vuông gọi là Cửu Cung Lạc Thư và Cửu Cung Hà Đồ. HÀ ĐỒ CỬU CUNG LẠC THƯ CỬU CUNG Qua đồ hình trên thì bạn đọc nhận thấy rằng: A/ 100 quả trứng tương ứng với 100 vòng tròn . B/ 50 người con theo cha tương ứng với 50 vòng tròn trắng, thuộc Dương, tượng là theo Cha (Dương). C/ 50 người con theo mẹ tương ứng với 50 vòng tròn đen, thuộc Âm, tượng là theo Mẹ (Âm). D/ 15 bộ mà truyền thuyết nói tới trùng khớp với số của Ma Phương Lạc Thư có tổng ngang dọc chéo đều bằng 15 . E/ 18 đời vua trùng khớp với tổng số Cửu Cung Lạc Thư và Cửu Cung Hà Đồ (9 x 2 = 18). Ngày mùng 10 tháng 3 - ngày giỗ Tổ Hùng Vương? Đây lại là một con số trùng với trung cung Hà Đồ đó là 5 – 10 thuộc về ngôi Hoàng Cực. Quý vị xem lại đồ hình Hà Đồ dưới đây: Trong đó: Tháng 3 là tháng Thìn (tượng là Rồng) – trùng khớp với biểu tượng của Lạc Long Quân (giống Rồng) chính là tháng thứ 5 nếu kể từ tháng Tí (Tức tháng Một năm trước. Trong cách tính tháng của người Việt như sau: * Tháng Một: Tý; * Tháng Chạp - tháng thứ 2: Sửu; * Tháng Giêng - tháng thứ 3: Dần; * Tháng Hai - tháng thứ 4: Mão; * Tháng Ba - tháng thứ 5: Thìn/ Rồng)(*). 18 thời Hùng Vương với nhiều vị vua, không thể giỗ chung một ngày. Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 chính là một biểu tượng của nền văn hiến vĩ đại của người Lạc Việt. Như vậy, truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên và ngày giỗ Tổ Hùng Vương hoàn toàn trùng khớp một cách kỳ lạ với nội dung của Lạc Thư – Hà Đồ. Vấn đề cũng chưa phải dừng ở đây. Trong truyền thuyết về thời Lập quốc của dân tộc Việt còn một chi tiết nữa là: 50 người con theo Mẹ Ấu Cơ suy tôn người con trưởng lên làm vua. 49 người con còn lại đi cai trị khắp nơi. Đây chính là số Đại Diễn trong Kinh Dịch dùng trong Bói cỏ thi - một phương pháp bói tối cổ của Đông phương. Nếu bạn hỏi tại sao lại phải bớt đi một mà không dùng số 50? Tôi xin được trả lời rằng: Chính truyền thuyết Con Rồng - Cháu Tiên đã trả lời rất rõ ràng và người ta không thể tìm được câu trả lời trong các bản văn chữ Hán. Sự trùng khớp hợp lý đến kỳ lạ của các sản phẩm trí tuệ thuộc về văn minh Lạc Việt với một giá trị kỳ vĩ của văn hoá Đông Phương là thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái , đã cho thấy cội nguồn đích thực của những di sản văn hoá đó thuộc về văn minh Lạc Việt. Như vậy, cùng với những di sản văn hoá phi vật thể khác, tổ tiên ta muốn nhắc nhở cho con cháu về một nền văn minh kỳ vĩ của một đất nước gần 5000 năm văn hiến và Lạc Thư – Hà Đồ và Kinh Dịch có nguồn gốc từ nền văn minh Lạc Việt. Cho nên, ngày giỗ Tổ Hùng Vương, không phải là ngày giỗ theo cách hiểu là ngày kỷ niệm ngày mất của một vị Vua Hùng trong 18 thời Hùng Vương(**), mà chính là ngày tưởng niệm giá trị huyền vĩ của nền văn hiến Việt, mà tổ tiên đã tôn vinh, trong thời dựng nước ở miền nam sông Dương tử. 2. Những vấn đề tồn nghi. Qua những tư liệu ở trên cho chúng ta thấy trong quá trình lịch sử, người Việt đã tồn tại nhiều ngày giỗ Tổ. Tại sao lại có nhiều ngày giỗ như vậy, trong khi phong tục Việt chỉ có một ngày giỗ chính? Tất nhiên, đây là điều cần giải thích. Trước khi giải thích điều này, chúng ta cần thừa nhận một thực tế khách quan, tồn tại hiển nhiên rằng: Ngày giỗ Tổ Hùng Vương từ lâu đã in sâu vào tâm linh Việt tộc, từ ngàn xưa và ngay cả trong đêm tối của ngàn năm Bắc Thuộc. Sau này, vào thời Hưng Quốc: Đinh, Lê Lý Trần....các triều đại chính thức coi là ngày Quốc Lễ. Tất nhiên, trong hơn 1000 năm Bắc thuộc đó, người Việt chỉ còn giữ lại trong tâm khảm mình sự tưởng niệm về ngày Giỗ Tổ, như là một sự tưởng niệm và tôn vinh Tổ Tiên. Và ngày đó được ghi nhân vào đầu trung tuần tháng Ba Âm lịch, từ 10, 11 và 12 như các tài liệu nói tới. Vậy cội nguồn đích thực của ngày giỗ tổ đích thực từ đâu trong ba ngày này. Điều này tôi đã chứng minh: Đó chính là ngày 10 - tháng Ba là độ số của Trung Cung Hà Đồ. Xin xem lại đồ hình Hà Đồ dưới đây: Vậy tại sao lại có ngày 11 và ngày 12? Điều này rõ ràng trái với truyền thống văn hiến Việt - chỉ có một ngày giỗ. Vậy trong ba ngày trên : Mùng 10, 11 và 12 sẽ chỉ có một ngày duy nhất đúng và hai ngày kia là sự biến tướng của ngày chính thức. Xét trong phong tục cổ Việt và còn lưu truyền ở các vùng Nam Dương tử về ngày giỗ, có một hiện tượng rất đáng chú ý sau đây: Trong việc chọn ngày giỗ, có một vtậpp quán chọn ngày sau ngày chết một ngày. Thí dụ, ngày mất là ngày mùng 8, thì giỗ vào ngày mùng 9. Ngày mất gọi là ngày Sinh (Tức ngày Dương) với ý nghĩa là trong ngày này, người thân vẫn còn sống dù chỉ một giờ. Về ý nghĩa sinh học thì người mất phải chờ sau 24 giờ, mới xác định được đã chết hẳn. Còn ngày hôm sau gọi là ngày Tử, và chọn làm ngày giỗ cho con cháu. Bởi vậy, sự xác định ngày giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng 3 là ngày chính thức, hoàn toàn chính xác. Còn các ngày sau đó là do sự thất truyền qua hàng ngàn năm Hán hóa về giá trị đích thực của ngày tôn vinh giá trị văn hiến Việt, qua sự giải thích trên, nên đã lùi lại một, hai ngày. Tất nhiên, cũng không loại trừ ông cha ta lấy các ngày 11, 12 để gìn giữ sự bí ẩn của nền văn hiến Việt: Coi Hà Đồ là nguồn gốc của những giá trị Lý Học Đông phương. Các trí giả uyên bác đời Nguyễn đã phục hồi lại những giá trị này: Lấy ngày 10 tháng 3 - độ số của Trung cung Hà Đồ - biểu tượng của nền văn hiến Việt - làm ngày tôn vinh tổ tiên. Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị. ------------------------ Chú thích * : Tháng Tí - tức tháng 11 âm lịch – trong dân gian còn gọi là tháng Một và phân biệt giữa số đếm 1 là số đầu tiên, nên gọi tháng đầu trong năm sau Tết là tháng Giêng. Tháng Một không phải là tiếng gọi tắt của tháng 11 mà là tháng đầu tiên theo thứ tự 12 con giáp. Cũng như tháng Sửu là tháng thứ 2 gọi là tháng Chạp để phân biệt với tháng 2 theo số đếm.Chúng tôi đã có bài viết liên quan đến cách gọi này của người Việt với nội dung có liên hệ với các chòm sao Thiên Cực Bắc với chu kỳ 6000 năm. Xin tham khảo đường kink sau: **: Nguyên văn cổ thư là "Thập bát thế", có thể hiểu là 18 thời đại các vua Hùng. Chứ không thể hiểu là 18 đời vua Hùng. Trong phát âm của người Việt thường gọi nôm và phổ biến là "Đời". Điều này, khiến những người có quan điểm phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt, thường căn cứ vào đấy để suy luận chủ quan cho rằng: 18 đời Hùng Vương chỉ gồm 18 vị vua trị vì.Hiện tượng lẫn lộn "Đời" và "Thời" trong ngôn ngữ Việt còn thể hiện ngay trong văn viết có tính bác học và nghiên cứu cho đến gần đây. Chúng ta xem cuốn "Kinh Dịch - Vũ Trụ quan Đông phương" của giáo sư Nguyễn Hữu Lượng - Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn trước 1975 - thì cũng thấy rằng, ông nhiều lần dùng chữ "Đời" để thể hiện một triều đại. Thí dụ: "Thời nhà Minh" thì ông vẫn viết là "Đời nhà Minh". Edited just now by Thiên Sứ
    3 likes
  19. CHƯƠNG II. KHẢ NĂNG PHỤC HỒI THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH VÀ KINH DỊCH TỪ NỀN VĂN HIẾN VIỆT. MỞ ĐẦU Người viết đã chứng minh với bạn đọc rằng: Nền văn hóa Hán không thể phục hồi được thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Những nền tảng của học thuyết này, làm nên những bí ẩn của nền văn minh Đông phương, vẫn sừng sững thách đố tri thức của nền văn minh hiện đại. Nhưng bản văn cổ chữ Hán thực chất chỉ là sự sao chép lại một cách không hoàn chỉnh và chỉ giới hạn trong các phương pháp ứng dụng như một sự mặc định, chứ không hề được mô tả như một học thuyết hoàn chỉnh. Trong phần đầu của chương II, người viết tiếp tục chứng minh điều này, để bổ xung cho luận điểm minh chứng rằng: Nền văn minh Hán không thể là chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành, đã trình bày ở các phần trước. Vấn đề còn lại của chương II – và cũng là nội dung chính của chương này, là: người viết chứng minh những di sản văn hóa sử truyền thống còn lưu truyền trong nền văn hiến Việt, dù tan nát với sự thăng trầm của Việt sử, cũng đủ để chứng minh sự hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Hay nói cách khác: Đó chính là sự phù hợp với tiêu chí thứ II là chuẩn mực xác định nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thức của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Tiêu chí này phát biểu rằng: Nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết, phải chứng tỏ được nền tảng tri thức đã tạo dựng nên hệ thống lý thuyết đó và có khả năng phục hồi được học thuyết được coi là hình thành từ nền văn minh đó. Chúng ta bắt đầu từ danh từ Âm Dương trong các bản văn chữ Hán cổ trong phần tiếp theo dưới đây. Trong các bản văn cổ chữ Hán, từ Âm Dương được coi là xuất hiện vào thời Chu, trong các bản văn liên quan đến kinh Dịch, kinh Thi, kinh Thư, Đạo Đức Kinh của Lão Tử. Về Ngũ hành thì được coi là xuất hiện trong kinh Thư với truyền thuyết vua Đại Vũ trị thủy trên sông Lạc Thủy (Một con sông nằm ở thượng nguồn sông Hoàng Hà). Chính vì sự xuất hiện của danh từ Âm Dương trong các bản văn nói trên, khiến các nhà nghiên cứu cho rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành ra đời trong nền văn minh Hán từ thời cổ đại. II. I. NHỮNG DI SẢN TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN VÀ SỰ MƠ HỒ CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH VÀ KINH DỊCH. I.1. DANH TỪ ÂM DƯƠNG TRONG BẢN VĂN CHỮ HÁN CỔ. Trong các tài liệu sự tầm được, người viết nhân thấy tư liệu của Giáo Sư Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ dưới đây tương đối đầy đủ, để bạn đọc có một ý niệm cụ thể và khái quát về sự xuất hiện của từ Âm Dương và ngữ cảnh của nó. Từ tư liệu này, người viết sẽ trình bày luận điểm của mình về những vấn đề liên quan. Nguồn: Web của Giáo Sư Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ. Như vậy, qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng thấy đó chỉ là những ngữ cảnh xuất hiện liên quan đến danh từ Âm Dương. Hoàn toàn không phải là sự mô tà một khái niệm nội hàm của hai từ này, chưa nói đến sự xác định một học thuyết quen gọi là thuyết Âm Dương. Nếu cho rằng: Âm Dương xuất hiện từ thời Phục Hy, bởi hai ký hiệu và thì đây lại là việc hết sức phi lý. Bởi vì, đó chỉ là ký hiệu phi ngôn ngữ, để hàng ngàn năm sau, người ta phải sử dụng ngôn ngữ để mô tả nó. Nếu coi hai ký hiệu này là sự thể hiện ý tưởng tổng hợp của khái niệm Âm Dương, thì Hà đồ do vua Phục Hy tìm ra trên lưng Long Mã với những chấm đen trắng, cũng đủ thể hiện khái niệm Âm Dương rồi. Bạn đọc xem lại đồ hình Hà Đồ phối Tiên Thiên bát quái được coi là của vua Phục Hy tìm ra từ khoảng 6000 năm cách ngày nay. Rõ ràng sau vua Phục Hy trải dài 3000 năm, đến tận đời Chu không hề có bản văn cổ chữ Hán nào mô tả nội hàm kháo niệm Âm Dương với tư cách là một học thuyết. Rõ ràng sau vua Phục Hy trải dài 3000 năm, đến tận đời Chu không hề có bản văn cổ chữ Hán nào mô tả nội hàm khái niệm Âm Dương với tư cách là một học thuyết. Rõ ràng đây là sự phi lý nữa trong lịch sử hình thành cái gọi là thuyết Âm Dương trong lịch sử văn minh Hán. Nhưng ngay cả bản văn đời Chu, mà người viết giới thiệu ở trên cũng không làm sáng sủa hơn khái niệm của cặp từ “Âm Dương”. Cho đến 2000 năm tiếp theo trong văn minh Hán, đến đời Tống, Chu Đôn Di mới bàn về Âm Dương. Nhưng chính ông ta lại nhầm lẫn về khái niệm, khi cho rằng Âm Dương có trước “Lưỡng nghi”, mà người viết đã trình bày ở phần trên. Nếu Âm Dương có trước “Lưỡng Nghi” thì nó là một cặp từ mô tả một thực tại xuất hiện và vận động trong sự khởi nguyên của vũ trụ. Đâu phải là hệ quả của tư duy tổng hợp để gọi là một học thuyết?! Hay nói rõ hơn: Với 3000 năm tính từ đời Chu đến Tống, nền văn minh Hán vẫn không hề hiểu được nội hàm khái niệm của chính cặp từ Âm Dương, mà nền văn minh Hán tự nhận. Đấy là kết quả của cái gọi là “Thuyết Âm Dương xuất hiện vào đời Chu, trong nền văn minh Hán”. Mọi việc cũng không hề sáng sửa hơn với học thuyết quen gọi là “Ngũ hành”
    2 likes
  20. chào bạn, trong 2 năm thì năm canh tý 2020 tốt hơn nhé. trong luận tuổi lạc việt, chúng tôi ưu tiên con phải hợp mẹ trước. mẹ hoả sinh thổ. mẹ tuất là mộ của kim, con sửu là mộ của thủy, kim sinh thuỷ là vẫn ổn bạn ha. thân mến!
    2 likes
  21. chào bạn, gia đình sinh con út năm 2020 canh tý hoặc 2021 Tân Sửu nhé. sức khoẻ chưa tốt thì nên xem lại địa lý phong thủy nhà thân mến!,
    2 likes
  22. Cặp vợ chồng 1984 1985 đâu được xem là cùng tuổi? Giáp Tý và Ất SỬu là 2 tuổi riêng biệt rồi. Riêng cặp cùng tuổi ÁT Sửu 1985 thì nên sinh năm 2020 Canh Tý, mạng con hợp cha mẹ, thiên can Canh hợp Ất, rất tốt, sinh đứa này ra mọi việc sẽ vượng. Các năm tiếp theo nên sinh là 2022 Nhâm Dần hoặc 2024 Giáp Thìn. Còn xa hơn thì xa lắm :D Thân mến.
    2 likes
  23. Năm nay hụt rồi thì thôi, đợi đến 2022 Nhâm Dần nhé, 2020 2021 mạng con và mẹ khắc nhau, ko nên sinh!
    2 likes
  24. THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH & TƯƠNG LAI CỦA KHOA HỌC. Thưa quý vị và các bạn. Thiên Sứ tôi hân hạnh giới thiệu với quý vị và các bạn một bài viết về những vấn nạn của khoa học. Theo tôi đây là một bài viết đặt ra một vấn đề rất thời sự, ở đẳng cấp vĩ mô về một khái niệm đang thống trị nền văn minh của chúng ta hiện nay. Đó là vấn đề "Khoa học". Quý vị và các bạn có thể tham khảo toán bộ bài viết theo đường link dưới đây: http://nghiencuuquocte.org/2019/03/19/mo-neo-cho-khoa-hoc/?fbclid=IwAR2Y0rk9YVqE1oGT3LTq_olxOSD6U5wpw4z6ZljRbHlW5gjvzGZtuCpFP60 Nhưng qua bài viết này, một lần nữa, tôi có thể khẳng định với các bạn: Thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch - ba bộ phận cấu thành của một hệ thống Lý thuyết hoàn hảo, nhân danh nền văn hiến Việt - chính là Lý thuyết thống nhất. Mà nhân loại đang mơ ước. Mặc dù cho đến ngày hôm nay, chúng ta không thể tìm được một văn bản cổ chữ Hán nào - chỉ với hai trang A 4 - mô tả thuyết Âm Dương Ngũ hành bản chất cấu trúc nội hàm của nó như thế nào. Nhưng thực là buồn cười. Từ hàng ngàn năm qua, từ những triết gia khả kinh, như Trinh Di, Trình Hạo đời Hán....; Chu Đôn Di thời Tống...cho đến các nhà nghiên cứu hiện đại; rồi đến các thày bà bói toán, xem tướng số vỉa hè...đều xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành là thuộc về văn minh Hán. Những định kiến, mặc định, sự chây ỳ của tư duy cố chấp, khiến người ta không thể nghĩ khác đi và gần như khó chấp nhận nó thuộc về nền văn hiến Việt. Nhưng thật kỳ diệu! Chính những giá trị văn hóa truyền thống Việt lại là nền tảng tri thức để phục hồi học thuyết này một cách thực sự hoàn hảo. Và chính học thuyết được phục hồi này (Nó đã phục hồi trong tôi, nhưng đang thể hiện bằng sách sắp xuất bản "Thuyết Âm Dương Ngũ hành - Lý thuyết thống nhất), sẽ giải thích những vấn nạn của cả nền văn minh, mà nền tảng tri thức của nó gọi là "KHOA HỌC" này. Thưa quý vị và các bạn. Tôi không biết ở nơi khác thế nào?! Nhưng ở Việt Nam, không ít người luôn nói đến khái niệm "khoa học"; hoặc "cơ sở khoa học"; "khoa học chưa công nhận"....Nhưng bản chất khái niệm khoa học là gì thì đến nay vẫn chưa có một định nghĩa rất ráo. Bài viết này, phần nào mô tả được vấn nạn của "khoa học", mà không ít người coi như một cứu cánh. Thực chất, cả nền văn minh này, cũng chỉ đang trện chặng đường tiến hóa và chưa hoàn chính. Bởi vậy, sự tuyệt đối hóa một cái chưa hoàn chỉnh, thì cũng chẳng khác gì đức tin của các tín đồ tôn giáo. Bạn có thể xem đoạn trích sau đây: Còn tiếp.
    2 likes
  25. TÍNH MINH TRIẾT VÀ KHẢ NĂNG TRẤN YỂM CỦA ĐỊA LÝ LẠC VIỆT TRONG TRANH DÂN GIAN VIỆT NAM Trích lời thầy Thiên Sứ: "Quý vị anh chị em thân mến.Lần đầu tiên chúng tôi làm video có có can thiệp kỹ thuật làm phim, nhưng do tay nghề còn yếu nếu có gì sai sót mong quý vị thông cảm. Trong video clip chúng tôi xin giới với quý vị 2 tranh tiêu biểu của dòng tranh hàng Trống là: Tranh Ngũ Hổ, tranh Lý Ngư Vọng Nguyệt. Rất mong nhận được sự ủng hộ của mọi người để chúng tôi có động lực làm hàng loạt video tiếp theo để phổ biến tính minh triết của nền văn hiến Lạc Việt qua dòng tranh dân gian truyền thống." Tranh Ngũ Hổ: Tranh Lý Ngư Vọng Nguyệt: Chúng tôi hy vọng video clip này sẽ đưa quý vị đến gần hơn với nét truyền thống tranh dân gian của Việt Nam góp phần gìn giữ nét văn hóa dân tộc 5.000 năm văn hiến của chúng ta. Xin cám ơn Quý vị quan tâm. Chú thích:Vị GS phân tích tranh Ngũ Hổ trong Amanach Mậu Dần 1998 tên là Trương Chính.
    2 likes
  26. CHƯƠNG VII KẾT LUẬN CỦA CÁC TIỀN ĐỀ. Thưa các bạn đọc. Như vậy, ở các chương trên, người viết đã chứng minh và xác định những luân điểm của mình trong bộ sách ‘Thuyết Âm Dương Ngũ hành – Lý thuyết thống nhất’ về các khái niệm: ‘Vật chất’; ‘Không gian’; ‘Thời gian’ và cuối cùng là khái niệm ‘Điểm’ trong Toán học và cuộc sống con người. Để minh định lại nội hàm các khái niệm được xác định của người viết, từ đó làm tiền đề cho mục đích chứng minh của bộ sách, người viết xin tổng kết như sau: VII. I. Nội hàm khái niệm ‘Điểm’. Người viết xác định rằng: 1.Tiền đề: 2. Hệ quả: Những hệ quả của điểm được mô tả trong Toán học, như: ‘Đường thẳng’; ‘Mặt phẳng’…..đều chỉ là hệ quả của một quy ước dùng trong Toán học và cuộc sống, hoàn toàn không có thật. Đương nhiên, sẽ không có trên thực tế những khái niệm ‘mặt phẳng’ và ‘mặt phẳng cong’, hoặc ‘không gian cong’…Tất cả đều chỉ là những khái niệm thuộc tư duy trừu tượng, nhằm mô tả một thực tại vận đông và tương tác thực của vật chất. VII. II. Nội hàm khái niệm ‘Vật chất’. Người viết xác định rằng: 1.Tiền đề: 2. Hệ quả: 2.1/ Như vậy, với tiền đề này thì tất cả những dạng tồn tại trong vũ trụ này, nếu chứa năng lương và tương tác, đều là ‘Vật chất’ và là đối tượng quán xét, tìm hiểu của con người. Nói rõ hơn một cách hình ảnh theo định nghĩa về ‘vật chất’ của người viết: Thượng Đế cũng thuộc về phạm trù vật chất, nếu Ngài tương tác với vũ trụ này và cõi trần gian. 2.2/ Tất nhiên, một hệ quả tiếp theo sẽ là: Những đối tượng không chứa năng lượng và tương tác thì không thể là đối tượng quán xét thuộc phạm trù ‘Vật chất’. VII. III. Nội hàm khái niệm ‘Thời gian’. Người viết xác định rằng: 1.Tiền đề: 2. Hệ quả: 2.1/ Như vậy, với tiền đề này thì tất cả các phương pháp làm lịch, các phép đo thời gian trong lịch sử nền văn minh, đều chỉ là tính quy ước của con người, hệ quả của nhận thức sự vận động và tương tác của các mối tương quan giữa trái Đất – môi trường sống của con người – với sự vận động của các thiên thể bên ngoài trái Đất. 2.2/ Đương nhiên, một phương pháp làm lịch cao cấp nhất, sẽ là phương pháp đo thời gian, mà trong đó mô tả được hầu hết những sự vận động và tương tác của các thiên thể liên quan đến trái Đất. Trong lịch sử văn minh nhân loại, tính đến ngày hôm nay, phương pháp tính thời gian cao cấp nhất, chính là Âm lịch Đông phương. Đây là loại lịch mà phép đo thời gian mô tả được những quy luật vận đông và tương tác của môi trường không gian quanh trái Đất, một cách chi tiết và có khả năng tiên tri. Trong khi đó, Dương lịch mà một số học giả đề cao và muốn thay thê hoàn toàn Âm lịch Đông phương, chỉ mô tả một các cơ học và đơn giản sự vận động của trái Đất quay quanh mặt Trời với cảm ứng sáng tối của sinh vật nói chung. 2.3/ Độ dài tuổi thọ sinh học khác nhau, sẽ có ‘Cảm ứng sinh học’ về thời gian khác nhau, bởi tương quan cảm ứng tương tác với sự vận động môi trường khác nhau. Ngay trong một kiếp người, mặc dù độ đo thời gian quy ước không thay đổi. Nhưng trong các giai đoạn phát triển của con người từ thơ ấu đến tuổi già, cảm ứng sinh học về thời gian rất khác nhau. Càng về già, cảm giác thời gian đi càng nhanh. Bởi vì cấu trúc sinh học trong một cơ thể về già bị lão hóa và chậm lại. 2.4/ Môi trường khác nhau trong tương quan vận tốc của cấu trúc vật chất, sẽ cho những giá trị cảm ứng sinh học khác nhau về thời gian. Điều nay đã được ngài Enstein chứng minh về nguyên lý chung trong Thuyết Tương Đối rộng, khi học thuyết này xác định: Thời gian phụ thuộc vào tốc độ. Nhưng giới hạn của học thuyết này, chính ở sự xác định giới hạn tốc độ vũ trụ, không vượt quá tốc độ ánh sáng, trong điều kiện cấu trúc hạt của vật chất. Giới hạn tốc độ vũ trụ trong thuyết Tương Đối, chỉ là một chân lý cục bộ và sai trong cái toàn thể. Điều này sẽ được chứng minh ở Phần II, trong Tập I của bộ sách này. VII. IV. Nội hàm khái niệm ‘Không gian’. Người viết xác định rằng: 1.Tiền đề: 2. Hệ quả: 2.2/ “Không gian’ là một từ đã phổ biến trong cuộc sống con người và đi vào cảm xúc và được mặc định trong nhân thức của con người. Cho nên, mặc dù là một khái niệm ảo, khó thay đổi. Nhưng thực tế cho thấy rõ, khái niệm ‘Không gian’ trong cuộc sống luôn có tính từ kèm theo mô tả một thuộc tính thật trên thực tế. Thí dụ: ‘không gian xanh’; không gian tĩnh lặng’; ‘Không gian u tối’…. 2.1/ Như vậy, với tiền đề này thì khái niệm ‘Không gian’ không có thật. Do đó, các khái niệm liên quan đến ‘Không gian’ trong các lý thuyết khoa học, như: ‘Không gian cong’; ‘Không gian dãn nở’; ‘Không gian ba chiều’; ‘Không gian N chiều’…vv..đều không phản ánh đúng thực tế. Tất nhiên, nó phải được phản ánh bằng những khái niệm khác. Thí dụ: ‘Không gian cong’, có thể thay bằng ‘Chuyển động cong’; hoặc “Không gian ba chiều’ thay bằng “Hệ tọa độ ba mặt phẳng quy ước’. VII. V. Hệ quả và sự ứng dụng của các tiền đề. Trước khi đi đến kết luận cuối cùng của Phần I, trong Tập I của bộ sách này, người viết xin được nhắc lại ý tưởng của nhà bác học SW. Hawking và vấn đề đã trình bày, như sau: Lược Sử thời gian. SW Hawking. Kính mới bạn đọc tiếp tục đọc tiếp Phần II của cuốn sách, có tựa là: Do đó, những định nghĩa lại về khái niệm “Vật chất’; sự phủ định khái niệm “Không gian’ và Thời gian” như những thực tại…trong Phần I này, sẽ làm cơ sở cho những luận cứ chứng minh những khiếm khuyết, hoặc sai lầm của những Lý thuyết khoa học hiện đại, như: Thuyết Tương Đối rộng, Lý thuyết Dây, Lý thuyết Higg, Thuyết Big Bang…vv…Và bắt đầu từ những sai lầm, hoặc khiếm khuyết về mặt lý thuyết của các học thuyết này, sẽ lại là tiền đề để xác định một hệ thống lý thuyết bao trùm – tức Lý thuyết thống nhất – được coi là đúng. Và khi những tiền đề đó, trở thành những phần tử trong một tập hợp với cấu trúc hợp lý của hệ thống lý thuyết - thì chính sự tồn tại của những tiền đề trong một cấu trúc hợp lý của hệ thống lý thuyết đó, sẽ chứng minh ngược lại những tiền đề đó, được coi là đúng. Hoặc những tiền đề đó bị coi là sai, nếu nó không tích hợp được một cách hợp lý, trong một hệ luận của một hệ thống lý thuyết, mà nền tảng xuất phát chính từ tiên đề đó đặt ra. Bởi vì, nền văn minh hiện nay, chưa đạt được những nền tảng kiến thức, để mô tả một lý thuyết thống nhất. Cho nên nhất thiết nó phải được xác lập những tiền đề có tính bổ túc cho những khoảng trống tri thức của một nền văn minh, từ đó tổng hợp với những nền tảng tri thức hiện có, để dẫn đến một cấu trúc của lý thuyết thống nhất. Người viết coi đây như một tiêu chí cần thiết và hợp lý, để chứng minh cho một hệ thống lý thuyết thống nhất. SAI LẦM VÀ NHỮNG KHIẾM KHUYẾT CỦA CÁC HỌC THUYẾT KHOA HỌC HIỆN ĐẠI.
    2 likes
  27. Ông thầy nào xem bói ngta lại bảo rất xấu vậy, ổng ăn em hết bao nhiêu tiền rồi :). Nói vậy là nói bừa phán bậy, ko có lá số nào quá xấu hay quá tốt cả, đừng nghe rồi snghi lung tung. Số phận do trời định, cuộc sống mình lại do chính mình tạo. Càng trắc trở thì bản thân càng cố gắng, cứng cỏi, dày dạn kinh nghiệm; thuận lợi quá thì tự mãn, tự phụ, khinh người, đến khi thất bại lại ko thể gượng dậy được. Tuần Triệt bất cứ lá số nào cũng có, vậy thì ai né được, chẳng lẽ ngta chết sớm hay nghèo mạc hết rồi sao. Đến bây giờ em mới 18 tuổi, gần như sống phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình trước giờ, chưa va chạm thực tế trong cuộc sống thì chưa hiểu được mệnh lý đúng hay sai, đừng snghi quá nhiều về tử vi. Lo học hành trao dồi kiến thức kinh nghiệm đi đã, ra trường đi làm kiếm tiền rồi mới nếm trải được mùi đời, lúc đó hãy quay lại ngâm cứu tử vi sau. Đang trong Đại Hạn 10 năm từ 12 đến 21 tuổi nhập cung Phụ Mẫu là rất tốt, hãy lo ăn học cho thành tài, vận này mà chuyện học hành ko suông sẻ nữa thì sẽ ko còn cơ hội tốt nữa. Mệnh em (có thể) ko thích hợp vô quan trường hay làm công ăn lương về lâu dài đâu. Hướng kinh doanh, buôn bán, tạo sự nghiệp riêng (có thể) là rất tốt. Giỏi ngoại ngữ lại giỏi giao tiếp thì cứ nhắm khối D mà thi, thích hợp nhất là Ngoại Thương <== khối người làm giàu từ ngành này, thời điểm đất nước đang phát triển thì lại càng thích hợp. Đây là theo kinh nghiệm của anh biết được! Biết anh văn thì lên trang này: https://www.16personalities.com/free-personality-test làm bài test cá tính, được đánh giá là khá chính xác (very accurate). Khi đó em sẽ biết được em thuộc loại cá tính nào, rồi xác định hướng học, nghề nghiệp cho phù hợp. 5 năm sau hãy quay lại xem tử vi tiếp nhé :)
    2 likes
  28. Chuyên gia Phong thủy Hoàng Triệu Hải - Giám đốc Trung tâm thực hiện chương trình Talk show về các vấn để liên quan đến Lý học nói chung, bao gồm Phong thủy Lạc Việt, Luận tuổi Lạc Việt .... Số đầu tiên: Phong Thủy Nhà Đất - Mối Quan Hệ Giữa Phong Thủy Và Thiết Kế Nhà Ở Số thứ 2: Xem tuổi là một điều kiện bắt buộc hay chỉ cần tình yêu là đủ? Số thứ 3: Phong Thủy Trong Cưới Hỏi Số thứ 4: Phong Thủy Với Căn Bệnh Ung Thư
    2 likes
  29. Âm lịch, nguồn gốc địa lý phong thủy THẦY THIÊN SỨ - NGUYỄN VŨ TUẤN ANH trực tiếp giảng dạy
    2 likes
  30. Quý vị và ACE thân mến! Trong kiến trúc xây dựng theo Địa lý phong thủy Đông Phương nói chung, có một nguyên tắc ứng dụng, đó là BÁT SÁT - HOÀNG TUYỀN. Nếu bị phạm phải những tiêu chí của Bát sát - Hoàng Tuyền thì hệ thống kiến trúc đó được coi là xấu. Bài viết dưới đây là những di sản còn lại từ cổ thư chữ Hán nói về Bát sát - Hoàng Tuyền, tôi đưa lên đây để quý vị và ACE tham khảo. Sau khi đọc tư liệu này, quý vị và ACE sẽ nhanh chóng nhận ra rằng: Tất cả các di sản từ cổ thư chữ Hán, liên quan đến các phương pháp ứng dụng của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành (ADNH) nói chung, và Địa Lý phong thủy nói riêng - đều mang tính mặc định, không hề có một lời giải thích tại sao lại như vậy, và nó xuất phát từ thực tại nào? Tất cả những nhà nghiên cứu và thực hành phong thủy được gọi là Thầy phong thủy, đều chấp nhận sự mặc định này mà không hiểu đằng sau nó là cái gì?! Bài Bát Sát Hoàng tuyền từ cổ thư được đưa lên đây, một lần nữa chứng minh rằng: Thuyết ADNH và Kinh Dịch không thuộc về nền văn minh Hán. Bởi vì chính nền văn minh Hán không giải thích được bất cứ vấn đề gì liên quan đến học thuyết ADNH và Kinh Dịch, phù hợp với tiêu chí khoa học, để làm sáng tỏ các bí ẩn của nền văn minh Đông Phương, trong cuộc hội nhập toàn cầu của các nền văn minh. Bởi vậy tôi đưa bài viết này lên đây hoàn toàn là di sản của cổ thư Hán liên quan đến nguyên tắc Bát sát, Hoàng Tuyền để quý vị tham khảo. Và đối với ACE Địa Lý Lạc Việt cũng cần tham khảo kỹ bài này. Để so sách với bài giảng của tôi trong giảng đường liên quan đến nội dung Bát sát - Hoàng Tuyền, nhân danh nền Văn Hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử. Để từ đó sẽ thấy được tính ưu việt của nền Văn Hiến Việt, là cội nguồn đích thực của Nền Văn Minh Đông Phương. Nguyên lý Bát sát - Hoàng Tuyền chỉ là một ứng dụng trong rất nhiều ứng dụng tương tác của Địa lý Lạc Việt nói chung. Nhưng một thực tại khách quan nào, hoặc một hệ luận mang tính lý thuyết nào liên hệ với nguyên tắc này, mới là điều mà ACE cần biết rõ. ACE đều biết một tiêu chí khoa học phát biểu rằng: 1/ Một lý thuyết được coi là khoa học, thì những mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể kiểm chứng được. 2/ Một lý thuyết khoa học được coi là đúng, nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán, có tính quy luật tính khách quan và khả năng tiên tri. Trên cơ sở này, chúng ta xem xét quy luật phương sát trong nguyên lý Hoàng tuyền Bát sát được mô tả dưới đây từ cổ thư chữ Hán và sự hiệu chỉnh nhân danh nền văn hiến Việt.
    2 likes
  31. 2020 và 2021 mạng Thổ, sẽ rơi vào trường hợp mạng mẹ Mộc khắc con Thổ. Đây là tối kỵ trong việc sinh con hợp tuổi cha mẹ. Nên cân nhắc kỹ trước khi tư vấn và nên có trách nhiệm hơn với lời tư vấn của mình. Thân.
    2 likes
  32. NHỮNG NGUYÊN LÝ CĂN BẢN. III. Mối liên hệ Địa chi trong gia đình. A/ SAO MỘC VÀ THẬP NHỊ ĐỊA CHI. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Tính đặc thù của vấn đề nghiên cứu nền văn minh Đông phương - mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành - chính là một vấn đề chưa từng có trong lịch sử văn minh nhân loại. Đó là vì chúng ta phải phục hồi một lý thuyết cổ xưa đã tồn tại trong lịch sử. Chứ không phải chúng ta tổng hợp những nhận thức trực quan về những hiện tượng qua sát được, để trở thành một lý thuyết. Chính vì vậy, chúng ta cần có phương pháp nghiên cứu, không thể theo lối mòn như trong lịch sử hình thành các học thuyết khoa học của nền văn minh hiện nay. Giáo sư Lê Văn Sửu viết - Đại ý: "Nền khoa học hiện nay có những phương tiện cực kỳ tình xảo. Nhưng để khám phá những bí ẩn của nền văn minh Đông phương thì vẫn gặp khó khăn to lớn". Đó chính là do sai lầm về phương pháp nghiên cứu. Trong trường hợp của việc nghiên cứu những bí ẩn của nền văn minh Đông phương, chẳng ai có thể dùng kính hiển vi điện tử để phóng to ký hiệu quái Càn là gì?! Nhưng với suy nghĩ đã trở thành chấp ngã trong quá trình phát triển của cả một nền văn minh và không có ngoại lệ. Nên khi tìm hiểu về nền văn minh Đông phương, những nhà nghiên cứu cũng bắt đầu từ nếp suy nghĩ cố hữu này. Họ cho rằng các ngành Đông Y, Địa lý phong thủy.... chỉ là do "tích lũy kinh nghiệm". Tức là cũng thực chứng, thực nghiệm y như những gì mà nền văn minh hiện nay dùng để tổng hợp đưa lên thành một lý thuyết. Giở những cuốn sách giới thiệu về Địa Lý Phong thủy phương Đông, phần nhiều, các tác giả nhận định rằng: Địa lý phong thủy là do con người bắt đầu từ cuộc sống ở những hang động, rồi họ rút kinh nghiệm tạo nên môn Địa Lý phong thủy. Rồi họ bưng nguyên si nghĩa đen của từ "Phong thủy" và giải thích "Phong là gió. Thủy là nước" - Phong thủy là gió và nước. Việc xác định độ ẩm và tốc độ gió trong căn hộ là một trong những đề tài nghiên cứu của Tiến Sĩ Bùi Văn Chân từ 50 năm trước, tại khi tập thể Chung Tự ở Hanoi. Wow! Lạy Đức Ala toàn năng và cao cả. Vậy "Phoengshui" là rất có "cơ sở khoa học", vì nó cũng bắt đầu từ những thông số cơ bản của ngành Vật Lý kiến trúc. Hơ! Xin lỗi! Gặp các thày bà như vậy, hoặc những cuốn sách mở đầu như vậy, tôi đi chỗ khác chơi. Tóm lại, với những tư duy lối mòn như vậy thì không thể nào khám phá được những gía trị của nền văn minh Đông phương. Đó chính là những sai lầm về phương pháp nghiên cứu. Một trong những yếu tố cản trở lớn nhất trong việc tìm hiểu bản chất của nền văn minh này. Nhưng sự khám phá những bí ẩn huyền vĩ của nền văn minh này, đòi hỏi một tư duy tổng hợp những tri thức mũi nhọn của nhiều ngành khoa học. Từ lịch sử, xã hội và cả những tri thức của toàn bộ các ngành khoa học tự nhiên, kể cả vật lý thiên văn cho tới những khái niệm toán học. Bởi vì Lý học Đông phương bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, con người và xã hội, cũng như toàn bộ lịch sử hình thành vũ trụ. Do đó, khi nghiên cứu về Lý học Đông phương - mà nền tảng là học thuyết Âm Dương Ngũ hành - cần phải đi tìm và xác định tính cấu trúc hợp lý trong mối liên hệ mọi đại lượng, khái niệm có tính hệ thống và nhất quán trong nội hàm của một lý thuyết vô cùng đồ sộ và bao trùm lên mọi lĩnh vực. Do đó, nó cần những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học, làm chuẩn mực để thẩm định tính khoa học trong việc phục hồi một hệ thống lý thuyết. Khó khăn tiếp theo, chính là vấn đề thuộc phương pháp cụ thể. Nếu như để nghiên cứu hiện tượng hoặc cấu trúc vật chất trong nghiên cứu khoa học hiện đại, có thể dùng phương pháp loại suy đơn giản và cô lập hiện tượng, đối tượng nghiên cứu để đi tìm bản chất của vấn đề. Như việc tìm kiến hạt Higg. Nhưng nghiên cứu Lý học thì không. Bởi vì, nó là kết quả của một sự giải thích mang tính lý thuyết. Thí dụ: Một quẻ Dịch tốt như Địa Thiên Thái, xác định chuyên phát triển của một doanh nghiệp. Nhưng đó là sự giải thích của một phương pháp (Tính dự báo) của một hệ thống lý thuyết. Và cho dù sự lặp lại của quẻ này luôn luôn đúng cho mọi hiện tượng dự báo, thì nó vẫn không thể chứng tỏ được bản chất hình thành nên quả Địa Thiên Thái. Do quẻ này là sự tông hợp của mọi hiện tượng. Nói rõ hơn là: Bằng thực nghiệm trên máy LHC, các nhà khoa học có thể xácđịnh "Không có hạt Higg". Nhưng bằng thực nghiệm ứng dụng của quẻ bói, không nói lên điều gì cho bản chất của quẻ đó và nguyên nhân hình thành nên nó. Mà người ta chỉ có thể xác định phương pháp đó có hiệu quả, quẻ bói nghiệm. Bởi vậy, nghiên cứu Lý học Đông phương - để tìm bản chất chân lý khách quan đằng sau các phương pháp ứng dụng và cả một hệ thống lý thuyết đằng sau nó, phải bằng những chuẩn mực giành cho một hệ thống lý thuyết, mà tôi đã trình bày ở trên. Cụ thể, vấn đề được trình bày trong bài viết này là ý nghĩa của thập Thiên can và ảnh hưởng của nó lên cuộc sống con người. Hiện nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng: Thập Thiên can có nguồn gốc văn hóa phương nam. Cụ thể là của Việt tộc. Cụ thể là nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Quang, đã chứng minh rất xuất sắc về cội nguồn của Thập nhị Địa chi thuộc về văn hiến Việt. Phương pháp của ông chủ yếu là tư liệu lịch sử và so sánh đối chiếu biểu tượng 12 con giáp. Nhưng bằng một phương pháp khác, dựa vào tiêu chí khoa học, phát biểu như sau: "Một lý thuyết khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phải ánh một thực tại có thể kiểm chứng được. Do đó, tôi đặt vấn đề: mô hình chu kỳ 12 con giáp xuất phát từ đâu? Trong các bản văn chữ Hán không thấy nói đến thực tại khách quan nào để lập thành mô hình biểu kiến chu kỳ 12 con giáp?! Đây là sự xác định chắc chắn rằng: Nền văn minh Hán không thể là chủ nhân của mô hình biểu kiến 12 con giáp. Vì nó không xác định được nguyên nhân khách quan để lập thành mô hình này. Trong quá trình nghiên cứu Lý học Đông phương, so sánh đối chiếu các kết quả, tôi xác định rằng: Chính chu kỳ của Sao MỘC quay quanh Địa Cầu là chu kỳ của 12 con giáp trong Lý học Đông phương. Khoa Thiên văn học hiện đại đã chứng minh rằng: Chu Kỳ sao Mộc - Thái Tuế thuộc Mộc trong Lý học Đông phương - quay quanh Mặt trời tương đương 11, 8 năm Địa Cầu (Có sách chép 11, 89). Nhưng năm Dương lịch (Lịch Tây) có 365 ngày. Còn Âm lịch (Lịch Ta) chỉ có 355 (Hoặc 356) ngày. Sai số chính xác của 12 năm lịch Ta (Công thêm ba tháng nhuận) - chu kỳ 12 con giáp = với 11.8 lịch Tây là không đáng kể. Sự xác định sao Mộc - Ngôi sao lớn nhất gần Địa cầu sau Mặt trời, và chính là sao Thái Tuế trong Lý học Đông phương - đã xác định tính khoa học theo đúng tiêu chí khoa học của một lý thuyết khoa học và nó cũng xác định tính quy luật khách quan tương tác của sao Mộc/ Thái Tuế lên địa cầu. Chính quy luật tương tác của sao Mộc trong Thái dương hệ là cơ sở của 12 Địa Chi và là chủ đề của bài viết này. Ảnh hưởng của sao Mộc trong 12 năm Địa chi tất nhiên được phân Âm Dương, mỗi chu kỳ Âm Dương là 6 năm, chính là ý nghĩa của Lục Khí trong 12 con giáp được mô tả trong bàng tuần hoàn LẠC THƯ HOA GIÁP mà tôi đã chứng minh. Trên cơ sở này, tôi tiếp tục trình bày về tương tác của Thập nhị Địa chi trong quan hệ gia đình. Xin cảm ơn sự quan tâm, chia sẻ của quý vị va 2anh chị em. B/ TƯƠNG TÁC 12 ĐỊA CHI. Như tôi đã trình bày ở bài trước. Do chu kỳ của sao Mộc/ Thái Tuế trong Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt - là thực tại làm nên mô hình biểu kiến là 12 Địa Chi. Bội số chung nhỏ nhất của 12 Địa Chi phối với 10 Thiên can chính là con số 60 của LẠC THƯ HOA GIÁP - nhân danh nền văn hiên Việt. Và đó chính là tính phân loại vận khí do tương tác của vũ trụ - 10 Thiên can - và tương tác mạnh ở Thái Dương hệ với sao Thái Tuế / Sao Mộc làm thành vẫn khí hàng năm. Các mối liên hệ về Thiên Can và Vận khí tôi đã trình bày. Trong bài này tôi tiếp tục trình bày về tương tác 12 Địa chi. Thưa quý vị và các bạn. Chính vì tình tương tác phức tạp và không thể có một mẫu số chung cho các tương tác này, nên không thể có cặp vợ chồng nào tuyệt đối tốt. Qua đó thấy rằng: Phương pháp Luận tuổi Lạc Việt phản ánh đúng thực trạng cuộc sống, vì tính không thể tuyệt đối ngay trong lý thuyết này..Ngay cả việc bồ sung tuổi những đứa con với xác xuất cao nhất là 60 Nam x 60 Nữ x 60 tuổi con út cũng không thể tuyệt đối. Lý tưởng nhất về mặt lý thuyết là tập hợp các con trong gia đình thành những cách cục tuyệt hảo - các Đại gia hoặc công chức cao cấp thì vào những vận hạn xung khắc tuổi các thành viên thì vẫn có tính thăng trầm của số phận.. Chưa nói đến vấn đề các yếu tố trong tập hợp "Luận tuổi Lạc Việt", cũng chỉ là một trong ba tập hợp khác là Địa Lý phong thủy và số phận. Tuy nhiên phương pháp "luận tuổi Lạc Việt" là phương pháp có xác xuất chính xác cao nhất so với các phương pháp khác và dễ dự báo nhất. BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH hi xem tuổi hợp khắc, nếu hai tuổi khắc nhau vẫn có thể ăn ở với nhau được nếu như CUNG và MỆNH hoà hợp nhau. * Tuổi Tam hợp: Thân Tý Thìn, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi, Tỵ Dậu Sửu * TuổiI Nhị hợp: Tý Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tỵ Thân, Ngọ Mùi. * Tuổi Tứ hành xung: Tý Ngọ, Sửu Mùi; Dần Thân, Mão Dậu, Thìn Tuất, Tỵ Hợi. * Tuổi Lục Hại: Tý hại Mùi, Sửu hại Ngọ, Dần hại Tỵ, Mão hại Thìn, Thân hại Hợi, Dần hại Tuất. Như tôi đã trình bày ở bài trước.
    2 likes
  33. LỜI GIỚI THIỆU BÀI VIẾT CỦA HOÀNG TRIỆU HẢI. THƯA CÁC NHÀ KHOA HỌC, CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU. THƯA CÁC BẠN VÀ ANH CHỊ EM. Từ hai mươi năm nay, bằng sự phục hồi một hệ thống lý thuyết cổ xưa, nhân danh nền văn hiến Việt, tôi đã tha thiết trình bày về những giá trị của nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương với tất cả những ai quan tâm đến những gía trị văn hóa của nhân loại. Nhân danh nền văn hiến Việt, tôi đã xác định một nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" và phủ nhận nguyên lý "Hậu thiên Văn Vương phối Lạc thư", vốn được coi là thuộc nền văn hóa Hán. Nhưng, sự phức tạp của một hệ thống lý thuyết huyền vĩ - Lý thuyết thống nhất vũ trụ - mà toàn thể nền văn minh nhân loại hiện nay, đang mới chỉ dừng lại ở sự mơ ước. Tất nhiên, tôi rất hiểu rằng: sự tiếp nhận một quan niệm mới - trong khi suốt lịch sử của văn minh nhân loại, con người đã chấp vào một định kiến: nền văn minh Đông phương có xuất xứ từ Hán tộc - là một việc cực kỳ khó khăn. Huống chi, đó lại là một hệ thống lý thuyết - sản phẩm của cả một nền văn minh - tức sản phẩm của một hệ thống tư duy phức hợp, lại càng khó khăn hơn. Khi chính khái niệm "tư duy phức hợp", cũng mới chỉ manh nha xuất hiện trong nền văn minh hiện đại. Cho nên, cá nhân tôi chia sẻ và thông cảm với sự chưa tiếp thu được của không ít những học giả, đã lên tiếng phản bác. Nhưng với những con người cầu tiến và thông minh - những người không bị tính cố chấp với một tâm hồn và tư duy khoáng đạt, đã tiếp thu được những giá trị của nền văn hiến Lạc Việt. Bài nghiên cứu về "Địa Lý phong thủy kinh thành Huế" dưới đây của Hoàng Triều Hải, một nhà nghiên cứu về Lý Học Việt xuất sắc của Trung Tâm nghiên cứu Lý Học Đông phương, và là Giám đốc của Trung Tâm này. Qua công trình nghiên cứu của anh, chúng ta một lần nữa xác đinh chắc chắn bằng thực chứng, về sự hợp lý toàn diện của hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch - nhân danh nền văn hiến Việt - với nguyên lý căn để "Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ", trong việc xây dựng Kinh Đô Huế. Đây là một dẫn chứng tuyệt vời và rất trực quan, rất dễ hiểu, cho những ai còn hoài nghi những gía trị văn hiến Việt, một thời huy hoàng ở miền Nam sông Dương tử và là cội nguồn đích thực của nên văn minh Đông phương. Xin cảm ơn vì sự quan tâm và chia sẻ của các bạn. Ta về giữa cõi vô thường. Đào trong kỷ niệm, tìm hương cuối mùa. Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
    2 likes
  34. ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT TRONG QUI HOẠCH KIẾN TRÚC KINH ĐÔ HUẾ Mạnh Đại Quân - Hoàng Triệu Hải. Giám đốc TTNC LHDP. Năm 1803 Hoàng đế Gia Long sau khi lên ngôi đã cho khảo sát địa thế và tiến hành xây dựng Kinh đô Huế cho triều đại kéo dài từ 1802 – 1945. Nhiều nhà Địa Sư nói Kinh đô Huế là “Vương đảo” quả cũng không sai, bởi Kinh thành Huế được bao bọc bởi dòng sông Hương phía trước và hai nhánh là sông Kim Long và sông Bạch Yến phía sau rồi cùng hội tụ tại hạ lưu. Kinh thành Huế được thiết kế và qui hoạch kiến trúc theo truyền thống hàng ngàn năm của người Việt. Kinh đô Huế được xây dựng trong suốt 30 năm – năm 1832 hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. Ngành Địa lý phong thủy của người Việt hay Trung Hoa, từ xa xưa vốn dĩ chỉ giành cho Vua Chúa, được lưu trữ và truyền lại trong Hoàng Tộc. Từ đời trước, khi Chúa Nguyễn từ Bắc vào “Đàng Trong”, đã mang theo di sản của cha ông từ “Đàng Ngoài”, và sau này Kinh thành Huế, là nơi được Hoàng Đế Gia Long áp dụng Địa lý cho qui hoạch kiến trúc cũng như Lăng mộ của chính mình. Tôi tin chắc chắn rằng: Vua Gia Long đã tiếp nối những tinh hoa của dân tộc Việt và truyền thừa những di sản của tổ tiên để lại. Và Ngài đã tiếp tục truyền lại cho đời sau, kiến thức từ công trình duy nhất còn tồn tại tới ngày hôm nay – Kinh đô Huế. Dưới góc nhìn Âm trạch thì lăng mộ của Hoàng Đế Gia Long cũng là một ẩn số, bởi cách Ngài bố trí và xây dựng khu lăng mộ này, để triều Nguyễn là Một trong những vương triều trị vị lâu nhất trong lịch sử Việt nam. Lăng mộ hiện nay, theo quan điểm riêng của tôi là mộ gió, tức là phần hài cốt được táng ở một nơi bí mật. Câu chuyện bắt đầu từ ngày tôi được đọc bài viết về Địa lý phong thủy Lăng Mộ của Hoàng Đế Gia Long. Nó cuốn hút tôi bởi những bí ẩn, mà những người theo đuổi bộ môn này đều muốn khám phá. Tôi ước sớm có thể quay trở lại Huế chỉ với một mục đích: Tìm hiểu về ứng dụng Địa lý của người Việt, vẫn còn được lưu lại trên Kinh đô Huế. Thật nhanh chóng chỉ sau đó 1 tuần, cơ duyên cho tôi được toại nguyện. Với sự giúp đỡ của những nhà nghiên cứu tại Huế, tôi được nghe kể và đưa tới những địa điểm mang dấu ấn của Hoàng Đế Gia Long: Lăng Mộ, Đàn tế Nam giao, Đại Nội. Tôi được quay lại các địa điểm Lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, Lăng Khải Định, đồi Vọng Cảnh và mỗi một nơi tôi đều được kể về lịch sử cũng như các câu chuyện của những nhà nghiên cứu văn hóa Huế. Nhìn bản đồ và hình ảnh từ vệ tinh của Kinh đô Huế, chúng ta cũng chưa nhận ra hết được sự đặc biệt của kiến trúc và qui hoạch, dưới góc nhìn Địa lý phong thủy. Phải nói rằng, Kinh đô Huế đã mang lại cho tôi hết bất ngờ này tới bất ngờ khác, liên quan đến sự huyền vĩ của nền văn hiến Việt cho chuyên ngành Địa Lý phong thủy. Hướng của Kinh đô Huế được xác định là hướng của Đại Nội, nơi được coi là trung tâm đầu não của Kinh đô Huế. Hướng của cổng Ngọ Môn và Đại Nội là 142 độ: Tức tọa phương Càn, hướng phương Khôn (theo Lý học Lạc Việt đổi chỗ Tốn/ Tây nam – Khôn đông nam), với nguyên lý căn để là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ', do nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Thiên Sứ phát hiện và làm cơ sở cho việc chứng minh cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương. Mô tả chính xác là Đại Nội Huế tọa Hợi (Tây Bắc), Hướng Tỵ (Đông Nam), kiêm hướng 4 độ. Bản đồ của người Pháp vẽ đầu thế kỷ thứ 19 cũng mô tả chính xác hướng trục Bắc - Nam theo đúng hướng Bắc của la kinh Toàn bộ Kinh thành Huế, được xây dựng mô tả theo 24 Sơn và Thủy pháp cực kì chuẩn và được mô tả trong hình dưới đây. Sau khi phân cung, chúng ta sẽ dễ hiểu vì sao tường hào bao quanh Kinh thành lại có những góc nhô ra và lượn vào như vậy. Và vì sao, lại có khu Mang Cá, khu vực được thiết kế như chiếc Vương Miện của Hoàng Đế. Kinh đô Huế được sử dụng Địa lý phong thủy Tam hợp , trong đó lấy trục Tây Bắc-Đông Nam là trục Đế Vương. Xin được bạn đọc quan tâm lưu ý rằng: Chỉ có Địa lý Lạc Việt, sau khi đổi chỗ Tốn - Khôn với nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" thì mới có hai trục được gọi là Phúc Đức, Bao gồm trục Bắc-Nam và Tây Bắc – Đông Nam. Trong Địa Lý phong thủy Tàu, chỉ có duy nhất một trục Bắc (Khảm)/ Nam (Ly) là Phúc Đức trạch; Còn trục Đông Bắc (Cấn) / Tây Nam - Theo Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư là Khôn - chỉ là Sinh Khí trạch. Trên cơ sở đó, toàn bộ các căn nhà bên trong kinh thành sẽ được lấy theo hướng Trường Sinh của Tứ Đại Cục: Kim – Mộc - Thủy - Hỏa là các sơn Dần - Thân - Tị - Hợi , Cấn - Khôn -Tốn - Càn. Toàn bộ kinh thành là Thủy Cục và Thủy pháp là hệ thống Sông, Hồ nhân tạo cực kỳ chuẩn xác. Chúng ta dễ dàng nhận thấy: khi phân cung và định vị theo Địa Lý Lạc Việt, việc thiết kế khu vực Mang Cá chính là nơi toàn bộ nước được hội tụ về đây, trước khi chảy thoát ra ở phương SUY . Phần sông Ngự Hà chạy thành nửa hình chữ nhật , toàn bộ nằm trong khu Trường Sinh và Đế Vượng , thoát ra ở Suy – Bệnh. Tôi sử dụng phần mềm phân cung - và nếu theo lý thuyết phong thủy từ cổ thư chữ Hán, thì việc bố trí ta thấy đã nằm ngoài thủy pháp trường sinh của Kinh đô Huế. Khi đã sai lệch - giữa Địa Lý Phong Thủy Việt và sách Địa Lý Phong thủy Hán - thì không thể trấn yểm để phá hoại! Quả thật quá cao siêu! Đoạn sau đây, trích từ bài để bạn đọc tham khảo: Toàn bộ hệ thống hồ nước, sông được đào khi xây dựng Kinh thành Huế, đều được bố trí rất chuẩn xác tại các Sơn theo bố cục Loan Đầu tự nhiên của Huế. Bí ẩn ở chỗ, rất nhiều hồ được đặt đủ vào các sơn Canh- Dậu-Tân, Tuất-Càn- Hợi, Nhâm- Tí- Quí. Hình dưới đây được mô tả theo Địa Lý phong thủy Tàu, phân cung và lấy Trường Sinh theo phương pháp từ cổ thư chữ Hán, là tọa Càn, hướng Tốn (Đông Nam - theo "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư" , tứ cổ thư chữ Han). Các bạn cũng thấy sự sai lệch giữa Thủy Pháp Việt và sách Hán. Hình dưới đây. mô tà sự trùng hợp giữa Cung điện mang tên "Trường Sinh" trong Đại Nội, cũng chính là vị trí Trường Sinh của kinh Đô Huế. Hình mô tả trong Đại Nội có cung Trường Sanh, đó chính là vị trí Trường Sinh của Kinh Đô Huế. Tôi không có đủ thời gian để khảo sát dòng chảy các con sông quanh Kinh thành Huế. Nhưng theo bố cục này thì tôi có nhận định dòng chảy như sau: Tôi mong rằng sẽ có người nghiên cứu dòng chảy của Huế xác nhận thông tin này. Từ những thông tin tìm được từ Kinh thành Huế , tôi xác định rằng: nơi đây chính là di sản bảo tồn những lý thuyết và phương pháp Địa lý phong thủy của dân tộc Việt. (Địa Lý Lạc Việt). Và cũng là nơi xác định tính chính xác của của nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" (đổi chỗ Tốn-Khôn). Khả năng rất cao là phương pháp này, cũng đã được áp dụng cho phong thủy của Tử Cấm Thành - công trình do Ông Nguyễn An người Việt thiết kế xây dựng. (còn tiếp) Hà Nội mùng 10 tháng 3 năm Mậu Tuất -Việt Lịch
    2 likes
  35. THANH LONG – BẠCH HỔ TỨ TƯỢNG (Tứ THÚ) HUYỀN VŨ-CHU TƯỚC ; TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY Bộ môn Địa Lý Phong Thủy có gốc rễ từ học thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH, và tất nhiên mọi yếu tố trong Địa lý đều tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc của học thuyết này. Tứ Tượng hay tứ thánh thú là một khái niệm hình tượng trong Lý học Đông Phương. Huyền Vũ của phương Bắc, Thanh Long của phương Đông, Bạch Hổ của phương Tây và Chu Tước của phương Nam. Tuy nhiên, cách định nghĩa về tứ tượng hiện nay đều không mang tính hệ thống và từ đó chúng ta không thể có được một sự thống nhất trong ứng dụng của các yếu tố cơ bản này. Nhân sự việc tôi có xem một video trên youtube của một vị chuyên gia phong thủy bên Mỹ, ông ta cho rằng yếu tố Thanh Long – Bạch Hổ trong Âm trạch (mồ mả) khác với Dương Trạch (nhà ở) tức là Âm trạch thì Tả Thanh Long tức bên trái quan tài xác định theo đầu người đã khuất, Nhưng dương trạch là nhà ở thì phải đứng từ ngoài nhìn vào nhà, thì bên tay trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ. Từ đây cho chúng ta thấy một điều, các lập luận kiểu như thế này thể hiện một sự sai lầm khi không hiểu bản chất cốt lõi trong mô hình biểu kiến này. 1. Định nghĩa và cách hiểu hiện nay Định nghĩa hiện nay đa phần được hiểu các yếu tố này như sau: “Hình thế núi cao ba bề gợi cho ta nhớ tới một chiếc “ghế bành”, biểu tượng của cuộc sống tiện nghi. Thế đất Tứ Tượng bao gồm: - Huyền Vũ (rùa đen) là trái núi phía sau ngôi nhà, lý tưởng nhất là nằm ở phương Bắc. - Thanh Long (rồng xanh) là ngọn đồi phía tay trái ngôi nhà, tốt nhất là nằm ở phương Đông. - Bạch Hổ (hổ trắng) là ngọn đồi phía tay phải ngôi nhà, nó phải thấp hơn đồi Thanh Long bên trái và núi Huyền Vũ sau nhà. - Chu Tước (chim sẻ đỏ) là gò đồi nhỏ trước mặt nhà, lý tưởng nhất là ở phương Nam.” Việc qui định các yếu tố tứ tượng hay tứ thú này trong Địa Lý Phong Thủy theo định nghĩa như trên là sự áp đặt dẫn tới việc thiếu tính chặt chẽ và hiểu sai lệch. Ví dụ như nếu nhà hướng Tây thì tức là không xác định được các yếu tố còn lại bởi định danh hướng - Chu tước do Chu tước định danh là hướng Nam và tọa sơn là Huyền Vũ. Với cách hiểu thế này thì chỉ có ngôi nhà có hướng Nam thì mới hợp các yếu tố Địa Lý ? điều này hoàn toàn vô lý. 2.Đi tìm định danh Tứ Thú hay Tứ Tượng - Biểu tượng tứ thú trong Địa Lý dùng để mô tả tính âm dương : Trước-Sau, Phải-Trái , xuất phát từ mô hình chuẩn được nền văn minh Cổ Xưa xây dựng nên. Trong Địa Lý Lạc Việt, nguyên tắc Âm Dương là : Dương trước – Âm Sau, Dương thấp- Âm Cao, Dương tả-Âm hữu, Nam tả-Nữ hữu, Nam nghịch-Nữ Thuận. a. Huyền Vũ bản chất không liên quan tới tên của loài Rùa nhưng vì sao lại lấy hình tượng loài Rùa cho yếu tố Huyền Vũ ? và trong ĐLPT thì Huyền Vũ lại được coi là Sơn ? “Con rùa chính là biểu tượng của nền văn hiến Việt ở thời sơ khai: "Vào thời vua Nghiêu, có sứ giả Việt Thường dâng con rùa lớn. Trên lưng có khắc văn Khoa Đầu, ghi việc trời đất mở mang". Hình tượng chim Hạc (Lạc) đứng trên lưng rùa chầu tiên thánh, cũng là một biểu tượng khác xác định giá trị của nền văn minh Lạc Việt. Sự xác định Huyền Vũ chính là thực tại vũ trụ thì đối xứng với Huyền Vũ phương Bắc, chính là sự nhận thức của văn hóa, tri thức: Phượng hoàng lửa phương Nam. “ Trích dẫn: Thầy Thiên Sứ -Nguyễn Vũ Tuấn Anh Sơn hay điểm tựa vững chắc,, chính là sự nhận thức văn hóa và tri thức, và vì thế được coi là yếu tố phía sau- Thuộc ÂM. Lạnh và tối ở phương Bắc trái với nóng và Sáng ở phương Nam, Tri thức và văn hóa thuộc về phương Bắc , vậy nên mô hình biểu kiến Huyền Vũ thuộc phương Bắc và Trong đồ hình Tiên Thiên , quẻ khôn được xếp vào phương Bắc – Khôn-Lạnh thuộc Âm – phía Sau. Tất nhiên, mô hình biểu kiến Huyền Vũ ở phương Bắc nhưng không có nghĩa là Phương Bắc nhất định là yếu tố Huyền Vũ. Huyền Vũ thuộc Âm- Nhô cao - là Sơn . b. Chu tước: lấy tượng là chim Tước Đỏ. là Nóng – Sáng Đối với phương Bắc Lạnh- tối, đại diện là Phương Nam – thuộc Dương. Tiên thiên quái Càn- Dương được xếp ở phương Nam. Đây là yếu tố Hướng trong ĐLPT bởi Dương trước – thấp. Trong ĐLPT thì Thấp trũng là hình tượng của Thủy – tụ. Chính vì thế, yếu tố Thủy không phài là nước và Sơn không phải là núi. Hai yếu tố này là cùng cặp DƯƠNG -ÂM : TRƯỚC-SAU, THẤP-CAO. Vì vậy tính chất của cặp Âm Dương này là : phía trước thuộc DƯƠNG là Thấp hơn, là phía Trước, là Sáng sủa đối với nó là phía Sau, là Cao hơn, là tối. c. Thanh Long : lấy tượng là rồng Xanh và tất nhiên Rồng không có thật.Tuy nhiên, Rồng là biểu tượng sức mạnh, là Dương, là linh vật tạo ra mưa , nước. Trên mô hình biểu kiến nếu đứng tựa lưng vào phía Bắc, hướng về phương Nam thì bên Trái là Biển cả ,là nơi Rồng ẩn náu. Dương bên Trái, thấp hơn so với bên Phải, và đó chính là vì sao tiên thiên lại xếp quái Ly-Hỏa ở phương Đông. d. Bạch Hổ: lấy tượng là Hổ trắng, mà trong tự nhiên Hổ nương náu trên núi rừng. Trên mô hình biểu kiến nếu đứng tựa lưng vào phía Bắc hướng về phương Nam , bên Trái là Biển cả thì bên phải là núi rừng. Núi cao hơn –thuộc Âm- Bên Phải . Trong Tiên Thiên quái Khảm được xếp ở phương Tây. Cặp Dương – Âm : Trái – Phải, Thấp –Cao không có nghĩa theo mô hình biểu kiến là con Hổ, con Rồng, hướng Đông-Tây hay nước và núi mà tính chất của nó chính là: Bên Phải thuộc Âm cao hơn bên Trái thuộc Dương. Qui các yếu tố về các cặp Âm-Dương, chúng ta có thể áp dụng vào mọi trường hợp trong Địa Lý Phong Thủy mà không cần chấp vào biểu tượng hay mô hình biểu kiến. Đây là chính là lý thuyết nền tảng của Địa Lý Lạc Việt, một bộ môn ứng dụng từ học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành của nền Văn Vinh Lạc Việt 5000 năm một thời rực rỡ huy hoàng phía Nam sông Dương Tử. Hà nội Tháng một năm Mậu Tuất tức tháng 12 năm 2017 Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
    2 likes
  36. CHÂN THÀNH CẢM ƠN ANH CHỊ EM. Chúc anh chị em một đời hạnh phúc và vạn sự an lành.
    2 likes
  37. GIẢI MÃ NGÀY TAM NƯƠNG VÀ NGUYỆT KỴ 1. Mở đầu Mặt Trăng và chu kì của nó ảnh hưởng rất lớn và rất quan trọng đối với cuộc sống trên Trái đất và đặc biệt đối với người Việt, chủ nhân của nền Văn minh Lúa nước. Chu kì con nước cho hoạt động sản xuất gắn liền với chu kì của Mặt Trăng gắn liền với người Việt từ thủa sơ khai, và do đó lịch Âm hay Âm Dương phối lịch, được người Việt sử dụng chính thức cho tới tận ngày hôm nay. Tất cả những việc liên quan tới cuộc sống từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, kinh doanh hay văn hoá, tâm linh chúng ta đều dùng tới Âm Dương lịch. Ông cha ta theo dõi chu kì Trăng đưa cả vào các câu thơ đồng dao, đủ thấy rằng từ xa xưa Người Việt đã làm chủ được chu kì và thời gian của Trăng, vừa dễ nhớ và lại vừa phổ cập, lưu truyền từ đời này qua đời khác: Mồng một lưỡi trai Mồng hai lá lúa Mồng ba câu liêm Mồng bốn lưỡi liềm Mồng năm liềm giật Mồng sáu thật trăng Mồng bảy thượng huyền Mười rằm trăng náu Mười sáu trăng treo Mười bảy sảy giường chiếu Mười tám rám trấu Mười chín đụn dịn Hăm mươi giấc tốt Hăm mốt nửa đêm Hăm hai hạ huyền Hăm ba gà gáy Hăm bốn ở đâu Hăm nhăm ở đấy Hăm sáu đã vậy Hăm bảy làm sao Hăm tám thế nào Hăm chín thế ấy Ba mươi chẳng thấy Mặt mày trăng đâu ? Từ việc gắn liền mọi hoạt động của cuộc sống tới lịch Âm lịch, việc chọn ngày tốt xấu để sản xuất nông nghiệp cho tới các hoạt động khác đã có từ xa xưa. Rõ ràng việc chọn ngày tốt xấu mang yếu tố khoa học, nhưng một thời bị xem là mê tín, bởi việc chọn ngày được thực hiện bởi những người làm những công việc tâm linh. Người ta không giải thích được sự việc hiện tượng vì sao lại có ngày tốt, ngày xấu liên quan tới công việc và cuộc sống hàng ngày. Một nguyên nhân nữa là vì những ngày xấu đó lại liên quan tới những truyền thuyết hay những câu chuyện huyền bí. Chúng ta coi đó là việc liên quan tới Tâm linh, mê tín và những câu chuyện xảy ra đều sẽ gắn liền với mê tín và Tâm linh. Chúng ta cũng mặc nhiên nghĩ rằng đang sử dụng Âm lịch của người Trung hoa. Nhưng lịch sử xa xưa cho thấy nông nghiệp của họ từ xưa là trồng Kê chứ không phải lúa nước. Cũng giống như nền nông nghiệp lúa mì hay ngô, chuyện con nước lên xuống không phải là điều quan trọng so với trồng lúa. Vậy thì vì sao người Hoa Hạ lại nghĩ ra được lịch Mặt Trăng và việc chọn ngày tốt xấu cũng thuộc “bản quyền” của họ? Người ta đã căn cứ vào truyền thuyết, những câu chuyện thần bí và những nhân vật lịch sử Trung Quốc được gán ghép với nguồn gốc và tên gọi, từ ngày tốt xấu tới kinh Dịch, phong thuỷ. Vậy là người ta dễ dàng tin ngày Tam Nương thuộc về văn hóa Hoa Hạ do nó liên quan đến truyền thuyết ba người đàn bà (Tam nương) nổi tiếng của Trung Quốc liên quan tới sự lụn bại của cả một triều đại; rồi vua Phục Hy tìm được rùa thần trên sông Hoàng Hà, để rồi sáng chế ra Hà đồ. Chúng ta dễ dàng tin vào điều hoang đường đó. Nhưng điều đơn giản tổ tiên người Việt là chủ nhân của nền Văn minh lúa nước, là cội nguồn của nền Văn minh Đông phương trực tiếp sử dụng và lưu truyền tới ngày nay thì chúng ta lại phủ nhận. Việc chọn ngày tốt, xấu để thực hiện công việc vốn có nguồn gốc từ việc Tổ tiên chúng ta chọn ngày gieo trồng lúa và các nghi thức tôn giáo, tâm linh. Việc chọn ngày tốt xấu bởi ảnh hưởng lớn của Mặt Trăng lên Trái đất và con người, đặc biệt đối với người Việt thì sản xuất nông nghiệp là chủ đạo. Trong một chu kì Trăng, tức là một tháng Âm lịch thì có tới ít nhất 1/3 số ngày là ngày xấu. Trong những ngày xấu đó, ngày Nguyệt kị được viết thành thơ “ Mùng 5-14-23, đi chơi còn lỡ nữa là đi buôn” để ai cũng nhớ mà tránh. Việc chọn ngày tốt để làm việc hay ngày xấu để tránh đi, đối với công việc và cuộc sống hiện đại lại bị coi là mê tín, bởi nhiều người cho rằng chỉ liên quan tới các công việc thuộc về tâm linh, chẳng liên quan tới trồng trọt hay con nước lên xuống. Trong các ngày xấu trong tháng, có các ngày cố định là 6 ngày Tam nương (3-7-13-18-22-27) và 3 ngày Nguyệt kị (5-14-23). Với Trung tâm lý học đông phương thì chúng tôi tránh tuyệt đối những ngày này cho các việc khởi sự hay kết thúc. Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh , Giám đốc trung tâm đã nhiều lần giải thích về ngày Tam nương và tôi đã đề nghị Ông giao cho tôi nghiên cứu và viết về chủ đề này từ vài năm trước. Để làm rõ vì sao ngày Tam nương lại mang tới những chuyện không hay, tôi xin viết những gì mình tìm hiểu về ngày đặc biệt này và nó chẳng liên quan tới việc xui xẻo của người Hoa Hạ gán với ba đại Mỹ nhân làm mất nước trong lịch sử của họ. 2. Ngày Tam nương và sự mơ hồ theo truyền thuyết. Ngày tam nương theo tín ngưỡng dân gian Trung Quốc là những ngày rất xấu. Do đó, mỗi khi khởi sự làm một việc quan trọng (như khai trương, xuất hành, cưới hỏi, sửa chữa hay cất nhà, v.v...) để khỏi chuốc lấy thất bại, phải tránh khởi sự vào các ngày tam nương, gồm ngày mùng 3, mùng 7, 13, 18, 22, và 27 trong mỗi tháng Âm lịch. Tam nương hiểu đơn giản là “ba người đàn bà”. Theo dân gian Trung Quốc, tam nương gồm ba nàng Muội Hỉ, Đát Kỷ và Bao Tự. Hầu hết sách sử Trung Quốc đều kết tội ba giai nhân tuyệt sắc này là nguyên nhân làm sụp đổ ba triều đại Hạ, Thương, Tây Chu trước Công nguyên (TCN). Các sử gia đều phỏng chừng ba sự kiện “tan nhà đổ nước” này lần lượt xảy ra trong các năm như sau: 1. Muội Hỉ (sinh ngày mồng 3 tử ngày mồng 7 ( ngày Mão )mê hoặc vua Kiệt (tức Lý Quý , cai trị? - 1600 TCN), làm sụp đổ nhà Hạ (khoảng 2100 TCN - 1600 TCN). 2. Đát Kỷ (người Việt quen gọi Đắc Kỷ)(sinh ngày 13 tử ngày 18 ( ngày Thìn ) (mê hoặc vua Trụ (tức Đế Tân, cai trị khoảng 1154 TCN - 1066 TCN), làm sụp đổ nhà Thương (khoảng 1600 TCN - 1066 TCN). Huyền thoại đề quyết nàng Đát Kỷ là con cáo cái thành tinh (hồ ly tinh), có phép hoá ra mỹ nhân. 3. Bao Tự (sinh ngày 22, tử ngày 27 ( ngày Mùi ) (?-771 TCN) mê hoặc vua U (tức Cơ Cung Niết , cai trị 781 TCN – 771 TCN), làm sụp đổ nhà Tây Chu (khoảng 1066 TCN - 771 TCN). Tuy nhiên thì không có truyền thuyết nào gắn với ngày nguyệt kỵ ngoài câu thơ lưu truyền trong dân gian: “Mùng 5, 14, 23, đi chơi còn lỡ nữa là đi buôn” Vậy 6 ngày tam nương có liên quan gì tới ba giai nhân này? Có người giải thích rằng là ngày sinh và ngày mất của ba giai nhân này - như chúng tôi đã trình bày ở trên - và điều này thật sự là cưỡng ép để giải thích nguồn gốc của ngày tam nương cũng như để hơp thức hoá chủ nhân của “ngày tốt xấu” trong tháng âm lịch. Đối với những ai là fan của www.lyhocdongphuong.com.vn đều biết ngày tam nương là ngày kiêng kị tuyệt đối để khởi hành hay bắt đầu hoặc kết thúc một công việc nào. Bây giờ chúng ta xem xét cơ sở thực tế của ngày Tam nương từ những tương tác của chu kỳ mặt Trăng. 3. Pha và chu kì của Mặt Trăng: Khoa học đã chứng minh ảnh hưởng của chu kì Mặt Trăng lên Trái Đất và cuộc sống của con người. 1-Trăng mới (Sóc) 2-Trăng lưỡi liềm đầu tháng (Trăng non) 3-Bán nguyệt đầu tháng (Trăng thượng huyền) 4-Trăng khuyết đầu tháng (Trăng trương huyền tròn dần) 5-Trăng tròn (Vọng, hay Trăng rằm) 6-Trăng khuyết cuối tháng (Trăng trương huyền khuyết dần) 7-Bán nguyệt cuối tháng (Trăng hạ huyền) 8-Trăng lưỡi liềm cuối tháng (Trăng tàn, trăng xế) 9-Trăng tối(Không trăng) Mặt Trăng cần 28 ngày (27,3 ngày làm tròn) đi hết quĩ đạo quanh Trái Đất và 30 ngày để đi hết một vòng 12 cung Hoàng đạo tức là trung bình 2,5 ngày đi qua một cung Hoàng đạo. Chúng ta nhận thấy rằng sẽ phải quán xét tới vị trí của Mặt trăng với các cung Hoàng đạo và vị trí đó ảnh hưởng tới Trái đất . Vấn đề ở đây chúng ta sẽ dùng 30 ngày -chu kì trăng hay 28 ngày-thời gian Mặt Trăng quay quanh Trái Đất để xem xét ảnh hưởng tốt xấu của Mặt Trăng tới Trái Đất ? Theo Âm Dương phối lịch từ truyền thống, chúng ta thường dùng lịch Âm (lịch Mặt Trăng) với 30 ngày theo chu kì từ ngày Rằm tháng này tới Rằm tháng sau. Ngày Rằm là 15 và kết thúc vào ngày 30 hàng tháng và với tục đi lễ ngày Rằm và Đầu tháng Âm thì chúng ta nhằm ngày 15 và mùng 1 của tháng 30 ngày. Cách tính ngày tốt-xấu cũng tính theo lịch 30 ngày và nếu là tháng Nhuận thì vẫn tính theo tháng nhuận 30 ngày chẵn. Sau rất nhiều năm tìm hiểu nghiên cứu để giải thích về ngày xấu mà đặc biệt là ngày Tam nương-Nguyệt Kị, cùng với thống kê các sự việc xấu xảy ra vào ngày Tam nương, tôi nhận thấy rằng một số sự kiện xấu lại xảy ra trước ngày Tam nương, tức là nhiều khi không chính xác vào các ngày tam nương: 3-7-13-18-22-27. Trên thực tế, trái đất chịu ảnh hưởng từ lực hấp dẫn của Mặt Trăng khi di chuyển quanh trái đất, do vậy đối với lĩnh vực Tâm Linh tây phương hay Ả rập họ vẫn dùng lịch mặt Trăng với ngày Trăng tròn là ngày thứ 14 và kết thúc vào ngày thứ 29(làm chẵn). Hình ảnh dưới đây mô tả chu kì và vị trí của Mặt Trăng với 12 cung Hoàng Đạo. Người Ả Rập sử dụng 28 ngày và gọi mỗi ngày của Mặt Trăng trên mặt phẳng Hoàng Đạo là một “Nhà”. Điều đặc biệt là khi sử dụng biểu đồ mô tả vị trí tương đối của Mặt Trăng với cung Hoàng Đạo, các nhà Chiêm tinh hay Tâm linh đều tránh các ngày Mặt Trăng nằm ở vị trí giao nhau giữa các cung Hoàng Đạo ! Khi nhìn vào Hình 2, chúng ta dễ dàng nhận thấy các ngày Tam nương và Nguyệt kị đều vào vị trí giao nhau giữa các cung Hoàng đạo. Tất nhiên là vị tri không chính xác theo biểu đồ bởi số ngày là lẻ (27,3 ngày) chia đều cho 12 cung, và chúng ta lại quán xét ngày xấu trên cơ sở lịch âm 30 ngày. Đây cũng là lý do vì sao có một số ngày Tam nương tới “sớm” hay “muộn” hơn một ngày. H1: 30 ngày Trăng với 12 cung Hoàng đạo H2: 28 ngày Trăng Tiếp theo, chúng ta lại xét tiếp tới Pha của măt Trăng. Tổng số là 29,5 ngày và theo Chiêm tinh, họ dùng ngày thứ 29 làm ngày kết thúc một chu kì Trăng thay bởi làm tròn thành 30 ngày như lịch Trăng của Đông Phương. Từ hình vẽ mô tả này, chúng ta cũng có thể nhận thấy ngày Tam nương cũng trùng với ngày kết thúc của một Pha mặt Trăng. Điều thú vị là có 8 Pha nhưng có hai Pha tương tự, do vậy có 2 ngày kết thúc của Pha có đặc tính giống nhau, thu gọn lại ta có 6 ngày kết thúc một Pha, trùng lặp với ngày Tam nương. H3: Pha của Mặt Trăng H4.(thuỷ triều với chu kì Trăng) Ngày Nguyệt Kị, tôi cho rằng đây chính là ngày đỉnh điểm của lực hấp dẫn của Mặt Trăng lên Trái Đất, gây ra hiện tượng thuỷ Triều mạnh nhất. Việc này cũng sẽ ảnh hưởng tới con Người bởi cơ thể chúng ta nước chiếm 78%. Hiện tượng này tạo cho chúng ta dễ mất kiểm soát cho nên công việc sẽ không thuận lợi nếu chúng ta đưa ra quyết định vào ngày này. Ngày Tam nương, là điểm chết vị trí của Mặt Trăng trên cung Hoàng Đạo và cũng là vị trí kết thúc Pha của Mặt Trăng, là vị trí của Mặt Trăng với Trái Đất. Do vậy, mọi sự bắt đầu và kết thúc đều ở điểm “chết” và khó để phát triển. Do vậy, theo Lý Học Đông Phương thì chúng ta không nên bắt đầu hay kết thúc một việc gì đó do tạm thời “mất” đi tương tác của Mặt Trăng lên Trái Đất và “mất” ý nghĩa của Mặt Trăng trong mặt phẳng Hoàng Đạo. Nền Lý Học của người Việt không gán ghép các nhân vật Lịch sử hay huyền sử vào nguồn gốc hay giải thích sự việc tốt xấu nhằm mục đích mê hoặc và đặc biệt để tạo nguồn gốc và sở hữu. Tổ tiên chúng ta truyền lại cho thế hệ sau qua ca dao, qua phong tục tập quán chứ không mê hoặc hay gán ghép vào chuyện thần tiên để mô tả nguồn gốc của lý thuyết thuộc về Lý học. 3. Ngôn ngữ.: Sẽ có người đặt câu hỏi vì sao có 6 ngày mà lại gọi là Tam nương. Theo lý học đông phương thì có 3 ngày cực Âm và cặp với nó là 3 ngày dương. Theo đồ hình chúng ta cũng có thể nhận ra điều này. Cũng là một cách đạt vấn đề về ngôn ngữ, cách gọi và đặt tên ngày Tam nương. Tam Nương theo cách nói và nghe được ghi lại và người Hoa hạ gán ghép với chuyện của ba đại Mỹ nhân trong lịch sử là nguyên nhân mất nước. Đối với người Việt thì từ Nương và Lương khi phát âm thì nhiều người Việt phát âm ý nghĩa của từ này là như nhau. Ví dụ: Nương rẫy Lương thực thì nhiều người phát âm thành “Lương rẫy, Nương thực” hoặc Lương rẫy, Lương thực hoặc Nương rẫy , Nương thực. Xa xưa, có lẽ ngôn ngữ có khác biệt khi sử dụng chữ tượng hình như chữ Nôm. Do đó ta sẽ xem xét ý nghĩa của từ Nương và Lương. 1. Nương: 娘 :Là cô, thiếu nữ, chị, mẹ, bà, vợ, bà chủ.. chỉ chung cho Nữ giới. 碭: Mang ý nghĩa nếu muốn qua thì phải vượt lên, như vượt qua cầu. 2. LƯƠNG:量 : Cân nhắc, coi xem nặng nhẹ Với người Việt, khi cân nhắc điều gì thường nói tới con số 3, ví dụ khuyên răn: Uốn lưỡi ba lần trước khi nói, hay tốt xấu: quá Tam ba bận Tam Lương: Hãy cân nhắc ba lần trước khi làm Phải chăng Tam Lương là cách tổ tiên chúng ra khuyên hãy cân nhắc trước khi làm việc gì vào những ngày này ? * đây chỉ là cách đặt nghi vấn của cá nhân tôi trong cách gọi tên ngày Tam nương Mạnh Đại Quân, 14-12-2015
    2 likes
  38. PHONG THỦY LẠC VIỆT ỨNG DỤNG. Trong kiến trúc nhà riêng của Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tiếp theo Về yếu tố Loan đầu - Cảnh quan môi trường - thì trên thực tế của cuộc sống hiện đại rất khó lựa chọn theo ý muốn. Thế đất của tôi còn bị một yếu tố xấu nữa: Đó chính là mỗi khi triều cường, lòng đường lại ngập nước. Xét tương quan ngôi nhà và môi trường lại phạm cách "Dương thịnh, Âm suy". Về mặt kỹ thuật thì Thiên Anh (Hoàng Anh) - Học viên khóa Phong thủy Lạc Việt cao cấp - Giám đốc Cty xây dựng và Nội thất Gia Phúc - bảo đảm làm rất kỹ nền móng. Tất nhiên Thiên Anh sẽ hiểu tôi muốn gì và biết cần phải làm gì với ngôi gia của tôi theo Phong Thủy Lạc Việt. Kết quả của sự xây dựng này về mặt phong thủy chính là nội dung của bài viết này. Về mặt lý thuyết của thuyết Âm Dương Ngũ hành ứng dụng trong phong thủy - thì - việc đóng cọc, gia cố nền móng , cũng chính là một biện pháp cân bằng Âm Dương ở những cuộc đất nền không cứng chắc (Âm suy). Việc quy hoạch đường nội bộ trong tương lai sẽ nâng cao mặt đường lên khoảng nửa mét (Âm vượng) - Do đó, để cân bằng Âm Dương trước quy hoạch thì nền nhà phải cao - trường hợp này lại phạm cách "Cô Âm" cho chính ngôi gia, khi nền đường chưa nâng cao. Để khắc phục các cách phạm tiêu chí phong thủy này, cũng còn có cả chút may mắn. Đó là xung quanh ngôi gia của tôi, đều đã có nhà xây cất từ trước. Nền của họ khá cao. Nên cách "cô Âm" của ngôi gia của tôi không hoàn toàn cô Âm. Có thể nói rằng: nếu như ngôi gia của tôi được xây đầu tiên trong cuộc đất này và xung quanh trống trải thì chắc chắn tôi không thể mua miếng đất ở đây để xây nhà. Qua đó, bạn đọc cũng thấy rất rõ rằng: Chỉ riêng về yếu tố cảnh quan môi trường tác động lên ngôi gia, cũng cho thấy những liên hệ tương tác từ tổng hợp cảnh quan khu vực rộng, cho đến chi tiết chung quanh ngôi gia đều cần phải xét đến. Trên thực tế thì yếu tố cảnh quan xấu, chỉ có thể khắc phục bởi chính cấu trúc hình thể nhà tương quan. Phần tiếp theo đây là phần nội dung ứng dụng chính của Phong Thủy Lạc Việt trong kiến trúc ngôi gia của tôi. Bát trạch Lạc Việt & Cấu trúc hình thể - Hình Lý khí Lạc Việt Ứng dụng trong kiến trúc ngôi gia Nguyễn Vũ Tuấn Anh Trong cấu trúc hình thể nhà được quán xét trên cơ sở hai yếu tố tương tác căn bản - mà cổ thư chữ Hán gọi là "trường phái Bát Trạch" và trường phái "Dương trạch tam yếu", có cân nhắc và tham chiếu với yếu tố cảnh quan môi trường (Loan đầu). Sự nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy đây chính là hai yêu tố tương tác có mối liên hệ khá chặt chẽ và hoàn toàn không hề mâu thuẫn nhau. Mặc dù chúng có hệ quy chiếu khác nhau và hệ thống phương pháp luận ứng dụng riêng; nhưng chúng hoàn toàn hỗ trợ và bổ sung cho nhau khá chặt chẽ. Nó tương tự như ngành "gây mê hồi sức" và ngành mổ xẻ trong y học vậy. Không thể coi đây là hai "trường phái" trong y học được. Chính vì tính tương tác phức tạp của các yếu tố trên trong phong thủy và là hệ quả của sự thống nhất từ hệ thống lý thuyết căn bản là thuyết Âm Dương ngũ hành - cho nên có thể sử dụng ưu thế của hệ quy chiếu của yếu tố tương tác này, để khắc phục những yếu tố xấu xét từ một hệ quy chiếu của yếu tố tương tác khác. Sự mâu thuẫn giữa các "trường phái" trong phong thủy; sự mơ hồ về những khái niệm cũng như nội dung từ cổ thư chữ Hán và tính bất hợp lý trong sự xuất hiên của chính những cái gọi là "trường phái" trong lịch sử phong thủy từ văn minh Hán, thì chúng tôi đã có nhiều bài viết chứng minh trên diễn đàn, bạn đọc có thể tham khảo. Ở đây, chúng tôi chỉ trình bày về sự ứng dụng của Phong Thủy Lạc Việt, nhằm thể hiện tính nhất quán, hoàn chỉnh, tính hệ thống tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri của ngành học này - hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một hệ thống phương pháp luận ứng dụng, nhân danh khoa học - thuộc về một nền văn minh cổ xưa, được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt. Sơ đồ mặt bằng nhà, phân cung theo Bát Trạch Lạc Việt - Tức nhất quán với nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt " (Đổi chỗ Tốn/ Khôn). Cấu trúc hình thể - Hình Lý khí Lạc Việt " - tương đương "Dương trạch tam yếu" Sơ đồ phiên tinh phòng. Cấu trúc hình thể nhà. Từ sơ đồ kiến trúc nhà và hình ảnh bạn đọc cũng nhận thấy những tiêu chí và nguyên tắc ứng dụng trong phong thủy đều được ừng dụng triệt để và hoàn toàn nhất quán với nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt - Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt trong việc phân cung, điểm hướng và kiến trúc. Quí vị và anh chị em quan tâm thân mến. Nếu như tri thức khoa học hiện đại xác định được rằng: Bản chất của mọi vật thể có khối lượng trong vũ trụ, đều có cấu trúc từ những hạt vật chất vi mô, gọi là những hạt cơ bản. Thuyết Lượng tử của Vật Lý hiện đại nhận thấy sự giống nhau giữa cái chìa khóa lạnh ngắt và bông hồng đầy cảm xúc. Nhận thức của khoa học hiện đại mới chỉ đạt tới tính trực quan - thông qua các phương tiện kỹ thuật - và mang tính cơ học. Nhưng trong Lý học Đông phương, nền tảng nhận thức không những hoàn toàn tương đồng như tri thức khoa học hiện đại, khi xác định rằng: "Vạn vật đông nhất thể";mà còn tỏ ra vượt trội hơn rất nhiều khi ứng dụng trong cuộc sống của con người - cụ thể là ngành phong thủy. Phong thủy Lạc Việt xác định rằng: Mọi ngôi gia, thậm chí từng căn phòng trong ngôi gia đều có thể coi như những sinh thể sống. Tính biểu tượng và mối liên hệ giữa các biểu tượng với ngôi gia đều được ứng dụng triệt để. Thí dụ như tính tương sinh của Ngũ hành - mái nhà nhọn, đỏ thuộc Hỏa sinh căn nhà vuông ,màu vàng thuộc Thổ; hoặc nhà hình cái ấn: hình "lộ cốt phòng"....vv....Tất cả những cái đó đều mang tính biểu tượng và mối liên hệ tương quan với những biểu tượng đó trong việc tương tác với con người trong ngôi gia. Qua đó, bạn đọc cũng thấy rằng: Khi khoa học hiện đại mới chỉ dừng lại ở tính nhận thức thì nền văn minh cổ xưa không những cũng có sự tương đồng về nhận thức, mà còn tỏ ra vượt trội khi ứng dụng cụ thể trong cuộc sống của con người, qua mối liên hệ giữa các biều tượng trong sự ứng dụng trong phong thủy. Do đó, việc nghiên cứu và ứng dụng Phong Thủy Lạc Việt - và Lý học Đông phương nói chung - đòi hỏi một tư duy trừu tượng rất phong phú và phát triển, để quán xét mối liên hệ giữa mọi hiện tượng. Còn tiếp
    2 likes
  39. PHONG THỦY LẠC VIỆT ỨNG DỤNG. Trong kiến trúc nhà riêng của Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tiếp theo Phong Thủy Lạc Việt là một hệ thống phương pháp ứng dụng, hệ quả trực tiếp của thuyết Âm Dương ngũ hành với nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử - có một nội dung, nhất quán , hoàn chỉnh, có tính hệ thống, phản ánh tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri; hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một hệ thống lý thuyết khoa học. Đây là sự khác biệt căn bản với những tri thức rời rạc, mâu thuẫn, mơ hồ từ các mảnh vụn còn sót lại về tri thức của ngành học này vốn ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán. Nếu như những tri thức khoa học hiện đại trong kiến trúc và xây dựng là sự thể hiện những nhận thức kỹ thuật kiến trúc và kết cấu xây dựng với tính thẩm mỹ theo nhãn quan thẩm mỹ thời đại - thì - Phong Thủy Lạc Việt chính là một hệ thống tri thức, mô tả quy luật tương tác của tự nhiên với ngôi nhà, được hệ thống hóa, chuẩn hóa và phân loại thành những quy tắc, nguyên lý, tiêu chí và các mô hình biểu kiến trong sự ứng dụng của từng hệ quy chiếu, để quán xét ảnh hưởng của những tương tác này đối với ngôi gia và con người có khả năng tiên tri. Căn cứ vào những tiêu chí và nguyên tắc, quy ước này, các phong thủy gia sẽ thiết kế, bài trí nội thất và tiến hành xây dựng căn nhà, hoặc các công trình xây dựng khác. Tùy theo sự hiểu biết và khả năng của các phong thủy gia, mà có thể cùng một hệ thống kiến thức về phong thủy, căn nhà vẫn có những thể hiện kiến trúc hình thức khác nhau. Tương tự như cùng một khóa kiến trúc sư ra trường và cùng thiết kế một ngôi nhà với chức năng sử dụng như nhau, mỗi người vẫn có thể đưa ra phương án kiến trúc khác nhau. Miễn là đồ án của họ phù hợp với những tiêu chí trong kiến trúc và xây dựng. Kiến thức phong thủy và kiến trúc hiện đại hoàn toàn không hề có mâu thuẫn như nhiều người lầm tưởng. Nhưng nếu chỉ sử dụng kiến thức của kiến trúc và xây dựng hiện đại thì người kiến trúc sư sẽ thiết kế dễ hơn rất nhiều. Vì họ không bị buộc phải tuân thủ một số tiêu chí, và quy định bởi kiến thức phong thủy vốn khá chặt chẽ. Nhưng trong trường hợp này, nếu phạm phải những tiêu chí xấu trong phong thủy thì gia chủ, hoặc người thân của họ có thể gặp phải những điều không may mắn có thể tiên tri. Những phương pháp ứng dụng trong phong thủy hoàn toàn khách quan và đầy đủ tính chất khoa học theo tiêu chí khoa học. Nó không vì quan lớn, hoặc dân đen mà thay đổi tiêu chí và những nguyên tắc của nó. Do đó, tuân thủ theo đúng những nguyên tắc và tiêu chí phong thủy thì cũng như uống đúng thuốc, hoặc thuốc bổ, phạm vào các tiêu chí xấu thì cũng như uống thuốc độc và đều có khả năng tiên tri - chứng tỏ tính quy luật khách quan phản ánh trong các qui định và mô hình biểu kiến của phương pháp này. Bởi vậy, hoàn toàn bất hợp lý khi cùng là hệ quả của một hệ thống lý thuyết mà lại có đến bốn trường phái phong thủy khác nhau và đầy mâu thuẫn được miêu tả trong cổ thư chữ Hán. Phong thủy Lạc Việt là sự hiệu chỉnh và đã xác định cái gọi là bốn trường phái trong cổ thư chữ Hán thực chất là 4 yếu tố tương tác căn bản trong Phong thủy. Chúng có những phương pháp đặc thù với một hệ quy chiếu riêng trong hệ tương tác của nó và hoàn toàn không hề có mâu thuẫn về mặt lý thuyết. Bốn yếu tố tương tác chủ yếu đó là: 1 - Loan Đầu - Cấu trúc môi trường thiên nhiên chung quanh ngôi gia với những quy luật tương tác được mô hình hóa và ảnh hưởng đến ngôi gia, có thể tiên tri. Cổ thư chữ Hán coi đây là một trường phái ứng dụng độc lập. 2 - Cấu trúc hình thể ngôi gia - bao hàm những cơ sở của Dương trạch Tam yếu . Tức là hình thể ngôi gia, bên ngoài và bên trong. Ảnh hưởng của những quy luật tương tác của yếu tố này với con người sống trong ngôi gia có tính quy luật có thể tiên tri.Cổ thư chữ Hán coi đây là một trường phái ứng dụng độc lập 3 - Ảnh hưởng của địa từ trường trái đất lên con người thông qua ngôi gia. Cổ thư chữ Hán gọi là trường phái Bát trạch. 4 - Ảnh hưởng của sự vận đông các hành tinh gần gũi trái Đất lên ngôi gia vào thời điểm xây cất và nhập trạch. Cổ thư chữ Hán gọi là trường phái Huyền không. Những trường phái này theo mô tả trong các bản văn chữ Hán là những phương pháp tách rời, ứng dụng một cách độc lập và không có sự liên hệ với nhau. Nội dung của các trường phái này đều có những yếu tố mơ hồ về khái niệm, mâu thuẫn với nhau và có lịch sử ra đời muộn nhất là phái Huyền Không vào thế kỷ XV AC và hoàn thiện vào thế kỷ XIX AC. Sớm nhất là Bát trạch vào thế kỷ thứ II BC. Phong thủy Lạc Việt coi đây là sự phát hiện riêng phần trong lịch sử Hán hóa các tri thức Việt khi sụp đổ ở miền nam Dương tử và xác định đó chính là bốn yếu tố tương tác với những hệ quy chiếu riêng và là hệ quả thống nhất của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Sự ứng dụng một cách thống nhất và có hệ thống cả 4 yếu tố tương tác này trong kiến trúc nhà ở của người viết là một minh họa cho quan niệm trên. Và không phải là duy nhất. Còn tiếp
    2 likes
  40. Trước tiên xin kính chào các quý ông quý bà cùng toàn thể quý cô chiêu và quý cậu ấm. Hiện nay, mục Tử vi luận giải này rất đông khách, đại bộ phận khách khứa là quý cậu ấm và quý cô chiêu, mới 19 đôi mươi nên còn nhiều sự đời chưa hiểu, thiết tưởng mình đỗ đại học đã là nhớn, biết Hun đã là khôn nhưng khi lạc vào thế giới tiên đoán thì đúng là một kiến thức mới. Hiện nay, theo như tôi quan sát, hầu hết các anh chị, cô bác luận giải ở diễn đàn đều dùng từ ngữ tân thời, rất ít từ ngữ cổ hoặc cũ. Nhưng xem ra nhiều người Trẻ không hiểu và nhiều người xấu số (lá số không đẹp như ý) hay hỏi đi hỏi lại, người này trả lời không ưng thì tưng tưng chạy qua hỏi người khác. Giá mà khi đi học mà chăm chỉ chịu khó như thế thì tốt cho nước nhà quá. Vì vậy tôi xin mạn phép mở ra mục này để các cô bác, anh chị luận giải lá số đóng góp các kiến giải vào đây để các quý ông bà, quý cô ấm cậu chiêu đọc hiểu một vài vấn đề cơ bản. Với các quý vị nhờ bình giải lá số thì chỉ nên đọc hiểu chứ đừng View như người Anh. Bởi quý vị viết vài dòng cảm xúc vào đây thì sẽ có nhiều điều không cần thiết. Nếu thấy nhất thiết phải viết thì nên đọc kỹ trước khi đặt tay gõ phím hỏi về vấn đề mình chưa hiểu. Rào trước, Chắn sau như vậy thiết nghĩ cũng đã cạn lẽ. Xin phép quý vị cho tôi vào thẳng vấn đề cần vào như sau: 1/ Không còn là trinh nữ trước khi động phòng hoa trúc: Việc này không nhất thiết cứ phải là quan hệ với người ngoài rồi mới lấy chồng. Hoàn toàn có thể quan hệ với người chồng trước khi cưới và đăng ký kết hôn. 2/ Phải lập gia đình muộn mới tránh được hình khắc chia ly: Muộn là từ tầm 30 tuổi trở đi, Sớm là từ 24 tuổi trở về trước, Trung bình là tự hiểu. 3/ Giải pháp để tránh hình khắc ly dị: muộn lập gia đình, làm lẽ, cưới hỏi dở dang người này rồi lấy người khác, cưới đi và cưới lại 4/ Cưới đi và cưới lại: Là việc hi hữu, ví như vì ở xa nhau nên phải tổ chức cưới ở 2 nơi, bái gia tiên 2 lần, hoặc cưới chui trước khi cưới thật, tức là ra phường làm đăng ký kết hôn hoặc lấy được giấy đăng ký kết hôn rồi về nhà làm lễ bái gia tiên ở 1 trong 2 họ, Hiện nay thiên hạ rất chuộng cái vụ cưới đi rồi cô dâu lẳng lặng bỏ về nhà đẻ, sau đó chú rể mới lóc cóc đi đón dâu về lần nữa. Để gọi là qua 2 lần đò đểu. Vì là đò đểu nên chẳng có gì đảm bảo cái sự giả dối cố ý được biện hộ là chữa mẹo với chẳng méo này có tác dụng gì cả. Chồng 5 thê 7 thiếp vẫn cứ diễn ra, vợ thì có cả bộ sưu tập người tình thì vẫn chẳng tránh khỏi. Thế thì chọn giờ lành tháng tốt làm gì hay tại thầy bói dốt? 5/ Kim lâu đối với nữ nên không được lấy chồng: 1 lần ân ái cũng nên vợ chồng, nếu nói dại chỉ 1 lần nghịch dại mà có thai, vậy lúc nghịch dại ấy ai xem ngày xem giờ cho? Yêu thì Cưới, đó là nét văn hóa của dân tộc Việt, "Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên?", "Ngày xưa ai cấm duyên bà, mà nay bà già bà cấm duyên tôi?", "Hùng Vương kén rể thời nay: Xe bốn bánh, Cánh 2 bên, Lên thang máy (nhà biệt thự cao hơn 5 tầng phải đi thang máy chứ ko phải loại trung cư vớ vỉn) Như vậy Kim lâu hay không, không quan trọng trong việc cưới chồng, bởi nếu quan trọng thế thì sao lúc đẻ con ko tính chuyện kim lâu, chồng thì chỉ sống được vài chục năm cùng mình (lâu hơn cha mẹ mình) nhưng thường thì chồng không sống lâu hơn con mình (Ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con cái). Vậy rõ ràng cái chuyện trăm năm kia là sống với con, con cái lo ma chay - hiếu hỉ cho cha mẹ, quan trọng thế sao không Kiêng? hay sướng quá nên quên mất việc kiêng cữ? 6/ Cải số: Quả có vài trường hợp lá số phán Tử vong, đương số quả nhiên có nhìn thấy Quỷ Môn Quan. Nhưng được cứu giải. Nên không phải xuống mười mấy tầng địa ngục an dưỡng. Đó là những trường hợp hi hữu và không phải tất cả những người có cùng ngày, cùng tháng, cùng năm đó đều được cứu giải như thế. Mình không chết thì người khác chết, số trời đã định ngày hôm đó Tử thần với lưỡi hái Đầu lâu phải gom đủ 3000 đầu lâu vào cái túi đen ngòm, nếu không đủ thì bị phạt, không nhẽ cái lão Sư cọ mốc với lưỡi hái dài ngoằng đó nhận hối lộ của quý vị để giết người khác thế thân cho quý vị hoài? Rõ là không rồi. Như vậy việc cải số cũng giống như việc thi Hoa hậu thế giới vậy, cả năm chỉ có 1 người đăng quang ngôi vị cao nhất mà thôi. Chứ cải được số thì sao không làm cho lá số đẹp cả 12 cung số luôn đi, chỉ cải mỗi cái cung Phu Thê hay Tử tức xấu hoắc để làm gì? vậy cung này tốt lên thì cung nào sẽ xấu đi đây? Tử vi không phải là cái để mọi người xoay chuyển càn khôn mà chỉ để con người nhìn vào đó để chuẩn bị tâm lý cũng như cách ứng xử sao cho tốt nhất trong hoàn cảnh đó mà thôi. Nhưng không có nghĩa là khoanh tay chịu trói, Tức biết được tháng này mình bị mất tiền có thể do bị cướp hoặc bị vay đểu. Thì mình phải tự đưa ra đối xách là cướp thì phải truy hô, vay đểu thì chỉ cho vay ít thôi. 7/ Giầu có đừng vội mừng, nghèo khó đừng vội lo: Biết số mình nghèo, bon chen cũng chẳng lợi gì thì đừng lấy đó làm buồn, mà hãy nghĩ đến việc mình sống có hạnh phúc không, người ta giầu có mà con cái ăn tàn phá hại thì có hạnh phúc không? kiếm tiền nhiều để vợ chồng nem chả mà vẫn chung giường, con cái hút sách mà vẫn đi du học thì khi về già có sướng không? Giầu mà không sang chẳng bằng nghèo khó mà đứng đắn. Sống ở trên đời, cần có 1 cái tâm cùng với cái tầm chứ không phải tiền bạc và địa vị. 8/ Tuổi còn trẻ quá (dưới 25) thì không nên tìm hiểu quá sâu về tương lai xa: Tầm tuổi này chỉ nên biết tương lai gần trong 5 năm tới chứ đừng tham lam mà hỏi thông cả đến lúc vào hòm. Cuộc đời này chỉ có 18% là những điều tuyệt vời, với 2% may mắn, còn lại có đến 80% những điều không may. Vì thế hầu hết xem số nói về điềm gở nhiều và dễ hơn điềm lành. Nhưng với số lượng điềm lành nhỏ bé ấy lại làm lên cả 1 kỳ tích về cuộc sống con người. Vì vậy, hãy nhìn gần để dễ làm, đừng nhìn xa quá mà thêm mệt mỏi. 9/ Tỷ phú tại Thiên, Triệu phú nhờ tích góp, đổi giờ sinh để làm gì?: Giầu không phô, nghèo không xấu hổ. Nếu đã biết số mình nghèo thì cố mà tích góp, để một mai mưa gió đau ốm còn có cái dùng, chứ nợ nần là tự mình bán danh dự của mình đi rồi. Bởi nhỡ một mai chết đi, gánh nợ đó đổ lên đầu ai nếu ko phải là người thân ruột thịt trong nhà? Vì vậy dù giầu hay nghèo thì cũng nên khiếm tốn. Đừng xừng sực đổi giờ sinh, ngày sinh. Nếu đã không biết thì cần làm rõ trước, khi đăng tin lên cần kiểm tra lại kẻo đến lúc người giải đã luận giải cả tràng rất dài rồi mà cuối cùng là sai giờ sinh. Nếu quý vị đi xem mất phí, sẽ có bao nhiêu người nhìn quý vị? người ta đang xếp hàng chờ đến lượt mà lại bị 1 kẻ lãng nhách xếp trước. Như thế là không lịch sự. Đổi giờ sinh, chắc gì đã có lá số tốt hơn 10/ Vợ chồng có ngày xa cách: Xa cách không có nghĩa là ly dị, nhưng lại có ý nghĩa là chia ly tạm thời. vì dận nhau hoặc vì công tác, không thể luận giải chính xác được là vì sao. 11/ Bị làm sao đó: Làm sao là làm sao thì có nhiều trường hợp, nhưng tựu chung là muốn biết nguyên nhân và kết quả, Tử vi không thể chỉ rõ được vấn đề, ví như đụng xe hay đâm xe? đụng thì chỉ là va quệt nhẹ, còn đâm xe thì nặng rồi. Nhưng ai đâm ai và xe đâm là xe gì thì chịu nhé, chỉ có Chúa mới biết nó là cái gì và như thế nào. Khoa học cũng như Tử vi không bao giờ trả lời Tại sao mà chỉ giải thích như thế nào. Đừng hỏi tại sao con người lại sinh ra trên trái đất này mà không phải là ở 1 Ngôi sao cô đơn nào đó trong vũ trụ. Không ai và không bao giờ bạn có câu trả lời. 12/ Sao này và sao kia: Nếu quý vị chưa thông tường hoặc chưa thuộc được ý nghĩa cũng như sự phối kết hợp giữa các sao thì không nên đưa ra những câu hỏi về các vì tinh tú này để tránh chuyện tranh cãi nhiều hơn là trao đổi học thuật. Người luận giải thực sự không có hứng thú đàm đạo với quý vị về vấn đề này (hầu hết là thế) 13/ Học giỏi không đồng nghĩa với giầu có và ngược lại: Cuộc đời là thế đó, quý vị có 1 quá khứ học hành siêu việt, nhưng chẳng có gì đảm bảo là quý vị có 1 tương lai sáng về tiền bạc cả. Tiền và Tài không phải lúc nào cũng song hành với nhau Ngày hôm nay có thu nhập cao thì đừng vội mừng, bao giờ nghỉ hưu ở tuổi 60 thì hãy phán xét việc bói toán là trò nhảm nhí. 14/ Giầu nứt đố đổ vách mà không bền: Ai cũng có 1 thời kỳ 10 năm phát đạt, nhưng không phải cả 10 năm đều phát mà có năm được năm hòa. Nhưng tổng kết là tốt và rất tốt. Cái ngưỡng 10 năm tốt đó nó thể hiện ở con số dưới đáy và ở giữa mỗi cung số. Quý vị có thể xác định được cho mình ở khoảng tuổi nào, ví như Mệnh là số 3 và khoảng thời gian tốt nhất cho mọi vấn đề của cuộc sống có thể là từ 23 đến 32 tuổi bởi cung kế tiếp là cung 33, nếu vận hạn tốt ở cung 43 thì thời kỳ tốt đẹp đó là từ 43 đến 52 tuổi. v.v... Đời người thường chi có 1 thời ký 10 năm này thôi, thường thì chỉ có một vài trường hợp đắc cách mới có 2 vận tốt, có thể là ở cung 33 và cung 53 tuổi, tức cung 43 tuổi ko tốt hoặc hơi xấu so với bình thường. 15/ Mất điện thoại có tìm lại được không? hay các câu hỏi đại loại như thế: Vậy mất người yêu có lấy lại được không? đâu cần bói toán gì cũng đoán được mà. Rất ít trường hợp Tử vi có thể đoán được, nên đi tìm các phương pháp tiên đoán khác thì hơn. Mong các quý vị giải số tiếp phím
    2 likes
  41. Diễn đàn LHĐP mở topic dành cho năm 2018 cho các bạn quan tấm đến Luận Tuổi Năm Sinh Con, thay cho topic 2017 để các bạn tiện theo dõi. Chú ý khi tư vấn: Không gửi bài viết nhiều lần Tuân thủ nội quy diễn đàn Không trao đổi thảo luận các nội dung khác ngoài lề Không hỏi giúp người khác vì trong Lý Học có nhiều lí do tế nhị. Tư vấn và được tư vấn là do DUYÊN và TÙY DUYÊN và trên tình thần tự nguyện của các nhà nghiên cứu. Ưu tiên tư vấn cho các trường hợp mong muốn sinh con năm 2018 Trước khi tư vấn xem trước: Bảng tra mạng theo Lạc Thư Hoa Giáp Tuổi hợp - xung trong tình yêu Luận tuổi Lạc Việt Tham khảo các bài tư vấn cũ của 2013-2014-2015-2016-2017 trong box Luận Tuổi Chú ý: TUYỆT ĐỐI KHÔNG XEM VÀ TƯ VẤN CHO CÁC TRƯỜNG HỢP ĐANG CÓ THAI VÀ TRƯỜNG HỢP HỎI GIÚP CHO NGƯỜI KHÁC Khi tư vấn chúng tôi sẽ giúp chọn những năm tốt nhất, gần nhất và phù hợp nhất Những năm chúng tôi không chọn hoặc không tư vấn là không phù hợp nên đừng hỏi lại. Gửi nội dung tư vấn theo mẫu sau Chồng: [ngày-tháng-năm sinh - Theo Âm Lịch] - [Mạng] - Bảng tra mạng theo Lạc Thư Hoa Giáp Vợ: [ngày-tháng-năm sinh - Theo Âm Lịch] - [Mạng] - Bảng tra mạng theo Lạc Thư Hoa Giáp Nếu đã có con: [ngày-tháng-năm sinh - Theo Âm Lịch] - [Mạng] ( đã có hơn một con thì mỗi con trên một dòng riêng) Nội dung xin tư vấn: Dự định sinh con năm xyz có tốt không? / Sinh con năm nào thì tốt Nội dung thêm: (lựa chọn, nếu cần thì đưa thêm để tiện việc tư vấn) Ví dụ: Chồng: 16/03/1983 âm lịch - Thiên Thượng Hỏa Vợ: 20/08/1988 âm lịch - Đại Lâm Mộc Con lớn: 15/05/2012 âm lịch Xin tư vấn: Sinh con út năm nào thì tốt
    1 like
  42. Vâng, khi tình yêu đủ lớn thì chúng ta có thể chấp nhận cả cái xấu của đối phương để đi đến hôn nhân. Nhưng rất nhiều người sau kết hôn thì lại không chấp nhận điều đó, hay là mong đối phương sửa đổi vv.. điều đó rất khó. Vậy nên theo mình thì đã chấp nhận thì chấp nhận suốt đời, đó là cam kết. Đúng tuổi Dậu là tháng 1 & 7, tôi xin lỗi vì ở trên nhầm là tháng 4&10 là của tuổi Thìn của chồng. Chúc bạn được vạn sự như ý!
    1 like
  43. HỒ THỦY SINH TRONG PHONG THỦY NGÔI GIA DƯỚI GÓC NHÌN TỪ ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT PHẦN 1: SỰ TÁC ĐỘNG VÀ VỊ TRÍ ĐẶT HỒ THỦY SINH Tác giả: Longphibaccai – Nguyễn Quốc Duy Thành viên nghiên cứu Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương Hướng dẫn: Thầy Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh Ngày nay, phong trào chơi hồ thủy sinh trở nên khá phổ biến và trở thành niềm đam mê của nhiều người, từ một anh doanh nhân giàu có cho đến một cô bé học sinh trung học cơ sở… Thú chơi hồ thủy sinh còn đòi hỏi người chơi thể hiện sự sáng tạo và chinh phục những đỉnh cao mới. Từ việc đưa khung cảnh thiên nhiên, những nét đẹp bình dị của làng quê, sông núi, rừng già, đáy biển vào hồ cho đến việc nuôi những động vật thủy sinh khó nuôi, đòi hỏi cao về chất lượng môi trường nước và nhiệt độ. Thú chơi hồ thủy sinh là vậy, nhưng nhiều người vẫn có thắc mắc hồ thủy sinh có ảnh hưởng hay tác động như thế nào đến ngôi nhà của mình, tốt xấu ra sao, hay người mệnh Hỏa có chơi hồ thủy sinh được không và đặt tại vị trí nào là tốt? 1. Hồ thủy sinh tác động như thế nào đến ngôi gia? Hồ thủy sinh ngoài việc giúp cho những người trong nhà có cảm giác thư giãn, giảm stress sau một ngày làm việc căng thẳng, còn có tác dụng tốt trong Phong Thủy ngôi gia. Cổ nhân có câu: “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc” - Núi thì quản người, nước thì quản tài lộc và tạo sinh khí. Đối với không gian lớn như quán café, quán ăn, nhà hàng, khách sạn lớn … Nhiều Phong Thủy Gia đã dụng Thủy Pháp là các thác nước, các hồ nước, hồ nuôi cá cảnh lớn ngoài trời, và đối với không gian nhỏ hơn là trong gia đình, quán café, các quán ăn nhỏ là các hồ cá, hồ thủy sinh trong nhà … Ngoài việc làm đẹp cảnh quan, hồ thủy sinh còn có mục đích là chiêu tài tụ khí giúp cơ sở kinh doanh phát triển, tăng sự thịnh vượng của ngôi gia. 2. Người mạng Hỏa có nên chơi hồ thủy sinh? . Nên đối với những người mệnh Hỏa hay bất cứ mệnh gì trong ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Thổ) đều có thể chơi hồ thủy sinh trong ngôi gia của mình, vì mạng chỉ là sự phân loại trong Ngũ hành.có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri (1) Thuyết Âm Dương Ngũ Hành là một học thuyếtTheo học thuyết Âm Dương Ngũ Hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt với lịch sử trải gần 5.000 năm, đã xác định rằng: 3. Hồ thủy sinh đặt tại vị trí nào là tốt? … Về nguyên tắc thì đặt hồ ở đâu trong nhà cũng được với điều kiện là ngôi gia phải tụ khí thì hồ thủy sinh mới phát huy hiệu quả của nó. Nhưng ở những vị trí khác nhau, sẽ có những tác động tốt xấu khác nhau. Đặt ở nơi mộ khí thì sẽ có tác dụng xua tan Âm khí. Ở nơi sinh khí và vượng khí có tác dụng kích hoạt sinh khí tốt, có lợi cho sức khỏe, nhưng trong nhà phải thoát khí tốt và hồ thủy sinh đặt trong nhà phải hài hòa, cân đối.(2)Trong Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt thì hồ thủy sinh là nơi tụ khí và luân chuyển sinh khí trong nhà, khí do hồ thủy sinh sinh ra là Âm khí, hồ thủy sinh có tác dụng kích hoạt sinh khí có lợi cho sức khỏe, kích hoạt tài lộc a. Các vị trí tốt đặt hồ thủy sinh: - Có thể đặt hồ thủy sinh tại vị trí hướng Bắc (cung Khảm), hướng Đông (cung Chấn) hoặc hướng Đông Nam (cung Khôn (3)) của ngôi gia sao cho phù hợp. Hướng Bắc thuộc cung Sự Nghiệp, tượng trưng cho sự vững bền, thuận lợi và thăng tiến trong công việc. Hướng Đông thuộc cung Sức Khỏe, Gia Đình, tượng trưng cho sinh lực, sự tươi trẻ, tình cảm và hạnh phúc gia đình. Hướng Đông Nam thuộc cung Phú Quý, tượng trưng cho tài lộc, sự sung túc, của ăn của để trong nhà… Đồ hình "Bát cung hóa khí" theo Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt. - Đối với các căn hộ chung cư có cửa ra vào đối xung với nhau, cửa chính đối xung với cửa thang máy, cầu thang chung cư đâm vào nhà thì ta có thể đặt một hồ thủy sinh để tránh xung sát khí. - Đối với nhà có các cửa thẳng hàng (cửa trước thẳng hàng với các cửa sau) thì ta đặt hồ thủy sinh để hóa giải xuyên tâm sát tác động xấu đến ngôi gia. - Đối với nhà nằm ngay ngã ba có con đường phía trước đâm thẳng vào nhà, tùy vị trí thích hợp có thể đặt một hồ thủy sinh ở phòng khách để hạn chế xung sát khí đâm vào nhà. - Hồ thủy sinh có thể đặt ở phòng bếp nhưng không được đối xung với bếp vì Thủy Hỏa tương khắc. - Hồ thủy sinh có thể đặt ở phòng làm việc, phía trước mặt người ngồi để giúp người làm việc giảm stress và tạo sinh khí cho căn phòng. b. Các vị trí không tốt đặt hồ thủy sinh: - Không nên đặt ở phòng ngủ vì không gian ngủ nghỉ cần sự yên tĩnh, tránh sự tác động của âm thanh do bộ lọc, máy sủi oxy, quạt trong hồ thủy sinh tạo nên. - Không nên đặt hồ thủy sinh ở phòng thờ tự ông bà, tổ tiên đối với nhà có phòng thờ riêng biệt. - Không nên đặt hồ thủy sinh gần nhà vệ sinh vì hồ thủy sinh để lâu ngày sẽ tích tụ xú khí, gây ảnh hưởng đến sức khỏe những người trong nhà. Tóm lại, tùy vào mục đích muốn hướng đến của gia chủ và hóa giải những yếu tố xấu tác động đến ngôi gia thì ta đặt hồ thủy sinh tại những vị trí thích hợp nêu trên, để nó có thể phát huy hiệu quả nhằm hạn chế những tác động xấu và tăng sự thịnh vượng của ngôi gia. Tp.HCM, ngày 9 tháng 9 năm Bính Thân. PHẦN 2: BỐ CỤC HỒ THỦY SINH TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT Tài liệu tham khảo: (1),(3): Sách Minh Triết Việt Trong Văn Minh Đông Phương – Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Xuất bản: 2014 (2): Tài liệu Phong Thủy Lạc Việt – Lưu hành nội bộ
    1 like
  44. ĐỊA LÝ LẠC VIỆT & TÒA NHÀ MARINA BAY SANT. Tiếp theo KHÍ CHẤT CỦA TÒA NHÀ MARIAN BAY SANT VÀ SỰ TƯƠNG TÁC VỚI ĐẤT NƯỚC SINHGAPORE. Cái tiêu đề của tiểu mục này có vẻ "ăn to, nói lớn". Hẳn tương tác với đất nước Singapore, chứ không phải chuyện "ve chai, lông vịt". Nhưng tôi xác định ngay, tôi rất nghiêm túc với bài viết này. Tôi thường dạy các học trò của tôi (Tất nhiên là học viên lớp phong thủy cao cấp), rằng: "Các công trình tiêu biểu của một đơn vị xã hội nào đó, sẽ tương tác với đơn vị đó. Sự tương tác này hoàn toàn có tính quy luật, nên có khả năng tiên tri". Chính vì vậy, ngày xưa trong làng thì các cụ lãnh đạo làng của dân Việt, rất quan trọng cái đình làng là vậy.(*)Thí dụ vậy. Mọi người có thể đặt vấn đề: "Tòa nhà Marian Bay Sant thuộc tư nhân, vậy sao nó có thể ảnh hưởng đến đất nước Singapore?". Tôi xin phép trả lời rằng: Tuy nó thuộc về tư nhân, những đã trở thành một trong những hình ảnh tiêu biểu của đất nước này. Chính vì vậy, ảnh hưởng của nó rất lớn. Cũng giống như những tòa nhà chọc trời ở New Yook tuy thuộc về tư nhân, nhưng là hình ảnh tiêu biểu của thành phố này và của cả nước Mỹ vậy. Bài viết này đến đây sẽ có nhiều khái niệm chuyên môn, nhưng tôi sẽ cố gắng thể hiện một cách dễ hiểu nhất, để những ai quan tâm thì cũng có thể cảm nhận được và có thể phản biện trên cơ sở những luận cứ của tôi. I/ VỀ HÌNH LÝ KHÍ CỦA MARIAN BAY SANTS Như tôi đã trình bày ở trên: Mọi hình tướng có thể cảm nhận trực quan, nhưng phải có thẩm định về những tri thức liên quan đến bản chất của khí. Về khí ứng dụng trong phong thủy và cả trong các ngành khác thuộc lý học Đông phương, cổ thư viết:"Dương thăng, Âm giáng". Nhưng cũng cổ thư viết "Âm nhô cao, Dương trũng thấp". Nhiều phong thủy gia và cả những nhà nghiên cứu về lý học Đông phương không hiểu bản chất của khái niệm Âm Dương trong "nghịch lý Âm Dương " này (Giống như "nghịch lý toán học Cantor"), nên đã nhận xét và ứng dụng rất sai về những mô tả này trong cổ thư chữ Hán. Về việc này, tôi đã có nhiều bài giảng rất kỹ về các vấn đề liên quan cho anh chị em lớp Phong thủy Lạc Việt cao cấp. Vấn đề quá dài, nên không thể mô tả ở đây. Nhưng kết luận của tôi là: "Cả hai nguyên lý trên đều đúng trong điều kiện cụ thể của nó, trong quá trình lịch sử hình thành vũ trụ và cụ thể trên Địa cầu". Phong thủy là phương pháp ứng dụng trên Địa cầu, nên ứng dụng nguyên lý: "Âm nhô cao. Dương trũng thấp". Cụ thể với tòa nhà Maryan Bay Sants (Từ này tôi viết tắt tên toàn nhà là MBS). Nguyên lý này cũng được giảng rất kỹ về bản chất trong PTLV cao cấp. Trên cơ sở này, tôi xác định rằng tòa nhà MBS, thuộc dạng cực âm so với môi trường xây dựng của nó. Tương tự như tất cả những toàn nhà cao tầng khác trên thế gian. Nhưng tòa nhà này lại không lâm vào tình trạng khốn khổ cho chủ đầu tư, như các tòa nhà Koengnam, Thuận Kiều Plaza và Thùy Dương Plaza, tất cả đều đã phá sản. Mặc dù chúng giống nhau về hình thức gồm nhiều log nhô cao và cùng đặt trên một chân đế. Quý vị và anh chị em so sánh những hình dưới đây: Thuận Kiều Plaza Thùy Dương Plaza Tòa nhà MBS Về cái xấu của các toà nhà phạm Thiên Trảm sát, tôi đã phân tích ở những bài trên. Và ngay cả trường hợp phạm Thiên Trảm sát, cũng chỉ là một yếu tố xấu, trong hàng trăm yếu tố tốt xấu tương tác lên toàn nhà. Cho nên nó cũng không phải yếu tố duy nhất xấu, làm sụp đổ sự nghiệp của chủ đầu tư. Nhưng nó là yếu tố quan trọng. Nói theo khoa học hiện đại thì đó là yếu tố tương tác mạnh. Trong Lý học, những nhà nghiên cứu đều biết đến một nguyên lý, là "Âm Dương tương giao. Thiên nhất sinh thủy". Bởi vậy, với nguyên lý Âm nhô cao do ba log của tòa nhà MBS, nếu như nó chỉ có mái bằng trên đỉnh ba log này. Cụ thể là hình tượng con thuyền làm mái nhà và không có bể bơi. Trong trường hợp này - không có bể bơi - Như vậy, nó sẽ phạm cách "Cô Âm". Nhưng rất hay ở chỗ phong thủy gia thiết kế toàn nhà này đã đưa cả một bể bơi lên phía trên. Như vậy đây chính là một độc chiêu của vị thày phong thủy thiết kế tòa nhà này. Bởi vì nó hợp cách và cũng là nguyên lý: "Âm Dương tương giao. Thiên nhất sinh thủy". Thiết kế này đã phá cách cô âm của những tòa nhà cao tầng. Nó tạo được sự hài hòa Âm Dương giữa độ cao ngất ngưởng của tòa nhà (Cực âm) với Dương khí từ vũ trụ. Mặc dù là nhân tạo, nhưng phù hợp với nguyên lý. Chúng ta đã từng chiêm ngưỡng những dãy núi cao hùng vĩ, từ trên núi thác nước bạc đổ xuống ầm ầm, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên gây xúc động lòng người. Sự xuất hiện của những thác nước từ trên núi cao, chính là nguyên lý của sự hài hòa Âm Dương "Âm Dương tương giao, Thiên nhất sinh thủy". Tòa nhà MBS đã mô phỏng tự nhiên, thỏa mãn nguyên lý này. Không chỉ một cái bể bơi hoành tráng cheo leo trên đỉnh tòa nhà MBS, có thể nói trong tòa nhà này, nước được thể hiện ở khắp nơi. Gần như tất cả những hình thức trang trí kiến trúc bên ngoài các log, phía dưới khe rỗng của từng log, đều là những bể nước tràn chảy liên tục. Điều này cho thấy nguyên lý mô phỏng tự nhiên "Thiên nhất sinh thủy", được áp dụng triệt để. Nó giống như hình ảnh nước từ trên thác cao đổ xuống và tụ thành hồ dưới nền của tòa nhà MBS. Trong phong thủy Âm trạch, cổ thư có ghi: "Ở nơi trũng thấp, huyệt tụ ở chỗ cao". Tòa nhà MBS chính là tòa nhà cao nhất ngay gần sát biển. Nên Âm khí tụ ở đây. Cho nên có thể nói rằng: Đây là một tòa nhà chuẩn về phong thủy - nếu xét về góc nhìn chuyên môn của Hình Lý Khí - Bởi vậy, không khí sinh hoạt ở đây rất tấp nập. Cả ngày lẫn đêm. Thiên Sứ tôi may mắn đã được đến đây và ở lại trong phòng VIP nhất trong khách sạn của của tòa nhà MBS. Phòng của tôi ở nhìn ra vịnh Victoria, trên tầng cao, và đó chính là phòng dành cho những người đứng đầu quốc gia khi nghỉ tại đây. Bởi vậy, tôi có dịp quan sát hầu hết những sinh hoạt chính của tòa nhà này. Rất tiếc! Những hình chụp kỷ niệm của tôi với tòa nhà MBS không tìm thấy để có thể minh họa một cách sắc sảo cho bài viết này. Tính cực vượng của Âm khí trong tòa nhà này và sự hài hòa Âm Dương, đã mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư. Các yếu tố khác trong Địa Lý Lạc Việt, như: Năm khánh thành tòa nhà, Hướng nhà và cấu trúc bên trong ngôi nhà...tôi không có tư liệu nên không thể phân tích riêng phần cho những yếu tố này. Chính vì tính chất cực vượng của Âm Khí, nên nó thích hợp với việc mở casino - Tất nhiên không thể quy mô như ở Las Vegas - Nhưng có thể nói, nó rất có khả năng trở thành một nơi cờ bạc nổi tiếng của đảo quốc Sư Tử này. Chỉnh vì vậy, nó sẽ gây tương tác với chính đất nước này, qua sự phân tích tiếp theo đây. Còn tiếp. II/ MARIAN BAY SANTS - HỆ QUẢ VÀ ẢNH HƯỞNG TỚI SINGAPORE Từ góc nhìn Địa Lý Lạc Việt. =============== * Chú thích: sự phố biến kiến thức phong thủy liên quan đến cái đình làng ở Việt Nam, là một ví dụ nữa cho thấy Phong thủy thuộc về nền văn hiến Việt. Ở Trung Quốc tuy có nhiều thày phong thủy, nhưng vấn đề phong thủy cái đình làng - tức là sinh hoạt đời sống văn hóa cụ thể - lại không phổ biến.
    1 like
  45. THIÊN LÝ NHÃN Vừa rồi trong Album "Tuyệt chiêu Địa lý Lạc Việt", anh Trần Minh Nhật có hỏi: "Hi, con cũng chưa hiểu chiêu "Thiên Lý Nhãn" lắm. Con phải qua xin sư phụ học thêm". Vậy Thiên Lý Nhãn là gì? Phòng họp của Tổng Cty DTT được thiết kế theo hình Thiên Lý Nhãn Anh chị em Phong thủy Lạc Việt thân mến.- nếu anh chị em vào đây và đọc được bài này. Tôi thường nhắc nhở anh chị em rằng: Phong thủy Lạc Việt là một hệ thống tri thức chặt chẽ, nhất quán, hoàn chỉnh, mộ tả những quy luật tương tác khách quan và giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề và sự kiện trong phạm trù của nó có khả năng tiên tri. Nhưng, khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở bờ nam sông Dương tử thì ngành học này đã thất truyền. Nền văn minh Hán tiếp thu một cách không hoàn chỉnh, sai lệch và chỉ gồm những mảnh vụn rời rạc lưu truyền trong dân gian. Cái gọi là 4 trường phái phong thủy trong văn minh Hán, thực chất chỉ là bốn yếu tố tương tác trong một hệ luận nhất quán của Địa Lý Lạc Việt. Điều này giống như "Cửu Âm chân kinh" bị xé lẻ thành các võ phái Trung Hoa trong tiểu thuyết "Cô gái Đồ Long" của Kim Dung vậy. Cả một nền văn minh sụp đổ và bị đô hộ hơn 1000 năm - đây không phải con số vô cảm được đọc trong một giây - nên vẫn còn rất nhiều tri thức Địa Lý Lạc Việt rải rác trong dân gian và không....nằm trong cái gọi là trường phái nào của Tàu. Trong đó có những chiêu thức ứng dụng. Đó là lý do tôi thường khuyên anh chị em phải luôn sưu tầm tiếp thu các kiến thức Địa Lý Lạc Việt còn lưu truyền trong dân gian là vậy. Quay trở lại câu hỏi của Trần Minh Nhật - liên quan đến chiêu thức ứng dụng - Trong lớp Địa Lý Lạc Việt cao cấp tôi có mô tả một yếu tố tương tác thứ V, ngoài 4 yếu tố tương tác tự nhiên mà người Tàu gọi là Trường phái - thì đây là yếu tố tương tác do con người mô phỏng thiên nhiên tác động lên chính cuộc sống của mình. Bởi vậy, những chiêu thức trong phong thủy hầu hết đều nằm trong yếu tố tương tác thứ 5 này, trong đó có "Thiên Lý Nhãn". Vấn đề là tại sao con người mô phỏng tự nhiên - một trong những nguyên lý của yếu tố tương tác thứ V - lại có thể thành chiêu thức trong Địa Lý Lạc Việt? Đó chính là sự vận dụng nguyên lý "Hình nào khí đó" trong Lý học Đông phương. Song cửa sổ nhà Thiên Sứ được thiết kế theo hình "Thiên Lý Nhãn". Hình ảnh cũ. Song cửa sổ nhà Thiên Sứ được thiết kế theo hình "Thiên Lý Nhãn". Biểu tượng của con mắt thứ ba. Hình ảnh cũ. Nguyên lý này thì ai tìm hiểu về Lý học chuyên sâu đều biết. Và đều có thể sổ Nho chém gió trên các bàn nhậu để dọa những người kém hiểu biết. Nhưng vấn đề là tại sao lại "hình nào khí đó"? Đến đây thì chỉ dành cho những người có khả năng tư duy thực sự và cập nhật kiến thức khoa học hiện đại nhất - đó là lý thuyết vật lý lượng tử. Những thực nghiệm của vật lý Lượng tử đã xác định rằng: Cho hai hạt cơ bản đồng tính chất cách nhau với một khoảng cách tính bằng năm ánh sáng. Nếu một hạt đảo chiều thì hạt kia ngay lập tức cũng quay theo cùng chiều với hạt ban đầu. Nói rộng ra ngoài lề một chút thì phải có một trường tương tác tức thời trong vũ trụ để tác động lên hạt thứ hai và tốc độ tương tác của trường này phải là tuyệt đối, hoặc gần như tuyệt đối. Từ đó chúng ta sẽ có một suy luận hợp lý rằng: Mọi cấu trúc vật chất có hình thể giống nhau sẽ có cùng một tính chất như nhau về cấu trúc vật chất được tạo thành từ những hạt cơ bản. Thí dụ: Một cục gang nằm lăn lóc trong đống phế liệu, cũng có cấu trúc vật chất giống một chiếc bánh trớn (Bánh đà) đúc bằng gang đang họat động trong một cái máy nổ. Một hòn non bộ nhỏ làm tiểu cảnh trong nhà cũng sẽ có cấu trúc như núi đá vôi trong cả một dãy núi. Và dù là đá vôi, hay gang, thép thì chúng cũng có cấu trúc từ những hạt cơ bản. Những hạt cơ bản này sẽ thông qua trường tương tác có sự vận động cùng tính chất với các hạt tương tự trong cấu trúc hình thể giống nhau. Và nó phải tạo ra trong không gian xung quanh những hình thể giống nhau này, một trường tương tác tương ứng để có thể "nhận ra" tính chất của nhau , mà những thí nghiệm khoa học đã thể nghiệm ở trên. Lý học mô tả trường tương tác tương ứng này là "khí chất". Đó chính là nguyên lý của "Hình nào khí đó" trong Lý học Việt. Từ nguyên lý và bản chất của vấn đề mà tôi mô tả ở trên, đã hình thành yếu tố cấu trúc Hình Lý Khí trong Địa Lý Lạc Việt và tạo ra những chiêu thức trấn yểm trong yếu tố tương tác thứ V trong Địa lý Lạc Việt. Nói rộng hơn và ngoài lề một chút thì đây chính là nguyên nhân để tôi xác định rằng: Ngay cả các lý thuyết vật lý hiện đại nhất của nền văn minh hiện nay, dù phát triển thêm 50 năm nữa thì vẫn còn thua xa những nền tảng tri thức của nền văn minh Đông phương. Vì nền văn minh này đã hiểu rõ và sâu sắc hơn nhiều khi đã ứng dụng một cách rất cụ thể, chi tiết trong đời sống con người. Bởi vậy, anh chị em Địa Lý Lạc Việt phải hiểu được bản chất của nguyên lý lý thuyết này thì mới có thể hiểu một cách rõ ràng những chiêu thức ứng dụng của Địa Lý Lạc Việt. Một lý thuyết nhân danh khoa học thì phải phản ánh những thực tại khách quan mà nó mô tả. Nguyên lý "Hình nào khí đó" trong Lý học Đông phương phản ánh một thực tại khách quan liên hệ với những tri thức khoa học đã mô tả bắt đầu từ những thực nghiệm của vật lý lượng tử. Tất nhiên nó chỉ bí ẩn và "mê tín dị đoan" với những người không chịu tư duy. Trở lại với chiêu thức "Thiên Lý nhãn". Trước hết chiêu thức này có hình thức của một con mắt. Tính đến ngày hôm nay, tôi đã ứng dụng "Thiên Lý nhãn" trong 5 ca phong thủy. Trong đó có một ca chính là căn nhà của tôi thể hiện qua các khung cửa sổ (Khung cửa số nhà tôi thiết kế theo hình Thiên Lý nhãn"). Nhưng có thể nói ca ứng dụng hoàn hảo nhất là ở Tổng Cty DTT. Các bạn có thể xem sự ứng dụng chiêu thức này trong topic "Phong thủy Lạc Việt ứng dụng, trong phần nói về Tổng Cty này. Vậy "Thiên Lý nhãn" có tác dụng gì? Trước hết, theo nguyên lý "hình nào khí đó" thì con mắt là biểu tượng của sự nhận thức, sự quán xét và là dữ kiện ban đầu của sự phát xét. Tất nhiên, theo nguyên lý "Hình nào khí đó" - đã chứng minh ở trên - thì khi ứng dụng hình thể nào nó sẽ tạo ra một trường khí tương tự và tác động đến những con người trong hình thể kiến trúc thuộc sở hữu của người đó. Tất nhiên, với trường khí tương tác của "Thiên lý nhãn" sẽ có tác dụng làm cho con người sống trong trường khí của nó lựa chọn và tập hợp được những đối tác tốt trong kinh doanh với những quyết định đúng đắn hơn. Như vậy, anh chị em Địa Lý Lạc Việt - đặc biệt anh chị em nghiên cứu Địa Lý Lạc Việt cao cấp - cần phải hiểu nguyên lý lý thuyết và bản chất thực tế của những phương pháp ứng dụng trong những chiêu thức trong Địa Lý Lạc Việt, mà tôi đã trình bày trong lớp. Như vậy, chúng ta có thể biến hóa thành rất nhiều chiêu thức để ứng dụng và trấn yểm. Nếu chỉ học phương pháp thì chỉ là sự ứng dụng thuần túy và thành thợ Phong Thủy. Cho dù là thợ cao cấp. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân để Lý học Đông phương nói chung bị coi là huyền bí trong con mắt tha nhân hơn 2000 năm nay, khi nền văn hiến Lạc Việt bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Thực chất tất cả các ngành chuyên môn của Lý học Đông phương, từ bói toán, phong thủy, Đông y...hoàn toàn rất khoa học. ============================= PS: Viết thêm trong topic của web này: Tuy nhiên, để minh chứng cả một nền văn minh phương Đông huyền vĩ đến kỳ vĩ, nếu sự kiện cách đây chỉ 50 năm thôi - lúc ấy thuyết Lượng Tử chưa phát triển - có lẽ sẽ không được coi là có "cơ sở khoa học". Còn ngay bây giờ, có lẽ cũng chỉ vài người ở trình độ và khả năng tư duy rất cao cấp , cũng chỉ có thể lờ mờ hiểu được, vì cảm nhận được tính hợp lý lý thuyết. Sở dĩ như vậy, là do sự phát triển của nền văn minh hiện đại có xu hướng thực chứng, thực nghiệm này cũng chưa đủ chín để có những phương tiện kỹ thuật kiểm chứng những thực tế ứng dụng của Địa Lý Lạc Việt. Hay nói cách khác là do khoảng cách chênh lệch trình độ giữa hai nền văn minh. Cho nên chỉ có thể mô tả trên tính hợp lý lý thuyết.
    1 like
  46. KHÔNG HIỂU KINH DỊCH. Một nữ nhân thuộc hàng nữ lưu tri thức , bằng cấp nghe nói cũng thạc sĩ trở lên và đang làm giám đốc một Cty, hỏi tôi: - Thưa thày! Em cũng cố gắng tìm hiểu về Kinh Dịch mãi mà chẳng hiểu gì cả. Có phải vì em dốt nát qủa không? - Cô nói gì? Xem mãi mới hiểu kinh Dịch à? - Dạ không. Thưa Thày! Em xem mãi mà không hiểu! - À! Chuyện đó bình thường mà. Tôi nói tiếp: - Cũng như chiếc xe hơi trước mặt kia, thí dụ là nội hàm của kinh Dịch, thì bản văn cuốn Kinh Dịch chỉ mô tả chiếc bánh xe. Mà mô tả còn sai. Bởi vậy, người ta không thể tìm một cái đúng từ một cái sai. Tôi cứ tưởng cô nói là hiểu kinh Dịch thì tôi khuyên cô nên đi khám bệnh thần kinh vì có dấu hiệu của bệnh hoang tưởng.
    1 like
  47. [ Những nguyên lý căn bản của Huyền Không Lạc Việt và phương pháp ứng dụng Thứ hai 16/05/2011 12:00:00 (GMT +7) Tác giả: Phạm Hữu Để - Hoàng Triều Hải Nguồn: Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương I - LỊCH SỬ HUYỀN KHÔNG VÀ HUYỀN KHÔNG LẠC VIỆT I - 1. Giới thiệu sơ lược về lịch sử Huyền Không từ cổ thư chữ Hán. Trường phái Huyền không ứng dụng trong phong thủy ngày nay, tương truyền do Thẩm Trức Nhưng sống vào cuối đời nhà Thanh, đầu thời Trung Hoa Dân quốc biên soan và lưu truyền. Nó được giới phong thủy Trung Hoa coi như là bô kinh điển phong thủy cuối cùng của các phương pháp ứng dụng trong khoa Phong thủy Đông phương. Thẩm trức Nhưng nghiễm nhiên được coi là ông tổ của phái Huyền Không, bởi sự công bố của ông. Cuốn sách được phổ biến ở Việt nam hiện nay là: "Thẩm thị Huyền không học - Phong thủy trong bối cảnh kiến trúc hiện đại" , do Nguyễn Anh Vũ dịch và được Nxb Văn Hóa Thông Tin phát hành năm 2003, đã xác nhận tác giả chính là Thẩm Trức Nhưng. Tuy nhiên, những tài liệu khác lại ghi rõ nguồn gốc của phương pháp này không phải do Thẩm Trức Nhưng sáng tạo với tư cách là một tác giả. Trong cuốn: " Cổ Dịch Huyền không học" - Nxb Đại Học Quốc gia 2001 viết: Vào mùa hè năm Quí Dậu 1873 thời vua Đồng Trị. Thẩm Trức Nhưng cùng học trò là Hồ Bá An, đến Vô Tích đã dùng khoản vàng lớn biếu hậu duệ của Chương Trong Sơn để mượn đọc. Hai người trong một ngày đêm đã có chép lai mang về. Qua ngghiên cứu, chỉnh lý rồi biên nhập vào sách "Thẩm thị huyền không học", sau đó để lại cho đời. Trường phái này căn cứ trên những quy ước về sự vận động của cửu tinh trên 9 phương vị (8 phương và ở giữa – Trung cung), tùy theo thuộc tính quy ước của cửu tinh và vị trí của nó để luận cát hung cho ngôi gia. Cho đến ngày nay, phương pháp Huyền Không rất phổ biến và được ứng dụng rộng rãi ở các quốc gia và vùng lãnh thổ có ảnh hưởng văn hóa Đông phương cổ. Nhưng cho đến ngày hôm nay, những nhà nghiên cứu Phong Thủy vẫn chưa thể biết được vì nguyên nhân nào để có những nguyên lý và khái niệm cũng như phuơng pháp luận của phương pháp Huyền không. Bởi vì, ngay cả sách của Thẩm Trức Nhưng cũng chỉ được coi là một bản thảo chưa hoàn chỉnh, mà cuốn sách chính thức được dịch ở Việt Nam - mà chúng tôi trình bày ở trên - được coi là do được nhiều môn đồ bổ chú và hoàn chỉnh. Như vậy, lịch sử Huyền Không được coi như xuất hiện vào thời cận đại của nền văn hóa Hán trải hàng ngàn năm và được coi là bộ kinh điển phong thủy cuối cùng được công bố. Nhưng chính vì lịch sử xuất hiện của nó vào thế kỷ XIX, nhưng chính nó lại mâu thuẫn với dự kiện quan trong ban đầu của khoa Bát trạch Minh Cảnh - được coi là ra đời vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên. Đó là cách tính mệnh cung theo năm của gia chủ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã minh chứng rằng: Cách tính mệnh cung của gia chủ trong phái Bát Trạch chính là nguyên tắc phi tinh Huyền Không theo nguyên lý Nam Dương phi nghịch là Âm và Nữ Âm phi thuận là Dương. Một sự nghịch lý về nội dung trong lịch sử có xuất phát từ cổ thư chữ Hán: Cái có sau hàng ngàn năm là Huyền Không lại là cơ sở của cái ra đời từ hàng ngàn năm trước. Trong khi đó, những bản văn chữ Hán cho thấy rằng khoa Huyền không học trong phong thủy có khả năng tồn tại trước cuối đời Thanh trong văn hóa Hán. Theo “Địa lý chính tông” Trần Đoàn chân truyền cho Ngô Khắc Thành những bí ảo của địa lý thiên văn. Ông truyền cho Ngô Khắc Thành cuốn “Thanh Nang”, Ngô Khắc Thành truyền cho con là Ngô Cảnh Loan, Ngô Cảnh Loan vì không có con trai nên truyền cho con gái, người con gái này truyền ra ngoài cho Liêu Vũ (Liêu Kim Tinh – Liêu Công). Liêu công vì chuyện gia đình đau buồn mà chết, lúc đương thời khi ông còn thưc hành phong thủy, có 2 người hầu không biết chữ nhưng nhớ được bí quyết của ông, họ tiếp tục thực hành và truyền bá qua 11 đời sau thì tới Lưu Bá Ôn. Thời nhà Minh có phong thủy gia, nhà thuật số phương đông nỗi tiếng phù tá Chu Nguyên Chương lập nên nhà Minh là Lưu Bá Ôn. Sau Lưu Bá Ôn thì ngày càng mai một do nhiều yếu tố và nhất là quy luật “bảo mật” của tông phái, mãi đến cuối thời Minh, Vô Cực Tử hiệu là Khởi Ông, truyền học thuật cho Tưởng Đại Hồng. Tưởng Đại Hồng là người ở Trấn Hưng Trạch huyện Tùng Giang tỉnh Giang Tô, hiệu là Đỗ Lăng Phu tử, sinh vào giờ Thìn ngày 27 tháng 12 năm Bính Thìn (1616). Tưởng Đại Hồng truyền cho Khương Diêu, nhưng dặn không “tiết lộ thiên cơ”. Cuối thời nhà Thanh, huyền không có 6 phái: phái vô thường của Chương Trọng Sơn, phái Thượng Ngu của Trương Tâm Ngôn, phái Tô Châu của Chu Tiểu Hạc, phái Tương Sở của Y Hữu Bản, phái Quãng Đông của Sài Dân Sơn, phái Điền Nam của Phạm Nghi Tân. Trong 6 phái đó thì Chương Trọng Sơn là nỗi bật nhất vì sự luận đoán cực kỳ chính xác và thuật phong thủy cao siêu. Chương Trọng Sơn tức Tuệ Tây Vô Tăng Đạo Nhân, thông hiểu dịch số đại huyền không, viết nhiều tài liệu khảo sát thực địa, chỉ để lại cho con cháu sử dụng. Thẩm Trúc Nhưng kết thân với con trai Chương Trọng Sơn, mượn tài liệu quý đã ngộ ra những điều tiền nhân chưa nói rõ hoặc tối nghĩa, như trước tác “Thanh Nang Áo Ngữ” của Dương Quân Tùng. Họ Thẩm người Tiền Đường, tên Thiệu Huân, hiệu Trúc Nhưng, ông là người say mê môn phong thủy, do sự tác động của người Thầy nói rằng: “Phái Huyền Không không phải là chính phái, không đáng học”, nên đương thời ông xem Huyền Không như con thú dữ cần tránh xa và ông xem Tưởng Đại Hồng được tôn là đầu não của phái Huyền Không là đại địch. Do tình cờ biết được thực tế ứng dụng có hiệu quả của phái Huyền Không, nên sau đó Thẩm Trúc Nhưng không dám khinh thường phái Huyền Không nữa và ông đã bỏ tâm sức để tìm hiểu về phái Huyền Không. Thẩm Trúc Nhưng thường hay oán giận tiên sinh Tưởng Đại Hồng, vì họ Tưởng được Vô Cực chân truyền môn Huyền Không, nhưng họ Tưởng bị chấp trước câu: “Thiên cơ bất khả tiết lậu”, nên chỉ bí mật truyền thụ cho một số ít đệ tử và cấm đệ tử của mình phổ biến rộng rãi cho mọi người. Cuối đời Thanh, bộ “Thẩm Thị Huyền Không Học” do Thẩm Trúc Nhưng trước tác, được xem là tập đại thành và đặt dấu chấm hết cho thời kỳ bí truyền của phái Huyền Không. Như vậy, chúng ta cũng thấy tính tam sao thất bản và sự lưu truyền không hoàn chỉnh của riêng phái huyền không (Gồm sáu phái trong một phương pháp) và sự mâu thuẫn với các phái khác. Huyền không lúc đầu không được coi là "Danh môn, chính phái". Bởi vậy, mặc dù hiệu quả của phong thủy trên thực tế chính là nguyên nhân để nó tồn tại trong xã hội Đông phương. Nhưng chính vì tính mâu thuẫn, mơ hồ và thất truyền – nên một thời rất dài khi tiếp xúc với nền văn minh Phương Tây, trong điều kiện khoa học kỹ thuật hiện đại ở buổi đầu sơ khai - khoa Phong thuỷ đã bị liệt vào loại “mê tín dị đoan”. Điều này chỉ có thể giải thích một cách hợp lý rằng: Phong thuỷ chính là một phương pháp ứng dụng nhất quán, hoàn chỉnh và là hệ quả của một tri thức về thiên nhiên, cuộc sống, vũ trụ và con người được lý thuyết hoá - đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Học thuyết này đã thất truyền khi văn minh Lạc Việt bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Những giá trị của nền văn minh này bị tan tác và lưu truyền trong dân gian. Bộ môn phong thuỷ Lạc Việt là một sự tổng hợp tất cả các phương pháp ứng dụng rời rạc trong cổ thư chữ Hán và các phương pháp còn lưu truyền trong dân gian với một nguyên lý căn để nhất quán là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ". Trong bài tham luận này, người viết xin được trình bày nguyên lý căn để của Phong thủy Lạc Việt và phương pháp ứng dụng của một thành tố tương tác quan trong trong phong thủy Lạc Việt đó chính là Huyền không Lạc Việt. I - 2. Nguyên lý căn để của Phong Thủy Lạc Việt. Vởi những thành quả nghiên cứu mới nhất của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, đã chứng minh rằng: Hà đồ là qui luật vận động của Ngũ tinh trong Thái Dương hệ. Gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ trong mối liên hệ với Mặt trời, Mặt trăng được quan sát từ trái Đất. Hoàn toàn không như cổ thư chữ Hán miêu tả là do những vòng xoắn trên lưng con Long Mã hiện lên ở sông Hoàng Hà, vua Phục Hy thấy được làm ra Hà Đồ. Tính hợp lý của Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ cũng được chứng minh trong các công trình nghiên cứu đã xác định rằng: Đó là đồ hình nhất quán xuyên xuốt trong mọi ứng dụng liên quan đến Lý học Đông phương. Nhất quán với nguyên lý xuyên suốt này - tính nhất quán là tiếu chí khoa học - Phong thủy Lạc Việt phi tinh trên cửu cung Hà Đồ, không phi tinh trên cửu cung Lạc Thư như phương pháp Huyền Không từ các bản văn văn chữ Hán liên quan đến Huyền không trong Phong thủy. CỬU CUNG LẠC THƯ..................................................CỬU CUNG HÀ ĐỒ Phối Hậu Thiên Văn Vương ..................................Phối Hậu Thiên Lạc Việt Trên cở sở này và tính hợp lý của mọi vấn đề và các hiện tượng liên quan đến Lý học Đông phương, Phong thủy Lạc Việt đã ứng dụng trong phương pháp Huyền Không Lạc Việt phi tinh. Phương pháp phi tinh theo Huyền Không Lạc Việt khác trên Lạc Thư từ cổ thư chữ Hán được so sánh trên đồ hình sau: Qua sự trình bày trên, chúng ta thấy rằng: Sư khác biệt giữa Huyền Không lạc Việt với Huyền Không trong cổ thư chỉ ở các phương vị phía Nam của Hà Đồ. Đây cũng là khác biệt chủ yếu của phương pháp Huyền Không Lạc Việt khi phi tinh, còn tất cả mối quan hệ phân tích tương quan các sao trong Huyền không và các mối tương quan khác và phương pháp luận trên cơ sở thuyết Âm Dương Ngũ hành không thay đổi. Phần tiếp theo đây, chúng tôi giới thiệu về tuính ứng dụng cụ thể của Huyền Không lạc Việt để các nhà nghiên cứu về phong thủy tiện so sánh cụ thể những luận điểm và phương pháp ứng dụng của Huyền Không Lạc Việt với cổ thư chữ Hán. II - PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG CỦA HUYỀN KHÔNG LẠC VIỆT Vũ trụ vận động không ngừng, tiền nhân đã phát hiện sự vận động đó có tính quy luật theo cửu tinh, được xem như 9 trường khí của 9 tinh thể lớn ảnh hưởng đến sự sống và các hoạt động trên trái đất. Người đời sau không hiểu biết tạo ra sự nhầm lẫn dẫn đến tệ mê tính dị đoan trong các môn lý học đông phương, nhất là không hiểu biết về sự tương tác của các hành tinh Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ lên trái đất chúng ta đang sống. Sự tương tác này được gọi là “Thiên khí”, vận hành theo chiều thuận là dương số lẻ, là chiều từ số nhỏ đến số lớn. Còn khí của quả đất gọi là “Địa khí” có tính chất đục nặng vận hành theo chiều nghịch là âm số chẳn, chiều từ các số lớn đến các số nhỏ. Tiền nhân đã thể hiện hai chiều quay đó trong Hà đồ, tuy con người không nhìn thấy sự tương tác, nhưng vẫn biết sự tương tác đó tác động đến đời sống muôn vật, tạo nên sự thịnh suy của muôn vật. II - 1. Tính chất của cửu tinh: - Số 1: Nhất bạch Tham lang: Là cát tinh đứng đầu. * Âm dương, ngũ hành: Dương thuỷ * Màu sắc: Xanh đen. * Cơ thể: Thận, tai, máu huyết * Về con người: là con trai thứ - Số 2: Nhị hắc Cự môn: là sao xấu, hung. * Âm dương, ngũ hành: Âm hoả đới thổ. * Màu sắc: Nâu đỏ. * Cơ thể: bụng và dạ dày * Về con người: Là người mẹ, người vợ. - Số 3: Tam bích Lộc tồn: Là sao xấu. * Âm dương, ngũ hành: dương mộc. * Màu sắc: màu xanh lá cây đậm. * Cơ thể: mật, vai và tay * Về con người: là con trai trưởng - Số 4: Tứ lục Văn xương: là sao tốt. * Âm dương, ngũ hành: âm kim. * Màu sắc: Xám trắng. * Cơ thể: đùi và 2 chân. * Về con người: con gái trưởng. - Số 5: Ngũ hoàng Liêm trinh: Là sao xấu nhất, còn gọi là đại sát tinh. * Âm dương, ngũ hành: Thổ * Màu sắc: màu vàng * Về cơ thể: không * về người: không - Số 6: Lục bạch Vũ khúc: Là sao tốt. * Âm dương, ngũ hành: Âm kim đới thuỷ. * Màu sắc: màu xanh da trời. * Cơ thể: đầu, mũi, cổ, xương, ruột già * Về con người: Là người cha, người chồng, người đứng đầu. - Số 7: Thất xích Phá quân: Là sao xấu. * Âm dương, ngũ hành: Dương hoả. * Màu sắc: màu đỏ * Cơ thể: mắt, tim, ấn đường. * Về con người: con gái giữa. - Số 8 : Bát bạch Tả phù: Là sao tốt. * Âm dương, ngũ hành: Âm mộc. * Màu sắc: màu xanh lá cây nhạt. * Vơ thể: lưng, ngực và lá lách. * Về con người: con trai út. - Số 9: Cửu tử - Hữu bật: là sao trung tính. * Âm dương, ngũ hành: Dương kim. * Màu sắc: màu trắng. * Cơ thể: phổi, miệng, lưỡi * Về con người: con gái út. II -2. Tam nguyên cửu vận: Cửu tinh tương tác tạo nên ảnh hưởng đến mọi mặt trên trái đất, cái dễ cảm thấy nhất đó là khí hậu hàng năm, và chi phối đến tháng ngày giờ, sự chi phối này có chu kỳ nguyên vận hay là đại vận là một giáp 60 năm, tiểu vận hay là Vận khí 20 năm, mỗi nguyên có 3 vận, tam nguyên cửu vận có 180 năm vừa đúng với cửu tinh chín vận. Ví dụ ta lấy tam nguyên cửu vận gần đây nhất: Thượng Nguyên: * vận 1: 1864 - 1883, * vận 2: 1884 - 1903 * vận 3: 1904 - 1923 Trung Nguyên: * vận 4: 1924 - 1943 * vận 5: 1944 - 1963 * vận 6: 1964 - 1983 Hạ Nguyên: * vận 7: 1984 - 2003 * vận 8: 2004 - 2023 * vận 9: 2024 - 2043 Đại vận: Theo Huyền không Lạc Việt dựa theo phép tính lấy thời điểm năm hành tinh Kim. Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ cùng mặt trăng, mặt trời tạo thành một đường thẳng gọi là thất tinh hợp bích làm điểm khởi đầu của năm đầu kỷ nguyên niên lịch, nên năm giáp tý đầu tiên tương ứng với nhất bạch thuỷ tinh, như vậy lấy năm Kinh Dương Vương lên ngôi vào năm Nhâm tuất 2897 trước công nguyên đến nay thì đã trãi qua 84 đại vận. Đại vận 84 này thuộc hạ nguyên của tam nguyên thứ 28, tức là đại vận của Tam bích mộc tinh.(vẽ bảng số 43 trang 222 sách "Tam nguyên cửu vận" của Giáo sư Hoàng Tuấn) Tiểu vận: Mỗi tiểu vận là 20 năm, hiện nay đang là hạ nguyên của tam nguyên thứ 28, kéo dài từ năm 1984 đến năm 2043 thuộc đại vận Tam bích mộc tinh. Hạ nguyên có 3 tiểu vận, đó là vận 7, vận 8, vận 9. Năm 2009 thuộc tiểu vận 8 bắt đầu từ năm 2004 đến năm 2024 của hạ nguyên. II -3. Đường di chuyển của cửu tinh (Lường Thiên xích). Hà đồ và Lường Thiên Xích: Hà đồ thực chất là qui luật tương quan biểu kiến của Ngũ Tinh trong Thái Dương hệ với mặt trời và mặt trăng. Các sao này được sắp xếp theo một trật tự đặc biệt mà 9 cung của Hà đồ đã thể hiện, đây cũng là bàn phi tinh cố định, như trong hình vẽ sau: Chúng chỉ thay đổi theo không gian và thời gian với một đường đi cố định được gọi là quỹ đạo chuyển động cố định của các sao còn gọi là phi tinh, mà người xưa gọi là Lường Thiên Xích. Trong hình vẽ trên, những số trong 9 ô vuông là số của sao phi tinh. Ô vuông ở giữa gọi là Trung cung còn các cung khác đại diện cho 8 cung ở 8 hướng xung quanh theo nguyên lý " Hậu Thiên bát quái Lạc Việt phối Hà đồ". Ta có thứ tự như sau: - Từ trung cung số 5 đi lên Tây bắc số 6. - Từ Tây bắc số 6 xuống Nam số 7. - Từ Nam số 7 lên Đông bắc số 8. - Từ Đông bắc số 8 đến Tây số 9. - Từ Tây số 9 lên Bắc số 1. - Từ Bắc số 1 xuống Đông nam số 2. - Từ Đông nam số 2 lên Đông số 3. - Từ Đông số 3 qua Tây nam số 4. - Tư Tây nam số 4 về lại trung cung số 5. Lường Thiên Xích chia ra làm 2 loại đó là loại Thuận và loại Nghịch. Loại thuận bắt đầu từ Trung cung là số 5 rồi đi theo chiều tăng đến 6, 7, 8, 9, 1, 2, 3, 4. Lường Thiên Xích Nghịch thì lại bắt đầu từ số 5 rồi đi theo chiều giãm xuống đến 4, 3, 2, 1, 9, 8, 7, 6. Tam nguyên long Huyền không coi vấn đề thuần khí như là một trong những yếu tốt bắt buộc, vì thế, nó được xem như là yếu tố xác định họa phúc, tốt xấu của một ngôi gia. Khi một ngôi gia có được một tinh bàn vượng sơn vương hướng rồi thì cũng nên chú ý đến việc thuần khí theo tam nguyên long, nghiã là cần xem cấu trúc hình thể trong ngôi gia đó có theo được sự kết hợp tốt theo tam nguyên long hay không, ví dụ như cổng, cửa, bếp, phòng … Tam nguyên long cũng chỉ là một yếu tố trong các yếu tố xem xét một ngôi gia tốt xấu mà thôi. 1 - Thiên nguyên long. * 4 sơn dương: Càn , Khôn, Cấn, Tốn. * 4 sơn âm: Tý , Ngọ, Mão , Dậu. 2 - Nhân nguyên long. * 4 sơn dương: Dần, Thân, Tỵ, Hôi. * 4 sơn âm: Ất, Tân, Đinh, Quý. 3 - Địa nguyên long. * 4 sơn dương: Giáp, Canh, Nhâm , Binh. * 4 sơn âm: Thìn, Tuất, Sửu , Mùi. II - 4. Tinh bàn: -Vận bàn: Cần xác định vận bàn: * Năm xây dựng mới ngôi gia. * Năm sửa lại đa phần lại ngôi gia. * Năm bắt đầu dọn vào ở trong ngôi gia. Khi đã xác định được năm của ngôi gia rồi thì xem năm đó thuộc vận nào trong tam nguyên cửu vận. Xác định được vận thì đem số sao của vận đó vào Trung cung rồi di chuyển theo Lường Thiên Xích thuận mà sắp xếp các sao ở chín cung. Ví dụ: Năm 2009 nằm trong vận 8 (2004-2024) thuộc hạ nguyên của tam nguyên cửu vận. Đưa sao Bát bạch vào trung cung di chuyển theo chiều thuận. - Sơn tinh: Còn gọi sơn bàn phi tinh, nghĩa là sao phi tinh ở phương toạ của sơ đồ nhà theo vận bàn đưa vào trung cung, căn cứ theo tam nguyên long ở phương toạ là âm hay dương để di chuyển sao phi tinh theo chiều thuận hay nghịch. Sao phi tinh sơn bàn thường đặt bên trái của sao phi tinh vận bàn. -Hướng tinh: còn gọi là hướng bàn phi tinh, nghĩa là sao phi tinh ở phương hướng của sơ đồ nhà theo vận bàn đưa vào trung cung, di chuyển thuận nghịch theo tam nguyên long âm dương ở hướng. Sao phi tinh hướng bàn thường đặt bên phải của sao vận bàn. II - 5. Địa bàn: Là bàn cố định của phi tinh hay còn gọi là cửu tinh đồ căn bản được sắp xếp theo các cung của Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ. Sự chuyển động của khí trong vũ trụ là không ngừng theo năm, tháng, ngày, giờ. Cổ nhân đã dùng cửu tinh làm chủ cho sự thay đổi của thời gian đó. Mỗi sao của cửu tinh sẽ làm chủ một khoảng thời gian là năm tháng ngày giờ, vì vậy mỗi năm, tháng, ngày, giờ có một sao chủ. Sao chủ xếp vào vị trí trung cung của cửu cung và các sao khác di chuyển theo lường thiên xích thuận. -Niên tinh: Là sao quản năm, dùng cửu tinh phối với năm, ví dụ năm 2009 là sao cửu tử nhập trung cung và cũng là sao quản năm. -Nguyệt tinh: Là mỗi tháng có một sao phi tinh làm chủ quản lý chi phối tháng đó. Ví dụ từ ngày 7 tháng 11 năm 2009 đến ngày 7 tháng 12 năm 2009 là sao ngũ hoàng quản. -Nhật tinh, Thời tinh: Cũng tương tự như niên nguyệt, thi ngày và giờ cũng có một sao làm chủ và nó chi phối khoảng thời gian mà nó làm chủ. Sự ảnh hưởng của niên nguyệt tinh mạnh nhất thường là những nơi có sự hoạt động thường xuyên và mạnh, như cửa, cổng ra vào, phòng bếp, phòng ngủ. Ngoài ra còn xét kết hợp với sao sơn hướng tinh ở khu vực chúng đến để xem xét tốt xấu tuỳ theo tính chất của sao niên nguyệt tinh. II - 6. Chính thần & Linh thần Đồ hình của Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ có cửu tinh bài bố như sau: - Chính thần là dùng nơi cao sơn của sao đương vận mà thu nhận khí. Như vận 8 thì lấy phương vị Bát bạch Cấn - làm chính thần. Phương vị của Chính Thần cần có cao sơn thực địa. - Linh thần là phương đối lại của chính thần. Phương vị LinhThần cần sông nước, trũng thấp. Thí dụ: Như vận 8 phương đối lại của chính thần là phương vị Tứ - Tốn (Tây nam) làm linh thần. Chính thần quàn 10 năm đầu của vận 20 năm. Linh thần quản 10 năm sau. Riêng vận 5 có 20 năm, mười năm đầu lấy Nhị Khôn làm Linh thần và mười năm sau lấy Bát (Cấn) làm Chính thần. Coi về Chính thần, Linh thần của đương vận là coi về vượng suy của một thành phố hay khu dân cư, ví dụ : vận 8, phương vị của Linh thần nằm ở phía Tây Nam. Do đó, nếu khu vực đó của thành phố hay khu dân cư ... mà có sông, hồ hoặc biển... thì rất tốt, chủ vượng phát về mọi mặt. Ngược lại, nếu khu vực đó lại có thế núi, thế đất tiến dần cao thì ngôi làng hay đô thị đó sẽ gặp nhiều việc không tốt. Còn về ngôi gia cư thì lấy sơn tinh đương vượng làm Chính thần và hướng tinh đương vượng làm Linh Thần. Phương Linh thần nên có Thuỷ, thấp trũng hay đường đi. Nếu phương vị của Hướng tinh sinh, vượng khí lại vào vị trí của Linh thần đương vận mà có thuỷ, thấp trũng hay đường đi thì tốt lại càng thêm tốt, đã vượng càng thêm vượng. Hướng tinh sinh vượng khí vào vị trí Chính thần của đương vận thì vẫn cần có thuỷ thì mới vượng phát được, còn gặp cao sơn thì suy. II - 7. Cấu trúc hình thể với phi tinh: Khi lựa chọn đựơc một mảnh đất hay một khu đất để quyết định xây một ngôi gia, hay một ngôi gia đã hoặc đang ở, ta kiểm tra hướng, xem hướng của ngôi gia có bị kiêm hướng hay bị phạm điêù gì không, sau đó ta cần chú ý đến cấu trúc hình thể trong và ngoaì ngôi gia có hợp với phi tinh Huyền Không Lạc Việt hay không, để hiệu chỉnh cho thích hợp. Cấu trúc hình thể bên trong ngôi gia với phi tinh: Cấu trúc hình thể bên trong của một ngôi gia cần được điều chỉnh sắp xếp cho phù hợp với phi tinh, nghĩa là ở những nơi có phi tinh hướng sinh khí, vượng khí thì nên bố trí lối đi, hành lang, cầu thang, vật chứa nước, hồ cá, vòi nước, tranh ảnh thuỷ mặc… Còn ở những nơi là sinh vượng khí của sơn tinh nên làm phòng ngũ, bếp, bàn làm việc. Cấu trúc cảnh quan bên ngoài ngôi gia với phi tinh: Cảnh quan xung quanh ngôi gia phối với phi tinh cũng rất quan trọng, ở những khu vực có hướng tinh sinh vượng khí thì cần trống thoáng, như có hồ nước hay đường đi làm hư thủy làm cho hướng tinh được đắc cách mà tốt hơn. Ngược lại tại khu vực sinh vượng của hướng tinh mà có núi đồi, nhà cao, cây cao áp sát ngôi gia thì hướng tinh bị thất cách làm cho ngôi gia không hưởng được khí sinh vượng của phi tinh nên không tốt. Còn ở những khu vực có sơn tinh sinh vượng khí thì cần có cao sơn thực địa như núi đồi, nhà cao tầng, cây cao…còn ngược lại thì không tốt. Tùy theo tinh bàn của từng ngôi gia mà cần có bố trí cho thích hợp, ví dụ như ngôi gia có tinh bàn thướng sơn hạ thủy thì cần có sự bố trí ngược lại mà người xưa gọi là cách đảo kị long, hoặc theo cách thu sơn xuất sát. II - 8. Phân cung. Bắt đầu từ tâm nhà chia mặt phẳng diện tích làm 8 phương vị: 1) Bắc: Từ 337, 5 độ - 0độ (Chính Bắc) - 22, 5 độ; Quái Khảm quản. 2) Đông Bắc: 22,5 độ - 45 độ (Chính Đông Bắc) - 67, 5 độ. Quái Cấn quản. 3) Đông: 67,5 độ - 90 độ (Chính Đông) - 112,5 độ. Quái Chấn quản. 4) Đông Nam: 112, 5 độ - 135 độ (Chính Đông Nam) - 157, 5 độ.Quái Khôn quản. 5) Nam: 157, 5 độ - 180 độ (Chính Nam) - 202,5 độ.Quái Ly quản 6) Tây Nam: 202,5 độ - 225 độ (Chính Tây Nam) - 247.5 độ. Quái Tốn quản 7) Tây: 247,5 độ - 270 độ (Chính Tây) - 292, 5 độ. Quái Đoài quản. 8) Tây Bắc: 292,5 độ - 315 độ (Chính Tây Bắc) - 337, 5 độ. Quái Càn quản. - 24 Sơn hướng. Tám cung đó tính từ Càn thuận chiều kim đồng hồ là: Càn , Khảm , Cấn , Chấn , Khôn , Ly , Tốn , Đoài . Trong Phong thủy mỗi phương quản 45 độ. Nhưng thực tế cho thấy do những yếu tố tương tác khác nhau, mà không thể có nhà nào chính hướng và có những sai lệch. Sự sai lệch này cũng có những tương tác khác nhau trong cùng một phương. Bởi vậy trong phong thuỷ người ta mới chia nhỏ mỗi phương thành 3 vị trí khác nhau gọi là sơn hướng. Do đó, 8 phương có tổng cộng là 24 sơn hướng. Mỗi cung như vậy lại chia làm 3 sơn. Mỗi sơn quản 15 độ. Tên gọi của các sơn hướng lần lượt như sau: 1: Càn: Gồm ba sơn Tuất - Càn - Hợi. 2: Khảm: Gồm ba sơn Nhâm - Tý - Quí. 3: Cấn: Gồm ba sơn Sửu - Cấn - Dần. 4: Chấn: Gồm ba sơn Giáp - Mão - Ất. 5: Khôn: Gồm ba sơn Thìn - Khôn - Tỵ. 6: Ly: Gồm ba sơn Bính - Ngọ - Đinh. 7: Tốn: Gồm ba sơn Mùi - Tốn - Thân. 8: Đoài: Gồm ba sơn Canh - Dậu - Tân. Chúng ta đều biết rằng: Hợi Tý Nhâm Quý thuộc Thủy - Màu xanh dương; Giáp Ất Dần Mão thuộc Mộc - Màu xanh lá cây; Tỵ Bính Ngọ Đinh thuộc Hỏa - Màu đỏ; Thân Canh Dậu Tân thuộc Kim - Màu trắng Nguyên lý này trùng khớp một cách hợp lý giữa La Kinh và Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt. - Phân độ: Mỗi phân độ chiếm chỉ 5 độ trên La bàn. Gọi là 72 phân kim ứng với 72 Địa sát trên toàn Thiên Bàn. Ngoài ra các vòng La Kinh còn chia 60 phân mạch Bảo châu. Mỗi phân mạch Bảo châu chiếm 6 độ Địa bàn. Sự phân chia các phương vị trên La kinh còn nhiều phức tạp khác, Nhưng chỉ dùng nhiều trong Âm Trạch. Trong Dương Trạch thì chúng ta chỉ cần đến sự phân độ như trên và nắm vững cách tính một số vòng sao. 12 địa chi sơn trong tam hợp bàn, mỗi sơn có 5 ô Giáp tý, khi nạp âm thì ngũ hành của mỗi hoa giáp sẽ khác nhau, như Tý sơn có Giáp Tý (kim), Bính Tý (Thuỷ), Mậu Tý (Hoả), Canh Tý (Thổ), Nhâm Tý (Mộc). 12 sơn cộng lại 60 giáp tý, còn gọi 60 Thấu địa long, hoặc ngũ tý khí. Phép lập hướng phải biết tiết chế bớt khí quá vượng và bổ sung khí cho khí quá yếu. - Phân Kim : Phương pháp phân kim cụ thể như sau: -Sơn Tý có: Giáp Tý (Kim), Bính Tý (Hỏa), Mậu Tý (Thủy), Canh Tý (thổ), Nhâm Tý (mộc). -Sơn Sửu có: Ất Sửu (Kim), Đinh Sửu (Thuỷ), Kỷ Sửu (Thủy), Tân Sửu (thổ), Quí Sửu (mộc) -Sơn Dần có : Bính Dần (Thủy), Mậu Dần (thổ). Canh Dần (mộc), Nhâm Dần (kim), Giáp Dần (Thuỷ). -Sơn Mão có : Đinh Mão (Thủy), Kỷ Mão (thổ), Tân Mão (mộc), Quý Mão (kim), Ất Mão (Hỏa). -Sơn Thìn có : Mậu Thìn (mộc), Canh Thìn (kim), Nhâm Thìn (Hỏa), Giáp Thìn (Thủy), Bính Thìn (thổ). -Sơn Tỵ có : Kỷ Tỵ (mộc), Tân Tỵ (kim), Quý Tỵ (Hỏa), Ất Tỵ (Toả), Đinh Tỵ (thổ). -Sơn Ngọ có : Canh Ngọ (thổ), Nhâm Ngọ (môc), Giáp Ngọ (kim), Bính Ngọ (Hỏa), Mậu Ngọ (Thủy). -Sơn Mùi có : Tân Mùi (Thổ), Quý Mùi (Mộc), Ất Mùi (Kim), Đinh Mùi (Hỏa), Kỷ Mùi (Thủy). -Sơn Thân có : Nhâm Thân (kim), Giáp Thân (Hỏa), Bính Thân (Thủy), Mậu Thân (thổ), Canh Thân (mộc) -Sơn Dậu có : Quý Dậu (kim), Ất Dậu (Hỏa), Đinh Dậu (Thủy), Kỷ ̉ Dậu (thổ), Tân Dậu (mộc). -Sơn Tuất có: Giáp Tuất (Thủy), Bính Tuất (thổ), Mậu Tuất (mộc), Canh Tuất (kim), Nhâm Tuất (Hỏa). -Sơn Hợi có: Ất Hợi (Thủy), Đinh Hợi (thổ), Kỷ Hợi (mộc), Tân Hợi (kim), Quí Hợi (Hỏa). Nguyên tắc sử dụng phân kim là ở chỗ vượng thì tiết giảm, suy thì bổ cứu, tránh hung theo cát, tức tránh tương khắc (nếu khắc xuất là tiết), theo cát (sinh nhập, ngang hoà là cát, sinh xuất là tiết). Tóm lại là phải vận dụng linh hoạt. Ngoài ra cần lưu ý đến làn ranh phân kim, nếu phạm sẽ dẫn đến ngũ hành lẫn lộn mà có nhiều hung sát II - 9. Cách bố trí sơ đồ nhà kết hợp phi tinh. -Phòng bếp: Bếp là nơi chế biến nguồn dinh dưỡng cho mọi người, chủ về nhân đinh, cho nên nó có tầm ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong một ngôi gia về sức khoẻ, sự bình an và tài lộc vì thế bếp phải đặt tại phương vị tốt (Vị trí tọa tốt) có các sao là sơn tinh sinh vượng tiến khí và các sao tốt. Hướng bếp phải là hướng tốt, có các sao là hướng tinh sinh vượng tiến khí. Hướng nhà và vị trí bếp hay hướng bếp phải cùng Tam nguyên long, cụ thể là hướng nhà là Thiên nguyên long thì vị trí bếp, hướng bếp là Thiên nguyên long hoặc là Nhân nguyên Long. Hướng nhà là Nhân nguyên long thì hướng bếp và vị trí bếp là Nhân nguyên long hoặc là Thiên nguyên long. Còn Địa nguyên long chỉ nên phối với Địa nguyên long, không kết hợp được với Nhân nguyên long hay Thiên nguyên long, nếu kết hợp sẽ không được tốt. - Không nên đặt bếp tại Hướng tinh 2; 5 vì hoả sinh thổ. Sao 5 là Ngũ Hoàng Liêm trinh: chủ bệnh tật hao tài. Sao 2 là nhị hắc bệnh phù: Chủ bệnh tật. - Không nên đặt tại nơi có vượng sinh tiến khí của hướng tinh. Nếu đặt thì dễ bị hao hụt về tài chính. Vị trí đặt bếp là tính theo 24 sơn tính từ tâm nhà, chứ không tính theo tâm phòng bếp. - Dời bếp vào hướng phạm thái tuế: Nếu là cung có sơn tinh đang vượng thì rất tốt, còn không thì tai hoạ. Chỉ nên tránh vào tháng phạm thái tuế và trực xung thái tuế (Thí dụ: năm 2009, thái tuế cung Sửu thì nên tránh tháng, ngày, giờ Sửu và Mùi (trực xung). Hướng bếp nên hướng về hướng tinh là: * Nhất bạch: Hành thuỷ là thuỷ hoả ký tế nên là bếp cát * Tam bích, bát bạch: Mộc sinh hoả là bếp cát. * Nhị hắc, ngũ hoàng: Nhị hắc là bệnh phù, ngũ hoàng là đại sát nên kỵ -Phòng khách: Là nơi tụ hợp các thành viên trong gia đình, nơi tiếp khách, nghĩ ngơi tạm thời, chổ ngồi, nằm, uống trà, hút thuốc, tụ tập nói chuyện, thư giãn, nghe nhạc, xem truyền hình, đọc sách, làm việc, vì thế nó có vai trò cũng quan trọng. Do những ngôi nhà trong thành phố thường bị hạn chế về diện tích sử dụng, thì phòng khách thường cũng là phòng ăn. Vị trí tốt thường bố trí ở trung tâm ngôi gia, ở khu vực có sơn tinh sinh khí xa, ví dụ như vận 8 là sơn tinh nhất bạch, vận 7 là sơn tinh cửu tử, vận sáu là bát bạch… II - 10. Các loại sao sát và những kiêng kỵ. Thần sát: -Sao bản mệnh: là sao quản năm sinh của một người nào đó, ví dụ: nếu người đó sinh năm 2009, thì sao bản mệnh là cửu tử. -Bản mệnh sát và đích sát: Trong phi tinh của niên, nguyệt, nhật, thời, ở tại phương vị nào có phi tinh là sao bản mệnh thì gọi là bản mệnh sát, phương vị đối lập với phương bản mệnh sát tức là đối xung gọi là “đích sát”. Phương bản mệnh sát và phương đích sát đều là các phương đại hung, không được phạm đến. - Ám kiến sát: Sao phi tinh của niên nguyệt nhật thời nhập trung cung, phương vị có số sao phi tinh nhập trung cung thì gọi là phương vị ám kiến sát của niên nguyệt nhật thời đó. Phương vị ám kiến sát cũng là phương đại hung. -Thái tuế: Thái Tuế - vật thể thuộc Âm - là sao lớn nhất gần trái Đất và nhóm sao II ngoài vòng Thiên Thạch. Thái tuế là mộc tinh (Jupiter) lớn nhất trong thất tinh, nên khi nó đi tới đâu thì nó sẽ kéo hết dương khí về nơi đó. Theo quan niệm về "Khí" của Phong thủy Lạc Việt: Tất cả khí ngoài trái Đất đều thuộc Dương so với trái Đất. Nên sự tương tác rất mạnh về Dương Khí. Dương khí vượng ở hướng tất suy ở sơn và Âm khí vượng ở Sơn tất suy ở hướng. Mà hướng là dương, tọa là âm vì thế mà kỵ hướng, tuế phá ngược lại vì do dương khí bị kéo hết về nơi thái tuế nên tuế phá hoàn toàn là âm khí nên kỵ tọa. Thái tuế kỵ hướng không kỵ tọa, bởi vì thái tuế tính dương động kỵ hướng là do nơi hướng thường là nơi hoạt động vào ra của con người nên động càng thêm động, vì thế cũng kị mở cửa theo hướng của năm sinh để tránh không xung phạm Thái tuế. Thí dụ người tuổi Sửu không mở cửa hướng Sửu, người tuổi Tý không mở cửa hướng Tý, các tuổi khác cũng như vậy, để tránh tới năm tuổi Thái tuế đến cửa mà gây ra nhiều chuyện phiền toái. -Xung Thái tuế: là Thái-tuế xung khắc với năm sinh của chủ nhà. Thí dụ người sinh năm Dần thì niên canh Thái-tuế của người đó là Dần. Dần lại tương xung với Thân nên gặp năm Thân, tức là năm “niên canh xung Thái-tuế” thì người này phải tránh hành động tại 2 cung Dần, Thân để tránh khỏi bị trắc trở. -Nơi có phi tinh tốt gặp Thái tuế thì tốt thêm, nơi có phi tinh xấu mà gặp Thái tuế thì càng thêm xấu. -Thái tuế Có 2 loại là Thái tuế theo năm và Thái tuế theo phi tinh: *Thái tuế theo năm: là Thái tuế tính theo các địa chi của năm và phương vị mang tên địa chi đó. Ví dụ: Năm Tý Thái tuế ở phương Tý (phía Bắc), năm Sửu Thái tuế ở phương Sửu (phía Đông Bắc)… * Thái tuế theo phi tinh là Thái tuế theo sao cửu tinh của năm. Ví dụ: Năm 2009 là năm Sửu, phương Sửu ở Đông bắc, mà Đông bắc theo bàn phi tinh cố định là Bát bạch làm đại diện, phi tinh đại diện của năm Sửu là Cửu tử, đem Cửu tử nhập trung cung di chuyển theo Lường Thiên xích thuận thì sao Bát bạch đến phương Tây Nam, như vậy Thái tuế phi tinh năm 2009 Kỷ sửu là ở phương Tây Nam. Tuế phá: Phương đối ngược lại với phương Thái-tuế là phương Tuế-phá. Phương Thái-tuế nơi hoàn toàn có khí dương, ngược lại phương có Tuế-phá là nơi hoàn toàn có khí âm. Vì thế đây là 2 cung âm dương đối lập, tương khắc, tương xung. Như vậy khi các cung này ở trong vị trí tốt thì rất tốt mà trái lại thì rất xấu. Các ngày Tuế-phá cũng được tính theo như thí dụ sau đây: Năm Tý, Thái-tuế địa bàn ở phương Tý thì Tuế-phá ở phương ngược lại là phương Ngọ nên các ngày Ngọ như Giáp Ngọ, Bính Ngọ... đều là ngày Tuế-phá có khí âm cực mạnh. Do đó khi phạm vào thì dể gặp tai họa nhất là người tuổi Tý. -Tam sát: Là phần bên hông vuông góc với trục Thái Tuế và Tuế Phá theo chiều thuận từ Thái Tuế đến Tam sát, Tam sát chính là nơi giao lưu tương tác Âm Dương theo chiều thuận do ảnh hưởng của Thái Tuế và tuế phá gây nên, còn gọi là 3 sao có sát khí là Tuế sát, Kiếp sát và Tai sát. Ba điểm này cần thận trọng khi động thổ, tu sửa... Thí dụ Thái Tuế cung Sửu thì Tam sát ở cung Thìn. Có 3 loại tam sát năm, tháng và ngày. - Những năm Dần - Ngọ - Tuất: Tam sát ở phía BẮC. - Những năm Hợi - Mão - Mùi: Tam sát ở phía TÂY. - Những năm Thân - Tý - Thìn: Tam sát ở phía NAM. - Những năm Tỵ - Dậu - Sửu: Tam sát ở phía ĐÔNG. Tam sát chỉ kiêng kỵ ở phương toạ, không kiêng kỵ ở nơi hướng của ngôi gia. Nếu xây nhà, nhập trạch vào năm có tam sát đến toạ thì mới bị ảnh hưởng xấu. Ngoài ra cũng cần chú ý đến phương vị của giường ngủ, nếu giường ngủ mà nằm tại khu vực của tam sát thì tránh ra khu vực đó trong năm bị Tam sát. -Ngũ hoàng sát: Ngũ Hoàng đại sát còn gọi là "Mậu Kỷ Đô thiên sát". Nếu Ngũ hoàng xuất hiện ở sơn hướng nên tránh, vì Ngũ Hoàng là tối hung không thể xâm phạm, khu vực mà có sao Ngũ Hoàng bay đến trong năm thì cần phải tránh, chứ không xung phạm. Nếu xung phạm thì lập tức sẽ có những biến động, hoặc tai họa nguy hiểm, đang tốt thành xấu, người cư ngụ ở nơi có Ngũ Hoàng sẽ bị ảnh hưởng đến sức khoẻ và tiền bạc. III - KẾT LUẬN Chúng tôi quan niệm rằng: Bản chất của Phong thủy là ứng dụng những quy luật tương tác trong thiên nhiên, vũ trụ và con người. Đây chính là những thực tại khách quan đang tác động đến cuộc sống của chúng ta. Trong bài viết này, chúng tôi hân hạnh giới thiệu một trong những yếu tố tương tác quan trong. Đó chính là sự vận động có tính quy luật của các vì sao trong Thái Dương hệ lên trái Đất và ảnh hưởng đến cuộc sống của con người - mà chúng tôi cho rằng: Đó chính là nhận thức thực tại được qui ước, ký hiệu hóa trong phương pháp Huyền không, ứng dụng trong phong thủy. Huyền không Lạc Việt với nguyên lý căn để là "Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" và phương pháp ứng dụng căn bản, nhằm minh chứng tính nhất quán, tính hệ thống và khả năng giải thích hợp lý các vần đề liên quan so với sự huyễn ảo của Phong thủy từ văn bản cổ. Đó chính là yếu tố làm sáng tỏ tính khoa học của Phong Thủy theo tiêu chí khoa học. Đó chính là sự hiệu chỉnh để làm sáng tỏ chân lý, chứ không phải là sự phủ nhận những giá trị ứng dụng có hiệu quả đã được thừa nhận trong ứng dụng trải hàng ngàn năm của khoa Phong thủy Đông phương. Những phương pháp luận trong ứng dụng, được giới thiệu trong bài viết này ở trên đã chứng tỏ điều đó. Chúng tôi cũng không có tham vong ngay bây giờ có thể giải thích tất cả những bí ẩn của Lý học Đông phương. Đây là một công trình nghiên cứu đòi hỏi thời gian và sự đóng góp của nhiều con người, thậm chí có thể là nhiều thế hệ. Nhưng trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn ở việc minh chứng tính khoa học của phoing thủy - qua Phong thủy Lạc Việt - là sự thống nhất các phát hiện rời rạc, hiệu chỉnh những sai lầm và khiếm khuyết dẫn đến mâu thuẫn và mơ hồ của khoa Phong thủy. Từ đó, chúng tôi hy vọng rằng: Hội Thảo phong thủy lần này, sẽ là những bước mở đầu cho sự khám phá những bí ẩn của văn hóa Đông phương, mang trong nội dung của nó những nhận thức kỳ vĩ của thiên nhiên, vũ trụ và con người. Chúc hội thảo thành công tốt đẹp. Cảm ơn sự quan tâm của quí vị. ----------------------------- Tài liệu tham khảo. -Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt - Nguyễn Vũ Tuấn Anh. -Trạch vận tân án - Thẩm Trúc Nhưng và các tác giả. -Tìm hiểu cổ dịch huyền không - Hồ Kinh Quốc. -Phong Thuỷ Huyền Không Học - Bình Nguyên Quân. -Ứng dụng phong thuỷ trong xây dựng và đời sống - Vũ Đình Chỉnh. -Lý thuyết tam nguyên-cửu vận và nguyên lý dự báo cổ-Hoàng Tuấn. -Huyền học và nhà ở hiện đại – Chung Nghĩa Minh. -Giáo trình lớp PTLVII – Lưu hành nội bộ. -Tài liệu của anh Kép Nhật. -Địa lý toàn thư – Lưu Bá Ôn và các tác giả. -Phong thủy trong đời sống hiện đại – Nguyễn Hoàng Hải. -Thẩm thị huyền không học – Nguyễn Anh Vũ biên dịch. -Thủy Long Kinh-Long mạch bí truyền – NXB Hải Phòng. -Bí mật gia cư âm trạch và dương trạch – biên soạn: Duy Nguyên, Trần Sinh.
    1 like
  48. Đứa con thứ 9 của Long Vương chuyên ăn kim Ngân châu báu. Đó chính là độ số 9 ở phía Tây thuộc Kim của Hà Đồ (Lạc thư phía Tây Kim độ số 7). Đó cũng là con số cao nhất - cũng có thể hiểu là sự tận cùng - trong lý Dịch kết thúc một chu kỳ để sang một chu kỳ mới. Bởi vậy, nếu bí không có đào thải thì mọi việc sẽ dừng lại ở đây và không có chuyển hóa. Đó là cái lý mà tôi chẳng bao giờ khuyên thân chủ dùng tỳ hưu cả.
    1 like
  49. Mấy cái hạt li ti màu trắng đó là hạt vật chất ở cõi vô hình. Còn linh hồn thì nó có đốm sáng lớn hơn. Như tớ đã nói ở trên, nếu bạn có sự kết nối với Chân sư thì trong giai đoạn này bạn sẽ trải qua một sự kiện nữa. Đó là, các vị ấy xuất hiện bên cạnh trực tiếp truyền năng lượng và khai mở các huyệt đạo trên người bạn. Cảm giác để bạn nhận biết là lúc nào cũng có luồng điện rất mạnh trên đầu bạn, những lúc bạn ít có sự hoạt động thì cảm nhận càng mạnh hơn, và bạn sẽ trải qua cơn đau đầu dữ dội. Cơn đau đầu này không giống như triệu chứng của một cơn bệnh thông thường của thể xác, mà nó như đầu bạn bị một sợi xiết chặt lại và có luồng điện chạy trong đó. Hoặc có sự đau buốt một phần nào đó trên đầu, hai bên thái dương, phía sau đầu. Cơn đau này sẽ hết khi các huyệt đạo trên đầu của bạn được thông. Bạn không cần phải làm gì và lo sợ cả, nếu rãnh rổi hãy ngồi yên (đừng thiền) để các vị ấy khai mở giúp bạn. Các vị này sẽ chẳng bao giờ nói với bạn họ đang làm gì với bạn, họ làm việc trong im lặng và làm trong lúc có cơ hội cần thiết, bạn có trốn tránh cũng không được. Nếu bạn tiến sâu hơn trong giai đoạn này, bạn sẽ biết mình được thay phiên trực tiếp chăm sóc bởi những vị có đạo hạnh cao hơn. Kết thúc giai đoạn này bạn đã an toàn, bạn nhận được chút ít sự tĩnh lặng, và đặt một chân mình trên đường đạo. Khi ngủ bạn xuất hồn và đôi lúc bạn thăng lên các cõi cao hơn, bạn sẽ nhận được sự sung sướng tột độ, cảm giác này tồn tại cả ngày mới hết. Bạn tự do bay nhảy, cảm thấy mình rất nhẹ nhàng, và không muốn mang lấy cái thể xác nặng nề hiện tại nữa. Bạn kiểm tra thần nhãn của mình bằng cách nhắm mắt lại, nhìn về phía trước, nếu thấy có một khoản sáng thì đích thị bạn đã được mở con mắt thứ ba. Bạn có thể qua blog của tớ, tớ sẽ mở chế độ private để trao đổi: dobatnhi.wordpress.com (Xin lỗi Quản trị cái này mình không phải quảng cáo, nếu cần xin hãy xóa nó sau khi anh bạn này lấy được địa chỉ blog này)
    1 like
  50. Xin trích đoạn bài viết của anh Thiên Sứ về thuyết tương đối: Có 2 anh em sinh đôi. Nói chính xác ở đây là ta lấy ví dụ về 2 người coi như hoàn toàn giống nhau về thời gian cũng như hình dáng. Quá trình phát triển của cơ thể họ cũng là hoàn toàn như nhau. Và một ngày kia một trong hai người đó bay lên vũ trụ. Nghịch lí sắp nói tới ở đây là liệu có thể nào một trong 2 người này sẽ già hơn người còn lại khi gặp lại nhau hay không. Hãy giả sử 2 anh em này là A và B. Bây giờ là lúc B ở lại Trái Đất chờ người anh em của mình là A bay lên vũ trụ trên một con tàu có vận tốc khoảng 80% vận tốc ánh sáng chẳng hạn. A có nhiệm vụ đi đến một hành tinh cách rất xa Trái Đất mà theo như tính toán của cơ học Newton thì với vận tốc này anh ta phải mất 10 năm để đến nơi đó. Và cả đi cả về (coi như không tính thời gian ở lại hành tinh) anh ta phải mất những 20 năm. Vậy khi anh ta trở về để gặp lại người anh em song sinh của mình thì điều gì sẽ xảy ra? Trong rất nhiều bộ phim viễn tưởng và cả những câu chuyện tưởng tượng khác nữa mà chắc hẳn các bạn đã xem khá nhiều, các bạn đều có thể qua đó trả lời tôi rằng chắc chắn khi anh ta quay về thì người anh em nọ đã là một ông già, tuổi tác khi đó sẽ chênh lệch rất lớn. Vậy tại sao người ta lại có thể suy ra điều đó? Chúng ta sẽ giải quyết vấn đề này trước khi phân tích xem liệu những điều đó có đúng hay không. Chúng ta lại nhắc đến phép biến đổi Lorenzt đã nói ở trên, theo đó với γ: γ = (1 - v² / c²)½ Thì ta có hệ thức thời gian như sau: t' = t. γ Bây giờ chúng ta sẽ áp dụng bài toán trên để tìm nghịch lí cho 2 anh em sinh đôi trên. Vì 2 anh em này có vận tốc hoàn toàn khác nhau. Ta cứ tạm nói theo ngôn ngữ thông thường là người A đang chuyển động còn người B thì đứng yên. Vậy ta có thể đặt cho 2 người này 2 hệ qui chiếu tương ứng có tên tương ứng cũng là A và B. Hệ A là hệ tại đó người A (người bay lên vũ trụ) là đứng yên vì hệ này luôn chuyển động cùng với anh ta. Tại hệ A người B là đối tượng chuyển động. Còn hệ B là hệ tại đó người B (ở lại Trái Đất) đứng yên còn người A lại là đối tượng chuyển động. Quay lại với các bộ phim viễn tưởng. Nếu như đặt vấn đề tôi đang nói tới ở đây vào một nhà đạo diễn chuyên nghiệp các bộ phim viễn tương hay một hoạ sĩ truyện tranh có học qua vật lí tương đối tính, hẳn một kết luận đuợc đưa ra ngay tức khắc là khi quay về chắc chắn người A sẽ rất trẻ so với người B vì đơn giản là theo phép biến đổi Lorentz nói trên thì thời gian của người A sẽ trôi chậm hơn trong hệ qui chiếu của người B. Điều này không phải không có lí khi xét quá trình chuyển động. Có điều những người đưa ra kết luận này đã quên mất rằng chuyển động luôn chỉ có tính tương đối mà thôi. Việc đưa ra kết luận như trên là vì nhà đạo diễn này đang tự đặt mình vào vị trí của người B ở lại Trái Đất. Khi đó tại hệ qui chiếu của ông ta, ông ta sẽ luôn thấy kẻ ra đi kia là trẻ trung một cách kì lạ. Có điều là nếu như một lần nhà đạo diễn thử đặt mình vào vị trí của người A, ông ta sẽ thấy gì. Khi đó ông ta sẽ sử dụng hệ qui chiếu mà tại đó ông ta hoàn toàn đứng yên (tức hệ qui chiếu A). Khi đó với ông ta, hệ qui chiếu B và do đó cả người B là đối tượng chuyển động với cùng vận tốc mà ông ta từng thấy người A chuyển động khi đứng tại hệ qui chiếu B. Và như thế có nghĩa là tại thời điểm này, ông ta hẳn phải ngạc nhiên khi thấy rằng mình đã sai lầm vì thực sự khi bay cùng với A thì ông ta sẽ thấy B trẻ lâu hơn ông ta nhiều. Và bây giờ khi mà chưa thể phanh được một trong 2 hệ qui chiếu này lại, nhà đạo diễn sẽ phải nghĩ xem vậy thì cuối cùng trong bộ phim của ông ta ai mới là kẻ già truớc, và thế là nghịch lí nảy sinh. Thuyết tương đối không chấp nhận sự tồn tại một vận tốc tuyệt đối riêng của mỗi hệ quy chiếu. Thế nhưng với sự ra đời của đồng hồ nguyên tử, chúng ta dễ dàng tính được vận tốc thực của mỗi vật hoặc ít nhất cũng xác định được sự chuyển động nhanh hay chậm hơn giữa các vật. Thí nghiệm về hai đồng hồ nguyên tử nêu trên là một phiên bản của nghịch lý hai anh em sinh đôi, nó đã xác định được người đi trên con tàu vũ trụ có vận tốc rất lớn đã trãi qua một khoảng thời gian ngắn hơn so với người ở trái đất nếu mỗi người có mang theo một đồng hồ nguyên tử. Riêng tôi với thí nghiệm tính được góc lệch của tia sáng khi hệ quy chiếu chuyển động cũng là một bằng chứng âm của thuyết tương đối
    1 like