• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

yeuphunu

Hội viên
  • Số nội dung

    1.279
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    5

Everything posted by yeuphunu

  1. “Vặt lông” ai? (TT&VH) - 1. Ngày bé mẹ nghe ầu ơ: Cái cò cái vạc cái nông/ Ba cái cùng béo vặt lông cái nào/ Vặt lông con cốc cho tao/ Ta nấu ta nướng ta xào ta ăn. Nghe mãi, nghe mãi thành thuộc từ thuở nằm nôi, lớn lên nhớ nằm lòng. Sau đó mấy câu ca dao đến lượt ru em tôi. Thời gian trôi, tôi lớn lên có gia đình. Đến lượt “cái cò cái vạc cái nông” lại lần nữa đem tặng vào giấc ngủ các con tôi… Tôi đọc và thuộc như cháo, đọc như một thói quen chơi chạy vòng tròn, như ăn bát cháo hoa thấy mát mẻ trong lòng mà không bao giờ tìm cảm nhận về khí vị của cháo. Nào có bao giờ nghĩ đến chuyện đi tìm cái lý trong câu ca dao đâu. 2. Một hôm nằm ngẫm lại từng câu bỗng phát hiện ra cái vô lý: Ba con cò, vạc, nông đều béo, được người ta tính đến sẽ chọn một con vặt lông đánh chén. Ba đối tượng này thì đối tượng nào sẽ bị đưa lên thớt? Bất ngờ, và bất ngờ lớn nhất ở câu cuối: Vặt lông con “cốc” cho tao! Ôi trời, cốc không hề xuất hiện trong dự án làm thịt nhưng cuối cùng lại là kẻ hiến tế. Tôi giật mình, giữ trong lòng nỗi băn khoăn. Một lần về quê hỏi thì nghe mẹ bảo: Là ca dao nó nói thế, ai biết là cái gì. Mẹ cũng nghe từ bé thế thì nhớ thế thôi… Ờ, đều là loài kiếm ăn mặt nước nhưng câu ca dao lại phân loại khác nhau: cò, vạc, nông được gọi là “cái”. “Cái” là mẹ, là bề thế. Trong nhà là người cai quản, ra đường là bậc phụ huynh. Còn nông là “con”, là nhỏ bé và phụ thuộc. Ba “cái” bỗng nhiên thoát cảnh vặt lông, còn “con” không được nhắc tới trong sự lựa chọn bỗng được lôi tuột ra để xử. Chuyện đời thật rắc rối. Vẫn chưa tìm ra ý nghĩa của cái cảnh tréo ngoe này. Tôi đã thấy con cốc trên trống đồng Ngọc Lũ, còn ngoài thiên nhiên thì chưa thấy bao giờ. Tuy vậy một hôm xem trên YouTube thấy ở nước ngoài, thuyền chài cốc để bắt cá. Chủ thuyền buộc dây lồng cái thòng lọng vào cổ cốc rồi thả cho cốc lặn xuống sông mò cá. Đớp được cá nhưng cốc không thể nuốt vì bị cái thòng chặn ngang cổ. Cốc ngoi lên thì chủ thuyền thu con cá rồi cho cốc lặn tiếp. Chỉ hết buổi, chủ tháo thòng lọng thì cốc mới nuốt được. Thân phận con cốc là như vậy. 3. Nào, bây giờ chúng ta cùng nhau nghĩ xem tại sao lại có chuyện này. Ca dao xưa đọc thấy như vu vơ nhưng bao giờ cũng ẩn dưới nó một câu chuyện khác. Chúng ta cùng ngẫm để lý giải xem tại sao cốc lại bị vặt lông. Phải chăng cốc nằm trong vị thế thấp cổ bé họng nhất nên thường là kẻ bị bắt nạt? =============================================== Mấy chuyện này thì xưa như trái đất, nhưng mà ngẫm thì thời nào cũng đúng Thấp cổ bé họng không phải là cái tội, nhưng mà ai bảo thấp cổ bé họng làm gì
  2. Giải mã não trạng hẹp hòi của dân tộc Trung Quốc Cái gọi là "Nam Man, Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch" tất cả đều không đáng nhắc đến, chỉ có Trung quốc mới là hạt nhân của văn minh. Điều này biểu hiện ra một loại văn hóa hết sức cường liệt, thậm chí một loại chủ nghĩa xô-vanh chủng tộc. Bài phỏng vấn học giả Trung Quốc Đô Duy Minh về sự trì trệ trong thói quen tư duy, nhận thức của dân tộc Trung Quốc. A. SÁNG TẠO RA TRIẾT HỌC BẰNG CÁCH GIẢI THÍCH TRUYỀN THỐNG Người phỏng vấn:Thưa Đỗ Duy Minh tiên sinh, ngài đã nhiều lần nhấn mạnh “sự hiểu biết đồng tình” (đồng tình liễu giải) đối với các nhà tiên triết cổ đại, do đó đã tiến hành giải thích truyền thống trên một quy mô lớn. Tuy nhiên tôi cảm thấy một trong những căn bệnh tệ hại của văn hóa Trung Quốc chính là do ý nguyện giải thích truyền thống quá mạnh mẽ, bất luận thời gian nào, không gian nào, bất luận phải đối diện với bất kỳ loại thách đố nào, cũng tìm một cách truy cầu đáp án về truyền thống, tìm mọi cách hấp thu sức mạnh từ truyền thống. Theo phong cách như vậy, hơn hai ngàn năm giới trí thức chỉ còn biết đứng trước một số kinh điển chắp tay sùng bái, đánh mất cả sức mạnh sáng tạo, đánh mất luôn cả khả năng thích ứng, cuối cùng tạo ra một thứ “tự mình chích thuốc vào bản thân“ (tự thể trúng độc), khiến cho toàn thể xã hội bị sa lầy, đình trệ giữa một thứ bệnh thái thâm trọng. Ngài giải thích ra sao về vấn đề này? Đỗ Duy Minh: Tôi cho rằng sự kiện này có liên quan đến vấn đề ý thức lịch sử của người Trung Quốc, tức là nhân quả và cải cách. Từ đời Hạ đến đời Thương, từ Thương đến Chu, người đời sau đến với người đời trước luôn luôn có mối quan hệ nhân quả và cải cách, điều này có mối quan hệ rất mật thiết với tính kế thừa trong văn hóa Trung Quốc. Trước tiên ta cần phải phân biệt hai loại hình sáng tạo. Lọai hình sáng tạo thứ nhất mang tính đột phá. Tính chất này biểu hiện tương đối rõ ràng trong lĩnh vực khoa học. Khoa học phát triển, đôi khi có những đột phá các lý luận đi trước, có khi làm sụp đổ các quyền uy đi trước, sau đó một loại mô hình mới xuất hiện. Loại gãy đổ địa tầng ở bên trong nội bộ như vậy hết sức tự nhiên, mang ý nghĩa tiến bộ, nhảy vọt. Nhưng không hiếm người quan sát cho rằng sự đứt gãy địa tầng không hẳn nghiêm trọng như chúng ta tưởng. Còn có một loại hình sáng tạo thứ hai, chẳng hạn sáng tạo văn học, cho dù tác phẩm văn học có sáng tạo gì hết sức mới mẻ đi nữa, việc vận dụng ngôn ngữ cũng phải phù hợp với qui tắc hoặc văn pháp có sẵn, những qui tắc này không thể bị vi phạm. Anh chỉ có thể sử dụng ngôn ngữ không phù hợp với văn pháp sáng tạo ra những điều mới mẻ trong một phạm vi giới hạn tự giác. Điều này cũng giống như cuộc vận động cổ văn thời Bắc Tống, trong thời kỳ này đã xuất hiện một số văn hào như Âu Dương Tu, Tô Thức hay Hoàng Đình Kiên, tất cả đều sử dụng cổ văn thuần thục, thực sự đã đạt đến trình độ “bổ phong tróc ảnh“ (bắt gió đuổi ảnh) mà văn học bạch thoại hiện đại vẫn chưa sao với tới được. Do đó, sử dụng một cách cực kỳ thuần thục và linh hoạt ngôn ngữ mọi người vẫn thường vận dụng cũng là một hình thái sáng tạo ra cái mới. Loại hình sáng tạo này không giống như loại hình sáng tạo trong khoa học. Nó có tính kế thừa nhất định. Truyền thống Trung Quốc, nếu nói theo ngôn ngữ phương Tây, thông qua việc giải thích mà sáng tạo ra triết học, tức là sáng tạo theo quan điểm của thuyên thích học. Anh nhất định phải hấp thu dưỡng chất từ kinh điển truyền thống rồi mới có thể biểu hiện được quan điểm đặc sắc của riêng anh. Những quan điểm đặc sắc này cũng có thể giúp cho anh hoặc người khác đối với vấn đề vi ngôn đại nghĩa trong kinh điển tiến hành một sự xiển dương và phát huy tiến bộ được một bước. Đây là một loại hình tiến bộ tuần hoàn mà vòng tròn mỗi lúc mỗi được khoáng trương rộng rãi thêm ra. Truyền thống Trung Quốc là một truyền thống có ý thức lịch sử rất mạnh mẽ. Tôi không thể nào tiếp thu được quan điểm của một số người đối với văn hóa Trung Quốc cho rằng đây là nền văn hóa có định hướng sùng bái quá khứ không chịu nhìn về tương lai. Tôi cho rằng văn hóa Trung Quốc là nền văn hóa “suy tần xuất tân“ (khai triển cái cũ, làm xuất hiện cái mới), từ trước đến nay vẫn có một sức sống vô cùng mãnh liệt. Nếu không văn hóa Trung Quốc không thể là nền văn hóa vừa trọng cổ vừa trọng kim được. Trên thế giới có nhiều nền văn hóa vô cổ hữu kim hay vô kim hữu cổ, nhưng nền văn hóa hữu cổ hữu kim thì tương đối hiếm. Nền văn hóa truyền thống có sức sống mãnh liệt giống như văn hóa Trung Hoa là một hiện tượng lịch sử độc nhất vô nhị. Truyền thống văn hóa Trung Quốc có tính kế thừa, đã biểu hiện được sức mạnh hưng thịnh của nó trong một thời gian dài. Nếu nói theo ngôn ngữ Kinh Dịch, đây là thành quả của việc “tự cường bất tức “ (tự mình tiến bộ nỗ lực không ngơi nghỉ), không thể giản đơn cho rằng văn hoá Trung Quốc là một hiện tượng “tự thể trúng độc“. Có nhiều người cho rằng sức sống trong văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là sức mạnh sáng tạo trong lĩnh vực triết học, đã đạt đến đỉnh cao trong thời kỳ Tiên Tần, sau đó dần dần suy thoái, cho dù ngay trong thời kỳ tương đối sung mãn cũng không thể so sánh với thời Tiên Tần. Quan điểm này tôi không thể tán thành. Tôi cho rằng văn hóa Trung Quốc có nguồn gốc thâm viễn, dòng chảy mạnh mẽ đi rất xa (nguyên viễn lưu trường, ba lan tráng khoát), có khí phách kiêm dung rất lớn, mỗi thời đại đều có cống hiến đặc biệt mang sắc thái tinh tế hiển minh. Khi bàn đến lịch sử tư tưởng Trung Quốc, chắc chắn cần phải quan tâm đến những giai đoạn quan trọng, mỗi giai đoạn đều có nội dung nghiên cứu phi thường, cần phải xuất phát từ nhiều giác độ khác nhau để lý giải các nội dung này. Ngoài ra vẫn còn một vấn đề nữa. Trước đây chúng ta vẫn xem văn hóa Trung Quốc là khởi nguyên từ một nguồn gốc duy nhất (nhất căn nhi phát), khởi thủy từ lưu vực sông Vị thuộc hạ lưu sông Hoàng Hà, dần dần phát triển rộng ra. Tôi cho rằng hiện nay rất ít người tiếp thu được quan điểm này. Văn hóa Trung Quốc thực ra bắt nguồn từ nhiều nguồn gốc khác nhau, có văn hóa Trung Nguyên, văn hóa Tây Bắc, văn hóa Ngô Việt ở Trường Giang, văn hóa Quảng Đông và Vân Nam. Văn hóa Trung Nguyên có bình diện phát triển tương đối rộng rãi, bao gồm văn hóa Tề, Lỗ, văn hóa Yên, Triệu, có nhiều hình thức và chủng loại khác nhau, giữa các nền văn hóa này có sự tác động qua lại (hỗ tương kích đãng) hòa hợp với nhau, dần dần phát triển thành một nền văn hóa tương đối thống nhất. Có thể nói văn hóa Trung Quốc mỗi thời đại đều có sức sống riêng biệt, đều có sự phát triển đặc thù, đều có sự sáng tạo riêng biệt. Từ trước thời Thương, Chu, cho đến Bách gia thời Tiên Tần, phái Kinh học và Sử học đời Lưỡng Hán, Huyền học đời Ngụy Tấn, Phật giáo Tùy Đường, Lý học đời Tống Nguyên, Khảo chứng học đời Thanh cho đến các học thuyết phát sinh sau thời nha phiến chiến tranh nhằm thích ứng với phương tây, cho đến thời hiện đại, mỗi một thời kỳ đều có vấn đề đặc biệt rất đáng được nghiên cứu thảo luận. Chúng ta không thể sử dụng mô thức hiểu biết về thời Tiên Tần để giải thích thời Lưỡng Hán, cũng không thể dùng mô thức thời Lưỡng Hán để hiểu thời Ngụy Tấn, không thể dùng mô thức hiểu biết thời Ngụy Tấn để hiểu thời Tùy Đường. Bất kể từ phương diện văn hóa chính trị hay phương diện cấu trúc văn hóa đều không thể hiểu Trung Quốc, một quốc gia có nội dung văn hóa học thuật vô cùng phong phú, một cách đơn giản, thiển cận như vậy được. B. SỰ HÌNH THÀNH Ý THỨC DUY NGÃ ĐỘC TÔN TRONG VĂN HÓA TRUNG QUỐC Người phỏng vấn: Khi mọi người bàn đến tính bảo thủ cố hữu trong bản thân văn hóa Trung Quốc, thông thường vẫn nên lên vấn đề “duy ngã độc tôn“ (chỉ có ta là đáng tôn trọng). Như vậy cũng có thể nói, từ cổ chí kim, văn hóa Trung Quốc đều có ý thức duy ngã độc tôn, một loại khuynh hướng mục hạ vô nhân (mục không nhất thiết), khuynh hướng này không những đả kích các luồng văn hóa đến từ nước ngoài, mà còn làm gia tăng thêm nọa tính của văn hóa Trung Quốc nữa. Ngài nghĩ sao về vấn đề này? Đỗ Duy Minh: Vấn đề này Phí Chí Thanh cũng đã bàn đến rồi. Có quan điểm như sau: do Trung Quốc là một nước lớn có cái gọi là “lễ nghi thiên triều“, có ý thức duy ngã độc tôn, xem những ngoại nhân đều là những dân tộc phải đến triều cống, vì họ có những điều cần phải cầu xin chúng ta, còn chúng ta thì chẳng cần cầu xin gì ở họ. Một khi họ đã đến Trung Quốc thì chúng ta phải dùng một loạt những chế độ lễ nghi để cải biến họ thành những phần tử có nhiệm vụ kính bái thiên triều. Từ đời Đường trở đi tình hình đều như thế cả, cho đến đời Minh thì phát triển thành một loại ngông cuồng tự đại tương đối rõ ràng, loại ngông cuồng tự đại này khiến cho Trung Quốc khó lòng đối phó với sự thách đố của văn hóa Tây phương một cách thực tế, một cách rốt ráo được. Cái gọi là “ Nam Man, Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch “tất cả đều không đáng nhắc đến, chỉ có Trung quốc mới là hạt nhân của văn minh. Điều này biểu hiện ra một loại văn hóa hết sức cường liệt, thậm chí một loại chủ nghĩa xô-vanh chủng tộc. Tôi cho rằng đối với những trạng huống nêu trên, tất yếu cần phải tiến hành phân biệt ở những tầng lớp sâu hơn. Không thể phủ nhận rằng Trung Quốc quả thật có một loại tư tưởng văn hóa xem mình là trung tâm, nhưng đàng sau bối cảnh rộng lớn này thì tình hình cụ thể rất phức tạp. Đời Đường, văn hóa Trung Quốc phát triển đến đỉnh cao, nhưng đời Đường không có chủ nghĩa xem văn hóa Hoa Hạ làm trung tâm, mà lại có tinh thần bao dung, tổng hợp rất lớn. Sau đời Đường, Hán tộc tại Trung Quốc không những rơi vào cảnh quốc gia bại nhược mà phải còn chịu sự uy hiếp đặc biệt lớn của các dân tộc thảo nguyên (như Mông Cổ), dân tộc Sâm Lâm (như Kim), do đó quan điểm văn hóa trung tâm của Trung Quốc và kinh nghiệm về sinh tử tồn vong mà nó phải gánh chịu có tương quan mật thiết. Đặc biệt trong thời gian gần một ngàn năm lịch sử, quan niệm duy ngã độc tôn rất khó có sức thuyết phục. Đời Tống đối với Liêu, Kim, Nguyên nhiều lần đã phải cam chịu xưng “thần”. Chu Hi, một nhà tư tưởng có ý thức văn hóa Hoa Hạ rất mạnh mẽ, nhưng vẫn có những cảm giác lo lắng, sợ hãi sâu sắc, ông lo sợ rằng động lực của trung tâm thế giới không còn phạm vi Trung Quốc nữa, không những thế Trung Quốc đã bị ngoại nhân xâm lược và phải đối diện với cái họa vong quốc. Đến đời Nguyên, tròn tám mươi năm, hoàn toàn chịu sự can thiệp quấy nhiễu của văn hóa dị tộc, thành phần trí thức bị biến thành một thứ “xú lão cửu” (lão già hủ lậu hôi thối). Cho đến đời Minh, tình hình phòng vệ biên cương luôn luôn phức tạp, căng thẳng, một mặt phải lo Mông Cổ, vì Mông Cổ có khả năng hứng khởi trở lại, một mặt khác phải lo đối phó Mãn Châu. Tình cảnh biến hóa thịnh suy khôn lường, ngay cả hoàng đế cũng bị bắt giữ, trong tình huống như thế, muốn có ý thức ngông cuồng tự đại cũng không phải là việc dễ dàng. Cảm giác về mối nguy cơ rất mạnh mẽ thể hiện trong tác phẩm của Vương Phu Chi và khẩu hiệu do Cố Viêm Võ đề xuất: ”thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách“ (chuyện quốc gia còn hay mất, ngay kẻ thất phu cũng có phần trách nhiệm) tất cả cho thấy không phải đây là ý thức duy ngã độc tôn, tự ngã trung tâm, mà nên nói rằng đó là ý thức lo âu về sự tồn vong của dân tộc. Cái gọi là ý thức duy ngã độc tôn, chủ yếu hình thành vào đời nhà Thanh, Mãn Thanh là một vương triều do kẻ xâm lăng vào Trung Quốc kiến lập nên. Với mục đích hoàn thành việc khống chế các vấn đề nội bộ, chính phủ nhà Thanh thái dụng sách lược văn hóa hoàn toàn giống với sách lược của Nho gia, Tôn Khổng độc Kinh (tôn sùng Khổng Tử, nghiên cứu kinh điển Nho gia), đó là những điều chính quyền nhà Minh không làm được thì nhà Thanh đã làm được. Có thể nói vương triều nhà Thanh đã hoàn toàn giải trừ được vũ trang của các phần tử Trung Quốc, khả năng phán đoán của giới trí thức đối với một số vấn đề lớn cũng bị chính trị làm cho rối loạn. Đồng thời, giới trí thức, đặc biệt là giới trí thức Hán tộc, khi không còn khả năng tề gia trị quốc họ có cảm giác mình bị phân ly với thời đại, không còn thuộc về thời đại này nữa. Cho nên cái gọi là bệnh ngông cuồng tự đại của thiên triều vẫn chưa phát triển đầy đủ sau đời Tống, và ý thức duy ngã độc tôn của đời Thanh cũng là do thời gian cả trăm năm không tiếp xúc với ngoại bang, đối với văn hoá Tây phương hoàn toàn chẳng hiểu biết gì về hoàn cảnh khó khăn do chính bản thân tạo ra. Người phỏng vấn: Nhưng mà chúng ta e rằng rất khó mà dùng hoàn cảnh suy bại của quốc gia để phủ nhận sự tồn tại của ý thức duy ngã độc tôn, vào thời Hán Vũ Đế, Đổng Trọng Thư yêu cầu “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật“, điều này đúng là một khẩu hiệu bài trừ các loại tư tưởng khác biệt với mình về phương diện học thuật hay phương diện văn hóa. Sau khi cái gọi Nho thuật của Đổng Trọng Thư trở thành văn hóa chính thống của Trung Quốc, tinh thần bãi truất và độc tôn e rằng đã trở thành tính cách đặc thù của văn hóa Trung Quốc. Ngay cả khi đất nước lâm vào cảnh suy vi, cũng rất dễ dàng kích phát những tình cảm “độc tôn“ tiến lên một bước, vì những người yếu đuối với vấn đề tự tôn đôi khi cũng có mặc cảm, không những thế mặc cảm này đôi khi còn trở nên quá thái nữa. E rằng đây là hiện tượng “mặc cảm tự ti biến thành mặc cảm tự tôn“ (cảm tình đích hồi lưu) chăng? Đỗ Duy Minh: Về vấn đề “duy ngã độc tôn“, tôi cho rằng có thể lý giải từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất, Nho học đảm nhiệm chức năng hình thái của loại quốc giáo, phân tích cho cùng đã duy trì được tại Trung Quốc trong một thời gian rất dài, có ảnh hưởng rất lớn. Góc độ thứ hai, Nho học tại Trung Quốc, ngoài việc đóng vai trò một hình thái ý thức chính thống, đối với xã hội Trung Quốc, đặc biệt đối với nhiều tầng lớp dân chúng, thông qua rất nhiều con đường khác nhau mà phát sinh ảnh hưởng rất lớn. Tôi cho rằng chúng ta đã cường điệu quá đáng ảnh hưởng của Nho học chính thống thuộc phạm vi nhà nước. Tuy vấn đề đời Hán xuống chiếu ban hành “độc tôn Nho thuật” là có thật, nhưng Hán Vũ Đế không phải là người chấp nhận tư tưởng Nho học, ông ta hoàn toàn giống như Tần Thủy Hoàng, rất thích lập nên những chiến công hiển hách, bị bọn phương sĩ mê hoặc, hơn nữa còn có tư tưởng pháp gia rất mạnh, ví dụ như việc ông sử dụng Tang Hoàng Dương là một thắng lợi của phái Pháp gia, điều này có phản ánh trong tác phẩm Diêm thiết luận. Hơn nữa, Ngụy, Tấn, Tùy, Đường đều không phải là các triều đại tôn sùng Nho học, mãi cho đến đời Nguyên, Tứ Thư, Ngũ Kinh mới trở thành tiêu chuẩn cho chế độ khoa cử. Tôi không phủ nhận ảnh hưởng rất lớn của Nho gia trong văn hóa chính trị Trung Quốc, đóng vai trò như một nguyên tắc chuẩn mực trong việc trị nước, nhưng phân tích rốt ráo vẫn còn có sự thẩm thấu trong đó nhiều nhân tố thuộc tư tưởng Pháp gia. Tôi chỉ muốn cảnh giác với quan điểm của nhiều người: Nho giáo sở dĩ có thể thâm nhập đến mọi phương diện trong đời sống xã hội, mọi tầng lớp nhân dân, hoàn toàn không phải là nguyên nhân chính trị, mà còn do rất nhiều nhân tố khác. Chúng ta có thể nhớ lại, Nho gia trong đời Hán mặc dù có địa vị rất cao, nhưng đối với lý thuyết Hoàng Lão đang thịnh hành trong xã hội cũng không thể tùy tiện phê phán. Ngụy Tấn có thể nói là thời kỳ mà Nho gia dần dần nắm được địa vị, đương thời trong thị tông tộc, giải cứu gia pháp, làm cho Nho học, đặc biệt là Kinh học và Lễ học phát triển trong cấu trúc kiến lập xã hội. Nhưng rất khó giải thích điều này từ góc độ chính trị hóa. Do việc Trung Quốc bị ngoại tộc xâm nhập, một số lớn gia tộc chạy về phương nam, và do ý muốn duy trì địa vị gia tộc, tất yếu cần phải có một số qui phạm, lý tưởng. Đến thời nhà Đường, Kinh học và Lễ học của Nho gia càng được phát triển rộng rãi (đại hào kỳ đạo). Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, từ thời Ngụy Tấn cho đến đời Đường, tư tưởng chủ đạo vẫn là Phật giáo và Huyền học, nếu xét trên bình diện hệ tư tưởng, mãi cho đến đời Tống, Nho gia mới được trùng tân phục khởi, các học thuyết thân, tâm, tính, mệnh mới được mọi người đề xuất, đối với Phật giáo trở thành đối ứng mang tính sáng tạo mạnh mẽ. Do đó, khi xem xét vấn đề Nho giáo, không thể nào chỉ căn cứ vào góc độ “độc tôn Nho thuật“ hay “nhất chi độc tú“ (chỉ có một cành xinh đẹp) để giải thích, mà xem xét những đường kinh mạch của Nho giáo thẩm thấu trong khắp mọi tầng lớp xã hội. Từ đời Hán đến nay, bất kể là triều đại nào, nếu muốn tiến hành kiến lập các cấu trúc chính trị đều cần đến vai trò của Nho gia. Điều này đóng vai trò hữu quan trong văn hóa chính trị cùng với Nho gia, phản ánh một cách mạnh mẽ rõ ràng ý thức lịch sử và tinh thần cảm thụ văn hóa đặc biệt của người Trung Quốc. Không biết điều này có làm tăng trưởng ý thức duy ngã độc tôn hay bệnh ngông cuồng tự đại của người Trung Quốc hay không? Tôi cho rằng trong vấn đề này có nhiều hoàn cảnh cụ thể mà chúng ta hoàn toàn chưa nắm rõ. Đời Thanh quả thực chúng ta đã biết như thế, nhưng nhất định phải có những nguyên nhân và duyên cớ sâu xa bắt nguồn từ các thời đại đi trước. Theo dịch giả Dương Ngọc Dũng (Tập san Khoa học Xã hội và Nhân văn) ========================================== Thật kinh dị thay cho tư tưởng đại hán được xây dựng trên sức mạnh của nước lớn Cái gì cũng có thể là của mình và sãn sàng chà đạp tất cả để đạt được mục đích.
  3. 7 điều "kỵ" về tài vị trong nhà, phạm 1 điều gia chủ cũng lao đao Bất cứ căn nhà nào cũng có vị trí tiền tài, nếu không biết để tránh những điều tối kỵ, đừng than trách vì sao tiền của chỉ "đi mà không về". Dưới đây là 7 điều cần hết sức lưu tâm. Theo phong thủy học, tài vị trong nhà được ví như huyệt Mệnh Môn trong cơ thể. Nói như vậy để thấy rằng, nó có liên quan đến sự hưng thịnh, tài vận, sự nghiệp, thanh danh của các thành viên trong một gia đình. Cũng theo thuyết phong thủy, tài vị được coi là trái tim của phòng khách. Trong khi đó, phòng khách là trung tâm của một ngôi nhà. Từ đó có thể thấy, tài vị chính là nơi thu hút tài khí, là nơi chủ chốt để mang đến tài vận, may mắn cho gia đình. Tài vị lý tưởng luôn nằm trên đường chéo từ lối vào phòng khách. Nếu như cửa nhà ở bên trái thì tài vị nằm ở trên đỉnh góc chéo bên phải, cửa nhà ở bên phải thì tài vị nằm trên đỉnh góc chéo bên trái. Với cửa nhà nằm ở giữa thì vị trí này nằm ở đỉnh góc chéo bên trái và bên phải. Vị trí tài vị trong nhà khi nhìn từ cửa ở bên trái, bên phải và ở giữa. Vì tầm quan trọng của tài vị nên ngoài việc xác định đúng vị trí, các thiết kế, bài trí xung quanh tài vận là việc quan trọng không thể xem nhẹ. Dưới đây là 7 điều tối kỵ đối với tài vị, chỉ cần phạm 1 trong số này, hãy tìm cách hóa giải, sửa đổi ngay. Kỵ nước: Tài vị luôn luôn kỵ nước, vì thế tại vị trí này tuyệt đối không nên để những chậy cây trồng trong nước hay bể cá. Vị trí tài vị, tuyệt đối tránh để bể cá. Không có điểm tựa: Phía sau tài vị tốt nhất nên là hai mặt tường kiên cố, có điểm tựa vững chắc, có như vậy mới có thể tàng phong tụ khí. Ngược lại, nếu sau tài vị là một cửa sổ làm bằng kính trong suốt, điều này không chỉ ảnh hưởng đến việc tích lũy tài lộc mà còn khiến của cải bị rơi rụng, tiêu tán. Vị trí tài vị trong nhà cần có điểm tựa vững chắc. Rung lắc: Nếu tài vị thường xuyên ở trong trạng thái rung lắc, tài chính trong gia đình cũng khó mà giữ cho được. Vì thế, các vật dụng đặt trên vị trí này cần ngăn lắp, tuyệt đối không nên đặt những thứ dễ tạo ra sự rung động như ti vi, loa đài... Bừa bãi, bẩn thỉu: Vị trí tiền tài luôn được đảm bảo vệ sinh sạch sẽ sẽ có lợi cho đường tài lộc của gia chủ. Tài vị nên sáng sủa, không để u ám, nếu thiếu ánh sáng tự nhiên thì lắp thêm đèn. Một khi phó mặc, không chăm lo, tài vị luôn bừa bãi, gia sản trong nhà sẽ khó có thể bảo toàn. Chịu áp lực lớn: Nếu kê những đồ có trọng lượng lớn như tủ quần áo, tủ sách... lên tài vị, gia chủ đã vô tình tạo một áp lực lớn lên vị trí quan trọng này. Làm như vậy là bạn đã tự mình gây bất lợi cho chính bản thân và gia đình về mặt tiền bạc. Không nên kê tủ, kệ... vào đúng vị trí tài vị trong nhà. Hướng thẳng ra bên ngoài: Tài vị không nên có hướng thẳng ra cửa chính hay nằm trên lối đi trong nhà. Ngay cả việc đặt cửa sổ trên vị trí này cũng là điều tối kỵ vì khi mở cửa sẽ dẫn đến việc tài khí bị thoát ra ngoài. Nếu không thể thay đổi thiết kế, cửa sổ có thể bố trí thêm rèm hoặc lối đi có thể bố trí thêm bình phong để giải tỏa điều cấm kỵ. Thực vật có gai: Tài vị rất kỵ với những cây có gai, tốt nhất không nên để cây cảnh loại này đúng vị trí tiền tài. Thay vào đó, nên để những loại cây có lá to và dày và nên trồng những cây này bằng đất, không trồng cây trong nước. Một chậu cây kim ngân rất phù hợp cho việc đặt trên tài vị trong nhà. theo http://soha.vn/7-dieu-ky-ve-tai-vi-trong-nha-pham-1-dieu-gia-chu-cung-lao-dao-20161011101732155.htm ================================================================= Cái vụ xác định tài vị của bài này đơn giản quá, thua xa phương pháp khí của Địa lý Lạc Việt rất nhiều. Học viên lớp cơ bản nhắm mắt cũng biết nơi nào vượng khí :D
  4. Một Thủ đô tích hợp tâm linh13:30 01/06/2008 Việc mở rộng Hà Nội sang toàn bộ địa giới tự nhiên của tỉnh Hà Tây cũng đồng thời là sự tích hợp các yếu tố văn hóa tâm linh của xứ Đoài vào văn hóa Thăng Long, vì Hà Nội và Hà Tây cùng nằm trên một vùng đất địa linh theo quan niệm phong thủy, cùng có lịch sử phát triển trên nền móng tâm linh là văn hóa Phật giáo, cùng tổ chức không gian xã hội theo hệ thống làng nghề. Như vậy, Hà Nội mở rộng sẽ có thêm một hệ thống chùa chiền nổi tiếng như chùa Thầy, chùa Hương, chùa Tây Phương... cùng hệ văn hóa với các chùa chiền Hà Nội sẽ được đưa vào hệ thống du lịch văn hóa và sinh hoạt tín ngưỡng của Thủ đô. Bàn về dự án mở rộng Hà Nội, đã có nhiều ý kiến sắc sảo và quyết liệt tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng nổi trội lên vẫn là hướng tiếp cận mang tính bi quan - giải thiêng trên hai lĩnh vực dân chủ và thực dụng, từ chuyện lòng dân tới chuyện nghiên cứu và quản lý, chuyện buôn bán đất đai và mua bán chức quyền. Những người lạc quan, có nhãn quan văn hóa, tin ở những điều thiêng lại thấy đây là một dự án phát triển Thủ đô trên một nền tảng tâm linh thống nhất, mặt khác, là một dự án mang bản chất về nguồn, tích hợp tâm linh. Thực tế, trong Chiếu dời đô Lý Công Uẩn đã quan tâm nhất tới điều gì? Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, viết thủ chiếu rằng: Ngày xưa nhà Thương đến Bàn Canh là năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương là ba lần dời đô, há phải là các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng mà tự dời đô bậy đâu, là vì mưu chọn chỗ ở chính giữa làm kế con cháu ức muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo lòng dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi. Bởi thế ngôi truyền dài lâu, phong tục giàu thịnh. Thế mà nhà Đinh, nhà Lê lại theo lòng riêng, lơ là mệnh trời, không noi theo việc cũ nhà Thương, nhà Chu, yên ở nơi quê quán, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không nên. Trẫm rất xót thương không thể không dời đi nơi khác. Huống chi đô cũ của Cao Vương ở thành Đại La, ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ ấy là nơi hơn cả. Thực là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà đóng đô, các khanh nghĩ thế nào?”. Đọc Chiếu dời đô, ta thấy tinh thần chính, tư tưởng chính của Lý Công Uẩn không nằm ở câu cuối cùng “Các khanh nghĩ thế nào?” như ông Dương Trung Quốc dẫn ra và phiên dịch theo tinh thần văn hóa phương Tây. Tư tưởng chính của Chiếu dời đô là “mưu chọn chỗ ở chính giữa làm kế con cháu ức muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo lòng dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi. Bởi thế ngôi truyền dài lâu, phong tục giàu thịnh”. Theo mạch nghĩ này, sự bền vững thịnh vượng và phát triển của con cháu muôn đời là mục đích tối cao của việc dời đô, mục đích ấy muốn đạt được trước hết phải chọn được thế đất chính giữa cho Thủ đô, (tức Địa lợi), sau nữa phải kính mệnh Trời (Thiên thời), kế đến mới là theo lòng dân (Nhân hòa). Ở đây, yếu tố Địa lợi vốn đứng thứ hai trong quan niệm Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa của người xưa đã được Lý Công Uẩn đẩy lên hàng đầu, chứng tỏ tư tưởng địa linh là yếu tố quan trọng bậc nhất trong tư duy dời đô của Lý Công Uẩn. Tư tưởng địa linh có màu sắc phong thủy ấy đã thể hiện rất rõ trong Chiếu dời đô khi Lý Công Uẩn nêu rõ những ưu thế về phong thủy của đất Đại La: “Huống chi đô cũ của Cao Vương ở thành Đại La, ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện hình thế núi sông sau trước”. Vào thế kỷ thứ XI, văn hoá tâm linh có màu sắc vật linh và tam giáo đã thấm đẫm trong xã hội Việt Nam, với tư cách một Hoàng đế - Thiền sư, Lý Công Uẩn phải tắm mình trong văn hóa của thời đại để tư duy về đại sự. Mặc dù ngày nay trong dân gian vẫn lưu giữ hình ảnh Cao Biền như một thầy phù thuỷ có những hành vi trấn yểm để triệt tiêu nhân tài và nguyên khí của Việt Nam, nhưng trong Chiếu dời đô ta thấy Lý Công Uẩn nhắc đến Cao Biền bằng một thái độ trân trọng, gọi là Cao Vương, và coi sự lựa chọn Đại La của Cao Biền như một tham chiếu về phong thuỷ tâm linh quan trọng. TS Nguyễn Quốc Tuấn trong bài viết “Quy hoạch Tâm linh - tôn giáo của kinh thành Thăng Long” đăng trên tạp chí Nghiên cứu tôn giáo năm 2007 đã phê phán thái độ phi lịch sử của hậu thế hôm nay khi những người nghiên cứu bình luận về Chiếu dời đô hầu như lờ đi không đả động đến thái độ trân trọng của Lý Công Uẩn với Cao Biền. Theo ông, thái độ trân trọng đó là biểu hiện của việc coi trọng phương diện tâm linh - tôn giáo hơn phương diện chính trị thuần túy: “Với bản thủ chiếu, Lý Thái Tổ đã cho ta một khuôn mẫu định đô với tư cách kế thừa sự lựa chọn của Cao Biền. Nhìn vào sự lựa chọn này, ta có thể gọi vùng đất quanh sông Tô, núi Nùng là "minh đường" tuyệt hảo của đất nước Đại Việt. Những khảo sát lịch sử và địa lí cho thấy thế minh đường của núi Nùng, sông Tô (và những núi, sông khác có tại đây) là rõ ràng, và vì thế, địa điểm này đã được chọn, chỉ khác nhau ở mục đích lựa chọn giữa Cao Biền và Lý Thái Tổ. Lý Thái Tổ chọn để chấn hưng quốc gia, phát triển quốc gia". TS Nguyễn Quốc Tuấn cũng cho rằng qua các cung điện, chùa, quán trong khu vực Long Thành nằm trong Kinh thành có thể thấy mặt siêu việt của Kinh thành Thăng Long tức là phương diện Tâm linh - Tôn giáo (Spiritualiste - Religieux) đã có vai trò quan trọng trong kiến tạo mặt bằng tổng thể của Thăng Long. Như vậy có thể nói, một trong những động cơ thôi thúc Lý Công Uẩn dời đô là động cơ tâm linh, mong tìm kiếm một kinh đô đắc địa theo tiêu chuẩn phong thủy lúc bấy giờ. Nói cách khác, Thăng Long đã ra đời và phát triển như một thủ đô xây dựng trên nền móng tâm linh, hướng tới sự phát triển bền vững cho muôn đời sau. Một dự án kế thừa và tích hợp tâm linh Trong bạt ngàn các ý kiến bàn về dự án mở rộng Hà Nội, chỉ có một ý kiến cho rằng dự án cần quan tâm tới yếu tố phong thủy để đảm bảo hạnh phúc của toàn dân vì Thủ đô là của chung cả nước. Có thể nói, với đề xuất mở rộng Thủ đô ôm trùm cả địa giới tự nhiên tỉnh Hà Tây và một số xã, huyện thuộc các tỉnh Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Dự án mở rộng Thủ đô đã đáp ứng được cả hai yêu cầu: vừa phát triển, vừa tích hợp tâm linh vì Hà Nội mở rộng vẫn sẽ nằm trọn trong thế đất rồng cuộn hổ ngồi mà Lý Công Uẩn đã chọn. Nhìn bằng nhãn quan phong thủy, Đại La có địa thế tốt vì đã đạt được một bối cảnh hài hòa và hoành tráng giữa các kiến trúc tọa lạc trên đó với sông núi vây quanh (núi Nùng, sông Tô) và núi chủ trong khu vực (chủ sơn). Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, chủ sơn của Thăng Long - Hà Nội là Tản Viên làm hậu chẩm và sông Cái bao la làm lưu thủy, Tam Đảo làm tiền án. Theo định nghĩa của môn phong thủy, Long mạch khởi nguồn từ những ngọn núi cao (gọi là Tổ sơn) và còn xuất phát từ những khu vực khác (gọi là Thiếu sơn). Theo các nhà nghiên cứu về tư tưởng địa linh, có thể thấy được có một Long mạch rất lớn bắt nguồn từ núi Tản Viên và các rặng núi phía Tây, Tây Bắc của Thành Đại La kéo dài qua thành Đại La theo dọc sông Tô Lịch (khí thường đi theo nước), chạy qua khu vực Hồ Tây bây giờ (Hồ Tây trước kia là một khúc của dòng sông Hồng), sau đó sang tới tận địa phận Cổ Loa - Đông Anh và đi tiếp tới dãy Yên Tử rồi tới tận Quảng Ninh. Không phải ngẫu nhiên mà truyền thuyết kể rằng Cao Biền đã thực hiện trấn yểm ở núi Tản Viên và sông Tô Lịch nhằm ngăn Long mạch. Núi Ba Vì được coi là núi thiêng của cả nước từ bao đời nay, gắn liền với truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ và truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh. Văn hóa tâm linh của Thăng Long xưa liên quan tới tư tưởng địa linh còn để lại dấu vết ở các đình đền thờ thần Tản Viên và hai anh em Cao Sơn trong các phố cổ Hà Nội như đình Đồng Lạc ở 38 Hàng Đào, đình Đại Lợi ở số 50 Gia Ngư, đình Trang Lâu số 77 Nguyễn Hữu Huân, đình Đông Hà số 46 Hàng Gai... Việc Thánh Tản viên - một trong Tứ bất tử của Việt Nam - và thần Cao Sơn, con Lạc Long Quân và Âu Cơ là nhân vật truyền thuyết lâu đời, một bộ tướng thân cận của Sơn Tinh được thờ cúng có hệ thống trong các phố cổ Hà Nội là minh chứng cho mối quan hệ tâm linh giữa núi Tản Viên và đất Thăng Long. Thăng Long - Hà Nội không chỉ là mảnh đất thiêng theo tinh thần tư tưởng địa linh, mà còn là kinh đô ngàn năm văn hiến với một bề dày trầm tích văn hóa tâm linh không mấy Thủ đô trên thế giới sánh kịp. Trải qua một ngàn năm lịch sử với sự thay thế luân phiên của bao nhiêu quan niệm triết học và xã hội khác nhau, đất Thăng Long - Hà Nội vẫn giữ được một mẫu số chung thiêng liêng của một vùng đất Thánh, đất Phật với sự nảy sinh và trường tồn của bao nhiêu huyền tích, sự tích và giai thoại đậm màu sắc tâm linh - tôn giáo như huyền tích, sự tích, giai thoại, Phật thoại về Hồ Tây, Hồ Gươm, đền Quan Thánh, đền Đồng Cổ, đền Voi Phục, chùa Một Cột, v.v... Vì thế, bảo tồn Hà Nội rút gọn lại là bảo tồn cái nền móng tâm linh mà người xưa để lại, phát triển trên cái nền móng ấy, tích hợp các yếu tố tâm linh phù hợp để củng cố cái nền móng đã làm nên cái thiêng liêng ngàn đời của đất Thủ đô. Việc mở rộng Hà Nội sang toàn bộ địa giới tự nhiên của tỉnh Hà Tây cũng đồng thời là sự tích hợp các yếu tố văn hóa tâm linh của xứ Đoài vào văn hóa Thăng Long, vì Hà Nội và Hà Tây cùng nằm trên một vùng đất địa linh theo quan niệm phong thủy, cùng có lịch sử phát triển trên nền móng tâm linh là văn hóa Phật giáo, cùng tổ chức không gian xã hội theo hệ thống làng nghề. Như vậy, Hà Nội mở rộng không chỉ có thêm những lô đất đắt giá của Hà Tây sẽ được bán theo giá đất Hà Nội như những cách nhìn bất cập về văn hóa tâm linh đã nhấn mạnh, mà còn có thêm một hệ thống chùa chiền nổi tiếng như chùa Thầy, chùa Hương, chùa Tây Phương... cùng hệ văn hóa với các chùa chiền Hà Nội sẽ được đưa vào hệ thống du lịch văn hóa và sinh hoạt tín ngưỡng của Thủ đô. Học giả Lê Mạnh Thát đã cho rằng, Phật giáo là một vũ khí tư tưởng chống lại một cách thành công mọi âm mưu đồng hóa của thời kỳ Bắc thuộc, hơn thế nữa, chính Phật giáo, với tư tưởng bình đẳng tuyệt đối của nó, đã đem lại cho dân tộc ta một sức mạnh tri thức và tinh thần lớn lao để đứng lên đòi lại nền độc lập từ tay ngoại bang. Việc tích hợp hệ thống văn hóa Phật giáo của Hà Tây vào Hà Nội là một động thái củng cố nền móng tâm linh văn hóa cho dân tộc. Bên cạnh đó, hệ thống làng nghề nổi tiếng của Hà Tây cũng sẽ được tích hợp vào hệ thống các phố nghề của Hà Nội một cách hài hòa. Những sự tích hợp tâm linh - văn hóa kết hợp được cả bảo tồn và phát triển này sẽ phải được phản ánh trong quy hoạch Thủ đô mở rộng một cách cụ thể và khoa học ở tầm chiến lược. theo http://cand.com.vn/van-hoa/Mot-Thu-do-tich-hop-tam-linh-126209/ ================================================================ Bài này viết cũ, ủng hộ cho chủ trương sát nhập Thủ Đô đây mà
  5. Coi số mệnh sướng khổ qua giờ sinh theo mùa Giờ sinh theo mùa cũng là một trong những yếu tố mang tính quyết định tới vận mệnh con người. Dưới đây là cách xem giờ sinh theo mùa tương ứng với từng bộ vị trên cơ thể hoàng đế. Mỗi bộ vị mang ý nghĩa và sự tượng trưng khác biệt để chỉ ra số mệnh giàu nghèo của mỗi người. Dưới đây là cách xem giờ sinh theo mùa tương ứng với từng bộ vị trên cơ thể hoàng đế. Mỗi bộ vị mang ý nghĩa và sự tượng trưng khác biệt để chỉ ra số mệnh giàu nghèo của mỗi người. Sp in 1... Ad finishes in 21 seconds 1. Đầu hoàng đế Người sinh vào giờ mà tương ứng bộ phận đầu hoàng đế trên cơ thể, số mệnh sung sướng, tài lộc dồi dào, đời sống vật chất vô cùng phong phú, của ăn của để đầy nhà, tuổi trẻ phấn đấu bao nhiêu thì về già được hưởng phúc lộc bấy nhiêu. Tuy nhiên, những người sinh giờ này hay có tâm lý ỷ lại, chí tiến thủ không nhiều. Nếu không tự lực hoàn thiện bản thân, phấn đấu hết mình thì bản thân người này khó mà thành công chốn quan trường. 2. Tay hoàng đế Sở hữu giờ sinh tương ứng với đôi tay hoàng đế, bạn thuộc tuýp có thực lực mạnh mẽ, tính tình quyết đoán, trí tuệ minh mẫn, xử lý nhanh nhạy mọi tình huống trong cuộc sống. Nam giới sinh giờ này làm kinh tế là đúng mệnh trời cho, tài chính sẽ dồi dào, mạnh mẽ, tay không làm nên nghiệp lớn được. Nữ giới sinh giờ này rất khéo léo, đảm đang, thích hợp làm những công việc liên quan đến giao dịch tiền bạc như thủ quỹ, kế toán, thủ kho, tài vụ… Đa phần đều thành công sau tuổi 30. Tóm lại, bất luận là nam hay nữ, sinh vào giờ này đều đảm đương trách nhiệm lớn lao, là trụ cột chính của gia đình. Tiền vận ở mức trung bình, không mấy nổi trội, nhưng nhờ quý nhân khai vận, bản thân cố gắng nên quá 40 tuổi, công danh mới đạt độ viên mãn. 3. Vai hoàng đế Người sinh vào giờ tương ứng bộ vị là vai hoàng đế có số khổ trước sướng sau, lận đận truân chuyên hơn người, bôn ba khắp nơi để cầu tài. Nhưng từ sau 40 tuổi, bản thân biết nắm bắt cơ hội tốt, phát huy tài năng tiềm ẩn, vận khí lên như diều gặp gió, tài lộc hanh thông đủ đường. Hơn thế, người này biết cách duy trì các mối quan hệ xã giao hữu hảo, khi cần sẽ có quý nhân giúp đỡ nhiệt tình, lại công thêm khả năng ngoại giao trời phú nên có thể “một tấc đến trời” nếu làm ăn thật tâm. 4. Đầu gối hoàng đế Nằm trong trường hợp này, chủ nhân có số mệnh vất vả, lận đận cả đời, làm việc tuy cật lực nhưng khó đạt thành công như ý. Vận may tiền bạc của người này cực ít, thậm chí luôn phải gánh chịu nợ đồng lần. Nhưng nhờ có tài năng xuất chúng nên chỉ cần cố gắng phấn đấu miệt mài, họ sẽ có được của ăn của để, có được chút chức tước trên quan trường. Kiểu người này có nghị lực phi phàm, kiên trì bền bỉ. Họ sống và làm việc không biết mệt mỏi, nên cuối cùng cũng được đền đáp xứng đáng. 5. Chân hoàng đế Người sinh vào giờ này có số được hưởng lộc trời. Tuy số người này không được nhờ cậy cha mẹ, anh em, nhưng bản thân họ luôn cố gắng để chinh phục được mọi mục tiêu đề ra trong cuộc sống. Chính vì thế, cả đời thành hay bại, sướng hay khổ, đều do chính tay họ tự quyết. Càng mạnh mẽ, độc lập bao nhiêu, họ càng dễ dàng thành công bấy nhiêu. Người này có số ly hương, đi xa mới lập nghiệp thành công. 6. Eo hoàng đế Đa phần những người sinh vào giờ này số mệnh sung sướng, phú quý. Nhưng có lẽ vì được quá nuông chiều, ưu ái từ bé nên dễ sinh hư, phải khép léo uốn nắn, giáo dục suốt thời niên thiếu mới có thể nên người. Nếu chịu khó học hành, tu dưỡng bản thân, qua tuổi trung niên, họ sẽ làm nên chuyện lớn, có sản nghiệp của riêng mình, không phụ lòng mong đợi của mẹ cha. 7. Bụng hoàng đế Thuộc tuýp người này ắt hẳn bạn rất sành sỏi trong ẩm thực và sinh ra để làm nghiệp lớn. Chỉ cần một chút khéo léo thông minh hơn người, bạn sẽ dễ dàng gây dựng được tất cả, vinh hoa phú quý một đời. Bản thân người này không quá coi trọng vật chất, vì thế cuộc sống khá an nhàn, thư thái, không chịu quá nhiều áp lực. Dẫu vậy, làm gì cũng phải chân thành, đặt chữ tín lên hàng đầu thì tài lộc và thành công mới lâu dài. theo http://kienthuc.net.vn/kho-tri-thuc/coi-so-menh-suong-kho-qua-gio-sinh-theo-mua-711728.html =============================================================== Mời anh em xem giải trí nè
  6. Sư huynh xem lại năm sinh của cụ Tuệ Tĩnh
  7. Phong thủy trong nhà không được xa ngũ hành, bát quái Tiền bạc không phải là tất cả nhưng không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày. Áp dụng phong thủy trong nhà ảnh hưởng đến khí trường để gia tăng các cơ hội hút tài lộc. theo http://eva.vn/nha-dep/phong-thuy-trong-nha-khong-duoc-xa-ngu-hanh-bat-quai-c169a269171.html ======================================================= Ui cha, cứ theo báo đăng thì cần gì "chiên gia phong thủy" :D
  8. Nguồn gốc của thước Lỗ Ban và cách sử dụng phù hợp (ĐTCK) Từ xưa đến nay, mỗi khi xây dựng công trình hay làm nhà, người ta thường hay nhắc đến thước Lỗ Ban. Vậy, thước Lỗ Ban là gì? Lỗ Ban, tên thật là Công Thâu Ban, người nước Lỗ (nay là tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc), sống ở thời Xuân Thu (770-476 trước Công nguyên). Ông là một thợ mộc tài ba, hay đúng hơn là một bậc thầy kiến trúc của Trung Hoa cổ đại. Thợ mộc, thợ xây, thợ nề, hay những người chế tạo công cụ xây dựng và nội thất, tất cả đều suy tôn Lỗ Ban làm ông tổ nghề của mình. Các sách cổ đều chép rằng, Lỗ Ban từng chế tạo ra một con chim gỗ. Chế tạo xong, con chim gỗ bay lên cao trong suốt ba ngày. Có sách viết rằng, chim gỗ đã chở một người lên không trung để do thám quân địch. Thiết kế này chính là tiền thân cho máy bay trinh thám ngày nay. Ông còn tạo ra thang phá thành và những vũ khí sử dụng trong chiến tranh. Nhưng sau này, Lỗ Ban được Mặc Tử thuyết phục, từ đó về sau không chế tạo những công cụ phục vụ chiến tranh nữa. Ông chuyển sang chế tạo rất nhiều công cụ lao động và sản xuất, như móc khoan, máy xay đá, xẻng, dụng cụ đo góc, thước đo… Những phát minh của Lỗ Ban đã ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi người và vẫn còn được sử dụng cho đến tận ngày nay. Thước Lỗ Ban là một trong những phát minh đó. Đây là một cây thước được đúc kết từ kinh nghiệm từ ngàn đời nay, để con người được sống an toàn và thoải mái. Chính một phần nhờ Lỗ Ban và cây thước của ông, mà nhiều triều đại sau đó, các thành phố, nhà cửa, cửa chính, cửa sổ của người dân đều “đúng trật tự”. Tương truyền, Lỗ Ban và Văn Công đều là những thợ thủ công tài ba, nhưng tài năng của Lỗ Ban vẫn luôn cao hơn một bậc, khiến Văn Công vô cùng ghen tị. Một lần, hai người phụng mệnh mỗi người phải xây dựng một tòa cung điện. Nhân lúc không ai chú ý, Văn Công bèn lén cưa ngắn cây thước đo độ dài của Lỗ Ban, khiến cây thước từ một thước rưỡi ngắn lại thành một thước bốn tấc một phân. Các đệ tử của Lỗ Ban dùng thước này đo vật liệu gỗ, đến khi cắt gỗ xong xuôi mới phát hiện ra độ dài bị sai. Thời gian quá gấp, vật liệu không đủ, cái khó ló cái khôn, Lỗ Ban bèn dùng đá bù vào phần gỗ bị thiếu, kết quả tòa cung điện lại càng kiên cố hơn, đẹp hơn. Nhà vua hết sức hài lòng, hỏi Lỗ Ban vì sao lại có ý tưởng kỳ diệu như thế. Lỗ Ban cười đáp, đó là nhờ cây thước mà Văn Công đưa cho đấy thôi! Từ đó về sau, Văn Công tâm phục khẩu phục. Cây thước này từ đó truyền lại cho đến tận này nay. Thời cổ đại, phong thủy và kiến trúc gần như luôn luôn song hành với nhau. Phong thủy học rất coi trọng cây thước Lỗ Ban, thêm vào tám chữ (lần lượt là “Tài”, “Bệnh”, “Ly”, “Nghĩa”, “Quan”, “ Kiếp”, “Hại”, “Bản”) cho cây thước để đo cát hung. Mỗi khi xây nhà, làm cửa, chế tạo đồ gia dụng, nội thất, mỗi độ dày, bề rộng, chiều dài, người ta đều dùng thước này để đo sao cho hợp với vạch đỏ (cung tốt), tránh trùng vạch đen (cung xấu), để cầu bình an, cát tường. Sách “Dương trạch thập thư” viết: “Khắp nơi truyền dạy nhiều loại thước đo, thử nghiệm nhiều lần, duy chỉ thấy thước này (chỉ thước Lỗ Ban) là thật. Dài ngắn hài hòa, cát hung không chênh… Thước này không chỉ dùng để đo cửa nẻo, mà đo đồ đạc nội thất, giường tủ, nhà cửa đều được”. Trong tám chữ trên thước Lỗ Ban, bốn chữ “Tài”, “Nghĩa”, “Quan”, “Cát” là cung tốt, bốn chữ còn lại là cung xấu. Nhưng trên thực tế ứng dụng, cả tám chữ trên thước đều có chỗ thích hợp để dùng. Ví dụ, chữ “Nghĩa” có thể áp dụng với cửa chính, chứ không hợp áp dụng với cửa phụ hoặc cửa hành lang. Chữ “Quan” có thể áp dụng với cửa nha môn quan phủ, dân thường bách tính không nên áp dụng chữ này. Chữ “Bệnh” không nên áp dụng với cửa chính, nhưng có thể áp dụng trên cửa nhà vệ sinh, như thế có thể “gặp dữ hóa lành”. Sách “Lỗ Ban kinh” cho rằng, nhà dân bình thường nên áp dụng cửa “Tài” và “Cát” là tốt nhất. Thời cổ, thước Lỗ Ban không chỉ phổ biến dùng trong dân gian, mà còn là tiêu chuẩn xây dựng kiến trúc cho hoàng gia nữa. Sách “Các quy tắc xây dựng công trình của Công bộ” thời Thanh đã liệt kê ra đến 124 loại cửa đã áp dụng đo đạc bằng thước Lỗ Ban. Về tính khoa học của thước Lỗ Ban, hiện nay có rất nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng tựu chung, cũng như bao linh vật phong thủy khác, hay chính bản thân phong thủy, thước Lỗ Ban cũng được phủ lên mình một lớp màn sương huyền bí. Chỉ bằng một cây thước làm sao có thể thay đổi được vận mạng của mình? Nhưng ít ra, nó sẽ giúp kích cỡ cửa nẻo, nhà cửa được trật tự, thống nhất, con người sống trong đó được yên tâm, thoải mái, lạc quan và giữ vững niềm tin vào cuộc sống. theo http://tinnhanhchungkhoan.vn/phongthuy-kientruc/nguon-goc-cua-thuoc-lo-ban-va-cach-su-dung-phu-hop-152910.html ==========================================
  9. Cách xác định hướng của căn hộ chung cư (Xây dựng) - Không ít người mua nhà chưng cư hiện nay là không biết xác định hướng chính trong căn hộ là hướng cửa ra vào hay hướng ban công cho hợp phong thủy. Bởi xác định sai thì mọi tính toán, thiết kế theo phong thủy đều không chính xác. Vì vậy, việc xác định hướng cho căn hộ rất quan trọng. Khi xác định hướng của một căn hộ chung cư, bạn cần ưu tiên lấy phía ban công gần phòng khách làm hướng - Ảnh minh họa. Có thể hiểu nôm na sinh khí chính là địa khí có sức sống và có thiên khí thông thoáng. Đón sinh khí cũng có nghĩa là tìm kiếm hoặc lợi dụng địa khí có sinh cư để tạo nên luồng không khí tốt cho ngôi nhà. Nhiều người cho rằng cửa chính là nơi ra vào thì đương nhiên sẽ là hướng cho căn hộ chung cư. Nhưng trên thực tế cửa chung cư thường bị bít khí, trong khi mặt phòng khách có ban công mới chính là nơi đón được nhiều thiên khí, địa khí và cũng là hướng tốt nhất cho căn hộ. Việc xác định hướng cho một căn hộ hay ngôi nhà là rất quan trọng, bởi vì xác định sai thì mọi tính toán và thiết kế theo phong thủy đều không chính xác hoặc cho kết quả kém hơn. Theo một số người, hướng cửa chính mới là yếu tố xác định hướng bởi ngôi nhà chỉ có thể ở, sinh hoạt khi có chính (cửa ra vào) và con người chỉ duy trì các hoạt động hằng ngày được khi đi qua cửa. Lập luận này cho rằng khí là quan hệ tương tác giữa con người với ngôi nhà. Song, đây là một đánh giá khá chủ quan và chỉ nhìn nhận được một phần của khí, có nghĩa phần gió hay không khí mà con người có thể cảm nhận được. Trong khi đó, một điều quan trọng hơn là thiên khí và địa khí vốn khó có thể cảm nhận bằng trực giác được và ít chịu tác động theo suy nghĩ chủ quan của con người, nhưng nếu dựa vào khoa học phong thủy và máy móc thì vẫn có thể đo đạc được. Thực tiễn đã chứng minh nơi đón khí tốt nhất cho căn hộ chung cư chính là nơi đón được nhiều ánh sáng nhất. Đó chính là khu vực mặt phòng khách nơi nằm kề với ban công. Theo đo đạc bằng máy đo địa từ trường hoặc máy cảm ứng, hầu hết các trường hợp đều cho thấy phần ban công bao giờ cũng có trường khí cao hơn. Vì vậy, khi xác định hướng của một căn hộ chung cư, bạn cần ưu tiên lấy phía ban công gần phòng khách làm hướng, còn phần đối diện của căn hộ là tọa. Không những thế, hầu hết cửa ra vào của các chung cư đều là hành lang kín, thế nên việc đón được khí là rất khó, ngay cả gió tự nhiên cũng khó chứ chưa nói đến thiên khí và địa khí. Ngoài ra, bạn nên lưu ý vì diện tích hạn hẹp, rất nhiều căn hộ chung cư mở cửa là nhìn ngay thấy bếp. Điều này theo phong thủy cũng bị hao tổn về tiền tài với quan niệm: "Khai môn kiến táo, tiền tài đa hao". Gặp những căn hộ như vậy, có thể dùng vách ngăn hay vật dụng trang trí nào đó hợp lý để che chắn tạo sự kín đáo. Đối với ban công cần tránh chọn những căn hộ mà cửa chính đối diện thẳng với cửa ban công vì nó sẽ làm cho năng lượng không đọng lại được trong nhà. Cửa ban công bảo đảm thông thoáng, đón được nhiều ánh sáng tự nhiên có như vậy mới tốt cho sức khỏe của cả gia đình theo http://www.baoxaydung.com.vn/news/vn/quy-hoach-kien-truc/kien-truc/cach-xac-dinh-huong-cua-can-ho-chung-cu.html =========================================================== Các Bác xây dựng xác định hướng cho dễ bán nhà đây mà
  10. TQ công bố bản đồ 251 đoạn, tuyên bố chủ quyền cả Hawaii Đăng lúc 22:55:32 (03/05/2016) - Cập nhật lúc 23:13:02 (03/05/2016) - Xem 7812 lần Trung Quốc ngang nhiên công bố bản đồ thế giới mới, trong đó tuyên bố chủ quyền ở khu vực Thái Bình Dương, bao gồm Hawaii và vùng Micronesia. Xinhua đưa tin Bộ Giáo dục Trung Quốc yêu cầu các văn phòng chính phủ và cơ sở giáo dục sử dụng bản đồ thế giới mới, với ngụ ý rằng các đảo nói trên là một phần của Trung Quốc. Ông Manny Mori, tổng thống Liên bang Micronesia gọi động thái trên của Trung Quốc là "lố bịch" và cáo buộc Bắc Kinh đang chiếm đoạt thuật vẽ bản đồ. Tấm bản đồ Trung Quốc mới công bố với những tuyên bố chủ quyền mới. Ảnh: Bộ Giáo dục Trung Quốc Tuy nhiên theo Elite Readers, Bộ Giáo dục Trung Quốc ngang ngược bảo vệ động thái này và gọi tấm bản đồ 251 đoạn được ghi nhận theo các tài liệu từ thời nhà Thanh. Các tài liệu đó chứng minh rằng quần đảo Bắc Mariana, MarshalI và Caroline ở vùng Micronesia đều thuộc Trung Quốc. "Nghiên cứu các yếu tố cấu thành lãnh thổ Trung Quốc sẽ tiếp tục", một quan chức của bộ ngang ngược nói. Bộ này còn nói rằng dường như có bằng chứng cho thấy triều nhà Minh từng kiểm soát khu vực Nam Cực và tuyên bố sẽ sớm bắt tay vào việc thiết lập một bản đồ mới. Thông tin trên được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Bắc Kinh hiện tuyên bố sở hữu 80% diện tích Biển Đông, tuyến hàng hải huyết mạch bậc nhất thế giới, bất chấp sự phản đối của các nước trong và ngoài khu vực. Trung Quốc cũng tiến hành bồi lấp 7 đá và rạn san hô thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và xây dựng trên đó các cơ sở quân sự nhằm hiện thực hóa yêu sách lãnh thổ trên Biển Đông theo newzing.vn ================================================ Sự ngang ngược của trung quốc ngày càng gia tăng
  11. Sự 'hèn nhát' vĩ đại Trong các bộ chính sử nước ta, có không ít những ghi chép gây tranh cãi, nhưng tốn nhiều giấy mực tranh cãi nhất có lẽ là những ghi chép về nhà Mạc. Đại Việt sử ký toàn thư phần liên quan đến nhà Mạc, do các sử gia Lê – Trịnh viết, đã không đưa nhà Mạc thành một Kỷ riêng mà chỉ ghép làm một phần phụ của nhà Lê trung hưng, coi nhà Mạc là “ngụy” tiếm quyền. Các sách khác như Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú… khi đề cập đến nhà Mạc cũng dùng những lời lẽ không mấy tốt đẹp. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ, có thể thấy ĐVSKTT và các bộ sử nói trên vẫn ghi nhận tương đối khách quan một số việc làm của nhà Mạc đối với đất nước. Riêng cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim thì chê bai nhà Mạc cực kỳ thậm tệ và lược bỏ hết những việc làm tích cực của nhà Mạc, trừ bản di chúc của Mạc Ngọc Liễn mà chúng tôi sẽ đề cập ở phần dưới. Ông Trần Trọng Kim viết về Mạc Đăng Dung : “Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn-ở của loài người, là không có nhân-phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giang-sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh-vực mặc lòng, một cái cơ-nghiệp dựng lên bởi sự gian-ác hèn-hạ như thế, thì không bao giờ bền-chặt được”. Việt Nam sử lược là cuốn sử đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ. Trước đó, tất cả các bộ sử đều được viết bằng chữ Hán (cũng có cuốn viết bằng chữ Nôm như Đại Nam quốc sử diễn ca, nhưng cuốn này chỉ nêu sự kiện và nhân vật, không có nhiều chi tiết). Số đông người Việt chúng ta trong thế kỷ 20 đều biết lịch sử dân tộc từ cuốn sử bằng chữ quốc ngữ này. Một thời gian dài cuốn sách được dùng làm sách giáo khoa hoặc dựa vào đó để viết sách giáo khoa lịch sử. Khoảng vài chục năm gần đây, một số nhà sử học đã thu thập tài liệu trong và ngoài nước và đánh giá lại nhà Mạc, thẳng thắn và có sức thuyết phục nhất là ý kiến của giáo sư Trần Quốc Vượng. Tuy vậy, những đánh giá khách quan này chỉ được công bố tại các cuộc hội thảo và đăng lẻ tẻ trên các phương tiện truyền thông, không đủ lấn át sự ảnh hưởng rộng lớn và sâu đậm của Việt Nam sử lược. Đến nỗi, gần đây chính quyền thành phố Hà Nội đã lấy hai vị vua Mạc đặt tên cho hai con đường của Thủ đô, nhưng trước khi quyết định vẫn vấp phải sự phản đối của một “nhà sử học” có tên tuổi đối với trường hợp Mạc Đăng Dung. Tôi bắt đầu nghĩ khác về nhà Mạc khi thầy dạy sử của tôi ở Trường Đại học tổng hợp Huế nói vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước : “Thời nhà Mạc, nước ta đã bỏ ngăn sông cấm chợ”. Tôi nhớ mãi câu nói này, vì trước đó tôi học trường Sĩ quan chính trị ở Bắc Ninh, anh bạn cùng lớp mỗi khi đi phép bao giờ cũng tranh thủ mang một ba lô khoai tây từ Hà Nội về Đà Nẵng bán kiếm được một khoản chênh lệch kha khá. Cả nước lúc đó ngăn sông cấm chợ, đến nỗi chúng tôi không dám nhắc tới việc bạn mình đã “buôn lậu” mấy ki-lô khoai tây, còn Bí thư Thành ủy TP.HCM Võ Văn Kiệt lúc bấy giờ phải bật đèn xanh xé rào cho bà Ba Thi “buôn lậu” đưa lúa gạo về thành phố bán cho dân để cứu đói với lời bảo đảm “Nếu chị đi tù, tôi sẽ đưa cơm”. Sau này khi nghĩ đến công cuộc đổi mới, tôi lại nghĩ đến nhà Mạc. Gần 500 năm trước, cha con ông Mạc Đăng Dung đã thực hiện những chính sách kinh tế mà ngày nay chúng ta phải thử nghiệm, phải xé rào, phải vượt qua biết bao gian truân mướt mồ hôi sôi nước mắt mới làm được, đó là các chính sách của công cuộc đổi mới. Không chỉ xóa ngăn sông cấm chợ, các vua Mạc còn khuyến khích phát triển chợ búa, khuyến khích giao thương với nước ngoài. Nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trở thành sản xuất hàng hóa, các sản phẩm hàng hóa này được giao thương với hàng chục nước trên thế giới (có tài liệu ghi 28 nước). Dù coi nhà Mạc là “ngụy”, nhưng ĐVSKTT vẫn phải chép : “Họ Mạc ra lệnh cấm người các xứ trong ngoài cầm giáo mác và dao nhọn. Ai vi phạm thì cho phép ty bắt giữ. Từ đấy, người buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ cần mỗi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc nhà mình. Trong khoảng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không phải đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên”. Giáo sư Trần Quốc Vượng nhận xét : ““Sau khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung đã chấm dứt thời kỳ “ức thương”, mở rộng giao thương với nước ngoài. Ông đề cao hoạt động thương mại, và thực sự đã có nhiều chính sách mới mẻ. Minh chứng cụ thể là đồ gốm sứ trở thành mặt hàng được nhiều nước mua. Hiện nay, đồ gốm sừ thời Mạc có mặt ở bảo tàng nhiều nước: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc,…và con tàu đắm ở Cù lao Chàm mới được tìm thấy có rất nhiều đồ gốm sứ thời này. Điều đáng nói là các sản phẩm gốm sứ thời Mạc đều có khắc tên người làm, địa chỉ xưởng sản xuất và nơi cung tiến. Tôi cho rằng, nếu nhà Mạc tiếp tục tồn tại và phát triển, Việt Nam có thể đã có một cuộc cải cách giống như thời Minh Trị của Nhật Bản, nhưng từ rất sớm” (Trích bài trả lời phỏng vấn báo SGGP, 6-11-2004) Việc Mạc Đăng Dung “cướp ngôi” nhà Lê đã mục nát khi ấy là hợp quy luật, ngày nay không có gì phải tranh cãi, nhưng sự kiện gây tranh cãi nhiều nhất là việc ông quỳ gối đầu hàng nhà Minh. ĐVSKTT chép : “Mùa đông, tháng 11 (năm 1540), Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi (…) qua trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu. Lại xin ban chính sóc, cho ấn chương, để kính cẩn coi giữ việc nước…”. Sở dĩ có việc “đầu hàng” này là do trước đó đám quân thần nhà Lê vừa “trung hung” sang tố cáo và rước quân Minh về. Lợi dụng “lời mời” này, nhà Minh đã cử Cừu Loan và Mao Bá Ôn đem đại quân sang “hỏi tội”. Đất nước đối mặt với họa xâm lăng từ phương Bắc. Khác với bối cảnh cuộc kháng chiến chống Tống thời Lê Hoàn và cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông thời Trần, Mạc Đăng Dung không đủ sức vừa đối phó với nội chiến bên trong vừa chống xâm lược bên ngoài. Ông buộc phải chọn cách chịu nhục để giữ nước. Nếu đánh thì chắc chắn ông không thắng được giặc, ông có thể tuẫn tiết như một anh hùng nhưng dân tộc phải bị dày xéo dưới ách quân xâm lược. Còn việc ông “dâng đất” cho giặc thì sao ? Những khảo cứu sau này cho thấy, những cái động ông dâng cho nhà Minh là “dâng khống”, biên giới lúc ấy không rõ ràng, các tù trưởng khi thì theo bên này khi thì theo bên kia và trong thực tế những vùng này không do ta quản. Đầu hàng giả, dâng đất khống, chịu nhục với sử sách để bảo vệ độc lập thật cho đất nước, Mạc Đăng Dung là hèn nhát hay vĩ đại ? Câu trả lời còn tùy vào những cách nhìn, tùy vào cách đọc lịch sử. Đối với tôi, nếu gọi ông là “hèn nhát” thì sự “hèn nhát” đó cũng thật là vĩ đại. Cuối cùng, sau khi nhà Mạc bị quan quân Lê-Trịnh truy cùng giết tận, con cháu họ Mạc nhiều người phải đổi họ để sinh tồn, một số phải lánh nạn sang Trung Quốc, nhưng trước sau nhà Mạc không nhờ vả ngoại bang, càng không rước ngoại bang về dày xéo quê hương. Sự nhất quán đó thể hiện ở lời di chúc của Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn dặn vua Mạc Kính Cung trước khi lâm chung : “Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời. Dân ta là dân vô tội mà để phải mắc nạn binh đao, sao lại nỡ thế ! Bọn ta nên tránh ra ở nước khác, chứa nuôi uy sức, chịu khuất đợi thời, xem khi nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được. Rất không nên lấy sức chọi sức, hai con hổ tranh nhau tất có một con bị thương, không được việc gì. Nếu thấy quân họ đến thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, nên cẩn thận mà giữ là hơn. Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng” (ĐVSKTT). Có lần gặp thiền sư Lê Mạnh Thát, tôi hỏi ông đánh giá như thế nào về nhà Mạc, ông bảo hãy nhìn ông Nguyễn Bình Khiêm, dù học rộng tài cao nhưng dứt khoát không chịu đi thi dưới triều Lê bấy giờ đã ruỗng nát, ông chỉ đi thi khi nhà Mạc lên thay, lúc đã hơn 40 tuổi và làm quan cho nhà Mạc. “Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là hình ảnh của nhà Mạc”, thầy Lê Mạnh Thát nói. theo http://motthegioi.vn/giao-duc-c-69/ban-tron-lich-su-c-111/ky-2-su-hen-nhat-vi-dai-30110.html ================================================================== Tiếc cho vận khí nhà Mạc quá ngắn
  12. Giải thích ngắn gọn về Panama - vụ rò rỉ lớn nhất lịch sử đến trẻ con 5 tuổi cũng hiểu được Vừa qua, thành viên trang mạng Reddit đã trổ tài dùng một câu chuyện thú vị diễn giải toàn bộ vụ rò rỉ khổng lồ Panama sao cho bất cứ ai kể cả con nít cũng có thể hiểu được. Trong vụ rò rỉ Panama lớn chưa từng có trong lịch sử, 11,3 triệu tài liệu chứa đựng các thương vụ tuyệt mật liên quan đến những nhân vật tầm cỡ trong đó Tống thống Nga Putin, Thủ tướng Anh David Cameron cũng đều có tên trong danh sách liên quan. Với hơn 2,6 terabyte dữ liệu và 100 đối tác truyền thông là các tờ báo lớn, thời điểm này con người ta rất dễ lạc trong một biển thông tin hỗn độn. Dù nhiều bài báo đã đưa về các diễn biến chính của vụ rò rỉ, độc giả có lẽ vẫn cần một lời giải thích đơn giản để có cái nhìn bao quát về vụ việc. Những sự vụ thế này thực sự là món ăn hấp dẫn cho cư dân mạng, đặc biệt là chuyên mục “ExplainLikeImFive” (ELI5 - giải thích cho trẻ 5 tuổi cũng hiểu được) trên diễn đàn nổi tiếng Reddit. Trong mục này, các thành viên Reddit sẽ cùng nhau diễn giải các khái niệm, sự việc phức tạp một cách giản đơn, dễ hiểu sao cho cả người ngoại đạo hay trẻ con cũng có thể hình dung. Chỉ trong vòng vài tiếng sau khi thông tin về vụ việc được lan truyền, chủ đề cực hot này đã được bàn tán sôi nổi trên ELI5 cho tất cả những ai vẫn đang rối trí về những gì đã xảy ra. Đây cũng là một trong những chủ đề hấp dẫn nhất trên chuyên mục này của Reddit từ trước tới nay. Câu trả lời của thành viên mang tên DanGliesack có lẽ đã gói gọn vụ việc một cách ngắn gọn và thú vị nhất cho một đứa bé 5 tuổi. “Khi bạn kiếm được 1 đồng xu, bạn sẽ bỏ nó vào lợn tiết kiệm. Chú lợn này được đặt trên một ngăn trong tủ đồ của bạn. Mẹ bạn biết điều này nên suốt ngày kiểm tra chú lợn để biết khi nào bạn tiêu hay bỏ thêm tiền vào.” Theo DanGliesack, ở đây, “mẹ” chính là chính phủ, và chú lợn đất là hình ảnh đại diện cho tài khoản ngân hàng mà một công ty mở ở nước sở tại của họ. Và việc mở một công ty ma cũng giống như việc giấu một chú lợn tiết kiệm khác ở nhà cậu bạn Johnny của bạn, nơi mẹ bạn sẽ không bao giờ kiểm tra được hay phát hiện ra. Một số các chính trị gia có tên trong tài liệu bị rò rỉ Trong vụ việc này, nhiều nhân vật cao cấp bị phát hiện “giấu chú lợn” của họ trong nhà cậu bạn Johnny ở Panama. Hãy đọc nguyên văn lời giải thích của DanGliesack trên Reddit dưới đây: “Khi bạn được cho 1 đồng xu, bạn sẽ bỏ nó vào lợn tiết kiệm. Chú lợn này được đặt trên một ngăn trong tủ đồ của bạn. Mẹ bạn biết điều này nên suốt ngày kiểm tra chú lợn để biết khi nào bạn tiêu hay bỏ thêm tiền vào. Rồi một ngày bạn quyết định ‘Mình không muốn cho mẹ kiểm tra lợn tiết kiệm của mình nữa’. Cho nên bạn đã mua một chú lợn khác chạy sang nhà cậu bạn Johnny, nhờ cậu ấy giữ hộ. Bạn viết tên mình lên đó rồi gửi chú lợn vào tủ đồ của Johnny. Vậy là bạn đã có thể cất giữ khoản tiền của mình một cách an toàn và bí mật. Tiếp đó, tất cả trẻ con trong vùng đều cho đây là cách tuyệt hay để tránh bị cha mẹ quản lý, và rồi ai cũng đổ xô mang lợn đất sang nhà Johnny. Thế là tủ đồ của Johnny chẳng mấy chốc ngập trong lợn đất từ đám trẻ xung quanh. Một ngày, mẹ Johnny về nhà và nhìn thấy đống lợn đất được ký gửi. Bà đã rất tức giận và quyết định gọi tất cả bố mẹ của lũ trẻ đến để làm cho ra nhẽ. Tuy nhiên, không phải ai giấu tiền ở nhà Johnny cũng đều vì mục đích xấu. Anh trai của Eric luôn moi tiền lợn đất ra tiêu nên lúc nào cũng muốn có một chỗ giấu tiền tốt hơn. Nhưng Timmy thì muốn giấu mẹ tích một khoản tiền mua tặng mẹ món quà sinh nhật. Sammy lại giấu tiền ở đây vì thấy trò này khá thú vị. Jacob hay trộm tiền ăn trưa của mọi người và không muốn bố mẹ phát hiện. Michael cắp tiền của mẹ nên đương nhiên là cần tìm chỗ giấu. Bobby béo bự cũng giấu tiền ở đây vì bố mẹ bắt cậu ăn kiêng, không bao giờ cho cầm tiền mua đồ ngọt. Trong vụ việc này, nhiều nhân vật hàng khủng bị bắt quả tang đang giấu chú lợn đất của họ trong nhà Johnny ở Panama. Hôm nay, sự việc vỡ lở, và tất cả bố mẹ của họ đều được biết. Chúng ta sẽ sớm biết ai giấu vì mục đích xấu, ai không, nhưng nói cho cùng thì ai cũng sẽ gặp rắc rối vì nguyên việc giữ bí mật tài sản như vậy đã là chống lại luật pháp rồi." theo http://cafebiz.vn/giai-thich-ngan-gon-ve-panama-vu-ro-ri-lon-nhat-lich-su-den-tre-con-5-tuoi-cung-hieu-duoc-20160406120238578.chn ====================================================== Giải thích rất ngắn gọn, đến trẻ em 5 tưởi cũng hiểu Nhưng cuộc chơi thật sự thì có nhiều cái thú vị (cũng như xỏ lá) chưa xảy ra hết Chờ xem nhé
  13. Phù thủy phương Bắc bó tay trước âm mưu trấn yểm Đường Lâm Biết Đường Lâm là đất đế vương, trấn yểm Đường Lâm nhiều long mạch, Cao Biền đã dùng pháp thuật trấn yểm nhưng thất bại vì vương khí vượng, linh thần mạnh. Đường Lâm nức tiếng “đất hai Vua”, là nơi sinh ra hai vị anh hùng dân tộc: Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (761 – 802), người có sức khoẻ phi thường, vật được hổ dữ, có công đánh đuổi quân Đường; và Ngô Quyền (898 – 944), người chỉ huy trận chiến thắng lẫy lừng trên sông Bạch Đằng, đánh tan quân xâm lược Nam Hán, giành độc lập cho đất nước sau nghìn năm Bắc thuộc. Cổng làng Mông Phụ Ngôi làng nằm trên thế đất hình rồng Làng Đường Lâm cổ (nay là xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội) có tên nôm là Kẻ Mía. Tục danh này được bắt đầu từ một cái tên chữ: Cam Giá (Mía ngọt). Cam Giá xưa được chia thành hai tổng: Cam Giá Thượng và Cam Giá Hạ. Cam Giá Thượng là các xã thuộc miền Cam Thượng, Thanh Lũng, Bình Lũng…(nay thuộc về huyện Ba Vì). Còn Cam Giá Hạ là xã Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây). Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng nhận xét: Đường Lâm là một địa danh có vị thế đắc địa theo thế “Tọa sơn vọng thủy” tức lưng tựa vào núi Tản (núi Ba Vì) – Núi Tổ của Việt Nam, mặt ngoảnh ra sông Hồng – sông Cái, sông Mẹ. Đây cũng là một “tứ giác nước” được bao bọc bởi sông Đà, sông Tích, sông Đáy và sông Hồng. Về phong thủy, cuốn “Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự” viết: Sơn Tây có 36 huyệt chính và 85 huyệt bàng. Riêng đất Đường Lâm có huyệt đế vương. Xã Đường Lâm hiện gồm chín làng: Mông Phụ, Cam Lâm, Cam Thịnh, Đoài Giáp, Đông Sàng, Hà Tân, Hưng Thịnh, Phụ Khang và Văn Miếu. Trong đó, trọng tâm của làng cổ Đường Lâm được định vị là làng Mông Phụ. Nhìn một cách tổng thể, làng Mông Phụ nằm trên thế đất hình con rồng: Đầu rồng chính là nơi tọa lạc của đình Mông Phụ, hai mắt là hai giếng cạnh đình, râu rồng toả ra các ngõ xóm, đuôi vắt về xóm Sải. Đình Mông Phụ được xây dựng vào năm 1684 (niên hiệu Vĩnh Tộ đời vua Lê Hy Tông). Ngôi đình này mang đậm dấu ấn kiến trúc Việt Mường (có sàn gỗ) với những nét chạm khắc tinh tế có một không hai. Ở Mông Phụ, mỗi xóm đều có một giếng mang tên của xóm. Giếng đào ở vùng đất đá ong nên mạch nước rất trong và mát. Các giếng xóm Hè, xóm Giang xưa kia nổi tiếng nước ngon đi vào tục ngữ: “Nước giếng Hè, chè Cam Lâm” hay “Nước giếng Giang, khoai lang đồng Bường”. Tương truyền, hai giếng ở hai bên đình Mông Phụ là hai mắt của con rồng chột vì một giếng nước trong vắt còn giếng kia nước bị đục. Con rồng chột này lại tạo nên vị thế đắc địa cho đình Mông Phụ. Nằm giữa ngã ba trung tâm của làng nhưng người đi ngược, về xuôi không ai quay lưng vào đình cả. Sân đình thấp so với mặt bằng xung quanh. Khi trời mưa nước chảy vào sân, theo hai cống tạo thành hình tượng hai râu rồng. Đây chính là dụng ý nghệ thuật đầy chất lãng mạn của các kiến trúc sư cổ. Mắt rồng thứ nhất xác định là giếng đình Mông Phụ. Ở hướng Tây đình Mông Phụ có một giếng đá ong khác, miệng giếng nhỏ hơn nhưng sâu hơn nằm khuất trong một con ngõ. Giếng này được đào ở xóm Miễu nên gọi là giếng Miễu. Giếng Miễu được ví như con mắt rồng còn lại – đối xứng với mắt rồng giếng đình Mông Phụ. Nước giếng Đình trong vắt, còn nước giếng Miễu đục, trở thành một điểm khuyết, là con mắt Rồng mờ. Nước giếng Miễu được sử dụng đối lập với nước giếng Đình, tức là chỉ để tắm giặt chứ không để ăn. Tản Viên Sơn thánh được thờ làm thành hoàng các làng bởi công lao bảo vệ vùng đất này chống lại cuộc chiến của Thủy Tinh và là linh thần mạnh, khiến Cao Biền không thể trấn yểm núi Ba Vì và các vùng đất phụ cận. Truyền thuyết cho rằng Cao Biền đã dùng pháp thuật đào 100 cái giếng xung quanh chân núi Ba Vì trong đó có Đường Lâm để triệt long mạch nước ta nhưng y cứ đào gần xong giếng nào thì giếng đó lại bị sập, nên đành phải bỏ cuộc. Cao Biền bị giết năm 887. Đường Lâm không thể trấn yểm, vài chục năm sau đã sinh ra Ngô Quyền, một trong 14 vị anh hùng dân tộc. Vị vua thứ nhất: “Bố cái đại vương” Theo văn bia ở đình Quảng Bá (quận Tây Hồ, Hà Nội), Phùng Hưng là người Cam Lâm, sinh khoảng năm 761 và mất vào năm 801, thọ 41 tuổi. Cha mẹ Phùng Hưng sinh ba được ba người con trai khôi ngô, tuấn tú, tài năng hơn người: anh cả là Phùng Hưng, em thứ hai là Phùng Hải và em út là Phùng Dĩnh. Năm ba anh em 18 tuổi thì bố mẹ đều mất. Trong ba anh em, Phùng Hưng có sức khỏe phi thường và khí phách đặc biệt. Ông được sử sách và truyền thuyết dân gian lưu truyền về tài đánh trâu, quật hổ ở đất Đường Lâm. Có lần Phùng Hưng thấy hai con trâu mộng đang húc nhau, ông đã dùng tay kéo sừng hai con trâu ra không cho chúng đánh nhau nữa. Trên những qủa đồi thuộc làng Cam Lâm có những cái tên: Đồi Cấm, Nghẽn Sơn, Vũng Hùm… in đậm dấu tích thời trai trẻ của ba anh em họ Phùng. Truyền thuyết kể lại: Thủa ấy trên đồi là rừng đại ngàn rậm rạp, dưới đồng lau lách um tùm. Năm ấy có một con cọp hung dữ về bắt bao mạng người. Dân trong vùng sợ hãi không dám vào đồi kiếm củi, hái chè. Đêm đêm, cọp dữ còn mò cả vào làng rình bắt trâu bò, lợn gà. Cả làng chưa nhọ mặt người đã vội vã về nhà, luồng lạch rấp kín, cổng ngõ buộc chặt, xóm làng eo óc nỗi sợ hãi rình rập bất cứ lúc nào. Giếng đình Mông Phụ, mắt sáng của rồng Một trai làng cực kỳ khoẻ mạnh quyết tâm diệt hổ dữ trừ họa cho dân làng. Lựa đêm một ngày tháng cuối đông gió Bấc se sắt thổi, khí lạnh trên đồi tràn về làm rờn rợn da người, chàng trai bện người nộm đem vào đồi đến bên mép nước cắm xuống, ba bốn đêm liền như thế… Đêm ấy như bao đêm khác, hổ dữ ra vũng nước duy nhất còn sót lại trong vùng, trước khi vục đầu uống, hổ ta lấy tay tát đổ người nộm như mọi hôm thường vẫn thế. Nhưng nó đâu có ngờ hôm nay có một cánh tay rắn chắc đã túm chặt lấy đầu nó, liên hồi giáng xuống những quả đấm nặng như búa tạ. Chàng trai thông minh dũng cảm, có sức khoẻ phi phàm đó chính là Phùng Hưng. Phùng Hưng là người anh hùng đầu tiên đã đánh chiếm lại thành Tống Bình (Hà Nội), trụ sở của chính quyền đô hộ lúc đó và xây dựng nền tự chủ trong khoảng gần chục năm. Bia ở đình Quảng Bá ghi: Năm Tân Mùi 791, mùa hạ, tháng 4, Phùng Hưng cùng các tướng lĩnh đem quân vây đánh thành Tống Bình. Quân của Phùng Hưng chia làm 5 đạo tiến công vây thành. Quân của Cao Chính Bình (khoảng hơn 4 vạn) đem ra chống cự. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt trong khoảng 7 ngày, quân địch chết nhiều, Cao Chính Bình phải vào cố thủ trong thành, lo sợ cuối cùng bị ốm rồi chết. Phùng Hưng chiếm lĩnh thành trì vào phủ Đô hộ, coi chính sự đất nước được 7 năm thì mất. Nhân dân tôn vinh ông là Bố Cái Đại Vương (Vua Lớn). Sau khi Phùng Hưng mất, con trai là Phùng An nối nghiệp cha được hai năm thì chính quyền lại rơi vào tay giặc. Sử liệu và truyền thuyết dân gian cho đến nay vẫn lưu truyền những câu chuyện về sự linh thiêng của vị Bố Cái Đại Vương. Sách “Việt điện u linh” viết rằng: “Sau khi mất, Bố Cái Đại Vương rất hiển linh. Dân các làng thường nghe có tiếng ngựa xe đi lại ầm ầm trên nóc nhà hoặc trên ngọn cây cao, ngẩng trông thì thấy ẩn hiện trong những đám mây là cờ ngũ sắc và kiệu vàng rực rỡ, lại có cả tiếng nhạc văng vẳng nữa. Bấy giờ, nếu có việc lành hay dữ sắp xảy ra thì thế nào đêm đến cũng sẽ có dị nhân báo cho các vị hào trưởng biết để thông tin cho cả làng hay, cho nên, ai cũng lấy làm lạ, bèn cùng nhau lập đền thờ Vương ở phía Tây của phủ đô hộ. Đền thờ Vương rất linh thiêng, mọi việc cầu mưa, trấn yểm Đường Lâm cầu tạnh đều được linh ứng. Ai gặp việc khó khăn như bị kẻ xấu lấy trộm hoặc giả là muốn cầu tài, đến lễ thần đều được như ý. Bởi vậy, người đến lễ rất đông, khói hương chẳng lúc nào dứt”. Vị vua thứ hai có “công tái tạo, vua của các vua” Về vị vua thứ hai của đất Đường Lâm, Ngô Quyền sinh năm Mậu Ngọ (898) ở Đường Lâm. “Đại Việt sử ký toàn thư” mô tả: “Ngô Quyền có dung mạo khác thường, lưng có ba nốt ruồi. Các thầy tướng cho là lạ, rằng có thể làm chủ được một phương, nhân đó mới đặt cho vua tên là Quyền. Khi vua lớn lên, tướng mạo khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, trí dũng hơn người, sức có thể nâng được vạc”. Ngô Quyền có võ nghệ tinh thông và có chí lớn. Ông từng tham gia xây dựng chính quyền họ Khúc ở Đại La, từng theo Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán, giải phóng thành Đại La năm 931. Dương Đình Nghệ lên cầm quyền vẫn tự xưng là Tiết độ sứ, đóng tại thành Đại La. Ông phong cho Đinh Công Trứ (cha Đinh Bộ Lĩnh) chức thứ sử Hoan Châu, gả con gái là Dương Thị Như Ngọc cho Ngô Quyền và giao cho giữ Ái châu. Chính quyền họ Dương tồn tại bảy năm (931 – 937) thì Dương Đình Ngệ bị kẻ phản bội là Kiều Công Tiễn (một viên tướng dưới quyền) sát hại để đoạt chức. Ngô Quyền với danh nghĩa là bộ tướng và con rể của Dương Đình Nghệ, đồng thời cũng là người đứng đầu liên minh Ngô – Dương, tập hợp lực lượng tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Bị cô lập, Kiều Công Tiễn hoảng sợ, vội vã sai người sang cầu cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán là Lưu Cung cho con là Vạn vương Lưu Hoằng Thao đem quân sang xâm lược nước ta. Đền thờ Ngô Quyền Mùa đông năm Mậu Tuất (938), Ngô Quyền đem quân vượt qua đèo Ba Dội, tiến như vũ bão vào thành Đại La, giết tên nội phản Kiều Công Tiễn, bêu đầu hắn trước cổng thành và nhanh chóng tổ chức kháng chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Để chống lại giặc mạnh, Ngô Quyền đưa ra kế hoạch độc đáo. Ông cho bố trí một trận địa cọc nhọn bịt sắt cắm xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi nước triều lên ông cho nhử thuyền giặc vào bên trong hàng cọc, đợi khi thủy triều xuống sẽ dốc toàn sức tiêu diệt địch bằng một trận quyết chiến nhanh gọn. Tháng 12 năm Mậu Tuất (938) các chiến thuyền của giặc hùng hổ vượt biển tiến vào sông Bạch Đằng. Chúng nghênh ngang tràn vào trận địa mai phục của Ngô Quyền, bị đánh bất ngờ nên chỉ trong một thời gian rất ngắn thuyền giặc bị đắm gần hết, quân giặc bị chết quá nửa. Máu chảy loang đỏ khúc sông, Hoằng Thao cũng bị đâm chết tại trận. Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra nhanh chóng khiến vua Nam Hán là Lưu Cung đóng quân ở sát biên giới mà không kịp tiếp ứng cho con. Với mưu lược thần tình của mình, Ngô Quyền đã làm nên chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938, đập tan mưu đồ xâm lược của Nam Hán, tạo cơ sở để Ngô Quyền phát triển chính quyền tự chủ của họ Khúc, họ Dương thành chính quyền độc lập, kết thúc hơn một nghìn năm Bắc thuộc mở ra thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ cho Việt Nam. Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, xưng là Ngô Vương, lập ra nhà Ngô, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội ngày nay). Ngô Quyền – người anh hùng của chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng năm 938 – trở thành vị vua có “công tái tạo, vua của các vua” theo nhận định của Đại Việt Sử ký toàn thư. Ông xứng đáng với danh hiệu là “vị tổ trung hưng” của dân tộc như nhà yêu nước Phan Bội Châu khẳng định trong cuốn “Việt Nam quốc sử khảo”. Chiến thắng Bạch Đằng cho thấy không chỉ Cao Biền bó tay mà cả đế chế Nam Hán hùng mạnh cũng thất bại thảm hại trước tinh thần quật khởi của nhân dân ta. Sau chiến thắng Bạch Đằng, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn. Đó là kỷ nguyên của văn minh Đại Việt, của văn hóa Thăng Long, kỷ nguyên phá Tống, bình Nguyên, đuổi Minh, một kỷ nguyên rực rỡ của các nhà Lý, Trần, Lê. nguồn http://xuangiao.com/phu-thuy-phuong-bac-bo-tay-truoc-muu-tran-yem-duong-lam.html#ixzz44p0AtrDd
  14. Việc ra hoa tre là bình thường thôi mà, chẳng qua là lâu lâu nhiều năm mới ra 1 lần, nên đồn thổi. Cũng như trước đây, hoa ưu đàm (có lẽ) cả 1000 năm mới nở, nên cũng có nhiều dự đoán, nhưng thật ra cũng không có gì. :D
  15. Tiên tri của các nhà chiêm tinh, phong thủy về năm Bính Thân Theo các nhà chiêm tinh và phong thủy học, năm Bính Thân 2016 có nhiều dấu hiệu khả quan nhưng vẫn còn những mối đe dọa rình rập. Theo các nhà chiêm tinh và phong thủy học, năm Bính Thân được tính bắt đầu từ 7/2/2016 và kết thúc vào ngày 27/1/2017. So với năm Ất Mùi, 2016 sẽ là năm tươi sáng, khả quan, nhiều sự kiện quy mô lớn sẽ diễn ra. Bính Thân – Năm của con người Trong 12 con giáp, Thân là hiện thân siêu hình cho yếu tố con người, đồng thời là thần hộ mệnh chính của năm 2016. Chính vì thế, Bính Thân sẽ là năm của con người. Bính Thân tượng trương bởi hai nguyên tố Hỏa và Kim. Theo quy luật ngũ hành, Hỏa Kim tương khắc, vì thế có thể dẫn tới việc mất cân bằng, gây tiêu cực, mâu thuẫn hoặc bất hòa. Mâu thuẫn và xung đột quốc tế vẫn có nguy cơ xảy ra nhưng được dự báo là không quá bạo lực. Ít bạo lực hơn Theo dự đoán của nhà phong thủy, chiêm tinh học người Hong Kong, Raymond Lo, năm 2016 sẽ tương đối ít bạo lực hơn so với năm 2014 và 2015. Việc đạt được thỏa thuận và các điều ước quốc tế nhằm giải quyết xung đột và tranh chấp cũng dễ dàng hơn. Tuy nhiên, ông cũng dự đoán rằng vẫn còn nhiều khả năng xảy ra xung đột trên biển, các vụ tai nạn đường thủy và thảm họa hàng không. Xét theo quan điểm chiêm tinh và phong thủy, trong năm 2016, nhu cầu đi du lịch của con người sẽ nhiều hơn, đặc biệt là đối với những người tuổi Dần, Ngọ, Tuất, Hợi, Mùi. Điều này có thể tác động đến nguy cơ xảy ra va chạm giao thông, đa phần là tai nạn ôtô. Ông cũng dự đoán trong năm Dương Hỏa, thảm họa cháy nổ và đại dịch cúm có thể xảy ra. Các tháng xấu trong năm bao gồm tháng 2, 5 và 11. Nhiều dấu hiệu khả quan, tích cực đối với nền kinh tế Các nhà phong thủy, chiêm tinh tiên tri năm Bính Thân sẽ có nhiều dấu hiệu khả quan, tiến bộ đối với nền kinh tế và điều này sẽ tiếp tục kéo dài đến nửa đầu năm 2017. Đây là năm thuận lợi với các hoạt động kinh doanh sản xuất, ngành công nghiệp thuộc lĩnh vực năng lượng, giải trí, thị trường, tài chính, giao thông vận tải xây dựng, khai thác, công nghệ cao. Các ngành ngân hàng, kỹ sư, máy tính năng động hơn nhưng sức cạnh tranh lớn. Năm 2016 có thể không phải một năm yên bình, khi xung đột và bất hoà trong các mối quan hệ quốc tế vẫn hiện hữu, nhưng con người lạc quan, cởi mở, tự tin và sáng tạo để mang lại giải pháp xử lí những trở ngại đó. Các thảm họa tự nhiên như cháy rừng, vấn đề hạt nhân, mưa bão và dịch bệnh vẫn là mối đe dọa lớn của loài người. Trong năm con Khỉ, các sao và ngũ hành sẽ đem lại vận may cho người làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu, khám phá như chuyên gia, nhà khoa học, nhà thám hiểm. Các ứng dụng của robot và máy bay không người lái sẽ phổ biến hơn. Tuy nhiên, để đạt được thành công nhất định, dù bạn làm ngành nghề gì đều phải phấn đấu và nỗ lực không ngừng. 2016 tốt đẹp hơn 2015 12 con giáp Trong 12 con giáp, Khỉ là con vật đứng ở vị trí thứ 9, con số này tượng trưng cho tham vọng, phiêu lưu và sự thông thái. Theo nhà phong thủy người Philippines, bà Marites Allen, dù không phải tất cả mọi người đều may mắn vào năm tuổi, nhưng năm Thân sẽ rất thuận lợi với người tuổi này. Bên cạnh đó, những tuổi hợp với Thân bao gồm Tý, Tỵ, Thìn cũng dễ gặp may mắn tương tự. Còn tuổi Dần khắc Thân, có thể gặp nhiều khó khăn trong năm tới. Vận trình của họ có thể gặp nhiều biến động hoặc thay đổi trong cuộc sống như chuyển việc, chuyển nhà. Người tuổi Dần nên hạn chế đi tới những nơi ở hướng Tây Nam vì đây là hướng của sao Thái Tuế. theo http://lichngaytot.com/tam-linh/loi-tien-tri-cua-cac-nha-chiem-tinh-phong-thuy-ve-nam-binh-than-564-183220.html ========================================================= Viết ntn mà báo cũng gọi là tiên tri ^_^
  16. Nguồn gốc, ý nghĩa, phong tục thờ cúng ngày Tết ông Công ông Táo Hàng năm cứ đến ngày 23 tháng Chạp, người dân Việt Nam lại chuẩn bị mâm cơm cúng tiễn ông Táo về trời (Tết Táo Quân, Tết ông Công...). Đây là một nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam được lưu truyền trong dân gian từ nhiều đời nay. Sự tích ngày ông Công ông Táo Thần Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc. Nhưng được Việt hóa thành sự tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc ông Táo. Hàng năm, khi năm hết Tết đến, vào 23 tháng Chạp nhà nhà đều sắm sửa lễ nghi tiễn ông Táo chầu trời báo cáo tất cả việc làm tốt và chưa tốt của con người trong một năm để Thiên đình định đoạt công tội, thưởng phạt phân minh cho tất cả loài người. Sự tích này, bắt nguồn từ xa xưa từ những câu chuyện mà dân gian lưu truyền từ đời này qua đời khác. Sự tích 1 Tương truyền có hai vợ chồng vì quá nghèo khổ nên phải bỏ nhau để đi tha phương cầu thực. Người vợ may mắn nên lấy được một anh chồng giàu, có của ăn của để. Còn người chồng thì trở thành kẻ hành khất kiếm sống qua ngày. Năm ấy vào đúng ngày 23 tháng Chạp, người vợ đang lúi húi đốt vàng mã ngoài sân thì có một người ăn xin ăn mặc tả tơi, nhem nhuốc bước vào, nhận ra đó chính là người chồng cũ mà mình từng yêu thương, người vợ động lòng. Nhanh chóng vào nhà lấy tiền bạc, cơm gạo ra cho. Người chồng mới nhìn thấy, biết chuyện, nổi cơn ghen nghi ngờ vợ. Khó xử, tuyệt vọng vì không giải thích cho chồng mới hiểu, người vợ lao vào bếp lửa tự vẫn. Người chồng cũ vì vẫn còn yêu thương, đau xót cũng nhảy vào chết theo. Người chồng mới vì ân hận nên cũng nhảy vào đám lửa đỏ rực. Lúc ấy, trời xanh trên cao cảm động bởi tình nghĩa sâu nặng của 3 người nên phong làm vua bếp. Và từ đó, dân gian mới có câu ca rằng: "Thế gian một vợ một chồng Chẳng như vua bếp hai ông một bà" Sự tích 2 Theo người Việt Nam, Táo quân là chức Ngọc Hoàng thượng đế trao cho ba người có mối tình thâm nghĩa nặng: nàng Thị Nhi và hai chàng Trọng Cao, Phạm Lang. Thị Nhi có chồng là Trọng Cao. Tuy ăn ở mặn nồng tha thiết với nhau, nhưng mãi không có con. Vì vậy, dần dà Cao hay kiếm chuyện xô xát dằn vặt vợ. Một hôm, chỉ vì một chuyện nhỏ, Cao gây thành chuyện lớn, đánh Thị Nhi và đuổi đi. Nhi bỏ nhà, lang thang đến một xứ khác và sau đó gặp Phạm Lang. Phải lòng nhau, hai người kết thành vợ chồng. Phần Trọng Cao, sau khi nguôi giận thì quá ân hận, nhưng vợ đã bỏ đi xa rồi. Ray rứt và nhớ quay quắt, Cao lên đường tìm kiếm vợ. Ngày này qua tháng nọ, tìm mãi, hết gạo hết tiền, Cao phải làm kẻ ăn xin dọc đường. Cuối cùng, may cho Cao, tình cờ tìm xin ăn đúng nhà của Nhi, nhằm lúc Phạm Lang đi vắng. Nhi sớm nhận ra người hành khất thân tàn ma dại đúng là người chồng cũ của mình. Nàng mời vào nhà, nấu cơm mời Cao. Đúng lúc đó, Phạm Lang trở về. Nhi sợ chồng nghi oan, nên giấu Cao dưới đống rạ sau vườn. Chẳng may, đêm ấy, Phạm Lang nổi lửa đốt đống rạ để lấy tro bón ruộng. Thấy lửa cháy, biết Cao ở trong đó, Nhi lao mình vào tính cứu Cao ra. Thấy Nhi nhảy vào đống lửa, Phạm Lang thương vợ cũng nhảy theo. Cả ba đều chết trong đám lửa. Thượng đế thương tình thấy 3 người sống có nghĩa có tình nên phong cho làm vua bếp hay còn gọi là Định phúc Táo Quân và giao cho người chồng mới là Thổ Công trông coi việc trong bếp, người chồng cũ là Thổ Địa trông coi việc trong nhà, còn người vợ là Thổ Kỳ trông coi việc chợ búa. Không những định đoạt may, rủi, phúc họa của gia chủ, các vị Táo còn ngăn cản sự xâm phạm của ma quỷ vào thổ cư, giữ bình yên cho mọi người trong nhà. Trên cao Ngọc Hoàng thượng đế, đã chứng kiến hết câu chuyện nên phong cho 3 người mỗi người một chức vụ khác nhau: Phạm Lang là Thổ Công trông lo việc bếp. Trọng Cao là Thổ Địa trông nom việc nhà. Thị Nhi là Thổ Kỳ trong nom việc chợ búa. Sự tích 3 Chuyện kể về 2 vợ chồng nghèo. Vợ quanh năm suốt tháng bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Còn chồng đi đi buôn, biệt tăm biệt tích, năm về vài lần. Và một chuyến đi buôn xa, chồng đi biền biệt, bặt vô âm tín. Người vợ mỏi mòn chờ đợi 10 năm. Sau đó, nghĩ chồng đã chết nên vợ lấy người chồng khác làm nghề săn bắn, nuôi một tên đầy tớ tên là Lốc. Ngày nọ, chồng mới và Lốc đi săn vắng nhà, đột nhiên người chồng cũ trở về và cho biết sở dĩ đi biền biệt là vì gặp giặc bắt lưu lạc trong rừng nay mới trốn thoát về được. Người vợ chỉ còn biết ôm chồng cũ khóc than, và dọn cơm rượu mời ăn. Khi chồng mới sắp về người vợ đưa chồng cũ ra đống rơm ẩn tạm. Chủ và tớ đi săn về được một con cầy. Chồng giục vợ đi sắm rượu để làm bữa nhậu. Vợ tất tả chạy ra ngoài, người chồng và đầy tớ đốt đống rơm để thui cầy. Lửa vô tình đốt cháy thiêu người chồng cũ đang ngủ say. Giữa lúc đó, người vợ về thấy chồng cũ đã chết đau đớn, tự cảm thấy như thể vì mình mà chồng cũ chết, nên nhảy vào đống lửa chết theo. Người chồng mới thấy vợ chết cũng đâm đầu vào lừa. Người đầy tớ vừa thương chủ vừa hối hận vì chính tay mình châm lửa thiêu chết người cũng nhảy nốt vào lửa chết theo. Ba vợ chồng sau đó được Diêm Vương cho hóa làm ba ông đầu rau. Còn người đầy tớ được hóa làm đồ dùng chặn đống nhấm, quen gọi là "thằng Lốc". Trong tranh vẽ Táo quân, thường thấy vẽ người đầy tớ có nghĩa đứng cạnh ba người. Ý nghĩa của sự tích Cả 3 tích truyện tuy có nhân vật hoàn cảnh khác nhau, nhưng đều có một điểm chung là những nhân vật đều sống có nghĩa có tình. Người Việt xưa không bao giờ có thể chấp nhận việc đa phu, một bà hai ông. Như vậy, điều mà tích truyện nhắc tới, đó không phải là cái lý, nhưng là cái tình nghĩa phu thê, sống chết cùng nhau. Bên cạnh đó, các sự tích còn nhấn mạnh vai trò của bếp lửa trong mỗi gia đình. Bếp lửa ngoài công dụng nấu chín thực phẩm, còn là nơi cả gia đình quây quần bên nhau. Nguồn gốc, ý nghĩa, phong tục thờ cúng ngày Tết ông Công ông Táo (Ảnh: giadinhvietnam.com) Lễ hội bao giờ cũng gắn bó với nghi thức thắp lửa thiêng. Lửa xua đuổi thú dữ, tạo bầu không khí ấm áp… Không gia đình nào là không có bếp lửa. Ngày nào lửa không bén trên bếp, ngày ấy là một ngày gia đình thiếu hơi ấm, thiếu tình thương. Phong tục thờ cúng ngày Tết ông Công ông Táo Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo (hay vua Bếp) định đoạt cát hung, phúc đức cho gia đình, phúc đức này do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà. Với mong muốn Thần Bếp sẽ “phù hộ” cho gia đình mình được nhiều may mắn, nên hàng năm Tết đến, Vào ngày 23 tháng Chạp, người ta thường làm lễ tiễn đưa Táo Quân chầu trời một cách long trọng. Lễ vật cúng Táo Quân Lễ vật cúng Táo công gồm có: mũ ông Công ba cỗ hay ba chiếc: hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ dành cho Táo bà không có cánh chuồn. Bàn thờ Táo Quân được đặt ở nơi trang nghiêm nhất, trên có bài vị thờ viết bằng chữ Hán. Ngoài ra còn có vàng mã khác, hương, hoa, oản, quả, cau, trầu. Một mâm cỗ được chuẩn bị cẩn thận, đầy đủ. Những đồ vàng mã sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Quân. Sau khi cúng Táo Quân, người ta đem hóa mã. Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc người ta còn cúng 3 con cá chép còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý cá sẽ biến thành Rồng đưa ông Táo về trời. Cá chép này sẽ được "phóng sinh" (thả ra ao hồ hay ra sông) sau khi cúng. Ở miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Còn ở miền Nam thì giản dị hơn, chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy. Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng...) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc...) để tiễn Táo Công về trời. Ý nghĩa tục phóng sinh cá chép Theo truyền thuyết kể lại rằng: “Hàng năm, Táo quân được ông Trời phái xuống trần gian theo dõi và ghi chép những việc làm Thiện – Ác của loài người. Sau đó, cứ vào ngày 23 hàng năm, Táo quân lại cưỡi cá chép hóa rồng lên Thiên đình báo cáo tất cả việc làm tốt và chưa tốt của con người trong một năm để Thiên đình định đoạt công tội, thưởng phạt phân minh cho tất cả loài người.” Trong truyền thuyết, cá chép là phương tiện duy nhất có thể đưa Táo Quân về trời. Bởi thế, vào ngày này, sau khi làm lễ xong, các gia đình đều cúng con cá chép rồi đem ra sông hay ra ao thả, ngụ ý “cá hóa long”, nghĩa là cá sẽ hóa rồng, vượt vũ môn, làm phương tiện cho Táo quân cưỡi về trời. Ngoài ra, trong tâm thức người Việt, “cá vượt Vũ môn” hay “cá chép hóa rồng” còn mang ý nghĩa của sự thăng hoa, biểu tượng của tinh thần vượt khó, sự kiên trì, bền chí chinh phục tri thức để đi tới thành công, biểu trưng cho nhân cách thanh cao tiềm ẩn hoặc hướng đến một kết quả tốt đẹp. Phóng sinh cá chép ngày Tết ông Công ông Táo không chỉ là một nét đẹp văn hóa, đồng thời còn thể hiện sự từ bi quý báu của người Việt Nam. theo http://giaoduc.net.vn/Van-hoa/Nguon-goc-y-nghia-phong-tuc-tho-cung-ngay-Tet-ong-Cong-ong-Tao-post165300.gd ================================================================= Thủ tục cúng ông Táo ngày nay cũng đã thay đổi nhiêu, theo hướng đơn giản hơn :lol:
  17. Tình tiết mới nhất vụ vợ chồng bị sát hại dã man trong biệt thự Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tiền Giang cho biết, Đại tá Nguyễn Văn Lộc, Phó giám đốc Công an tỉnh Tiền Giang đã ký quyết định khởi tố vụ án giết 2 mạng người, xảy ra trong căn biệt thự ở số 113, quốc lộ 1 (QL1), phường 2, thị xã Cai Lậy xảy ra vào đêm 23/1. Vợ chồng bị sát hại trong căn biệt thự bề thế nằm trên QL1 là của đại gia Lương Văn Triêm (SN 1976), chủ một cơ sở chế biến và kinh doanh cà phê nổi tiếng giàu có nhất vùng. Bố mẹ đại gia cà phê bị sát hại trong căn biệt thự Trước đây khi tiến hành xây dựng căn biệt thự cao 3 tầng trong khuôn viên rộng hàng nghìn mét vuông, để đảm bảo an ninh cho gia đình, ông Triêm đã cẩn trọng cho lắp đặt nhiều camera an ninh. Tuy nhiên, thông tin trên một số trang mạng nói rằng camera an ninh quay được cảnh hung thủ ra tay sát hại 2 nạn nhân trong phòng ngủ là không đúng sự thật, vì phòng ngủ và hành lang lầu 2 - nơi hung thủ ra tay sát hại 2 nạn nhân không có gắn camera an ninh. Hiện tại cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được số tài sản bị mất của nạn nhân. Do tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án, trước đó vào trưa 25/1, Thiếu tướng Hồ Sỹ Tiến, Cục trưởng Cục CSĐT tội phạm về trật tự xã hội(Bộ Công an) đã trực tiếp đến hiện trường vụ án mạng xem xét tình hình để có hướng chỉ đạo phá án. Như tin tức đã đưa trước đó, sáng 24/1, người họ hàng của ông Lương Văn Đấu (67 tuổi) đến căn biệt thự gần cầu Cai Lậy (thị xã Cai Lậy) phát hiện vợ chồng ông này đã tử vong trong phòng ngủ tại lầu 2. Thi thể các nạn nhân có vết thương, một số đồ vật bị xáo trộn. Cháu trai 13 tuổi của ông Đấu ngủ ở phòng bên không hay biết sự việc. Hàng xóm cho biết, thường ngày ông bà dậy sớm để đưa cháu đi học và làm các việc lặt vặt. Sáng nay mấy nhà xung quanh hẹn nhau cắt lá mai đón Tết nhưng không thấy ông bà Đấu, trong khi cửa vẫn đóng, một số người đến hỏi người cháu sống gần đấy. Anh này chạy sang mở cửa bằng chìa khoá riêng thì phát hiện sự việc. theo http://phunutoday.vn/xa-hoi/tinh-tiet-moi-nhat-vu-vo-chong-bi-sat-hai-da-man-trong-biet-thu-97098.html =========================================================== Nhìn hình thể ngôi nhà tệ quá :ph34r:
  18. 10 mẹo phong thủy cực đơn giản để năm 2016 'tiền vô như nước' Với những mẹo phong thủy cực kì đơn giản dưới đây sẽ giúp tiền tài nhanh chóng chảy vào túi bạn trong năm 2016. 1. Đặt tủ hoặc két chứa tài sản và trang sức gần tường phía Tây Nam hoặc Nam của căn phòng, hướng tủ về phía Bắc. Phía Bắc là phía thần Tài cư trú, khi tủ quay về hướng đó, thần sẽ không ngừng “điền vào chỗ trống” cho tủ của bạn. 2. Đặt một chiếc gương đối diện két sắt để hình ảnh két phản chiếu trong gương. Đây là mẹo phong thủy cầu tài khiến tài lộc nhân đôi. 3. Để trống vị trí trung tâm của ngôi nhà để khí lưu thông và chăm chút cho vị trí tài lộc – góc Tây Nam của ngôi nhà để gia tăng tiền bạc. 4. Muốn tài chính vững vàng, hãy trồng nhiều cây to và tán rộng ở phía Tây Nam của ngôi nhà. Cây ở khu vực này mang lại sinh khí cho ngôi nhà với ngụ ý tiền bạc lưu thông. Tím là màu hoàng gia và cũng là màu sắc tượng trưng cho sự thịnh vượng. Trông cây hoa màu tím trong nhà là điều đáng hoan nghênh. Nếu không, dùng chậu màu tím để thay thế. 5. Trước cửa nhà là nơi cần được chú trọng để thu hút tài lộc. Bảng tên rõ ràng, trang trí độc đáo, ánh sáng đầy đủ sẽ giúp Thần Tài tìm được đúng vị trí nhà bạn. Cửa chính và cửa sổ nên được vệ sinh thường xuyên. Rác bẩn là vật cản trở tài lộc bay vào nhà. 6. Để tiền ở tất cả các ngăn ví: Tất cả các ngăn trong ví đều nên để tiền, tránh để ngăn trống rỗng làm tiêu tán tài vận. Tiền được chứa đều ở các ngăn đồng nghĩa với việc tiền bạc và tài lộc sẽ ngày một tăng lên, chủ nhân của chiếc ví này sẽ ngày càng giàu có. Ngoài ra, bạn có thể để một vài đồng tiền xu trong ví. Tiền xu mang năng lượng Kim có tác dụng hút nguồn năng lượng tích cực cho ví tiền cũng như chính bạn. 7. Nếu có đài phun nước thì đặt ở phía Tây Bắc. Một điều nữa, luôn đảm bảo nước trong đó luôn lưu thông và không ứ, tù đọng vì dòng nước tượng trưng cho dòng chảy của năng lượng và sự thịnh vượng. 8. Nếu có bể cá trong nhà, hãy đặt ở phía Đông Bắc. Bể cá cũng nên được dọn sạch thường xuyên. 9. Tránh để ảnh gia đình và biên lai trong ví tiền: Hình ảnh về những người thân trong gia đình sẽ khiến trường khí bị nhiễu loạn, dễ phân tán và giảm sức hút tiền bạc, sự giàu có. Biên lai, hóa đơn thanh toán là đại diện cho số tiền bạn đã mất đi, nếu thường xuyên giữ chúng trong ví tiền của mình sẽ không tốt cho tài vận. Chúng là nhân tố sẽ kích thích nợ nần ngày càng tăng lên. Do đó, bạn không nên giữ những loại giấy tờ này trong ví, dù trong thời gian ngắn tạm thời. 10. Lựa chọn tranh ảnh phù hợp: Những hình ảnh của rừng núi, công viên hoặc lá cây, cây xanh, kính sinh động… sẽ mang lại nguồn năng lượng phong thủy của yếu tố Mộc. Bạn cũng có thể đưa vào những hình ảnh về quang cảnh tự nhiên thú vị, từ những bài biển đầy cát tới những ngọn núi – đại diện cho yếu tố Thổ, giúp gia đình bạn gặp nhiều thành công, may mắn trong cuộc sống. theo http://phununews.vn/10-meo-phong-thuy-cuc-don-gian-de-nam-2016-tien-vo-nhu-nuoc-210735.html ========================================================== haha nhiều mẹo quá, ứng dụng coi chừng tẩu hỏa nhập ma
  19. PGS Trần Lâm Biền: Không ai gọi rùa hồ Gươm bằng 'cụ' cả Sự việc rùa hồ Gươm chết vào chiều 19.1 thu hút sự chú ý của dư luận và các nhà khoa học với nhiều ý kiến khác nhau. Rùa ở hồ Gươm Có thể bạn quan tâm Báo điện tử Một Thế Giới đã có cuộc trò chuyện ngắn với PGS-TS Trần Lâm Biền là một trong những nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, với các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian, tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam về vấn đề này. - Chào ông, sau khi có thông tin về rùa hồ Gươm chết và được bảo tồn, ý kiến của ông về việc này như thế nào? Theo tôi được biết không ai gọi con rùa đó là “cụ” rùa cả, chỉ có mỗi ông Hà Đình Đức gọi con rùa đó là “cụ” thôi. Không ai định tuổi được con rùa đó cả nên đừng “bịa” rằng nó có từ thời Lê Sơ, gắn với Lê Lợi, hoàn toàn không có chứng cớ về mặt khoa học. Việc một con rùa chết, có lẽ chỉ có mỗi PGS Hà Đình Đức coi là "cụ" và để tang mà thôi. Các nhà khoa học không ai coi con rùa đó là "cụ" cả. - Vậy con rùa biểu tượng cho điều gì, thưa ông? Biểu tượng của con rùa lúc nào cũng có 2 mặt, mặt tích cực và mặt tiêu cực. Mặt tích cực là nó gắn với thần bảo tồn trong thần thoại, còn ở Việt Nam nó gắn với thần Kim Quy. Ý nghĩa tích cực của nó là có mái khum, tượng trưng cho bầu trời, bụng nó phẳng tượng trưng cho mặt đất. Và cái nhà sàn người Việt ở chính là biểu tượng bắt nguồn từ hình tượng con rùa, mang ý nghĩa vững chắc. Con người sống trong nhà sàn đó là sống trong nguồn sinh lực nối giữa trời và đất nên người ta cảm thấy hạnh phúc, khỏe mạnh. PGS-TS Trần Lâm Biền Còn ý nghĩa tiêu cực về rùa đó chính là rùa và rắn là 2 con vật thủy quái luôn luôn dâng nước làm lũ lụt. Cả người Á Đông đều có ý chống lại việc đó. Biểu hiện đầu tiên của việc chống lại đó gắn với ông Lý Ông Trọng, ông ấy đã thò tay xuống nước khoắng đưa con rùa (còn được gọi là con giải) đó lên vì nó dâng nước phá đê. Ở Hà Nội, người ta còn kể sự tích rùa dâng nước làm lụt lội cả vùng ấy và khi đó người ta gọi là hồ Lục Thủy - một cái hồ rất to, nay đã bị thu hẹp lại và người ta gọi là hồ Gươm. Còn sự tích “trả gươm cho rùa” của ông cha ta chính là sự huyền thoại hóa việc sống chung với lũ lụt để phát triển nghề nông nghiệp ở thời Lê Sơ. Đó chính là sự tích văn nghệ hóa, huyền thoại hóa của ông cha ta kể cho con cháu sau này mà thôi. - Nhưng thông tin về con rùa trong hồ Gươm đã chết gây nhiều sự chú ý trong dư luận, thậm chí có người còn nói đến tâm linh? Người dân Hà Nội nhìn con rùa hồ Gươm như là một kỷ niệm, là một con vật mà họ thường gặp nên họ yêu quý. Bởi lẽ nó đã được thuần dưỡng. Nó giống như thể con chó nào ban đầu cũng là chó sói, nhưng khi được thuần dưỡng thì thành chó cưng. Con rùa này cũng vậy. Sống lâu thì có tình cảm, quen thuộc thì thấy thân thương, nên nó chết tất nhiên là người dân Hà Nội sẽ cảm thấy thiếu vắng mà thôi. theo http://www.baomoi.com/PGS-Tran-Lam-Bien-Khong-ai-goi-rua-ho-Guom-bang-cu-ca/c/18493684.epi?utm_source=facebook&utm_medium=feedfb&utm_campaign=facebook ===================================================== Các bác không hài lòng với nhau, nên . . . thế thôi :blink:
  20. Sơn Tinh là nhân vật có thật trong lịch sử Trong hệ thống các đền thờ Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh), người ta thường biết đến chủ yếu là đền Và (Sơn Tây) và các đền đài trên núi Ba Vì (hay còn gọi là Tản Viên Sơn). Tuy vậy hai ngôi đền đó về mặt lịch sử lại chỉ là những nơi thờ vọng chứ không phải là đất phát tích của nhân vật này. Trong khi đó, nằm phía bên kia sông Đà, về phía huyện Thanh Thủy, Phú Thọ có một ngôi đền mà theo Ngọc phả, chính là ngôi đền đầu tiên thờ thánh Tản Viên. Ngôi đền có tên là đền Lăng Sương, hiện nằm ở xã Trung Nghĩa, Thanh Thủy, Phú Thọ. Cổng đền Lăng Sương. Theo như tài liệu tại đền Lăng Sương, ngôi đền này được xây dựng vào năm 1011, triều Lý. Đền đặt trên nền đất cũ nơi thánh Tản Viên sinh ra và lớn lên. Ông Tăng Văn Tuất, một trong ba thủ nhang của đền cho biết: “Mọi người thường lầm tưởng thánh Tản Viên là trong truyền thuyết nhưng ngọc phả còn lưu ở đây cho biết ngài là một người có thật, tên là Nguyễn Tuấn. Thân phụ ngài là ông Nguyễn Cao Hành, thân mẫu là Đinh Thị Đen, vốn là những người tu nhân tích đức nhưng hiếm muộn con cái. Một hôm mẫu Đen (Cách người dân ở đây gọi những bậc sinh thành ra thánh Tản Viên một cách kính trọng) ra giếng gánh nước thì gặp rồng vàng phun châu nhả ngọc. Mẫu gánh nước về tắm thì đột nhiên mang thai. Người thường chỉ mang thai 9 tháng nhưng mẫu mang thai đúng 14 tháng mới sinh. Đến thai kỳ thì sinh được một con trai có tướng mạo khôi ngô, đặt tên cho là Nguyễn Tuấn”. Đền thờ đức thánh Tản ngay tại mảnh đất thánh hiển sinh. Ngày nay, trong khuôn viên ngôi đền vẫn còn di tích cái giếng và phiến đá bên miệng giếng có in dấu chân người Việt cổ. Tương truyền rằng những dấu vết đó là dấu ấn do mẹ Nguyễn Tuấn thường ngồi trên phiến đá cúi xuống lấy nước nên in thành vết. Theo ông thủ nhang ra xem giếng, chúng tôi thấy độ sâu của giếng chỉ khoảng 3 đến 4m. Tuy vậy, ông Tuất cho biết rằng chưa bao giờ giếng này cạn nước cả: “Như năm 1954, ở khu vực xung quanh đại hạn, ruộng đồng rồi ao hồ đều cạn nước mà giếng nước này vẫn có nước, nước vẫn trong. Không rõ là có mạch nước ở đâu mà như vậy”. Đến cuộc quyết đấu “Sơn Tinh Thủy Tinh” Ngọc phả chép lại: Năm 6 tuổi Nguyễn Tuấn mồ côi cha, hai mẹ con dời sang xóm Cốc ở núi Tản Viên, phía bên kia sông Đà sinh sống. Ở đó Nguyễn Tuấn đã được thần núi Ma Thị Cao Sơn nhận làm con nuôi. Hai mẹ con Nguyễn Tuấn ở núi Tản Viên 3 năm thì lại trở về sống ở động Lăng Sương (tức khu vực đền Lăng Sương ngày nay). Giếng Thiên Thanh – nơi thánh mẫu lấy nước tắm rồi mang thai thánh Tản Viên. Đến năm 12 tuổi, Nguyễn Tuấn thường sang núi Tản Viên ở bên kia sông Đà để đốn củi. Nhưng kỳ lạ là cứ ngày hôm sau sang thì lại thấy những cây mình chặt hôm trước đã mọc trở lại. Thấy lạ, chàng mới núp kín rồi rình xem có chuyện gì. Nhờ đó mà Nguyễn Tuấn gặp được ông Tử Vi thần tướng Bạch Tuyết – chính là người đã làm cho các cây gỗ bị chặt mọc lại. Gặp Nguyễn Tuấn, thấy tướng mạo khôi ngô tuấn tú, ông Tử Vi thần tướng bèn truyền cho chàng cây gậy đầu sinh đầu tử. Trên đường trở về nhà, đi qua sông Đà, Nguyễn Tuấn gặp con vua Thủy Tề bị chết. Chàng liền cầm đầu sinh cây gậy chỉ vào làm con vua Thủy Tề sống lại. Cảm kích ơn cứu mạng con mình, vua Thủy Tề rẽ nước mời chàng xuống Thủy cung chơi và dùng nhiều bạc vàng để trả ơn nhưng Nguyễn Tuấn đều từ chối, ngài chỉ thích vật duy nhất là cuốn sách ước – Bảo vật của vua Thủy Tề. Ông Phạm Tiến Thi, một trong 3 thủ nhang của đền Lăng Sương đang mô tả tư thế của mẫu theo dấu vết chân trên phiến đá Kể đến đây, ông Tăng Văn Tuất nói: “Ở ngoài tấm biển tóm tắt kia nói là vua Thủy Tề cho Nguyễn Tuấn sách ước là không phải, cuốn sách là bảo bối của ông, lý gì ông lại dễ dàng cho. Nhưng con vua Thủy Tề đã ăn cắp của cha để trả ơn Nguyễn Tuấn. Tức giận vì bị mất sách cho nên vua Thủy Tề mới dâng nước lên đánh để bắt Nguyễn Tuấn hòng lấy lại sách ước. Nhưng ngài có sách ước nên nước dâng đến đâu ngài ước núi cao đến đó. Cuối cùng vua Thủy Tề phải chịu thua”. Phiến đá có dấu chân của mẹ thánh Tản Viên, vết tròn phía trái là dấu đầu gối mẫu tì vào, bên phải là dấu bàn chân. Cũng theo ngọc phả, Nguyễn Tuấn sau này lấy con gái Hùng Vương và được truyền ngôi vua. Nhưng đến năm Đinh Thìn thì ngài nhường ngôi cho Thục Phán An Dương Vương để lập ra nước Âu Lạc. Nhờ những công lao trị thủy và hộ quốc an dân, sau khi ngài hóa, nhân dân thờ phụng và tôn làm Tản Viên Sơn Thánh, đứng đầu trong bộ Tứ Bất Tử của người Việt. Hòn đá ép bụng và âu đựng nước tắm cho thánh Tản Viên. Đoạn ngọc phả chép cùng với những giải thích của ông thủ nhang đền Lăng Sương phần nào cho chúng ta thấy một góc cạnh khác về thánh Tản Viên. Ngày nay, truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh đã đi vào tiềm thức của hàng triệu người Việt qua đường truyền miệng hoặc qua sách giáo khoa tiểu học. Tuy vậy, truyền thuyết này lại không cho chúng ta biết nguồn gốc xuất thân của thánh Tản Viên. Về mặt này, cuốn ngọc phả của đền Lăng Sương đã giải thích cặn kẽ hơn. Mặc dù cả hai câu chuyện đều lung linh nét huyền bí, thần thoại song có lẽ với những gì được ngọc phả cung cấp, chúng ta thấy được một nhân vật có thật của lịch sử chứ không chỉ là một Sơn Tinh thần bí trong truyền thuyết. theo http://kienthuc.net.vn/tham-cung/son-tinh-la-nhan-vat-co-that-trong-lich-su-176810.html
  21. Bố trí bếp tiện nghi dưới gầm cầu thang hẹp Trong khoảng diện tích nhỏ, bạn có thể tạo ra được một khu nấu nướng cho gia đình đông người. Xử lý không gian dưới cầu thang đôi khi khiến bạn lúng túng. Thông thường, khu vực này sẽ được sử dụng làm nơi để đồ, tiểu cảnh hay WC. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể lựa chọn cách bố trí những khu chức năng quan trọng hơn ở không gian này. Tủ đồ cùng nơi chế biến thức ăn xếp gọn dọc theo gầm cầu thang không gây cảm giác vướng. Khi đóng kín các cánh cửa tủ, đồ dùng nấu bếp sẽ biến mất khi bạn cần có sự gọn gàng, tối giản. Bạn có thể để một phần tủ mở bày đồ bát đĩa đồng bộ đẹp mắt tạo thành góc trang trí. Với các ngôi nhà rộng, cầu thang diện tích lớn sẽ tạo ra được một không gian bếp ăn ấm cúng. Không chỉ là lối lên xuống, cầu thang đã trở thành một phần quan trọng của khu liên thông phòng khách-bếp ăn. Sự khéo léo của chủ nhà giúp bố trí được nhiều khu chức năng (bếp, tủ đồ) trong diện tích nhỏ. Hệ tủ gỗ màu sáng kết hợp với trần nhà tạo thành khoảng không gian ấm áp và hiện đại. theo http://giadinh.vnexpress.net/tin-tuc/nha-dep/tu-van-nha-dep/bo-tri-bep-tien-nghi-duoi-gam-cau-thang-hep-3342948.html =========================================================== Làm bếp kiểu này, gia chủ làm sao mà khá nổi :ph34r:
  22. Có một cách để mua trúng cái vé số trúng $1.4 tỷ. Trước hết, nói về dư luận hiện nay. Cả nước Mỹ mấy hôm nay chỉ nói mỗi một chuyện: Vé số Powerball lên đến $1 tỷ 400 triệu, cao nhất trong lịch sử (có lẽ của cả thế giới). Xác suất để trúng giải này, để thoắt một cái trở thành “gần tỷ phú,” là 1 phần 292 triệu, nghĩa là khó gấp mấy trăm lần cơ hội tự làm giàu để trở thành tỷ phú. Trước khi nói về cái khó để trúng số, hãy nói một tin không vui trước: Trúng số phải đóng thuế, và đóng rất nhiều. Tiền trúng số là thu nhập, và là thu nhập phải đóng thuế. Thuế suất trên tiền trúng số là 39.6%. Ngay khi trúng, Sở Thuế thu trước 25%, phần còn lại thu vào thời điểm khai thuế. Đó là nói về thuế liên bang. Xuống đến địa phương, người trúng số phải đóng hàng loạt thuế khác. Thuế suất tiểu bang khác nhau, tùy địa phương. Chẳng hạn, New Jersey chỉ đánh 3%, trong khi New York đánh nặng nhất Hoa Kỳ, gần 9%. Vậy thì người may mắn sẽ bỏ túi bao nhiêu? Tùy thuộc cách bỏ túi. Có 2 cách lấy tiền trúng số: Lấy hết một lần (sau khi trừ thuế), hoặc lấy từ từ trong 30 năm. Trong trường hợp $1.4 tỷ đang là niềm hy vọng của mọi người, Powerball sẽ trả “giá trị tiền mặt,” tương đương $868 triệu. Có nghĩa là, người trúng sẽ phải đóng thuế trên số tiền này. Chẳng hạn, một người sống ở New York City, nếu chọn lấy hết một lần, anh ta/cô ta sẽ mang về $495.8 triệu (chính phủ lấy thuế $327.2 triệu, gần 40%). Cách lấy tiền thứ hai là lấy từ từ, hàng năm. Trường hợp này, người trúng số được nhận trước một khoản, còn bao nhiêu, Powerball mang đi đầu tư rồi lấy tiền lời trả hàng năm, trong 30 năm, cho người trúng số. Con số hàng năm được trả lớn dần theo thời gian, thậm chí tổng cộng có thể lên đến $1.4 tỷ (trước khi đóng thuế). Các chuyên viên tài chánh khuyên, để lấy được giá trị cao nhất của giải thưởng, nên lấy một lần, lấy liền. Sao lạ vậy? Trả lời: Đã nói là mang tiền đi đầu tư thì làm sao biết chắc đầu tư đúng! Nếu đầu tư vào thị trường rủi ro, nhiều khi chẳng còn đồng nào. (Trong trường hợp đãng trí, xin nhắc quý vị: Hãy mua vé số rồi hãy hy vọng). Coi như có vé số trong túi rồi, bây giờ nói chuyện trúng $1.4 tỷ dễ hay khó. Xác suất trúng số lần này là 1 phần 292 triệu. Là sao, dễ hay khó? Hồi Tháng Hai, 2015, vé Powerball độc đắc có xác suất 1 phần 175 triệu. Nghĩa là bây giờ còn khó trúng hơn hồi đó. Lý do là người mua vé số có thêm số để chọn. Càng nhiều số, xác suất trúng càng nhỏ, tức là... khó hơn. (Trước đây, người mua chọn 5 số trong tổng số 59 con số. Tháng 10 rồi, Powerball nâng lên thành 69 số.) Powerball có lý do để không muốn có nhiều người trúng độc đắc. Càng ít trúng thì số tiền cộng dồn càng lớn, giải thưởng sẽ lớn hơn. Giải thưởng lớn hấp dẫn người chơi. Càng nhiều người mua vé thì giải thưởng càng lớn, cứ thế chúng ta có... $1.4 tỷ. Như đã nói, xác suất trúng độc đắc kỳ này là 1 phần 292 triệu. Hãy làm vài so sánh, xem trúng số dễ hay khó: Trở thành một tỷ phú Mỹ: Xác suất 1 phần 575,097 Tử vong do sét đánh: Xác suất 1 phần 164,968 Có chỉ số IQ 190 (tức là thông minh hơn cả nhà bác học Albert Einstein): 1 phần 107 triệu. Trúng số khó như vậy, thế mà hiện có 114 giải thưởng (mỗi giải hơn $1 triệu) không có người nhận. Tổng cộng số tiền không có người nhận mỗi năm là $2 tỷ. Một nhà nghiên cứu kết luận rằng, người mua vé số hay để ý mình có trúng độc đắc không. Khi biết tin không trúng độc đắc, họ liệng luôn tờ vé số, quên rằng còn có các giải khuyến khích, từ vài đồng đến triệu đồng. Trở lại chuyện vé số $1.4 tỷ đang chờ đợi bạn. Câu hỏi đặt ra là có cách gì mua vé số và biết chắc mình sẽ trúng? Có đấy: Mua tất cả những tập hợp số có thể có, “chỉ” khoảng $584 triệu! Như vậy là vẫn có lời, vì số tiền trúng nếu lãnh ngay một lần là $868 triệu. Lời $284 triệu. (Đó là chưa kể các giải “khuyến khích,” tổng giá trị đến $92 triệu). Tính đi tính lại hết mọi giải thưởng có thể có, nếu đầu tư $584 triệu để mua tất cả vé số lần này, “nhà đầu tư” có thể mang về $576 triệu “tiền lời.” Vậy tại sao các tỷ phú Mỹ không đầu tư vào dịch vụ này? Có một vài rủi ro. Thứ nhất, có người khác cũng trúng độc đắc, và phải chia giải thưởng. Các nhà toán học tính ra, nếu đi mua hết tất cả các vé, xác suất để một mình mình trúng độc đắc chỉ là 22%. (Còn xác suất để có một người khác cũng trúng như mình là 33%; và hai người nữa trúng như mình thì xác suất là 25%). Nếu phải chia đôi, hay chia ba, chia bốn, số tiền độc đắc, vụ đầu tư xem như... lỗ. Cái khó thứ hai dễ hiểu hơn: Rất khó để mua tất cả các số có thể có. Giả sử mua một vé tốn hết 1 giây đồng hồ, vậy để mua tất cả các vé, người mua mất hết... 9 năm. Đó là nói một cách lạc quan, vì bạn cần phải mua tất cả các số cùng một lúc (chứ không chỉ 292 triệu “quick-pick”). Nếu bạn là tỷ phú, có nhiều tiền, bạn có thể thuê cả một đội quân để đi gom số. Nhưng vẫn không thể bảo đảm là bạn có thể làm chủ tất cả các con số. (Đã từng có một lần “thu gom” số: Tháng Hai, 1992, một công ty Úc muốn trúng $24 triệu của Virginia Lotto, dồn công sức đi mua vé số, chỉ mua được 2.4 triệu vé trong tổng số 7 triệu, vì... hết giờ). Thành ra, đầu tư vé số là chuyện có thể thực hiện trên lý thuyết, và không thể thực hiện trên thực tế. Thôi thì, mua vé số để kiến thiết quốc gia, đừng tính chuyện ăn thua với nhà nước. nguồn internet ======================================== Ngày 13/1/2016 sẽ mở powerball có giải thưởng nó ó óng là $1.4 tỷ Nếu Sư Phụ còn ở Mỹ thì có lẽ Sư Phụ sẽ là người mua số và trúng giải $1.4 tỷ này Vì Sư Phụ chỉ cần ra 1 quẻ "Lạc Việt Độn Toán" là xong ngay mà :D
  23. Những vật phẩm phong thủy không thể thiếu trong nhà ngày tết Trang hoàng, sắm sửa cho ngôi nhà đã trở thành thói quen của người Việt Nam mỗi độ tết đến xuân về. Ngoài việc trang trí làm mới ngôi nhà, thì việc bài trí những vật phẩm phong thủy trong nhà mang ý nghĩa vô cùng quan trọng để bắt đầu một năm mới nhiều tài lộc, vui tươi, ấm áp. Ngoài những vật phẩm quen thuộc như Tỳ Hưu, Kỳ Lân…được coi là đem lại may mắn thành công, thì trong những ngày tết gia đình có thể bài trí thêm những vật phẩm phong thủy khác như cá chép, tượng phật, cóc 3 chân.... Cá chép tượng trưng cho sức khỏe và tài lộc Theo quan niệm phương Đông, cá Chép tượng trưng cho sức khỏe và tài lộc. Trong đường quan lộ, cá Chép là biểu tượng của sự thăng tiến, công danh. Cá chép cũng được xem là linh vật phong thủy có khả năng chiêu tài khí, tạo may mắn tài lộc. Đây là mong ước của tất cả mọi người nhất là trong dịp tết. Truyền thuyết có câu chuyện cá chép hoá rồng, vì thế cá chép được coi như rồng, là một con vật linh thiêng cao quý. Trong đó, cá chép bằng đồng thường được sử dụng ở nhiều gia đình bởi nó là biểu tượng của sự thăng tiến, công danh và nổi tiếng. Không những đem lại kinh doanh may mắn, tiền bạc, phát đạt mà nó còn là vật khí hoá giải sát khí, bệnh tật và tai hoạ cho gia đình. Cá Chép nếu để trong nhà sẽ mang lại sự may mắn, thịnh vượng, còn để ở bàn làm việc sẽ mang lại thành công sự nghiệp, thăng quan tiến chức. Kiêng kị bày vật phẩm phong thủy này trong nhà vệ sinh, nhà bếp hay phòng ngủ. Cá Chép là biểu tượng của sự thăng tiến, công danh, sức khỏe và tài lộc Tượng phạt di lặc Phật Di lặc với miệng cười thật tươi và cái bụng thật lớn, thể hiện niềm mong ước, tâm tư, đậm chất của đạo Phật trong việc đem niềm vui và nụ cười vào cuộc sống. Khi tết đến, tượng phật Di Lặc được trưng bày trong nhà là biểu tượng cho sự vui vẻ, may mắn, an lạc và hạnh phúc, cũng như mang lại nhiều điều tốt lành cho gia đình.... Thiềm thừ - Cóc 3 chân Trong phong thủy, thiềm thừ hay còn gọi là Cóc 3 chân được xem là biểu tượng rất may mắn, tượng trưng cho tài lộc và yên lành, là vật phẩm mang may mắn trong công việc làm ăn, sự bình an cho gia đạo. Nên mọi người thường hay dùng để biến xấu thành tốt trong phong thủy nhà cửa, hoặc để tặng bà con, bạn bè thân hữu khi có dịp hỷ sự. Nên để cóc ba chân ở khu vực gần cửa trước, đặt ở vị trí tương đối thấp, nhưng không để dưới đất. Nhiều nhà còn đặt cóc ngọc gần ban thờ thần tài vì vị trí gần cửa. Thiềm thừ tượng trưng cho tài lộc và yên lành Linh thú cát tường - Mèo Trong phong thủy mèo được xem là linh thú cát tường, có thể nhờ linh lực của nó để hóa giải sát khí và đem lại vận may cho gia chủ. Khi lựa chọn vật phẩm này để trang trí cho nhà ở nên chọn chất liệu bằng đá hoặc bằng gỗ bởi nó sẽ phát huy hết được linh khí ôn hòa, còn những chất liệu khác sẽ làm giảm hoặc mất đi tính lực. Nên đặt linh thú mèo theo các hướng Đông hoặc Đông Nam như vậy có tác dụng tiếp nhận vận hội, tạo may mắn và dung nạp tinh hoa của đất trời. Cũng có thể đặt quay ra hướng cửa chính, dịch về phía bên trái cửa sẽ tạo cho gia chủ sự hoạt bát, năng động mở rộng các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống và công việc. Linh thú cát tường trưng bày để hóa giải sát khí và đem lại vận may cho gia chủ Phượng hoàng tượng trưng cho sự kiên cường Phượng Hoàng là một trong bốn tứ linh (long, lân, quy, phụng) và là vua của các loài chim, phượng hoàng còn biểu hiện cho khả năng hồi phục kiên cường sau thất bại. Không những thế sự hiện hữu của phượng hoàng trong nhà luôn gắn liền với sự bình an, thịnh vượng, sung túc và hòa thuận. Trong Phong Thủy, thân hình của phượng hoàng gợi lên năm đức tính của con người: đầu tượng trưng cho đức hạnh, đôi cánh tượng trưng cho tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ, chiếc lưng tượng trưng cho cách đối nhân xử thế khéo léo, bộ ngực là lòng nhân đạo và lòng trắc ẩn và phần bụng biểu thị sự đáng tin cậy. Vị trí đặt phượng hoàng tốt nhất là ở một chỗ cao, trên một chiếc kệ hoặc trên tủ đựng tách để nó tỏa sáng. Cũng có thể đặt hình phượng hoàng dọc theo bức tường phía Nam ngôi nhà hoặc treo trong góc phòng sinh hoạt gia đình. theo http://cafef.vn/noi-that-phong-thuy/nhung-vat-pham-phong-thuy-khong-the-thieu-trong-nha-ngay-tet-20160108130505097.chn ====================================== Đọc xong mà đem áp dụng, thì chỉ béo cho mấy ông bán hàng phong thủy :rolleyes: Giá bán đồ này ngày tết thì giá cao
  24. 90% người Việt Nam không hiểu bài hát: 'Bắc kim thang cà lang bí rợ' "Bắc kim thang cà lang bí rợ" có thể được coi là câu hát cửa miệng của tất cả chúng ta thời thơ ấu, thế nhưng mấy ai hiểu được ý nghĩa sâu xa của nó, thậm chí tôi dám cam đoan đến hơn 90% chúng ta hát sai câu hát này. rước khi tìm hiểu thế nào là “bắc kim thang, cà lang bí rợ”, tôi xin kể lại một câu chuyện cổ tích mà mình nghe được trong chuyến đi công việc tại Long Xuyên khoảng 5 năm trước. Người kể câu chuyện này là một cụ bà khoảng gần 80 tuổi, tụ tập cháu chắt lại rồi vừa ngồi bỏm bẻm nhai trầu vừa kể chuyện. Chắc hẳn rằng nghe xong mọi người sẽ hiểu thêm về việc mà chúng ta đang bàn tới ở đây. Chuyện kể như sau: “Ngày xửa ngày xưa, ở một làng quê nọ, có hai người bạn làm nghề buôn bán cùng nhau. Một người đi soi đèn bắt ếch về đêm, còn anh kia thì chuyên đi bán dầu thắp đèn vào rạng sáng. Nhà họ dựng trên một cù lao nhỏ ven sông, tách biệt với làng xóm, muốn đi vào chợ làng phải đi ngang một cây cầu khỉ vắt vẻo. Do hoàn cảnh đơn chiếc, nên hai anh cũng thân thiết với nhau. Có lần vì mẹ già của anh bán ếch bệnh mà không có tiền chạy chữa nên qua đời, anh bán dầu liền bỏ tiền ra giúp đỡ ma chay mà không hề tính toán, vì thế mà anh bắt ếch càng quý trọng tình bạn của anh bán dầu. Một đêm nọ, trong lúc đi làm việc, anh bắt ếch nghe tiếng kêu thảm thiết phát ra từ một cái bẫy trên đồng. Tính tò mò, anh lại mở ra coi thì phát hiện ra hai con chim le le và bìm bịp nằm trong bẫy, do chúng giành ăn với nhau mới bất cẩn rơi vào bẫy của con người. Hai con chim ra sức năn nỉ anh bắt ếch mở bẫy tha cho mình, rồi hứa sẽ đền ơn báo đáp. Vốn là người có tính nhân từ, anh bắt ếch cũng xuôi lòng rồi giải thoát cho chúng. Vài ngày sau, hai con chim cùng bay đến nhà anh bắt ếch để cảnh báo cho anh biết tai ương sắp đến. Chúng nghe được hai con ma da ở sông bàn với nhau rằng sẽ kéo chân anh bán dầu và anh bắt ếch, cho hai anh chết, thế mạng cho chúng để chúng được đầu thai. Vì hai con ma này chết đã lâu, nếu trong 7 ngày không bắt được người thay thế sẽ bị hồn phách tứ tán, không được đầu thai nữa. Thêm vào đó, ma da cũng chỉ có thể bắt hai anh khi trời vừa rạng sáng, lúc anh bán dầu ra chợ và lúc anh bắt ếch về nhà, bởi vì khi mặt trời lên thì chúng không còn ma phép. Ban đầu anh bắt ếch đem cớ sự nói anh cho bán dầu nghe, khuyên anh nên ở nhà, nghỉ bán một tuần lễ, nhưng anh bán dầu lại không tin, cho rằng đấy là mê tín vớ vẩn, trên đời không có ma, quỷ. Theo lời le le và bìm bịp, anh bắt ếch viện cớ đến ngày cúng mẹ, gọi anh bán dầu qua nhà tiệc tùng ăn nhậu, chuốc cho anh say mèm đến mức sáng hôm sau không ra chợ bán được. Ngày kia lại lấy cớ sang nhà cảm ơn anh bán dầu đã giúp đỡ, lại bày tiệc ăn uống no say, trì hoãn việc đi ngang cây cầu kia. Hôm ấy là ngày cuối cùng của thời hạn 7 ngày ma da bắt hồn, do say xỉn nhiều ngày liền nên anh bắt ếch ngủ quên. Anh bán dầu sực tỉnh vào sáng sớm, nhận ra mình đã bỏ buôn bán mấy ngày liền bèn nhanh chóng quẩy hàng ra chợ. Do bước vội vàng qua cầu khỉ cheo leo, lại bị bọn ma da biến phép cho cầu trơn trượt nên sẩy chân rơi xuống nước mà chết. Anh bắt ếch vì tiếc thương bạn nhưng do còn sợ bọn ma da nên phải đợi hết một ngày sau mới dám vớt xác bạn lên mà làm ma chay. Thấy ân nhân của mình đau lòng, le le và bìm bịp cũng bay đến, cất tiếng kêu thảm thiết như tiếng kèn trống đám ma để tiễn biệt một người chết oan.” Đọc hết truyện cổ tích này thì có lẽ mọi người đều sáng tỏ vì sao trong bài đồng dao “Bắc kim thang” có 4 câu cuối là: Chú bán dầu, qua cầu mà té. Chú bán ếch, ở lại làm chi. Con le le đánh trống thổi kèn, Con bìm bịp thổi tò tí te tò te. Thực chất là để diễn tả lại câu chuyện cổ tích đề cao tình bạn và tính chất cứu vật vật trả ơn của người xưa. Thế nên vấn đề còn lại nằm ở hai câu: Bắc kim thang, cà lang bí rợ Cột qua kèo, là kèo qua cột. Ở câu đầu tiên, “cà, lang, bí rợ” là để chỉ cho 3 loại củ, quả có cùng một đặc tính là thuộc họ dây leo, trái cà, khoai lang và bí rợ. Đặc biệt với từ bí rợ, là một từ thuần chất của miền Nam, cũng đã nói lên xuất xứ của bài đồng dao này là từ miền Tây Nam bộ. Nói đến “bắc kim thang” thì phải hiểu hơi “hàn lâm” một chút, là từ kim thang ở đây hiểu cho đúng phải là cái thang hình chữ KIM -金- tức là hình tam giác cân. Từ “kim tự tháp” cũng là bắt nguồn từ chữ “kim” này mà có, do chỉ hình dạng cái tháp của người Ai Cập cổ là hình tam giác cân. Còn cái “kim thang” của con nít ngày xưa là do người lớn dùng hai thanh tre dài, bắt chéo vào nhau tạo thành một hình tam giác cân rồi cắm trên mặt đất, cách vài mét lại đặt một cái như vậy, tạo thành một hàng dài. Bản thân của cái kim thang này trở thành một cái cột (do không có cây cột dựng đứng giữa nên hai thanh tre chéo vào trở thành cột luôn). Những cái kim thang được nối vào nhau bởi cái “vì kèo” là những thanh tre chạy dọc theo giàn, cứ như thế tạo thành một giàn cốt là để cho cà, lang, bí rợ leo lên mà sinh sôi, phát triển. Vậy “cột qua kèo, kèo qua cột” là chỉ mối quan hệ gắn bó vào nhau của hai vật thể. Cả câu “bắc kim thang, cà lang bí rợ, cột qua kèo, là kèo qua cột” cốt để miêu tả mối quan hệ keo sơn, quấn quít, gắn bó vào nhau của anh bán dầu và anh bán ếch ở bốn câu sau. Cả bài đồng dao này được viết lại dựa trên câu chuyện cổ tích kia, nên cách lý giải cũng vì thế mà nên hiểu cho đúng. Tuy nhiên trải qua thời gian dài, người lớn không còn kiên nhẫn để giải thích cho con trẻ hiểu về truyện cổ tích kia, thế nên bài đồng dao “bắc kim thang” cứ thế mà lưu truyền, gây ra sự hoang mang, khó hiểu cho người nghe. Bên cạnh đó, cũng còn nhiều lời bàn, tranh cãi xung quanh việc lý giải ý nghĩa cho bài đồng dao này. Điển hình là ông Nguyễn Hữu Hiệp ở An Giang đã phát biểu trong hội thảo khoa học tại trường Đại học Cần Thơ năm 2003, rằng hiểu cho đúng thì bài đồng dao này phải được hát là: Bắt kim than, cà lang bí rợ Cột quai chèo, chèo qua chèo lại, Bắt ngựa ô, chạy vô vườn mít, Hái lá mít, chùi đít ngựa ô. Tuy nhiên cách giải thích này lại khập khiễng và vô cùng tối nghĩa, khó hiểu. Vậy nên tôi mới mạn phép truy tìm nguồn gốc, đọc và thẩm định rồi giải thích để mọi người hiểu hơn về bài đồng dao này. Nếu mọi người thấy cách lý giải này là hợp lý thì nhớ đặng mà con cháu có hỏi, thì ta biết trả lời rằng vì sao trẻ con hay hát: Bắc kim thang, cà lang bí rợ, Cột qua kèo, là kèo qua cột… theo http://phapluattp.vn/van-hoa-giai-tri/90-nguoi-viet-nam-khong-hieu-bai-hat-bac-kim-thang-ca-lang-bi-ro-480578.html ============================================= Mình cũng chẳng hiểu, nếu không đọc bài này :D
  25. Cách điều chỉnh trường khí vào tâm nhà Tâm nhà của một ngôi nhà được ví như trái tim của con người; con người muốn khỏe mạnh, sống, tồn tại thì phải có một trái tim khỏe mạnh ( tất nhiên là các bộ phận khác cũng quan trọng không kém, nhưng tim được coi là quan trọng nhất). Ngôi nhà cũng vật, tâm nhà được coi là quan trọng nhất ( các bộ phận khác như cửa, phòng thờ, bếp cũng rất quan trọng). Nhưng khí trường mà không vào được tâm nhà thì chẳng khác nào khí huyết bị phong tỏa không lưu thông được đến tim. Khí huyết không vào được tịm thì con người chỉ có chết chứ không thể tồn tại được. Trong ngôi nhà cũng thế, khi khí trường không vào được tâm nhà thì gia chủ chỉ có làm ăn thất bại, tính khí mọi người thất thường, hay ốm đau…. 1. Tầm quan trọng của tâm nhà: – Tâm nhà chính là trung cung của căn nhà, trung cung có tượng quẻ (theo kinh dịch) là quẻ khôn, số hiệu là 5 ( sao ngũ hoàng), ngũ hành là hành thổ, tính âm, Do đó: + Tâm nhà không được để làm nơi đựng bể nước ăn, hay bể phốt. Vì trong sinh hoạt các bể nước này sẽ làm động mà ngũ hoàng trung cung cần được tĩnh, khi bị động thì ngũ hoàng sẽ phát huy hay nói cách khác là đánh thức một tên sát nhân dậy, khi đó tai họa sẽ ập đến ngôi nhà ngay lập tức. + Tâm nhà cần tĩnh ( tức là không bố trí bếp đun, bể nước ngầm, bể phốt tại đây, cũng như không bố trí chiếu nghỉ của cầu thang tại đây), nhưng rất cần thiết để khí trường vào được đến đây, nếu khí trường vào được đến tâm nhà thì từ tâm nhà khí sẽ được di chuyển đến các vị trí khác trong nhà: cầu thang, bếp phòng thờ, phòng ngủ…. do đó nhà mới mát mẻ, thông khí. – Tâm nhà là nơi tốt nhất để đặt phòng khách, phòng sinh hoạt chung, để đón nhận khí tốt của cửa nhà vào. – Tâm nhà mà đón được trường khí sẽ làm cho gia chủ hưng vượng, hòa khí hanh thông, không nghịch với tự nhiên. 2. Cách điều chỉnh khí trường vào đến tâm nhà: – Từ tâm nhà đến cửa chính, ta hãy lấy 1 sợi dây và dóng tại hai điểm đó, nếu tạo thành một đường thẳng, không bị bức tường hay chiếc tủ ngăn cản thì tức là khí trường đã vào được đến tâm nhà. – Nếu đo và các định tâm nhà không có khí trường vào được đến nơi thì phải cải tạo để làm sao cho khí trường vào được đến tâm nhà. Dù có phải sửa tường phòng thì cũng phải làm để khí trường vào được tâm nhà. – Hãy để diện tích tại tâm nhà khoảng vài mét vuông để khí tụ đã rồi mới luân chuyển khí đến các hành lang và các phòng khác. nói như vậy là các hành lang đến các phòng, chân cầu thang nên xuất phát tại khu vực trung tâm để nhận khí. Khí phải vào được tâm nhà như hình vẽ. từ đó mới phân phát khí theo hành lang và đến các phòng khác. – Tâm nhà không đặt nhà vệ sinh – Không bố trí bếp tại tâm nhà, vì bếp tại tâm nhà sẽ đối hết các sinh khí và vượng khí, làm cho ngôi nhà thiếu vượng khí ( bếp cũng kiêng không được bố trí ngay cửa ra vào vì hỏa khí sẽ làm cho sinh khí không vào được nhà) – Không được bố trí bể phốt hay bể nước ngầm tại khu vực tâm nhà, vì gây ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật cho các thành viên trong ngôi nhà. – Tâm nhà không được bố trí phòng ngủ vì khi đó sẽ làm cho khí không vào được tâm nhà để phân bổ khí cho các khu vực khác – Không nên có bức tường che chắn tại khoảng giữa từ cửa chính đến tâm nhà. theo: batdongsan ============= Ghê quá :lol: