• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

PhươngHồng

Hội viên
  • Số nội dung

    282
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by PhươngHồng

  1. Eckhart Tolle sinh năm 1948 ở Đức. Sau khi tốt nghiệp Đại học Luân Đôn, ông trở thành một nhà nghiên cứu tại Đại học Cambridge. Năm hai mươi chín tuổi, một sự chuyển hóa tâm linh sâu sắc đã làm thay đổi hoàn toàn những gì ông từng nghĩ về chính mình và hướng đi của đời ông. Từ đó ông đã dành hết tâm sức để tìm hiểu, vận dụng và đào sâu thêm vào sự chuyển hóa này, đánh dấu một bước khởi đầu cho hành trình kiên trì đi vào nội tâm. Điều đặc biệt là Eckhart Tolle đã không nhấn mạnh đến một truyền thống hay tôn giáo nào. Trong những bài thuyết giảng trên khắp thế giới, ông chỉ muốn truyền đạt một thông điệp rất giản dị, nhưng sâu sắc và bất tử của các bậc giác ngộ từ xa xưa rằng: "Có một con đường thoát khổ và một phương pháp thực tập để tìm lại được niềm an lạc có sẵn trong mỗi người." Ông cư ngụ tại Vancouver, Canada từ năm 1996 đến nay. Các tác phẩm: The Power of Now (Sức mạnh của hiện tại) Stillness speaks (Sức mạnh của tĩnh lặng) A new Earth (Thức tỉnh mục đích sống) Webside: http://www.eckharttolletv.com/
  2. happy new year......... !!!!

  3. Cháu chào các bác , Các bác cho cháu hỏi một chút ạ . Anh họ cháu sắp cưới vợ nhưng mà không biết nên cưới vào ngày nào . Vậy nhờ các bác tư vấn cho cháu với ạ . Cháu xin cảm ơn. Anh cháu sinh năm 1983 , chị ấy sinh năm 1986. Vậy anh cháu có thể cưới hay ăn hỏi năm hay không ? và nếu cưới thì cưới vào tháng mấy được ạ ?
  4. :(
  5. Cháu chào các bác , Các bác cho cháu hỏi một chút ạ . Anh họ cháu sắp cưới vợ nhưng mà không biết nên cưới vào ngày nào . Vậy nhờ các bác tư vấn cho cháu với ạ . Cháu xin cảm ơn. Anh cháu sinh năm 1983 , chị ấy sinh năm 1986. Vậy anh cháu có thể cưới hay ăn hỏi năm hay không ? và nếu cưới thì cưới vào tháng mấy được ạ ?
  6. bác ơi !!!
  7. Cháu chào các bác. Cháu có anh trai sắp cứơi vợ , nhưng mà chưa xác định được ngày cưới . Mong các bác xem giùm cháu .Cháu xin cảm ơn ! Thông tin: Trai : Ngày sinh : 23/7/1983 ( dương lịch ) sinh gần 9h sáng Gái : Ngày sinh : 16/3/1986 (âm lịch ) sinh lúc 1h sáng. Các bác cho cháu hỏi liệu năm nay có thể cưới được không ạ ? Cháu xin cảm ơn !
  8. Một chút về quê hương xứ Thanh ... Am Tiên chuyện và giai thoại Am Tiên là nằm trên đỉnh núi Nưa nơi bà Triệu đóng quân :D đỉnh núi Am Tiên là nơi có 1 trong 3 huyệt đạo của đất nước . Ai từng lên Am Tiên sẽ cảm nhận vẻ đẹp của nó :D trập trùng mây nui .... Và cũng chính là quê ngoại của Phương Hồng ... Nhân tiện bác cả của Phương Hồng có viết đôi lời về đỉnh núi Nưa hùng vĩ . Phương Hồng xin được giới thiệu về quê ngoại của mình :D Nói đến Am Tiên - Ngàn Nưa quê tôi có rất nhiều chuyện kể và giai thoại. Ngày tôi lớn lên ông nội tôi thường kể rằng đỉnh Am Tiên nơi ấy thiêng lắm.Chuyện kể rằng ngày xưa tiều phu ở Cổ Định vẫn ngày ngày đi đốn gỗ về bán làm cột nhà. Có cây cả chục người khênh ( khiêng), to nữa thì trâu kéo, nhỏ thì vác...Ngàn Nưa trở thành nơi cung cấp gỗ làm nhà cho cả một vùng đồng bằng... Đường lên Am Tiên hôm nay Một hôm, người trưởng tràng đầu nhóm nói ông phải đi tìm chọn một cây gỗ Lim về làm cột đình làng. Ông leo lên đỉnh núi cao nhất của Ngàn Nưa...nhưng đến chiều tối dân làng vẫn không thấy ông trở về. Dân làng đốt đuốc, khua chiêng gõ mõ đi tìm, nhưng vẫn không thấy chút dấu vết nào. Một ngày, rồi hai ngày ...cả tháng không thấy ông về. Người ta đồ rằng đây là nơi Tiên ông giáng thế Đền Bà Triệu Dân làng nghĩ rằng ông đã bị thú dữ ăn thịt mất rồi. ( ngày ấy nhiều hổ, báo, voi, đười ươi...), Gia đình đành lấy ngày ông đi lên núi làm ngày giỗ... Rồi một ngày kia, khi mà cả làng không còn nhắc đến chuyện của ông nữa, thì đột nhiên ông trở về làng. Dân làng thấy một tiều phu vạm vỡ, nhưng chẳng ai biết tên ông. Ông về chính ngôi nhà của mình, làng mình nhưng sao bây giờ khác thế. Không thấy vợ con đâu. Chỉ thấy toàn người lạ. Ông hỏi mọi người về người thân, xưng tên, thì mọi người tròn mắt: người có cái tên ấy là ông cụ dòng họ đã chết từ lâu rồi. Bát nhang và bài vị thờ ông đặt trang trọng trên bàn thờ kia. Phải chăng là hồn ông hiện về. Không. Đây đúng là người, bằng da bằng thịt - ai dám mạo danh chăng. Nhưng sao ông nói tường tận thế, đúng là ông. Nhưng ngần ấy thời gian ông ở đâu? Những người cháu gọi ông là ông nội nay cũng đã râu tóc bạc phơ. Còn ông, vẫn ở cái tuổi trung niên. Chuyện ông đi tìm gỗ đối với ông chỉ là chuyện hôm qua, ông ở trên núi có mấy ngày xem hai ông lão đánh cờ thôi mà.Hết ván cờ phân thắng bại là ông về ngay... Ông kể, ông lên núi đi tìm gỗ Lim về làm cột Cái đình làng, tìm mãi chưa thấy, vừa mệt, vừa thất vọng thì ông nhìn thấy ở trên mỏm đá bằng kia có hai ông già đang ngồi đánh cờ. Cờ ông cũng biết và ham mê, nên ông đứng chống rìu xem hai ông lão toạ đấu. Cả chủ và khách mãi mê trong trận cờ mặt trời xuống núi lúc nào không hay, mà ván cờ vẫn chưa phân thắng bại. Ông định ra về, nhưng hỡi ôi cái cán rừu của ông mối đã xông hết, chỉ trơ lại lưỡi rìu. Ông thất kinh. Nhưng hai ông lão lại cười ngất, bảo ông cứ ở lại xem cho hết ván cờ. Trời tối mau, thú dữ nhiều họ khuyên ông ở lại. Hai ông lão không ăn cơm, mà chia cho ông ăn hoa quả và uống nước trong hồ lô. Ông nhớ, hai ông đấu với nhau đúng 3 ngày 3 đêm mới phân thắng bại. Xong trận cờ là ông xuống núi về ngay. Chỉ có điều ông thắc mắc là sao lúc ông xuống núi nhanh thế. Loáng cái đã không thấy hai ông lão đâu. Chỉ thấy hai con Hạc bay lên...Ông cũng chưa kịp hỏi tên, quê ở làng nào... Chuyện của ông được lưu truyền, mỗi người giải thích mỗi cách. Người ta bảo ông đã gặp các tiên ông, ông được ăn đào tiên, uống nước giếng tiên, nên ông trẻ mãi. Rằng, 3 ngày trên "cõi tiên" thì đã là một trăm năm ở hạ giới... Các hương lão trong làng Cổ Định, sau khi nghe chuyện của ông tin rằng ông đã gặp Tiên...Nên đã chung sức xây chùa, lập miếu thờ cúng phật, thánh thần, và tiên tổ. Từ đó nơi đây có tên gọi là Am Tiên. Ngày nay, trên đỉnh Am Tiên có Chùa thờ Phật; có đền thờ Bà Triệu; Có miếu thờ thần . Hàng năm có lễ hội Đền Nưa từ rằm Nguyên tiêu đến 19 tháng Giêng. Đặc biệt có Đền thờ Thánh Mẫu, để con nhang lảo đảo bóng cô đồng... Cô đồng và hình nhân... :D Am Tiên Tự :D QUỐC NINH Tân Ninh - Cổ Định - nhiều nguời quê tôi vẫn thích được gọi cái tên kép như vậy. Tại sao ư? Giản đơn bởi nó hàm chứa truyền thống của một mảnh đất Anh hùng: Na Sơn nơi xưa đấy nghĩa, nay là xã được Phong Anh hùng LLVT thời chống Mỹ... Theo sử sách và những giai thoại lưu tryền, thì đất Cổ Định - Tân Ninh quê tôi đã có lịch sử lâu đời, từng có nguời Việt cổ sinh sống và kiến tạo nên một vùng văn hoá, có dấu ấn riêng. Những đồ đá, đồ gốm ,đồ đồng tìm thấy ở Tân Ninh có niên đại hàng ngàn năm. Dãy Na sơn hùng vĩ và giàu có về khoáng sản và lâm sản, với bao huyền thoại mà sử sách và dân gian đã lưu truyền. Con người ở đất này tạo nên những khúc tráng ca. Na Sơn - Núi Nưa nơi Bà Triệu dấy binh khởi nghĩa; nơi căn cứ địa của nghĩa quân Lam Sơn và triều đại Nhà Lê... là hậu phương vững chắc của ...thời chống Pháp. Có truyền thống hiếu học, nhiều nhà khoa bảng thành danh, mà ở Vương triều nào cũng có. Có các Tiến sĩ mà bia đá Văn miếu còn ghi; có những sĩ phu xả thân mình dấy binh chống Pháp...được sử sách lưu danh. Na Sơn còn với bao trầm tích văn hoá: Đỉnh Am Tiên huyền thoại, có Huyệt khí Quốc gia (?); nơi có bàn cờ Tiên, Giếng Tiên...nơi Hạc tiên bay về. Con người, có dấu ấn văn hoá đặc trưng của người xứ Thanh, thông minh cần cù sáng tạo và nhân ái . Quê tôi ấy, có nhiều chùa, mỗi làng có ít nhất một ngôi chùa; có đền thờ Thánh; có Nghè thờ Tướng, có Đình thờ Thần hoàng...Bởi thế, trong mục này tôi muốn giới thiệu đôi nét về Cổ Định - Tân Ninh quê tôi. Am Tiên tự Theo các cụ cao niên và sử sách ghi lại. Trong dãy núi Nưa hùng vĩ bao gồm 7 phiến nằm ở tây nam Thanh Hóa, thì núi Am Tiên nhánh tận cùng nhô ra ở phía đông nam của cả dãy là cao nhất, đẹp nhất, người ta ví nó như Ba Vì của tỉnh Thanh vậy. " Na Sơn nhất phiến quang nhật nguyệt Tam khê động khoát khứ quy vân " Tạm dịch : " Am Tiên đẹp nhất sáng ngày đêm Ba khe động rộng mây đi về" Am Tiên là đỉnh nhô cao nhất, nhưng đặc biệt trên đỉnh lại có nước : giếng Trình ở đầu phía Đông Bắc, giếng Tiên ở giữa ( bao gồm giếng thờ, giếng nước ăn, giếng nước rửa ), Động Đào ( tương truyền là nơi tắm rửa của các tiên nữ ), xung quanh có cây hóp bao quanh, kín đáo nên nhân dân địa phương còn gọi là ao Hóp. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, quanh năm có nước trong xanh, nhìn thấy đáy và cá bơi lượn, có bàn cờ tiên bằng đá. Giai thoại có hai ông tiên ngồi đánh cờ đỉnh núi này nên có tên là Am Tiên (?) Cũng có tích nói rằng, tiều phu có nguời đã gặp những cô tiên tắm ở ao Hóp - Động Đào...do vậy, phiến núi đẹp nhất của ngàn Nưa này từ xửa, từ xưa đã gọi là đỉnh Am Tiên. Đỉnh cao nhất Am Tiên - nơi Huyệt khí quốc gia Sơ đồ Huyệt khí tại đỉnh Am Tiên Vào nửa đầu thế kỷ thứ III sau công nguyên (248), Bà Triệu đã lấy ngàn Nưa làm căn cứ tụ nghĩa, luyện quân. Xét về mặt quân sự, Na Sơn thực sự là một căn cứ đạt được hai mặt: công - thủ toàn diện, mặt phía đông dưới chân núi là cánh đồng sâu chiêm trũng, xen lẫn mau, vưc, một vài con đường độc đạo đi vào núi, còn tấn công chỉ với thời gian ngắn là nghĩa quân đã có mặt ở gần khắp đồng bằng Thanh Hóa... Am Thờ Một giá của Cô đồng tại Đền Mẫu ở Am Tiên Đỉnh núi Am Tiên là một cao điểm ( cao gần 500m so với mặt nước biển ), một tiền đồn có tầm quan sát và khống chế cả một khu vực rộng lớn (của huyện Như Xuân - Nông Cống - Triệu Sơn ngày nay.) Do vậy. ở cứ điểm trọng yếu này có thể xây dưng được doanh trại, bãi luyện quân. Mà còn là nơi linh thiêng qua nhiêu thế hệ đã lập bệ thờ, thờ cúng trời đất, thần phật, tổ tiên... theo truyền thống người Việt. Khi đàn áp được khởi nghĩa của Bà Triệu, bọn xâm lược đã tàn sát dân Cổ Na và tất nhiên cả những gì có liên quan đến Bà Triệu đều bị phá hết... Không ai khẳng định được sau đó bao nhiêu thế kỷ chùa Am Tiên được xây xây lại. Chỉ có chuyện lưu truyền rằng, cuối đời Trần có một ông tên là Tu Nưa, sống ẩn dật và tu hành ở đó. Khi Hồ Quý Ly lên làm vua, có sai người lên núi mời ông ra làm quan cho nhà Hồ, nhưng ông không được, họ Hồ cả giận, cho lính đốt núi Nưa và cho phá chùa Am Tiên...( còn có giai thoại nói Nhà Hồ cho người lên núi nhờ các Tiên ông cúu giúp lúc lâm nguy nhưng không được, khi xuống núi đi đến đâu thì cây leo chằng chịt lấp đường đến đó. Con cháu Hồ Quí Ly đã nổi giận đốt núi, cháy cả tháng ròng. Sau đó ngưòi ta thấy có hai con Hạc đen rời núi bay bay đi !) Sau sự kiện này, khoảng năm 1414- 1415, hương Cổ Na lại bị quân Minh tàn sát cả Cổ Định chỉ còn khoảng 13 người. Tuy vậy, Cổ Na hồi phục lại, dân cư đông đúc lên, chùa Am Tiên lại được xây dựng lại và sửa sang thêm. Vào cuối thời nhà Nguyễn, chùa Am Tiên vẫn còn đó. Một ngôi chùa 3 gian khiêm tốn, xây bằng đá, lợp tranh cỏ, nằm giữa một khung cảnh: thực thực, hư hư, nép mình dưới những cây đa cổ thụ, cành lá la đà, đó đây những tảng đá lớn, khánh đá cũ, những cột rêu phong ... Ông từ coi chùa cuối cùng trước Cách mạng tháng Tám - 1945 là cụ Hương Nhã, người họ Trần, (thân sinh ra ông Trần Huy Nhượng , người bí thư chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của xã Tân Ninh.) Sau Cách mạng tháng Tám - 1945, cụ Hương Nhã qua đời, chùa lại bỏ hoang, dột nát. Khoảng năm 1950, có ông Hoàng Văn Chí ( Tú Chí )đã đem gia đình về ở trên Am Tiên. Ông nuôi bò sữa, mở xưởng nhỏ nấu cồn, trồng cây.Đến năm 1955, ông về quê ở Thiệu Hóa, từ đó Am Tiên lại bị bỏ hoang. Đầu những năm 90 của thế kỷ 20 bà con phật tử trong xã đã khôi phục, xây lại chùa mới, trồng cây xung quanh chùa. Năm 1993 Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Thanh Hóa công nhận danh thắng Am Tiên cùng với đền Nưa, nghè Giáp , miếu Tào Sơn Hầu là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Nay, có nhiều con em của Cổ Định đi xa tham gia cùng cung tiến tiền, công sức cùng chính quyền các cấp và nhân dân trong xã đã và đang trùng tu xây mới đẹp hơn rất nhiều. Cây đa do ông Lê Khả Phiêu nguyên TBT tiến trồng tại đỉnh Am Tiên Cây đa do bà Nguyễn Thị Doan, Phó Chủ tịch nước tiến trồng tại Am Tiên Vãn cảnh Am Tiên
  9. Cháu chào các bác , lâu nay cháu cũng ham mê cái mục xem tướng này lắm , nhưng mà lại sợ sợ . Hôm nay mạnh bạo up hình của mình lên để nhờ các bác xem tướng giùm cháu với ạ . Cháu xin cảm ơn mọi người . cái này chụp 1 năm trước ạ cái này hơi luộm thuộm nhưng mà chuẩn khuôn mặt nhất .
  10. cháu nghĩ không phải cam chịu , nên là nhẫn nhịn
  11. sai rùi , PH không thích cãi vã , càng không phải là mẹ :)
  12. PH cảm ơn sư phụ . Lại sắp đc gặp sư phụ rùi :)
  13. Cháu có biết trường đại học FPT cũng chọn cóc làm linh vật .
  14. Có người bạn gửi mình tin này . Mọi người coi qua nhé :) Công ty bạn em đang tài trợ mổ tim miễn phí, khoảng 30 trường hợp. Nếu anh/chị nào trong Nhóm biết ai có hoàn cảnh khó khăn cần mổ tim thì giới thiệu cho em. Em sẽ cố gắng hết sức để giúp. 1. Đơn xin trợ giúp có xác nhận của chính quyền địa phương (theo mẫu của chương trình) - hiện nay, em chưa có mẫu nên cứ gửi đơn xin trợ giúp tự viết trước. 2. Bản photo giấy siêu âm tim. 3. Bản photo giấy báo chi phí mổ. 4. Một ảnh của bệnh nhân (cỡ 10x15cm) và 1 ảnh cùng cả gia đình (cỡ 10x15cm). 5. Bản Photo hồ sơ hộ nghèo, có xác nhận của chính quyền địa phương (nếu có). 6. Bản photo thẻ bảo hiểm y tế (nếu có). Hồ sơ cần gửi cho em trước ngày 10/4/2011. Em Ngọc, đt: 090 4227 117.
  15. 4 KHÓA THIỀN VIPASSANA 10 NGÀY Do Thiền sư S.N. Goenka và các Thiền sư phụ tá giảng dạy Tại Tịnh xá Ngọc Thành phường Linh Đông, quận Thủ Đức, TP.HCM, Việt Nam(03/07/2011 07:37 PM) (Xem: 769)Tác giả : Thanh Anh KHÓA THIỀN VIPASSANA 10 NGÀY Do Thiền sư S.N. Goenka và các Thiền sư phụ tá giảng dạy theo truyền thống của Ngài Sayagyi U Ba Khin Tại Tịnh xá Ngọc Thành 37/42 đường Số 41, khu phố 6, phường Linh Đông, quận Thủ Đức, TP.HCM, Việt Nam Khóa I: từ 20/04/2011 đến 01/05/2011 --- Khóa II: từ 04/05/2011 đến 15/05/2011 Khóa III: từ 02/11/2011 đến 13/11/2011 - Khóa IV: từ 16/11/2011 đến 27/11/2011 (Được chấp thuận tổ chức theo côngvăn số 89/TGCP-HTQT ngày 21/02/2011 của Ban Tôn Giáo Chính Phủ nước CHXHCN Việt Nam) Thiền Vipassana là một phương pháp đơn giản và thực tiễn để đạt được an lạc thực sự cho tâm hồn và đưa đến một cuộc sống hạnh phúc và có ích. Vipassana có nghĩa là nhìn thấy sự việc đúng như thật. Đây là một tiến trình hợp lý để thanh lọc tâm bằng cách tự quan sát. Đây là một khóa thiền nội trú 10 ngày hoàn toàn miễn phí. Phương pháp thực hành sẽ được hướng dẫn tuần tự, tỉ mỉ trong suốt khóa thiền. Tất cả các sinh hoạt ăn ở, tu tập của các thiền sinh được tài trợ bởi những thiền sinh cũ. Sau khi đã hoàn tất ít nhất một khóa thiền 10 ngày và hưởng được những lợi ích an vui từ khóa thiền, các thiền sinh cũ có thể đóng góp để giúp cho những người khác cũng có được cơ hội tương tự. Đây sẽ là các khóa 9, 10, 11, 12 của năm thứ 5 khóa Thiền này được tổ chức tại Việt Nam. Kính mời quý vị đang tìm cầu một phương pháp giúp an bình nội tâm đến tham dự khóa Thiền. Thời gian nhận đơn ghi danh: Từ 12/03/2011đến 15/04/2011 (khóa I, II) và đến 25/10/2011 (khóa III, IV) Lưu Ý: Trong suốt thời gian của khóa thiền, thiền sinh sống trong phạm vi của trung tâm, giữ im lặng tuyệt đối, không liên hệ với người đồng khóa, không liên lạc với bên ngoài… Thiền sinh tránh không đọc hoặc viết, tạm ngưng những lễ nghi tôn giáo hoặc các phương pháp thiền khác. Hằng ngày thiền sinh tuân theo một thời khóa biểu chặt chẽ gồm 10 giờ ngồi thiền xen kẻ với những giờ nghỉ và sinh hoạt cá nhân. Trước khi quyết định nộp đơn, quý vị cần download và đọc kỹ Bản Nội Quy Cho Các Khóa Thiền. Mọi chi tiết liên quan đến khóa Thiền xin vui lòng liên hệ: Ban tổ chức khóa thiền Vipassana Việt Nam: Điện thoại: 8408 39373410 – Di động: 09065 09483 E-mail <dhammavinnu.ghidanh@gmail.com> Địa chỉ: - Tịnh Xá Ngọc Thành (như ghi ở trên, liên hệ SC.Huệ Quý) - Thiên Đinh Quan 220/8 Nguyễn Trọng Tuyển P.8 Q.Phú Nhuận TP.HCM Download Đơn ghi danh, Bản nội quy khóa thiền và các tài liệu tham khảo : Đơn Ghi Danh (MS Word .doc) Đơn Ghi Danh (Acrobat .pdf) Giới Thiệu Về Thiền Vipassana (94KB) Nghệ Thuật Sống Thiền Vipassana (109KB) Bản Nội Quy Cho Các khóa thiền (101KB) Điều Lệ Dành Cho Các Phục Vụ Viên (211KB) Bài Giảng Tóm Lược Khoá Tu 10 Ngày (745KB)
  16. TÁI SINH Ở PHƯƠNG TÂY (Reborn in the West) của Vicki Mackenzie Nguyên Ngọc chuyển Việt ngữ (03/16/2011) (Xem: 257) Tác giả : Nguyên Ngọc Vicki Mackenzie Vào một buổi chiều lười biếng ở Sydney, tôi mở Tivi và thấy chương trình Oprah Winfrey đang tranh luận về kiếp trước kiếp sau, cuộc tranh luận rất sôi nổi. Đây là một "talk show" của Mỹ. Khách mời là Dr. Hazel Denning, bác sĩ phân tâm học, là một phụ nữ có tuổi, thông minh, ăn nói rất lưu loát và là sáng lập viên của hội Association for Past life and Therapies (Hội Nghiên cứu kiếp trước kiếp sau để ứng dụng vào việc chữa trị). Là một người tiền phong trong lãnh vực này, bà đã đi nhiều nơi trên thế giới thuyết giảng về luân hồi. Ngoài tài ăn nói rõ ràng lưu loát về đề tài luân hồi, về vấn đề kiếp trước ảnh hưởng đến kiếp hiện tại, bà còn là một bác sĩ tâm lý trị liệu rất giỏi. Tôi nghĩ công trình nghiên cứu của bà về luân hồi vào khoa tâm lý trị liệu ở Tây phương sẽ là những tài liệu quý báu cho tôi, nên tôi tìm cách hội kiến với bà. Máy bay hạ cánh xuống một phi trường nhỏ ở miền Nam California. Giáo sư Denning thân hành ra đón tôi. Người nhỏ thó, lưng thẳng đi đứng nhanh nhẹn tuy đã ngoài tám mươi. Bà ung dung lái xe về nhà ở Riverside, nơi sản xuất cam nổi tiếng của Cali. Trong căn phòng làm việc của bà treo đầy bằng cấp, chứng chỉ: hai bằng tiến sĩ, hai bằng thạc sĩ, bằng cấp cử nhân và rất nhiều văn kiện chứng thực bà rất uyên bác về khoa thôi miên và khoa cận tâm lý (Parapsychology). Trong hai ngày tôi ở lại nhà bà, bà kể cho tôi nghe về công việc của bà và giải thích lý do bà chọn công việc này. Từ hồi nhỏ, giáo sư Denning hay thắc mắc muốn tìm hiểu "tại sao" về việc này việc nọ, tại sao con người phải chịu khổ đau. Bà không tin đó là ý Chúa (God). Bà cho là tin như vậy có vẻ không hợp lý. Năm ngoài hai mươi tuổi, tình cờ bà được đọc một cuốn sách về luân hồi. Bà vui mừng,"Ôi chao! Tôi đã tìm được giải đáp cho những thắc mắc của tôi rồi. Tôi quá đổi vui mừng và suy nghĩ: cuối cùng thì tôi cũng tìm được một lời giải hợp lý, có thể lý giải được tất cả những bất công của thế gian". Hồi đầu thì bà chưa tin lắm. Bà tìm đọc những tài liệu xưa để xem những thức giả đời trước nghĩ sao về luân hồi, và khám phá ra rằng tất cả những tôn giáo lớn trên thế giới đều tin luân hồi kể cả Thiên chúa giáo cho đến năm 533 sau Tây lịch, thì một ông vua La Mã và bà hoàng hậu cấm không cho nói đến luân hồi nữa. Có hai giáo hoàng bị giết vì muốn giữ đoạn nói về luân hồi trong kinh sách. Ít người biết biết đến dữ kiện này. Cũng không mấy ai biết chuyện những cha cố ngày xưa như cha Origin và ông thánh Augustin đều tin có luân hồi. Bà nói, "Vậy những người nào nói rằng tin có luân hồi là trái với giáo điều Thiên chúa giáo là không biết những chuyện này". Bà càng thích thú hơn khi khám phá ra những nhân vật nổi tiếng từ cổ chí kim đều tin có luân hồi, từ Plato, Aristotle, Socrates đến Henry Ford, Gladstone, Thomas Edison, đại tướng Patton và nhiều người khác nữa. Bà áp dụng những hiểu biết về luân hồi vào khoa chữa bệnh tâm thần để tìm hiểu nguyên do sâu xa do đâu mà bệnh nhân dường như sống ở một thế giới khác, hay có nhiều sợ hãi vô lý (phobia). Tôi nóng lòng muốn biết giáo sư Denning làm sao dung hòa được hai vai trò có vẻ trái ngược, vai trò của một bác sĩ tâm thần và vai trò của một người dùng thuật thôi miên đưa bệnh nhân trở về kiếp trước. Làm sao bà có thể chấp nhận lối giải thích của các bác sĩ tâm lý trị liệu hiện nay dùng chữ nghiệp (karma) để giải thích rằng những gì xảy ra trong đời này đều do nghiệp chướng đương sự đã tạo nên từ nhiều đời trước. Giáo sư Denning không tin môi trường sống là tác nhân chính ảnh hưởng đến cách hành xử của một người. Bà công nhận hoàn cảnh bao quanh đời sống cũng đóng một vai trò khá quan trọng nhưng không phải là yếu tố chỉ huy. Theo bà thì mục đích của đời sống ở thế gian là để tu tâm. hướng thượng. Một người tái sanh ở lại cõi trần là để thanh toán, thành tựu những gì mình làm dang dở trong những kiếp trước. Bà nói có những đứa trẻ sanh ra với một bản tánh yêu đời, đứa khác thì hay cáu giận, tức là mang theo chủng tử của kiếp trước. Theo bà thì số phận (destiny) của mỗi người không thể thay đổi được những phước báu của cha mẹ hay môi trường chung quanh có thể làm cho đời sống của người ấy thoải mái hơn hay khó khăn hơn. Vì thế giáo sư Denning quyết định trở nên một nhà thôi miên chuyên nghiệp. Bà muốn dùng thuật thôi miên đưa bệnh nhân trở về sống lại kiếp trước của mình. Bà rất cẩn trọng, tỉ mỉ và trung thực trong công việc này. Bà không tìm cách khống chế tư tưởng của bệnh nhân. Bà nói ngày trước trong khoa thôi miên người ta thường dạy phương pháp gợi ý cho bệnh nhân (post-hypnotic suggestion) dùng những câu như "Không được ăn thức ăn này. Thức ăn này ghê lắm v.v...". Tôi không dùng phương pháp ấy, trái ngược với nguyên tắc của tôi. Tôi tìm được cách riêng của tôi mà không cần khống chế tâm ý của bệnh nhân. Vì thế tôi muốn dùng cụm từ "đổi đời" (altered state) thay vì hai chữ thôi miên". Năm 1980 bà lập hội "Association for Past Life Research and Therapies" và vui mừng thấy hội phát triển nhanh hơn dự tính, vì số người tin và muốn tìm hiểu luân hồi ngày càng đông. Bà khẳng định rằng khoa hướng dẫn bệnh nhân nhớ lại kiếp trước (Past Life Therapy) trở nên một dụng cụ hữu hiệu trong khoa tâm lý và y khoa toàn diện - chữa trị cả thân và tâm. Đường hướng này không những phát triển nhanh ở Mỹ mà còn lớn mạnh ở các nước khác trên thế giới. Bà được mời đi nói chuyện nhiều lần ở Á châu và ở trường đại học Ultrecht của Hòa Lan, một trường đại học xưa nhất, mà cũng là trường đại học đầu tiên có giảng dạy môn cận tâm lý (parapsychology). Ở Mỹ những người tìm đến với Dr. Denning gồm đủ mọi thành phần xã hội. Bà dùng phương pháp thông thường trước. Nếu không có kết quả thì bà đưa bệnh nhân trở về kiếp trước để tìm hiểu nguyên nhân. Bệnh nhân của bà gồm đủ mọi hạng người, mục sư có, chuyên viên có, rất nhiều nhà giao, nhiều quân nhân và các thành phần khác. Thường thường ai cũng muốn hỏi. "Mục đích của đời sống là gì?", "Tôi đang làm gì ở đây", "Tôi trở lại lần này để làm gì?". Bệnh nhân của bà thường ở lứa tuổi ba mươi đến bốn mươi, nhưng có một cô bé chín tuổi xin cha mẹ đến gặp bà để tìm hiểu tại sao cô sợ máu lắm. Mới chín tuổi nhưng cô rất chững chạc. Vừa thiếp đi cô bé thấy kiếp trước của mình là một ông già đang giẫy chết vì bệnh tim. Bỗng dưng cô la lên, "Không, tôi không phải chết vì bệnh mà vì tôi quá đau khổ". Rồi cô bắt đầu kể đến ông già - tức là tiền thân của cô - đưa vợ đi ăn tiệm. Một tên cướp vào tiệm bắn chết nhiều người trong đó có vợ ông. Cô thấy người "vợ" chết trong vũng máu - ấn tượng hãi hùng đó theo thần thức qua đến đời này. Thêm vào đó là mặc cảm tội lỗi đã không cứu được người "vợ" của mình ray rức hành hạ cổ, bà kết luận. Quan điểm của giáo sư Hazel Denning về vấn đền này rất rõ ràng vì bà chứng kiến hàng ngàn bệnh nhân đã đổi đời, bà đã thấy rõ bao nhiêu thảm cảnh trong nhiều kiếp của họ và bà đã triển khai riêng lý thuyết của bà. Cuộc đàm thoại sau đây giữa cô Mackenzie với giáo sư Denning, vì vậy, không những có giá trị về mặt thông tin mà còn rất thù vị và hào hứng. Vicki Mackenzie: Tại sao lại có hiện tượng tái sanh? Hazel Denning: Khi đưa một người trở về kiếp trước và tìm hiểu tại sao đương sự chọn tái sanh vào gia dình này, và mục đích của họ trở lại thế gian để làm gì thì ai cũng có câu trả lời tương tự: "Quả thật tôi không muốn trở lại thế gian chút nào. Ép mình vào cái xác phàm như đi vào tù, ngột ngạt lắm". Khi tôi hỏi lại: "Vậy tại sao ông/bà lại trở về, có ai bắt mình ở lại đâu?" thì câu trả lời luôn luôn là: "Vì thế gian là một trường học để rèn luyện nhân phẩm của mình. Muốn trau dồi tâm linh, muốn hướng thượng thì phải trở lại thế gian. Mà thật tình tôi muốn tu tâm nên tôi phải trở lại thế gian này". Đó là câu trả lời tôi ghi lại. Vicki Mackenzie: Theo kinh nghiệm của bà thì người ta trở lại thế gian này bao nhiêu lần? Hazel Denning: Vô lượng kiếp, cho đến khi họ học hỏi thành tựu được những điều mong muốn. Ngay cả trong đời hiện tại này có người phải mất nhiều năm mới thấy rõ ý nghĩa của những chướng ngại khó khăn xảy ra cho mình. Có một bà khi đến phòng mạch lần đầu tuyên bố rằng, "Tôi đến đây muốn hỏi về tình yêu lứa đôi". Trả lời thế nào với bà này? Là bác sĩ chuyên môn về khoa tâm lý, tôi không thể nói bà cứ yêu đi rồi sẽ được yêu. Bà vẫn đến phòng mạch nhưng không thường xuyên. Mãi đến mười tám năm sau bà mới tìm ra "chân lý". Trong thời gian không gặp mặt, bà có một đời chồng, ly dị, ăn ở với một ông khác, lấy chồng lần thứ hai, rồi cũng ly dị, ăn ở với năm, sáu ông khác nữa cho đến một hôm bà không chịu đựng được cảnh sống một mình nữa và cương quyết đi gặp tôi mỗi ngày cho đến khi nào tìm được nguyên nhân tại sao bà không thể chung thủy với một người. Cuối cùng thì bà thấy kiếp trước bà là con gái của một gia đình giàu có ở Hy Lạp. Khi chừng mười bốn tuổi, cô bé yêu cậu người làm cùng tuổi. Khi biết được, cha cô nổi trận lôi đình đày người yêu của cô ra một hòn đảo và bán cô cho một người đàn ông lớn tuổi. Quá đau buồn uất ức, cô tự tử chết. Trước khi chết, cô nguyện rằng. "Tôi thề sẽ không bao giờ, không giờ thương yêu ai nữa". Qua bao năm kinh nghiệm với công việc này, tôi thấy tư tưởng hay ý nguyện cuối cùng trước khi chết, nếu là tiêu cực sẽ theo người đó qua kiếp sau. Thí dụ nếu mình chết với lòng giận dữ, với tâm thù hận thì kiếp sau mình phải tu tâm dưỡng tánh để rửa lòng, để xả bỏ những thù hận của kiếp trước. Trở lại chuyện bà khách. Sau khi biết tiền kiếp của mình, bà gặp được một người chồng tử tế và có hai đứa con. Bà đang hụp lặn trong hạnh phúc mà trước đây bà không thể tưởng tượng có ngày bà có thể được hưởng. Sau khi chứng kiến câu chuyện bà này, tôi nghiệm rằng có nhiều người không thể một sớm một chiều mà tìm được lời giải. Họ cần phải trải qua nhiều biến cố nữa trước khi thấy cái nghiệp của mình. Và câu chuyện này cũng giúp tôi đi đến kết luận rằng mình không thể tự dối lòng. Cho đến khi mình thấy được cái nhân của đời trước, mình mới có thể giải quyết giải quyết cái quả của đời này. Nhiều khi phải đi sâu vào nhiều đời trước mới thấy được cái "nhân" chính đang chi phối đời sống hiện tại. Vicki Mackenzie: Có những người đa nghi cho rằng bệnh nhân tưởng tượng ra những hình ảnh, thêu dệt nên những câu chuyện trong tiềm thức của họ để biện minh cho những đau buồn ưu não của họ? Hazel Denning: Nếu quả đúng như vậy thì khoa tâm lý học phải giúp được bệnh nhân giải quyết mọi ẩn ức của họ chứ. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Có nhiều bệnh nhận của tôi theo khoa tâm lý trị liệu trong nhiều năm mà không ăn thua gì. Vicki Mackenzie: Bà có cho rằng chính mình tự chọn đời sống của mình không? Hazel Denning: Đúng vậy. Để tôi kể cho cô nghe một chuyện rợn tóc gáy. Một người đàn bà đến nói với tôi rằng: "Mẹ tôi đang hấp hối, cha tôi thì chết rồi. Cả cha lẫm mẹ tôi bầm dập sờ mó tôi hồi tôi mới ba tuổi cho đến năm tôi mới mười ba tuổi". Khi thiếp đi, bà sống lại cảnh tượng bị cưỡng hiếp hồi còn bé và la lên, "Cha ơi đừng, đừng làm con đau!" và bà nói tiếp liền "Tôi muốn tha thứ cho mẹ tôi trước khi bà chết nhưng tôi thấy khó tha thứ quá, tôi thù ghét cả cha lẫn mẹ". Nếu một người muốn sẵn sàng tha thứ, muốn quên hận thù cũ thì người đó đã được một sự chuyển hóa tâm linh cao và có thể hóa giải được. Nhưng nếu người nào nói ra rằng, "Đừng nói đến chuyện tha thứ những quân dã man đó, Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho họ. Tôi thù ghét họ". Thì đừng tìm cách giúp họ tha thứ vì tâm họ chưa sẵn sàng. Đối với bà này, tuy bà nói sẵn sàng tha thứ cho cha mẹ, nhưng tôi nghĩ "Làm sao tôi có thể giúp bà ta tha thứ cho người cha, người mẹ đã làm những chuyện ghê tởm như thế đối với con mình"? Tôi bức rức, dằn vặt mãi và cuối cùng chính bệnh nhân đã giúp tôi tìm câu giải đáp. Bà thấy kiếp trước, thời Đức Quốc Xả, bà là một đứa trẻ bụi đời, sống lang thang đầu đường xó chợ và đã giết chết một đứa trẻ khác. Sau đó họ bị bắt vào Auschwitz, một trại giam người Do Thái, và bắt phải làm công việc kiểm soát những đứa trẻ Do Thái bị giết đã chết hẳn chưa. Lúc đầu công việc không làm bà phiền hà mấy, nhưng ngày lại ngày nhìn bao nhiêu xác trẻ con, bà chịu không được nên đã bỏ trốn và bị bắn chết. Bệnh nhân nói thêm rằng, "Đời sau, khi tái sanh, tôi muốn cha mẹ tôi hành hạ tôi để tôi trả nghiệp cho mau. Vì vậy tôi phải cám ơn hai vị này đã giúp tôi trả nghiệp báo". Vicki Mackenzie: Có bao giờ bà chứng minh được những mẫu chuyện tiền thân này thật sự xảy ra không? Hazel Denning: Có chứ. Tôi vẫn để tâm theo dõi mỗi khi có dịp tốt. Thí dụ trường hợp một thân chủ nhất định không cho các con đi coi đoàn biểu diễn của gánh xiếc. Bà biết cấm đoán như vật thật là vô lý nhưng bà không thể làm gì khác hơn. Khi được đưa trở về kiếp trước thì bà thấy chính bà là "con mụ mập" (the fast lady) của một gánh xiếc và bà ghét cay ghét đắng vai trò của mình. Bà nhớ cả tên người đàn bà mập ấy và cả tên thành phố nữa. Có một bệnh nhân khác có mặt hôm đó biết thành phố này. Ông tình nguyện sẽ tìm đến xem thì quả nhiên đầu thế kỷ 20, ở thành phố đó có một bà mập tên đó đã theo đoàn hát xiếc kiếm ăn như lời bà kia tả lại. Trong đời hiện tại bà này cũng mập. Một bệnh nhân khác nhớ lại kiếp trước bà là một phú thương đàn ông bị chết chìm theo chiếc tàu Titanic. Bà nhớ tên tuổi của người đàn ông này. Về sau tìm xem sổ sách thì quả nhiên người đàn ông ấy là hành khách trên chiếc tàu Titanic. Bà kể khi nhìn thấy tên trong sổ bà rùng mình ớn lạnh! Ngoài những chứng cớ cụ thể này, những chứng cớ cho thấy những chuyện tiền thân mà các thân chủ tôi nói ra là có thật, và nó rất hợp tình hợp lý với bối cảnh riêng của từng người. Nhờ đó họ có thể đổi đời, có thể thoát được những ray rứt, những sợ hãi vô lý làm xáo trộn đời sống hiện tại của họ. Vicki Mackenzie: Có ai tỏ ra có mặc cảm tội lỗi khi nhìn thấy những việc xấu họ đã làm trong những đời trước? Hazel Denning: Không hẳn như thế sau khi họ hiểu mục đích của sự tái sanh và duyên nghiệp. Tôi giải thích cho họ thấy rằng những chuyện xảy ra trong quá khứ không quan trọng mấy. Quan trọng chăng là những gì mình học hỏi được từ những biến cố ấy, và dường như đây mới là nguyên tắc căn bản. Có một trường hợp rất lạ lùng. Một bệnh nhân vừa bước vào phòng mạch là ngồi phịch xuống ghế, đấm mạnh hai tay vào thành ghế và la lớn, "Tôi ghét Chúa! Jesus Christ là một kẻ lừa đảo! Tôi đã cố gắng làm hết mọi thứ, đã đi tìm thầy chuyên môn, đã học hết kinh Thánh mà vẫn không thay đổi gì được cuộc sống của tôi. Tôi khổ quá!" Bà gặp toàn chuyện xui. Rờ tới cái gì thì hỏng cái đó mặc dù bà là một người có khả năng xuất chúng. Sự nghiệp làm ăn bà gây dựng nên tưởng như thành công, cuối cùng cái gì cũng thất bại. Đường chồng con cũng xấu. Tuổi còn trẻ mà trông như một bà già. Bác sĩ nói cơ thể của bà già trước tuổi đến hai chục năm. Khi được hướng dẫn trở về kiếp trước thì thấy bà là một hồng y trong Tòa Án Dị Giáo (The Inquisition) do giáo hội La Mã Thiên Chúa chủ trì để trị tội những người ngoại đạo. Sự việc này làm đức hồng y (tiền thân của bà) rất đau khổ. Ngài biết trị tội những người ngoại đạo là sai lầm, nhưng đó là việc giáo hội muốn làm. Khi được hỏi tại sao bà trở thành công cụ chính trong Tòa Án Dị Giáo thì bà buột miệng nói rằng, "Đó là để cải tổ lại giáo hội vì giáo hội thời ấy quá hủ hóa, và tôi được giao trọng trách này". Qua những chuyện tương tự, tôi thấy rằng những việc làm khủng khiếp đều có mục đích riêng. Vicki Mackenzie: Đứng trên góc độ này, nghiệp báo trở nên khúc mắc, ly kỳ khó hiểu, phải không thưa bà? Vì nếu quan niệm những kẻ phạm tội ác chỉ là những công cụ giúp người kia trả nghiệp thì họ đâu có tội lỗi gì? Hazel Denning: Thật ra thì cũng khó nói lắm. Trùng trùng duyên khởi, cái nọ xọ cái kia, khó mà giải thích chữ nghiệp một cách rốt ráo. Mọi vật hiện hữu trên đời đều phụ thuộc tương tác lẫn nhau, chúng nương nhau mà sống. Nói một cách giản dị,có thể lấy ví dụ của một người chỉ thấy hạnh phúc trong sự đau khổ (masochist) có thể thỏa mãn nhu cầu của một người chỉ thấy vui sướng trên sự đau khổ của kẻ khác (sadist). Hai loại người này nương tựa vào nhau mà sống. Không có cái gì xấu hoàn toàn. Mỗi kinh nghiệm là một bài học. Ta có thể là thủ phạm làm điều ác trong một kiếp nào đó nhưng cũng có thể là nạn nhân trong một kiếp khác. Và cứ như thế, con người sống từ đời này qua đời khác cho đến khi nào họ học được bài học. Tôi tin rằng chính chúng ta tự chọn con đường mình đi, dễ dàng hay chông gai là cũng do mình. Một khi mình nhận chân được sự thật đó và chấp nhận mục đích của đời sống hiện tại thì hoàn cảnh chung quanh có thể thay đổi. Nếu một người biết nhận trách nhiệm của mình thì người đó có thể giải quyết được nhiều vấn đề. Còn những kẻ ngu muội không biết nhận trách nhiệm của mình mà cứ đổ lỗi cho người khác thì họ chưa sẵn sàng thay đổi. Chúng tôi, bác sĩ chuyên môn, phải thấy và biết rõ điểm này. Khi đạt đến mức tỉnh thức tối thượng thì linh hồn (the soul) tự dưng hiểu thấu mọi lẽ - hiểu được mình là ai, tại sao mình hiện hữu ở đây; thấy những gì mình đã làm trong kiếp trước, và những gì mình sẽ làm về sau này vân vân và vân vân. Nhưng chính cá nhân người đó phải tự mình học hỏi. Và tôi cũng không hiểu lý do tại sao chúng ta phải học hỏi nhiều quá như vậy, nhưng tôi không phải là người tạo ra những quy luật ấy mà chỉ tìm cách phân tích lý giải chúng thôi. Có người thật sự không muốn thay đổi hoàn cảnh không mấy tốt đẹp của mình như chuyện một bà nọ sinh ra với hai con mắt gần như mù. Bà phải đeo mắt kiếng dầy cộm. Sau khi soi căn, bà biết rằng chính bà muốn mắt mình như thế để ít thấy những phù du vật chất, để quên cái ngã của mình, để quay nhìn vào bên trong. Từ đó, bà vui vẻ với cặp mắt gần như mù của mình và không chịu tìm cách làm cho mắt sáng hơn. Vicki Mackenzie: Bà có thấy ai chọn trở về gần gũi với những người họ quen biết từ nhiều kiếp trước không? Hazel Denning: Có, Nhưng vai vế thì thay đổi. Có người tái sanh với nhau để giải quyết nhiều vấn đề còn dang dở. Có người muốn trở lại để giúp đỡ những người thân. Tôi cho rằng các thánh tử đạo, hay những người chọn cái chết vì chính nghĩa là họ tự nguyện làm như vậy để thức tỉnh lương tri của nhân loại. Cho nên nói rằng nghiệp báo chỉ thể hiện như một sự trừng phạt thì không đúng, cũng có nghiệp dữ, nghiệp lành. Đó là luật nhân quả. Tôi có quen biết một bà bác sĩ, một người đàn bà rất dễ thương mà lấy một ông chồng dễ ghét nhất trần gian. Khi nào ông cùng mè nheo, gắt gỏng, độc ác mà chính ông không cố tình độc ác. Dần dần, bà chán nản không còn thương chồng nữa. Nhưng không bao giờ bà có ý định ly dị. Một hôm bà đến xin soi căn và thấy rằng bà đã gặp ông này ở một kiếp trước khi ông là một linh hồn lạc lỏng. Bà hứa kiếp sau sẽ lấy ông làm chồng và sẽ giúp ông tìm lại linh hồn mình. Và sau đó thì bà thay đổi thái độ, thật tình yêu thương ông, dịu dàng kiên nhẫn với ông và chỉ một năm sau thì ông cũng đổi tính. Ông đi nhà thờ với bà, ông lái chiếc xe sport màu đỏ rong chơi khắp phố phường. Ông nói năng vui vẻ, hài hước ai cũng thích. Tôi dùng câu chuyện này để khuyên răn những gia đình có chồng nghiện rượu. Tuy người vợ tha thứ sự nghiện ngập của chồng nhưng tình cảm đối với chồng thì đã sứt mẻ. Tôi nói với họ rằng. "Nếu chị thật tình thương yêu và muốn cải hóa chồng thì chị không nên dùng giọng lời gay gắt với chồng mà nên bộc lộ tình thương, ăn nói dịu dàng thì ông sẽ thay đổi". Có nhiều bà nghe lời và đã thành công. Vicki Mackenzie: Bà cho biết sau khi chết, hồn có một thời gian nhất định để đi đầu thai không? Hazel Denning: Có người tái sanh trong vòng vài tiếng đồng hồ sau khi chết, nhất là lính tráng chết ngoài trận mạc. Họ không chịu được cảnh hồn họ lang thang. Họ muốn nhập xác liền. Có lẽ lý do này giải thích được hiện tượng thiên hạ sinh đẻ nhiều sau những trận chiến tranh. Có nhiều người thì mấy trăm năm sau mới tái sanh. Có nhiều linh hồn từ thời Atlantean Age mà bây giờ mới trở lại trần gian. Có lẽ họ chờ đúng thời cơ để đem những hiểu biết mới giúp cho sự chuyển tiếp qua thời đại mới. (New Age). Vicki Mackenzie: Có khi nào bà đã gặp những người đã từng sống ở hành tinh khác hay cõi giới khác không? Hazel Denning: Thỉnh thoảng cũng có. Rất nhiều người cho rằng hạ giới là hành tinh thấp nhất trên cột luân hồi (the totem pole). Có mấy người nói rằng trước kia họ sống trên một hành tinh khác. Có một ông viết một thứ chữ lạ hoắc rồi dịch lại tiếng Anh. Ông nói hành tinh ấy có một văn hóa khắc hẳn. Ông còn nói khi ấy ông hiểu được "nguyên lý đồng thời" - hiện tại, quá khứ và vị lai đều đang thể hiện ở giây phút này. Thật là khó hiểu. Vicki Mackenzie: Bà có biết những kiếp trước của bà không? Hazel Denning: Có chứ. Đời trước kiếp này của tôi rất lạnh lẽo. Tôi là một phụ nữ sinh ra ở nước Anh, lấy chồng là một người làm ngoại giao giàu có, nhà cao cửa lớn, có nhiều gia nhân hầu hạ, tiệc tùng liên miên nhưng tôi rất cô đơn, sống không có tình thương. Khi gần chết, tôi còn nhớ gia nhân rón rén bước không dám gây tiếng động, tôi đã nắm tay em gái tôi và nuối rằng, "Nếu chị được sống lại từ đầu, chị sẽ thương yêu nhiều hơn". Và trong đời này, một em gái tôi chết lúc chín tuổi, tôi mới mười một tuổi. Tôi đã thương khóc em trong hai năm. Tôi cần kinh qua sự đau khổ như vậy mới lấy lại được cảm xúc bình thường. Nhưng kỷ niệm khó quên nhất xảy ra lúc tôi đang ở trong phòng tắm. Tôi bị đau gan từ lúc học lớp tám. Tôi hay bị những cơn đau túi mật hành hạ, đau đầu đến buồn nôn làm tôi khổ sở lắm. Hồi trước tôi cũng hay nóng nảy. Có hôm cơn giận nổi lên khiến hai mạch máu nhỏ ở cổ bị đứt. Có nhiều lúc tôi có cảm tưởng như cơn giận làm chóp đầu của tôi có thể bay đi mất. Nhưng không ai biết vì tôi không để lộ ra ngoài. Cách đây chừng mười năm, một hôm tôi đang tắm dưới một vòi sen thì cơn nhức đầu kéo tới. Tôi dằn giọng nói lớn, "Chúa ơi, tôi muốn biết tại sao tôi bị bệnh gan hành hạ, tại sao tôi phải chịu đau khổ như thế này?" Vừa dứt lời bỗng nhiên tôi thấy mình là một người lính theo Thập Tự Chinh thời Trung Cổ, vừa bị một giáo xuyên qua gan. Tôi tức giận sắp phải chết vì một "chính nghĩa" mà tôi không còn tin tưởng nữa. Tôi chán ghét những việc chúng tôi đang làm - đốt phá những đền đài đẹp đẽ - nhưng tôi không làm gì được hơn. Tôi biết tôi sắp chết và sẽ không bao giờ thấy lại được người vợ và hai đứa con trai. Tôi chết trong giận dữ, và chứng đau gan bây giờ là biểu hiện của cơn giận xa xưa ấy. Giây phút ấy trong phòng tắm, tôi nghe một giọng thì thầm: "Nguyên do của tính nóng giận của ngươi bắt nguồn ở đây". Từ ngày đó, tôi không bị cơn đau túi mật hành hạ nữa. Vicki Mackenzie: Biết được kiếp trước của mình có lợi ích gì trong kiếp sống hiện tại không? Hazel Denning: Những hiểu biết về kiếp trước kiếp sau giúp tôi sống an nhiên tự tại. Đối với tôi, thế giới kia cũng rất thật như thế giới này. Cho nên khi mẹ tôi mất, rồi chồng và con trai lần lượt qua đời, tôi không đau buồn mấy. Ngày con tôi tử nạn xe mô tô, tôi vẫn tiếp tục đi thuyết giảng tại một trường đại học đã được sắp đặt trước. Khi biết ra, một giáo sư ở trường hỏi sao tôi có thể dửng dưng trước cái chết của con như vậy. Tôi đã trả lời rằng đối với người ngoài thì tai nạn ấy là một thảm cảnh, nhưng đối với tôi thì khác. Tôi biết con tôi là thầy tu trong ba kiếp trước. Trở lại lần này là cậu muốn nếm mùi đời. Cậu sống mau, sống vội, bất chấp nguy hiểm. Tôi biết con trai tôi không muốn kéo dài đời sống như vậy và cậu quyết định rời bỏ cõi trần sớm trước khi chuyện gì xấu có thể xảy ra. Tuy tôi thương tiếc con, và cũng như những bà mẹ khác, tôi vẫn mong được thấy ngày con khôn lớn, nên người v.v... nhưng trong thâm tâm, tôi mừng cho con đã giải thoát vì tôi biết con tôi sống trong đau khổ. Trường hợp chồng tôi cũng thế. Một buổi sáng đang chơi tennis, ông gục chết trên sân cỏ. Sau khi được tin, tôi vào phòng đọc sách gọi điện thoại báo tin cho gia đình và bỗng dưng một cảm xúc kỳ diệu chưa từng có đã đến với tôi. Căn phòng như sáng hơn và ấm áp hơn. Lông măng trên hai tay tôi dựng đứng hết và tôi cảm thấy được an ủi, khích lệ và sung sướng lạ lùng dường như được ôm ấp bởi tình yêu của nhà tôi, khi ấy tôi nghe tiếng ông thầm thì: "Em ơi, anh sung sướng được ra đi như ý muốn". Tối hôm ấy tôi vẫn đi dự buổi họp ở trường. Tan họp, tôi mới báo cho mọi người biết tin và ai cũng xúc động thương tiếc làm tôi phải đi an ủi từng người. Khi người thân qua đời thì đau buồn là chuyện thường tình, nhưng tôi không chịu được cảnh người ta tỏ ra bi thương thái quá, vì như vậy chứng tỏ họ có mặc cảm tội lỗi gì với người chết. Vicki Mackenzie: Theo như bà nói thì mọi chuyện xảy ra đều có lý do? Và cuối cùng thì cũng đưa đến sự tốt đẹp? Hazel Denning: Đúng thế... Tôi cho rằng con người được sinh ra với một trí tuệ sáng tạo vô bờ mà chúng ta đã ngu muội không thông hiểu, đã phá hoại và lãng quên những khả năng ấy. Thời đại này là thời đại chúng ta có thể trở về với bản năng chân thật của chúng ta. Cũng giống như những mẫu đối thoại với các vị "gurus" Tây phương khác về luân hồi, buổi nói chuyện với Dr. Denning thật là hứng thú. Những điều tôi học được ở bà cũng như ở nhiều nhà chuyên môn khác về kiếp trước kiếp sau cũng không khác những điều tôi đã được nghe mấy Lạt Ma của phương Đông giảng dạy. Chi tiết về trường hợp tái sanh có thể khác nhau nhưng chân lý thì chỉ có một, là chân lý mà Lama Yeshe và Lama Zopa đã nói cho chúng tôi nghe trong chiếc lều trên sườn núi của Kopan rằng sau khi chết sẽ có một đời sống khác; rằng đời sống kế tiếp như thế nào là do nghiệp báo của bao đời trước quyết định; rằng trạng thái tâm thần khi hấp hối đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến đời sau; rằng người ta thường trở lại sống với những người có nghiệp duyên với chúng ta; rằng những đau khổ của đời này là chính chúng ta tạo ra v.v... Không nên oán ai, đổ lỗi cho ai vì chính mình vẫn luôn luôn làm chủ đời mình. (Trích: Đặc San Hoa Nghiêm, Mừng Xuân Tân Mão, Phật lịch 2554 - 2011)
  17. híc , trong chuyện tình cảm mà chị Rin cứ bốc quẻ hoài . Như vậy bj phụ thuộc quá nhiều sẽ dẫn đến chị làm hành xử và suy nghĩ sai lệch :( Theo em nghĩ tốt nhất là làm mọi chuyện với 1 cái tâm không có mong đợi . Chị thử xem :)
  18. :) chị xem phim Để Mai Tính đi :) hay lém đó :) chúc chị vui vẻ trở lại
  19. PHẬT GIÁO NAM TÔNG THỪA THIÊN HUẾ Chùa Định Quang, Thuỷ Phương Hương Thuỷ, TT-Huế ĐT: 054 3853101 THƯ VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG LỚP HỌC TÌNH THƯƠNG Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bách chư Tôn Đức Tăng, Ni Kính thưa quý vị đạo hữu thiện tri thức, Kính thưa chư thiện nam,tín nữ Phật tử các giới, Kính thưa quý liệt vị. Với thiện chí mong muốn giúp đỡ cho những trẻ em nghèo ở vùng nông thôn có thêm điều kiện học tập để nâng cao kiến thức,nhờ những tấm lòng hảo tâm ủng hộ, gần 3 năm qua chùa Định Quang đã mở được 2 khoá học ngoại ngữ, giúp cho hơn 500 học sinh nghèo được học miễn phí. Nhận thấy có rất nhiều trẻ em ham muốn học tập, chúng tôi dự định xây dựng thêm một phòng học máy tính, để giúp cho trẻ em và người nghèo được học; tuy nhiên, kinh phí xây dựng và trang thiết bị dạy đang vượt khỏi số tài chánh mà chúng tôi hiện có. Cho nên chúng tôi viết lá thư này để vận động thêm nguồn quỹ, rất mong nhận được sự ủng hộ của Chư Tôn Đức và của quý liệt vị, để giúp cho phước sự này sớm được thành tựu. Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ quý liệt vị vô lượng an lành. Thừa thiên Huế, ngày 09/03/2011 Chủ trì chùa Định Quang, Tỳ khưu Chơn Hữu. Mọi đóng góp xin gửi về:Tỳ khưu Chơn HữuChùa Định Quang,Phường Thuỷ Phương, Thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế.ĐT: 054 3853101Hoặc chuyển vào tài khoản:Chùa Định Quang ( Dinh Quang Temple )Ngân hàng Vietcombank, TT-HuếSố tk: 0161000876453Xin vui lòng ghi rõ: Ủng hộ lớp học tình thương.Dự toán: Xây một phòng học 50m2, lợp ngói, đóng la phông, gạch nền và sơn: 120.000.000đ Bảng giáo viên, bàn ghế học sinh (loại để sử dụng máy tính), điện và quạt: 60.000.000đ 20 máy tính (cấu hình tốt, màn hình LCD): 120.000.000đ. Tổng kinh phí dự toán: 300.000.000đ số tài chánh hiện có: 120.000.000đ Số kinh phí cần vận động: 180.000.000đ. Trân trọng cám ơn quý vị đã nhận thư vận động này. Kính mời quí vị vào blog chùa Định quang để xem một vài hình ảnh lớp học tình thương. http://vn.360plus.yahoo.com/chuadinhquang/article?mid=408&prev=409&next=385 Kính chào thân ái, With Metta.
  20. Thở để chữa bệnh Nguyễn Khắc Viện là một bác sĩ, sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học ĐH Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ Nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phổi nặng, điều trị ở BV Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Thời đó, bệnh lao chưa có thuốc chữa như bây giờ. Từ năm 1943 đến năm 1948, ông phải chịu mổ bảy lần, cắt bỏ tám cái xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái. Các bác sĩ Pháp bảo, ông chỉ có thể sống chừng hai năm nữa thôi. Trong thời gian nằm chờ chết, ông đã tìm ra phương pháp... thở để tự chữa bệnh cho mình, và kết quả là ông đã sống đến tuổi 85 mới mất (1997), nghĩa là sống thêm được 50 năm nữa, hoạt động tích cực, năng nổ trong nhiều lĩnh vực. Chuyện khó tin nhưng có thật! Tôi may mắn được quen biết ông trong nhiều năm. Với tôi, ông vừa là đồng nghiệp, là đàn anh mà cũng là người thầy. Ông là bác sĩ, đồng thời là một nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động xã hội rất nhiệt tâm. Ông là cố vấn của bộ môn tâm lý-xã hội học do tôi phụ trách tại Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế TP.HCM, (nay là ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch) ngay từ hồi mới thành lập (1989). Ông thường trao đổi với tôi điều này điều khác, về công việc viết lách, giảng dạy, và nhiều lần về phương pháp thở dưỡng sinh của ông. Trao đổi không chỉ về cơ thể học, sinh lý học mà cả về tâm lý học, đạo học. Có lần ông mở áo cho tôi xem mấy vết mổ vẫn chưa hoàn toàn liền lạc trên ngực ông. Lần khác ông lại cao hứng vén bụng bảo tôi thử đánh mạnh vào bụng ông xem sao. Tôi phục ông ốm nhom ốm nhách mà làm việc thật dẻo dai, bền bỉ, gần như không biết mệt mỏi. Trong lúc nhiều người giảng bài, nói chuyện, hội họp, làm việc... thấy uể oải, hụt hơi, thì một người chỉ còn hai phần ba lá phổi, chỉ còn gần một nửa "dung tích sống" như ông lại vẫn ung dung, thư thái. Ông cười "tiết lộ" với tôi, những buổi hội họp dông dài, vô bổ, ông chỉ ngồi... thở, nhờ vậy mà ông không bị stress, không bị mệt. Ông nói sau này khi ông mất đi, điều quan trọng ông để lại không phải là những tác phẩm văn học, triết học này nọ, mà chính là bài vè dạy thở chỉ với 12 câu của ông. Trước kia, tôi cũng chỉ nghe để mà nghe chớ chẳng thực hành. Cho đến ngày tôi bị vố tai biến nặng, phải nằm viện dài ngày, lúc đó tôi mới thử đem ra áp dụng. Quả có điều kỳ diệu! Nó làm cho tôi thảnh thơi hơn, ít nhọc mệt hơn và sức khỏe tốt hơn. Trong thời gian dưỡng bệnh, các bạn đồng nghiệp thương tình, cho rất nhiều thuốc, nhưng tôi chỉ chọn một vài món thực sự cần thiết, còn thì chỉ... dùng phương pháp thở để tự chữa bệnh cho mình. Phương pháp thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thực ra không phải là cái gì hoàn toàn mới. Nó chỉ là một sự tổng hợp của khí công, thiền, yoga, dưỡng sinh... của Đông phương từ ngàn xưa, được nhìn bằng sinh lý học hô hấp hiện đại của một người thầy thuốc. Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: Thót bụng thở ra Phình bụng thở vào Hai vai bất động Chân tay thả lỏng Êm chậm sâu đều Tập trung theo dõi Luồng ra luồng vào Bình thường qua mũi Khi gấp qua mồm Đứng ngồi hay nằm Ở đâu cũng được Lúc nào cũng được!
  21. Mọi thứ là do tâm tạo mà :)
  22. Miền đất vàng Tác giả : Chitto nguồn: http://www.phuot.com/forums/threads/6299-M...E1%BA%ADu/page3 http://static.panora...al/32227361.jpg Người ta gọi Myanmar là Miền đất vàng - Golden Land - cũng không có g“ lạ, bởi nơi đây mắt người có thể nh“n thấy vàng ở khắp nơi !!! và Vàng gắn với Phật giáo, với những ngôi tháp chùa rực rỡ... Ba nơi thiêng liêng nhất đối với người Myanmar, ba thánh địa Phật giáo, đứng đầu là Chùa tháp Shwedagon ở Yangon, thứ hai là tượng Phật dát vàng Mahamuni ở Mandalay, thứ ba là Hòn đá vàng Kyaiktiyo http://static.panora...al/32227361.jpg http://static.panora...al/32227364.jpg http://static.panora...al/32227366.jpg http://static.panora...al/32266958.jpg Nhưng VÀNG của xứ Myanmar đâu chỉ là vàng dát trên tháp chùa, tượng Phật, mà còn là Vàng của hoàng hôn Bagan http://static.panora...al/32283300.jpg và VÀNG trong b“nh minh thành cổ http://static.panora...al/32283303.jpg Và Vàng hoàng hôn U Bein http://static.panora...al/32315236.jpg Phật bị cầm tù... Trong tất cả các pho tượng Phật mà tôi đã thấy ở Myanmar, ấn tượng nhất đối với tôi là pho tượng ở chùa Manuha, trong khu làng Myinkaba, Bagan. Pho tượng gạch khổng lồ cao đến gần 15m, ngồi bình yên thản nhiên giữa bốn phía tường gạch sát sạt như muốn thít chặt lấy đức Phật. Đỉnh đầu Phật sát vào trần, đến nỗi búi tóc chìm vào trần phòng. Các bức vách chỉ cách thân Phật vừa đủ một người lách qua. Một vị Phật bị cầm tù. Lịch sử kể rằng: năm 1059, vua Bagan đánh vùng Thaton, bắt được vua Manuha đem về cầm tù tại đền Nanpaya. Vị vua mất tự do đã dùng những tài sản cuối cùng của mình xin được xây một ngôi chùa thờ Phật cạnh nơi bị giam giữ. Và thế là hình đức Phật bị giam cầm giữa bốn bức tường ra đời. Khi chùa xây xong thì vua Manuha cũng chết trong tù. Chùa Manuha có 3 pho tượng Phật ngồi và một pho Phật nằm đều trong thế bị giam cầm. Tưởng như Phật chỉ cần dang tay, duỗi chân là tường sụp, cột đổ, thế nhưng Phật vẫn ngồi bình yên suốt gần một nghìn năm qua. Và đến giờ, đây vẫn là những pho tượng Phật lớn nhất Bagan. http://static.panora...al/32343026.jpg Miền đất vàng hồn hậu không chỉ hấp dẫn khách du lịch bốn phương bằng vô số những đền chùa tượng và đá dát vàng, với thiên nhiên tươi đẹp, mà bằng cả chính những tấm lòng hồn hậu của người dân Miến trên khắp đất nước. Con người Miến Điện nghèo mà lịch thiệp, luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác không một chút tính đếm. Tôi không bao giờ quên được những đêm lỡ độ đường được sự bảo bọc của các bạn Miến, vô số những lần được các bạn dành thời gian hướng dẫn tỉ mỉ đường đi lối lại, dành hàng giờ để phiên dịch trong khi vẫn đang bận rộn việc gia đình với câu nói: I just want to help you, và còn cả những bữa ăn gia đình ấm cúng khiến cho tôi cảm thấy đang xa xứ mà như ở quê nhà, ngồi bên những người lạ mà thấy không hề xa lạ. Tấm lòng người Miến là thứ đặc biệt cuốn hút khách du lịch hướng tới miền đất vàng nơi có những tấm lòng vàng. Bốn vị Phật Bất cứ ai đến Myanmar đều cũng nhận thấy tượng Phật Myanmar có đặc trưng rất riêng. Các ngôi chùa lớn, bốn phía có bốn tượng Phật nhìn ra. Chùa Shwedagon, chùa Shwezigon, chùa Shwemawdaw... đều như vậy. Theo tôi, trong các bộ 4 tượng Phật, bộ tượng tại chùa Ananda - Bagan là đẹp nhất, 4 pho tượng đứng cao sừng sững, từ gần chục mét nhìn xuống, với các khuôn mặt, nếp áo, thủ ấn tuyệt đẹp... Đây là bốn vị Phật trong quá khứ đã từng thuyết pháp trên cõi Tabà này... http://static.panora...al/32390773.jpg Lần lượt từ trái sang: Phía Bắc là Phật Câu-Lâu-Tôn, với hai tay trong thủ ấn chuyển pháp luân Phía Đông là Phật Câu-Na-Hàm, với tay phải cầm ngọc ước ban phúc Phía Nam là Phật Ca-Diếp, với hai tay chuyển pháp luân Phía Tây là Phật Thích-Ca, tay phải trong ấn Vô uý, tay trái ấn cát tường Bốn pho tượng bao quát cả bốn phương vũ trụ, lồng lộng từ bi, mỗi khuôn mặt đều rất riêng không giống nhau, thể hiện sự tự do sáng tạo của các nghệ sĩ từ hàng trăm năm trước. (Người Myanmar tôn sùng bốn vị Phật quá khứ cho đến Thích Ca, còn Việt Nam thì là bảy vị) Bóng và hình, sáng và tối, đôi khi không rõ cái gì tạo nên cái gì??? http://static.panora...al/32419470.jpg Thành Bagan đã từng rực rỡ huy hoàng một nghìn năm trước, đã từng có đến 10000 (mười nghìn) ngôi chùa, đền tháp, ngày nay trơ trơ cùng bụi đất, cỏ cây. Chỉ còn lại khoảng hai nghìn ngôi đền còn lại. Xưa kia chắc hẳn những ngựa xe của các vị vua chúa Bagan đã từng rầm rập nơi này, các đoàn tu sĩ rực rỡ trong sự sùng kính của dân chúng... Giờ đây, chỉ còn những chiếc xe ngựa lọc cọc xuyên giữa những con đường bụi đất. Lọng vàng tán bạc, xiêm áo huy hoàng xưa còn đâu !? -------- Trong Bagan có thể thuê xe ngựa hoặc taxi, xe ngựa rẻ hơn vì không tốn xăng! Phi đội củ đậu trước kia ngự 4 người một xe, còn lần này Củ Lạc quyết định đi hai xe, vì thương các chú ngựa có thể mệt mỏi quá. Lũ ngựa ở đây chỉ được ăn rơm khô mà thôi. Vùng đất khô hạn này lấy đâu cỏ non cho chúng ! http://static.panora...al/32571030.jpg Đi xe ngựa có lẽ cũng tạo thêm công việc cho người dân nghèo nơi đây, và cảm giác ngồi trên xe lúc lắc lúc lắc cũng rất thú vị. Có thể trò chuyện với người đánh xe, có thể ngủ gà gật, lim dim mắt để đưa mình về với thời xa xưa. Lại cũng có thể "nghiêng ngả" như thế này http://photos-d.ak.f...4_4716610_n.jpg Shwesandaw Pagoda - Hay còn đc gọi là Sunset Pagoda ở Bagan http://static.panora...al/32571625.jpg Hai chiếc xe ngựa lọc cọc đưa chúng tôi đến với khu đền và tu viện ngầm Nanda Pyin Nya. Bên đền, những hoạ sĩ dân gian bày các bức tranh trên nền gạch, chặn các hòn sỏi lên trên, phô bày màu sắc rực rỡ. Đa số là tranh có hình ảnh Phật giáo. Mingala2 thản nhiên hỏi anh chàng bán tranh: có tranh nào không có Phật không ??? http://static.panora...al/32571032.jpg Ngôi đền Thambula. Đền này do bà hoàng Thambula xây từ cách đây gần tám trăm năm. Trong đền còn những bức tranh vẽ trên tường, đặc biệt là tranh vẽ cảnh đua thuyền trên sông, những cuộc đua được tổ chức thường xuyên thời mà ngôi đền được xây dựng. http://static.panora...al/32571037.jpg Người giữ chìa khoá của đền Thambula tận tình chỉ dẫn những bức tranh, và chỉ cho lối lên tầng trên của khu đền. Có thể thấy hình các bức tranh Phật vẽ kín trên tường, những bức tranh có tuổi gần 800 năm !!! http://static.panora...al/32571044.jpg Tôi không muốn dùng từ "Chùa" quen thuộc với người Việt để gọi các công trình Phật giáo nơi đây, bởi rất dễ nhầm lẫn. Với người Việt, Chùa là nơi đặt tượng thờ Phật, là nơi hành lễ, đọc kinh, là nơi tăng ni ở, cũng là nơi chôn cất các vị sư qua đời, nghĩa là Chùa là tập hợp tất cả vào một chỗ, tương tự Trung Quốc, Nhật, Hàn. Ở các nước Phật giáo Nguyên thuỷ, các công trình rất tách biệt. Những ngôi đền thờ tượng Phật riêng (temple), và những tu viện nơi các tu sĩ sinh sống, học tập riêng (monastery), và các tháp thờ (stupa) có thể cũng riêng. Người Myanmar phân biệt : - Kyaung: tu viện, nơi sư tăng ở và học tập - Patho, Paya: đền thờ, điện thờ - Pya : tháp thờ hình vuông, tượng trưng núi Meru - Zedi: tháp thờ hình tròn, tương tự Stupa - Hti : tháp thờ hình tròn trên đỉnh có cái lọng nhiều tầng tượng trưng Niết Bàn. - Shwe: nghĩa là vàng, chỉ tháp dát vàng mới có tên này. Do vậy tôi sẽ dùng từ Đền thờ, Tháp thờ, thay cho Chùa. Trên tầng của đền Thambula http://static.panora...al/32571043.jpg Từ trên đền Thambula nhìn về phía Tây, hướng ra sông Ayeyarwady, tầng tầng lớp lớp các ngôi tháp cổ... Hàng chục ngọn tháp Rất lớn, hàng trăm ngọn Lớn, và cả nghìn ngọn tháp nhỏ. Những ngôi tháp lớn đều do các vị vua xây, tháp nhỏ hơn do tầng lớp quyền quý. Đằng sau sự huy hoàng tráng lệ đó, là sự suy tàn mầm mống. Đế quốc Bagan đã sụp đổ ngay từ trong lòng nó, khi một mặt các vị vua tôn sùng Phật pháp, cho xây những ngôi tháp vĩ đại, nhưng lại cũng sẵn sàng giết cha để chiếm ngôi... http://static.panora...al/32571040.jpg Không xa tháp Thambula là ngôi đền Payathonzu với ba tháp liền nhau. Nhìn ngôi đền này, tôi liên tưởng ngay đến những cụm tháp Chăm ba tháp ở Việt Nam như Chiên Đàn, Khương Mỹ, tôn thờ Tam vị nhất thể trong Hindu giáo là Brahma, Vishnu, Shiva. Trước khi Phật giáo du nhập vào Bagan, trong nhiều đời vua đã từng theo Hindu giáo. Tuy nhiên đây không phải ba ngôi tháp riêng biệt như Hindu giáo, mà là một ngôi đền có ba tháp thờ, tôn thờ Tam thế Phật: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai. Điều này khá thú vị, vì Phật giáo Nguyên thuỷ ít khi tôn thờ nhiều vị Phật cùng lúc, thường tập trung tôn thờ Thích Ca. Nhưng tại Bagan, có thể thấy các ngôi đền thờ 1 Phật, 2 Phật, 3 Phật, 4 Phật, 5 Phật... http://static.panora...al/32571223.jpg còn nữa
  23. Shwesandaw Pagoda - Hay còn đc gọi là Sunset Pagoda ở Bagan Hai chiếc xe ngựa lọc cọc đưa chúng tôi đến với khu đền và tu viện ngầm Nanda Pyin Nya. Bên đền, những hoạ sĩ dân gian bày các bức tranh trên nền gạch, chặn các hòn sỏi lên trên, phô bày màu sắc rực rỡ. Đa số là tranh có hình ảnh Phật giáo. Mingala2 thản nhiên hỏi anh chàng bán tranh: có tranh nào không có Phật không ??? Ngôi đền Thambula. Đền này do bà hoàng Thambula xây từ cách đây gần tám trăm năm. Trong đền còn những bức tranh vẽ trên tường, đặc biệt là tranh vẽ cảnh đua thuyền trên sông, những cuộc đua được tổ chức thường xuyên thời mà ngôi đền được xây dựng.
  24. Người ta gọi Myanmar là Miền đất vàng - Golden Land - cũng không có g“ lạ, bởi nơi đây mắt người có thể nh“n thấy vàng ở khắp nơi !!! và Vàng gắn với Phật giáo, với những ngôi tháp chùa rực rỡ... Ba nơi thiêng liêng nhất đối với người Myanmar, ba thánh địa Phật giáo, đứng đầu là Chùa tháp Shwedagon ở Yangon, thứ hai là tượng Phật dát vàng Mahamuni ở Mandalay, thứ ba là Hòn đá vàng Kyaiktiyo Nhưng VÀNG của xứ Myanmar đâu chỉ là vàng dát trên tháp chùa, tượng Phật, mà còn là Vàng của hoàng hôn Bagan và VÀNG trong b“nh minh thành cổ Và Vàng hoàng hôn U Bein Phật bị cầm tù... Trong tất cả các pho tượng Phật mà tôi đã thấy ở Myanmar, ấn tượng nhất đối với tôi là pho tượng ở chùa Manuha, trong khu làng Myinkaba, Bagan. Pho tượng gạch khổng lồ cao đến gần 15m, ngồi bình yên thản nhiên giữa bốn phía tường gạch sát sạt như muốn thít chặt lấy đức Phật. Đỉnh đầu Phật sát vào trần, đến nỗi búi tóc chìm vào trần phòng. Các bức vách chỉ cách thân Phật vừa đủ một người lách qua. Một vị Phật bị cầm tù. Lịch sử kể rằng: năm 1059, vua Bagan đánh vùng Thaton, bắt được vua Manuha đem về cầm tù tại đền Nanpaya. Vị vua mất tự do đã dùng những tài sản cuối cùng của mình xin được xây một ngôi chùa thờ Phật cạnh nơi bị giam giữ. Và thế là hình đức Phật bị giam cầm giữa bốn bức tường ra đời. Khi chùa xây xong thì vua Manuha cũng chết trong tù. Chùa Manuha có 3 pho tượng Phật ngồi và một pho Phật nằm đều trong thế bị giam cầm. Tưởng như Phật chỉ cần dang tay, duỗi chân là tường sụp, cột đổ, thế nhưng Phật vẫn ngồi bình yên suốt gần một nghìn năm qua. Và đến giờ, đây vẫn là những pho tượng Phật lớn nhất Bagan. Miền đất vàng hồn hậu không chỉ hấp dẫn khách du lịch bốn phương bằng vô số những đền chùa tượng và đá dát vàng, với thiên nhiên tươi đẹp, mà bằng cả chính những tấm lòng hồn hậu của người dân Miến trên khắp đất nước. Con người Miến Điện nghèo mà lịch thiệp, luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác không một chút tính đếm. Tôi không bao giờ quên được những đêm lỡ độ đường được sự bảo bọc của các bạn Miến, vô số những lần được các bạn dành thời gian hướng dẫn tỉ mỉ đường đi lối lại, dành hàng giờ để phiên dịch trong khi vẫn đang bận rộn việc gia đình với câu nói: I just want to help you, và còn cả những bữa ăn gia đình ấm cúng khiến cho tôi cảm thấy đang xa xứ mà như ở quê nhà, ngồi bên những người lạ mà thấy không hề xa lạ. Tấm lòng người Miến là thứ đặc biệt cuốn hút khách du lịch hướng tới miền đất vàng nơi có những tấm lòng vàng. Bốn vị Phật Bất cứ ai đến Myanmar đều cũng nhận thấy tượng Phật Myanmar có đặc trưng rất riêng. Các ngôi chùa lớn, bốn phía có bốn tượng Phật nhìn ra. Chùa Shwedagon, chùa Shwezigon, chùa Shwemawdaw... đều như vậy. Theo tôi, trong các bộ 4 tượng Phật, bộ tượng tại chùa Ananda - Bagan là đẹp nhất, 4 pho tượng đứng cao sừng sững, từ gần chục mét nhìn xuống, với các khuôn mặt, nếp áo, thủ ấn tuyệt đẹp... Đây là bốn vị Phật trong quá khứ đã từng thuyết pháp trên cõi Tabà này... Lần lượt từ trái sang: Phía Bắc là Phật Câu-Lâu-Tôn, với hai tay trong thủ ấn chuyển pháp luân Phía Đông là Phật Câu-Na-Hàm, với tay phải cầm ngọc ước ban phúc Phía Nam là Phật Ca-Diếp, với hai tay chuyển pháp luân Phía Tây là Phật Thích-Ca, tay phải trong ấn Vô uý, tay trái ấn cát tường Bốn pho tượng bao quát cả bốn phương vũ trụ, lồng lộng từ bi, mỗi khuôn mặt đều rất riêng không giống nhau, thể hiện sự tự do sáng tạo của các nghệ sĩ từ hàng trăm năm trước. (Người Myanmar tôn sùng bốn vị Phật quá khứ cho đến Thích Ca, còn Việt Nam thì là bảy vị) Bóng và hình, sáng và tối, đôi khi không rõ cái gì tạo nên cái gì??? Thành Bagan đã từng rực rỡ huy hoàng một nghìn năm trước, đã từng có đến 10000 (mười nghìn) ngôi chùa, đền tháp, ngày nay trơ trơ cùng bụi đất, cỏ cây. Chỉ còn lại khoảng hai nghìn ngôi đền còn lại. Xưa kia chắc hẳn những ngựa xe của các vị vua chúa Bagan đã từng rầm rập nơi này, các đoàn tu sĩ rực rỡ trong sự sùng kính của dân chúng... Giờ đây, chỉ còn những chiếc xe ngựa lọc cọc xuyên giữa những con đường bụi đất. Lọng vàng tán bạc, xiêm áo huy hoàng xưa còn đâu !? -------- Trong Bagan có thể thuê xe ngựa hoặc taxi, xe ngựa rẻ hơn vì không tốn xăng! Phi đội củ đậu trước kia ngự 4 người một xe, còn lần này Củ Lạc quyết định đi hai xe, vì thương các chú ngựa có thể mệt mỏi quá. Lũ ngựa ở đây chỉ được ăn rơm khô mà thôi. Vùng đất khô hạn này lấy đâu cỏ non cho chúng ! Đi xe ngựa có lẽ cũng tạo thêm công việc cho người dân nghèo nơi đây, và cảm giác ngồi trên xe lúc lắc lúc lắc cũng rất thú vị. Có thể trò chuyện với người đánh xe, có thể ngủ gà gật, lim dim mắt để đưa mình về với thời xa xưa. Lại cũng có thể "nghiêng ngả" như thế này