• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Vo Truoc

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    758
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    9

Vo Truoc last won the day on Tháng 12 17 2016

Vo Truoc had the most liked content!

Danh tiếng Cộng đồng

329 Excellent

About Vo Truoc

  • Rank
    Hội viên chính thức
  • Birthday

Contact Methods

  • Website URL
    http://

Xem hồ sơ gần đây

393 lượt xem hồ sơ
  1. Tôi nói anh nhầm là nhầm nguồn dẫn ra luận cứ tranh biện. Anh nói về thuyết tương đối, đặc biệt là phản đối nó, thì phải trích ông Anhxtanh (kể cả khi ông ta đã chết. Ông ấy chết chứ sách của ông ấy đâu có chết) nguyên bản chứ không phải ông nào khác, dù cho họ uy tín tới đâu. Hưống chi uy tín họ đều thua Anhxtanh cả. Thông cảm điều kiện khó khăn về tài liệu, dịch thuật, nên tôi tạm chấp nhận lấy từ sách giáo khoa đại hoc chứ nếu tranh luận cấp cao thì điều đó cũng không được phép. Anh nhầm một vấn đề nữa là đồng nhất thuyết tương đối với khoa học vật lý hiện đại. Do đó, anh mới hỏi, " Trong thuyết tương đối hẹp, thế nào là khối lượng của một vật thể? ". Thuyết tương đối không có định nghĩa nào về khối lượng cả mà xử dụng khái niệm này như mặc định vào thời đó. Còn cho đến nay thì nhiều người phát triển cách hiểu của họ về khối lượng rất khác nhau, có khi không thống nhất, mâu thuẫn. Dù khái niệm này đúng sai như thế nào cũng không đổ thừa cho thuyết tương đối được. Cách trao đổi của tôi và anh khác nhau. Trong bất cứ chuyện học thuật gì, tôi chỉ đứng trên vị thế của tôi mà thôi. Tôi không bảo vệ hay phản đối thuyết tương đối. Tôi nghe anh nói anh phản đối thuyết tương đối. Tôi lắng nghe luận cứ của anh, nếu thấy hợp lý thì tôi đồng ý, nếu không thì đó là ý kiến của anh, tôi không để ý nữa. Chứ không phải anh nói như thế rồi yêu cầu tôi nói xem, tôi hiểu thuyết tương đối như thế nào!!! Tôi đã viết ở bài thứ 2 khi tham gia: Thân ái!
  2. Anh nhầm lẫn quá, Thuyết tương đối là của Anhxtanh, không phải của ông Phạm Xuân Yêm, Ngô văn Thanh hay ông Hawking... Anh muốn phản bác thuyết tương đối thì hãy nói thẳng vào luận điểm của Anhxtanh, hoặc nếu khó tìm tài liệu gốc thì có thể lấy sách giáo khoa chính thống trong trường đại học cũng tạm được. Đừng lấy các ông ở trên ra đại diện cho thuyết tương đối. Hãy đi thẳng vào mâu thuẫn chính.
  3. Tùy anh thôi. Ở đây không ai làm cái việc 100 năm trước người ta đã làm là xây dựng thuyết tương đối, do đó anh không nên yêu cầu người khác minh định lại các định nghĩa của thuyết tương đối. Anh hãy chỉ ra cái mâu thuẫn của huyết tương đối rồi chúng ta bàn tiếp. Tạm thời tôi đứng vai trò như những người bảo vệ thuyết tương đối để trao đổi. Tôi đọc khá nhiều những người phản đối thuyết tương đối, nhưng chưa thấy ai hiệu quả cả.
  4. Không cần khảo sát kiến thức như vậy, rất nhiêu khê. Bạn chỉ cần đưa ra những mâu thuẫn trong thuyết tương đối rồi chúng ta phân tích xem sao. Ví dụ bạn đưa ra thì thuyết tương đối cần phải xem đứng trên hệ tọa độ nào mới phân tích được. Các khái niệm cơ bản thì thuyết tương đối không khác nhiều với vật lý Niu tơn, chỉ khi nào trong vận tốc lớn mới có têm khái nhiệm "tương đối tính" kèm theo. Bài đầu tiên mà bạn đã không hợp lý trong trao đổi rồi! Các bài tiếp theo sẽ như thế nào?
  5. Topic bàn về lịch sử, không bàn về nội dung Thiền! Từ lâu, tôi luôn cảnh giác với tài liệu về sử của Trung Quốc. Hầu hết là không đáng tin, bị bẻ cong. Tuy nhiên, sự bẻ cong đó, nếu biết chắt lọc cũng có thề thấy một phần sự thật. Tôi chỉ lấy những ví dụ không xa lắm: Sự kiện Quang Trung Nguyễn Huệ chỉ trong vòng 5 ngày đập tan 30 vạn quân Thanh, đến nỗi Tôn Sỹ Nghị người không kịp mặc giáp, ngựa không kịp đóng yên tháo chạy về Tàu. Nhưng qua ngòi bút của sử gia Trung Quốc thì hóa thành một trong Thập bát đại võ công của Càn Long đáng để hậu thế ca ngợi. Hay như cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 mới vừa qua cũng bị xuyên tạc hoàn toàn. Đến ngay như sự kiện quân giữ dìn hòa bình của Trung Quốc ở châu Phi bỏ chạy toán loạn bị Liên hợp quốc lên án, có bằng chứng hẳn hoi mới vừa cách nay chừng 2 tháng nhưng dưới con mắt người Trung Quốc thì "Sự anh dũng, hy sinh của các quân nhân Trung Quốc làn rúng động Quốc tế" (Trích báo TQ).... Vài trăm năm sau đọc thấy những sự kiện này trong Sử Trung Quốc thì chỉ nên hiểu rằng: có cuộc chiến giữa VN và TQ vào thời nhà Thanh và năm 1979. TQ có tham gia lực lượng giữ dìn hòa bình của LHQ vào năn 2016. Còn nội dung như thế nào thì không thể căn cứ vào TQ được, phải tìm hiểu từ các nguồn khác. Người TQ xuyên tạc sự thật và họ thực sự chân thành tin tưởng sự xuyên tạc đó là sự thật !!! Ngày xưa còn nhỏ, đọc "AQ chính truyện" của Lỗ Tấn tôi chỉ buồn cười, không tin. Nhưng sau này tôi thấy Lỗ Tấn thật vĩ đại, ông vẽ chân dung dân tộc ông thật chính xác: AQ
  6. Anh Thiên Sứ thân mến! Để hiểu những khái niệm như "Trung Hoa" (vốn đích thực là Trung Hỏa), hay "Dương thành là kinh đô thứ 3 của nhà Hạ"... thì phải đọc nhiều bài khác nữa. Em không phải tác giả nên em không phát biểu phân tích bảo vệ. Nhưng em đã đọc rất nhiều của anh ấy và em thấy anh Nguyễn Quang Nhật rất có lý. Em cũng đọc Hà Văn Thùy rồi nhưng không thấy sắc sảo, không thấy phong cách của nhà nghiên cứu khoa học. Nhận xét của em về mảng cổ sử Việt là: Trong số các tác giả về vấn đề này, anh Nguyễn Quang Nhật đúng lơn cả, không chỉ có lý mà còn rất tỷ mỉ, cho em hình dung rõ về toàn bộ lịch sử hơn 10 ngàn năm văn hiến của Việt tộc với những thăng trầm của từng giai đoạn, từng triều đại. Có thể chưa đúng 100% chi tiết, nhưng trên đại thể là đúng. Sức lao động, trí tuệ và công lao anh ấy thật to lớn. Các tác giả khác cũng chỉ nêu được cái ý chung chung, có thể đúng và tốt, nhưng phân tích được tới từng triều đại, từng nhân vật lịch sử kể cả trong những giai đoạn đầy rối rắm như anh Nguyễn Quang Nhật thì chắc chắn chẳng có ai (cho đến thời điểm này, và có lẽ nhiều năm về sau nữa). Anh có thể không đồng ý, nhưng em tin chắc anh chưa đọc Nguyễn Quang Nhật được bao nhiêu, vì nếu đọc rồi anh sẽ không có những câu hỏi như thế trong phản biện ở trên. Thôi thì mỗi người theo con đường của mình, nhưng có điều hay là cái tâm trong sạch, theo tinh thần khoa học và cùng mục tiêu phục hồi lịch sử và tôn vinh văn hóa Việt. Còn nguyên lý căn đế "Hà Đồ phối hậu Thiên Lạc Việt" của anh thì em cũng đã viết trong "Cơ sở học thuyết ADNH" từ 2009 rằng, Hà đồ là Hà đồ, Hậu thiên Bát quái là Hậu thiên bất quái, hai cái ấy có 2 ý nghĩa khác hẳn nhau. Hà đồ là cấu trúc ADNH dương của không gian cũng như Lạc thư là cấu trúc ADNH âm của không gian bắc bán cầu. Trong Hà đồ vốn ghi sẵn vị trí các Quái qua các con số của Hà đồ, không cần phải lấy từ đồ hình Hậu thiên Bát quái phối vào. Hậu thiên Bát quái là chiều vận động của dòng khí dương cũng như Lường Thiên Xích là chiều vận động của dòng khí âm qua các Quái. Do vì hình thức, có một số vị trí các Quái của Hà đồ và Hậu thiên Bát quái trùng nhau nên gây cho người xem một liên tưởng và phối lại thôi, chứ bản chất thì không liên quan. Nếu anh không đồng ý thì cứ coi như là ý kiến của cá nhân em. Kính anh!
  7. Anh Thiên Sứ viết: Em không phải tác giả, nhưng có biết một số bài phản ánh quan điểm của tác giả Nguyễn Quang Nhật, vốn cũng là thành viên của diễn đàn ta trong Topic "Các Bài Nghiên Cứu Của Nhatnguyen52". Theo anh Nhật, Hùng Vương không chỉ là tổ của người Lạc Việt ta mà là tổ của toàn Bách Việt, lập quốc ở ngay vùng Thanh Nghệ Tĩnh, sau đó, qua mấy nghìn năm lãnh thổ và văn hóa Hùng Quốc vươn tới tận bắc Hoàng Hà. Đó là đề tài cực lớn. Anh Nhật đã sưu tầm tư liệu và viết cực nhiều, cho từng thời kỳ, từng giai đoạn. Tôi có khoảng hơn 400 bài viết như thế này của anh Nhật, rất phong phú và nhất quán. Tuy nhiên, anh Nhật không đồng quan điểm với anh Thiên Sứ cho rằng Việt tộc từ nam Dương tử xuống. Thể theo đề xuất của anh Thiên Sứ, em xin pót 3 bài cùa anh Nhật về vấn đề đó để anh chị em tham khảo. Còn rất nhiều những luận cứ khác được viết rải rác, không tập trung trong cac1 bài khác. Kính! Bài 1: VÀI DÒNG SỬ BÁCH VIỆT Kinh Thư , thiên Nghiêu điển chép : ....Bèn sai ông Hy Hoà Kính theo trời cao, làm lịch làm tượng về mặt trời, mặt trăng và các vì sao, cẩn thận truyền cho dân về mùa. Vua sai ông Hy Trọng đến đóng ở Ngung di, gọi là Dương cốc, cẩn thận xem từ lúc mặt trời mọc, định các việc làm về mùa xuân. Xem nhật trung tinh Điểu để định tháng trọng xuân..... ....lại sai ông Hy Thúc đến đóng ở Nam Giao (theo ông Tăng Tinh Lạp phải thêm vào 3 chữ: viết Minh đô ), định các việc làm mùa hạ, kính cẩn ghi ngày Hạ chí, ngày dài, sao Hỏa khi chập tối thấy ở đỉnh đầu, lấy đó để chính thức định trọng hạ . ....sai ông Hoà Trọng đến đóng ở miền tây gọi là Muội cốc, cẩn thận xem từ lúc mặt trời lặn định các việc làm mùa thu, xem tiêu trung tinh Hư để định tháng trọng thu . ....Lại sai ông Hoà Thúc đến đóng ở Sóc phương, gọi là U đô, xét các việc thay đổi mùa đông xem nhật đoản tinh Mão để chính thức định tháng trọng đông. Ta thấy kinh Thư đã chỉ ra mốc giới ở 4 phương thời khởi thủy của Trung hoa là : - Miền Ngung di – Dương cốc - mùa xuân, xem lúc mặt trời mọc tức buổi sáng ở phương Đông . - Miền Nam giao – Minh đô – mùa Hạ. - Miền tây là Muội cốc phía mặt trời lặn – mùa Thu . - Miền Sóc phương –U đô – mùa Đông . Về Phía đông của thời Khởi thủy Trung hoa người ta dễ dàng nhận ra là vùng Quảng Đông Trung quốc hiện nay với các dấu tích ngôn ngữ: - Ngung di bảo lưu trong tên gọi thành Phiên Ngung là Quảng châu ngày nay. - Dương cốc còn dấu vết ở Dương thành cũng ở Quảng châu ngày nay, Dương thành này chính là kinh đô thứ 3 của nhà Hạ . Ở miền Nam giao ông Tăng Tinh Lạp thêm vào bản gốc thiếu 3 chữ ....’ viết Minh đô ’ là hoàn toàn chính xác. Tại đền thờ quốc tổ Hùng vương ở Phú thọ có câu đối: Vế phải: “Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ”. Vế trái: “Quang nhạc hiệp linh cố cung thành tụy miếu, tam giang khâm đái thượng triều tôn”. Dịch nghĩa: “Sách trời đã định chính thống dựng kinh đô non sông Bách Việt đã có tổ. Núi sáng linh thiêng cố cung lập thành miếu, ba sông một dải hướng về nguồn”. (Dịch và hiệu đính: Nguyễn Hữu Mùi, Đỗ Thị Hảo - Viện nghiên cứu hán nôm). Như vậy đã đủ bằng cứ để khẳng định : - Đất phía bắc Việt nam ngày nay là 1 phần của cái nôi đã thai nghén Trung hoa từ thời Nghiêu – Thuấn và Bách Việt cũng chính là Trung Hoa cổ xưa . - Điều khẳng định quan trọng thứ 2 là: vua Hùng không chỉ là quốc tổ của riêng chi Lạc Việt mà là tổ tiên chung của cả khối Bách Việt tức Trung Hoa như quen gọi. Đã xác định được 2 mốc giới Dương cốc và Minh đô, 2 mốc giới còn lại là Muội cốc và U đô chắc chắn cũng chỉ nằm trong phần đất liền kề với Bắc Việt nam và Quảng đông. Có phần chắc là chúng nằm loanh quanh ở vùng Quảng tây và Vân Nam ngày nay vì cái nền khoa học kĩ thuật lúc đó không cho phép có 1 lãnh thổ quốc gia rộng lớn hơn. Thêm 1 bằng cứ nữa về lãnh thổ Trung hoa thuở ban đầu. Cổ sử Trung hoa viết : Năm 2188 TCN, vua Khải (vua lập nên nhà Hạ) mất, con là Thái Khang lên thay. Thái Khang ham chơi bời, thích săn bắn, không quan tâm việc chính sự. Hậu Nghệ thường đi theo phục vụ Thái Khang. Thấy Thái Khang bỏ triều chính, Hậu Nghệ nảy sinh ý định giành ngôi. Một hôm Thái Khang rời kinh đô đi săn ở đất Lạc. Hậu Nghệ bí mật điều quân từ nước Hữu Cùng sang tập kích kinh đô nhà Hạ, chiếm được kinh thành. Sau đó ông mang quân ra chặn bờ sông, phong toả lối về của Thái Khang. Nghe tin kinh thành thất thủ, Thái Khang vội mang quân trở về, nhưng đến bờ sông đã thấy quân Hữu Cùng đông đảo chặn đánh. Thái Khang biết không địch nổi quân Hậu Nghệ bèn bỏ chạy sang nước chư hầu. Ngoài thông tin nơi Thái Khang đi săn là đất LẠC (sông Lạc?) còn có những thông tin khác ; Trong kho tàng văn học cổ Trung hoa có tích Hậu Nghệ - Hằng nga .... Nguyên ở gò Đất cuối biển Đông có hang Dương. Nơi đây 10 con quạ vàng vâng lệnh Thượng Đế thay nhau ban ánh sáng cho vạn vật. Trên hang có cây Phù tang cao vút tận trời. Chín con quạ ở cành dưới, một con quạ ở cành trên. Từ ngàn xưa chỉ có một con ra khỏi biển hóa thành mặt trời, ngày ngày tháng tháng chiếu ánh sáng xuống mặt đất làm cho mưa hòa, gió thuận, vạn vật sinh hóa. Nhưng bất ngờ, một hôm bốn biển chuyển động, đất lở núi rung, cây Phù tang quay cuồng, vì 10 con quạ vàng tranh nhau xuất hiện một lượt. Thế là nắng như lửa thiêu, đốt cháy cả vạn vật. Ban đầu, người ta còn ngâm mình dưới nước, núp trong hang núi ... nhưng rồi, đầm nước, dòng suối đều hóa thành những vạc nước sôi. Đất bằng bỗng chốc lửa dậy làm cho nhân dân điêu đứng, đời người biến thành địa ngục. Trông thấy 10 con quạ vàng hoành hành dữ tợn làm cho nhà cửa tiêu tan, đồng ruộng khô cháy, Nghệ vừa hoảng kinh vừa tức giận, đem lòng thương xót sinh linh, và nghĩ đến mối liên hệ với thân mạng mình nên mang 10 mũi tên thần, giương cung 10 tạ lên quyết bắn 10 con quạ vàng cho tiêu ra tro bụi. Nhưng ánh sáng rạng chói làm cho mắt đổ hào quang, không thể nhìn lên được. Nghệ bực tức, đứng tựa góc biển chân trời không do dự bắn luôn mấy phát. Những nơi có tên của Nghệ bắn tới thì nóng cháy nguội dần, ánh sáng êm dịu. Những lông cánh sắc màu của lũ quạ đua nhau rớt xuống. Một làn không khí mát mẻ bắt đầu. Trông thấy chín con quạ chết, Nghệ lại muốn giương cung bắn nữa, nhưng Phùng Mông ngăn lại: - Thưa thầy! Nếu thầy bắn chết cả thì vũ trụ sẽ trở nên đen tối mất. Nghệ "à" một tiếng, hạ cung xuống. Bấy giờ núi sông trở lại như xưa, cây cỏ tươi tốt. Đâu đâu cũng vang dậy tiếng hò reo hoan lạc. Nhân dân ca tụng công ơn vĩ đại của Hậu Nghệ, tôn thờ Nghệ là một vị cứu tinh, trọng quý Nghệ hơn mẹ cha. Sơn hào hải vị, họ đem dâng cho Nghệ dùng. Hậu Nghệ lên làm Hoàng đế. Hang Dương nơi Hậu Nghệ bắn rơi 9 mặt trời cứu dân ở đâu ? Theo "Sơn hải kinh", trên hang Dương phía bắc nước Răng Đen có cây Phù tang to lớn sống ở dưới nước, 9 mặt trời ở cành dưới; 1 mặt trời ở cành trên. Theo sách của Hoài Nam Tử, đời vua Nghiêu, 10 mặt trời cùng mọc một lần làm cây cỏ khô héo, vua Nghiêu sai Hậu Nghệ bắn rơi 9 mặt trời. Những chi tiết... đất Lạc, nước răng đen, gò đất cuối biển đông (theo kinh Thư... phía đông của 9 châu đất nhà Hạ là Biển) đủ để xác định lãnh thổ nhà Hạ Trung hoa phần chính là đất Việt nam ngày nay . Tới đây có thể khẳng định đất Việt Nam và vùng lân cận là cái nôi đã thai nghén người họ HÙNG hay Bách Việt cũng chính là Trung hoa theo cách gọi sai lầm hiện nay. Sự khẳng định này được kiện chứng bởi những kết qủa nghiên cứu mới nhất về gen di truyền người Bách Việt : Từ đất Bắc Đông dương nối đến Quảng đông Trung quốc là vùng hình thành và khởi phát dòng người mang gen Bách Việt sau đó đã phát tán ra 4 phương 8 hướng lên đến tận miền Hoa bắc và trở thành 1 trong những nguồn gen tạo nên người Hoa bắc, thậm chí dòng di truyền nhiễm sắc thể Y này còn len lỏi cả vào đặc điểm nhân thể người Ngũ Hồ (chính xác phải gọi là Ngũ Man).... Những bằng chứng trên là sự bổ chứng quan trọng cho những luận điểm trong sử thuyết họ HÙNG. Thực vậy, theo chính sử Trung quốc thì Trung hoa lập quốc ở phía bắc Hoàng hà tới thời Thương thì vượt Hoàng hà, thời Chu vượt Trường giang xuống khai hóa phương nam ... Liên tiếp sau đó từ trung cổ, trung đại tới cận đại dòng gen Hán tộc theo chân những tộc người chủng Mongoloid chỉ chảy 1 chiều luôn luôn từ bắc xuống nam .... Như vậy, cái khoảng 10% đặc điểm gen Bách Việt ( công bố của tiến sĩ Lý Huy tỷ lệ đột biến M119Hà Nam 11%, Sơn Đông 9%, Tứ Xuyên 7%), trong cư dân nam Hoàng hà ngày nay ở đâu ra? Chưa kể sự đóng góp của người Hmông – Giao vào đặc điểm nhân thể và ngôn ngữ cũng như văn hóa nói chung ở vùng bắc Trung hoa. Vì tiến sĩ Lý Huy đã tùy tiện vô cớ loại người Hmông – Dao và những tộc người thuộc ngữ hệ Nam Á ra khỏi dòng Bách Việt trái hẳn với cổ thư Trung hoa và những chứng cớ khác của dân tộc và ngôn ngữ học, phải chăng là vì di truyền học ngày nay đã tìm ra sự vô cùng gần gũi giữa gen di truyền của người Hoa bắc và người Hmông- Dao? Di truyền gen Y (Y-haplogroup O) tiêu biểu cho người H'mông - Miên (O3a3, O3a4) rất giống với O3a5 của những người sử dụng ngôn ngữ thuộc hệ Hán-Tạng. Trước đây hệ ngôn ngữ Hmong – Giao được xếp loại như một bộ phận của ngữ hệ Hán-Tạng, và hiện vẫn tồn tại trong một số bảng phân loại của Trung Quốc, nhưng các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã thống nhất xếp chúng thành một ngữ hệ riêng. Gần đây, nhiều nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngữ Hmông – Dao là 1 nhánh của ‘đại’ ngữ hệ Nam Thái, ngữ hệ này cùng với ngữ hệ Nam Á bao trùm hết miền Bách Việt xưa ở nam Trung hoa và trọn Đông nam Á ngày nay. Sử thuyết họ HÙNG cho là người Hmông - Dao cổ sử gọi là Man - Kinh là tộc người đã theo vua Bàn Canh vượt Trường giang lên phía bắc ngày nay lập nên nhà Ân Thương tức triều đại Thương thứ 2 (ơn đồng nghĩa với nhị là số 2 trong số đếm của người Trung hoa). Qua bao biến cố lịch sử chà đi xát lại dành giật giữa 2 nhánh tộc người Mongoloid và Mongoloid phương nam người Hmông đã cộng cư và hòa huyết, giao lưu gen cũng như giao lưu hoà trộn văn hóa với rợ Ngũ Hồ (Ngũ Man), kết qủa tạo nên bộ mặt Hoa bắc ngày nay cả về nhân thể lẫn văn hóa văn minh. Cố giáo sư Kim Định dựa trên bộ sưu tập về gốm cổ Trung hoa đã khẳng định: mái nhà vùng bắc Hoàng hà chỉ bắt đầu cong lên từ thời nhà Đường. Nhà Đường theo sử thuyết họ HÙNG chính xác phải gọi là là nước Việt Thường, con người và văn hóa chủ đạo là văn hóa DƯƠNG VIỆT tức nước NGÔ xưa. Tương tự, nhà TÙY là nước VIỆT TỦY một triều đại của người nước SỞ xưa. Tùy – tủy - sủy - sở nghĩa là nước, chỉ là trò chơi chữ nghĩa .... chữ tác đánh chữ tộ mà thôi. Ba triều đại Bắc chu của vua Vũ văn Giác và Tùy, Đường là những triều đại người Bách Việt làm chủ Trung hoa đã tạo dòng chảy ngược của gen Bách Việt tới tận vùng đông ALTAI. Triều Đường là triều duy nhất của Trung hoa làm chủ miền Đông bắc Trung hoa tới tận Triều tiên ngày nay. Phát hiện của cố giáo sư Kim Định là điều vô cùng quan trọng nó đã xác định vùng Sơn tây - Hà bắc đất gốc của Đông Hán.... không phải là Trung hoa đúng như sử thuyết họ HÙNG đã nói . Đọc lại vài dòng trong lộ sử của La Bí đời Tống nói về kinh đô Lạc dương xưa: “Ngô Việt Sở Thục đều là đất man, các đất Tần Lũng Tấn ngụy đều đã thành đất của người địch, Hà Nam là đất man, Hà Tây là đất địch, Hoài thì có các rợ thư, Ngụy thì có các rợ nguy, chỗ nào cũng đầy dãy (Man địch ?), chỉ một Vương Thành ở Lạc Dương mà những người Nhung, Dương Cự, Tuyền Cao, Lục Hồn, Y Lực cũng ơ xen lẫn, trong ấy người “Quan Tộc”không có bao nhiêu ” Từ cái nền ....” đầy dãy Man - Địch” đến thời Nguyên Mông thống trị thì thành phần cư dân Trung hoa bắc – nam đã khác biệt rõ nét đến độ Mông nguyên đã phân hẳn thành 2 loại người HÁN và NAM. Vài trăm năm sau... đến ngày nay thì chỉ còn sấp xỉ 10% người mang gen Bách Việt... thực là sự thụt giảm thê thảm. Suy gẫm cho kỹ ta mới thấm hết ý câu “nước mất nhà tan”. Gia đình là sự kết hợp giữa chồng với vợ... Nhà tan là cả cánh đàn ông tiêu vong .... Ngoài những anh hùng hy sinh nơi chiến trường phần còn lại phải lao nhọc khổ sai chịu mọi sự hành hạ chết dần chết mòn, đau khổ nhất là bị cách ly với gia đình với vợ.... như thế dân tộc coi như không còn sự truyền giống. Đế quốc Mãn Thanh được giới sử học cả thế giới coi là nhà cai trị hết sức khoan hoà với người Trung hoa bị trị.... (chỉ bắt người Trung hoa cải tạo cách ăn cách mặc... cạo đầu thắt bím cho giống người Mãn văn minh thôi?) vậy mà : Người Hmông có câu ...’chỉ sợ rừng không đủ sâu, núi không đủ cao....’ Rừng thiêng nước độc ... hầu như nắm chắc nửa phần chết nhưng còn cơ may bảo toàn nòi giống vẫn hơn là chịu sự hành hạ để rồi phải tuyệt nòi. Bồng bế nhau lên ở non là vì thế ... Còn lại biết bao người Hoa phải tha phương cầu thực. Thực ra.... tha phương thì có còn cầu thực thì không vì thời cận kim những người thoát chạy khỏi một Trung hoa đau thương ngoài tâm lực trí lực còn buộc phải có tài lực.... không có phương tiện vật chất thì không thể vượt ngàn dặm trùng khơi được. Những người ra đi đều thuộc tầng lớp trên của xã hội ... họ đâu có nghèo đến nỗi phải ...”cầu thực “. Dưới móng ngựa bắc phương, người Trung hoa nếu không vào rừng không vượt biên phải ở lại sống chung với quân cướp nước thì chống chọi 1 cách tiêu cực nhưng không kém phần quyết liệt trước làn sóng đồng hóa của lũ ác ôn.... Dứt khoát không gả con gái cho người nước ngoài, điều này dần dà trở thành đặc trưng văn hoá của người Hoa , đặc biệt là người Hoa nam ... Những định luật toán học thì luôn đúng nhưng khi vận dụng những định luật đó để giải 1 bài toán cụ thể thì kết qủa có thể đúng có thể sai. Tương tự như thế, những số liệu về phân tích di truyền học thì không sai nhưng khi vận dụng những kết qủa đó vào lĩnh vực lịch sử thì chưa chắc trúng nó tùy thuộc rất nhiều vào tính khách quan và sự trung thực của người thực hiện. Tiến sĩ Lý Huy trong bài nghiên cứu về gen người Bách việt (xin đọc bài đăng lại nguyên văn trong phần tham khảocủa trang web này) đã mắc sai lầm nghiêm trọng khi loại người Kinh –Mường, người bách bộc và đặc biệt là người Hmong - Dao ra khỏi cộng đồng Bách Việt dù ngay trong hình vẽ (hình dưới), nơi phát sinh tập đoàn Bách Việt của ông ... kẻ dốt địa lý nhất cũng nhận ra phía tây là nơi cư trú của tiền nhân dân tộc Kinh và Mường.... ông tiến sĩ họ Lý .... đã cố tình cắt bỏ 1 nửa người Bách Việt để có thể ép cho vừa vào khung lý thuyết ‘nhất sinh .... nhị phân ...’ do ông đẻ ra. Phần đậm ở giữa là nơi phát sinh khối Bách Việt (ghi chú của người viết) khớp đúng với bản đồ hình thành và thiên di của những tộc người dựa trên cơ sở di truyền . Khi cho Quảng đông là nơi phát sinh dòng Bách Việt sau đó mới toả ra những nơi khác... là tác gỉa đã phạm sai lầm rất ấu trĩ .... lấy biên giới ngày nay làm ranh giới cho lịch sử ngàn vạn năm trước.... Sở dĩ vậy là vì nhà ‘khoa học’ còn nặng óc ‘đại Hán’ đã không nuốt nổi sự thực... tiền nhân người Việt cũng chính là tổ tiên người Bách Việt – Hoa nam nói chung và càng ngày người ta càng nhận rõ hơn chính người Bách Việt Hoa nam mới là chủ thể sáng tạo ra nền văn minh Trung hoa, vì văn hóa văn minh Trung hoa mang trong lòng nó đầy dãy các nhân tố của 1 phương nam nóng và ẩm, sông và nước. Điều này khiến ta hiểu tại sao người Hoa phương nam vẫn nhận mình là ‘Thoòng dành’ tức Đường nhân hay Việt Thường nhân. Hán quốc – Hán tộc là của đám sử gia và vua quan nhà Hán - nước Hán còn ‘Thoòng Dành’ là sự tự xưng của nhân dân .... mà nhân dân thì không bao giờ sai ... Mọi người phải cảnh giác , cẩn thận xem xét những gì mà các nhà khoa học và Sử học Trung quốc công bố kẻo... đã lầm lại chồng thêm sai . Bài 2: 9 Châu và văn minh nhà Hạ̣ . Kinh thư thiên Vũ cống viết : vua Vũ chia đất thành 9 châu Ký, Dự, Thanh, Từ, Kinh, Dương, Cổn, Ung, Lương ...., địa giới chạy từ Hà nam tới Hoàng hải ở phía đông , phía nam xuống tới Hồ nam Giang tây , Chiết giang ngày nay. Giới sử học Trung quốc ấn định 9 châu trên bản đồ: Nhưng theo kết quả nghiên cứu khoa học tổng hợp ngày nay thì: với trình độ khoa học kỹ thuật nói chung và trình độ sản xuất lạc hậu lúc đó nói riêng thì lãnh thổ nhà Hạ phải thu hẹp ít ra hơn 10 lần, chỉ khoảng vài ba trăm ngàn km2 bên bờ Hoàng hà ở quãng tỉnh Hà nam –sơn tây là cùng . Bản đồ lãnh thổ nhà Hạ theo khoa học lịch sử Nhưng nếu như thế thì sự ấn định của khoa học đã phủ nhận hoàn toàn những thông tin ghi chép trong kinh Thư ? Đọc kỹ thiên Vũ cống : 1- Lãnh thổ 9 châu nhà Hạ phía đông giáp biển, phải chăng chính từ địa hình này mà hình thành từ biển đông ngày nay? Nếu lãnh thổ nhà Hạ bên bờ Hoàng hà quãng Hà nam –Sơn tây ...thì làm gì có biển . 2- Phương tiện vận chuyển chính của người nhà Hạ là thủy vận. Phần lớn các châu mang cống phẩm về kinh đô đều theo đường sông đổ ra “hà”, giới sử học Trung quốc mặc nhiên coi ‘Hà’ là Hoàng hà dù chẳng thấy có chữ Hoàng nào ....? Rất nhiều khả năng Hà - Hồ - Hải chỉ là biến âm của nhau. Tiếng Việt có cặp số GIÊNG -HAI trong Dịch học đồng nghĩa với GIANG - HỒ; Hồ → Hà, Hải ..., trăm sông đổ ra biển rất có thể chữ ‘Hà’ trong kinh THƯ này dùng để chỉ biển cả, nơi truyền thuyết Việt gọi là Động Đình Hồ ...? Những nghiên cứu khoa học ngày nay xác nhận thời cổ đại thủy vận không phát triển ở Hoa bắc, ngược lại rất phát triển ở Đông nam Á và Hoa nam. 3 – Nói thật rõ ràng thì Dân sống ở 9 châu nhà Hạ trồng ‘lúa nước’, kinh Thư dùng chữ Điền là ruộng lúa. Nhưng chỉ canh tác lúa nước người ta mới đắp bờ ̣để giữ nước trong ruộng. Chính hình ảnh bờ ruộng đã tạo thành đường nét của chữ “Điền”... Như thế từ ‘Điền’ phải hiểu chính xác và trọn vẹn là ruộng nước hay ruộng trồng lúa nước chứ không thể là ruộng chung chung. Vùng Hoàng hà thời Hạ trồng Kê là chính do đặc điểm địa lý khí hậu và trình độ kỹ thuật thời đó không cho phép trồng lúa nước. Ngày nay người ta đã di thực cây lúa nước lên vùng Hoàng Hà nhưng năng suất vẫn rất thấp và 1 năm chỉ trồng được 1 vụ . 4 – Lãnh thổ 9 châu nhà Hạ nằm trong vùng địa lý tự nhiên có loài VOI sinh sống, vì trong những cống phấm của 9 châu có ngà voi.... Nhưng vùng ven Hoàng Hà từ cổ chí kim chưa nghe nói đến voi .... Mãi đến thế kỷ 15-16 khi nhận được voi cống từ miền Đông Nam Á, vua Tàu còn vội vã trả lại vì sợ loài vật lạ chưa từng có nên không cho nhập vào nước Tàu. 5 – Kinh thư cho thấy trên lãnh thổ Trung hoa nhà Hạ có rất nhiều tre lớn gọi là bương hay giang hay nứa. Loài tre lớn thường mọc tự nhiên ở xứ nóng, mà 9 châu nhà Hạ không những có tre mà còn có cả nền thủ công đan lát vật dụng bằng tre, càng về phía bắc tre càng nhỏ lại. Trong tập tính sinh hoạt thì ‘tre’ không có điạ vị trong đời sống dân Hoa bắc trái lại ở tây nam Trung hoa và Việt nam tre là loại cây vô cùng thân thiết. Người Việt có thể làm mọi thứ vật dụng cần thiết bằng tre ... Có thể nói không ngoa ... tre là nền tảng của văn hóa vật thể Việt nên rất nhiều khả năng “trúc thư” (sách thẻ tre) cũng ra đời ở đây hay nói rộng hơn và chắc hơn là trong ‘vùng văn hóa Bách Việt’ . 6 – Cây đay là cây á nhiệt đới, còn cây dâu tằm (loại mọc quanh năm) đòi hỏi độ ấm và đ̣ộ ẩm cao.... Đặc điểm sinh lý loài tằm năng suất cao cũng không thích hợp với vùng Hoàng hà. Các nghiên cứu khoa học cho thấy, vùng sông Tứ hay Châu giang có thể nuôi 8 lứa tằm trong 1 năm, lên vùng trường giang chỉ có thể nuôi 3 lứa đến Hoàng hà thì chỉ còn 1 lứa ...Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày nay còn như thế hỏi thời nhà Hạ thì 9 châu có thể nuôi tằm - dệt lụa một cách phổ biến hay không? (nghề dệt lụa đã có từ thời Hoàng đế mấy trăm năm trước nhà Hạ) . Thông thường thì cây – con mà người ta nuôi trồng bao giờ cũng bắt đầu từ những cây con hoang dã trong thế giới tự nhiên, nên nơi nào địa lý khí hậu đáp ứng tốt nhất cho điều kiện sinh lý của cây con đó thì nơi này chính là địa bàn phát sinh giống loài đó, về sau mới phát tán theo bước chân di cư của con người. Do nhu cầu thiết yếu và tập tính sinh hoạt con người vẫn nuôi trồng cây con cũ ở nơi định cư mới dù phải thu hoạch kém hơn do hoàn cảnh thiên nhiên không còn sự đáp ứng tối ưu . 7 – Trong cống phẩm của 9 châu có loại đá dùng làm khánh, một loại nhạc cụ. Kinh thư cũng viết: ông Qùy tâu với vua Thuấn, “tôi gõ vào đá, vỗ vào đá .... muôn loài đến nhảy hót ...”, như vậy kinh thư cho ta thấy nền âm nhạc nhà Hạ dùng bộ gõ và nhạc cụ bằng đá ... Pải chăng ... ngày nay gọi là đàn đá ? loại nhạc cụ độc đáo này chưa phát hiện được ở Trung quốc nhưng ở Việt nam có những dân tộc thiểu số hiện vẫn còn đang xử dụng và các nhà khảo cổ cũng đã tìm được những bộ đàn đá hoàn hảo xưa đến mấy ngàn năm tuổi. 8 – Kinh thư thiên vũ cống còn nói đến cống phẩm là đá dùng làm mũi tên ... “Tạo nghề cung nỏ” là đặc điểm của người Việt cổ, sách Tàu xưa đã viết như thế. Người Việt không những biết dùng cung nỏ mà còn biết nâng cấp hiệu qủa của cung nỏ như làm mũi tên bằng đá để tăng khả năng xuyên thấu. Đến thời đồ đồng thì thay mũi tên đá bằng mũi tên đồng. Các nhà khảo cổ Việt nam đã tìm được nhiều hiện vật cổ là mũi tên bằng đá đúng như Kinh thư đã chép ....còn bên Tàu .... biết có hay không ? Thực kỳ lạ và trớ trêu khi vùng đất Việt nam và lân cận ngày nay vừa thoả cho điều kiện khắt khe của khoa học về quy mô – diện tích lãnh thổ lại có đầy đủ những gì của 9 châu đã ghi chép trong Thiên Vũ cống – Kinh Thư. Chính sự kỳ lạ này là cơ sở để ‘Sử thuyết HÙNG VIỆT’ xác định vị trí 9 châu thời vua VŨ nhà Hạ là miền Bắc và Bắc trung Việt cộng với vùng đất lân cận , biển Đông 9 châu thời Hạ Vũ mà Khổng tử nói đến trong Kinh Thư chính là Biển Đông ngày nay . Trung hoa quê gốc ở Hoàng hà chỉ là sản phẩm tưởng tượng của những cái đầu đất vừa gian vừa dốt …sự thực đám ‘cạo sử gia’ đã lấy bản đồ 9 (khu vực) giám sát thời Tùy – Việt Tủy 3000 năm về sau : Mang đính kèm vào kinh Thư …lừa đảo gọi là Thiên Hạ cửu châu thời Đại vũ tức Trung hoa cổ đại … Mắt thánh khoa học hiện đại đã vào cuộc , mọi sự sớm sáng tỏ thôi … Bài 3: Thời HÙNG VƯƠNG dựng nước. Dã sử họ HÙNG thực ra là lịch sử văn minh dòng giống Hùng, mỗi triều đại của các vua thời thái cổ chính là 1 nấc thang trong tiến trình phổ quát của con người nói chung, đi từ mông muội hoang dã đến xã hội văn minh có nền nếp kỷ cương . Năm vì vua đầu trong Hùng vương thập bát chi thế truyền là 4 bước tiến hoá xã hội để đẫn đến bước thứ 5 hình thành quốc gia hay nhà nước của người họ HÙNG . 1– Hùng Dương vương, Thái Cao - Bào Hy, vua của cái Mặc Người họ HÙNG trên cơ sở quan sát cây cối mọc trong tự nhiên có 2 phần: ruột và vỏ, từ sự quan sát này con người biết học hỏi tự nhiên, ứng dụng vào cuộc sống: dùng vỏ cây làm áo để che chắn chống các tác nhân làm hại thân thể như bức xạ, sức nóng ....Tổ phụ của thời này gọi là Bào Hy hay Y nghĩa là bao - áo cũng là Phục Hy hay Phục – y, Y- phục . 2 – Hùng Hiển vương , Thái Viêm (Viêm đế) - Thần nông, vua cái ăn . Cái ăn là sự chất biến quan trọng nhất trong tiến trình văn minh của loài người. Không còn lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, thần tính trong con người mới xuất hiện. Đấy là ý nghĩa chữ Hiển trong Hùng Hiển. Chủ động trong suy nghĩ và hành động, từng bước chủ động trong cuộc sống khiến con người trở nên to lớn sánh ngang cùng trời đất trong thế Tam tài: Thiên – Nhân - Địa. Nhân sinh quan của người họ Hùng thể hiện tính trung dung - tích cực. Con người có thể cùng với trời và đất làm nên cuộc sống của mình. Người họ HÙNG ngay từ thuở ban sơ làm người đã bác bỏ ...‘thần quyền và định mệnh’, quan niệm chung của hầu hết loài người thời mê muội. 3- Hùng Nghị vương, Thái Khang -Thiếu Hạo, vua của thôn làng . Nghị là nghĩ là tìm lời giải đáp cho những điều xảy ra trong đời sống thường nhật, là khởi đầu của tư duy khoa học ứng với quẻ Ly trấn phía TÂY trong tiên thiên Bát quái, lấy con người là trung tâm, là khởi điểm đồng thời là chốn trở lại của chuỗi tương tác bất tận: con người và môi trường . Quẻ Ly chỉ sự sáng của lý trí nên những gì liên quan tới phương tây thường được gọi bằng những từ có nghĩa là sáng như bốn – bóng láng, tư - tứ, chiêu – châu, hạo ... Quan niệm của dịch học coi phương tây là tĩnh nghịch với phương đông là động. Tĩnh – tịnh - định chỉ sự không thay đổi. Tiếng Việt là Khăng và người ta thường dùng từ điệp: khăng – khăng, tương ứng với phương đông động có từ điệp run-run. Chính từ khăng này đã làm thành danh hiệu Thái Khang tổ phụ nhánh phương tây cũng là nhánh mùa Thu của người họ Hùng. Nhánh phía tây thời đúc kết làm nên dân tộc Hùng có tên Cửu – Lê, thủ lãnh là Xi –Vưu hay Tây - vua nghĩa là ‘vua phương tây’. Yếu tố Tĩnh - Định – không thay đổi của dịch lý áp vào tiến trình văn minh loài người là chỉ giai đoạn định canh - đinh cư khởi thủy của làng quê về sau. 4- Hùng Diệp, Thái Tiết (Tiếp) - Xuyên Húc, vua của sự đi - lại . Diệp là ký âm sai chữ ‘dịch’ nghĩa là dời đổi hay di chuyển nôm na là sự đi lại. Tiếp là dính liền tức nối kết lại với nhau. Xuyên trong Xuyên Húc là con sông . Khi tổng hợp những từ mà thần thọai tạo lập nói đến ta có ý nghĩa rõ ràng, chỉ ra thuở ban đầu sự đi lại nối liền các xóm làng là đường sông với phương tiện là bè - mảng (làm bằng tre sậy). Chính những phương tiện vận chuyển này đã giúp làm nên ‘liên minh thôn làng’ dọc theo các triền sông. Đây là sự liên kết rất tự nhiên thúc đẩy bởi bản năng nhiều hơn là hành động có chủ ý. 5- Hùng Vũ tức vua HÙNG, Thái Công - Hoàng đế - Hiên Viên, vua Khai quốc . Khi đã hội đủ 4 yếu tố: mặc - ăn – ở - đi thì sự hình thành quốc gia là điều tất sẽ đến. Tiến trình phổ quát của nhân loại là sau thời liên minh bộ lạc tất yếu ra đời 1 hình thức tổ chức cộng đồng xã hội cao hơn, chặt chẽ kỷ cương hơn, là hình thái nhà nước hay quốc gia. Kiểu tổ chức cộng đồng xã hội mới này là sự chất biến, 1 cuộc cách mạng trong tiến trình tổ chức cộng đồng người tất xảy ra trong lịch sử, nơi này chốn kia chỉ khác nhau là đến nhanh hay chậm hơn mà thôi. Dịch học dạy con người chữ ‘trung’. Chữ trung này nghĩa rất đặc biệt, chỉ người Việt mới biết: Trung là trúng hay Đúng. Đúng việc đúng lúc là chìa khóa của sự thành công. Dịch học không bao giờ dạy ta ... đi tắt đón đầu .... vì với dịch học thì ‘đi tắt đón đầu’ là thái qúa mà thái qúa thì nguy hại không kém gì bất cập cả 2 thái cực đều phải tránh. Vẫn theo đúng tiến trình phổ quát, nhưng nhà nước họ Hùng đã ra đời trong khung cảnh riêng với những nét đặc thù của môi trường địa lý tự nhiên và tri thức vượt trội dựa trên nền tảng tư duy dịch lý. Dịch học chỉ cho con người biết cái tất yếu sẽ đến, hành động hợp lý tạo sự chuyển biến đúng lúc sẽ tránh được những sung đột trong nội thân, tránh sự kéo dài những biến động không kiểm soát được, tức sự hỗn loạn trong xã hội để rồi cuối cùng buộc phải thay đổi chuyển sang 1 hình thái tổ chức xã hội mới thích ứng với cái nền khoa học kỹ thuật đã đạt tới. Nhà nước không thể ra đời trên cái nền công cụ kỹ thuật tạo ra 1 năng suất vừa đủ người lao động sống qua ngày. Chỉ đến khi những người trực tiếp sản xuất tạo ra được của cải vật chất dồi dào để vừa có thể đủ dùng cho bản thân và gia đình vừa có thể cung cấp cho những người làm công việc quản trị xã hội và những chiến binh bảo vệ cộng đồng thì lúc đó nhà nước mới có thể xuất hiện . Quốc gia họ HÙNG xuất hiện vào thời điểm nào trong quá khứ, vào quãng nào trên nấc thang văn minh ? Căn cứ vào hình thái tổ chức và sinh hoạt trong các làng quê Việt có thể đoán chắc, hình thái ban đầu của quốc gia họ HÙNG là 1 nhà ‘nước liên làng’, kiểu tổ chức nhà nước 2 cấp. Câu nói cửa miệng người ta thường kêu ‘làng nước ơi’ là 1 minh chứng. Làng là đơn vị hành chánh cơ sở cộng với 1 chính quyền trung ương. Ban đầu làng có quyền tự trị rất rộng, những thành viên của cộng đồng thường xưng mình là ‘dân làng’ tức dân của làng mà không xưng là dân-nước. Nơi ở của vua và đặt những cơ quan của chính quyền trung ương gọi là ‘làng cả’. Như thế khái niệm ‘công dân’ nghĩa là dân của nước thuở ban đầu xem ra còn mờ nhạt . Tổ chức làng Việt thực sự là tổ chức một quốc gia thu nhỏ. Cơ quan có quyền lực cao nhất là Hội đồng bô lão, tức nghị viện của làng. Những thành viên thường trực của hội đồng thường nắm luôn quyền xét xử tức quyền tư pháp. Lệ làng là cơ sở pháp lý, là chuẩn mực cho sự hành sử của cả chính quyền và dân làng nó chi phối toàn thể sinh hoạt chốn làng quê. Có những trường hợp, lệ làng là luật pháp tối thượng còn cao hơn phép tắc của nhà nước trung ương như câu tục ngữ ‘phép vua thua lệ làng’. Đặc biệt hội đồng lãnh đạo tối cao này chỉ toàn lão ông. Ở mọi làng quê Việt khi đến tuổi 60 thì con cháu làm bữa tiệc gọi là ‘khao lão’ mời cả làng dự. Từ đó ‘cụ’ đương nhiên có 1 ghế trong nghị viện làng. Quyền cao chức trọng nhưng không hề có bổng lộc, có chăng là 1 năm vài bữa chén thế thôi. Con người thời khỏe mạnh thể lực cường tráng thì lao động sản xuất lo cho gia đình, về già sức cơ bắp không còn nhưng trí tuệ lại đạt độ chín mùi thì ... cái vô giá đó được dành cống hiến cho cộng đồng. Cơ cấu này thực hợp lý và đầy tính nhân văn. Ngoài ra, những chức dịch khác trong guồng máy hành chánh làng cũng thường là kiêm trách. Từ hào - lý đến viên chức công quyền, cuối bảng là ‘mõ làng’ thường vẫn phải tự mưu sinh, tham gia công vụ chẳng qua là sự đóng góp công sức lo việc chung mà thôi . Trai làng sau lễ thành Đinh thì đêm đến phải tập trung ngủ ở Đình làng hay nhà “Rông’, làm công việc bảo vệ trật tự trị an cho bản làng, ... là thành phần chủ công trong việc xử lý những tình huống khẩn cấp. Như thế họ đích thực là những chiến binh không... lương của làng. Với cách tổ chức khoa học giàu tính cộng đồng như thế, guồng máy công quyền cấp làng rất hữu hiệu và đặc biệt ... rất ít tốn kém. Vì thế, ngân sách của làng vô cùng nhẹ ...chỉ đòi hỏi sự đóng góp rất nhỏ của ‘dân làng’ mà thôi. Ở cấp chính quyền trung ương công việc quản trị đất nước cũng không nặng nề gì vì đối tượng quản lí của guồng máy công quyền không phải là từng công dân mà là các ‘làng’. Theo như cổ thư Trung hoa thì thuở xưa mỗi làng chính là 1 chư hầu, tổng số cao lắm cũng chỉ đến con số ngàn. Thuế khóa binh dịch đều phân bổ cho làng và các làng lo làm sao là việc nội bộ của làng, miễn đóng góp đủ số cho trung ương là được ... Có thời các làng có trai tráng tòng quân vào ‘quân đội quốc gia’ còn phải tự lo luôn lương bổng và cả những cung cấp cần thiết khác cho lính ... nhà. Như thế với công qũy không cần to lớn lắm mà việc quản trị quốc gia vẫn có thể hoàn thành. Nền tài chính công xưa ở nước ta cũng có nhiều điều đặc biệt, như ngoài ruộng tư còn những thửa ruộng công mà hoa lợi được dùng vào những mục đích chung nhất định, dân làng chỉ đóng góp ngày công mà thôi ... Lịch sử trễ lắm là từ thời Hùng Chiêu vương hay nhà CHU, theo cổ sử Trung hoa, đã nói đến phép ‘tỉnh điền’: các thửa ruộng đều chia thành 9 phần, nông dân canh tác thu hoa lợi trên 8 khoảnh, khoảnh giữa dành nộp vào công quỹ... Như vậy khoản thuế đặc biệt này tính ra cũng trên 10% tổng thu nhập của mỗi hộ dân ... Tóm lại với cách tổ chức nhà nước ưu việt 2 cấp làng và nước như trên, nhà nước họ HÙNG hoàn toàn có thể ra đời rất sớm trên cái nền vật chất là sản xuất “nông nghiệp trồng lúa nước dùng sức trâu kéo cày gỗ” . Ở khu vực thành Cổ loa, ngành khảo cổ đã tìm được hàng vạn mũi tên đồng có từ gần ngàn năm trước công nguyên. Nhiều nơi khác trên lãnh thổ Việt nam cũng tìm được nhiều mũi tên bằng đá có tuổi khoảng 4000-5000 năm. Từ đó suy ra, cho dù ngày nay không tìm thấy 1 cánh tên thuần tre - mây nào nhưng chắc chắn khoảng 6000-7000 năm cách nay hoặc có thể còn xa hơn nữa người cổ Việt cổ đã có cung - tên làm bằng tre hay mây thuần ... Từ những cánh tên tre hay mây vót nhọn dần dần người ta đã nảy ra cách gắn thêm mũi bằng đá có độ cứng cao hơn để tăng khả năng xuyên thấu. Bước qua thời đồ đồng thì mũi tên đồng thay mũi tên đá để cho hiệu năng cao hơn nữa ... Việc cải tiến thay mũi tên bằng nguyên liệu đá hay đồng chỉ là cải tiến tăng hiệu năng tức chỉ là biến đổi về ‘lượng’ còn bản thân việc phát minh ra cung tên mới là thay đổi về ‘chất’ thực sự, là 1 dấu mốc trong tiến trình văn minh của loài người. Tương tự như cung tên, các nhà khảo cổ Việt nam đã tìm được nhiều di vật là lưỡi cày bằng đồng tuổi sấp xỉ ngàn năm trước công nguyên, và dựa vào mấu chốt đó nhiều nhà khoa học trong nước đã định thời điểm khai sinh nhà nước đầu tiên của dòng giống ‘Tiên - Rồng’ là khoảng 700 -800 năm trước công nguyên .... cùng thời với Trang vương nhà Chu bên Tàu ... khác quá xa với những thông tin thời dựng nước chứa trong truyền thuyết lịch sử cha ông để lại ... Bản thân người viết không dám bác bỏ kết luận của tập thể các nhà khoa học trong nước hiện nay... Chỉ xin khiêm tốn trình bày suy nghĩ của 1 người thuộc lớp ‘bình dân’ về lịch sử cổ đại nước Việt: “ Nước của người họ HÙNG hay hữu HÙNG quốc là nhà nước của người Việt cổ đã ra đời cách nay khoảng 5000 - 6000 năm , nhà nước đó được kiến lập và tồn tại dựa trên nền tảng kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước dùng sức trâu kéo cày gỗ” . Ngày nay không tìm được cánh tên nào thuần tre hay mây nhưng không phải hễ không thấy là ... không có .... vì sự tồn tại của những sản phẩm gốc thực vật trong môi trường nóng ẩm của nước ta tương đối ngắn. Tương tự vậy làm sao có thể tìm thấy những cái cầy thuần bằng gỗ có tuổi 5000-6000 năm trước sự hủy hoại ghê gớm của khí hậu nhiệt đới? Không thấy nhưng chắc chắn phải có cày thuần gỗ trước khi có thể cải tiến lắp lưỡi cày đồng làm tăng hiệu năng xử dụng. Trong kinh dịch đức Khổng tử đã hé lộ ... Thần nông 1 vì vua ở thời thái cổ đã: ‘...dùng lửa uốn gỗ làm cán cày, dùng đá đẽo gỗ làm lưỡi cày....dạy cho dân việc cấy cày ’. Vài cổ thư Trung hoa khác cũng chép ... “Thần nông thường bách thảo ...., Thần nông giáo dân nghệ ngũ cốc ....” dòng chữ trên của Khổng tử người cùng sống ở thời thịnh đồng, thời khai sinh nhà nước của người Việt (theo ý kiến của nhiều nhà khoa học ...) là 1 điều đáng để những nhà nghiên cứu cổ sử Việt suy ngẫm . Lãnh thổ người họ HÙNG nằm trong vùng nhiệt đới châu Á gío mùa rất giàu tài nguyên thực vật trong đó không thiếu gì những họ cây mà gỗ cứng như thép được gọi là ‘thiết mộc’. Như vậy, vật liệu đủ độ cứng để chế tạo cày gỗ có sẵn đầy dãy trong thiên nhiên. Có thể nói, hầu hết những vật dụng và công cụ của người Việt cổ đều là của cải ban tặng từ những cánh rừng nhiệt đới. Cây tre có vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống và văn minh người họ HÙNG. Người Việt có thể dùng tre làm mọi vật dụng cần thiết ... nhỏ như cái tăm đôi đũa, lớn và phức tạp như cả căn nhà hay con thuyền đều có thể làm bằng tre. Từ những cây gỗ cộng với óc sáng tạo và bàn tay điêu luyện, chỉ bằng kỹ thuật ghép mộng và chốt gỗ người Việt có thể dựng nên cả toà lâu đài nguy nga mà không cần đến chút kim loại nào. Chỉ tiếc vì sự hủy hoại ghê gớm của môi trường nóng ẩm nên ngày nay không còn thấy chút dấu tích nào của những lâu đài gỗ nguy nga chắc chắn đã từng có trong quá khứ xa xưa. Ngoài vật dụng cần thiết cho sinh hoạt thường ngày ... cung tên làm bằng mây tre đã là thứ vũ khí lợi hại của người Việt từ thời thượng cổ ... Như vậy về bản chất văn minh Việt là nền văn minh dựa trên thực vật là chính cho nên không thể dùng cái thước đo tiến trình văn minh phổ quát của những nền văn minh dựa trên khoáng vật (đá - đồng – sắt) làm chuẩn mực đo lường những gì thuộc về nền văn minh Việt để đưa ra kết luận nhà nước của tổ tiên người Việt chỉ có thể ra đời trong thời cực thịnh của văn minh đồng khoảng 700-800 năm trước công nguyên . Tương tự như cung tên, thêm lưỡi đồng vào cái cày gỗ có sẵn chỉ là sự cải tiến tức biến đổi về lượng. Chấn động này không đủ mạnh để dội vào xã hội tạo nên cuộc cách mạng ... buộc ra đời 1 hình thái xã hội mới thay thế cho hình thái cũ đã lạc hậu. Chỉ có việc phát minh ra cái cày gỗ kéo bằng sức trâu thay cho việc dùng cuốc đá - sức người trong canh tác nông nghiệp mới có thể gây ra sự biến đổi về chất trong tổ chức xã hội loài người. Với sức trâu kéo cày gỗ ... năng xuất lao động của người nông dân đã cao hơn hẳn tạo ra số lương thực dôi thừa khá lớn, cộng với tính ưu việt ... hiệu qủa cao chi phí thấp của hình thái tổ chức nhà nước liên làng thì phần dư dôi đó đủ để nuôi những người thuộc khu vực phi sản xuất trong đó có cả vua - quan, công chức và quân nhân tức thành phần nhân lực đảm trách chức năng của 1 nhà nước đối với xã hội. Song song với điều kiện về công cụ và sức kéo, một xã hội xây dựng dựa trên nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước còn đòi hỏi nhiều điều kiện khác vì quy trình kỹ thuật canh tác lúa nước rất phức tạp, như đã cày còn phải bừa, ngoài gieo còn phải cấy... Nói chung, nền nông nghiệp lúa nước đòi hỏi 1 sự hiểu biết nhất định liên quan tới nhiều lãnh vực khác nhau như giống má, thổ nhưỡng, khoanh bờ vùng bờ thửa, tưới tiêu nước, lịch thời vụ gieo trồng .v.v. Rõ ràng là ở thời này con người đã có tư duy bao quát chính xác về mối tương quan giữa con người tự nhiên và xã hội, đã có sự hiểu biết khá sâu trong nhiều ngành, nhiều lãnh vực khác nhau . Xét như thế cả về phương diện vật chất lẫn tri thức thì ở trên đất Việt không phải đợi đến thời thịnh đồng, mà ngay từ thời điểm xuất hiện nền nông nghiệp canh tác lúa nước dùng sức trâu kéo cày gỗ là đã hội đủ những điều kiện cần thiết để hình thành 1 quốc gia hay nhà nước . Với tổ hợp “người – con trâu - cái cày”... dù ngày nay không tìm thấy bất kỳ di vật nào là cái cày gỗ nhưng với những di vật tìm được là xương trâu nước đã thuần hóa cũng coi như đủ yếu tố để khẳng định thời điểm tiền nhân người Việt hay người họ HÙNG kiến lập quốc gia là thời văn hóa Quỳnh văn - Đa bút ở đồng bằng Thanh -Nghệ – Tĩnh, nơi có núi Đọ (Thái sơn) sông Cả (sông Cơ tức sông vua) sông Mã (sông mẹ) sông Chu (sông cha) khoảng 5000 - 6000 năm cách ngày nay, và liền sau đó Đế MINH đi tuần thú phương NAM ( phương nam xưa ngược với phương hướng hiện nay ) ... tức mở rộng cương vực đất nước về lưu vực sông Đà, sông Hồng, sông Lô (miền tam giang ngũ hồ). Những thời điểm lịch sử này hoàn toàn đúng với những thông tin trong truyền thuyết lịch sử mà tiền nhân Việt đã nhắn gửi đến con cháu ngàn đời sau . . .
  8. Tôi xin thông tin thế này để tránh hiểu lầm. Anh Nguyễn Quang Nhật viết:" Phương cách tiến hành công việc cụ thể của tôi là dựa vào 1 số dữ kiện đã thu thập ban đầu, có thể là chưa đầy đủ để xây dựng nên một sử thuyết. Công đoạn này đã xong. ‘Sử thuyết họ HÙNG’ đã trình làng. Tiếp đến giai đoạn sau là củng cố lập luận bằng các chứng liệu chắc chắn được chấp nhận theo các tiêu chí của khoa học lịch sử. Giai đoạn này hy vọng rằng sẽ nhận được ý kiến của đông đảo bạn đọc, với sự phản bác, sửa chữa, bổ sung, củng cố ... Cứ như thế, lập đi lập lại.... dần dần, lịch sử chân xác sẽ hiện ra rõ ràng không thể phủ nhận được nữa, tức mục tiêu theo đuổi đã đạt đến ." Anh ấy không nói rằng mình đã chứng minh xong, chủ yếu đưa ra "bộ xương" và các tư lệu liên quan để dần dần cùng mọi người hoàn thành phần còn lại. Anh ấy cũng mới coi đó là "sử thuyết" thôi, chưa hoàn toàn chắc chắn đến từng chi tiết, chưa khẳng định đó là chân lý, vì theo anh ấy, khẳng định ngay là điều rất khó và chủ quan. Những tư liệu anh ấy đưa ra và phân tích theo ý kiến riêng, tùy đọc giả có nhận định của mình. Theo tôi, đó là cách làm việc cẩn trọng và nghiêm túc, đúng với tinh thần khoa học trong cái tình thế quá nhiều thông tin trái chiều, mâu thuẫn. Tư liệu thì cực kỳ đồ sộ, cả chính thống lẫn dân gian, cả vật thể lẫn phi vật thể. Tôi thật sự choáng ngợp không hiểu một con người nghiên cứu tự phát làm sao có thể sưu tập được chừng ấy tư liệu, lăn lộn trong các đình chùa miếu mạo khắp nơi cho mảng tư liệu dân gian, tôn giáo, lại còn phân tích từng cái rạch ròi, tư duy cực kỳ linh hoạt, giả thuyết táo bạo mà có lý. Mỗi mảng tư liệu chỉ nói được một vài ý, đa phần chưa đủ để chứng minh một cái gì, nhưng khi tập hợp lại mới nổi lên rõ rệt và thuyết phục. Có lẽ sau này phải hệ thống lại các tư liệu cho từng luận điểm thì mới gọi là chứng minh. Bây giờ mới là phân tích tư liệu cho "bộ xương" Sử huyết họ Hùng.
  9. Cái lý thuyết ấy các nhà khoa học còn đang nghiên cứu xây dựng, còn tôi thì đã viết xong và pot lên diễn đàn, không chỉ bác bỏ thuyết tương đối mà còn bao trùm luôn cơ học lượng tử và thuyết Bigbang (không có vấn đề không tương thích như giữa thuyết tương đối và cơ học lượng tử). Chỉ có một điều khác nhau là lý thuyết của họ được quan tâm còn của tôi thì không!
  10. Để anh chị em không nghĩ tôi chém gió, tôi xin pot thiết kế nguyên lý động cơ sóng điện từ mà tôi đã nghiên cứu từ lâu khi viết "Cơ sở học thuyết Âm dương Ngũ hành" xem có giống không nhé.
  11. Sự bất lực khi giải thích hiện tượng trên chỉ chứng tỏ khoa học hiện đại còn nhiều bất cập, nếu không thay đổi lớn thì hông bao giờ giải thích được. Dựa trên "Cơ sở học thuyết Âm dương Ngũ hành" trên diễn đàn này, tôi không chỉ giải thích được mà còn có thể thiết kế nguyên lý hoạt động của cái động cơ này. Chỉ lưu ý, sóng ánh sáng xử dụng ở đây có tần số khá thấp chứ không cao, nói đúng hơn, nó là sóng vô tuyến tần số trung bình. Động cơ của tương lai có lẽ là theo nguyên lý này. Cái hay là không có nhiều chuyển động quay đòi hỏi quá chính xác như cái mô tơ , hộp số hiện hành. Chỉ cần một máy phát sóng vô tuyến, một buồng cộng hưởng sóng và một cây nhận lực là đủ.
  12. (Tiếp) Khi nhà Chu thống nhất, Chu Vũ Vương chia phong đất cho con cháu ra khắp nơi (Đó là nguồn gốc truyện trăm trứng). Chu công Đán được phong ở nước Lỗ (nay là Lào), Lã Vọng Khương tử Nha được phong ở nước Tề (sau là Chân lạp), Thiệu Công thích được phong ở vùng Quảng Nam, ... Dân Việt từ một tộc tương đối đồng nhất, có chữ viết ký âm gọi là chữ Khoa Đẩu, nay địa bàn sinh hoạt quá lớn và lâu dài nên tiếng nói bị biến dạng, không còn hiểu nhau nữa. Chữ Khoa đẩu là chữ ký âm nên đương nhiên bị biến dạng theo, đến nỗi rất khó giao tiếp, tuy tất cả cùng là Việt tộc và tôn sùng Hùng Vương (lúc này là vua Chu). Điều đó tất yếu dẫn đến như cầu phải có một phương tiện giao tiếp chung, không phụ thuộc ngôn ngữ. Do đó, nhà Chu tổ chức ra một cơ quan gồm rất nhiều học giả uyên bác sáng tạo ra một thứ chữ dùng cho toàn thiên hạ trên cơ sở văn hóa họ Hùng, dựa trên học thuyết ADNH, vốn thịnh hành và trở nên uyên thâm suốt từ thời lập quốc bởi Đế Minh. Vì thế thứ chữ đó mới ẩn chứa nhiều tư tưởng triết học, văn hóa thâm sâu chứ không đơn giản là tượng mỗi cái "hình". Kết quả, thứ chữ đó ra đời và trở thành thứ chữ cho cung đình, nơi có nhiều nhu cầu giao tiếp với nhiều tộc người nhất, gọi là chữ Nho hay chữ vuông (viết trong 1 ô vuông, tiểu triện). Sau cả ngàn năm, Hán tộc xâm chiếm thì họ chẳng có cách nào hơn là dùng luôn thứ chữ đó để cai trị Việt tộc. Lâu dần, với nhiều âm mưu thâm độc họ gọi thứ chữ đó là "chữ Hán". Cùng nguồn gốc là Việt tộc, có pha thêm một số ít máu khác trong quá trình mở mang bờ cõi, nhưng do quá lâu và quá xa nên các nước thời Chu Xuân thu, Chiến quốc đánh lẫn nhau loạn xạ, nhưng vẫn thống nhất tôn thờ vua Chu (Hùng Vương). Đến cuối thời Đông Chu, nước Tần hùng mạnh, ảnh hưởng của nhà Chu rất yếu, Tần Chiêu Vương tìm cách lật đổ nhà Chu nhưng thất bại do nhà Chu tuy không được tôi luyện nhiều trong chiến tranh nhưng có nền văn hóa vượt trội. Tần Chiêu Vương (Triệu Đà 1) dùng cách nghị hòa cho con sang ở rể và lật lọng lật đổ Hùng Vương. Câu chuyện này mới là truyện Mỵ Châu - Trọng Thủy đích thực trong cuộc chiến Hùng - Thục lần thứ 2. Tần Thủy Hoàng sau thống nhất Trung hoa chính là đứa con của mối tình ai oán đó. Đó là lý do, sau khi thống nhất thiên hạ, Tần Thủy Hoàng đối xử với quí tộc họ Hùng không quá khắt khe (họ bên mẹ). Thời Tần tàn bạo, Thiên hạ nổi lên. Lưu Bang người Thái Bình giết Nhâm Ngao khới nghĩa (Triệu Đà 2) lật đổ nhà Tần và thống nhất Thiên hạ dưới thời Hiếu Cao Tổ nhà Hiếu (bị người Hán cạo sử chữa thành Hán), sử Việt gọi là Lý Bôn. Lưu Bang (Lý Bôn) kết thân với Hung nô nên tạo điều kiện cho người phương Bắc xâm nhập vào hoàng tộc, tuy còn ít. Lưu Bang mất, Lữ hậu thâu tóm quyền hành. Khi Lữ hậu mất, các đại thần diệt phái Lữ hậu, dựng lại nhà Hiếu và trở nên hưng thịnh dưới triều Hiếu Võ Đế Lưu Triệt. Trong khi đó, tàn quân của họ Lữ chiếm cứ phía Nam, kiếm con cháu Lưu Bang lên làm vua, dựng lên nước Nam Việt không phục triều Hiếu, tôn Lưu Bang là Triệu Vũ đế (Triệu có nghĩa là chúa) hay Nam Việt Vũ vương (Triệu Đà 3). Sau Hiếu Võ đế sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức sang đánh Nam Việt. Một người vợ chưa cưới của Vua Nam Việt, con cháu tể tướng Lữ Gia dòng Lữ hậu, nổi lên khởi nghĩa (khởi nghĩa Trưng Vương 1). Được 3 măm, bà bị bệnh mất. Nhưng các bộ tướng của bà vẫn chiến đấu và quân nhà Hiếu phải dừng lại ở Khâm Châu (cột đồng Mã Viện). Nước Nam Việt bị chia làm 2: Lâm ấp là quốc gia còn Giao Chỉ thì tự trị bởi các Sỹ Nhiếp (kẻ sỹ nhiếp chính) tương đối độc lập. Nhà Hiếu đến thời Vương Mãng thì suy yếu, Vương Mãng cướp ngôi lập ra nhà Tân thi hành nhiều cải cách nóng vội, làm mất lòng giới quí tộc, đặc biệt những quí tộc gốc Hung nô (Hán). Một quí tộc Hung nô là Lưu Huyền lập ra nhà Tây Hán, sau bị những người gốc Hùng Việt giết chết (Phàn Sùng và khời nghĩa Xích Mi). Bộ tướng của Lưu Huyền là Lưu Tú xuất thân từ cướp ở núi Lục lâm (Lục Lâm thảo khấu) lập nhà Đông Hán và dần lật đổ nhà Tân thống nhất Trung Quốc, xưng là Hán Quang Vũ. Kể từ lúc này họ Hùng mới bắt đầu bị ngoại tộc (Hán) cai trị, cùng với nhiều âm mưu xóa sổ và ăn cắp nguồn gốc văn hóa Việt. Cuối thời Đông Hán, nhà Hán suy đồi, dân Hùng Việt vùng lên với cuộc khởi nghĩa Khăn vàng (Khởi nghĩa Trưng Vương 2). Di sản cuộc khở nghĩa đó hình thành 3 nước (Tam Quốc) trong đó Ngô và Thục của Lưu Bị (Lý Bí) thuộc gốc Hùng Việt, Ngụy thuộc gốc du mục (Hán). Việt nam ta, ở đồng bằng Bắc bộ thuộc Ngô, Tây bắc thuộc Thục. Cuối cùng, Ngụy thôn tính Ngô, Thục. Tuy thôn tính được nước Thục nhưng phía Nam nước Thục vẫn không bị thôn tính và trở thành nước Lâm Ấp dòng Hùng Việt. Sau năm trăm năm, dòng Hùng Việt lại giành quyền thống trị Trung Quốc dưới thời nhà Đường. Cuối thời Đường, loạn lạc liên miên, đến thời Ngũ Đại thấp quốc thì lãnh thổ họ Hùng bị chia làm 3: Đại Tống, Đại Lý (Vân nam từ Lâm Ấp cũ, thành Nan Chiếu rồi Đại Lý) và Đại Việt (Quảng Đông, Quảng Tây, Việt Nam, sử Tàu xuyên tạc gọi là nước Nam Hán). Phía Bắc thì có Đại Kim không thuộc họ Hùng. Sau Đại Tống tiến đánh Đại Việt (lúc này đổi tên là Đại Hưng) nhưng chỉ chiếm được Quảng Đông, Quảng Tây, phần còn lại qua nhiều gian nan, khôn khéo, Lý công Uẩn lập nên Đại Việt. Trong tâm thức vua Lý, Quảng Đông Quảng Tây vẫn là đất cũ của Đại Việt nên luôn mưu tính lấy lại. Đó là lý do có các cuộc tiến đánh nhà Tống của Nùng Trí Cao, và sau này của Lý Thường Kiệt. Đó là sơ lược lịch sử họ Hùng của Sử thuyết do anh Nguyễn Quang Nhật khởi xướng tới thời Lý Tư liệu của anh Nhật thật vô cùng phong phú, đồ sộ. Tư duy cũng rất nghiêm túc, sắc bén. Anh chị em tham khảo.
  13. Về vấn đề này, anh Nguyễn Quang Nhật viết rất nhiều trong "Sử thuyết Họ Hùng" và nhiều bài liên quan rằng: Nước Việt lập quốc đầu tiên ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh, cụ thể là vùng Núi Đọ (Đại - Thái Sơn), hang Bua (Vua), sông Cả (Cơ), sông Chu (Cha), sông Mã (Mẹ) với vị vua đầu tiên là Đế Minh (Hùng Hiển Vương - Hiên Viên Hoàng đế). Sau đó phát triển dần lên phía Bắc tới Vùng Phú thọ rồi đóng đô ở đó, truyền ngôi cho Đế Nghi (Nghiêu). Đế Nghi cử ông Hy thúc (Diêu Trọng Hóa) mở mang bờ cõi lên phía Bắc tới vùng Quảng Đông, Quảng Tây, Lĩnh nam rồi được truyền nghôi thành Đế Thuấn. Đế Thuấn dùng Hạ Vũ (Tản Viên Sơn Thánh) trị thủy thành công rồi truyền ngôi cho. Hạ Vũ mở mang bờ cõi về phái Đông rất nhiều, tới tận biển. Hạ Vũ mất, muốn truyền ngôi cho ông Cao Dao (đứng đầu Giao chỉ) nhưng ông ta mất trước Hạ Vũ, nên Hạ Vũ tính truyền ngôi cho ông Ích là con ông Cao Dao. Nhưng con ông Hạ Vũ là Khải cùng gia tộc mẹ ở phía Đông không chịu và xảy ra xung đột. Kết quả ông Khải thắng và lập ra nhà Hạ, đày ông Ích và dân của ông đi khắp nơi gọi là Tứ Di. Đó là cuộc chiến Hùng-Thục lần thứ nhất. Nhà Hạ suy thì bị ông Thành Thang ờ Quảng Đông đánh đổ, lập ra nhà Thương. Thời nhà Thương, lãnh thổ họ Hùng mở rộng về phía Bắc tới nam sông Dương Tử. Đến thời vua Bàn canh, bắt đầu vượt sông Dương tử gọi là nhà Ân Thương (Nhà Thương thứ 2). Nhà Ân Thương tiếp tục mở rộng bờ cõi lên phía Bắc. Đến thời Trụ Vương thì đã vượt sông Hoàng hà. Trong khi đó, nhánh dân bị lưu đày do ông Ích, con ông Cao Dao, hậu duệ Đế Minh (Hiên Viên - họ Cơ hay Cả) lãnh đạo di chuyển từ Thanh Nghệ Tĩnh, theo phía Tây tới Quí Châu thì định cư và trở nên hùng mạnh vào thời Văn Vương Cơ Xương. Đến thời Trụ vương, nhà Ân Thương suy vong, Cơ Xương mở rộng đất đai lập ra nước Âu Lạc hay Văn Lang (nước của vua Văn) đóng đô ở ... Hà nội (Đông đô), mà chính sử ghi lại. Con ông Cơ Xương là Cơ Phát lật đổ Trụ Vương lập ra nhà Chu, đóng đô ở Cảo Kinh (Vân man). Vì nhận là dòng dõi Đế Minh (Hiên Viên) (được Đạo mẫu tôn là Vua cha Ngọc hoàng Thượng đế) nên các vị vua nhà Chu mới xưng là Thiên tử (trước đó không như thế) và theo tục đó các vua khác tuy không phải họ Cơ cũng xưng là "con Trời". Sau nhà Chu (Tây chu, đóng đô ở phía Tây: Cảo kinh) thiên đô về phía đông gọi là Đông Chu, đống đô ở Đông đô (Hà nội). Và còn dài nữa cho đến tận thời Lý-Trần. Đại khái, theo sử thuyết Họ Hùng thì lịch sử Việt tộc khai phá Trung quốc (ngày nay) là như thế. Sử Việt đã bị Trung Quốc đánh cắp rất tinh vi và trắng trợn. Chưa biết đúng sai thế nào nhưng tư liệu thì nhiều khủng khiếp, cả phi vật thể lẫn vật thể, tới mấy nghìn trang (mới chỉ do tôi chép được đã gồm 7 tập, mổi tập gần 500 trang A4), lập luận thật sắc sảo. Không thể nói ngắn gọn được.
  14. Đúng thế, bởi vì mục tiêu của Đức Phật và các vị Tỳ kheo là giải thoát. Lúc đó mà Đức Phật nói về vấn đề này, dù Ngài có biết rõ, cũng làm cho các vị Tỳ kheo và rất nhiều chúng sinh phân tâm, không có lợi cho giải thoát, thậm chí còn có hại. Nhưng cũng không ít chúng sinh quan tâm đến vấn đề này và mục tiêu trước mắt của họ khác. Đó là một thực tế, thậm chí, đến nay họ là số đông và cũng giúp ích không ít cho cuộc sống (tất nhiên cũng làm hại không ít). Tôi nghĩ, Đức Phật là người tôn trọng sự thật khách quan. Nếu nay Người còn sống, Người cũng có cách chia sẻ những hiểu biết về vấn đề đó một cách khôn ngoan nhất, tránh được nhiều tác hại.
  15. Anh Thiên Sứ thân mến! Nhân dịp diễn đàn nâng cấp hệ thống, em đề nghị cho em có quyền sửa bài trong topic "Sách cơ sở học thuyết Âm dương Ngũ hành" như anh đã đồng ý, em muốn pot lại toàn bộ sách này cho hoàn chỉnh hơn. Về vấn đề đăng nhập, Email trước kia em dùng đang ký là yahoo.com đã hủy bỏ từ lâu, em muốn sửa lại trên Gmail.com cho tiện liên lạc thì làm sao ? Kính anh! Vo Truoc.