• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Vo Truoc

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    787
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    13

Everything posted by Vo Truoc

  1. Tôi thấy có nhiều sử liệu chứng tỏ, thời Hai Bà Trưng cũng có không ít nam tướng. Tuy không có thống kê đầy đủ nhưng tôi nghĩ chắc cũng xêm xêm như nữ tướng. Nhưng do chủ tướng là nữ nên có lẽ khi phân công vai trò cũng hơi thiên lệch và dân gian lưu truyền cũng làm thất truyền những sự tích về nam tướng, lưu lại đầy đủ hơn sự tích nữ tướng. Nếu hai bà chỉ toàn nữ tướng thì đó là một sự kiện rất đặc biệt đối với Mã Viện và chắc chắn phải được ghi lại trong Hán sử. Điều này hoàn toàn không có.Nếu xã hội Văn Lang, như tôi viết, là văn minh, dân chủ, không phân biệt nam nữ, cứ có tài đức là được tôn kính thì lúc này hay lúc khác vai trò của mỗi giới thấp hơn hay trội hơn một chút, miễn là không thái quá, thì cũng rất phù hợp. Ta cũng nên chú ý rằng, vào thời Hán, sự can thiệp của Tàu vào văn hoá Việt tăng cường hơn rất nhiều so với trước đó được tự trị tương đối rộng rãi. Chính sự tấn công văn hoá đó là nguyên nhân trực tiếp của cuộc khởi nghĩa. Với vai trò, vị trí của mình trong văn hoá Văn Lang, người phụ nữ bị xúc phạm nhiều nhất. Vì thế họ có vai trò nổi bật trong khởi nghĩa cũng là điều dễ hiểu. Không nhất thiết xã hội Văn Lang lúc đó là mẫu hệ. Tất nhiên, những điều tôi viết trên đây mới chỉ là ý tưởng. Tuy nhiên, tôi rất tin tưởng. Nhưng nếu muốn chứng minh nó một cách chặt chẽ, thuyết phục thì cần có những công trình khoa học đủ tầm cỡ. Vài lời trao đổi.
  2. Theo Vo Truoc thì nước Văn Lang xưa không phải chế độ mẫu hệ (bằng chứng là các vua Hùng đều là đàn ông), cũng không theo chế độ phụ hệ (bằng chứng là các nữ tướng thời hai Bà Trưng). Đó là một xã hội dân chủ làng xã, không phân biệt nam nữ, hễ ai có tài, đức đều được tôn kính. Tôi cũng cho rằng, nước ta thời cổ đại cũng không trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ như ở phương Tây (các di sản văn hoá không ghi nhận hiện tương này). Các khái niệm mẫu quyền, phụ quyền, chế độ chiếm hữu nô lệ là do các nền văn hoá khác đưa đến. Do đó, nghiên cứu nước Văn Lang cổ đại không thể theo các lối mòn cũ. Xã hội Văn Lang là xã hội làng xã nông nghiệp, dân chủ, văn minh với học thuyết ADNH là cơ sở triết lý, rất trọng âm dương hài hoà, tránh sự thái quá, cực đoan. Điều đó lý giải được hiện tương một nền văn minh phát triển rất cao như Văn Lang cổ đại (sự chủ quan, coi thường đối thủ của Hùng Vương 18, An Dương Vương cho thấy sự tự tin, hùng mạnh về vật chất của đất nước lúc đó) nhưng không để lại nhiều những công trình kiến trúc đồ sộ được xây bằng núi xương sông máu mà lại để lại một di sản văn hoá vô cùng nhân bản, minh triết. Không có những công trình như Kim tự tháp, Vạn lý trường thành, Ăng co, ... quả là phúc lớn của dân tộc! Vài ý tưởng còn sơ lược!
  3. Kính thưa các Quí vị quan tâm! Trên đây, tôi đã trình bày với quí vị một cách đại cương các nét chính những nghiên cứu của tôi về cơ sở của hoạc thuyết ADNH. Nghiên cứu này xây dựng hệ thống khái niệm cơ bản của học thuyết ADNH vốn đã được xử dụng từ rất lâu mà người ta vẫn cứ còn mù mờ về nội dung và ý nghĩa đích thực của nó. Chính do sự mù mờ đó mà sự phát triển lý thuyết, những ứng dụng thực tế của học thuyết này hầu như không tiến triển suốt mấy ngàn năm mà còn bị rơi rụng, biến dạng đi làm chệch hướng tư duy đúng đắn của bao lớp người thông minh, tâm huyết. Hậu quả là, học thuyết kỳ vĩ này đã không được đặt đúng vị trí của nó mà bị coi như là một sự mê tín, phản khoa học. Đây là một tổn thất vô cùng to lớn đối với văn minh nhân loại và đối với chủ nhân đích thực của nó – Tổ tiên trực tiếp của dân tộc Việt nam ta. Nghiên cứu này xây dựng hệ thống khái niệm cơ bản của học thuyết ADNH là một công việc vô cùng khó khăn, do đó, tôi không dám coi sự xác định những khái niệm cơ bản đó là chính xác hoàn toàn mà chỉ coi đây như những cố gắng ban đầu trên con đường vạn dặm tiến đến chân lý mà thôi. Sự bổ xung, hoàn thiện, thậm chí thay đổi chúng cần phải được tiếp tục không ngừng. Và do đó, tôi cho rằng, một người không thể làm nổi mà phải là công vịêc của tất cả chúng ta. Phương pháp nghiên cứu, trước mắt, của tôi là quan sát, chiêm nghiệm thực tế khách quan, tổng quát hoá, khái quát hoá, trừu tượng hoá mọi lĩnh vực, mọi kiến thức có được, đặc biệt chú ý đến những kiến thức lý thuyết và ứng dụng còn sót lại của thọc thuyết ADNH như những gợi ý quan trọng. Sau đó đối chiếu, kiểm tra trong thực tế những kết quả thu được, hệ thống hoá chúng, từng bước phục hồi lại học thuyết kỳ vĩ đã thất truyền này. Tuy phương pháp này còn hết sức bất định nhưng cũng coi như một trường phái khác với phương pháp dựa vào sự hợp lý hình thức, “tượng”, “số”, hay giải mã những mảnh kiến thức còn sót lại của một nền văn minh đã mất (chắc chắn đã biến dạng rất nhiều, rất khó kiểm chứng) mà hàng mấy nghìn năm nay bao lớp người đã áp dụng nhưng kết quả vẫn không thể làm sáng tỏ được học thuyết này. Chúng ta nếu cứ theo phương pháp này chắc là chỉ bổ xung thêm những bế tắc, mù mờ mà bao lớp tiền nhân đã gặp phải. Tôi mơ ước, một ngày nào đó, sẽ có một phương pháp có thể thực nghiêm kiểm chứng được trong nghiên cứu ADNH! Một số kết quả nghiên cứu của bài viết vừa trình bày với quí vị, tôi xin tóm tắt ra đây để tiện theo dõi: - Hệ thống các khái niệm cơ bản cùa học thuyết ADNH và quan hệ giữa chúng: + Đạo: Bản thể của Vũ trụ. + Âm, Dương. + Tam tài: Chung, Âm, Dương + Thời kỳ Tiên thiên: Thời kỳ ban đầu của sự vật, mâu thuẫn âm dương chưa bộc lộ; Âm, Dương, Chung tương hỗ phát triển. + Thời kỳ Hậu thiên: Thời kỳ phát triển mâu thuẫn Âm, Dương. Dương khắc Âm, Âm sinh Chung, Chung khắc Dương. + Tứ tượng: Các yếu tố dẫn xuất bậc 2 của tương tác âm, dương. + Ngũ hành: Các yếu tố hình thành và phát triển trong mâu thuẫn âm, dương + Bát quái: Các yếu tố dẫn xuất bậc 3 của tương tác âm, dương. + Ý nghĩa các quẻ dịch (từ đó suy ra bản chất Kinh dịch): Quẻ dịch thể hiện quan hệ, tương tác giữa các lực lượng trong sự vật. + Tiên thiên Ngũ hành, Tiên thiên Bát quái: Dòng vận động của dòng Khí dương trong sự vật ở thời kỳ Tiên thiên. + Hậu thiên Ngũ hành, Hậu thiên Bát quái: Dòng vận động của dòng Khí dương trong sự vật ở thời kỳ Hậu thiên. + Tiên thiên Ngũ hành Phi tinh, Tiên thiên Huyền không Phi tinh: Dòng vận động của dòng Khí âm trong sự vật ở thời kỳ Tiên thiên + Hậu thiên Ngũ hành Phi tinh, Hậu thiên Huyền không Phi tinh (Từ đó suy ra bản chất của Lường thiên xích): Dòng vận động của dòng Khí âm trong sự vật ở thời kỳ Hậu thiên. + Độ số các Quái: Thứ tự vận động của dòng Khí âm trong sự vật ở thời kỳ Hậu thiên ( Huyền không Phi tinh ). + Dòng Vượng khí: Dòng vận đông hưng vương của các yếu tố trong sự vật. + Dòng Hoá khí: Dòng vận động tiến hoá của sự vất này trong sự vật khác. + Thập nhị Thiên can: Cấu trúc ADNH của thời gian phát triển của sự vật. + Thập thiên can: Cấu trúc ADNH của thời gian tác động của Vũ trụ. + Cấu trúc ADNH của không gian. + Nạp Ngũ hành cho các mùa trong năm. + Hà đồ Bắc vả Nam bán cầu: Cấu trúc ADNH không gian trên trái đất. + Lạc thư Bắc vả Nam bán cầu: Ảnh hưởng của Mặt trời tới Trái Đất khi Trái đất tự quay quanh mình nó. + Sinh, Vượng, Mộ của sự vật và bản chất qui luật cách bát sinh tử. + Bảng Lục thập Hoa giáp: Cấu trúc ADNH thời gian. + Giải thích hiện tượng giờ Quan sát: Là giờ Khắc với cấu trúc ADNH của nhịp sinh học của con người trong tháng. + Ý nghĩa giờ Thần hợp: Giờ trùng với cấu trúc ADNH của nhịp sinh học của con người trong tháng. Các nghiên cứu khác về trường khí, ứng dụng của học thuyết ADNH mhư Thái Ất, Độn Giáp, Lục Nhâm, Phong Thuỷ, Tử vi, dự đoán theo Tứ trụ, Bát tự Hà lạc, … cũng đang được từng bước nghiên cứu nhưng xử dụng các tìm tòi trong bài viết này như những kiến thức, phương pháp luận cơ sở và thu được một vài kết quả khả quan sẽ được hân hạnh trình bày với quí vị trong một thời gian không xa. Kính thưa các quí vị quan tâm! Cơ sở học thuyết ADNH mà bài viết đề cập đến được xây dựng cho mọi đối tượng xuất phát từ khái niệm cơ bản đầu tiên là “Đạo” – bản thể của Vũ trụ. Điều đó có nghĩa là: Nếu học thuyết này được xây dựng đúng thì nó có thể được áp dụng hiệu quả cho tất cả mọi đối tượng, lĩnh vực, mà không có bất cứ một hạn chế nào kể cả tâm linh, tôn giáo, … hay thậm chí những lĩnh vực mà cho đến nay chúng ta còn còn chưa có khái niệm. Nói cách khác, học thuyết ADNH chính là học thuyết thống nhất Vũ trụ mà nhân loại ngày nay đang còn mơ ước! Tôi không thể không kinh ngạc về ý tưởng này và càng nhận thấy mức độ khổng lồ của những công việc cần phải tiến hành khi tiếp tục xây dựng học thuyết ADNH. Rõ ràng, để thực hiện được điều đó phải huy động sự đóng góp của tất cả mọi thành viên xã hội một cách hiệu quả, kiên trì qua nhiều thế hệ. Mọi ý tưởng cá nhân, vị kỷ đều gây tác hại to lớn đến sự nghiệp chung vĩ đại đó. Do đó, tôi thực tâm mong chờ sự đóng góp của toàn thể quí vị trong sự nghiệp phục hồi học thuyết ADNH! Chào trân trọng!
  4. 6. Giờ quan sát Giả thiết rằng, nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) là một sự vật, vận động trong môi trường tương tác của Vũ trụ tới Trái đất, có chu kỳ thay đổi là 1 tháng, có cấu trúc 12 cung Địa chi phân bố theo giờ trong ngày. Cứ qua 1 tháng, nhịp sinh học vận động qua 12 Địa chi, gồm 2 chu kỳ Ngũ hành (1 âm và 1 dương). Như trên đã khảo sát, cứ tiến hoá qua một bước âm dương hay một Ngũ hành, nhịp sinh học chuyển qua một giai đoạn mới mà các yếu tố của nó có quan hệ sinh ra yếu tố tương ứng ở giai đoạn trước, hay nó vận động được 1 bước theo chiều dòng Hoá khí, ngược chiều tương sinh. Như vậy, cứ qua 1 tháng (gồm 1 chu kỳ Địa chi 2 Ngũ hành), các yếu tố của nhịp sinh học đó dịch chuyển ngược chiều tương sinh 2 bước, cứ qua nửa tháng, dịch chuyển 1 bước. Mặt khác, khí âm dương của Vũ trụ được con người cảm ứng tạo nên một nhịp sinh học (cụ thể về vấn đề sinh nở) . Nhịp sinh học này so với môi trường tương tác của Vũ trụ tới Trái đất là thứ cấp, sinh sau, nên các yếu tố của chúng không thể đồng thời với các yếu tố của sự tương tác Vũ trụ tới Trái đất, mà phải có một độ trễ nhất định. Giả thiết rằng độ trễ này bằng một bước vận động của trường khí Vũ trụ. Điều đó có nhĩa là, khi tương tác của Vũ trụ tác động tới Trái đất bắt đầu ở cung tháng Tý, giờ Tý thì nhịp sinh học bắt đầu ở đầu cung Hợi (Chậm 1 bước so với trường khí từ Mặt trời) Biểu diễn trên sơ đồ quá trình tiến hoá của nhịp sinh học ta được: (xem hình vẽ) + Vòng Địa chi ngoài cùng biểu diễn phân bố cung giờ Địa chi. + Vòng Địa chi trong biểu diễn phân bố các yếu tố nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) theo thời gian Địa chi trong ngày. Cứ qua 1 tháng, vòng Địa chi này vận động nghịch 2 bước bằng 60 độ. Qua 12 tháng, Địa chi nhịp sinh học quay nghịch được 2 vòng. + Ở tháng 11 (tháng Tý), vào giờ Tý đầu tiên, nhịp sinh học vào đầu cung Hợi, thể hiện sự chậm 1 bước của trường khí trên Trái đất so với trường khí Mặt trời. Tháng Tý khắc cung Ngọ của nhịp sinh học đang đóng ở cung giờ Mùi. Giờ Mùi xấu. + Ở tháng 12 (tháng Sửu), nhịp sinh học quay ngược 2 bước (60 độ) làm cho vào giờ Tý đầu tháng Sửu, nhịp sinh học đóng ở đầu cung Sửu. Tháng Sửu khắc cung Mùi của nhịp sing học, đang đóng ở cung giờ Ngọ. Giờ Ngọ xấu. + Ở tháng 1 (tháng Dần), vòng Địa chi nhịp sinh học quay ngược tiếp 2 bước (60 độ) làm cho vào giờ Tý đầu tháng Dần. Nhịp sinh học đóng ở đầu cung Mão. Tháng Dần khắc cung Hợi của nhịp sing học, đang đóng ở cung giờ Thân. Giờ Thân xấu. … Căn cứ vào sơ đồ trên ta có thể lập bảng vị trí các cung của nhịp sinh học tương ứng với các giờ trong ngày của tháng như sau: Căn cứ vào bảng trên ta thấy: - Tháng Tý (11) xung cung Ngọ nhịp sinh học đóng ở giờ Mùi trong ngày. Giờ Mùi xấu. - Tháng Sửu (12) xung cung Mủi nhịp sinh học đóng ở giờ Ngọ trong ngày.Giờ Ngọ xấu. - Tháng Dần (1) xung cung Thân nhịp sinh học đóng ở giờ Tỵ trong ngày. Giờ Tỵ xấu. - Tháng Mão (2) xung cung Dậu nhịp sinh học đóng ở giờ Thìn trong ngày. Giờ Thìn xấu. - Tháng Thìn (3) xung cung Tuất nhịp sinh học đóng ở giờ Mão trong ngày. Giờ Mão xấu. - Tháng Tỵ (4) xung cung Hợi nhịp sinh học đóng ở giờ Dần trong ngày. Giờ Dần xấu. - Tháng Ngọ (5) xung cung Tý nhịp sinh học đóng ở giờ Sửu trong ngày. Giờ Sửu xấu. - Tháng Mùi (6) xung cung Sửu nhịp sinh học đóng ở giờ Tý trong ngày. Giờ Tý xấu. - Tháng Thân (7) xung cung Dần nhịp sinh học đóng ở giờ Hợi trong ngày. Giờ Hợi xấu. - Tháng Dậu (8) xung cung Mão nhịp sinh học đóng ở giờ Tuất trong ngày. Giờ Tuất xấu. - Tháng Tuất (9) xung cung Thìn nhịp sinh học đóng ở giờ Dậu trong ngày. Giờ Dậu xấu. - Tháng Hợi (10) xung cung Tỵ nhịp sinh học đóng ở giờ Thân trong ngày. Giờ Thân xấu. Những giờ xấu trên được cổ nhân truyền lại cho hậu thế trong bài ca giờ quan sát được Nguyễn Vũ Tuấn Anh giới thiệu trong nhiều tác phẩm của mình. Căn cứ vào bản trên và các quan hệ Địa chi, ta có thể suy ra các giờ tốt, trung bình trong tháng. Ví dụ: - Tháng Tý (11) hợp cung Tý, Thìn, Thân của nhịp sinh học đóng ở giờ Sửu, Dậu, Tỵ trong ngày. Giờ Sửu, Dậu, Tỵ tốt. - Tháng Sửu (12) hợp cung Sửu, Dậu, Tỵ của nhịp sinh học đóng ở giờ Tý, Thìn, Thân trong ngày.Giờ Tý, Thìn, Thân tốt. - Tháng Dần (1) hợp cung Dần, Ngọ, Tuất của nhịp sinh học đóng ở giờ Hợi, Mão, Mùi trong ngày. Giờ Hợi, Mão, Mùi tốt. - Tháng Mão (2) hợp cung Mão, Mùi, Hợi của nhịp sinh học đóng ở giờ Tuất, Dần, Ngọ trong ngày. Giờ Tuất, Dần, Ngọ tốt. - Tháng Thìn (3) hợp cung Thìn, Thân, Tý của nhịp sinh học đóng ở giờ Dậu, Sửu, Tỵ trong ngày. Giờ Dậu, Sửu, Tỵ tốt. - Tháng Tỵ (4) hợp cung Tỵ , Sửu, Dậu của nhịp sinh học đóng ở giờ Thân, Tý, Thìn trong ngày. Giờ Thân, Tý, Thìn tốt. - Tháng Ngọ (5) hợp cung Ngọ, Dần, Tuất của nhịp sinh học đóng ở giờ Mùi, Mão, Hợi trong ngày. Giờ Mùi, Mão, Hợi tốt. - Tháng Mủi (6) hợp cung Mùi, Mão, Hợi của nhịp sinh học đóng ở giờ Ngọ, Dần, Tuất trong ngày. Giờ Ngọ, Dần, Tuất tốt. - Tháng Thân (7) hợp cung Thân, Tý, Thìn của nhịp sinh học đóng ở giờ Tỵ, Dậu, Sửu trong ngày. Giờ Tỵ, Dậu, Sửu tốt. - Tháng Dậu (8) hợp cung Dậu, Tỵ, Sửu của nhịp sinh học đóng ở giờ Thìn, Thân, Tý trong ngày. Giờ Thìn, Thân, Tý tốt. - Tháng Tuất (9) hợp cung Tuất. Dần, Ngọ của nhịp sinh học đóng ở giờ Mão, Mùi, Hợi trong ngày. Giờ Mão, Mùi, Hợi tốt. - Tháng Hợi (10) hợp cung Hợi, Mão, Mùi cũa nhịp sinh học đóng ở giờ Dần, Ngọ, Tuất trong ngày. Giờ Dần, Ngọ, Tuất tốt. Như vậy, trong năm, các giờ tam hợp: + Thân, Tý, Thìn của các tháng Tỵ (4), Dậu (8), Sửu (12) + Tỵ, Dậu, Sửu của các tháng Thân (7), Tý (11), Thìn (3) + Tuất, Dần, Ngọ của các tháng Mão (2), Mùi (6), Hợi (10) + Mão, Mùi, Hợi của các tháng Tuất (9), Dần (1), Ngọ (5) là các giờ tốt cho nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) … Qua các phân tích trên chúng ta thấy, giờ quan sát chính là giờ xung khắc với giờ Thần hợp của Địa chi tháng. Giờ Thần hợp của Địa chi tháng chính là cung giờ mà yếu tố nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) có Địa chi tương ứng với Địa chi tháng, cư ngụ. Tương tác của Vũ trụ tới Trái đất hỗ trộ tốt nhất cho nhịp sinh học của con người vào giờ Thần hợp, và gây tác hại nhiều nhất vào giờ Quan sát. Biểu diễn trên bảng ta được:
  5. 5. Bảng Lục thập hoa giáp Giả sử thời gian vũ trụ vận động gồm 5 hành và 10 thiên can như đã xét ở trên. Vận khí của một sự vật chịu tác động của vũ trụ như là một yếu tố con trong sự vận hành của vũ trụ, thể hiện như các thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ và sinh ra bản mệnh của sự vật đó. Áp dụng các qui tắc Sinh, Vượng, Mộ ở trên ta xây dựng được sự liên hệ giữa Thiên can và Vận khí như thể hiện trên đồ hình sau: + Trên đồ hình, Thiên can bắt đầu tử hành Thuỷ thể hiện nguyên tắc vạn sự sinh từ Đạo, biến đổi từ Dương, vận động theo chiều tương sinh. + Ở Thời kỳ đầu tiên, Thiên can hoà Vận khí thể hiện cái tính của thời kỳ Tiên thiên, khi mâu thuẫn trong tương tác âm dương còn chưa thể hiện rõ. +Tiếp theo cứ 3 hành một thời kỳ: Thiên can sinh Vận khí, Thiên can khắc Vận khí, Vận khí khắc Thiên can, Vận khí sinh Thiên can. + Các thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ của Vận khí được thể hiện trên đồ hình. Như vậy, Qua 15 hành thì lặp lại chu kỳ thời gian có hành Thiên can và Vận khí trùng nhau. Tiếp theo, Vận khí sinh bản mệnh được thể hiên bằng đồ hình như sau: Các hành Thiên can còn được chia nhỏ thành Thiên can gồm 10 yếu tố Nhâm, Quí, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí bắt đầu từ hành Thuỷ. Đồng thời, vận động của sự vật cũng chia ra thành 12 Địa chi, thể hiện thời gian tiến hoá. Thêm các yếu tố Thiên can, Địa chi vào đồ hình vừa dựng, tiếp tục nó cho tới khi kết thúc chu kỳ gồm các khoảng thời gian mà đặc trưng là các yếu tố Thiên can, Địa chi, Vận khí, Bản mệnh không lặp lại ta được bảng phân bố thởi gian như sau, gồm 60 khoảng: Áp dụng bảng phân bố đó cho thời gian mỗi khoảng là 1 năm, ta thu được bảng Lục thập hoa giáp mà người xưa truyền lại đã được hiệu chỉnh lại như sau: (Còn nữa)
  6. VII./ CẤU TRÚC ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH CỦA THỜI GIAN 1. Mô hình cấu trúc một chu kỳ tiến hoá của sự vật Thời gian là một khái niệm dùng trong sự mô tả quá trình phát triển, biến đổi của sự vật, thể hiện sự biến đổi của Vạn tượng trong quá trình tương tác âm dương. Do đó, thời gian không hề độc lập với sự vật và không hề có lý do tự thân, nó phải gắn bó với sự vật và thể hiện sự phát triển, biến đổi của sự vật. Nói tính chất của thời gian là nói tính chất của đối tượng định mô tả biến thiên theo thời gian. Vạn tượng biến đổi không ngừng trong quá trình tương tác âm dương, vận động theo chiều tương sinh của dòng Vượng khí nên thời gian cũng “trôi” liên tục và tính chất của nó cũng phải biến thiên theo chiều Ngũ hành tương sinh. Mộc - > Hoả - > Thổ - > Kim - > Thuỷ… Trong quá trình tương tác âm dương, sự vật biến đổi không ngừng, lúc thịnh lúc suy. Khi mâu thuẫn âm dương quá gay gắt, sự vật bị phá huỷ và sinh ra một sự vật mới với cấu trúc Ngũ hành mới. Sự sinh, huỷ này không diễn ra ngay lập tức, mà luôn luôn phải qua một thời kỳ quá độ nhất định. Ở thời kỳ quá độ này, các tính chất cũ chưa mất đi hẳn, những tính chất mới chưa kịp hình thành đầy đủ, do đó chúng đồng thời tồn tại trong sự vật và đang trong quá trình chuyển hoá. Do đó, ở thời kỳ này sự vật thuộc Chung hay hành Thổ, sự vật cũ thuộc Dương, sự vật mới sinh thuộc Âm. Qua thời kỳ quá độ này, sự vật mới sẽ hình thành và phát triển, tiếp tục quá trình tương tác âm dương mới với cấu trúc Ngũ hành mới. Quá trình cứ tiếp diễn liên tiếp không ngừng nghỉ như thế làm cho sự vật sinh hoá liên miên. Bám sát theo quá trình tiến hóa đó, tính chất của thời gian cũng biến đổi không ngừng tương ứng tính chất của sự vật như sau; Mộc+ > Hoả+ > Thổ+ > Kim+ > Thuỷ+ > Thổ1 > Mộc- > Hoả- > Thổ- > Kim- > Thuỷ- > Thổ2 > (Mộc +)’ > (Hoả+)’ > (Thổ+)’ > (Kim+)’ > (Thuỷ+)’ > Thổ3 > … (Chú ý rằng, để quá trình phát triển của sự vật diễn ra trên tất cả các yếu tố của nó trong một chu kỳ phát triển thì phải biểu diễn dòng Vượng khí bắt đầu từ hành Mộc) Người ta mô hình hoá dãy biến đổi liên tục của thời gian trên thành dạng chu kỳ gồm hai nửa Dương (các hành thuộc sự vật cũ) và Âm (các hành thuộc sự vật mới) cách nhau bởi hai hành Thổ1 và Thổ2 vận động theo chiều tương sinh như sau: Mô hình cấu trúc một chu kỳ tiến hoá của sự vật Đó là mô hình cấu trúc một chu kỳ tiến hoá của sự vật Trong mô hình này, quan hệ các hành có một số thay đổi so với quan hệ Ngũ hành trước do mâu thuẫn âm dương ở cuối chu kỳ dương và đầu chu kỳ âm quá gay gắt dẫn đến sự tiêu huỷ của cái cũ và sự sinh trưởng của cái mới: Thuỷ+ sinh Thổ1 (bình thường thì Thổ khắc Thuỷ) Thuỷ- sinh Thổ2 (bình thường thì Thổ khắc Thuỷ) Thổ1 sinh Mộc- (bình thường thì Mộc khắc Thổ) Thổ2 sinh Mộc+ (bình thường thì Mộc khắc Thổ) Thuỷ+ tương thừa Mộc+ (bình thường thì Thuỷ sinh Mộc) Thuỷ- tương thừa Mộc- (bình thường thì Thuỷ sinh Mộc) 2. Quan hệ Địa chi Như trên, ta đã thu được cấu trúc một chu kỳ tiến hoá của sự vật gồm 12 yếu tố vận hành theo chiều tương sinh là: Mộc+ > Hoả+ > Thổ+ > Kim+ > Thuỷ+ > Thổ1 > Mộc- > Hoả- > Thổ- > Kim- > Thuỷ- > Thổ2 Người xưa đặt tên cho chúng lần lượt là: Thân > Dậu > Tuất > Hợi > Tý > Sửu > Dần > Mão > Thìn > Tỵ > Ngọ > Mùi Và gọi chúng là 12 Địa chi Như vậy, Địa chi chính là cấu trúc Ngũ hành đặc tính của thời gian một chu kỳ tiến hoá của sự vật gồm 2 nửa âm và dương. Căn cứ vào chiều tương sinh cùng ý nghĩa của các Địa chi, kết hợp với các đồ hình cơ bản quan hệ các yếu tố ta lập ra sơ đồ quan hệ giữa các Địa chi như sau: Nhìn trên sơ đồ quan hệ Địa chi ta thấy ngay một số quan hệ cơ bản như sau: - Thập nhị sinh: Tý sinh Sửu, Sửu sinh Dần, Dần sinh Mão, Mão sinh Thìn, Thìn sinh Tý, Tý sinh Ngọ, Ngọ sinh Mùi, Mùi sinh Thân, Thân sinh Dậu, Dậu sinh Tuất, Tuất sinh Hợi, Hợi sinh Tý - Thập nhị khắc: Tý khắc Dần, Dần khắc Thìn, Thìn khắc Ngọ, Ngọ khắc Thân, Thân khắc Tuất, Tuất khắc Tý; Hợi khắc Sửu, Sửu khắc Mão, Mão khắc Tỵ, Tỵ khắc Mùi, Mùi khắc Dần, Dần khắc Hợi. - Lục sinh: Sửu sinh Ngọ, Tý sinh Tỵ, Hợi sinh Thìn, Tuất sing Mão, Dậu sinh Dần, Thân sinh Sửu. - Lục khắc: Mùi khắc Tý, Ngọ khắc Hợi, Tỵ khắc Tuất, Thìn khắc Dậu, Mạo khắc Thân, Dần khắc Mùi. - Tứ xung: Tý, Ngọ, Mão, Dậu Dần, Thân, Tỵ, Hợi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi - Tam hợp: Tý, Thìn, Thân Dần, Tuất, Ngọ Tỵ, Dậu, Sửu Mùi, Mão, Hợi Như vậy, cấu trúc thời gian theo địa chi là cấu trúc thời gian tiến hoá của sự vật, vận động chu kỳ thời gian qua 12 yếu tố (thời kỳ) Thân -> Dậu -> Tuất -> Hợi -> Tý -> Sửu -> Dần -> Mão -> Thìn -> Tỵ -> Ngọ -> Mùi. Vận động của Địa chi dược phân ra thành 2 loại. Vận động thuận từ các yếu tố dương hơn tới các yếu tố âm hơn và vận đông ngịch từ các yếu tố âm hơn tới các yếu tố dương hơn. Mặt khác, chính giữa của Thủy là nơi dương nhất, chính giữa của Hỏa là nơi âm nhất. Do đó, vận đông Địa chi thuận là: Tý > Sửu > Dần > Mão > Thìn > Tỵ Vận động Địa chi Nghịch là: Ngọ > Mùi > Thân > Dậu > Tuất > Hợi Do đó, vận động Địa chi từ Thuận tới Nghịch như sau: Tý > Sửu > Dần > Mão > Thìn > Tỵ > Ngọ > Mùi > Thân > Dậu > Tuất > Hợi Như vậy, Địa chi đại diện cho thời kỳ phát triển của các yếu tố trong bản thân sự vật. 3. Thiên can Như trên đã thấy, mô hình Địa chi chỉ vận động của tính chất thời gian khi mâu thuẫn âm dương đủ để sự vật tiến hoá thành sự vật khác. Mô hình này vận động qua 2 chu kỳ Ngũ hành (âm và dương) theo chiều Ngũ hành tương sinh và đi qua 2 hành Thổ nên nó có 12 yếu tố gọi là các Địa chi. Đối với vũ trụ, thời gian tới sinh huỷ của nó vô cùng lớn, do đó khi xét ảnh hưởng của nó tới sự vật thì chỉ xét đến cấu trúc phát triển này mà thôi, không xét đến cấu trúc thời gian tiến hóa gồm 12 Địa chi, chỉ xét đến cấu trúc Ngũ hành của nó. Mỗi một yếu tố Ngũ hành này gồm 2 yếu tố con lần lươt hưng vuợng, một dưong và một âm nên cấu trúc chu kỳ phát triển tính chất thời gian (khi chưa có sự sinh huỷ) gồm 10 yếu tố (các yếu tố âm, dương của Ngũ hành gọi là thập Thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí) vận động theo chiều dòng Sinh khí là: Mộc > Hoả > Thổ > Kim > Thuỷ Giáp > Ất > Bính > Đinh > Mậu > Kỷ > Canh > Tân > Nhâm > Quí Tương ứng với chiều dòng Sinh khí trong các quái như trên đã thu được là: Chấn > Cấn > Khôn > Ly > Thổ+ > Thổ- > Tốn > Đoài > Càn > Khảm Như vậy, thập Thiên can tương ứng với các quái là: Giáp = Chấn Ất = Cấn Bính = Khôn Đinh = Ly Mậu = Thổ+ Kỷ = Thổ- Nhâm = Càn Quí = Khảm Căn cứ vào đồ hình mô tả quan hệ Bát quái ta được đồ hình mô tả quan hệ thập Thiên can như sau: Đồ hình quan hệ thập Thiên can này không những cho phép ta lý giải được tất cả các câu mô tả quan hệ thập Thiên can mà cổ thư chữ Hán truyền lại như: Giáp hợp Kỷ phá Ất xung Canh, Mậu hợp Quí phá Giáp khắc Kỷ, Bính hợp Tân phá Nhâm xung Đinh, Canh hợp Ất phá Bính xung Tân, Nhâm hợp Đinh phá` Mậu xung Quí …. Mà còn có thể thấy rõ toàn bộ các quan hệ khác của chúng như tứ xung: Giáp, Ất, Mậu, Tân Bính, Đinh, Canh, Quí Mậu, Kỷ, Nhâm, Ất Canh, Tân, Giáp, Đinh Nhâm, Quí, Bính, Kỷ … Như vậy, Thiên can đại diện cho yếu tố chu kỳ, thời kỳ phát triển của Vũ trụ mà trong đó, sự vật khảo sát tồn tại và phát triển, chịu ành hưởng của các yếu tố đó. 4. Sinh, Vượng, Mộ của sự vật Một sự vật từ khi hình thành tới khi bị huỷ diệt phải trải qua 5 thời kỳ liên tiếp sau: - Thời kỳ Mầm mống: Những yếu tố cơ bản mới có mầm mống hình thành mà chưa phát triển. Thời kỳ này bắt đầu khi sự vật trước bắt đầu suy giảm. - Thời kỳ Sinh: Những yếu tố cơ bản của sự vật hình thành và phát triển nhanh chóng. Sự vật trước bắt đầu tiêu vong. - Thời kỳ Vượng: Mọi yếu tố cơ bản của sự vật phát triển mạnh mẽ và ổn định. Các yếu tố cơ bản của thời kỳ trước đã hoàn toàn bị tiêu vong. - Thời kỳ Mộ: Những yếu tố cơ bản của sự vật bắt đầu suy giảm, mâu thuẫn âm dương làm suy yếu sự vật. Bắt đầu hình thành các mầm mống của các yếu tố cơ bản sự vật mới. - Thời kỳ Huỷ: Những yếu tố của sự vật bắt đầu tiêu vong, những yếu tố của sự vật mới bắt đầu phát triển nhanh chóng. Giả sử sự vật phát triển, sinh hoá trong lòng một sự vật khác lớn hơn bao trùm. Lúc đó, nó sẽ thuộc một hành nào đó trong sự vật lớn. Các thời kỳ phát triển của nó cũng bị qui định bởi các hành của thời kỳ lớn theo chiều tương sinh. Sự xuất hiên của sự vật mới khi sự vật cũ bị tiêu vong phải theo chiều dòng Hoá khí như đã phân tích ở phần trên. Điều ấy có nghĩa là hành của một thời kỳ của sự vật mới là hành của thời kỳ tương ứng của sự vật cũ dịch đi một hành ngược chiều tương sinh hay nói cách khác một hành của một thời kỳ sự vật mới sinh hành thời kỳ tương ứng của sự vật cũ. Mặt khác, khi các sự vât cũ, mới nối tiếp nhau ra đời, tiêu vong môt cách xen kẽ như thế, biểu hiện của sự vât là biểu hiện của 3 thời kỳ trội hơn là Sinh, Vượng, Mộ còn các thời kỳ Mầm mống và Huỷ mờ nhạt đi. Do đó, hành của sự vật là hành của 3 thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ còn hành của Mầm mống, Hủy bị “lặn” đi. Theo nguyên tắc đó, hành của thời kỳ Mộ của sự vật cũ bao giờ cũng khắc hành của thời kỳ Sinh của sự vật mới, hay hành của thời kỳ Sinh (Vượng, Mộ) sự vật cũ luôn “sinh” hành của thời kỳ Sinh (Vượng, Mộ) sự vật mới. Do 3 thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ kéo dài 3 hành, nên hành thời kỷ này sinh hành của thời kỳ sau nó 4 hành. Đó chính là cơ sở nguyên lý “cách bát sinh tử” của thuyết Âm dương Ngũ hành cổ truyền. Giả sử rằng, hành của sự vật lớn vận hành theo chiều tương sinh liên tiếp là Mộc > Hỏa > Thổ > Kim > Thủy > Mộc > hỏa > Thổ > Kim Thủy > … Sự vật con vận hành trong sự vật lớn theo nguyên tắc như mô tả ở trên. Ta thu được các hành của sự vật con vận hành như sau: Qua sơ đồ này ta thấy quan hệ giữa sự vật lớn và sự vật con có 5 thời kỳ rõ rệt lặp đi lặp lại cứ 3 hành liên tiếp một lần tổng cộng trải qua15 hành tất cả: - Thời kỳ Lớn hòa thời kỳ Con. - Thời kỳ Lớn sinh thời kỳ Con. - Thời kỳ Lớn khắc thời kỳ Con. - Thời kỳ Con khắc thời kỳ Lớn. - Thời kỳ Con sinh thời kỳ Lớn. Tính chất của các thời kỳ sự vật Con như sau: · Một thời kỳ sự vật Con gồm 3 hành lần lượt ở Sinh, Vượng, Mộ · Hành cuối của thời kỳ trước (Mộ) khắc hành đầu (Sinh) của thời kỳ sau · Các hành của thời kỳ sau sinh các hành tương ứng của thời kỳ trước (chiều dòng Hóa khí) (Còn nữa)
  7. Kính thưa các quý vị quan tâm! Hôm nay, xem trong hộp thư, Vô Trước thấy messages của DaoHoa, xin copy lại như sau: Tôi mong các quý vị cho ý kiến về Hà Đồ mà DaoHoa vừa pót. Tôi cho rằng không đúng như cổ thư truyền lại.Nhưng điều đó cũng không quan trọng. Bởi vì, đồ hình Hà Đồ trong bài viết của tôi là do logíc trong bài dẫn đến không phụ thuộc vào những đồ hình khác do cổ thư truyền lại hay do ai tìm ra như thế nào. Các đồ hình khác trong bài viết cũng vậy. Có chăng các đồ hình mà cổ thư truyền lại chỉ có ý nghĩa như một gợi ý khi tôi tư duy mà thôi. Bạn DaoHoa thân mến! Tôi cũng đã viết rằng, tôi không đi theo lối tư duy "tượng", "số" mà chú ý nhất đến logic và bản chất khi nghên cứu thuyết ADNG. "Tương", "số" đối với tôi chỉ có tính tham khảo, gợi ý. Do đó, chữ "vạn" mà bạn nói cũng không ăn nhập gì trong logic của bài viết cả. Cách hay nhất phản bác các bài viết của tôi là chỉ ra sự thiếu logic, không phù hợp với thực tế khách quan của nó. Cho dù sự cân đối hình thức bề ngoài chưa chắc đã phản ánh bản chất, nhưng nhìn kỹ, những đồ hình trong bài viết của tôi cũng không kém phần cân đối! Trân trọng!
  8. Kính thưa các quí vị quan tâm! Qua vài phản hồi trên hành lang này, Vô Trước nhận thấy mình bị gán cho không ít những đều mình không viết, không quan niệm. Mong các quí vị quan tâm đọc kỹ hơn rồi góp ý thì Vô Trước xin cảm ơn lắm lắm! Nhân tiện, Vô Trước xin trình bày sơ lược những vấn đề Vô trước đề cập đến cho đến hết chuyên mục này mong quí vị nắm được tổng thể trước để tiện theo dõi: - Giải thích, định nghĩa những yếu tố, khái niệm cơ bản của học thuyết ADNH để thống nhất xử dụng. - Ý nghĩa các quái và bản chất Kinh dịch. - TTBQ, HTBQ, Huyền không Phi tinh. - Hà đồ, Lạc thư và cấu trúc ADNH của không gian. - Địa chi, Thiên can và Bảng Lục Thập hoa giáp. - Lý giải Giờ quan sát. Lý thuyết trường khí cùng bản chất các môn ứng dụng như Thái Ất, Độn Giáp, Lục Nhâm, Phong Thuỷ, ... Vô trước sẽ xin trình bày ở chuyên mục khác nhưng đều dùng chuyên mục này làm cơ sở. Trân trọng!
  9. Rất cám ơn bạn quangnx về lời khuyên!Nhưng xin bạn hãy đọc kỹ lại những điều tôi viết. Tôi không bao giờ đồng nhất Thái cực với hành Thổ về bất cứ phương diện nào. Tôi nghĩ, trong bài viết đã định nghĩa rất rõ hành Thổ và không thể nhầm lẫn với Thái cực. Thực ra, trong bài viết tôi cố ý tránh dùng từ Thái cực, dễ bị ngộ nhận có cái "cực" nào đó. Tôi dùng khái niệm "Đạo" để tránh hiểu lầm không đáng có:"bản thể của vũ trụ là Đạo hay Chân như vốn bất khả tư nghị. Cái Tướng của nó là Vạn tượng cùng cái Dụng của nó là cái lý tương tác âm dương. Quán về vũ trụ ta phải quán trên cái thế chân vạc Thể - Tướng – Dụng của nó như thế." Khi tôi nói đến Vạn tượng thì đương nhiên không còn là cái "Đạo" ấy nữa rồi! Nói thực là diễn đạt về cái nhất nguyên này khó vô cùng trong ngôn ngữ nhị nguyên, "bất khả tư nghị" mà! Cón Chung, về sau tương ứng với Thổ thì:"Do thống nhất với nhau trong tương tác, tạo ra những giá trị mới, mà trong các lực lượng âm, dương có hàm chứa những yếu tố, tuy khác nhau nhưng không mâu thuẫn, đấu tranh với nhau (thống nhất với nhau). Và tương ứng với những yếu tố đó, trong Vạn tượng có những lực lượng đại diện cho chúng, gọi là Chung. Trong Chung có những thành phần mà cả hai lực lượng âm, dương cùng thống nhất và tôn trọng, tuy khác nhau mà không mâu thuẫn, đấu tranh nhau" Rõ ràng trong Đạo không có Âm, Dương, chẳng có sự phân biệt nào ... Còn trong Chung hay Thổ thì có những yếu tố âm, dương. Chỉ có điều, đó là những thành phần âm, dương ấy có thể thống nhất với nhau (nhưng không có nghĩa là đồng hoá vào nhau). Nói chung, để hình dung những khái niệm sơ cấp như vậy chúng ta phải cảm nhiều hơn. Tôi cũng không đồng nhất khái niệm tứ tượng với khái niệm hành, mà rõ ràng tôi cho rằng "hành" là một khái niệm thuộc phạm trù "tượng": "Nhưng không phải mọi yếu tố Thiếu âm đều thuộc hành Kim. Trong Thiếu âm có rất nhiều yếu tố có thể tác động cho Dương trở nên “động” hơn, nhưng trong số đó,chỉ có những yếu tố có khả năng hỗ trợ, giải quyết mâu thuẫn âm dương, làm cho giá trị mới được sinh ra nhiều hơn, mới có điều kiện thuận lợi để phát triển và trở thành Dương trong sự vật mới, khi sự vật cũ bị mâu thuẫn âm dương trong nó tiêu diệt, mới thuộc hành Kim" Tóm lại, ở đây tôi không cho rằng bạn hiểu đúng điều tôi muốn viết. Thật khó khăn để hiểu đúng ý bài viết tiếp theo nếu các khái niệm cơ bản nhất đó không được hiểu đúng. Có thể bài viết hơi dài, văn chương không hấp dẫn nên bạn đọc chưa kỹ mà thôi. Bạn Quangnx thân mến! Tôi không phải là nhà toán học, nhưng tôi không nghĩ rằng điều đó có thể cản trở được mục tiêu này của mình. Cố nhiên, nếu tôi có nhiều kiến thức toán học hơn hay nhiều những kiến thức khác nữa thì thuận lợi hơn cho nghiên cứu của mình. Tôi thấy rằng, đa phần các lý thuyết đều được các nhà phát minh không là nhà toán học nghĩ ra. Sau đó, toán học diễn đạt lại bằng ngôn ngữ chặt chẽ hơn mà thôi. Tôi cũng thấy rằng, những đột phá tư duy cũng rất hay xuất phát từ những nhà nghiên cứu tự do, tức là không chuyên nghiệp mấy! Sau này được các nhà chuyên nghiệp phát triển thêm. Cái này lại cũng không phải là mục đích của tôi. Tôi đã viết trong phần mở đầu chuyên mục như sau:"Xưa kia, các cụ của chúng ta chắc chắn cũng quan sát thực tại khách quan, chiêm nghiệm thực tế, dùng trí tuệ của mình phát minh ra học thuyết Âm dương Ngũ hành. Ngày nay, thực tại khách quan đó vẫn còn hiện hữu. Chúng ta – con cháu các cụ - đương nhiên phải được thừa hưởng trí thông minh đó. Chúng ta lại có bao nhiêu lợi thế so với các cụ do thời đại mình mang lại. Hơn nữa, lại được những gợi ý vẫn còn vô cùng giá trị từ những “mảnh vỡ văn minh” của các cụ còn sót lại... Chẳng có lý do gì chúng ta không thể nghĩ ra được cái mà các cụ đã nghĩ ra từ hàng mấy ngàn năm trước, và nhất định phải tốn ít thời gian hơn."Như vậy, mục đích của tôi, và tôi kêu gọi tất cả các quí vị quan tâm nỗ lực "Phát minh lại" học thuyết ADNH của tổ tiên đã bị thất truyền. Còn việc giải mã cái này cái kia chỉ là phục vụ cho mục tiêu lớn đó mà thôi. Các cụ ta xưa kia đã làm được điều đó trong hoàn cảnh khó khăn hơn chúng ta rất nhiều mà không cần phải xử dụng những cơ sở toán học hiện đại! Tôi cho rằng, ở giai đoạn đầu, vai trò triết học, sử học, vật lý, ... quan trọng hơn toán học (dĩ nhiên cũng cần), nhưng toán học có vai trò quan trọng hơn hẳn khi đa phần những ý tưởng chính đã được tìm ra. Điều này tôi hoàn toàn đồng ý với bạn! Tôi không hề tìm thấy cơ sở khoa học nào cho kết luận này.Tôi cho rằng, học thuyết ADNH không hề trên trời rơi xuống mà chính do con người phát minh ra. Chúnhh ta hoàn toàn có khả năng làm lại được điều này, thậm chí còn sâu sắc hơn nếu hội đủ điều kiện. Điều kiện ấy rồi sẽ đến nếu chúng ta kiên trì, đoàn kết, lao động sáng tạo ngay từ bây giờ cho mục tiêu ấy! Trân trọng!
  10. c. Lạc thư – bảng Ngũ hành về ành hưởng của mặt trời lên không gian trái đất khi trái đất tự quay quanh mình nó: Xét một không gian giới hạn trên mặt đất Bắc bán cầu: Do trái đất quay quanh Mặt trời, không gian đang xét có tính chất luôn thay đổi theo chu kỳ 1 ngày đêm. Ảnh hưởng của mặt trời tới không gian tới từ phương Đông, bên phải. Do đó, nửa bên trái không gian thuộc các hành “Thái” (Thuỷ, Hoả), nửa bên phải thuộc các hành “Thiếu” (Kim, Mộc). Mặt khác, ở bán cầu bắc trái đất, phía Bắc lạnh hơn phía Nam nên nửa bên trái không gian có hành Thuỷ nằm ở phía trên, hành Hoả ở phái dưới. Nửa bên phải có hành Mộc nằm ở phía trên và hành Kim nằm ở phía dưới (Do Kim thuộc tĩnh trong động phải động hơn Mộc thuộc động trong tĩnh) Do đó, ảnh hưởng của mặt trời lên không gian Bắc bán cầu khi trái đất tự quay quanh mình nó đặc trưng bằng đồ hình sau: Biểu diễn trên ma phương 9 ô ta được: Khi nạp quái cho các ô chúng ta chú ý rằng các quái “Thái” phải nằm ở phương vị chính của hành, quái “Thiếu” nằm ở các phần Chung, đồ hình phân bố Bát quái ảnh hưởng của mặt trời lên không gian Bắc bán cầu khi trái đất tự quay quanh mình nó như sau: Nếu dùng các cục của các quái thay thế biểu tượng các quái ta được đồ hình: Đó chính là đồ hình Lạc thư mà cổ thư truyền lại cho tới ngày nay. Đồ hình Lạc thư đầy đủ có các quái và cục số của chúnh như sau: Đối với bán cầu nam, đồ hình Lạc thư tương ứng như sau: (Còn nữa)
  11. Tôi chưa bao giờ công nhận mệnh đề này! Học thuyết ADNH theo tôi là một học thuyết thống nhất, hoàn chỉnh. Âm, Dương, Ngũ hành, Hà đồ, Lạc thư chỉ là những khái niệm, đồ hình diễn tả một số qui luật trong học thuyết đó mà thôi. Mệnh đề trên quá xưa, sai lầm, câu nệ sách cổ không thể phát triển. Anh Thiên Sứ đã tốn rất nhiều giấy mực cho vấn đề này rồi mà! Vậy tôi xin hỏi Hà Đồ, Lạc Thư bắt nguồn từ đâu? Chả nhẽ nó được coi như một tiên đề? Làm gì có tiên đề nào mà huyền bí phức tạp như thế. Tiên đề phải là cái trực quan, hiển nhiên mà mọi người công nhận không bàn cãi cơ mà. Thật lòng tôi không hiểu bạn gán cho tôi những dòng này trên căn cứ nào! Tại sao không trích dẫn!Bạn nghĩ sao khi có một người đố bạn câu hỏi: "Hai cộng hai bằng mấy?"?! hoặc bảo bạn tính hai cộng hai bằng ba! Mới thế mà bạn đã vội bỏ đi sao? Có lẽ mạch tư duy của chúng ta quá khác nhau nên như thế chắc lại hay hơn! Chúc bạn thành công trong những lĩnh vực của mình!
  12. Daohoa thân mến! Kính thưa các quí vị quan tâm! Như Vo Truoc đã có lời ở đầu chuyên mục: "Theo dõi các bài nghiên cứu tranh luận trên các diễn đàn, tôi cho rằng chúng ta đang thiếu hẳn sự sáng tỏ bản chất hệ thống khái niệm căn bản của học thuyết Âm dương Ngũ hành, một phương pháp luận đúng đắn xuất phát từ bản chất của những đối tượng mà ta nghiên cứu. Chúng ta phải thiên về sự hợp lý hình thức, những “tượng”, “số” mang nặng suy diễn chủ quan của mỗi chúng ta, rất khó thống nhất ý kiến và phản ánh không đầy đủ, trọn vẹn đối tượng đó. Hơn nữa, chúng ta phải lệ thuộc vào những tài liệu chữ Hán còn sót lại, lưu truyền đã hàng ngàn năm, chắc chắn đã có rất nhiều sai lệch dễ làm chệch hướng tư duy đúng đắn." Do đó, Vo Truoc mới xây dựng, như tên gọi chuyên mục, "Cơ sở học thuyết ADNH" nhằm xây dựng phương pháp luận, xác định ý nghĩa, hệ thống hóa tất cả những khái niệm, kiến thức cơ sở của học thuyết ADNH để làm nền tảng cho mọi ứng dụng của của nó. Mà đã gọi là cơ sở thì không được có những khái niệm, nguyên tắc nào được ấn định mà không có lý giải trừ hệ thống tiên đề và các khái niệm sơ cấp. Do đó, những phép gán độ số âm dương, ngũ hành,... không có lý giải sẽ không áp dụng tại đây. Mặt khác, bài viết không nhằm chứng minh sự đúng sai của các đồ hình mà là phải suy ra nó trong một phát triển của hệ thống logic để tìm ra bản chất của chúng. Chỉ xuất phát từ ý nghĩa, bản chất ta mới có thể suy ra những ứng dụng của chúng một cách đúng đắn, không bị tình trạng râu ông nọ cắm cằm bà kia mà không biết. Do đó, các đồ hình TTBQ, HTBQ, Hà đồ, Lạc thư, Lục thập hoa giáp, ... mà tôi đề cập đến không phải nhằm chứng minh sự đúng đắn hay không của các đồ hình tương tự khác mà nhằm tìm ra chính các đồ hình đó, cái logic, ý nghĩa, bản chất của chúng. Tất cả những kiến thức ADNH mà cổ thư truyền lại, đối với Vô trước chỉ manh ý nghĩa gợi ý, tham khảo và Vô Trước luôn cảnh giác vì cho rằng trong đó có rất nhiều sai lệch. Sự trùng khớp với những cái đã được tìm ra chỉ là ngẫu nhiên. Vạn vật vốn thống nhất mà! Vì vậy, những gợi ý của DaoHoa như trên không phù hợp với lối tư duy của Vô Trước nên không dám thọ lãnh. Dù sao cũng cám ơn bạn nhiều! Kính!
  13. Đối với Nam bán cầu, lý luận tương tự ta thấy: - Cấu trúc Ngũ hành của không gian: - Cầu trúc bát quái của không gian: - Đồ hình Hà đồ Nam bán cầu: (Còn nữa)
  14. b. Hà đồ - bảng cấu trúc Ngũ hành của không gian trên mặt đất Bắc bán cầu Xét một không gian phẳng trên mặt đất ở bắc bán cầu ta thấy: + Phương của hành Thủy là phương Bắc do phương Bắc lạnh hơn. + Phương của hành hỏa là phương Nam do phương Nam nóng hơn. Áp dụng cấu trúc Ngũ hành của không gian ở trên ta có 2 khả năng phân bố của hành Kim và Mộc như sau: Sự vận động của vật chất theo chiều dòng Vượng khí chứng tỏ rằng, tồn tại một môment lực theo chiều mũi tên ở các hình mô tả các khả năng trên ở qui mô toàn cầu. Môment lực này tác động lên trái đất khi trái đất tự quay quanh mình nó tất yếu sẽ dẫn đến một chuyển động tiến động làm cho trục quay của trái đất lệch đi một góc so với mặt phẳng quĩ đạo trái đất khi nó quay quanh mặt trời. Căn cứ vào chiều lệch của trục tự quay của trái đất như hình vẽ trên ta thấy chỉ có một phương án cấu trúc Ngũ hành của không gian trên mặt đất bên phải là phù hợp làm cho trục trái đất bị lệch đi theo đúng chiều của moment lực mà cấu trúc Ngũ hành của nó tạo ra. Đó cũng chính là nguyên nhân của hiện tượng tuế sai mà cổ nhân đã phát hiện từ lâu. Điều này cũng làm cho hướng hành Thủy cũng lệch đi một góc so với phương Bác của địa cầu. Như vậy, cấu trúc Ngũ hành của không gian trên mặt đất ở Bác bán cầu như sau: Từ đó suy ra cấu trúc Bát quái của không gian trên mặt đất ở Bác bán cầu là: Biểu diễn dưới dạng ma phương chín ô như sau: Nếu đánh độ số các quái như đã xác định ở phần trên vào các ô ta thu được đồ hình: Đó chính là đồ hình Hà đồ mà cổ thư truyền lại cho tới ngày nay Kết hợp độ số với các quái ta thu được đồ hình cấu trúc không gian trên mặt đất Bác bán cầu đầy đủ như sau:
  15. VI./ CẤU TRÚC ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH CỦA KHÔNG GIAN 1. Cáu trúc Ngũ hành, Bát quái của không gian Không gian mà trong đó vũ trụ chúng ta đang tồn tại củng chỉ là một tượng trong Vạn tượng sinh ra từ Đạo mà thôi. Trong không gian, vật chất tồn tại và vận động từ vị trí này sang vị trí khác, hay thịnh suy của vật chất biến đổi theo các vị trí đó. Như trên đã phân tích, sự thịnh suy của các yếu tố vận hành theo chiều Ngũ hành tương sinh hay theo dòng Sinh khí. Vì thế, có thể quan sát vận động của vật chất để suy ra cấu trúc Ngũ hành,Bát quái của không gian. Quan sát vận động của các hạt vật chất trong không gian ta thấy chúng luôn có xu hướng quay quanh một trung tâm nào đó (Điện tử quay quanh hạt nhân nguyên tử, trái đất tự quay quanh mình nó, trái đất quay quanh mặt trời, thái dương hệ quay quanh trung tâm Thiên hà,…) Giả sử rằng, có một hạt vật chất chuyển động với vận tốc v, quay quanh một điểm O nào đó trong không gian. Vì vạn tượng vận động theo chiều tương sinh, nên không gian quanh điểm O có cấu trúc Ngũ hành tương sinh theo chiều quay của hạt vật chất quanh O. Mặt khác, như đã biết, trong Ngũ hành, hành Thổ là phần chung của các hành còn lại, thể hiện tính thống nhất trong tương tác âm dương. Do đó, hành thổ phải nằm ở vị trí trung tâm, và các hành khác phân bố xung quanh theo chiều dòng Vượng khí: Kim - > Thuỷ - > Mộc - > Hoả trùng với quĩ đạo của hạt vật chất (dòng vật chất chuyển động, về mặt tổng quát, có thể coi như là sự hưng vượng của vật chất ở các vị trí khác nhau trong không gian tại những thời điểm khác nhau mà thôi). Nếu biểu diễn sự phân bố các hành như trên theo hướng của chúng trong không gian thì véc tơ mô men động lượng của hạt vật chất khi nó chuyển động với vận tốc v quay xung quanh điểm O trùng với hướng của hành Thổ, còn hướng của các hành khác phân bố trong mặt phẳng quĩ đạo hạt vật chất theo chiều Vượng khí Đó chính là cấu trúc Ngũ hành của không gian. Việc xác định hướng của các hành còn lại cần căn cứ vào đặc điểm cụ thể của không gian cần khảo sát. Ví dụ, hành Hoả - Thái âm đặc trưng là động tính, nên ở hướng này, các hạt vật chất vận động mạnh hơn các hướng khác hay nhiệt độ cao hơn. Hành Thuỷ - Thái dương đặc trưng là tịnh tính, nên ở hướng này, các hạt vật chất chuyển động chậm hơn các hướng khác hay nhiệt độ thấp hơn. Khi xác định được hướng của các hành Thuỷ hay Hoả, dựa vào cấu trúc của không gian như trên ta có thể xác định được hướng của các hành còn lại. Sau đó, áp dụng đồ hình dòng Vượng khí trong Bát quái ta có thể xác định được cấu trúc Bát quái của không gian như sau: 2. Ứng dụng cáu trúc Ngũ hành, Bát quái của không gian a. Nạp Ngũ hành cho 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông Ta biết rằng 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông xoay chuển quanh năm là do trái đất quay quanh Mặt trời không phải theo một vòng tròn tuyệt đối mà theo một hình elip nhận Mặt trời là một tiêu điểm. Mùa Đông tương ứng khi trái đật ở xa mặt trời, mùa Hạ tương ứng với vị trí trái đất ở gần mặt trời hơn cả. Sở dĩ trái đất quay quanh mặt trời do cấu trúc Ngũ hành của không gian quanh mặt trời qui định. Áp dụng cấu trúc Ngũ hành của không gian Đã phân tích ở trên cho hệ quay của trái đất quanh mặt trời ta thấy: + Phuơng của hành Thủy trùng với phương của trái đất so với mặt trời khi trái đất ở xa mặt trời nhất, tương ứng với mùa Đông. + Phương của hành Hỏa trùng với phương của trái đất so với mặt trời khi trái đất ở gần mặt trời nhất tương ứng với mùa Hạ. + Phương của hành Kim trùng với phương của trái đất so với mặt trời khi trái đất ở mùa Thu. + Phương của hành Kim trùng với phương của trái đất so với mặt trời khi trái đất ở mùa Xuân. + Mặt trời ở trung tâm, thuộc hành Thổ. + Chiều quay của trái đất quanh măt trời là chiều Thu > Đông > Xuân > Hạ trùng với chiều cấu trúc Ngũ hành của không gian là Kim > Thủy > Mộc > Hỏa Do đó, nạp Ngũ hành cho mùa như sau: Mùa Đông thuộc hành Thủy Mùa Hạ thuộc hành Hỏa Mùa Xuân thuộc hành Mộc Mùa Thu thuộc hành Kim (Còn nữa)
  16. 4. Vận động phát triển tiến hoá của sự vật trong Ngũ hành a. Vượng khí và sự vận động của Vượng khí Trong sự vật, các yếu tố vận động và phát triển cũng không đều nhau. Có yếu tố trong kỳ hưng thịnh, trong khi những yếu tố khác trong thời kỳ suy giảm. Sự hưng thịnh của các yếu tố cũng phải theo một trật tự nhất định khiến người ta hình dung như có một dòng khí lưu chuyển qua những yếu tố đó làm cho nó phát triển mạnh hơn lên. Dòng khí đó gọi là dòng Vượng khí. Như vậy, dòng Vượng khí là thứ tự hưng thịnh cùa các yếu tố trong sự vật. Nó là tổng hợp của các hiệu ứng tương tác âm dương có tác dụng làm cho sự vật phát triển. Trong Ngũ hành, một hành có quan hệ tương sinh, tương khắc với 4 hành còn lại. Khi một hành hưng thịnh, nó có thể làm cho hành mà nó sinh phát triển mạnh hơn, hành nó khắc suy yếu đi, hành sinh ra nó hao tổn, hành khắc nó bất cập. Do đó, khi nó suy yếu đi, hành mà nó sinh trở nên hưng thịnh. Như vậy, thứ tự hưng thịnh của các hành theo chiều tương sinh hay dòng Vượng khí vận động theo chiều Ngũ hành tương sinh trong một sự vật: Mộc - > Hoả - > Thổ - > Kim - > Thuỷ Hay: Kim - > Thuỷ - > Mộc - > Hoả - > Thổ Vận động của dòng Vượng khí trong Ngũ hành Trong mỗi hành, quái “Thái” có trước, hưng thịnh trước. Khi quái “Thái” suy giảm, quái “Thiếu” mới hưng thịnh sau. Điều đó có nghĩa là, trong mỗi hành, dòng sinh khí vận động từ quái “Thái” tới quái “Thiếu”. Do đó, ta có vận động của dòng Vượng khí trong Bát quái một sự vật như sau: CHẤN→CẤN → KHÔN → LY → THỔ dương → THỔ âm → TỐN → ĐOÀI → CÀN → KHẢM Hay: TỐN → ĐOÀI → CÀN → KHẢM → CHẤN → CẤN → KHÔN → LY → THỔ dương → THỔ âm Vận động của dòng Vượng khí trong Bát quái b. Hoá khí và sự vận động của Hoá khí Như ta đã biết, sự xuất hiện Kim, Mộc nằm trong xu hướng giải quyết mâu thuẫn âm dương đang ngày càng gay gắt, làm mâu thuẫn này giảm đi để sự vật phát triển thuận lợi. Nếu mâu thuẫn này không được giải quyết, và ngày càng gay gắt, các hành Thủy, Hỏa ngày càng suy yếu, Kim, Mộc ngày càng thịnh dẫn đến quan hệ tương sinh Mộc sinh Hỏa, Kim sinh Thủy sẽ chuyển thành tương thừa làm cho Thủy và Hỏa bị tiêu diệt, sự vật cũ bị tiêu biến đi và sinh ra sự vật mới với quan hệ âm dương mới do Mộc, Kim của sự vật cũ đóng vai trò Dương, Âm. Như vậy, ta có sơ đồ sau: Sơ đồ cho thấy, kết quả của quá trình tiến hoá là sự huỷ diệt của sự vật cũ và sinh ra sự vật mới có quan hệ sinh đối với sự vật cũ. Nói cách khác, sự tiến hoá có chiều ngược với chiều tương sinh. Như vậy, sự tiến hoá của sự vật cũng theo một trật tự nhất định trong sự vật chứa sự vật đang tiến hoá. Trật tự này có thể hình dung như một dòng Hoá khí vận động trong sự vật làm cho các yếu tố của sự vật tiến hoá không ngừng. Chiều của dòng Hoá khí ngược với chiều tương sinh: Thuỷ - > Kim - > Thổ - > Hoả - > Mộc Hay: Hoả - > Mộc - > Thuỷ - > Kim - > Thổ Vận động của dòng Hóa khí trong Ngũ hành Trong Bát quái, khi hành này biến đổi thành hành khác thì các quái “Thái” và các quái “Thiếu” biến đổi theo thành :Thái” và “Thiếu” của hành mới. Do đó, vận hành của dòng Hoá khí trong Bát quái như sau: Vận động của dòng Hóa khí trong Bát quái
  17. Daohoa mến!Bạn hiểu nhầm ý tôi. Tôi muốn nói rằng, các trao đổi học thuật về chủ đề này nên đưa vào chuyên mục "Hành lang cơ sở thuyết ADNH" là chuyên mục diễn đàn giành riêng cho nó. Nếu đưa thẳng vào chuyên mục "Học thuyết ADNH - Vo Truoc" thì tôi không hay để ý, dễ bị bỏ sót và bài viết bị cắt vụn ra. Bằng chứng là tôi trả lời chậm câu hỏi của DaoHoa 3 ngày. Tôi lúc nào cũng muốn trao đổi học thuật về những vấn đề mình quan tâm, đăc biệt về học thuyết ADNH. Nếu DaoHoa có nhã ý, tôi rất hoan nghênh ngay cả lúc này chứ không cần phải đợi đến lúc nào đâu. Thú thực tôi cũng hơi thất vọng khi mình đã post bài đã hơn nửa tháng mà chẳng có mấy ai quan tâm, phản hồi. Bạn là người đầu tiên đấy. Mong được trao đổi học thuật với bạn và tất cả mọi người! Vo Truoc
  18. [ Trích DaoHoa May 27 2008 06:56 AM: Có phải đây là HTBQAL hay không ?] Kính thưa quí vị quan tâm! Các thảo luận về "CÁC BÀI NGHIÊN CỨU CỦA VO TRUOC" xin đưa vào chuyên mục này để Vo Truoc tiện theo dõi và trả lời. Nếu đưa vào chuyên mục đó, Vo truoc dễ bị sót và bị ngắt mạch tư duy lắm. Xin cám ơn! Trở lại câu hỏi của bạn DaoHoa. Kính thưa các quí vị quan tâm! HTBQ do cổ thư chữ Hán truyền lại được coi là của Văn Vương (tạm gọi là Hậu thiên bát quái Văn Vương: HTBQVV) có thứ tự phân bố các quái như sau: CÀN -. KHẢM -> CẤN -> CHẤN -> TỐN -> LY -> KHÔN -> ĐOÀI Và bố trí trong không gian theo các phương vị sau: Đồ hình này có nhiều nghi vấn mà nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích, đặc biệt trong thời gần đây, hai nhà nghiên cứu Nguễn Vũ Tuấn Anh và Trần Quang Bình đã có những kiến giải sâu sắc, đưa ra những đồ hình thay thế manh tên Hậu thiên bát quái Lạc Việt (HTBQLV – Nguyễn Vũ Tuấn Anh) và Hậu thiên bát quái Âu Lạc (HTBQAL – Trần Quang Bình) mà chắc là nhiều người trong quí vị đã biết. Tôi xin bổ xung thêm mấy ý như sau: - Đồ hình HTBQVV thể hiện sự bất qui tắc trong phân bố Thái – Thiếu của các quái trong đoạn đầu và cuối như sau: Thái -> Thiếu -> Thiếu -> Thái -> Thái -> Thiếu -> Thái -> Thiếu Ở giai đoạn đầu có hai quái Thái hoặc Thiếu đi liền nhau, giai đoạn sau thì lại xen kẽ Ba góc đồ hình có 3 quái Thái (CÀN, KHÔN, TỐN), góc thứ tư sao lại là Thiều (CẤN) Ba phương vị chính là 3 quái Thiếu (KHẢM, ĐOÀI, LY), phương thứ tư sao lại là Thiếu (CHẤN) Đó là những nghi ngờ bổ xung về mặt hình thức đồ hình HTBQVV - Sự phân bố thứ tự, vị trí các quái trong đồ hình HTBQVV không có sự lý giải về ý nghĩa, qui tắc của đồ hình một cách logic, hệ thống, nhất quán mà chỉ đơn thuần ấn định, gán ghép nói là do người xưa truyền lại. Chính vì thế mà rất hạn chế về ứng dụng, dễ bị giải thích tùy tiện, dễ bị nghi ngờ, tam sao thất bổn, sai lệch theo thời gian. Sự đúng, sai hầu như không thể kiểm chứng đặc biệt là đối với những sai lệch nhỏ. Do đó hầu như không thể phát triển tiếp tục các ứng dụng của nó. Đồ hình HTBQ mà bài viết này đưa ra có một ý nghĩa rất rõ ràng. Đó là: Đồ hình HTBQ mô tả sự vận đông của dòng Khí dương qua các yếu tố của sự vật như sau: CÀN -. KHẢM -> CẤN -> CHẤN -> TỐN -> ĐOÀI -> LY -> KHÔN -> THỔ Dòng khí này là dòng thứ tự vận động của các hiệu ứng tương tác do các yếu tố dương sinh ra có xu hướng làm cho các yếu tố của sự vật trở về với bản chất ban đầu của nó. Ý nghĩa này được trình bày một cách logic trong một hệ thống nhất quán từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp. Điều này sẽ khắc phục được những khó khăn mà đồ hình HTBQVV vấp phải như đã phân tích ở trên trong ứng dụng và lưu truyền, đồng thời mở ra một khả năng phát triển tiếp tục học thuyết ADNH cho mỗi chúng ta. Đồ hình HTBQ mà bài viết này đưa ra khắc phục được sự bất qui tắc Thái – Thiếu của HTBQVV như đã chỉ ra ở trên. Sự phân bố các quái của đồ hình này theo nguyên tắc: Thái -> Thiếu -> Thiếu -> Thái -> Thái -> Thiếu -> Thiếu -> Thái (rõ ràng 2 quái Thái hay Thiếu luôn đi liền nhau 2 lần, không phải sen kẽ như phần cuối của HTBQVV). Theo bài viết, đồ hình BQ Tiên thiên cũng như Hậu thiên về bản chất vốn không để mô tả phương vị của các quái trong không gian mà đơn thuần chỉ là chiều vận động của dòng Khí dương trong sự vật (Sự phân bố phương vị của các quái trong không gian thể hiện cấu trúc Âm dương Ngũ hành của không gian được mô tả trong Lạc thư, Hà đồ mà tôi sẽ có dịp trình bày với quí vị tronh những bài viết tiếp theo). Vì thế, về mặt nguyên tắc, có thể mô tả đồ hình TTBQ cũng như HTBQ tùy ý, miễn là thể hiện được sự vận động qua các quái của dòng Khí dương. Tuy nhiên, vì lý do lưu truyền, ứng dụng, trực quan mà người xưa chọn một cách bố trí đồ hình sao cho phù hợp với những yếu tố liên quan nhất như sau: - Đối với TTBQ: Trục đứng là CÀN - KHÔN + CÀN, ĐOÀI thuộc THỦY ở phương Bắc + KHÔN, CẤN thuộc HỎA ở phương Nam + TỐN, KHẢM thuộc KIM ở phương Tây + CHẤN, CẤN thuộc MỘC ở phương Đông - Đối với HTBQ: Trục đứng là KHẢM - LY + CÀN, KHẢM thuộc THỦY ở phương Bắc + KHÔN, LY thuộc HỎA ở phương Nam + TỐN, ĐOÀI thuộc KIM ở phương Tây + CHẤN, CẤN thuộc MỘC ở phương Đông Thì đồ hình TTBQ và HTBQ của bài viết trở thành: Với đồ hình HTBQ này, 4 phương vị chính là các quái Thiếu, 4 phương vị phụ hoàn toàn là các quái Thái. Khi thiết lập đồ hình, người viết hoàn toàn không chú ý tới sự hợp lý hình thức không gian hay toán học. Nhưng kết quả thu được lại hoàn chỉnh một cách mỹ mãn đáng ngạc nhiên! Bạn cũng thấy chữ S huyền bí của đồ hình TTBQ mà nhiều người đề cập từ thời xa xưa lại xuất hiện trên đồ hình HHBQ này mà HTBQVV không thể hiện được. Bản chất của chữ S này chính chiều là dòng Khí dương phải vận động, khi bố trí các quái của đồ hình TTBQ và HTBQ theo nguyên tắc trên. Bạn cũng thấy ngay rằng, đồ hình HTBQ của bài viết chính là đồ hình HTBQAL của Trần Quang Bình, đồng thời cho thấy sự đổi chỗ Tốn – Khôn của Nguyễn Vũ Tuấn Anh trong đồ hình là hợp lý. Tôi cũng xin lưu ý rằng, sự đổi chỗ Tốn – Khôn trên đồ hình thôi, chứ không phải trên thứ tự CÀN -. KHẢM -> CẤN -> CHẤN -> TỐN -> LY -> KHÔN -> ĐOÀI trở thành CÀN -> KHẢM -> CẤN -> CHẤN -> KHÔN -> LY -> TỐN -> ĐOÀI. Thứ tự đúng của HTBQ phải là: CÀN -. KHẢM -> CẤN -> CHẤN -> TỐN -> ĐOÀI -> LY -> KHÔN -> THỔ Như vậy, chắc các bạn cũng thấy, với 3 phương pháp tiếp cận khác nhau và hoàn toàn độc lập, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Trần Quang Bình và Vô Trước đều đi đến phủ nhận tính chính xác của HTBQVV và đưa ra các hiệu chỉnh giống nhau. Điều này một lần nữa chứng tỏ luận điểm: “Học thuyết ADNH không thuộc sở hữu của nền văn minh Hoa Hạ” là hoàn toàn chính xác. Tôi xin trả lời câu hỏi của bạn ĐH: Đồ hình HTBQ mà bài viế đưa ra chính là đồ hình HTBQAL của Trần Quang Bình nhưng được lý giả rõ ràng ý nghĩa, bản chất của nó trong một hệ thống logic nhất quán với phương pháp tiếp cận hoàn toàn khác. Đồ hình HTBQAL của Trần Quang Bình thuần tuý dựa vào sự hợp lý hình thức toán học mà thiếu hẳn nội dung của nó nên dù có được phát hiện, người ta cũng rất khó tìm thấy ứng dụng hay phát triển tiếp theo.
  19. Hậu thiên Bát quái Phi tinh: Trong thời hỳ Hậu thiên, do mâu thuẫn nảy sinh trong tương tác cũ mới, các quái cũng được phân bố lại theo nguyên lý trong “Thái” có “Thiếu”, trong “Thiếu” có “Thái”. Do bản chất các hành nằm trong các quái “Thái” nên sự phân bố lại chỉ phải đổi chỗ các quái “Thiếu” CẤN với KHẢM, ĐOÀI với LY ta được đồ hình phân bố Hậu thiên bát quái Phi tinh như sau: Tiên thiên Bát quái Phi tinh thực hiện đổi chỗ CẤN với KHẢM, ĐOÀI với LY theo đúng lý luận trên, ta được đồ hình sau: KHẢM -> KHÔN -> CẤN -> TỐN -> THỔ -> CÀN -> LY -> CHẤN -> ĐOÀI Đó là đồ hình Hậu thiên Bát quái Phi tinh, mô tả vận động của dòng Khí âm trong Bát quái thời kỳ Hậu thiên. Người ta đánh số thứ tự vận hành của dòng Khí âm qua các quái ở thời kỳ Hậu thiên, kết quả như sau: KHẢM – 1, KHÔN – 2, CẤN – 3, TỐN – 4, THỔ - 5, CÀN – 6, LY – 7, CHẤN – 8, ĐOÀI – 9. Các số tứ tự đó gọi là các “cục” hay “ độ số” của các quái. Như vậy, phân bố các quái trong Ngũ hành ở thời kỳ Tiên thiên và Hậu thiên khác nhau do nguyên lý phân bố trong âm có dương, trong dương có âm ở thời kỳ Hậu thiên: Trong thời kỳ Tiên thiên, các hành có độ số là: Thuỷ có độ số 6 – 9 chứa CÀN, ĐOÀI (Thái thái dương và Thiếu thái dương) Hoả có độ số 2 – 3 chứa KHÔN, CẤN (Thái thái âm và Thiếu thái âm) Mộc có độ số 3 – 7 chứa CHẤN, LY (Thái thiếu dương và Thiếu thiếu dương) Kim có độ số 4 – 1 chứa TỐN, KHẢM (Thái thiếu âm và Thiếu thiếu âm) (Chú ý: Hai yếu tố đầu tiên của các quái trong một hành luônn giống nhau, chỉ khác nhau tính “Thái”, “Thiếu” ở yếu tố thứ ba thể hiện tính thống nhất, tuy khác nhau nhưng không mâu thuẫn trong thời kỳ Tiên thiên) Trong thời kỳ Hậu thiên, các hành có độ số là: Thuỷ có độ số 1 – 6 chứa CÀN, KHẢM (Thái thái dương và Thiếu thiếu âm) Hoả có độ số 2 – 7 chứa KHÔN, LY (Thái thái âm và thiếu thiếu dương) Mộc có độ số 3 – 8 chứa CHẤN, CẤN (Thái thiếu dương và Thiếu thái âm) Kim có độ số 4 – 9 chứa TỐN, ĐOÀI (Thái thiếu âm và Thiếu thái dương) (Chú ý: Các yếu tố “Thái”, “Thiếu”, “âm”, “dương” của các quái trong một hành luôn đối ngược nhau trong thời kỳ Hậu thiên thể hiện sự xung đột, đấu tranh, tương tác, mâu thuẫn trong thời kỳ này) Hành Thổ có độ số là 5. Nhưng trong thời kỳ Hậu thiên, do kết quả của đấu tranh, mâu thuẫn và phát triển, hành Thổ có cả dương Thổ và âm Thổ, thì người ta thêm môt số nữa là 10 ký hiệu cho âm Thổ, còn dương Thổ có độ số 5. Tuy nhiên, Thổ âm chỉ là những yếu tố Chung mới nảy sinh trong tương tác âm dương tuy khác Thổ dương là Thổ có trước nhưng không mâu thuẫn, đấu tranh nhau. Vì vậy, hiệu ứng dương hay âm đều không phân biệt Thổ âm hay Thổ dương. Do đó, dòng Khí âm hay dương vận động qua Thổ chỉ có một bước như vận động qua các yếu tố Bát quái khác. Tuy nhiên, khảo sát sự phát triển của sự vật thì Thổ âm đóng vai trò như một yếu tố cần phải tính đến. Vận động của Khí âm qua các quái theo đồ hình Hậu thiên Bát quái Phi tinh tương ứng với 2 vòng vận động qua các hành ở thời kỳ Hậu thiên Bát quái, một vòng qua hết các quái âm của các hành trở về Thổ còn vòng thứ hai qua hết các quái dương của các hành theo thứ tự như sau: Thuỷ -> Hoả -> Mộc -> Kim -> Thổ Cứ sau 5 bước vận hành, dòng Khí âm lại trở về hành ban đầu. Vận động của dòng Khí dương qua các quái theo đồ hình Hậu thiên Bát quái tương ứng với 1 vòng vận động qua các hành qua hết các quái của các hành trở về Thổ theo thứ tự như sau: Thuỷ -> Mộc -> Kim -> Hoả -> Thổ Thái -> Thiếu - > Thiếu - >Thái - > Thái -> Thiếu - > Thiếu - >Thái - > Thổ Bảng so sánh vận động của Khí âm và Khí dương qua các yếu tố của sự vật.
  20. 3. Vận hành của dòng Khí âm a. Vận động của dòng khí âm trong Tam tài: Vì dòng Khí âm là dòng các hiệu ứng của các tương tác biến đổi, phát triển sự vật, nên vận động của Khí âm trong Tam tài thể hiện qua chiều các quan hệ tương tác giữa các yếu tố của chúng. Quan hệ tương tác trong Tam tài (Dương khắc Âm , Âm sinh Chung, Chung khắc Dương) và bản chất của Âm qui định dòng Khí âm xuất phát từ Âm qua Chung rồi tới Dương. Những biến động trong Âm làm ảnh hưởng tới sự hình thành các giá trị mới trong tương tác âm dương theo quan hệ Âm sinh Chung tác động tới Chung. Hiệu ứng này theo quan hệ Chung khắc Dương làm cho Dương phải thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi của Âm. Sự thay đổi đó lại theo quan hệ Dương khắc Âm mà tác động tới Âm có tác dụng hỗ trợ hay kìm hãm sự biến động vừa xuất hiện đó trong Âm. Như vậy, vận động của dòng Khí âm trong Tam tài như sau: Âm -> Chung -> Dương Trong thời kỳ Tiên thiên, các yếu tố chưa xung đột, mâu thuẫn, chúng đều vận động đúng theo bản chất của chúng. Dòng Khí âm vận hành qua hết các yếu tố âm, rồi qui tàng ở Thổ, tiếp đến qua hết các yếu tố dương. Tuy nhiên, khi tới thời kỳ Hậu thiên, trong quá trình tương tác âm dương, giữa những yếu tố nảy sinh xung đột dẫn đến sự phân bố lại vị trí các yếu tố theo nguyên lý trong Thái có Thiếu, trong Thiếu có Thái, làm cho quĩ đạo vận hành của Khí âm trong sự vật cũng thay đổi theo. b. Vận động của dòng khí âm trong Ngũ hành: Trong thời kỳ Tiên thiên: Nếu như dòng Khí dương vận động trong sự tương tác làm cho các yếu tố của sự vật có xu hướng quay về bản chất của nó, nên bản chất âm dương của các yếu tố quyết định sự vận hành của dòng Khí dương, thì dòng Khí âm có xu hướng làm cho sự vật biến đổi, sinh ra cái mới nên tính “Thái”, “Thiếu”(“cũ”, “mới”) của các yếu tố quyết định sự vận hành của Khí âm. Như đã thấy, trong thời kỳ Tiên thiên, theo bản chất âm dương, để phân tích sự vận hành của dòng Khí dương, Ngũ hành được mô tả trong đồ hình Tiên thiên Ngũ hành như sau: Ta cũng biết rằng, Thuỷ thuộc Thái dương, Hoả thuộc Thái âm, Kim thuộc Thiếu âm, Mộc thuộc Thiếu dương. Để tìm hiểu vận hành của Khí âm trong Ngũ hành, ta phải phân bố lại các hành theo bản chất “Thái” (tĩnh, cũ, có trước), “Thiếu” (động, mới, có sau) như sau: Ta biết rằng, Kim, Mộc là các hành có khả năng thay thế cho Thủy, Hỏa trong sự vật mới khi mâu thuẫn âm dương đủ gay gắt dẫn đến sự tiêu vong của sự vật cũ. Như vậy, về bản chất Kim thuộc Thái, Mộc thuộc Thiếu. Khí âm có bản chất vận hành từ Thiếu (mới) tới Thái (cũ). Mặt khác, Thái thuộc dương, Thiếu thuộc Âm nên trong Thiếu (do Thiếu thuộc âm đồng bản chất với Khí Âm), dòng khí âm vận hành theo đúng bản chất của nó từ Thiếu tới Thái. Ngược lại, trong Thái, do Thái (thuộc dương) nghịch bản chất với Khí âm, nên dòng Khí âm phải vận hành từ Thái tới Thiếu. Như vậy, từ vận hành của dòng Khí âm trong Tam tài ta suy ra vận hành của dòng Khí âm trong Ngũ hành như sau: Âm -> Chung -> Dương => Thiếu -> Chung -> Thái = > Mộc -> Kim -> Thổ -> Thuỷ -> Hoả Đó là đồ hình Tiên thiên Ngũ hành Phi tinh mô tả vận động của dòng Khí âm qua Ngũ hành trong thời kỳ Tiên thiên. Trong thời kỳ Hậu thiên: Do mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình tương tác “Thái”, “Thiếu” giữa những yếu tố của sự vật, các hành được phân bố lại theo nguyên lý trong “Thái”, có “Thiếu” , trong “Thiếu” có “Thái”. Như đã phân tích ở trên, Thủy, Kim thuộc Thái. Hỏa, Mộc thuộc Thiếu nên khi phân bố lại các hành thì Hỏa, Mộc đổi chỗ cho nhau. Kết quả, phân bố Ngũ hành trở thành: Nhận xét rằng, sự khác biệt của sự phân bố Ngũ hành trong thời kỳ Tiên thiên và Hậu thiên trong tương tác “Thái”, “Thiếu” chỉ khác nhau ở chỗ có sự hoán vị của hai hành Hỏa và Mộc. Do đó, vận động của Khí dương trong Ngũ hành ở thời kỳ Hậu thiên là: Hỏa -> Kim -> Thổ -> Thuỷ -> Mộc Đó là đồ hình Hậu thiên Ngũ hành Phi tinh mô tả vận động của dòng Khí âm qua Ngũ hành trong thời kỳ Hậu thiên. c. Vận động của Khí âm trong Bát quái: Tiên thiên Bát quái Phi tinh: Như ta đã biết, phân bố các quái trong Ngũ hành ở thời kỳ Tiên thiên, khi mâu thuẫn “Thái”, “Thiếu” trong sự vật chưa bộc lộ rõ , như sau Trong thời kỳ Hậu thiên, do mâu thuẫn âm dương, Ngũ hành đưộc phân bố lại theo nguyên lý: trong “Thái” có “Thiếu”, trong Thiếu” có “Thái” như sau : Lúc ban đầu của thời kỳ Hậu thiên, mâu thuẫn các quái chưa bộc lộ, chúng vẫn được phân bố theo bản chất ban đầu của chúng trong Ngũ hành Hậu thiên : Đó là phân bố Tiên thiên Bát quái Phi tinh. Nhận xét rằng, Thái thuộc dương, tịnh, nghịch bản chất với Khí âm; Thiếu thuộc âm, động, đồng bản chất với Khí âm. Nên, trong Thiếu, dòng Khí âm vận hành theo bản chất của nó từ yếu tố mới (Thiếu) tới yếu tố cũ (Thái). Trong Thái, ngược lại, dòng Khí âm vận hành có chiều từ Thái tới Thiếu. Do đó, vận động của dòng Khí âm trong thời kỳ này như sau: - Trong “Thiếu”: Khí âm có thể vận hành Thiếu tới Thái . + Trong Hoả: CẤN -> KHÔN. (Các quái âm) + Trong Kim: KHÃM-> TỐN. (Các quái âm) - Trong “Thái”: Khí âm phải vận hành từ Thái tới Thiếu. + Trong Thuỷ: CÀN -> ĐOÀI. (Các quái dương) + Trong Mộc: CHẤN -> LY. (Các quái dương) Từ đồ hình Hậu thiên Ngũ hành Phi tinh: Hỏa -> Kim -> Thổ -> Thuỷ-> Mộc ta suy ra thứ tự vận hành của dòng khí âm trong bát quái sẽ là: CẤN -> KHÔN -> KHẢM -> TỐN -> THỔ -> CÀN -> ĐOÀI -> CHẤN ->LY Đó là đồ hình Tiên thiên Bát quái Phi tinh, mô tả vận động của dòng Khí âm trong bát quái thời kỳ Tiên thiên. (Còn nữa)
  21. Hậu thiên Bát quái: Trong thời hỳ Hậu thiên, do mâu thuẫn nảy sinh trong tương tác âm dương, các quái cũng được phân bố lại theo nguyên lý trong Âm có Dương, trong dương có âm. Do bản chất các hành nằm trong các quái “Thái” nên sự phân bố lại chỉ phải đổi chỗ các quái “Thiếu” ĐOÀI với KHẢM, CẤN với LY ta được đồ hình phân bố Hậu thiên bát quái như sau: Và tương ứng với nó, đồ hình Tiên thiên bát quái sau khi đổi chỗ ĐOÀI với KHẢM, CẤN với LY theo đúng phân tích trên, biến thành đồ hình : CÀN -> KHẢM -> CẤN -> CHẤN -> TỐN -> ĐOÀI -> LY -> KHÔN Đó là đồ hình Hậu thiên Bát quái mô tả vận động của dòng Khí dương qua Bát quái trong thời lỳ Hậu thiên. (Còn nữa)
  22. V./ KHÍ VÀ VẬN ĐỘNG CỦA KHÍ 1. Khái niệm Khí Trong tương tác âm dương, các lực lượng tương tác với nhau tạo ra các hiệu ứng. Những hiệu ứng này không đồng thời tác động tới tất cả các yếu tố của sự vật một cách như nhau mà tác động theo một trật tự nhất định do bản chất của các yếu tố khác nhau tạo nên. Sự lưu chuyển có thứ tự này của các hiệu ứng làm ta hình dung như có một dòng khí vô hình chảy qua các yếu tố làm cho các yếu tố đó hoạt động, tương tác lẫn nhau. Ta gọi đó là các dòng khí. Các dòng khí do các yếu tố có tính dương, âm gây ra nên cũng có hai loại dòng khí tương ứng: dòng Khí âm và dòng Khí dương. Dòng Khí dương là dòng thứ tự các hiệu ứng do các yếu tố dương sinh ra có tác dụng làm cho các yếu tố của sự vật giữ nguyên hay trở về bản chất ban đầu, làm cho sự vật vận hành như chính bản chất vốn có của nó. Dòng Khí âm là dòng thứ tự các hiệu ứng do các yếu tố âm sinh ra có tác dụng làm cho các yếu tố của sự vật biến đổi, sinh ra cái mới, vận động tiến hoá không ngừng. 2. Vận hành của Khí dương Trong thời kỳ Tiên thiên, các yếu tố chưa xung đột, mâu thuẫn, chúng đều vận động đúng theo bản chất của chúng. Dòng Khí dương bắt đầu từ yếu tố dương nhất (hành Thuỷ), vận hành qua hết các yếu tố dương đến qua hết các yếu tố âm rồi qui tàng ở Thổ. Chiều thuận của dòng Khí dương là từ Thái tới Thiếu. Tuy nhiên, khi tới thời kỳ Hậu thiên, trong quá trình tương tác âm dương, giữa những yếu tố nảy sinh xung đột dẫn đến sự phân bố lại vị trí các yếu tố theo nguyên lý trong âm có dương, trong dương có âm, làm cho quĩ đạo vận hành của dòng Khí dương trong sự vật cũng thay đổi theo. a. Vận động của Khí dương trong Tam tài: Vì dòng Khí dương là dòng các hiệu ứng của các tương tác âm dương, nên vận động của dòng Khí trong Tam tài thể hiện qua chiều các quan hệ tương tác giữa chúng. Quan hệ Tam tài Dương khắc Âm, Âm sinh Chung qui định dòng Khí dương xuất phát từ Dương qua Âm rồi tới Chung. Những hiệu ứng dương nảy sinh trong Dương tác động tới Âm thông qua tương tác Dương khắc Âm có tác dụng kìm hãm động tính của Âm, ảnh hưởng tới quá trình hình thành các giá trị mới. Do Âm sinh Chung, Chung thụ hưởng những giá trị mới đó, nên sự ảnh hưởng này gây ra biến động trong Chung và tiếp theo, xuất hiện những hiệu ứng tác động tới Dương thông qua quan hệ Chung khắc Dương. Như vậy, vận động của dòng Khí dương trong Tam tài như sau: Dương -> Âm -> Chung b. Vận động của dòng Khí dương trong Ngũ hành: Trong thời kỳ Tiên thiên: Như trên đã thấy, trong sự vật, các hành được phân bố như sau trong thời kỳ Tiên thiên theo bản chất âm dương của chúng như sau: Ở đây, các hành Thủy (Thái dương), Mộc (Thiếu dương) thuộc là các hành dương tạo nên Dương trong Tam tài. Kim (Thiếu âm), Hỏa (Thái âm) là các hành âm tạo nên Âm trong Tam tài. Trong Dương, dòng Khí dương có thể vận hành theo đúng với bản chất của nó từ những yếu tố Thái tới Thiếu. Do đó, trong Dương, dòng Khí dương có chiều là: Thủy -> Mộc. Trong Âm, dòng Khí dương không thể vận hành theo đúng với bản chất của nó là từ Thái tới Thiếu mà vận động ngược lại (nguyên lý vận hành âm dương nghịch nhau). Do đó trong Âm, dòng Khí âm có chiều là: Kim -> Hỏa. Do đó, vận động của dòng Khí dương trong Ngũ hành là: Dương -> Âm -> Chung Thủy -> Mộc -> Kim -> Hỏa -> Thổ Đó là đồ hình Tiên thiên Ngũ hành mô tả vận động của khí dương qua Ngũ hành trong thời kỳ Tiên thiên. Trong thời kỳ Hậu thiên: Do mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình tương tác âm dương giữa những yếu tố của sự vật, các hành được phân bố lại theo nguyên lý trong Âm có dương, trong Dương có âm như sau: (Đồ hình phân bố Ngũ hành trong thời kỳ Tiên thiên, trong Dương chi có hành dương là Thuỷ và Mộc, trong Âm chỉ có hành Âm là Hoả và Kim) Nhận xét rằng, sự khác biệt của sự phân bố Ngũ hành trong thời kỳ Tiên thiên và Hậu thiên chỉ khác nhau ở chỗ có sự hoán vị của hai hành Kim và Mộc. Do đó, vận động của dòng Khí dương trong Ngũ hành ở thời kỳ Hậu thiên chính là vận động của dòng Khí dương trong thời kỳ Tiên thiên khi ta hoán vị hai hành Kim và Mộc. Vì vậy, vận động của dòng Khí dương trong Ngũ hành thời kỳ Hậu thiên là: Thủy -> Kim -> Mộc -> Hỏa -> Thổ Đó là đồ hình Hậu thiên Ngũ hành mô tả vận động của dòng khí dương qua Ngũ hành trong thời kỳ Hậu thiên. c. Vận động của dòng khí dương trong Bát quái: Tiên thiên Bát quái: Như ta đã biết, phân bố các quái trong Ngũ hành ở thời kỳ Tiên thiên, khi mâu thuẫn âm dương trong sự vật chưa bộc lộ rõ , như sau Ở thời kỳ Hậu Thiên, do mâu thuẫn âm dương, các hành phân bố lại theo nguyên lý trong âm có dương, trong dương có âm như sau: Lúc ban đầu của thời kỳ Hậu thiên, mâu thuẫn các quái chưa bộc lộ, chúng vẫn được phân bố theo bản chất ban đầu của chúng trong Ngũ hành Hậu thiên như sau: Đó là phân bố Tiên thiên Bát quái trong thời kỳ Hậu thiên. Vận động của dòng Khí dương trong thời kỳ này vẫn tuân theo qui tắc xuất phát từ yều tố dương nhất là CÀN, theo Hậu thiên Ngũ hành, qua hết các quái dương tới các quái âm: - Trong Dương: dòng Khí dương vận hành theo đúng bản chất của nó từ Thái tới Thiếu + Trong Thuỷ: CÀN -> ĐOÀI. (Các quái dương) + Trong Kim: TỐN -> KHÃM. (Các quái âm) - Trong Âm, dòng Khí dương vận hành không thể theo bản chất của nó là từ Thái tới Thiếu mà phải từ Thiếu tới Thái + Trong Mộc: LY -> CHẤN. (Các quái dương) + Trong Hoả: CẤN -> KHÔN. (Các quái âm) Suy từ vận hành của dòng Khí dương trong Ngũ hành Hậu thiên: Thuỷ > Kim >Mộc > Hoả > Thổ , hết các quái dương tới các quái âm ta thu được sự vận hành của dòng khí dương trong bát quái sẽ là: CÀN -> ĐOÀI -> LY -> CHẤN -> TỐN -> KHÃM -> CẤN -> KHÔN ->THỔ Đó là đồ hình Tiên thiên Bát quái mô tả vận động của dòng khí dương qua Bát quái trong thời lỳ Tiên thiên. (Còn nữa)
  23. 5. Quan hệ bát quái Như trên đã phân tích, hành Thổ xuất phát từ Chung trong Tam tài, nó bao gồm những lực lượng có tính âm và những lực lượng có tính dương, tuy khác nhau về “tính” nhưng lại thống nhất, tương tác với nhau không mâu thuẫn lẫn nhau. Do đó, trong hành Thổ cũng chia thành 2 lực lượng có tính âm dương khác nhau là âm Thổ và dương Thổ. Căn cứ vào quan hệ Ngũ hành ta nhận thấy: - Cặp Kim, Mộc sinh cặp Thuỷ, Hoả thì Kim khắc Mộc, Thuỷ khắc Hoả,Thuỷ sinh Mộc và Hoả khắc Kim. Khái quát lên, ta thu được sơ đồ quan hệ giữa các yếu tố trong quan hệ tương sinh như sau: (Đồ hình tương sinh) - Cặp Thuỷ, Kim khắc cặp Hoả, Mộc thì Kim sinh Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả,Thuỷ sinh Mộc và Hoả khắc Kim. Khái quát lên, ta thu được sơ đồ quan hệ giữa các yếu tố trong quan hệ tương sinh như sau: (Đồ hình tương khắc) Biểu diễn những yếu tố Ngũ hành trên sơ đồ vòng tròn theo chiều tương sinh như sau: Áp dụng đồ hình tương sinh ở trên cho các quan hệ tương sinh: Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim ta được quan hệ của bát quái là hệ quả của quá trình tương sinh như sau: Áp dụng đồ hình tương khắc ở trên cho các quan hệ tương khắc: Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ ta được quan hệ của bát quái là hệ quả của quá trình tương khắc như sau: Kết hợp cả hai quá trình tương sinh và tương khắc ta thu được đồ hình mô tả quan hệ bát quái như sau: Theo đồ hình ta thấy quan hệ CÀN với KHẢM, CẤN với CHẤN, KHÔN với LY, ĐOÀI với TỐN, DƯƠNG THỔ với ÂM THỔ có khi là tương sinh, có khi là tương khắc tuỳ thuộc chúng tham gia vào quan hệ nào. Các quan hệ đó là tương sinh khi hành chứa chúng tham gia vào quan hệ tương khắc và ngược lại, các quan hệ đó là tương khắc nếu các hành chứa chúng tham gia vào các quan hệ tương sinh.6. Cấu trúc âm dương ngũ hành của một sự vật Một sự vật đầy đủ hay một tiểu vũ trụ là tất cả các yếu tố cấu thành nên sự vật ấy, tồn tại và biến đổi cùng sự vật cùng các quan hệ tương hỗ giữa chúng, quyết định sự vận động, phát triển của nó trong sự tương tác với những yếu tố bên ngoài sự vật. Một sự vật bất kỳ cũng chỉ là một thành phần của vạn tượng, vận động và phát triển không ngừng do tương tác âm dương trong bản thân chúng và toàn vũ trụ. Do tương tác âm dương, trong sự vật cũng hình thành những lực lượng có xu hướng phát triển, biến đổi, phá vỡ trạnh thái ổn định, cân bằng hiện tại, gọi là Âm. Đồng thời tồn tại những lực lượng có xu hướng bảo tồn trạng thái hiện có, gọi là Dương. Sự tương tác giữa Âm, Dương sinh ra các giá trị mới để sự vật phát triển. Cả Âm lẫn Dương đều có xu hướng chiếm đoạt cho mình giá trị mới đó. Do cùng chung sáng tạo ra giá trị mới, Âm, Dương thống nhất với nhau. Do trang giành chiếm đoạt giá trị mới, Âm, Dương mâu thuẫn nhau. Dù mâu thuẫn với nhau nhưng chúng đều có mục tiêu tạo ra nhiều giá trị mới hơn, do đó qui luật chung của sự vật là phát triển, biến đổi không ngừng. Âm, Dương thống nhất với nhau tạo nên một lực lượng thứ ba là Chung, bao gồm nhũng lực lương đại diện cho sự thống nhất đó mà cả Âm lẫn Dương đều tôn trọng. Âm, Dương, Chung được gọi là Tam tài trong sự vật. Trong tương tác Âm, Dương, các yếu tố thứ cấp tiếp theo như Ngũ hành, Bát quái,… cũng lần lượt hình thành tương tự như trong Vạn tượng mà ta đã nghiên cứu ở các phần trên. Những lý luận trên và tiếp theo có thể dùng chung cho Vạn tượng hoặc sự vật riêng mà không gây ra sự mâu thuẫn nào. 7. Ý nghĩa của các Quái và các quẻ Dịch Theo các phân tích trên, ta có thể xác định ý nghĩa cùa các quái như sau: * Thủy (Thái dương) Dương ban đầu của sự vật. Lực lượng đang lãnh đạo xã hội, giới chủ, nhà nước, giới quyền thế, chính quyền, có thế lực… Đặc tính: Bảo thủ, lạc hậu, thiếu năng động, muốn bảo tồn cái cũ, bảo tồn hiện trạng, cương mạnh, không uyển chuyển, chủ động, cầm quyền… 1. CÀN: Thái Thủy, là bản chất ban đầu của Thủy. 2. KHẢM: Thiếu Kim, là lực lượng mới, đúng đắn, tiến bộ sinh ra từ thành phần ưu tú nhất của Kim, nằm trong Thủy do sự tương tác Kim <-> Thủy. Khi chuyển sang Thủy, nó trở nên hơi thái quá về đặc tính của mình. Thế lực ban đầu còn hạn chế, nhưng do tiến bộ nên có xu thế tăng dần lên, tuy nhiên, do thái quá nên không thể trở thành Thủy tương lai… * Hỏa (Thái âm) Là âm ban đầu của sự vật. Là lực lượng chính, rất lớn trong xã hội, bị lãnh đạo, giới làm công, người lao động, không có quyền thế, không có thế lực, bị trị. Là lực lượng trực tiếp lao động sáng tạo ra giá trị vật chất mới cho xã hội, có sức mạnh tập thể, là dân, quần chúng… Đặc tính: Luôn vận đông vươn lên. Uyển chuyển, mềm dẻo, năng động, dễ hỗn loạn, vô chính phủ, dễ cảm thông nhau, có sức mạnh vật chất, khả năng thực tế cao, cần có lực lượng cầm đầu… 1. KHÔN: Thái Hỏa, là bản chất ban đầu của Hỏa. 2. LY: Thiếu Mộc, là lực lượng tiến bộ sinh ra từ thành phần ưu tú nhất của Mộc, nằm trong Hỏa do tương tác Hỏa <-> Mộc. Có đặc tính rất năng động, đúng đắn, tiến bộ. Khi chuyển sang hành Hỏa, đặc tính của nó trở nên hơi thái quá. Thế lực ban đầu còn nhỏ, yếu nhưng tăng dần vì đúng đắn, tiến bộ. Tuy nhiên, do hơi thái quá nên không thể trở thành Hỏa tương lai… * Kim (Thiếu âm) Là lực lượng mới hình thành trong Dương, tiến bộ, có khả năng thay thế cho lực lượng thống trị cũ (Dương). Có chân lý. Ban đầu còn nhỏ, yếu nhưng tất yếu phát triển làm chủ xã hội. Đại diện cho sự tiến bộ, đổi mới trong tầng lớp trên và sẽ trở thành lãnh đạo trong tương lai… 1. TỐN: Thái Kim, là bản chất ban đầu của Kim 2. ĐOÀI: Thiếu Thủy, là lực lượng năng động, tiến bộ nằm trong Kim, sinh ra từ lực lượng tiến bộ của Thủy trong tương tác Kim <-> Thủy. Khi chuyển sang Kim, sự tiến bộ được hoàn thiện do tiếp thu mặt tích cực của Mộc. Ban đầu, thế lực còn nhỏ, yếu nhưng sau tăng lên mạnh mẽ, trở thành Thủy tương lai… * Mộc (Thiếu dương) Là lực lượng mới hình thành trong âm, tiến bộ theo sự phát triển đi lên của sự vật. Rất năng động, uyển chuyển mà đứng đắn. Nhậy cảm và hỗ trợ cái mới, tiến bộ. Là đại diện cho lực lượng âm tương lai… a. CHẤN: Thái Mộc, là bản chất ban đầu của Mộc b. CẤN: Thiếu Hỏa, là lực lượng tiến bộ nhất trong Mộc, sinh ra từ lực lượng tiến bộ nhất trong Hỏa, do tương tác Mộc <-> Hỏa. Khi chuyển sang Mộc, những đặc tính tiến bộ được hoàn thiện do ảnh hưởng từ tính tích cực của Mộc. Thế lực ban đầu nhỏ nhưng phát triển mau chóng, trở thành Hỏa tương lai… * Thổ (Chung) Là phần Chung của toàn sự vật, cả Âm lẫn Dương đều tôn trọng, thống nhất. Là những giá trị đại diện cho toàn Xã hội, là ý dân, văn hóa, Quốc hội, báo chí,… 1. Thổ dương: Bản chất của Thổ. 2. Thổ âm: Các giá trị chung mới đang phát sinh, phát triển. Ban đầu còn ít, nhưng sẽ tăng nhanh và thắng thế… Quẻ Dịch gồm các quái chồng lên nhau: Thượng quái và hạ quái, thể hiện quan hệ tương tác giữa các lực lượng trong sự vật mà các quái trong quẻ làm đại diện. Thượng quái: Khách thể, bị trị, bị động, đóng vai trò âm, … Hạ quái: Chủ thể, cai trị, chủ động, đóng vai trò dương, … Trên cơ sở ý nghĩa của các quái ta có thể dễ dàng hiểu ý nghĩa của các quẻ Dịch một cách logíc, khoa học và không còn huyền bí, khó hiểu.
  24. 3. Quan hệ của Ngũ hành Những lực lượng trong sự vật quan hệ với nhau trong sự tương tác thống nhất và mâu thuẫn. Các quan hệ được tổng hợp thành 2 quan hệ cơ bản là tương sinh và tương khắc. uan hệ tương sinh: A sinh B, ký hiệu A -> B. Trong quan hệ này, các yếu tố của lực lượng A hỗ trợ cho lực lượng B phát triển hoặc chuyển từ A sang B. Bản chất của quan hệ này là ở chỗ, tác động của A trong tương tác với các lực lượng khác làm cho B thu được nhiều giá trị mới, kết quả của tương tác âm dương, hơn. Quan hệ tương khắc: A khắc B, ký hiệu A --- > B. Trong quan hệ này, những yếu tố của lực lượng A trong quá trình tương tác với các yếu tố khác trong Vạn tượng gây nên những hiệu ứng làm cho B không thu được nhiều giá trị mới, được tạo ra trong quá trình tương tác âm dương, làm cản trở sự phát triển của B. Người ta quan sát và phát hiện ra rằng, trong quan hệ tương sinh A sinh B, nếu A quá vượng (mạnh), thì B không những không phát triển tốt hơn lên, không thu thêm được nhiều giá trị mới hơn mà còn bị suy giảm đi, thu được ít giá trị mới hơn. Lúc này, quan hệ tương sinh chuyển thành quan hệ được gọi là tương thừa, một thái quá của tương sinh: A tương thừa B. Trong quan hệ tương khắc, nếu A khắc B, nếu A quá yếu, B quá vượng thì A không những không thể khắc B mà còn bị B triệt. Quan hệ tương khắc chuyển thành quan hệ tương vũ, một trường hợp bất cập của tương khắc: A tương vũ B. Tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ là những quan hệ cơ bản của các yếu tố trong sự vật. Quan hệ tương sinh, tương khắc phổ biến trong sự phát triển ổn định của sự vật, thời kỳ Hậu thiên. Quan hệ tương thừa, tương vũ sảy ra khi sự vật trở nên thái quá hay bất cập, có những yếu tố quá vượng hay quá yếu. Dưới đây ta xét quan hệ 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ trong trạng thái phát triển ổn định của Vạn tượng, tức là chỉ bao gồm các quan hệ tương sinh và tương khắc. Như trên đã chứng minh, quan hệ Tam tài như sau: Dương khắc Âm: Dương --- > Âm m sinh Chung: Âm ->Chung Chung khắc Dương: Chung --- > Dương Mặt khác, như đã thấy, Hoả là bản chất ban đầu của Âm , Thuỷ là bản chất của Dương và Thổ chính là Chung trong Tam tài khi mô tả sự vật bằng cấu trúc ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Do đó: Thuỷ khắc Hoả: Thuỷ --- > Hoả oả sinh Thổ: Hoả -> Thổ Thổ khắc Thuỷ: Thổ --- > Thuỷ Ở đây ta thấy một cấu trúc quan hệ cơ bản sau: Nếu : A sinh B. C khắc A. Thì B khắc C. Điều này được lý giải như sau: Mọi sự vật phát triển, tương tác với các sự vật khác luôn có xu hướng giành lấy nhiều nhất có thể được lợi ích cao nhất hay giá trị mới nhiều nhất. Khi A sinh B mà C khắc A thì, để bảo vệ lợi ích của mình, B phải khắc C. Quan hệ này có thể coi như một quan hệ cơ bản, dùng để xác định các quan hệ của các đối tượng trong sự vật, gọi là quan hệ cơ bản 1. Như ở trên ta đã xác định được quan hệ của Kim – Thuỷ và Mộc – Hoả như sau: im sinh Thuỷ: Kim -> Thuỷ ộc sinh Hoả: Mộc -> Hoả Mặt khác, ta cũng đã xác định rằng, Kim và Mộc đóng vai trỏ Dương, Âm trong sự vật mới được sinh ra khi sự vật cũ mất đi. Do Dương khắc Âm nên quan hệ Kim – Mộc là: Kim khắc Mộc: Kim --- > Mộc. Do Kim sinh Thuỷ mà Thuỷ khắc Hoả nên, theo cấu trúc quan hệ cơ bản 1 đã xem xét ở trên ta được: Hoả khắc Kim: Hoả --- > Kim. Như trên ta cũng thấy, do Thuỷ khắc Hoả làm cho Hoả không thể quá động nên mới nảy sinh Mộc để kìm bớt tính động của Hoả. Có nghĩa là, sự tác động của Thuỷ tới Hoả là nguyên nhân sinh ra của Mộc, Do đó quan hệ của Thuỷ và Mộc phải là: huỷ sinh Mộc: Thuỷ -> Mộc Áp dụng quan hệ cơ bản 1 cho Thổ, Thuỷ, Mộc ta thấy: Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc nên: Mộc khắc Thổ: Mộc --- > Thổ. Lại Áp dụng quan hệ cơ bản 1 cho Thổ, Mộc, Kim ta thấy: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ nên: hổ sinh Kim: Thổ -> Kim Như vậy, 10 quan hệ tương tác lẫn nhau giữa 5 hành Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ đã được xác định như sau: Thuỷ khắc Hoả: Thuỷ --- > Hoả. Hoả sinh Thổ: Hoả Thổ. Thổ khắc Thuỷ: Thổ --- > Thuỷ. im sinh Thuỷ: Kim -> Thuỷ. ộc sinh Hoả: Mộc -> Hoả. Kim khắc Mộc: Kim --- > Mộc. Hoả khắc Kim: Hoả --- > Kim. huỷ sinh Mộc: Thuỷ -> Mộc. huỷ sinh Mộc: Thuỷ -> Mộc. hổ sinh Kim: Thổ -> Kim. Sơ đồ ký hiệu quan hệ ngũ hành như sau: Qua sơ đồ ta thấy có 2 vòng quan hệ tương sinh và tương khắc như sau: Quan hệ tương sinh: Kim -> Thuỷ -> Mộc -> Hoả -> Thổ -> Kim Quan hệ tương khắc: Thuỷ --- > Hoả --- > Kim --- > Mộc --- > Thổ --- > Thuỷ. Nhận xét trên sơ đồ ta thấy quan hệ cơ bản thứ 2 như sau: Nếu : A sinh B. B sinh C. Thì A khắc C. Quan hệ này cũng có thể coi như một quan hệ cơ bản, dùng để xác định các quan hệ của các đối tượng trong sự vật, gọi là quan hệ cơ bản 2. 4. Sự phân bố các yếu tố - nguyên lý trong Âm có dương, trong Dương có âm Trong thời kỳ Tiên thiên, sự phân hoá cùa sự vật thành các yếu tố của Tam tài Ngũ hành có thể biểu diễn như sau: Sự vật tiếp tục bị phân hoá thành các yếu tố thứ cấp bậc 3 như sau: Như vậy, trong thời kỳ Tiên thiên: Trong hành Thuỷ có 2 quái CÀN vả ĐOÀI. Trong hành Mộc có 2 quái CHẤN và LY Tronh hành Kim có 2 quái TỐN và KHẢM Trong hành Hoả có 2 quái KHÔN CẤNTrong thời kỳ Hậu thiên, do mâu thuẫn âm dương, các yếu tố bị phân bố lại theo nguyên lý trong âm có dương, trong dương có âm, trong Thái có Thiếu như sau: Đối với các Hành: Đối với các Quái: Như vậy, trong thời kỳ Hậu thiên: Trong hành Thuỷ có 2 quái CÀN vả KHẢM. Trong hành Mộc có 2 quái CHẤN và CẤN Tronh hành Kim có 2 quái TỐN và ĐOÀI Trong hành Hoả có 2 quái KHÔN và LY
  25. 2. Sự xuất hiện của Ngũ hành Trong sự vật, các lực lượng tương tác với nhau tạo ra và cùng chia sẻ, thụ hưởng những giá trị mới M để phát triển. Trong quá trình đó, mỗi lực lượng đều có xu hướng chiếm đoạt giá trị mới đó càng nhiều càng tốt, bảo toàn bản chất ban đầu của chúng. Điều đó dẫn đến mâu thuẫn, đấu tranh lẫn nhau giữa chúng, cản trở sự hình thành những giá trị mới. Mặt khác, sự xuất hiện âm dương sinh ra giá trị mới và sự chiếm đoạt những giá trị mới này cũng nhằm phát triển các lực lượng Âm, Dương, Chung để sinh ra ngày càng nhiều giá trị mới hơn. Do đó, qui luật chung của sự vật là phát triển không ngừng, hay giá trị mới M có xu thế càng ngày càng tăng. Mâu thuẫn giữa các lực lượng trong sự vật đi ngược lại qui luật đó, hỗ trợ cho những mầm mống giải pháp giải quyết mâu thuẫn, vốn tiềm ẩn trong sự vật, có điều kiện phát triển, trở thành những lực lượng mới tham gia tương tác với các lực lượng khác trong sự vật. Sự tham gia tương tác của những lực lượng mới này có xu hướng hỗ trợ hoặc hạn chế hoạt động của các lực lượng khác theo hướng giảm, hóa giả mâu thuẫn đang gay gắt để sự vật phát triển ổn định, thuận lợi hoặc trở thành những yếu tố chính trong sự vật mới tiếp theo, khi mâu thuẫn phát triển gay gắt, làm tiêu vong sự vật cũ và các yếu tố cũ bị suy vong đi. Theo nguyên lý đó, trong tương tác giữa hai lực lượng Âm, Dương trong Tam tài, Dương có xu hướng trở nên ngày càng “tĩnh” hơn theo bản chất ban đầu dương của nó, làm cho mâu thuẫn âm dương càng gay gắt, giá trị mới M được tạo ra có xu hướng giảm. Trong Chung, là nơi tồn tại và thống nhất các thành phần Âm, Dương, những mầm mống tăng thêm động tính xâm nhập sang Dương, có điều kiện thuận lợi phát triển thành những lực lượng mới làm cho Dương trở nên “động” hơn. Lực lượng mới đó phát triển sau, lại mang động tính nên thuộc Thiếu âm, gọi là hành Kim. Nhưng không phải mọi yếu tố Thiếu âm đều thuộc hành Kim. Trong Thiếu âm có rất nhiều yếu tố có thể tác động cho Dương trở nên “động” hơn, nhưng trong số đó,chỉ có những yếu tố có khả năng hỗ trợ, giải quyết mâu thuẫn âm dương, làm cho giá trị mới được sinh ra nhiều hơn, mới có điều kiện thuận lợi để phát triển và trở thành Dương trong sự vật mới, khi sự vật cũ bị mâu thuẫn âm dương trong nó tiêu diệt, mới thuộc hành Kim. Khi Kim xuất hiện trong Dương, những yếu tố khác thuộc dương gọi là hành Thủy để phân biệt với Kim. Thủy phát triển trước, có tính “tĩnh” dương nên Thủy thuộc Thái dương. Sự xuất hiện của Kim trong xu thế làm giảm bớt mâu thuẫn âm dương, làm cho dương tính trong Dương động hơn, có khả năng sinh ra và chiếm đoạt giá trị mới M nhiều hơn, lực lương Dương phát triển tốt hơn nên quan hệ Thủy , Kim là: Kim sinh Thủy. Như vậy, những yếu tố “Thiếu” khi xuất hiện có nguồn gốc xuất phát từ Chung. Tương tự như thế, Âm bị phân hóa thành hai hành Mộc và Hỏa với quan hệ Mộc sinh Hỏa, Mộc thuộc Thiếu dương, Hỏa thuộc Thái âm. Sự xuất hiện Kim, Mộc nằm trong xu hướng giải quyết mâu thuẫn âm dương đang ngày càng gay gắt, làm mâu thuẫn này giảm đi để sự vật phát triển thuận lợi. Nếu mâu thuẫn này không được giải quyết, và ngày càng gay gắt, các hành Thủy, Hỏa ngày càng suy yếu, Kim, Mộc ngày càng thịnh dẫn đến quan hệ tương sinh Mộc sinh Hỏa, Kim sinh Thủy sẽ chuyển thành tương thừa làm cho Thủy và Hỏa bị suy vong, sự vật cũ bị tiêu biến đi và sinh ra sự vật mới với quan hệ âm dương mới do Mộc, Kim của sự vật cũ đóng vai trò Dương, Âm. Với sự xuất hiện của 4 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, phần Chung trong Tam tài được gọi là hành Thổ. Hành Thổ còn tiếp nhận những yếu tố thuộc Thiếu ân nhưng không thuộc Kim, Thiếu dương nhưng không thuộc Mộc (những yếu tố này sẽ bị suy yếu, biến mất khi Mộc khắc Thổ) Như vậy, cấu trúc của của sự vật gồm 5 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ được xây dựng như trên là sự chi tiết hóa hơn, phát triển hơn cấu trúc Tam tài. Qua phân tích về sự xuất hiện của Kim thuộc Thiếu âm trong Dương, Mộc thuộc Thiếu dương trong Âm ta thấy một qui luật hình thành và phát triển của các yếu tố thứ cấp là: Trong âm có yếu tố thứ cấp dương, trong dương có yếu tố thứ cấp âm, trong Thái có yếu tố Thiếu. Sự phân hoá này do tương tác, mâu thuẫn âm dương mà ra nên nó hình thành trong thời kỳ Hậu thiên. Còn trong thời kỳ Tiên thiên, do mâu thuẫn chưa gay gắt, các yếu tố đó quan hệ tương sinh nên không có sự phân hoá trong âm có dương, trong dương có âm này.