• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Vo Truoc

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    787
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    13

Bài viết posted by Vo Truoc


  1. Cái giả thuyết này của các nhà Vật lý và các công việc họ đang dự định tiến hành cũng giống như là ta giả thiết có "Ma" và tiến hành nghiên cứu vẽ chân dung con Ma vậy!!!

    Cái làm cho các nhà khoa học nghĩ rằng nhất định phải tồn tại "vật chất tối" chính là cái khiếm khuyết về mô tả thế giới tự nhiên của khoa học hiện đại. Nói cách khác, do khiếm khuyết của lý thuyết khoa học nên một số tính toán, đo đạc trong Vũ trụ (cụ thể là đo khoảng cách các ngôi sao, thiên hà và khối lượng của chúng) không khớp với thực tế nên họ nghĩ rằng, nhất định có một thứ mà họ gọi là "vật chất tối" làm ảnh hưởng tới kết quả. Thế là, do định kiến, cứ nhất định là mình không thể sai, nên thay vì hoàn thiện lý thuyết của mình, họ lại tưởng tượng ra "con ma vật chất tối" và ra sức truy tìm chúng, và bây giờ (theo bài báo) lại cố vẽ ra chân dung của chúng để mong rằng công cuộc tìm kiếm sẽ hiệu quả hơn!!!

    Cũng như vậy, mấy năm trước, do không hiểu bản chất của khối lượng, họ lại tưởng tượng ra một "con ma" gây ra khối lượng của vật chất và đặt một cái tên rất mỹ miều là "Hạt của chúa" rồi tưởng tượng, vẽ ra chân dung nó và ra sức tìm kiếm với tốn kém khổng lồ. Không rõ "con ma" đó đã chính thức bị họ bắt chua nhỉ?!!!

    Đó là một kiểu "mê tín" điển hình của khoa học.

    Chỉ có học thuyết ADNH mối có thể giải quyết vấn đề này.

    3 people like this

  2. Với tư cách lả học thuyết bao trùm, học thuyết ADNH không có bất cứ một giới hạn nào cả.

    Ngày nay, mọi học thuyết dù hiện đại hay điên rồ nhất cũng đều có giới hạn cả. Chỉ riêng học thuyết ADNH là không có giới hạn mà thôi, nó hiệu quả ở mọi nơi, mọi lúc trong tất cả các lĩnh vực dù khác biệt đến đâu đi chăng nữa.

    2 people like this

  3. Trong khi đó thì thuyết "nguồn gốc loài người từ Châu Phi" cho rằng: Người tiền sử xuất hiện cách đây 40. 000 năm ở châu Phi và đến Đông Nam Á cách đây 10. 000 năm.

     

    Anh Thiên Sứ thân mến!

    Có lẽ anh nên cập nhật lại lý thuyết này. Các số liệu và nội dung của nó đã khác xưa rất xa.

    Kính anh!

     


  4. Khổng Minh không phải không hiểu cái lý "tan hợp", cũng không phải không biết cái chữ "gặp chủ" cũng như chữ "gặp thời" như Tư Mã Huy hay bọn Thôi Châu Bình, Thạch Quảng Nguyên ... bởi vì đó cũng là những luận điểm cơ bản của học thuyết mà ông rất giỏi. Hơn nữa, những cao nhân đó cũng là những người bạn tri giao của ông từ lâu, từ thuở hàn vi, không dám tự nhận tài trí hơn ông. Ông không lạ gì quan điểm, tài năng của họ và họ cũng thế, chẳng lạ quan điểm và tài năng của ông. Nhưng ông có quan điểm hành xử của mình. Chúng ta khác ông quá nhiều thứ, từ tài năng, đạo đức, nhận thức, thời cuộc, .... khó mà có thể nghị luận khách quan được.

    "Hai đằng khó sánh hiền ngu

    Đều làm cho thỏa được như ý mình"

    (Nguyễn Trãi)

    Người ta ở đời rốt cục cũng trở về với Đất. Chỉ cần "cúc cung tận tụy" thực hiện cái chí của mình còn như thành công hay thất bại là việc của Trời miễn không thẹn với lòng là được. Vì thế, tiếng thơm của ông được truyền mãi muôn đời.

    Ngày nay, dạo qua một vài diễn đàn, thấy một số "trẻ trâu" ... cũng bày đặt chê bai, bình phẩm về ông tùm lum ... mà thấy thật ... xấu hổ. Đúng là những con gà ghẻ chê bai công phượng sao không có cái "dung nhan đẹp đẽ" như của chúng !!!

    2 people like this

  5. Tôi sinh ra từ thời Tây xâm lược nước ta, trải qua bao thời kỳ biến động cuộc sống và xã hội, chưa kể sự lên voi xuống chó ngay chính cuộc đời tôi. Tôi tiếp xúc đủ hạng người thượng vàng, hạ cám. Bởi vậy, tôi cũng chẳng lạ gì thói đời. Với khả năng lý học và dự báo của tôi, tôi cũng biết rất khó thành công ngay để vinh danh Việt sử. Nhưng "quân tử vấn dịch để biết lẽ tiến thoái, nhưng không thay đổi ý chí của mình". Nếu những luận điểm của tôi không được quan tâm, vì nó chưa có "cơ sở khoa học" thì chí ít nó cũng chặn lại thứ tư duy "ở trần đóng khố" phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt ở một mức độ nào đó..

    Đúng thế. Em hiểu. Chỉ vì thấy anh có vẻ sốt ruột, mệt mỏi nên em nói thế thôi. Chứ trên đời này không có hành động nào, tư tưởng nào không tác động tới xung quanh cả. Những luận điểm của anh có không ít người quan tâm đâu nhưng chưa phải lúc kết trái.

    Kính anh!

    1 person likes this

  6.  

    Không hẳn như vậy. Theo em, thuyết tương đối chỉ là một trường hợp riêng của một bộ phận không lớn của học thuyết ADNH mà thôi. Hơn nữa, "trường hợp riêng" này cũng không được "kín cạnh" lắm, còn nhiều "lỗ hổng" làm cho một số kết quả không phù hợp. Ví dụ như phép biến đổi Lorentz trong thuyết tương đối không chính xác dẫn đến sự phủ nhận tính đồng thời và luật nhân quả...

    Anh Thiên Sứ thân mến!

    Quan điểm phủ nhận luật nhân quả của thuyết tương đối, theo em, là một quan điểm “đệ nhất mê tín” tự cổ chí kim trong xã hội loài người của những nhà khoa học, những  người luôn tự coi mình là … khoa học … không mê tín!!! Quan điểm này thậm chí không tồn tại trong những tôn giáo, những câu chuyện cổ tích … mê tín nhất mà người ta từng biết ! Người ta có thể tin rằng cái đinh sẽ tự chui vào miếng  gỗ trước khi cái búa nện vào đít nó còn hơn là nghi ngờ xem, liệu có sự không chính xác nào trong các luận điểm lý thuyết khoa học hay không … Người ta thí nghiệm và quan sát thấy một số hiện tượng có qui luật trong không gian và hoàn cảnh của mình rồi vội vã tổng quát hóa cho toàn … Vũ trụ.. Với phương pháp nghiên cứu “mê tín” như thế thì gặp mâu thuẫn là điều tất yếu. Nhưng khổ một nỗi là khi gặp các mâu thuẫn đó, thay vì binh tĩnh lại, xem xét cái cơ sở khoa học của mình nó có cái gì không ổn, xem xét những ý kiến khác nhau, thì người ta lại “bịa ra” những thứ còn “mê tín” hơn nhằm tìm cách cứu vãn tình thế! Những “vật chất tối”, “hạt Hiss”, “đường chân trời sự kiện” của lỗ đen, “điểm kỳ dị”, “vụ nổ lớn”, “vụ co lớn” … là kết quả của những cái “bịa ra “ đó. Vừa tốn tiền vừa mất thời gian, trí lực, vật lực … Em cho rằng những “con ma” còn hiện thực hay đỡ mê tín hơn những “kết quả”  nghiên cứu đó! Ấy vậy mà vẫn được số đông tung hô, ai nói ngược lại thì bị ném đá … thì số đông ấy còn … “mê tín” hơn nhiều.

    Khi anh sống trong đám đông “mê tín” mà anh không “mê tín” thì anh lại là người “mê tín” nhất !!! Để cái đám đông ấy không còn “mê tín” nữa thật vô cùng khó khăn với một con người, cần nhiều thời gian và lao động của nhiều người. Vì thế không nên nóng vội, cứ thản nhiên từ từ … lâu năm rồi … khoai nó cũng sẽ … nhừ thôi anh ạ ! Các cụ nói rất đúng: “Động thiện thời” !!! Anh cũng đừng buồn, cái “thời” ấy rồi cũng sẽ đến, tuy rằng hơi lâu cũng như  “cái đuôi con nòng nọc” cũng sẽ “đứt” thôi khi nó đủ lớn! Chẳng thể nhanh cũng như chẳng ai có thể cưỡng lại được cả!

    1 person likes this

  7.  

    Thuyết Tương đối là một trường hợp riêng của thuyết ADNh.

    Không hẳn như vậy. Theo em, thuyết tương đối chỉ là một trường hợp riêng của một bộ phận không lớn của học thuyết ADNH mà thôi. Hơn nữa, "trường hợp riêng" này cũng không được "kín cạnh" lắm, còn nhiều "lỗ hổng" làm cho một số kết quả không phù hợp. Ví dụ như phép biến đổi Lorentz trong thuyết tương đối không chính xác dẫn đến sự phủ nhận tính đồng thời và luật nhân quả...


  8. Thực ra, vấn đề như sau:

    Hai tiên đề của E là:

    + Trong tiên đề đầu tiên: Mọi hiện tượng vật lý (cơ học, nhiệt động lực học, điện từ học...) đều xảy ra như nhau trong các hệ qui chiếu quán tính.

    + Trong tiên đề thứ hai, theo phát biểu ban đầu của Einstein: Tốc độ ánh sáng trong chân không là một đại lượng không đổi trong tất cả các hệ qui chiếu quán tính.  

    Sau đó người ta suy ra công thức E = k.E0. Để công thức này có nghĩa thì V <= c với V là vận tốc hạt vật chất chuyển động. Rồi từ đó họ suy ra c là vận tốc tới hạn của chuyển động hạt vật chất.

    Nhưng một số người lại nghĩ rằng, trong Vũ trụ chỉ có chuyển động của hạt vật chất hay năng lượng thôi, mọi chuyển động khác đều có thể qui vào đây được cả, mà không biết rằng còn có những thứ khác nữa nên mới phát biểu rằng c là vận tốc giới hạn của Vũ trụ.

    Lỗi ở đây là sự tư duy của mấy con "ếch" thôi chứ không phải của ông E.

    Kính anh!

    1 person likes this

  9. Từ lâu tôi đã cho rằng : Thuyết Tương Đối đã sai lầm khi kết luận "Vận tốc ánh sáng là vận tốc giới hạn của vũ trụ".

    Thuyết tương đối không nói vậy, anh đã hiểu lầm!

    Thuyết tương đối nói vận tốc ánh sáng là vận tốc giới hạn chuyển động của các hạt vật chất. hay vận tốc giới hạn của truyền năng lượng. Hai cái này không đồng nhất ! Điều này thì em thấy đúng nhưng em không coi là tiên đề, mà là hệ quả của cái cơ bản hơn. Hơn nữa, vận tốc ánh sáng, theo em, không giống nhau ở các không gian khác nhau. Em cũng cho rằng không tồn tại cái gọi là chân không nên luận điểm vận tốc ánh sáng trong chân không là 300000 km/s là vô nghĩa!

    Trong các tương tác vật chất, tương tác cảm ứng không truyền năng lượng trực tiếp (vì thế, lực cảm ứng điện từ luôn vuông góc với chuyển động làm cho công A = 0) nên vận tốc truyền tương tác này là vô cùng lớn, thời gian là tức thời. Điều này lý giải được cái "mâu thuẫn" về nhận thức Vũ trụ bị giới hạn bởi vận tốc ánh sáng mà anh đề cập.

    Nói chung, nếu khoa học không từ bỏ được định luật bảo toàn năng lượng, kéo theo các khái niệm như "vật chất tối", không gian đồng tính và đẳng hướng, đường "chân trời sự kiện" của các lỗ đen, hạt Hiss, ... thì họ không bao giờ thoát khỏi bế tắc trong các tham vọng nghiên cứu những hiện tượng vi mô hoặc rất vĩ mô (như sự hình thành và phát triển của Vũ trụ) cả. Họ phải bằng lòng với những kết quả nghiên cứu những hiện tượng đỡ cực đoan hơn khi hiệu ứng ảnh hưởng của các luận điểm trên đủ nhỏ.

    Kính Anh!

    1 person likes this

  10.  

    Bởi vậy, họ không thể xác định được thuyết ADNh chính là lý thuyết thống nhất mà những trí thức đầu bảng đang mơ ước.

     

    Họ không thể xác định được bởi vì họ chẳng biết cái học thuyết ấy nó như thế nào? các luận điểm của nó nột cách hệ thống ra làm sao? Nghe người này hay nghe người kia là đúng? Hay là nghe sách cổ? Liệu có đúng không (họ vốn trọng kim hơn cổ)? Lý luận gì mà loằng nhoằng quá, chẳng rõ ràng gì cả mà  thấy mâu thuẫn tùm lum, mỗi người một phách !!! ...

    Anh đừng trách họ, các nhà khoa học chân chính sẽ ủng hộ ngay nếu họ hiểu. Vì vậy, cái chúng ta cần là phải làm sao phục hồi được học thuyết ADNH đó (vì nó đã thất truyền), sau đó phải diễn đạt lại sao cho họ có thể hiểu và thấy được tính ưu việt của học thuyết này. Nếu làm được, họ sẽ là những người hăng hái nhất bảo vệ và phát triển nó cho dù khi đó hầu hết những nền tảng kiến thức bao năm dày công nghiên cứu của họ sẽ bị đảo lộn.

    Thật là khó lắm thay !!!

    Nhưng khó cũng không phải là không thể !!!

    Kính anh!

    1 person likes this

  11. Thuyết Tương đối của Eistein cho rằng: Giới hạn tốc độ vũ trụ bằng tốc độ ánh sáng. Lý học Đông phương cho rằng: Đây là sai lầm duy nhất của học thuyết này. Bởi vì - về lý thuyết - nếu tốc độ vũ trụ bằng tốc độ ánh sáng thì chúng ta sẽ không thể nhận thấy bất kỳ vật nào di chuyển bằng tốc độ ánh sáng.

    Bài báo khoa học trên với thì nghiệm Lượng tử trên hai hạt electron, cho thấy: Phải có một môi trường truyền hiệu ứng tương tác rất nhanh, để tác động gần như tức thời cho hai hạt electron với khoảng cách hàng trăm năm ánh sáng chịu tác động của nhau. Môi trường này đã chứng tỏ trên thực tế kết luận của Lý học cho rằng:

    Giá trị tuyệt đối - Thái cực - chính là giới hạn tốc độ của vũ trụ. Đây cũng chính là "cõi tuyệt đối".

    Giới hạn tốc độ Vũ trụ bằng vận tốc ánh sáng là sai lầm nhưng không phải duy nhất mà còn nhiều sai lầm khác của vật lý hiện đại. Nhưng chủ yếu là vật lý hiện đại không biết đến một thông số vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp khi mô tả mọi quá trình vận động trong Vũ trụ và không nhận thức được giới hạn của định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Chính vì vậy, mọi phương trình vật lý hiện đại chỉ đúng trong miền giới hạn khi ảnh hưởng của thông số kia đủ nhỏ. Nhưng các nhà khoa học lại tìm cách áp dụng những phương trình của họ cho mọi quá trình vật lý, do đó, sai lệch và mâu thuẫn là không thể tránh khỏi. Nhưng quan trọng hơn, phương pháp luận, quan điểm tư duy của giới khoa học ngày nay không thể giải quyết được vấn đề này mà khi giải quyết mâu thuẫn nào đó sẽ lại dẫn đến một mâu thuẫn khác nghiêm trọng hơn. Nói cách khác, khoa học hiện đại đang trong giai đoạn giống như trước năm 1905 khi thuyết tương đối ra đời.

    Các tương tác mà khoa học hiện đại gọi là tương tác hấp dẫn, tương tác mạnh, tương tác yếu thực chất chỉ là phản ứng của vật chất với không gian mà trong đó nó tồn tại mà thôi chứ không phải là tương tác giữa hai đối tượng vật chất (trường khí âm dương).

    Trong tự nhiên, chỉ có hai tương tác của trường khí âm dương: Thứ nhất là tương tác trực tiếp dựa trên qui tắc quân bình âm dương (ví dụ là lực hút, đẩy tĩnh điện …). Thứ hai là tương tác cảm ứng (ví dụ: lực cảm ứng điện từ …). Các nhà khoa học hợp cà hai lại thành tương tác điện từ mà không thấy được sự khác biệt về bản chất giữa chúng.

    - Tương tác trực tiếp thay đổi xu thế vận động của vật chất (lực F) bằng cách thêm vào một xu thế ngoại lai (công thêm lực P: F’ = F + P). Tốc độ giới hãn của tương tác này là tốc độ truyền năng lượng chính là vận tốc ánh sáng. Bản chất của tương tác này là quá trình lập lại trạng thái quân bình âm dương khi dương, âm quá lớn.

    - Tương tác cảm ứng làm xu thế vận động của vật chất tự thay đổi theo một chiều hướng khác (F --- > F’), hoàn toàn không có sự truyền năng lượng trong quá trình cảm ứng. Đó là lý do lực cảm ứng điện từ luôn vuông góc với phương chuyển động của điện tích. Do không có quá trình truyền năng lượng nên tốc độ truyền tương tác cảm ứng không bị cái gì giới hạn nên nó là vô cùng. Nói cách khác, tương tác cảm ứng là ngay lập tức trong toàn Vũ trụ. Đó là bản chất của cái mà các nhà khoa học gọi một cách mơ hồ (vì không hiểu được bản chất, tuy thấy được hiện tượng) là “rối lượng tử” hay “vướng lượng tử”. Tương tác cảm ứng có tốc độ vô cùng lớn cho chúng ta hiểu tại sao một niệm phát sinh lại có thể chấn động ba ngàn thế giới, các linh hồn giao tiếp như thế nào? …

    Tất cả những luận điểm trên tôi đều rút ra trong quá trình nghiên cứu học thuyết ADNH của Việt tộc (Chứ không phải Hán tộc) mang ra chia sẻ cùng các ACE trên diễn đàn

    Thân ái!

    2 people like this

  12. Bác VoTruoc viết:

    Anh Thiên Sứ ạ, theo em, công án tiến vỗ của một bàn tay là một cách diễn đạt về Thái cực đâý. Đó là trạng thái âm dương chưa sinh (2 bàn tay), chưa có tương tác âm dương (tiếng do hai bàn tay vỗ vào nhau), mà mới chỉ có 1 bàn tay (Thái cực), khi đó khái niệm "bàn tay" và "tiếng vỗ" cuả nó cũng chưa có, chỉ có "caí một " hay "Thái cực" mà thôi. Khi xuất hiện một bàn tay nữa (âm) thì cái "bàn tay" có trước kia (Thái cực) trở thành dương và tương tác âm dương (hai bàn tay vỗ vào nhau) mới sinh ra những caí mới (tiếng vỗ) hay là sự phát triển của Vũ trụ.

    Như vậy, công án "tiếng vỗ của một bàn tay" là một kiểu "ngón tay chỉ trăng" giúp người ta quán xét để thấy được cái "bất khả tư nghị" là Thái cực hay Bản thể của Vũ trụ - Đạo theo cách diễn đạt của em. Vì thế, nếu dùng ngôn từ mô tả tiếng vỗ của một bàn tay, theo em, là bất khả (vì Đạo bất khả tư nghị mà). Đó là lý do sau biết bao năm tháng mà đây vẫn là đề tài hóc búa, chưa có lời gỉai thấu triệt, chỉ vì người ta cố dùng ngôn từ mà mô tả nó.

    Nếu chúng ta cho rằng "Bất khả tư nghì" thì sao lại quy ước hay mô tả đó là Thái Cực!

    Nếu là thực tại "bất khả tư nghì" thì thiền sinh Toyo lại "nghe" và "hiểu" được trạng thái "Tiếng vỗ tay của một bàn tay"!

    Nếu quy ước là Thái Cực trước khi có Âm Dương thì trong thế giới đang vận động này, tức sau Thái Cực mà tại sao khẳng định đó là Thái Cực!

    Ngón tay Đức Phật chỉ trăng không phải là mặt trăng. Nương theo ngón tay Đức Phật để thấy mặt trăng.

    Có người nương theo ngón tay ấy thấy được mặt trăng, có người chỉ mãi cũng chẳng thấy. Có người thì lại thấy ...quả chuông trên nóc nhà thờ.... Lại có người thây ... trái dừa trên cây!!! ...

    Tùy duyên thôi mà.


  13. Rồi sao nữa? Thế nào là "Tiếng vỗ tay của một bàn tay"?

    Không biết, không hiểu thì im lặng tìm hiểu, học hỏi. Không quanh co khúc thuyết. Các bậc đại thừa chưa ai giải thích được câu này đã từ nhiều thế kỷ. Rubi hãy im lặng đi, Đừng có quá ngã mạn.

    Bởi vậy, có thoát khổ được đâu.

    Anh Thiên Sứ ạ, theo em, công án tiến vỗ của một bàn tay là một cách diễn đạt về Thái cực đâý. Đó là trạng thái âm dương chưa sinh (2 bàn tay), chưa có tương tác âm dương (tiếng do hai bàn tay vỗ vào nhau), mà mới chỉ có 1 bàn tay (Thái cực), khi đó khái niệm "bàn tay" và "tiếng vỗ" cuả nó cũng chưa có, chỉ có "caí một " hay "Thái cực" mà thôi. Khi xuất hiện một bàn tay nữa (âm) thì cái "bàn tay" có trước kia (Thái cực) trở thành dương và tương tác âm dương (hai bàn tay vỗ vào nhau) mới sinh ra những caí mới (tiếng vỗ) hay là sự phát triển của Vũ trụ.

    Như vậy, công án "tiếng vỗ của một bàn tay" là một kiểu "ngón tay chỉ trăng" giúp người ta quán xét để thấy được cái "bất khả tư nghị" là Thái cực hay Bản thể của Vũ trụ - Đạo theo cách diễn đạt của em. Vì thế, nếu dùng ngôn từ mô tả tiếng vỗ của một bàn tay, theo em, là bất khả (vì Đạo bất khả tư nghị mà). Đó là lý do sau biết bao năm tháng mà đây vẫn là đề tài hóc búa, chưa có lời gỉai thấu triệt, chỉ vì người ta cố dùng ngôn từ mà mô tả nó.

    Kính anh.


  14. Chủ đề của topic này trùng với một trao đổi đã lâu trên diễn đàn: (http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/2938-nhung-diem-dac-sac-cua-phat-giao/page__st__-10). Tôi xin pot lại ý kiến của tôi về Đạo Phật Diệt Khổ trong lần trao đổi ấy. Nếu muốn rõ hơn, các bạn có thể xem lại các phản biện theo link trên.

    ĐẠO PHẬT VÀ DIỆT KHỔ

    VÔ TRƯỚC

    I. Đạo Phật là Đạo Diệt khổ

    Trong các học thuyết mà con người từng nghĩ ra được, theo tôi, Đạo Phật là một học thuyết tuyệt vời nhất còn được lưu truyền cho tới ngày nay. Về cái hay của Đạo Phật về bất cứ phương diện nào cũng mênh mông như bể, sâu sắc vô cùng, khó mà hiểu hết chứ đừng nói là có thể phân tích hết ra được.

    Nhưng thôi, chúng ta hãy tạm dừng nói về cái hay của Đạo Phật vì đã có không biết bao nhiêu người đã viết về nó mà vẫn chưa hết, ta thử bàn về mặt hạn chế xem sao.

    Thử hỏi, cái gì đã làm này sinh tâm nguyện của Đức Thích Ca Mâu Ni từ bỏ mọi vinh hoa phú quí khi ngài đang là Thái tử kế vị để bước vào con đường tu hành? Theo kinh sách, là do Ngài thương xót khi nhìn thấy nỗi khổ mênh mông của chúng sinh ngày càng trầm trọng.

    Đến khi đắc đạo, cũng chính vì thương xót chúng sinh vẫn ngập chìm trong bể Khổ mà Ngài phát tâm hoành dương Phật Pháp phổ độ chúng sinh.

    Lần đầu tiên khi truyền bá Đạo Phật, tuyên bố về học thuyết của mình, Ngài khẳng định rằng đây là Đạo Diệt khổ và đưa ra Tứ Diệu Đế là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế bàn về: Khổ và nguyên nhân của Khổ, cách diệt Khổ và cái đạt được sau đó, y như một lương y bắt mạch chữa bệnh cho nhân loại vậy. Tựu trung tất cả các luận điểm của Đạo Phật, cho dù cao siêu đến đâu cũng xoay quanh mục tiêu Diệt Khổ này. Diệt khổ cho nhân loại đầu tiên phải xuất phát từ diệt khổ cho mỗi cá nhân.

    Sau này, các pháp môn Ngài truyền dạy rất phong phú và thâm sâu vô cùng, nhưng chỉ những yếu tố nào phục vụ cho Diệt Khổ mới được Ngài giảng giải kỹ lưỡng nhất, những yếu tố khác, không thiết thực lắm cho Diệt Khổ Ngài đều gác lại hoặc chỉ nói qua. Xét cho cùng, những pháp môn đó được Ngài giảng dạy chỉ nhắm tới mục tiêu Diệt Khổ, do đó, đối với Đạo Phật, đó cũng chỉ là những biện pháp Diệt Khổ mà thôi.

    Vì thế, mục tiêu ban đầu và cuối cùng của Đạo Phật là Diệt Khổ.

    Theo Đức Phật, khi Khổ đã bị diệt triệt để theo phương pháp của Ngài thì đạt được Giải thoát. Nói cách khác, Giải thoát chính là kết quả của Diệt Khổ. Nếu không còn khổ thì có nghĩa là đã Giải thoát.

    Vì vậy, khi bàn đến Diệt Khổ cũng chính là bàn đến con đường Giải thoát.

    Tuy vậy, sau hơn 2500 năm đã qua, dù học thuyết của Phật tổ có hay đến đâu, dù có sự đóng góp của biết bao trí tuệ siêu việt từ nhiều thế hệ phật tử suất sắc nhất, thì đến ngày nay, chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng, kết quả của Đạo Phật đối với quảng đại chúng sinh cũng còn rất hạn chế. Có thể nói, về mặt cá nhân, hàng triệu người thực hành theo con đường của Phật tổ cũng không mấy người đạt được thành tựu cuối cùng, không mấy người diệt được khổ. Về mặt xã hội, bao nhiêu thời đại qua đi cũng không thấy xã hội nào hết được khổ đau dù trong thời gian ngắn. Đấy là tôi chưa nói đến những điểm sáng thành công ngày càng ít ỏi dần.

    II. Suy nghĩ về hiệu quả diệt khổ của Đạo Phật

    Kính thưa các quí vị quan tâm!

    Đối với tôi, Đạo Phật luôn là học thuyết mà tôi hằng kính ngưỡng, đánh giá cao nhất trong tất cả các học thuyết mà tôi từng được biết. Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là người tôi kính phục nhất trong tất cả các vĩ nhân tự cổ chí kim.

    Đặc biệt, tôi luôn tâm niệm một lời của Đức Phật: “Hãy kiểm tra giá trị những lời dạy của ta như khi ngươi kiểm tra độ tinh khiết của vàng, chà nó cho sạch bụi đất, dùng búa nện nó, nung chảy nó. Đừng chấp nhận những lời nói của ta chỉ vì kính trọng ta. Hãy tiếp nhận chúng khi các ngươi thấy rằng chúng là thật

    Người học Phật phải có tinh thần tự do, không nên lệ thuộc vào một kinh sách nào, một giáo lý nào; Phá trừ kiến chấp, mở rộng tâm hồn, trí não nên có thể thông cảm với tất cả mọi giáo lý khác. Người học Phật phải có tinh thần Vô trước, không nên để mình bị ràng buộc, bị dính mắc vào đâu cả, dù là đối với chân lý … Tinh thần đó chính là tinh thần của người Phật tử chân chính khi học hỏi.

    Trên tinh thần ấy, không để mình dính mắc vào bất cứ điều gì, kể cả với kinh điển Đạo Phật, tự mình tìm hiểu, tôi nhận thấy rằng:

    Đúng như tuyên bố ban đầu của Đức Phật, Đạo Phật trước tiên và cuối cùng là học thuyết diệt khổ. Tất cả những luận điểm chính được Đạo Phật đưa ra như Vô ngã, Vô thường, Luân hồi, Nhân quả, Thập nhị nhân duyên, Nghiệp chung, Nghiệp riêng, Hằng và Chuyển, Duy thức luận, Thực tướng ấn, Bình đẳng quan, Bát chánh Đạo, Niết bàn, cho đến Ngã quỉ, Địa ngục, Ta bà, … đều xoay quanh mục tiêu diệt khổ. Những quan điểm đặc sắc, tinh tế của các lĩnh vực này có thể được khai thác ở nhiều khía cạnh, nhưng Đạo Phật đặc biệt chú ý vào những khía cạch có thể hướng chúng sinh vào mục tiêu diệt khổ, còn các khía cạnh khác Đạo phật không bàn hoặc bàn đến rất ít. Còn những học thuyết khác khai thác được những luận điểm đó của Đạo Phật để phục vụ cho mục tiêu của họ thì lại là chuyện khác.

    Tuy những luận điểm đó của Đạo Phật rất hay, sâu sắc và tinh tế, nhưng tôi vẫn thấy rằng, nó quá nhấn mạnh đến cái tuyệt đối và do đó có thể chỉ thích hợp với một số ít cá nhân rất suất sắc còn rất khó khăn cho quảng đại chúng sinh. Cái quá ư thâm sâu của Đạo Phật vốn là ưu điểm nhưng ở khía cạnh đối với quảng đại chúng sinh có khi lại là mặt hạn chế. Cái đó gọi là mặt hạn chế của ưu điểm.

    Chỉ nội ngộ được chữ Không của Đạo Phật, triệu người chưa được một. Ngộ được chữ Không còn khó hơn lên Trời, mà từ chữ Không tới Giác ngộ, giải thoát cũng còn xa thăm thẳm, trong khi cái Khổ cận kề sát bên, ngày càng lan tràn khủng khiếp. Cái tuyệt đối có hay đến mấy cũng chỉ để ngắm nhìn thôi nếu không thể thực hành được.

    Vẫn biết rằng, Đạo Phật cũng tùy đối tượng mà thuyết pháp, nhưng phần giảng cho chúng sinh bình thường thì, theo tôi, không suất sắc lắm và hiệu quả còn hạn chế vì còn nặng vào hướng tới mức cao, hướng tới cái tuyệt đối, khó tiếp thu, chưa phù hợp với hoàn cảnh riêng của mỗi người. Tất nhiên, hướng tới mức cao là tốt nhưng cần phương pháp hiệu quả hơn.

    Đó là lý do mà sau hơn 2500 năm ra đời, bằng quá nửa thời gian của văn minh nhân loại, với biết bao đóng góp của các trí tuệ siêu việt nhất của nhiều thế hệ đông đảo Phật tử nối tiếp nhau, cái Khổ trên thế gian này chẳng hề vơi đi, mà ai cũng thấy là ngày càng phổ biến, trầm trọng mà thậm chí còn tiến tới nguy cơ hủy diệt toàn nhân loại.

    Vì vậy, theo tôi, một trong những hạn chế của Đạo Phật là tính hiệu quả không cao trong mục tiêu của nó là diệt khổ. Con người ngày càng tha hóa, xã hội ngày càng nhiễu nhương, cái khổ không giảm đi mà ngày càng khủng khiếp chẳng nhẽ không phải là những ví dụ cho tính thiếu hiệu quả của Đạo Phật đối với quảng đại chúng sinh, ít nhất là về mặt phương pháp thực hành, hay sao ?

    Lý giải về tình trạng thiếu hiệu quả này, các đệ tử nhà Phật cho rằng nguyên nhân là ở chỗ chúng sinh vẫn mê lầm, chịu không kiên tâm theo con đường mà Đức Phật đã chỉ dạy, để cho tham, sân, si, dục vọng … chi phối. Có người lại cho rằng, đó là do Đạo Phật quá thâm sâu mà chúng sinh, với trí năng có hạn, không thể lĩnh hội nổi. Cũng có người, do thấy sự thiếu hiệu quả đó, nghi ngờ tính đúng đắn của Đạo Phật. Hơn nữa, nhiều tôn giáo khác ra đời và phát triển không khỏi ảnh hưởng tới vị trí của Đạo Phật trong xã hội, và tất nhiên ảnh hưởng tới con đường Diệt khổ của chúng sinh mà Đức Phật đã chỉ dạy….

    Những lý do trên là có căn cứ. Nhưng dù vì bất cứ một lý do gì đi nữa thì cũng đều dẫn đến một kết luận chung là: Tính hiệu quả của Đạo Phật trong mục tiêu Diệt khổ có vấn đề.

    Thật vậy.

    Nếu Đạo Phật tự coi là Đạo Diệt khổ cho chúng sinh thì việc đầu tiên là phải làm sao cho chúng sinh khỏi mê lầm, kiên tâm theo lời chỉ dạy của tôn sư mà dần dần phá trừ chấp ngã, rũ bỏ tham, sân, si, dục vọng, … làm cho nhiều người thành tựu thì mới gọi là hiệu quả. Đằng này, nội một bước sơ đẳng đầu tiên là làm cho chúng sinh tin theo mà thực hiện cũng chưa tốt thì nói gì đến những khó khăn hay thành tựu tiếp theo. Như vậy rõ ràng là tính hiệu quả của Đạo Phật là có vấn đề. Thực ra, rất nhiều chúng sinh đã tin và thực hành theo giáo lý nhà Phật. Nhưng do tính hiệu quả quá thấp, công sức bỏ ra thì nhiều mà kết quả thu được thì ít, dần dần người ta mất kiên nhẫn, xa rời Phật pháp.

    Nếu nói Đạo Phật quá ư thâm sâu, quảng đại chúng sinh khó bề lãnh hội thì rõ ràng nó không phù hợp với đối tượng chính của nó là quảng đại chúng sinh, và do đó, tính thiếu hiệu quả là cái đương nhiên. Cũng do tính thiếu hiệu quả đó nên mới xuất hiện sự ghi ngờ tính đúng đắn của Đạo Phật trong không ít bộ phận quảng đại chúng sinh, đối tượng mà Đạo Phật nhắm tới.

    Nếu nói sự xuất hiện và phát triển của nhiều tôn giáo, học thuyết xã hội khác ảnh hưởng tới vị trí của Đạo Phật trong xã hội, ảnh hưởng tới nỗ lực diệt khổ trên con đường chánh đạo, thì đó là vì còn nhiều khoảng trống mà Đạo Phật không bao quát hết được do tính hiệu quả thấp gây nên, để cho các tôn giáo, học thuyết đó có đất phát triển.

    III. Thử tìm một phương pháp diệt khổ hiệu quả hơn

    Kính thưa các quí vị quan tâm!

    Theo logic ở phần trên thì thực tế Đạo Phật có hạn chế về mặt hiệu quả trong vấn đề mục tiêu của nó là Diệt khổ.

    Vậy, xuất hiện một câu hỏi tự nhiên rằng, liệu có tồn tại một học thuyết Diệt khổ khác hiệu quả hơn, hay ít nhất, một phương pháp diệt khổ khác với phương pháp của Đạo Phật mang lại hiệu quả tốt hơn hay không?

    Rõ ràng là chúng ta không thể kết luận chủ quan rằng, không tồn tại một phương pháp như thế. Quí vị có thể chất vấn tôi rằng, nếu tồn tại phương pháp diệt khổ hiệu quả hơn thì anh hãy chỉ ra đi!

    Thực ra, trong xã hội đang tồn tại rất nhiều những học thuyết Diệt khổ khác nhau nhưng không tuyên bố cụ thể mục tiêu Diệt khổ như Đạo Phật. Đạo Lão, Đạo Khổng, Đạo Hin đu, Đạo Thiên chúa, Đạo Hồi, …, các học thuyết xã hội, … đều có tham vọng mang lại hạnh phúc, tiêu trừ nỗi khổ của chúng sinh. Nhưng cũng giống như Đạo Phật, rõ ràng tính hiệu quả của chúng còn hạn chế vì sự thật hiển nhiên rằng, chúng sinh vẩn ngụp lặn trong bể khổ ngày càng mênh mông hơn, ngày càng sâu thẳm, khốc liệt hơn.

    Tôi không dám cuồng vọng, nhưng cũng cố theo tinh thần Vô trụ, Vô trước của nhà Phật để trình bày suy nghĩ của mình cho quí vị quan tâm “cười cợt” như sau:

    Trước tiên, tôi sẽ chưa bàn đến diệt khổ cho xã hội vì sẽ động chạm đến những vấn đề chính trị không thích hợp ở đây trong thời điểm hiện nay. Tuy nhiên, không loại trừ trường hợp tôi sẽ xin trình bày với quí vị quan tâm suy nghĩ của mình về vấn đề này trong một điều kiện khác.

    Tôi chỉ xin trình bày diệt khổ về phương diện cá nhân mà thôi.

    Muốn diệt Khổ, trước tiên ta phải biết Khổ là gì. Đây là luận điểm then chốt quyết định sự triển khai tư duy tiếp theo.

    Vấn đề này Đạo Phật đã trình bày hết sức tinh tế và sâu sắc trong Khổ đế. Thống nhất với những phân tích đó của Đức Phật, nhưng dưới một góc nhìn khác, tổng hợp những nhận thức và kinh nghiệm của bản thân mình, tôi xin đưa ra định nghĩa như sau:

    Khổ là gì?

    “ Khổ là trạng thái cảm nhận của con người, nảy sinh khi khả năng không đáp ứng được ý muốn của người đó”.

    Trong định nghĩa này, “khả năng” và “ý muốn” cần phải được hiểu theo nghĩa rộng và tinh tế chứ không đơn thuần là vật chất, thô thiển. Thật ra, để hiểu rõ hơn định nghĩa này cần phân tích nhiều trường hợp khác nhau của Khổ, nhưng trong giới hạn phạm vi bài viết, tôi mong quí vị tự khảo sát.

    Như vậy, khi khả năng nhỏ hơn ý muốn, con người sẽ cảm thấy khổ. Ý muốn càng cao, khi khả năng không đáp ứng thì sự khổ não càng lớn. Khi khả năng quá nhỏ so với ý muốn thì ngoài khổ não còn có cảm giác tuyệt vọng xuất hiện. Khi khả năng nhỏ hơn ý muốn không nhiều thì khổ não đi kèm tiếc nuối….

    Ngược với khổ là hạnh phúc!

    “ Hạnh phúc là trạng thái cảm nhận của con người, nảy sinh khi khả năng đáp ứng được ý muốn của người đó”.

    Như vậy, khi khả năng lớn hơn ý muốn, con người sẽ cả thấy hạnh phúc. Khi khả năng quá lớn so với ý muốn thì ngoài hạnh phúc còn có cảm giác nhàm chán xuất hiện. Khi khả năng lớn hơn một ý muốn mãnh liệt không nhiều thì hạnh phúc thật là to lớn. …

    Tóm lại, tương quan giữa khả năng và ý muốn là nguyên nhân, nguồn gốc của khổ não và hạnh phúc.

    Bất cứ một nỗi khổ não nào, một niềm hạnh phúc nào, từ thô thiển, giản đơn cho đến phức tạp tinh tế của con người cũng đều có thể phân tích đi đến nguyên nhân, nguồn gốc của nó là mối tương quan giữa khả năng và ý muốn của người đó.

    Để đơn giản hóa lý luận, ta thử dùng phương pháp diễn đạt toán học mô tả logic trên về cái Khổ như sau:

    Giả sử gọi X là đại lượng đặc trưng cho khả năng của một con người, Y là đại lượng đặc trưng cho ý muốn của người đó. Lập hiệu số:

    Z = X – Y

    Khi Z>= 0, khả năng đáp ứng được ý muốn, trạng thái khổ não không xuất hiện, thay vào đó là trạng thái hạnh phúc. Chất lượng của trạng thái hạnh phúc này phụ thuộc vào độ lớn của Y và Z. Nếu Z quá lớn, kèm với hạnh phúc là sự nhàm chán. Nếu Z không quá lớn thì hạnh phúc sẽ tràn trề khi Y lớn, sẽ nho nhỏ khi Y nhỏ.

    Khi Z < 0, khả năng không đáp ứng được ý muốn, trạng thái khổ não xuất hiện. Đặc tính của sự khổ não này phụ thuộc vào giá trị của Z và Y. Nếu Z quá âm, đi kèm khổ não là tuyệt vọng. Nếu Z không quá âm, khổ não sẽ lớn lao cùng tiếc nuối khi Y lớn, sẽ chỉ là khó chịu khi Y nhỏ.

    Tương quan giữa khả năng và ý muốn xác định trạng thái khổ não hay hạnh phúc được mô tả trong bảng sau:

    Z = X - Y

    Z < 0: Khổ não

    Z >= 0: Hạnh phúc

    Z << 0, Y lớn: Tuyệt vọng

    Z << 0, Y nhỏ: Tự ty

    Z >> 0, Y lớn: Tự mãn

    Z >>0, Y nhỏ: Nhàm chán

    Z >≈ 0, Y lớn: Rất hạnh phúc

    Z <≈ 0, Y lớn: Rất khổ não

    Z >≈ 0, Y nhỏ: niềm vui nho nhỏ

    Z <≈ 0, Y lớn: Khó chịu

    Vì vậy, muốn diệt được Khổ chúng ta chỉ cần làm cho Z >= 0 là đủ.

    Vì Z là một hiệu số: Z = X – Y nên, để điều chỉnh Z chúng ta có 2 phương pháp: Điều chỉnh khả năng X và điều chỉnh ý muốn Y sao cho Z >= 0.

    Trên cơ sở đó, để diệt khổ, trong cuộc sống chúng ta cần:

    - Một mặt không ngừng nâng cao năng lực (tăng X) của mình về mọi mặt bằng con đường tu tập, phấn đấu học hỏi, nghiên cứu, lao động, tu dưỡng đạo đức, gúp đỡ mọi người, …

    - Mặt khác luôn rèn luyện khả năng làm chủ ham muốn (Y) của bản thân, giữ sao cho lòng ham muốn đó không bao giờ vượt quá khả năng cho phép (X) bằng nhiều con đường tu tập, rèn luyện khác nhau.

    Để diệt Khổ, mỗi người có thể vận dụng tất cả tri kiến phù hợp của mình trong mọi lĩnh vực, từ tín ngưỡng, tâm linh cho tới khoa học kỹ thuật, xã hội, đạo đức, văn hóa,... không phân biệt học thuyết lớn nhỏ nào, dân tộc nào, ... miễn là hiệu quả, vào việc nâng cao năng lực X, điều tiết ham muốn Y sao cho X - Y = Z >= 0, trong hiện tại cũng như vận động tới tương lai để kết quả bền vững cho mình và cho người trong mọi hoàn cảnh.

    Như vậy, mọi thành quả văn minh của con người đều có thể hữu ích trong phương pháp diệt khổ mà tôi đề nghị. Trong xã hội, không chỉ có Phật giáo mới quan tâm tới khổ não của con người. Đạo Lão, Đạo Khổng, Đạo Hin đu, Đạo Thiên chúa, Đạo Hồi, Đạo Cao đài, Đạo Hòa Hảo, … cho tới rất nhiều các học thuyết xã hội khác đều có chung mục tiêu này với những phương pháp và chủ trương khác nhau và mỗi cái đều có cái hay riêng cùa nó. Phương pháp diệt khổ mà tôi đề nghị xử dụng mọi tri kiến có thể được vào mục tiêu Z >= 0, mở ra khả năng tận dụng được cái hay của tất cả những lý thuyết đó trong vấn đề diệt khổ.

    Nếu chúng ta thực hành được như thế thì chúng ta đã hoàn toàn diệt khổ, trở nên hạnh phúc.

    Nói thì đơn giản nhưng thực hành được hai điều đó cũng không hề đơn giản.

    IV. Phương pháp diệt khổ mới và Đạo Phật

    Kính thưa các quí vị quan tâm!

    Theo Đạo Phật, nguồn gốc sâu xa của Khổ chính là Vô minh (một khái niệm mà muốn hiểu nó cũng hết sức khó khăn đối với những tư duy bình thường) và Đạo Phật đề ra nhiều luận điểm hết sức tinh tế, cao siêu, nhiều phương pháp tu tập hữu ích để quét sạch Vô minh, mà suy cho cùng, cái chính là tiêu trừ được ham muốn của bản thân, diệt được bản ngã, Vọng tâm. Nói cách khác là làm cho Y = 0. Khi Y = 0 thì đương nhiên Z = X – Y >= 0 và do đó cái Khổ bị tiêu diệt.

    Như vậy, con đường diệt Khổ của Đạo Phật là con đường làm cho Y = 0. Con đường này quá lý tưởng, và do đó, quá khó khăn đối với quảng đại chúng sinh. Đó là lý do dẫn đến tính thiếu hiệu quả của Đạo Phật trong mục tiêu diệt Khổ.

    Thực ra, để diệt Khổ không nhất thiết phải làm cho Y = 0 mà chỉ cần sao cho Y <= X là đủ, và đó là con đường mà người viết đề nghị. Rõ ràng con đường này cũng đạt đến mục tiêu Diệt Khổ, tuy không hề đơn giản nhưng mức độ khó khăn đã giảm đi rất nhiều, kết quả là có thể rất nhiều người có khả năng thực hiện được diệt khổ trong chính cuộc đời ngắn ngủi của mình. Do đó, chắc chắn, tính hiệu quả tăng lên rất nhiều trên con đường diệt khổ. Hơn nữa, với góc độ này, chúng ta còn có một ý thức rõ ràng về hạnh phúc (Khi Z >= 0) để mưu cầu nó và khi quan niệm đúng thì đời không chỉ là bể khổ như nhiều Phật tử hay nói mà đời còn là đại dương hạnh phúc.

    Như vậy, phương pháp diệt khổ ở trên hoàn toàn không mâu thuẫn với Đạo Phật, do đó, những thành tựu của Phật giáo trong lĩnh vực diệt khổ hoàn toàn có thể được áp dụng hiệu quả trong phương pháp này.

    Việc nâng cao năng lực X bằng tu tập, điều tiết ham muốn Y bằng cách loại bỏ tham, sân, si như Đức Phật chỉ dạy hoàn toàn thích hợp với phương pháp diệt khổ mà tôi đề nghị.

    Tuy nhiên, phương pháp này và Phật giáo trong diệt khổ có một số khác biệt, mà bản chất sự khác biệt đó là ở chỗ: mọi tu tập của hành giả Phật giáo luôn nhắm tới diệt trừ cho hết tham, sân, si, hay làm cho Y = 0, còn phương pháp của tôi thì chỉ cần Y <= X là đủ. Đương nhiên, khi tu tập theo phương pháp của Đạo Phật mà đạt được Y = 0 thì cũng đồng thời thỏa mãn mục tiêu của tôi là Y < X và khổ cũng hết. Tuy nhiên, phương pháp đó quá khó khăn, chẳng mấy người làm được. Nhưng nếu mục tiêu Y = 0 được điều chỉnh thành Y <= X thì có nhiều người làm được, và khi đó họ cũng hết khổ và hạnh phúc.

    Ví dụ như đối với chữ tham, Đạo phật đòi hỏi hành giả phải triệt tiêu nó. Hành giả là những người bình thường, dù có nhận thức được cái mầu nhiệm của diệt chữ tham, nhưng họ cũng không thể diệt hết tham được. Lực bất tòng tâm, họ vẫn khổ khi không làm được điều này, khi thấy mình vẫn còn tham, mặc dù có thể, lòng tham của họ so với người khác đã giảm đi rất nhiều. Nhưng trong phương pháp của tôi, họ không cần phải triệt tiêu chữ tham mới khỏi khổ. Họ chỉ cần tu tập sao cho chữ tham ấy nhỏ hơn năng lực của họ là đủ, hoặc họ chỉ cần rèn luyện sao cho năng lực của họ đáp ứng được chữ tham đó một cách lâu dài. Được như vậy, họ cũng sẽ hết khổ và hạnh phúc.

    Tôi xin lưu ý rằng, cái cách diệt khổ đó phải sao cho không gây nên khổ cho kẻ khác thì mới lâu dài, nếu không, cái khổ của kẻ khác đó sẽ tác hại đến năng lực (X) của hành giả trong tương lai, phá vỡ cái cân bằng diệt khổ Y <= X đó và sự khổ của hành giả lại xuất hiện. Tức là, anh diệt khổ cho mình nhưng không được gây cái khổ cho người khác. Hơn nữa, khi diệt khổ cho mình anh cũng cần giúp người khác diệt khổ cho họ. Mặt khác, phải luôn luôn tu tập, trau dồi bản lĩnh, năng lực, đạo đức để giữ vững được cái cân bằng diệt khổ X – Y = Z <= 0, có thể thích ứng với mọi biến động sẽ sảy ra gây phương hại cho cái thế cân bằng ấy. Như vậy, cái năng lực (X) của anh mới bền vững, tránh được việc, cái khổ của người khác gây tồn hại cho năng lực của mình sau này.

    Ví dụ thô thiển thế này: Khi anh làm ra nhiều tiền để thỏa mãn nhu cầu của mình, để khỏi khổ về vật chất trong cuộc sống, thì cần đảm bảo rằng, đồng tiền đó được làm ra bằng chính năng lực của mình, anh không được chiếm đoạt, chèn ép, bóc lột kẻ khác, không tước đi cơ hội kiếm tiền của họ, phải luôn khiêm tốn, không chọc giận tự ái, khêu gợi lòng ham muốn đố kỵ của họ, thương yêu, giúp đỡ, an ủi họ khi họ khó khăn, … phải luôn trau dồi năng lực, tu dưỡng đạo đức, khả năng làm chủ ham muốn của mình ngày càng tốt hơn để đề phòng khi cái cân bằng diệt khổ Y <= X hiện tại của mình bị phá vỡ thì phải thiết lập và thích ứng ngay với sự cân bằng mới, … Được như vậy, cái hết khổ của anh mới bền vững, lâu dài, thì đó có khác gì được giải thoát khỏi khổ về mặt tiền bạc.

    Cầu mà không được thì khổ.

    Yêu mà phải xa nhau là khổ.

    Ghét mà phải đối diện là khổ.

    Ba cái khổ não này rõ ràng là cái khổ do ý muốn (Y - cầu mong, muốn gần, muốn xa) không được khả năng thực hiện (X - đạt được, gần nhau, xa nhau) đáp ứng, tức là Y < X hay Z < 0. Nếu muốn tránh 3 cái khổ này thì chỉ cần: Hoặc nâng cao khả năng (thực hiện được mình cầu, có thể gần nhau, có thể xa nhau) hoặc từ bỏ, điều chỉnh ý muốn ( giảm cầu cho phù hớp với điều kiện, không mong gần nữa, không sợ gần nữa) là đủ. Không nhất thiết thực hiện con đường quá chông gai theo Đạo Phật là tu hành để cho không có nhu cầu nữa, không yêu nữa, không ghét nữa.

    Sinh, bệnh, già mà chết là khổ do người đời có mong muốn trường sinh, bất lão, không bệnh. Mong muốn đó quá lớn so với năng lực của họ vì họ vẫn phải già bệnh và chết (Z < 0). Muốn diệt nỗi khổ này, người ta cần đều chỉnh ý muốn: Không sợ chết nữa, coi chết như về, coi đó như là qui luật tất yếu, bình thường của chúng sinh, hoàn thành mỹ mãn những trách nhiệm trong cuộc sống, coi cái chết như là bắt đầu một giai đoạn mới có thể có rất nhiều thú vị ...; Giữ gìn sức khỏe, sống thật dưỡng sinh, học hành y thuật, coi bệnh là điều tất yếu, bình thường, thấy rằng còn nhiều người khác bệnh hơn, ...; Vui thú tuổi già, giữ gìn sức khỏe, nuôi dạy con cái nên người, ...; Không nhất thiết phải theo con đường quá khó khăn của Đạo Phật là phải tu hành để đạt được Giải thoát.

    Vể ngũ dục, muốn khỏi khổ chỉ cần điều chỉnh cái dục ấy cho phù hợp với điều kiện, khả năng hiện tại là đủ. Không nhất thiết phải từ bỏ gia tài vào núi tu hành.

    Nói chung, mọi nỗi khổ khác đều có thể phân tích tương tự, là tương quan giữa khả năng và ý muốn làm cho Z < 0 mà thôi.

    Tóm lại, qua những ví dụ thô thiển cho dể hiểu đó, chắc quí vị cũng hình dung phần nào phương pháp diệt khổ mà tôi đề nghị. Nó tuy không huyền bí thâm sâu, rốt ráo như Phật giáo nhưng đưa đến cùng một kết quả là diệt khổ, đạt được hạnh phúc và quan trọng là hiệu quả hơn do nhiều người (nhưng không phải là tất cả) có thể làm được. Đó là những bước đi thực tế trên con đường xa thẳm tiến tới giải thoát cuối cùng.

    Rõ ràng những phương thức và kiến thức tu tập của Phật giáo sẽ rất hữu ích cho phương pháp diệt khổ này, tuy rằng không hoàn toàn giống nhau, đặc biệt là khả năng chế ngự ham muốn (Y). Một hành giả Phật giáo, tuy chưa thành tựu chứng quả diệt khổ, nhưng sau bao năm tu hành cho Y về 0 mà vẫn chưa được, thì với công phu cố điều tiết Y về 0 ấy, chỉ còn phải điều tiết cho Y nhỏ hơn X thì thật dễ dàng. Như vậy, hành giả đó tuy chưa thể thoát khổ bằng phương pháp Phật giáo, nhưng dễ dàng thoát khổ bằng phương pháp mà tôi đề nghị.

    Để dễ hình dung, tôi xin đưa ra ví dụ so sánh như sau:

    Một ngày kia có người hỏi bạn: Có bao nhiêu hạt cát trong đống cát bạn vừa xe về chuẩn bị xây nhà. Để trả lời câu hỏi đó bạn có hai phương pháp:

    - Phương pháp 1: Bạn ngồi đếm từng hạt cát cho đến khi hết đống cát. Rõ ràng phựơng pháp này chắc chắn thàng công và bạn có thể đưa ra kết quả chính xác nhất về số lượng hạt cát trong đống cát đó.

    - Phương pháp 2: Bạn lấy 1cm3 cát và ngồi đếm số hạt cát trong 1cm3 đó. Sau đó bạn tính xem thể tích đống cát đó là bao nhiêu cm3 rồi nhân với số hạt cát bạn vừa đếm được thì ra số hạt cát trong đống cát.

    Rõ ràng phương pháp 2 cho kết quả chỉ là gần đúng, không chính xác bằng phương pháp 1 nhưng khả thi hơn. Phương pháp 1 chắc chắn được và cho kết quả chính xác tuyệt đối nhưng không khả thi và hầu như chẳng ai làm được.

    Nếu Diệt khổ cũng khó khăn như việc xác định số hạt cát trong đống cát thì Đạo Phật đã đề nghị với bạn phương pháp 1 còn người viết đề nghị với bạn phương pháp 2.

    Kính thưa các quí vị quan tâm!

    Trên đây là trình bày của tôi về phương pháp diệt khổ trên phương diện cá nhân. Diệt khổ trên phương diện xã hội tôi xin được trình bày với quí vị vào dịp khác thích hợp hơn.

    Chỉ khi nào hai lĩnh vực diệt khổ này (cá nhân và xã hội) đi vào cuộc sống thì, theo tôi, bể khổ vô bờ mà chúng sinh đang ngàn đời ngụp lặn, rên xiết trong đó mới cạn dần dần và từ từ mất hẳn (hay ít nhất, cũng gần như mất hẳn). Thay vào đó là đại dương hạnh phúc ngọt ngào.

    1 person likes this

  15. Chào anh Vô Trước...

    Cuối câu đề báo "KHÁM PHÁ TẬN CÙNG VỀ CHIẾC BÁNH CHƯNG ?" là dấu hỏi (?) không phải dấu than (!) cũng không phải dấu than hỏi (!?)

    Và cuối bài viết (chữ đậm in đỏ) cũng đưa ra vấn đề mở ngỏ...

    Không phải là Kết luận...100%... là tận cùng...!

    Nên TB nghĩ... ông Thùy rất "chỉnh chu" trong bài viết...

    Có thấy "đao to, búa lớn" chỗ nào đâu...!?

    Thân mến...!

    Thiên Bồng...

    Chào TB.

    Chỉ là xảo thuật thôi. Giống mấy tay nhà báo lá cải, lập lờ đánh lận con đen. Không chân chính !!! (tuy rằng không phạm luật).

    Tuy nhiên mình cũng đã thông cảm rồi mà.

    Qua đây cũng nên chú ý rằng, chỉ một chút "sơ sẩy" kiểu này, tổn hại rất nhiều uy tín đã dày công tích lũy. Do đó, trong học thuật, viết nghiêm túc, chân thành, xuất phát từ cái tâm không phải ai cũng làm được.

    Thân mến!


  16. Votruoc thân mến.

    Không thể dài hơn được. Đúng mốc chuẩn lịch sử lập quốc là gần 5000 năm văn hiến. Trước đó là lịch sử phát triển. Thuyết Âm Dương Ngũ hành và lịch sử Việt tộc phải gắn liền với nhau. Đây là mối liên hệ rất hữu cơ không thể tách rời được. Nếu tách ra thì mọi người sẽ không hiểu gì cả.

    Bởi vì thuyết Âm Dương ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt thì mới thể hiện được tính khoa học của nó so với những gì còn lại trong bản văn chữ Hán.

    Có lẽ không nên rạch ròi thứ tự sự phục hồi trước sau như trên. Ý em hình dung như bài trước là:

    "Lý thuyết mới ra đời dựa trên những luận điểm của học thuyết ADNH Lạc Việt, được kiểm chứng bằng những kết quả thực nghiệm khoa học, ứng dụng cho phép khoa học khi đi sâu vào những lĩnh vực mà nó đang vấp phải những mâu thuẫn, bế tắc.

    Khi giải quyết tốt được những bế tắc này, giới khoa học mới chợt nhận thấy sự kỳ vĩ của học thuyết ADNH và lao vào nghiên cứu nó. Trong quá trình nghiên cứu đó, họ mới thấy được chân tướng sự thật, ai mới là chủ nhân thực sự của học thuyết ADNH, ai mới chính là kẻ mạo nhận. Lịch sử sẽ được nhận thức lại, phục hưng Văn hóa Việt tộc thực sự bắt đầu"

    Có nghĩa là, sự phục hồi văn hiến Việt tộc và học thuyết ADNH sẽ diễn ra gần như song song, cái này là đông lực và điều kiện của cái kia. Nhưng đối với giới nghiên cứu khoa học thì phục hồi học thuyết ADNH sẽ là động lực phục hồi văn hiến Việt tộc và phục hồi những giá trị đích thực của văn hiến Việt tộc là điều kiện để phục hồi học thuyết ADNH, bởi vì họ sẽ chẳng thể phục hồi học thuyết ADNH (mong muốn thuần túy khoa học của họ) thành công nếu không phục hồi văn hiến Việt và quá trình phục hồi học thuyết ADNH sẽ làm cho những giá trị Văn hiến Việt tọc trở nên rõ ràng và có ý nghĩa hơn (đương nhiên, điều này cũng rất hấp dẫn giới nghiên cứu khoa học). Quan hệ hữu cơ trong quá trình này là như thế. Nhưng đó mới là những hình dung sơ bộ thôi, chắc còn phức tạp hơn nhiều.

    Kính anh!


  17. Vấn đề cứ phải là Việt sử 5000 năm văn hiến đã. Thuyết Âm Dương Ngũ hành không thể từ trên trời rơi xuống được. Nó phải có lịch sử của nó chứ nhỉ!

    Lý thuyết thống nhất đấy. Hì.Posted Image

    Đúng vậy! Nhưng cái gì cũng có quá trình của nó, từ thấp tới cao. Các cụ nói "Dục tốc bất đạt " mà.

    Logic thực chất là:

    " Việt sử 5000 năm (em nghi ngờ còn dài hơn) văn hiến" --- > Thuyết ADNH ---- > Vật lý lý thuyết.

    Nhưng quá trình phục hồi sẽ là:

    Vật lý lý thuyết --- > Thuyết ADNH --- > Lịch sử Việt 5000 năm Văn hiến.

    Kính anh.


  18. Enstein đã sai?

    Baodatviet.vn

    Nhà vật lý thiên tài người Anh, Stephen Hawking – được xem là bộ óc vĩ đại nhất còn sống, đã khiến giới khoa học rung chuyển khi đảo ngược công trình nghiên cứu cả đời của ông để nói rằng hố đen vũ trụ không tồn tại.

    Những hố đen phát sáng trong vũ trụ

    Sẽ ra sao nếu bạn rơi vào hố đen vũ trụ?

    Học thuyết vật lý cổ điển cho rằng không có năng lượng hoặc thông tin nào có thể thoát ra khỏi lỗ đen vũ trụ nhưng nguyên lý vật lý lượng tử lại tuyên bố là có thể. Đây là mâu thuẫn gây nên nhiều cuộc tranh luận giữa các nhà vật lý học trong suốt nhiều năm qua.

    Trong bài báo được đăng tải gần đây có tên "Thông tin về sự tồn tại và dự báo về lỗ đen", tiến sỹ Hawking đã đưa ra giải pháp cho mâu thuẫn trên: "thay vì nuốt chửng thông tin và năng lượng một cách vĩnh viễn, lỗ đen sẽ cắt xén chúng , sau đó giải phóng trở lại vũ trụ dưới một hình thức khác hoàn toàn ban đầu và không thể nhận ra."

    Theo các học thuyết cổ điển, lỗ đen được cho là có chứa một "Chân trời sự kiện". Đây là một ranh giới tuyệt đối mà ngay cả ánh sáng cũng không thể thoát nổi lực hấp dẫn vô cùng lớn từ phần lõi dày đặt của lỗ đen.

    Posted Image

    Ảnh đồ họa về Hố đen trong vũ trụ

    Nhưng Hawking đã phá vỡ ý tưởng này, nói rằng thay vì có một đường chân trời sự kiện như trên, chúng ta nên nghĩ tới một "đường chân trời ít rõ ràng hơn".

    Hawking viết: "Việc không có các đường chân trời sự kiện có nghĩa sẽ không có các hố đen - vốn nhốt giam giữ không cho ánh sáng chạy vào vĩnh hằng."

    Ông nói rằng các tia sáng muốn chạy thoát khỏi tâm của hố đen sẽ bị giữ lại giống như bị mắc kẹt trên một chiếc máy tập chạy và chúng sẽ dần bé lại thông qua việc phát xạ.

    Hawking nói với tạp chí khoa học Nature rằng: "Trong lý thuyết cổ điển, không có sự trốn thoát khỏi hố đen. Nhưng thuyết lượng tử lại cho phép năng lượng và thông tin thoát khỏi hố đen."

    Được biết, công trình mới nhất của Hawking đã được truyền cảm hứng từ một bài phát biểu ông thực hiện qua Skype, gửi tới một cuộc họp ở Viện nghiên cứu Vật lý Lý thuyết Kavli ở Santa Barbara, California, vào tháng 8/2013.

    Ông định giải quyết nghịch lý tường lửa hố đen, vốn đã khiến các nhà khoa học đau đầu trong gần 2 năm qua. Vấn đề này hình thành từ một "thử nghiệm tư duy", nơi các nhà khoa học cố tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra nếu một phi hành gia không may mắn rơi vào một hố đen.

    Posted Image

    Stephen Hawking bị bệnh bại liệt, nhưng được coi là bộ óc vĩ đại nhất hiện nay

    Theo đó, nếu lỗ đen tồn tại dưới hình thức mà Hawking dự đoán thì giả sử có một phi hành gia vũ trụ vô tình rơi vào trong lỗ đen. Theo vật lý lượng tử, phi hành gia xấu số trên sẽ ngay lập tức bị thiêu rụi bởi một "bức tường lửa" do các bức xạ cường độ cao tạo ra.

    Tuy nhiên, thuyết tương đối cổ điển lại cho rằng cơ thể của phi hành gia sẽ bị kéo dài liên tục như mì ống cho đến khi bị nghiền nát tại lõi của lỗ đen. Lý thuyết mới của Hawking sẽ san bằng mâu thuẫn giữa 2 học thuyết vì nếu không có "chân trời sự kiện" thì cũng không có "bức tường lửa".

    Bàn về công trình nghiên cứu về hố đen của Hawking, chuyên gia hố đen Don Page của Đại học Alberta ở Edmonton, Canada, thừa nhận: "Bức tranh Hawking vẽ ra nghe rất hợp lý."

    Nhưng nhà vật lý ly thuyết Joseph Polchinski của Viện Kavli lại nghi ngờ và khẳng định: Trong thuyết tương đối của Einstein, đường chân trời hố đen không quá khác biệt so với các phần khác của vũ trụ. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ thấy không gian và thời gian thay đổi bất thường ở cạnh mình. Hiện tượng này quá hiếm trên quy mô lớn."

    Raphael Bousso, một nhà vật lý ly thuyết ở Đại học California, Berkeley và là học trò cũ của Hawking thừa nhận nhiều nhà vật lý sẽ thấy công trình nghiên cứu mới của Hawking thật "đáng ghét."

    Ông nói: "Ý tưởng rằng không có điểm nào, từ đó bạn không thể trốn thoát khỏi hố đen, thậm chí còn cực đoan hơn và cho thấy nhiều vấn đề hơn lý thuyết đã tồn tại về tường lửa.

    Nhưng thực tế rằng chúng ta vẫn còn đang thảo luận những câu hỏi như thế, 40 năm sau khi các nghiên cứu đầu tiên của Hawking về hố đen và thông tin, là minh chứng cho thấy tầm quan trọng khổng lồ của chúng".

    T.M (Tổng hợp)

    =======================

    LÝ HỌC VÀ LỖ ĐEN.

    "Lỗ đen không hoàn toàn đen" đây là nhận định của ông Hawking và điều này Lý học cũng xác định từ lâu. Chính bởi căn cứ trên các phương pháp tiên tri của Lý học. Nếu lỗ đen hoàn toàn đen thì về lý thuyết không thể tiên tri vì những thông tin sẽ biến mất. Thậm chí người ta cũng không thể nhận thức được quá khứ và tương lai. Thực tế ứng dụng những phương pháp tiên tri của Lý học Đông phương đã cho thấy: Lỗ den không làm mất thông tin. Vậy tại sao lại là "lỗ đen" - nơi ngay cả ánh sáng cũng không thể tồn tại?

    Thực chât "lỗ đen" chính là xoáy trong một khối vật chất đang vận động trong vũ trụ. Chúng ta có thể lấy những mô hình gần gũi như: tâm bão, xoáy nước trên mặt sông để hình dung về "lỗ đen".

    Posted Image

    Đương nhiên tất cả mọi dạng tồn tại của vật chất kể cả có khối lượng và một số trạng thái tồn tại của vật chất phi khối lượng - mà Lý học mô tả bằng khái niệm "Khí" (Xin lưu ý là khí trong Lý học cũng được phân loại và chỉ có một số dạng khí bị hút vào đấy) - đều bị hút vào vòng xoáy này, kể cả ánh sáng. Nhưng bị hút vào "hố đen" không có nghĩa là nó biến mất. Chỉ có thể một số cấu trúc vật chất - gồm cả có khối lượng và phi khối lượng - thay đổi cấu trúc. Nhưng thông tin không mất đi.

    Không thể kiếm chứng được bản chất "lỗ đen" bằng các phương tiện kỹ thuật để có thể quan sát trực quan. Cho nên các nhà khoa học mới dùng thuật ngữ "thử nghiệm tư duy". Từ đó, một "thử nghiệm tư duy" được coi là đúng - nếu nó phù hợp với tiêu chí khoa học cho một giả thuyết khoa học.

    Đây chính là phương pháp chứng minh Lý học Đông phương thuộc về nền văn hiến Việt của tôi và chữ Việt cổ của bác Đỗ Văn Xuyền. Không hề có tính may mắn trong những trường hợp này. Vấn đề "Hạt của Chúa"; "sự sống trên sao Hỏa" cũng vậy.

    Lý thuyết về khởi nguyên cũng như kết thúc của Vũ trụ, BigBang, Lỗ đen Vũ trụ … của Khoa học hiện đại cho tới thời điểm này đều không đúng với thực tế khách quan sẽ được phát hiện, tất yếu xuất hiện mâu thuẫn, bị bác bỏ, cho dù các nhà khoa học có cố gắng, cầu thị chỉnh sửa … tới đâu cũng vậy thôi. Nguyên do là toàn bộ những cơ sở vật lý cơ bản nhất mà khoa học biết đến và dùng để xây dựng lên những lý thuyết đó cho đến nay đều còn bất cập, thiếu sót. Miền giới hạn của chúng không bao phủ lên những điều kiện vật lý của Hố đen, khởi nguyên và kết thúc … của Vũ trụ.

    Nếu một lý thuyết Vật lý mới, tổng quát hơn không xuất hiện thì mọi cố gắng đều trở nên vô ích.

    Theo sự phát triển, sớm muộn gì thì lý thuyết mới đó cũng ra đời, nhưng có lẽ sự ra đời của nó sẽ rất độc đáo. Không như các lý thuyết Vật lý khác xuất hiện trên cơ sở giải thích những mâu thuẫn giữa kết quả thực nghiệm của các nhà khoa học và lý thuyết cũ. Lý thuyết mới ra đời dựa trên những luận điểm của học thuyết ADNH Lạc Việt, được kiểm chứng bằng những kết quả thực nghiệm khoa học, ứng dụng cho phép khoa học khi đi sâu vào những lĩnh vực mà nó đang vấp phải những mâu thuẫn, bế tắc.

    Khi giải quyết tốt được những bế tắc này, giới khoa học mới chợt nhận thấy sự kỳ vĩ của học thuyết ADNH và lao vào nghiên cứu nó. Trong quá trình nghiên cứu đó, họ mới thấy được chân tướng sự thật, ai mới là chủ nhân thực sự của học thuyết ADNH, ai mới chính là kẻ mạo nhận. Lịch sử sẽ được nhận thức lại, phục hưng Văn hóa Việt tộc thực sự bắt đầu, lời tiên tri của bà Vanga về sự trở lại của một học thuyết cổ xưa sẽ thành hiện thực.

    Hy vọng rằng không phải chờ lâu quá!

    Thân ái!


  19. @ Anh Thiên Sứ:

    Mong Votruoc đừng hiểu lầm, khi lấy bài của Votruoc để phân tích.

    Em hiểu anh mà! Anh cứ thoải mái đi. Em là người không câu nệ tiểu tiết nhưng lại rất chú ý bản chất.

    @ Hoangnt:

    Phải xả năng lượng ra - đăng một ít nghiên cứu lên mạng, thời đại internet phổ cập nên tự thân nó lưu trữ, chưa kể vũ trụ cũng lưu trữ nữa.

    Tôi cũng muốn lắm, nhưng mất thời gian ghê lắm, mà đang phải "chạy ăn từng bữa toát mồ hôi". Đành phải chờ vậy chứ biết làm sao!

    Thân ái!

    1 person likes this

  20. Vôtruoc thân mến.

    Tôi tìm được cuốn sách rồi. Nguyên văn đoạn đó ghi như sau:

    .

    Đối chiếu với những kiến thức của Lý học Việt về khởi nguyên của vũ trụ (Lý học Tàu không bàn đến nữa) - thì chỉ trùng hợp đoạn đầu với tri thức khoa học hiện đại qua sự miêu tả của Gs Trịnh Xuân Thuận: "năng lượng của vũ trụ khởi thủy là vô cùng nhỏ". Nhưng sai lầm chính ở đoạn sau, khi tri thức khoa học hiện đại đưa ra một định lượng cho giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ:

    Ý tưởng này sai về mặt lý thuyết.

    Chính khoa học hiện đại phát triển đến ngày nay đã hình thành những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Nó trở thành chuẩn mực để phục hồi những giá trị tri thức đích thực trong nội hàm và xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn hiến Việt. Nhưng khi Thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn hiến Việt được phục hồi thì nó lại đủ tư cách để đối chiếu với tri thức khoa học hiện đại để thẩm định trở lại:

    * "Không có Hạt của Chúa " - với cách hiểu là không có điều kiện duy nhất tạo ra vật chất có khối lượng.

    * "Không có sự sống trên sao Hỏa".

    * "Không có nước trên mặt Trăng" .

    * Và bây giờ là :"Không thể có định lượng dù vô cùng nhỏ cho sự khởi nguyên của vũ trụ sau giây "O". Lý học Việt gọi là "Lưỡng Nghi".

    Ngay cả cách mô tả trạng thái giây "O" của Lý học Việt và trạng thái Big bang của khoa học hiện đại cũng khác nhau. Hay nói cách khác: Lý học có sự mô tả từ giây "O" đến 10 lũy thừa - 47 giây sau giây "O". Còn khoa học hiện đại thì không mô tả được.

    Còn giai đoạn sau 10 "lũy thừa" - 47 giây, hai bên khoa học và Lý học Việt giống nhau về hình tướng (Vụ nổ lớn với các loại bức xạ). Nhưng cách hiểu về bản thể tương tác và cấu trúc vũ trụ khác hẳn nhau. Đấy là tính ưu việt của văn minh phương Đông thể hiện ở một lý thuyết cổ xưa, nhân danh nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử.

    Anh Thiên Sứ thân mến!

    Dù không muốn, ta cũng phải thừa nhận rằng, học thuyết ADNH dù đã từng kỳ vĩ đến đâu thì cũng đã thất truyền, chỉ còn rơi rớt lại một số ứng dụng và ý tưởng cơ bản mà thôi. Phục hồi nó là thiên nan vạn nan. Cho dù có phục hồi được thì những khái niệm của nó cũng vô cùng xa lạ với giới khoa học ngày nay, chẳng thể cùng nói chuyện. Anh không thể dùng tiếng Việt thời Hùng Vương để nói chuyện với cũng chính người Việt thời nay được. Họ có vô cùng nhiều những lý do mà theo họ, rất xác đáng, để không tin vào học thuyết ADNH. Dù anh có hiểu biết ADNH thâm sâu đến đâu, có chỉ ra nhiều điều đúng đắn đến đâu nhưng chỉ bằng ngôn ngữ của anh, không phải bằng ngôn ngữ của họ, họ không hiểu thì họ vẫn phớt đi chẳng thèm quan tâm. Họ sẽ cho rằng anh ăn may nếu anh đúng và ném đá tơi bời nếu anh sơ suất dù rất nhỏ (anh hiểu chuyện này quá mà !). Tất nhiên, anh có thể cũng chẳng thèm quan tâm đến họ nữa, nhưng ngặt một nỗi là anh vẫn muốn phục hồi học thuyết ADNH vì nhiều lý do. Mà muốn phục hồi học thuyết ADNH thì phải cần đến sức lực của toàn thể loài người, trong đó giới khoa học có vai trò quyết định, chứ một vài cá nhân thì chẳng đi đến đâu. Do đó, vẫn phải thuyết phục giới khoa học về tính ưu việt của học thuyết ADNH nếu muốn phục hồi nó.

    Muốn thuyết phục giới khoa học thì cần phải giải quyết được những vấn đề của họ, đang thu hút tâm trí họ, và quan trọng nhất là phải dùng ngôn ngữ của họ trên cơ sở những ý tưởng đúng đắn của học thuyết ADNH. Rất may rằng, học thuyết ADNH với tư cách học thuyết bao trùm Vũ trụ có dư khả năng làm điều đó, đồng thời, giới khoa học chân chính cũng rất khách quan, cầu thị không thành kiến miễn là đúng với chân lý.

    Vì thế, khi nghiên cứu học thuyết ADNH, nhận thấy tính bao trùm và đúng đắn của nó em ứng dụng cho lĩnh vực xã hội và học thuyết “Chủ nghĩa Công bản” của em ra đời. Theo em đây là học thuyết xã hội hay nhất, nhưng những nhậy cảm về chính trị hiện tại buộc em tạm gác lại chờ khi khác thuận lợi hơn.

    Sau đó, em nghĩ rằng, nếu học thuyết ADNH bao trùm tất cả thì nó phải bao trùm Vật lý. Em bắt tay vào nghiên cứu vật lý dưới giác độ học thuyết ADNH, và thật bất ngờ, cực kỳ thuận lợi. Sau mấy năm nghiên cứu (tất nhiên vẫn phải kiếm sống) em đã gần như hoàn chỉnh nó, chỉ cần viết ra cho “văn vẻ” nữa mà thôi. Trong học thuyết này, những vấn đề anh vừa đề cập cũng có câu trả lời rốt ráo, trong một hệ thống logic, chặt chẽ. Đặc biệt, em viết theo phong các khoa học đương đại với những suy luận rất “ trực quan”, những phương trình, công thức, đồ thị … mà bất cứ một sinh viên đại học tự nhiên năm thứ 3 với học lực trung bình nào cũng có thể hiểu chẳng khó khăn gì lắm. Người ta có thể nhận ra rằng, nếu em cho hệ số ζ= 1 thì được thuyết tương đối của Einstein. Nhưng tiếc rằng, trong Vũ trụ, hệ số này nhiều khi khác 1 rất nhiều. Đương nhiên, có nhiều hệ quả mà em cho rằng giới khoa học sẽ rất … tò mò!

    Nhưng phải nói thẳng rằng, tất cả những đột phá của học thuyết này đều dựa vào học thuyết ADNH Lạc Việt (chứ của Tàu thì chỉ càng sai lầm, bế tắc mà thôi!}. Vì thế, em mới dám hy vọng rằng, đây là đóng góp nhỏ của em vào phục hồi học thuyết ADNH của Tổ tiên Việt tộc trong thuyết phục giới khoa học đương đại về tính ưu việt của học thuyết ADNH Lạc Việt bằng cách giải quyết những vấn đề của họ, bằng ngôn ngữ của chính họ trên cơ sở học thuyết ADNH.

    Nhưng em đang lu bu về com áo gạo tiền nên đành để từ từ vậy!!!

    (Thật kỳ lạ, em nghiên cứu càng thuận lợi bao nhiêu thì cuộc sống càng khó khăn, rủi ro bấy nhiêu, không biết có phải ngẫu nhiên hay không dù đã rất cố gắng!)

    Kính anh!

    2 people like this

  21. * Chú thích: Sách của Gs Trịnh Xuân Thuận - Tư liệu của anh Vô Trước cho mượn. Tôi đang tìm cuốn sách của anh .Lộn xộn quá. Chưa tìm thấy! Anh có rảnh vào đây cho tôi biết tựa nó là gì, để tìm cho nhanh. Khi mượn về tôi chỉ xem đúng trang 28 theo chỉ dẫn của anh về câu này của Gs Trịnh Xuân Thuận. Cảm ơn nhiều. Hôm nào rảnh ông ghé tôi đi. Sdt của ông tôi làm mất vì khi đổi Dt sang thông tin lưu trữ nó không lưu. Chán quá! Không biết làm thế nào để gọi cho ông được.

    Anh Thiên Sứ thân mến!

    Dạo này quá lu bu (cũng chỉ com áo gạo tiền thôi, chắc anh hiểu hoàn cảnh em) không viết gì được, nhưmg em vẫn theo dõi diễn đàn và rất thích mục "Chiến lược và sự kiện" của anh. Hôm nào rảnh em sẽ ghé thăm anh.

    Sách của Trịnh Xuân Thuận mà anh đề cập là quyển “Những con đưòng của ánh sáng” - được Viện hàn lâm Pháp quốc (Một tổ chức có uy tín Quốc tế trong lĩnh vực khoa học) tặng giải thưởng lớn MORON 2007- Nhà xuất bản Trẻ 2008 - tập 1 trang 208 có đoạn:

    "“Từ sự khuếch đại kinh hoàng này, người ta (“người ta” ở đây phải được hiểu là những đại diện đủ tư cách của giới khoa học – Vô Trước) suy ra rằng năng lượng của Vũ trụ khởi thủy là vô cùng nhỏ ".

    Tiện thể, em cũng xin báo anh biết, trên cơ sở học thuyết ADNH Lạc Việt, em đã xây dựng (coi như xong 99%), em tạm gọi là "Thuyết tuyệt đối" về Vật lý mà "Thuyết tương đối" chỉ là trường hợp riêng tương tự như Cơ học Newton là trường hợp riêng của Thuyết tương đối vậy. Khi nào có điều kiện em sẽ viết hoàn chỉnh theo phong cách Vật lý hiện tại. Em hy vọng đó là một đóng góp nhỏ của em cho vinh danh học thuyết ADNH của Việt tộc vậy.

    Kính anh!

    2 people like this