• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Lãn Miên

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    595
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    19

Lãn Miên last won the day on Tháng 8 31 2016

Lãn Miên had the most liked content!

Danh tiếng Cộng đồng

839 Excellent

About Lãn Miên

  • Rank
    Hội viên chính thức
  • Birthday

Xem hồ sơ gần đây

2.782 lượt xem hồ sơ
  1. Đề và Thuyết GS Cao Xuân Hạo: "Chẳng hạn, từ những năm 20 của thế kỷ XX những người làm từ điển Anh - Việt đã thấy ngay rằng (lạ thay!) tiếng Việt không có "tính từ", là vì nếu có thì không thể nào hiểu nổi tại sao người Việt nói Cha tôi già rồi mà không cần và không thể dùng một "động từ" như to be xen vào giữa (tức nói Cha tôi là già rồi)" . "Những cuốn sách đầu tiên viết về ngữ pháp tiếng Việt, - trừ một số ngoại lệ hiếm hoi như những tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm (đó là những người không phải chỉ biết tiếng Pháp), - đều do những người chỉ được học một thứ ngữ pháp duy nhất là ngữ pháp tiếng Pháp, hay có chăng cũng lại là một thứ tiếng châu Âu nào đó khác, cho nên dễ tưởng rằng đó là thứ ngữ pháp duy nhất mà một ngôn ngữ có thể có được. Thế là từ đó trở đi các thế hệ sau, tuy hầu hết không biết tiếng Pháp, đều coi sách vở của các bậc tiền bối như là hiện thân của chân lý và không có mấy ai thấy cần nghiên cứu lời ăn tiếng nói của người Việt nữa. Ngữ pháp sao chép từ tiếng Pháp trở thành một thứ tôn giáo nghiệt ngã: bất kỳ một nhận định nào về tiếng Việt cho thấy một cái gì không giống tiếng Pháp đều bị coi là tà thuyết. Từ đó, ta có thể hiểu tại sao 75% những câu thông dụng nhất của tiếng Việt không bao giờ được dạy ở nhà trường" ( Nguồn: internet <Cao Xuân Hạo>). Chính GS Cao Xuân Hạo đã giải quyết được vấn đề “théc méc” Ông nêu trên, khi chính ông đề xuất cái khẳng định: Phân tích câu nói của tiếng Việt không thể dùng ngữ pháp tiếng Pháp (cú pháp: chủ ngữ - vị ngữ - tân ngữ) mà phải dùng ngữ pháp vốn có của tiếng Việt (cú pháp: đề - thuyết) để mà phân tích. Đây là cách LM hiểu cái mà Ông khẳng định: Trong câu “Cha tôi già rồi” thì đề (cái người nói muốn nêu – đứng trước) là “Cha tôi”, còn thuyêt (cái đứng sau bổ nghĩa cho đề) là “già rồi”. Còn trong mỗi một trong hai mệnh đề tạo nên câu này thì mệnh đề “Cha tôi” lại có đề (cái chính yếu mà người nói muốn đề cập đến ) là “Cha”, nó có cái thuyết cho nó là “tôi” (ở đây “tôi” biểu ý là “của tôi” do vị trí đứng của nó trong mệnh đề này). Và mệnh đề “già rồi” lại có đề là “già” còn thuyết cho nó là “rồi” (ở đây “rồi” biểu ý là “đang hoàn tất” sụ già ở thì hiện tại, còn nếu muốn nhấn (tức nêu) thời điểm nào đó ở thì quá khứ thì phải nêu cái quá khứ là “đã” lên làm đề trong mệnh đề “đã già”, cả câu sẽ thành là “Cha tôi đã già” (là ở tại cái thời điểm xưa mà người nói đang muốn kể lại, hoặc cụ thể hơn cả câu sẽ là “Cha tôi khi đó đã già” – “Cha tôi là đề, “khi đó đã già” là thuyết). Ví dụ hai cảnh tôi gặp thật: Cảnh một, ở TP HCM, tôi đang đi xe máy, gặp cầu vượt chắn ngang ở ngã tư, tôi rẽ phải hỏi ông xe ôm đang ngồi vắt vẻo trên xe máy dựng trên vỉa hè, theo cách nói đúng “đề-thuyết” của người Nam Bộ, tôi lớn tiếng hỏi: “Đường Nguyễn Văn Linh (đề, cái Chính yếu mà tôi cần biết) đi lối nào huynh làm ơn chỉ giùm tôi chút (thuyết, cái Phụ bổ nghĩa cho đề)”. [ Câu nói này được các giáo viên phổ thông Hà Nội cho điểm là “ăn nói cộc lốc”. Giáo viên sẽ hướng dẫn cho cách đặt lại câu nói ấy theo đúng sách là : “Dạ thưa anh, anh làm ơn giúp chỉ cho tôi đến đường… thì đi ngả nào ạ”]. Tội nghiệp ông xe ôm nuốt vội miếng đang nhai, gói xôi sắn lót lá chuối đang xòe trên lòng bàn tay trái, ông dùng tay phải chỉ cho tôi: “Anh đi thẳng tới chân cầu vượt rồi quẹo trái lên cầu, qua cầu đi thẳng là tới. Nhưng đừng quẹo lên cầu ngay chân cầu nghe, cảnh sát chụp liền, mất năm chục ngàn đó, đi quá lên hai trăm mét có ngách queo trái lên cầu”. Cảnh hai ở Hà Nội, tôi đi xe máy đường Thái Hà đến ngã tư cắt Láng Hạ , có cầu vượt nằm ngang trước mặt, thì dừng do đèn đỏ cùng đông nghẹt xe máy cũng dừng lúc đó. Bỗng nghe “Ối!” phía sau, ngoái lại thấy cách hai xe máy cũng đang dừng có một xe máy thứ ba phía sau đổ nghiêng trái ra đường (chắc do đụng bờ vỉa hè hoặc do thắng gấp) và từ ông xe ôm, người độc nhất trên vỉa hè trống vắng vì phía trong của vỉa hè là con mương lớn song song với đường nên không có dãy nhà mặt tiền sát vỉa hè, đang ngồi vắt vẻo trên xe máy dựng trên vỉa hè ngay chỗ đó vang lên:”Chết cha mày chưa, đi với đứng!”. Tội nghiệp cô bé chủ xe người nhỏ nhắn đang lồm cồm đứng dậy ráng sức dựng chiếc xe tay ga láng coóng nặng nề của mình lên. Ông xe ôm, người duy nhất rảnh tay ở đó, vẫn ngồi vắt vẻo nhổ râu trên xe máy dựng vỉa hè (!). “Lời Chào cao hơn mâm cỗ” (thành ngữ Việt) <Thuyết văn giải tự> giải thích chữ Bạo:暴,照晒。字形采用“日、出、収、米”四形会义。薄报切 Chữ Bạo nguyên nghĩa là phơi nắng (Chiếu Sái照晒), dám phơi nắng là bạo dạn, phơi nắng ắt khỏe mạnh. Do vậy mà Bạo đã chuyển chú thành nghĩa là Khỏe hay Dạn. Đứa trẻ khỏe tức Bạo thì dùng từ Bạo đã nở thành từ dính Bụ-Bẫm (tiếng Nghệ vẫn thường dùng từ “ Bạo” chỉ sức khỏe, VD hỏi thăm: “Bà hồi ni vẫn bạo chứ?”), đứa bé khỏe thì nó ắt Dạn, Dạn = =Dám nên từ Dám đã phiên thiết thành hai tiếng hàn lâm là Dũng Cảm勇敢 (lướt lại thì “Dũng Cảm勇敢” = Dám (Hán ngữ chỉ mượn một chữ Cảm敢 để biểu đạt ý là Dám). Khỏe đồng nghĩa với Chắc tức “Cứng Dương阳” = Cường强 (cứng rắn như mặt Trời).Tiếng Thái gọi Khỏe là “Còn”, vì có khỏe thì mới Còn = Tồn. Người Việt là dân trống đồng tức dân thờ mặt trời , vì là hậu duệ của Đế Minh tức Đế Sáng = Đế Vàng = Đế Hoàng (mà Hán ngữ gọi ngược là Hoàng Đế). Do vậy người Việt khi gặp nhau (hai người đang cùng một chỗ với nhau, nên đã dùng hai từ đồng nghĩa khỏe là Chắc = Bạo) thì nói câu ước nguyện cho nhau cùng khỏe là “Chắc Bạo!” (ý là cả hai ta đều khỏe), lướt thành “Chắc Bạo” = 1+0 = 1 = Chào! (dấu thanh điệu “không”, “ngã”, “nặng” đều là “0”, dấu “sắc”, “hỏi”, “huyền” đều là “1”), Khi chia tay thì mình ra đi (Đi = Di = Dù = Vù) còn bạn ở lại nên mình đã nói câu “Chúc bạn ở lại Bạo” = (lướt “Chúc Bạo!” = 1+ 0 = 1 = Chào! (mà tiếng Ý thì nói là “Chiao!” chứ không dùng “Bai Bai!” như tiếng Anh). Giống như người Thái khi chia tay nhau nói: “Mừ Còn Nư! Cò Dù Nư!” (tức là: Anh Khỏe Nè! Tôi Vù Nè!). Người Việt khi gặp nhau nói: “Chào!”. NgườiViệt khi chia tay nhau nói: “Chào!”. Gọn vậy thôi, đều là “Chào!”, nhưng hàm ý hai lời “Chào!” này không hẳn đồng nghĩa nhau, nhưng đều nhân văn như nhau ở chỗ coi con người là quí nhất, và cái quí nhất cho con người là sức khỏe. Tiếng Nga khi gặp nhau nói: “Khỏe!”, khi chia tay nhau nói: “ Hẹn gặp lại!” Tiếng Hán khi gặp nhau nói: “Nỉ Hảo你好!” , tức chúc anh luôn khỏe (luôn khỏe là lướt “Hằng Bạo” = 1+ 0 = 1 = Hảo); khi chia tay nhau nói: “Tái Kiến再见!” (Hẹn gặp lại!). < Thuyết văn giải tự> giải tích chữ Hảo好 nguyên nghĩa là đẹp (Hảo好, Mỹ dã美也 – Hảo là Mỹ), rồi sau đó chữ Hảo好cũng đã đồng thời chuyển chú chỉ nghĩa Khỏe. Nhìn hội ý chữ Hảo好 cũng thấy rõ nó ở cổ ngữ đọc là “Con子 Nái女” tức phái nữ (người nước Kinh Sở thời xưa đọc chữ Nữ女 là “Nái女”), là phái đẹp, nói lái (tức phản thiết) thì Con Nái là Cái Non, cái non nào thì cũng đều đẹp và ngon, dù nó là thực vật hay động vật. Chẳng biết từ khi nào người ta đã đem vào ngôn ngữ quan phương của tiếng Việt (ví dụ trên VTV hay dùng) câu nói khi chia tay nhau là “Tạm Biệt暂别!” (nghĩa là tạm thời chia ly, ghép câu theo kiểu ngữ pháp Hán, mà cũng chẳng nghe thấy người Hán dùng bao giờ), nghe thật ngậm ngùi, mà dân gian Việt chẳng bao giờ dùng câu ấy, họ chỉ nói “Chào!” (chúc anh Bạo) mà thôi. Giải thích chữ Minh Triết (明哲). Nghĩa đen là: Mắt luôn tỉnh (Minh) để Óc phân biệt (Triết) 1.Chữ Minh(明)như <TVGT> giải thích là Nhật Nguyệt Chiếu Diệu, tức Nhật Chiếu Nguyệt Diệu. Chiếu là cái sáng gay gắt của Mặt Trời, tức “Chói như Thiêu” = Chiếu. Diệu là cái sáng nhẹ nhàng của Mặt Trăng, tức nó chỉ là “Dịu Chiếu” = Diệu. Nghĩa đen của chữ Minh là: Mắt luôn luôn thức cả ban ngày như mặt trời và cả ban đêm như mặt trăng, tức là mắt tỉnh, do lướt “Mắt Tỉnh” = 1 +1 = 0 = Minh (tức mắt luôn luôn thức). Hội ý của chữ Minh như sau: Minh(明) = (ghép hai hành Tinh) = Mặt Trời (日)+ Mặt Trăng(月) = Mặt Tinh + Mặt Tinh = ( Mặt + Mặt = 0 + 0 = 1 = Mắt) + (Tinh + Tinh = 0 + 0 = 1 = Tỉnh) = “Mắt + Tỉnh” = 1 +1 = 0 = Minh 2.Chữ Triết 哲thì như <TVGT> giải thích là “Tri dã 知 也” (tức là Biết), <TVGT> hướng dẫn đọc: Trắc陟 Liệt 列thiết Triết (trúng). Hán ngữ đọc: Zhi 陟Lie列 thiết Zhie (trật) không thành Zhe哲. Biết là “Trong óc Nghĩ” = Tri. Tri đồng nghĩa Biết nên có từ đôi Tri Biết , nhiều nữa thì lặp Tri Biết Tri Biết = (Tri +Tri = 0 + 0 = 1 = Trí) + (Biết + Biết = 1 +1 = 0 = Biệt) = “Trí + Biệt” = 1 + 0 = 1 = Triết Như vậy nghĩa của Minh Triết明哲 là : Óc biết nhiều nhờ Mắt luôn luôn thức tức mắt tỉnh. Giải thích chữ Minh Triết (明哲). Nghĩa đen là: Mắt luôn tỉnh (Minh) để Óc phân biệt (Triết) 1.Chữ Minh(明)như <TVGT> giải thích là Nhật Nguyệt Chiếu Diệu, tức Nhật Chiếu Nguyệt Diệu. Chiếu là cái sáng gay gắt của Mặt Trời, tức “Chói như Thiêu” = Chiếu. Diệu là cái sáng nhẹ nhàng của Mặt Trăng, tức nó chỉ là “Dịu Chiếu” = Diệu. Nghĩa đen của chữ Minh là: Mắt luôn luôn thức cả ban ngày như mặt trời và cả ban đêm như mặt trăng, tức là mắt tỉnh, do lướt “Mắt Tỉnh” = 1 +1 = 0 = Minh (tức mắt luôn luôn thức). Hội ý của chữ Minh như sau: Minh(明) = (ghép hai hành Tinh) = Mặt Trời (日)+ Mặt Trăng(月) = Mặt Tinh + Mặt Tinh = ( Mặt + Mặt = 0 + 0 = 1 = Mắt) + (Tinh + Tinh = 0 + 0 = 1 = Tỉnh) = “Mắt + Tỉnh” = 1 +1 = 0 = Minh 2.Chữ Triết 哲thì như <TVGT> giải thích là “Tri dã 知 也” (tức là Biết), <TVGT> hướng dẫn đọc: Trắc陟 Liệt 列thiết Triết (trúng). Hán ngữ đọc: Zhi 陟Lie列 thiết Zhie (trật) không thành Zhe哲. Biết là “Trong óc Nghĩ” = Tri. Tri đồng nghĩa Biết nên có từ đôi Tri Biết , nhiều nữa thì lặp Tri Biết Tri Biết = (Tri +Tri = 0 + 0 = 1 = Trí) + (Biết + Biết = 1 +1 = 0 = Biệt) = “Trí + Biệt” = 1 + 0 = 1 = Triết Như vậy nghĩa của Minh Triết明哲 là : Óc biết nhiều nhờ Mắt luôn luôn thức tức mắt tỉnh. Bây giờ chúng ta đọc trong <truyện Kiều>: (qui tắc tạo từ được viết bằng chữ nghiêng) 15 Đầu lòng hai ả tố nga Thúy Kiều là chị , em là Thúy Vân Đây là một cặp sinh đôi (vì cả hai đều là “đầu lòng”. Nay dùng từ “sinh đôi” là chỉ cùng thời điểm ra đời. Xưa dùng từ loán sinh (孿生)là chỉ cùng thời điểm rụng trứng, tức tuổi đời sẽ tính cả thời gian trong bụng mẹ. Loán là do lướt Lưỡng Noãn = Loán. Lưỡng noãn là hai noãn bào cùng rụng một lúc. Nhưng Noãn và Trứng không hoàn toàn đồng nghĩa nhau dù xuất xứ do một. Noãn là do lướt “Nội Hoàn” = Noãn 卵chỉ cái viên tế bào tròn đang ở bên trong, chờ để được thụ tinh. Trứng là cái hình thành sau khi noãn bào đã được thụ tinh, nó hình bầu, chữ nho viết là Đán蛋, mọi quả trứng do một con gà sinh ra đều bằng nhau, từ Đán nở ra từ dính Đều-Đặn. Quan niệm của Mẹ Việt là khi sinh đôi thì đứa ra trước làm em vì khi còn trong bụng mẹ lúc sắp ra đời chỉ có một cửa, chị đã nhường cho em được ưu tiên ra trước, đó là do tư tưởng đạo hiếu đễ đã được mẹ ru dạy cho học từ khi còn trong bụng mẹ, và tuổi đời của con người thì tính cả tuổi mụ. 25 Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Nang nghĩa là da trong qui tắc nôi khái niệm (NKN): Da = Giỏ = Vỏ = Mo = Màng = Nang = Bàng = Bao = Bọc = Bì = Bị đều là những đồ gói. Mo bọc buồng nụ cau gọi là mo nang. Nang chuyển chú thành cái bao đựng. Nang còn chuyển chú thành từ chỉ cuốn sách tra cứu gọi là cuốn Cẩm Nang. Nang được mượn sang tiếng Mã Lai chuyển chú để chỉ cây cau là “pê nang”, Nang được mượn nguyên vẹn sang tiếng Thái để chỉ da. Bàng là cái bao đựng lớn đan bằng cói. Bị là túi xách nhỏ đân bằng cói. Màng là cái rất “Mỏng Nang” = =Màng = “Màng Bạc薄” = Mạc 幕 (QT lướt). Nở nang nghĩa đen là nở da, da căng mịn, nhìn đẹp mắt. Từ ghép Nở Nang đã được chuyển chú thành nghĩa là tươi tắn (tươi lắm, từ Lắm viết bằng chữ Nhiên 然, Nhiên = Nhặn, lướt “Tươi Nhặn” = Tắn). Nét ngài nở nang nghĩa là dáng người tươi tắn. Dáng người nhìn tươi tắn vì có vú mông tròn trịa, hình ảnh thực dục “Vú mông tròn trịa” đã được tả bằng cụm từ chuyển chú rất thanh tao là “Khuôn trăng đầy đặn”, đẹp và đầy như trăng tròn vậy, nhưng không dùng từ vầng trăng, vì từ vầng chỉ nêu cái vành sáng trần trụi (Vầng Trăng tiếng Lào gọi là Viêng Chăn, thành tên cho thủ đô Lào), ở đây dùng từ khuôn để nói ý là vú mông đã được khuôn dưới lớp áo váy nền nã và kín đáo thể hiện Vân rất trang trọng (coi trọng trang điểm), khuôn cũng nói lên cái tròn (nếu vuông thì đã dùng từ khung hay khoang), khuôn cũng còn nói lên khuôn phép chỉ ý là con người có giáo dục từ nền nếp gia phong. 51 Tà tà bóng ngả về tây Chi em Thơ-Thẩn dan tay ra về Đi chậm là Thả bước [TQ dịch là Mạn bộ 慢步]. Thả nở ra các từ dính Thơ-Thẩn, Thong-Thả, Thủng-Thẳng, Lững-Thững để dùng tùy ngữ cảnh. 63 Nổi danh tài sắc một thì, Xôn-Xao ngoài cửa hiếm gì yến anh. Xướng (nói) nở ra từ dính Xôn-Xao (do lướt ‘Xướng Ngôn” = Xôn, lướt “Xướng ồn Ào” = Xao). Nữ Xướng ngôn viên (ví dụ của BNG) có thể gọi là “bà Xôn”, bà Xôn nói rất Đúngà Điềm- Đạm (biết nói ngọt nhạt) và rất Đúngà Đĩnh-Đạc (biết nói cương quyết) 81 Lòng đâu sẵn mối thương tâm Thoắt nghe Kiều đã Đầm Đầm châu sa Đầm Đầm là từ lặp. Lướt từ lặp “Đầm Đầm” = Đẫm, 1+1=0 (đúng qui luật cộng nhị phân biến đổi dấu thanh điệu) 85 Phũ –Phàng chi bấy hóa công! Ngày xanh Mòn-Mỏi má hồng phôi pha Phũ –Phàng [ TQ dịch là Tàn khốc vô tình 残酷无情 ] . Chứng tỏ từ Phũ –Phàng không có trong Hán ngữ. Phũ Phàng là một từ láy, được tạo ra do từ Vũ Phu chỉ hành động thô ác của hạng chồng vũ biền. Vũ Phu lướt ngược là “Phu Vũ” = Phũ, láy thêm bằng cách lướt “Phũ với Nàng” = Phàng, thành từ láy Phũ-Phàng. 95 Lầm dầm khấn vái nhỏ to, Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra. Lầm dẩm là từ láy: do lướt “Lời nói thầm” = Lầm, lướt “Dặng Thầm” = Dầm. Dặng nghĩa là đánh tiếng. NKN: Văng (nói tục) = Dặng (đánh tiếng) = Dạm (hỏi ướm ý) = Dắngà Dùng-Dắng (đánh tiếng nọ kia) = Đằng hắng (đánh tiếng, tiếng Chăm) = Đèng héng (đánh tiếng, giọng Quảng Nam) = E hèm (đánh tiếng) 101 Lại càng Mê Mẩn tâm thần Lại càng đứng lặng Tần Ngần chẳng ra Mê Mẩn là từ láy:Mê và lướt “Mê Thần” = Mẩn, trong câu đã nói rõ thêm là “mê mẩn tâm thần”. Tần Ngần là từ láy, do lướt “Tê Thần” = Tần. lướt “Ngơ Thần” = Ngần [ TQ dịch là Tâm thần biến đắc si mê心神变得痴迷] 169 Dưới cầu nước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều Thướt-Tha Thân (mình) nở ra các từ dính: Thon-Thả (vóc dáng gọn gàng), Thộn-Thện (béo và xộc xệch vụng về), Thòng-Thượt (dáng lười biếng). Thướt –Tha (dáng đẹp mềm mại) 173 Gương nga Chênh Chếch dòm song, Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân. Chênh Chếch là từ láy. Cặp đối Âm/Dương = Nghiêng/Ngay = =Chênh/Chính = Chành/Chân= Chậm/Chóng = Móm/Mạnh = 0/1 185 Chênh Chênh bóng nguyệt xế mành Tựa ngồi bên triện một mình Thiu -Thiu Chênh Chênh là từ lặp, nghĩa là Nghiêng, nghịch với Chính (là Ngay). Các cặp từ đối1/0 = Ngay/ Nghiêng = Chính/Chênh= =Chân/Chành (hàng Chành là hàng Nhái) . Từ lặp Chênh Chênh mà lướt thì thành lướt từ lặp “Chênh Chênh” = Chếnh, dấu 0+0=1 . Chếnh có nghĩa là nghiêng mạnh hơn, tức lướt lấy dấu “Chênh Lắm” = Chếnh, Chếnh nghĩa là sắp đổ, như người say rượu Chếnh-Choáng. Thiu-Thiu là ngủ gật, từ dính nở ra do từ hàn lâm Thùy 睡nghĩa là Ngủ (Ngủ = Nghỉ , Nghỉ là Hiu, mà lướt “Thùy 睡Hiu休” = Thiu = Thiu-Thiu), Thùy 睡còn nở ra từ dính Thiêm-Thiếp nghĩa là ngủ mê mệt. Hán mượn chữ nho Thùy睡và đọc là [Shùi] nên tiếng Việt mượn lại “Suây” để từ “Suây” nở ra từ dính Say -Sưa nghĩa là ngủ giấc nồng. 187 Thoắt đâu thấy một tiểu kiều Có chiều phong vận, có chiều thanh tân Sương in mặt tuyết pha thân Sen vàng Lững-Thững như gần như xa Từ dính Lững –Thững [đã đươc TQ dịch là Mạn Bộ 漫步(đi chầm chậm)] mà tiếng Việt gọi là Thả bước (đi từ từ từng bước). Động từ Thả đã nở ra các từ dính Thơ-Thẩn, Thong - Thả, Thủng -Thẳng, Lững –Thững diễn tả nhiều sắc thái của nhiều ngữ cảnh. 191 Rước mừng đón hởi Dò-La: “Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây?” Dò-La la từ dính nở phái sinh do từ Dạm (hỏi ướm ý). Dò-La [được TQ dịch là 偏问道 (thiên vấn đạo – nói hỏi nọ kia ngoài rìa ] 197 Mấy lòng hạ cố đến nhau Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng. Hạ tứ ở đây nghĩa là ban cho kẻ dưới đất, chữ Tứ 賜nghĩa là cho đi, như chữ Tứ賜là chữ kiểu hội ý, hiểu nghĩa bằng lướt “Dịch 易Bối貝” = Dội, đồng nghĩa với lướt “Tưới Chứ!” = Tứ 217 Một mình Lường-Lự canh chầy Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh Canh chầy là canh cuối cùng của đêm (canh đầu gọi là canh Chớm, cặp đối D/ Â = Chớm/Chầy, thời gian đêm Chạy từ Chớm đến Chầy là hết đêm). Cả đêm không ngủ vì Lo. Lo nở ra từ dính Lường-Lự [ được TQ dịch là 思量 tư lượng (nghĩ ngợi và so đo ) ]. Ở đây là do từ Lo nở ra từ dính Lường-Lự, Lường là do lướt “Lòng Tưởng” = =Lường (so đo), Lự là do lướt “Lòng Tư” = Lự (nghĩ ngợi). Những từ lướt nhằm nén thông tin: lướt câu “Lo và Nom” = Lỏm, thành từ Lo Lỏm nghĩa là lo và dự kiến làm sao cho đúng. 221 Nỗi riêng lớp lớp sóng giồi Nghĩ đòi cơn lại Sụt-Sùi đòi cơn Hình thức động của sóng nước là nó cứ Giáng xuống và Nổi lên liên tục, nên qui tắc lướt đã giúp nén thông tin thành một từ do lướt “Giáng và Nổi” = Giồi. Hai từ Tiếng Khóc chữ nho viết là Thanh Khốc, cái Thanh ấy trong trường hợp khóc nhỏ tiếng, trong cảnh cô đơn, đã nở ra từ dính Thút-Thít là hình dung từ cho động từ khóc, lắm khi từ dính Thút- Thít cùng dùng chuyển chú thay cho động từ Khóc. Một Thân cô đơn thì cảm thấy thật Tủi phận, nén thông tin bằng lướt “Thân Tủi” = Thủi. Từ Thân là một thân cô đơn đã nở ra từ dính Thui-Thủi diễn tả được thông tin dài là cô đơn và tủi phận buồn. Buồn tiếng hàn lâm là Sầu愁, Sầu dẫn đến Khóc. Sầu thì tủi nên lướt “Sầu Tủi” = Sùi. Vậy là từ Sầu có cơ duyên mà nở ra từ dính Sụt-Sùi làm hình dung từ cho động từ Khóc, hoặc từ dính Sụt – Sùi cũng được dùng chuyển chú thay cho động từ khóc, nhưng hiểu được là khóc vì sầu tủi (thổ lộ lòng) khác với Thút-Thít (chỉ tả cái tiếng khóc nhỏ nhẹ : lướt “Thanh chút Chút” = Thút và lướt “Thanh ít Ít” = Thít). Qua câu này thấy được thời Nguyễn Du đã có chữ quốc ngữ lưu hành trong giáo dân rồi, phụ âm “Gi” và phụ âm “D” phát âm khác nhau, từ “Giáo” dục phát âm khác với gà mẹ “Dáo”-dác (Dõià Dáo-Dác) tìm con. Nên không thể thay gộp Gi và D thành một Z cho tiện đánh máy như dự án của GS Bùi Hiển được. Từ Sóng Giồi (rất ngắn)[được TQ dịch (quá dài) là “cuồng đào ban dõng khởi狂濤般涌起” (sóng cuồng như dòng nổi)], chứng tỏ ngôn ngữ Việt có tính hiệu quả cao trong diễn đạt, không cần phải nói dài dòng. Những từ dân gian đã làm mầm cho chữ Nho: Biến có sóng gọi là Ba 波 (do lướt “Biển hờn như ăn Vạ” = Ba), Luồng Lạch có sóng gọi là Lãng浪 (do lướt “Lạch thì nước lang Thang” = Lãng), Ao có sóng gọi là Đào濤 (do lướt “Động nước trong Ao” = Đào), chữ nào chỉ sóng cũng đều có bộ thủ nước(氵), dùng từ đôi Ba Lãng波浪, Ba Đào波濤, Lãng Đào浪濤 chỉ ý nhiều sóng. Đòi nghĩa là tưởng tượng, Cơn nghĩa là vận hội, do lướt “Cảnh Lớn” = Cơn, là hoàn cảnh gặp phải: Gặp cơn khốc liệt can qua. Đòi mình ứng xử phải ra thế nào. 225 “Cớ sao Trằn –Trọc canh khuya Màu hoa lê hãy Dầm-Dề giọt mưa?” Động từ Trở mình đã nở ra từ dính Trằn-Trọc. Do lướt “Trở Lăn” = Trằn (lật phải, lật trái), lướt “Trỏ Dọc” = Trọc (ngồi dậy vẫn không ngủ được lại nằm xuống, rồi lại ngồi dậy). [ TQ dịch động từ Trở mình là 反侧phản trắc (lật nghiêng) và không có từ để dịch nổi hình dung từ Trằn –Trọc nên phải phiên âm bằng cách mượn chữ nho cận âm là hai chữ 辗转Triển Chuyển, chữ Triển辗vỗn nghĩa là xay nghiền, chữ Chuyển 转là đưa đi, nên chữ Triển Chuyển chuyển chú thành nghĩa là Gián tiếp chuyển đi. Do âm nó giống từ Trằn Trọc của tiếng Việt nên khi dịch đã dùng nó làm hình dung từ cho động từ Phản Trắc (lật nghiêng) thành cụm từ Triển Chuyển Phả Trắc 辗转反侧để dịch mỗi một từ dính tiếng Việt là Trằn-Trọc hay từ Trăn Trở đã chuyển chú thành nghĩa là không ngủ được ]. Dọt nước mắt đọng trên mặt như dọt mưa đọng trên hoa lê. Từ Dọt đã nở ra từ dính Dầm-Dề biểu ý nó còn đẫm trên mặt chứ chưa trôi đi. 239 Ngoài song Thỏ -Thẻ oanh vàng Nách tường bông liễu bay ngang trước mành Thốt (hót) nở ra từ dính Thỏ-Thẻ 245 Chàng Kim từ lại thư song Nỗi nàng Canh-Cánh bên lòng biếng khuây Canh-Cánh là từ láy của từ Cạnh. Do lướt lấy dấu “Cạnh Bên” = Canh, “Cạnh Bám” = Cánh tạo thành từ láy Canh-Cánh để nhấn mạnh ý là nỗi nhớ nàng luôn cạnh lòng mình 251 Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao Mặt tơ tưởng mặt, lòng Ngao-Ngán lòng Người (về tâm trạng) nở ra từ dính Ngao-Ngán: lướt “Người phiền Não” = Ngao, lướt “Người buồn Chán” = Ngán, thành từ Ngao-Ngán [ TQ dịch“Tâm tình rất buồn chán 心情多么烦厌 ”] 259 Bâng Khuâng nhớ cảnh nhớ người, Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi Bâng Khuâng là từ láy do lướt “Buồn Dâng” = Bâng, lướt “Khốn Dâng” = Khuâng (tâm trạng buồn và nghĩ khó xử cứ dâng lên vì nỗi nhớ trong lòng) 265 Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều Xăm-Xăm đè nẻo Lam kiều lần sang Đi nho viết bằng chữ Khứ去, Hán ngữ mượn chữ nho đọc chữ Khứ 去là Xuy, mượn lại sang tiếng Việt từ Xuy nở ra từ dính Xăm-Xăm nghĩa là đi nhanh, Lệ-Xệ nghĩa là đi chậm, Cà-Xiểng nghĩa là đi bước thấp bước cao. Lần nghĩa là đi chậm thận trọng, do lướt “Lộ dần Dần” = Lần. Lộ là Lối đi, đã chuyển chú thành thay cho động từ đi, nói Lộ qua nhà anh nghĩa là đi ghé qua nhà anh. 301 Tan sương đã thấy bóng người Quanh tường ra ý Tìm-Tòi Ngẩn – Ngơ Từ dính Tìm –Tòi do nở ra từ chữ Tầm尋, Hán ngữ đọc chữ Tầm尋 là “Xuýn尋”. Mượn lại sang tiếng Việt, từ “Xuýn” lại nở ra từ dính Xăm-Xoi đồng nghĩa với Tìm- Tò, tuy sắc thái hơi khác. Từ dính Ngẩn- Ngơ được nở ra do chữ Ngu愚 [ TQ dịch là Mang Nhiên茫然 ( “máng rán茫然”: mù tịt, không hay biết) ]. 325 Xương mai tính đã rũ mòn Lần-Lừa ai biết hãy còn hôm nay Lâu nở ra từ dính Lần-Lừa (do lướt “Lâu Dần” = Lần và “Lâu Nữa” = Lừa). 331 Ngần –Ngừ này mới thưa rằng Thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong Lướt “Ngừng Chờ” = Ngợ. Ngợ nở ra từ dính Ngần –Ngừ 347 Lặng nghe lời nói như ru Chiều lên dễ khiến nét thu Ngại –Ngùng Nghi nở ra từ dính Ngại-Ngùng 359 Một lời gắn bó tất giao Mé sau dường có Xôn-Xao tiếng người Nói đồng nghĩa Xướng唱. Xướng nở ra từ dính Xôn –Xao do lướt “Xướng Ngôn” = Xôn, “Xướng ôn Ào” = Xao [ TQ có mượn dùng chữ Xướng 唱nhưng không nở được từ dính Xôn-Xao, phài dịch từ Xôn-Xao là “Zài shuohuà在说话”- Tại thuyết thoại (đang nói chuyện) ]. Nữ Xướng Ngôn viên BNG có thể gọi là bà Xôn, lời nói bà ta Đúng à Điềm-Đạm ( tức biết nói ngọt nhạt) và Đúng à Đĩnh-Đạc (tức biết nói cương quyết). 373 Tưng bừng Sắm-Sửa áo xiêm Biện dâng một lễ xa đem tấc thành Từ dính Sắm-Sửa là nở ra do từ “Suan穿” của Hán ngữ (nghĩa là mặc quần áo). 377 Thời trân thức thức sẵn bày Gót sen Thoăn-Thoắt dạo ngay mé tường Thoi (chuyển động rất nhanh) đã nở ra từ dính Thoăn-Thoắt để chỉ tốc độ thao tác. Thoăn –Thoắt lại chuyển chú thành trợ động từ chỉ sự chuyển động nhanh.Thoi còn nở ra từ dính Thấm-Thoắt chỉ tốc độ thời gian trôi nhanh. 379 Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông Sẽ là Se Sẽ = Khe Khẽ. Dặng nghĩa là đánh tiếng, do NKN: Nói = =Na = Và 话 = Viết曰 = Vân 云 = Van = Văng (nói tục) = Dặng (đánh tiếng) = Dạm (hỏi ướm ý). Dặng = Đằng Hắng (tiếng Chăm) = =Đèng Héng (tiếng Quảng Nam) = E Hèm (đánh tiếng). “Tiếng Việt là mẹ các ngữ”. NKN mặt: Mặt = Miện = Diện 面 = Da = Nạ (tiếng Lào) = Ná (tiếng Tày = Nang (tiếng Thái) = Màng = Mạc幕 = “Mạc Diện” = Mian面(tiếng Hán). Tiếng Tày mặt đen là Ná Nhèm, tiếng Việt lại có cụm từ mặt đen Nhẻm. NKN: Nhẻm = Nhèm = Lem = Lọ = Nhọ = Tro. Tro là màu Tro tức đen, chuyển chú thành danh từ Tro chỉ tro bếp. 381 Trách lòng Hờ -Hững với lòng Lửa hương chốc để Lạnh-Lùng bấy lâu Dừng nghỉ *Hưu) ở nơi (Nẻo) xa, gọi lướt “Hưu Nẻo” = Hẻo, muốn tránh xa người khác. Hẻo nở ra từ dính Hờ-Hững. Lướt “Lẩn Tránh” = Lánh, như muốn trốn khỏi người khác. Lánh nở ra từ dính Lạnh-Lùng. Tự trốn riêng ra nơi Hẻo Lánh là thái độ Hờ-Hững và Lạnh-Lùng với cộng đồng. 431 Cửa ngoài vội rủ rèm che Xăm –Xăm băng lối vườn khuya một mình Chữ Khứ 去nghĩa là đi, Hán ngữ đọc chữ Khứ là “Xuy去”. Xuy sang tiếng Việt nở ra từ dính Xăm-Xăm là đi nhanh, Lệ-Xệ là đi chậm, Cà-Xiểng là đi bước thấp bước cao. Mà “Xuy去” trong Hán ngữ không phái sinh ra được từ nào có phụ âm “X” hay âm vận “Uy” mà mang nghĩa là Khứ cả. 433 Nhặt thưa gương giọi đầu cành Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh Hắt-Hiu NKN đen là: Dơ = Ô乌 = Ố污 = “Hoen Ô污” = Hồ = “Đen Ố乌” = =Đồ. Hồ nở ra từ dính Hắt-Hiu (chỉ ánh sáng mờ mờ). “Muội Dơ” = =Mơ. Mơ Hồ hay Hồ Đồ đều là những từ đôi chỉ sự đen, không rõ ràng, không minh bạch. Hán ngữ ký âm từ Mơ Hồ là “Múa Hú” viết bằng hai chữ nho cận âm là chữ Mó摸 (sờ nắm) là chữ hình thanh (hình là cái Tay扌, thanh là chữ Mô 莫tức không có- tiếng Nghệ) và chữ Hồ 糊(chỉ hồ dán làm bằng bột) là chữ hình thanh (hình là chữ Mễ 米chỉ bột, thanh là chữ Hồ 胡là chữ hội ý chỉ “Cổ 古Nhục肉” = Cục và “Nhục 肉Cổ古” = Nhô là cái cục nhô dưới cổ con bò còn gọi là yếm bò). Thành ra chữ “Múa Hú模糊” của Hán ngữ dùng chỉ ý không rõ ràng , không minh bạch chỉ là mượn chữ để ký âm na ná từ Việt là từ Mơ Hồ. Từ Hồ Đồ cũng vậy, chỉ là mượn chữ nho cận âm để làm ký âm, chữ Hồ 糊là hồ dán, chữ Đồ 涂là bôi tô màu, thành âm na ná là “Hú Thú糊涂” ký âm hai tiếng Hồ Đồ nghĩa là không rõ ràng. 435 Sinh vừa tựa án Thiu-Thiu Dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê Chữ Thùy 睡là ngủ nở ra từ dính Thiu-Thiu là ngủ gật [Hán ngữ mượn chữ Thùy睡 dùng với nghĩa là ngủ, nhưng lại không nở được từ dính Thiu-Thiu mang nghĩa ngủ gật. Hán ngữ gọi ngủ gật là “Da Dun打盹”] 439 Bâng khuâng đỉnh Giáp non thần Còn ngờ giấc mộng đêm xuân Mơ-Màng Chữ Mộng夢 nở ra từ dính Mơ-Màng. Bâng Khuâng là từ láy chỉ tâm trang buồn và khó xử: do lướt “Buồn Dâng” = Bâng, lướt “Khốn Dâng” = Khuâng 449 Vầng trăng Vằng-Vặc giữa trời Đinh ninh hai miệng một lời song song Từ Vàng nở ra từ dính Vằng-Vặc. Màu vàng của trăng rất lâu dài nên đã mượn từ dính Dằng-Dặc (của Dài) để làm thành lướt ”Vàng Dằng”= Văng và lướt “Vàng Dặc” = Vặc 483 Tiếng khoan như gió thoảng ngoài Tiếng mau Sầm-Sập như trời đổ mưa Động từ Sa mưa, từ Sa nở ra từ dính Sầm-Sập. 485 Ngọn đèn khi tỏ khi mờ Khiến người ngồi đó mà Ngơ-Ngẩn sầu Ngẫm nở ra từ dính Ngơ-Ngẩn (“Ngẫm Sơ”=Ngơ, “Ngẫm Dần” = =Ngẩn). Ngẫm Sơ cái sầu và Ngẫm Dần cái sầu thành ra Ngơ-Ngẩn sầu [TQ dịch: “chóu chàng惆怅, máng rán茫然”(rầu rĩ, mù tịt)] 499 Sóng tình dường đã xiêu xiêu Xem trong Âu-Yếm có chiều Là-Lơi Yêu nở ra từ dính Âu-Yếm. Lỏng nở ra từ dính Lả-Lơi (do lướt “Lỏng Rã” = Lả. lướt “Lỏng Rời” = Lơi) [TQ dịch từ Lả-Lơi là Phóng túng - “fàng song放送” (buông lỏng)] 513 Mây mưa đánh đổ đá vàng Qúa chiều nên đã Chán-Chường yến oanh Chê nở ra từ dính Chán-Chường [ TQ dịch là 厌倦的心理 ngán quyển đích tâm lý]. 515 Trong khi chắp cánh liền cành Mà lòng Rẻ-Rúng đã dành một bên Dễ nở ra từ dính Rẻ Rúng (Khinh thị, Khi dễ) 517 Mái tây để lạnh hương nguyền Cho duyên Đằm-Thắm ra duyên Bẽ - Bàng Đậm nở ra từ dính Đằm-Thắm. Bẽn nở ra từ dính Bẽ-Bàng 547 Tai nghe ruột rối Bời-Bời Ngập -Ngừng nàng mới giải lời trước sau Ngôn nở ra từ dính Ngập-Ngừng. Nói mà cứ ‘Ngôn Lấp” = Ngập, “Ngôn Dừng” = Ngừng (lướt) thì gọi là nói Ngập –Ngừng [TQ dịch là Do Dự犹豫 ] 559 Dùng-Dằng chưa nỡ rời tay Vừng đông đâu đã đứng ngay nóc nhà Dở (đang dở câu chuyện) nở ra từ dính Dùng –Dằng 569 Nàng còn đứng lặng hiên tây Chín hồi Vấn-Vít như vầy mối tơ Vướng nở ra từ dính Vấn-Vít 571 Trong chừng khói ngất song thưa Hoa trôi dạt thắm. liễu Xơ-Xác vàng Chữ Tiêu điều萧条Hán ngữ đọc là Xiao (nghia là khô queo). Chuyển sang Việt từ “Xiao” nở ra từ dính Xơ-Xác 575 Hàn huyên chưa kịp Dã-Dề Sai nha bỗng thấy bốn bề Xôn-Xao Dắng (lên tiếng) nở ra từ dính Dã –Dề. Xướng (nói) nở ra từ dính Xôn-Xao. 639 Đắn-Đo cân sắc cân tài Ép cung câm nguyệt thử bài quạt thơ Đạc nở ra từ dính Đắn –Đo [TQ dịch là Điểm Lường掂量] 641 Mặn nồng một vẻ một ưa Bằng lòng khách mới tùy cơ Dăt-Dìu Gía (giá trị) nở ra từ dính Dặt – Dìu. Dặt –Dìu lại chuyển chú thành nghĩa là trả giá 647 Cò- Kè bớt một thêm hai Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm Nói = Na = La = Ca = Coỏng (tiếng Quảng Đông, Đài Loan) = Kêu -Kêu nở ra từ dính Cò-Kè. Cò-Kè chuyển chú thành trả giá bớt một thêm hai, tức lướt “Kêu To” = Cò, lướt “Kêu Bé” = Kè. Cò- Kè là từ dính, mọi từ dính đều không thể đảo ngược vị trí hai tiếng, mà tách hẳn hai tiếng ra thì nó mất nghĩa. Cò-Kè không phải là con cò và cái bờ kè. 697 Phận rầu dầu vậy cũng dầu Xót lòng Đeo-Đẳng bấy lâu một lời Đợi nở ra từ dính Đeo-Đẳng 699 Công trình kể biết mấy mươi Vì ta Khăng-Khít cho người Dở -Dang Khép nở ra từ dính Khăng-Khít. Dừng nở ra từ dính Dở- Dang (“Dừng Chờ” = Dở, “Dừng giữa Đàng” = Dang) [TQ dịch là “nhân duyên trung đồ đoạn tống姻缘中途断送”(nhân duyên giữa chừng ngừng đi tiếp)]. Sản phẩm đang trong chu trình gia công gọi là sản phẩm dở dang. Sản phẩm đã gia công xong gọi là thành phẩm. 701 Thề hoa chứa ráo chén vàng Lỗi thề thôi đã Phụ-Phàng với hoa Từ láy Phụ-Phàng (lướt “Phụ tình Chàng” = Phàng).Phụ Phàng (phụ tình với chàng). Khác với Phũ Phàng là do Vũ Phu nói lái là Phũ Vu, tức “Phũ với Nàng”= Phàng, thành từ láy Phũ-Phàng (hành động bạo lực của chồng đối vời vợ). 711 Nỗi riêng riêng những Bàn Hoàn Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn Bàn là nói lướt “Bất An” = Bàn. Bàn Hoàn là bất an hoàn toàn. 713 Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân Dưới đèn ghé đến ân cần Hỏi Han Hỏi Han là từ láy. Han là do lướt “ Hỏi huyên Hàn” = Han 719 Rằng lòng đương Thổn-Thức đầy Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong Thương (mà đau) nở ra từ dính Thổn-Thức [TQ dịch là Uất Muộn ”Yu men郁闷”] 721 Hở môi ra cũng Thẹn -Thùng Để lòng thì phụ tấm lòng với ai Thẹn -Thùng là từ dính do tâm trạng Thương. Thương cho nên Bẽn, lướt “Thương Bẽn” = Thẹn, vì Thẹn nên muốn lánh không nói đến tức “Thẹn thành ra lạnh Lùng” = Thùng, tạo ra từ Thẹn-Thùng [ TQ là “cán kui惭愧”, xìu kui羞愧” ] 751 Trăm nghìn gửi lạy tình quân Tơ duyên Ngắn-Ngủi có ngần ấy thôi Từ láy Ngắn-Ngủi, chỉ tâm trạng (lướt “Ngắn và Tủi” = Ngủi). Khác với Ngắn Ngủn , chỉ vật thể (lướt “Ngắn và Lùn” = Ngủn) 783 Trời hôm mây kéo tối rầm Rầu Rầu ngọn cỏ, Đầm Đầm cành sương Đêm = Đom = Om= Hom = Hôm – Hôn 昏 = Hối 晦 = Tối = Túi = Têm = Đêm = Đêm Hôm. Từ lặp, lướt “Rầu Rầu” = Rẫu, 1+1=0 。Phiên thiết Rẫu = Rũ Ấu (héo non). Đầm Đầm” = Đẫm, 1+1 =0 787 Ngập –Ngừng thẹn lục e hồng Nghĩ lòng lại xót xa lòng đòi phen Ngượng nở ra từ dính Ngập- Ngừng [(TQ dịch là Do Dự犹豫)] 797 Đã sinh ra số Long-Đong Còn mang lấy liếp má hồng được sao? Lưu 流 (chảy)nở ra từ dính Long-.Đong [ TQ dịch là Phiêu Bạc 漂泊 (trôi nổi) ] 839 Mập –Mờ đánh lận con đen Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi? Mù (nghĩa là không minh bạch), Mù nở ra từ dính Mập - Mờ [TQ phiên thiết đúng từ Mù thành hai tiếng Mó Hú (thiết lại thì như lướt “Mó Hú” = Mù) nhưng chữ thì mượn hai chữ nho cận âm là chữ Mó 模Hồ 糊tức tay sờ (chữ Mó模) vào hồ dán (chữ Hồ 糊) không có nghĩa gì với không minh bạch. Mù ( nghĩa là không rõ ràng) tức là Mơ Hồ ( Mơ là do lướt “Muội Dơ” = Mơ và Hồ là do lướt “Hoen Ố’ = Hồ. Mơ và Hồ đều có nghĩa là đen, không rõ ràng). Các từ của NKN đen là: “Đen Ô” = Đồ = Ô乌 = Ố 污 = Dơ = Mơ = Hồ = Hắc黑= Hôn昏= Hôm = Hoen = Huyền 玄= Hối 晦 = Tối = Muội 昧= Man蛮= Mun = Mực = Mèn = Đen, đều có nghĩa là đen tức không minh bạch. Ca dao: “Miệng nhà quan có gang có thép. Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm”. Đồ là đen đã chuyển chú thành từ Đồ chỉ những cái gì đen, có khi cái Đồ ấy màu nó không đen nhưng vì nó bị che kín cả ngày lẫn đêm trong bóng tối nên nó cũng thành đen. [TQ mượn cả nghĩa “không minh bạch” của từ Mơ Hồ của tiếng Việt, lẫn mượn cả cái âm “mơ hồ” nhưng lại phát âm lơ lớ là Mó Hú, rồi mượn hai chữ nho cận âm là chữ Mó摸 và chữ Hồ 糊để làm phiên âm, thành ra nghĩa của hai chữ cận âm đó là “Mó 摸tay vào Hồ 糊dán”, đâu phải nghĩa là không minh bạch.Chữ Mó 摸là chữ hình thanh (hình là cái tay扌, thanh là chữ Mô 莫cận âm), chữ Hồ 糊cũng là chữ hinh thanh (hình là chữ Mễ 米chỉ bột, thanh là chữ Hồ胡, chữ Hồ 胡lại là chữ hội ý ( là “Cổ 古Nhục肉” = Cục và “Nhục 肉Cổ古” = Nhô, la cái Cục Nhô bằng da bèo nhèo bạc nhạc dưới cổ con bò, thường gọi là cái yếm bò ] Người Việt cổ đại ở vùng Hoàng Hà cổ xưa lại dùng chữ Hồ 胡này phiên thiết thành hai tiếng Hung Nô để chỉ dân du mục phương Bắc (lướt hai tiếng lại thì là “Hung Nô” thiết Hồ, chỉ bọn rợ Hồ 胡du mục kém văn minh), thành ngữ cổ: “Nam phương Việt, Bắc phương Hồ南方越, 北方胡” 851 Giọt riêng Tầm-Tã tuôn mưa Phần căm nỗi khách, phân dơ nỗi mình Giot riêng là giọt lệ khóc thầm mà tuôn ướt đẫm như trời mưa. Tuôn mưa như Tưới nước. Tưới nở ra từ dính Tầm, -Tã (do lướt “Tưới Đẫm” = Tầm, lướt “Tưới Đã” = Tã). Từ dính Tầm –Tã trở thành hình dung từ cho động từ Tuôn mưa. 857 Giận duyên, tủi phận Bời Bời Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh Lớn nhanh như từ lướt “Bốc Hơi” = Bời. Cái tủi cũng bời bời tức lớn nhanh như bốc hơi. 865 Những là Đo-Đắn ngược xuôi Tiếng gà nghe đã gáy sôi mé tường Lướt lấy dấu “Đo Nguyên” = Đo,lướt lấy dấu “Đo Ngắn” = Đắn, câu 4 chữ Đo nguyên Đo ngắn chuyển thành câu 2 chữ Đo-Đắn. NKN: Nói = Gọi = Gáy (dùng cho gà) = Gí 語 (tiếng Đài Loan) = Gô 語 (tiếng Nhật Bản- Ni Hon Go日本語) = Ngỏ = Ngữ 語 = Ngôn 言= Ồn = Âm音. Đo- Đắn [TQ dịch: Hăng lượng khinh trọng衡量轻重(cân nhắc năng nhẹ)] 869 Đoạn trường thay lúc phân kỳ Vó câu Khấp –Khểnh bánh xe Gập-Gềnh Gấp Khúc, Khúc nở ra từ dính Khấp-Khểnh [TQ dịch là “gian nan cử bộ艰难举步” (khó khăn cất bước) ], Gấp nở ra từ dính Gập –Gềnh [ TQ dịch là Điên Pha “dianbo颠簸”(lắc lư) ]. Những từ dính Khấp-Khểnh và Gập-Gềnh phát âm đều thấy rõ cặp môi Mấp/Máy = =Đóng/Mở = 0/1 = Âm/Dương biểu lộ sự chuyển động Thấp/Cao như dao động hình sin. 873 Ngoài thì chủ khách Dập –Dìu Một nhà huyên với một Kiều ở trong Động từ Dính nhau nở ra từ dính Dập-Dìu [TQ dịch là Tương Tụ 相聚- tụ họp với nhau]. Tụ聚àTúm-Tụm 875 Nhìn càng Lã-Chã giọt hồng Rỉ tai nàng mới giải lòng thấp cao Từ dính Lã-Chã do từ Sa nở ra, hình dung sự Sa nước mắt. Giọt nước mắt ngắn thì lướt “Lọt Sa” = Lã, và giọt nước mắt dài thì lướt “Chảy Sa” = Chã . Hình dung từ Lã –Chã chuyển chú thành động từ, chỉ cần nói Lã Chã là biết đang khóc giọt ngắn giọt dài, giọt ngắn (Lã), giọt dài (Chã) [TQ không có từ nào tương đương với từ đã được gia công kỹ như từ Lã Chã nên chỉ dịch là Lưu Lệ 流泪(chảy nước mắt)]. Cùng là dùng chỉcó hai âm tiết nhưng Lã Chã (của tiếng Việt) cho hiệu quả của câu nói nhiều hơn là Lưu Lệ (Hán ngữ). 881 Xem Gương trong bấy nhiêu ngày Thân con chẳng kẻo mắc tay Bợm già Một từ Gương ngắn gọn đã dùng chuyển chú để thay cho cả một câu dài: Thấy qua hành động cư xử mà lộ ra tính cách quái đản của Mã Giám Sinh. Từ Bợm là Bịp-Bợm à chữ Biển騙 (lừa gạt). Bợm [ TQ dịch là Khi Biển欺騙 ]. 883 Khi về bỏ vắng trong nhà Khi vào Dùng-Dắng khi ra Vội – Vàng Câu này điển hình cho ngữ pháp VN là trong câu chỉ có Đề và Thuyết, không hề có chủ ngữ (theo Cao Xuân Hạo), Câu 1 thì Đề là “Khi về”, Thuyết là “Bỏ vắng trong nhà”, trong mệnh đề Thuyết không nêu ra mà vẫn hiểu được là có hai chủ ngữ: Kiều thì bị Bỏ trong nhà, Mã thì Vắng nhà. Câu 2 thì Đề là Khi vào, Khi ra; Thuyết là hành động của Mã. Dùng-Dắng là từ dính do Dặng (đánh tiếng) thể hiện thái độ cuống quýt hoảng hốt lớn dần lên của kẻ có ý đồ gian [TQ dịch là “ hoảng lý hoảng trưởng” 慌里慌长 (cái hoảng trong lòng lớn dần) ]. Vội Vàng là từ láy: Vàng là do lướt “Vội và Màng” = Vàng. Chẳng màng là không bận tâm đến, Màng 忙 = Mang 忙nghĩa là Bận (đa mang多忙: bận nhiều). 885 Khi ăn thì nói Lỡ-Làng Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh Lỗi nở ra từ dính Lỡ-Làng [ TQ dịch từ Lỡ-Làng: “căn bản nói không nổi một tí nào cái cao quí của Nho Nhã”. Như vậy TQ cũng công nhận văn Nho của Nhã ngữ là hay nhất]. Câu 2 không nêu chủ ngữ mà vẫn hiểu được khi Mã và đám đầy tớ với nhau thì Mã bị đám đầy tớ xem thường xem khinh [TQ dịch là: “đến bọn nô bộc dịch trong nhà cũng chê nó thô bỉ chứ chẳng được như Đường tục”. Như vậy TQ công nhận phong tục của người Thoòng (Đường nhân – người Việt Thường từ thời Đường Nghiêu) là văn minh, lối sống thanh tao] 897 Chút thân liễu yếu thơ đào Dớp nhà Đến-Đỗi giấn vào tôi người Dớp là do lướt từ đôi “Dơ Nhớp” = Dớp, Dớp chuyển chú thay cho chỉ sự cố hoạn nạn của nhà. Đến-Đỗi là từ láy (lướt “Đến Nỗi” = =Đỗi, Đỗi dùng láy cho Đến thành từ láy Đến-Đỗi). Giấn là do lướt lấy dấu “Dẫn Đến” = Giấn ( do nhấn mạnh nên kéo dài D à Gi). Tôi Ngươi là làm tôi tớ cho người ta, lướt lấy dấu “Người Ta” = Ngươi. Lướt lấy âm vận và lướt lấy dấu nhằm tạo ra từ mới đơn âm từ hai từ đơn âm hay một câu dài bằng lướt từ đầu câu với từ cuối câu. Cách này làm cho câu văn Việt rút ngắn mà hiệu quả cao (nén thông tin nội dung). Ví dụ đi học bình dân thanh toán nạn mù chữ gọi bằng dùng chuyển chú là đi học “a-bê-xê” vì đó là ba chữ đầu của bẳng Alphabet, dùng chuyển chú chỉ trình độ sơ khai. Nhưng dân gian không gọi vậy mà gọi là đi học “i – tờ” vì chữ I và chữ T có thể lướt “T- I” = Tí và lướt “I - T” = Ít (học một tí ít thôi lúc mới bắt đầu đi học). Nói trình độ “a-bê-xê” thì tính hình dung không mạnh bằng nói trình độ “I-Tờ”. Câu 2 cũng chỉ rõ thời Nguyễn Du viết Kiều thì chữ quốc ngữ đã có lưu hành chí ít là trong công giáo, chữ Gi và chữ D là phát âm khác nhau và tiếp như vậy đến nay, như câu “Con nhà có Giáo dục” phát âm khác với câu “Con gà mẹ Dáo-Dác tìm gà con” (Dõià Dáo-Dác, NKN:Nhìn = Nhãn眼 = Nhòm = Dòm = Dõi = =Diểu 眺(nhìn xa)). Không đến nỗi GS Bùi Hiển phải làm dự án gộp Gi và D thành một Z cho tiện đánh máy. Ngay từ Giời (tiếng Hà Nội) cũng là do lướt “Giàng Trời” = Giời. Còn kẻ cho “Giời gửi sáng vào Trăng” = Giăng, nên có câu ca dao: Giời bao nhiêu tuổi Giời già. Giăng bao nhiêu tuổi gọi là Giăng non 899 Từ đây góc bể chân trời Nắng mưa Thui-Thủi quê người một thân Thui-Thủi là từ láy, do lướt “Thân Tủi” = Thủi 909 Trông vời gạt lệ phân tay Góc trời Thăm –Thẳm ngày ngày Đăm-Đăm Thâm (sâu) nở ra từ dính Thăm-Thẳm . Đăm Đăm là từ lăp do lướt “Đờ đẫn mà Ngắm” = Đăm, khác với “Chăm chú mà Ngắm” = Chằm Chằm 911 Nàng thì dặm khách Xa-Xăm Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây Xa Xăm là từ láy Xa và “Xa Lắm”= Xăm. 923 Thoắt trông Lờn –Lợt màu da Ăn gì cao lớn Đẫy-Đà làm sao Lạt nở ra từ dính Lờn-Lợt. Đầy nở ra từ dính Đẫy-Đà 1035 Bốn bề Bát Ngát xa trông Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia Để diễn tả cái rộng của mặt phẳng, thì từ Mặt nở ra từ dính Mênh-Mông (do lướt “Mặt Rộng” = Mông, “Mặt thênh Thênh” = Mênh). Kèm thêm từ Bát là con số 8 trên bản đồ Dịch lý chỉ phương Đông là biển rộng mênh mông, do vậy chữ Bát chuyển chú chỉ sự rộng (biển Đông còn gọi là Bát hải). Bốn bề Ngang đều rộng là “Ngang Bát” = Ngát, do vậy mà từ láy Bát Ngát nghĩa là vô cùng rộng, thành câu Rộng bát ngát, hay rộng mênh mông bát ngát. Câu có 6 chữ “Bốn bề bát ngát xa trông” [TQ phải dịch là: Hướng tứ chu viễn diểu, mãn nhãn thị nhất phiến liêu khoát đích向四周远眺,满眼是一片辽阔的] thành ra 13 chữ, dài gấp đôi câu Việt tức hiệu quả của câu chỉ bằng nửa của Việt, riêng chữ Liêu Khoát là rộng, phải thêm trợ từ Mãn Nhãn cũng chưa cảm thấy rộng bằng Bát Ngát 1057 Ngậm-Ngùi rủ bức rèm châu Cách lầu nghe có tiếng đâu họa vần Ngậm-Ngùi là từ dính nở ra do từ Người (có tâm sự buồn), do lướt “Người dấu lòng Thầm” = Ngậm, lướt “Người dấu lòng Tủi” = Ngùi, thành từ dính Ngậm-Ngùi [TQ dịch là Vọng cảnh thương hoài望景伤怀] 1077 Những là Lần-Lữa nắng mưa Kiêp phong trần biết bào giờ là thôi? Lâu nở ra từ dính Lần-Lữa, do lướt “ Lâu Dần” = Lần và lướt “Lâu Nữa” = Lữa. Từ 5 chữ “Lâu dần và lâu nữa” rút xuống còn 2 chữ “Lần-Lữa”, đấy là cách nén thông tin trong câu Việt. 1129 Hóa nhi thật có nỡ lòng Làm chi giày tía vò hồng lắm nau! Tác giả đã dùng lướt “Nỗi Đau” = Nau 1133 Tú bà tốc thẳng đến nơi Hăm Hăm áp điệu một hơi về nhà Chữ nho Dọa Hù吓唬 là chữ ký âm phương ngữ (dùng bộ khẩu 口chỉ ý là từ khẩu ngữ của phương ngữ, mượn âm chữ Hạ 下và chữ Hổ虎), Dọa Hù là một từ đôi, Dọa cũng là Hù (làm cho người khác sợ). Dọa láy thành Dọa Dẫm (lướt “Dọa Lắm” = Dẫm). Hủ nở ra từ dính Hằm-Hè. Phiên thiết Hằm = Hăm Hăm (dấu thanh điệu: 1= 0+0). Hăm Hăm cũng có nghĩa như Dọa-Dẫm, nhưng Hăm Hăm mạnh ý hơn, tốc độ hơn vì nó cận âm với Xăm Xăm (là đi nhanh). 1189 Buồng riêng riêng những Sụt-Sùi Nghĩ thân mà lại Ngậm-Ngùi cho thân Chữ riêng đầu là riêng của buồng, chữ riêng sau là riêng của nỗi mình đang Sa nước mắt. Sa nở ra từ dính Sụt –Sùi (do lướt “Sa như lụt” = Sụt, lướt “Sa như Vùi” = Sùi). Ngượng nỏ ra từ dính Ngậm-Ngùi (do lướt “Ngượng Thầm” = Ngậm, lướt “Ngượng Tủi” = Ngùi). Nếu là Buồn Tủi và Ngượng Tủi thì lướt thành Bùi Ngùi. 1219 Những nghe nói đã Thẹn-Thùng Nước đời lắm nỗi Lạ-Lùng Khắt-Khe Lạ-Lùng là từ láy. Lạ và “Lạ Hung” = Lùng. Từ Khế (契约khế ước) nở ra từ dính Khắt-Khe 1299 Miệt- Mài trong cuộc truy hoan Càng quen thuộc nết càng Dan-Díu tình Miết nở ra từ dính Miệt Mài. Dính nở ra từ dính Dan-Díu 1335 Bình khang Nấn-Ná bấy lâu, Yêu hoa yêu được một màu điểm trang Nại 耐(nhẫn nại)nở ra từ dính Nấn-Ná 1473 Mảng vui rượu sớm cờ trưa, Đào đà phai thắm, sen vừa nẩy xanh Mảng do lướt “Mải Đang” = Mảng 1543 Lại còn Bưng-Bít giấu quanh, Làm chi những thói trẻ ranh nực cười Chữ Bế 閉nở ra từ dính Bưng-Bít 1565 Buồng đào khuya sớm Thảnh-Thơi Ra vào một mực nói cười như không Chữ Thư (thư dãn) nở ra từ dính Thảnh-Thơi 1717 Bàng Hoàng dở tỉnh dở say Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên lầu Bàng Hoàng là từ láy: do lướt “Bất Đang”= Bàng (đang lúc không ngờ), lướt “Hốt Đang” = Hoàng (đang lúc bỗng chợt).Lướt này đã chuyển khoăng khắc thời gian thành tâm trạng con người là Bàng Hoàng. [TQ dịch là: “Không ngờ cô ta chợt tỉnh lại mở to đôi mắt”不料她忽然醒过来睁开两眼bất liệu tha hốt nhiên tỉnh qua lai tranh khai lưỡng nhãn]. Mảng là do lướt tiếng “Mắng Vang” = Mảng, mắng la thúc giục ai đó mà vang tiếng lên, gọi là “Mắng Vang”= =Mảng. Câu không nêu chủ ngữ, nhưng trong ngữ cảnh này hiểu được là chủ đang mắng gọi đầy tớ. 1719 Ả hoàn trên dưới giục nhau Hãi hùng nàng mới theo sau một người Hãi Hùng là từ láy: Hãi và “Hãi Hung” = Hùng, ghép lại thành Hãi Hùng chỉ cái hãi xuất hiện và vụt lớn nhanh, đó là Hãi Hùng [TQ dịch là: Tha cực độ hoảng trương 她极度慌张 (Hãi Hùng có 2 chữ, Cực Độ Hoảng Trương mất 4 chữ)] 1725 Gạn-Gùng ngọn hỏi ngành tra Sự mình nàng phải cứ mà gửi thưa Gạn Gùng là từ láy cho từ Gạn. Từ Gạn đã là một nén thông tin khá lớn do lướt “Gợi và hỏi Vặn” = Gạn, thường dùng khi tra xét hỏi cung, mở lớn lùng sục xoi mói hơn nữa là lướt “Gạn Lùng” = Gùng, thành ra câu 5 chữ “Gạn và Gạn lùng” qua thủ thuật lướt mà chì còn 2 chữ Gạn-Gùng, nén đủ nội dung thông tin dài. [TQ dịch từ Gạn- Gùng là: Truy căn cứu để phản phúc bàn vấn 追根究底反复盘问 (hỏi tính toán lật đi lật lại, đuổi gốc moi rễ)] 1725 Bất tình nổi trận mây mưa Mắng rằng: “Những giống bơ thờ quen thân Con này chẳng phải thiện nhân Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng” Bơ Thờ là tác giả nói tắt câu thành ngữ sống “cù bất cù bơ thân nhờ thân gửi”. Cù Bất nghĩa là côi cút (Cù) không nơi nương tựa (Bất) Cù Bơ dùng láy cho Cù Bất. Thân Nhờ Thân Gửi nghĩa là đem than đi sống nhờ sống gửi nhà người. Tác giả đã dùng qui tắc nói vo, gạt nbor đầu đuôi chỉ lấy khúc giữa là Bơ và Thân Nhờ (đồng thời lướt “Thấn sống Nhờ” = Thờ, thành ra câu thành ngữ chỉ còn là hai tiếng Bơ Thờ. “Những giống bơ thờ “ là những giống sống cù bất cù bơ than nhờ than gửi. Hai câu 1727 và 1728 [TQ dịch là:Nị quyết bất thị lương gia nữ tử. Nị thị dã nữ nhân, quán ư tứ xứ du đãng, nị bất thị đào tỳ dã thị cá khỉ phu tái giá đich bà nương你决不是良家女子。你是野女人, 惯于四处游荡,你不是逃婢也是个弃 夫再嫁的婆娘(mày chẳng phải con nhà tử tế, chỉ là đồ quen sống trôi dạt, mày không là kẻ nô tỳ trốn chạy thì cũng là kẻ gái già bỏ chồng tái giá)]. Tác giả chỉ dùng có hai động từ “trốn và “lộn” đã nói đủ hết tư cách gian xảo của cái ‘con này” trong câu lục bát có 14 chữ (bản dịch đã dùng 34 chữ). ] 1733 Đã đem mình bán cửa tao Lại còn Khủng-Khỉnh làm cao thế này! Chữ Khánh chỉ cái Khánh bằng đá hay bằng ngọc là vật trang trí cao quí, từ Khánh còn chuyển chú để chỉ sự vui mừng. Từ Khánh nở ra từ dính Khủng-Khỉnh nói ý làm cao, ra giá, do từ dính gồm hai tiếng âm dương nên Khủng-Khỉnh hàm ý thách giá thấp cao. 1763 Phận sao bạc chẳng vừa thôi Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan Khăng Khăng là từ láy cho từ Khép (buộc chặt), do từ Khép Thằng nghĩa là dây thừng để trói, đã được lướt “Khép Thằng” = Khăng, thành từ láy Khăng Khăng ý nói buộc rất chặt không gỡ ra được. 1779 Lĩnh lời nàng mới lựa dây Nỉ-Non Thánh-Thót dễ say lòng người Dây đàn nó Nói nở ra từ dính Nỉ-Non, dây đàn nó Thốt nở ra từ dính Thánh-Thót. 1783 Cửa người đày đọa chút thân, Sớm Năn-Nỉ bóng, đêm ân hận lòng Năn-Nỉ là từ dính do Nói nở ra: nói nhiều là lướt ‘Nói Nhặn” = Năn, nói xin là lướt “Nói Kì” = Nỉ (Kì đảo祈祷nghĩa là xin cầu cho được), thành từ dính Năn-Nỉ. Ân Hận là từ láy, lướt “Úc Hận” = Ân, Úc Hận nghĩa là Hận sâu, rồi lại còn Hận nữa, nên láy thành từ Ân Hân. Ăn Năn khác xa nghĩa Ân Hận, nhưng do cận âm nên nhiều người thường lầm lộn, đáng lý cần nói Ăn Năn thì lại lầm sang dùng từ Ân Hận.[ TQ dịch: Úc hận và ai oán懊恨与哀怨 ] 1789 Lần Lần tháng trọn ngày mưa Nỗi gần nào biết đường xa thế này Thủ thuật lướt “Lâu Dần” “Lâu Dần” = Lần Lần (4 chữ còn 2 chữ) 1851 Nàng đà tán hoán tê mê, Vâng lời ra trước bình the vặn đàn Lướt “Hồn Loạn”= Hoán, Tán Hoán nghĩa như Mất Hồn hay gọi là Choáng Váng. Tê Mê là đứng sững mê mẩn [TQdịch: Tâm lý nhất phiến mê võng心里更觉一片迷惘]. 1867 Lòng riêng Tấp-Tểnh mừng thầm Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay Chữ Tẩu 走(đi)nở ra từ dính Tấp-Tểnh (bắt đầu bước nhen nhúm lòng hứng khởi) 1959 Chút than Quằn –Quại vũng lầy Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao? Cong nở ra từ dính Quằn-Quại 3235 Một nhà phúc lộc gồm hai Nghìn năm Dằng-Dặc quan giai Lần-Lần Dài nở ra từ dính Dằng-Dặc. Lướt “Lâu Dần”’Lâu Dần” = Lần Lần Bây giờ chúng ta đọc trong <truyện Kiều>: (qui tắc tạo từ được viết bằng chữ nghiêng) 15 Đầu lòng hai ả tố nga Thúy Kiều là chị , em là Thúy Vân Đây là một cặp sinh đôi (vì cả hai đều là “đầu lòng”. Nay dùng từ “sinh đôi” là chỉ cùng thời điểm ra đời. Xưa dùng từ loán sinh (孿生)là chỉ cùng thời điểm rụng trứng, tức tuổi đời sẽ tính cả thời gian trong bụng mẹ. Loán là do lướt Lưỡng Noãn = Loán. Lưỡng noãn là hai noãn bào cùng rụng một lúc. Nhưng Noãn và Trứng không hoàn toàn đồng nghĩa nhau dù xuất xứ do một. Noãn là do lướt “Nội Hoàn” = Noãn 卵chỉ cái viên tế bào tròn đang ở bên trong, chờ để được thụ tinh. Trứng là cái hình thành sau khi noãn bào đã được thụ tinh, nó hình bầu, chữ nho viết là Đán蛋, mọi quả trứng do một con gà sinh ra đều bằng nhau, từ Đán nở ra từ dính Đều-Đặn. Quan niệm của Mẹ Việt là khi sinh đôi thì đứa ra trước làm em vì khi còn trong bụng mẹ lúc sắp ra đời chỉ có một cửa, chị đã nhường cho em được ưu tiên ra trước, đó là do tư tưởng đạo hiếu đễ đã được mẹ ru dạy cho học từ khi còn trong bụng mẹ, và tuổi đời của con người thì tính cả tuổi mụ. 25 Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Nang nghĩa là da trong qui tắc nôi khái niệm (NKN): Da = Giỏ = Vỏ = Mo = Màng = Nang = Bàng = Bao = Bọc = Bì = Bị đều là những đồ gói. Mo bọc buồng nụ cau gọi là mo nang. Nang chuyển chú thành cái bao đựng. Nang còn chuyển chú thành từ chỉ cuốn sách tra cứu gọi là cuốn Cẩm Nang. Nang được mượn sang tiếng Mã Lai chuyển chú để chỉ cây cau là “pê nang”, Nang được mượn nguyên vẹn sang tiếng Thái để chỉ da. Bàng là cái bao đựng lớn đan bằng cói. Bị là túi xách nhỏ đân bằng cói. Màng là cái rất “Mỏng Nang” = =Màng = “Màng Bạc薄” = Mạc 幕 (QT lướt). Nở nang nghĩa đen là nở da, da căng mịn, nhìn đẹp mắt. Từ ghép Nở Nang đã được chuyển chú thành nghĩa là tươi tắn (tươi lắm, từ Lắm viết bằng chữ Nhiên 然, Nhiên = Nhặn, lướt “Tươi Nhặn” = Tắn). Nét ngài nở nang nghĩa là dáng người tươi tắn. Dáng người nhìn tươi tắn vì có vú mông tròn trịa, hình ảnh thực dục “Vú mông tròn trịa” đã được tả bằng cụm từ chuyển chú rất thanh tao là “Khuôn trăng đầy đặn”, đẹp và đầy như trăng tròn vậy, nhưng không dùng từ vầng trăng, vì từ vầng chỉ nêu cái vành sáng trần trụi (Vầng Trăng tiếng Lào gọi là Viêng Chăn, thành tên cho thủ đô Lào), ở đây dùng từ khuôn để nói ý là vú mông đã được khuôn dưới lớp áo váy nền nã và kín đáo thể hiện Vân rất trang trọng (coi trọng trang điểm), khuôn cũng nói lên cái tròn (nếu vuông thì đã dùng từ khung hay khoang), khuôn cũng còn nói lên khuôn phép chỉ ý là con người có giáo dục từ nền nếp gia phong. 51 Tà tà bóng ngả về tây Chi em Thơ-Thẩn dan tay ra về Đi chậm là Thả bước [TQ dịch là Mạn bộ 慢步]. Thả nở ra các từ dính Thơ-Thẩn, Thong-Thả, Thủng-Thẳng, Lững-Thững để dùng tùy ngữ cảnh. 63 Nổi danh tài sắc một thì, Xôn-Xao ngoài cửa hiếm gì yến anh. Xướng (nói) nở ra từ dính Xôn-Xao (do lướt ‘Xướng Ngôn” = Xôn, lướt “Xướng ồn Ào” = Xao). Nữ Xướng ngôn viên (ví dụ của BNG) có thể gọi là “bà Xôn”, bà Xôn nói rất Đúngà Điềm- Đạm (biết nói ngọt nhạt) và rất Đúngà Đĩnh-Đạc (biết nói cương quyết) 81 Lòng đâu sẵn mối thương tâm Thoắt nghe Kiều đã Đầm Đầm châu sa Đầm Đầm là từ lặp. Lướt từ lặp “Đầm Đầm” = Đẫm, 1+1=0 (đúng qui luật cộng nhị phân biến đổi dấu thanh điệu) 85 Phũ –Phàng chi bấy hóa công! Ngày xanh Mòn-Mỏi má hồng phôi pha Phũ –Phàng [ TQ dịch là Tàn khốc vô tình 残酷无情 ] . Chứng tỏ từ Phũ –Phàng không có trong Hán ngữ. Phũ Phàng là một từ láy, được tạo ra do từ Vũ Phu chỉ hành động thô ác của hạng chồng vũ biền. Vũ Phu lướt ngược là “Phu Vũ” = Phũ, láy thêm bằng cách lướt “Phũ với Nàng” = Phàng, thành từ láy Phũ-Phàng. 95 Lầm dầm khấn vái nhỏ to, Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra. Lầm dẩm là từ láy: do lướt “Lời nói thầm” = Lầm, lướt “Dặng Thầm” = Dầm. Dặng nghĩa là đánh tiếng. NKN: Văng (nói tục) = Dặng (đánh tiếng) = Dạm (hỏi ướm ý) = Dắngà Dùng-Dắng (đánh tiếng nọ kia) = Đằng hắng (đánh tiếng, tiếng Chăm) = Đèng héng (đánh tiếng, giọng Quảng Nam) = E hèm (đánh tiếng) 101 Lại càng Mê Mẩn tâm thần Lại càng đứng lặng Tần Ngần chẳng ra Mê Mẩn là từ láy:Mê và lướt “Mê Thần” = Mẩn, trong câu đã nói rõ thêm là “mê mẩn tâm thần”. Tần Ngần là từ láy, do lướt “Tê Thần” = Tần. lướt “Ngơ Thần” = Ngần [ TQ dịch là Tâm thần biến đắc si mê心神变得痴迷] 169 Dưới cầu nước chảy trong veo Bên cầu tơ liễu bóng chiều Thướt-Tha Thân (mình) nở ra các từ dính: Thon-Thả (vóc dáng gọn gàng), Thộn-Thện (béo và xộc xệch vụng về), Thòng-Thượt (dáng lười biếng). Thướt –Tha (dáng đẹp mềm mại) 173 Gương nga Chênh Chếch dòm song, Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân. Chênh Chếch là từ láy. Cặp đối Âm/Dương = Nghiêng/Ngay = =Chênh/Chính = Chành/Chân= Chậm/Chóng = Móm/Mạnh = 0/1 185 Chênh Chênh bóng nguyệt xế mành Tựa ngồi bên triện một mình Thiu -Thiu Chênh Chênh là từ lặp, nghĩa là Nghiêng, nghịch với Chính (là Ngay). Các cặp từ đối1/0 = Ngay/ Nghiêng = Chính/Chênh= =Chân/Chành (hàng Chành là hàng Nhái) . Từ lặp Chênh Chênh mà lướt thì thành lướt từ lặp “Chênh Chênh” = Chếnh, dấu 0+0=1 . Chếnh có nghĩa là nghiêng mạnh hơn, tức lướt lấy dấu “Chênh Lắm” = Chếnh, Chếnh nghĩa là sắp đổ, như người say rượu Chếnh-Choáng. Thiu-Thiu là ngủ gật, từ dính nở ra do từ hàn lâm Thùy 睡nghĩa là Ngủ (Ngủ = Nghỉ , Nghỉ là Hiu, mà lướt “Thùy 睡Hiu休” = Thiu = Thiu-Thiu), Thùy 睡còn nở ra từ dính Thiêm-Thiếp nghĩa là ngủ mê mệt. Hán mượn chữ nho Thùy睡và đọc là [Shùi] nên tiếng Việt mượn lại “Suây” để từ “Suây” nở ra từ dính Say -Sưa nghĩa là ngủ giấc nồng. 187 Thoắt đâu thấy một tiểu kiều Có chiều phong vận, có chiều thanh tân Sương in mặt tuyết pha thân Sen vàng Lững-Thững như gần như xa Từ dính Lững –Thững [đã đươc TQ dịch là Mạn Bộ 漫步(đi chầm chậm)] mà tiếng Việt gọi là Thả bước (đi từ từ từng bước). Động từ Thả đã nở ra các từ dính Thơ-Thẩn, Thong - Thả, Thủng -Thẳng, Lững –Thững diễn tả nhiều sắc thái của nhiều ngữ cảnh. 191 Rước mừng đón hởi Dò-La: “Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây?” Dò-La la từ dính nở phái sinh do từ Dạm (hỏi ướm ý). Dò-La [được TQ dịch là 偏问道 (thiên vấn đạo – nói hỏi nọ kia ngoài rìa ] 197 Mấy lòng hạ cố đến nhau Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng. Hạ tứ ở đây nghĩa là ban cho kẻ dưới đất, chữ Tứ 賜nghĩa là cho đi, như chữ Tứ賜là chữ kiểu hội ý, hiểu nghĩa bằng lướt “Dịch 易Bối貝” = Dội, đồng nghĩa với lướt “Tưới Chứ!” = Tứ 217 Một mình Lường-Lự canh chầy Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh Canh chầy là canh cuối cùng của đêm (canh đầu gọi là canh Chớm, cặp đối D/ Â = Chớm/Chầy, thời gian đêm Chạy từ Chớm đến Chầy là hết đêm). Cả đêm không ngủ vì Lo. Lo nở ra từ dính Lường-Lự [ được TQ dịch là 思量 tư lượng (nghĩ ngợi và so đo ) ]. Ở đây là do từ Lo nở ra từ dính Lường-Lự, Lường là do lướt “Lòng Tưởng” = =Lường (so đo), Lự là do lướt “Lòng Tư” = Lự (nghĩ ngợi). Những từ lướt nhằm nén thông tin: lướt câu “Lo và Nom” = Lỏm, thành từ Lo Lỏm nghĩa là lo và dự kiến làm sao cho đúng. 221 Nỗi riêng lớp lớp sóng giồi Nghĩ đòi cơn lại Sụt-Sùi đòi cơn Hình thức động của sóng nước là nó cứ Giáng xuống và Nổi lên liên tục, nên qui tắc lướt đã giúp nén thông tin thành một từ do lướt “Giáng và Nổi” = Giồi. Hai từ Tiếng Khóc chữ nho viết là Thanh Khốc, cái Thanh ấy trong trường hợp khóc nhỏ tiếng, trong cảnh cô đơn, đã nở ra từ dính Thút-Thít là hình dung từ cho động từ khóc, lắm khi từ dính Thút- Thít cùng dùng chuyển chú thay cho động từ Khóc. Một Thân cô đơn thì cảm thấy thật Tủi phận, nén thông tin bằng lướt “Thân Tủi” = Thủi. Từ Thân là một thân cô đơn đã nở ra từ dính Thui-Thủi diễn tả được thông tin dài là cô đơn và tủi phận buồn. Buồn tiếng hàn lâm là Sầu愁, Sầu dẫn đến Khóc. Sầu thì tủi nên lướt “Sầu Tủi” = Sùi. Vậy là từ Sầu có cơ duyên mà nở ra từ dính Sụt-Sùi làm hình dung từ cho động từ Khóc, hoặc từ dính Sụt – Sùi cũng được dùng chuyển chú thay cho động từ khóc, nhưng hiểu được là khóc vì sầu tủi (thổ lộ lòng) khác với Thút-Thít (chỉ tả cái tiếng khóc nhỏ nhẹ : lướt “Thanh chút Chút” = Thút và lướt “Thanh ít Ít” = Thít). Qua câu này thấy được thời Nguyễn Du đã có chữ quốc ngữ lưu hành trong giáo dân rồi, phụ âm “Gi” và phụ âm “D” phát âm khác nhau, từ “Giáo” dục phát âm khác với gà mẹ “Dáo”-dác (Dõià Dáo-Dác) tìm con. Nên không thể thay gộp Gi và D thành một Z cho tiện đánh máy như dự án của GS Bùi Hiển được. Từ Sóng Giồi (rất ngắn)[được TQ dịch (quá dài) là “cuồng đào ban dõng khởi狂濤般涌起” (sóng cuồng như dòng nổi)], chứng tỏ ngôn ngữ Việt có tính hiệu quả cao trong diễn đạt, không cần phải nói dài dòng. Những từ dân gian đã làm mầm cho chữ Nho: Biến có sóng gọi là Ba 波 (do lướt “Biển hờn như ăn Vạ” = Ba), Luồng Lạch có sóng gọi là Lãng浪 (do lướt “Lạch thì nước lang Thang” = Lãng), Ao có sóng gọi là Đào濤 (do lướt “Động nước trong Ao” = Đào), chữ nào chỉ sóng cũng đều có bộ thủ nước(氵), dùng từ đôi Ba Lãng波浪, Ba Đào波濤, Lãng Đào浪濤 chỉ ý nhiều sóng. Đòi nghĩa là tưởng tượng, Cơn nghĩa là vận hội, do lướt “Cảnh Lớn” = Cơn, là hoàn cảnh gặp phải: Gặp cơn khốc liệt can qua. Đòi mình ứng xử phải ra thế nào. 225 “Cớ sao Trằn –Trọc canh khuya Màu hoa lê hãy Dầm-Dề giọt mưa?” Động từ Trở mình đã nở ra từ dính Trằn-Trọc. Do lướt “Trở Lăn” = Trằn (lật phải, lật trái), lướt “Trỏ Dọc” = Trọc (ngồi dậy vẫn không ngủ được lại nằm xuống, rồi lại ngồi dậy). [ TQ dịch động từ Trở mình là 反侧phản trắc (lật nghiêng) và không có từ để dịch nổi hình dung từ Trằn –Trọc nên phải phiên âm bằng cách mượn chữ nho cận âm là hai chữ 辗转Triển Chuyển, chữ Triển辗vỗn nghĩa là xay nghiền, chữ Chuyển 转là đưa đi, nên chữ Triển Chuyển chuyển chú thành nghĩa là Gián tiếp chuyển đi. Do âm nó giống từ Trằn Trọc của tiếng Việt nên khi dịch đã dùng nó làm hình dung từ cho động từ Phản Trắc (lật nghiêng) thành cụm từ Triển Chuyển Phả Trắc 辗转反侧để dịch mỗi một từ dính tiếng Việt là Trằn-Trọc hay từ Trăn Trở đã chuyển chú thành nghĩa là không ngủ được ]. Dọt nước mắt đọng trên mặt như dọt mưa đọng trên hoa lê. Từ Dọt đã nở ra từ dính Dầm-Dề biểu ý nó còn đẫm trên mặt chứ chưa trôi đi. 239 Ngoài song Thỏ -Thẻ oanh vàng Nách tường bông liễu bay ngang trước mành Thốt (hót) nở ra từ dính Thỏ-Thẻ 245 Chàng Kim từ lại thư song Nỗi nàng Canh-Cánh bên lòng biếng khuây Canh-Cánh là từ láy của từ Cạnh. Do lướt lấy dấu “Cạnh Bên” = Canh, “Cạnh Bám” = Cánh tạo thành từ láy Canh-Cánh để nhấn mạnh ý là nỗi nhớ nàng luôn cạnh lòng mình 251 Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao Mặt tơ tưởng mặt, lòng Ngao-Ngán lòng Người (về tâm trạng) nở ra từ dính Ngao-Ngán: lướt “Người phiền Não” = Ngao, lướt “Người buồn Chán” = Ngán, thành từ Ngao-Ngán [ TQ dịch“Tâm tình rất buồn chán 心情多么烦厌 ”] 259 Bâng Khuâng nhớ cảnh nhớ người, Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi Bâng Khuâng là từ láy do lướt “Buồn Dâng” = Bâng, lướt “Khốn Dâng” = Khuâng (tâm trạng buồn và nghĩ khó xử cứ dâng lên vì nỗi nhớ trong lòng) 265 Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều Xăm-Xăm đè nẻo Lam kiều lần sang Đi nho viết bằng chữ Khứ去, Hán ngữ mượn chữ nho đọc chữ Khứ 去là Xuy, mượn lại sang tiếng Việt từ Xuy nở ra từ dính Xăm-Xăm nghĩa là đi nhanh, Lệ-Xệ nghĩa là đi chậm, Cà-Xiểng nghĩa là đi bước thấp bước cao. Lần nghĩa là đi chậm thận trọng, do lướt “Lộ dần Dần” = Lần. Lộ là Lối đi, đã chuyển chú thành thay cho động từ đi, nói Lộ qua nhà anh nghĩa là đi ghé qua nhà anh. 301 Tan sương đã thấy bóng người Quanh tường ra ý Tìm-Tòi Ngẩn – Ngơ Từ dính Tìm –Tòi do nở ra từ chữ Tầm尋, Hán ngữ đọc chữ Tầm尋 là “Xuýn尋”. Mượn lại sang tiếng Việt, từ “Xuýn” lại nở ra từ dính Xăm-Xoi đồng nghĩa với Tìm- Tò, tuy sắc thái hơi khác. Từ dính Ngẩn- Ngơ được nở ra do chữ Ngu愚 [ TQ dịch là Mang Nhiên茫然 ( “máng rán茫然”: mù tịt, không hay biết) ]. 325 Xương mai tính đã rũ mòn Lần-Lừa ai biết hãy còn hôm nay Lâu nở ra từ dính Lần-Lừa (do lướt “Lâu Dần” = Lần và “Lâu Nữa” = Lừa). 331 Ngần –Ngừ này mới thưa rằng Thói nhà băng tuyết chất hằng phỉ phong Lướt “Ngừng Chờ” = Ngợ. Ngợ nở ra từ dính Ngần –Ngừ 347 Lặng nghe lời nói như ru Chiều lên dễ khiến nét thu Ngại –Ngùng Nghi nở ra từ dính Ngại-Ngùng 359 Một lời gắn bó tất giao Mé sau dường có Xôn-Xao tiếng người Nói đồng nghĩa Xướng唱. Xướng nở ra từ dính Xôn –Xao do lướt “Xướng Ngôn” = Xôn, “Xướng ôn Ào” = Xao [ TQ có mượn dùng chữ Xướng 唱nhưng không nở được từ dính Xôn-Xao, phài dịch từ Xôn-Xao là “Zài shuohuà在说话”- Tại thuyết thoại (đang nói chuyện) ]. Nữ Xướng Ngôn viên BNG có thể gọi là bà Xôn, lời nói bà ta Đúng à Điềm-Đạm ( tức biết nói ngọt nhạt) và Đúng à Đĩnh-Đạc (tức biết nói cương quyết). 373 Tưng bừng Sắm-Sửa áo xiêm Biện dâng một lễ xa đem tấc thành Từ dính Sắm-Sửa là nở ra do từ “Suan穿” của Hán ngữ (nghĩa là mặc quần áo). 377 Thời trân thức thức sẵn bày Gót sen Thoăn-Thoắt dạo ngay mé tường Thoi (chuyển động rất nhanh) đã nở ra từ dính Thoăn-Thoắt để chỉ tốc độ thao tác. Thoăn –Thoắt lại chuyển chú thành trợ động từ chỉ sự chuyển động nhanh.Thoi còn nở ra từ dính Thấm-Thoắt chỉ tốc độ thời gian trôi nhanh. 379 Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông Sẽ là Se Sẽ = Khe Khẽ. Dặng nghĩa là đánh tiếng, do NKN: Nói = =Na = Và 话 = Viết曰 = Vân 云 = Van = Văng (nói tục) = Dặng (đánh tiếng) = Dạm (hỏi ướm ý). Dặng = Đằng Hắng (tiếng Chăm) = =Đèng Héng (tiếng Quảng Nam) = E Hèm (đánh tiếng). “Tiếng Việt là mẹ các ngữ”. NKN mặt: Mặt = Miện = Diện 面 = Da = Nạ (tiếng Lào) = Ná (tiếng Tày = Nang (tiếng Thái) = Màng = Mạc幕 = “Mạc Diện” = Mian面(tiếng Hán). Tiếng Tày mặt đen là Ná Nhèm, tiếng Việt lại có cụm từ mặt đen Nhẻm. NKN: Nhẻm = Nhèm = Lem = Lọ = Nhọ = Tro. Tro là màu Tro tức đen, chuyển chú thành danh từ Tro chỉ tro bếp. 381 Trách lòng Hờ -Hững với lòng Lửa hương chốc để Lạnh-Lùng bấy lâu Dừng nghỉ *Hưu) ở nơi (Nẻo) xa, gọi lướt “Hưu Nẻo” = Hẻo, muốn tránh xa người khác. Hẻo nở ra từ dính Hờ-Hững. Lướt “Lẩn Tránh” = Lánh, như muốn trốn khỏi người khác. Lánh nở ra từ dính Lạnh-Lùng. Tự trốn riêng ra nơi Hẻo Lánh là thái độ Hờ-Hững và Lạnh-Lùng với cộng đồng. 431 Cửa ngoài vội rủ rèm che Xăm –Xăm băng lối vườn khuya một mình Chữ Khứ 去nghĩa là đi, Hán ngữ đọc chữ Khứ là “Xuy去”. Xuy sang tiếng Việt nở ra từ dính Xăm-Xăm là đi nhanh, Lệ-Xệ là đi chậm, Cà-Xiểng là đi bước thấp bước cao. Mà “Xuy去” trong Hán ngữ không phái sinh ra được từ nào có phụ âm “X” hay âm vận “Uy” mà mang nghĩa là Khứ cả. 433 Nhặt thưa gương giọi đầu cành Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh Hắt-Hiu NKN đen là: Dơ = Ô乌 = Ố污 = “Hoen Ô污” = Hồ = “Đen Ố乌” = =Đồ. Hồ nở ra từ dính Hắt-Hiu (chỉ ánh sáng mờ mờ). “Muội Dơ” = =Mơ. Mơ Hồ hay Hồ Đồ đều là những từ đôi chỉ sự đen, không rõ ràng, không minh bạch. Hán ngữ ký âm từ Mơ Hồ là “Múa Hú” viết bằng hai chữ nho cận âm là chữ Mó摸 (sờ nắm) là chữ hình thanh (hình là cái Tay扌, thanh là chữ Mô 莫tức không có- tiếng Nghệ) và chữ Hồ 糊(chỉ hồ dán làm bằng bột) là chữ hình thanh (hình là chữ Mễ 米chỉ bột, thanh là chữ Hồ 胡là chữ hội ý chỉ “Cổ 古Nhục肉” = Cục và “Nhục 肉Cổ古” = Nhô là cái cục nhô dưới cổ con bò còn gọi là yếm bò). Thành ra chữ “Múa Hú模糊” của Hán ngữ dùng chỉ ý không rõ ràng , không minh bạch chỉ là mượn chữ để ký âm na ná từ Việt là từ Mơ Hồ. Từ Hồ Đồ cũng vậy, chỉ là mượn chữ nho cận âm để làm ký âm, chữ Hồ 糊là hồ dán, chữ Đồ 涂là bôi tô màu, thành âm na ná là “Hú Thú糊涂” ký âm hai tiếng Hồ Đồ nghĩa là không rõ ràng. 435 Sinh vừa tựa án Thiu-Thiu Dở chiều như tỉnh, dở chiều như mê Chữ Thùy 睡là ngủ nở ra từ dính Thiu-Thiu là ngủ gật [Hán ngữ mượn chữ Thùy睡 dùng với nghĩa là ngủ, nhưng lại không nở được từ dính Thiu-Thiu mang nghĩa ngủ gật. Hán ngữ gọi ngủ gật là “Da Dun打盹”] 439 Bâng khuâng đỉnh Giáp non thần Còn ngờ giấc mộng đêm xuân Mơ-Màng Chữ Mộng夢 nở ra từ dính Mơ-Màng. Bâng Khuâng là từ láy chỉ tâm trang buồn và khó xử: do lướt “Buồn Dâng” = Bâng, lướt “Khốn Dâng” = Khuâng 449 Vầng trăng Vằng-Vặc giữa trời Đinh ninh hai miệng một lời song song Từ Vàng nở ra từ dính Vằng-Vặc. Màu vàng của trăng rất lâu dài nên đã mượn từ dính Dằng-Dặc (của Dài) để làm thành lướt ”Vàng Dằng”= Văng và lướt “Vàng Dặc” = Vặc 483 Tiếng khoan như gió thoảng ngoài Tiếng mau Sầm-Sập như trời đổ mưa Động từ Sa mưa, từ Sa nở ra từ dính Sầm-Sập. 485 Ngọn đèn khi tỏ khi mờ Khiến người ngồi đó mà Ngơ-Ngẩn sầu Ngẫm nở ra từ dính Ngơ-Ngẩn (“Ngẫm Sơ”=Ngơ, “Ngẫm Dần” = =Ngẩn). Ngẫm Sơ cái sầu và Ngẫm Dần cái sầu thành ra Ngơ-Ngẩn sầu [TQ dịch: “chóu chàng惆怅, máng rán茫然”(rầu rĩ, mù tịt)] 499 Sóng tình dường đã xiêu xiêu Xem trong Âu-Yếm có chiều Là-Lơi Yêu nở ra từ dính Âu-Yếm. Lỏng nở ra từ dính Lả-Lơi (do lướt “Lỏng Rã” = Lả. lướt “Lỏng Rời” = Lơi) [TQ dịch từ Lả-Lơi là Phóng túng - “fàng song放送” (buông lỏng)] 513 Mây mưa đánh đổ đá vàng Qúa chiều nên đã Chán-Chường yến oanh Chê nở ra từ dính Chán-Chường [ TQ dịch là 厌倦的心理 ngán quyển đích tâm lý]. 515 Trong khi chắp cánh liền cành Mà lòng Rẻ-Rúng đã dành một bên Dễ nở ra từ dính Rẻ Rúng (Khinh thị, Khi dễ) 517 Mái tây để lạnh hương nguyền Cho duyên Đằm-Thắm ra duyên Bẽ - Bàng Đậm nở ra từ dính Đằm-Thắm. Bẽn nở ra từ dính Bẽ-Bàng 547 Tai nghe ruột rối Bời-Bời Ngập -Ngừng nàng mới giải lời trước sau Ngôn nở ra từ dính Ngập-Ngừng. Nói mà cứ ‘Ngôn Lấp” = Ngập, “Ngôn Dừng” = Ngừng (lướt) thì gọi là nói Ngập –Ngừng [TQ dịch là Do Dự犹豫 ] 559 Dùng-Dằng chưa nỡ rời tay Vừng đông đâu đã đứng ngay nóc nhà Dở (đang dở câu chuyện) nở ra từ dính Dùng –Dằng 569 Nàng còn đứng lặng hiên tây Chín hồi Vấn-Vít như vầy mối tơ Vướng nở ra từ dính Vấn-Vít 571 Trong chừng khói ngất song thưa Hoa trôi dạt thắm. liễu Xơ-Xác vàng Chữ Tiêu điều萧条Hán ngữ đọc là Xiao (nghia là khô queo). Chuyển sang Việt từ “Xiao” nở ra từ dính Xơ-Xác 575 Hàn huyên chưa kịp Dã-Dề Sai nha bỗng thấy bốn bề Xôn-Xao Dắng (lên tiếng) nở ra từ dính Dã –Dề. Xướng (nói) nở ra từ dính Xôn-Xao. 639 Đắn-Đo cân sắc cân tài Ép cung câm nguyệt thử bài quạt thơ Đạc nở ra từ dính Đắn –Đo [TQ dịch là Điểm Lường掂量] 641 Mặn nồng một vẻ một ưa Bằng lòng khách mới tùy cơ Dăt-Dìu Gía (giá trị) nở ra từ dính Dặt – Dìu. Dặt –Dìu lại chuyển chú thành nghĩa là trả giá 647 Cò- Kè bớt một thêm hai Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm Nói = Na = La = Ca = Coỏng (tiếng Quảng Đông, Đài Loan) = Kêu -Kêu nở ra từ dính Cò-Kè. Cò-Kè chuyển chú thành trả giá bớt một thêm hai, tức lướt “Kêu To” = Cò, lướt “Kêu Bé” = Kè. Cò- Kè là từ dính, mọi từ dính đều không thể đảo ngược vị trí hai tiếng, mà tách hẳn hai tiếng ra thì nó mất nghĩa. Cò-Kè không phải là con cò và cái bờ kè. 697 Phận rầu dầu vậy cũng dầu Xót lòng Đeo-Đẳng bấy lâu một lời Đợi nở ra từ dính Đeo-Đẳng 699 Công trình kể biết mấy mươi Vì ta Khăng-Khít cho người Dở -Dang Khép nở ra từ dính Khăng-Khít. Dừng nở ra từ dính Dở- Dang (“Dừng Chờ” = Dở, “Dừng giữa Đàng” = Dang) [TQ dịch là “nhân duyên trung đồ đoạn tống姻缘中途断送”(nhân duyên giữa chừng ngừng đi tiếp)]. Sản phẩm đang trong chu trình gia công gọi là sản phẩm dở dang. Sản phẩm đã gia công xong gọi là thành phẩm. 701 Thề hoa chứa ráo chén vàng Lỗi thề thôi đã Phụ-Phàng với hoa Từ láy Phụ-Phàng (lướt “Phụ tình Chàng” = Phàng).Phụ Phàng (phụ tình với chàng). Khác với Phũ Phàng là do Vũ Phu nói lái là Phũ Vu, tức “Phũ với Nàng”= Phàng, thành từ láy Phũ-Phàng (hành động bạo lực của chồng đối vời vợ). 711 Nỗi riêng riêng những Bàn Hoàn Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn Bàn là nói lướt “Bất An” = Bàn. Bàn Hoàn là bất an hoàn toàn. 713 Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân Dưới đèn ghé đến ân cần Hỏi Han Hỏi Han là từ láy. Han là do lướt “ Hỏi huyên Hàn” = Han 719 Rằng lòng đương Thổn-Thức đầy Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong Thương (mà đau) nở ra từ dính Thổn-Thức [TQ dịch là Uất Muộn ”Yu men郁闷”] 721 Hở môi ra cũng Thẹn -Thùng Để lòng thì phụ tấm lòng với ai Thẹn -Thùng là từ dính do tâm trạng Thương. Thương cho nên Bẽn, lướt “Thương Bẽn” = Thẹn, vì Thẹn nên muốn lánh không nói đến tức “Thẹn thành ra lạnh Lùng” = Thùng, tạo ra từ Thẹn-Thùng [ TQ là “cán kui惭愧”, xìu kui羞愧” ] 751 Trăm nghìn gửi lạy tình quân Tơ duyên Ngắn-Ngủi có ngần ấy thôi Từ láy Ngắn-Ngủi, chỉ tâm trạng (lướt “Ngắn và Tủi” = Ngủi). Khác với Ngắn Ngủn , chỉ vật thể (lướt “Ngắn và Lùn” = Ngủn) 783 Trời hôm mây kéo tối rầm Rầu Rầu ngọn cỏ, Đầm Đầm cành sương Đêm = Đom = Om= Hom = Hôm – Hôn 昏 = Hối 晦 = Tối = Túi = Têm = Đêm = Đêm Hôm. Từ lặp, lướt “Rầu Rầu” = Rẫu, 1+1=0 。Phiên thiết Rẫu = Rũ Ấu (héo non). Đầm Đầm” = Đẫm, 1+1 =0 787 Ngập –Ngừng thẹn lục e hồng Nghĩ lòng lại xót xa lòng đòi phen Ngượng nở ra từ dính Ngập- Ngừng [(TQ dịch là Do Dự犹豫)] 797 Đã sinh ra số Long-Đong Còn mang lấy liếp má hồng được sao? Lưu 流 (chảy)nở ra từ dính Long-.Đong [ TQ dịch là Phiêu Bạc 漂泊 (trôi nổi) ] 839 Mập –Mờ đánh lận con đen Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi? Mù (nghĩa là không minh bạch), Mù nở ra từ dính Mập - Mờ [TQ phiên thiết đúng từ Mù thành hai tiếng Mó Hú (thiết lại thì như lướt “Mó Hú” = Mù) nhưng chữ thì mượn hai chữ nho cận âm là chữ Mó 模Hồ 糊tức tay sờ (chữ Mó模) vào hồ dán (chữ Hồ 糊) không có nghĩa gì với không minh bạch. Mù ( nghĩa là không rõ ràng) tức là Mơ Hồ ( Mơ là do lướt “Muội Dơ” = Mơ và Hồ là do lướt “Hoen Ố’ = Hồ. Mơ và Hồ đều có nghĩa là đen, không rõ ràng). Các từ của NKN đen là: “Đen Ô” = Đồ = Ô乌 = Ố 污 = Dơ = Mơ = Hồ = Hắc黑= Hôn昏= Hôm = Hoen = Huyền 玄= Hối 晦 = Tối = Muội 昧= Man蛮= Mun = Mực = Mèn = Đen, đều có nghĩa là đen tức không minh bạch. Ca dao: “Miệng nhà quan có gang có thép. Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm”. Đồ là đen đã chuyển chú thành từ Đồ chỉ những cái gì đen, có khi cái Đồ ấy màu nó không đen nhưng vì nó bị che kín cả ngày lẫn đêm trong bóng tối nên nó cũng thành đen. [TQ mượn cả nghĩa “không minh bạch” của từ Mơ Hồ của tiếng Việt, lẫn mượn cả cái âm “mơ hồ” nhưng lại phát âm lơ lớ là Mó Hú, rồi mượn hai chữ nho cận âm là chữ Mó摸 và chữ Hồ 糊để làm phiên âm, thành ra nghĩa của hai chữ cận âm đó là “Mó 摸tay vào Hồ 糊dán”, đâu phải nghĩa là không minh bạch.Chữ Mó 摸là chữ hình thanh (hình là cái tay扌, thanh là chữ Mô 莫cận âm), chữ Hồ 糊cũng là chữ hinh thanh (hình là chữ Mễ 米chỉ bột, thanh là chữ Hồ胡, chữ Hồ 胡lại là chữ hội ý ( là “Cổ 古Nhục肉” = Cục và “Nhục 肉Cổ古” = Nhô, la cái Cục Nhô bằng da bèo nhèo bạc nhạc dưới cổ con bò, thường gọi là cái yếm bò ] Người Việt cổ đại ở vùng Hoàng Hà cổ xưa lại dùng chữ Hồ 胡này phiên thiết thành hai tiếng Hung Nô để chỉ dân du mục phương Bắc (lướt hai tiếng lại thì là “Hung Nô” thiết Hồ, chỉ bọn rợ Hồ 胡du mục kém văn minh), thành ngữ cổ: “Nam phương Việt, Bắc phương Hồ南方越, 北方胡” 851 Giọt riêng Tầm-Tã tuôn mưa Phần căm nỗi khách, phân dơ nỗi mình Giot riêng là giọt lệ khóc thầm mà tuôn ướt đẫm như trời mưa. Tuôn mưa như Tưới nước. Tưới nở ra từ dính Tầm, -Tã (do lướt “Tưới Đẫm” = Tầm, lướt “Tưới Đã” = Tã). Từ dính Tầm –Tã trở thành hình dung từ cho động từ Tuôn mưa. 857 Giận duyên, tủi phận Bời Bời Cầm dao nàng đã toan bài quyên sinh Lớn nhanh như từ lướt “Bốc Hơi” = Bời. Cái tủi cũng bời bời tức lớn nhanh như bốc hơi. 865 Những là Đo-Đắn ngược xuôi Tiếng gà nghe đã gáy sôi mé tường Lướt lấy dấu “Đo Nguyên” = Đo,lướt lấy dấu “Đo Ngắn” = Đắn, câu 4 chữ Đo nguyên Đo ngắn chuyển thành câu 2 chữ Đo-Đắn. NKN: Nói = Gọi = Gáy (dùng cho gà) = Gí 語 (tiếng Đài Loan) = Gô 語 (tiếng Nhật Bản- Ni Hon Go日本語) = Ngỏ = Ngữ 語 = Ngôn 言= Ồn = Âm音. Đo- Đắn [TQ dịch: Hăng lượng khinh trọng衡量轻重(cân nhắc năng nhẹ)] 869 Đoạn trường thay lúc phân kỳ Vó câu Khấp –Khểnh bánh xe Gập-Gềnh Gấp Khúc, Khúc nở ra từ dính Khấp-Khểnh [TQ dịch là “gian nan cử bộ艰难举步” (khó khăn cất bước) ], Gấp nở ra từ dính Gập –Gềnh [ TQ dịch là Điên Pha “dianbo颠簸”(lắc lư) ]. Những từ dính Khấp-Khểnh và Gập-Gềnh phát âm đều thấy rõ cặp môi Mấp/Máy = =Đóng/Mở = 0/1 = Âm/Dương biểu lộ sự chuyển động Thấp/Cao như dao động hình sin. 873 Ngoài thì chủ khách Dập –Dìu Một nhà huyên với một Kiều ở trong Động từ Dính nhau nở ra từ dính Dập-Dìu [TQ dịch là Tương Tụ 相聚- tụ họp với nhau]. Tụ聚àTúm-Tụm 875 Nhìn càng Lã-Chã giọt hồng Rỉ tai nàng mới giải lòng thấp cao Từ dính Lã-Chã do từ Sa nở ra, hình dung sự Sa nước mắt. Giọt nước mắt ngắn thì lướt “Lọt Sa” = Lã, và giọt nước mắt dài thì lướt “Chảy Sa” = Chã . Hình dung từ Lã –Chã chuyển chú thành động từ, chỉ cần nói Lã Chã là biết đang khóc giọt ngắn giọt dài, giọt ngắn (Lã), giọt dài (Chã) [TQ không có từ nào tương đương với từ đã được gia công kỹ như từ Lã Chã nên chỉ dịch là Lưu Lệ 流泪(chảy nước mắt)]. Cùng là dùng chỉcó hai âm tiết nhưng Lã Chã (của tiếng Việt) cho hiệu quả của câu nói nhiều hơn là Lưu Lệ (Hán ngữ). 881 Xem Gương trong bấy nhiêu ngày Thân con chẳng kẻo mắc tay Bợm già Một từ Gương ngắn gọn đã dùng chuyển chú để thay cho cả một câu dài: Thấy qua hành động cư xử mà lộ ra tính cách quái đản của Mã Giám Sinh. Từ Bợm là Bịp-Bợm à chữ Biển騙 (lừa gạt). Bợm [ TQ dịch là Khi Biển欺騙 ]. 883 Khi về bỏ vắng trong nhà Khi vào Dùng-Dắng khi ra Vội – Vàng Câu này điển hình cho ngữ pháp VN là trong câu chỉ có Đề và Thuyết, không hề có chủ ngữ (theo Cao Xuân Hạo), Câu 1 thì Đề là “Khi về”, Thuyết là “Bỏ vắng trong nhà”, trong mệnh đề Thuyết không nêu ra mà vẫn hiểu được là có hai chủ ngữ: Kiều thì bị Bỏ trong nhà, Mã thì Vắng nhà. Câu 2 thì Đề là Khi vào, Khi ra; Thuyết là hành động của Mã. Dùng-Dắng là từ dính do Dặng (đánh tiếng) thể hiện thái độ cuống quýt hoảng hốt lớn dần lên của kẻ có ý đồ gian [TQ dịch là “ hoảng lý hoảng trưởng” 慌里慌长 (cái hoảng trong lòng lớn dần) ]. Vội Vàng là từ láy: Vàng là do lướt “Vội và Màng” = Vàng. Chẳng màng là không bận tâm đến, Màng 忙 = Mang 忙nghĩa là Bận (đa mang多忙: bận nhiều). 885 Khi ăn thì nói Lỡ-Làng Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh Lỗi nở ra từ dính Lỡ-Làng [ TQ dịch từ Lỡ-Làng: “căn bản nói không nổi một tí nào cái cao quí của Nho Nhã”. Như vậy TQ cũng công nhận văn Nho của Nhã ngữ là hay nhất]. Câu 2 không nêu chủ ngữ mà vẫn hiểu được khi Mã và đám đầy tớ với nhau thì Mã bị đám đầy tớ xem thường xem khinh [TQ dịch là: “đến bọn nô bộc dịch trong nhà cũng chê nó thô bỉ chứ chẳng được như Đường tục”. Như vậy TQ công nhận phong tục của người Thoòng (Đường nhân – người Việt Thường từ thời Đường Nghiêu) là văn minh, lối sống thanh tao] 897 Chút thân liễu yếu thơ đào Dớp nhà Đến-Đỗi giấn vào tôi người Dớp là do lướt từ đôi “Dơ Nhớp” = Dớp, Dớp chuyển chú thay cho chỉ sự cố hoạn nạn của nhà. Đến-Đỗi là từ láy (lướt “Đến Nỗi” = =Đỗi, Đỗi dùng láy cho Đến thành từ láy Đến-Đỗi). Giấn là do lướt lấy dấu “Dẫn Đến” = Giấn ( do nhấn mạnh nên kéo dài D à Gi). Tôi Ngươi là làm tôi tớ cho người ta, lướt lấy dấu “Người Ta” = Ngươi. Lướt lấy âm vận và lướt lấy dấu nhằm tạo ra từ mới đơn âm từ hai từ đơn âm hay một câu dài bằng lướt từ đầu câu với từ cuối câu. Cách này làm cho câu văn Việt rút ngắn mà hiệu quả cao (nén thông tin nội dung). Ví dụ đi học bình dân thanh toán nạn mù chữ gọi bằng dùng chuyển chú là đi học “a-bê-xê” vì đó là ba chữ đầu của bẳng Alphabet, dùng chuyển chú chỉ trình độ sơ khai. Nhưng dân gian không gọi vậy mà gọi là đi học “i – tờ” vì chữ I và chữ T có thể lướt “T- I” = Tí và lướt “I - T” = Ít (học một tí ít thôi lúc mới bắt đầu đi học). Nói trình độ “a-bê-xê” thì tính hình dung không mạnh bằng nói trình độ “I-Tờ”. Câu 2 cũng chỉ rõ thời Nguyễn Du viết Kiều thì chữ quốc ngữ đã có lưu hành chí ít là trong công giáo, chữ Gi và chữ D là phát âm khác nhau và tiếp như vậy đến nay, như câu “Con nhà có Giáo dục” phát âm khác với câu “Con gà mẹ Dáo-Dác tìm gà con” (Dõià Dáo-Dác, NKN:Nhìn = Nhãn眼 = Nhòm = Dòm = Dõi = =Diểu 眺(nhìn xa)). Không đến nỗi GS Bùi Hiển phải làm dự án gộp Gi và D thành một Z cho tiện đánh máy. Ngay từ Giời (tiếng Hà Nội) cũng là do lướt “Giàng Trời” = Giời. Còn kẻ cho “Giời gửi sáng vào Trăng” = Giăng, nên có câu ca dao: Giời bao nhiêu tuổi Giời già. Giăng bao nhiêu tuổi gọi là Giăng non 899 Từ đây góc bể chân trời Nắng mưa Thui-Thủi quê người một thân Thui-Thủi là từ láy, do lướt “Thân Tủi” = Thủi 909 Trông vời gạt lệ phân tay Góc trời Thăm –Thẳm ngày ngày Đăm-Đăm Thâm (sâu) nở ra từ dính Thăm-Thẳm . Đăm Đăm là từ lăp do lướt “Đờ đẫn mà Ngắm” = Đăm, khác với “Chăm chú mà Ngắm” = Chằm Chằm 911 Nàng thì dặm khách Xa-Xăm Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây Xa Xăm là từ láy Xa và “Xa Lắm”= Xăm. 923 Thoắt trông Lờn –Lợt màu da Ăn gì cao lớn Đẫy-Đà làm sao Lạt nở ra từ dính Lờn-Lợt. Đầy nở ra từ dính Đẫy-Đà 1035 Bốn bề Bát Ngát xa trông Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia Để diễn tả cái rộng của mặt phẳng, thì từ Mặt nở ra từ dính Mênh-Mông (do lướt “Mặt Rộng” = Mông, “Mặt thênh Thênh” = Mênh). Kèm thêm từ Bát là con số 8 trên bản đồ Dịch lý chỉ phương Đông là biển rộng mênh mông, do vậy chữ Bát chuyển chú chỉ sự rộng (biển Đông còn gọi là Bát hải). Bốn bề Ngang đều rộng là “Ngang Bát” = Ngát, do vậy mà từ láy Bát Ngát nghĩa là vô cùng rộng, thành câu Rộng bát ngát, hay rộng mênh mông bát ngát. Câu có 6 chữ “Bốn bề bát ngát xa trông” [TQ phải dịch là: Hướng tứ chu viễn diểu, mãn nhãn thị nhất phiến liêu khoát đích向四周远眺,满眼是一片辽阔的] thành ra 13 chữ, dài gấp đôi câu Việt tức hiệu quả của câu chỉ bằng nửa của Việt, riêng chữ Liêu Khoát là rộng, phải thêm trợ từ Mãn Nhãn cũng chưa cảm thấy rộng bằng Bát Ngát 1057 Ngậm-Ngùi rủ bức rèm châu Cách lầu nghe có tiếng đâu họa vần Ngậm-Ngùi là từ dính nở ra do từ Người (có tâm sự buồn), do lướt “Người dấu lòng Thầm” = Ngậm, lướt “Người dấu lòng Tủi” = Ngùi, thành từ dính Ngậm-Ngùi [TQ dịch là Vọng cảnh thương hoài望景伤怀] 1077 Những là Lần-Lữa nắng mưa Kiêp phong trần biết bào giờ là thôi? Lâu nở ra từ dính Lần-Lữa, do lướt “ Lâu Dần” = Lần và lướt “Lâu Nữa” = Lữa. Từ 5 chữ “Lâu dần và lâu nữa” rút xuống còn 2 chữ “Lần-Lữa”, đấy là cách nén thông tin trong câu Việt. 1129 Hóa nhi thật có nỡ lòng Làm chi giày tía vò hồng lắm nau! Tác giả đã dùng lướt “Nỗi Đau” = Nau 1133 Tú bà tốc thẳng đến nơi Hăm Hăm áp điệu một hơi về nhà Chữ nho Dọa Hù吓唬 là chữ ký âm phương ngữ (dùng bộ khẩu 口chỉ ý là từ khẩu ngữ của phương ngữ, mượn âm chữ Hạ 下và chữ Hổ虎), Dọa Hù là một từ đôi, Dọa cũng là Hù (làm cho người khác sợ). Dọa láy thành Dọa Dẫm (lướt “Dọa Lắm” = Dẫm). Hủ nở ra từ dính Hằm-Hè. Phiên thiết Hằm = Hăm Hăm (dấu thanh điệu: 1= 0+0). Hăm Hăm cũng có nghĩa như Dọa-Dẫm, nhưng Hăm Hăm mạnh ý hơn, tốc độ hơn vì nó cận âm với Xăm Xăm (là đi nhanh). 1189 Buồng riêng riêng những Sụt-Sùi Nghĩ thân mà lại Ngậm-Ngùi cho thân Chữ riêng đầu là riêng của buồng, chữ riêng sau là riêng của nỗi mình đang Sa nước mắt. Sa nở ra từ dính Sụt –Sùi (do lướt “Sa như lụt” = Sụt, lướt “Sa như Vùi” = Sùi). Ngượng nỏ ra từ dính Ngậm-Ngùi (do lướt “Ngượng Thầm” = Ngậm, lướt “Ngượng Tủi” = Ngùi). Nếu là Buồn Tủi và Ngượng Tủi thì lướt thành Bùi Ngùi. 1219 Những nghe nói đã Thẹn-Thùng Nước đời lắm nỗi Lạ-Lùng Khắt-Khe Lạ-Lùng là từ láy. Lạ và “Lạ Hung” = Lùng. Từ Khế (契约khế ước) nở ra từ dính Khắt-Khe 1299 Miệt- Mài trong cuộc truy hoan Càng quen thuộc nết càng Dan-Díu tình Miết nở ra từ dính Miệt Mài. Dính nở ra từ dính Dan-Díu 1335 Bình khang Nấn-Ná bấy lâu, Yêu hoa yêu được một màu điểm trang Nại 耐(nhẫn nại)nở ra từ dính Nấn-Ná 1473 Mảng vui rượu sớm cờ trưa, Đào đà phai thắm, sen vừa nẩy xanh Mảng do lướt “Mải Đang” = Mảng 1543 Lại còn Bưng-Bít giấu quanh, Làm chi những thói trẻ ranh nực cười Chữ Bế 閉nở ra từ dính Bưng-Bít 1565 Buồng đào khuya sớm Thảnh-Thơi Ra vào một mực nói cười như không Chữ Thư (thư dãn) nở ra từ dính Thảnh-Thơi 1717 Bàng Hoàng dở tỉnh dở say Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên lầu Bàng Hoàng là từ láy: do lướt “Bất Đang”= Bàng (đang lúc không ngờ), lướt “Hốt Đang” = Hoàng (đang lúc bỗng chợt).Lướt này đã chuyển khoăng khắc thời gian thành tâm trạng con người là Bàng Hoàng. [TQ dịch là: “Không ngờ cô ta chợt tỉnh lại mở to đôi mắt”不料她忽然醒过来睁开两眼bất liệu tha hốt nhiên tỉnh qua lai tranh khai lưỡng nhãn]. Mảng là do lướt tiếng “Mắng Vang” = Mảng, mắng la thúc giục ai đó mà vang tiếng lên, gọi là “Mắng Vang”= =Mảng. Câu không nêu chủ ngữ, nhưng trong ngữ cảnh này hiểu được là chủ đang mắng gọi đầy tớ. 1719 Ả hoàn trên dưới giục nhau Hãi hùng nàng mới theo sau một người Hãi Hùng là từ láy: Hãi và “Hãi Hung” = Hùng, ghép lại thành Hãi Hùng chỉ cái hãi xuất hiện và vụt lớn nhanh, đó là Hãi Hùng [TQ dịch là: Tha cực độ hoảng trương 她极度慌张 (Hãi Hùng có 2 chữ, Cực Độ Hoảng Trương mất 4 chữ)] 1725 Gạn-Gùng ngọn hỏi ngành tra Sự mình nàng phải cứ mà gửi thưa Gạn Gùng là từ láy cho từ Gạn. Từ Gạn đã là một nén thông tin khá lớn do lướt “Gợi và hỏi Vặn” = Gạn, thường dùng khi tra xét hỏi cung, mở lớn lùng sục xoi mói hơn nữa là lướt “Gạn Lùng” = Gùng, thành ra câu 5 chữ “Gạn và Gạn lùng” qua thủ thuật lướt mà chì còn 2 chữ Gạn-Gùng, nén đủ nội dung thông tin dài. [TQ dịch từ Gạn- Gùng là: Truy căn cứu để phản phúc bàn vấn 追根究底反复盘问 (hỏi tính toán lật đi lật lại, đuổi gốc moi rễ)] 1725 Bất tình nổi trận mây mưa Mắng rằng: “Những giống bơ thờ quen thân Con này chẳng phải thiện nhân Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng” Bơ Thờ là tác giả nói tắt câu thành ngữ sống “cù bất cù bơ thân nhờ thân gửi”. Cù Bất nghĩa là côi cút (Cù) không nơi nương tựa (Bất) Cù Bơ dùng láy cho Cù Bất. Thân Nhờ Thân Gửi nghĩa là đem than đi sống nhờ sống gửi nhà người. Tác giả đã dùng qui tắc nói vo, gạt nbor đầu đuôi chỉ lấy khúc giữa là Bơ và Thân Nhờ (đồng thời lướt “Thấn sống Nhờ” = Thờ, thành ra câu thành ngữ chỉ còn là hai tiếng Bơ Thờ. “Những giống bơ thờ “ là những giống sống cù bất cù bơ than nhờ than gửi. Hai câu 1727 và 1728 [TQ dịch là:Nị quyết bất thị lương gia nữ tử. Nị thị dã nữ nhân, quán ư tứ xứ du đãng, nị bất thị đào tỳ dã thị cá khỉ phu tái giá đich bà nương你决不是良家女子。你是野女人, 惯于四处游荡,你不是逃婢也是个弃 夫再嫁的婆娘(mày chẳng phải con nhà tử tế, chỉ là đồ quen sống trôi dạt, mày không là kẻ nô tỳ trốn chạy thì cũng là kẻ gái già bỏ chồng tái giá)]. Tác giả chỉ dùng có hai động từ “trốn và “lộn” đã nói đủ hết tư cách gian xảo của cái ‘con này” trong câu lục bát có 14 chữ (bản dịch đã dùng 34 chữ). ] 1733 Đã đem mình bán cửa tao Lại còn Khủng-Khỉnh làm cao thế này! Chữ Khánh chỉ cái Khánh bằng đá hay bằng ngọc là vật trang trí cao quí, từ Khánh còn chuyển chú để chỉ sự vui mừng. Từ Khánh nở ra từ dính Khủng-Khỉnh nói ý làm cao, ra giá, do từ dính gồm hai tiếng âm dương nên Khủng-Khỉnh hàm ý thách giá thấp cao. 1763 Phận sao bạc chẳng vừa thôi Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan Khăng Khăng là từ láy cho từ Khép (buộc chặt), do từ Khép Thằng nghĩa là dây thừng để trói, đã được lướt “Khép Thằng” = Khăng, thành từ láy Khăng Khăng ý nói buộc rất chặt không gỡ ra được. 1779 Lĩnh lời nàng mới lựa dây Nỉ-Non Thánh-Thót dễ say lòng người Dây đàn nó Nói nở ra từ dính Nỉ-Non, dây đàn nó Thốt nở ra từ dính Thánh-Thót. 1783 Cửa người đày đọa chút thân, Sớm Năn-Nỉ bóng, đêm ân hận lòng Năn-Nỉ là từ dính do Nói nở ra: nói nhiều là lướt ‘Nói Nhặn” = Năn, nói xin là lướt “Nói Kì” = Nỉ (Kì đảo祈祷nghĩa là xin cầu cho được), thành từ dính Năn-Nỉ. Ân Hận là từ láy, lướt “Úc Hận” = Ân, Úc Hận nghĩa là Hận sâu, rồi lại còn Hận nữa, nên láy thành từ Ân Hân. Ăn Năn khác xa nghĩa Ân Hận, nhưng do cận âm nên nhiều người thường lầm lộn, đáng lý cần nói Ăn Năn thì lại lầm sang dùng từ Ân Hận.[ TQ dịch: Úc hận và ai oán懊恨与哀怨 ] 1789 Lần Lần tháng trọn ngày mưa Nỗi gần nào biết đường xa thế này Thủ thuật lướt “Lâu Dần” “Lâu Dần” = Lần Lần (4 chữ còn 2 chữ) 1851 Nàng đà tán hoán tê mê, Vâng lời ra trước bình the vặn đàn Lướt “Hồn Loạn”= Hoán, Tán Hoán nghĩa như Mất Hồn hay gọi là Choáng Váng. Tê Mê là đứng sững mê mẩn [TQdịch: Tâm lý nhất phiến mê võng心里更觉一片迷惘]. 1867 Lòng riêng Tấp-Tểnh mừng thầm Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay Chữ Tẩu 走(đi)nở ra từ dính Tấp-Tểnh (bắt đầu bước nhen nhúm lòng hứng khởi) 1959 Chút than Quằn –Quại vũng lầy Sống thừa còn tưởng đến rày nữa sao? Cong nở ra từ dính Quằn-Quại 3235 Một nhà phúc lộc gồm hai Nghìn năm Dằng-Dặc quan giai Lần-Lần Dài nở ra từ dính Dằng-Dặc. Lướt “Lâu Dần”’Lâu Dần” = Lần Lần Biển Đông – La Hải Hoành phi bốn chữ LA PHỤNG HIỆP LONG 羅鳳協龍 Giải nghĩa: Ý nghĩa 1: Lớp học gồm đông thành viên (một thầy giáo và nhiều học trò) cùng hiệp lực với nhau (giúp đỡ nhau) thì tất cả đều hóa rồng. Giải thích: LA nghĩa là bao la, ám chỉ sự rộng lớn (đông đúc) của vũ trụ (vũ trụ gồm Ba thành tố là Thiên, Địa, Nhân. Từ Ba (của con số 3) phiên thiết thành Bao La, hay nói ngược lại là Bao La thiết Ba (tức nói lướt “Bao La” = Ba), nên ta thường nói vũ trụ bao la, bầu trời bao la, chỉ không gian ba chiều. Còn Mặt phẳng (theo 2 trục Tung và Hoành) thì từ Mặt đã theo Dịch lý (nhất nguyên sinh nhị nguyên) mà tách đôi thành từ dính hai tiếng cùng chung “M” của từ gốc “Mặt” là từ Mênh-Mông làm hình dung từ cho danh từ Mặt, nên ta phải nói là “Mặt biển Mênh Mông” hoặc “Mặt cánh đồng Mênh Mông”. Con cò đang bay là nó bay trong không gian ba chiều nên phải nói là “con cò bay lả bay la” như ca dao nói, mà không thể nói là “con cò bay mênh mông” (thành ngố tiếng Việt chứ không phải là thạo tiếng Việt). PHỤNG là giống chim Phượng cũng rất đông đúc, là loài chim hiền, là totem của các tộc người Đông Nam Á chuyên về nông nghiệp. Không giống như các tộc phương Bắc chuyên về du mục có totem là chim diều hâu săn mồi (tiếng TQ gọi phái hiếu chiến là “ưng phái” tức phải diều hâu, gọi phái ôn hòa là “hạc phái” tức phái chim hiền). HIỆP là đồng tâm hiệp lực giúp đỡ nhau (chữ HIỆP 協gồm một chữ Tâm 忄và ba chữ Lực力, ý nói đồng tâm (nhất tâm) thì “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, đông sức góp lại thì thành sức mạnh lớn). Bốn từ LA PHỤNG HIỆP LONG nói lên sự kết nối vì: LA PHỤNG cũng là LA PHƯỢNG, nói lái thành Lương Phà tức cái phà hiền lành nối đôi bờ con sông. HIỆP LONG cũng là HỢP LONG, mà Hợp Long nghĩa là lắp ghép các nhịp cầu để nối đôi bờ con sông. Hai chữ đầu và cuối là LA LONG, nói lái thành Lòng Lả, tức trái tim có lửa là nhiệt huyết của mỗi con người trong tập thể này. Chữ HIỆP còn có thể hiểu ngầm thành chữ HIỆT (trong từ Hiệt Kiệt 黠杰tức người ưu tú có nhiệt huyết) vì chữ nho có cho phép dùng từ cận âm thay cho từ cần viết (gọi là phép “giả tá” tức mượn chữ cận âm). Mà chữ HIỆT (黠)gồm chữ Hắc( 黑)chỉ chất xám tức trí tuệ và chữ Cát (吉) tức lòng tốt, có chất xám rồi nhưng còn phải kèm có lòng tốt nữa thì mới HIỆP tác với nhau chân thành được. (Ví dụ về phép giả tá là mượn chữ cận âm thì NV đã sưu tầm được hai tư liệu là bài <Quan thánh đế giáng bút chân kinh> tại chùa Ông ở Thủ Dầu Một, và bài <Văn tế Tướng công TS Nguyễn Xuân Ôn khởi nghĩa Cẩn Vương> tại Nghệ An, trong đó đều đã dùng chữ Long 龍, nghĩa đen là con rồng, thay cho từ Lòng là tấm lòng) Hai chữ giữa là PHỤNG HIỆP (nhiều địa phương, huyện, xã ở VN hay lấy tên này). Phản thiết tức nói lướt ngược thì là “Hiệp Phụng” = Hùng, là chỉ tộc Hùng của các Hùng Vương (Đúng qui tắc biến dấu thanh điệu: Hiệp + Phụng = 0 + 0 = 1 = Hùng PHỤNG HIỆP còn có thể viết giả tá là PHỤNG HIỆT, nói lái thì PHỤNG HIỆT thành Phiệt Hùng, nghĩa là nhà tài phiệt (財 閥)tên là Hùng (雄). Ý nghĩa 2: Các dân tộc Đông Nam Á (tộc La) hòa bình (chim Phượng) hiệp lực hợp tác (Hiệp) thì ASEAN sẽ hóa rồng (Long). Giải thích: LA là phương La, tức phương quẻ Ly tượng Lửa trong Dịch học, Ly = Lửa = Lả = La = Tá = Hà 霞= Hỏa火, quẻ Ly màu đỏ (Xich赤 )chỉ xứ nóng, chỉ vùng ĐNÁ, gần xích đạo, xưa gọi là đất Hồng hay Đào (lướt “Quẻ Ly” = Qủi, lại màu đỏ theo Dịch lý, nên xứ nóng gọi là xứ Xích Qủi (赤鬼) dân vùng này xưa gọi là tộc Đại La, là dân đàu tiên đã chế ra cái La bàn có kim chỉ hướng khi đi trên biển, gọi là cái La – Canh (hướng đuôi kim là hướng La ( La = Lả = Lửa = Ly của Quẻ Ly tượng lửa, xứ nóng); hướng mũi kim là hướng Canh (Lạnh = Canh = Căm Căm = Nặm = Nước = Nam = Khảm của Quẻ Khảm tượng Nước trong Dịch học, xứ lạnh). Tiếng Hán cổ đã dịch đúng nghĩa tên của “cái La-Canh” của người La thành “cái Kim chỉ Nam” (mũi kim chỉ đúng hướng Khảm của Dịch lý tức hướng Nam = Nước = North, mà ngày nay hướng Nam ấy lại bị gọi là hướng Bắc ?). Đại tộc La cũng là người từng dựng nên đô thành Đại La, là tiền thân của Thăng Long về sau. Người Canh tức người Kinh ở vùng á nhiệt đới là người làm ra giống lúa tẻ đầu tiên, mà cổ thư Hán ngữ gọi gạo tẻ là Canh Mễ(粳米) hay Kinh Mễ(粳米) và còn cho rằng “rượu Giao Chỉ là thứ rượu thơm trong tốt nhất để ngâm dược liệu Đông y, vì nó được chế bằng Canh Mễ và ủ bằng men làm bằng các thứ lá rừng và vỏ trấu” PHỤNG là chim Phượng, tượng trưng cho hiền hòa. Theo âm dương thì Âm = 0, Dương = 1, cho nên ta có: LA = 1. PHỤNG = 0, HIỆP = 0, LONG = 1, nên bốn chữ: ( LA + PHỤNG) + (HIỆP + LONG) = = ( 1 + 0 ) + ( 0 + 1 ) = = 1 + 1 = 0, Là một số Âm , tượng trưng chất xám. Người Việt gọi xứ sở mình là Đất Nước (gồm đất liền và biển Đông). Cổ đại Biển Đông còn có tên là La Hải (biển của tộc ĐaỊ La), do vậy thấy rõ rành rành là Trung Quốc không hề có một tí gì gọi là “chủ quyền lịch sử” ở Biển Đông – La Hải! Biển Đông – La Hải Hoành phi nội dung BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC LA PHỤNG HIỆP LONG 羅鳳協龍 Giải nghĩa: Ý nghĩa 1: Lớp học gồm đông thành viên (một thầy giáo và nhiều học trò) cùng hiệp lực với nhau (giúp đỡ nhau) thì tất cả đều hóa rồng. Giải thích: LA nghĩa là bao la, ám chỉ sự rộng lớn (đông đúc) của vũ trụ (vũ trụ gồm Ba thành tố là Thiên, Địa, Nhân. Từ Ba (của con số 3) phiên thiết thành Bao La, hay nói ngược lại là Bao La thiết Ba (tức nói lướt “Bao La” = Ba), nên ta thường nói vũ trụ bao la, bầu trời bao la, chỉ không gian ba chiều. Còn Mặt phẳng (theo 2 trục Tung và Hoành) thì từ Mặt đã theo Dịch lý (nhất nguyên sinh nhị nguyên) mà tách đôi thành từ dính hai tiếng cùng chung “M” của từ gốc “Mặt” là từ Mênh-Mông làm hình dung từ cho danh từ Mặt, nên ta phải nói là “Mặt biển Mênh Mông” hoặc “Mặt cánh đồng Mênh Mông”. Con cò đang bay là nó bay trong không gian ba chiều nên phải nói là “con cò bay lả bay la” như ca dao nói, mà không thể nói là “con cò bay mênh mông” (thành ngố tiếng Việt chứ không phải là thạo tiếng Việt). PHỤNG là giống chim Phượng cũng rất đông đúc, là loài chim hiền, là totem của các tộc người Đông Nam Á chuyên về nông nghiệp. Không giống như các tộc phương Bắc chuyên về du mục có totem là chim diều hâu săn mồi (tiếng TQ gọi phái hiếu chiến là “ưng phái” tức phải diều hâu, gọi phái ôn hòa là “hạc phái” tức phái chim hiền). HIỆP là đồng tâm hiệp lực giúp đỡ nhau (chữ HIỆP 協 gồm một chữ Tâm 忄và ba chữ Lực 力, ý nói đồng tâm (nhất tâm) thì “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, đông sức góp lại thì thành sức mạnh lớn). Bốn từ LA PHỤNG HIỆP LONG nói lên sự kết nối vì: LA PHỤNG cũng là LA PHƯỢNG, nói lái thành Lương Phà tức cái phà hiền lành nối đôi bờ con sông. HIỆP LONG cũng là HỢP LONG, mà Hợp Long nghĩa là lắp ghép các nhịp cầu để nối đôi bờ con sông. Hai chữ đầu và cuối là LA LONG, nói lái thành Lòng Lả, tức trái tim có lửa là nhiệt huyết của mỗi con người trong tập thể này. Chữ HIỆP còn có thể hiểu ngầm thành chữ HIỆT (trong từ Hiệt Kiệt 黠杰 tức người ưu tú có nhiệt huyết) vì chữ nho có cho phép dùng từ cận âm thay cho từ cần viết (gọi là phép “giả tá” tức mượn chữ cận âm). Mà chữ HIỆT (黠)gồm chữ Hắc( 黑)chỉ chất xám tức trí tuệ và chữ Cát (吉) tức lòng tốt, có chất xám rồi nhưng còn phải kèm có lòng tốt nữa thì mới HIỆP tác với nhau chân thành được. (Ví dụ về phép giả tá là mượn chữ cận âm thì NV đã sưu tầm được hai tư liệu là bài <Quan thánh đế giáng bút chân kinh> tại chùa Ông ở Thủ Dầu Một, và bài <Văn tế Tướng công TS Nguyễn Xuân Ôn khởi nghĩa Cẩn Vương> tại Nghệ An, trong đó đều đã dùng chữ Long 龍, nghĩa đen là con rồng, thay cho từ Lòng là tấm lòng) Hai chữ giữa là PHỤNG HIỆP (nhiều địa phương, huyện, xã ở VN hay lấy tên này). Phản thiết tức nói lướt ngược thì là “Hiệp Phụng” = Hùng, là chỉ tộc Hùng của các Hùng Vương (Đúng qui tắc biến dấu thanh điệu: Hiệp + Phụng = 0 + 0 = 1 = Hùng PHỤNG HIỆP còn có thể viết giả tá là PHỤNG HIỆT, nói lái thì PHỤNG HIỆT thành Phiệt Hùng, nghĩa là nhà tài phiệt (財 閥) tên là Hùng (雄). Ý nghĩa 2: Các dân tộc Đông Nam Á (tộc La) hòa bình (chim Phượng) hiệp lực hợp tác (Hiệp) thì ASEAN sẽ hóa rồng (Long). Giải thích: LA là phương La, tức phương quẻ Ly tượng Lửa trong Dịch học, Ly = Lửa = Lả = La = Tá = Hà 霞 = Hỏa 火, quẻ Ly màu đỏ (Xich 赤 )chỉ xứ nóng, chỉ vùng ĐNÁ, gần xích đạo, xưa gọi là đất Hồng hay Đào (lướt “Quẻ Ly” = Qủi, lại màu đỏ theo Dịch lý, nên xứ nóng gọi là xứ Xích Qủi (赤鬼) dân vùng này xưa gọi là tộc Đại La, là dân đàu tiên đã chế ra cái La bàn có kim chỉ hướng khi đi trên biển, gọi là cái La – Canh (hướng đuôi kim là hướng La ( La = Lả = Lửa = Ly của Quẻ Ly tượng lửa, xứ nóng); hướng mũi kim là hướng Canh (Lạnh = Canh = Căm Căm = Nặm = Nước = Nam = Khảm của Quẻ Khảm tượng Nước trong Dịch học, xứ lạnh). Tiếng Hán cổ đã dịch đúng nghĩa tên của “cái La-Canh” của người La thành “cái Kim chỉ Nam” (mũi kim chỉ đúng hướng Khảm của Dịch lý tức hướng Nam = Nước = North, mà ngày nay hướng Nam ấy lại bị gọi là hướng Bắc ?). Đại tộc La cũng là người từng dựng nên đô thành Đại La, là tiền thân của Thăng Long về sau. Người Canh tức người Kinh ở vùng á nhiệt đới là người làm ra giống lúa tẻ đầu tiên, mà cổ thư Hán ngữ gọi gạo tẻ là Canh Mễ(粳米) hay Kinh Mễ(粳米) và còn cho rằng “rượu Giao Chỉ là thứ rượu thơm trong tốt nhất để ngâm dược liệu Đông y, vì nó được chế bằng Canh Mễ và ủ bằng men làm bằng các thứ lá rừng và vỏ trấu” PHỤNG là chim Phượng, tượng trưng cho hiền hòa. Theo âm dương thì Âm = 0, Dương = 1, cho nên ta có: LA = 1. PHỤNG = 0, HIỆP = 0, LONG = 1, nên bốn chữ: ( LA + PHỤNG) + (HIỆP + LONG) = = ( 1 + 0 ) + ( 0 + 1 ) = = 1 + 1 = 0, Là một số Âm , tượng trưng chất xám. Người Việt gọi xứ sở mình là Đất Nước (gồm đất liền và biển Đông). Cổ đại Biển Đông còn có tên là La Hải (biển của tộc ĐaỊ La), do vậy thấy rõ rành rành là Trung Quốc không hề có một tí gì gọi là “chủ quyền lịch sử” ở Biển Đông – La Hải! Chú thích: 1/ Trong cuốn sách <Hải ngoại ký sự> của hòa thượng Thích Đại Sán được Chúa Nguyễn mời từ Quẩng Đông sang thỉnh giảng ở Đàng Trong có viết: " Thuyền đi vừa qua khỏi đảo Hải Nam là đến biển La Hải của nước Đại Việt" 2/ Xem lễ hội làng Triều Khúc (Hà Nội) thờ Đế Đại La là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (bài của Nguyễn Đức Tố Lưu) Hoành phi nội dung BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẾ THƯƠNG SINH 濟蒼生 Ý nghĩa 1: Cứu tế màu xanh cuộc sống Ý nghĩa 2: Cứu tế muôn dân (chủ là chữ THƯƠNG ở giữa) Giải thích: TẾ (濟) nghĩa là Cứu Tế (救濟) THƯƠNG (蒼) nghĩa đen là màu xanh của bầu trời, như từ hay dùng là Thương Thiên (蒼天) chỉ bầu trời xanh, ám chỉ vũ trụ trong lành. SINH (生) nghĩa là Sinh Mệnh (生命), chỉ kiếp sống muôn loài nói chung. THƯƠNG SINH (蒼生) nghĩa đen là màu xanh cuộc sống nhưng đã được chuyển chú chỉ muôn dân. Như tiếng Việt xưa gọi bệnh viện là “Nhà Thương” tức nơi chữa bệnh cho muôn dân (không phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo). Như bác sĩ Lý Văn Lượng (李文亮)của Vũ Hán đã nói: “Tôi chỉ vì muốn cứu cho Thương Sinh (蒼生) nên đã cảnh báo ngay lập tức sự thật khoa học là con vi rút này (Covid-19) lây nhiễm được từ người sang người !”. TẾ ghép với THƯƠNG làm một thì như nói lướt “Tế Thương” = Tương 相 (tức Tế Thương thiết Tương相). Tương相 + Sinh生 là Tương Sinh(相生) nghĩa là Sống Cùng nhau. TẾ ghép với SINH làm một thì như nói lướt “Tế Sinh” = Tình情 (tức Tế Sinh thiết Tình). Tương Tình (相情 ) nghĩa là có Tình với Nhau gọi là Tình Thương. TẾ THƯƠNG SINH có thêm hàm ý là: Sống cùng nhau phải bằng Tình thương, tức Sống có Tình (sống biết Thương nhau là Tế Sinh = Tình). Đúng như người xưa quan niệm muôn loài cùng sống chung trong một môi trường Xanh: Màu xanh của bầu trời thật là dễ Thương (蒼)! Ngày nay xin đừng làm ô nhiễm mà gây hại làm chọc thủng bầu trời, phải bảo vệ sinh thái chung là môi trường Xanh! BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG (như là khẩu hiệu 4 chữ nhắc nhở con người), thay khẩu hiệu ấy bằng 3 chữ nho TẾ THƯƠNG SINH ( là một hình thái khác của biểu hiện văn hóa), nhưng hình thái biểu hiện này có hàm ý súc tích hơn (tức độ nén thông tin nhiều hơn). Hoặc khẩu hiệu 4 chữ trên cũng có thể thay bằng chỉ 1 chữ nho là chữ TRẠCH 澤 (nghĩa đen là ơn Trời tức ơn bà mẹ thiên nhiên). Chữ Trạch 澤 là lướt “Trong Sạch” = Trạch 澤 . Chữ Trạch 澤 có cấu tạo Âm Dương cân bằng, ám chỉ hai tố mà mẹ thiên nhiên ban tặng miễn phí cho sự sống là Nước và Nắng (đều là Năng lượng, như cái Nôi nuôi dưỡng sự sống, đều là vần “N”) : Âm là Nước (bộ Thủy 氵), chỉ ý trong suốt không hề ô nhiễm; Dương là Nắng, chỉ ý sạch không hề ô nhiễm (do lướt “Tứ 罒 Hạnh幸” = Tạnh, chỉ Nắng, 4 mùa đều có Nắng thì đó là Hạnh phúc, và lướt “Hạnh 幸Tứ罒” = Hư, chỉ cái Năng lượng không sờ nắm được, Hư = Hổng = Không, cũng còn chỉ ý là không hề ô nhiễm). Ngoài nghĩa đen là trong sạch, chữ Trạch 澤 trong khi dùng còn được chuyển chú thành nhiều nghĩa khác : - Trạch 澤 (trong sạch) chuyển chú chỉ ơn Trời (sự ban ơn vô tư không vụ lợi). - Trạch 澤 (nước trong) chuyển chú chỉ ao, đầm. - Trạch 澤 (trong suốt) chuyển chú chỉ ý sáng láng trơn tru (như <Thuyết Văn Giải Tự > giải thích). <TVGT> còn hướng dẫn đọc chữ Trạch là Trượng 丈 Bá 伯 thiết Tra (logic thì phải là “Trong sạch như nước Lã” = Tra, “Trong Sạch” = Trạch = nhấn “Trạch Ạ!” = = “Trạch 澤 Dã 也 ! = Tra). Một chữ Trạch 澤 mà đủ răn phương châm sống: Biết ơn bà mẹ thiên nhiên. Biết xử sự minh bạch như thành ngữ “trời quang mây (thì) Tạnh”. Biết sống tử tế như tục ngữ “đói cho Sạch, rách cho thơm”. Phát triển của ngôn từ Việt Ngôn từ Việt ban đầu là đa âm tiết và không có dấu thanh điệu. Nó đã đơn âm hóa bằng cách mỗi từ đa âm tiêt (của chính tiếng Việt hoặc của mượn từ tiếng ngoại lai) đều bị lược bỏ (rụng) đầu và đuôi còn lại một âm tiết lõi (gọi là Qui tắc Vo để vò rụng đầu và đuôi, chỉ “Trọi Còn” = Tròn là cái lõi giữa, “trọi còn” là nói đảo của “còn trơ trọi” mỗi cái lõi giữa, theo Qui tắc Lướt: “Trọi Còn” = 0+1 = 1 = Tròn, con số chỉ sự biến âm của dấu thanh điệu theo số học nhị phân). Thành đơn âm ( lợi thế là một thông tin bằng nhiều tiếng được nén thành còn một tiếng, tức có hiệu suất lớn trong chuyển tải thông tin). Cách nén thông tin của tiếng Việt còn thể hiện trong Qui tắc Lướt ( lướt hai tiếng thành một tiếng hoặc lướt cả câu bằng lướt tiếng đầu và tiếng đuôi của câu đó thành một tiếng). Đơn âm hóa xong rồi thì để có nhiều từ lại buộc phải xuất hiện thanh điệu, thành ra tiếng Việt có 6 dấu thanh điệu để phân biệt thành 6 nghĩa khác nhau của một âm vận. Các dấu thanh điệu chia theo Dịch lý thành hai nhóm Âm và Dương. Nhóm thanh điệu thuộc Âm ( Âm = 0, theo sô học nhị phân của công nghệ thông tin) là các dấu “Không”, “Ngã”, “Nặng”; Nhóm thanh điệu thuộc Dương (Dương = 1, theo số học nhị phân của công nghệ thông tin)) là các dấu “Sắc”, “Hỏi”, “Huyền”. Khi lướt hai tiếng thì dấu thanh điệu của hai tiếng đó như hai con số nhị phân cộng với nhau theo qui tắc số học nhị phân mà thành dấu thanh điệu của tiếng kết quả thứ ba. Mỗi từ đơn âm lại có thế tách đôi thành hai tiếng khác nhau bằng hai cách: (1) là phiên thiết thành hai tiếng sao cho khi lướt hai tiếng đó lại hoàn nguyên chính nó. Ví dụ Ba (chỉ ba chiều lập thể) phiên thiết thành Bao La, để khi lướt lại “Bao La” = Ba. Do vậy không gian ba chiều như bầu trời gọi là bầu trời bao la. (2) là tách thành hai tiếng (có chung phụ âm đầu hoặc chung vắng phụ âm đầu với tiếng gốc), dính nhau, không thể đảo ngược vị trí, gọi là từ dính (viết nên có gạch nối giữa chúng). Ví dụ Mặt (chỉ mặt phẳng có hai chiều là trục Tung và trục Hoành) đã nở ra từ dính là Mênh-Mông, do đó mà có từ biển rộng mênh mông hoặc đồng lúa rộng mênh mông để nói về cái Mặt phẳng đó. Ví dụ về đơn âm hóa một từ đa âm tiết: 1/ Tiếng Nhật có từ bản địa “xacana” (chỉ con Cá), tiếng Việt chỉ cần đơn âm hóa bằng chiếm cái lõi giữa là Ca thành từ đơn âm tiết là Cá (chỉ con cá), chuyển sang tiếng Thái Lào thành Pá (chỉ con cá). Hoặc tiếng Việt chiếm cái lõi giữa là Can thành từ đơn âm tiết là Cần = Cờn = Còng chỉ nơi cửa sông, bến cá như Cần Giờ, Cần Thơ, cửa Cờn (Nghệ An), chợ Còng (Thanh Hóa). 2/ Tiếng Ân Độ có từ bản địa “Palamitra” (chỉ cây Mít), tiếng Hán mượn bằng cách phiên âm thành “Puoluomi”, tiếng Việt chỉ cần đơn âm hóa bằng chiếm cái lõi giữa là Mít. Rồi phát triển thêm: quả Mít như là một Mẹ ắt phải có nhiều Con bên trong nó. Do vậy từ Mít nở ra từ dính Múi-Món, rõ ràng trong quả Mít có nhiều Múi, mỗi Múi như là một “Mít Con” = Món (đó là chuyện có từ cổ đại). Những năm gần đây nông dân An Giang nhập giống mịt ngoại có trái tròn như trái banh, nên gọi nó là giống “Mít trái Tròn” = “Mít Tròn” = 1+1=0 = Mon, gọi thành mặt hàng là trái Mon. Phát triển của ngôn từ Việt Ngôn từ Việt ban đầu là đa âm tiết và không có dấu thanh điệu. Nó đã đơn âm hóa bằng cách mỗi từ đa âm tiêt (của chính tiếng Việt hoặc của mượn từ tiếng ngoại lai) đều bị lược bỏ (rụng) đầu và đuôi còn lại một âm tiết lõi (gọi là Qui tắc Vo để vò rụng đầu và đuôi, chỉ “Trọi Còn” = Tròn là cái lõi giữa, “trọi còn” là nói đảo của “còn trơ trọi” mỗi cái lõi giữa, theo Qui tắc Lướt: “Trọi Còn” = 0+1 = 1 = Tròn, con số chỉ sự biến âm của dấu thanh điệu theo số học nhị phân). Thành đơn âm ( lợi thế là một thông tin bằng nhiều tiếng được nén thành còn một tiếng, tức có hiệu suất lớn trong chuyển tải thông tin). Cách nén thông tin của tiếng Việt còn thể hiện trong Qui tắc Lướt ( lướt hai tiếng thành một tiếng hoặc lướt cả câu bằng lướt tiếng đầu và tiếng đuôi của câu đó thành một tiếng). Đơn âm hóa xong rồi thì để có nhiều từ lại buộc phải xuất hiện thanh điệu, thành ra tiếng Việt có 6 dấu thanh điệu để phân biệt thành 6 nghĩa khác nhau của một âm vận. Các dấu thanh điệu chia theo Dịch lý thành hai nhóm Âm và Dương. Nhóm thanh điệu thuộc Âm ( Âm = 0, theo sô học nhị phân của công nghệ thông tin) là các dấu “Không”, “Ngã”, “Nặng”; Nhóm thanh điệu thuộc Dương (Dương = 1, theo số học nhị phân của công nghệ thông tin)) là các dấu “Sắc”, “Hỏi”, “Huyền”. Khi lướt hai tiếng thì dấu thanh điệu của hai tiếng đó như hai con số nhị phân cộng với nhau theo qui tắc số học nhị phân mà thành dấu thanh điệu của tiếng kết quả thứ ba. Mỗi từ đơn âm lại có thế tách đôi thành hai tiếng khác nhau bằng hai cách: (1) là phiên thiết thành hai tiếng sao cho khi lướt hai tiếng đó lại hoàn nguyên chính nó. Ví dụ Ba (chỉ ba chiều lập thể) phiên thiết thành Bao La, để khi lướt lại “Bao La” = Ba. Do vậy không gian ba chiều như bầu trời gọi là bầu trời bao la. (2) là tách thành hai tiếng (có chung phụ âm đầu hoặc chung vắng phụ âm đầu với tiếng gốc), dính nhau, không thể đảo ngược vị trí, gọi là từ dính (viết nên có gạch nối giữa chúng). Ví dụ Mặt (chỉ mặt phẳng có hai chiều là trục Tung và trục Hoành) đã nở ra từ dính là Mênh-Mông, do đó mà có từ biển rộng mênh mông hoặc đồng lúa rộng mênh mông để nói về cái Mặt phẳng đó. Ví dụ về đơn âm hóa một từ đa âm tiết: 1/ Tiếng Nhật có từ bản địa “xacana” (chỉ con Cá), tiếng Việt chỉ cần đơn âm hóa bằng chiếm cái lõi giữa là Ca thành từ đơn âm tiết là Cá (chỉ con cá), chuyển sang tiếng Thái Lào thành Pá (chỉ con cá). Hoặc tiếng Việt chiếm cái lõi giữa là Can thành từ đơn âm tiết là Cần = Cờn = Còng chỉ nơi cửa sông, bến cá như Cần Giờ, Cần Thơ, cửa Cờn (Nghệ An), chợ Còng (Thanh Hóa). 2/ Tiếng Ân Độ có từ bản địa “Palamitra” (chỉ cây Mít), tiếng Hán mượn bằng cách phiên âm thành “Puoluomi”, tiếng Việt chỉ cần đơn âm hóa bằng chiếm cái lõi giữa là Mít. Rồi phát triển thêm: quả Mít như là một Mẹ ắt phải có nhiều Con bên trong nó. Do vậy từ Mít nở ra từ dính Múi-Món, rõ ràng trong quả Mít có nhiều Múi, mỗi Múi như là một “Mít Con” = Món (đó là chuyện có từ cổ đại). Những năm gần đây nông dân An Giang nhập giống mịt ngoại có trái tròn như trái banh, nên gọi nó là giống “Mít trái Tròn” = “Mít Tròn” = 1+1=0 = Mon, gọi thành mặt hàng là trái Mon. Chống Covid càng ơn Y Dược Ngồi ngẫm sâu minh triết từng lời Hiểu thêm cái lý xưa vời Tiên nhân từng đã rạng ngời phương Đông Bốn chữ ÂN TỨ NINH GIA thấy có treo trong nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc thân sinh Bác Hồ ở làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An 1 (sưu tầm) ÂN TỨ NINH GIA 恩賜寧家 Dịch nghĩa: Sống chung giữ vững nếp nhà Ban ơn nhau trước, sau là biết ơn. Chú thích: Trong một căn nhà thì các bộ phận đều là ban ơn cho nhau và biết ơn nhau nên cái khung nhà giữ được yên ổn, chắc chắn. Trong một gia đình (hay làng, nước) mỗi thành viên đều ban ơn cho nhau và biết ơn nhau thì gia đình (hay làng xóm, quốc gia) sẽ vững bền. Giảng nghĩa: Sống thuận thiên theo Qui Luật Vũ Trụ (chữ ÂN 恩). Ân tức Ân Trạch恩澤 (Ơn Trời), Trời thì luôn luôn Trong và Sạch, lướt “Trong Sạch” = Trạch 澤, Trong là trong suốt không ô nhiễm như Nước ( 氵 ), Sạch là sạch không ô nhiễm như Nắng ( Nắng biểu ý bằng từ Tạnh, do lướt xuôi “Tư 罒Hạnh幸” = Tạnh. Nắng là cái Năng lượng vô hình biểu ý bằng từ Hư, do lướt ngược “Hạnh幸 Tư罒”= Hư, tức hư không, đồng nghĩa vô hình. Tất cả những ý tứ là thông tin này đều được nén trong chữ vuông Trạch澤, là một trong những “vuông Chứa Nho nhỏ” = “vuông Chữ Nho nhỏ” mà gọi Vo cho rụng đầu (“vuông”) và rụng đuôi (“nhỏ”) còn cái lõi giữa là (“Chữ Nho”) nên chữ vuông còn gọi là chữ nho. Vũ Trụ ban cho (chữ TỨ賜) sự an lành (chữ NINH寧) đến mọi Nước và mọi Người (chữ GIA家). Chú giải: Nghĩa đen của câu Ân Tứ Ninh Gia là: sự ban ơn và biết ơn (chữ Ân恩) của các bộ phận cột, kèo, rui, mè, dứng, vách giằng néo cho nhau (chữ Tứ 賜) làm nên sự vững chãi (chữ Ninh寧) của cái nhà (chữ Gia家). Ngụ ý là những người trong một nhà hay một quốc gia cũng phải như vậy, ban ơn và biết ơn với nhau. Rộng ra thì là ân trạch của Vũ Trụ cho sự sống, sống là phải biết ơn Vũ Trụ. Vũ Trụ là cái NÔI lớn của sự sống, là cái ổ (chữ Ô) gồm tố âm (chữ N, tức Negative) và tố dương (chữ I, tức Innegative), là cái Chứa Nhiều = Chữ Nhiều = Trữ 貯Nhiều lắm = Tự嗣Nhan nhản = Tự自 Nhiên 然 [ Hệ đếm ngũ phân của tiếng Khơme: Muôi (1) –Tê (2) – Bây (3) – Buôn (4) – Prăm (5), đến 5 là nhiều nhất, rồi quay vòng lại Prăm Muôi (6). Do vậy mà Prăm = Năm (tiếng Việt) = Lắm (tiếng Việt) = Rắm (tiếng Việt: rối rắm nghĩa là rối nhiều), Rắm = Rán然 (tiếng Hoa) = Nhan nhản = Nhiên 然 = Nhiêu 饒 = Nhiều (tiếng Việt)]. Sống theo Tự Nhiên là cái Đạo道, tức cái “ Đi 辶 + Đầu 首” = Đạo 道 (lướt “Đi Đầu” = Đạo) của loài người. Sống theo Tự Nhiên, chết trả về với Tự Nhiên gọi là Tiên (Tự Nhiên thiết Tiên, tức lướt “Tự自Nhiên 然” = Tiên僊). Hán ngữ dùng chữ Tự 自 Nhiên 然 đọc là Zi自 Ran 然, dùng chữ Tiên 僊 đọc là Xian 僊. Nhưng Zi Ran thiết Zan, trật, không thành Xian. Tiên là mục đích của Đạo, mục đích của Cụ Lâu = Cụ Lão = Tử 子Lão 老 à Lão 老 Tử 子 (chánh quả đắc Đạo thành Tiên). Không ai biết Cụ Lâu sống thời nào, <Đạo đức Kinh> của cụ là do người đời sau chép lại, chỉ biết rằng Đạo giáo có trước Phật giáo. < Đạo 道đức 德Kinh 京> nôm na là: Đi bằng Đầu (chữ Đạo 道) Đầy ắp (chữ Đức 德) của Con người (chữ Kinh 京, gồm Đầu 亠 + Mình 口 + Túc 小, “Túc Nhiều” = Tiểu小), tức hành động bằng cái đầu có tư duy bao la của con người, cái mà thời nay gọi là “kinh tế tri thức”. Cổ đại chữ Dịch Kinh 易京hay Đạo Đức Kinh道德京đều viết bằng chữ Kinh 京này (nguồn: theo đọc trên mạng của TQ, “Dịch Kinh易京” phải hiểu theo cú pháp Việt đề trước thuyết sau là “thuyết Biến đổi (Dịch易) của tác giả là loài Người (Kinh 京). Chữ Đức có nghĩa là đầy ắp và lan tỏa như giọt nước (ám chỉ cái đồ hình âm dương), như một giọt nước mưa rớt xuống đất nó cũng lan tỏa đi ngay ti tỉ phương, Nước = Nác = Đác = Đức, “Đầy Ức” = Đức, chữ Ức 酭nghĩa là đầy hương thơm của 有rượu 酉 (thơm nức, mùi sực nức), thơm như thế nên chủ một nước cũng gọi là Đức (như Đức Ngài), chủ một giáo lý cũng gọi là Đức (như Đức Phật) dù không “Xức” nước hoa Sài Gòn (xoa đầy thơm tức lướt “Xoa đầy Ức 酭” = Xức). Biểu ý của chữ Đức 德là: một mình nó (chữ Nhất 一) tâm nguyện (chữ Tâm 心) đi (chữ Hành彳) mười phương (chữ Thập 十) bốn biển (chữ Tứ 罒) nghĩa là tự nó lan tỏa “hữu xạ tự nhiên hương” như Phật giáo lan tỏa. Lâu về phía quá khứ thì càng xưa càng lâu hơn, “Lâu Hơn” = Luôn. Lâu về phía tương lai thì càng tới lâu càng muộn, “Lâu Muộn” = Luôn. Còn Đạo道 thì Luôn Luôn tồn tại ở cả ba thì quá khứ, hiện tại, tương lai. Nhưng hiện tại chỉ như một khoảnh khắc của lịch sử cho nên chỉ có tồn tại (vấn đề tồn tại) mà không cần chữ Luôn (khác với vấn đề Luôn Luôn tồn tại, là vấn đề đó kéo dài sự tồn tại suốt cả ba thì). Ví dụ nói: Hiện nay tôi Thường đi bộ và cả đời tôi là Luôn Luôn đi bộ. Đạo 道 là cái lý luận luôn luôn tồn tại. Chả thế mà đến tận bây giờ thế giới vẫn phải lo “đối phó với biến đổi khí hậu” là cái hậu quả do loài người gây ra, mà trách nhiệm đầu tiên là ở người Lãnh Đạo. Lãnh là “Lấy sạch sành Sanh” = Lãnh, như Lãnh lương vậy, là không bỏ sót một đồng nào, sau đó mới chi gì thì chi. Hán ngữ dùng chữ Lão Lão chỉ ý Luôn Luôn, nhưng chỉ có ý nghĩa cho quá khứ: Ngã lão thuyết 我老說 (tôi đã luôn nói ), Ngã thuyết trước 我說著 (tôi đang nói), Ngã tương thuyết 我將說 (tôi sẽ nói). Chữ Ninh 寧 nghĩa là an lành. An lành như Con nằm trong Nôi. “Nôi của Mình” = Ninh 寧, đọc từ trên xuống là: Mái ( 宀) Ấm ( 心) Đựng (皿) Người (丁). Rõ ràng là người Việt đã đặt ra cái chữ Nho gọi là Ninh này, gồm đủ các bộ phận như kê trên, cả tiếng lẫn biểu ý. Cái gọi là “Lục thư tá âm” chỉ là cách gọi về sau nhà Tần thừa kế chữ Nho. Tần Thủy Hoàng phải “đốt sách, chôn nhà nho” để bắt gọi chữ Nho là Hán tự một cách triệt để. “Nôi của Con” = (lướt) “Nôi của Kinh” = Ninh. Đó là cái tiếng được tạo nên đọc là “Ninh”. Con người là Kinh 京, đẻ ra con người tức lướt “Đẻ ra Kinh京” = Đinh 丁, nên từ Đinh 丁chỉ con người, không phân biệt giới tính. Mỗi con người muốn an lành thì phải có được một Mái (chữ Miên宀) Ấm (chữ Tâm 心 ; Tâm thuộc Tá = Lả = Hỏa 火, trong khi Thận thuộc Nậm = Thâm = Thủy 水, theo đông y). Mái ấm ấy là cái “Ổ Đựng” = =Ứng (đáp ứng nhu cầu) Ứng = Hứng = Nưng = “Nưng Tôi” = Nôi của con người, là cái “Nôi Hứng” = Nưng, để “Nưng cái nhỏ Xíu” = =Niu, nên Nôi là cái để Nưng Niu con người. Cái ổ đựng gọi là Nôi ấy hình dáng như cái Máng = Mủng = Minh 皿 (chúa Giê Su sinh ra trong máng cỏ). Chữ Ninh là chữ nho Việt, hội ý của nó là: Mái宀 Ấm心 Đựng 皿Người 丁 (về nghĩa) và là “Nôi đựng Kinh京” = Ninh寧 (về thanh). Cái yên lành như nằm trong nôi gọi là “ninh”. Chữ Ân恩 có gốc ở từ Ăn. Ăn = Ơn = Ân. “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Ăn là ban ơn cho cái dạ dày đang réo kêu đói, nhưng Ăn lại là mang ơn cái thực phẩm và người làm ra nó. Nhớ ghi là làm thành vết Hằn, Hằn = Ăn = Ấn = In = Kin = Khin khít = Khin = Khảm vào trong tâm, gọi là Tâm Khảm hay “Tâm In” = Tin. Nhớ cái gì là do Tin vào cái ấy. Biết ơn như cái dấu Ấn ở trong lòng. Người có Nhân Tâm thì mới biết ơn, nên chữ Ân 恩 viết biểu ý là Nhân 因 + Tâm心. Nhân 人 là người, là Nhân Đạo人道; Nhân 仁 là Nhân Nghĩa 仁義; Nhân 因cũng là Nguyên Nhân, là cái Lõi = Lý. Nhân仁 các loại hột có loại nhân ăn được, có loại nhân ăn độc chết người, bởi vậy phải biết phân biệt cái nguyên nhân 原 因. Bởi vậy chữ Ân 恩 = Nhân因 + Tâm 心 khuyên người ta phải tỉnh táo để mà nhận cái ban ơn là vô tư hay là dụ dỗ “củ cà rốt”, kẻo mang ơn mắc lỡm cảnh “theo voi hít bã mía”. Đương nhiên nếu ăn phải cái nhân độc mà chưa kịp chết thì cũng biết ơn cái được rút kinh nghiệm “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”. Nhớ = Nhiễm (nhiễm hơi là nhớ hơi, nhiễm mùi là nhớ mùi). Nhớ = Nhiễm = Niệm念 . Nhưng “Niệm cái cú ngộ độc do Ăn” = Năn, nên mới phải Ăn Năn, Hối Hận với sai lầm đã mắc phải. Chữ Tứ 賜là “Ta cho người Chứ!” = Tứ 賜, chữ Tứ 賜có bộ thủ “Báu của Tôi” = Bối 貝, cho người thì cho cái báu. Vì Bối là của quí nên chữ Bối 貝 (hình tượng nó là cái Bòi, nói lướt “Bòi Tôi” = Bối) được chuyển chú thành từ chỉ chung các loài nhuyễn thể, là thức ăn có chất đạm chủ yếu quí nhất của người nguyên thủy, nên mới gọi là “Báu của Tôi” = Bối 貝, thành chữ Nho là Bảo Bối 寶貝. (Của quí nhất là cái dương thực khí để gieo giống, nên nói lướt “Bòi Tau” = =Báu, “Bòi Tao” = Bảo). Vỏ Bối vứt quanh đống lửa , bị nung nóng , dội nước cho nguội ai ngờ nó nhuyễn ra thành “Vữa của Bối” = Vôi, sau biết dùng vỏ bối hoặc dùng đá nung vôi, rồi mới biết ăn trầu. Chữ Tứ 賜là động từ người cho (lướt nhấn “Ta cho người Chứ!” = =Tứ), đó là cho ngang hàng. Còn trời cho thì là cho từ trên xuống, tức trời buông rót xuống mà người không biết. Buông Rót viết bằng chữ “Phóng 放Chú 注” = Phú 賦 (trời cho thì trời cũng nói là cho cái “Báu của Tôi” = Bối貝, nên chữ Phú 賦cũng có bộ Bối貝, cái cho của Trời là cái Trời bỏ vội, diễn ra rất nhanh trong khoảnh khắc, ví dụ sực nảy ra sáng kiến gì, đó là do Trời phú, nên chữ Phú賦đã biểu ý đúng là: “Bối 貝Võ武”= Bỏ và “Võ 武Bối貝” = Vội), mới có từ gọi là Trời Phú, trời phú cho anh ta cái trí thông minh, trời phú cho chị ta cái sắc đẹp. Quan tự coi mình quyền thế như trời nên quan cũng chiếm dụng động từ Phú賦về mình. Như tù cải tạo Hoàn Lương được tha thì quan ngục tuyên: “Phú cho con mẹ Hàng Lươn. Được tha ra khỏi án đường khổ sai!”. Chữ Gia 家không đồng nghĩa với từ Nhà. Nhà chỉ là cái vỏ đựng người, chỉ vật thể kiến trúc. Cái âm chính của Nhà là “A” có trong các từ chỉ nhà của nhiều ngôn ngữ, vì phát âm mở của “A” nó nói lên sự thoải mái, tự do khi mình ở nhà mình, A = An, “An cư lạc nghiệp”, “Ta về ta tắm ao ta”, “Ao Ta” = A. A = Ao = Áng = Ang, đều là tên những cái đựng, Áng viết bằng chữ Đàng堂. Nhà tiếng Indonexia là Tangga, tức Đàng Gia堂家hay Gia Đàng家堂của tiếng Việt. Nhà tiếng Hán gọi “Jia” là do dùng chữ Gia家 của Việt nho, tiếng Pháp là Ga (nhà ga), tiếng Nga cũng bắt đầu là âm tiết Ga -, kể cả từ Nhà Nước là Gaxudarstvo. Từ Nhà và từ Gia của tiếng Việt nếu đồng nghĩa như Từ Điển Tiếng Việt và Từ Điển Hán Việt giải thích thì viết Nhà Nước = Gia Quốc = Nhà Quốc = Gia Nước chắc là không sai ngữ pháp (?). từ Nhà chỉ giúp hình dung được cái vỏ, bởi gốc của từ Nhà chính là từ Vỏ như logic mềm hóa phát âm: Vỏ (như vỏ con ốc, nên chữ Ốc 屋để chỉ cái nhà, tiếng Việt Đông cũng đọc là “ốc屋”), Vỏ = Giỏ (giỏ đựng trái cây) = Da (bộ da đựng cơ thể) = Nhà, phát âm của giọng Hà Nội là mềm mại chải chuốt nhất (“Nghe em giọng Bắc êm êm. Bà con hàng xóm đến xem chật Nhà. “Răng chưa sang nhởi Nhà choa? Bà o đã nhốt con ga trong truồng” – thơ Nguyễn Bùi Vợi), vì Nhà là cái Vỏ nên “Nhà Nước” thành ra Vỏ đựng Nước, “Vỏ Chứa” = Vựa, vựa đựng nước để bán . từ Gia mới giúp hình dung được cái quan hệ liên kết, vì nguồn gốc của Gia là từ Giằng, mà “Giằng nhiều Lớp” = Dớp. Dớp Nhà là nói Mối quan hệ ở trong ngôi Nhà. Gia Đàng là nói Mối quan hệ ở trong ngôi Đàng 堂 (Tangga). Nhưng Gia Đình là nói Mối quan hệ của nhiều người ruột thịt. Vì “bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt” mà người ta đã hắt hủi tiếng Việt hàn lâm, ví dụ từ Quốc Gia, ra khỏi tiếng Việt để thay bằng từ Nhà Nước, nửa thế kỷ rồi, bây giờ lại quay lại có Đại học “Quốc Gia” Hà Nội (?). Gia là chỉ quan hệ của những người ruột thịt cùng sống chung dưới một mái Nhà, như chữ Gia 家biểu ý: Mái nhà (bộ thủ Miên宀) + Thịt = lướt nhấn “Thịt Chi 之!” = Thỉ (bộ thủ Thỉ豕), bộ Miên (宀) đại diện cho toàn bộ cấu trúc vỏ, bộ Thỉ (豕) đại diện cho sự sống trong cái vỏ đó, đó là dương âm, cứng mềm tạo nên cái “quan hệ tương tác giữa cứng với nhau, giữa mềm với nhau và giữa cứng với mềm”, gọi là Gia. Quan hệ ấy là sự Giằng níu chặt chẽ giữa các bộ phận cấu trúc cái nhà với nhau, giữa những người sống trong ngôi nhà với nhau và giữa người và vật dụng với nhau, Giằng = Giường = Trường, là một môi trường sinh thái, nên từ Giằng biểu thị quan hệ chặt chẽ ấy mới nhấn lướt là “Giằng Ạ!” = Gia. Dùng từ Quốc Gia thì hình dung được xã hội, chế độ (tức các mối quan hệ trong một nước), còn dùng từ Nhà Nước thì không hình dung được quan hệ liên kết ở trong cái “Nhà” của “Nước” ấy. Nhân tiện, giải thích thêm: chữ Quốc không đồng nghĩa với từ Nước. Chữ Quốc 國 biểu ý chỉ vùng Đất (vuông囗 ) trong đó có các vùng nhỏ (vuông con 口 ) + con người (kẻ 一) + nền sản xuất (qua 戈), như Thái Quốc 泰國 là Thái Land. Tiếng Việt gọi Đất Nước VN, tức gồm Đất liền và Biển Đông ( lãnh Thổ và lãnh Hải). Chữ Hải mới là chữ được chuyển chú thay cho từ Nước, đồng bào Hải nội là đồng bào ở trong Nước, đồng bào Hải ngoại là đồng bảo ở Nước ngoài. Biển Đông chữ nho viết là La Hải 羅海 (biển của tộc Đại La. La = Lả = Lửa, tức của Viêm Bang, La = phương Quẻ Ly tượng Lửa của Dịch học), Biển Đông còn viết là Nam Hải 南海 (biển của người Nam, người Nam là người Canh tức người Kinh), ở đầu Lạnh của cái “Kim chỉ Nam” của cái La – Canh (cái la bàn chỉ hướng). Lạnh = Canh = Căm Căm = Nặm (tiếng Lào) = Nậm (tiếng Tày) = Nước = North = Nam (tiếng Thái Lan) = Khảm = phương Quẻ Khảm tượng Nước của Dịch học). Chữ Nam 南gồm vòng ngoài là bộ Cung, ôm lấy chữ Hạnh, đọc là Cung Hạnh thiết Canh, chỉ người Canh (Kinh) ở hướng Canh. Ngược lại , hướng La là hướng Nóng = Nực = Bức 北 = Bục = Sục = South. Xưa đọc chữ Bức 北là Bạc薄 Mực 墨thiết Bức 北 (<Thuyết Văn Giai Tự說文解字>). Phương hướng ngày nay đã bị đổi ngược tên gọi, chưa rõ vì lý do gì (?) Giằng níu nở ra các từ dính Dập-Dìu (quan hệ sôi động), Dắc-Díu (quan hệ lớn bé, già trẻ), Dan-Díu (quan hệ tình dục), Dan = Gian = =Dâm. Cái quan hệ là Giằng = Gia ấy nhiều tầng nhiều lớp (tam đại , tứ đại đồng đường), gọi là “Giằng nhiều Lớp” = Dớp. Dớp là quan hệ ruột thịt người với người trong một cái Nhà, gọi là Dớp Nhà. Quan hệ tức là hoàn cảnh, Dớp Nhà còn gọi là hoàn cảnh Nhà. Lướt “Dớp Nhà” = Gia, Gia là cái quan hệ, Hán ngữ gọi là Gia Cảnh. Gia là các mối quan hệ ruột thịt, nếu là của nhiều người tức nhiều Đinh, mà nhiều Đinh là “Đinh Nhiều” = 0 + 1 = 1 = Đình (lướt lấy dấu) hay lướt từ lặp “Đinh Đinh” = 0 + 0 = 1 = Đình, thì gọi là Gia Đình. (không phải theo chữ Gia là cái nhà, Đình là cái đình, Gia Đình là cái nhà và cái đình ? ) Gia Đình là mối quan hệ nhiều người ruột thịt. Xây dựng gia đình là xây dựng quan hệ nhiều người nối ruột, không phải là xây dựng cái nhà và cái đình. Lướt “Gia Đình” = =Dinh, Dinh là mối quan hệ nhiều người thân, nếu thêm cho nó cái vỏ kiến trúc tương đương cái nhà thì phải gọi là Dinh Cơ, Dinh Cư, Dinh Thự, Dinh Lũy. Lí ngựa ô: “Anh đưa nàng về Dinh” nghĩa là anh đưa nàng về với các mối quan hệ phía bên anh, dù cái Nhà, cái Cơ, cái Thự của anh có là túp lều cũng vẫn sướng. Truyện Kiều: “Dớp Nhà nhờ lượng người thương daám nài” nghĩa là Các mối quan hệ rắc rối éo le (hoàn cảnh) - Dớp – trong ngôi nhà này – Nhà – nhờ người thương xót mà giải quyết cho, không dám nói dài. “Nói Dài” = Nài, “Nài Chi!” = Nỉ, Nài Nỉ là nói dài nhằm xin xỏ thuyết phục. Từ Daám được nói dài như thế để thành nghĩa ngược lại là Không Dám (như gạch dương thì dài mà gạch âm thì ngắn trong Quẻ Dịch). Trẻ con nói: “Tao thách mày đánh tao đấy, daám!” có nghĩa là “Tao thách mày đánh tao đấy, hổng dám đâu !”. Lướt “Dớp Nhà” = Gia, nhưng nếu chỉ dùng một chữ Gia thì vẫn ý đó (các mối quan hệ -hoàn cảnh) nhưng không cảm thấy kể lể chi li của cái giọng đang nài nỉ thuyết phục người nghe, nên phải dùng hai tiếng là Dớp Nhà cho nó dài hơn. 2 (sưu tầm) 德流光 ĐỨC LƯU QUANG Đức (ĐỨC) là dòng chảy (LƯU) xuyên suốt các thế hệ đem lại sáng láng văn minh (QUANG) cho con người. (Vì là bức hoành phi nên đọc ngược lại vẫn cho ý nghĩa đẹp: Có sáng trí (QUANG) thì mới sinh ra (LƯU) có đức (ĐỨC), nếu vô học ngu tối thì cũng không có đức). 3 (sưu tầm) 藥可通神先後聖 DƯỢC KHẢ THÔNG THẦN TIÊN HẬU THÁNH Thầy thuốc mà thông hiểu dược như thần thì trước sau đều giỏi như thánh. (Cũng hàm ý nữa: Thuốc mà có thể thông đến tận thần kinh thì trước sau gì cũng có công hiệu) 4 (sưu tầm) 四海兄弟 TỨ HẢI HUYNH ĐỆ Bốn biển năm châu đều là anh em 5 (sưu tầm) 醫國有名存古錄 Y QUỖC HỮU DANH TỒN CỔ LỤC Nước giỏi nghề y này đã nổi tiếng từ xưa, cổ thư từng ghi nhận vẫn đang còn. 仁能及物古今師 NHÂN NĂNG CẬP VẬT CỔ KIM SƯ Thầy thuốc xưa nay vẫn lấy lòng nhân đạo mà quán xét sự vật. 醫國有名存古錄 仁能及物古今師 6 (sưu tầm) 醫德刻心聲神藥 Y ĐỨC KHĂC TÂM THANH THẦN DƯỢC Lòng luôn luôn có y đức thì mới làm được nổi tiếng thuốc tốt của mình 同人致敬表心丹 ĐỒNG NHÂN CHÍ KÍNH BIỂU TÂM ĐAN Hết lòng kính trọng bệnh nhân cũng như kính trọng mọi người là thể hiện viên thuốc của mình chính là trái tim của mình. 醫德刻心聲神藥 同人致敬表心丹 7 (sưu tầm) 奎斗精英騰北地 KHUÊ ĐẨU TINH ANH ĐẰNG BẮC ĐỊA Thông minh sáng suốt như sao khuê sao đẩu làm xôn xao cả đất Bắc 聖師妙藥振南邦 THÁNH SƯ DIỆU DƯỢC CHẤN NAM BANG Thầy giỏi, thuốc tốt làm sôi động cả nước Nam. 奎斗精英騰北地 聖師妙藥振南邦 8 (tự viết) 醫德恒心聲神藥 Y ĐỨC HẰNG TÂM THANH THẦN DƯỢC Có đạo đức ngành y luôn luôn trong tâm thì làm được thuốc nổi danh như thần. 懶翁濟世盛精華 LẪN ÔNG TẾ THẾ THỊNH TINH HOA Lãn Ông cứu giúp người đời bằng đầy ắp trí tuệ (Cũng hàm ý nữa: có học được tư cách như của Lãn Ông thì mới trau dồi được tài năng cho chính mình) 醫德恒心聲神藥 懶翁濟世盛精華 9 (sưu tầm) 武烈炳颩黎莫際 VŨ LIỆT BÍNH ĐIÊU LÊ MẠC TẾ Công lao chiến trận còn khắc rõ trong thời Lê – Mạc. 英聲赫濯水山間 ANH THANH HÁCH TRẠC THỦY SƠN GIAN Tiếng tăm anh tài còn hiển hách lan tỏa giữa núi sông (Câu đối này có lẽ nói về hai giai đoạn cuộc đời Hải Thượng Lãn Ông, thủa đầu là tài về võ, thủa sau là tài về làm thuốc y trị). 武烈炳颩黎莫際 英聲赫濯水山間 10 (sưu tầm) 培慈樹德 BỒI TỪ THỤ ĐỨC Bồi đắp nhân từ vun trồng đức độ (Vì là hoành phi nên đọc ngược lại vẫn là ý đẹp: Đức như cây lớn mãi nhân giống rộng ra mọi miền, hiền từ cứ bồi đắp mãi càng bồi càng to lớn). 11 (sưu tầm) 五福臨門 NGŨ PHÚC LÂM MÔN Nhiều phúc đến nhà (Câu này có xuất xứ từ TQ, ở VN ngày xưa không có câu này, ngày nay HN mua của TQ sản xuất bằng giấy đỏ về dán cửa, ngồi lười mà mơ phúc đến. Câu này không phải là viết theo kiểu hoành phi, vì đọc ngược lại thì không ra ý gì, mà nói lái thì lại càng phạm, không đẹp, Ngũ Phúc nói lái là Ngục Phủ, Lâm Môn nói lái là Lộn Mầm. Mà thiết cả câu thì “Ngũ… Môn” thiết Ngôn, “Môn… Ngũ” thiết Mù, ngôn mù hay mù ngôn đều không đẹp . Vậy mà các trọc phú ở HN khi khánh thành nhà mới là nhà nào cũng mua câu này của Tàu về dán cửa. Bởi vậy câu này nên bỏ đi, không nên dùng treo trong bảo tàng hay dán cửa nhà ở). Nều muốn treo câu hoành phi ý đẹp và hợp thì nên treo câu của Việt nho dưới đây 12 (sưu tầm) 天地君親師 THIÊN ĐỊA QUÂN THÂN SƯ Câu này trong Nam còn thấy nhiều gia đình thường treo, kể cả trong các hội quán của đồng bào Hoa cũng có treo, ngoài Bắc không còn thấy vì bị đốt hết hồi CCRĐ rồi, có lẽ do hiểu chữ Quân là vua tức phong kiến, thực ra Con = Cán = Quân, con bài cũng là quân bài, con làm ở bộ phận riêng gọi là cán bộ, xưng “Quân” cũng là xưng con. Ý nghĩa bức hoành phi này là nhắc nhở làm bất cứ nghề gì cũng phải tôn trọng Âm Dương Ngũ Hành, cũng như tôn trọng Năm vị là: tôn trọng Trời (THIÊN), tôn trọng Đất (ĐỊA), tôn trọng Mình (QUÂN), tôn trọng Dân (THÂN), tôn trọng Thầy (SƯ). Nếu dựng đứng bức hoành phi thì đứng giữa là Mình (tức nhà DN là QUÂN) nhìn lên THIÊN là biết tôn trọng pháp luật nhà nước, nhìn lên ĐỊA là biết bảo vệ môi trường và ủng hộ nhân dân địa phương nơi mình có nhà máy, nhìn xuống thấy THÂN là biết coi người làm như thân nhân của mình, nhìn xuống thấy Sư là biết chức trách mình phải như thầy giáo dục kèm cặp nhân viên của mình. Hoành phi này đọc ngược thì là Thầy thuốc (SƯ) thương kính (THÂN) con dân (QUÂN, “Con Dân” thiết Quân) bởi thầy thuốc có lòng nhân từ mênh mông như mặt đất (ĐỊA) và kiến thức bao la như bầu trời (THIÊN). Hoành phi hay câu đối thường dùng từ theo lối ước lệ (mượn từ qui ước để nói lên một ví dụ cụ thể. Bởi vậy nó hàm nhiều nghĩa. Thuyết minh phải dịch rõ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng hay ẩn ý. Đây là đặc điểm của chữ vuông của người Việt chủ nhân của nền văn minh Trung Hoa thời cổ đại (nén nhiều thông tin vào một vuông qui ước nhỏ xíu) gọi là “vuông Trữ Nho nhỏ” tức “vuông Chữ Nho nhỏ”, nói tắt bằng vo bỏ đầu (“vuông”) bỏ đuôi (“nhỏ”) đi, còn lấy lõi giữa là “Chữ Nho”. Ví dụ người Nhật xưng ngôi một là “wa-Ta-xi” thì Việt chỉ xưng là “Ta”, Nhật gọi “xa-Ka-na” thì Việt gọi là Cá (Lào, Thái gọi là Pá), v.v. vô cùng nhiều, đó là ngôn ngữ của Đại Tộc Việt có xuất xứ ĐNÁ cổ đại, trở thành ngôn ngữ Bách Việt mà về sau là các nước Ngô, Sở, Việt hơn 1000 năm trước công nguyên, đều toàn là dân Bách Việt, từng làm chủ 18 tỉnh thuộc TQ ngày nay. 13 (sưu tầm) 東壁圖書 ĐÔNG BÍCH ĐỒ THƯ Chữ viết trên tranh ở bức tường phía đông (Ẩn ý là nền văn minh phương Đông đồ sộ như bức tường, ai cũng thấy rõ, cả những ký hiệu và cả văn tự) 14 (sưu tầm) 先尋聖藥 TIÊN TẦM THÁNH DƯỢC Trước tiên phải nghiên cứu tìm tòi cho ra thuốc tốt (rồi mới có thể nói đến chữa được bệnh) 欲惠生民 DỤC HUỆ SINH DÂN Ham muốn với lòng tốt đem lại sự sống cho con người 先尋聖藥 欲惠生民 15 (sưu tầm) 一方切宜辨 Y PHƯƠNG THIẾT NGHI BIỆN Phác đồ điều trị cần thiết phải phản biện kỹ càng 藥性須要詳 DƯỢC TÍNH TU YẾU TƯỜNG Dược tính phải được hiểu rõ ràng 一方切宜辨 藥性須要詳 16 (sưu tầm) 和氣一家樂 HÒA KHÍ NHẤT GIA LẠC Mọi người phải chan hòa hợp tác thì đó là điều sung sướng nhất 德重人壽長 ĐỨC TRỌNG NHÂN THỌ TRƯỜNG Người biết trọng đức là người sẽ sống lâu 和氣一家樂 德重人壽長 17 (sưu tầm) 萬事水流水 VẠN SỰ THỦY LƯU THỦY Mọi sự đều làm trôi chảy như nước (làm ơn không cần đợi báo đáp) 百年心語心 BÁCH NIÊN TÂM NGỮ TÂM Lòng luôn tự nhủ lòng (luôn luôn sống thực với chính mình ) 萬事水流水 百年心語心 18 (sưu tầm) 救病如救火 CỨU BỆNH NHƯ CỨU HỎA Cứu người bệnh cũng gấp như cứu hỏa tai 用藥比用兵 DỤNG DƯỢC TỶ DỤNG BINH Dùng thuốc cũng phải khéo như dùng lính xung trận 救病如救火 用藥比用兵 19 (sưu tầm) 止仰山 CHỈ NGƯỠNG SƠN Đứng im mà ngắm xem núi lớn như thế nào (Nhắc nhở: Đừng có mơ tưởng cao xa, hãy làm gấp những việc cần làm ngay) 20 (sưu tầm) 欲惠生民 DỤC HUỆ SINH DÂN Lòng tốt ham muốn đem lại sự sống cho con người 21 (sưu tầm) 先找聖藥 TIÊN TRẢO THÁNH DƯỢC Trước tiên phải tìm được thuốc tốt 22 (sưu tầm) 醫方失治責在庸誤緩遲 Y PHUONG THẤT TRỊ TRÁCH TẠI DUNG NGỘ HOÃN TRỆ Phác đồ điều trị mà không trị nổi bệnh là bởi tại do dự, sai lầm, lừng khừng, chậm trễ 藥應有功責乎栽收制儲 DƯỢC ỨNG HỮU CÔNG QUÍ HỒ TÀI THU CHẾ TRỪ Thuốc đáp ứng công dụng là do biết cách cắt thu chế biến để dành 醫方失治責在庸誤緩遲 藥應有功責乎栽收製儲 23 (sưu tầm) 醫方失治責在庸誤緩遲 Y PHUONG THẤT TRỊ TRÁCH TẠI DUNG NGỘ HOÃN TRỆ Phác đồ điều trị mà không trị nổi bệnh là bởi tại do dự, sai lầm, lừng khừng, chậm trễ 藥應有功貴乎樹取泡制 DƯỢC ỨNG HỮU CÔNG QUÍ HỒ THỤ THỦ CHẾ BÀO Thuốc dùng có công hiệu là do ở cây lấy đem bào chế 醫方失治責在庸誤緩遲 藥應有功貴乎樹取製泡 24 (tự viết) Bức hoành phi đơn giản nhất dưới đây, nói lên cái lý cân bằng âm dương của người Việt, là khi làm cho cơ thể con người được cân bằng âm dương thì sẽ khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần. 天下公平 THIÊN HẠ CÔNG BẰNG Đây là đạo lý để đời của người Việt cả trong y trị lẫn trong chính trị. Bốn chữ này là BỐN = BỔN = VỐN, là bốn Ven của cái lỗ đồng tiền Việt. Ven + Ven = 0 + 0 = 1 = Vèn, về dấu thanh điệu thì như 0 + 0 = 1 (dấu “không”, “ngã”, “nặng” thuộc nhóm Âm = 0; dấu “huyền”, “sắc”, “hỏi” thuộc nhóm Dương = 1). Vèn là hai ven, nhưng Vèn còn gọi là Bẹn, và Bẹn = Bên = Biên. (Các bà nông dân Bắc Bộ chửi con: “Mày không chịu đi làm cứ ở nhà mà ăn “vèn” lồn mẹ mày mãi à?”), đó chính là tiền đề của câu thành ngữ “ăn quẩn cối xay”, giống như các nhà qui hoạch ngày nay chỉ ăn sẵn đất ruộng mật bờ xôi của nông dân để làm đủ loại “dự án”. Nhưng Vèn + Vèn = 1 + 1 = 0 = Vẹn (dấu thanh điệu là 1+1=0). Đồng tiền xưa đúc bằng đồng, gồm hình Tròn ngoài (hình tròn tượng trời) và 4 Ven ở trong (hình vuông tượng đất) là Tròn Vẹn. Tròn Vẹn thiết Trọn, Trọn có nghĩa là Tất Cả (universal – vũ trụ). Nhưng Tất Cả thiết Ta (Ta = Ngã 我 = Người, là con người – chứng tỏ cấu tạo cơ thể cùng với tinh thần của mỗi con người là một tiểu vũ trụ). Ngược lại Vẹn Tròn thiết Vón (đó là sự nén các yếu tố vũ trụ trong cơ thể mỗi con người, cũng như sự nén thông tin trong mỗi chữ vuông – chữ Nho của người Việt. Bốn chữ THIÊN HẠ CÔNG BẰNG 天下公平gồm đúng 16 nét, đó là lý do tại sao cân tiểu ly của Đông Y là 16 lạng mới đúng đủ 1 cân, (“kẻ tám lạng bằng người nửa cân”) và dân miền Tây Nam Bộ đếm trái cây hay hột vịt lộn là cứ một chục bằng 16. Trong mỗi cơ thể sống có hai bát quái tồn tại, chia thành hai nửa Âm/Dương, như Minh冥 / Minh明. Minh 冥 (tối) là cái Ta Âm thiết Tâm (tâm thức), Minh 明 (sáng) là cái Ta Dương thiết Tướng (tướng mạo thể hiện trên mặt, lòng bàn tay, lòng bàn chân v.v., thầy lang căn cứ vào đó mà chẩn bệnh). Minh 明sáng viết biểu ý bằng ánh sáng trời trăng là Nhật 日Nguyệt 月thiết Nhiệt 热nghĩa là nóng, người Đài Loan lại đọc chữ Nhiệt 热là “lửa”. Minh 冥 tối viết biểu ý bằng Mịch 冖Và 曰Lâu六, phải hiểu bằng lái lại là Mầu Và Linh (mầu nhiệm và linh thiêng) vì tâm thức thuộc người “âm” nên đọc chữ “ảo”. Người Kinh京 còn xưng là “Mình”, vợ chồng cứ xưng lẫn lộn là “Ta;”,với “Minh” đúng như bình đẳng là bằng đỉnh của thiên hạ công bằng. Xưng là Mình vì cơ thể có hai Minh, nên Minh 冥 + Minh 明 = 0 + 0 =1 = =Mình (dấu thanh điệu là 0+0=1). Chữ Kinh京viết biểu ý gồm Đầu 亠 + Mình 口 + Chân Tay 小 (“Túc Nhiều” = Tiểu小), đó là con người, và chữ rất cân bằng hai nửa theo chiều dọc chia đôi. Hai bát quái là 16. Mười Sáu thiết Máu, ngược lại Sáu Mười thiết Sưởi, đó là con người sống động, là Máu Sưởi = Máu Sôi = Môi. Môi là đứng giữa Thiên và Địa, đó là Nhân. Môi = Mỗi = Mọi (người Tây Nguyên) = Man (người Việt Bắc) = Mằn (người Quảng Đông) = Mân (người Phúc Kiến) = Cần (người Tày) = Con = Kinh, đều là cùng một NÔI = Nòi (cùng gen). “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê bảy tám ngàn dặm toàn là dân Bách Việt ở” ( Khổng Tử Viết 孔子曰 tức Khổng Tử nói). Chữ Viết 曰biểu y là cái mồm có lằn môi vạch ngang, nghĩa là nói, mà là người Việt nói, vì lướt lấy dấu “Việt 越Nói” = Viết曰 (tương tự như “Giết Sạch” = Diệt滅), Viết (nói) được chuyển nghĩa chỉ sự ghi ký tự là động từ Viết (bằng cái Bút để “Put” lên mạng cho người đọc). Chứa = Chữ = Trữ貯, nhưng còn lướt lấy dấu “Trữ 貯để Dành” = =Trừ 儲. Chú giải: Ẩn ý có thêm của THIÊN HẠ CÔNG BẰNG là: - THIÊN BẰNG nói lái là THĂNG BIẾN (sự phát triển đi lên) - THIÊN HẠ nói là là THA HIỀN (hiền hậu rộng lượng vị tha) - HẠ CÔNG nói lái là HỐNG CA (lớn giọng ca hát) - CÔNG BẰNG nói lái là CĂNG BỒNG (nội dung chứa đầy) Ẩn ý ấy là: Xã hội no đủ, vị tha Người người hiền hậu ngợi ca cuộc đời Sôi động đổi mới nơi nơi Đất nước phát triển rạng ngời thăng long. 25 (sưu tầm) 秋飲黃花酒 THU ẨM HOÀNG HOA TỬU 冬吟白雪詩 ĐÔNG NGÂM BẠCH TUYẾT THI 春游芳草地 XUÂN DU PHƯƠNG THẢO ĐỊA 下賞綠荷池 HẠ THƯỞNG LỤC HÀ TRÌ Xuân chơi thảm cỏ thơm hoa Hè ngồi thưởng mát ao ta sen hồng Thu về uống rượu hoa vàng Đông ngồi chăn ấm ngâm nàng tuyết thơ. 秋飲黃花酒 冬吟白雪詩 春游芳草地 下賞綠荷池 26 (sưu tầm) 基德積 CƠ ĐỨC TÍCH Lấy tích đức làm nền tảng cho sự nghiệp 后傳仁 HẬU TRUYỀN NHÂN Lấy nhân nghĩa truyền lại cho đời sau 基德積 后傳仁 27 (sưu tầm) 和氣吉祥 HÒA KHÍ CÁT TƯỜNG Sống hòa thuận là điều tốt lành 28 (sưu tẩm) 土產有殊北國 THỔ SẢN HỮU THÙ BẮC QUỐC Dược liệu có tính đặc thù của thổ nhưỡng phương Bắc 天書越定南邦 THIÊN THƯ VIỆT ĐỊNH NAM BANG Nhưng làm được thuốc tốt là do người Việt biết phương pháp truyền thống là theo sách Trời tức thuyết Âm Dương Ngũ Hành. 土產有殊北國 天書越定南邦 29 (tự viết) LÊ TỘC HIỂN TÔNG, HẬU DUỆ THỊNH HƯNG DANH, TÀI, TRÍ ĐÔNG TÂY LẠC NGHIỆP, NHI TÔN KHẮC NIỆM ĐỨC, NHÂN, TÂM ( Họ Lê triển rộng nhiều chi, các đời sau đều thành đạt trọn vẹn tiếng tăm, giàu có, trí tuệ. An cư lạc nghiệp ở Ta hay ở Tây, con cháu vẫn từng giây nhớ giữ đức độ, nhân từ, tâm huyết). Đông Tây còn ẩn ý là làm thuốc Đông y và Tây y kết hợp. 黎族顯宗後裔盛興名財智 東西樂業兒孫刻念德仁心 30 (tự viết) 黎德耀明 LÊ ĐỨC DIỆU MINH (Họ Lê có đức chiếu sáng) Đọc xuôi có nghĩa là: Nhân dân (LÊ) có đức (ĐỨC) chiếu (DIỆU, “Dịu Chiếu” = Diệu) sáng (MINH) Đọc ngược có nghĩa là: Sự minh bạch (MINH) rọi tỏ (DIỆU) cái đức (ĐỨC) của họ Lê (LÊ). Chữ LÊ黎 biểu ý là: Nhân dân ( 人 ) là Đồng (丿 ) Bào (勹 ) trồng Lúa (禾 ) Nước (水 ) Lê…Minh thiết Linh. Minh… Lê thiết Mê. Lê Đức thiết Lực. Đức Lê thiết Đế. Diệu Minh thiết Dinh. Minh Diệu thiết Miếu. Bốn chữ hoành phi này tạo ra các từ ẩn là Đế Minh, Mê Linh, Lực, Dinh, Miếu. Do vậy bốn chữ hoành phi này còn hàm ẩn ý là cái miếu thờ Đế Minh và thờ Hai Bà Trưng (Mê Linh). Tức còn có mang nội dung là: Miếu đế vương lực cường dinh tráng Thủy tổ xưa sáng rạng Đế Minh Trưng Vương oanh liệt Mê Linh Lê dân có đức diệu minh muôn đời. Kết luận: Tiếng Việt phong phú vô vàn Hàn lâm trộn với dân gian cùng hành Lời văn hàm súc uyên thâm Công người xưa bốn nghìn năm trau dồi. Chống Covid càng ơn Y Dược Ngồi ngẫm sâu minh triết từng lời Hiểu thêm cái lý xưa vời Tiên nhân từng đã rạng ngời phương Đông Bốn chữ ÂN TỨ NINH GIA thấy có treo trong nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc thân sinh Bác Hồ ở làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An 1 (sưu tầm) ÂN TỨ NINH GIA 恩賜寧家 Dịch nghĩa: Sống chung giữ vững nếp nhà Ban ơn nhau trước, sau là biết ơn. Chú thích: Trong một căn nhà thì các bộ phận đều là ban ơn cho nhau và biết ơn nhau nên cái khung nhà giữ được yên ổn, chắc chắn. Trong một gia đình (hay làng, nước) mỗi thành viên đều ban ơn cho nhau và biết ơn nhau thì gia đình (hay làng xóm, quốc gia) sẽ vững bền. Giảng nghĩa: Sống thuận thiên theo Qui Luật Vũ Trụ (chữ ÂN 恩). Ân tức Ân Trạch恩澤 (Ơn Trời), Trời thì luôn luôn Trong và Sạch, lướt “Trong Sạch” = Trạch 澤, Trong là trong suốt không ô nhiễm như Nước ( 氵 ), Sạch là sạch không ô nhiễm như Nắng ( Nắng biểu ý bằng từ Tạnh, do lướt xuôi “Tư 罒Hạnh幸” = Tạnh. Nắng là cái Năng lượng vô hình biểu ý bằng từ Hư, do lướt ngược “Hạnh幸 Tư罒”= Hư, tức hư không, đồng nghĩa vô hình. Tất cả những ý tứ là thông tin này đều được nén trong chữ vuông Trạch澤, là một trong những “vuông Chứa Nho nhỏ” = “vuông Chữ Nho nhỏ” mà gọi Vo cho rụng đầu (“vuông”) và rụng đuôi (“nhỏ”) còn cái lõi giữa là (“Chữ Nho”) nên chữ vuông còn gọi là chữ nho. Vũ Trụ ban cho (chữ TỨ賜) sự an lành (chữ NINH寧) đến mọi Nước và mọi Người (chữ GIA家). Chú giải: Nghĩa đen của câu Ân Tứ Ninh Gia là: sự ban ơn và biết ơn (chữ Ân恩) của các bộ phận cột, kèo, rui, mè, dứng, vách giằng néo cho nhau (chữ Tứ 賜) làm nên sự vững chãi (chữ Ninh寧) của cái nhà (chữ Gia家). Ngụ ý là những người trong một nhà hay một quốc gia cũng phải như vậy, ban ơn và biết ơn với nhau. Rộng ra thì là ân trạch của Vũ Trụ cho sự sống, sống là phải biết ơn Vũ Trụ. Vũ Trụ là cái NÔI lớn của sự sống, là cái ổ (chữ Ô) gồm tố âm (chữ N, tức Negative) và tố dương (chữ I, tức Innegative), là cái Chứa Nhiều = Chữ Nhiều = Trữ 貯Nhiều lắm = Tự嗣Nhan nhản = Tự自 Nhiên 然 [ Hệ đếm ngũ phân của tiếng Khơme: Muôi (1) –Tê (2) – Bây (3) – Buôn (4) – Prăm (5), đến 5 là nhiều nhất, rồi quay vòng lại Prăm Muôi (6). Do vậy mà Prăm = Năm (tiếng Việt) = Lắm (tiếng Việt) = Rắm (tiếng Việt: rối rắm nghĩa là rối nhiều), Rắm = Rán然 (tiếng Hoa) = Nhan nhản = Nhiên 然 = Nhiêu 饒 = Nhiều (tiếng Việt)]. Sống theo Tự Nhiên là cái Đạo道, tức cái “ Đi 辶 + Đầu 首” = Đạo 道 (lướt “Đi Đầu” = Đạo) của loài người. Sống theo Tự Nhiên, chết trả về với Tự Nhiên gọi là Tiên (Tự Nhiên thiết Tiên, tức lướt “Tự自Nhiên 然” = Tiên僊). Hán ngữ dùng chữ Tự 自 Nhiên 然 đọc là Zi自 Ran 然, dùng chữ Tiên 僊 đọc là Xian 僊. Nhưng Zi Ran thiết Zan, trật, không thành Xian. Tiên là mục đích của Đạo, mục đích của Cụ Lâu = Cụ Lão = Tử 子Lão 老 à Lão 老 Tử 子 (chánh quả đắc Đạo thành Tiên). Không ai biết Cụ Lâu sống thời nào, <Đạo đức Kinh> của cụ là do người đời sau chép lại, chỉ biết rằng Đạo giáo có trước Phật giáo. < Đạo 道đức 德Kinh 京> nôm na là: Đi bằng Đầu (chữ Đạo 道) Đầy ắp (chữ Đức 德) của Con người (chữ Kinh 京, gồm Đầu 亠 + Mình 口 + Túc 小, “Túc Nhiều” = Tiểu小), tức hành động bằng cái đầu có tư duy bao la của con người, cái mà thời nay gọi là “kinh tế tri thức”. Cổ đại chữ Dịch Kinh 易京hay Đạo Đức Kinh道德京đều viết bằng chữ Kinh 京này (nguồn: theo đọc trên mạng của TQ, “Dịch Kinh易京” phải hiểu theo cú pháp Việt đề trước thuyết sau là “thuyết Biến đổi (Dịch易) của tác giả là loài Người (Kinh 京). Chữ Đức có nghĩa là đầy ắp và lan tỏa như giọt nước (ám chỉ cái đồ hình âm dương), như một giọt nước mưa rớt xuống đất nó cũng lan tỏa đi ngay ti tỉ phương, Nước = Nác = Đác = Đức, “Đầy Ức” = Đức, chữ Ức 酭nghĩa là đầy hương thơm của 有rượu 酉 (thơm nức, mùi sực nức), thơm như thế nên chủ một nước cũng gọi là Đức (như Đức Ngài), chủ một giáo lý cũng gọi là Đức (như Đức Phật) dù không “Xức” nước hoa Sài Gòn (xoa đầy thơm tức lướt “Xoa đầy Ức 酭” = Xức). Biểu ý của chữ Đức 德là: một mình nó (chữ Nhất 一) tâm nguyện (chữ Tâm 心) đi (chữ Hành彳) mười phương (chữ Thập 十) bốn biển (chữ Tứ 罒) nghĩa là tự nó lan tỏa “hữu xạ tự nhiên hương” như Phật giáo lan tỏa. Lâu về phía quá khứ thì càng xưa càng lâu hơn, “Lâu Hơn” = Luôn. Lâu về phía tương lai thì càng tới lâu càng muộn, “Lâu Muộn” = Luôn. Còn Đạo道 thì Luôn Luôn tồn tại ở cả ba thì quá khứ, hiện tại, tương lai. Nhưng hiện tại chỉ như một khoảnh khắc của lịch sử cho nên chỉ có tồn tại (vấn đề tồn tại) mà không cần chữ Luôn (khác với vấn đề Luôn Luôn tồn tại, là vấn đề đó kéo dài sự tồn tại suốt cả ba thì). Ví dụ nói: Hiện nay tôi Thường đi bộ và cả đời tôi là Luôn Luôn đi bộ. Đạo 道 là cái lý luận luôn luôn tồn tại. Chả thế mà đến tận bây giờ thế giới vẫn phải lo “đối phó với biến đổi khí hậu” là cái hậu quả do loài người gây ra, mà trách nhiệm đầu tiên là ở người Lãnh Đạo. Lãnh là “Lấy sạch sành Sanh” = Lãnh, như Lãnh lương vậy, là không bỏ sót một đồng nào, sau đó mới chi gì thì chi. Hán ngữ dùng chữ Lão Lão chỉ ý Luôn Luôn, nhưng chỉ có ý nghĩa cho quá khứ: Ngã lão thuyết 我老說 (tôi đã luôn nói ), Ngã thuyết trước 我說著 (tôi đang nói), Ngã tương thuyết 我將說 (tôi sẽ nói). Chữ Ninh 寧 nghĩa là an lành. An lành như Con nằm trong Nôi. “Nôi của Mình” = Ninh 寧, đọc từ trên xuống là: Mái ( 宀) Ấm ( 心) Đựng (皿) Người (丁). Rõ ràng là người Việt đã đặt ra cái chữ Nho gọi là Ninh này, gồm đủ các bộ phận như kê trên, cả tiếng lẫn biểu ý. Cái gọi là “Lục thư tá âm” chỉ là cách gọi về sau nhà Tần thừa kế chữ Nho. Tần Thủy Hoàng phải “đốt sách, chôn nhà nho” để bắt gọi chữ Nho là Hán tự một cách triệt để. “Nôi của Con” = (lướt) “Nôi của Kinh” = Ninh. Đó là cái tiếng được tạo nên đọc là “Ninh”. Con người là Kinh 京, đẻ ra con người tức lướt “Đẻ ra Kinh京” = Đinh 丁, nên từ Đinh 丁chỉ con người, không phân biệt giới tính. Mỗi con người muốn an lành thì phải có được một Mái (chữ Miên宀) Ấm (chữ Tâm 心 ; Tâm thuộc Tá = Lả = Hỏa 火, trong khi Thận thuộc Nậm = Thâm = Thủy 水, theo đông y). Mái ấm ấy là cái “Ổ Đựng” = =Ứng (đáp ứng nhu cầu) Ứng = Hứng = Nưng = “Nưng Tôi” = Nôi của con người, là cái “Nôi Hứng” = Nưng, để “Nưng cái nhỏ Xíu” = =Niu, nên Nôi là cái để Nưng Niu con người. Cái ổ đựng gọi là Nôi ấy hình dáng như cái Máng = Mủng = Minh 皿 (chúa Giê Su sinh ra trong máng cỏ). Chữ Ninh là chữ nho Việt, hội ý của nó là: Mái宀 Ấm心 Đựng 皿Người 丁 (về nghĩa) và là “Nôi đựng Kinh京” = Ninh寧 (về thanh). Cái yên lành như nằm trong nôi gọi là “ninh”. Chữ Ân恩 có gốc ở từ Ăn. Ăn = Ơn = Ân. “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Ăn là ban ơn cho cái dạ dày đang réo kêu đói, nhưng Ăn lại là mang ơn cái thực phẩm và người làm ra nó. Nhớ ghi là làm thành vết Hằn, Hằn = Ăn = Ấn = In = Kin = Khin khít = Khin = Khảm vào trong tâm, gọi là Tâm Khảm hay “Tâm In” = Tin. Nhớ cái gì là do Tin vào cái ấy. Biết ơn như cái dấu Ấn ở trong lòng. Người có Nhân Tâm thì mới biết ơn, nên chữ Ân 恩 viết biểu ý là Nhân 因 + Tâm心. Nhân 人 là người, là Nhân Đạo人道; Nhân 仁 là Nhân Nghĩa 仁義; Nhân 因cũng là Nguyên Nhân, là cái Lõi = Lý. Nhân仁 các loại hột có loại nhân ăn được, có loại nhân ăn độc chết người, bởi vậy phải biết phân biệt cái nguyên nhân 原 因. Bởi vậy chữ Ân 恩 = Nhân因 + Tâm 心 khuyên người ta phải tỉnh táo để mà nhận cái ban ơn là vô tư hay là dụ dỗ “củ cà rốt”, kẻo mang ơn mắc lỡm cảnh “theo voi hít bã mía”. Đương nhiên nếu ăn phải cái nhân độc mà chưa kịp chết thì cũng biết ơn cái được rút kinh nghiệm “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”. Nhớ = Nhiễm (nhiễm hơi là nhớ hơi, nhiễm mùi là nhớ mùi). Nhớ = Nhiễm = Niệm念 . Nhưng “Niệm cái cú ngộ độc do Ăn” = Năn, nên mới phải Ăn Năn, Hối Hận với sai lầm đã mắc phải. Chữ Tứ 賜là “Ta cho người Chứ!” = Tứ 賜, chữ Tứ 賜có bộ thủ “Báu của Tôi” = Bối 貝, cho người thì cho cái báu. Vì Bối là của quí nên chữ Bối 貝 (hình tượng nó là cái Bòi, nói lướt “Bòi Tôi” = Bối) được chuyển chú thành từ chỉ chung các loài nhuyễn thể, là thức ăn có chất đạm chủ yếu quí nhất của người nguyên thủy, nên mới gọi là “Báu của Tôi” = Bối 貝, thành chữ Nho là Bảo Bối 寶貝. (Của quí nhất là cái dương thực khí để gieo giống, nên nói lướt “Bòi Tau” = =Báu, “Bòi Tao” = Bảo). Vỏ Bối vứt quanh đống lửa , bị nung nóng , dội nước cho nguội ai ngờ nó nhuyễn ra thành “Vữa của Bối” = Vôi, sau biết dùng vỏ bối hoặc dùng đá nung vôi, rồi mới biết ăn trầu. Chữ Tứ 賜là động từ người cho (lướt nhấn “Ta cho người Chứ!” = =Tứ), đó là cho ngang hàng. Còn trời cho thì là cho từ trên xuống, tức trời buông rót xuống mà người không biết. Buông Rót viết bằng chữ “Phóng 放Chú 注” = Phú 賦 (trời cho thì trời cũng nói là cho cái “Báu của Tôi” = Bối貝, nên chữ Phú 賦cũng có bộ Bối貝, cái cho của Trời là cái Trời bỏ vội, diễn ra rất nhanh trong khoảnh khắc, ví dụ sực nảy ra sáng kiến gì, đó là do Trời phú, nên chữ Phú賦đã biểu ý đúng là: “Bối 貝Võ武”= Bỏ và “Võ 武Bối貝” = Vội), mới có từ gọi là Trời Phú, trời phú cho anh ta cái trí thông minh, trời phú cho chị ta cái sắc đẹp. Quan tự coi mình quyền thế như trời nên quan cũng chiếm dụng động từ Phú賦về mình. Như tù cải tạo Hoàn Lương được tha thì quan ngục tuyên: “Phú cho con mẹ Hàng Lươn. Được tha ra khỏi án đường khổ sai!”. Chữ Gia 家không đồng nghĩa với từ Nhà. Nhà chỉ là cái vỏ đựng người, chỉ vật thể kiến trúc. Cái âm chính của Nhà là “A” có trong các từ chỉ nhà của nhiều ngôn ngữ, vì phát âm mở của “A” nó nói lên sự thoải mái, tự do khi mình ở nhà mình, A = An, “An cư lạc nghiệp”, “Ta về ta tắm ao ta”, “Ao Ta” = A. A = Ao = Áng = Ang, đều là tên những cái đựng, Áng viết bằng chữ Đàng堂. Nhà tiếng Indonexia là Tangga, tức Đàng Gia堂家hay Gia Đàng家堂của tiếng Việt. Nhà tiếng Hán gọi “Jia” là do dùng chữ Gia家 của Việt nho, tiếng Pháp là Ga (nhà ga), tiếng Nga cũng bắt đầu là âm tiết Ga -, kể cả từ Nhà Nước là Gaxudarstvo. Từ Nhà và từ Gia của tiếng Việt nếu đồng nghĩa như Từ Điển Tiếng Việt và Từ Điển Hán Việt giải thích thì viết Nhà Nước = Gia Quốc = Nhà Quốc = Gia Nước chắc là không sai ngữ pháp (?). từ Nhà chỉ giúp hình dung được cái vỏ, bởi gốc của từ Nhà chính là từ Vỏ như logic mềm hóa phát âm: Vỏ (như vỏ con ốc, nên chữ Ốc 屋để chỉ cái nhà, tiếng Việt Đông cũng đọc là “ốc屋”), Vỏ = Giỏ (giỏ đựng trái cây) = Da (bộ da đựng cơ thể) = Nhà, phát âm của giọng Hà Nội là mềm mại chải chuốt nhất (“Nghe em giọng Bắc êm êm. Bà con hàng xóm đến xem chật Nhà. “Răng chưa sang nhởi Nhà choa? Bà o đã nhốt con ga trong truồng” – thơ Nguyễn Bùi Vợi), vì Nhà là cái Vỏ nên “Nhà Nước” thành ra Vỏ đựng Nước, “Vỏ Chứa” = Vựa, vựa đựng nước để bán . từ Gia mới giúp hình dung được cái quan hệ liên kết, vì nguồn gốc của Gia là từ Giằng, mà “Giằng nhiều Lớp” = Dớp. Dớp Nhà là nói Mối quan hệ ở trong ngôi Nhà. Gia Đàng là nói Mối quan hệ ở trong ngôi Đàng 堂 (Tangga). Nhưng Gia Đình là nói Mối quan hệ của nhiều người ruột thịt. Vì “bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt” mà người ta đã hắt hủi tiếng Việt hàn lâm, ví dụ từ Quốc Gia, ra khỏi tiếng Việt để thay bằng từ Nhà Nước, nửa thế kỷ rồi, bây giờ lại quay lại có Đại học “Quốc Gia” Hà Nội (?). Gia là chỉ quan hệ của những người ruột thịt cùng sống chung dưới một mái Nhà, như chữ Gia 家biểu ý: Mái nhà (bộ thủ Miên宀) + Thịt = lướt nhấn “Thịt Chi 之!” = Thỉ (bộ thủ Thỉ豕), bộ Miên (宀) đại diện cho toàn bộ cấu trúc vỏ, bộ Thỉ (豕) đại diện cho sự sống trong cái vỏ đó, đó là dương âm, cứng mềm tạo nên cái “quan hệ tương tác giữa cứng với nhau, giữa mềm với nhau và giữa cứng với mềm”, gọi là Gia. Quan hệ ấy là sự Giằng níu chặt chẽ giữa các bộ phận cấu trúc cái nhà với nhau, giữa những người sống trong ngôi nhà với nhau và giữa người và vật dụng với nhau, Giằng = Giường = Trường, là một môi trường sinh thái, nên từ Giằng biểu thị quan hệ chặt chẽ ấy mới nhấn lướt là “Giằng Ạ!” = Gia. Dùng từ Quốc Gia thì hình dung được xã hội, chế độ (tức các mối quan hệ trong một nước), còn dùng từ Nhà Nước thì không hình dung được quan hệ liên kết ở trong cái “Nhà” của “Nước” ấy. Nhân tiện, giải thích thêm: chữ Quốc không đồng nghĩa với từ Nước. Chữ Quốc 國 biểu ý chỉ vùng Đất (vuông囗 ) trong đó có các vùng nhỏ (vuông con 口 ) + con người (kẻ 一) + nền sản xuất (qua 戈), như Thái Quốc 泰國 là Thái Land. Tiếng Việt gọi Đất Nước VN, tức gồm Đất liền và Biển Đông ( lãnh Thổ và lãnh Hải). Chữ Hải mới là chữ được chuyển chú thay cho từ Nước, đồng bào Hải nội là đồng bào ở trong Nước, đồng bào Hải ngoại là đồng bảo ở Nước ngoài. Biển Đông chữ nho viết là La Hải 羅海 (biển của tộc Đại La. La = Lả = Lửa, tức của Viêm Bang, La = phương Quẻ Ly tượng Lửa của Dịch học), Biển Đông còn viết là Nam Hải 南海 (biển của người Nam, người Nam là người Canh tức người Kinh), ở đầu Lạnh của cái “Kim chỉ Nam” của cái La – Canh (cái la bàn chỉ hướng). Lạnh = Canh = Căm Căm = Nặm (tiếng Lào) = Nậm (tiếng Tày) = Nước = North = Nam (tiếng Thái Lan) = Khảm = phương Quẻ Khảm tượng Nước của Dịch học). Chữ Nam 南gồm vòng ngoài là bộ Cung, ôm lấy chữ Hạnh, đọc là Cung Hạnh thiết Canh, chỉ người Canh (Kinh) ở hướng Canh. Ngược lại , hướng La là hướng Nóng = Nực = Bức 北 = Bục = Sục = South. Xưa đọc chữ Bức 北là Bạc薄 Mực 墨thiết Bức 北 (<Thuyết Văn Giai Tự說文解字>). Phương hướng ngày nay đã bị đổi ngược tên gọi, chưa rõ vì lý do gì (?) Giằng níu nở ra các từ dính Dập-Dìu (quan hệ sôi động), Dắc-Díu (quan hệ lớn bé, già trẻ), Dan-Díu (quan hệ tình dục), Dan = Gian = =Dâm. Cái quan hệ là Giằng = Gia ấy nhiều tầng nhiều lớp (tam đại , tứ đại đồng đường), gọi là “Giằng nhiều Lớp” = Dớp. Dớp là quan hệ ruột thịt người với người trong một cái Nhà, gọi là Dớp Nhà. Quan hệ tức là hoàn cảnh, Dớp Nhà còn gọi là hoàn cảnh Nhà. Lướt “Dớp Nhà” = Gia, Gia là cái quan hệ, Hán ngữ gọi là Gia Cảnh. Gia là các mối quan hệ ruột thịt, nếu là của nhiều người tức nhiều Đinh, mà nhiều Đinh là “Đinh Nhiều” = 0 + 1 = 1 = Đình (lướt lấy dấu) hay lướt từ lặp “Đinh Đinh” = 0 + 0 = 1 = Đình, thì gọi là Gia Đình. (không phải theo chữ Gia là cái nhà, Đình là cái đình, Gia Đình là cái nhà và cái đình ? ) Gia Đình là mối quan hệ nhiều người ruột thịt. Xây dựng gia đình là xây dựng quan hệ nhiều người nối ruột, không phải là xây dựng cái nhà và cái đình. Lướt “Gia Đình” = =Dinh, Dinh là mối quan hệ nhiều người thân, nếu thêm cho nó cái vỏ kiến trúc tương đương cái nhà thì phải gọi là Dinh Cơ, Dinh Cư, Dinh Thự, Dinh Lũy. Lí ngựa ô: “Anh đưa nàng về Dinh” nghĩa là anh đưa nàng về với các mối quan hệ phía bên anh, dù cái Nhà, cái Cơ, cái Thự của anh có là túp lều cũng vẫn sướng. Truyện Kiều: “Dớp Nhà nhờ lượng người thương daám nài” nghĩa là Các mối quan hệ rắc rối éo le (hoàn cảnh) - Dớp – trong ngôi nhà này – Nhà – nhờ người thương xót mà giải quyết cho, không dám nói dài. “Nói Dài” = Nài, “Nài Chi!” = Nỉ, Nài Nỉ là nói dài nhằm xin xỏ thuyết phục. Từ Daám được nói dài như thế để thành nghĩa ngược lại là Không Dám (như gạch dương thì dài mà gạch âm thì ngắn trong Quẻ Dịch). Trẻ con nói: “Tao thách mày đánh tao đấy, daám!” có nghĩa là “Tao thách mày đánh tao đấy, hổng dám đâu !”. Lướt “Dớp Nhà” = Gia, nhưng nếu chỉ dùng một chữ Gia thì vẫn ý đó (các mối quan hệ -hoàn cảnh) nhưng không cảm thấy kể lể chi li của cái giọng đang nài nỉ thuyết phục người nghe, nên phải dùng hai tiếng là Dớp Nhà cho nó dài hơn. 2 (sưu tầm) 德流光 ĐỨC LƯU QUANG Đức (ĐỨC) là dòng chảy (LƯU) xuyên suốt các thế hệ đem lại sáng láng văn minh (QUANG) cho con người. (Vì là bức hoành phi nên đọc ngược lại vẫn cho ý nghĩa đẹp: Có sáng trí (QUANG) thì mới sinh ra (LƯU) có đức (ĐỨC), nếu vô học ngu tối thì cũng không có đức). 3 (sưu tầm) 藥可通神先後聖 DƯỢC KHẢ THÔNG THẦN TIÊN HẬU THÁNH Thầy thuốc mà thông hiểu dược như thần thì trước sau đều giỏi như thánh. (Cũng hàm ý nữa: Thuốc mà có thể thông đến tận thần kinh thì trước sau gì cũng có công hiệu) 4 (sưu tầm) 四海兄弟 TỨ HẢI HUYNH ĐỆ Bốn biển năm châu đều là anh em 5 (sưu tầm) 醫國有名存古錄 Y QUỖC HỮU DANH TỒN CỔ LỤC Nước giỏi nghề y này đã nổi tiếng từ xưa, cổ thư từng ghi nhận vẫn đang còn. 仁能及物古今師 NHÂN NĂNG CẬP VẬT CỔ KIM SƯ Thầy thuốc xưa nay vẫn lấy lòng nhân đạo mà quán xét sự vật. 醫國有名存古錄 仁能及物古今師 6 (sưu tầm) 醫德刻心聲神藥 Y ĐỨC KHĂC TÂM THANH THẦN DƯỢC Lòng luôn luôn có y đức thì mới làm được nổi tiếng thuốc tốt của mình 同人致敬表心丹 ĐỒNG NHÂN CHÍ KÍNH BIỂU TÂM ĐAN Hết lòng kính trọng bệnh nhân cũng như kính trọng mọi người là thể hiện viên thuốc của mình chính là trái tim của mình. 醫德刻心聲神藥 同人致敬表心丹 7 (sưu tầm) 奎斗精英騰北地 KHUÊ ĐẨU TINH ANH ĐẰNG BẮC ĐỊA Thông minh sáng suốt như sao khuê sao đẩu làm xôn xao cả đất Bắc 聖師妙藥振南邦 THÁNH SƯ DIỆU DƯỢC CHẤN NAM BANG Thầy giỏi, thuốc tốt làm sôi động cả nước Nam. 奎斗精英騰北地 聖師妙藥振南邦 8 (tự viết) 醫德恒心聲神藥 Y ĐỨC HẰNG TÂM THANH THẦN DƯỢC Có đạo đức ngành y luôn luôn trong tâm thì làm được thuốc nổi danh như thần. 懶翁濟世盛精華 LẪN ÔNG TẾ THẾ THỊNH TINH HOA Lãn Ông cứu giúp người đời bằng đầy ắp trí tuệ (Cũng hàm ý nữa: có học được tư cách như của Lãn Ông thì mới trau dồi được tài năng cho chính mình) 醫德恒心聲神藥 懶翁濟世盛精華 9 (sưu tầm) 武烈炳颩黎莫際 VŨ LIỆT BÍNH ĐIÊU LÊ MẠC TẾ Công lao chiến trận còn khắc rõ trong thời Lê – Mạc. 英聲赫濯水山間 ANH THANH HÁCH TRẠC THỦY SƠN GIAN Tiếng tăm anh tài còn hiển hách lan tỏa giữa núi sông (Câu đối này có lẽ nói về hai giai đoạn cuộc đời Hải Thượng Lãn Ông, thủa đầu là tài về võ, thủa sau là tài về làm thuốc y trị). 武烈炳颩黎莫際 英聲赫濯水山間 10 (sưu tầm) 培慈樹德 BỒI TỪ THỤ ĐỨC Bồi đắp nhân từ vun trồng đức độ (Vì là hoành phi nên đọc ngược lại vẫn là ý đẹp: Đức như cây lớn mãi nhân giống rộng ra mọi miền, hiền từ cứ bồi đắp mãi càng bồi càng to lớn). 11 (sưu tầm) 五福臨門 NGŨ PHÚC LÂM MÔN Nhiều phúc đến nhà (Câu này có xuất xứ từ TQ, ở VN ngày xưa không có câu này, ngày nay HN mua của TQ sản xuất bằng giấy đỏ về dán cửa, ngồi lười mà mơ phúc đến. Câu này không phải là viết theo kiểu hoành phi, vì đọc ngược lại thì không ra ý gì, mà nói lái thì lại càng phạm, không đẹp, Ngũ Phúc nói lái là Ngục Phủ, Lâm Môn nói lái là Lộn Mầm. Mà thiết cả câu thì “Ngũ… Môn” thiết Ngôn, “Môn… Ngũ” thiết Mù, ngôn mù hay mù ngôn đều không đẹp . Vậy mà các trọc phú ở HN khi khánh thành nhà mới là nhà nào cũng mua câu này của Tàu về dán cửa. Bởi vậy câu này nên bỏ đi, không nên dùng treo trong bảo tàng hay dán cửa nhà ở). Nều muốn treo câu hoành phi ý đẹp và hợp thì nên treo câu của Việt nho dưới đây 12 (sưu tầm) 天地君親師 THIÊN ĐỊA QUÂN THÂN SƯ Câu này trong Nam còn thấy nhiều gia đình thường treo, kể cả trong các hội quán của đồng bào Hoa cũng có treo, ngoài Bắc không còn thấy vì bị đốt hết hồi CCRĐ rồi, có lẽ do hiểu chữ Quân là vua tức phong kiến, thực ra Con = Cán = Quân, con bài cũng là quân bài, con làm ở bộ phận riêng gọi là cán bộ, xưng “Quân” cũng là xưng con. Ý nghĩa bức hoành phi này là nhắc nhở làm bất cứ nghề gì cũng phải tôn trọng Âm Dương Ngũ Hành, cũng như tôn trọng Năm vị là: tôn trọng Trời (THIÊN), tôn trọng Đất (ĐỊA), tôn trọng Mình (QUÂN), tôn trọng Dân (THÂN), tôn trọng Thầy (SƯ). Nếu dựng đứng bức hoành phi thì đứng giữa là Mình (tức nhà DN là QUÂN) nhìn lên THIÊN là biết tôn trọng pháp luật nhà nước, nhìn lên ĐỊA là biết bảo vệ môi trường và ủng hộ nhân dân địa phương nơi mình có nhà máy, nhìn xuống thấy THÂN là biết coi người làm như thân nhân của mình, nhìn xuống thấy Sư là biết chức trách mình phải như thầy giáo dục kèm cặp nhân viên của mình. Hoành phi này đọc ngược thì là Thầy thuốc (SƯ) thương kính (THÂN) con dân (QUÂN, “Con Dân” thiết Quân) bởi thầy thuốc có lòng nhân từ mênh mông như mặt đất (ĐỊA) và kiến thức bao la như bầu trời (THIÊN). Hoành phi hay câu đối thường dùng từ theo lối ước lệ (mượn từ qui ước để nói lên một ví dụ cụ thể. Bởi vậy nó hàm nhiều nghĩa. Thuyết minh phải dịch rõ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng hay ẩn ý. Đây là đặc điểm của chữ vuông của người Việt chủ nhân của nền văn minh Trung Hoa thời cổ đại (nén nhiều thông tin vào một vuông qui ước nhỏ xíu) gọi là “vuông Trữ Nho nhỏ” tức “vuông Chữ Nho nhỏ”, nói tắt bằng vo bỏ đầu (“vuông”) bỏ đuôi (“nhỏ”) đi, còn lấy lõi giữa là “Chữ Nho”. Ví dụ người Nhật xưng ngôi một là “wa-Ta-xi” thì Việt chỉ xưng là “Ta”, Nhật gọi “xa-Ka-na” thì Việt gọi là Cá (Lào, Thái gọi là Pá), v.v. vô cùng nhiều, đó là ngôn ngữ của Đại Tộc Việt có xuất xứ ĐNÁ cổ đại, trở thành ngôn ngữ Bách Việt mà về sau là các nước Ngô, Sở, Việt hơn 1000 năm trước công nguyên, đều toàn là dân Bách Việt, từng làm chủ 18 tỉnh thuộc TQ ngày nay. 13 (sưu tầm) 東壁圖書 ĐÔNG BÍCH ĐỒ THƯ Chữ viết trên tranh ở bức tường phía đông (Ẩn ý là nền văn minh phương Đông đồ sộ như bức tường, ai cũng thấy rõ, cả những ký hiệu và cả văn tự) 14 (sưu tầm) 先尋聖藥 TIÊN TẦM THÁNH DƯỢC Trước tiên phải nghiên cứu tìm tòi cho ra thuốc tốt (rồi mới có thể nói đến chữa được bệnh) 欲惠生民 DỤC HUỆ SINH DÂN Ham muốn với lòng tốt đem lại sự sống cho con người 先尋聖藥 欲惠生民 15 (sưu tầm) 一方切宜辨 Y PHƯƠNG THIẾT NGHI BIỆN Phác đồ điều trị cần thiết phải phản biện kỹ càng 藥性須要詳 DƯỢC TÍNH TU YẾU TƯỜNG Dược tính phải được hiểu rõ ràng 一方切宜辨 藥性須要詳 16 (sưu tầm) 和氣一家樂 HÒA KHÍ NHẤT GIA LẠC Mọi người phải chan hòa hợp tác thì đó là điều sung sướng nhất 德重人壽長 ĐỨC TRỌNG NHÂN THỌ TRƯỜNG Người biết trọng đức là người sẽ sống lâu 和氣一家樂 德重人壽長 17 (sưu tầm) 萬事水流水 VẠN SỰ THỦY LƯU THỦY Mọi sự đều làm trôi chảy như nước (làm ơn không cần đợi báo đáp) 百年心語心 BÁCH NIÊN TÂM NGỮ TÂM Lòng luôn tự nhủ lòng (luôn luôn sống thực với chính mình ) 萬事水流水 百年心語心 18 (sưu tầm) 救病如救火 CỨU BỆNH NHƯ CỨU HỎA Cứu người bệnh cũng gấp như cứu hỏa tai 用藥比用兵 DỤNG DƯỢC TỶ DỤNG BINH Dùng thuốc cũng phải khéo như dùng lính xung trận 救病如救火 用藥比用兵 19 (sưu tầm) 止仰山 CHỈ NGƯỠNG SƠN Đứng im mà ngắm xem núi lớn như thế nào (Nhắc nhở: Đừng có mơ tưởng cao xa, hãy làm gấp những việc cần làm ngay) 20 (sưu tầm) 欲惠生民 DỤC HUỆ SINH DÂN Lòng tốt ham muốn đem lại sự sống cho con người 21 (sưu tầm) 先找聖藥 TIÊN TRẢO THÁNH DƯỢC Trước tiên phải tìm được thuốc tốt 22 (sưu tầm) 醫方失治責在庸誤緩遲 Y PHUONG THẤT TRỊ TRÁCH TẠI DUNG NGỘ HOÃN TRỆ Phác đồ điều trị mà không trị nổi bệnh là bởi tại do dự, sai lầm, lừng khừng, chậm trễ 藥應有功責乎栽收制儲 DƯỢC ỨNG HỮU CÔNG QUÍ HỒ TÀI THU CHẾ TRỪ Thuốc đáp ứng công dụng là do biết cách cắt thu chế biến để dành 醫方失治責在庸誤緩遲 藥應有功責乎栽收製儲 23 (sưu tầm) 醫方失治責在庸誤緩遲 Y PHUONG THẤT TRỊ TRÁCH TẠI DUNG NGỘ HOÃN TRỆ Phác đồ điều trị mà không trị nổi bệnh là bởi tại do dự, sai lầm, lừng khừng, chậm trễ 藥應有功貴乎樹取泡制 DƯỢC ỨNG HỮU CÔNG QUÍ HỒ THỤ THỦ CHẾ BÀO Thuốc dùng có công hiệu là do ở cây lấy đem bào chế 醫方失治責在庸誤緩遲 藥應有功貴乎樹取製泡 24 (tự viết) Bức hoành phi đơn giản nhất dưới đây, nói lên cái lý cân bằng âm dương của người Việt, là khi làm cho cơ thể con người được cân bằng âm dương thì sẽ khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần. 天下公平 THIÊN HẠ CÔNG BẰNG Đây là đạo lý để đời của người Việt cả trong y trị lẫn trong chính trị. Bốn chữ này là BỐN = BỔN = VỐN, là bốn Ven của cái lỗ đồng tiền Việt. Ven + Ven = 0 + 0 = 1 = Vèn, về dấu thanh điệu thì như 0 + 0 = 1 (dấu “không”, “ngã”, “nặng” thuộc nhóm Âm = 0; dấu “huyền”, “sắc”, “hỏi” thuộc nhóm Dương = 1). Vèn là hai ven, nhưng Vèn còn gọi là Bẹn, và Bẹn = Bên = Biên. (Các bà nông dân Bắc Bộ chửi con: “Mày không chịu đi làm cứ ở nhà mà ăn “vèn” lồn mẹ mày mãi à?”), đó chính là tiền đề của câu thành ngữ “ăn quẩn cối xay”, giống như các nhà qui hoạch ngày nay chỉ ăn sẵn đất ruộng mật bờ xôi của nông dân để làm đủ loại “dự án”. Nhưng Vèn + Vèn = 1 + 1 = 0 = Vẹn (dấu thanh điệu là 1+1=0). Đồng tiền xưa đúc bằng đồng, gồm hình Tròn ngoài (hình tròn tượng trời) và 4 Ven ở trong (hình vuông tượng đất) là Tròn Vẹn. Tròn Vẹn thiết Trọn, Trọn có nghĩa là Tất Cả (universal – vũ trụ). Nhưng Tất Cả thiết Ta (Ta = Ngã 我 = Người, là con người – chứng tỏ cấu tạo cơ thể cùng với tinh thần của mỗi con người là một tiểu vũ trụ). Ngược lại Vẹn Tròn thiết Vón (đó là sự nén các yếu tố vũ trụ trong cơ thể mỗi con người, cũng như sự nén thông tin trong mỗi chữ vuông – chữ Nho của người Việt. Bốn chữ THIÊN HẠ CÔNG BẰNG 天下公平gồm đúng 16 nét, đó là lý do tại sao cân tiểu ly của Đông Y là 16 lạng mới đúng đủ 1 cân, (“kẻ tám lạng bằng người nửa cân”) và dân miền Tây Nam Bộ đếm trái cây hay hột vịt lộn là cứ một chục bằng 16. Trong mỗi cơ thể sống có hai bát quái tồn tại, chia thành hai nửa Âm/Dương, như Minh冥 / Minh明. Minh 冥 (tối) là cái Ta Âm thiết Tâm (tâm thức), Minh 明 (sáng) là cái Ta Dương thiết Tướng (tướng mạo thể hiện trên mặt, lòng bàn tay, lòng bàn chân v.v., thầy lang căn cứ vào đó mà chẩn bệnh). Minh 明sáng viết biểu ý bằng ánh sáng trời trăng là Nhật 日Nguyệt 月thiết Nhiệt 热nghĩa là nóng, người Đài Loan lại đọc chữ Nhiệt 热là “lửa”. Minh 冥 tối viết biểu ý bằng Mịch 冖Và 曰Lâu六, phải hiểu bằng lái lại là Mầu Và Linh (mầu nhiệm và linh thiêng) vì tâm thức thuộc người “âm” nên đọc chữ “ảo”. Người Kinh京 còn xưng là “Mình”, vợ chồng cứ xưng lẫn lộn là “Ta;”,với “Minh” đúng như bình đẳng là bằng đỉnh của thiên hạ công bằng. Xưng là Mình vì cơ thể có hai Minh, nên Minh 冥 + Minh 明 = 0 + 0 =1 = =Mình (dấu thanh điệu là 0+0=1). Chữ Kinh京viết biểu ý gồm Đầu 亠 + Mình 口 + Chân Tay 小 (“Túc Nhiều” = Tiểu小), đó là con người, và chữ rất cân bằng hai nửa theo chiều dọc chia đôi. Hai bát quái là 16. Mười Sáu thiết Máu, ngược lại Sáu Mười thiết Sưởi, đó là con người sống động, là Máu Sưởi = Máu Sôi = Môi. Môi là đứng giữa Thiên và Địa, đó là Nhân. Môi = Mỗi = Mọi (người Tây Nguyên) = Man (người Việt Bắc) = Mằn (người Quảng Đông) = Mân (người Phúc Kiến) = Cần (người Tày) = Con = Kinh, đều là cùng một NÔI = Nòi (cùng gen). “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê bảy tám ngàn dặm toàn là dân Bách Việt ở” ( Khổng Tử Viết 孔子曰 tức Khổng Tử nói). Chữ Viết 曰biểu y là cái mồm có lằn môi vạch ngang, nghĩa là nói, mà là người Việt nói, vì lướt lấy dấu “Việt 越Nói” = Viết曰 (tương tự như “Giết Sạch” = Diệt滅), Viết (nói) được chuyển nghĩa chỉ sự ghi ký tự là động từ Viết (bằng cái Bút để “Put” lên mạng cho người đọc). Chứa = Chữ = Trữ貯, nhưng còn lướt lấy dấu “Trữ 貯để Dành” = =Trừ 儲. Chú giải: Ẩn ý có thêm của THIÊN HẠ CÔNG BẰNG là: - THIÊN BẰNG nói lái là THĂNG BIẾN (sự phát triển đi lên) - THIÊN HẠ nói là là THA HIỀN (hiền hậu rộng lượng vị tha) - HẠ CÔNG nói lái là HỐNG CA (lớn giọng ca hát) - CÔNG BẰNG nói lái là CĂNG BỒNG (nội dung chứa đầy) Ẩn ý ấy là: Xã hội no đủ, vị tha Người người hiền hậu ngợi ca cuộc đời Sôi động đổi mới nơi nơi Đất nước phát triển rạng ngời thăng long. 25 (sưu tầm) 秋飲黃花酒 THU ẨM HOÀNG HOA TỬU 冬吟白雪詩 ĐÔNG NGÂM BẠCH TUYẾT THI 春游芳草地 XUÂN DU PHƯƠNG THẢO ĐỊA 下賞綠荷池 HẠ THƯỞNG LỤC HÀ TRÌ Xuân chơi thảm cỏ thơm hoa Hè ngồi thưởng mát ao ta sen hồng Thu về uống rượu hoa vàng Đông ngồi chăn ấm ngâm nàng tuyết thơ. 秋飲黃花酒 冬吟白雪詩 春游芳草地 下賞綠荷池 26 (sưu tầm) 基德積 CƠ ĐỨC TÍCH Lấy tích đức làm nền tảng cho sự nghiệp 后傳仁 HẬU TRUYỀN NHÂN Lấy nhân nghĩa truyền lại cho đời sau 基德積 后傳仁 27 (sưu tầm) 和氣吉祥 HÒA KHÍ CÁT TƯỜNG Sống hòa thuận là điều tốt lành 28 (sưu tẩm) 土產有殊北國 THỔ SẢN HỮU THÙ BẮC QUỐC Dược liệu có tính đặc thù của thổ nhưỡng phương Bắc 天書越定南邦 THIÊN THƯ VIỆT ĐỊNH NAM BANG Nhưng làm được thuốc tốt là do người Việt biết phương pháp truyền thống là theo sách Trời tức thuyết Âm Dương Ngũ Hành. 土產有殊北國 天書越定南邦 29 (tự viết) LÊ TỘC HIỂN TÔNG, HẬU DUỆ THỊNH HƯNG DANH, TÀI, TRÍ ĐÔNG TÂY LẠC NGHIỆP, NHI TÔN KHẮC NIỆM ĐỨC, NHÂN, TÂM ( Họ Lê triển rộng nhiều chi, các đời sau đều thành đạt trọn vẹn tiếng tăm, giàu có, trí tuệ. An cư lạc nghiệp ở Ta hay ở Tây, con cháu vẫn từng giây nhớ giữ đức độ, nhân từ, tâm huyết). Đông Tây còn ẩn ý là làm thuốc Đông y và Tây y kết hợp. 黎族顯宗後裔盛興名財智 東西樂業兒孫刻念德仁心 30 (tự viết) 黎德耀明 LÊ ĐỨC DIỆU MINH (Họ Lê có đức chiếu sáng) Đọc xuôi có nghĩa là: Nhân dân (LÊ) có đức (ĐỨC) chiếu (DIỆU, “Dịu Chiếu” = Diệu) sáng (MINH) Đọc ngược có nghĩa là: Sự minh bạch (MINH) rọi tỏ (DIỆU) cái đức (ĐỨC) của họ Lê (LÊ). Chữ LÊ黎 biểu ý là: Nhân dân ( 人 ) là Đồng (丿 ) Bào (勹 ) trồng Lúa (禾 ) Nước (水 ) Lê…Minh thiết Linh. Minh… Lê thiết Mê. Lê Đức thiết Lực. Đức Lê thiết Đế. Diệu Minh thiết Dinh. Minh Diệu thiết Miếu. Bốn chữ hoành phi này tạo ra các từ ẩn là Đế Minh, Mê Linh, Lực, Dinh, Miếu. Do vậy bốn chữ hoành phi này còn hàm ẩn ý là cái miếu thờ Đế Minh và thờ Hai Bà Trưng (Mê Linh). Tức còn có mang nội dung là: Miếu đế vương lực cường dinh tráng Thủy tổ xưa sáng rạng Đế Minh Trưng Vương oanh liệt Mê Linh Lê dân có đức diệu minh muôn đời. Kết luận: Tiếng Việt phong phú vô vàn Hàn lâm trộn với dân gian cùng hành Lời văn hàm súc uyên thâm Công người xưa bốn nghìn năm trau dồi.
  2. Ruột Thịt Ruột và Thịt là hai từ cụ thể, chỉ cái vật cụ thể. Cụ thể gần thì Ruột chỉ cái bộ lòng của động vật, gồm có Ruột non và Ruột già, trong hai từ ghép này thì Ruột là “đề”, non và già là “thuyết” bổ nghĩa cụ thể thêm cho cái “đề” đó. Cụ thể xa thì Ruột dùng chỉ chung cho bất cứ cái gì là cái ở bên trong, tức cái Âm. Như QT Tơi-Rỡi tạo từ là dẫn biến âm: Ruột = Rọt = Lót = Lõi = Lí 里 = Lõi Trong thiết Lòng, tiếp tục, Lòng = Tỏng = Tỏng Âm thiết Tâm, tiếp tục, Tâm 心 = Tấm = Tim. Biết Tỏng đã chuyển nghĩa thành từ trừu tượng, chỉ cái nghĩa là biết hết trong bụng người khác đang nghĩ gì. Theo QT Lướt (tức thiết) thì lướt từ đôi “Lõi Trong” = Lòng, nên Lòng là chỉ toàn bộ cái cụ thể bên trong của cơ thể động vật, gọi là Bộ Lòng, Đông Y chi tiết hóa nó thành Lục Phủ + Ngũ Tạng. Cũng là lướt “Toàn bộ bên Trong” = Tỏng, hay lướt lủn “Toàn trong Cả” = Tỏng. Cơ thể có bộ lòng là cái lõi trong, rồi đến ngoài cái lõi trong ấy là Thịt tức cơ bắp, rồi đến ngoài cùng là cái Vỏ =Dó = Da = Giáp 甲 = Giác = Xác 殼 . Từ dân gian Thịt là từ cụ thể chỉ cơ bắp, nhưng từ hàn lâm thì nhấn “Thịt Chi!” = Thỉ 豕, thành chữ Nho là bộ thủ Thỉ 豕,Thỉ 豕là một bộ thủ dùng để ghép thành các chữ chỉ con vật, như lợn là chữ Chư豬, voi là chữ Tượng象; cũng còn ghép tạo nên chữ Gia 家chỉ cái quan hệ sự sống dưới vòm trời: “Mái Hiên” = Miên 宀 (bộ thủ Miên宀) và Thỉ 豕(bộ thủ Thỉ 豕). Thịt chuyển nghĩa thành động từ Thịt có nghĩa là giết chết để ăn thịt, nên con mồi săn được gọi là Con Thịt, và giết nhau hay hại nhau gọi là Thịt Nhau. Do vị trí cụ thể trong cơ thể thì Ruột ở trong (là Âm), Thịt ở ngoài (là Dương), nên từ ghép Ruột Thịt là ghép theo cấu trúc Âm Dương (Hán ngữ gọi là Yin Yang) mà không thể đảo ngược ghép sai qui tắc là “Thịt Ruột” được vì như vậy nó sẽ thành một từ ngố. Từ ghép Ruột Thịt đã chuyển nghĩa thành một từ trừu tượng và chỉ sử dụng như ý trừu tượng là chỉ sự gắn bó keo sơn gần gũi của những cá thể cùng chung một mái nhà, hay một quốc gia, hay cùng dưới một bầu trời. Lướt thì “Ruột Thịt” = Rịt = Sít = Siết = Xiết. Rịt là đắp điếm băng bó cho khỏi máu chảy, hay như là “lá lành đùm lá rách”. Xiết là Buộc Chặt. tức Thít Chặt. Còn lướt “Thịt Ruột” = Thuột = Thuộc = Thắt = Chặt. Quan hệ Thắt Chặt hay quan hệ Thân Thuộc là đồng nghĩa. Nói lái như phát âm Nam Bộ thì Ruộc Thịt là Rịt Thuộc, Rịt nghĩa là gần gũi thân quen, như nhiều cây chung rừng thành ra Rậm Rịt (林森); Thuộc cũng nghĩa là gần gũi thân quen như nhiều người chung một cộng đồng thành ra Thân Thuộc 親屬. Nên không có chuyện là người ta lại muốn thịt nhau. Dưới đây là hai đoạn trích ý trong văn học dân gian ở cuốn “Tích thời hiền văn 昔 時 賢 文” (Văn hay thời xưa), LM chuyển thể câu viết: 1 Lòng tốt mệnh lại tốt thêm Vinh hoa phát đạt sớm hơn người đời Lòng tốt mà mệnh lại tồi Có được bất quá một đời bụng no Mệnh tốt mà lòng xấu xa Chặng trước e sợ khó đa giữ tròn Tâm mệnh đều chẳng song toàn Một kiếp nghèo khổ đến toan về già Nếu làm ơn nghĩa rải dày Người dưng khắp chốn chóng chày gặp nhau Chớ gieo oán nặng thù sâu Đường nguy chỗ hiểm biết đâu mà nhờ 心好而命好多 Tâm hảo nhi mệnh hảo đa 就會早點榮華發財 Tựu hội tảo điểm vinh hoa phát tài 心好而命又虧 Tâm hảo nhi mệnh hựu khuy 得的不過一生飽腸 Đắc đích bất quá nhất sinh bão trường 命好而心臭差 Mệnh hảo nhi tâm xú sai 前程恐怕難多保全 Tiền đồ khủng phạ nan đa bảo toàn 心命都不雙全 Tâm mệnh đô bất song toàn 一生窮苦到長老之 Nhất sinh cùng khổ đáo trường lão chi 如果思義廣施 Như quả ân nghĩa quảng thi 生人處處都歸相逢 Sinh nhân sở sở đô qui tương phùng 常常莫結怨仇 Thường thường mạc kết oán thù 路逢險處難於避迴 Lộ phùng hiểm sở nan vu tị hồi 2 Nghe Trời bặt chẳng âm thanh Tìm Trời biết ở thâm xanh xứ nào Trời đâu có phải xa cao Trời là chính ở chỗ vào lòng ta Người niệm ,Trời Đất biết mà Nếu không quả báo tại là Trời im Nhân gian mọi tiếng thì thầm Như sấm vang mạnh Trời lầm được chăng Việc mờ ám chốn nhân gian Mắt thần như chớp Trời làm lộ ngay Người mà sai phạm đong đầy Trời liền lập tức thành ngay quan tòa Làm sai hại rõ rành là Người ta chưa diệt, Trời đà diệt ngay Lừa người ắt tự chối bay Lừa lòng mình ắt lừa ngay đất Trời Người tốt Trời chẳng phụ người Lòng người thiện ác có Trời phân minh 聽天寂無聲音 Thính Thiên tịch vô thanh âm 尋天何處蒼深無窮 Tầm Thiên hà xứ thương thâm vô cùng 非高非遠的天 Phi cao phi viễn đích Thiên 天都正是在連人心 Thiên đô chính thị tại liền nhân tâm 人念天地必知 Nhân niệm Thiên Địa tất tri 若無果報天是有私 Nhược vô quả báo Thiên thì hữu tư 人間所有私言 Nhân gian sở hữu tư ngôn 如雷猛響天聞細詳 Như lôi mãnh hưởng Thiên văn tế tường 人間暗室虧心 Nhân gian ám thất khuy tâm 神目如電天尋陳鋪 Thần mục như điện Thiên tầm trần phô 人若惡錯滿行 Nhân nhược ác thác mãn hành 天必立即變成法官 Thiên tất lập tức biến thành pháp quan 作不善者顯明 Tác bất thiện giả hiển minh 人群不害誅行由天 Nhân quần bất hại chu hành do Thiên 欺人必自欺心 Khi nhân tất tự khi tâm 其心欺必坤乾也欺 Kỳ tâm khi tất Khôn Càn dã khi 天不負道心人 Thiên bất phụ đạo tâm nhân 人心善惡天分明詳 Nhân tâm thiện ác Thiên phân minh tường Bốn chữ ÂN TỨ NINH GIA này thấy có treo trong nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc thân sinh Bác Hồ ở làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An ÂN TỨ NINH GIA 恩賜寧家 Dịch nghĩa: Sống chung giữ vững nếp nhà Ban ơn nhau trước, sau là biết ơn. Chú thích: Trong một căn nhà thì các bộ phận đều là ban ơn cho nhau và biết ơn nhau nên cái khung nhà giữ được yên ổn, chắc chắn. Trong một gia đình (hay làng, nước) mỗi thành viên đều ban ơn cho nhau và biết ơn nhau thì gia đình (hay làng xóm, quốc gia) sẽ vững bền. Giảng nghĩa: Sống thuận thiên theo Qui Luật Vũ Trụ (chữ ÂN 恩). Ân tức Ân Trạch恩澤 (Ơn Trời), Trời thì luôn luôn Trong và Sạch, lướt “Trong Sạch” = Trạch 澤, Trong là trong suốt không ô nhiễm như Nước ( 氵 ), Sạch là sạch không ô nhiễm như Nắng ( Nắng biểu ý bằng từ Tạnh, do lướt xuôi “Tư 罒Hạnh幸” = Tạnh. Nắng là cái Năng lượng vô hình biểu ý bằng từ Hư, do lướt ngược “Hạnh幸 Tư罒”= Hư, tức hư không, đồng nghĩa vô hình. Tất cả những ý tứ là thông tin này đều được nén trong chữ vuông Trạch澤, là một trong những “vuông Chứa Nho nhỏ” = “vuông Chữ Nho nhỏ” mà gọi Vo cho rụng đầu (“vuông”) và rụng đuôi (“nhỏ”) còn cái lõi giữa là (“Chữ Nho”) nên chữ vuông còn gọi là chữ nho. Vũ Trụ ban cho (chữ TỨ賜) sự an lành (chữ NINH寧) đến mọi Nước và mọi Người (chữ GIA家). Chú giải: Nghĩa đen của câu Ân Tứ Ninh Gia là: sự ban ơn và biết ơn (chữ Ân恩) của các bộ phận cột, kèo, rui, mè, dứng, vách giằng néo cho nhau (chữ Tứ 賜) làm nên sự vững chãi (chữ Ninh寧) của cái nhà (chữ Gia家). Ngụ ý là những người trong một nhà hay một quốc gia cũng phải như vậy, ban ơn và biết ơn với nhau. Rộng ra thì là ân trạch của Vũ Trụ cho sự sống, sống là phải biết ơn Vũ Trụ. Vũ Trụ là cái NÔI lớn của sự sống, là cái ổ (chữ Ô) gồm tố âm (chữ N, tức Negative) và tố dương (chữ I, tức Innegative), là cái Chứa Nhiều = Chữ Nhiều = Trữ 貯Nhiều lắm = Tự嗣Nhan nhản = Tự自 Nhiên 然 [ Hệ đếm ngũ phân của tiếng Khơme: Muôi (1) –Tê (2) – Bây (3) – Buôn (4) – Prăm (5), đến 5 là nhiều nhất, rồi quay vòng lại Prăm Muôi (6). Do vậy mà Prăm = Năm (tiếng Việt) = Lắm (tiếng Việt) = Rắm (tiếng Việt: rối rắm nghĩa là rối nhiều), Rắm = Rán然 (tiếng Hoa) = Nhan nhản = =Nhiên 然 = Nhiêu 饒 = Nhiều (tiếng Việt)]. Sống theo Tự Nhiên là cái Đạo道, tức cái “ Đi 辶 + Đầu 首” = Đạo 道 (lướt “Đi Đầu” = Đạo) của loài người. Sống theo Tự Nhiên, chết trả về với Tự Nhiên gọi là Tiên (Tự Nhiên thiết Tiên, tức lướt “Tự自Nhiên 然” = Tiên僊). Hán ngữ dùng chữ Tự 自 Nhiên 然 đọc là Zi自 Ran 然, dùng chữ Tiên 僊 đọc là Xian 僊. Nhưng Zi Ran thiết Zan, trật, không thành Xian. Tiên là mục đích của Đạo, mục đích của Cụ Lâu = Cụ Lão = Tử 子Lão 老 à Lão 老 Tử 子 (chánh quả đắc Đạo thành Tiên). Không ai biết Cụ Lâu sống thời nào, <Đạo đức Kinh> của cụ là do người đời sau chép lại, chỉ biết rằng Đạo giáo có trước Phật giáo. < Đạo 道đức 德Kinh 京> nôm na là: Đi bằng Đầu (chữ Đạo 道) Đầy ắp (chữ Đức 德) của Con người (chữ Kinh 京, gồm Đầu 亠 + Mình 口 + Túc 小, “Túc Nhiều” = Tiểu小), tức hành động bằng cái đầu có tư duy bao la của con người, cái mà thời nay gọi là “kinh tế tri thức”. Cổ đại chữ Dịch Kinh 易京hay Đạo Đức Kinh道德京đều viết bằng chữ Kinh 京này (nguồn: theo đọc trên mạng của TQ, “Dịch Kinh易京” phải hiểu theo cú pháp Việt đề trước thuyết sau là “thuyết Biến đổi (Dịch易) của tác giả là loài Người (Kinh 京). Chữ Đức có nghĩa là đầy ắp và lan tỏa như giọt nước (ám chỉ cái đồ hình âm dương), như một giọt nước mưa rớt xuống đất nó cũng lan tỏa đi ngay ti tỉ phương, Nước = Nác = Đác = Đức, “Đầy Ức” = Đức, chữ Ức 酭nghĩa là đầy hương thơm của 有rượu 酉 (thơm nức, mùi sực nức), thơm như thế nên chủ một nước cũng gọi là Đức (như Đức Ngài), chủ một giáo lý cũng gọi là Đức (như Đức Phật) dù không “Xức” nước hoa Sài Gòn (xoa đầy thơm tức lướt “Xoa đầy Ức 酭” = Xức). Biểu ý của chữ Đức 德là: một mình nó (chữ Nhất 一) tâm nguyện (chữ Tâm 心) đi (chữ Hành彳) mười phương (chữ Thập 十) bốn biển (chữ Tứ 罒) nghĩa là tự nó lan tỏa “hữu xạ tự nhiên hương” như Phật giáo lan tỏa. Lâu về phía quá khứ thì càng xưa càng lâu hơn, “Lâu Hơn” = Luôn. Lâu về phía tương lai thì càng tới lâu càng muộn, “Lâu Muộn” = Luôn. Còn Đạo道 thì Luôn Luôn tồn tại ở cả ba thì quá khứ, hiện tại, tương lai. Nhưng hiện tại chỉ như một khoảnh khắc của lịch sử cho nên chỉ có tồn tại (vấn đề tồn tại) mà không cần chữ Luôn (khác với vấn đề Luôn Luôn tồn tại, là vấn đề đó kéo dài sự tồn tại suốt cả ba thì). Ví dụ nói: Hiện nay tôi Thường đi bộ và cả đời tôi là Luôn Luôn đi bộ. Đạo 道 là cái lý luận luôn luôn tồn tại. Chả thế mà đến tận bây giờ thế giới vẫn phải lo “đối phó với biến đổi khí hậu” là cái hậu quả do loài người gây ra, mà trách nhiệm đầu tiên là ở người Lãnh Đạo. Lãnh là “Lấy sạch sành Sanh” = Lãnh, như Lãnh lương vậy, là không bỏ sót một đồng nào, sau đó mới chi gì thì chi. Hán ngữ dùng chữ Lão Lão chỉ ý Luôn Luôn, nhưng chỉ có ý nghĩa cho quá khứ: Ngã lão thuyết 我老說 (tôi đã luôn nói ), Ngã thuyết trước 我說著 (tôi đang nói), Ngã tương thuyết 我將說 (tôi sẽ nói). Chữ Ninh 寧 nghĩa là an lành. An lành như Con nằm trong Nôi. “Nôi của Mình” = Ninh 寧, đọc từ trên xuống là: Mái ( 宀) Ấm ( 心) Đựng (皿) Người (丁). Rõ ràng là người Việt đã đặt ra cái chữ Nho gọi là Ninh này, gồm đủ các bộ phận như kê trên, cả tiếng lẫn biểu ý. Cái gọi là “Lục thư tá âm” chỉ là cách gọi về sau nhà Tần thừa kế chữ Nho. Tần Thủy Hoàng phải “đốt sách, chôn nhà nho” để bắt gọi chữ Nho là Hán tự một cách triệt để. “Nôi của Con” = (lướt) “Nôi của Kinh” = Ninh. Đó là cái tiếng được tạo nên đọc là “Ninh”. Con người là Kinh 京, đẻ ra con người tức lướt “Đẻ ra Kinh京” = Đinh 丁, nên từ Đinh 丁chỉ con người, không phân biệt giới tính. Mỗi con người muốn an lành thì phải có được một Mái (chữ Miên宀) Ấm (chữ Tâm 心 ; Tâm thuộc Tá = Lả = Hỏa 火, trong khi Thận thuộc Nậm = Thâm = Thủy 水, theo đông y). Mái ấm ấy là cái “Ổ Đựng” = Ứng (đáp ứng nhu cầu) Ứng = Hứng = = Nưng = “Nưng Tôi” = Nôi của con người, là cái “Nôi Hứng” = Nưng, để “Nưng cái nhỏ Xíu” = Niu, nên Nôi là cái để Nưng Niu con người. Cái ổ đựng gọi là Nôi ấy hình dáng như cái Máng = Mủng = =Minh 皿 (chúa Giê Su sinh ra trong máng cỏ). Chữ Ninh là chữ nho Việt, hội ý của nó là: Mái宀 Ấm心 Đựng 皿Người 丁 (về nghĩa) và là “Nôi đựng Kinh京” = Ninh寧 (về thanh). Cái yên lành như nằm trong nôi gọi là “ninh”. Chữ Ân恩 có gốc ở từ Ăn. Ăn = Ơn = Ân. “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Ăn là ban ơn cho cái dạ dày đang réo kêu đói, nhưng Ăn lại là mang ơn cái thực phẩm và người làm ra nó. Nhớ ghi là làm thành vết Hằn, Hằn = Ăn = Ấn = In = Kín = Khin khít = Khin = Khảm vào trong tâm, gọi là Tâm Khảm hay “Tâm In” = Tin. Nhớ cái gì là do Tin vào cái ấy. Biết ơn như cái dấu Ấn ở trong lòng. Người có Nhân Tâm thì mới biết ơn, nên chữ Ân 恩 viết biểu ý là Nhân 因 + Tâm心. Nhân 人 là người, là Nhân Đạo人道; Nhân 仁 là Nhân Nghĩa 仁義; Nhân 因cũng là Nguyên Nhân, là cái Lõi = Lý. Nhân仁 các loại hột có loại nhân ăn được, có loại nhân ăn độc chết người, bới vậy phải biết phân biệt cái nguyên nhân 原 因. Bởi vậy chữ Ân 恩 = =Nhân因 + Tâm 心 khuyên người ta phải tỉnh táo để mà nhận cái ban ơn là vô tư hay là dụ dỗ “củ cà rốt”, kẻo mang ơn mắc lỡm cảnh “theo voi hít bã mía”. Đương nhiên nếu ăn phải cái nhân độc mà chưa kịp chết thì cũng biết ơn cái được rút kinh nghiệm “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”. Nhớ = Nhiễm (nhiễm hơi là nhớ hơi, nhiễm mùi là nhớ mùi). Nhớ = Nhiễm = Niệm念 . Nhưng “Niệm cái cú ngộ độc do Ăn” = Năn, nên mới phải Ăn Năn, Hối Hận với sai lầm đã mắc phải. Chữ Tứ 賜là “Ta cho người Chứ!” = Tứ 賜, chữ Tứ 賜có bộ thủ “Báu của Tôi” = Bối 貝, cho người thì cho cái báu. Vì Bối là của quí nên chữ Bối 貝(hình tượng nó là cái Bòi, nói lướt “Bòi Tôi” = Bối) được chuyển chú thành từ chỉ chung các loài nhuyễn thể, là thức ăn có chất đạm chủ yếu quí nhất của người nguyên thủy, nên mới gọi là “Báu của Tôi” = Bối 貝, thành chữ Nho là Bảo Bối 寶貝. (Của quí nhất là cái dương thực khí để gieo giống, nên nói lướt “Bòi Tau” = Báu, “Bòi Tao” = Bảo). Vỏ Bối vứt quanh đống lửa , bị nung nóng , dội nước cho nguội ai ngờ nó nhuyễn ra thành “Vữa của Bối” = Vôi, sau biết dùng vỏ bối hoặc dùng đá nung vôi, rồi mới biết ăn trầu. Chữ Tứ 賜là động từ người cho (lướt nhấn “Ta cho người Chứ!” = =Tứ), đó là cho ngang hàng. Còn trời cho thì là cho từ trên xuống, tức trời buông rót xuống mà người không biết. Buông Rót viết bằng chữ “Phóng 放Chú 注” = Phú 賦 (trời cho thì trời cũng nói là cho cái “Báu của Tôi” = Bối貝, nên chữ Phú 賦cũng có bộ Bối貝, cái cho của Trời là cái Trời bỏ vội, diễn ra rất nhanh trong khoảnh khắc, ví dụ sực nảy ra sáng kiến gì, đó là do Trời phú, nên chữ Phú賦đã biểu ý đúng là: “Bối 貝Võ武”= Bỏ và “Võ 武Bối貝” = Vội), mới có từ gọi là Trời Phú, trời phú cho anh ta cái trí thông minh, trời phú cho chị ta cái sắc đẹp. Quan tự coi mình quyền thế như trời nên quan cũng chiếm dụng động từ Phú賦về mình. Như tù cải tạo Hoàn Lương được tha thì quan ngục tuyên: “Phú cho con mẹ Hàng Lươn. Được tha ra khỏi án đường khổ sai!”. Chữ Gia 家không đồng nghĩa với từ Nhà. Nhà chỉ là cái vỏ đựng người, chỉ vật thể kiến trúc. Cái âm chính của Nhà là “A” có trong các từ chỉ nhà của nhiều ngôn ngữ, vì phát âm mở của “A” nó nói lên sự thoải mái, tự do khi mình ở nhà mình, A = An, “An cư lạc nghiệp”, “Ta về ta tắm ao ta”, “Ao Ta” = A. A = Ao = Áng = Ang, đều là tên những cái đựng, Áng viết bằng chữ Đàng堂. Nhà tiếng Indonexia là Tangga, tức Đàng Gia堂家hay Gia Đàng家堂của tiếng Việt. Nhà tiếng Hán gọi “Jia” là do dùng chữ Gia家 của Việt nho, tiếng Pháp là Ga (nhà ga), tiếng Nga cũng bắt đầu là âm tiết Ga -, kể cả từ Nhà Nước là Gaxudarstvo. Từ Nhà và từ Gia của tiếng Việt nếu đồng nghĩa như Từ Điển Tiếng Việt và Từ Điển Hán Việt giải thích thì viết Nhà Nước = = Gia Quốc = Nhà Quốc = Gia Nước chắc là không sai ngữ pháp (?). từ Nhà chỉ giúp hình dung được cái vỏ, bởi gốc của từ Nhà chính là từ Vỏ như logic mềm hóa phát âm: Vỏ (như vỏ con ốc, nên chữ Ốc 屋để chỉ cái nhà, tiếng Việt Đông cũng đọc là “ốc屋”), Vỏ = Giỏ (giỏ đựng trái cây) = =Da (bộ da đựng cơ thể) = Nhà, phát âm của giọng Hà Nội là mềm mại chải chuốt nhất (“Nghe em giọng Bắc êm êm. Bà con hàng xóm đến xem chật Nhà. Răng chưa sang nhởi Nhà choa? Bà o đã nhốt con ga trong truồng” – thơ Nguyễn Bùi Vợi), vì Nhà là cái Vỏ nên “Nhà Nước” thành ra Vỏ đựng Nước, “Vỏ Chứa” = Vựa, vựa đựng nước để bán . từ Gia mới giúp hình dung được cái quan hệ liên kết, vì nguồn gốc của Gia là từ Giằng, mà “Giằng nhiều Lớp” = Dớp. Dớp Nhà là nói Mối quan hệ ở trong ngôi Nhà. Gia Đàng là nói Mối quan hệ ở trong ngôi Đàng 堂 (Tangga). Nhưng Gia Đình là nói Mối quan hệ của nhiều người ruột thịt. Vì “bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt” mà người ta đã hắt hủi tiếng Việt hàn lâm ví dụ từ Quốc Gia ra khỏi tiếng Việt để thay bằng từ Nhà Nước, nửa thế kỷ rồi, bây giờ lại quay lại có Đại học “Quốc Gia” Hà Nội (?). Gia là chỉ quan hệ của những người ruột thịt cùng sống chung dưới một mái Nhà, như chữ Gia 家biểu ý: Mái nhà (bộ thủ Miên宀) + Thịt = lướt nhấn “Thịt Chi 之!” = Thỉ (bộ thủ Thỉ豕), bộ Miên (宀) đại diện cho toàn bộ cấu trúc vỏ, bộ Thỉ (豕) đại diện cho sự sống trong cái vỏ đó, đó là dương âm, cứng mềm tạo nên cái “quan hệ tương tác giữa cứng với nhau, giữa mềm với nhau và giữa cứng với mềm”, gọi là Gia. Quan hệ ấy là sự Giằng níu chặt chẽ giữa các bộ phận cấu trúc cái nhà với nhau, giữa những người sống trong ngôi nhà với nhau và giữa người và vật dụng với nhau, Giằng = Giường = Trường, là một môi trường sinh thái, nên từ Giằng biểu thị quan hệ chặt chẽ ấy mới nhấn là “Giằng Ạ!” = Gia. Dùng từ Quốc Gia thì hình dung được xã hội, chế độ (tức các mối quan hệ trong một nước), còn dùng từ Nhà Nước thì không hình dung được quan hệ liên kết ở trong cái “Nhà” của “Nước” ấy. Nhân tiện, giải thích thêm: chữ Quốc không đồng nghĩa với từ Nước. Chữ Quốc 國chỉ vùng Đất (vuông囗 ) trong đó có các vùng nhỏ (口 ), con người (kẻ 一) và công cụ (qua 戈), như Thái Quốc 泰國 là Thái Land. Tiếng Việt gọi Đất Nước VN, tức gồm Đất liền và Biển Đông ( lãnh Thổ và lãnh Hải). Chữ Hải mới chuyển chú thay cho từ Nước, đồng bào Hải nội là đồng bào ở trong Nước, đồng bào Hải ngoại là đồng bảo ở Nước ngoài. Biển Đông chữ nho viết là La Hải (biển của tộc Đại La. La = Lả = Lửa, tức của Viêm Bang, La = phương Quẻ Ly tượng Lửa của Dịch học), Biển Đông còn viết là Nam Hải (biển của người Nam, người Nam là người Canh (tức người Kinh), ở đầu Lạnh của cái “Kim chỉ Nam” của cái La – Canh (cái la bàn chỉ hướng). Lạnh = Canh = Căm Căm = Nặm (tiếng Lào) = Nậm (tiếng Tày) = Nước = North = Nam (tiếng Thái Lan) = Khảm = phương Quẻ Khảm tượng Nước của Dịch học). Giằng níu nở ra các từ dính Dập-Dìu (quan hệ sôi động), Dắc-Díu (quan hệ lớn bé, già trẻ), Dan-Díu (quan hệ tình dục), Dan = Gian = Dâm. Cái quan hệ là Giằng = Gia ấy nhiều tầng nhiều lớp (tam đại , tứ đại đồng đường), gọi là “Giằng nhiều Lớp” = Dớp. Dớp là quan hệ ruột thịt người với người trong một cái Nhà, gọi là Dớp Nhà. Quan hệ tức là hoàn cảnh, Dớp Nhà còn gọi là hoàn cảnh Nhà. Lướt “Dớp Nhà” = Gia, Gia là cái quan hệ, Hán ngữ gọi là Gia Cảnh. Gia là các mối quan hệ ruột thịt, nếu là của nhiều người tức nhiều Đinh, mà nhiều Đinh là “Đinh Nhiều” = 0 + 1 = 1 = Đình (lướt lấy dấu) hay lướt từ lặp “Đinh Đinh” = 0 + 0 = 1 = =Đình, thì gọi là Gia Đình. (không phải theo chữ Gia là cái nhà, Đình là cái đình, Gia Đình là cái nhà và cái đình ? ) Gia Đình là mối quan hệ nhiều người ruột thịt. Xây dựng gia đình là xây dựng quan hệ nhiều người nối ruột, không phải là xây dựng cái nhà và cái đình. Lướt “Gia Đình” = Dinh, Dinh là mối quan hệ nhiều người thân, nếu thêm cho nó cái vỏ kiến trúc tương đương cái nhà thì phải gọi là Dinh Cơ, Dinh Cư, Dinh Thự, Dinh Lũy. Lí ngựa ô: “Anh đưa nàng về Dinh” nghĩa là anh đưa nàng về với các mối quan hệ phía bên anh, dù cái Nhà, cái Cơ, cái Thự của anh có là túp lều cũng vẫn sướng. Truyện Kiều: “Dớp Nhà nhờ lượng người thương daám nài” nghĩa là Các mối quan hệ rắc rối éo le (hoàn cảnh) - Dớp – trong ngôi nhà này – Nhà – nhờ người thương xót mà giải quyết cho, không dám nói dài. “Nói Dài” = Nài, “Nài Chi!” = Nỉ, Nài Nỉ là nói dài nhằm xin xỏ thuyết phục. Từ Daám được nói dài như thế để thành nghĩa ngược lại là Không Dám (như gạch dương thì dài mà gạch âm thì ngắn trong Quẻ Dịch). Trẻ con nói: “Tao thách mày đánh tao đấy, daám!” có nghĩa là “Tao thách mày đánh tao đấy, hổng dám đâu !”. “Dớp Nhà” = Gia, nhưng nếu chỉ dùng một chữ Gia thì vẫn ý đó nhưng không cảm thấy kể lể chi li của cái giọng đang nài nỉ thuyết phục người nghe. PHÁT TRIỂN CỦA NGÔN TỪ VIỆT Tiếng Việt phong phú vô vàn Hàn lâm trộn với dân gian cùng hành Lời văn hàm súc uyên thâm Công người xưa bốn nghìn năm trau dồi. 1. Ngôn từ Việt ban đầu là đa âm tiết và không có dấu thanh điệu. Nó đã đơn âm hóa bằng cách mỗi từ đa âm tiêt (của chính tiếng Việt hoặc của mượn từ tiếng ngoại lai) đều bị lược bỏ (rụng) đầu và đuôi còn lại một âm tiết lõi (gọi là Qui tắc Vo để vò rụng đầu và đuôi, chỉ “Trọi Còn” = Tròn là cái lõi giữa, “trọi còn” là nói đảo của “còn trơ trọi” mỗi cái lõi giữa, theo Qui tắc Lướt: “Trọi Còn” = 0+1 = 1 = Tròn, con số chỉ sự biến âm của dấu thanh điệu theo số học nhị phân). Thành từ đơn âm thì có lợi thế là một thông tin bằng nhiều tiếng được nén thành chỉ còn một tiếng, tức hiệu suất chuyển tải thông tin của tiếng đó trở nên lớn hơn. Cách nén thông tin của tiếng Việt còn thể hiện trong Qui tắc Lướt (lướt hai tiếng thành một tiếng hoặc lướt cả câu bằng lướt tiếng đầu và tiếng đuôi của câu đó thành một tiếng). 2. Đơn âm hóa xong rồi thì để có nhiều từ lại buộc phải xuất hiện thanh điệu, thành ra tiếng Việt có 6 dấu thanh điệu để phân biệt thành 6 nghĩa khác nhau của một âm vận. Các dấu thanh điệu chia theo Dịch lý thành hai nhóm Âm và Dương. Nhóm thanh điệu thuộc Âm ( Âm = 0, theo số học nhị phân của công nghệ thông tin) là các dấu “Không”, “Ngã”, “Nặng”; Nhóm thanh điệu thuộc Dương (Dương = 1, theo số học nhị phân của công nghệ thông tin) là các dấu “Sắc”, “Hỏi”, “Huyền”. Khi lướt hai tiếng thì dấu thanh điệu của hai tiếng đó như hai con số nhị phân cộng với nhau theo qui tắc số học nhị phân mà thành dấu thanh điệu của tiếng kết quả thứ ba. 3. Mỗi từ đơn âm lại có thế tách đôi thành hai tiếng khác nhau bằng hai cách: 1/ Là phiên thiết tiếng gốc thành hai tiếng sao cho khi lướt hai tiếng đó thì lại thành hoàn nguyên của chính tiếng gốc. Ví dụ Ba (chỉ ba chiều lập thể) phiên thiết thành Bao La, để khi lướt lại “Bao La” = Ba. Do vậy không gian ba chiều như bầu trời gọi là bầu trời bao la. 2/ Là tách thành hai tiếng (có chung phụ âm đầu hoặc cùng vắng phụ âm đầu với tiếng gốc), dính nhau, không thể đảo ngược vị trí, gọi là từ dính (viết nên có gạch nối giữa chúng). Ví dụ Mặt (chỉ mặt phẳng có hai chiều là trục Tung và trục Hoành) đã nở ra từ dính là Mênh-Mông (trường hợp nó rộng) hay Mịn-Màng (trường hợp nó nhẵn) hay Mấp-Mô (trường hợp nó nhám, do đó mà có từ biển rộng mênh mông hay đồng lúa rộng mênh mông, hoặc Mặt lụa mịn màng, Mặt đường mấp mô v.v. để nói về bề Mặt chúng. Ví dụ về đơn âm hóa một từ đa âm tiết: 1/ Tiếng Nhật có từ bản địa “xacana” (chỉ con Cá), tiếng Việt chỉ cần đơn âm hóa bằng chiếm cái lõi giữa là Ca thành từ đơn âm tiết là Cá (chỉ con cá), chuyển sang tiếng Thái, Lào thành Pá (chỉ con cá). Hoặc tiếng Việt chiếm cái lõi giữa là Can thành từ đơn âm tiết là Cần = Cờn = Còng chỉ nơi cửa sông, bến cá như Cần Giờ, Cần Thơ (Nam Bộ), cửa Cờn (Nghệ An), chợ Còng (Thanh Hóa). 2/ Tiếng Ân Độ có từ bản địa “Palamitra” (chỉ cây Mít), tiếng Hán mượn bằng cách phiên âm thành “Puoluomi”( 3 tiếng thành một từ), tiếng Việt chỉ cần đơn âm hóa bằng chiếm cái lõi giữa là Mít (1 tiếng thành một từ). Rồi phát triển thêm: quả Mít như là một Mẹ ắt phải có nhiều Con bên trong nó. Do vậy từ Mít nở ra từ dính Múi-Món, rõ ràng trong quả Mít có nhiều Múi, mỗi Múi có một hột, như là một “Mít Con” = Món (đó là chuyện có từ cổ đại). Những năm gần đây nông dân An Giang nhập giống mít ngoại có trái tròn như trái banh, nên gọi nó là giống “Mít trái Tròn” = “Mít Tròn” = 1+1=0 = Mon, gọi thành mặt hàng là trái Mon. Tương tự như nông dân Tiền Giang tạo ra giống khoai Mỡ mới, ăn béo ngậy hơn các giống khoai mỡ cũ khác nên gọi nó là giống khoai Mỡ Ú, nói lướt thành “Mỡ Ú” = 0 + 1 = 1 = Mú, gọi là giống khoai Mú hay củ Mú. 4. Cổ đại tiếng Việt dùng từ Ồn để chỉ ý là Nói. Tin tức nghe do đông người ồn đã được lướt “Đông người Ồn” = Đồn, gọi là tin đồn. Từ dân gian Ồn được viết thành từ hàn lâm là chữ Âm 音, mà người Nhật lại đọc chữ Âm 音 là “Ồn 音”, nênTiếng Nhật Bản (dân tộc Đại Hòa 大和) có những từ: “Wa Ồn 和 音” có nghĩa là người “Hòa 和 Nói”, “Gô Ồn 吴 音” nghĩa là người “Ngô 吴 Nói”, “Ê-chư 越 Ồn” có nghĩa là người “Việt Nói”. Ngày nay dùng chữ Ngữ 語 mà người Nhật đọc là “Gô 語” (nghĩa là Gọi”, nên lại có những từ: “Ni 日-Hôn 本 Gô 語” nghĩa là “Nhật Bản Gọi 日本語” (tức ngôn ngữ Nhật Bản), “Bê-tô Na-mư Gô” nghĩa là “Việt Nam Gọi 越南語” (tức ngôn ngữ Việt Nam), “Chư 中 Kô-kư 國 Gô 語” nghĩa là “Trung Quốc Gọi 中國語” (tức ngôn ngữ Trung Quốc). Như vậy diễn biến âm của tiếng Việt là: Âm 音 = Ầm = Ồm = Ồn = Ngôn 言= Ngữ語 = Gừ (Gầm- Gừ) = Gô 語 (tiếng Nhật) = Gí 語 (tiếng Đài Loan) = Gọi = Nói = lướt từ đôi “Nói Ôm” = Nôm = lướt từ đôi “Nói Và” = Na. Cho nên từ đôi Nôm Na có nghĩa đơn thuần là Nói (nhưng mà là người Việt nói, chính nghĩa là "tiếng Việt"). Lướt chỉ lấy dấu của tiếng đứng sau: “Việt Nói” = Viết 曰, nên từ hàn lâm Viết 曰 có nghĩa là Nói (mà là người Việt nói). Diễn biến âm: Viết 曰 = Van (tiếng Nghệ An) = Vân 云 (tiếng Việt hàn lâm) = Và 話 (tiếng Quảng Đông) = Na (tiếng Việt dân gian) = ha-Na-xư (tiếng Nhật) = Nói (tiếng Việt). Đoạn dẫn diễn biến âm Việt ở trên như là một Nôi khái niệm (NKN) của từ Nói, nó cũng cho thấy là từ Gọi đơn âm đã nở ra từ dính song âm là Gầm-Gừ (do đã lướt các từ đôi “Gọi Ầm” = Gầm và “Gọi Ngữ” = Gừ). 5. Từ dính do qui tắc Nở tách đôi của một từ đơn (giống như sinh sản của tế bào): Từ đơn âm (một tiếng) đã theo Dịch lý “nhất nguyên sinh nhị nguyên” mà Nở ra từ dính (hai tiếng, đều có cùng phụ âm đầu với từ gốc). Ví dụ về từ đơn âm nở ra từ dính song âm: 1/ Chữ Hà 何 ? là một từ hàn lâm nghi vấn, Hà nở ra từ dính Hả-Hử; câu nghi vấn “Nói gì?” viết thành câu lướt “Hà 何 Nói” = Hỏi. Từ dân gian nghi vấn Hỏi đồng nghĩa với từ hàn lâm Vấn 問. Vấn 問 đơn âm tiết lại nở ra từ dính song âm là Vặn-Vẹo (cùng phụ âm đầu là “V” với Vấn), từ dính Vặn-Vẹo thường dùng làm hình dung từ cho động từ Hỏi, thành ra từ phức hợp là “hỏi vặn vẹo” nghĩa là hỏi nhiều câu hóc búa. 2/ Từ dân gian Mô bạn đồng nghĩa với từ hàn lâm Vô bạn (無伴). Mô nở ra từ dinh Mất-Mát (cùng phụ âm đầu “M” với Mô). Vô 無 nở ra từ dính Vò-Võ (cùng phụ âm đầu “V” với Vô). Sống vò võ là sống không có bạn, sống một thân một mình. 3/ Từ dân gian Võ đồng nghĩa với từ hàn lâm Vũ (武), chuyển chú chỉ ý là gân bắp săn chắc, bằng chính từ đó hoặc bằng các từ dính do nở ra: Võ nở thành từ dính Vâm-Vâm (săn chắc). Vũ nở thành từ dính Vạm-Vỡ (săn chắc). Biểu ý của chữ Vũ 武 là: Kẻ (chữ Một 一) biết Dừng (chữ đình Chỉ 止) chiến Tranh (chữ can Qua 戈), đó là miếng Võ giỏi nhất. 4/ Từ hàn lâm Hảo 好 đồng nghĩa với từ dân gian Tốt. Hảo 好 nở ra từ dính Hơn-Hẳn; hơn hẳn đồng nghĩa với từ lướt “Việt 越Ưu 優” = Vưu 尤. Chữ Vưu 尤 lại nở ra từ dính Vẻ-Vang. Vẻ vang nghĩa là ưu việt, hơn hẳn những cái bình thường. Từ Tốt còn nở ra từ dính Tươm-Tất. Từ Hảo còn nở ra từ dính Hòm-Hòm, nên các câu “làm Tốt rồi” = “làm Hảo rồi” = “làm Hòm-Hòm ròi”= =“làm Tươm-Tất rồi”. 6 Nôi khái niệm và qui tắc "Lướt" (trong <Thuyết Văn Giải Tự> gọi là "Thiết" vì NKN: Lướt = Thướt = Thiết) Sử dụng qui tắc Lướt cùng với sử dụng song hành từ dân gian và từ hàn lâm đồng nghĩa lại tạo ra thêm nhiều từ hàn lâm mới hoặc từ dân gian mới nữa làm cho tiếng Việt càng tinh tế và phong phú hơn. Ví dụ 1: NKN “lừa dối”: Lừa = Láo = Xạo = Giảo 狡 = Dối = Giả 假 = Trá 詐. Từ dân gian Dối đồng nghĩa từ hàn lâm Trá 詐 à dẫn đến lướt từ đôi “Dối Trá 詐” = Giả 假 (là từ hàn lâm).Từ dân gian Dối (chỉ ý hành động) nở ra từ dính Dấu - Diếm (là từ dân gian). Từ hàn lâm Trá 詐 (chỉ ý nói năng) nở ra từ dính Trắt -Trẻo (là từ dân gian). Hàn lâm (Giả) và dân gian (Làm) ghép với nhau thành từ ghép Giả Làm đồng nghĩa với từ ghép hàn lâm Giả Đương à dẫn đến lướt từ ghép hàn lâm “Giả 假 Đương 當” = Dương 佯 (là từ hàn lâm mới) à dẫn đến câu thành ngữ Dương đông kích tây 佯東擊西 (có nghĩa là: giả đánh Đông, nhưng thực nhằm đánh Tây) Từ hàn lâm Giả 假 có nghĩa là không có căn cứ, tức Vô Sở 無所 (là từ hàn lâm) à dẫn đến lướt “Vô 無 Sở 所” = 0+1 = 1 = Vờ ( là từ dân gian) à dẫn đến từ đôi Giả Vờ (là quyện lẫn hàn lâm và dân gian) à như vậy từ hàn lâm Giả đồng nghĩa từ dân gian Vờ . Từ dân gian Vờ có nghĩa là không đúng, tức Vô Chính 無正 (là từ hàn lâm) à dẫn đến lướt “Vô 無Chính 正” = 0 + 1 = 1 = Vỉnh à dẫn đến từ đôi Vờ Vỉnh (phát âm từ Vỉnh mới là đúng dấu theo toán học nhị phân, bằng giọng Thanh Hóa), nhưng nếu nhấn thêm là Vờ Vỉnh Vỉnh = 1 +1 +1 = 1+ (1+ 1) = 1 + ( 0) = 1+ 0 = Vờ Vĩnh. Giả = Vờ = Giả Vờ = Lừa (là từ dân gian). Lừa có nghĩa là không đúng, tức Phi Chính 非正 (là từ hàn lâm) à dẫn đến lướt “Phi非 Chính 正” = 0 +1 = 1 = Phỉnh (dấu thanh điệu đúng phép cộng toán học nhị phân) à dẫn đến có thêm từ dân gian mới là Phỉnh đồng nghĩa từ dân gian Vờ à dẫn đến lướt từ đôi “Phỉnh Vờ = 1+ 1 = 0 = Phơ à dẫn đến có từ đôi mới là Phỉnh Phơ , nếu nhấn thêm là Phỉnh Phơ Phơ = 1 + 0+ 0 = 1 + ( 0 + 0) = 1+ ( 1 )= 1+ 1 = Phỉnh Phờ. Phỉnh Phờ và Vờ Vĩnh (đều là từ đôi và đều là từ dân gian) Tiếng Trung Quốc do mượn chữ Nho của Việt mà làm thành ngôn ngữ Trung Quốc (chỉ có là phát âm lơ lớ, không chuẩn âm của tiếng Việt hàn lâm) nên chỉ có toàn dùng từ hàn lâm, do vậy tuy cũng có dùng từ Giả (phát âm lơ lớ là “jia 假”),cũng có dùng từ Trá (mà phát âm lơ lớ là “zha 詐”) nhưng tiếng Trung Quốc không thể có nổi những từ đôi như Vờ Vĩnh hoặc Phỉnh Phờ, hoặc từ dính Trắt-Trẻo; đương nhiên những từ đôi và từ dính này của tiếng Việt có sắc thái hơi khác với đơn thuần cái nghĩa của từ Giả hoặc Trá, mà sắc thái ấy chỉ có người Việt mới hiểu nổi. Bởi vậy tiếng Việt nó tinh tế là ở chỗ đó. Ví dụ 2: Nôi khái niệm (NKN) sau đây cho thấy từ hàn lâm (là từ có viết bằng chữ nho) được sinh ra do từ dân gian (là từ không có viết bằng chữ nho nên phải viết bằng chữ nôm thế kỷ 13 nhằm ghi âm): NKN: Mần = Bận (do lướt ý mần nhiều là “Bộn Mần” = Bận) = Lần (do lướt ý mần nhiều là “Lắm Mần” = Lần, lần mò: làm mà không rõ, lần lượt: làm theo thứ tự) = Làm (do lướt ý chịu mần là “Lần Cam” = Làm) = Lam (do lướt từ lặp “Làm Làm” = 1 + 1 = 0 = Lam 婪, để nhấn ý là làm nhiều tức như thành ngữ “hay lam hay làm”) = Ham (do lướt “Hay Làm” = Ham (lướt tiếp “Ham việc cho Thành” = Hành 行, nên từ hàn lâm Hành 行 đồng nghĩa với từ dân gian Làm) = Lạm 濫 (do ý tứ “Lam quá mức” tức Lam nặng = Lạm. Lạm 濫, chuyển chú chỉ ý làm quá mức giới hạn, lạm phát: phát tiền lưu hành ra quá mức gọi là Lạm) = Tham 貪 (do lướt chữ “Thừa 承 Làm” nghĩa là thừa hưởng cái đã làm bởi người khác, lướt “Thừa 承 Làm” = 1 + 1 = 0 = Tham 貪, thường dùng từ đôi Tham Lam 貪 婪 để chuyển chú sang nghĩa khác chỉ lòng ham muốn vô độ tức tham lam) = Cam 甘 (do lướt từ “Cặm cụi Làm” = Cam 甘, chuyển chú sang ý là nhẫn nại làm) = Đảm 擔 (do lướt “Đựng việc Làm” = Đảm, Đảm chuyển chú sang ý là gánh vác công việc gọi là Đảm) = Đương 當 ( do lướt ý “vẫn làm” là “Đảm Thường” = Đương) = Đang 當 (do lướt từ đôi “Đảm Mang” = Đang, thường dùng từ đôi Đảm Đang 擔 當 để nhấn ý là làm được đủ mọi việc) = Đáng 當 (do ý làm nhiều là lướt lấy dấu “Đang Lắm” = Đáng) = Mang 忙 (do lướt từ đôi “Mần Đang” = Mang. Mang đồng nghĩa với Bận, đa mang: nhiều làm) = Màng (do lướt từ lặp “Mang 忙 Mang 忙” = 0 + 0 = 1 = Màng, cùng logic với lướt lấy dấu từ đôi “Mang Làm” = Màng) = Cáng (do lướt “Cặm cụi Màng” = Cáng, cáng đáng: gánh việc làm) = Cán (do phát âm trùng Cáng = Cán) = Can 干 (do ý “thường làm” biểu đạt bằng từ lặp Cán Cán được lướt “Cán Cán” = 1 + 1 = 0 = Can, ngược lại lướt từ ghép “Lười Can干” = Lãn 懶, thành từ hàn lâm Lãn 懶 đồng nghĩa Lười Can) = Cán 干 (do lướt lấy dấu “Can theo Chức” = Cán 干, cán bộ 干部 : làm theo chức trách được bố trí). Qua một NKN trên thôi đã đủ thấy là do có từ dân gian gốc Việt mà sinh ra được những từ đồng nghĩa với nó nhưng có viết bằng chữ nho của người Việt, gọi là từ hàn lâm (di chỉ khảo cổ ở Cảm Tang tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, phát lộ năm 2011 cho thấy chữ vuông đã có cách nay 4000 – 6000 năm, lúc đó người Hán du mục chưa bén mảng được đến bờ nam sông Hoàng Hà chứ chưa nói là đến được sông Dương Tử), những từ viết bằng chữ nho gọi là từ hàn lâm tiếng Việt được dùng song hành với từ dân gian tiếng Việt làm cho trong tiếng Việt như có trộn lẫn hai ngôn ngữ (dân gian và hàn lâm, đều là gốc của Việt) nên tiếng Việt càng tinh tế và phong phú. Còn cách gọi những từ hàn lâm này là “từ gốc Hán”, “từ Hán Việt” hay “Hán tự” (? !) đều là sai với sự thật lịch sử. Tuy nhiên, ngôn từ mới sản sinh ra càng ngày càng nhiều thì chữ Nho (dùng cách chủ yếu là biểu ý và tượng hình) càng tỏ ra lạc hậu. Do vậy dùng “chữ quốc ngữ” (ghi âm bằng ký tự Latin là loại ký tự biểu âm) đã thống nhất được cách ghi cả hai nguồn từ vựng dân gian và hàn lâm, lại thuận tiện cho việc viết và ký âm từ ngoại lai, dễ hội nhập quốc tế, nên “chữ quốc ngữ” tỏ ra ưu việt hơn tất cả các loại hình ký tự cũ xưa. Cao Lỗ người La Câu “Chúa tể sơn lâm” là để chỉ ngôi vị lớn nhất chúng động vật trong rừng là con Cọp. Lướt “Cọp Cha” = 0 + 0 = 1 = Cả. Cọp à Cả (chúa tể). Cả à Cao. Xuất hiện từ đôi kiểu “có mới với cũ” là Cao Cả. Dân xứ nóng là dân vùng gần xích đạo tức vùng “Viêm 炎Nhiệt 熱” = Việt 粵; dân cũng gọi là dân Việt 越, còn gọi theo địa lý của Dịch học thì gọi là dân La vì ở phương quẻ Ly (Ly = Lửa = Lả = La). Tộc La là tộc lớn đông dân nên gọi là La Cồ (hay như viết bằng chữ nho là Đại La 大羅, biển Đông – nơi xuất xứ của "Kim chỉ Nam" là cái "La Canh" - có tên xưa là La Hải 羅海 tức biển của người La, hay tên xưa là Nam Hải 南海 tức biển của người Nam, cũng là người Canh = Kinh, vì biếu ý của chữ Nam 南 là Cung Hạnh thiết Canh và Hạnh Cung thiết Hùng). Đất nước của tộc La Cồ (La Cồ thiết Lồ, tức lướt “La Cồ” = 0 +1 = 1 = Lồ) là đất nước khổng lồ, diện tích rất lớn, nên nhấn mạnh cái lớn bằng từ lặp là Lồ Lồ, lướt “Lồ Lồ” = 1 + 1 = 0 = Lỗ. Nên đất nước của tộc Đại La gọi là nước Lỗ. Chúa của nước Lỗ nguyên gọi là Cả Lỗ. Cả Lỗ = Cao Lỗ. Sau có những đám dân lấy danh của chúa làm họ cho mình, gọi là họ Cao hay cũng có đám gọi là họ Lỗ. Cả đồng nghĩa với lớn nhất tức Đại, nên lướt từ đôi “Cả Đại” = Cái . Cái chỉ ngôi vị lớn nhất hay người lãnh đạo (người lãnh đạo làm chức năng chỉ huy nên thường gọi là “người cầm cái”), nên những con vật ở vị thế lớn nhất đều mang tên có vần “ai” của từ Cái. Ai (trùng với vần xưng “tôi” của tiếng Anh là “ai” = chữ “I”). Đó là: con người là Ai = Ngài; con cọp là Khái; con trâu là Khoai (tiếng Thái), là Vài ( tiếng Tày); gánh vác được việc nặng nhất là cái Vai hay con Voi; đồ dùng đựng nước lớn nhất là cái Vại; to như Vại thì phiên thiết thành hai tiếng Vĩ Đại (Vĩ Đại thiết Vại tức lướt “Vĩ Đại” = Vại); Vại à Voi, nên cái đựng đồ ăn lớn gọi là cái Đọi (do lướt câu thậm xưng “Đựng được cả Voi” = Đọi, đồ đựng nhỏ thì gọi là cái Chén). Tộc La là một tộc lớn đông dân nên còn gọi là La Cồ (chữ nho viết là tộc Đại La大羅). La Cồ nói lướt là “La Cồ” = 0 +1 = 1 = Lồ , đông dân nên nhấn ý nhiều bằng từ lặp Lồ Lồ, rồi lướt từ lặp “Lồ Lồ” = 1 +1= 0 = Lỗ. Chúa nước Lỗ gọi là Cả Lỗ = Cao Lỗ. Cao Lỗ xây thủ đô nước Lỗ đặt tên là Cả Lỗ, nhưng phải nói lái (để diễn đạt ý là do người âm phù hộ mà truyền cho cái tên đó, kiểu “âm phù dương trợ) thì nói lái Cả Lỗ thành Cổ Lã à Cổ Loa. Khi kinh thành Cổ Loa bị giặc vây đánh, binh giữ thành đem cối đồng (“đồng cổ” tức trống đồng) lọi cho Nổ rền như sấm, uy linh tiếng trống đồng làm cho giặc bạt vía kinh hồn mà tan chạy như bị Nỏ thần bắn vạn mũi tên mà chết như rạ. Truyền thuyết thường kể chuyện bằng tưởng tượng ra hình ảnh ví von, nên không phải là Cao Lỗ chế ra “Nỏ thần” mà thực sự là Cao Lỗ chế ra cái “Nổ như thần Sấm” (tức là cái trống đồng) mỗi khi “Lọi” (đánh) vào trống (ca dao: “Chày kình mà Lọi chuông vàng. Cho ngân tiếng ngọc, cho nàng lấy anh” ). Chày/Cối tượng trưng cho Dương/Âm. Trống đồng có tên cũ là cái Cối Vỗ, nó làm chức năng là Cổ Vũ (鼓舞) tinh thần, nên từ hàn lâm gọi trống đồng là cái Đồng Cổ (铜鼓) ám chỉ là nó được chế bằng chất liệu Đồng, chức năng dùng để Cổ vũ tinh thần. Chức năng của cái Chày là để đánh: Dương 陽 = Chưởng 掌 = Chày = Chọt = Chọi = Lọi = Lôi 擂 = Lảnh = Đánh = Đả 打 = Dã = Dộng = Động 動. Chức năng của cái Cối là chịu đánh: Âm 陰 = Im = Kìm = Kiềm 鉗 = =Cam 甘 = Cối = Lôi 雷. Lôi 雷là tiếng Nổ (chịu nén ắt nổ) của Sấm (khi điện Dương đụng vào điện Âm thì gây tiếng Nổ như Sấm). Sấm là từ dân gian viết thành Chấn 震là từ hàn lâm. Lọi là từ dân gian, viết bằng chữ Lôi 擂 thành từ hàn lâm (chữ Lôi 擂 là chữ nho kiểu tá âm, chữ có bộ Tay扌để biểu ý Đánh, và mượn chữ Lôi雷cận âm để ký âm Lọi). Cối bị Lọi thì cũng phát ra tiếng Nổ là Lôi 雷 (tiếng nổ khi chập điện gây ra hiệu ứng “tóe Lửa và vang Dội”, được nói lướt gọn thành “Lửa Dội” = Lôi雷, chữ viết kiểu hội ý bằng chữ Mây 雨trên trời ám chỉ điện Dương đánh xuống chữ Ruộng田 ở dưới đất ám chỉ điện Âm). Đánh Trống tức Lọi Cối thì Nho viết bằng chữ Lôi Cổ (擂鼓). Nhưng ở tiếng Việt dân gian thì chỉ cần đánh trống đồng tức Lọi Cối cũng đã gây ra tiếng Nổ gọi là Lôi vì cái hiệu ứng do lướt "Lọi Cối" = Lôi 雷, rất logic với "Lửa Dội" = Lôi. Đó là cái chặt chẽ tuyệt vời của ngôn từ Việt, cũng chứng tỏ rõ ràng là từ dân gian đẻ ra từ hàn lâm, chứ chẳng có cái "gốc Hán"(?!) nào cả. Sấm (là từ dân gian) tức Chấn 震(là từ hàn lâm) là hai từ đồng nghĩa cùng chỉ một hiện tượng chập điện dương với điện âm trong tự nhiên, hai từ này đều do ngôn ngữ dân gian Việt tạo ra bằng cách nói lướt cả câu: “Soạng điện dương với điện Âm” = “Soạng…Âm” = 0 + 0 = 1 = Sấm; “Chập điện dương với điện âm do kề Cận” = “Chập…Cận” = 0 + 0 = 1 = Chấn 震. Chỉ một ví dụ này cũng đủ chứng tỏ ngôn ngữ dân gian Việt đẻ ra ngôn ngữ hàn lâm Việt và chữ Nho là chữ vuông của người Việt chứ không phải là “Hán tự” hay “gốc Hán” (?!) gì cả. Qui tắc Lướt là qui tắc rất hữu dụng trong tạo từ mới của tiếng Việt. Ví dụ phân tích từ “Liểng xiểng”: Liểng xiểng là một từ của ngôn ngữ dân gian Việt. <Từ điển Tiếng Việt> chỉ giải thích ý nghĩa và cách dùng nó chứ không nêu nguồn gốc nó ở đâu ra mà có từ gọi là “liểng xiểng”, nó gồm hai tiếng đi với nhau không thể đảo ngược, nhưng không phải là từ đôi (hai tiếng phải đồng nghĩa nhau), không phải từ dính, không phải từ lặp ( hai tiếng phải đồng âm và đồng nghĩa nhau), cũng không phải từ láy. Nó thường được dùng làm hình dung từ cho động từ “thua” như “thua liểng xiểng” nghĩa là đánh trận mà bị thất bại, bì đánh cho tơi tả. Hoặc chỉ dùng từ “liểng xiểng” cũng hiểu là một tình thế thất bại, không có lối ra, mà tiếng Việt hàn lâm dùng chữ Nho chỉ tình thế ấy là “tiến thoái lưỡng nan”. Nguồn gốc từ “liểng xiểng” là do động từ “Riềng”. Riềng nguyên là danh từ chỉ củ Riềng là thứ gia vị không thể thiếu để nấu món thịt chó. (Chó bị giết chết rồi mới nấu thịt) do vậy danh từ “Riềng” chỉ gia vị củ riềng bị chuyển chú thành động từ “Riềng” mang nghĩa là đánh chết như câu “quân địch bị quân ta Riềng cho một trận nhừ tử”. Và tình thế thất bại của địch là “tiến Lên cũng bị Riềng, lùi Xuống cũng bị Riềng”, câu này đã nói lướt thành “Lên cũng bị Riềng” = Liểng , “Xuống cũng bị Riềng” = Xiểng, nên có từ dân gian là “Liểng Xiểng”, nó ngắn hơn (chỉ là một từ có hai tiếng) mà hàm ý mạnh hơn là câu mất bốn tiếng “tiến thoái lưỡng nan” của ngôn ngữ hàn lâm Việt. Tại sao người Việt lại tự xưng là “Ta”? Từ Ta trong tiếng Việt thể hiện sự quá ư tự tôn, như Hán ngữ thì gọi là “Tôn 尊 Ngã 我” thiết Ta, coi mình là nhất, vì Ta = Tất Cả thiết Ta, mà “tất cả” có nghĩa là Universal tức Vũ trụ. Tự xưng mình là “Ta” tức tự tôn mình như Trời vì từ Trời tức chữ Thiên 天 là To (chữ Đại 大) + Nhất (chữ Nhất 一). Nhất đồng nghĩa với Cả nên Đại(大) Nhất (一) = To Cả thiết Ta, do vậy mà có từ Cao Cả tức là Cao Nhất, có từ Biển Cả là nơi chứa nước lớn nhất. Thiên 天 là Đại (大 ) Nhất ( 一) tức To Cả thiết Ta. Vậy Ta cũng được coi như Thiên 天 tức như Trời. <Thuyết văn giảI tự 说文解字> giải thích chữ Thiên 天 mang nghĩa là: “chí cao vô thượng至高無上” tức cao nhất không có gì cao hơn (tức “Thượng Trên” = Thiên). Ta cũng là Thiên 天 nên Ta cũng là “chí cao vô thượng”, cao nhất không gì cao hơn. Bởi vậy mà cái gì của Ta cũng đều là hạng nhất, như Nước Ta, Quê Ta, Làng Ta, Ao Ta, Tiếng Ta, Dân Ta v.v. Đã tự tôn là hạng nhất nên chẳng cần học theo ai, làm cái gì cũng khác người gọi là làm theo kiểu Ta. Lúc đầu còn khiêm tốn tự xưng Mình là Con, tức con người. Nhưng rồi tự cho rằng con người thông minh hơn muôn loài nên thêm từ Minh 明 vào lướt thành “Con Minh 明” = Kinh 京 (gồm Đầu亠 + Mình 囗 + Chân Tay 小). Rồi tự xưng Ta là một “Kinh 京 Dân民” = Quân. Từ Quân cũng chính là một “Cá Nhân” = Quân, hay cũng là một “Công Dân” = Quân, hay một “Con Dân” = Quân. Nhưng Quân tự coi mình là một người dân làm quan cho chính mình, nên nói lướt “Dân 民 làm Quan 官” = Doãn 尹. Từ Doãn chuyển chú thành nghĩa là tự trị lý mọi việc, nhưng theo mệnh lệnh cua bộ óc, nên gọi là Lệnh Doãn (trở thành tên gọi một chức quan trị lý một vùng thời phong kiến), biểu ý từ Lệnh bằng chữ Khẩu 口 ghép vào với chữ Doãn 尹 thành ra chữ Quân 君. Lúc này từ Quân 君 đã trở nên chuyển chú thành chỉ một chức (vốn trước chỉ là “Cá Nhân” = Quân, là một Con người) được ghép với từ Chủ 主 thành chữ Quân Chủ 君主, hay ghép với từ Vương 王 thành chữ Quân Vương 君王 để chỉ chức Chúa hay Vua cúa một vùng. Vốn xưa “Con Dân” = Quân, tức cùng một NKN con người: Tử 子 = Tu 子 = Cu = Kô 子 = Con = Kinh 京 = Quân 君 = =Dân 民 = Nhân 人= Nhà = Gia 家 = Giả 者 = Ta = Ngã 我 = Người. Thì đến khi xuất hiện chức Quân Vương 君王, Quân Chủ 君主thì Vua và Dân đã khác xa nhau, như chế độ Quân Chủ 君主 khác xa chế độ Dân Chủ 民主. Chữ nho cổ là từ Việt. Chú thích: chữ trong ngoặc vuông là [phát âm] của Hán ngữ hiện đại đọc chữ nho.Nôi khái niệm viết tắt là NKN. Sách Thuyết văn giải tự viết tắt là < TVGT>. Ví dụ: 1/ Nạo [nao] ( 孬 ) biểu ý kiểu hội ý là Không Tốt (Bất 不 Hảo 好). Bất Hảo tức là Nỏ Hảo, lướt “Nỏ Hảo” = 1+1 = 0 = Nạo 孬. NKN phủ định: Nỏ (tiếng Nghệ) = Nai (tiếng Nhật) = No (tiếng Anh: “nâu”). Theo Dịch lý thì Dương = 1 = Phải (khẳng định), Âm = 0 = Nỏ (phủ định). NKN: Phải = Hai (tiếng Nhật) = Hầy (tiếng Nghệ) = Hầy (tiếng Quảng Đông). Phủ định là lướt “Nỏ Phải” = Nai (tiếng Nhật). 2/ Mi [ mi] ( 覓 ) biểu ý kiểu hội ý là Không Thấy (Bất 不 Kiến 見). Không thấyà mò à nhấn lướt “Mò Chi!” = Mi 覓à nghĩa là “kiếm mồi” như con vịt đi mò ốc 3/ Nại Tải [nài dài] (褦襶)nghĩa là Không Biết gì. Nai tiếng Nhật nghĩa là Không Bộ Y 衣 = Áo à chuyển chú chỉ cái Vỏ. Năng tải 能戴 [néng dài] là Biết, thêm bộ Vỏ 衣thì thành Không Biết(褦襶[nài dài]), vì chỉ là Biết cái Vỏ chứ không biết thật Nai (tiếng Nhật) thuộc âm cũng như Nái thuộc âm, trong khi Đực thuộc dương. Thời mẫu hệ thì bên Nái chính là bên Nội (Nái à Nội) còn bên Đực mới là bên Ngoại. <TVGT>: “ Người nước Kinh Sở đọc chữ Nữ là [nái]”. Còn di tích trong tiếng Thượng Hải hiện đại gọi “奶奶 [Nải Nai]” nghĩa là bà nội. Lướt “Nải Nai” = 1 + 0 = 1 = Nái 4/ Mụ [mủ] 姥 chữ hội ý là Bà (女) Lão (老) nghĩa là Bà Già 5/ Chữ Bỉ 鄙nghĩa là Nói tục, do nhấn lướt “Bòi 貝Chi之!” = Bỉ 鄙 6/ Chữ Bội悖 [bèi] nghĩa là nói Sai,nói Sai (tức nói không đúng sự thật) gốc do tiếng Việt dân gian gọi là nói Bậy.Chữ Bội Hối 悖晦 [bèi hùi] của tiếng Việt hàn lâm có nguyên nghĩa là nói Sai (Bội悖) và nghĩa Tối (tức Hối晦- do lướt từ đôi “Hôn 昏Tối” = Hối晦) chuyển chú thành nghĩa Lẩm Cẩm trong tiếng Việt dân gian , là do vì chữ Hối 晦đã có nghĩa là Tối, mà Tối là thuộc Âm nên có từ lướt “Lời Âm” = Lẩm và “Kêu Âm” = Cẩm. Thành ra Bội Hối悖晦 = Lẩm Cẩm. Tiếng Việt dân gian còn nhấn mạnh thành từ Bậy+(lướt nhấn “Bậy Dã!” = Bạ) = Bậy Bạ. “Nói Tầm寻 Bậy悖 Tầm 寻 Bạ” nghĩa là toàn tìm cái sai mà nói. Xui người khác làm Sai thì gọi là Xui Bậy, rồi còn nhấn mạnh hơn đó là lướt lấy dấu “Xui Thối” = Xúi, và lướt lấy dấu “Bậy Đểu” = Bẩy, nên có từ mới nhấn mạnh hơn đó là từ Xúi Bẩy.(Hán ngữ dùng từ [慫恿songyong] chỉ khái niệm Xúi Bẩy).So sánh hàm ý nhẹ nặng khác nhau giữa Xui Bậy với Xúi Bẩy để thấy được giá trị của dấu thanh diệu, từ dấu thuộc âm (Xui Bậy) – ý nhẹ hơn, sang dấu thuộc dương (Xúi Bẩy) – ý nặng hơn, với hàm ý là Xui nhiều lần tức lướt từ lặp “Xui Xui” = 0 + 0 =1 = Xúi,logic với lướt “Xui Thối” = Xúi; và Bậy nhiều lần tức lướt từ lăp “Bậy Bậy” = 0 + 0 = 1 = Bẩy, logic với lướt “Bậy Đểu” = Bẩy. Lướt lấy dấu (còn gọi là Lướt lủn) thể hiện cả trong từ dân gian, cả trong từ hàn lâm Việt. Ví dụ: 1/ Hoa màu đỏ, nói lướt lủn “Hoa Đỏ” = Hỏa. Từ “hỏa” này không có nghĩa là lửa, mà nó ám chỉ hoa đỏ, do vậy hàn lâm đã theo phương pháp “giả tá” mượn chữ Hỏa 火(nghĩa là Lửa) cận âm để thay cho từ lướt “Hoa Đỏ” = Hỏa, như từ dân gian “Hoa Đỏ của cây lựu” được gọi bằng từ hàn lâm là “Lựu Hỏa 榴火” 2/ Quẻ Ly là hướng Xích đạo, xứ nóng tức xứ “Viêm炎 Nhiệt熱” = Việt粵Quẻ Ly tượng Lửa nên NKN: Ly = Lửa = lướt nhấn “Lửa Ạ!” = “Lửa Dã也!” = La = Lả = Tá = Hà 霞 = Hạ 夏= Hè = Hẹ = Hỏa 火= lướt từ lặp “Hỏa火 Hỏa火” = 1+1= 0 = Hoa華. Như vậy là tộc con cháu của Đế Viêm – Thần Nông là tộc ở xứ nóng của quẻ Ly là “Viêm Nhiệt” = Việt à tộc Việt àtộc Laà tộc Hạà(tộc Hak-Ka) à tộc Hà à tộc Hẹà tộc HèàHoa Hạ華夏(nghĩa hai chữ Hoa Hạ là: người Hoa 華vốn là người Hạ夏, tức cũng vốn là người Việt粤). 3/ Qúi Hơn = Qúi Hẳn = lướt “Qúi 貴Hẳn很” = Qủi鬼. Giả tá mượn chữ Qủi鬼 cận âm để chỉ từ “quí hẳn” giá trị hơn từ Qúi貴. Tương tự mượn chữ Phụ 父(người cha) cận âm để thành chữ Phủ 父(chỉ ông già) nên người ta thường hỏi thăm nhau “ông già mày còn khỏe không?” thay cho câu “bố mày còn khỏe không?” 4/ NKN: “Chót Cùng窮” = Chung 終= lướt “Cùng窮 Hết” = Kết 結= “Toàn全 niên 年Kết結” = Tết = Tốt 卒= Tất 毕= lướt “Hết Tất毕” = Hất 訖 = lướt “Hết Toàn” = Hoàn完 = lướt “Hoàn完Tất毕” = Hất訖. Chữ Hất 訖nghĩa là đã xong 5/ Chữ Tịnh靚nghĩa là làm đẹp, do hội ý chữ Kiến 見 (là thấy tức Tỏ) với chữ Thanh青 (là trẻ tức Xinh) rồi đọc bằng lướt “Tỏ見Xinh青” = Tịnh 靚 = Thấy見 Trẻ 青 = làm đẹp 6/ Lướt “Dối Xác” = Dạc (lợn “dạc” – lợn to xác nhưng chưa béo) 7/ Tổ khảo = lướt “Khuất去 Lão老” = Khảo考 (ông tổ đã chết) 8/ Tổ tỷ = lướt nhấn “Tốt卒 Chi之!” = Tỷ妣 (bà tổ đã chết) 9/ Yên tĩnh = Mật 宓 = do đọc lướt “Miên 宀Tất必” = Mật宓 [mi] 9/ Mù chột =do đọc lướt “Mắt 目Thiếu少” = Miểu 眇[ miao] 10/ Không tốt = Bất 不Hảo好 = lướt “Nỏ不 Hảo好” = Nao 孬 10/ Chữ Tiều樵 [qiáo] = lướt “Cây 木Thui焦” = Củi 樵 (Mộc 木 Cháy焦 tức Cây để Đốt). Tiều phu樵夫nghĩa là người hái củi. NKN: Cây = Cọc = =Mọc = Mộc (đều chỉ dùng một chữ 木 để biểu đạt, chữ木này tiếng Nhât vừa đọc bằng phiên âm chữ nho Việt là Môkư = Mộc, vừa có thể đọc bằng tiếng thuần Nhật là Ki = Cây, cây hoa lan con mới nảy ra gọi là “Ki” trong tiếng Việt dân gian, tức do gọi lướt “Cây Tí” = Ki). NKN: Cháy = Chiếu = [Jiao焦Tiêu] = Thiêu = Thui, nên Mộc 木Cháy焦 = “Cây木 Thui焦” = Củi 11/ Ngọc cừ = do lướt “Cườm 玉Cứ据” = Cừ 琚 [jù琚] 12/ Chữ Thạnh晟 = “Thịnh 盛 Ánh英” = “Thịnh盛 Ánh 日” = Thạnh 晟 [shèng晟] (nghĩa là giàu 盛và sáng日) 13/ Cỏ Rậm viết bằng chữ Bồng Thảo蓬草, rồi lướt “Bồng蓬 Thảo草” = =Bảo葆, nên chữ Bảo 葆(mới do lướt mà tạo ra, viết kiểu hình+thanh, hình là bộ Thảo艹, thanh là mượn âm của chữ Bảo保) có nghĩa là Cỏ Rậm (một chữ mới Bảo 葆thay cho hai chữ cũ Bồng蓬Thảo草) Cùng kết hợp các qui tắc Lưỡng hợp, Chuyển chú, Lướt, cũng tạo ra từ mới cho tiếng Việt. Ví dụ: 1/ Rừng, vì có nhiều cây, nên Rừng chuyển chú chỉ ý là Rậm, Rậm viết thành từ hàn lâm là chữ Lâm (đúng NKN: Rừng = Rậm = Lâm). Cũng logic với lướt từ đôi “Rừng là Lâm” = “ Rừng Lâm” = Rậm.Cách viết chữ Lâm như sau: Đầu tiên lấy chữ Mộc木 là một cây (Mộc 木cũng từng chuyển chú thành động từ Mọc 木vì cây nào cũng phải mọc lên mới thành cây, dịch lý dùng chữ Mộc 木chỉ phương Đông là nơi thấy mặt trời mọc). Ghép thêm một chữ Mộc nữa thành hai đã là số nhiều, nên chữ Lâm 林biều ý nhiều cây,chuyển chú thành nghĩa là Rừng.Mô tả rừng sâu thì dùng từ Thâm深, hay nhấn là Thăm Thẳm深深, hay dùng từ đôi Sâu Thâm nhưng lướt thành một tiếng mới là “Sâu Thâm” = Sâm森, viết kiểu chỉ sự bằng 3 cái cây (đúng là hình ảnh “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”). Có từ hàn lâm mới Sâm Lâm森林 nghĩa là rừng sâu thăm thẳm. 2/ Từ Thước Thước đo trong tiếng Việt chỉ vật cụ thể làm chuẩn để đo lường. Người Việt đã chọn cái chuẩn nhất là cái “Theo Nước” = Thước鑠. Vì mặt nước là chuẩn nhất cho mặt phẳng hay để lấy thăng bằng khi so sánh cao thấp.Chữ Thước鑠 này viết bằng hội ý là Nước樂 Vàng金 (nước quí như vàng, cũng như trong kỹ thuật thì sự chính xác là quí nhất). Ở đây Nước viết bằng chữ Lạc樂 (do NKN: Nước = Nác = Lạc, vì nước đem đến mát mẻ, nên Lạc 樂chuyển chú thành vui vẻ); Vàng viết bằng chữ Kim金. Chữ Thước 鑠 này được chuyển chú thành ý là “Kim金 loại nung chảy thành Nước 樂”, chuyển chú tiếp chỉ “sự tôi luyện – tư dưỡng” của con người: Có được rèn luyện mới trở thành con người ngay thẳng và công minh như cái Thước 鑠. Người Việt cổ đại sống trên dải đất mà nay gọi là Đông Nam Á, theo Dịch lý là kéo dài từ phương quẻ Ly tượng lửa (Ly = Lửa = Lả = La = Ló = Tỏ = Đỏ , màu ngũ hành là màu Đỏ) tức phương Nóng = Hong = Hồng (gần xích đạo). Cho đến phương quẻ Khảm tượng nước (Khảm = Nam = Nậm = Nước = North = Nác = Lạc = Lầm = Thâm = Thui = Túi = Tăm = =Đậm = Đen, màu ngũ hành là màu Đen) tức phương Lạnh = Canh = Căm Căm = Kim. Dải đất ĐNA ấy chính là đất Hồng Lạc sinh ra con cháu Lạc Hồng. Và cái kim từ chỉ phương hướng gọi là cái La – Canh. Biển Đông tức biển Đông Nam Á cổ xưa gọi là La Hải 羅海(tức là biển của nước Đại La大羅) hay gọi là Nam Hải南海 (tức là biển của nước Đại Nam大南). Mà chữ Nam 南viết hội ý là Cung 冂 Hạnh 幸 thiết Canh 京, đồng thời cũng là Hạnh 幸 Cung冂 thiết Hùng雄 (nghĩa là nước của người Kinh của các vua Hùng). Mà âm của chữ Nam 南 là “Khảm = Nam = Nặm = Nậm” với nghĩa là “Nước” của ngôn ngữ Tày-Thái. Chưa từng có tên trong sử sách nào của phương Đông gọi biển ĐNA là “biển của nước Đại Hán” cả. Con chim Thước 鵲(chỉ con chim khách hay chim báo hỉ, gọi là Hỉ Thước喜鵲) là con chim “ThấyTrước” = Thước. Nó thấy trước và báo cho người trong nhà biết sắp có khách đến nhà. Một chữ Thước 爍 nữa mang ý nghĩa là lưu lại ánh sáng, tức làm cho “Thấy Được” = Thước 爍. Chữ này có kết cấu dương âm là Lửa 火 Lạc 樂. Đọc thiết “Lạc樂Lửa火” = Lưa, logic với lướt “Lưu lại ánh Lửa” = Lưa (tiếng Nghệ thì “Lưa” nghĩa là còn, do NKN: Lưa = Thừa剩, tức còn thừa) 3/ Chữ Ý là đẹp, cũng có nghĩa là cái âm thực khí (người nguyên thủy quan niệm nó là đẹp vì muôn loài đều chui ra từ đó). Chữ Ý 懿 gồm Nhất 壹 và Thứ 次 Tâm心. “Thứ 次Tâm心” = Thâm (sâu). “Tâm 心Thứ次” = =Tư (của riêng). Lướt từ đôi “Đẹp Ý” = Đĩ. NKN: Yoni (tiếng Chăm) = lướt “YoNi” = Ý = Đĩ = Hi (tiếng Tày) = Ki rê Y (đẹp, tiếng Nhật) = lướt “Ki rê Y” = Kĩ 妓 (kĩ nữ) = Pi (tiếng Đài Loan) = Pizda (tiếng Nga). Tiếng Việt thì Âm/Dương = 0/1 = Lép/Chắc. Đĩ thuộc Âm tức thuộc Lép, nên lướt từ đôi “Đĩ Lép”= Đẹp. Họ Đậu và chữ Đậu Sách <Bách gia tính> nói họ Đậu có gốc từ họ Cơ 姬 từ thời Chu 周. Họ Cơ 姬 xuất xứ ở dòng sông Cơ = sông Cả (nhấn “Cơ 姬Dã也!” = Cả), xứ nóng (Cơ 姬 là Thần 臣 Nữ 女 thiết Thử 暑 - nóng). Đất Thanh, Nghệ có nhiều người họ Đậu. Sách <Thuyết Văn Giải Tự> nói ý nghĩa của chữ Đậu là đồ đựng thịt khi ăn của người cổ đại (古代吃肉时用的盛器 – cổ đại ngật nhục dụng thì đích thịnh khí), chữ tượng hình gồm bốn thưng (四升 tứ thăng) + bộ khẩu (口) thành chữ Đậu (豆). Từ giải thích – định nghĩa này về chữ Đậu 豆 sáng tỏ một điều là sở dĩ chữ ấy đọc là “đậu” vì đã lướt câu “Đựng món Nhậu” = Đậu. Miếng nhậu ở đây là bằng thịt tức " miếng thịt" mà từ hàn lâm viết là "nhục khẩu" (肉 口), lướt “Nhục 肉 Khẩu 口” = Nhậu, là từ dân gian, rồi từ Nhậu chuyển chú thành động từ “Nhậu” có nghĩa nguyên thủy là nhắm rượu với thịt. Tộc người họ Đậu 豆 chắc là những người đầu tiên làm ra cái đồ đựng gọi là Đậu ấy (nó hợp logic về âm với một loại đồ đựng khác là cái Đĩa). Sách <TVGT> còn nói người Kinh Sở gọi cái Đậu là cái “Thìu” ( hợp logic về âm với một loại đồ đựng khác là cái Thìa). Về sau người ta dùng âm “đậu” và chữ Đậu 豆để giả tá cho từ cận âm là từ Đỗ, là một loại ngũ cốc, nên hạt đỗ cũng gọi là hạt đậu. Đứng tại chỗ cũng gọi lướt là “Đứng Chỗ” = Đỗ, động từ Đỗ này viết bằng mượn âm chữ Đậu cận âm thêm bộ chân 辶vào bên cạnh thành chữ ”Đỗ Lâu” = Đậu 逗, hàn lâm dùng hai chữ Đậu Lưu 逗 留 nghĩa là ở lâu hay cắm neo (Neo = Níu = Líu = Lưu留) Sấm “Vịt nghe Sấm” là một câu thành ngữ, có mỗi ba từ rất quê mùa, chỉ sự nghe mà không hiểu (do kém trí tuệ), nhưng nó nén thông tin không phải ít. Một từ Sấm trong câu thành ngữ này đã hàm chứa 2 trong 1: 1/ Sấm là tiếng động đột ngột xảy ra khi điện âm dương trong đám mây đụng nhau. Đụng viết bằng chữ Soạng 闖, tiếng ồn viết bằng chữ Âm 音. Nói lướt “Soạng 闖 Âm 音” = 0 + 0 = 1 = Sấm 辰. Vịt nghe sấm nó ngơ ngác hoảng loạn do không hiểu tiếng động đó là nguyên do gì. 2/ Sấm là ám ngữ mang nội dung tiên tri, phải giải mã mới hiểu được [Hán ngữ hiện đại gọi là “dự ngôn 预言”]. Cái nội dung sâu thâm ấy gọi bằng cách lướt từ đôi “Sâu Thâm” = 0 + 0 = 1 = Sấm 讖. <Thuyết văn giải tự> nói: 河雒所岀書曰讖 (Hà Lạc sở xuất thư viết sấm), đọc Sở Âm thiết (tức lướt: “Sở 楚 Âm 蔭” = Sấm 讖) [Phát âm theo Hán ngữ hiện đại thì là: “Suo 楚 Yin 蔭” = Sin, trật, không thành “Chèn 讖”(bởi âm “Chèn” chỉ là sự phiên âm từ “Sấm” của tiếng Việt, chứng tỏ chữ nho là của Việt, phải đọc như âm Việt nho đọc, mà không thể gọi hàm hồ đó là “âm Hán Việt” ]. Nghĩa là Hà thư và Lạc đồ cũng là những tờ “Sấm” viết bằng những ma trận ký hiệu mà phải nhờ các bậc thức giả giải mã cho thì mới hiểu được. Khi đã giải được mã, hiểu được rồi thì mới thấy nội dung nó quả thật là “Thâm Sâu” = 0 + 0 = 1 = Thấu
  3. Báo Đài Loan đưa tin cuộc bầu cử dân chủ trực tiếp kết thúc, bà Thái Anh Văn người Nam Bộ Đài Loan, ứng cử viên thuộc đảng Dân Tiến đắc cử Tổng thống Đài Loan. Sau khi cử nội các, bà có bài phát biểu trước các nhà báo quốc tế. onlineopinions@appledaily.com.tw 作者:蔡英文 2016-01-16 Web Only調整字體尺寸 民主進步黨總統候選人蔡英文今(16)日偕同副總統候選人陳建仁、競總主委陳菊、秘書長吳釗燮、總幹事蘇嘉全及執行總幹事林錫耀召開國際記者會,發表感言。 謝謝各位國內外的媒體記者朋友,感謝大家的耐心等候。 今天,台灣人用選票寫下了歷史,完成了總統直選以來第三次的政黨輪替,以及第一次的「國會政黨輪替」。我要向所有在今天走進投票所、投下神聖一票的台灣人民,致上最深的敬意。無論投票給誰,民主精神的展現,就是這場選舉最大的意義。 在2016年,我們又一次地透過民主選舉,向全世界展現做為一個民主國家的驕傲,以及身為台灣人的光榮。我們也再一次告訴了國際社會:民主的價值,已經深入台灣人的血液;民主的生活方式,更將是2300萬人永遠的堅持。 在這裡,我要感謝兩位可敬的對手,國民黨的朱主席、和親民黨的宋主席。我感謝他們,展現了民主的風度,讓這次的大選能夠順利、圓滿。而過去這段時間的相互競爭,以及他們對我很多的指教,都將會是我鞭策自己不斷進步的動力。 我相信,政黨之間除了競爭,當然也可以合作。在新國會就職,到新政府上任之間的過渡期間,民進黨會依循憲政體制和現在的政府保持密切的溝通、協調,協助政府維持交接過程中的政局穩定、和正常運作。 我也會盡快和國內主要的政黨,共同來共商國是的機制,我們也希望藉由這個國是的共商機制,能夠經常就重大政策交換意見,讓台灣擺脫政治惡鬥的舊思維,迎接「新政治」的來臨。 此外,我要感謝投票支持蔡英文、陳建仁、民主進步黨和我們立委候選人的所有選民,讓民進黨重新站起來,並且再一次把治理國家的責任交給我們。 對我來說,這不只是一場選舉的勝利。這個結果,是在告訴我,人民期待一個更願意傾聽民意的政府,一個決策更透明的政府,一個有能力解決困難、照顧弱勢的政府,一個可以把國家帶到新時代的政府,還有,一個會堅定捍衛國家主權的政府。 我說過,從今天起,就是改革的第一里路。這些託付,將會是我推動改革的最大後盾。我承諾,2月1 號就職的新國會、以及5月20號上任的新政府,都會把實現這些期待,當作最重要的使命。 我們必須誠實面對,改革不可能一步到位,台灣眼前的挑戰也不會立即消失。但是在未來4年的任期,我一定會盡全力兌現我的承諾,為台灣晉升先進國家,展開各項必要的軟硬體建設,修復過去的政策錯誤,重建人民對政府的信賴,為下個階段的台灣發展,奠定最堅實的基礎。 藉由這個機會,我也要代表台灣人民,感謝國際友人,對於台灣民主選舉的關注和支持。做為國際社會的一份子,台灣願意積極參與國際合作,台灣也願意與全世界的盟友共享利益、共擔責任,並且為區域的和平穩定,做出最大的貢獻。 在這場選戰中,我曾經多次承諾,將會建立具有一致性、可預測性、可持續的兩岸關係。做為中華民國第14任總統當選人,我要在此重申,今年5月20日新政府執政之後,將以中華民國現行憲政體制、兩岸協商交流互動的成果、以及民主原則與普遍民意,做為推動兩岸關係的基礎。我也會秉持超越黨派的立場,遵循台灣最新的民意和最大的共識,致力確保海峽兩岸關係維持和平穩定的現狀,以創造台灣人民的最大利益和福祉。 我也要強調,兩岸都有責任盡最大努力,尋求一個對等尊嚴、彼此都能夠接受的互動之道,確保沒有挑釁,也沒有意外。今天選舉的結果,是台灣民意的展現,中華民國做為一個民主國家,是2300萬台灣人民的共同堅持,我們的民主制度、國家認同、與國際空間,必須被充分尊重,任何的打壓,都會破壞兩岸關係的穩定。 最後我要強調,我知道自己有一個很重大的責任,就是去團結這個國家。 這兩天,有一個新聞撼動了台灣社會。有一位在韓國發展的台灣藝人,一個16歲的女生,因為拿著中華民國國旗的畫面,而遭到打壓。這件事,引起了不分黨派的台灣人民普遍的不滿。這件事將會永遠提醒我,團結這個國家、壯大這個國家,並且一致對外,是我做為下一任中華民國總統,最重要的責任。 台灣還會有很多的挑戰,來自外部、也來自內部。選舉已經結束,所有選舉過程中的摩擦和爭執,也應該到此為止。我會和2300萬人一起向前走,共同打敗這個國家的困境,我們不會因為選舉而分裂,而是因為民主而團結。 謝謝大家。 onlineopinions@appledaily.com.tw Trích Phát biểu của bà Thái Anh Văn tổng thống Đài Loan trước các nhà báo quốc tế: Bất luận bầu phiếu cho ai, cuộc tuyển cử lần này thể hiện rõ ý thức dân chủ của nhân dân Đài Loan, đó là ý nghĩa lớn nhất của cuộc tuyển cử này, làm cho nhân dân Đài Loan có thể hãnh diện với thế giới là chúng tôi có một quốc gia dân chủ, đó là vẻ vang của chúng tôi. Chúng tôi thể hiện cho thế giới thấy rằng giá trị của dân chủ đã ăn sâu vào máu thịt của nhân dân Đài Loan và nhân dân Đài Loan kiên trì giữ mãi lối sống dân chủ. Tôi tin tưởng rằng giữa các chính đảng ngoài cạnh tranh ra đương nhiên còn có thể hợp tác. Đối với tôi, đây không chỉ là thắng lợi của một cuộc tuyển cử mà kết quả này dạy cho tôi rằng nhân dân luôn luôn mong có một chính phủ biết nghe theo ý dân, có quyết sách minh bạch, có năng lực giải quyết khó khăn, biết chiếu cố những tầng lớp yếu, một chính phủ biết đưa đất nước hội nhập thời đại mới, nhất là một chính phủ biết kiên quyết bảo vệ chủ quyền đất nước. Tôi nhấn mạnh rằng hai bờ (Đài Loan và Đại Lục) đều phải có trách nhiệm cố gắng tối đa tìm kiếm một đường lối đối xử tôn nghiêm bình đẳng mà hai bên có thể tiếp thụ được, bảo đảm không có trục trặc. Kết quả bầu cử hôm nay là thể hiện ý dân, thể hiện Trung Hoa Dân Quốc là một quốc gia dân chủ, là sự kiên trì đồng lòng của 23 triệu người Đài Loan, chế độ dân chủ và hòa hợp quốc gia của chúng tôi phù hợp không gian quốc tế tất phải được tôn trọng đầy đủ, mọi sự chèn ép đều là phá hoại sự ổn định trong quan hệ đôi bờ. Đài Loan còn rất nhiều thử thách từ bên ngoài và trong nội bộ. Trách nhiệm lớn nhất của tôi là đoàn kết quốc gia, cùng 23 triệu người Đài Loan tiến lên phía trước. Chúng ta vì dân chủ mà đoàn kết.
  4. Kẻ La, “Ai ơi chớ lấy Kẻ La. Muối dưa thì khú, muối cà thì thâm”. Đây có lẽ là câu chê của dân Kẻ Chợ đối với dân Kẻ La, rằng văn hóa ẩm thực của họ thua kém so với Kẻ Chợ. Kẻ La là làng của dân làm lưới. Lưới, nhấn mạnh “Lưới Ạ!” = La. La chỉ riêng loại lưới dùng để đánh bẫy chim. Chữ La 羅 viết hội ý bằng chữ Võng 罒 (là lưới) và chữ Duy 維 (là Giữ Gìn; “Giữ Kín” = Gìn; “Giữ Chi 之!” = Duy 維, chữ Duy 維 viết biểu ý bằng chữ Tơ 糸 để đan lưới và tá âm bằng chữ Chuy 隹, bộ thủ Chuy 隹 có nghĩa là chim, “Chim Chi 之!” = Chuy 隹, Hán ngữ gọi chim là “Nẻo” nên Hán ngữ không có bộ thủ Chuy 隹), La 羅 để chỉ loại lưới giữ kín chim không cho chúng thoát ra, lưới bẫy chim, gọi là La 羅. Loại lưới này do người Mường làm ra đầu tiên. TVGT: 古 cổ 者 giả 芒 Mường 氏 thị 初 sơ作 tác 羅 la (xưa tộc Mường là người đầu tiên làm ra lưới bẫy chim). Vậy Kẻ La là một làng của người Mường. Tên các làng Việt xưa đều bằng hai chữ, chữ đầu là chữ Kẻ chỉ người, chữ sau thường chỉ đặc điểm hoặc địa lý, hoặc thổ sản, hoặc nghề nghiệp. Chữ nho không có chữ Kẻ, chỉ có chữ đồng nghĩa với Kẻ là chữ nhấn mạnh “Dân Ạ!” = Gia 家 và “Dân Ạ!” = Giả 者, âm tiết của chúng quá xa âm tiết “kẻ”. Do vậy phải chọn chữ nho nào cận âm hơn để phiên âm từ Kẻ. Ở vùng Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) để phiên âm từ Kẻ bằng chữ nho thì nho đã chọn chữ nào “Cận âm với kẻ Hề 兮!” = Kê 雞, nên từ Kẻ được ký âm bằng chữ Kê 雞, hoặc chọn chữ nào “Khớp âm với kẻ Hề 兮!” = Khê 溪, nên chọn chữ Khê 溪 để phiên âm từ Kẻ (nhiều địa danh bắt đầu bằng Kê 雞 hay Khê 溪, do các học giả TQ ngày nay nêu ra các ví dụ cụ thể, nhưng không lý giải được vì các vị không biết tiếng Việt). Còn ở Hà Nội thì vì Hà Nội là đất Đô (kinh đô) do vậy khi phiên âm tên các làng có từ Kẻ ở đầu thì nho đã biết rằng kẻ này là kẻ Đô đấy, nên đã theo logic “Kẻ Đô” = Cổ mà dùng chữ Cổ 古 để phiên âm cho từ Kẻ của các làng ở Hà Nội. Do vậy HN có lắm làng tên nôm là Kẻ … mà tên chữ là Cổ …, ví dụ Kẻ Noi viết chữ là Cổ Nhuế, làng Cổ Nhuế thuộc tổng Chèm, sát nách hồ Tây HN, nhưng dân làng thì vẫn nói tiếng Kinh nhưng giọng Mường, chẳng khác gì giọng Sơn Tây. Xưa xây thành có nghĩa là xây cả tường Thành, cả nhà ở ( địa Ốc), gọi chung là xây Thành 城 Ốc 屋, tức gồm Thành Lũy 城 壘 và Cư Ốc 居 屋, chứ không phải Thành Ốc 城 屋 là cái thành hình trôn ốc, mặc dù thành đắp bằng đất như con đê bao hình tròn, ví dụ đê bao của thành Đại La gọi là La Thành (bây giờ là đường La Thành trên nền đê cũ). Còn cái thành quân sự nào đó xây trên cánh đồng làng Kẻ La thì có thể chữ nho viết là Thành 城 Cổ 古 La 羅, Hán văn viết là La 羅 Thành 城, rồi viết sai ra Loa 螺 Thành 城 (thành ốc), bởi Hán ngữ phát âm La 羅 và Loa 螺 đều là “Luo”. Hai nghìn năm trước thì chắc vẫn gọi con ốc là “Ốc” chứ chưa có gọi con ốc là Loa 螺. TVGT: 抱歉,没有收录汉字“螺” : Xin lỗi, chưa có thâu lục Hán tự “Loa 螺” [ www.cidianwang.com/shuowenjiezi ]
  5. Mới có chừng nấy thôi mà đã cảm động rồi, nếu ngẫm chữ Kinh 京 là tên gọi người Kinh 京 chắc còn thấy cảm động gấp bội, mặc dù người TQ không có lý giải chữ Kinh 京, họ chỉ có từ Kinh Đô 京 都. Từ Kinh Đô 京 都 theo Hán văn thì cái đề (cái chính) đứng ở sau là từ Đô 都, cái thuyết (cái phụ) đứng ở trước là từ Kinh 京, Kinh Đô 京 都 nghĩa theo Hán văn sẽ phải là cái “Đô của người Kinh” (dù rằng từ Đô vốn là từ gốc Việt : “Đất có cư ngụ đông Hộ” = “Đông Hộ” = Đô). Nếu nói tắt thì Hán ngữ phải túm cái đề là từ Đô, đô phía Nam thì Hán ngữ gọi là Nam Đô, đô phía Bắc thì Hán ngữ gọi là Bắc Đô (giống như gọi Cần Thơ là Tây Đô là gọi theo kiểu Hán văn). Từ Kinh 京 có nghĩa đen là “Con người văn Minh” = Kinh 京, đúng như biểu ý của chữ Kinh 京 là gồm Đầu 亠 + Mảnh 囗 thân (gọi tắt theo kiểu Việt văn là túm đề là chữ đầu tiếng Việt Đông đọc là Mảnh 囗 = Vuông 囗 ) + “Túc Nhiều” = Tiểu 小 , đại diện cho chân tay. TVGT: “Kinh là cái Cao của con người” (“Cao” đây nghĩa là “Cao Minh” = “Con người văn Minh” = Kinh, chứ không phải cao là cái chiều dài của cơ thể). Cổ thư: Thi 詩 Kinh 經 và Dịch 易 Kinh 經 xưa viết bằng chữ Thi 詩 Kinh 京 và Dị 易 Kinh 京 ( tức nghĩa theo Việt văn là Thơ của người Kinh 京, vì “Thơ Chi!” = Thi 詩; và Dịch của người Kinh 京, vì “Dịch Chi!” = Dị 易). Vậy Kinh 京 có nghĩa đơn giản nhất là “con người”, vì nó là “Kẻ tự xưng là Mình” = Kinh, chỉ có người Kinh mới có nhân xưng ngôi một là Mình, nhân xưng ngôi hai là “Mình Hai” = Mày (“Mày Chứ!” = Mừ là nhân xưng ngôi hai của tiếng Thái). Viết kiểu Việt văn thì: Kẻ Nam là người Nam, Kẻ Sở là người Sở, Kẻ Chăm là người Chăm, kẻ quê là người sống ở quê, kẻ chợ là người sống ở chợ, kẻ Đô là người sống ở “Đất đông Hộ” = Đô, từ Kẻ Đô viết bằng chữ nho là Kinh Đô 京 都. Kinh Đô 京 都 chuyển nghĩa thành chỉ thành phố đầu não của cả nước, gọi tắt kiểu Việt văn thì túm chữ đầu (cái đề) là Kinh 京. Kinh Đô phía Nam gọi tắt là Kinh Nam, Kinh Đô phía Đông gọi tắt là Kinh Đông. Hán ngữ đã dùng những chữ nho chỉ địa danh ấy nhưng gọi theo kiểu Hán văn thì ngược lại là Nam Kinh 南 京, Đông Kinh 東 京. Sau nhà Kim cũng dựa theo cách gọi đó mà gọi thủ đô của họ là Bắc Kinh. Cổ đại nếu những đất như Nam Kinh, Đông Kinh là của người Hãn thì sao không gọi là Nam Hãn, Đông Hãn (tương tự như nước Tây Hán, nước Đông Hán) mà lại gọi là Nam Kinh, Đông Kinh?
  6. Vào mạng 《Tân bản Trung Quốc địa đồ 》 bằng cách dán cái nhãn 《 新版中国地图 》 này vào Google, xem bản đồ thứ 2 từ phải sang trái. Khắc xem khắc thấy lố!
  7. 外交部:没必要过多解读新版中国地图(实录) 2014年06月25日18:03 中国新闻网 评论中大奖(91人参与) 收藏本文   中新网6月25日电 据外交部网站消息,外交部发言人华春莹25日主持例行记者会,就中方出版新版中国地图、印度副总统安萨里访华等答问。以下为外交部网站公布的答问实录:   问:中方日前出版了新版中国地图,同比例尺全图显示南海部分。中方这样做的用意是什么?   答:我注意到有关报道。中国地方地图出版机构编制出版各种版本的中国地图,目的是为了服务公众,没有必要对此做过多的解读。中国政府在南海问题上的立场是一贯和明确的,没有任何改变。 Thông tin trên báo điện tử Bộ ngoại giao TQ, người phát ngôn của Bộ NG, bà Hoa Xuên Oánh ngày 25/6 đã chủ trì cuộc họp báo. Trả lời câu hỏi: “Hôm trước TQ xuất bản Bản đồ Trung Quốc mới, hiển thị bộ phận Nam Hải cùng một tỉ lệ xích với toàn đồ. Trung Quốc làm việc này với dụng ý gì?”. Trả lời: “Tôi có chú ý tới thông tin liên quan. Cơ quan xuất bản bản đồ địa phương của TQ xuất bản các loại Địa đồ Trung Quốc, mục đích là để phục vụ công chúng, chẳng cần phải xem và phân tích quá nhiều về những cái đó. Lập trường của chính phủ TQ với vấn đề Nam Hải là nhất quán và rõ ràng, không có bất kỳ thay đổi nào. Bà Oánh bị ngọng vì câu hỏi của ký giả (“Ngạnh Họng”= Ngọng), không trả lời được về cái bản đồ có đường lưỡi bò, nên đổ vấy cho là các địa phương xuất bản. Rồi cố vớt cứng “lập trường nhất quán của chính phủ TQ…” Cái bản đồ lưỡi bò chính thức Bản đồ quốc gia của Trung Quốc đã được xuất bản đầu năm 2013. Coi bài báo dưới đây. Dịch đoạn đầu với đoạn cuối thôi nha Bản đồ Trung Quốc mới, lần đầu tiên thể hiện các đảo ở Nam Hải trên cùng một tỉ lệ xích với Đại Lục Bản đồ Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc toàn đồ 《中 华人民共和国全图》, Trung Quốc địa hình 《中国地形》 là do tập đoàn xuất bản bản đồ độc quyền quốc gia TQ phát hành. Trong những bản đồ mới này, lần đầu tiên các đảo ở Nam Hải được thể hiện trên cùng một tỉ lệ xích với Đại Lục, nhằm bảo vệ chủ quyền trên biển với đầy đủ chứng cứ trực quan. Không như các bản đồ cũ, trong bản đồ mới này các đảo ở Nam Hải (toàn bộ trong đường lưỡi bò có vẽ trên bản đồ) cùng với Đại Lục liền thành một mảnh. 新版中国地图首次将南海诸岛与大陆同比例展示 2013-01-11 15:13 来源:中国广播网我要评论 资料图:新编竖版《中国地形》地图 中广网北京1月11日消息(记者张庶卓)记者今天(11日)在国家测绘地理信息局了解到,国内首套全景展示中国陆海疆域的地图——新编竖版《中 华人民共和国全图》《中国地形》近日由中国地图出版集团独家最新推出。这套地图作为国家版图系列挂图的一部分,首次将南海诸岛与大陆同比例展示出来,为维 护我国海洋权益提供了更直观有力的证据。   在2013新版《中华人民共和国全图》中,以往在横版中国地图里作为缩略图放在右下角的“南海诸岛”插图,此次被全面展示出来。它将南海诸岛与大陆连在了一起,在图上可以清楚地看到南海诸岛内的主要岛屿、岛礁,以及与周边岛国、岛屿、岛礁的地理位置关系。   新编竖版中国地图编辑周北燕告诉记者,在原来的横版地图中,右下角南海诸岛仅作为插图,只有主图比例尺的二分之一,不可能标注很多,只能标注东 沙群岛、西沙群岛、中沙群岛、南沙群岛、永兴岛、黄岩岛、曾母暗沙等大的岛屿岛礁,很大一部分岛屿岛礁被忽略。而在此次推出的竖版地图中,南海诸岛和大陆 的比例尺是相同的。在1983年原中国地名委员会授权公布的《我国南海诸岛部分标准地名》中,共计标准地名287个,竖版中国地图标示了130多个主要岛 礁,这样就给读者一个更完整、直观的中国陆海疆域概念。   周北燕还特别指出,在新版《中华人民共和国全图》左下角还有一幅放大的钓鱼岛插图,较详细地表示了钓鱼岛及其附属岛屿与祖国大陆及台湾岛的位置关系。   此次同时推出的还有配套的竖版《世界地图》、《世界地形》以及分省挂图,有两全开和一全开两种规格,分别有覆膜和折叠两种形式可供选择。竖版地图直观性、装饰性更强,适合企事业单位、学校及家庭张挂。1月底,这套竖版地图产品将在全国范围内和公众见面。 对于读者比较关注的竖版中国地图与常见的横版中国地图相比有何特点,周北燕告诉记者,在同一开幅的幅面上竖版地图比横版地图的比例尺要小些,横 版比竖版的陆地展现得更大一些,而竖版海域展现得更直观、完整、详细。“在竖版地图设计编制过程中,我们尽量去弥补竖版地图陆地表示版面相对小的问题,除 居民点极稠密的省份,如河北、河南,个别县级居民点未表示外,其他省份县级居民点都标示出来了。在中国的北部和西部等省份,还标示了部分乡镇。读者最关心 的河流、居民点、界线、山脉、山峰、铁路、高速公路路网、国道路网等内容,也都标示出来了。竖版地图的优点在于全景展示了中国政区、地形特点和地理单元, 更加直观、一览性强、装饰效果好。”   对于新编中国地图的推出,中国地图出版集团总编辑徐根才对记者表示,竖版中国地图是国家版图的最佳表现形式。它首次将我国陆域和海域连为一体展 示出来,使公众对我国疆域分布有直观完整的印象。我国的海洋国土从没有这么完整的展示出来,尤其是明确标示了南海诸岛的主要岛屿、岛礁以及与周边岛国、岛 屿、岛礁的地理位置关系,而不是挤在角上成为插图。这对于提高全民的国家版图意识,维护我国海洋权益,彰显我国政治外交立场,具有十分重要的意义。 中国地图出版集团原副总编辑陆用森认为,竖版中国地图在编辑意识上有很大创新,首次以海陆一体的新形式直观展现中国。更为重要的是,它纠正了大 部分国人认为“我国版图是东西更宽而不是南北更长”的错误观念,让大家能正确地了解中国陆海疆域分布,增强海洋意识,自觉维护国家版图尊严。 Nguyên phó tổng biên tập Tập đoàn xuất bản địa đồ TQ, ông Lục Dụng Sâm cho rằng biên tập địa đồ Trung Quốc dọc này là một sáng tạo rất lớn để nâng cao ý thức hải dương cho người dân TQ, thấy rõ phân bố cương vực lục hải của TQ mà gột bỏ nhận thức sai lầm xưa nay của đại bộ phận dân chúng là cái hình bản đồ TQ chiều ngang dài hơn chiều dọc. Mà bây giờ phải tăng cường ý thức hải dương, phải nghiêm túc tự giác bảo vệ bản đồ quốc gia, là cái chiều dọc của ló dài hơn nhiều nần cái chiều ngang.
  8. Coi Trung cọng đòi dạy Việt cọng: (bài của Từ Hiểu Uy đăng trên Nhân Dân nhật báo bản hải ngoại) Dương Khiết Trì sang VN đàm phán biển Đông, khuyên VN hãy sớm quay đầu 杨洁篪访越谈南海 奉劝越南早日回头 372 字号:TT 2014-06-19 08:25:00 来源:人民日报海外版 责任编辑:徐晓威   在越南强力干扰中国公司在西沙群岛海域正常作业、导致紧张态势不断升级之时,中国国务委员杨洁篪前往越南,与越方举行中越双边合作指导委员会团长会晤。会谈中,中越双方均表示对双边关系的重视以及管控海上局势的意愿。一度剑拔弩张的南海局势稍稍得以缓解。 在当前中越关系出现波折、南海局势敏感紧张时期,中国高层官员借此平台与越南沟通,足见中方诚意和善意。中越双边合作指导委员会的成立,是基于 中越两国最高领导人在2006年达成的共识。双方委员会主席有举行年度会晤的做法。在当前越南单方面造成中越关系困局的背景,中国国务委员访越赴会,反 映出中国对两国合作历史、两党友谊以及人民感情的珍惜,也体现中方通过对话和沟通解决问题的意愿。   中国也是再次给越南提供悬崖勒马的机会。此前,中国已多次严正声明,西沙群岛是中国固有领土,不存在任何争议,要求越南停止对中方作业的干扰。 同时,中国反对越南将问题扩大化、复杂化、国际化。但越南一意孤行,在错误的道路上越走越远。此次杨洁篪在会谈中,再次对越南明确底线、晓以利害。中国希 望越南放弃不切实际的野心,停止制造新的争议,管控分歧,避免对双边关系造成更大伤害。   中国用心苦,奉劝越南“浪子回头”。但越南能否与中国相向而行仍是未知。就在杨洁篪访越前夕,越南总理阮晋勇要求国内减小对中国经济依赖。此 外,越南惯于利用与域外公司进行油气勘探合作的手段来“固化”其攫取的海洋权益,目前在此方面仍乐此不疲。而在国际仲裁问题上,越南也摩拳擦掌、跃跃欲 试。   尽管越方在委员会团长会晤中表示愿意遵守两国领导人就妥善处理双边关系中的敏感问题、避免使之干扰两党两国关系全局达成的重要共识,但 鉴于历史经验,越南仍让人心存疑虑。就在去年中国国家领导人访越之际,越南还与中国确认,将认真落实两国达成的指导解决中越海上问题的基本原则协议。一年 时间不到,越南就将承诺抛之脑后。更远些,在西沙主权问题上,越南出尔反尔的行径早将自己降格为“国际信誉等级极低”的国家。 此次会晤后,国际社会且看越南能否言行一致。 Trong khi VN ráo riết quấy nhiễu cty TQ tác nghiệp bình thường trên biển khu vực Tây Sa dẫn đến xung đột ngày càng nâng cấp, Dương Khiết Trì đến VN đàm phán với phía VN, hai bên biểu thị tôn trọng quan hệ hai nước và kiềm chế cục diện trên biển, dần dần hạ nhiệt thế cục để giải quyết lâu dài. Trong sóng gió quan hệ hai nước trước mắt, thời kỳ nhạy cảm trong cục diện biển Đông, quan chức cấp cao TQ dùng diễn đàn này để trình bày với phía VN thiện ý và thành ý của phía TQ. Uỷ ban hợp tác song phương được thành lập là dựa trên thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước đã ký kết năm 2006. Chủ tịch ủy ban của hai bên đã có những cuộc họp hàng năm. Trong tình cảnh do VN đơn phương tạo nên khó khăn cho quan hệ hai nước hiện nay, việc sang VN của Dương Khiết Trì thể hiện lịch sử TQ luôn hợp tác với VN, thể hiện TQ luôn quí trọng hữu nghị giữa hai đảng và tình cảm giữa nhân dân hai nước, cũng thể hiện TQ luôn mong muốn đối thoại và hiểu nhau để giải quyết vấn đề. TQ cũng một lần nữa cho VN một cơ hội vàng. Trước đây TQ đã nghiêm khắc tuyên bố quần đảo Tây Sa là lãnh thổ cố hữu của TQ, không tồn tại bất kỳ tranh chấp nào, yêu cầu VN dừng ngay quấy nhiễu TQ tác nghiệp. Đồng thời TQ phản đối VN khuyếch đại hóa, phức tạp hóa, quốc tế hóa vấn đề. Nhưng VN vẫn cứ độc hành, càng đi càng trượt xa trong sai lầm. Lần này Dương Khiết Trì trong hội đàm một lần nữa vạch rõ cho VN nhìn thấy lợi hại. TQ mong VN hãy từ bỏ dã tâm không thiết thực, dừng ngay việc tạo mới các tranh chấp, biết kiềm chế, tránh tạo ra tổn thương càng lớn cho quan hệ hai nước. TQ dụng tâm lương khổ, phụng khuyên VN “lãng tử hồi đầu”. Nhưng VN có đi cùng hướng với TQ hay không thì chưa rõ. Ngay trước ngày Dương Khiết Trì sang VN, Thủ tướng VN Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu trong nước hãy giảm bớt sự ỷ lại kinh tế vào TQ. Ngoài ra VN còn có thủ đoạn lợi dụng các cty nước ngoài hợp tác thăm dò dầu khí để củng cố quyền lợi trên biển, trước mắt vẫn không mệt mỏi trong chiều hướng này. Còn trong vấn đề kiện ra tòa quốc tế thì VN cũng đang tấp tểnh muốn thử chơi. Mặc dù trong hội đàm, phía VN biểu thị mong muốn tuân thủ thỏa thuận của lãnh đạo hai nước xử lý song phương những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ hai nước, tránh gây rối đến nhận thức chung đã đạt được về toàn cục quan hệ hai đảng hai nước, nhưng theo kinh nghiệm lịch sử thì VN vẫn làm cho người ta lo lắng. Thì chính vừa năm ngoái đây thôi, khi lãnh đạo TQ thăm VN, VN còn xác nhận với TQ rằng sẽ nghiêm túc thực hiện hiệp định đã thỏa thuận về nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển giữa hai bên. Chưa được một năm, VN đã vội vứt bỏ lời hứa đó khỏi đầu óc. Xa hơn tí nữa, trong vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, VN thể hiện là một nước tự hạ thấp danh dự quốc tế của chính mình. Sau lần hội đàm này, để coi, dư luận quốc tế sẽ thấy là VN có thực làm như nói hay không.
  9. Hồng Lỗi trả lời tại cuộc họp báo của Bộ Ngoại Giao TQ ngày 22/5/2014 (Báo Hoàn Cầu)   问:据报道,正在菲律宾访问的越南总理阮晋勇21日称,越南和菲律宾对中方违反国际法的许多做法导致当前形势极其危险深表关切,双方决心反对中方违反国际法的做法,呼吁其他国家和国际社会继续强烈谴责中方。中方对此有何评论? 答:5月2日以来,越方持续非法强力干扰中方企业在中国管辖海域的正常作业,严重侵犯了中方的主权、主权权利和管辖权,对航行自由和地 区和平稳定也造成了严重影响。中方反复要求越方立即停止干扰中方作业并撤离船只。但越方不仅继续干扰中方作业,还纵容国内涉华游行和打砸抢烧暴力活动,造 成中方重大人员伤亡和财产损失,现在又在国际上到处歪曲事实,混淆视听,对中国进行无理指责。谁在南海制造紧张,谁在破坏南海的和平稳定,谁在挑衅他国的 正当权益?事实胜于雄辩。越方现在需要和应该做的是,立即停止对中方作业一切形式的干扰,严惩打砸抢烧暴力犯罪分子,赔偿中方人员和企业的损失,确保中方 在越机构和人员的安全。 Hỏi: Theo báo , Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của VN đang thăm Phi ngày 21/5 nói Việt và Phi quan ngại sâu sắc tình hình cực kỳ nguy hiểm bởi những vi phạm luật pháp quốc tế của TQ ở Biển Đông, hai bên quyết tâm phản đối TQ vi phạm luật pháp quốc tế ở Biển Đông, kêu gọi các nước và các tổ chức xã hội quốc tế tiếp tục kịch liệt lên án TQ. Đối với việc này TQ có bình luận gì? Hồng Lỗi: Từ ngày 2/5 đến nay VN liên tục dùng sức mạnh quấy rối xí nghiệp đang tác nghiệp bình thường trong vùng biển thuộc TQ quản hạt, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền quản hạt của TQ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tự do hàng hải và hòa bình ổn định khu vực. TQ nhiều lần yêu cầu VN dừng ngay các hành động quấy rối tác nghiệp của TQ, rút hết các tàu ra khỏi khu vực. Nhưng VN không những vẫn tiếp tục quấy rối tác nghiệp lại còn dung túng cho biểu tình bài Hoa và bạo động đập phá gây thương vong cho người TQ và tổn thất nghiêm trọng tài sản của người TQ, bây giờ lại còn đi khắp thế giới bóp méo sự thật, xáo trộn nghe nhìn, chỉ trích vô lý TQ. Ai gây nên căng thẳng ở Biển Đông, ai phá hoại hòa bình ổn định ở Biển Đông, ai khiêu khích quyền lợi chính đáng của nước khác? Sự thực thắng ở hùng biện. Cái mà VN cần và phải làm bây giờ là lập tức dừng mọi hình thức gây rối TQ tác nghiệp, nghiêm trị phần tử bạo loạn đập phá, bồi thường cho nhân viên và xí nghiệp TQ bị tổn thất, bảo đảm an toàn cho nhân viên và các cơ quan TQ tại VN. 问:越方还称,将考虑对中方采取包括法律手段在内的一系列措施。中方对此有何回应? 答:西沙群岛是中国固有领土,不存在任何争议。 Hỏi: VN còn nói sẽ xem xét một loạt các biện pháp bao gồm cả thủ đoạn pháp luật. TQ sẽ có đối sách thế nào với việc này? Hồng Lỗi: Quần đảo Tây Sa là lãnh thổ cố hữu của TQ, không tồn tại bất kỳ tranh chấp nào.
  10. Theo PingguoRibao Đài Loan 凱道湧50萬人 林飛帆:馬總統立即出面回應 Như đã báo trước của Tổng chỉ huy Phong trào sinh viên Lâm Phi Phàm, là ngày chủ nhật 30/3 sẽ tiếp tục biểu tình. Ngày hôm nay có 500 ngàn người đang biểu tình tại Đài Bắc, đông nghẹt trên quảng trường và các ngã tư lớn dẫn đến quảng trường. Lúc 15.26 phút giờ Đài Bắc, Lâm Phi Phàm đã lên đọc diễn văn, đòi Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu phải lập tức ra mắt trả lời cho quần chúng 4 yêu cầu: Rút lại thỏa thuận thương mại với Đại Lục, chế định một cơ chế thẩm tra, lập pháp trước thẩm tra sau, triệu tập hội nghị hiến chính công dân. Lâm Phi Phàm nhấn mạnh hiện đã có 500 ngàn người đang biểu tình ở đây, và hô khẩu hiệu đòi Tổng thống Mã phải lập tức ra mắt trả lời, với sự đồng thanh hô to khẩu hiệu của 500 ngàn quần chúng biểu tình: “Ra mắt trả lời! Ra mắt trả lời! Nhân dân đại đoàn kết! Nhân dân đại đoàn kết! “
  11. Theo nghiên cứu nào mà có các ý kiến nhận xét của các bạn mạng trên một mạng TQ [ club.kdnet/dispbbs…] dưới đây: 2014/1/8 10:19:47 现在基因研究也表明,华夏最重要的一支就是经由缅甸再到青藏高原——河西走廊,黄土高原——中原的。Nghiên cứu gen ngày nay đã chứng minh rằng một chi chủ yếu của Hoa Hạ là từ Miến Điện lên cao nguyên Thanh Tạng, đó là hành lang phía tây, cao nguyên hoàng thổ chính là Trung Nguyên. 2014/1/8 10:39:08 越南是最正宗的华夏,日本算不上,日本只是旁支. Việt Nam là Hoa Hạ chính tông nhất, Nhật Bản không bì được, Nhật Bản chỉ là chi thứ. (Tổng hợp hai ý kiến trên thì có nghĩa là: Hoa Hạ ở Trung Nguyên hoàng thổ là Hoa Hạ lai Việt, còn chính tông Việt thì là ở Việt Nam ?)
  12. Vén sương mù phủ trên lịch sử Bách Việt Bài của 张天韵Trương Thiên Vận 张天韵01-08-2013 W: Quảng Tây tân văn 广西日报数字报刊 - 广西新闻网 (lược dịch) Vào những năm 70 thế kỷ trước tại huyện Điền Đông tỉnh Quảng Tây phát hiện được 8 ngôi mộ cổ thời Xuân Thu, cổ vật dưới mộ toàn là đồ đồng và đồ ngọc, chủ yếu là trống đồng và dao găm đồng. Trống đồng là totem của các tộc người vùng Tây Nam TQ và Đông Nam Ấ, có ngôn ngữ và tập tục gần gụi nhau, họ là hậu duệ cùng tông tộc của tiên nhân Bách Việt. Người Việt cổ đã từ Lĩnh Nam phát triển, đem ngôn ngữ và văn hóa đi bốn hướng Đông Tây Nam Bắc trong thời gian vài ngàn năm, hình thành nên Bách Việt.《汉书•地理志》曾说:“自交趾至会稽七八千里,百越杂处,各有种姓” Hán thư địa lý chí từng nói: Tự Giao Chỉ đến Cối Kê bảy tám ngàn dặm, Bách Việt tạp ở, các hữu chủng tính. 广西、广东、云南、贵州、福建、台湾、浙江、安徽、上海、湖北、湖南、江西等地区,当年都生活着百越族人. Theo sử thư ghi chép, tại các nơi của TQ ngày nay như Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến, Đài Loan, Triết Giang, An Huy, Thượng Hải, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây v.v. thời đó đều là người dân tộc Bách Việt sinh sống. Giáo sư Phạm Hoằng Qúi 范宏贵 Đại học dân tộc Quảng Tây nghiên cứu khảo cổ nhiều năm cho rằng các tộc người có totem trống đồng là có cùng cội nguồn Bách Việt, hậu duệ của họ như ngày nay phân bố rất rộng 今,百越族的后裔分布非常广泛,从广西、广东、云南、贵州、湖南、海南等省区,到东南亚的越南、老挝、泰国、缅甸等国家,远至印度东北部的阿萨姆邦广大地区 từ Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Qúi Châu, Hồ Nam, Hải Nam v.v. đến các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Lào, Thái Lan, Miến Điện, xa đến tận bang A Sam ở đông bắc Ấn Độ. Những năm 80 thế kỷ trước, khảo cổ Quảng Tây khai quật di chỉ thành cổ bằng đất tại thôn Bách Ngân, Tường Châu, huyện Điền Đông, gọi di tích đó là “thành cổ Bách Ngân”. Thành xây bằng đất, móng rộng 12 mét, đoạn di tích thành cao 4 mét, quanh thành có hào nước bảo vệ, đây là thành quân sự. Di tích này minh chứng cho cuốn sách Lĩnh Ngoại Đại Đáp do Châu Khứ Phi soạn năm 1178 thời Nam Tống, kể rất kỹ về kinh tế, phong tục, sinh hoạt, sản vật , tài nguyên của vùng Lĩnh Nam tức Lưỡng Quảng ngày nay, là một trước tác quan trọng cho nghiên cứu lịch sử dân tộc 成书于1178年的《岭外代答》由南宋周去非所撰,记载了宋代岭南地区即今天两广一带的社会经济﹑少数民族的生活风俗,以及物产资源﹑山川﹑古迹等情况,成为民族历史研究非常重要的著作. Theo sách này ghi, đương thời vùng Quế Tây ngoài các con sông đường thủy còn có tất cả bốn con đường bộ, nối liền Vân Nam, Qúi Châu, Quảng Tây, Quảng Đông và vùng Đông Nam Á. Trong sách có địa danh Hoàng Sơn Trại, quyển ba viết: Trung Quốc thông đạo Nam Man tất phải từ Hoàng Sơn Trại. Năm 2011 giới khảo cổ Quảng Tây tiến hành khai quật một di tích cổ thành, thu được tiền bằng đồng thời Tống như Hoàng Tống Thông Bảo, Thánh Tống Thông Bảo, Nguyên Phong Thông Bảo…Sau đó ở khu vực lân cận còn thu được nơi tích tụ bát sứ chứng tỏ đây là khu phố buôn bán, đây chính là trung tâm thương mại mà trong sách Lĩnh Ngoại Đại Đáp nói cái tên Hoàng Sơn Trại. Giao thông thời đó đã khá phát triển, có bốn con đường qui tụ tại Hoàng Sơn Trại là đường từ Điền Đông đến Nam Ninh, đường đến Trinh Phong Qúi Châu, đường đến Miến Điện, đường qua Bảo Đức đến Việt Nam. Thời đó Tống Cao Tông đang chống kịch liệt quân Kim, lùi đến Hàng Châu khôi phục Tống triều, gọi là Nam Tống. Lịch sử Nam Tống chủ yếu là chống quân Kim xâm lăng, nhưng quân Tống thiếu ngựa chiến vì con đường lên Tứ Xuyên, Cam Túc, Thiểm Tây mua ngựa đã bị quân Kim chặn. Bởi vậy phải mua ngựa từ Đại Lý cách xa một nghìn km đưa lên, thời đó dân gian gọi ngựa đó là “quảng mã”. Lái ngựa dong được ngựa từ Vân Nam đến Điền Đông thì ngựa đã gầy còm. Họ buộc chân ngựa lại, cho ăn hai cân muối, rồi thả chăn vỗ béo lại rồi mới bán. Gần Hoàng Sơn Trại có thôn tên là Bình Mã chính là nơi xưa tập kết chọn ngựa. Lại có thôn Thượng Pháp mà tiếng Choang có nghĩa là Thợ Sắt, có di tích nhiều vũ khí, đó là nơi rèn khí giới và móng ngựa để giao cho quân đội nhà Tống. Sách trên có nói: ngựa Mán đến, rồi hàng hóa khác cũng đến ùn ùn. Hoàng Sơn Trại đúng là trung tâm giao dịch thương mại thời bấy giờ, nó tồn tại sầm uất được 300 năm. Đến năm 1259 vó ngựa kỵ binh Mông Cổ kéo đến, 6 vạn quân Tống ở Hoàng Sơn Trại chống quân Mông Cổ, thương vong nặng nề, thành phố nổi tiếng một thời Hoàng Sơn Trại bị san bằng thành bình địa, chỉ còn lại dấu tích ngày nay là những đoạn vỡ vụn rời rạc. Từ đó nó bị chôn vùi dưới lớp bụi đất. Nhưng con đường “Bách Việt cổ đạo” thì vẫn còn tồn tại. Ngày nay nó hồi sinh bằng hình thức mới, là hệ thống giao thông hiện đại kết nối các nền kinh tế, kết nối các dân tộc gần gụi huyết thống, ngôn ngữ, văn hóa.
  13. Cầu rồi còn phải thực thi Nói gì làm nấy đến khi quả thành: Quất Đủ Dừa Cầu Sung Sung Đủ Dừa Cầu Bầu Bầu Cầu Đủ Vú Bơm Bơm Cầu Dừa Đủ Sữa
  14. “中国百越民族史研究会第十六次年会暨岭南民族文化学术研讨会”,因故变更会议时间。现正式时间为2013年12月2—4日,会议地点在广州中山大学人类学系。 日程:12月2日:报到; 12月3—4日:学术研讨与考察 12月5日: 离会 主题: “岭南考古与民族文化”。拟设议题: (1)广东及华南百越考古研究的新发现、新进展; (2)南越、西瓯、骆越等岭南越族的历史、语言与文化; (3)岭南越族与海洋文化的关系; (4)越族文化的传承与岭南地区当代民族、社会与文化; (5)百越民族史的其他学术课题。 费用:往返差旅费自理,住宿费、伙食费、考察费等由会议举办方承担。 Hội nghiên cứu lịch sử dân tộc Bách Việt của Trung Quốc thông báo lại chính thức ngày họp Hội thảo lần thứ 16 tại khoa nhân loại học Đại học Trung Sơn Quảng Châu là từ 2 đến 4 tháng 12 năm 2013. Chủ đề của Hội thảo là “Khảo cổ Lĩnh Nam với văn hóa dân tộc”, gồm các tham luận đã đăng ký: (1) Phát hiện mới, tiến triển mới trong nghiên cứu khảo cổ Bách Việt ở Quảng Đông và Hoa Nam; (2) Lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa của Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt và Việt tộc nói chung vùng Lĩnh Nam.; (3) Quan hệ của Việt tộc Lĩnh Nam với văn hóa biển; (4) Sự kế thừa văn hóa Việt tộc với xã hội, văn hóa của các dân tộc đương đại vùng Lĩnh Nam; (5) Các luận văn học thuật khác về lịch sử dân tộc Bách Việt.
  15. Nghiên Cứu 研 究 và Cứu Cánh 究 竟 là những từ gốc Việt chứ không phải là từ gốc Hán. Nghiên Cứu 研 究 Nghiên là quá trình Nghiền lâu dài cho đến kết quả cuối cùng. Nôi khái niệm Nghiền=Nghiên=Nghiện. Nghiền là cái động tác xay bột gạo nước bằng cối đá có thớt nghiền và mâm nghiền, như hai hàm răng nhai Ngấu Nghiến những hột gạo đã ngâm nước cho mềm. Kết quả cuối cùng của Nghiền là Chín ( số 9, trọn vẹn của cửu cung hay 9 ô). Nho viết Chín (số 9) bằng chữ Cửu 九. Chín trọn vẹn tức Cửu lắm, lướt lủn “Cửu Lắm”= Cứu 究. Nghiền nhiều thì “Nghiền Nghiền” = Nghiên 研 (biểu ý lấy Đá 石 mà “Khẻ Mãi”= Khai 开), 1+1=0. Nghiên là quá trình mần một việc cho đến kết quả cuối cùng. Kết quả cuối cùng phải là cái còn lại, là “Kết Lưu”= Cứu, đó là chữ Cứu 究 mà nho viết chữ Cứu 究 biểu ý bằng chữ Cửu 九 (chín) và chữ Huyệt 穴 (là khi gạo xay đã thành bột nước chảy xuống dưới huyệt, đọng lại “Kết Lưu”= Cứu ở đó). Nghĩa bóng theo biểu ý thì quá trình Nghiên Cứu là mần để đến kết quả cuối cùng, được hay là hỏng thì cũng là kết quả, nhưng đến lúc đủ “chín” đó thì người nghiên cứu cũng đủ “Kết Tuyệt”= Kiệt sức để có thể xuống huyệt. Nghiện là cứ ham một thứ hoài tức “Nghiền Nghiền”= Nghiện, 1+1=0, cuối cùng không được kết quả cũng được hậu quả, kết quả hay hậu quả cũng đều xuống huyệt (quả chắc hay quả lép cũng cuối cùng là rụng xuống đất hết). Cứu Cánh 究 竟 Cứu Cánh là Cuối Cùng = Cứu Cánh = Kết Quả. Chia tương quan Dương/Âm thì được Đầu/Đuôi tương ứng Có/Cuối tương ứng Ló/Lặn như mặt trời Tỏ/Tận trong một ngày. Tiếng Việt có 6 thanh điệu, chia đều hành hai nhóm Dương (nhóm 1) và Âm (nhóm 0). Chẳng phải ngẫu nhiên mà mỗi Quẻ dịch được tạo thành do 6 Kẻ (Kẻ=Thẻ=Thể). Mỗi Kẻ là một Gạch thẳng (liền hoặc đứt, liền tượng Dương, đứt tượng Âm). Nhấn mạnh động tác vẽ nên cái Gạch là “Gạch Đi!”= “Gạch Chi 之!”= Ghi. Nôi khái niệm: Ghi = Ký 記 = Kê 計 = Kế 計 = Kể. Sắc thái riêng của Kể là bằng lời, “Lời Kể”=Lể, nên có từ đôi Kể Lể để nhấn mạnh ý “nhiều”. Cái nét Kẻ (mềm hóa thành Kẻ=Vẽ) của quẻ dịch là cái Gạch = Vạch = Hoạch 劃 (Dao刂 khắc nên bức Họa 畫). Tất cả những từ có viết bằng chữ nho đều là những cái tố Việt, gọi là “Từ Ổ”=Tố. Ổ là cái Lõi (nhấn mạnh “Lõi Chi 之!”= Lí, nghĩa là bên trong) của cái NÔI khái niệm Việt. Những từ ghép như Hoạch Định 劃 定, Kế Hoạch 計 劃, Thống Kê ,統 計, Hội Kế 會 計, Kế Toán 計 算 v.v. dùng trong Hán văn đều là những từ có tố gốc Việt. Trong các Kẻ tạo nên Quẻ dịch thì ký tượng Dương bằng “Kẻ Liền”=Kiền=Càn,tượng 1. “Một Liền”=Miên=”Một Càn”=Man. Từ đôi Miên Man ý là liền tù tì không hề đứt. Mềm hóa thì Đứt=Dứt. “Đứt hoàn Toàn”=Đoạn. Đứt Hết = Đoạn Tuyệt. Ký tượng Âm bằng “Kẻ Đứt”=Cứt, tượng 0. Từ Cứt nghĩa là phủ định Không, trẻ con trước tuổi mẫu giáo vẫn biết như vậy. Cứt=Vứt=Vất=Bất 不 ,đều là từ phủ định. Nỏ=Bỏ=Bố (tiếng Tày)=Bất 不 , đều là từ phủ định. Nhấn mạnh “Bất Chứ!= Bu, Hán ngữ dùng từ này, phát âm “Pu 不” khi đọc chữ nho Bất 不. Mô là không, Cứt là không, lướt từ đôi “Mô Cứt”=Mứt=Mất=Thất失, hay “Mô Bất”=Mất=Thất失. Mứt=Mất tương tự như Nhứt=Nhất, tương ứng với Mô (0) và Một (1). Mai-Một là từ dính lấp lửng giữa Mô và Một, nói lên quá trình vật thể đang bị Mòn dần cho đến mất hẳn, nếu không được “ Kéo Níu”=Kíu=Cứu 救 gíữ lại. Từ Cứu 救 mà chữ nho viết vốn là một từ Việt của dân sông nước. Khi người hay vật bị nước cuốn trôi, người ta cố kéo níu lại, “Kéo Níu”=Kíu=Cứu 救 để vớt lên. Nên mới có từ Cứu Vớt mà không có từ Vớt Cứu. Hán ngữ đã phát âm mềm hóa từ Kíu của tiếng Việt là “Chiu 救” khi họ đọc chữ nho Cứu 救. Vật nào cũng có cái Da=Giỏ=Vỏ=Vách=Vành=Thành để bọc nó thì nó mới Thành cái vật thể nguyên chỉnh. Giống như trứng gà, nó hình thành từ trứng trước mới đến vỏ sau, là cái “Cuối Thành”= Cạnh, nhấn mạnh cho tròn thì là ‘Cạnh Cạnh”= =Cánh, 0+0=1. Trứng đến khi thành vỏ cứng mới là giai đoạn Cuối Cùng = Cứu Cánh = Kết Qủa, để có được quả trứng. Cây lúa sinh trưởng cũng đến giai đoạn Kết Qủa là giai đoạn Cuối Cùng của chu kỳ sinh trưởng của nó. Chỉ còn chờ cho đến khi vỏ hột lúa tức cạnh nó chín là hột lúa sẽ rụng để bắt đầu lại chu kỳ mới. Lướt lủn “Cạnh Chín”= Cánh, là bước cuối cùng. Đủ Chín là trọn vẹn ( 9 ô của cái bánh chưng do 4 sợi Lạt Hồng chia ra). Đủ số sợi lạt đó ( “Lạt mềm buộc Chật”= Luật) thì mới Níu giữ được cái bánh chưng có đủ 9 ô. “Của Chín”= Kín là đủ trọn vẹn 9 ô. Níu=Neo=Lẹo=Lưu (Lẹo Nhau = Lưu Giao, Hán ngữ dùng ngược là Giao Lưu. Có tục mới nên thanh. “Đời cha cho chí đời con, Đẽo vuông rồi lại đẽo tròn mới nên”). “Chín ô được Níu”= Chỉu. “Của Chỉu”=Kỉu=Cửu. Chữ nho Cửu 九 chỉ con số 9. Hán ngữ đọc chũ nho Cửu九 là “Chỉu 九”. Mặt Trời (Blơi=Lời=Trời) trong một ngày đều Đông Ló, Tây Lặn. Tây Lặn = Tây Lận = “Tây Tận”= Tần (vị trí nước Tần ở con số 9 , phía tây, trong chín ô của bản đồ dịch học). “Tần gây ra đánh Nhau”= Tàu. Hán ngữ phát âm chữ Tần 秦 là “Chín”, chữ Tận 盡 là “Chịn”. Nhưng có tiếng Việt nhấn mạnh “Chín A!” mới thành “China” do người Ấn Độ nghe sai. Sau Tây cứ thế theo người Ấn mà gọi Tàu là China.