• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

sapa

Hội viên
  • Số nội dung

    253
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by sapa

  1. Chào anh, Thiên Sứ Chỉ vì đọc ở đoạn này của anh: nên thiết nghĩ anh sẽ hỏi lại đó mà. Đọc lại hết, thì vâng, anh đã tỏ rõ ý kiến: và hoàn toàn đồng ý với anh đoạn sau đây: Thế là chúng ta nhất trí thông qua: 4 màu là BẤT KHẢ THI, phải không! Nhân đây, đăng lên 3 quốc gia có nhiều lằn ranh biên giới với trên 10 nước để anh tham khảo: có khi phải dùng đến 6 màu ... Sapa
  2. Chào anh, Thiên Sứ Một câu chót của anh đã nói hết! Lý Học Đông Phương không thể dùng 4 màu để vẽ bản đồ các quốc gia trên thế giới. Nếu như Còn tiếp, thì anh phải hỏi cho rõ về nội dung bản đồ như thế nào? Như là dùng màu để phân biệt lãnh thổ thì 5 màu tối thiểu cũng không thể vẽ nốt những nước tiếp giáp láng giềng hơn 4 nước. Sapa
  3. Chào anh, Thiên Sứ Xem bài này hơi trễ, sáng giờ gần 3 tiếng mới giải xong. Cửu cung phi tinh đi theo Lường Thiên Xích nên bị cố định và giới hạn thì không thể dùng trong lối Ô Toán Số này. Anh có thể dùng "cửu cung phi tinh" để thiết lập MẬT MÃ cho riêng anh chứ bài giải này phải giải bằng cách khác. [8][3][4]*[7][5][1]*[9][2][6] [5][7][6]*[2][8][9]*[4][1][3] [9][2][1]*[4][3][6]*[5][7][8] *********************** [3][5][7]*[6][4][2]*[8][9][1] [1][6][9]*[8][7][5]*[2][3][4] [4][8][2]*[9][1][3]*[6][5][7] *********************** [7][4][5]*[3][2][8]*[1][6][9] [6][1][8]*[5][9][7]*[3][4][2] [2][9][3]*[1][6][4]*[7][8][5] Sapa
  4. Chào anh, Thiên Sứ Nếu vậy, vẫn còn thiếu màu TUYẾT TRẮNG của 2 cực: Nam và Bắc. Chúng ta hãy khoang đem Lý học Đông phương vào bài toán: Bạn hãy chứng minh rằng chỉ cần 4 màu khác nhau là có thể minh họa một bản đồ thế giới. Vì là, nhìn từ bên ngoài TRÁI ĐẤT trong không gian ta sẽ thấy hình ảnh bao quát tóm gọn về: đất đai (nâu TRUNG DUNG, không non không xậm), cây cối (xanh lá cây TRUNG DUNG, không non không xậm), sông ngòi biển cả (xanh dương TRUNG DUNG, không non không xậm ) và tuyết (trắng). Nếu như anh muốn đi vào chi tiết ranh giới của từng quốc gia thì ta có thể xử dụng một vài nguyên tắc căn bản về DIỆN TÍCH và hình học ĐA GIÁC. Vì mỗi một quốc gia thường có một DIỆN TÍCH ví như một hình ĐA GIÁC do giáp ranh với nhiều quốc gia láng giềng khác vây. Do đó, trong hình học một ĐA GIÁC tối thiểu là có 3 cạnh như hình TAM GIÁC đóng kín mới có thể tính ra được DIỆN TÍCH của nó. Thế nên, tối thiểu là 4 màu được xử dụng và nghĩ đến trong bài toán là điều hiển nhiên: 1 màu trong hìn TAM GIÁC + 3 màu từ 3 GIÁC làm ranh Oái ăm thay, có nhiều quốc gia lại giáp ranh tới trên 10 quốc gia khác thì bị giới hạn bởi 4 màu khác nhau là điều BẤT KHẢ THI. Như vậy, anh có dùng đến 7 trong 8 màu ứng với Bát Quái cũng khó mà ĐỦ! Chẳng lẽ căn bản của bài toán đòi hỏi LÔNG RÙA, SỪNG THỎ mà chúng ta cứ phải bận tâm chăng? Sapa
  5. Chào anh, Thiên Sứ Nếu trong trường hợp chỉ có 2 màu (đen/trắng) thì lẽ tất nhiên phải dùng đến hàng trăm sắc độ nhưng nó chỉ có thể tạo nên nền bóng tương phản hình dạng chứ không thể "minh họa" rõ nét như 4 màu mà Sapa đề kiến. Có thể, anh sẽ nghĩ phải có nhiều sắc độ khác nhau cho 4 màu đó nhưng lấy ví dụ (nước/đại dương): 4. Màu blue - đại dương, nước có những sắc độ là xanh dương lợt (vùng cạn), xanh dương đậm (vùng sâu) và từ xanh dương lợt đến đậm còn nhiều gam màu xanh dương nữa; nhưng ta vẫn có thể lấy cái màu xanh dương có gam màu TRUNG DUNG để "minh họa" cho màu xanh của nước biển. Đồng thể ấy, màu brown của đất đai, núi đồi, sa mạc có rất nhiều gam màu của brown nhưng ta vẫn có thể chọn gam màu TRUNG DUNG cho nó. Như vậy, ta sẽ chỉ có một sắc độ duy nhất tiêu biểu cho một màu ấy mà thôi. Anh nghĩ như vậy có phù hợp với tiêu chuẩn đề ra cho bài toán đó không? Sapa
  6. Chào anh, Hà Uyên Đương nhiên, chúng ta sẽ tôn trọng quy ước vì mỗi quốc gia nào đều cũng có 4 màu làm chủ chốt định lượng: 1. Màu green - cây, cỏ (bao nhiêu cây, bao nhiêu cỏ, bao nhiêu phần %) 2. Màu brown - đất đai, đồi núi, sa mạc v.v... (bao nhiêu đất đai, bao nhiêu đồi núi, bao nhiêu sa mạc, bao nhiêu phần %) 3. Màu white - tuyết vùng nam cực, bắc cực (chỉ là những băng tảng và nước thì sẽ không có màu 1 và 2) 4. Màu blue - đại, nước (hải phận cũng tùy kích cở của quốc gia, bao nhiêu phần %) và như vậy, không có quốc gia nào giống quốc gia nào về con số, phần trăm về 4 đại lượng mầu sắc ở trên, anh nhỉ? Cùng góp ý, trao đổi tìm câu trả lời - không cho là đồng quan điểm với anh hay với tất cả các bạn. Sapa
  7. Chào anh, Hà Uyên Rất tiếc là anh Kyte đã lâu chưa lên tiếng lại để xác nhận nhưng anh ấy đã có viết như sau: "... xếp các con số lại cho thành tương sinh nhưng ngũ hành các phương vẫn không thay đổi". Do đó, lý giải của ảnh về những cặp số (1-6, 3-8, 2-7, 4-9) đang ở phương nào thì mang hành của phương đó sẽ được nhất quán và không có gì gọi là sai, nhưng bạn VinhL thấy sai là do bạn ấy có định kiến về ngũ hành của các con số hơn là ngũ hành các phương nên mới thấy sai là vậy. Anh Hà Uyên thử xét xem, khi tính tiểu hạn mà Nam hay Nữ đều bắt đầu từ một cung nào đó rồi đề danh 12 con giáp để khởi thuận nghịch là điều tất yếu; như không thì nam hay nữ đâu có khác gì nhau, phải không? Nói lại về vòng Trường Sinh, thật ra còn 1 cách khác ngoài 3 cách mà VinhL đề ra; đó là, ví dụ: Thủy cục - Tràng sinh cứ an theo như các anh truyền thống từ cung Thân thứ tự theo chiều kim đồng hồ đủ hết từ Sinh đến Dưỡng. Ta cũng biết: dương nam âm nữ khởi hạn thuận khởi thì tất nhiên đã cùng chiều với vòng an Trường Sinh (thuận) và âm nam dương nữ khởi hạn nghịch khởi thì tất nhiên cũng đã nghịch chiều với vòng an Trường Sinh rồi; hà cớ gì phải xếp đặt lại vòng Trường Sinh bằng 3 cách mà VinhL đã đề ra. Như vậy, anh Hà Uyên có ý kiến gì ở đây không? Có thêm cách thứ 4 nữa cho rộng đường thảo luận hay lại càng rắc rối thêm, anh Hà Uyên nhỉ!? Sapa
  8. Chào các bạn, Các bạn thử xem coi cái hình với màu sắc này có phải tóm gọn lại là 4 màu được không? 1. Màu green - cây, cỏ 2. Màu brown - đất đai, đồi núi, sa mạc v.v... 3. Màu white - tuyết vùng nam cực, bắc cực 4. Màu blue - đại dương, nước Tìm tòi góp ý, Sapa
  9. Chào bạn, VinhL VinhL duyệt lại xem, có phải VinhL đề ra: Sẳn đây VinhL xin đem sự giải thích mà nhiều người cho là hợp ly căn cứ vào Hà Đồ Lạc Thư và Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương. 4 Tốn Thìn Tỵ…….…..9 Ly Ngọ…………2 Khôn Mùi Thân 3 Chấn Mão…..………5………….………7 Đoài Dậu 8 Cấn Sửu Dần……….1 Khãm Tý…….….6 Càn Tuất Hợi (*) thì căn cứ Hà Đồ là như thế nào? (*) thì là căn cứ ở Lạc Thư ra sao? (*) thì căn cứ vào Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương là ...? Thử xét, (*) thì căn cứ Hà Đồ là như thế nào? Hà Đồ có từng cặp số (1,6), (2,7), (3,8), (4,9) và (5,10) vị chi là 5 nhóm. (*) thì là căn cứ ở Lạc Thư ra sao? Lạc Thư có cửu cung thứ tự như sau: [4][9][2] [3][5][7] [8][1][6] (*) thì căn cứ vào Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương là ...? Phối Bát Quái vào vị trí của Lạc Thư cửu cung phương vị như vầy: [4: Tốn][9: Ly][2: Khôn] [3: Chấn][....5....][7: Đoài] [8: Cấn][1: Khảm][6: Càn] và VinhL còn dùng đến cả Thập Nhị Địa Chi để phối hợp chung mà chưa nhắc đến nữa đó. Thế nhưng, VinhL có tra ngũ hành vào cho các con số, cửu cung phương vị hay Bát Quái gì đâu mà rồi: Dương Thủy: Sinh tại Thân 2 (Khôn) Mộ tại Thìn 4 (Tốn) = 2+7+6+1+8+3+4=31, 1 là Dương Thủy theo Hà Đồ. Âm Thủy: Sinh tại Thân 2 (Khôn) Tử tại Sửu 8 (Cấn) = 2+9+4+3+8=26, 6 là Âm Thủy theo Hà Đồ. thì với một người "chân to chân bé" (có lý do) chứ lý ra là "chân ướt chân ráo" sẽ bắt không kịp những gì VinhL nói như phán vậy. Tuy nhiên, Sapa hiểu được những gì VinhL viết như trên và sâu xa hơn nữa là bài viết đó của VinhL có liên quan gián tiếp đến bài viết của anh Kyte. Cho nên, Sapa mới góp ý với VinhL về ngũ hành giống như sĩ tốt của ngũ hành kỳ là; Quân cờ ĐEN (HẮC - Thủy) có (1 tướng, 6 quân) v.v... trấn giữ ở Thành phía BẮC Quân cờ XANH LÁ CÂY (THANH - Mộc) có (3 tướng, 8 quân) v.v... trấn giữ ở Thành phía ĐÔNG Quân cờ ĐỎ (XÍCH - Hỏa) có (7 tướng, 2 quân) v.v... trấn giữ ở Thành phía NAM Quân cờ TRẮNG (BẠCH - Kim) có (9 tướng, 4 quân) v.v... trấn giữ ở Thành phía TÂY Quân cờ VÀNG (HOÀNG - Thổ) có (5 tướng, 10 quân) v.v... trấn giữ ở Kinh đô tại TRUNG TÂM Có nghĩa màu cờ sắc áo chẳng qua là mặc định cho các đạo quân trấn giữ ở tứ phương và tâm điểm phương vị; chứ có khi tướng lĩnh và quân binh do thuyên chuyển hoặc không muốn làm quân cờ ĐỎ đổi sang làm quân cờ TRẮNG hoặc ngược lại thì tướng lĩnh và quân binh đó không có tính chất mang quân phục cố định (đó là ngũ hành) vậy. Cho nên, hy vọng VinhL hiểu với sự góp ý trên để nhìn ra cách lý giải của anh Kyte. Nếu thế thì những gì VinhL viết tiếp sau đây và ở trên gộp lại (sửa chữ Hà Đồ thành Ngũ Hành Phương Hướng) sẽ dễ dàng để nhận biết và không có gì là không hợp lý cả: Dương Thủy: Sinh tại Thân 2 (Khôn) Mộ tại Thìn 4 (Tốn) = 2+7+6+1+8+3+4=31, 1 là Dương Thủy theo Ngũ Hành Phương Hướng. Âm Thủy: Sinh tại Thân 2 (Khôn) Tử tại Sửu 8 (Cấn) = 2+9+4+3+8=26, 6 là Âm Thủy theo Ngũ Hành Phương Hướng. Dương Mộc: Sinh tại Hợi 6 (Càn) Mộ tại Mùi 2 (Khôn) = 6+1+8+3+4+9+2=33, 3 là Dương Mộc theo Ngũ Hành Phương Hướng Âm Mộc: Sinh tại Hợi 6 (Càn) Tử tại Thìn 4 (Tốn) = 6+7+2+9+4 = 28, 8 là Âm Mộc theo Ngũ Hành Phương Hướng Dương Hỏa: Sinh tại Dần 8 (Cấn) Mộ tại Tuất 6 (Càn) = 8+3+4+9+2+7+6=39, 9 là Dương Kim theo Ngũ Hành Phương Hướng Âm Hỏa: Sinh tại Dần 8 (Cấn) Tử tại Mùi 2 (Khôn) = 8+1+6+7+2=24, 4 là Âm Kim theo Ngũ Hành Phương Hướng Dương Kim: Sinh tại Tỵ 4 (Tốn) Mộ tại Sửu 8 (Cấn) = 4+9+2+7+6+1+8=37, 7 là Dương Hỏa theo Ngũ Hành Phương Hướng Âm Kim: Sinh tại Tỵ 4 (Tốn) Tử tại Tuất 6 (Càn) = 4+9+2+7+6=22, 2 là Âm Hỏa theo Ngũ Hành Phương Hướng Hiểu được vì sao VinhL cho là không hợp lý bởi chưng bám giữ ngũ hành cố định cùng với các con số đó vậy, có phải không? Lẽ tất nhiên, chân VinhL size X thì chỉ mang vừa với giày size X; anh Kyte có chân size Y và anh ấy muốn làm giày size Y để mang cho vừa và Sapa chỉ là thợ đóng giày cho hai vị dựa theo kích tấc của các vị chứ có GỌT CHÂN cho nó vừa nó hợp đôi giày ai đâu. Sapa
  10. Chào anh, Hà Uyên Nhận thức của anh về mô hình ở trên theo toán học thì điều đó rất đơn giản để thấy quy luật cộng trừ kia. Nhưng anh khá cẩn thận với giả thiết sau đây: Mô hình toán học ở trên tồn tại một quy ước là bất cứ con số nguyên (integers) nào đặt vào trung cung thì đều cho một giá trị tổng số (dọc/chéo/ngang) nào đó. Ví dụ: con số 7 ở trung cung [06][11][04] [05][07][09] [10][03][08] cho ta tổng số là: 21. Ví dụ: con số 5 ở trung cung [4][9][2] [3][5][7] [8][1][6] cho ta tổng số là: 15. Do đó, mô hình của Lạc Thư chẳng qua là bảng cửu chương 3 qua công thức: Số nguyên (nhập trung cung) X 3 = tổng số (dọc/chéo/ngang) Cho nên anh đừng hy vọng những cặp số sinh-thành như (1-6), (3-8), (4-9), (2-7) sẽ xảy ra ở trên cửu cung thông qua những con số khác nhập trung cung. Thật ra, để có đúng vị trí cho những cặp số sinh-thành như khi Trung cung là số 5 thì chỉ có những con số: 5, 15, 25, 35, 45 v.v... chứ là 10, 20, 30, 40 v.v... thì những cặp số sinh-thành tự nó hoán vị với nhau. Thí dụ: [4][9][2] --- [14][19][12] --- [24][29][22] [3][5][7] --- [13][15][17] --- [23][25][27] [8][1][6] --- [18][11][16] --- [28][21][26] thì ta chỉ loại 10 lấy số dư sẽ giống như những con số của Lạc Thư thôi. Còn nếu như Trung cung là những 10, 20, 30 v.v... : [09][14][07] --- [19][24][17] --- [29][34][27] [08][10][12] --- [18][20][22] --- [28][30][32] [13][06][11] --- [23][16][21] --- [33][26][31] thì ta sẽ thấy những cặp như (1-6) hoán vị (6-1), (3-8) hoán vị (8-3) sau khi loại 10 lấy dư số. Nói trở lại, khi anh đặt giả thiết khi trung cung không phải là số 5, mà là số 7 chẳng hạn, ta có: [06][11][04] [05][07][09] [10][03][08] thì 7 - 4 = 3 (Bắc), 7 + 1 = 8 (Tây Bắc), vậy cặp số 3 - 8 có thể được coi là cặp số sinh - thành của Thủy được không? Cho là được đi, rồi còn những cặp số sinh-thành khác thì sao? (1-6), (2-7), (4-9) ??? (4-9) thì có đó, (1-6) cũng khả dĩ nếu loại 10 lấy số dư rồi (2-7) thế nào? Do đó, cái quy ước số 5 nhập trung cung của Lạc Thư là để minh họa cho những cặp số sinh-thành liên quan đến Hà Đồ tồn tại như thế; anh Hà Uyên có ý kiến gì không? Sapa
  11. Chào bạn, DaoHoa Bạn đang nói chuyện gì đây? Ai nói anh Thiên Sứ trả lời như thế nào mà DaoHoa bảo rằng: Anh Thiên Sứ không bao giờ trả lời như vậy!? Nói cho rõ là vầy: chúng ta có cùng câu hỏi dành cho anh Thiên Sứ về (1) Bính phá Canh và (2) Tân phá Ất như thế nào khi anh ấy gia ngũ hành phương vị với độ số trên Hà Đồ theo lý giải "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt" của anh ta. Vì anh Thiên Sứ: - cho Bính là Mộc và Canh là Hỏa thì làm sao Mộc lại tương khắc với Hỏa - cho Tân là Mộc và Ất là Hỏa thì làm sao Mộc lại tương khắc với Hỏa Còn về bạn, DaoHoa cho rằng Tổ tiên Lạc Việt đâu có ghi "ngũ hành tương sinh" hay "ngũ hành tương khắc" thì anh ấy vay mượn ngũ hành của ai, của người Trung Hoa ư để nói sinh, nói khắc? Hy vọng DaoHoa đã rõ ý! Để vẽ ra Thiên Can Hợp Phá Đồ mà không cần nhắc tới Lạc Thư, Hà Đồ, TTBQ, HTBQ hay ngũ hành tương sinh tương khắc là điều khả thi. Sapa cũng vẽ được vậy, nhưng muốn được nghe thêm cao kiến của anh Thiên Sứ để hiểu rõ ý tứ của ảnh hơn. Sapa
  12. Chào anh, Thiên Sứ và bạn DaoHoa Đào Hoa thân mến. Trong mối tương quan của Thiên Can liên quan đến Ngũ Hành sinh khắc, có hai đang: 1 - Theo Tiên Thiên: Trên cơ sở này thì Bính Hỏa khắc Canh Kim.....vv....Tức là vẫn theo lý tương sinh, tương khắc bình thường. 2 - Theo Hậu Thiên: Căn cứ trên sự tương hợp độ số trên Hà Đồ (Theo "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt") thì Bính Hỏa hợp Tân Âm Kim. Nhưng lý tương khắc của Tiên Thiên vẫn là mạnh nhất khi cân nhắc tính toán sự khắc hợp của Ngũ Hành trong Thiên Can. Tức là khi ứng dụng thì căn cứ vào - tạm gọi là "hệ Qui chiếu" - Nếu là xem xét chuyện đất trời thì theo Tiên thiên, Sự khắc hợp của con người thì theo Hậu Thiên. Vài lời chia sẻ. Như DaoHoa đã có nói rằng: Tổ tiên Lạc Việt đâu có ghi "ngũ hành tương sinh" hay "ngũ hành tương khắc" thì anh Thiên Sứ có thể giải thích thêm rằng: dựa trên cơ sở nào mà tra ngũ hành cho Thập Can rồi anh cho đó là Theo Tiên Thiên? Nhân có đề tài này, nên đã tìm đến tài liệu liên quan đến "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt" của anh và cũng đồng tình với bạn DaoHoa ở 2 câu hỏi này: (1) Bính phá Canh - Anh cho Bính là Mộc và Canh là Hỏa thì làm sao Mộc lại tương khắc với Hỏa (2) Tân phá Ất - Anh cho Tân là Mộc và Ất là Hỏa thì làm sao Mộc lại tương khắc với Hỏa chứ không tìm hiểu về chuyện Bính hợp Tân; anh có thể giải thích rõ ràng hơn không? Đây là đề tài rất thú vị, cám ơn anh! Sapa
  13. Chào bạn, DaoHoa Như vậy thì DaoHoa phải chứng ming rằng: Tổ tiên Lạc Việt ghi lại Giáp hợp Kỷ hay phá Mậu ra sao, như thế nào? Có thể DaoHoa sẽ lý giải Giáp hợp Kỷ như vầy: G(1)|(6)K A(2)|(7)C B(3)|(8)T Đ(4)|(9)N M(5)|(10)Q và do nhìn thấy các cặp số trên trông giống Hà Đồ nên bảo đó là của Tổ Tiên Lạc Việt chăng? Chúng ta hãy để cái vụ tranh chấp này sang một bên vì rằng người Việt hay Trung Hoa gì lý giải như kiểu trên cũng là đều nhìn ra một vấn đề: "Thiên can giao hiệp chi số : hà đồ chi số thập , nãi thập thiên can chi số dã . Giao hiệp chi số vi : nhất , lục cộng tông , nhị , thất đồng đạo , tam , bát vi bằng , tứ , cửu vi hữu , ngũ , thập đồng đức . Chính thị vạn vật sanh tồn chi số . Sở dĩ giáp kỷ hợp vi nhất , lục cộng tông , ất canh hợp vi nhị , thất đồng đạo , bính tân hợp vi tam , bát vi bằng , đinh nhâm hợp vi tứ , cửu vi hữu , mậu quý hợp vi ngũ , thập đồng đức . Thập thiên can kinh giao hiệp chi hậu , hóa vi thiên can giao hiệp chi ngũ hành , tương hà đồ ngũ hành chi thể hóa vi thiên can ngũ hành chi dụng ." (Trên Mạng Internet) Còn phá Mậu thì sao? Sapa thì mới đầu nhìn ra cái bánh Hamburger, sau đó thì thấy toàn diện là 2 trái thận treo tòng teng chứ chữ "S" gì đâu. DaoHoa cứ than vãn mà không đem sở kiến ra trình bày để biết đâu có sơ sót gì cùng nhau tham tường chỉnh lý cho đầy đủ cũng là điều tốt đẹp. Nhất là không để cho hậu duệ người Việt bị mai một cái kiến thức mấy nghìn năm Văn Hiến thì DaoHoa cũng chẳng còn gì đáng buồn hoặc ôm nổi sầu đơn côi, phải không? Sapa
  14. Chào bạn, Phongthuysinh Phongthuysinh muốn nói câu này là câu nào vẫn còn đang lúng túng trong bạn? Phongthuysinh cho hành của Càn và Khôn là hành gì mà nói rằng chúng cũng đối lập về ngũ hành? Như chúng ta được biết rằng Càn là hành Kim, Không hành Thổ và Giáp/Ất hành Mộc thì khó mà tìm sự nhất quán ở ngũ hành tính chất; có chăng là gặp nhau ở Âm/Dương tính chất của các cặp Bát quái để tìm phần nào tương ưng với các cặp Thiên Can. Thứ đến, Càn đứng đầu cũng như Giáp đứng đầu mà Phongthuysinh cũng tạm cho hợp lý thì cũng là có phần nào khả dĩ tiếp nhận được phải không. Như vậy, cả 2 tiêu chí được đặt ra để tìm sự nhất quán là: tính chất Âm/Dương và Trước/Sau đã được thỏa mãn. Còn nói về đối lập phương vị, thì ở đây Tiên Thiên Bát Quái với cặp Càn Khôn chẳng hạn: chỉ là trên một đường thẳng, bên này này bên kia, giống như bên tay mặt bên tay trái vẫn ở trên chung một thân thể. Tùy theo cách nhìn của Phongthuysinh đó vậy. Đôi khi những tài liệu lẻ tẻ không rõ nguồn khó mà ghi tải trung thực những gì mình muốn nghiên cứu nếu không thể kiểm chứng. Vậy thì chúng ta chờ xem ai có quyển sách Tham Đồng Khế có những điều giống như Phongthuysinh đã đọc để kiểm chứng rồi thảo luận tiếp nhé. Trao đổi để học hỏi lẫn nhau thôi, mà cứ cảm ơn qua lại khách sáo quá: Phongthuysinh thấy sao? Sapa
  15. Chào bạn, DaoHoa Đoán đặng chuyện tương lai, bạn DaoHoa phải là một người am tường thuật số; như vậy, bạn có thể chia sẽ những cái gì hơn là sự tương sinh tương khắc thông qua ngũ hành của thập can đó giờ không? Tại vì nhân quả con cháu Việt Phải chịu tương lai mai một miền? Nếu như bạn DaoHoa chịu vắt bớt niềm ướt đẳm, thì há gì không vơi bớt nỗi cô độc có phải không?Sapa
  16. Chào bạn, VinhL Ở Hà Đồ: chỉ là những tượng được chuyển sang số rằng có bao nhiêu đốm trắng và đen. Sau đó ngũ hành được tra vào theo định vị tứ chính phương cùng trung cung. Ở Lạc Thư: cũng chỉ là những tượng được chuyển sang số đã được định vị ở trên 9 vị trí tạo thành 4 phương 8 hướng và trung cung. Ngũ hành cũng được tra vào theo định vị tứ chính phương cùng trung cung mà tứ hướng phụ có tính chất ngũ hành nào khác, ra sao ta hãy khoang nói ở đây. Như vậy, VinhL cũng thấy tứ chính phương cùng trung cung đều mang tính chất ngũ hành cố định; ví như, một binh chủng đã được chọn màu cờ sắc áo tiêu biểu mà con số quân nhân có khi nhiều khi ít ở binh chủng đó thay màu đổi sắc cho binh chủng đó hay sao? Thế nên, khi binh sĩ tòng quân ở dưới trướng nào thì ăn vận theo sắc màu của quân đội đó là điều có thể hiểu được phải không VinhL? Đó là nói về LƯỢNG (con số), nên khi nhóm 2,7 người nọ đầu quân binh chủng nào thì mang sắc phục đó và nhóm 4,9 người khác cũng thế. VinhL đồng ý không hay có ý kiến phản hồi gì xin cứ việc nhé. Bây giờ nói về: tại sao Tốn 4 không phải Hỏa mà lại là Mộc, Khôn 2 không phải là Kim mà là Thổ theo HTBQVV nạp số Lạc Thư ???? Như đã luận giải ở trên, (con số) thuộc về LƯỢNG mà không có PHẨM chất ngũ hành nên ở Lạc Thư nếu chiếu theo hệ phương vị ngũ hành thì (số 2, số 4) và (chẳng những thế: số 6, số 8) thuộc phụ phương chi cung phải chờ sự xét đoán vậy, phải không VinhL? Chiếu ra: các con số của Lạc Thư từ tứ chính phương và trung cung đều mang đúng sắc màu ngũ hành của nó nhưng còn các con số ở tứ phụ phương thì phải giải quyết ra sao đây. Ở Hà Đồ ta có: (...)(...)(7)(...)(...) (...)(...)(2)(...)(...) (8)(3)[5/10](4)(9) (...)(...)(1)(...)(...) (...)(...)(6)(...)(...) Ở Lạc Thư ta có: (4)(9)(2) (3)[5](7) (8)(1)(6) nạp số với HTBQVV như sau: (4:Tốn: ???)(9: Ly: Hỏa)(2: Khôn: ???) (3: Chấn: Mộc)[5:Thổ](7: Đoài: Kim) (8:Cấn: ???)(1: Khảm: Thủy)(6: Càn: ???) Thế rồi: như ta được biết đến ngày nay là (2: Khôn: Thổ) (4: Tốn: Mộc) (6: Càn: Kim) (8: Cấn: Thổ) có nghĩa là các (con số) chẵn trên dựa theo các Quái mà định chất ngũ hành. Ta sẽ có như sau: (4:Tốn: Mộc)(9: Ly: Hỏa)(2: Khôn: Thổ) (3: Chấn: Mộc)[5:Thổ](7: Đoài: Kim) (8:Cấn: Thổ)(1: Khảm: Thủy)(6: Càn: Kim) với trục nghiêng Cấn-Khôn thuộc THỔ để khi tính Phi cung Bát Trạch: Ngũ trung sẽ là "nam Khôn nữ Cấn" đều là hành THỔ. Cho nên vị trí (2: Khôn: Thổ) phải có lý do là vậy! Chẳng những thế, tính chất ngũ hành của Bát Quái khi xắp theo Tiên Thiên đã tiết lộ ít nhiều điều kỳ thú. VinhL hãy xem: (Đoài: Kim)(Càn: Kim)(Tốn: Mộc) (Ly: Hỏa)[...............](Khảm: Thủy) (Chấn: Mộc)(Khôn: Thổ)(Cấn: Thổ) với trục nghiêng là Chấn-Tốn hành MỘC. Các quái in-đậm vẫn giữ theo phương vị ngũ hành hệ thống từ Lạc Thư cho thấy nếu, Tốn với (số 4) ở Lạc Thư so với Hà Đồ (số 4) là hành Hỏa hay Kim đều không dựng nên cái trục nghiêng tiêu biểu rất có ý nghĩa này. Còn Khôn với (số 2) ở Lạc Thư so với Hà Đồ (số 2) là hành Hỏa hay Kim thì thử xem: 1) Khôn mang hành Hỏa - thì ta sẽ có 2 quái mang hành này làm mất thăng bằng trục Thủy-Hỏa. 2) Khôn mang hành Kim - tốt thôi nhưng sẽ không có cái quy luật Phi cung Bát Trạch và cũng không có nốt cái trục nghiêng xuyên suốt với (số 5) trung cung hành THỔ của Lạc Thư. Vì rằng, ta có quyền hoán đổi ngũ hành phương vị v.v.. để chứng minh lý giải nhưng đừng quên là những môn huyền học khác cũng còn dựa trên căn bản ấy làm nền tảng nhất quán. VinhL có ý kiến gì và thấy sao? Trao đổi tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau và góp ý chung với bạn, Sapa
  17. Chào anh, Thiên Sứ Như vậy, anh có thể cho biết nguyên bản là tiếng gì và có tựa đề là chi để tiện tham khảo đối chứng hay không? Vì rằng, đầu sách này đã được thử tìm trên mạng nhưng không có kết quả. Cám ơn anh! Anh đã có công như vậy thật là đáng quý, nhưng việc anh chứng minh nó của người Việt hay người Trung Hoa chứng minh là của họ thì cũng vẫn chỉ là mạnh ai nấy nói. Anh có nghĩ là như vậy, chuyện cũng chẳng đến đâu chăng? Lâu rồi, có lần đọc được ở đâu nói rằng phương pháp châm cứu, huyệt vị mà người Trung Hoa đã xử dụng và phát dương quang đại đến Tây phương có nguồn gốc thần kỳ từ người ngoài hành tinh (UFO) thì với giả sử đó: 1. Người Việt chúng ta có thể chứng minh rằng phương pháp đó là của người Việt vì chúng ta có thể giải thích tường tận nguyên lý đằng sau nó một cách rõ ràng minh bạch ? 2. Người Trung Hoa chúng ta có thể chứng minh rằng phương pháp đó là của người Trung Hoa vì họ có thể giải thích tường tận nguyên lý đằng sau nó một cách rõ ràng minh bạch ? Rốt lại, ai có thể giải thích tường tận nguyên lý thì là YẾU TỐ ĐỦ để chứng minh phương pháp đó là của họ ư? Một người Á đông nào nó có trí tuệ vô song suy tư tìm tòi nghiên cứu để giải thích được đa phần những thắc mắc cũng như những nguyên lý đằng sau nó là được quyền chứng minh QUYỀN SỞ HỮU có nguồn gốc từ quốc tịch của người đó được không? Về Tử Vi, nói về các vì sao, thiên bàn địa bàn v.v... thì việc Trần Đoàn san định hệ thống đâu nhất thiết làm chứng cung phản chứng khoa TỬ VI không phải là của người Trung Hoa mà là của người Lạc Việt, phải không anh, Thiên Sứ? Có lẽ, thiết nghĩ để chứng minh của Việt hay Trung Hoa vẫn còn nhiều chứng minh để làm sáng tỏ. Đôi lời bày tỏ, trao đổi tìm sự đồng cảm - không cho là đồng quan điểm với anh hay với tất cả các bạn. Sapa
  18. Chào bạn, Phongthuysinh Thuyết nạp giáp ở trên rõ là dựa trên Tiên Thiên Bát Quái đồ mà ra và cũng minh bạch như sự tường trình của thuyết ấy qua sự trích dẫn của Phongthuysinh. Tiên Thiên Bát Quái [2. Đoài][1. Càn][5. Tốn] [3. Ly][Trung][6. Khảm] [4. Chấn][8. Khôn][7. Cấn] Các cặp đối xứng: càn-khôn, cấn-đoài, khảm-ly, và chấn-tốn là điều dễ thấy nhất nên ta có thể nhìn ra như sau: 1. Càn - Giáp 8. Khôn - Ất 7. Cấn - Bính 2. Đoài - Đinh 6. Khảm - Mậu 3. Ly - Kỷ 4. Chấn - Canh 5. Tốn - Tân và 2 can Nhâm/Quý của Thập Thiên Can phải tiếp nối tuần tự giai do Bát Quái chỉ có 8 mà Thiên can lại có đến 10 can. 1. Càn - Nhâm 8. Khôn - Quý Chú ý thêm thì ta sẽ nhìn ra cái hướng đi như sau (Dương=D, Âm=A) : DADA|ADAD theo hướng 1872|6345 Có phải phù hợp với đoạn này: Kinh Phòng căn cứ theo thứ tự Ngũ hành Mộc-Hỏa-Thổ-Kim-Thủy phối ứng với số Tiên thiên Ngũ hành 3-2-5-4-1, cặp số 3-2 thuộc Xuân-Hạ mà Dương trước Âm sau, cặp 4-1 thuộc Thu-Đông mà Dương sau Âm trước. hay không? Phongthuysinh thấy sao? Còn tài liệu sau đây, Phongthuysinh trích dẫn từ đâu trong Tham Đồng Khế để xem nó như là nói về Nạp Giáp? Đôi lời bày tỏ, trao đổi tìm sự đồng cảm - không cho là đồng quan điểm với tất cả các bạn. Sapa
  19. Chào bạn, VinhL Sẽ hợp lý nếu VinhL nhìn theo độ số 4,9 ở Nam phương mang hành Hỏa vì đó giờ hướng đó đã đặt định như thế rồi. Sapa
  20. Chào anh, Kyte Như anh nói, trên Hà Đồ có: nhóm (1,6) thuộc Bắc Thủy nhóm (2,7) thuộc Nam Hỏa nhóm (3,8) thuộc Đông Mộc nhóm (4,9) thuộc Tây Kim nhóm (5,10) thuộc Trung Cung Thổ thì THỔ trung cung như một mediator (người điều đình) dung hòa ngăn chận sự xung đột giữa trục NGANG và trục ĐỨNG: 1. để rồi nhóm (2,7) thuộc Nam Hỏa lại thung dung đi KHẮC chế nhóm (4,9) thuộc Tây Kim? 2. để rồi chính nhóm (5,10) thuộc Trung Cung THỔ lại đi KHẮC chế nhóm (1,6) thuộc Bắc Thủy? 3. để rồi nhóm (3,8) thuộc Đông Mộc đi KHẮC chế THỔ trung cung? Té ra, (người điều đình) khắc này, hở kia, bị khắc ngược lại v.v... khó thuyết phục rằng Hà Đồ dùng 5.10 ở giửa để dung hòa làm sao ấy, anh nhỉ? Có thể anh nhìn ra được điều gì sâu xa hơn, mong anh chia sẽ. Thiết nghĩ, ở Hà Đồ chưa định hình phụ phương (hướng phụ) mà chỉ có 4 hướng chánh: Đông, Tây, Nam, Bắc và người xưa cũng đã không nêu nguyên tắc thành lập ngũ hành tương thích ra sao mà có: Đông - Mộc Tây - Kim Nam - Hỏa Bắc - Thủy Trung cung - Thổ nhưng hãy tạ gát lại chuyện đó mà đi thẳng vào vấn đề chính của Kyte đang trình bày. Cho nên, ta cứ việc tạm thời chấp nhận NÓ LÀ VẬY: Đông - Mộc với độ số (3,8) Tây - Kim với độ số (4,9) Nam - Hỏa với độ số (2,7) Bắc - Thủy với độ số (1,6) thì khi anh Kyte nêu lên giả thuyết Văn Vương rút đi số 10 trung ương thổ rồi biến đổi giữa Hỏa và Kim thành tương sinh cho nên hậu thiên bát quái là vòng tương sinh 4.9 thuộc Kim ở nam sinh 1.6 ở Bắc thủy ,3.8 ở Đông sinh 2.7 ở tây Hỏa vẫn còn con số 5 THỔ ở trung cung. Tuy rằng có chiều hướng tương sinh rồi đó nhưng mediator (người điều đình) đứng giữa lại đi ngăn chận sự tương sinh giữa trục NGANG và trục ĐỨNG vậy sao? Anh nói tiếp, sắp xếp các con số lại cho thành tương sinh nhưng ngũ hành các phương vẫn không đổi lại có sự mâu thuẫn gì chăng khi mà trước câu đó anh đã viết: 4.9 thuộc Kim ở nam sinh 1.6 ở Bắc thủy ,3.8 ở Đông sinh 2.7 ở tây Hỏa Còn đâu: Đông - Mộc với độ số (3,8) Tây - Kim với độ số (4,9) Nam - Hỏa với độ số (2,7) Bắc - Thủy với độ số (1,6) có chăng là ngũ hành của các độ số vẫn không đổi - có phải ý anh là thế? Vòng trường sinh, cứ tạm kí hiệu thứ tự lớp lang như sau để dễ quan sát và tiếp thu nhé anh Kyte. 01. Trường sinh 02. Mộc dục 03. Quan đới 04. Lâm quan 05. Đế vượng 06. Suy 07. Bệnh 08. Tử 09. Mộ 10. Tuyệt 11. Thai 12. Dưỡng Nếu xét theo lý luận của anh thì cũng khá rõ ràng để ghi nhận không mấy khó khăn như sau: Dương Hỏa khởi: THUẬN (4) Tỵ 04. Lâm Quan | (9) Ngọ 05. Đế vượng | (2) Mùi 06. Suy |(2) Thân 07. Bệnh (4) Thìn 03. Quan đới | ...........................................................|(7) Dậu 08. Tử (3) Mão 02. Mộc dục | .............................................................|(6) Tuất 09. Mộ (8) Dần 01. Trường sinh | (8) Sửu 12. Dưỡng | (1) Tí 11. Thai |(6) Hợi 10. Tuyệt từ cung Dần (8) + Mão (3) + Thìn (4) + Tỵ (4) + Ngọ (9) + Mùi (2) + Thân (2) + Dậu (7) + Tuất (6) = 9 cung với tổng số là: (45) nhưng vì, Thìn/Tỵ có cùng chung con số (4) biểu trưng cho quái Tốn (HTBT- Lạc Thư) nên chỉ gộp chung tính là 4 Mùi/Thân có cùng chung con số (2) biểu trưng cho quái Khôn (HTBT- Lạc Thư) nên chỉ gộp chung tính là 2 nên (45) - (6) = (39) Tính theo cung thì phải đi đủ 9 cung từ trường sinh đến mộ, nhưng cộng độ số thì những con số trùng lặp chỉ tính một lần mà thôi. Đó là nói về Dương Hỏa khởi THUẬN trường sinh ở Dần trãi qua 9 cung đến mộ. Nói đến Âm Hỏa thì cũng khởi trường sinh ở Dần nhưng NGHỊCH chuyển trãi qua 8 cung đến tử thì dừng. Nếu dùng đồ hình ở trên mà đi NGƯỢC từ cung Dần thì ta sẽ có: (8) Dần 01. Trường sinh + (8) Sửu 12. Dưỡng + (1) Tí 11. Thai + (6) Hợi 10. Tuyệt + (6) Tuất 09. Mộ + (7) Dậu 08. Tử = (8 + 1 + 6 + 7) = 22; như vậy thì không ra đáp số: 24 như anh tính và cũng chỉ có đi qua có 6 cung chứ không phải 8 cung như anh đề cập. Cho nên, phải hiểu như sau: (8) Dần 01. Trường sinh + (8) Sửu 02. Mộc dục + (1) Tí 03. Quan đới + (6) Hợi 04. Lâm quan + (6) Tuất 05. Đế vượng + (7) Dậu 06. Suy + (2) Thân 07. Bệnh + (2) Mùi 08. Tử = (8 + 1 + 6 + 7 + 2) = 24 và cũng vừa vặn trãi qua 8 cung. Điều này (ngoài lề), theo Vân Đằng Thái Thứ Lang về cách an Tinh Hệ trường sinh cho môn Tử Vi cũng đi theo chiều hướng này để gin giữ ngôi vị trường sinh nhưng mộ cung lại phải bị dịch chuyển. Học phái Thiên Lương, Việt Viêm Tử thì giữ mộ đúng ngôi vị mộ cung nên phải dịch chuyển vị trí trường sinh v.v... Như vậy, ít nhiều gì thì anh Kyte cũng đã suy luận một cách nhất quán cho Mộc cục, Thủy cục và Kim cục nhưng có một điểm mà anh viết dưới đây có phần mâu thuẫn: Khi dương trường sinh chỉ tính tới mộ thì đâu có nghĩa là dương đó đã không trãi qua cái CHẾT là tử ở cung thứ 8 rồi trước khi sang cung thứ 9 để nhập mộ mà anh lý luận rằng: dương là sự sống không phải là sự chết? CHẾT đem CHÔN luôn rồi mà. Anh có thể giải thích rõ hơn ở điểm này được không? Nếu như anh cứ lập luận về số 9 là số dương lớn nhất cũng như số 8 là số âm lớn nhất như dưới đây: thì được nhất quán hơn. Anh nghĩ sao, thay vì thêm thắt ý tưởng dương là sự sống không phải là sự chết nên quẻ Kiền có 3 dương không có âm nên chỉ tính đến Mộ mà thôi để có kẻ hở cho sự vấn nạn? Anh còn quên lý giải cho THỔ cục đó nghen. Chờ anh vậy! Còn thiếu chút đỉnh, như không thì anh sẽ hoàn thành lập luận của anh một cách hay lạ. Chờ anh, Sapa
  21. Chào anh, Kyte Khi mới đọc xong đoạn trên, ngỡ rằng anh đang giải mã Lục Thập Hoa Giáp thông qua Lạc Thư Cửu Cung. Nhưng đến khi đọc tiếp đoạn dưới đây: thì ra anh đang nói đến phương pháp “Tìm Cung Quái” cho Bát Trạch, Phi cung v.v… Nhân đây, xin được anh cho biết thêm ý kiến vì sao Giáp Tý Dịch lại lấy số là 3? Theo sự suy lý thì phải là 1 mới nhất quán. Theo Lạc Thư Bát Quái phối với Thập Nhị Địa Chi thì ta có: [Thìn-Tỵ (4) Tốn][Ngọ (9) Ly][Mùi-Thân (2) Khôn] [Mão (3) Chấn][Dg: Khôn (5) Â: Cấn][Dậu (7) Đoài] [Dần-Sửu (8) Cấn][Tí (1) Khảm][Hợi-Tuất (6) Kiền] và Lục Thập Hoa Giáp thì lại có Lục Tuần như sau: (1) Giáp Tí … Quý Dậu : nhưng không phải là (1) mà lại (3) là? (6) Giáp Tuất … Quý Mùi (2) Giáp Thân … Quý Tỵ (9) Giáp Ngọ … Quý Mão (4) Giáp Thìn … Quý Sửu (8) Giáp Dần … Quý Hợi Kế đến, quy luật nào mà anh viết như vầy? Khi vào trung ương số 5 Dương chi sẽ lấy Cung Khôn và Âm chi sẽ mang cung Cấn. Mong anh cho biết thêm ý kiến. Như sự miêu tả của anh ở trên thì Thập Nhị Địa Chi cung bàn phải nằm theo định hướng truyền thống đó giờ: Trên (NAM) dưới (BẮC) trái (ĐÔNG) phải (TÂY) thì mới có thể minh họa chính xác hình tam giác tượng trưng cho HỎA thì bốc lên cao và THỦY thì hướng xuống THẤP có phải không anh? Nhưng sau đó, trong một bài viết khác anh lại có ý dùng đồ hình phương vị ngày nay là: Trên (BẮC) dưới (NAM) trái (TÂY) phải (ĐÔNG) để nhìn ra bản đồ thế giới nói chung và nước Việt Nam nói riêng, thì như vầy: lại không minh họa được rằng THỦY thì hướng xuống THẤP, huống là định vị rằng: phương đông nam – thìn tỵ là thấp nơi thấp nhất vẫn là. Anh xét lại giùm có phải như thế không? Cám ơn anh. Sapa
  22. Chào bạn, Wildlavender Cũng như Wildlavender đã nói đó: Văn minh = Civilisation (ngôn ngữ Pháp) Văn Hóa = Culturel Văn Hiến = ? Thực ra, theo nghĩa Hán Việt mà phân tích thì không phải chỉ có cái nghĩa kiểu Chu Hi chú thích lời của Khổng Tử như vầy: Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã. (Văn là kinh điển, sách vở; hiến là hiền tài) mà chữ hiến có cái nghĩa là dâng hiến, dâng biếu văn chương, sách vở, tư tưởng của một người hiền nào hay một đời nào đó truyền tải lại cho người sau xem mà biết được chuyện cũ. Truyện xưa, tích cũ cũng nằm trong phạm trù này nên ta có thể gọi đó là: Wisdom Literature. (Văn Hiến) Trích dẫn từ Wiki: Ancient Egyptian literature, Biblical Wisdom Literature v.v.. This genre is characterized by sayings of wisdom intended to teach about divinity and about virtue. The key principle of wisdom literature is that whilst techniques of traditional story-telling are used, books also presume to offer insight and wisdom about nature and reality. Tìm tòi góp ý với bạn, Sapa
  23. Chào anh, Thiên Sứ và bạn Rin86 Dựa theo nội dung mà anh đề ra cho bạn Rin86 viết bằng Anh Ngữ đến ông S.W. Hawking dưới đây: thì có một vài điểm do dịch thuật lệch lạc từ Anh sang Việt rồi Việt qua lại tiếng Anh hay sao đó nên có thể sẽ làm giảm giá trị của tính chất nghiêm túc khi lời tiên tri của bà Vanga đã bị méo mó trong dịch thuật. Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành đã và đang tồn tại trong nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm văn hiến. Điều này phù hợp với lời tiên tri của bà Vanga khi dự đoán rằng: Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại. This is in accordance with Vanga's predictions when she predicted that: "An ancient theory will return to humanity." Vì rằng, bà Vanga đã nói nguyên văn câu đó ra sao mà khi dịch sang Anh ngữ một lần nữa đã không tìm ra trên Mạng và tài liệu về những lời Tiên Tri của Vanga. Anh Thiên Sứ có thể cho biết nguồn của câu nói ấy bảo là từ lời Tiên Tri của bà Vanga hay không? Nếu như phải dùng lại lời Tiên Tri của bà Vanga và để trong ngoặc kép thì có nên dùng nguyên văn cho được chính xác và trung thực hơn là qua sự dịch thuật trở nên vô nguyên cứ chăng? Vì khi nói đến khoa học và tính chất nghiêm túc của nó thì những trích dẫn cũng phải đượm phần nghiêm túc, khả tín và có cơ sở. Anh Thiên Sứ và bạn Rin86 có ý kiến gì không? Ngoài ra, thuyết Âm Dương và Ngũ Hành dù được biết đến đã và đang tồn tại trong nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm văn hiến như anh nói đó hay không thì thuyết Âm Dương và Ngũ Hành vẫn được ghi nhận bởi thế giới là từ đất nước Trung Hoa. Chỉ vì, đất nước Trung Hoa đã bao gồm nhiều Việt Tộc đã bị Hán Hóa và ngay cả Việt Nam chúng ta cũng từng bị đô hộ gần cả ngàn năm như một Quận Huyện của người Hán. Như vậy, thuyết Âm Dương và Ngũ Hành được trình bày bởi người Trung Hoa đến Phương Tây như là di sản văn hóa của họ thì chúng ta cũng chẳng phản chứng đặng cho đến nơi đến chốn. Cũng như đã được đọc đâu đó về Tử Vi mà anh cho rằng Trần Đoàn đã phiên dịch khoa thuật số này từ chữ Khoa Đẩu của người Việt thì cũng chỉ là suy luận chứ thực tế chứng cứ vật thể này sẽ không bao giờ được trưng bằng vậy! Không bằng không cớ, nói ai tin: anh có nghĩ vậy không, anh Thiên Sứ? Tản mạn đôi dòng, Sapa
  24. Anh Thiên Sứ đã rất nhạy bén để nhận định như trên, cho thấy anh không phải là người tham vọng vô biên. Như vậy, thì trên thực tế ước mơ của anh về một phương pháp nhất quán cũng bị giới hạn và biên giới của giới hạn đó thì anh vẫn còn đang dò dẫm chưa xa, chưa rộng đủ. Mặc dù anh có lòng với văn hiến Lạc Việt nhưng cũng có câu: lực bất tòng tâm, anh nhỉ!? Vì là có một khoảng cách nên dù theo quan điểm của anh về sự có thật của Định mệnh là một thực tế hay theo quan điểm của ai khác phản bác anh cũng không nằm ngoài phạm trù của tư duy Lý Luận trong khi đã có nhiều điều Lý Luận còn mãi đông tây ta bà thế giới trước tiềm năng của Tâm Linh. Không thể hoàn toàn tán thành với lập luận trên của anh được, anh Thiên Sứ ạ! Con số ( 60 năm tuổi cha x 60 tuổi mẹ x 60 tuổi con út) = 216,000 trường hợp có thể xảy ra trong tổ hợp đến 3 người về luận tuổi Lạc Việt, trong khi những trường hợp của tử vi thì chỉ là cho 1 người mà thôi cũng đã hơn huống là bao gồm cả 3. Do đó, cho rằng luận tuổi Lạc Việt có thể định hướng một suy đoán khác bổ sung cho khiếm khuyết của môn tử vi thì e rằng anh đã bỏ qua những chi tiết sau đây: 1. Để luận tuổi Lạc Việt thì phải có chí ít 3 yếu tố: cha, mẹ và con út thì mới dự đoán được tương lai của tổ hợp 3 người hay một tiểu gia đình đó. 2. luận tuổi Lạc Việt lại bị giới hạn ở tầm Năm sinh của 3 người (không kể ngũ hành nạp âm, thiên can địa chi qua sự sinh, khắc, tương thừa, tương vũ v.v... từ Năm sinh ấy). Ví dụ: __ Tử Bình Tam Trụ (năm, tháng, ngày) thôi và dùng để dự đoán từ ngũ hành tương tác của cha, mẹ và con út thì cũng có nhiều thông tin hơn luận tuổi Lạc Việt rồi. 3. Từ 3 yếu tố : cha, mẹ và con út của luận tuổi Lạc Việt có thể nào phác họa một cách bao quát như tử vi về cuộc đời của một đứa con út (hay chỉ là con một) đó được sinh ra từ luận tuổi Lạc Việt vẫn còn là một điều chưa khẳng định với xác xuất chính xác là bao nhiêu. __ Vì cuộc đời của đứa con út (hay chỉ là con một) hay sẽ còn một đứa trẽ nữa ra đời sẽ bị biến hóa ra sao thì sự giới hạn trong dự đoán của luận tuổi Lạc Việt vẫn còn đang mở rộng và chưa thể có được kết luận dù chỉ là bao quát. Nghĩ rằng, anh Thiên Sứ sẽ có ý kiến riêng ở đây về khả năng của luận tuổi Lạc Việt có thể định hướng một suy đoán khác bổ sung cho khiếm khuyết của môn tử vi được chăng. Điều này là lẽ tất nhiên! luận tuổi Lạc Việt hay tất cả bộ môn huyền học Đông Phương nào khác cũng có vấn nạn. Anh Thiên Sứ cũng không cần phải tự trách vì chúng ta có phải là Thánh đâu. Vì một giờ Tử Vi là 2 tiếng đồng hồ thời nay nên chúng ta có 120 phút chia đều cho 12 cung thì mỗi cung sẽ tương đương với (10 phút / mỗi cung) thì đầu giờ, giữa giờ, cuối giờ hay thậm chí cách nhau 10 phút đã có phần cá biệt nếu muốn phân tích chi li. Lý thuyết là thế, nhưng thực tế mùa hạ mùa đông ngày dài tháng vắn v.v... không nhất thiết biểu hiện một giờ Tử Vi là 2 tiếng đồng hồ căn bản không thôi mà còn tùy theo kinh nghiệm cá nhân qua sự thu thập và đúc kết của các nhà tử vi gia nữa. Chỉ là đôi lời gợi ý, trao đổi tìm sự đồng cảm - không cho là đồng quan điểm hay mẫu mực nhất thiết với tất cả các bạn. Sapa
  25. Chào anh, Hà Uyên Thực ra, cái mà anh dùng Ngũ Hổ Độn để tìm nạp âm ngũ hành cục cho 2 cô A và B ấy cũng không kết luận được gì hơn nếu 2 cô ấy vẫn chưa thành gia lập thất hoặc sinh con đẻ cái. Tuy rằng, phương pháp này có thể hổ trợ hoặc lý giải thêm những sự tương quan biến đổi theo từng năm qua hành cục biến động tác động lên trên những tinh đẩu ở cung Mệnh cũng như ở những cung khác trên lá số tử vi. Thế nhưng, lập gia đình và sinh nở là có liên hệ mật thiết biến dịch nên những điều khác biệt thông qua ngũ hành sinh khắc, chế hóa , tương thừa, tương vũ. Nếu như định mệnh là có thật, thì dẫu có sự biến dịch nhưng cuộc đời 2 cô này vẫn có kết cuộc rất giống nhau; đó là sự bất dịch hay còn gọi là bất biến. Sapa