• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

phamhung

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    2.270
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    15

Everything posted by phamhung

  1. Thày Thiên sứ phân tích chữ "Qua" trong tiếng Việt TỪ "QUA" TRONG TIẾNG VIỆT. Nhân ông Đặng Lê Nguyên Vũ - phát biểu trước một sự kiện của Cafe Trung Nguyên với đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, là "qua". Vì là một nhân vật nổi tiếng, nên những ngôn từ của ông Đăng Lê Nguyên Vũ được hẳn ngài TS Dương Kỳ Đức - Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam nhận xét như sau: Trích: * [""Qua - là ngôn ngữ ở trong miền trong, từ này cũng có nghĩa như "Tôi". Nhiều người có tâm lý muốn sự khác lạ, thú vị nên thường sử dụng các ngôn ngữ khác biệt để thể hiện cho câu nói của mình. Như thế người nghe cũng đỡ nhàm chán hơn."] ** ["Việc sử dụng từ Qua trong xưng hô chỉ phù hợp cho giới trẻ còn với người trung tuổi thì không nên dùng". Theo ông Đức, từ "Qua" với nghĩa là "Tôi" nên phù hợp sử dụng khi người nói và người nghe thân quen nhau, còn trong không khí trang trọng của buổi thuyết trình hay hội thảo thì nên giữ ngôn từ phổ thông "Tôi" để được trang trọng, ai cũng có thể hiểu được"]. Hic! Hẳn Tổng Thư Ký Hội Ngôn Ngữ học Việt Nam, mà hiểu từ "qua" như vậy thì buồn wá. Thảo nào, ngôn ngữ Việt cứ loạn cào cào. Bánh Dày - mà ông cha ta vẫn gọi, đã bị một bậc trí ,,,"ngủ", đổi thành "bánh giầy" và ghi trong từ điển Việt Nam do ông này biên soạn. Khiến cho lão Gàn và Ban biên tập Nxb Trí Thức suýt khẩu chiến. Tý nữa lão Gàn quyết định không in cuốn "Minh Triết Việt trong văn minh Đông phương". Khiến cho cụ Chu Hảo phải can thiệp, yêu cầu cho in cuốn sách của lão với từ "Bánh Dày" theo cổ ngôn tiếng Việt. Cuốn Từ điển này sau đó bị các trí "thức" thật lên tiếng phản biện vì quá nhiều lỗi. Và sau đó nó bị thu hôi. Hic. Bây giờ đến lượt hẳn ông TTK Hội Ngôn Ngữ Học bàn về ngữ nghĩa từ "qua", trong nhóm đại từ nhân xưng của Việt Nam, khiến lão Gàn đang ngủ trong cái lò gạch làng Vũ Đại, phải nhảy ra..."chém gió". Trước hết, lão khẳng định rằng: Từ "qua" không phải "xử dụng ở miền Trong", mà là từ địa phương, chỉ sử dụng ở Đồng bằng Nam Bộ. Trong những câu chuyện vui của người Nam Bộ, thường hay kể câu đồng âm, khác nghĩa với từ "qua" như sau: "Hôm qua, "qua" nói "qua" qua. Nhưng "qua" không qua. Hôm nay, "qua" không nói "qua" qua, nhưng "qua" lại qua". Từ "qua" không phải là của người còn trẻ tự xưng. Mà là của người lớn tuổi, bề trên, nhưng tự xưng một cách khiêm tốn với người dưới. Nó là một trạng từ - Hôm qua; Đi qua, Người qua đường.... - thay thế cho đại từ ngôi thứ nhất. Nó cũng như nhà vua xưng "Cô" với kẻ sĩ vậy. Còn kẻ sĩ, mà xưng "Cô" với nhà vua thì chắc ...viên tịch. Cho nên nó là từ của người bề trên, lớn tuổi tự xưng với kẻ dưới. Và thường chỉ những người già nói chuyện với người trẻ hơn, mới xưng "qua" một cách thân mật. Ngay các cụ già Nam Bộ với nhau, mà xưng "qua" cũng bị coi là vô lễ. Người trẻ với nhau, trong tiệc nhậu mà xưng 'qua", chắc là hết mún nhậu. Bởi vậy, ông Nguyên Vũ xưng "qua", chắc là nói chuyện với lớp trẻ với tư cách bề trên. Chứ ko thể là: "Nhiều người có tâm lý muốn sự khác lạ, thú vị nên thường sử dụng các ngôn ngữ khác biệt để thể hiện cho câu nói của mình". và lại càng không phải: "Việc sử dụng từ Qua trong xưng hô chỉ phù hợp cho giới trẻ còn với người trung tuổi thì không nên dùng". Cho nên, ông TS TTK nhận xét như vậy, nếu ông Nguyên Vũ tưởng thật, mà về Đồng Bằng Nam Bộ, ngồi với mấy bô lão mà xưng "qua" thì khỏi bán cafe.
  2. THÔNG BÁO VỀ VIỆC ĐĂNG KÝ HỘI VIÊN. Để đảm bảo quyển lợi của anh chị em tham gia nghiên cứu, học tập các bộ môn thuộc lý học đông phương với Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương; Giám đốc Trung tâm quyết định ban hành quy định quyền lợi và nghĩa vụ của hội viên khi tham gia Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương. Nay xin thông báo tới toàn thể mọi người và kính mời những người quan tâm, chủ động đăng ký tham gia với tư cách là Hội viên chính thức của Trung tâm để được hưởng quyền lợi và cùng có trách nhiệm ngược lại với Trung tâm, cụ thể xin xem hình ảnh đính kèm, THỜI GIAN ĐĂNG KÝ: Từ 14/6/2018 (01/5/Mậu Tuất) đến hết ngày 12/7/2018 (29/5/Mậu Tuất) Những người là thành viên gạo cội của Trung tâm, sau khi đã đăng ký là thành viên (Hội viên) sẽ được phân công nhiệm vụ cụ thể để Phụ trách mảng việc và tham gia tư vấn cho bà con nhân dân. Những người là thành viên mới, học viên mới nếu nhiệt tình cũng sẽ được phân công nhiệm vụ cụ thể (nếu xét thấy có đủ khả năng) Sau khi tổng hợp, làm thẻ Hội viên. Trung tâm sẽ có thông báo chính thức danh sách Hội viên, chức danh, nhiệm vụ của từng hội viên trên diễn đàn và các phương tiện truyền thông phù hợp. Quá thời hạn nêu trên, tất cả những người không đăng sẽ bị loại ra khỏi diễn đàn, và sẽ không được công nhận là người của Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương. Trân trọng thông báo.
  3. Thày Thiên sứ dự đoán tình hình Biển đông và khu vực QUẺ KINH LƯU NIÊN. Giờ Dần ngày 23. 4. Mậu Tuất Việt lịch. Được quẻ Kinh Lưu Niên cho vấn đề biển Đông liên quan đến Thượng Đỉnh Mỹ Triều. Buồn quá! Ngủ không được, nửa đêm tỉnh dậy lang thang trên mạng, thấy hình người đứng đầu Bắc Cao Ly với Tổng Thống Hoa Kỳ. Click chuột thế nào nó lại ra một bài liên quan đến Biển Đông. Nên ứng quẻ và viết bài này. Từ 2003, trên dd tuvilyso. com, tôi luôn xác định rằng: Sẽ không có chiến tranh Cao Ly lần II. Nhưng khi khả năng hòa giải xuất hiện ở Cao Ly, cá nhân tôi lại rất lo lắng, vì những âm mưu thọc gậy bánh xe từ Bắc Kinh. Và nó đã xảy ra những trục trặc, khiên cuộc họp Thượng Đỉnh Mỹ Triều chút xíu nữa thì...giải tán, cùng với một tương lai khó đoán định cho kết quả Hội Nghị. Một trong những sự kiện đáng chú ý, là: để tạo điều kiện thuận lợi cho Hội Nghị Thương Đỉnh Mỹ Triều, quân lực Hoa Kỳ rút khỏi vùng biển phía Đông của Tàu. Lợi dụng sự kiện này, Bắc Kinh đã tranh thủ sức ép quân sự Hoa Kỳ giảm ở Hoa Đông và ồ ạt quân sự hóa biển Đông, trước mũi Hoa Kỳ. Có vẻ Bắc Kinh muốn biển Đông là một chiến trường chính, nếu chiến tranh xảy ra. Quên đi nhé! Đã từ lâu, trên diễn đàn này, lão đã khẳng định: Cùng lắm biển Đông là dây dẫn nổ, nhưng thùng thuốc nổ phải ở chính ngay trên đất của Tàu lục địa. Biển Đông không phải là chiến trường của một cuộc chiến tranh ủy nhiệm kết thúc chiến tranh Lạnh. Đây là "Canh bạc cuối cùng" xác định ngôi vị bá chủ thế giới. Hoa Kỳ có thể chấp nhận thua cuộc, sau khi sử dụng hết số đầu đạn hạt nhân có thê tính theo đầu người cho cả thế giới này. Khái niệm quốc gia, hoặc vùng lãnh thổ Địa chính trị, làm khu đệm an toàn cho chính quốc, đã lỗi thời với những thứ vũ khí có thể bay qua đầu một nửa quả Địa cầu. Bắc Kinh dù có căn cứ phòng thủ ngay tại Phi Luật Tân, hoặc vài quốc gia liên quan, cũng không thể cản trở các loại vũ khí xuyên lục địa này. Lão gàn Thiên Sứ nhắc lại tính tiên tri của lão rằng: Hai Miền Cao Ly sẽ thống nhất. Nhưng bất cứ một âm mưu nào lợi dụng điều này để làm tổn hại tới Việt Nam, thì chiến tranh sẽ xảy ra bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Với quẻ Kinh Lưu Niên, đã xác định rằng: Mọi việc đã an bài. Và lão Gàn Thiên Sứ khoanh tay đứng nhìn.
  4. Bạn viết rõ chữ ra, viết bằng tiếng Việt chuẩn nhé, bạn viết tắt sẽ không ai dịch được ngôn ngữ của bạn để hiểu mà tư vấn đâu nhé.
  5. Bạn hỏi nhầm topic rồi nhé. Ở đây là tư vấn bằng "Lạc việt độn toán" chứ không phải "Luận tuổi lạc việt". Vậy bạn hãy chuyển sang topic Tư vấn "Luận tuổi lạc việt" để hỏi nhé. Thân mến!
  6. Thày Thiên sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh viết bài về Đặc khu Kinh tế dưới góc nhìn Lý học ------------------------------------------------------------------- ĐẶC KHU KINH TẾ NHÌN TỪ LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Trước hết tôi xin cảm ơn các bạn đã quan tâm đến bài viết của tôi về chủ đề này với hơn 700 like chỉ trong không quá 12g. Thực hiện đúng lời hứa, tôi xin trình bày cái nhìn của cá nhân tôi về sự kiện này. Dưới đây là phần mở đầu tôi đã đưa vào bài viết để được sự quan tâm hay không của các bạn. Và bây giờ tôi đưa lại vào đây cho liền mạch một chủ đề. Một lần nữa cảm ơn sự quan tâm của các bạn. Thưa quý vị và các bạn. Sự kiện "Đặc Khu kinh tế" gây sốc trên dự luận xã hội. Không chỉ trên mạng xã hội, mà ngay ở cả quán trà đá vỉa hè, vốn được coi là một hình thức kinh doanh siêu lợi nhuận, chỉ có ở Việt Nam. Quan điểm cá nhân tôi, khi lao vào chứng minh cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tử, chính là: "Không dây dưa đến chính trị và nhóm lợi ích". Cả một âm mưu chính trị quốc tế, nhằm xóa sổ cội nguồn văn hóa sử truyền thống Việt với đủ mọi thứ quyền lực và những chân rết của nó, cũng đủ để tôi mệt mỏi trong hơn hai mươi năm qua. Nhân danh khoa học và tính khách quan khoa học, nên ý tưởng nhất quán đó của tôi sẽ không bị chi phối bởi bất cứ nhóm lợi ích và các ý đồ chính trị nào. Và điều này sẽ xác định tính chính danh trong việc tìm về chân lý cội nguồn dân tộc Việt. Mọi bình luận chính trị của tôi đều chỉ liên quan đến ...nước ngoài. Ví dụ như bài viết về "Việt sử 5000 năm văn hiến và vấn đề Biển Đông"; "Sự kiện và vấn đề Châu Á Thái Bình Dương", các vấn đề Triều Tiên và Đài Loan...vv... Tôi chẳng bao giờ đụng chạm đến các vấn đề tế nhị và nhậy cảm trong nước cả. Có một lần, bốcđồng, tôi viết về yếu tố cốt lõi của nguyên nhân vấn nạn tham nhũng trong lịch sử văn minh nhân loại nói chung và những cuộc cải cách thất bại trong Việt sử. Và cũng chỉ viết chung chung, theo kiểu: "Nói đúng nhưng không trúng ai". Nhưng chắc do tại số, nên tôi viết nửa chừng rồi bỏ dở trên dd Lý học Đông phương. Nhưng lần này, trước một sự kiện được dư luận rất quan tâm và đặt vấn đề cũng rất vĩ mô trên nhiều phương diện, nên tôi khó đừng ngoài cuộc. Dù chỉ với tư cách "Phó Thường Dân dự khuyết hạng hai Nam Bộ" thì ít nhất tôi cũng phải có vài câu gọi là "chém gió" ở quán cháo hành làng Vũ Đại. Huống chi, tôi xác định một Lý thuyết thống nhất, nhân danh nền văn hiến Việt. Với Lý thuyết thống nhất thì Thượng Đế cũng nằm trong "phạm trù" của nó. Huống chi là "Đặc khu kinh tế". Đó là lý do tôi không thể phớt lờ. Tuy nhiên, nội dung bài viết chỉ giới hạn từ góc nhìn Lý học, cố gắng mô tả một cách khách quan theo sự hiểu biết của tôi và hoàn toàn tránh tối đa tính chủ quan cá nhân trong bài viết. Tất nhiên, khi đã xuất phát từ Lý học thì nó phải có khả năng tiên tri. Vấn đề đâu tiên tôi đặt ra để quán xét chính là: Nguyên nhân và mục đích của việc thánh lập các đặc khu kinh tế ở Việt Nam. NGUYÊN NHÂN VÀ MỤC ĐÍCH THÀNH LẬP ĐẶC KHU KINH TẾ Ở VIỆT NAM. I. Mối liên hệ giữa các mô hình kinh tế và thị trường. Hình thức đặc khu kinh tế đã xuất hiện cách đây 60 năm. Nó xuất phát từ một sáng kiến cứu vãn một sân bay trong thời suy thoái và đã thành công. Mô hình này được phát triển và xuất hiện ở những nước bắt đầu phát triển. Trung Quốc, sau đêm dài suy thoái, bắt đầu vươn lên với sự cái cách kinh tế của ngài Đặng Tiểu Bình. Và ông ta đã thành lập đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung Quốc - là Đặc khu kinh tế Thẩm Quyến - vào năm 1979. Theo thống kê của những tư liệu trên mạng, , thì có hơn 30 đặc khu kinh tế trên thế giới, và không phải mô hình này bao giờ cũng thành công. Vấn đề tiếp tục đặt ra: Vì sao có thất bại và thành công ở những mô hình kinh tế này? Lý học Đông phương - được phục hồi nhân danh nến văn hiến Việt - xác định khi phân tích, tổng hợp dù chỉ một sự kiện rất nhỏ, cũng cần một cái nhìn tổng quát, bao trùm lên tất cả mọi yếu tố tương tác, nhỏ nhất có thể. Nếu không, ít nhất cũng phải tập hợp được những yếu tố tương tác chính yếu. Bây giờ chúng ta xét bối cảnh của Đặc khu kinh tế Thẩm Quyến. Trước hết, về thời gian - ngài Đặng Tiểu Bình đã thành lập đặc khu này vào năm 1979. Đây chính là thời gian chiến tranh Lạnh đang tiếp tục phát triển và Trung Quốc đã liên minh với Hoa Kỳ và Đồng Minh. Cho nên, nó lập tức được các nhà đầu tư nước ngoài tranh thủ chi mạnh vào đặc khu này. Nó như một bàn đạp đầu tiên để đầu tư ồ ạt vào một mảnh đất mầu mỡ là thị trường Tàu, vốn khép kín và chưa có người khai phá. Bởi vậy, người ta có cảm tưởng về sự thành công của một mô hình kinh tế vượt trội, với thiên tài của ngài Đặng. Nhưng bản chất của vấn đề không phải ở mô hình Đặc Khu. Mà nó ở sự đầu tư có hiệu quả của các tư bản quốc tế do Hoa Kỳ đứng đầu. Hay nói cách khác: nó là kết quả của sự đầu tư từ bên ngoài vào nước Tàu, sau khi có sự liên kết chính trị của Tàu với Hoa Kỳ và Đồng Minh. Người Tàu không thể tự đầu tư và phát triển vào thời điểm 40 năm trước. Hơn thế nữa, hàng Tàu nhập khẩu ào ạt vào Hoa Kỳ với những ưu đãi - trong đó có cả hàng giả mà Thiên Sứ đang sở hữu là cái đồng hồ hàng hiệu nổi tiếng. Hi.. Khiến cho đến bây giờ, nước Mỹ phải la làng vì thâm hụt thương mại. Cho nên, chẳng phải ngẫu nhiên, ngài Obama phát biểu: "Bắc Kinh đã ngồi chung xe với chúng ta quá lâu rồi!". Tương tự như vậy, chúng ta xét đến các tập đoàn kinh tế đã làm nên sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản và Hàn Quốc, cái mà họ gọi là Chaebols. Người ta ca ngợi thiên tài của những nhà lãnh đạo các tập đoàn kinh tế và sự sáng suốt của ngài Pac Chung Hy. Nhưng bản chất của sự thành công này là gì? Trước hết, bối cảnh thế giới cách đây 60 năm và trở về trước, là sự hội nhập toàn cầu, có thể nói gần như mới bắt đầu. Ngay cả những tư duy bá chủ thế giới cũng chưa xuất hiện sau Thế Chiến thứ II và còn ảnh hưởng đến bây giờ với khái niệm "Thế giới đa cực". Bởi vậy, việc tập trung nguồn vốn tạo một sức mạnh kinh tế để phát triển là hoàn toàn phù hợp - nói chung. Và điều này cũng xảy ra ở các nước Xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế tập trung. Cũng chính vì tính tập trung kinh tế này - dù ở những chế độ xã hội khác nhau - thích ứng với giai đoạn phát triển tiền hội nhập - đã tạo ra những sức mạnh đầu tư để phát triển và điều đó cũng làm ra sự hùng mạnh của các nước Xã hội chủ nghĩa vào thời bấy giờ, cho dù cấu trúc quản lý và tổ chức xã hội khác nhau. Nhưng sự phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân - ở các nước phi XHCN, hoặc nhà nước - ở các nước XHCN, vẫn phải cần đến một sự giao lưu trong các mối quan hệ kinh tế với các nước liên quan. Nếu không có sự giao lưu kinh tế này, thì các tập đoán kinh tế sẽ chỉ là một mô hình kinh tế được giới thiệu để trưng bày ý tưởng và không có tác dụng thực tế. Không có đầu tư và giao lưu phát triển thị trường thì sẽ thất bại. Do đó, khi thế giới ngày càng hội nhập sâu hơn, cấu trúc của các tập đoàn kinh tế - kể cả cấu trúc tập trung kinh tế của các nước XHCN, không còn phù hợp. Vì lúc này, nỏ trở nên quá nhỏ bé so với nhu cầu phát triển của thế giới. Và nó đã sụp đổ tan rã hàng loạt, ngay tại các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản. Ngay trên nước Mỹ, cũng chứng kiến nhiều tập đoàn kinh tế hùng mạnh ra đi, trong cuộc khủng khoảng toàn cầu, bắt đầu từ 2008. Và điều này đã được Thiên Sứ tôi tiên tri trước đó. Đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu để các tập đoàn kinh tế Việt Nam không thể phát triển được và thất bại, như các loại Vina...Tất nhiên - nói thêm cho nó đủ ý - ngoài vấn đề cốt lõi là không có sự giao lưu kinh tế phát triển thị trường, thì sự thất bại của các tập đoàn kinh tế VN trong thời gian qua, còn có nhiều yếu tố bổ sung khác, như: Tham nhũng, quản lý yếu kém, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng...vv.... Trong nền tảng tri thức kinh tế của nền văn minh hiện nay, có một khái niệm rất chuẩn. Đó là khai niệm "Chính trị - kinh tế học". Nhưng Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt - mô tả phạm trù này ngắn gọn và súc tích hơn nhiều. Đó là "Kinh bang tế thế", gọi tắt chính là "Kinh tế". Do đó, tôi cấn xác định một cái nhìn, cho rằng: Tất cả các mô hình kinh tế, chỉ có thể phát triển, nếu nó có được sự liên kết kinh tế thị trường gắn liền với các liên kết chính trị với các nước đồng minh và khu vực. Sự thành công của nước Tàu, Nhật Bản và Hàn Quốc...chính vì họ có được mối liên kết chính trị với các nước có thị trường và đầu tư rộng lớn. Chẳng phải ngẫu nhiên, các nước rất buồn khi Hoa Kỳ - một thị trường béo bở nhất thế giới - rút khỏi TTP. Còn với tôi thì Việt Nam chưa cần TTP ngay bây giờ. Và tôi đã phát biểu điều này trện dd lyhocdongphuong. Con thuyền của chúng ta quá bé, chưa thể cùng các tàu vượt biển của các siêu cường cùng ra khơi được. Do đó, trên cơ sở những phân tích này, khi đặt vấn đề về Đặc khu kinh tế - thì yếu tố tiếp theo phải là: Ai sẽ đầu tư để phát triển và đầu tư cái gì? II. Ai sẽ đầu tư để phát triển và đầu tư cái gì? Hiệu quả đầu tư?! Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Trong bài trước, tôi đã trình bày yếu tố: Nếu không có thị trường liên kết và phát triển gắn liền với liên kết chính trị thì tất cả các mô hình kinh tế sẽ thất bại. Một thí dụ điển hình nữa, như Venezuela. Những nhà lãnh đạo nước này có lòng tốt, đem chia lợi nhuận khổng lồ của dầu mỏ cho toàn dân tiêu sài. Nhưng vấn đề là lợi nhuận dầu lửa đó lại chính từ sự liên kết thị trường - trực tiếp, hoặc gián tiếp - với các siêu cường tiêu thụ dầu mỏ như quỷ hút dầu. Thị trường bão hòa - về nhận thức trực quan nó như vậy. Tôi không phải là tín đồ của thuyết Âm mưu - giá dầu xuống y như có "ma". Đất nước Venezuela loạn cào cào vì suy thoái kinh tế. Cả nước Nga hùng mạnh cũng phải chật vật để cân bằng và ổn định cuộc sống. Một đất nước giàu có tài nguyên như Venezuela, khi thiếu một thị trường ổn định về chính trị, còn như vậy. Đất nước của chúng ta, chưa có một nguồn tài nguyên phong phú như họ. Nên về kinh tế sẽ nhậy cảm hơn nhiều, nếu bị rơi vào khủng khoảng. Bởi thiếu một thị trường ổn định và phát triển với những liên kết chính trị đáng tin cậy. Giả thiết chúng ta giải quyết được vốn đầu tư như bài báo nêu, bằng cách cho thuê đất, Và lấy "mỡ nó rán nó" thì vấn đề là: Đầu tư cái gì và ai đầu tư với hiệu quả đầu tư - Sẽ phải đặt ra. Xem xét tất cả những siêu cường tiềm năng thì ngoài nước Tàu, sẵn sàng chi tiền thuê đất, còn các siêu cương khác chưa thấy dấu hiệu chuẩn bị sẵn sàng cho việc đầu tư vào "Đặc khu kinh tế". Nhưng vấn đề còn là họ sẽ đầu tư cái gì? Một thung lũng Silicon? Nhà máy sản xuất xe hơi? Hay những viện nghiên cứu?..vv ..Và cho dù đó là một khu sòng bạc kiểu Ma Cao...thì với chính sách ưu đãi thuế, nới rộng cơ chế quản lý về cả luật pháp...vv... thì Việt Nam có lợi gì khi lập đặc khu này? Chẳng có lợi gì cả, ngoài việc cho thuê đất. Còn tất cả những khả năng đầu tư giả định ở trên thì không cần đến mô hình đặc khu. Ở đây tôi chưa bàn đến các bất lợi khác, mà dân mạng đồn thổi, chưa có "cơ sở khoa học" và chưa được "khoa học công nhận". Đó là: công dân nước ngoài có vốn đầu tư sẽ được xét xử theo luật pháp của nước đầu tư. Nếu đúng như vậy thì những hệ lụy tiếp theo là: có hay không sự có mặt của các cơ quan hành pháp nước ngoài trên đặc khu? Với sự phân tích này thì việc thành lập đặc khu kinh tế ở Việt Nam hoàn toàn không có hiệu quả, nếu như không có những nhà đầu tư đáng tin cậy với những liên kết chính trị ổn định. Không thể coi Trung Quốc một liên kết chính trị ổn định trong việc đầu tư vào Đặc khu kinh tế, khi sức ép liên tục về biển đảo của nước này gây căng thẳng không chỉ với Việt Nam, mà còn cả phần còn lại của thế giới. Điều này thì không cần phải có tư duy chính trị cao cấp cũng nhận thấy. Và ngay cả khi chúng ta được các nhà đầu tư hùng mạnh với những liên kết chính trị ổn định thì những hạng mục đầu tư đó lại không cần đến mô hình đặc khu. Nói tóm lại, tôi có thể kết luận cho riêng bài viết này, như sau: 1/ Không có một môi trường đầu tư đáng tin cậy với những liên kết chính trị ổn định. Nước Tàu không phải là một liên kết chính trị ổn định trong quan hệ với Việt Nam và cả thế giới hiện nay. 2/ Mô hình đặc khu, thực chất là một cầu nối kinh tế với thế giới bên ngoài. Nó chỉ thích hợp với một đất nước khép kín và chưa có sự chuẩn bị hội nhâp và chỉ thích hợp với giai đoạn tiền hội nhập của thế giới. Nó rất lãng nhách trong giai đoạn mà chính nước ta đang muốn có một nền kinh tế thị trường - tức là đang mở và tự hội nhập với thế giới, không cần cầu nối. Nó hoàn toàn không cần thiết và đã lỗi thời. 3/ Tất cả những hạng mục đầu tư không cần thiết phải có một đặc khu ưu đãi toàn diện như vậy. Vậy thì hoàn toàn không cần thiết phải có mô hình "Đặc khu kinh tế" để phát triển. Vậy vấn đề được đặt ra và cũng là nội dung của loạt bài viết này: III/ "Nguyên nhân và mục đích thành lập đặc khu kinh tế ở Việt Nam" Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Tất nhiên về mặt chính danh thì đây là một chính sách để phát triển kinh tế. Nhưng tính cấp bách của việc phải thành lập ngay "Đặc khu kinh tế" khiến cho vấn đề được đặt ra cho nguyên nhân và mục đích của nó. Và như tôi đã phân tích ở các bài trước: Chẳng có "cơ sở khoa học" nào để bảo đảm rằng tương lai các đặc khu sẽ mở đầu cho một nền kinh tế phát triển cả. Thực tế đã cho thấy các tập đoàn kinh thế hùng mạnh của Việt Nam đã viên tịch: Vinashine, VinaLine, rồi cả tập đoàn dầu khí ...cũng đang là những thực thể tồn tại trên hồ sơ. Mặc dù trước đó, Việt Nam rất kỳ vọng vào những sự phát triển lớn lao của những tập đoàn này. Do đó, chưa thể có một kết luận chắc chắn cho việc thành lập Đặc khu kinh tế sẽ là động lực duy nhất đúng để phát triển cả. Vậy tại sao phải lập những "Đặc khu kinh tế" một cách cấp bách như vậy? Phải chăng có một sự tương tác đủ lớn để đòi hỏi sự cấp bách phải thành lập đặc khu kinh tế? Giả thiết rằng: Có một sự tương tác đủ lớn để phải cấp bách thành lập "Đặc khu kinh tế" - thí dụ như sức ép phải trả nợ chẳng hạn. Nhưng ngay cả khi có một sự tương tác đủ lớn thì tôi tin chắc rằng: Nó mang tính giải pháp từ sự tương tác đó, chứ không mang tính bắt buộc. Việt Nam có thể trì hoãn và đi tìm một giải pháp khác. Trên thế gian này có thể có một mục đích duy nhất cho con người, hoặc cả một dân tộc, hay toàn thể loài người. Nhưng không bao giờ chỉ có một giải pháp duy nhất để đạt mục đích. Ở đây, tôi không bàn đến tâm lý chính trị xã hội bức xúc và không đồng tình với giải pháp thành lập đặc khu, đang lan rộng. Nếu giả thuyết về một tương tác đủ lớn để phải thành lập Đặc khu của tôi là đúng. Thì Việt Nam có thể đi tìm một giải pháp khác và cần có biện pháp ứng sử thích hợp trong lúc này để cân bằng mọi trạng thái trong xã hội. IV/ "Giải pháp cho nền kinh tế Việt không có đặc khu kinh tế". Còn tiếp.
  7. NHÂN DANH NỀN VĂN HIẾN VIỆT: LÝ THUYẾT "TRƯỜNG TƯƠNG TÁC VIỆT" GIẢI THÍCH NHỮNG BÍ ẨN LỚN NHẤT CỦA KHOA HỌC HIỆN ĐẠI. Tiếp theo. BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH. A/ VÌ SAO MỖI QUẢ TRỨNG CỦA GIỐNG CÁI LẠI CHỈ CÓ THỂ TIẾP THU MỘT TINH TRÙNG CỦA GIỐNG ĐỰC? Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Lý thuyết "Trường tương tác Việt" chưa được "Khoa học công nhận". Nhưng nó là hệ quả và là một bộ phận cấu thành của một hệ thống tri thức vượt trội hơn hẳn tất cả nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay. Bởi vậy, nếu mô tả bằng chính hệ thống lý thuyết mà nền văn minh hiện nay chẳng hiểu gì về nó, thì cũng không khác gì nói chuyện những quyết định của Thượng Đế với các Thiên Thần trên Thiên đường và người ta có quyền không tin. Bởi vậy, cần một dẫn xuất làm thí dụ cho vấn đề được đặt ra trong bài viết này. Từ đó dẫn tới mối liên hệ hợp lý lý thuyết của các vấn đề liên quan. Đó là sự giải thích hiện tượng: Vì sao mỗi quả trứng của giống cái lại chỉ có thể tiếp nhận một tinh trùng của giống đực? Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Nền khoa học hiện đại cũng chưa thể giải thích được điều này. Và đó cũng là một vấn nạn trong thế giới sinh học, liên quan đến sự hình thành tiếp nối của sự sống. Đó là vấn đề: Vì sao mỗi quả trứng của giống cái lại chỉ có thể tiếp thu một tinh trùng của giống đực? Và điều này sẽ được giải thích bằng chính định nghĩa về khí - trong "Trường tương tác Việt". Thưa quý vị và các bạn. Định nghĩa về "KHÍ" đã xác định rằng: Đó là hệ quả được hình thành của tương tác vật chất và tương tác trở lại với vật chất. Điều này giải thích: một quả trứng của giống cái và tinh trùng của giống đực sẽ mang hai loại khí chất khác nhau. Do đó, khi chúng tương tác với nhau thì quả trứng tuy về hình thức không đổi, nhưng đã trở thành một đơn nguyên hàm chứa một khí chất hoàn toàn khác quả trứng ban đầu. Chính sự khác biệt về khí chất - do tương tác giữa khí chất của tinh trùng và quả trứng ban đầu - cho nên quả trứng ko còn khả năng thu hút tính trùng tiếp theo. Hay nói cách khác: Trường tương tác Việt trong điều kiện tiếp dẫn quả trứng (Nguyên thủy) và tinh trùng, đã dẫn đến hình thành một loại 'KHÍ" do chính sự tương tác vật chất của hai đơn nguyên hàm chứa khí chất khác nhau và tạo ra trong một đơn nguyên (quả trứng sau thụ tinh). Điều này khiến vô hiệu hóa cho tất cả những tương tác tiếp theo của các tình trùng sau đó. Trên cơ sở này, Thiên Sứ tôi liên hệ với ở một quy mô lớn hơn của toàn thể vũ trụ khí sự sống bắt đầu xuất hiện. (Còn tiếp)
  8. Tiếp theo loạt bài về TRƯỜNG TƯƠNG TÁC VIỆT, thày Thiên sứ phân tích tiếp các vấn đề liên quan. NHÂN DANH NỀN VĂN HIẾN VIỆT: LÝ THUYẾT "TRƯỜNG TƯƠNG TÁC VIỆT" GIẢI THÍCH NHỮNG BÍ ẨN LỚN NHẤT CỦA KHOA HỌC HIỆN ĐẠI. I / VÌ SAO KHÔNG THỂ CÓ NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH? Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Những trí thức tinh hoa của cả nền văn minh hiện đại với những thiên tài gồm đủ các chức danh khoa học và giải thưởng quốc tế lừng lẫy, trong những Viện Hàn Lâm tên tuổi...nhưng không đủ khả năng về tri thức lý thuyết tổng hợp, để có thể thẩm định tính bất hợp lý của Lý thuyết Higg. Hoặc có thể cũng có ý kiến phản biện, nhưng không đủ sức thuyết phục. Cho nên, cuối cùng, họ đành phải dùng một giải pháp khoa học cổ điển nhất, trong giai đoạn đầu của nền văn minh - cách đây vài trăm năm trước - là: Dùng kính hiển vi điện tử để đi tìm hạt Higg trong cỗ máy LHC với một chi phí khủng lên đến 100 tỷ Dollar. Nhưng - nhân danh nền văn hiến Việt - một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tử, trải gần 5000 năm lịch sử và chính là cội nguồn của những giá trị văn minh Đông phương huyền vĩ - tôi là người duy nhất xác định ý chí của mình một cách rất tự tin với quan điểm: "KHÔNG CÓ HẠT CỦA CHÚA!". Sau gần mưới năm chờ đợi với sự tự tin vào những hệ thống tri thức được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt - từ 2008, là thời điểm tôi lập topic trên dd lyhocdongphuong.org.vn - đến 2016. Các nhà khoa học tinh hoa đã thừa nhận: "Không có Hạt của Chúa". Tôi nhắc lại việc này, rất nhiều kẻ tầm thường, nhưng thích thể hiện, sẽ cho rằng tôi "khoe khoang", rằng: "Tôi gặp may", "háo danh"...vv....Nhưng tôi xin thanh minh với những người tử tế và anh minh với trí huệ hoàn hảo, rằng: Với tôi đây chỉ là những chuyện vặt, dùng làm thí dụ cho khả năng vượt trội của một hệ thống lý thuyết thống nhất vũ trụ - nhân danh nền văn hiến Việt - với một mục đích tối thượng, là: Xác định tính chân lý của Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tử, và là cội nguồn đích thực của văn minh Đông phương. Ngay cả sự xác định có tính hệ thống lý thuyết về "Trường tương tác Việt" - vốn chưa được "khoa học công nhận" - cũng chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, của cả một hệ thống lý thuyết thống nhất vũ trụ vô cùng đồ sộ và đấy bí ẩn. Cách đây hai mươi năm về trước, khi tôi lên bãi đá cổ Sapa để tìm hiểu về nội dung bí ẩn của nó, nhằm phục vụ cho những mục đích tìm hiểu về nền văn hiến và cội nguồn Việt sử. Sau khi quan sát phần còn lại của những di sản đầy bí ẩn chạm, khắc trên bãi đá cổ Sapa, tôi đã viết thư về cho cụ Sơn Hồng Đăng - Thủ từ đền Quốc Tổ Lạc Hồng ở đường Nguyễn Thái Sơn. Quận Gò Vấp - Sài Gòn - với nội dung có đại ý như sau: ["Những gía trị của hệ thống tri thức Việt ghi nhận trên bãi đá cổ Sapa là những hệ thống tri thức vượt trội và vô cùng huyền vĩ. So với hệ thống tri thức này, những tên lửa vũ trụ, vũ khí hạt nhân và cả những vệ tinh nhân tạo, chỉ là những đồ chơi trẻ em. Những thứ đồ chơi này sẽ bị móp méo với một trận động đất làm ví dụ! Nền văn hiến Việt huyền vĩ, không thể bị hủy diêt bởi chính hệ thống tri thức huyền vĩ này"]. Cho nên, chẳng phải ngẫu nhiên, khi tiên tri về trận động đất ở Indo - Phi Luật Tân năm 2004, tôi đã viết mô tả "trí thức tinh hoa của nhân loại phải ngơ ngác trước cơn thịnh nộ của đất trời!". Những lời lẽ này có từ trong tâm thức tiềm ẩn về những thứ đồ chơi trẻ em, mà nền khoa học hiện đại tạo ra, so với hệ thống vượt trội của nền văn hiến Việt. Việc thẩm định tính đúng sai của Lý thuyết Higg đơn giản hơn rất nhiều so với việc đi tìm "nền văn minh ngoài trái Đất" - Hay nói cách khác là "Đi tìm người ngoài hành tinh". Tính đơn giản dễ phát hiện ra sai lầm của Lý thuyết Higg, chính là nó được thiết lập từ nền tảng tri thức của nền văn minh hiện đại. Và chỉ cần một mắt xích sai trong chuỗi hệ thống lý luận của nó, mà người sáng tạo ra nó không thể biện minh được. Thế là đủ để nó sai! Chưa cần chứng minh cái đúng nằm ở đâu, nhưng chỉ cần chỉ ra một mắt xich sai và đúng là sai thì hệ thống lý thuyết đó sụp đổ. Vậy mà những tri thức tinh hoa của cả nền văn minh này, không thể chỉ ra cái sai của hệ thống lý thuyết Higg. Họ phải dùng đến biện pháp thực nghiệm để kiểm chứng. Đây là một sai lầm và sai lầm này được lặp lại ở những ý tưởng trở thành đề tài quan tâm của toàn bộ tri thức tinh hoa: Khi họ đặt vấn nạn - "Có hay không nền văn minh ngoài trái Đất"? Đây chưa phải chưa phải là một hệ thống lý thuyết. Bản chất của vấn đề về một nền văn minh ngoài trái Đất, xuất phát từ một sự hoài nghi, và hình thành bởi những lập luận đơn giản, căn cứ vào những hệ thống lý thuyết chưa hoàn hảo của nền văn minh hiện đại. Toàn bộ hệ thống tri thức của nền văn minh này ngây thơ như một đứa trẻ lên ba. Thích thì làm, không cần biết đúng sai. Và họ lại cố gắng dùng các phương tiện khoa học kỹ thuật mang tính thẩm định trực quan, để thỏa mãn trí tò mò của mình, khi tìm hiểu sự sống ngoài vũ trụ. Tức là lặp lại sai lầm khi tìm hiểu lý thuyết Higg bằng kính hiển vi điện tử để thỏa mãn cái nhận thức rất trực quan. Có thể việc này không quá quan trọng. Vì nó không mất cả cục tiền 100 tỷ Dollar. Nhưng nó lai rai, tiềm ẩn vào một sự vô bổ, để rồi tốn kém hơn rất nhiều. Sự vô định và mất thời giờ của việc tìm kiếm người ngoài hành tinh, chính là ở chỗ: Tất cả phương tiện khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất hiện nay, không thể lùng sục tất cả vũ trụ để phát hiện ra điều này. Cuộc tìm kiếm sẽ chỉ kết thúc, cho đến khi tất cả vũ trụ đều được "nhìn thấy" bằng mắt thường thông qua phương tiện kỹ thuật. Tất cả những chuyên gia viết sách về khoa học viễn tưởng, cũng chẳng bao giờ có thể nghĩ đến cái ngày, mà khoa học phát triển đến mức "nhìn thấy" một cách chi tiết mọi ngóc ngách của vũ trụ. Và ngay cả đến lúc đó, vấn đề vẫn còn để mở: "Có hay không người ngoài hành tinh?". Quả là ngây thơ. Tính "ngây thơ" của nền văn minh này, chính là nó vẫn đang tìm hiểu vũ trụ và thế giới chung quanh bằng những nhận thức trực quan, thông qua những phương tiện kỹ thuật. Nhưng với tôi, vấn đề có thể kiểm tra bằng một hệ thống lý thuyết tổng hợp những quy luật vận động và tương tác trong vũ trụ - nhân danh nền văn hiến Việt. Đấy là nội dung của bài viết này. (Còn tiếp)
  9. Đây không phải nơi để quảng cáo. Nhắc nhở bạn lần đầu, nếu còn tái phạm bạn sẽ không được tham gia diễn đàn nữa.
  10. Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương là đơn vị được Bộ Khoa học và CN cấp phép hoạt động nghiên cứu, đào tạo về lý học nói chung, Phong thủy nói riêng. Hàng năm Trung tâm có tổ chức các lớp dạy về phong thủy, đặc biệt thày Thiên sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh, nguyên là Giám đốc Trung tâm có thường xuyên mở các lớp, hiện tại cũng đang có một lớp mới học. Nếu bạn có nhu cầu thì liên hệ với Aygia ở diễn đàn này (Nguyễn Thiên Lộc - Facebook) để đăng ký nhé.
  11. Bài viết của Sư phụ Thiên sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh TRƯỜNG TƯƠNG TÁC LÝ HỌC, TRONG LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG - NHÂN DANH NỀN VĂN HIẾN VIỆT. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Giáo sư Cao Chi đã biên dịch một đề tài mới nhất trong vật lý thiên văn hiện đại, mô tả các liên đới trong vũ trụ, để từ đó giải thích các hiện tượng rối lượng tử. Mà trong đó, hai hạt lượng tử dù cách xa bao nhiêu thì chúng cũng có sự vận đông tương đồng, nếu ta tác đông vào chỉ một trong hai hạt. Đây là một thực tế chứng nghiệm trực quan. Và các nhà khoa học đã tìm cách giải thích hiện tượng này bằng lý thuyết "liên đới", như bài mà tôi chia sẻ với các bạn dưới đây. TRƯỜNG TƯƠNG TÁC VIỆT. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Trên diễn đàn Lý học Đông phương, trong các bài viết của mình, Thiên Sứ tôi đã xác định rằng: Hệ thống tri thức Vật lý Thiên Văn hiện đại, có thể "nhìn thấy" một cách trực quan sự vận động từ những hạt vật chất nhỏ nhất, cho đến những Thiên hà khổng lồ. Họ có thể lập trình cho tất cả mọi hiện tượng vận động có tính quy luật của các hành tính, các vì sao và cả những Thiên hà trong vũ trụ này. Nhưng nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay, chưa thể nào biết được bản chất tương tác có tính quy luật sự vận động của toàn thể những giá trị vật chất trong vũ trụ với những bí ẩn của nó. Những công thức Vật lý cơ học của Newton, phép tính năng lượng của Einstein trong thuyết Tương đối với công thức nổi tiếng E= mC. 2(Bình phương), chỉ diễn tả được tính cơ học của những hiện tượng cục bộ liên quan. Và ngay bây giờ, khái niệm về "Liên kết lượng tử" - mà GS Cao Chi giới thiệu - cũng mới chỉ chạm nhẹ vào bản chất của các quy luật tương tác của vũ trụ với những giả thuyết chưa hoàn hảo với khả năng sai. Đồng thời, cũng trong các bài viết của mình trên dd lyhocdongphuong.org,vn, tôi cũng nhiều lần xác định rằng: Nền văn minh Đông phương, có cội nguồn từ nền văn hiến Việt với hệ thống tri thức nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành - chính là LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ - đã tổng hợp tất cả mọi sự vận đông tương tác có tính quy luật của mọi sự tồn tại của vật chất trong vũ trụ trong hệ thống lý thuyết này với khả năng tiên tri. Tất nhiên - nhân danh nền văn hiến Việt - hệ thống tri thức Việt không chỉ "nhìn thấy" tất cả mọi sự vận động cơ học như nền văn minh hiện nay. Mà nó còn biết rất rõ những quy luật tương tác, năng lượng tương tác, và cả sự ảnh hưởng của những tương tác có tính quy luật đó, đến mọi vấn đề trong vũ trụ và cả trái Đất của chúng ta, với khả năng tiên tri chính xác đến từng hành vi của con người - trong cuộc sống nhỏ nhoi và ngắn ngủi của con người - so với tinh chất gần như vĩnh hằng của vũ trụ mà chúng ta nhìn thấy. Tất nhiên, để có được những khả năng tiên tri huyền bí đó. Nền văn hiến Việt phải biết rất rõ - ngoài sự vận động cơ học của các hạt vật chất và những Thiên hà khổng lồ - thì nó cũng phải biết rất rõ bản chất của "TRƯỜNG TƯƠNG TÁC VIỆT" Đây chính là hệ thống tri thức bí ẩn lớn nhất của những gía trị văn minh Đông phương, nhân danh nền văn hiến Việt - một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương từ, trải gần 5000 năm lịch sử. Không biết rõ điều kiện và trường tương tác, tất cả sẽ hết sức mơ hồ. Và đây cũng chính là nội dung mà tôi trình bày với quý vị và các bạn trong loạt bài viết này. Tôi chính thức đặt tên cho sự mô tả của tôi cho vấn đề mà tôi đặt ra, là "TRƯỜNG TƯƠNG TÁC VIỆT". Nếu tôi sai thì chẳng có gì để bàn. Trong trường hợp này, Thiên Sứ sẽ chỉ là một kẻ chém gió như bao kẻ chém gió ầm ĩ trên thế gian. Nhưng nếu chẳng may tôi đúng thì cụm từ "Trường tương tác Việt" sẽ nhắc nhở cho cả qua trình tiến hóa của nền văn minh tiếp theo, phải nhớ tới cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử - chủ thể đích thực của nền văn minh phương Đông. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Như vậy, tôi đã định danh xong về "Trường tương tác Việt". Cụm từ này mô tả những thực trạng tồn tại của những dạng vật chất có tính chất truyền dẫn các tính chất tương tác của vật chất có khối lượng và hình thể, từ hạt vật chất nhỏ nhất đến thiên hà khổng lồ.- mà khoa học hiện đại gọi là "Liên kết Lương tử" với các thứ giả thuyết đã được mô tả tóm tắt trong bài viết của GS Cao Chi - và đó chính là điều kiện để tất cả mọi tương tác được thể hiện. Điều này cũng xác định rằng: Khái niệm "Trường tương tác Việt" bao hàm tất cả môi trường truyền dẫn các lực tương tác, từ hạt vật chất nhỏ nhất, đến Thiên hà khổng lồ. Tất nhiên, nó không chỉ giới hạn như khái niệm "Liên kết lượng tử", vốn chỉ mô tả tương tác của những hạt lượng tử cùng tính chất. Tôi thường nhắc nhở các học viên Địa Lý Lạc Việt, rằng: "Một lý thuyết được coi khoa học, thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được". Do đó, khi khoa học hiện đại xác định tính chất đồng đẳng của hai hạt lương tử - dù cách xa nhau đến mấy - sẽ có sự vận động tương đồng, nếu chúng ta tác động vào một trong hai hạt còn lại. Vậy thì nó phải có một "Trường tương tác", để qua đó chúng nhận biết sự tương tác của nhau. Nếu không hiểu biết về bản chất của môi trường truyền dẫn tương tác - tức "Trường tương tác Việt" - thì hiện tượng này thì chỉ còn cách giải thích: "Đó là do ý Chúa!". Nhưng - nhân danh nền văn hiến Việt - sự hiểu biết đích thực về Thương Đế theo tiêu chí: Một Lý thuyết thống nhất phải giải thích được cả vấn đề tôn giáo và tâm linh - thí khái niệm về Thượng Đế và sự giải thoát đích thực, sâu sắc hơn nhiều. Tôi có thể chắc chắn với các bạn quan tâm rằng: Tạm thời Thượng Đế không can thiệp trong tương tác lượng tử, mà khoa học gọi là "Liên kết lượng tử". Bây giờ chúng ta quay lại với vấn đề thời gian trong "liên kết lượng tử". Có vẻ như có sự mâu thuẫn khí các nhà khoa học xác định rằng: Nếu ta tác động vào một hạt lượng tử thì "lập tức" hạt lượng tử cùng tính chất sẽ vận động đúng như hạt kia, DÙ KHOẢNG CÁCH BẤT KỲ. Vấn đề được đặt ra: Nếu hai hạt lượng tử đó cách nhau chỉ 8 phút tốc độ ánh sáng - thì theo lý thuyết Tương Đối với giới hạn tốc độ vũ trụ bằng tốc độ ánh sáng - thì phải 8 phút sau, hạt thứ hai mới chịu sự tương tác để có sự đồng đẳng với hạt thứ nhất?! Nhưng về lý thuyết thì các nhà khoa học lại xác định tính tương tác tức thời của hai hạt lượng tử với khoảng cách bất kỳ?! Vậy điều này đã tự phản bác tính giới hạn của tốc độ vũ trụ bằng tốc độ ánh sáng?! Ở đây, tôi mới thí dụ về khoảng cách bằng 8 phút tốc độ ánh sáng - Tức là khoảng cách từ Mặt trời đến trái Đất của chúng ta. Nếu khoảng cách là vô cùng lớn - vài chục năm ánh sáng chẳng hạn - thì sẽ ko thể giải thích tính tức thời vận động đồng đẳng, khi ta tương tác vào một hạt so với khoảng cách với hạt lương tử còn lại. Nhưng sự tương tác tức thời này, lại được chứng minh trên một lý thuyết chặt chẽ và các nhà khoa học gọi là "Liên kết lượng tử". Vậy thì - về bản chất - phải có một sự tồn tại của một dạng vật chất như một môi trường truyền dẫn tương tác tức thời - gần như tuyết đối (Tính Tuyệt đối chỉ có thể tạm định danh là Thượng Đế), mới có thể chứng minh cho lý thuyết về "liên kết lượng tử", về tính tương tác tức thời của hai hạt lượng tử đồng tính chất. Trên cơ sở này, tạm thời tôi đặt một giả thuyết rằng: Phải có một dạng tồn tại trên thực tế, để dẫn đến một tương tác tức thời giữa hai hạt lượng tử đồng tính chất, với dẫn xuất tương tác tức thời - tạm gọi là : Vượt không/ thời gian và nhanh hơn hằng số tốc độ vũ trụ - vốn chỉ coi giới hạn bởi tốc độ ánh sáng theo Thuyết Tương Đối. Và dạng vật chất tồn tại trên thực tế, để có dẫn xuất tương tác tức thời giữa hai hạt lượng tử cùng tính chất đó, chính là khái niệm, mà tôi định danh là "Trường tương tác Việt". Khái niệm "Trường tương tác Việt" - như tôi đã trình bày ở trên - bao hàm luôn khái niệm "Liên kết lương tử" của khoa học hiện đại. Nhưng nó là dạng tồn tại như thế nào của vật chất? "Một lý thuyết được coi là khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể kiểm chứng được". Thực tại vật chất trong khái niệm "Trường tương tác Việt" sẽ được mô tả tiếp theo trong loạt bài viết này. VẬT CHẤT PHI KHỐI LƯỢNG, PHI HÌNH THỂ. Cho đến ngày hôm nay, tri thức nền tảng của nền văn minh hiện đại đã xác định rằng: Tất cả mọi dạng tồn tại của vật chất có khối lượng và có hình thể đều có cấu trúc từ những hạt cơ bản. Những nhà khoa học đẳng cấp Viện Sĩ của các Viện Hàn lâm khoa học trên thế giới, đã so sánh một cách lãng mạn sự tương đồng giữa chiếc chìa khóa và bông hoa hồng, khi chúng có cùng cấu trúc hạt. Nhưng cũng chính sự tiến bộ của khoa học cũng đã xác định rằng: Những hạt cơ bản làm nên những Thiên hà khổng lồ và bông hoa hồng, lại chưa hẳn đã có cấu trúc vật chất có khối lượng. Mà nó có tính chất lưỡng tính "sóng" và "hạt". Có vẻ như vật chất - theo khái niệm vật chất hiện đại (Trừ tôi - có định nghĩa về vật chất của riêng tôi) như đang "biến mất"?! Lý thuyết Higg ra đời như một cứu cánh của nhận thức khoa học hiện đại về sự biến mất của vật chất. Nhưng như tôi đã trình bày - Từ 2008, tôi đã khẳng định: Lý thuyết Higg sai! KHÔNG CÓ HẠT CỦA CHÚA! Cũng ngay từ những bài viết đầu tiên trong topic "Có hay không Hạt của Chúa", tôi đã xác quyết rằng: Đây không phải là một quẻ bói - cho dù tôi đang sống bằng nghề coi bói. Mà nhân danh một hệ thống lý thuyết khoa học vượt trội, có cội nguồn văn hiến Việt, đã dẫn đến sự khẳng định của tôi về điều này. Và tôi cũng xác định sẽ sẵn sàng trình bày để chứng minh - nhân danh khoa học - trước tất cả các nhà khoa học tinh hoa, rằng: Vì sao lý thuyết Higg sai! Nhưng cho đến ngày hôm nay, chẳng ai quan tâm vì sao lý thuyết Higg sai. Mặc dù để thực nghiệm lý thuyết Higg, người ta đã tiêu tốn cả trăm tỷ Dollar. Nhưng nguyên nhân để lý thuyết Higg sai, sẽ được mô tả trong loạt bài viết này, khi tôi chứng minh rằng: những dạng tồn tại của vật chất phi khối lượng, phi hình thể, là tiền đề và cũng là nguyên nhân tạo nên cấu trúc của tất cả các hạt cơ bản, các hạt lưỡng tính... cho đến những Thiên hà khổng lồ đang vận động trong vũ trụ, và cũng chính là MÔI TRƯỜNG TRUYỀN DẪN TƯƠNG TÁC CỦA CÁC DẠNG TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT CÓ KHỐI LƯỢNG, ĐƯỢC MÔ TẢ BẰNG CÁC CÔNG THỨC VẬT LÝ CỦA NỀN VĂN MINH HIỆN ĐẠI, Môi trường truyền dẫn tương tác đó, tôi đã định danh là: "Trường tương tác Việt" và tôi đang trình bày ở đây. Thưa quý vị và các bạn quan tâm, Sự tồn tại của các dạng vật chất phi khối lương và phi hình thể này, chính là "trường tương tác Việt" và là tiền đề cấu thành các dạng HẠT CƠ BẢN. Tôi hiểu rất rõ bản chất của chúng - nhân danh nền văn hiến Việt. Và đó cũng là nền tảng tri thức để tôi xác định: Lý thuyết Higg sai. Nhưng có một điều chắc chắn răng: Hầu hết trong hệ thống tri thức khoa học hiện đại, người ta có thể mô tả một cách chi tiết những cấu trúc vật chất hữu thể và có khối lương, cũng như sự vận động của các hạt cơ bản và cả những hành tinh trong Thái Dương hệ với những Thiên hà xa xôi. Tri thức của nền văn minh hiện đại cũng nói đến khái niệm "VẬT CHẤT CÓ KHỐI LƯỢNG" một cách rất trực quan. Nhưng có vẻ giới khoa học tinh hoa, chưa quan tâm lắm đến những dạng vật chất phi khối lượng, phi hình thể. Và thậm chí tôi chưa thấy ai trong giới khoa học tinh hoa, có tính chính thống của nền văn minh hiện đại - (Cũng có thể do tri thức của tôi bị giới hạn) - mô tả dạng tồn tại của vật chất phi khối lượng, phi hình thể. Nếu có thì người ta mới chỉ đặt vấn đề về nó. Mặc dù chính những dạng tồn tại của loại vật chất này, đã tạo ra các hạt cơ bản và chính là "Trường tương tác Việt". Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Những thuật ngữ "Vật chất phi khối lượng, phi hình thể" và "Trường tương tác Việt" - mà tôi đang nói ở đây - không phải là những khái niệm mơ hồ, không thể kiểm chứng. Mà nó rất thật, đang tồn tại ngay trong cấu trúc sinh học của muôn loài, trong các dạng vật chất có khối lượng, trong mỗi con người chúng ta, trong cơ thể của những kẻ ăn mày và các con người thuộc giới thượng lưu cao quý, trong cuộc sống, trong xã hội, trong từng hạt cơ bản và cả những Thiên hà khổng lồ và khắp vũ trụ này. Tôi có thể khẳng định ngay bây giờ và chứng minh sau: Nếu không có sự tồn tại của các dạng vật chất phi khối lượng, phi hình thể thì tất cả mọi tương tác trong vũ trụ này đều chỉ là những khái niệm rất mơ hồ. Tri thức khoa học hiện đại cũng thừa nhận rằng: "Tương tác là nguyên nhân hình thành tất cả mọi sự vật, sự việc. Bản chất tương tác như thế nào thì sự hình thành sự vật, sự việc sẽ như thế đó". Có những lúc tôi mỉm cười một mình như một gã dở hơi, rằng: Nếu vô hiệu hóa "Trường tương tác Việt" thì đầu đạn hạt nhân của các siêu cường trên thế giới này, sẽ nổ to hơn tiếng pháo chuột của trẻ em Việt, chơi trong những ngày Tết từ những thời xa vắng. Vâng! Nhiều lúc tôi "dở hơi biết bơi như thế". Và mỗi lần như vậy, chỉ để nghe thiên hạ đàm tiếu về tính "Chém gió" của tôi. Thí dụ như việc "Đuổi mưa" trong Đại Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hanoi. Tôi trở thành "người của công chúng", không phải vì kết quả sự việc đúng như tôi xác định. Mà là...thiên hạ chửi to quá. Hi. Đây chính là sự ứng dụng vô hiệu hóa "Trường tương tác Việt" trong tương tác của thời tiết. Trong vụ việc này, có một người duy nhất làm tôi giật mình và rất ngạc nhiên. Đó chính là Giáo sư Viện sĩ Đào Vọng Đức. Ông phát biểu trên báo chí: "Về mặt lý thuyết, tôi tin Nguyễn Vũ Tuấn Anh làm được" (?!). Nhưng đó là lý thuyết nào? Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Để mô tả một cách hoàn hảo một hệ thống lý thuyết - nhân danh nền văn hiến Việt - liên quan đến vật chất phi khối lượng, phi hình thể - là những dạng tồn tại trên thực tế và chính là "Trường tương tác Việt" và là nguyên nhận tạo thành tất cả các dạng vật chất có khối lượng - lại rất phức tạp. Vì nó nằm ngoài hệ thống tri thức nền tảng của nền văn minh hiện nay. Do đó, nó cần những "TIỀN ĐỀ" ("Tiền" có dấu huyền, không phải "Tiên đề" không thể chứng minh). Tôi sẽ tiếp tục trình bày những "TIỀN ĐỀ" trong loạt bài có chủ đề này. TIỀN ĐỀ THỨ NHẤT: ĐỊNH NGHĨA VỀ VẬT CHẤT - NHÂN DANH NỀN VĂN HIẾN VIỆT. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Trong lịch sử văn minh nhân loại, các triết gia và khoa học gia đã bốn lần định nghĩa về vật chất. Và định nghĩa được chính thức công nhận và phổ biến ở Việt Nam, chính là đường link mà tôi dẫn trong đường link dưới đây: http://thanhtra.edu.vn/category/detail/157-trinh-bay-dinh-nghia-vat-chat-cua-le--nin-va-y-nghia-cua-phuong-phap-luan-nay.html Sở dĩ tại sao những triết gia và những nhà khoa học phải định nghĩa lại vật chất?! Đó chính là vì sự phát triển của nhận thực trực quan trong quá trình tiến hóa của lịch sử văn minh và nhu cầu tổng hợp những gía trị nhận thức để khái quát hóa trong những khái niệm mô tả nó. Cho nên, con người đã định danh lại những khái niệm căn bản trong nền tảng tri thức của nền văn minh, để tiếp tục phát triển. Và cho đến ngày hôm nay - như tôi đã trình bày ở bài trước: các cấu trúc vật chất lưỡng tính của các hạt lượng tử, đã dẫn đến kết luận của các nhà khoa học và cả các triết gia, là "Vật chất đang biến mất"!? Vậy bản chất của "vật chất" là gì? Khi nó "Biến mất"?! Để tóm gọn vấn đề, tôi đặt lại một câu hỏi từ rất lâu, từ khi tôi còn tuổi trung niên, là: "Có dạng tồn tại nào của vật chất, mà không chứa đựng năng lượng và tương tác không?". Câu trả lời chắc chắn là "KHÔNG"! Chính công thức nổi tiếng của Albe Einstein xác định điều này: E = mC. 2( Bình phương). Vậy thì, TIỀN ĐỀ THỨ NHẤT của tôi làm cơ sở cho việc mô tả "Trường tương tác Việt", chính là một định nghĩa về vật chất như sau: "Bất cứ một dạng tồn tại nào, chứa đựng năng lương và tương tác, thì đó là vật chất". Như vậy, với định nghĩa mới nhất này - nhân danh nền văn hiến Việt - đã chấm dứt 5000 năm trong lịch sử văn minh nhân loại, về các cuộc tranh luận giữa Duy tâm và Duy vật. Không có cái gì gọi là : "Phi vật chất" cả. Kể cả Thượng Đế và hạt cơ bản. Nếu Thượng Đế có tương tác thì tất yếu Ngài phải có năng lượng và Ngài là một thực trạng của vật chất. Với định nghĩa này, chẳng ảnh hường gì đến niềm tin tôn giáo vốn được xếp vào "Chủ nghĩa Duy Tâm", nếu những người có tín ngưỡng vẫn tôn vinh Ngài như là một thực thể Toàn Năng. Và cũng chẳng ảnh hưởng gì đến tư duy của những nhà khoa học, vốn hay hoài nghi về sự hiện diện của Thượng Đế và những người theo chú nghĩa Vô Thần, vì tất cả cũng là "vật chất" cả. Đấy là TIỀN ĐỀ THỨ NHẤT CỦA TÔI. Và các nhà khoa học, hay triết học tinh hoa có thể không công nhận tiền đề này. Vâng! Xin cứ tự nhiên. Thiên Sứ vốn rất dân chủ và tôn trọng tự do học thuật. Nhưng rất mong tiền đề này phải được công nhận. Vì nếu ko, sẽ không thể tiếp tục trình bày về "Trường tương tác Việt". Xin hãy tạm thời gác lại các cuộc tranh luận về Duy Tâm và Duy vật, vốn hăng say như hát hay trong lịch sử văn minh nhân loại, để xác định chân lý đã. Thời gian còn dài mà. Bây giờ tôi xin trình bày tiếp tiền đề thứ II. TIỀN ĐỀ THỨ HAI: VẬN TỐC TỚI HẠN CỦA VŨ TRỤ BẰNG /O/ Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Về mặt lý thuyết, tôi tin rằng có hai vấn đề mà quý vị và các bạn sẽ đồng ý với tôi rằng: 1/ Nếu tốc độ giới hạn của vũ trụ bằng tốc độ ánh sáng, thì chúng ta sẽ không thể nào nhìn thấy những vật thể có tốc độ bằng tốc độ ánh sáng, cho dù với những phương tiện tối tân nhất. Nhưng thực tế trực quan cho thấy các nhà khoa học vẫn nhìn thấy và đo được các hạt cơ bản có tốc độ ánh sáng. Vậy chứng tỏ rằng: Phải có một môi trường nhận thức nhanh hơn tốc độ ánh sáng để chúng ta có thể nhận thức được nó. 2/ Chính sự tương tác tức thời của hai hạt lương tử cách xa nhau bất kỳ khoảng cách nào, đã xác định một môi trường tương tác lượng tử - nào đó, có thật (Đang trình bày trong loạt bài viết này) - nhanh hơn tốc độ ánh sáng cho những khoảng cách đó, để xác định tính tức thời của "Liên kết lượng tử". Nhưng về mặt lý thuyết, nếu tốc độ vũ trụ được giới hạn bởi bất cứ tốc độ nào - thì - nhận thức của chúng ta sẽ bị giới hạn trong tính cục bộ của những phần tử nằm trong tập hợp của giới hạn đó. Và thực tế, những khái niệm về sự giải thoát, về lý thuyết thống nhất sẽ là không có thật, chính vì giới hạn nhận thức này. Vậy thì về mặt lý thuyết và có tính TIỀN ĐỀ cho loạt bài viết này, chính là giới hạn tốc độ vũ trụ phải là TUYỆT ĐỐI. Và điều này sẽ giải thích tất cả những vấn đề của một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT cho tất cả mọi vấn đề liên quan tới nó, từ khởi nguyên vũ trụ, quá trình lịch sử hình thành vũ trụ, cho đến một hệ thống lý thuyết mô tả những quy luật tương tác và vận đông của vũ trụ có tính tiên tri, trong học thuyết Âm Dương ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt. KHÍ TRONG LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Như vậy, với hai tiền đề đã trình bày, thì sự cấu thành của vũ trụ này không đơn giản chỉ là vật chất có khối lượng. Mà chúng còn tồn tại những dạng vật chất phi khối lượng và phi hình thể. Nhưng vẫn được coi là vật chất, vì có khả năng truyền dẫn năng lượng và tương tác. Nếu thuyết Tương Đối của ngài Albe Einstein xác định rằng: Tốc độ vũ trụ chỉ giới hạn bằng tốc độ ánh sáng; và rằng: khi đạt tới tốc độ này thì vật chất chỉ có thể tồn tại dưới dạng hạt cơ bản - thì - bằng chính những thực nghiệm lượng tử, đã cho thấy: có một thực trạng tồn tại có tính truyền dẫn thông tin, từ hạt lượng từ này, đến hạt lượng tử tương đồng ở bất cứ khoảng cách nào với tốc độ gần như tuyệt đối. Thực trạng tồn tại đó, được tôi mô tả bằng cụm từ, gọi là "Trường tương tác Việt". Và cũng chính là dạng tồn tại của vật chất phi hình thể, phi khối lượng. Đây cũng là hiện tượng mà trong các bản văn cổ Đông phương, tồn tại dưới dạng bản văn chữ Hán - kết quả của hàng ngàn năm Hán hóa nền văn hiến Việt, một thời huy hoàng bên bờ nam sông Dương tử - gọi là "KHÍ". Bỏ qua tất cả các dạng mô tả một cách cục bộ về :Khí" trong các bản văn chữ Hán, được nhắc đến trong tất cả các ngành liên quan; từ Đông Y, Thiên Văn, Địa Lý phong thủy, bốc Dịch....Bởi vì, tôi cần xác định ngay rằng: Tất cả những danh từ mô tả trong bản văn chữ Hán liên quan đến "Khí" đều hết sức mơ hồ, cho đến tận ngày hôm nay, khi tôi đang gõ những hàng chữ này. Tôi cũng cần xác định ngay rằng: Tất cả các nhà nghiên cứu Hán Nho kim cổ từ hàng ngàn năm nay, vẫn chẳng hiểu gì về bản chất của khái niệm "Khí" . Nhân danh nền văn hiến Việt, tôi định nghĩa về "Khí" như sau: "KHÍ" là một danh từ mô tả khái niệm về sự tồn tại của những dạng vật chất phi hình thể, phi khối lượng, được hình thành bới chính sự tương tác của vật chất và tương tác trở lại với vật chất". Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành và siêu công thức toán học mô tả nội hàm của học thuyết này - nhân danh nền văn hiến Việt - thì "Khí" chính là nguyên nhân cấu tạo nên các hạt cơ bản của vật chất có khối lượng. Và cũng trong học thuyết này thì "các dạng tồn tại của "KHÍ" cũng được phân loại theo Ngũ hành và Âm Dương". Trong lịch sử hình thành vũ trụ ở dạng khởi nguyên - sau giây /O/ - thì KHÍ chính là dạng vật chất đầu tiên xuất hiện và tiếp tục tương tác dẫn đến sự bùng nổ với vận tốc gần như TUYỆT ĐỐI. Những "hạt cơ bản" được hình thành trong giai đoạn của bùng nổ và tương tác phức tạp của nhiều dạng "khí". Không hề có một loại "KHÍ" duy nhất tạo ra các "hạt cơ bản", dù được định danh bằng bất cứ khái niệm nào. Tất nhiên sẽ không thể có "HẠT CỦA CHÚA" với ý nghĩa là điều kiện duy nhất tạo ra "hạt cơ bản". Nhưng trình bày ở đoạn trên của tôi, đó là sự tóm tắt về sự mô tả một thực tại, được xác định bởi thuyết ADNh - nhân danh nền văn hiến Việt - để giải thích: Vì sao tôi xác quyết ngay, mà không cần tư duy sâu: "KHÔNG CÓ HẠT CỦA CHÚA!". Nói một cách khác: Sự tương tác của các dạng vật chất phi hình thể, phi khối lượng - mà Lý học Việt gọi là "Khí" - trong điều kiện với tốc độ gần như tuyệt đối - đã tạo những "Hạt cơ bản" ở trạng thái khởi nguyên của vũ trụ. Những trạng thái tồn tại của "Khí" - vật chất phi hình thể - nguyên nhân của các loại hạt - vẫn tồn tại với tư cách là những môi trường dung chứa những loại hạt cơ bản sinh ra từ nó. Và đó cũng chính là môi trường truyền dẫn cho sự vận động tức thời của những hạt cơ bản tương đồng sinh ra từ nó. Điều này giải thích vì sao, sự tương tác gần như tức thì. Điều này giải thích tính vận động gần như tuyệt đối ở trạng thái khởi nguyên của các dạng "Khí" hình thành ban đầu trong vũ trụ và tiếp tục là dung môi hàm chứa các hạt lượng tử sinh ra từ nó. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Tôi đã trình bày xong về bản chất của "Trường tương tác Việt". Có thể so sánh nội dung trình bày của tôi với kết luận của bài viết mà Giáo sư Cao Chi biên dịch và giới thiệu, được trích dẫn như sau: Trích: ["Kết luận Như vậy câu hỏi không thời gian được dệt nên bằng điều gì dường như không còn là vô nghĩa mà còn gợi nên một hướng đi quan trọng để trả lời câu hỏi dó. Câu hỏi đã có hướng trả lời :không thời gian (hấp dẫn) được dệt nên nhờ những liên đới (lượng tử). Câu trả lời này có thể đã vén một góc màn của vấn đề lớn là vấn đề thống nhất lượng tử với hấp dẫn.Không thời gian không phải là một ý niệm trừu tượng nào đó mà là một vật thể được cấu tạo bởi những liên đới lượng tử. Ngoài ra hướng nghiên cứu này lại có liên quan đến vật lý môi trường đông đặc thông qua mạng tensor đến thông tin , máy tính thông qua mã lượng tử sửa chữa lỗi. Ở đây các nhà vật lý chưa đề cập đến hệ quả triết học của vấn đề IfQ."] Còn tôi, qua những gì đã trình bày, tôi cần xác định ngay rằng: Không có vấn đề "thống nhất Lượng tử với hấp dẫn"; cũng chẳng có vấn đề "Không thời gian không phải là một ý niệm trừu tượng nào đó mà là một vật thể được cấu tạo bởi những liên đới lượng tử". Bởi vì làm gì có thời gian tồn tại như một thực tế để trở thành một giá trị thực tế?! Khái niệm "Thời gian" cũng như khái niệm "Điểm" trong Toán học, nó chỉ là những khái niệm quy ước của chính con người đặt ra. Nó không có thật, nên nó không thể thống nhất với những thực tại khách quan để trở thành những dạng tồn tại có năng lương và tương tác. Cũng chẳng có một "hệ quả triết học" nào cho "vấn đề IfQ". Hình như các tri thức tinh hoa của nền văn minh hiện đại lại tiếp tục lặp lại sai lầm, như hiện tượng "Hạt Của Chúa"?! Bởi vì, chỉ có "Trường tương tác Việt" với các dạng tồn tại của vật chất phi hình thể, phi khối lượng đang chi phối mọi sự tương tác và vận đông có tính quy luật trong vũ trụ này. Nó tồn tại ngay cả trong tôi, trong anh/ chị, trong tất cả các bạn, trong tất cả các hạt cơ bản và cả trong những Thiên hà xa xôi. . Xin cảm ơn quý vị và các bạn quan tâm chia sẻ. SG, Giờ Tý 16. Tháng Tư Mậu Tuất Việt lịch. Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
  12. https://www.youtube.com/watch?reload=9&v=9WiF03bSYm4&feature=youtu.be
  13. VÌ SAO THIỆU VĨ HOA PHỦ NHẬN MỐI LIÊN HỆ HÀ ĐỒ LẠC THƯ VỚI BÁT QUÁI? Thưa quí vị và các bạn quan tâm. Với sự trích dẫn giấy trắng mực đen như trên, chúng ta thấy rằng: Ông Thiệu Vĩ Hoa đã phủ nhận mối liên hệ giữa Hà Đồ Lạc Thư với Bát quái. Ông ta cũng hiên ngang tuyên bố: "Đó là điều không ai phủ nhận được". Sách của ông ta phát hành hàng triệu bản ở Trung Quốc và dịch bán đầy ở nước ngoài, trong đó có Việt Nam. Không thấy ai lên tiếng phản biện?! Tất nhiên, trừ ra Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh - tức DIEU NGUYENVU đã nói với các bạn từ gần 20 năm trước và bây giờ làm rõ ở đây. Muốn biết vì sao ông ta lại phát biểu như đúng rồi vậy, cần xem lại lịch sử hình thành kinh Dịch trong cổ thư chữ Hán. Cái mà ông ta nói là "Kinh Dịch" và "Truyện Dịch", có lịch sử được mô tả trong chính "Truyện Dịch". "Kinh Dịch" trong câu này của Thiệu Vĩ Hoa, là: ông ta muốn nói đến "Soán từ" và Hào từ" được coi là của Chu Văn Vương và con ông ta là Chu Công Đán, làm ra vào 1200 năm trước CN. Nhưng trong "Truyện Dịch", vốn được coi là của Khổng tử, làm ra sau đó vào thế kỷ thứ V sau công nguyên. Tức sau Chu Văn Vương và Chu Công Đán "bảy, tám trăm năm", mà Thiệu Vĩ Hoa nói tới. Trong "Kinh Dịch" mà Thiệu Vĩ Hoa nói tới - của Chu Văn Vương và Chu Công Đán - chỉ mô tả tính chất của quẻ và từng hào trong quẻ. Không hề nói gì đến chính tác giả của nó. Toàn bộ lịch sử Kinh Dịch, lại được suy luận từ chính "Truyện Dịch" ra đời sau đó "bảy, tám trăm năm" như Thiệu Vĩ Hoa nói. Từ chính "Truyện Dịch" này, người sau nói tới lịch sử Kinh Dịch ra đời từ thời Phục Hy hơn 5000 năm trước CN. Trong đó vua Phục Hy lấy Hà Đồ làm cơ sở cho đồ hình Tiên Thiên bát quái, Và cũng chính "Truyện Dịch" này, làm cơ sở để người đới sau cho rằng: Kinh Dịch của Chu Văn Vương làm ra "Hậu Thiên Bát quái căn cứ trên Lạc Thư". Nhưng ông Thiệu Vĩ Hoa không thể tìm thấy "cơ sở khoa học" (*) của sự liên hệ giữa Hà Đồ, Lạc Thư với Bát quái; hay nói cách khác: Chính ông ta cũng nhận thấy tính vô lý của sự phối hợp "Hà Đồ với Tiên thiên bát quái" và "Lạc Thư với Hậu Thiên bát quái", nên đã phủ nhận như trên. Không phải riêng ông Thiệu Vĩ Hoa mới có ý kiến như vậy, mà hầu hết những học giả và các nhà nghiên cứu cổ kim của chính Trung Quốc và cả thế giới này, đều nhận thấy rõ như vậy và không hiểu tại sao (Ngoại trừ những kẻ háo danh, láu cá nhao nhao phản biện)?! Thí dụ như nhận xét của học giả Nguyễn Hiến Lê - nhà nghiên cứu Dich học nổi tiếng của Việt Nam - viết trong cuốn "Kinh Dịch - Đạo của người quân tử" (Nxb Văn học 1994, trang 18), như sau : Chưa hết, nhà nghiêu cứu Nguyễn Hiến Lê còn viết: Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Như vậy, Thiên Sứ tôi đã trình bày đầy đủ nguyên nhân tại sao ông Thiệu Vĩ Hoa - ngôi sao Bắc đẩu dịch học của Tàu - lại phát biểu như vậy! Kết luận: chính vì mâu thuẫn nội tại trong mối liên hệ giữa đồ hình "Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát quái" và "Lạc Thư với Hậu Thiên bát quái" - và toàn bộ lịch sử Kinh Dịch được mô tả trong "Truyện Dịch" vốn được coi - và gán ghép cho "Khổng Tử viết". Tiếc thay cho ông Thiệu Vĩ Hoa - ngôi sao Bắc đầu Dịch học Tàu, sự kết tinh toàn bộ nền văn minh Tàu vốn tự nhận là chủ nhân của kinh Dịch và Bát quái, chính là ở chỗ: Khi đã phủ nhận "Truyện Dịch" thì ông ta và tất cả các học giả trên thế giới này, cũng phủ nhận luôn toàn bộ lịch sử hình thành Kinh Dịch trong lịch sử văn minh Hán. Vì lịch sử hình thành Kinh Dịch được mô tả từ thời "Phục Hy tắc Hà Đồ hoạch quái" (Tức "Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát quái"), lại nằm trong chính ";Truyện Dịch ra đời sau đó "bẩy, tám trăm năm"?! Chưa hết! Phủ nhận "Truyện Dịch" - vốn "ra đời sau kinh Dịch bẩy tám trăm năm", cũng đồng nghĩa với phủ nhận luôn khái niệm Âm Dương - lần đầu tiên được nói đến trong "Truyện Dịch" - và cũng phủ nhận luôn cấu hình "Hậu Thiên Bát quái" vốn được coi là của Chu Văn Vương làm ra trước đó, cũng được mô tả trong Truyện Dịch?! Để hàng ngàn năm sau, các đạo sĩ đời Tống công bố đồ hình này, và nó được mô tả một cách rất mơ hồ trong "Truyện Dịch"?! Hơ?! Thía lày nà thía lào? Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Qua đoạn phân tích trên, đã xác nhận một cấu trúc nội hàm trong chính bản văn kinh Dịch từ cổ thư chữ Hán, lưu truyền từ hơn hai Thiên niên Ký - Tính từ khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miến nam sông Dương tử. Và cũng chính từ trong bản văn chữ Hán của kinh Dịch cũng tự nó phủ nhận lịch sử kinh Dịch trong cổ thư chữ Hán. Nền văn minh Hán và cả thế giới văn minh hiên đại ngày nay, cũng chịu bó tay, không thể phục hồi được những gía trị huyền vĩ, đầy bí ẩn của nền văn minh Đông phương. Nhân danh nền văn hiến Việt và chỉ có nhân danh nền văn hiến Việt, trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ bên bờ nam sông Dương Tử - mới đủ tư cách phục hồi lại những giá trị đích thực của nền văn minh Đông phương. Thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái - siêu công thức toán học của hệ thống lý thuyết này - chính là LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT mà nhân loại đang tìm kiếm. Cảm ơn sự quan tâm và chia sẻ của quý vị và anh chị em. Thiên sứ
  14. Ơ ơ ơ, nay Aygia đưa lên lại mới thấy bác Hải còn thiếu phần Huyền không nhỉ?
  15. Em là ai? muốn vào nhóm nào? nếu muốn góp ý mang tính xây dựng cho Trung tâm thì có thể góp ý ở đây cũng được.
  16. Thày Thiên sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Nguyễn Vũ Diệu) phân tích về Ngôn ngữ Việt và Bản chất khái niệm Ngũ hành Đối với những kẻ dốt nát, ngu ngục, nhưng thích thể hiện, hoặc chống đối, tôi delete ngay, mà không cần lý do - "Thiên Sứ không có trách nhiệm thuyết phục những con bò" - Nhưng với cô Hạnh Lê vì không hiểu và khiêm tốn học hỏi.Cho nên, tôi vì cô mà nói sâu thêm ý nghĩa của Ngũ Hành trong tiếng Việt gồm các từ Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và so sánh với ngôn ngữ Tàu để thấy chân lý thuộc về Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ nam sông Dương tử và là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương. 1/ Hành Kim: Khi tiếng Việt nói KIM để mô tả một hành trong Ngũ hành thì phân biệt rất rõ với từ "kim LOẠI". Khái niệm "Kim loại" trong tiếng Việt, đồng nghĩa với khái niệm kim loại trong ngôn ngữ hiện đại. Nhưng khái niệm "KIM" mà ngôn ngữ Việt mô tả hành "KIM' trong Ngũ hành thì hoàn toàn khác hẳn khái niệm "Kim loại'. Từ KIM trong tiếng Việt, không có nghĩa là "Đồng" trong tiếng Hán, và sau đó chỉ có nghĩa là "vàng" (Như chính bài "phản đối" của Trùng Dương Mai viết ở trên và ngay trong bài viết này). Từ KIM trong tiếng Việt cũng không đồng nghĩa với "kim loại". Nhưng nó đồng nghĩa với cây KIM, cái KIM, trong "se chỉ, luồn KIM"; "kim chỉ", Và hình tương "cây kim", "cái kim" trong ngôn ngữ Việt, chính là một HÌNH TƯỢNG mô tả khái niệm về thuộc tính của hành KIM trong Ngũ hành của tiếng Việt, mà chính những cổ thư chữ Hán đã nói tới, là: "Kim": "Nhọn sắc, cứng, mạnh". Rõ ràng, từ KIM - đồng nghĩa với "KIM, chỉ" trong tiếng Việt, mô tả một thuộc tính của một dạng vật chất có khả năng phân loại những cấu trúc và cả sự vận đông của những cấu trúc vật chất có cùng thuộc tính. Chứ không phải mô tả một sự một cấu trúc vật chất cụ thể như trong tiếng Hán, là: Đồng, vàng. 2/ Hành Thủy. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng THỦY, để mô tả hành Thủy trong Ngũ hành, không đồng nghĩa với "nước". Ngược lại, trong tiếng Hán thì 水 > shuǐ (Suẩy) là một từ chung về cả ký tự đều mô tả là "nước". Trong tiếng Việt, từ "THỦY" và "nước" phát âm hoàn toàn khác nhau, ký tự cũng hoàn toàn khác. Cho nên, trong tiếng Việt, khí nói đến "THỦY KHÍ" thì nội hàm khái niệm không thể tương tự là "Khí của nước". Nhưng trong tiếng Hán và ký tự Hán thì chỉ có thể hiểu theo một nghĩa duy nhất là "khí của nước". Ví dụ, cổ thư chữ Hán viết trong "Hồng Phạm cứu trù": Trù thứ nhất, gồm: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ. 1.五行,即:水、火、木、金、土. Rõ ràng trong tiếng Hán chỉ có một từ duy nhất, ký tự 水, mà họ đọc là "Suẩy", có nghĩa là "NƯỚC" trong tiếng Việt. Còn tiếng Việt khí mô tả hành THỦY trong Ngũ hành, đọc là "THỦY", và "NƯỚC" hoàn toàn phân biệt khác nhau. Thí dụ, tiếng Hán viết: 引 水 入 田 . Âm Việt Nho đọc: "Dẫn thủy nhập điền". Tiếng Việt với khái niệm tương tự là "Đưa nước vào ruộng". Tương tự như vậy, nếu dịch ra những ngôn ngữ khác phi Hán - kể cả tiếng Việt - thì tất cả các ngôn ngữ phi Hán, đều hiểu - qua tiếng Hán, khi mô tả Ngũ hành - thì ký tự 水, đọc là "Suẩy" có nghĩa là "nước". Hay nói một cách khác: Tiếng Hán, khi mô tả ngũ hành thì ký tự 水, đồng nghĩa với khái niệm "nước" trong tiếng Việt và các ngôn ngữ liên quan. Và đó là từ mô tả một dạng vật chất có cấu trúc cụ thể là "nước", Khoa học hiện đại mô tả cấu trúc vật chất cụ thể là H2O. Nhưng trong tiếng Việt không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt: "THỦY" là "Nước" được. Vì trong tiếng Việt THỦY & NƯỚC, phát âm và chữ viết khác nhau - và mặc dù, nếu dịch ra tiếng Hán thì chung một ký tự 水. Vì trong tiếng Việt, "NƯỚC" chỉ là hình tượng mô tả "THỦY". Cũng như: Nói "Mẫu Thoải" (Thủy) trong tiếng Việt, không thể hiểu là "mẹ của nước", hoặc "Mẹ nước". Mà trong ngôn ngự Việt khi nói "Mẫu Thoải (Thủy)", cần hiểu rằng nguồn gốc của Thủy. Tôi đã phân tích hình tượng "Tam tòa thánh Mẫu" trong tín ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam, liên quan đến Kinh Dịch Lạc Việt và thuyết Ngũ hành. Trong đó: Mẫu Thượng Thiên áo trắng (Thuộc Kim. Đoài/Tốn), Mẫu Đệ nhất Áo Đỏ (Quái Khôn). Và Mẫu Thoải (Thủy) áo Xanh biển (Xanh Dương, xanh da trời), trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" (Nxb Tri Thức . 2014). 3/ Hành Mộc. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng MỘC, phát âm và ký tự khác hẳn "gỗ", "cây", "cỏ". Còn trong tiếng Hán thì chỉ có ký tự 木, tương đương và đồng nghĩa với khái niệm "cây" trong tiếng Việt. Thí dụ: 草木 . Từ Việt Nho là "Thảo MỘC", nghĩa là "CÂY cỏ". Tóm lại, ký tự cây trong tiếng Hán 木 đọc là Mủ, tức là một cấu trúc vật chất cụ thể, có nghĩa tương đương tiếng Việt - và các ngôn ngữ khác - là 'CÂY'. Tiếng Việt Nho là đọc và ký tự trong tiếng Việt là MỘC, để mô tả hành MỘC trong Ngũ Hành, còn để chỉ "thợ MỘC" và không thể nhầm lẫn với "thợ cây", hoặc trong tiếng Việt khi nói "Việc THỔ MỘC" thì hiểu rằng: đó là việc liên quan đến xây, cất nhà cửa. Không ai hiểu là việc của "cây, đất" cả. Vì trong tiếng Việt, đây là những ngôn từ với ký tự khác nhau. 4/ Hành Hỏa. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng HỎA, phát âm và ký tự khác hẳn "lửa". Trong tiếng Hán, từ "lửa" (Hỏa) chỉ dùng một ký tự 火, Trong tiếng Việt, âm Việt Nho là "HỎA", và khác hẳn về âm và ký tự với "LỬA". Tức là tiếng Hán với ký tự 火 đọc là "hủa", chỉ để mô tả một trạng thái vật chất cụ thể tồn tại. Từ 火 trong tiếng Hán dù dịch ra ngôn ngữ nào, cũng tương đương khái niệm Việt là "LỬA" và không phải là khái niệm HỎA trong tiếng Việt khi mô tả một hành trong Ngũ Hành. 5/ Hành Thổ. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng THỔ, phát âm và ký tự khác hẳn "Đất". Ngược lại, trong tiêng Hán, để mô tả khái niệm tương đương khái niệm "Đất" trong tiếng Việt, chỉ có một ký tự 土, đọc là "Thủ". Thí dụ: "Đất nước" trong ký tự tiếng Hán, là 國土; hoặc như các từ sau: “niêm thổ” 黏土 đất thó, đất sét, “sa thổ” 沙土 đất cát, “nê thổ” 泥土 đất bùn. Tóm lại, trong tiếng Hán, ký tự THỔ dùng trong Ngũ hành và mô tả khái niệm tương đương "Đất" trong tiếng Việt - và các ngôn ngữ khác - là như nhau. Nhưng trong tiếng Việt, ký tự THỔ dùng trong Ngũ hành và các ứng dụng trong ngôn ngữ Việt khác như: "THỔ trạch" "Liền Thổ" và khái niệm "Đất" và "sát ĐẤT" khác hẳn nhau. Qua sự mô tả ở trên, thi thấy rất rõ ràng, rằng: Các ký tự Hán mô tả Ngũ hành: 金; 木; 水; 火;土 Được hiểu tương tự khái niệm: "VÀNG, CÂY, NƯỚC, LỬA, ĐẤT" trong tiếng Viêt và các ngôn ngữ khác. Tức là nó mô tả các trạng thái cấu trúc vật chất rất cụ thể tồn tại trên Địa Cầu. Khác hẳn cách phát âm và ký tự của ngôn ngữ Việt mô tả ngũ hành: KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ. Mặc dù từ Việt Nho - Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ này, đều có ký tự tương đương trong tiếng Hán. Nhưng trong tiếng Việt thì nghĩa của chúng khác hẳn ký tự tương đương trong tiếng Hán. Trong tiếng Việt, các từ KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ một tả năm trạng thái và THUỘC TÍNH VẬN ĐỘNG VÀ TƯƠNG TÁC CỦA DẠNG CẤU TRÚC VẬT CHẤT CƠ BẢN, CÓ THỂ PHÂN LOẠI TRONG KHÔNG - THỜI GIAN. Do đó, với các nhà nghiên cứu ở các dân tộc phi Hán - kể cả Việt Nam - nếu mặc định thuyết Âm Dương Ngũ hành của người Hán và hiểu theo cách hiểu của người Hán thì sẽ dẫn tới nhầm lẫn khái niệm về bản chất thật của khái niệm Ngũ hành. Bởi vì, bản chất khái niệm KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ theo tiếng Việt là khái niệm hệ quả của tư duy tổng hợp trừu tượng, nhận thức 5 trạng thái THUỘC TÍNH cấu trúc vật chất có tính phân loại, cho tất cả mọi hiện tượng vận động và tương tác của toàn thể cấu trúc vật chất trong vũ trụ, và trong không/ thời gian. Còn trong tiếng Hán không thể hiện được điều này. Và tiếng Hán, tự nó xác định sự xuất hiện của "VÀNG, CÂY, NƯỚC, LỬA, ĐẤT" - là định tính cấu trúc vật chất cụ thể, đã có trong những giai đoạn đầu tiên của vũ trụ?!? Bởi vậy, nếu các từ KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ mô tả NGŨ HÀNH trong tiếng Việt - thì khi dịch ra tiếng nước ngoài thì buộc phải để nguyên văn và diễn giải, chú thích. Chứ không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt: "Kim là vàng, là đồng", Thủy là nước....được. Vì chính tiếng Việt đã có từ tương đương: "KIM > "Cô gái se chỉ, luồn Kim";" "THỦY> Thủy quân bơi dưới nước"; "MỘC> Thợ MỘC, đốn cây, lấy gỗ"; "HỎA" Hỏa đầu quân dùng súng phun lửa, để đốt...;"THỔ" Sổ Địa bạ ghi THỔ trạch, có diện tích ĐẤT'....vv...và...vv... Những thí dụ trên cho thấy: Không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt những từ trên. Và tiếng Hán với ký tự Hán sẽ rất buồn cười. Vì xác định khái niệm Ngũ hành và quán xét từ nền văn hiến Việt với sự xác định : Nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông Phương, nên tôi mới xác định ngũ hành là 5 yếu tố phân loại THUỐC TÍNH VẬN ĐỘNG &TƯƠNG TÁC CỦA VẬT CHẤT TRONG KHÔNG THỜI GIAN. Chính điều này, đã dẫn tôi đến sự xác định rằng: Hệ thống Nghịch lý toán học hiện đại Cantor hoàn toàn chính xác. Ngũ hành phân loại cả thời gian, chính bởi yếu tố phân loại các thuộc tính vận động, tương tác của vật chất trong không thời gian đó. Nhưng tiếc thay! Chính sự mặc định ngu ngục và dốt nát - mà nền văn hiến Việt đã mô tả "Ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung", khi coi thuyết Âm Dương Ngũ hành có nguốn gốc Hán, đã khiến cho sự nhầm lẫn khái niệm và làm cho cả một nền văn minh Đông phương huyền bí hơn 2000 năm, khi nền văn hiến Việt sụp đổ ở miền Nam sông Dương tử Cảm ơn các bạn và mọi người quan tâm đến bài viết này.
  17. Thanh niên trẻ chia sẻ bản đồ Trung Quốc không hề có Trường Sa, Hoàng Sa Tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”do Trung Quốc xuất bản năm 1905 chỉ rõ lãnh thổ Trung Quốc dừng lại ở đảo Hải Nam. Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Một thanh niên Việt Nam chia sẻ bản đồ cổ Trung Quốc không có Trường sa, Hoàng Sa trên mạng xã hội Chử Đình Phúc từng ra thăm quần đảo Trường Sa. Thạc sĩ Chử Đình Phúc, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, một thanh niên sinh năm 1984 đang thực hiện việc chia sẻ hơn 10 tấm bản đồ cổ của Trung Quốc trên mạng xã hội, mà theo những tấm bản đồ này Hoàng Sa, Trường Sa không nằm trong lãnh thổ Trung Quốc. Chử Đình Phúc từng là sinh viên ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, hiện đang công tác tại Viện khoa học xã hội Việt Nam. Công việc của anh có liên quan trực tiếp đến hoạt động thu thập thông tin, tài liệu về lịch sử Trung Quốc. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên Thạc sĩ Chử Đình Phúc có trong tay những tấm bản đồ cổ của Trung Quốc, Nhật Bản có thể chứng minh được rằng Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về Trung Quốc. Hiện nay, trên trang cá nhân của Chử Đình Phúc có hơn 10 tấm bản đồ với chú thích đầy đủ, thể hiện rõ phân vùng lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc, đặc biệt những tài liệu cổ này cho thấy Hoàng lãnh thổ Trung Quốc không bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa. Xem “kho bản đồ” do Chử Đình Phúc chia sẻ trên trang cá nhân: Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam của nó là tỉnh Hải Nam (năm 1850)- trích trong sách “1850 Thanh nhị kinh thập bát tỉnh dưa địa đồ” (1850清二京十八省舆地图) Bản đồ tỉnh Quảng Đông của nước Trung Quốc năm 1935 bao gồm cả đảo Hải Nam khi đó còn thuộc tỉnh này, không thấy cái gọi là Tây Sa, Nam Sa Bản đồ TQ có tên “Trung Hoa dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), vẽ trong khoảng thời gian 1911-1949, ko có Hoàng Sa, Trường Sa Bản đồ do người Nhật vẽ năm 1911 có tên “Thanh quốc đại địa đồ Cánh mạng (Tân Hợi) động loạn địa điểm chú”, vẽ rất chi tiết, hình ảnh sắc nét và tất nhiên là ko có Hoàng Sa, Trường Sa trong cương vực nước Trung Quốc. Tấm bản đồ trong sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ, Tuyên Thống nguyên niên (1908)” (大清帝国全图 宣统元年) Tỉnh Quảng Đông nước Trung Quốc với đảo Hải Nam năm 1908, trích “Đại Thanh đế quốc toàn đồ, Tuyên Thống nguyên niên” (大清帝国全图 宣统元年), Thương vụ ấn thư quán xuất bản năm 1908. Bản đồ 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây – nước Trung Quốc năm 1903 với đảo Hải Nam, trích “Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ” (大清帝國分省精圖). “Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ” (大清帝國分省精圖) – Bản đồ vẽ nước Tàu năm 1903 do người Nhật Bản ấn hành Bản đồ nước Tàu có tên là “Chính trị khu vực đồ”, in tận năm 1936 không có Hoàng Sa, Trường Sa và đường lưỡi bò Bản đồ Trung Quốc năm 1911 bằng chữ Hán không có Hoàng Sa, Trường Sa. Mạng xã hội tràn ngập hình ảnh tấm bản đồ Trung Quốc năm 1905, được xem như một bằng chứng thuyết phục rằng Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Bức ảnh chụp bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (theo Thanh niên) Tấm bản đồ do Tiến sĩ Mai Hồng lưu giữ trong nhiều năm qua và mới được đưa ra trước công chúng trong sự kiện ông tặng lại Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ cho Bảo tàng lịch sử quốc gia Việt Nam ngày 25/7. Thông tin về tấm bản đồ do chính Trung Quốc xuất bản không chỉ củng cố lý lẽ pháp lý cho Việt Nam trong cuộc đấu tranh khẳng định chủ quyền, lãnh thổ đất nước mà còn khiến dư luận Trung Quốc trở nên hỗn loạn. Nắm bắt tình hình thời sự, cư dân mạng Việt Nam hiện đang tích cực chia sẻ hình ảnh, thông tin về tấm bản đồ Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa với khẩu hiệu “Vì chủ quyền đất nước, vì Trường Sa, Hoàng Sa, hãy chia sẻ”. Bức ảnh chụp bản đồ Trung Quốc năm 1905 nhận được 1.500 lượt yêu thích và 700 lượt chia sẻ chỉ trong 1 giờ. Huy Khánh Theo phapluatso.org
  18. Post lại phần 1 đi em, phần đó cũng mất hình mà.
  19. LongphiBaccai lâu ngày em không đăng nhập vào tài khoản của mình ở Photobucket nên nó bị ẩn hết hình rồi.
  20. Nhà bạn mới sinh được 1 bé thôi hả? Theo tôi thì chẳng làm sao cả, chẳng có cơ sở nào để khẳng định như vậy, đến ông Khổng Minh giỏi thế còn không hoán cải số mệnh nữa là ông thày bói đó. Theo như bạn nói thì bé bị bẩm sinh 2 bệnh là mắt hơi yếu (yếu như thế nào? cả 2 mắt hay 1 mắt?); Tìm bị thông liên thất phải không? nếu đúng vậy thì cũng tùy từng trường hợp cụ thể để kết luận nó sẽ tự liền lại, nếu không thì áp dụng phương pháp bắn dù rất đơn giản, bạn không cần phải lo lắng quá như vậy. Nhà bạn ở đâu? nếu được thì nên nhà thày kiểm tra để sửa chữa nhà cho chuẩn phong thủy đi nha, sau đó mọi thứ sẽ tốt lên, con sẽ khỏe và quan trọng là chọn năm sinh em bé nữa đi, nếu chọn chuẩn thì sau khi sinh em ra sẽ tốt hơn rất nhiều. Thân mến.
  21. Bạn tham khảo các đường link dưới đây để hiểu và biết nên làm gì, và có thể in ra mang về đưa cho gia đình đọc rồi tham khảo. Bảng tra mạng theo Lạc Thư Hoa Giáp Tuổi hợp - xung trong tình yêu Tham khảo các bài tư vấn cũ: Sinh con năm nào thì tốt
  22. Đã lâu ngày cô Willavender không còn sinh hoạt trên diễn đàn nữa bạn nhé.
  23. Bạn đã từng học Phong thủy rồi cơ mà; vậy bạn hãy vận dụng kiến thức đã có để đưa ra phương án sẽ làm. Đưa phương án đó lên đây để mọi người xem và góp ý, chứ bạn hỏi phong long vậy ai biết đường nào mà chỉ giúp bạn?
  24. Là điềm lành đấy, sẽ yên ổn và có niềm vui đấy, hãy yên tâm và chờ đón nhận nhé.
  25. Châu Á đa cực cho người châu Á Hồng Thủy 13:57 24/05/17 Thảo luận (0) (GDVN) - Có rất ít dấu hiệu các nước trong khu vực ngả sang Trung Quốc. Hầu hết các nước này duy trì chính sách phòng ngừa rủi ro chiến lược trong quan hệ với Bắc Kinh. Philippines và Việt Nam trước cạm bẫy "gác tranh chấp, cùng khai thác" "Gác tranh chấp, cùng khai thác” trên Biển Đông đang trở thành hiện thực? Tại sao ông Duterte "lộ tin" ông Tập Cận Bình cảnh báo chiến tranh ở Biển Đông? Chietigj Bajpaee, chuyên gia phân tích khu vực châu Á của tập đoàn Statoil, Na Uy, đồng thời là nghiên cứu sinh tiến sĩ Đại học Hoàng gia London, Anh quốc ngày 22/5 có bài phân tích đáng chú ý trên The Interpreter. [1] Ông Chietigj Bajpaee bình luận: một châu Á cho người châu Á phải chăng là sự ra đời của một châu Á đa cực? Chính sự khó chịu và không chắc chắn về chính sách của nước Mỹ thời Tổng thống Donald Trump với châu Á, đã khiến các nước trong khu vực đang nỗ lực tìm cách đảm đương vai trò lãnh đạo trong việc định hình trật tự khu vực. Năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề xuất khái niệm "an ninh mới cho châu Á", trong đó kêu gọi một trật tự mới khu vực châu Á cho người châu Á (và do người châu Á xây dựng). Ý tưởng này có vẻ "khiêu khích" vào thời điểm đó, nhưng hiện nay nó ngày càng phản ánh một thực tế mới nổi: các cường quốc châu Á đang nỗ lực tìm cách đảm đương vai trò lãnh đạo trong việc xây dựng trật tự khu vực. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đưa ra khái niệm an ninh mới cho châu Á tại hội nghị Các biện pháp Tương tác và xây dựng lòng tin, ngày 21/5/2014. Ảnh: The Jamestown Foundation. Có 3 yếu tố đã góp phần hình thành nên xu thế này: Sự trỗi dậy của ông Donald Trump đi kèm sự thay đổi lớn trong chính sách của Mỹ với các đồng minh ở châu Á, đặc biệt là yêu cầu chia sẻ gánh nặng ngân sách. Thứ hai là câu hỏi về tính bền vững của cấu trúc khu vực do ASEAN lãnh đạo, và thứ ba là sự trỗi dậy của Trung Quốc một cách ngày càng cứng rắn và tự tin. Châu Á cho người châu Á, nhưng không phải do Bắc Kinh lãnh đạo Theo truyền thống, cấu trúc an ninh khu vực châu Á đã bị chi phối bởi hệ thống liên minh song phương do Mỹ dẫn đầu, đặc biệt là với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Philippines, Singapore và Thái Lan, cũng như vai trò lãnh đạo của ASEAN với tư cách một tổ chức đa phương. Tuy nhiên, đáng chú ý là sự gia tăng của các sáng kiến song phương hay đa phương trong khu vực những năm gần đây là bằng chứng rõ nhất về nỗ lực của các "cường quốc khu vực" để phát triển một trật tự mới. Trước đây các sáng kiến hợp tác song phương - đa phương trong khu vực thường do Hoa Kỳ lãnh đạo, nhất là trong quan hệ với Nhật Bản và Australia, thì những sáng kiến hợp tác gần đây đã loại trừ Mỹ. Ví dụ như cơ chế đối thoại 3 bên Ấn Độ - Australia - Nhật Bản; Đối thoại 3 bên Ấn Độ - Australia - Indonesia về Ấn Độ Dương; Thỏa thuận hợp tác 3 bên Ấn Độ - Nhật Bản - Việt Nam từ tháng 12/2014; Gần đây có đối thoại song phương giữa Ấn Độ với Nhật Bản, Ấn Độ với Hàn Quốc; Đối thoại 3 bên Ấn Độ - Nhật Bản - Hàn Quốc. Bất chấp sự xói mòn vai trò của Washington ở châu Á, có rất ít dấu hiệu các nước trong khu vực ngả sang Trung Quốc. Hầu hết các nước này duy trì chính sách phòng ngừa rủi ro chiến lược trong quan hệ với Bắc Kinh. Một ngoại lệ đáng chú ý là Philippines dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, ông chấp nhận gác qua một bên Phán quyết Trọng tài đã hủy đường lưỡi bò bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông để cải thiện quan hệ với nước này. Những diễn biến gần nhất mang lại rất ít dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đang đạt được điều họ muốn trong khu vực: Ấn Độ cho phép nhà lãnh đạo tôn giáo Đạt Lai Lạt Ma đến Tawang ở bang Arunachal Pradesh mà Trung Quốc yêu sách chủ quyền với tên gọi Nam Tây Tạng; Hàn Quốc cho phép triển khai thệ thống phòng thủ tên lửa THAAD của Mỹ trên lãnh thổ của mình để đối phó với nguy cơ tấn công từ Triều Tiên, bất chấp Bắc Kinh phản đối. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, ảnh: Reuters. Chiến hạm lớn nhất của Nhật Bản, tàu Izumo đã đến Biển Đông. Tokyo tăng cường hợp tác với các nước có yêu sách ở Biển Đông, trừ Trung Quốc. Trên eo biển Đài Loan, nhà lãnh đạo Thái Anh Văn từ chối công nhận "đồng thuận 1992" về nguyên tắc "một Trung Quốc, tùy cách hiểu mỗi bên" làm cơ sở cho quan hệ hai bờ. Indonesia củng cố năng lực quân sự ở Natuna giáp Biển Đông và bị đường lưỡi bò đè lên vùng đặc quyền kinh tế. Australia tăng cường giám sát thực tế các hoạt động đầu tư của Trung Quốc vào các dự án khai thác tài nguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng tại Australia. Trên mặt trận kinh tế, bất chấp Mỹ từ chối phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Nhật Bản và Australia đã thúc đẩy 11 nước còn lại tiếp tục chủ động thúc đẩy TPP, trong đó bỏ ngỏ khả năng kết nạp các nước khác, kể cả Trung Quốc. Mỹ rút khỏi TPP cũng có thể tạo động lực khôi phục các sáng kiến thương mại tự do đa phương khác trong ASEAN. Nhật Bản đang nổi lên như một cường quốc lớn trong khu vực. Tokyo đã có những bước tiến sửa đổi Hiến pháp hòa bình để theo đuổi chính sách đối ngoại cứng rắn hơn. Ấn Độ cũng đã cam kết một cách tiếp cận chủ động hơn đối với khu vực. Một vành đai, một con đường và chiến lược cò gỗ mổ cò thật Trong khi New Delhi không tham gia sáng kiến "Một vành đai, một con đường" do Trung Quốc lãnh đạo, Ấn Độ lại thúc đẩy quan niệm của riêng mình về trật tự khu vực, thông qua các sáng kiến như Dự án Mausam hay các tuyến đường vận chuyển bông và gia vị. Vì vậy, thay vì hình thành một sự sắp xếp G-2 giữa Washington và Bắc Kinh ở châu Á - Thái Bình Dương, một trật tự mới phức tạp hơn đang nổi lên trong khu vực. Khẩu hiệu "châu Á cho người châu Á" của ông Tập Cận Bình năm 2014 cuối cùng đang trở thành hiện thực. Nhưng thay vì thiết lập lại trật tự khu vực từ chỗ do Mỹ đứng đầu sang Trung Quốc lãnh đạo, những diễn biến hiện nay có thể tạo điều kiện cho sự xuất hiện một châu Á đa cực. [1] Con đường tơ lụa mong manh CNBC ngày 22/5 dẫn lời chuyên gia Agatha Kratz có liên kết với Hội đồng Quan hệ đối ngoại châu Âu, cho biết: Một số dự án đường sắt cao tốc được đầu tư bởi Trung Quốc qua sáng kiến "Một vành đai, một con đường" tuy đã đạt được thỏa thuận, nhưng rất ít hoặc không có tiến triển nào cụ thể. [2] Đó là những dự án phục vụ kế hoạch của Trung Quốc phát triển triển mạng lưới đường sắt kết nối nước này với Đông Nam Á, chạy qua Campuchia, Lào, Việt Nam, Myanmar, Thái Lan, Malaysia và Singapore. Hiệp định xây dựng đoạn đường sắt cao tốc xuyên Á chạy qua Thái Lan đã được ký năm 2010, nhưng đến nay hai bên vẫn đang đàm phán. Ban đầu hiệp định này quy định tài trợ bởi Trung Quốc và sẽ do các nhà thầu Trung Quốc xây dựng. Nhưng cuối cùng chính phủ Thái Lan đã quyết định tự đầu tư cho dự án này, không vay vốn Trung Quốc trong khi vẫn sử dụng công nghệ Trung Quốc. Mặc dù thời hạn mục tiêu khởi công dự án này là năm 2017, nhưng chắc chắn sẽ bị chậm lại. Trong khi đoạn đường sắt cao tốc xuyên Á chạy qua Lào đã được khởi công từ năm 2016, nhưng theo Agatha Kratz, tốc độ tiến triển rất chậm chạp. Ở Indonesia, tuyến đường sắt cao tốc nối Bandung với Jakarta rất khó có thể hoàn thành đúng thời hạn vào năm 2019 khi công việc vẫn chưa bắt đầu. Bên cạnh sự chậm trễ, một số dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khác nằm trong sáng kiến "Một vành đai, một con đường" phải đối mặt với nguy cơ rủi ro an ninh và chủ nghĩa khủng bố rất cao. Lính Pakistan có trách nhiệm bảo đảm an ninh cho các dự án Trung Quốc đầu tư dọc Hành lang Trung Quốc - Pakistan. Ảnh: Pakistan China News. Chẳng hạn như dự án Hành lang kinh tế Trung Quốc - Pakistan trị giá 46 tỉ USD, liên quan đến việc xây dựng các nhà máy năng lượng, đường bộ, hạ tầng cảng biển, đường sắt, sân bay. Các dự án này hiện đang là mục tiêu của các phe phái cực đoan tại Pakistan, trong khi các mối đe dọa an ninh với những dự án này có thể vẫn tiếp tục xuất hiện. Pakistan đã phải triển khai gần 15 ngàn quân đảm bảo an ninh cho lao động Trung Quốc làm việc trong các dự án dọc Hành lang Trung Quốc - Pakistan. [3] Liu Yanhua, một cố vấn của Chính phủ Trung Quốc cung thừa nhận trong bài tham luận tại một hội thảo trong khuôn khổ Diễn đàn quốc tế Một vành đai - một con đường tại Bắc Kinh rằng: Trung Quốc đã phải đối mặt với phản ứng dữ dội, mặc dù đầu tư hàng tỉ USD xây dựng cơ sở hạ tầng ở một số nước, do thiếu sự chú ý đến môi trường và tác động đến cộng đồng địa phương. Chính phủ Trung Quốc biết điều này, nên đã tìm cách đầu tư vào quyền lực mềm qua việc rót tiền cho các trung tâm nghiên cứu, học bổng, hoạt động thúc đẩy văn hóa và các phương tiện truyền thông. [4] Tuy nhiên học giả Joshua Kurlantzick, thành viên cao cấp Hội đồng Quan hệ đối ngoại Hoa Kỳ về Đông Nam Á bày tỏ nghi ngờ với khả năng thành công của Trung Quốc trong tìm kiếm mục tiêu quyền lực mềm thông qua "Một vành đại, một con đường". Đặc biệt là với các nước láng giềng Đông Nam Á, theo Kurlantzick, họ rất lo lắng về hành vi quân sự ngày càng hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông những năm gần đây. "Một vành đai, một con đường" vươn được bao xa? Ấn Độ và Nhật Bản ít có khả năng tham gia, cho nên chiến lược "Một vành đai, một con đường" của Trung Quốc có khả năng chỉ có thể hoạt động phổ biến ở châu Phi, một số nước Đông Âu và Trung Á. [2] Theo nhà nghiên cứu Thái Lan Anchalee Kongrut viết trên tờ Bangkok Post ngày 22/5, các nước mục tiêu của "Một vành đai, một con đường" hầu hết đều hoài nghi tính minh bạch và các biện pháp bảo vệ môi trường, quyền lợi cộng đồng bản địa tại các dự án này. Thách thức với sáng kiến "Một vành đai, một con đường" của ông Tập Cận Bình rõ ràng đã vượt qua phạm vi về kỹ thuật và tài chính. Sở dĩ dự án xây dựng đường sắt cao tốc kết nối Trung Quốc với Thái Lan bị chậm trễ 2 năm là vì, các nhà chức trách Thái đang phải chống lại đòi hỏi của Trung Quốc về quyền phát triển các dự án bất động sản dọc theo tuyến đường này. [5] Kêu gọi từ trong lòng nước Mỹ: Quốc hội Hoa Kỳ muốn có nhiều tàu ngầm và bom hơn ở Thái Bình Dương Đài CNN ngày 22/5 đưa tin, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Hạ viện Mỹ có kế hoạch kêu gọi tăng 2,1 tỉ USD cho quân đội Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương để chống lại các mối đe dọa từ Triều Tiên và Trung Quốc. Hạ nghị sĩ Mac Thornberry của đảng Cộng hòa, đại diện cho bang Texas sẽ giới thiệu một dự luật trong tuần này, kêu gọi tăng 1 tỉ USD cho đạn dược và 1 tỉ USD cho tên lửa bố trí tại Thái Bình Dương. Dự luật cũng bao gồm 100 triệu USD chi phí cho các cuộc tập trận chung với đồng minh ở Thái Bình Dương, duy trì một lữ đoàn không quân ở Hàn Quốc để ứng phó với bất kỳ động thái quân sự nào từ Bình Nhưỡng. Đầu năm nay, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ John McCain cũng nêu sáng kiến "ổn định châu Á - Thái Bình Dương", kêu gọi tăng 7,5 tỉ USD vào ngân sách quốc phòng Mỹ cho khu vực trong 5 năm tới. Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Brian Schatz nói với CNN về các ý tưởng này: "Nó sẽ dễ dàng làm cho các thành viên có xu hướng tập trung vào châu Âu và Trung Đông phải nhớ rằng, chúng ta phải để mặt đến Thái Bình Dương.". Hạ nghị sĩ Thornberry nói rằng, dự luật ông đề xuất nhằm ngăn chặn các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên ông vẫn cảm thấy việc ngăn Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân cấp bách hơn. [6] Tổng thống Mỹ Donald Trump thăm một căn cứ hải quân Hoa Kỳ, ảnh: CNBC. Theo tờ Asian Correspondent ngày 24/5, Tiến sĩ Lynn Kuok của Trường Luật Harvard phát biểu tại Đối thoại chiến lược Đức - Indonesia, do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và quốc tế CSIS tổ chức tại Jakarta, rằng: Chính quyền Mỹ nên tập trung nhiều hơn vào Biển Đông, nếu không sẽ có nguy cơ luật pháp quốc tế bị phá hoại vĩnh viễn ở khu vực này. Bà cho rằng, Bắc Kinh đã rất nỗ lực thuyết phục cộng đồng quốc tế tập trung vào các tranh chấp lãnh thổ và hàng hải giữa Trung Quốc với Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei ở BIển Đông. Trong khi đó Trung Quốc lại cố tình ngăn chặn sự chú ý của cộng đồng quốc tế vào việc bảo vệ quyền lợi của tất cả các nước ở Biển Đông theo luật pháp quốc tế. Theo bà Kuok, Mỹ và các nước khác trên toàn thế giới có "lợi ích mạnh mẽ trong việc bảo vệ luật pháp quốc tế, hòa bình và ổn định ở Biển Đông". Bà nhắc lại lời cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu: "Nếu Mỹ muốn có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển chiến lược ở khu vực châu Á, họ không thể cứ đến rồi đi.". [7] Cá nhân người viết cho rằng, nhận định của Chietigj Bajpaee về một châu Á đa cực đang hình thành là rất đáng lưu ý. Nó không chỉ phản ánh vai trò và sự chủ động ngày càng tăng của các cường quốc khu vực như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Australia. Quan trọng hơn, xu hướng này còn cho thấy sự phản ứng của hầu hết các nước trong khu vực với xu thế cường quyền áp đặt, tranh giành ảnh hưởng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Lời hứa của ông Tập Cận Bình và câu chuyện lòng tin Xu thế này sẽ diễn biến, phát triển đến mức nào còn phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực của các nước trong việc bảo vệ trật tự quốc tế, khu vực dựa trên luật pháp. Đồng thời, những toan tính và nước cờ tranh giành ảnh hưởng giữa 2 siêu cường về lợi ích địa chiến lược trong khu vực sẽ có tác động không nhỏ tới cấu trúc an ninh. Cục diện Biển Đông hay bán đảo Triều Tiên cần được đặt trong bối cảnh này. Chính sách của Mỹ với châu Á hay sáng kiến "Một vành đai, một con đường" cũng nên được các bên liên quan tiếp cận trên cái nền của một châu Á đa cực, để tránh bị rơi vào vòng xoáy chọn bên, hoặc Mỹ hoặc Trung Quốc. Một vấn đề khác cũng rất đáng lưu ý với các nước ven Biển Đông, đó là Trung Quốc đã rót rất nhiều tiền vào "quyền lực mềm". Họ nuôi và phát triển rất nhiều tổ chức "nghiên cứu", đi khắp thế giới để tuyên truyền về đường lưỡi bò và "Một vành đai, một con đường". Tần suất, mức độ tuyên truyền cũng như độ "chịu chi" của Trung Quốc cho việc này không thể xem thường. Nhất là khi Bắc Kinh vận động hành lang tại các trung tâm nghiên cứu có ảnh hưởng quốc tế, mà thiếu những tiếng nói phản biện kịp thời, chính xác từ các bên liên quan, có lợi ích trực tiếp bị đe dọa. Ngay cả "Một vành đai, một con đường" cũng đã được Bắc Kinh sử dụng như một con bài địa chính trị để xây dựng ảnh hưởng "mềm", sức mạnh "mềm" cho họ tại các quốc gia mục tiêu. Bởi vậy các bên liên quan cần nghiên cứu và rút kinh nghiệm từ những bất cập trong sử dụng nguồn vốn giá rẻ Trung Quốc, đặc biệt là trong xây dựng cơ sở hạ tầng và hệ thống đường sắt xuyên Á tại một số nước Đông Nam Á hiện nay, để tránh rơi vào những cái bẫy kinh tế dở khóc, dở cười. Tài liệu tham khảo: https://www.lowyinstitute.org/the-interpreter/birth-multipolar-asia http://www.cnbc.com/2017/05/22/one-belt-one-road-why-the-real-value-of-chinas-project-could-like-in-soft-power.html http://www.mei.edu/content/map/china-pakistan-economic-corridor-cpec-underway-and-under-threat http://www.cnbc.com/2017/05/13/zte-to-expand-digital-television-service-offering-in-pakistan.html http://www.bangkokpost.com/opinion/opinion/1254074/silk-road-to-sustainability- http://edition.cnn.com/2017/05/22/politics/mac-thornberry-congress-military-pacific/ https://asiancorrespondent.com/2017/05/trumps-administration-asleep-south-china-sea-expert/#xHGQi6UYTM1Z1mTu.97