• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

phamhung

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    2.331
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    28

Everything posted by phamhung

  1. CÁCH CHỌN TUỔI XÔNG ĐẤT NĂM KỶ HỢI 2019 3 TUỔI TỴ, DẬU, SỬU TAM TAI NĂM KỶ HỢI 2019, CÁCH HÓA GIẢI RA SAO? Vì sao không nên đợi đến 30 Tết mới mua hoa, cây cảnh? NHỮNG TUỔI SẼ ĐÓN ĐƯỢC VẬN KHÍ TỐT NHẤT NĂM KỶ HỢI 2019!
  2. Vui mừng thông báo: Kênh truyền thông của Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương chính thức lên sóng, xin giới thiệu với mọi người. Mong mọi người ủng hộ và chia sẻ để các nghiên cứu của chúng tôi tới được nhiều người nhất có thể.
  3. Số 9: Phong Thủy – Tâm Linh – Tín Ngưỡng Số 10: Phong Thủy Trong Kinh Doanh Số 11: Tướng Khuôn Mặt Dưới Góc Nhìn Phong Thủy Số 12: Phong Thủy Nhà Bếp Chung Cư. Số 13: Phong Thủy Chung Cư (Phần 2)
  4. Chuyên gia Phong thủy Hoàng Triệu Hải - Giám đốc Trung tâm thực hiện chương trình Talk show về các vấn để liên quan đến Lý học nói chung, bao gồm Phong thủy Lạc Việt, Luận tuổi Lạc Việt .... Số đầu tiên: Phong Thủy Nhà Đất - Mối Quan Hệ Giữa Phong Thủy Và Thiết Kế Nhà Ở Số thứ 2: Xem tuổi là một điều kiện bắt buộc hay chỉ cần tình yêu là đủ? Số thứ 3: Phong Thủy Trong Cưới Hỏi Số thứ 4: Phong Thủy Với Căn Bệnh Ung Thư
  5. Thày Thiên sứ - Nguyễn Vũ Diệu viết VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KIÊNG CỮ Và CÁC NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG LIÊN QUAN. Thưa quý vị và các bạn. Người Việt rất hay kiêng cữ. Nếu thống kê thì người Việt kiêng cữ nhiều nhất so với các dân tộc khác trong lịch sử văn minh nhân loại. Kiêng "ra ngõ gặp gái"; kiêng "chim sa, cá nhảy"; kiêng...kiêng....kiêng đủ thứ. Tác giả Thích Tâm Hiệp đã đặt vấn đề rất chính xác: ["Vấn đề của chúng ta, của người sau là ghi nhận khách quan với sự trân trọng và tìm hiểu ngọn nguồn xem tại sao ông cha kiêng"]. Và tác giả cũng phê phán sự ấu trĩ, khoác áo khoa học: ["Thế mà, một thời, do cái thói tư duy chủ quan, tự cho mình có "khoa học" hơn người trước, nên chúng ta đã bôi bẩn, hủy hoại bao giá trị văn hóa của tiền nhân"]. Tôi cảm ơn tác giả và ủng hộ cách đặt vấn đề của ông. Nên tôi mới chia sẻ bài này. Tuy nhiên, tôi trình bày nguyên nhân cốt lõi của tục kiêng cữ của người Việt - theo cách hiểu của tôi - và chia sẻ với các bạn để cùng suy ngẫm. Theo tôi có hai hính thức kiêng cữ. 1/ Kiêng cữ những hiện tượng xảy ra mang tính khách quan. Thí dụ: Kiêng chim sa, cá nhảy; kiêng gương vỡ; kiêng chuyển giương khi phụ nữ mang bầu.... 2/ Thực hiện những nghi lễ truyền thống có tính kiêng cữ. Cúng 49 ngày, cúng 100 ngày, cúng cơm người mất, kiêng nói những điều xui xẻo.... Tất cả nhưng điều này, đúng như tác giả viết: ["Vấn đề của chúng ta, của người sau là ghi nhận khách quan với sự trân trọng và tìm hiểu ngọn nguồn xem tại sao ông cha kiêng"]. Thưa quý vị và các bạn. Tất cả những nguyên nhân vì sao ông cha ta kiêng, đều xuất phát từ một nguyên nhân chính yếu: Đó chính là xuất phát từ hệ thống nhận thức vũ trụ và thế giới, cũng như cuộc sống, xã hội và con người, của một dân tộc đã tồn tại với danh xứng văn hiến trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tử. Tôi xin bắt đầu phần I. PHẦN I. Kiêng cữ những hiện tượng xảy ra mang tính khách quan. Theo tôi, tất cả các tục kiêng cữ của người Việt đều có nguyên nhân thực tế. Thí dụ: Kiêng gương vỡ. Chính là hiệu ứng bức xạ không đồng đều tương tác lên người soi gương. Kiêng chuyển giường phụ nữ mang thai gần ngày sinh, chính là sự thay đồi sự tương tác ổn định của Khí trong môi trường chỗ nghỉ ngủ. Người phụ nữ khi mang thai thường yếu. Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của họ. Hoặc khó hiểu hơn: Kiêng chim sa, cá nhảy, chính là sự tương tác của trường khí môi trường cụ thể, khi người nào đó đi ngang, bị chim sa, cá nhày lên bờ. Do trường khí thay đổi, nên chim đột ngột sa xuống, hoặc cá nhảy lên bờ. Đương nhiên là trường khí xấu, Và nó sẽ ảnh hưởng tới người đi qua môi trường đó....Tương tự như vậy, với các hiện tượng kiêng cữ. Đương nhiên, với cách giải thích này, đã xác định, những tri thức tinh hoa của tổ tiên người Việt phải hiểu rất rõ về tương tác của "Khí" trong môi trường cuộc sống. Và khái niệm "Khí" cho đến hôm nay - trừ nhân danh nền văn hiến Việt - vẫn còn là một khái niệm bí ẩn trong hệ thống tri thức của nền văn minh Đông phương. PHẦN II. Những nghi lễ truyền thống có tính kiêng cữ. Thưa quý vị và các bạn. Ngoài những hiện tượng khách quan và phải kiêng cữ theo truyền thống, thì ông cha ta còn có những nghi lễ mang tính kiêng cữ. Thí dụ - được đề cập đến ngay trong bài viết của ông Thích Tâm Hiệp về nghi lễ Tang ma, như: lễ 49 ngày, 100 ngày. Căn cứ vào đâu để có nghi lễ này? Tại sao không 21 ngày, 36 ngày...? Mà cứ phải đúng 49 và 100? Hoặc tại sao "Mùng 5/ 14/ 23" Âm lịch lại kiêng? Tại sao đám tang phải mặc áo sô trắng, con trai đội mũ rơm? Vì sao mẹ mất phải đi giật lùi trước quan tài, bố mất đưa đằng sau quan tài, đúng với câu "cha đưa, mẹ đón"? ,,,vv.... Những nghi lễ này mang tính chủ quan , do con người quy định. Vậy nó xuất phát từ cái gì để có nhận thức đó? Thưa quý vị và các bạn. Rất nhiều kẻ tự nhận mình là trí thức, là hiểu biết, thậm chí có học hàm, học vị và cả quyền lực học thuật, một thời ra rả như ve rằng: Văn hóa Việt ảnh hưởng của Tàu. Nhưng chính người Tàu lại không hiểu gì về nguyên nhân của nó (?!). Ví dụ như kiêng ngày Tam Nương, được giải thích do ba người đàn bà nổi tiếng Trung Hoa vào cung cấm, là Bao Tự, Đát Kỷ và Điêu Thuyền (Có vài dị bản khác nhau). Vấn đề kiêng cữ trong truyền thống dân gian Việt, nhiều đến nỗi có hẳn những cuốn sách dày cộp viết về đề tài này. Do đó, nếu giải thích hết thì không thể là việc của một cá nhân và hoàn toàn không tưởng; hoặc phải mất cả đời, như cụ Lê Gia giải thích bản chất nội hàm các ca6un thành ngữ, tục ngự, phương ngôn....Việt Nam. Nhưng tôi hy vọng rằng, tôi đưa ra được một định hướng cho các hiện tượng kiêng cữ này, và thế hệ sau tiếp tục. Trước hết tôi cần xác định rằng: tất cả mọi hiện tượng văn hóa truyền thống Việt, chi tiết đến từng nghi lễ trong các phong tục truyền thống Việt, trong đời sống của người Việt, thâm chí trong cả ngôn ngữ Việt... đều là hệ quả của thuyết ADNH và kinh Dịch. Ngay cả những nghi lễ mà tôi đã trình bày ở trên. Tôi xin lần lượt trình bày những vấn đề đã nêu. a/ Tục cúng cơm 49 và 100 ngày. Tất cả người Việt chúng ta đều biết rõ câu chuyện "Con Rồng, cháu Tiên" trong đó bọc trứng có 100 quả, 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo Mẹ lên núi. Đây chính là mô tả độ số của vũ trụ với Hà Đồ - Lạc Thư. Tổng có 100 vòng tròn. 50 vòng đen (Âm) và 50 vòng trắng (Dương). * Tục cúng 100 ngày. Khi hết chu kỳ tính theo ngày của một năm là 100 ngày cúng cơm, thì sẽ chuyển bàn thờ người quá cố lên bàn thờ chung của gia đình. * Tục cúng 49 ngày. con số 50 ngày là hết một chu kỳ Dương (Dương trước), nhưng nếu vậy thì cô Dương, hay thuần Dương. Bởi vậy bớt một ngày là 49. Để không phạm vào Cô Dương. b/ Các kiêng cữ mùng 5/ 14/ 23. Đây là chu kỳ 9 với độ số của trung cung là 5. Trong đó, các ngày 14 = 5 + 9; 23 = 14 + 9. Tức Ngũ Hoàng nhập Trung theo Huyền không phi tinh. Hay nói cách khác: Nó cũng thuộc về hệ quả của thuyết ADNH. Ngũ hoành là một sao xấu. Nên nhập trung ứng với công việc sẽ không tốt. c/ Kiêng cữ 6 ngày Tam Nương sát. Gồm: mùng 3; 7; 13; 18; 22; 27 Âm lịch hàng tháng. Đây chính là điểm chết của chu kỳ Lục Khí trong sự vận động của 30 ngày. Hoàng Triệu Hải - GD TTNC LHDP đã có một bài viết chi tiết về vấn đề này. Thưa quý vị và các bạn. d/ "Cha đưa, mẹ đón" trong nghi lễ tang chế. Cha là Dương, nên theo cha theo nguyên lý "Dương trước, Âm sau". mẹ là Âm nên con đi trước giật lùi, nhưng hướng về linh cữu. vì Mẹ là Dương so với các con, theo nguyên lý "Âm thuận tùng Dương", nên các con phải đi giật lùi để hướng về linh cữu của mẹ.. e/ Mặc áo sô trắng để chống bức xạ của Tử Khí. Sau này những nhà khoa học cũng xác định màu trắng có tác dụng tán các bực xạ xáu. Nên trong các phòng có liên quan đến bức xạ, các người làm việc thường mặc áo Blu trắng. Nhất là trong các lò phản ứng hạt nhân. h/ Con trai đội mũ rơm. Hiện tượng này, anh chị em học viên các lớp Địa Lý Lạc Việt đều đã được biết rằng: Mọi vật thể xốp có tính hấp thụ và ngăn cản các bức xạ xấu. Mũ rơm là một dạng vật thể xốp. Và những người con trai phải đi sát quan tài. Nên đội mũ rơm để tránh bức xạ của Tử Khí xâm nhập vào não. Thưa quý vị và các bạn. Tất cả những điều mà tôi trình bày trên đây, chỉ là nhưng ví dụ, có tính định hướng nghiên cứu , khi xác định rằng: Thuyết ADNH và kinh Dịch, chi phối tất cả đời sống và văn hóa truyền thống Việt. Bởi vì, dân tộc Việt chính là chủ nhân đích thức của nền văn minh Đông phương. Có thể có nhiều cách giải thích khác nhau, nhưng tôi không tranh luận. Nhưng cách giải thích của tôi, có tính hệ thống và nhất quán với mối liên hệ hợp lý cho tất cả các vấn đề liên quan đến nó. Đồng thời, nó cũng xác định câu nói nổi tiếng của SW Hawking, khi ông phát biểu - Đại ý - rằng: "Khi xác định một lý thuyết thống nhất, thì những quy luật tự nhiên của vũ trụ được nhân thức, sẽ giúp điều hành xã hội của chúng ta". Những nghi lễ, tập tục văn hóa truyền thống Việt, hoàn toàn thuận theo thuyết ADNH - chính là Lý thuyết thống nhất, mà nhân loại đang tìm kiếm. Xin cảm ơn sự quan tâm và chia sẻ.
  6. THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH - LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ. Đây là sự xác quyết của Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh. SW Hawking đã xác định - đại ý - rằng: "Nếu chúng ta tìm ra được lý thuyết thống nhất, thì đó là sự kết thúc vinh quang của toàn thể lịch sử của nền văn minh nhân loại. Và nền văn minh nhân loại sẽ bước sang một giai đoạn mới". Tất cả mọi người đều có thể không tin tôi, khi tôi xác quyết thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt - chính là "Lý thuyết thống nhất" , mà nhân loại đang tìm kiếm. Có hàng ngàn lý do khiến bạn có thể không tin. Nhưng chỉ cần các nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh này, tạm dừng những nếp gấp cố chấp của tư duy và đặt vấn đề: "Tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất, phải cần những điều kiện gì?". Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh sẽ chứng minh với tất cả thế giới này rằng: "Thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch - nhân danh nền văn hiến Việt, trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử - chính là lý thuyết thống nhất mà cả nhân loại đang mơ ước. Qua việc chứng minh rằng: Tất cả những chuẩn mực mà các nhà khoa học tinh hoa có thể nghĩ ra trong những tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất , hoàn toàn được thỏa mãn với thuyết Âm dương ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt". Còn nếu cả thế giới này và tầng lớp khoa học tinh hoa, không thấy cần thiết và cũng không muốn một lý thuyết thống nhất phải là thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn hiến Việt. Thưa quý vị và các bạn. Cũng không sao cả. Bởi vì cũng chính SW Hawking đã nói: "Nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất, thì chính nó sẽ quyết định chúng ta tìm ra nó hay không?". Tất nhiên, cái mốc vinh quang trong lịch sử văn minh nhân loại sẽ còn kéo dài..... Vài lời chia sẻ. Đi ăn sáng đây.
  7. VIDEO CLIP BUỔI THUYẾT GIẢNG VỀ ĐỊA LÝ LẠC VIỆT TẠI ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HANOI. Thưa quý vị và các bạn. Đây là chương trình có chủ đề "Đa dạng văn hóa và môi trường Châu Á" do Nhật Bản tài trợ. Chương trình gồm 15 bài giảng với các giáo sư uy tín quốc tế tham gia. Buổi thuyết giảng về Địa Lý Lạc Việt này chia làm ba phần. Phần I - Do Giáo sư Tiến Sĩ Vật Lý Kiến Trúc Nguyễn Văn Muôn phụ trách. Phần II - Do Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh trình bày về bản chất Địa Lý Lạc Việt. Phần III - Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh trả lời những câu hỏi của sinh viên tham gia. Hân hạnh giới thiệu phần I của loạt video clip này. PHẦN 1 GSTS VAT LY KIEN TRUC NGUYEN VAN MUON. PHẦN II. Bài trình bày của Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh về nội hàm của Địa Lý Lạc Việt. PHẦN III. Bài trình bày của Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh về nội hàm của Địa Lý Lạc Việt.
  8. VIDEO CLIP BUỔI THUYẾT GIẢNG VỀ ĐỊA LÝ LẠC VIỆT TẠI ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HANOI. Thưa quý vị và các bạn. Đây là chương trình có chủ đề "Đa dạng văn hóa và môi trường Châu Á" do Nhật Bản tài trợ. Chương trình gồm 15 bài giảng với các giáo sư uy tín quốc tế tham gia. Buổi thuyết giảng về Địa Lý Lạc Việt này chia làm ba phần. Phần I - Do Giáo sư Tiến Sĩ Vật Lý Kiến Trúc Nguyễn Văn Muôn phụ trách. Phần II - Do Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh trình bày về bản chất Địa Lý Lạc Việt. Phần III - Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh trả lời những câu hỏi của sinh viên tham gia. Hân hạnh giới thiệu phần I của loạt video clip này. PHẦN 1 GSTS VAT LY KIEN TRUC NGUYEN VAN MUON. PHẦN II. Bài trình bày của Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh về nội hàm của Địa Lý Lạc Việt. PHẦN III. Bài trình bày của Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh về nội hàm của Địa Lý Lạc Việt.
  9. Thày Thiên sứ giảng về Lịch pháp NGUỒN GỐC ÂM LỊCH - NHÂN DANH NỀN VĂN HIẾN VIỆT. Khoa học hiện đại xác định rằng: Trên bầu trời nhìn từ trái Đất, có ba chòm sao Thiên Cực Bắc thay đổi theo chu kỳ xấp xỉ 6400 năm - Việt lịch xác định chính xác là: 6480 năm, gồm: Đại Hùng Tinh - Thiên Lang - và Vũ Tiên. Danh xưng của ba chòm sao Thiên Cực Bắc đó, chính là Phả hệ theo truyền thuyết của Việt tộc, còn lưu truyền đến ngày nay. Đó chính là các chòm sao: Vũ Tiên - Tằng tổ Mẫu của Việt tộc - Đại Hùng tinh với thời đại HÙNG VƯƠNG và con của các vua Hùng gọi LANG - ứng với chòm sao Thiên Cực Bắc tiếp theo sau chu kỳ của chòm sao Thiên Cực Bắc hiện nay, là: Thiên Lang. Truyền thuyết kể lại rằng: 1/ Kinh Dương Vương đi tuần ở Động Đình Hồ lấy tiên nữ là VŨ TIÊN, sinh ra Lạc Long Quân - Ứng với chòm sao Vũ Tiên. 2/ Tổ phụ Lạc Long Quân lấy Tổ Mẫu Âu Cơ sinh ra một cái bọc chứa 100 trứng, nở ra 100 người con trai. 50 người con theo Mẹ lên núi, người con thứ nhất lên làm Vua với danh xưng Hùng Vương thứ nhất. Ứng với chòm sao Đại Hùng Tinh. Chòm sao Thiên Cực bắc hiện nay. 3/ Danh xưng con gái của vua gọi là Mỵ Nương. Con trai gọi là Lang. Ứng với chòm sao Thiên Lang - tức chòm sao Thiên Cực bắc tiếp theo chu kỳ của chòm sao Đại Hùng Tinh. Thưa quý vị và các bạn. 1/ Hiện nay chúng ta đang ở chu kỳ lịch kiến Dần - tháng Giêng là tháng Dần. Tức đang thuộc về chòm sao Thiên Cực Bắc - Đại Hùng tinh - quản. Theo nguyên lý Dương trước Âm sau - nên tiếp theo sẽ là chòm sao Thiên Lang - con của vua Hùng quản. Tức lịch kiến Tý. 2/ Sau chu kỳ 6480 năm của chòm sao Thiên Lang, chu kỳ của các chòm sao Thiên Cực Bắc tiếp đến chòm sao Vũ Tiên - tức lịch kiến Sửu. Trong ba chu kỳ này - Kiến Tý, Kiến Sửu và kiến Dần thì có hai con giáp, là: Dần (Tháng Giêng) và Tý (Tháng Một) là thuộc Dương, ứng với danh xưng của Vua Hùng và con trai là Lang (Thuộc Dương). Tháng Sửu thuộc Âm, nên ứng với Tằng tổ Mẫu thuộc Âm. Chúng ta rất dễ dàng nhận thấy rằng: Hai tháng Dương - Tý/ Dần - với một tháng Âm (Sửu) ở giữa thì đây chính là quái Ly trong Việt Dịch. Hình tượng quái Ly đã xác định một nền văn hiến Việt một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử, và là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương. Cả ba chu kỳ của các chòm sao Thiên cực Bắc này, kéo dài: 6480 x 3 = 19. 440 năm. Phân Âm Dương: Tức nhân 2 = 38. 880 năm. Đây chính là thời gian gấp 3/ 2 lần một Đại Vận Hội của Thái Ất - cũng được tính theo 12 con giáp. Một Đại Vận hội = 12. 960 năm. Hay nói rõ hơn: Bằng đúng một nửa thời gian trái đất quay một vòng quanh giải Ngân hà, gồm hai Đại Vận hội = 25. 920 năm. Như vậy, với 6 Đại Vận Hội sẽ tương đương hai chu kỳ của các chòm sao Thiên Cực Bắc. 12 Đại Vận Hội, sẽ tương đương bốn chu kỳ Thiên cực Bắc. Nếu mỗi chu kỳ Thiên Cực bắc được sắp thứ tự theo 12 con giáp (Chu kỳ lặp lại) - thì chúng ta tiếp tục tính đến giây /O/ của vũ trụ. Như vậy, chúng ta thấy rất rõ rằng: Khi Khổng tử xác định: "Về Lễ ta theo nhà Chu. Nhưng về lịch ta theo nhà Hạ, Vì lịch nhà Hạ phải ánh đúng chu kỳ thời tiết hiện nay (Lịch kiến Dần, mà chúng ta đang dùng)". Khoa học hiện đại, với thực chứng và thực nghiệm xác định ba chòm sao Thiên Cực Bắc và chu kỳ hơn 6000 năm của nó, đã cho thấy Khổng tử không có kiến thức tối thiểu về Thiên văn ở tầm vũ trụ. Nhưng tiếc thay! Cho đến ngày hôm nay, bao kẻ vẫn dẫn Khổng tử, như một vị Thánh tổ Nho giáo phương Đông và coi nguồn gốc lịch là từ văn minh Hán, một cách dốt nát và ngu xuẩn. Tôi đã xác định rằng: Anh chị em Địa Lý Lạc Việt, không gọi Âm lịch, mà từ nay gọi là Việt Lịch, để khẳng định nguồn gốc Âm lịch của nền văn minh Đông phương huyền vĩ. Anh chị em cần nhớ rằng: Sự chính xác về lịch pháp của Việt lịch - tức Âm lịch Đông phương - chính là sự mô tả chính xác một không gian tương tác có quy luật của vũ trụ, có thể tiên tri. Và hàng Thiên niên kỷ qua, tất cả thế giới Đông phương này đã tiên tri mọi sự kiện với thời gian Đông phương. Bởi chính những quy luật tương tác và trường tương tác đầy bí ẩn một cách huyền vĩ của nó. Chia sẻ với anh chị em những tri kiến thức này, hy vọng những tinh hoa của thế hệ tiếp nối, sẽ tiếp tục khám phá, chứng minh một nền văn minh huyền vĩ nhân danh nền văn hiến Việt. Cảm ơn vì đã quan tâm.
  10. Số 8: Phong Thủy & Động Thổ - Những Nguyên Tắc Cần Biết
  11. Số 6: Giải Đáp Thắc Mắc Của Khán giả Về Phong Thủy Nhà Đất
  12. Âm lịch, nguồn gốc địa lý phong thủy THẦY THIÊN SỨ - NGUYỄN VŨ TUẤN ANH trực tiếp giảng dạy
  13. Thày Thiên sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Nguyễn Vũ Diệu) nói về các vấn để liên quan đến Kinh Dịch, Phong thủy... từ khái niệm cơ bản đến nâng cao 10 luỹ thừa -24 sau giây 0 và Thái Cực sinh Lưỡng Nghi Vì sao thuyết Âm dương Ngũ hành lại là cơ bản của Bát quái và Hà đồ phố Hậu thiên Lạc Việt là nguyên lý căn đề duy nhất Đúng
  14. Số thứ 5: Cách Khắc Phục Chung Cư Có Phong Thủy Đất Đai Xấu
  15. Quan Niệm Làm Việc Gì Cũng Phải Theo Phong Thủy Đúng Hay Sai?
  16. Cội nguồn thuyết Âm Dương Ngũ Hành MỆNH TRẠCH trong BÁT TRẠCH Định tâm - Địa lý Phong Thuỷ Lạc Việt ứng dụng
  17. Phong thủy trong Kinh doanh Tọa đàm Phong Thủy trong kinh doanh - P1 Tọa đàm Phong Thủy trong kinh doanh - P2 Phong Thủy Lạc Việt - Bài giảng về Khí Khí trong Lý Học Đông Phương Khí trong khái niệm và nguyên lý Âm Dương
  18. CHÚC MỪNG SINH NHẬT SƯ PHỤ THIÊN SỨ . Kính chúc Sư phụ luôn Mạnh khỏe, May mắn, Thành công và Hạnh phúc! Sư phụ mãi là người thày Tôn kính của chúng con!
  19. THÔNG BÁO Về việc công nhận ban vận động thành lập Công ty cổ phần Thuộc Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương
  20. Thày Thiên sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh viết: CHIẾN TRANH "KINH THẾ" MỸ TRUNG. Thưa quý vị và các bạn. Có lẽ tôi là người bình luận sớm nhất về mối quan hệ giữa Hoa Kỳ - Trung Quốc và vấn đề Biển Đông. Tiểu luận đầu tiên - từ 2008 - phân tích về vấn đề này, chính là topic "Việt sử 5000 năm văn hiến và vấn đề Biển Đông", trên dd lyhocdongphuong.org.vn. Những gì đã thể hiện trong tiểu luận này, đều diễn biến chính xác đến tận ngày hôm nay. Cũng từ rất lâu, tôi cũng xác định rằng: Cuộc chiến thương mại,hoặc chiến tranh Nóng hay Lạnh giữa Mỹ Trung, sẽ là diễn biến của "Canh bạc cuối cùng", nhằm quyết định ngôi vị "BÁ CHỦ THẾ GIỚI" trong cuộc "Hội nhập toàn cầu". Đó chính là một chặng đường kết thúc lịch sử tiến hóa quan trọng của toàn bộ lịch sử nền văn minh nhân loại, để nó tiếp tục phát triển sang một giai đoạn mới hoàn toàn về bản thế cấu trúc nền văn minh nhân loại. Trong cuộc "Hội nhập toàn cầu" này sẽ không có "Đa cực". Nếu còn khái niệm "Đa cực" thì không thể có vấn đề "hội nhập toàn cầu" - với tư cách là một quy luật tiến hóa của vũ trụ, không thể đảo ngược. Lý thuyết về "Hội nhập toàn cầu" - nhân danh nền văn hiến Việt - là lý thuyết chủ đạo để tôi căn cứ vào đó, xác định tất cả mọi diễn biến các vấn đề thời sự quốc tế, trong đó có cuộc chiến kinh tế Mỹ Trung. Tất cả mọi hiện tượng phát triển, từ mạng internet, Al,..vv,,,cho đến các lý thuyết khoa học mũi nhọn...vv...đều thể hiện cho quy luật thống nhất toàn thể xã hội loài người của nền văn minh này. Nói theo ngôn ngữ Toán học của "Nghịch Lý Cantor" - thì lý thuyết "Hội nhập toàn cầu" - nhân danh nền văn hiến Việt -là tập hợp lớn nhất có tính quyết định tất cả mọi sự kiện diễn biến của các sự kiện trong tập hợp của nó. Bởi vậy, cuộc chiến kinh tế Mỹ Trung phải kết thúc, với "Bên thắng cuộc" và không có đầu hàng cho bên thua cuộc. Bởi nếu, chấp nhận đầu hàng - dưới hình thức một cuộc đàm phán thương lượng nào đó, thì sẽ còn tồn tại "Đa cực". Cho nên cuối cùng nó cũng phải bị xóa bỏ khi thế giới hội nhập hoàn toàn. Do đó, vấn đề thương lượng - đầu hàng - cũng chỉ là cục bướu của lịch sử và cuối cùng cũng phải cắt bỏ. Ngài Đặng Tiểu Bình, khi sinh thời phát biểu: "Tất cả những nước làm ăn với Mỹ đều giàu!". Xét về phượng diện kinh tế thì hoàn toàn chính xác. Nhưng nếu xét một cách toàn diện, bao gồm cả yếu tố cấu trúc xã hội của các nước làm ăn với Hoa Kỳ thì không phải hoàn toàn như vậy. Và ngay cả xét trên phương diện kinh tế làm ăn với Hoa Kỳ, nó còn tùy thuộc vào thứ tự tiên của chính nước Mỹ. Do đó, chỉ có thể nói rằng: Những nước làm ăn với Hoa Kỳ đều có sẵn một yếu tổ cần để phát triển thì chính xác hơn. Bắt đầu từ kế hoạch phục hưng châu Âu (European Recovery Program - ERP) của Hoa Kỳ. Kế hoạch này đã sản xuất ra hàng loạt các siêu cường, phục hồi và phát triển sau thế chiến thứ II. Mà trước đó, họ tan nát như cái mền rách vì chiến tranh. Ngay sau đó là sự "Phát triển thần kỳ của Nhật Bản", vốn được ca ngợi như một nỗ lực vượt trội của nước Nhật. Nhưng tất cả các nhà phân tích đều quên, hoặc cố tình quên một siêu cường đứng đằng sau: chính là Hoa Kỳ. Các hiện tương thần kỳ về kinh tế, thành Rồng, thành Hổ như Singapore, Nam Hàn...đều tương tự như vậy. Thậm chí, trong chiến tranh Lanh, cả nước Hy Lạp được bơm tiền và tạo điều kiện để làm hàng mẫu cho sự thịnh vượng chung của nền kinh tế tự do là Hy Lạp. Nước này cũng rất phát triển. Tất nhiên, sau chiến tranh Lạnh kết thúc. Nước Hy Lạp trở về với thực trạng của nó và cũng đang khủng khoảng. Sự khủng khoảng của Hy Lạp là một ví dụ cho luận điểm của tôi, về việc làm ăn với Huê Kỳ chỉ là một yếu tố cần, và không phải duy nhất cho sự phát triển kinh tế. Sự phát triển kỳ diệu của Trung Quốc lục địa cũng không nằm ngoài yếu tố này. Hàng xuất khẩu của Tàu ồ ạt tuồn sang Hoa Kỳ và là thu nhập kinh tế quan trọng - với thăng dự giá trị thương mại hàng trăm tỷ Dollar - để đất nước này phát triển. Trong đó có cả hàng .."giả" (Vừa rồi trên Fb, có một vị nào đó nói, bên Hoa Kỳ không có hàng giả. Vớ vẩn! Bạn nào muốn mua hàng tiêu dùng giả của bất cứ hãng nào, lão đây mua cho, kể cả bằng lái xe. Lão bán giá inbox + ship. Hì). Tất nhiên, nó không phải là yếu tố duy nhất, như tôi trình bày ở trên. Mà nó còn do quyết tâm của các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh với tài năng của họ. Nhưng tôi vẫn cần xác định rằng: Làm ăn với Hoa Kỳ - và tùy thuộc vào thứ tự ưu tiên của họ - là một yếu tố CẦN. Còn nếu quốc gia nào, tuy làm ăn tích cực với Hoa Kỳ, nhưng không phải là đối tác ưu tiên và với một xã hội quản trị, tổ chức lòng lẻo thì wên nhanh nhé! Tuy nhiên, ngay cả những xã hội có tổ chức và quản lý xã hội tuyệt hảo thì khi làm ăn với Hoa Kỳ - trong tư thế ưu đãi Tối huệ quốc - họ có thể đưa đất nước của họ phát triển thành Rồng, thành Hồ - như đã nêu trên - thì một yếu tố cực quan trọng tạo ra một mối tương tác quyết định, lại chính là sự phụ thuộc vào nền kinh tế của Hoa Kỳ. Những chính trị gia ở những quốc gia này, thường phát biểu một câu an ủi và sặc mùi chính trị cho sự bình yên nơi trần thế, là "Những nền kinh tế phụ thuộc lẫn nhau". Nếu nói "toạc móng lợn" thì không hề có "những nền kinh tế phụ thuộc lẫn nhau". Mà là nó lệ thuộc vào nền kinh tế Hoa Kỳ. Ngoại trừ tất cả thế giới này: "Một! Hai! Ba". Nghỉ chơi với Hoa Kỳ ra! Nhưng điều này không bao giờ xảy ra, cho dù Đức Giáo Hoàng nhân danh Chúa kêu gọi cả thế giới tẩy chay Hoa Kỳ. Nó giống như việc tìm kiếm người "Ngoài Trái đất" vậy. Cần xác định ngay rằng: Sự phát triển thành siêu cường thứ II trên thế giới của Trung Quốc lục địa, gần như gắn chặt với giao dịch thương mại với Hoa Kỳ - một đất nước chiếm 50 % tổng sản phẩm thế giới. Đó là bản chất của vấn đề. Nhưng có vẻ như Bắc Kinh không nhận ra điều này. Hoặc hiểu sai vấn đề. Phân tích về việc này, tôi đã nói từ 2008 - trong topic "Việt sử 5000 năm văn hiến và vấn đề Biển Đông". Và việc làm ăn Tối huệ quốc với Hoa Kỳ, đó là phần tiền công mà Bắc Kinh được hưởng, vì đã ủng hộ Hoa Kỳ trong việc gây sức ép khiến Liên Xô sụp đổ. Nhưng điều đó không có nghĩa là Hoa Kỳ "chai hia" cho Bắc Kinh cái thế giới này. Ngài Đặng Tiểu Bình đã phát biểu: "Không bao giờ có ý định làm bá chủ thế giới" (Xem hình minh họa kèm theo - Nguồn Fb Nhà báo Nguyễn Huy Cường). Và ngay cả các phát biểu của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh gần đây, cũng lặp lại tương tự. Nhưng đấy là chuyện "nói chơi cho vui". Và bản thân ngài Đặng cũng vẫn nhắc nhở các thế hệ kế tiệp sự nghiệp của ngài về việc "Giấu mình chờ thời". Điều này, có nghĩa là: "Khi gặp thời" thì hãy alaxo, xung phong lên, mần cái bá chửi thế giới! Về lý thuyết, Bắc Kinh vẫn ra rả :"Phát triển trong hòa bình". Trước hết lão Gàn xin: "Cảm ơn tư tưởng tốt!". Nhưng với các chính khứa quốc tế, đầu có những cục sạn to đùng, với thói quen nghề nghiệp, họ thừa biết bản chất của chính trị nó chân thật đến mức nào. Nên họ ko thể tin được cái "Trỗi dậy trong hòa bình" của Tàu. Vào năm 1999 - một quả rocket bắn nhầm vào Đại sứ quán Bắc Kinh ở Kosovo, như một lời quảng cáo. Nhưng lúc đó, có vẻ Hoa Kỳ và Đồng minh không nghĩ rằng tình hình lại tồi tệ đến mức như vậy. Tuy nhiên, mọi chuyện khác hẳn với những diễn biến sau đó. Còn tiếp.
  21. Ngày 25/8/2018 tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương đã tổ chức Khai giảng khoá học Kiến thức cơ bản về thuyết Âm dương Ngũ hành và Kinh dịch nhân danh nền Văn hiến Việt. Tham gia buổi khải giảng: 1. Thày Thiên sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Nguyễn Vũ Diệu) - Chủ tịch Hội đồng khoa học 2. Ông Hoàng Triệu Hải - Giám đốc Trung tâm 3. Ông Phạm Hùng Phương (PhamHung) - Chánh Văn phòng 4. Các khách mời; 5. Các cựu học viên, học viên đang học các lớp khác 6. Toàn thể học viên ở phía Bắc bao gồm từ Hà Tĩnh trở ra Mở đầu buổi lễ, ông Pham Hung - Chánh Văn phòng Trung tâm đã tuyên bố lý do tại sao lại mở lớp khoá học Kiến thức cơ bản về thuyết Âm dương Ngũ hành và Kinh dịch nhân danh nền Văn hiến Việt, giới thiệu đại biểu và nội dung chương trình Thày Thiên sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Nguyễn Vũ Diệu) - Chủ tịch Hội đồng khoa học đã phát biểu khai giảng và trực tiếp giảng luôn bài học đầu tiên và hướng dẫn phương pháp nghiên cứu lý học để mọi người biết cách tiếp cận và nghiên cứu như thế nào để đạt hiệu quả đối với từng môn học thuộc nền lý học. Thày Thiên sứ đã giới thiệu Nền văn minh Đông phương huyền vĩ sừng sững thách đố trí tuệ của nhân loại hàng ngàn năm qua. Chính bởi chúng ta mắc sai lầm về: 1/ Phương pháp nghiên cứu. 2/ Nhầm lẫn khái niệm. 3/ Cội nguồn xuất xứ. 4/ Không xác định được tính thất truyền và sai lệch trong cấu trúc nội tại. Bởi vậy, chúng ta không thể hiểu được bản chất những hệ thống lý thuyết ứng dụng vô cùng đồ sộ của học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chỉ có thể nhân danh nền văn hiến Việt, chúng ta mới hiểu được bản chất của sự huyền vĩ và tính chân lý của học thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Chúng ta cần năm vững những kiến thức và bản chất những khái niệm căn bản đích thực của học thuyết này, mới có thể tiếp tục nghiên cứu sâu và phục hồi một cách hoàn chỉnh những phương pháp ứng dụng bao trùm lên mọi lĩnh vực với một khối lượng đồ sộ của nền văn minh này. Đây là khóa học này cực kỳ quan trọng, giúp mọi người hiểu kỹ được các khái niệm cơ bản để sau này học xâu hơn vào từng bộ môn sẽ dễ dàng hiểu xuyên suốt toàn bộ vấn đề từ căn nguyên của nó. Hy vọng với tâm huyết của thày Nguyễn Vũ Diệu, người luôn đau đáu với cội nguồn văn hiến Việt 5000 năm và muốn truyền tải tới những người nghiên cứu sau tiếp thu được kiến thức một cách đúng đắn, hoàn chỉnh và ứng dụng đúng với từng bộ môn một cách khoa học, từ đó giúp người đời tránh đi được những mê muội từ những tuyên truyền, bẻ cong sự thật và làm quá lên của những kẻ lợi dụng tín ngưỡng của bà con để trục lợi.
  22. NHỮNG NGUYÊN LÝ CĂN BẢN. III. Mối liên hệ Địa chi trong gia đình. A/ SAO MỘC VÀ THẬP NHỊ ĐỊA CHI. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Tính đặc thù của vấn đề nghiên cứu nền văn minh Đông phương - mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành - chính là một vấn đề chưa từng có trong lịch sử văn minh nhân loại. Đó là vì chúng ta phải phục hồi một lý thuyết cổ xưa đã tồn tại trong lịch sử. Chứ không phải chúng ta tổng hợp những nhận thức trực quan về những hiện tượng qua sát được, để trở thành một lý thuyết. Chính vì vậy, chúng ta cần có phương pháp nghiên cứu, không thể theo lối mòn như trong lịch sử hình thành các học thuyết khoa học của nền văn minh hiện nay. Giáo sư Lê Văn Sửu viết - Đại ý: "Nền khoa học hiện nay có những phương tiện cực kỳ tình xảo. Nhưng để khám phá những bí ẩn của nền văn minh Đông phương thì vẫn gặp khó khăn to lớn". Đó chính là do sai lầm về phương pháp nghiên cứu. Trong trường hợp của việc nghiên cứu những bí ẩn của nền văn minh Đông phương, chẳng ai có thể dùng kính hiển vi điện tử để phóng to ký hiệu quái Càn là gì?! Nhưng với suy nghĩ đã trở thành chấp ngã trong quá trình phát triển của cả một nền văn minh và không có ngoại lệ. Nên khi tìm hiểu về nền văn minh Đông phương, những nhà nghiên cứu cũng bắt đầu từ nếp suy nghĩ cố hữu này. Họ cho rằng các ngành Đông Y, Địa lý phong thủy.... chỉ là do "tích lũy kinh nghiệm". Tức là cũng thực chứng, thực nghiệm y như những gì mà nền văn minh hiện nay dùng để tổng hợp đưa lên thành một lý thuyết. Giở những cuốn sách giới thiệu về Địa Lý Phong thủy phương Đông, phần nhiều, các tác giả nhận định rằng: Địa lý phong thủy là do con người bắt đầu từ cuộc sống ở những hang động, rồi họ rút kinh nghiệm tạo nên môn Địa Lý phong thủy. Rồi họ bưng nguyên si nghĩa đen của từ "Phong thủy" và giải thích "Phong là gió. Thủy là nước" - Phong thủy là gió và nước. Việc xác định độ ẩm và tốc độ gió trong căn hộ là một trong những đề tài nghiên cứu của Tiến Sĩ Bùi Văn Chân từ 50 năm trước, tại khi tập thể Chung Tự ở Hanoi. Wow! Lạy Đức Ala toàn năng và cao cả. Vậy "Phoengshui" là rất có "cơ sở khoa học", vì nó cũng bắt đầu từ những thông số cơ bản của ngành Vật Lý kiến trúc. Hơ! Xin lỗi! Gặp các thày bà như vậy, hoặc những cuốn sách mở đầu như vậy, tôi đi chỗ khác chơi. Tóm lại, với những tư duy lối mòn như vậy thì không thể nào khám phá được những gía trị của nền văn minh Đông phương. Đó chính là những sai lầm về phương pháp nghiên cứu. Một trong những yếu tố cản trở lớn nhất trong việc tìm hiểu bản chất của nền văn minh này. Nhưng sự khám phá những bí ẩn huyền vĩ của nền văn minh này, đòi hỏi một tư duy tổng hợp những tri thức mũi nhọn của nhiều ngành khoa học. Từ lịch sử, xã hội và cả những tri thức của toàn bộ các ngành khoa học tự nhiên, kể cả vật lý thiên văn cho tới những khái niệm toán học. Bởi vì Lý học Đông phương bao trùm lên mọi lĩnh vực của cuộc sống, con người và xã hội, cũng như toàn bộ lịch sử hình thành vũ trụ. Do đó, khi nghiên cứu về Lý học Đông phương - mà nền tảng là học thuyết Âm Dương Ngũ hành - cần phải đi tìm và xác định tính cấu trúc hợp lý trong mối liên hệ mọi đại lượng, khái niệm có tính hệ thống và nhất quán trong nội hàm của một lý thuyết vô cùng đồ sộ và bao trùm lên mọi lĩnh vực. Do đó, nó cần những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học, làm chuẩn mực để thẩm định tính khoa học trong việc phục hồi một hệ thống lý thuyết. Khó khăn tiếp theo, chính là vấn đề thuộc phương pháp cụ thể. Nếu như để nghiên cứu hiện tượng hoặc cấu trúc vật chất trong nghiên cứu khoa học hiện đại, có thể dùng phương pháp loại suy đơn giản và cô lập hiện tượng, đối tượng nghiên cứu để đi tìm bản chất của vấn đề. Như việc tìm kiến hạt Higg. Nhưng nghiên cứu Lý học thì không. Bởi vì, nó là kết quả của một sự giải thích mang tính lý thuyết. Thí dụ: Một quẻ Dịch tốt như Địa Thiên Thái, xác định chuyên phát triển của một doanh nghiệp. Nhưng đó là sự giải thích của một phương pháp (Tính dự báo) của một hệ thống lý thuyết. Và cho dù sự lặp lại của quẻ này luôn luôn đúng cho mọi hiện tượng dự báo, thì nó vẫn không thể chứng tỏ được bản chất hình thành nên quả Địa Thiên Thái. Do quẻ này là sự tông hợp của mọi hiện tượng. Nói rõ hơn là: Bằng thực nghiệm trên máy LHC, các nhà khoa học có thể xácđịnh "Không có hạt Higg". Nhưng bằng thực nghiệm ứng dụng của quẻ bói, không nói lên điều gì cho bản chất của quẻ đó và nguyên nhân hình thành nên nó. Mà người ta chỉ có thể xác định phương pháp đó có hiệu quả, quẻ bói nghiệm. Bởi vậy, nghiên cứu Lý học Đông phương - để tìm bản chất chân lý khách quan đằng sau các phương pháp ứng dụng và cả một hệ thống lý thuyết đằng sau nó, phải bằng những chuẩn mực giành cho một hệ thống lý thuyết, mà tôi đã trình bày ở trên. Cụ thể, vấn đề được trình bày trong bài viết này là ý nghĩa của thập Thiên can và ảnh hưởng của nó lên cuộc sống con người. Hiện nay, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng: Thập Thiên can có nguồn gốc văn hóa phương nam. Cụ thể là của Việt tộc. Cụ thể là nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Quang, đã chứng minh rất xuất sắc về cội nguồn của Thập nhị Địa chi thuộc về văn hiến Việt. Phương pháp của ông chủ yếu là tư liệu lịch sử và so sánh đối chiếu biểu tượng 12 con giáp. Nhưng bằng một phương pháp khác, dựa vào tiêu chí khoa học, phát biểu như sau: "Một lý thuyết khoa học thì mô hình biểu kiến của nó phải phải ánh một thực tại có thể kiểm chứng được. Do đó, tôi đặt vấn đề: mô hình chu kỳ 12 con giáp xuất phát từ đâu? Trong các bản văn chữ Hán không thấy nói đến thực tại khách quan nào để lập thành mô hình biểu kiến chu kỳ 12 con giáp?! Đây là sự xác định chắc chắn rằng: Nền văn minh Hán không thể là chủ nhân của mô hình biểu kiến 12 con giáp. Vì nó không xác định được nguyên nhân khách quan để lập thành mô hình này. Trong quá trình nghiên cứu Lý học Đông phương, so sánh đối chiếu các kết quả, tôi xác định rằng: Chính chu kỳ của Sao MỘC quay quanh Địa Cầu là chu kỳ của 12 con giáp trong Lý học Đông phương. Khoa Thiên văn học hiện đại đã chứng minh rằng: Chu Kỳ sao Mộc - Thái Tuế thuộc Mộc trong Lý học Đông phương - quay quanh Mặt trời tương đương 11, 8 năm Địa Cầu (Có sách chép 11, 89). Nhưng năm Dương lịch (Lịch Tây) có 365 ngày. Còn Âm lịch (Lịch Ta) chỉ có 355 (Hoặc 356) ngày. Sai số chính xác của 12 năm lịch Ta (Công thêm ba tháng nhuận) - chu kỳ 12 con giáp = với 11.8 lịch Tây là không đáng kể. Sự xác định sao Mộc - Ngôi sao lớn nhất gần Địa cầu sau Mặt trời, và chính là sao Thái Tuế trong Lý học Đông phương - đã xác định tính khoa học theo đúng tiêu chí khoa học của một lý thuyết khoa học và nó cũng xác định tính quy luật khách quan tương tác của sao Mộc/ Thái Tuế lên địa cầu. Chính quy luật tương tác của sao Mộc trong Thái dương hệ là cơ sở của 12 Địa Chi và là chủ đề của bài viết này. Ảnh hưởng của sao Mộc trong 12 năm Địa chi tất nhiên được phân Âm Dương, mỗi chu kỳ Âm Dương là 6 năm, chính là ý nghĩa của Lục Khí trong 12 con giáp được mô tả trong bàng tuần hoàn LẠC THƯ HOA GIÁP mà tôi đã chứng minh. Trên cơ sở này, tôi tiếp tục trình bày về tương tác của Thập nhị Địa chi trong quan hệ gia đình. Xin cảm ơn sự quan tâm, chia sẻ của quý vị va 2anh chị em. B/ TƯƠNG TÁC 12 ĐỊA CHI. Như tôi đã trình bày ở bài trước. Do chu kỳ của sao Mộc/ Thái Tuế trong Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt - là thực tại làm nên mô hình biểu kiến là 12 Địa Chi. Bội số chung nhỏ nhất của 12 Địa Chi phối với 10 Thiên can chính là con số 60 của LẠC THƯ HOA GIÁP - nhân danh nền văn hiên Việt. Và đó chính là tính phân loại vận khí do tương tác của vũ trụ - 10 Thiên can - và tương tác mạnh ở Thái Dương hệ với sao Thái Tuế / Sao Mộc làm thành vẫn khí hàng năm. Các mối liên hệ về Thiên Can và Vận khí tôi đã trình bày. Trong bài này tôi tiếp tục trình bày về tương tác 12 Địa chi. Thưa quý vị và các bạn. Chính vì tình tương tác phức tạp và không thể có một mẫu số chung cho các tương tác này, nên không thể có cặp vợ chồng nào tuyệt đối tốt. Qua đó thấy rằng: Phương pháp Luận tuổi Lạc Việt phản ánh đúng thực trạng cuộc sống, vì tính không thể tuyệt đối ngay trong lý thuyết này..Ngay cả việc bồ sung tuổi những đứa con với xác xuất cao nhất là 60 Nam x 60 Nữ x 60 tuổi con út cũng không thể tuyệt đối. Lý tưởng nhất về mặt lý thuyết là tập hợp các con trong gia đình thành những cách cục tuyệt hảo - các Đại gia hoặc công chức cao cấp thì vào những vận hạn xung khắc tuổi các thành viên thì vẫn có tính thăng trầm của số phận.. Chưa nói đến vấn đề các yếu tố trong tập hợp "Luận tuổi Lạc Việt", cũng chỉ là một trong ba tập hợp khác là Địa Lý phong thủy và số phận. Tuy nhiên phương pháp "luận tuổi Lạc Việt" là phương pháp có xác xuất chính xác cao nhất so với các phương pháp khác và dễ dự báo nhất. BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH hi xem tuổi hợp khắc, nếu hai tuổi khắc nhau vẫn có thể ăn ở với nhau được nếu như CUNG và MỆNH hoà hợp nhau. * Tuổi Tam hợp: Thân Tý Thìn, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi, Tỵ Dậu Sửu * TuổiI Nhị hợp: Tý Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tỵ Thân, Ngọ Mùi. * Tuổi Tứ hành xung: Tý Ngọ, Sửu Mùi; Dần Thân, Mão Dậu, Thìn Tuất, Tỵ Hợi. * Tuổi Lục Hại: Tý hại Mùi, Sửu hại Ngọ, Dần hại Tỵ, Mão hại Thìn, Thân hại Hợi, Dần hại Tuất. Như tôi đã trình bày ở bài trước.
  23. LUẬN TUỔI LẠC VIỆT. Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Nguyễn Vũ Diệu) NHẬP ĐỀ. Cho đến tận ngày hôm nay, khi tiếp các thân chủ đang trong tuổi yêu đương, dựng vợ gả chồng của các bạn trẻ. Tôi thấy những bậc phụ huynh vẫn cố chấp và đôi lứa trẻ vẫn đau lòng về việc bị cha mẹ cấm cản, vì một nguyên nhân lãng nhách, là nghe lời các thày bà nửa mùa, dốt nát. Họ căn cứ vào những kiến thức di sản đã thất truyền và sai lệch từ các bản văn cổ chữ Hán, để cho rằng có những đôi lừa không thể lấy nhau vì không hợp tuổi. Hậu quả của những sự thất truyền và sai lầm này, đã gây ra những kết cục bi thương cho họ. Thậm chí có những đôi lứa tự tử để quyết sống bên nhau, vì lời phán của các loại thày, bà dốt nát. Bởi vậy, hôm nay, tôi quyết định viết lại rõ ràng về phương pháp "LUẬN TUỔI LẠC VIỆT", mà tôi đã dày công nghiên cứu và đã công khai công bố trên diễn đàn lyhocdongphuong.org.vn, từ hàng chục năm trước. Có thể nói: Công trình nghiên cứu này đã phổ biến trong tất cả các cao thủ Địa Lý Lạc Việt và các nhà Lý học thiện tâm ứng dụng. Nhưng nó chưa thật sự phổ biến rộng khắp, như một giáo trình Lý học ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành - với tư cách là một LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT VŨ TRỤ. Ngày nay, nhờ mạng xã hội và cảm ơn hệ thống Facebook, tôi - Lão Gàn Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh - viết và công bố lại ở đây công trình nghiên cứu về mối quan hệ gia đình trong luận tuổi Lạc Việt với sự bổ sung hoàn hảo nhất,về phương pháp này - nhân danh những gía trị đích thực của Lý Học Đông phương thuộc về nền văn hiến Việt. Tôi viết lại bài viết này với một hy vọng rằng: Sẽ giúp cho đôi lứa yêu nhau thực sự, đủ tự tin để đến với nhau và xây dựng hạnh phúc bên nhau trọn đời với "Luận tuổi Lạc Việt". Tôi cũng hy vọng rằng: "Luận tuổi Lạc Việt" sẽ giúp cho các bậc phụ huynh sẽ hiểu rõ hơn bản chất đích thực của nền văn hiến Việt, thực sự nhân bản với tình yêu con người, hoàn toàn phù hợp với những quy luật tự nhiên trong vấn đề phát triển cuộc sống và xã hội. Từ đó họ sẽ ứng dụng hệ thống tri thức này, hướng dẫn con cái đi tìm hạnh phúc đích thực. Xin cảm ơn vì đã quan tâm, chia sẻ. Còn tiếp. Ngày Tam Nương sát 18. 6. Mậu Tuất Việt lịch. Nhằm ngày 30. 7. 2018. Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh. BẮT ĐẦU TỪ HÌNH TƯỢNG THẦN TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN TRONG NHỮNG NỀN VĂN MINH CỔ. Có lẽ tất cả mọi người trên thế giới này, đều biết đến một hình ảnh phổ biến của thần Tình Yêu, có xuất xứ từ nền văn minh Hy - La. Đó là một chú bé rất xinh xắn, trên lưng có đôi cánh và bộ cung tên bằng vàng. Chú bé cười như nắc nẻ, mỗi khi bắn một mũi tên xuống trần gian và bao giờ nó cũng xuyên qua hai trái tim, một nam, một nữ. Thế là họ phải lấy nhau, như một định mệnh đã an bài. Đó là thần Eros hay Cupid trong thần thoại Hi – La, là xuất xứ ban đầu của nền văn minh phương Tây. Thần Cupid có lúc hiện thân là một thanh niên thân hình tráng kiện với những đường nét chuẩn của tỷ lệ vàng, mà chúng ta thấy ở tượng David của Michelangelo. Vị thần này ngồi trên xe có đôi Thiên Nga trắng kéo. Còn Thần Eros hiện đại và văn minh hơn, lắp ngay đôi cánh Thiên Nga trên lưng mình và hỗ trợ sự di chuyển bằng bánh xe lửa có cánh. "Chúa không chơi trò xúc xắc". Đấy là câu nói nổi tiếng của Anbert Einstein. Nhưng vị thần Tình Yêu trong thần thoại Hy La này có vẻ như chơi trò xúc sắc, khi hứng thú bắn những mũi tên tình yêu của mình. Trong nền văn minh cổ đại của Ấn Độ, thì vị thần Tình Yêu có vẻ chững trạc hơn. Thần hiện thân là một chàng trai tuấn tú, thân hình chuẩn sáu múi do tập thể dục thể hình thường xuyên, chứ không phải là một đứa trẻ hồn nhiên, vô tư với tâm hồn trong trắng, thánh thiên. Ngài cũng có bộ cung tên như hai vị thần tình yêu của Hy La. Nhưng có điều ngài lại ngồi trên xe, do một chú vẹt lắm chuyện kéo xe. Một hiện tượng đáng chú ý là: Thần Tình yêu Ấn Độ, dám chống lại cả Brahma, Shiva, là những vị thần tối cao của Ấn Độ. Nhưng thần tình yêu của Hy La lại là kết quả của tình yêu giữa thần Jupiter lắm vợ với nữ thần Venus. Giống như thần thoại Hy Lạp, thần Tinh yêu Ấn Độ cũng dùng mũi tên của mình để kết nối lứa đôi như thần Tình yêu Hy La. Nhưng có lẽ vị thần Tình yêu của xứ sở cary này, khác hẳn hai vị thần Hy La nói trên, bởi chính danh xưng của vị thần này. Ngài có tên là Kama. Tên của vị thần có từ thời rất cổ xưa này, phát âm gần giống với từ "karma", tức là "Nghiệp chướng" trong triết học Ấn Độ cổ và trong Phật giáo. Đây là một điểm khác biệt hẳn, so với sự vô tư và hồn nhiên, khi kết hợp hôn nhân đôi lứa qua hình tượng đứa trẻ trong thần thoại Hy La với thần thoại Ân Độ. Tên thần Tình Yêu Ấn Độ, đã mang bóng dánh của một định mệnh được an bài. Mà trong đó, tình yêu và hôn nhân thực sự là hậu quả của "nghiệp chướng" karma, ẩn chứa đằng sau sự vô tư khi ban phát tình yêu của thần Kama. "Duyên tình hay nghiệp oan khiên? Mà sao mãi mãi trăng đêm nhắc sầu?! Trăng non bến giang đầu vừa hé. Nghe gió than khe khẽ bên bờ..." Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh phải thốt lên như vậy! Thưa quý vị và các bạn! Trải dài từ nền văn minh cổ Hy La, cho đến Ấn Độ, chúng ta thấy có sự chuyển biến từ một tình yêu hồn nhiên, vô tư và mang tính nguyên sơ của thần thoại Hy Lạp, La Mã, đến dấu ấn của một kết quả có tính nhân quả - nghiệp chướng - trong thần thoại Ấn Độ. Có vẻ như điều này đã dần sáng tỏ danh ngôn của ngài Albert Einstein: "Chúa không chơi trò xúc sắc". Và điều này được khẳng định trong văn minh Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt. THẦN HÔN NHÂN TRONG NỀN VĂN HIẾN VIỆT. Mạch hôn nhân của Hy La vượt qua Ấn Độ, khi đến phương Đông với nền văn minh thứ V cổ xưa ở miền Nam sông Dương Tử - thì tính chất đã khác hẳn. Ở nền văn minh Đông phương, không có thần Tình Yêu. Mà chỉ có vị thần hôn nhân là Nguyệt Lão. Sự tích về Nguyệt Lão được cho rằng có xuất xứ từ thời nhà Đường. Truyện này được mô tả hay nhất trong cuốn "Điển Cố" của Phan Thế Roanh. Sự tích này có nhiều dị bản. Nhưng có thể tóm tắt về hình tượng Nguyệt Lão như sau: Đó là một ông già thường ngồi dưới bóng trăng. Bên canh có chiếc túi chứa đầy những sợi "chỉ hồng" ("Xích thằng"), trên tay ông luôn cầm cuốn sách, trong đó ghi danh tất cả những đôi lứa nam, nữ ở trần gian sẽ phải lấy nhau. Sau khi cân nhắc cẩn thân, Nguyệt Lão lấy sợi chỉ hồng buộc hai người lại với nhau. Và thế là định mệnh đã an bài. Dù cuộc thế bãi bể nương dâu, họ cũng phải đến với nhau và thành vợ, thành chồng. "Dù khi lá thắm, chỉ hồng, Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha. Kiều - Nguyễn Du. Như vậy, trong tiềm thức của nền văn minh cổ Đông phương, không có thần Tình Yêu, không có tỉnh yêu cảm tính, hồn nhiên, như nhiên, vô tư như trẻ nhỏ. Mà đó là sự cân nhắc chín chắn của bậc trưởng thượng, tính toán chi ly mọi yếu tố với sự ghi chép có tư liệu cẩn thận, rồi mới quyết định sự ràng buộc của Định mệnh, bằng sợi chỉ hồng. Theo những truyền thuyết về vị thần Hôn nhân trong văn minh cổ Đông phương, xác định một định mệnh đã an bài và không thể cưỡng lại. Cho dù, nó nằm ngoài ý muốn của con người và cố tình chống lại nó. Rõ ràng ở nền văn minh Đông phương "Chúa không chơi trò xúc sắc". Về nguồn gốc của thần Hôn nhân - Nguyệt Lão - Có vẻ như nó thuộc về văn minh Hán với sự tích phổ biến rộng rãi với nhân vật Vi Cố đời nhà Đường (618-907). Những loại Nho sĩ thuộc hạng "Tầm chương, trích cú"; "Soi từng câu, dò từng chữ", ra rả như ve rằng: Nó có nguồn gốc văn hóa Hớn. Và rằng nền văn hóa Việt chịu ảnh hướng văn hóa Hớn. Thực ra đó chỉ là loại tầm nhìn xa dưới 10km. Dấu ấn của nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử, từ hàng nghìn năm trước - nền văn minh cổ đại thứ V trong lịch sử văn minh nhân loại - chính là sợi chỉ đỏ huyền vĩ buộc định mệnh của những cặp vợ chồng trên thế gian. "Xích thằng" - chỉ Hồng - đó là phát âm nguồn gốc từ LẠC HỒNG mà ra. Từ LẠC trong ngôn ngữ Việt, tiếng Nam Bộ, còn có thể viết và đọc là "LẠT" - sơi dây ràng buộc mọi sự việc, sự vật của thế nhân. Và đấy không phải là bằng chứng duy nhất. Tôi đã chứng minh trên dd lyhocdongphuong và trong các sách đã xuất bản. Đặc biệt tronng cuốn sách: "Hà đồ trong văn minh Lạc Việt" (Nxb TH T/p HCM 2006), và "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" (Nxb Tri thức 2014), về ý nghĩa của cặp "Bánh chưng, bánh dầy". Trong đó, bên ngoài chiếc bánh chưng chuẩn Lạc Việt, mà tổ tiên để lại, phải buộc theo hình "Cửu Cưng Hà Đồ" với bốn sợi "LẠT HỒNG", Tức "LẠC HỒNG" và chính là "Xích thằng" - sợi chỉ đỏ huyền vĩ biểu tượng của dòng dõi Lạc Hồng một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử (Xin xem hình minh họa kèm theo). Một trời huyền thoại Việt, cũng đã làm rung động con tim của một thiên tài kiệt xuất trong thi ca còn ghi dấu ấn đến đời sau, chính là Lý Bạch - một danh nhân thi sĩ đời Đường với bài thơ nổi tiếng: "Mộng Du Thiên Mụ ngâm lưu biệt". Trong đó ông đã mô tả một nền văn hiến giàu chất thần thoại của Việt tộc. Thiên Sứ đã dịch thơ như sau: MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT Cảm tác thơ Lý Bạch Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh Khách hải hồ kể mãi xứ Doanh Châu. Cõi huyền thoại nơi chân trời giáp biển. Chuyện thần tiên văn hiến Việt ngàn xưa. Nơi ấy. Lồng lộng trên cao Thiên Mụ chắn ngang trời. Giữa huyền không bời bời. Ngũ nhạc còn bé, Xích thành nhỏ nhoi. Núi Thiên Thai hùng vĩ xuyên mây. Trước Thiên Mụ cũng ngả nghiêng chao đảo. Ta ôm mộng sống trong huyền thoại Việt. Mơ vượt sóng trào hồ Động Đình đất Kính. Xuyên Ngô Việt trong trăng thanh lung linh. Về Diễm Khê thanh bình. Theo bóng trăng đến lều tranh Tạ Linh Vân. Nơi nước biếc soi áng mây thơ thẩn. Hạc kêu, vượn hót Gió giục mây vần. Mượn hài thần Tạ công, ta nhẹ bước thanh vân. Lưng chừng núi chợt thấy mặt trời lồng lộng. Mão Nhật kê tinh gáy gọi hừng Đông Đường đi mênh mông. Mây buông ráng hồng. Chợt trời sập tối. Sầm sập mây trôi. Nghe Kỳ lân gào thét. Tiếng Rồng gầm vang khe. Gió giật chớp loè. Núi tan, non lở. Chợt vỡ toang cửa trời rộng mở. Thăm thẳm huyền vi. Chói loà trời trăng soi lầu vàng, gác bạc. Thiên thần lừng lững bay. Giáp trụ hiên ngang, lấp lánh bẩy sắc cầu vồng. Cưỡi thần mã phi nhanh như gió. Cõi trời huyền thoại Việt. Toàn người đẹp nghiêng thành. Ảo huyền như trăng thanh. Dáng tiên thanh tú . Đông như cỏ manh. Nghe hổ chơi đàn. Hồn Bá Nha chứa chan. Chợt nhìn phượng múa. Vũ khúc Nghê Thường mê man… Giật mình tỉnh giấc mơ vàng. Mang mang như khói hương tàn trôi đi. Ngàn thu qua có nhắc gì? Mơ xưa xứ Việt ngang mi dâng sầu. Đất trời nhắc cuộc bể dâu. Nào mơ danh tướng công hầu mà chi. Thiên Sứ MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT Thơ Lý Bạch Bản dịch âm của Khương Hữu Dụng. Hải khách đàm Doanh Châu, Yên đào vi mang tín nan cầu Việt nhân ngữ Thiên Mụ, Vân hà minh diệt hoặc khả đổ. Thiên Mụ liên thiên hướng thiên hoành, Thế bạt Ngũ Nhạc, yểm Xích Thành. Thiên Thai tứ vạn bát thiên trượng, Đối thử dục đảo đông nam khuynh. Ngã dục nhân chi mộng Ngô Việt, Nhất dạ phi đô kính hồ nguyệt. Hồ nguyệt chiếu ngã ảnh, Tống ngã chí Diễm Khê. Tạ công túc xứ kim thượng tại, Lục thuỷ đãng dạng thanh viên đề. Cước trước Tạ công lý Thân đăng thanh vân thê. Bán bích kiến hải nhật Không trung văn thiên kê Thiên nham vạn hác lộ bất định, Mê hoa ỷ thạch hốt dĩ mính, Hùng bào long ngâm âm nham tuyền. Lật thâm lâm hề kinh tằng điên. Vân thanh thanh hề dục vũ, Thuỷ đạm đạm hề sinh yên. Liệt khuyết tích lịch, Khâu loan băng tồi. Động thiên thạch phi, Hoanh nhiên trung khai. Thanh minh hạo đãng bất kiến để, Nhật nguyệt chiếu diệu kim ngân đài. Nghê vi y hề phong vi mã, Vân chi quân hề, phân phân nhi lai hạ. Hổ cổ sắt hề loan hồi xa, Tiên chi nhân hề liệt như ma. Hốt hồn quý dĩ phách động, Hoảng kinh khởi nhi trường ta. Duy giác thì chi chẩm tịch, Thất hướng lai chi yên hà. Thế gian hành lạc diệc như thử. Cổ lai vạn sự đông lưu thuỷ, Biệt quân khứ hề hà thì hoàn ? Thả phóng bạch lộc thanh nhai gian. Tu hành tức kỵ phỏng danh sơn. An năng tồi mi chiết yêu sự quyền quý, Sử ngã bất đắc khai tâm nhan! Thưa quý vị và các bạn. Trong nền văn hóa truyền thống Việt còn ghi dấu ấn của "Ông Tơ, bà Nguyệt". Quý vị và các bạn có thể thấy ngay trong hai bức tranh dân gian làng Đông Hồ minh họa dưới đây, một bức miêu tả "Ông Tơ" và một bức miêu tả "Bà Nguyệt". Vậy bà Nguyệt ở đâu ra, khi nếu được coi là "gốc Hớn" với Nguyệt Lão? Nếu thật sự có "nguồn gốc Hớn" thì người Việt "phịa" thêm hình tượng "Bà Nguyệt" vào làm gì? Nhưng nếu xét theo Lý Âm Dương thì hình tượng Bà Nguyệt hoàn toàn hợp lý và mới chính là gốc của mọi vấn đề. Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành và sự ứng dụng trong tất cả mọi lĩnh vực, thì luôn tôn trọng quy luật "Cân bằng Âm Dương". "Cô Âm", hoặc "cô Dương" đều coi như sai cách cục. Nhưng trong truyền thuyết về Nguyệt Lão của văn hóa Hớn, thì chỉ có minh "Nguyệt lão" cô Dương trong hình tượng. Đây không phải là cách thiết kế một nội dung câu chuyện huyền thoại có tính minnh triết của nền văn minh Đông phương - nếu là chủ nhân thực sự của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chẳng bao giờ có hạnh phúc lứa đôi, nếu chỉ có một đàn ông, hoặc một đàn bà trong gia đỉnh cả. Nhưng nền văn hiến Việt với thần thoại về "Ông Tơ, bà Nguyệt" lại đủ Âm Dương. Ánh trăng soi sáng cho ông lão ngồi dưới trăng, được tách hẳn thành một nữ thần phụ trách hôn nhân trong văn hóa Việt và thành "Bà Nguyệt". Bà Nguyệt - Âm - mới thật sự chủ đạo trong quyết định hôn nhân và hạnh phúc lừa đôi nam, nữ - vốn thuộc sinh hoạt bản năng - Âm tính của con người. Ông Tơ - Dương - chỉ là người thực hiện cụ thể với sợi "lạt hồng" - "Xích thằng" - để ràng buộc lứa đôi. Đấy chính là nguyên lý "Trong Âm, có Dương" và ngược lại. Trong tổng thể Âm của sinh hoạt bản năng nam nữ thì Bà Nguyệt là Âm, nhưng mang tính chủ đạo và trở thành Dương trước (Trong Âm có Dương); Ông Tơ là tuy hình tượng là Dương, nhưng lại có sau nên là Âm sau (Trong Dương có Âm) và là người thực hiện buộc sơi tơ hồng, nên gọi là "Ông Tơ". Bởi vậy, với những phân tích trện, thì chính nền văn hiến Việt là nguồn gốc đích thực của những giá trị văn minh phương Đông. Hình ảnh "Ông Tơ, Bà Nguyệt", mô tả một định mệnh đã an bài trong hôn nhân. "Thượng Đế không chơi trò xúc sắc". Albert Einstein. Còn tiếp.
  24. II. Mối liên hệ bản mệnh trong quan hệ gia đình. Thưa quý vị và anh chị em. "Mối liên hệ bản mệnh trong quan hệ gia đình", nghĩa là mối liên hệ giữa vợ chống và con cái trong sự phân loại Ngũ hành theo năm sinh của chu ký Hoa giáp 60 năm. Chu ký phân loại Ngũ hành theo chu kỳ Hoa giáp 60 năm, được xác định bời bảng LẠC THƯ HOA GIÁP - nhân danh nên văn hiến Việt, trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ nam sông Dương tử - Ở đây, nếu ai áp dụng phương pháp "Luận tuổi Lạc Việt", mà dùng bảng "Lục thập hoa giáp" lưu truyền trong cổ thư chữ Hán, đều sẽ sai lệch, không hiệu quả và không thể gọi là "Luận tuổi LẠC VIỆT". Bởi vì nó thiếu tính chất khoa học cho cấu trúc nội hàm của một hệ thống lý thuyết, theo tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học. Tôi chép lại bảng này và đưa vào bài viết, để quý vị và các bạn tiện tham khảo, theo dõi. LẠC THƯ HOA GIÁP Sách của người Lạc Việt viết về quy luật tuần hoàn 60 năm trong vũ trụ. KỶ THỨ NHẤT Lục khí - Vận 1 Tam Âm Tam Dương Giáp Tí. Ất Sữu ------------ Hải Trung Kim Bính Dần. Đinh Mão ------Tuyền Trung Thuỷ (Sách Tàu: Hỏa) Mậu Thìn.Kỷ Tỵ------------- Đại Lâm Mộc Lục khí - Vận 2 Tam Âm Tam Dương Canh Ngọ. Tân Mùi --------Lộ Bàng Thổ Nhâm Thân. Quí Dậu------Kiếm Phong Kim Giáp Tuất. Ất Hợi----------Trường Lưu Thuỷ (Sách Tàu: Hỏa) Lục khí - Vân 3 Tam Âm Tam Dương Bính Tí, Đinh Sữu-------------- Tích Lịch Hoả (Sách Tàu: Thủy) Mậu Dần, Kỷ Mão-------------- Thành Đầu Thổ Canh Thìn, Tân Tỵ -------------Bạch Lạp Kim Lục khí - Vận 4 Tam Âm Tam Dương Nhâm Ngọ, Quí Mùi -------------Dương Liễu Mộc Giáp Thân, Ất Dậu--------------Lư Trung Hoả (Sách Tàu: Thủy) Bính Tuất, Đinh Hợi------------ Ốc Thượng Thổ Lục khí - Vận 5 Tam Âm Tam Dương Mậu Tí, Kỷ Sữu---------------- Giáng Hạ thuỷ (Sách Tàu: Hỏa) Canh Dần, Tân Mão---------- Tùng Bách Mộc Nhâm Thìn, Quí Tỵ------------ Sơn Đầu Hoả (Sách Tàu: Thủy) KỶ THỨ II Lục khí - vận 1 Tam Âm Tam Dương Giáp Ngọ, Ất Mùi ---------------Sa Trung Kim Bính Thân, Đinh Dậu---------- Đại Khê Thuỷ (Sách Tàu: Hỏa). Mậu Tuất, Kỷ Hợi--------------- Bình Địa Mộc Lục Khí - Vận 2 Tam Âm Tam Dương Canh Tí, Tân Sữu--------------Bích Thượng Thổ Nhâm Dần, Quí Mão----------Kim Bạch Kim Giáp Thìn, Ất Tỵ----------------Đại Hải Thuỷ (Sách Tàu: Hỏa) Lục Khí - Vận 3 Tam Âm Tam Dương Bính Ngọ, Đinh Mùi--------Thiên Thượng Hoả (Sách Tàu:Thủy) Mậu Thân, Kỷ Dậu------------ Đại Dịch Thổ Canh Tuất, Tân Hợi-----------Thoa Xuyến Kim Lục khí - Vận 4 Tam Âm Tam Dương Nhâm Tí, Quí Sữu-------------- Tang Đố Mộc Giáp Dần, Ất Mão-------------- Sơn Hạ Hoả (Sách Tàu: Thủy) Bính Thìn, Đinh Tỵ------------- Sa Trung Thổ Lục khí - Vận 5 Tam Âm Tam Dương Mậu Ngọ, Kỷ Mùi -------------Thiên Hà Thuỷ (Sách Tàu: Hỏa) Canh Thân, Tân Dậu---------Thạch Lựu Mộc Nhâm Tuất, Quí Hợi----------Phúc Đăng Hoả (Sách Tàu: Thủy). Thưa quý vị và các bạn. Trong ba yếu tố tương tác quan trọng, mô tả những quy luật có khả năng tiên tri, trong quan hệ gia đình, thì: Thiên Can thuộc Dương. Bản mệnh và Địa chi thuộc Âm. Một lần nữa, chúng ta thấy rõ nguyên lý phân loại Âm Dương, là "Dương trước, Âm sau" ứng dụng triệt để trong mọi phương pháp ưng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đây là một nguyên lý nhất quán, có tính hệ thống của một lý thuyết hoàn chỉnh để mô tả từ sự khởi nguyên của vũ trụ cho đến mọi phương pháp ứng dụng - theo đúng chuẩn mực thẩm định một lý thuyết khoa học theo tiêu chí khoa học. Bởi vậy, những kẻ láo nháo, khăng khăng "Âm trước, Dương sau" thực chất chỉ là những kẻ lười tư duy, không chịu suy luận, nếu không nói là dốt nát, không có khả năng phân tích, suy luận. Thiên Sứ tôi không có thời gian thuyết phục những con bò. Và cho dù tôi có thời gian của cả 100 năm kiếp người, thì cũng không thể thuyết phục từng người trong hàng tỷ con người trên thế giới này vốn quen với quan niệm nguồn gốc nền văn minh Đông phương tử Tàu cả hàng ngàn năm nay, khi từng người đặt câu hỏi. Tôi chỉ có thể giải thích cho các học trò của tôi. Cho nên, một lần nữa mong được sự thông cảm khi tôi buộc phải delete vài kẻ như vậy, ra khỏi Fb của tôi. Tiếp tục trở lại với chủ đề. Trước khi trở lại với chủ đề chính, tôi thấy cần phải bàn thêm về tính ứng dụng của cặp phạm trù Âm Dương trong mọi hệ quy chiếu. Nếu không sẽ dẫn đến sự nhầm lẫn khái niệm. Sự nhầm lẫn khái niệm này là một trong những nguyên nhân rất quan trọng trong việc đẩy nền văn minh Đông phương vào sự huyền bí. Một ví dụ rất điển hình và cả thế giới biết đó là ông Chu Đôn Di - Tức Chu Hi, một triết gia nổi tiếng đời Tống. Đấy là Chu Hy - người mở ra một nền văn minh Tống Nho và được coi là Á Thánh sau Khổng Tử - chưa nói đến các hạng lởm khởm khác, tự nhân cao thủ, cố thể hiện, rồi cũng nháo nhác phản biện. Tôi sẽ có một bài viết riêng, vạch ra những sai lầm không thể chối cãi của Chu Đôn Di, trong đó có cái "Vô cực" dở hơi của ông ta, mà cả thiên hạ từ hàng ngàn năm qua cứ coi như đúng rồi. Vấn đề ứng dụng cặp phạm trù Âm Dương hết sức phức tạp. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào hệ quy chiếu. Thí dụ: Một người Nam và Nữ cùng chạy bộ trên đường. Người nữ chạy trước 19 BÀI LIÊN QUAN - CHEN NGANG. Thiên hạ bàn về "Lý thuyết Thống Nhất". Hơ! Hic. Quý vị và các bạn tham khảo bài dưới đây có nguồn từ web của Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam VUSTA, Để thấy thiên hạ bàn về "Lý thuyết thống nhất" (Grand Unification Theory). Rất buồn cười. ==================== VÀI NÉT VỀ LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT TRONG VẬT LÝ HIỆN NAY. Đăng lúc: Thứ năm - 15/06/2006 15:29 - Người đăng bài viết: Administrator Năm 2005, toàn thế giới kỷ niệm 100 năm ngày ra đời một lý thuyết vật lý lớn nhất của nhân loại: lý thuyết tương đối Einstein. Bài viết này nhằm nêu lên ý nghĩa của lý thuyết tương đối và giới thiệu khái quát các vấn đề đang được nghiên cứu tiếp tục hiện nay: con đường xây dựng lý thuyết thống nhất. Vào năm 1905, tại thành phố Bern (Thụy Sĩ), Albert Einstein, người nhân viên bình thường mới 26 tuổi đời của phòng cấp phát bằng sáng chế đã công bố một công trình khoa học có ý nghĩa cách mạng đối với khoa học vật lý. Công trình ấy trình bày những nét sơ khởi của một lý thuyết mà sau này mang tên là thuyết tương đối, nói chính xác hơn là thuyết tương đối hẹp. Theo lý thuyết mới này thì không gian và thời gian có liên hệ chặt chẽ với nhau, không phải là hai khái niệm tách rời hoàn toàn độc lập như trong cơ học Newton. Lý thuyết tương đối, gồm thuyết tương đối hẹp và thuyết tương đối tổng quát, đã được coi là thành quả của không chỉ vật lý, mà của toàn bộ khoa học nói chung. Nó giải quyết được một vấn đề rất cơ bản và rất sâu sắc trong vật lý là mối quan hệ giữa không gian - thời gian và vận động - tương tác. Thế giới quanh ta muôn hình muôn vẻ nhưng thống nhất, sự vận động của nó được chi phối bởi các qui luật cơ bản. Khoa học vật lý đến cuối thế kỷ XIX đã có hai lý thuyết mô tả các hiện tượng vật lý cơ bản là cơ học Newton và lý thuyết điện từ Maxwell, hai lý thuyết này lập nên cơ sở của vật lý cổ điển. Nhược điểm của vật lý cổ điển là hai lý thuyết trên lại tách rời nhau, độc lập nhau, trong khi người ta vẫn tin rằng các quá trình vật lý phải được chi phối bới các qui luật thống nhất. Ước mơ xây dựng lý thuyết thống nhất của Einstein Lý thuyết tương đối Einstein là mở rộng của cơ học Newton khi có tính đến trường hấp dẫn (trong đó có tính đến hữu hạn của vận tốc truyền tương tác). Nếu như thế giới là thống nhất thì thuyết tương đối Einstein và thuyết điện từ Maxwell phải được hợp nhất làm một, tức là có một lý thuyết thống nhất. Tuy vậy Einstein đã không thành công trong việc hợp nhất này. Cho đến tận khi ông mất, năm 1955, lý thuyết hợp nhất hấp dẫn + điện từ vẫn chưa ra đời. Trong lúc này ngành vật lý hạt nhân xuất hiện và phát hiện ra hai loại tương tác mới: lực hạt nhân mạnh, có mặt trong tương tác giữa các nucleon, và lực hạt nhân yếu, chi phối các quá trình phân rã hạt nhân. Các tương tác này có tên gọi tắt là tương tác mạnh và tương tác yếu. Như vậy, một lý thuyết thống nhất thực sự lúc này phải hợp nhất được bốn loại tương tác: hấp dẫn + điện từ + mạnh + yếu. W. Heisenberg, nhà vật lý người Đức và là một trong những người sáng lập nên cơ học lượng tử, từ những năm 50 của thế kỷ XX cũng dồn sức cho việc nghiên cứu lý thuyết thống nhất. Khác với Einstein, lý thuyết Heisenberg là một lý thuyết phi tuyến, quan niệm rằng sự tương tác tạo nên khối lượng của hạt. Song lý thuyết này không tìm được chỗ cho tương tác yếu, càng không thể đưa vào đó tương tác hấp dẫn. Mô hình chuỗi siêu đối xứng Năm 1954, nhà vật lý người Mỹ gốc Trung Quốc Dương Chấn Ninh (Yang C.N.) cùng với học trò của mình là R. Mills đã phân tích tính bất biến hiệp chuẩn trong lý thuyết điện từ và mở rộng cho trường hợp không giao hoán, để thu được phép biến đổi hiệp chuẩn tổng quát. S. Weinberg (Mỹ), cùng với A. Salam (Pakistan) áp dụng phương pháp này và đã hợp nhất được tương tác điện từ và tương tác yếu, vào năm 1967. Không bao lâu sau đó đã hợp nhất vào đó cả tương tác mạnh, cũng theo phương pháp như đã kết hợp tương tác điện từ và tương tác yếu. Kết quả là mô hình chuẩn ra đời, có ký hiệu là SU(3) x SU(2) x U(1), ký hiệu này biểu thị tích trực tiếp của ba nhóm đối xứng liên quan đến các tương tác được hợp nhất. SU(3) là nhóm đối xứng của sắc động lực học, còn SU(2) x U(1) là nhóm đối xứng của tương tác hợp nhất điện từ - yếu. Mô hình chuẩn đã mô tả thành công gần như mọi hiện tượng thực nghiệm của ba loại tương tác đã nêu. Chỉ có tương tác hấp dẫn là đứng ngoài mô hình chuẩn. Theo phân tích sau này, để lượng tử hóa trường hấp dẫn đồng thời hợp nhất vào mô hình chuẩn cần phải dùng đến khái niệm siêu đối xứng, tức là sự đối xứng giữa hai nhóm hạt loại Fermi và loại Bose. Mô hình chuẩn có tính đến tính siêu đối xứng được gọi là mô hình chuẩn siêu đối xứng. Như vậy là trong gia đoạn hiện nay, vật lý có trong tay bốn loại tương tác sau đây, sắp xếp thứ tự theo cường độ tương tác: Theo lý thuyết tiến hóa của vũ trụ thì ngay sau thời điểm vụ nổ lớn, cả bốn loại tương tác nêu trên đều có cùng cường độ, thực chất là một loại tương tác, tức là chỉ có một lực duy nhất. Khi vũ trụ dãn nở, các loại hạt vật chất được hình thành, cũng là lúc lực tương tác duy nhất ấy được tách dần thành bốn. Đó cũng là lý do để trong lý thuyết hợp nhất chỉ có một loại lực tồn tại, và thể hiện ra thành bốn loại lực tùy thuộc vào loại hạt và vào năng lượng tương tác. Lý thuyết thống nhất theo mô hình chuẩn khi kết hợp với tính siêu đối xứng đã làm nhân đôi số hạt nêu trên, các hạt xuất hiện thêm này gọi là các hạt đồng hành. Mỗi hạt trong bảng đã nêu có kèm theo một hạt đồng hành với spin giảm đi ½ đơn vị. Mô hình chuẩn siêu đối xứng cho dù đã hợp nhất được cả bốn loại tương tác nhưng vẫn còn có nhiều thiếu sót, ngay cả nếu chỉ xét trên phương diện thuần tuý thẩm mỹ. Lý thuyết siêu dây Năm 1977, J. Schwarz ở trường đại học Stanford (Mỹ) và J. Sherk ở trường đại học sư phạm Paris (Pháp) bắt đầu nghiên cứu lý thuyết dây, xem các hạt cơ bản không phải là những hạt điểm mà là những sợi dây. Lý thuyết dây kết hợp với tính siêu đối xứng cho ta lý thuyết siêu dây. Như vậy là cả bốn loại tương tác có thể hợp nhất trong lý thuyết siêu dây. Điều đáng chú ý là nhiều kết quả của mô hình chuẩn đã phải mất rất nhiều năm để tính toán được thì bây giờ lại xuất hiện một cách đơn giản và tự nhiên trong lý thuyết dây. Song mặt khác, đến đây lại xuất hiện một khó khăn mới: nếu dùng không gian ba chiều (không kể thời gian) thì xác suất của một số trạng thái vật lý lại có giá trị âm, là điều không chấp nhận được. Mở rộng số chiều không gian Chúng ta đã quen thuộc với việc không gian thực tại có ba chiều, thường được biểu thị bằng hệ tọa độ Descartes (X, Y, Z). Để lý thuyết siêu dây là phù hợp với việc giải thích xác suất các trạng thái lượng tử, không gian phải có 9 chiều, tức là so với số chiều chúng ta cảm nhận được thì còn lại những 6 chiều nữa. Một câu hỏi đặt ra là trong thực tế tại sao không một thí nghiệm nào phát hiện được các chiều còn lại của không gian? Các nhà vật lý giải thích rằng 6 chiều dư ra ấy đã được “cuộn lại”. “Cuộn lại” là một khái niệm mới và trừu tượng, nhưng có thể hình dung như sau. Hãy tưởng tượng đến một ống trụ có bán kính R và có chiều dài vô hạn: đó là một mô hình về không gian hai chiều trong đó có một chiều là vô hạn còn một chiều bị cuộn lại với bán kính bằng R. Một chiếc vòng xuyến rỗng (và mỏng) là thí dụ về một không gian hai chiều mà cả hai chiều đều bị cuộn lại, với hai bán kính đặc trưng: bán kính r của tiết diện vòng xuyến và bán kính R của trục vòng xuyến. Theo lý thuyết siêu dây thì không gian vật lý của chúng ta có 3 chiều mở ra vô hạn còn 6 chiều bị cuộn lại, với bán kính cuộn cỡ bằng kích thước Planck. Vì bán kính này rất nhỏ nên không thể quan sát được phần không gian cuộn lại ở năng lượng có hiện nay. Người ta cho rằng vụ nổ lớn của vũ trụ đã có vai trò đánh bật được 3 chiều của không gian mở ra, còn lại 6 chiều vẫn chưa được mở. Nếu vào lúc xảy ra vụ nổ lớn, số chiều không gian được đánh bật ra không phải là ba thì chắc chắn là thế giới chúng ta sống khác hẳn và vào lúc này chưa ai tưởng tượng ra được thế giới ấy là thế nào! Không gian có một số chiều cuộn lại có tên là không gian Calabi - Yau, lấy tên hai nhà toán học người Mỹ đã mô tả cấu trúc chi tiết của các không gian này. Không gian Calabi - Yau mô tả hình học của vật lý có một tính chất đặc biệt gọi là tính đối ngẫu. Đối ngẫu là một khái niệm rất khái quát của vật lý, nói về tính tương đồng của hai quá trình vật lý khác nhau nhưng lại có thể liên hệ với nhau đến từng chi tiết, nói một cách chính xác là chúng đẳng cấu với nhau. Lý thuyết M E. Witten (Mỹ) được coi là một trong các nhà vật lý nghiên cứu lý thuyết dây xuất sắc nhất hiện nay. Ở Hội nghị Vật lý Quốc tế về lý thuyết dây tổ chức năm 1995 tại trường đại học Nam Caliphornia, Witten đã làm mọi người hết sức ngạc nhiên và thán phục khi chứng minh rằng năm lý thuyết siêu dây đang có thể nối với nhau thành một. Cơ sở để chứng minh chính là tính chất đối ngẫu nêu trên. Lý thuyết siêu dây thống nhất này được tạm gọi là lý thuyết M, trong khi chờ đợi một tên gọi chính thức. để có được sự hợp nhất này, số chiều cuộn lại không phải là 6 mà là 7, và không gian vật lý tính trên tổng thể có 10 chiều! Nói cụ thể hơn là ở đây các khái niệm dây và siêu dây được thay bằng các khái niệm màng và siêu màng. Chứng minh này thực sự là một cuộc cách mạng trong lý thuyết dây. Lúc này đại đa số các nhà vật lý lý thuyết đang hết sức lạc quan về lý thuyết M. Có người đã gọi nó là lý thuyết của mọi thứ (theory of everything), một số người khác thì khẳng định lý thuyết dây (hiểu theo nghĩa lý thuyết M) là lý thuyết vật lý của thế kỷ XXI, mà vì một nguyên nhân ngẫu nhiên đã được nghiên cứu sớm từ thế kỷ XX. Nói như vậy cũng là để nhấn mạnh rằng A. Einstein không thể xây dựng được lý thuyết thống nhất với những tiền đề đã có của vật lý cho đến giữa thế kỷ XX. Lý thuyết M đang cố gắng tìm cách hoàn thành việc hợp nhất các tương tác để xây dựng lý thuyết trường thống nhất của vật chất. Nếu lý thuyết này là đúng đắn thì nhiều vấn đề của vật lý, kể cả vật lý cổ điển cũng như vật lý lượng tử, phải được nhìn nhận lại, và chúng ta sẽ hiểu thế giới này một cách đúng đắn hơn, sâu sắc hơn. Kết luận Có thể lạc quan nói rằng bài toán xây dựng lý thuyết trường thống nhất, ước mơ mà Einstein để lại cho vật lý, đang có triển vọng được hoàn thành. Nếu như ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX vào lúc ra đời của lý thuyết tương đối chỉ có một vài nhà vật lý quan tâm theo dõi và hiểu được lý thuyết này, thì ngày nay, trong những năm cuối của thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, đội ngũ đông đảo các nhà vật lý trên thế giới đang sôi nổi tham gia vào nghiên cứu lý thuyết thống nhất cũng như hàng triệu người tìm đọc và chờ đợi thông tin về các thành quả nghiên cứu. Theo dự đoán của S. Hawking, nhà vật lý người Anh và cũng là một trong những người đi tiên phong trong nghiên cứu lý thuyết thống nhất, thì giai đoạn hoàn thành này mất chừng khoảng 25 đến 40 năm, tính từ năm 2000, và cũng có thể sẽ ngắn hơn. Giới vật lý chờ đợi sự kiện lớn lao này. Nguồn: Thông tin khoa học và công nghệ, số 1-2006 Tác giả bài viết: Lương Duyên Phu. ==================== PS: Thày bói xem voi thời @.