• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Mạnh Đại Quân

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    983
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    52

Mạnh Đại Quân last won the day on Tháng 1 20

Mạnh Đại Quân had the most liked content!

Danh tiếng Cộng đồng

607 Excellent

6 Người theo dõi

About Mạnh Đại Quân

  • Rank
    Quản trị Diễn Đàn
  • Birthday 24/12/1974

Contact Methods

  • Website URL
    http://vn.myblog.yahoo.com/hoangtrieuhai

Xem hồ sơ gần đây

6.094 lượt xem hồ sơ
  1. TỔNG QUAN NĂM TÂN SỬU 2021 Kính thưa Quí Vị, Hàng năm cứ mỗi dịp đầu Xuân, Tôi đều có những bài dự báo tổng quan cho năm mới dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và nền tảng nguyên lý “Hậu Thiên Lạc Việt phối HÀ ĐỒ”. Phương pháp dự báo sử dụng của Tôi bao gồm Huyền Không Phi Tinh thuận-nghịch cùng phối hợp quẻ Lạc Việt Độn Toán và đây cũng sẽ luôn là phương pháp xuyên suốt cho tất cả các dự báo của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương mà khởi sướng là nhà Nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh – chủ tịch Hội đồng khoa học của Trung tâm . Quẻ Chủ : ĐỖ - LƯU NIÊN (ngày mùng 1 tháng Giêng năm TÂN SỬU) Quẻ Độn: Cảnh - TỐC HỶ Huyền không lạc việt phi tinh: LỤC BẠCH nhập trung cung. Thiên Can Tân- Kim và Địa chi Sửu –Thổ tương sinh Lạc thư hoa giáp : Vận khí Bích Thượng Thổ Dựa trên sơ đồ phân cung của Địa Lý Lạc Việt phối hợp Lượng thiên Xích trên nền tảng Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài 9 – Ly 7 , chúng ta sẽ xem xét các tổ hợp Cát Hung như sau: Tôi xin đưa ra dự báo ngắn gọn nhất như sau: 1. Kinh tế - Năm 2021 Tân Sửu là một năm kinh tế phục hồi chậm và rất khó khăn. Đây là một năm vô cùng khó khăn cho nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt nam nói riêng. - Những căng thẳng trong chiến tranh thương mại tiếp tục gây sức ép và ảnh hưởng tới kinh tế của chúng ta và tất nhiên chúng ta cũng tiếp tục chịu những tác động không nhỏ lên sự phục hồi kinh tế hậu COVID. - Bất động sẽ phải đối đầu với sự đổ vỡ ngay từ đầu năm 2021, tuy không lớn nhưng cũng làm các ngân hàng đối mặt với những khoản nợ xấu. - - Các loại giao dịch điện tử phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên đồng tiền ảo và chưng khoán sẽ lại có những diễn biến đi xuống. 2. Xã hội : - Năm 2021 sẽ được dự báo là có những vụ scandal về văn hóa, giáo dục. Sẽ là một năm khó khăn nữa đối với nghành giáo dục - Y tế sẽ phải đối diện với một loạt các dịch bệnh phát sinh từ COVID, các bệnh virus truyền nhiễm. Vắc xin codic cũng chỉ có thể có từ quí 4 năm 2021. - Việc chống tham nhũng năm 2021 sẽ ít hơn và nhẹ nhàng hơn so với 2020 khi chúng ta đón nhận rất nhiều lãnh đạo mới với những chính sách mới. - Nghành giải trí việt nam được một năm đón nhận nhiều niềm vui và có nhiều sự kiện mới được đón nhận nồng nhiệt 3. Nông nghiệp: - Nghành chăn nuôi Gà, Vịt , Chim (gia cầm) năm nay sẽ phải đối mặt với dịch bệnh như Cúm Gà có nguồn gốc từ Hàn Quốc hay Nhật bản, sẽ là một đại dịch giống như Lợn năm 2019 với dịch tả châu Phi. - Trâu bò cũng cần đề phòng dịch bệnh kéo dài. - Ngành nuôi trồng thủy sản năm nay cũng lại phải đề phòng , đặc biệt là Cá , tôm. Sẽ gặp khó khăn bởi thời tiết lũ lụt, dịch bệnh. 4. Thiên tai : - Đây sẽ là một năm thời tiết khó lường, lụt và hạn hán đều xảy ra không theo qui luật và khó dự báo. - Dịch cúm diễn biến phức tạp 5. Nhân họa , tai nạn: - Là thiên tai như lũ lụt bất thường, mưa bão khả năng sẽ nhiều hơn. - Hỏa hoạn, cháy nổ cũng sẽ nhiều hơn. Trên đây là các cái nhìn tổng quan cho năm Tân Sửu 2021 của Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải). Tết đến Xuân sang, xin kính chúc quí vị một năm mới An Khang-Thịnh Vượng và thật nhiều Sức khỏe-Hạnh Phúc. Hà nội tháng 1 năm 2021 Việt lịch Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  2. NGÀY GIỜ TỐT 2021 Năm 2021 – TÂN SỬU Vận khí Bích Thượng Thổ Trung tâm hàng năm duy trì và phát huy những nghiên cứu của mình, chúng tôi đã phải tốn rất nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, chọn lọc theo đúng các tiêu trí "tốt" để thông tin đến cho Quí vị sử dụng. Chúng tôi mong quí vị quan tâm, động viên, chia sẻ với công sức của các nhà nghiên cứu bằng hình thức ủng hộ vào quĩ của Trung tâm (Số tiền là thì tùy tâm Quí vị) Mọi đóng góp xin chuyển vào: TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG số Tài Khoản: 0021000411012 Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Hà Nội PHƯƠNG PHÁP: Phương pháp chọn ngày tốt xấu được lưu truyền từ hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc Việt nam là rất đa dạng. Chúng tôi sử dụng phương pháp loại trừ, tức là dùng tất cả các phương pháp chọn ngày giờ theo phong tục cổ truyền để chọn ra một ngày được coi là tốt nhất sau khi loại ra những ngày xấu dựa trên các phương pháp này. Các phương pháp Cổ bao gồm các phương pháp: ü Sinh khắc của Can Chi ü Nhị thập bát tú ü 12 Chỉ Trực ü Hoàng Đạo – Hắc Đạo ü Sát chủ, Thọ tử, Dương Công Kị Nhật, Tam nương, Nguyệt kị, Vãng vong, Thiên Tai-Địa Họa Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Canh Tý 2020 và chào đón năm mới Tân Sửu 2021. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 ngàn năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được gìn giữ . Phong tục truyền thống bao gồm ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, đón Lành tránh Dữ. Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) đề xuất về các ngày được coi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Toàn bộ ngày giờ dùng trong năm Tân Sửu vận khí Bích Thượng Thổ theo Lạc Thư Hoa Giáp. Tất Niên: Đây là một nghi thức tổng kết và ghi nhận những thành quả sau 365 ngày lao động sản xuất của Gia Đình và Dòng Tộc. Thông thường sẽ diễn ra vào các ngày 29 và 30 tháng Chạp với một nghi lễ Cúng Thần Linh và Gia Tiên. a. Ngày 21* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 9-11h; 13-15h; 17-19h. b. Ngày 26* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 15-17h. c. Ngày 28* tháng Chạp (12): giờ tốt 11-13h: 15-17h; Ngày Xuất hành, Mở hàng: Ngày xuất hành là ngày đi xa để làm việc hay thực hiện việc quan trong chứ không phải là đêm 30 tết hay sáng mùng 1. Tuy nhiên theo phong tục thì ngày mùng 1 tết là ngày xuất hành để chúc tết và tới Chùa cầu An, nên sẽ có khung giờ tốt . v Ngày mùng 1* tết năm nay là ngày Hoàng Đạo nên chúng ta có thể ra khỏi nhà để đi xông đất hoặc Lễ Chùa từ khung giờ 23-01h; 7h-9h; Ngày Tốt Khai Trương ,Mở hàng: Ø Mùng 1*: giờ tốt : 5h-7h; 15h-17h Ø Ngày 8*: giờ tốt : 7-9h; 11-13h; 17-19h Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Nam Tuổi xông đất: Tục xông đất đầu năm là một nét đặc trưng của dân tộc Việt nam được lưu giữ qua hàng ngàn năm. Đây là tập tục không thể thiếu trong ngày đầu năm mới bởi đây là người đầu tiên bước vào nhà trong năm mới. Người xông đất được coi là người đại diện cho một năm mang tới cho chủ nhà sự may mắn và an lành cho một năm. Người được chọn phải là người không có tang, mạnh khỏe, tính tình cởi mở và vui vẻ. Năm 2021 thì người xông đất nên mặc áo màu vàng, đại diện cho màu của vận khí năm 2021 và những tuổi sau là những tuổi phù hợp nhất để xông đất : Các tuổi hợp vận khí của năm là : Ất Dậu (2005), Ất Mão (1975), Mậu Dần(1998), Mậu Thân(1968), Quí Dậu (1993), Quí Mão (1963) , Quí Hợi (1983) Hướng Tốt Để Động Thổ: Phương vị động thổ cho năm 2021 là tại hướng Nam từ: 160-190 độ hoặc hướng Tây từ : 250-290 độ. (Chỉ cần động thổ tại 1 trong hai hướng). Nếu động thổ tại hướng Nam thì cuốc 7 cuốc và nếu tại hướng Tây sẽ là 4 cuốc. Người được chọn động thổ phải là người không phạm kim lâu, hoang ốc, tam tai và là người bề trên có cùng huyết thống với chủ nhà –trong trường hợp mượn tuổi. Không được mượn tuổi người ngoài bởi đây là phương pháp sai. NGÀY GIỜ TỐT NĂM TÂN SỬU 2021 Là những ngày Tốt dùng để Động thổ, khai trương, xuất hành, cưới hỏi và những việc quan trọng. Tuy nhiên danh mục dưới đây là những ngày dùng chung trong mọi việc nên có những ngày không nằm trong danh mục dưới đây vẫn có những ngày tốt khác dụng cho những công việc cụ thể. Do vậy, quí vị nên tham khảo thêm với chúng tôi cho những công việc và mục đích cụ thể. Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau với những ngày có đánh dấu (*) là ngày Hoàng Đạo 1.Tháng Giêng: d. Mùng 1*: giờ tốt : 5h-7h; 15h-17h e. Ngày 8*: giờ tốt : 7-9h; 11-13h; 17-19h f. Ngày 9: giờ tốt 5-7h; 17-19h g. Ngày 11*: giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h h. Ngày 19 giờ tốt : 5-7h; 15-17h; 17-19h i. Ngày 20* giờ tốt : 11-13h; 15-17h; 17-19h j. Ngày 25* giờ tốt : 5-7h; 17-19h k. Ngày 26 giờ tốt 15-17h; 19-21h 2. Tháng Hai : a. Mùng 1 tháng Hai: giờ tốt: 3-5h ; 15-17h; 19-21h b. Mùng 2* tháng Hai: giờ tốt: 13-15h; 17-19h c. Mùng 9* tháng Hai: giờ tốt : 7-9h; 15-17h; 19-21h d. Ngày 15 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 19-21h e. Ngày 19 tháng Hai: giờ tốt. 7-9h; 15-17h f. Ngày 21 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 11-13h; g. Ngày 26 tháng Hai: giờ tốt 13-15h; 17-19h 3. Tháng Ba : a. Mùng 1* tháng Ba: giờ tốt 15-17h; 17-19h; 21-23h b. Mùng 4 tháng Ba: giờ tốt 7-9h c. Ngày 10* tháng Ba: giờ tốt 7-9h; 9-11h, 19-21h d. Ngày 11 tháng Ba: giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h e. Ngày 15* tháng Ba: giờ tốt: 5-7h, 9-11h, 17-19h f. Ngày 16* tháng Ba: giờ tốt 7-9h g. Ngày 20* tháng Ba: giờ tốt 7-9h; 11-13h h. Ngày 26 tháng Ba: giờ tốt 11-13h i. Ngày 28* tháng Ba: giờ tốt 7-9h 4. Tháng Tư: a. Mùng 6* tháng Tư : giờ tốt 5-7h; 17-19h; 21-23h b. Mùng 10 tháng Tư : giờ tốt tốt 9-11h; 13-15h c. Ngày 12* tháng Tư : giờ tốt: 5-7h; 9-11; 13-15h; 19-21h d. Ngày 24* tháng Tư : giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h; 21-23h e. Ngày 25 tháng Tư : giờ tốt 11-13h; 15-17h; 19-21h 5. Tháng Năm : a. Mùng 1* tháng Năm : giờ tốt 9-11h, 13-15h b. Mùng 2 tháng Năm : giờ tốt 7-9h c. Ngày 6 tháng Năm : giờ tốt 11-13h; 15-17h; 19-21h d. Ngày 10 tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 11-13h, 17-19h, e. Ngày 11 tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 9-11h, 13-15h, 17-19h f. Ngày 16 tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 21-23h g. Ngày 25*tháng Năm: giờ tốt 5-7h; 9-11h; 13-15h h. Ngày 26tháng Năm: giờ tốt 7-9h i. Ngày 29*tháng Năm: giờ tốt 5-7h; 9-11h; 13-15h 6. Tháng Sáu: a. Mùng 2* tháng Sáu: giờ tốt 7-9h; 13-15h b. Mùng 8* tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h c. Mùng 11* tháng Sáu : giờ tốt 3-5h; 13-15h; 19-21h d. Ngày 15 tháng Sáu: giờ tốt 11-13h; 15-17h e. Ngày 17* tháng Sáu: giờ tốt 7-9h; 13-15h. f. Ngày 20* tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 15-17h g. Ngày 25 tháng Sáu: giờ tốt 7-9h; 15-17h h. Ngày 26* tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 13-15h; 19-21h 7. Tháng Bảy : a. Mùng 4 tháng Bảy : giờ tốt 13-15h, 15-17h b. Ngày 9 tháng Bảy: giờ tốt 9-11h; 13-15h; 21-23h c. Ngày 11* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 9-11h, 17-19h. d. Ngày 16 tháng Bảy: giờ tốt 7-9h; 11-13h, 13-15h . e. Ngày 17* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 11-13h; 21-23h f. Ngày 20 tháng Bảy: giờ tốt 9-11h; 13-15h ; 17-19h g. Ngày 29 tháng Bảy: giờ tốt 9-11h; 13-15h ; 17-19h 8. Tháng Tám : a. Mùng 1 tháng Tám : giờ tốt 3-5h; 7-9h; 11-13h; 17-19h. b. Mùng 6 tháng Tám : giờ tốt 7-9h; 13-15; 17-19h. c. Ngày 9* tháng Tám: giờ tốt 3-5h; 7-9h; 13-15; 19-21h. d. Ngày 12 tháng Tám: giờ tốt 5-7h;7-9h; 13-15;17-19h . e. Ngày 25* tháng Tám: giờ tốt 3-5h; 7-9h; 11-13h; 19-21h. f. Ngày 29 tháng Tám: giờ tốt 13-15; 19-21h. 9. Tháng Chín : a. Mùng 1 tháng Chín : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 17-19h; 21-23h b. Mùng 6* tháng Chín : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 11-13h; 17-19h. c. Mùng 10* tháng Chín : giờ tốt 3-5h; 9-11h; 19-21h. d. Ngày 12 tháng Chín: giờ tốt 3-5h11-13h; 17-19h. e. Ngày 16* tháng Chín: giờ tốt 3-5h; 9-11h; 11-13h; 19-21h f. Ngày 19* tháng Chín: giờ tốt 13-15h; 17-19h . 10. Tháng Mười : a. Mùng 1* tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 7-9h; 13-15h; 17-19h b. Mùng 2 tháng Mười : giờ tốt tốt 5-7h; 11-13h;17-19h; 21-23h. c. Mùng 8 tháng Mười: giờ tốt 5-7h; 7-9h; 13-15h; 17-19h. d. Ngày 9* tháng Mười : giờ tốt 3-5h; 9-11h, 15-17h, 19-21h. e. Ngày 19* tháng Mười : giờ tốt 15-17h. f. Ngày 20 tháng Mười : giờ tốt 9-11h, 13-15h, 17-19h.. g. Ngày 21* tháng Mười : giờ tốt 15-17h. h. Ngày 26* tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 11-13h;17-19h. 11. Tháng Một (11): a. Mùng 4* tháng Một (11): giờ tốt 5-7h; 7-9h; 15-17h . b. Mùng 11* tháng Một (11): giờ tốt 9-11h, 13-15h. c. Mùng 16* tháng Một (11): giờ tốt 15-17h; 19-21h . d. Ngày 19 tháng Một (11): giờ tốt 13-15h. e. Ngày 28* tháng Một (11): giờ tốt 5-7h; 7-9h; 15-17h. 12. Tháng Chạp (12): a. Mùng 8* tháng Chạp (12): giờ tốt 13-15h. b. Ngày 11* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 13-15h. c. Ngày 17* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 15-17h, 19-21h. d. Ngày 20 tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h ; 13-15h; 21-23h. e. Ngày 26* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h, 9-11h ; 13-15h; 17-19h.. CHÚC MỪNG NĂM MỚI, CHÚC QUÍ VỊ MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG Hà nội tháng 12 năm Canh Tý Việt Lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  3. ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT MÁI NHÀ – YẾU TỐ TRONG HÌNH TƯỚNG HỌC Địa lý phong thủy là bộ môn ứng dụng từ học thuyết Âm Dương Ngũ hành và toàn bộ hệ thống lý thuyết về hình tướng học của Địa lý Phong thủy đã bị thất truyền và chỉ được lưu lại rất ít trong các sách vở tư liệu. Có một số coi hình tướng học Dương trạch (Nhà ở) thuộc về hình khí nhưng tài liệu về hình khí lại ít đề cập tới vấn đề hình tướng nhà. Xưa kia thì Hình tướng nhà ít được coi trọng bởi nhà cổ truyền như của Ông Cha chúng ta xây dựng là nhà ba gian, năm gian hay ba gian hai trái. Còn trong cuộc sống hiện đại thì ngôi nhà ngày nay ko chỉ có một tầng và hình thể ngôi nhà được các kiến trúc sư vẽ theo rất nhiều các phong cách và tất nhiên đa phần đều không tuân thủ theo nguyên tắc Âm Dương Ngũ hành. Trong hình tướng nhà thì hình thể bao gồm hình thể đất, hình thể nhà , mái và cột nhà. Sau đó là cửa ra vào và cửa sổ sẽ tạo ra hình thức bên ngoài của ngôi nhà. Vì thế, hình thể nào tạo ra khí chất đó nên từ đó chúng ta cũng nhận biết được cuộc sống bên trong ngôi nhà đó, cũng giống như bộ môn xem tướng người vậy Ông Cha ta có câu “Con không cha như nhà không Nóc”, hay “Dột từ nóc dột xuống”, dùng hình tượng mái nhà để mô tả về ngôi nhà và gia chủ. Mái nhà thuộc Dương, nguyên tắc phải sinh Âm mới là thuận lý nên nhà thuộc Thổ (hình thể vuông, chữ nhật) thì mái sẽ là tượng hình Hỏa (tương sinh với Thổ). Do đó mái tam giác có đỉnh vuông hay tù đều là tượng Hỏa, màu đỏ hoặc vàng cũng là màu tương sinh với hành Thổ . Hoặc giả như mái bằng thì tượng Thổ - tương đương thân nhà nên cũng là một ngôi nhà có mái tốt. Mái nhà cần che phủ đủ thân nhà, kín đáo, tỷ lệ hài hòa với cột(không to quá, không bé quá), tuân theo tỷ lệ vàng hay một tỷ lệ cân đối theo kiến trúc tức là một mái nhà hoàn hảo. Nếu mái bị cắt khoét tức là hình tượng “dột từ nóc”, hay quá to hoặc nhỏ so với thân nhà , cột cũng tạo ra sự mất cân bằng Âm và Dương. Trong kiến trúc hiện đại lại càng xuất hiện nhiều mẫu mái khoét lỗ, ba hoặc nhiều hơn các mái nhỏ trên mái nhà chính. Như thế có phải là người cha, người chồng trong gia đình hỏng, nát, thủng hay không ? Một thân nhà hai mái là hình tượng của hai đời chồng , hoặc một mái hai thân nhà cũng là tượng hai đời vợ. Nhiều mái nhà là hình tượng hỏa thiêu thiên môn, hay một phòng trên một mái khác lại là phạm cách Bốc tinh phòng. Mỗi hình tượng mái nhà tạo ra sẽ tạo ra nội khí Âm của ngôi nhà và từ đó sẽ biết được ảnh hưởng của Âm khí lên ngôi nhà đó. Chúng ta ai cũng đều biết “Góc ao Đao Đình “ là những thứ cần tránh đối diện với cửa. Thế nhưng kiểu mái Thái (mái huynh đệ) lại đang rất thịnh hành trong xây dựng hiên nay. Mái này có một cạnh chém ngang vào mái chính, cũng giống như Đao đình vào cửa nhà vậy , sẽ tạo ra sát khí như lưỡi đao chém vào mái nhà chính. Trong ĐLPT Lạc Việt thì mái nhà, hình tướng nhà cũng mới chỉ là một yếu tố cấu thành nên Phong thủy chuẩn của một ngôi nhà. Mỗi hướng, mỗi tuổi gia chủ tạo ra vận khí của một ngôi nhà và tốt hay xấu cũng đều theo vận số của ngôi nhà đó. Do vậy, cho dù một yếu tố sai trong khi các yếu tố khác đúng cũng sẽ là điểm trừ chứ ko phải là yếu tố quyết định. Một ngôi nhà xấu hay tốt cũng sẽ không xuất hiện ngay mà nó sẽ tích tụ theo năm tháng , cái mà chúng ta gọi là vận số ngôi nhà như đề cập ở trên. Vậy nên một ngôi nhà dù sai, có thể sau 9-12-14 năm nó mới phát tác nhưng một khi đã phát tác cái xấu thì không có cách gì chữa được. Địa lý Phong thủy không thể dùng quan lộc , tiền tài để làm thước đo bởi cuộc sống bên trong ngôi nhà đó không chỉ có Tiền và vì thế lá số tử vi mới có 12 cung. Có hàng trăm tỉ, nhưng sức khỏe và hạnh phúc không có thì phỏng có ích chi ? giàu có nhưng không biết phụng dưỡng báo hiếu Cha Mẹ, không lo tôn tạo công đức Tổ tiên thì giàu có ích gì ? Địa lý phong thủy là thực tế mô tả mọi trạng thái của con người khi xây dựng ngôi nhà bởi nó chính là hình ảnh phản chiếu số mệnh của chủ nhà tại giai đoạn đó và toàn bộ thời gian sống bên trong ngôi nhà đó. Chúng ta tạo ra ngôi nhà nhưng chính ngôi nhà lại nhào nặn nên số phận của con người sống bên trong nó, cho nên dù mái nhà mới là một yếu tố nhỏ trong yếu tố hình thể nhưng nó lại là một yếu tốt rất quan trọng. Tiếc răng, chúng ta thường bỏ qua việc tìm hiểu về mái nhà sao cho đúng thì lại đánh giá đúng sai dựa trên sự giàu có hay một vẻ đẹp mang tính xu hướng tức thời.
  4. TỔNG QUAN NĂM CANH TÝ 2020 Kính thưa Quí Vị, Hàng năm cứ mỗi dịp đầu Xuân, Tôi đều có những bài dự báo tổng quan cho năm mới dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và nền tảng nguyên lý “Hậu Thiên Lạc Việt phối HÀ ĐỒ”. Phương pháp dự báo sử dụng của Tôi bao gồm Huyền Không Phi Tinh thuận-nghịch cùng phối hợp quẻ Lạc Việt Độn Toán và đây cũng sẽ luôn là phương pháp xuyên suốt cho tất cả các dự báo của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương mà khởi sướng là nhà Nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh – chủ tịch Hội đồng khoa học của Trung tâm . Quẻ Chủ : ĐỖ - ĐẠI AN (ngày mùng 1 tháng Giêng năm CANH TÝ) Quẻ Độn: Cảnh - ĐẠI AN Huyền không lạc việt phi tinh: Thất Xích nhập trung cung. Thiên Can Canh- Kim và Địa chi Tý –Thủy tương sinh Lạc thư hoa giáp : Vận khí Bích Thượng Thổ Dựa trên sơ đồ phân cung của Địa Lý Lạc Việt phối hợp Lượng thiên Xích trên nền tảng Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài 9 – Ly 7 , chúng ta sẽ xem xét các tổ hợp Cát Hung như sau: - Phá Quân Thất xích 7 nhập trung: là thoái khí (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Hỏa. Vận khí Thổ cực thịnh tương sinh với Thất Xích Hỏa nhập trung nên trung cung vẫn được sự cát lợi của sao này - Tả Phù Bát bạch 8 đáo cung Càn: là Lệnh tinh (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Mộc lại ở Càn cung thuộc Kim nên cung này tuy có được cát khí nhưng cũng bị suy giảm. - Sao Hữu Bật Cửu Tử - 9 theo Huyền Không phi tinh là tiến Khí chính Thần – ngũ hành thuộc Kim (khác với HKPT truyền thống thì ngũ hành của Cửu tử 9 thuộc Hỏa) – sao này đáo cung Ly chính là đem lại sự hưng vượng cho phương Nam. Tuy nhiên do Tam sát và tương khắc tại phương Nam nên cát khí của sao này cũng bị suy giảm. - Liêm trinh Nhất bạch 1 đáo cung Cấn: là sao tiến khí trong vận 8, ngũ hành Thủy đáo cung Cấn thuộc Mộc tương Sinh nên đây là tổ hợp chiêu cát cho phương Đông Bắc. - Cự môn Nhị hắc 2 đáo cung Đoài: Là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc âm hỏa đới thổ đáo cung Đoài thuộc Kim. Đây là cách cục chiêu hung của Nhị hắc tại phương Tây. - Lộc tồn Tam Bích 3 đáo cung Khảm: là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc dương mộc đáo cung Khảm thuộc Thủy tương sinh nên đây là tổ hợp chiêu hung tại phương Bắc - Văn khúc Tứ lục 4 đáo cung Khôn: Là sao tử khí trong vận 8 ngũ hành Kim đáo cung Khôn ngũ hành Âm hỏa Đới thổ nên đây là tổ hợp chiêu Hung của phương Đông Nam. - Ngũ hoàng 5 đáo cung Chấn-Đông đây là chủ của Hung sự trong năm tại phương Đông. - Vũ Khúc Lục bạch 6 đáo cung Tốn –Tây Nam: là sao suy khí trong vận 8 lại được tương sinh từ Cung Tốn ngũ hành Kim nên nên đây là tổ hợp chiêu hung ở Tây Nam. Tôi xin đưa ra dự báo ngắn gọn nhất như sau: 1. Kinh tế - Năm Canh Tý sẽ là một năm Kinh tế bắt đầu đi vào hồi phục nhưng khó khăn ở đầu nămg và chỉ ổn định từ sau quí 3 của năm 2020. - Trong năm 2020 thì chúng ta sẽ tiếp tục phải chịu ảnh hưởng của những xung đột giữa các nền kinh tế lớn như Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc. Tuy nhiên căng thẳng đối với nền kinh tế của chúng ta sẽ giảm dần từ giữa năm 2020. - Bất động sản khởi sắc và sẽ là một năm tốt đẹp cho cả ngân hàng cũng như các nhà đầu tư BDS. 2. Xã hội : - Năm 2020 sẽ được dự báo là có những trào lưu mới xuất hiện , và mạng xã hội sẽ lại là một năm bùng nổ. - Y tế sẽ phải đối diện với một loạt các dịch bệnh như cúm, bệnh virus truyền nhiễm và ô nhiễm. - Nghành giáo dục với những cải cách chưa thực sự đúng đắn sẽ lại tạo ra những phản ứng trái chiều. - Một loạt các sự việc nghiêm trọng như tham nhũng và quan chức cao cấp sẽ lại được đưa ra ánh sáng. - Năm 2020 Chúng ta sẽ lại được đón tiếp những tin vui từ Thể thao, văn hóa. 3. Nông nghiệp: Nghành chăn nuôi đặc biệt như Lợn lại tiếp tục gặp vấn đề cho hậu quả từ năm 2019 và khả năng phục hồi phải tới cuối năm 2020. Các loại cá , tôm và thủy sản năm nay cần đề phòng dịch bệnh hoặc xuất khẩu sẽ kém. Hoa quả xuất khẩu đặc biệt là qua biên giới sẽ lại gặp trở ngại nên cần có sự điều chỉnh phù hợp để chúng ta không phải chứng kiến cảnh hoa quả thối bị vứt dọc biên giới. 4. Thiên tai : Cháy rừng, hỏa tai sẽ là hiện tượng trong năm 2020. Động đất lớn sẽ quay trở lại và các nước có Sóng thần như Nhật bản, Indonesia hết sức cẩn trọng. 5. Nhân họa , tai nạn: Hỏa hoạn sẽ là thứ chúng ta cần đề phòng trong năm 2020, đặc biệt là nhà ống cần hết sức lưu ý phòng trống hỏa hoạn. Các vụ tai nạn giao thông trên các quốc lộ lớn đặc biệt là trục Đông Tây sẽ gây ra nhiều hơn và đặc biệt thảm khốc. Dịch bệnh sẽ bùng phát từ mùa Xuân, các bệnh mang virus phát tán rộng rãi gây chết người hàng loạt. Chúng ta cần đề phòng và từng cá nhân phải cẩn trọng với những bệnh tưởng chừng như đơn giản. Trên đây là các cái nhìn tổng quan cho năm Canh Tý 2020 của Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải). Tết đến Xuân sang, xin kính chúc quí vị một năm mới An Khang-Thịnh Vượng và thật nhiều Sức khỏe-Hạnh Phúc. Hà nội tháng 11 năm Kỷ Hợi Việt lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  5. TỔNG QUAN NĂM CANH TÝ 2020 Kính thưa Quí Vị, Hàng năm cứ mỗi dịp đầu Xuân, Tôi đều có những bài dự báo tổng quan cho năm mới dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và nền tảng nguyên lý “Hậu Thiên Lạc Việt phối HÀ ĐỒ”. Phương pháp dự báo sử dụng của Tôi bao gồm Huyền Không Phi Tinh thuận-nghịch cùng phối hợp quẻ Lạc Việt Độn Toán và đây cũng sẽ luôn là phương pháp xuyên suốt cho tất cả các dự báo của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương mà khởi sướng là nhà Nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh – chủ tịch Hội đồng khoa học của Trung tâm . Quẻ Chủ : ĐỖ - ĐẠI AN (ngày mùng 1 tháng Giêng năm CANH TÝ) Quẻ Độn: Cảnh - ĐẠI AN Huyền không lạc việt phi tinh: Thất Xích nhập trung cung. Thiên Can Canh- Kim và Địa chi Tý –Thủy tương sinh Lạc thư hoa giáp : Vận khí Bích Thượng Thổ Dựa trên sơ đồ phân cung của Địa Lý Lạc Việt phối hợp Lượng thiên Xích trên nền tảng Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài 9 – Ly 7 , chúng ta sẽ xem xét các tổ hợp Cát Hung như sau: - Phá Quân Thất xích 7 nhập trung: là thoái khí (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Hỏa. Vận khí Thổ cực thịnh tương sinh với Thất Xích Hỏa nhập trung nên trung cung vẫn được sự cát lợi của sao này - Tả Phù Bát bạch 8 đáo cung Càn: là Lệnh tinh (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Mộc lại ở Càn cung thuộc Kim nên cung này tuy có được cát khí nhưng cũng bị suy giảm. - Sao Hữu Bật Cửu Tử - 9 theo Huyền Không phi tinh là tiến Khí chính Thần – ngũ hành thuộc Kim (khác với HKPT truyền thống thì ngũ hành của Cửu tử 9 thuộc Hỏa) – sao này đáo cung Ly chính là đem lại sự hưng vượng cho phương Nam. Tuy nhiên do Tam sát và tương khắc tại phương Nam nên cát khí của sao này cũng bị suy giảm. - Liêm trinh Nhất bạch 1 đáo cung Cấn: là sao tiến khí trong vận 8, ngũ hành Thủy đáo cung Cấn thuộc Mộc tương Sinh nên đây là tổ hợp chiêu cát cho phương Đông Bắc. - Cự môn Nhị hắc 2 đáo cung Đoài: Là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc âm hỏa đới thổ đáo cung Đoài thuộc Kim. Đây là cách cục chiêu hung của Nhị hắc tại phương Tây. - Lộc tồn Tam Bích 3 đáo cung Khảm: là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc dương mộc đáo cung Khảm thuộc Thủy tương sinh nên đây là tổ hợp chiêu hung tại phương Bắc - Văn khúc Tứ lục 4 đáo cung Khôn: Là sao tử khí trong vận 8 ngũ hành Kim đáo cung Khôn ngũ hành Âm hỏa Đới thổ nên đây là tổ hợp chiêu Hung của phương Đông Nam. - Ngũ hoàng 5 đáo cung Chấn-Đông đây là chủ của Hung sự trong năm tại phương Đông. - Vũ Khúc Lục bạch 6 đáo cung Tốn –Tây Nam: là sao suy khí trong vận 8 lại được tương sinh từ Cung Tốn ngũ hành Kim nên nên đây là tổ hợp chiêu hung ở Tây Nam. Tôi xin đưa ra dự báo ngắn gọn nhất như sau: 1. Kinh tế - Năm Canh Tý sẽ là một năm Kinh tế bắt đầu đi vào hồi phục nhưng khó khăn ở đầu nămg và chỉ ổn định từ sau quí 3 của năm 2020. - Trong năm 2020 thì chúng ta sẽ tiếp tục phải chịu ảnh hưởng của những xung đột giữa các nền kinh tế lớn như Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc. Tuy nhiên căng thẳng đối với nền kinh tế của chúng ta sẽ giảm dần từ giữa năm 2020. - Bất động sản khởi sắc và sẽ là một năm tốt đẹp cho cả ngân hàng cũng như các nhà đầu tư BDS. 2. Xã hội : - Năm 2020 sẽ được dự báo là có những trào lưu mới xuất hiện , và mạng xã hội sẽ lại là một năm bùng nổ. - Y tế sẽ phải đối diện với một loạt các dịch bệnh như cúm, bệnh virus truyền nhiễm và ô nhiễm. - Nghành giáo dục với những cải cách chưa thực sự đúng đắn sẽ lại tạo ra những phản ứng trái chiều. - Một loạt các sự việc nghiêm trọng như tham nhũng và quan chức cao cấp sẽ lại được đưa ra ánh sáng. - Năm 2020 Chúng ta sẽ lại được đón tiếp những tin vui từ Thể thao, văn hóa. 3. Nông nghiệp: Nghành chăn nuôi đặc biệt như Lợn lại tiếp tục gặp vấn đề cho hậu quả từ năm 2019 và khả năng phục hồi phải tới cuối năm 2020. Các loại cá , tôm và thủy sản năm nay cần đề phòng dịch bệnh hoặc xuất khẩu sẽ kém. Hoa quả xuất khẩu đặc biệt là qua biên giới sẽ lại gặp trở ngại nên cần có sự điều chỉnh phù hợp để chúng ta không phải chứng kiến cảnh hoa quả thối bị vứt dọc biên giới. 4. Thiên tai : Cháy rừng, hỏa tai sẽ là hiện tượng trong năm 2020. Động đất lớn sẽ quay trở lại và các nước có Sóng thần như Nhật bản, Indonesia hết sức cẩn trọng. 5. Nhân họa , tai nạn: Hỏa hoạn sẽ là thứ chúng ta cần đề phòng trong năm 2020, đặc biệt là nhà ống cần hết sức lưu ý phòng trống hỏa hoạn. Các vụ tai nạn giao thông trên các quốc lộ lớn đặc biệt là trục Đông Tây sẽ gây ra nhiều hơn và đặc biệt thảm khốc. Dịch bệnh sẽ bùng phát từ mùa Xuân, các bệnh mang virus phát tán rộng rãi gây chết người hàng loạt. Chúng ta cần đề phòng và từng cá nhân phải cẩn trọng với những bệnh tưởng chừng như đơn giản. Trên đây là các cái nhìn tổng quan cho năm Canh Tý 2020 của Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải). Tết đến Xuân sang, xin kính chúc quí vị một năm mới An Khang-Thịnh Vượng và thật nhiều Sức khỏe-Hạnh Phúc. Hà nội tháng 1 năm 2020 Việt lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  6. NGÀY GIỜ TỐT 2020 Năm CANH TÝ Vận khí Bích Thượng Thổ PHƯƠNG PHÁP: Phương pháp chọn ngày tốt xấu được lưu truyền từ hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc Việt nam là rất đa dạng. Chúng tôi sử dụng phương pháp loại trừ, tức là dùng tất cả các phương pháp chọn ngày giờ theo phong tục cổ truyền để chọn ra một ngày được coi là tốt nhất sau khi loại ra những ngày xấu dựa trên các phương pháp này. Các phương pháp Cổ bao gồm các phương pháp: - Sinh khắc của Can Chi - Nhị thập bát tú - 12 Chỉ Trực - Hoàng Đạo – Hắc Đạo - Sát chủ, Thọ tử, Dương Công Kị Nhật, Tam nương, Nguyệt kị, Vãng vong, Thiên Tai-Địa Họa Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Kỷ Hợi 2019 và chào đón năm mới Canh Tý 2020. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 ngàn năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được gìn giữ . Phong tục truyền thống bao gồm ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, đón Lành tránh Dữ. Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) đề xuất về các ngày được coi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Toàn bộ ngày giờ dùng trong năm Canh Tý vận khí Bích Thượng Thổ theo Lạc Thư Hoa Giáp. Tất Niên: Đây là một nghi thức tổng kết và ghi nhận những thành quả sau 365 ngày lao động sản xuất của Gia Đình và Dòng Tộc. Thông thường sẽ diễn ra vào các ngày 29 và 30 tháng Chạp với một nghi lễ Cúng Thần Linh và Gia Tiên. - Ngày 24* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h. - Ngày 26* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 17-19h; 21-23h. - Ngày 30* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 17-19h; 21-23h. Ngày Xuất hành, Mở hàng: Ngày xuất hành là ngày đi xa để làm việc hay thực hiện việc quan trong chứ không phải là đêm 30 tết hay sáng mùng 1. Tuy nhiên theo phong tục thì ngày mùng 1 tết là ngày xuất hành để chúc tết và tới Chùa cầu An, nên sẽ có khung giờ tốt . * Ngày mùng 1* tết năm nay là ngày Hoàng Đạo nên chúng ta có thể ra khỏi nhà để đi xông đất hoặc Lễ Chùa từ khung giờ 23-01h; 7h-9h; Ngày Tốt Khai Trương ,Mở hàng: - Mùng 6* tháng Giêng: 5h-7h; 17-19h - Mùng 9* tháng Giêng: 7h-9h; 11-13h. Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Tây Bắc Tuổi xông đất: Tục xông đất đầu năm là một nét đặc trưng của dân tộc Việt nam được lưu giữ qua hàng ngàn năm. Đây là tập tục không thể thiếu trong ngày đầu năm mới bởi đây là người đầu tiên bước vào nhà trong năm mới. Người xông đất được coi là người đại diện cho một năm mang tới cho chủ nhà sự may mắn và an lành cho một năm. Người được chọn phải là người không có tang, mạnh khỏe, tính tình cởi mở và vui vẻ. Năm 2020 thì người xông đất nên mặc áo màu vàng, đại diện cho màu của vận khí năm 2020 và những tuổi sau là những tuổi phù hợp nhất để xông đất : Mậu Dần(1998), Ất Sửu (1985); Mậu Thìn(1988), Tân Hợi (1971), Mậu Thân(1968). Riêng năm Ắt Sửu tuy tốt nhưng đang hạn tam tai, cho nên cần cân nhắc sử dụng Hướng Tốt Để Động Thổ: Phương vị động thổ cho năm 2020 là tại hướng Tây Bắc: 292.5 độ- 337.5 độ. Đây là phương vị tốt nhất trong năm Canh Tý, tại phương này chỉ cần cuốc 01 cuốc sâu xuống là xong. Lưu ý người động thổ không được cuốc thêm bất kì phương vị nào khác. Người được chọn động thổ phải là người không phạm kim lâu, hoang ốc, tam tai và là người bề trên có cùng huyết thống với chủ nhà –trong trường hợp mượn tuổi. Không được mượn tuổi người ngoài bởi đây là phương pháp sai. Các Phương xấu 2020 cần tránh: Năm 2020 các Phương xấu bao gồm: Thái Tuế đóng ở sơn Tý – Quí thuộc hướng Bắc, Xung Thái Tuế tại các sơn Ngọ-Đinh thuộc hướng Nam, Tuế phá ở sơn Mão - Ất thuộc hướng Đông, Tam sát bao gồm các sơn Tị – Ngọ –Mùi, Đại sát ở sơn Tý thuộc phương Bắc và Nhị hắc và Ngũ Hoàng tại lần lượt tại hướng Tây, và hướng Đông. Trung tâm hàng năm duy trì và phát huy những nghiên cứu của mình, chúng tôi đã phải tốn rất nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, chọn lọc theo đúng các tiêu trí "tốt" để thông tin đến cho Quí vị sử dụng. Chúng tôi mong quí vị quan tâm, động viên, chia sẻ với công sức của các nhà nghiên cứu bằng hình thức ủng hộ vào quĩ của Trung tâm (Số tiền là thì tùy tâm Quí vị) Mọi đóng góp xin chuyển vào: TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG số Tài Khoản: 0021000411012 Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Hà Nội NGÀY GIỜ TỐT NĂM CANH TÝ 2020 Là những ngày Tốt dùng để Động thổ, khai trương, xuất hành, cưới hỏi và những việc quan trọng. Tuy nhiên danh mục dưới đây là những ngày dùng chung trong mọi việc nên có những ngày không nằm trong danh mục dưới đây vẫn có những ngày tốt khác dụng cho những công việc cụ thể. Do vậy, quí vị nên tham khảo thêm với chúng tôi cho những công việc và mục đích cụ thể. Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau với những ngày có đánh dấu (*) là ngày Hoàng Đạo 1. Tháng Giêng: a. Mùng 1* tháng Giêng: giờ tốt 23-01h;7-9h; 11-13h; 15-17h. b. Ngày 6* tháng Giêng: giờ tốt 15-17h; 17-19h. c. Ngày 9* tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 15-17h; d. Ngày 19 tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 11-13h; 19-21h 2. Tháng Hai : a. Mùng 1 tháng Hai: giờ tốt: 13-15h ;19-21h b. Mùng 2 tháng Hai: giờ tốt : 11-13h; 17-19h; c. Mùng 9* tháng Hai: giờ tốt 15-17h; 17-19h; 21h-23h d. Ngày 12* tháng Hai: giờ tốt 3-5h; 7-9h; 15-17h. e. Ngày 15 tháng Hai: giờ tốt 3-5h; 7-9h; 15-17h. f. Ngày 16 tháng Hai: giờ tốt. 7-9h; 15-17h g. Ngày 21 tháng Hai: giờ tốt 5-7h; 15-17h; 17-19h; 21h-23h h. Ngày 24* tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 15-17h i. Ngày 26 tháng Hai: giờ tốt 11-13h; 17-19h;21h-23h j. Ngày 28 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 13-15h; 19-21h 3. Tháng Ba : a. Mùng 4 tháng Ba: giờ tốt; 5-7h ;17-19h; 21-23h b. Ngày 8 tháng Ba: giờ tốt; 13-15h c. Ngày 10 tháng Ba: giờ tốt; 5-7h ;9-11h; 17-19h d. Ngày 16*tháng Ba: giờ tốt: 5-7h; 9-11h; 13-15h e. Ngày 25* tháng Ba: giờ tốt 7-9h; 17-19h f. Ngày 28* tháng Ba: giờ tốt: 5-7h; 13-15h;17-19h 4. Tháng Tư: a. Mùng 10* tháng Tư : giờ tốt; 15-17h;19-21h b. Ngày 11 tháng Tư : giờ tốt: 5-7h; 17-19h c. Ngày 24* tháng Tư : giờ tốt 3-5h;17-19h. d. Ngày 30* tháng Tư :15-17h; 19-21h 5. Tháng Tư (Nhuận): a. Mùng 6* tháng Tư : giờ tốt; 7-9h; 15-17h b. Ngày 12* tháng Tư : giờ tốt: 9-11h; 15-17h;19-21h c. Ngày 15 tháng Tư : giờ tốt 5-7h;13-15h. d. Ngày 19* tháng Tư :15-17h; 17-19h e. Ngày 24* tháng Tư : giờ tốt 3-5h;17-19h;19-21h f. Ngày 25* tháng Tư :giờ tốt : 9-11h; 15-17h; 21-23h 6. Tháng Năm : a. Mùng 1 tháng Năm : giờ tốt; 7-9h;15-17h; 19-21h b. Mùng 4 tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 9-11h. c. Ngày 8 tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 15-17h. d. Ngày 17 tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 15-17h; 19-21h e. Ngày 20* tháng Năm : giờ tốt 9-11h; 13-15h. f. Ngày 29*tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 13-15h. 7. Tháng Sáu: a. Mùng 2* tháng Sáu: giờ tốt; 9-11h; 15-17h;19-21h. b. Mùng 8* tháng Sáu: giờ tốt 7-9h; 13-15h; 15-17h; 19-21h. c. Mùng 11* tháng Sáu : giờ tốt 9-11h; 13-15h;17-19h. d. Ngày 15* tháng Sáu: giờ tốt 17-19h e. Ngày 17* tháng Sáu: giờ tốt 13-15h; 17-19h; 19-21h. f. Ngày 24* tháng Sáu: giờ tốt 7-9h; 13-15h; 15-17h; 19-21h. 8. Tháng Bảy : a. Mùng 10 tháng Bảy : giờ tốt 13-15h; 19-21h. b. Ngày 11* tháng Bảy: giờ tốt 7-9h; 11-13h ;15-17h. c. Ngày 17* tháng Bảy: giờ tốt 11-13h; 15-17h; 19-21h. d. Ngày 19* tháng Bảy: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h. e. Ngày 24 tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h; 21-23h f. Ngày 26* tháng Bảy: giờ tốt 7-9h;9-11h; 13-15h; 17-19h. 9. Tháng Tám : a. Mùng 1 tháng Tám : giờ tốt 5-7h; 11-13h; 19-21h. b. Ngày 9 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h. c. Ngày 12 tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. d. Ngày 19 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h; 19-21 e. Ngày 25* tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 13-15h; 17-19h. f. Ngày 28* tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 19-21h 10. Tháng Chín : a. Mùng 1* tháng Chín : giờ tốt 7-9h. b. Mùng 4* tháng Chín : giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h; 21-23h. c. Mùng 10* tháng Chín : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 13-15h. d. Ngày 16* tháng Chín: giờ tốt 11-13h; 17-19h. e. Ngày 19* tháng Chín: giờ tốt 7-9h; 17-19h; 19-21h f. Ngày 29 tháng Chín: giờ tốt 3-5h;7-9h;19-21h. 11. Tháng Mười : a. Mùng 4* tháng Mười : giờ tốt 3-5h; 13-15h; 15-17h; 19-21h. b. Mùng 9* tháng Mười : giờ tốt 5-7; 9-11h; 21-23h. c. Mùng 15 tháng Mười: giờ tốt 9-11h: 13-15; 17-19h. d. Ngày 16 tháng Mười : giờ tốt 15-17h. e. Ngày 21* tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 17-19h; 21-23h. f. Ngày 25 tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 9-11h. g. Ngày 29 tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h; 21-23h. 12. Tháng Một (11): a. Mùng 1* tháng Một (11): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 19-21h. b. Mùng 10* tháng Một (11): giờ tốt 5-7h; 9-11h. c. Mùng 17* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. d. Ngày 26* tháng Một (11): giờ tốt 5-7h;9-11h; 21-23h. e. Ngày 29* tháng Một (11): giờ tốt 9-11h; 11-13h; 15-17h;19-21h. 13. Tháng Chạp (12): a. Mùng 6* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 15-17h. b. Ngày 9* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 17-19h. c. Ngày 12* tháng Chạp (12): giờ tốt 11-13h: 15-17h; 19-21h. d. Ngày 15* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 13-15h. e. Ngày 21* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 9-11h; 13-15h; 17-19h. f. Ngày 26* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 15-17h; 19-21h. g. Ngày 28* tháng Chạp (12): giờ tốt 11-13h: 15-17h; 19-21h. CHÚC MỪNG NĂM MỚI, CHÚC QUÍ VỊ MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG Hà nội tháng 12 năm KỶ HỢI Việt Lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  7. PHẦN 4: NGŨ HÀNH Trục chính của Tử Cấm Thành chạy dọc theo trục Thần Đạo từ Bắc xuống nam chia toàn bộ Cố cung thành hai phần Đông và Tây.Đi vào từ Ngọ môn, sẽ thấy một con sông (Kim Thủy) được bắc qua bởi năm cây cầu, dẫn đến Thái Hòa môn, đằng sau là một quảng trường lớn. Phía cuối quảng trường là bậc thang làm bằng đá cẩm thạch trắng, dẫn vào Tam Đại điện (三大殿) là Thái Hòa điện (太和殿), Trung Hòa điện (中和殿) và Bảo Hòa điện (保和殿).[4]. Thái Hòa điện ban đầu có tên là Phụng Thiên điện (奉天殿) là điện lớn nhất, cao 30 m so với quảng trường xung quanh, là nơi diễn ra các nghi thức và lễ tế quan trọng. Trung Hòa Điện ban đầu có tên là Hoa Cái điện (华盖殿) nhỏ hơn, là nơi Hoàng đế chuẩn bị và nghỉ ngơi trong các buổi lễ. Phía sau là Bảo Hòa điện ban đầu có tên là Cẩn Thân điện (谨身殿), để tập dượt chuẩn bị cho các nghi lễ, và cũng là nơi tổ chức vòng thi cuối cùng của kỳ thi khoa cử. Cả ba điện đều có ngai vàng, và cái lớn nhất được đặt ở Thái Hòa điện.Đông và Tây của khu vực Tiền triều là Võ Anh điện (武英殿) (H) và Văn Hoa điện (文華殿) (J). Theo các phân tích của người Trung quốc thì do Vua ưu tiên quan Văn hơn quan Võ nên đặt hệ thống các quan Võ bên Phải và quan Văn bên Trái. Tuy nhiên, theo qui ước Âm Dương của người Việt thì Sở dĩ Văn được xếp bên Đông thuộc Dương và Võ được xếp bên Tây thuộc Âm bởi đây là phân loại Âm Dương : Tư tưởng, ý thức, suy nghĩ và định hướng, chính sách có trước hành động nên thuộc Dương. Võ bị là hành động, là thực hiện có sau ý thức nên thuộc Âm. đó là tới Hậu Cung là nơi ở của Hoàng đế và Hoàng thất.Hậu cung được phân cách với Tiền triều bởi một sân thuôn dài,. Ở triều Thanh, Hoàng đế ở và làm việc chủ yếu ở Hậu cung, còn Tiền triều chỉ được sử dụng cho các lễ nghi quan trọng. Tổ hợp ba cung Thái Trung Bảo ở chính giữa Tử Cấm Thành tạo ra quẻ Càn ở chính tâm, sau Ở trung tâm của Hậu cung là ba cung lớn (Hậu tam cung 后三宫): Càn Thanh cung (乾清宮), Giao Thái điện (交泰殿) và Khôn Ninh cung (坤宁宫). Hoàng đế, biểu thị cho Dương và Trời, ở Càn Thanh cung. Hoàng hậu, biểu thị cho Âm và Đất, ở Khôn Ninh cung. Giao Thái điện ở giữa hai cung, tượng trưng cho sự giao hòa Âm - Dương. Về lý thuyết thì đây là cách bố trí rất hợp do “tổ Rồng” là Giao thái điện, là nơi Vua và Hoàng Hậu gặp nhau nhằm sinh ra Hoàng Tử nối ngôi. Phía trước là Càn cung và sau là Khôn cung. Nếu chúng ta đứng từ cổng Chính nhìn vào, chúng ta sẽ có quẻ BĨ (Thiên Địa Bĩ) và nếu chúng ta đứng từ phía trong hậu cung nhìn ra sẽ có quẻ THÁI (Địa Thiên Thái). Có lẽ đây là lời “xui dại” của ông KTS trưởng Nguyễn An bởi tính logic hợp lý về bố cục tức là Càn ở trước nhưng xét theo Dịch phong thủy thì cách cục hợp phải là Địa Thiên Thái tức là Khôn trước rồi tới Càn theo trục nạp Khí. Chính vì bố cục này là BĨ ở hậu cung nên Hoàng Hậu rất khó sinh Hoàng Tử, các Triều đại Vua tại đây đều loạn ở Hậu cung, đấu đá tranh giành và thường sinh biến do đảo chính cướp ngôi. Lịch sử đã chứng minh cuộc sống vô cùng khắc nghiệt trong hậu cung của 24 đời Vua trị vì tại đây. Vua cũng thường ít sủng ái Hoàng Hậu và thường nối ngôi từ nghành thứ, tức là các Con của Phi tần hay cung nữ. Thậm trí, Từ Hi từ một cung nữ ở đây trở thành Hoàng Đế của Trung Hoa với sự ăn chơi và tàn bạo khét tiếng trong lịch sử Trung Quốc Đây là cách cục khi đánh giá từ ngoài thì bên trong vô cùng yên bình và thịnh trị, nhưng bên trong thì rất lục đục, bế tắc cho dù tới thời Ung Chính thì Hoàng hậu có thể chọn các cung trong 12 cung ở Đông và Tây cung của cung Càn Thanh gọi là Đông lục và Tây lục. Trích một đoạn bài viết giới thiệu Phong thủy Tử Cấm Thành +++ NGŨ HÀNH Thuyết ngũ hành là một trong những học thuyết quan trọng của Trung Quốc thời cổ đại, gồm kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Khắp Tử Cấm Thành, du khách có thể tìm thấy những chi tiết đặc trưng của các hành này. “Thổ” xuất hiện ở điện trước và sau (được xây trên hai nền lớn tạo thành chữ thổ trong tiếng Trung). Ngoài ra, màu tượng trưng cho đất là màu vàng - màu cao quý nhất. Do đó, mái của các công trình ở khu điện trước và sau trong Tử Cấm Thành được lợp ngói vàng - thể hiện tầm quan trọng của chúng, đồng thời đánh dấu đây là trung tâm của cả nước. Yếu tố “hỏa” nằm ở phía Nam, với cổng Ngọ Môn có hình năm con phượng hoàng. Cột trên năm cây cầu đá ngoài cổng được tạc họa tiết lửa. Phía bắc là “thủy” kết hợp với truyền thuyết về Huyền Vũ (rùa đen). Cổng Huyền Vũ (sau này được đổi thành Thần Vũ) tượng trưng cho vị thần nước, nắm giữ sự sống và cái chết, cùng khả năng xua tà ma. Do đó, các phòng phía Đông và phía Tây của điện Tần An đều có ngói màu đen. “Kim” là yếu tố ở phía Tây. Theo phong thủy, kim sinh hỏa, nên dòng sông chảy quanh cung điện bắt đầu từ phía Bắc (chính vì thế mà có tên sông Kim Thủy). Cuối cùng, “mộc” nằm ở phía Đông, thể hiện sự sinh trưởng và thay đổi của vạn vật. Phía đông rất giàu năng lượng, nơi lý tưởng để làm chỗ ở cho các hoàng tử. Màu của hành mộc là xanh lục, do đó các khu nhà ở của hoàng tử đều lợp ngói xanh - thể hiện mong mỏi các hoàng tử luôn mạnh khỏe và có tiềm năng không giới hạn. +++ Xét về mặt hình khí của các công trình bên trong Tử Cấm Thành, mái nhà là gạch lưu li màu vàng kết hợp với màu đỏ của gỗ và phần xây dựng. Theo nguyên tắc ngũ hành của người Việt thì mái tượng hỏa màu đỏ thuộc Dương bên trên và nhà hình thổ màu vàng thuộc Âm bên dưới. Mái thuộc Dương tương Sinh cho Thổ thuộc âm bên dưới. Tuy nhiên theo cách xây dựng của Tử Cấm Thành thì Mái hình hỏa tượng Thổ và nhà hình Thổ tượng Hỏa cho dù là tương Sinh nhưng là Âm sinh Dương , đi nghịch qui luật. Hơn nữa, việc mái Vàng hình hỏa lại làm cho Hỏa càng thêm vượng. Trên các mái nhà đều có hình tượng rồng,giống như Si vẫn của ngừoi Việt nhưng hoàn toàn không phải là Si vẫn chống cháy. Rồng trên mái các công trình Tử Cấm Thành Si vẫn trên mái của các công trình cổ của người Việt Chính vì lẽ đó, trong lịch sử của Tử Cấm Thành có rất nhiều vụ cháy lớn xảy ra như Diên Hi cung nằm gần Thương Chấn Môn - cửa ra vào Tử Cấm Thành dành cho cung nữ, thái giám và hạ nhân nên khá ồn ào và phức tạp. Nơi này từng nhiều lần xảy ra hỏa hoạn: năm Đạo Quang thứ 12 (1832), cháy lớn ở phòng bếp phía nam đông điện, năm Đạo Quang thứ 25 (1845), Diên Hi cung xảy ra 1 trận đại hỏa hoạn, thiêu hủy toàn bộ chính điện, hậu điện cùng với đông tây phối điện, tổng cộng 25 gian, cháy gần đến cửa cung. Sau khi trùng tu, đến năm Hàm Phong thứ 5 lại xảy ra hỏa hoạn. Năm Đồng Trị thứ 11 (1872), từng có đề nghị phục kiến Diên Hi cung nhưng chưa thực hiện được. Cho dù Tử Cấm Thành là hiện thân của công trình khoác lên mình tấm áo Phong thủy của người Trung Hoa, nhưng về bản chất cốt lõi thì hoàn toàn mang đậm dấu ấn của người Việt và sự tài tình của Ông Nguyễn An thiết kế đưa những yếu tố mang tính chất mầm gây họa vào công trình này. Sẽ có Người nói rằng, nếu Phong thủy xấu thế sao Tử Cấm Thành lại còn nguyên vẹn trong khi Kinh đô Huế có Phong thủy tốt hơn theo bài viết này, lại bị phá hủy và Hoàng Thành Thăng Long thì hoàn toàn biến mất. Và sao, nếu theo quan điểm của Tôi là Địa lý Phong thủy người Việt giỏi hơn hay nói kiểu khác đi tức là chủ nhân đích thực của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Địa lý phong thủy là của người Việt chứ không phải người Trung Quốc mà họ lại giỏi và phát triển hơn chúng ta ? Xin trả lời thế này, việc Lãnh đạo và người Dân Trung Hoa đều rất tin và tự hào vì họ ứng dụng các công trình theo Phong thủy. Họ tự hào vì lịch sử dân tộc của họ và đó chính là nền tảng để trở thành một quốc gia phát triển, cũng như Singapore không hề dấu mà công khai các công trình xây dựng theo Phong thủy. Địa lý phong thủy không thể thay đổi định tính, tức là vận mệnh của một dân tộc quốc gia. Vậy nên các công trình cho dù tốt về Phong thủy cũng không thể thay đổi định mệnh của một triều đại hay một quốc gia. Nhưng ĐLPT lại giúp thay đổi định lượng tức là sự phát triển nhiều hay ít, suy tàn nhanh hay chậm. Vì thế, xin đừng nhầm lẫn tác động của Địa lý phong thủy lên định mệnh của một Triều đại hay một Quốc gia. Địa lý phong thủy của Người Việt cổ hoàn toàn khác biệt bởi nguồn gốc của nền Lý Học Đông Phương này xuất phát từ nền Văn minh Lạc Việt. Ngày nay, có rất nhiều các nhà nghiên cứu Việt nam đã từng sống ,học tập và nghiên cứu tại Trung Quốc cũng đã chỉ ra tính bất hợp lý trong vùng địa lý, phong tục tập quán của người Trung Quốc phía bắc sông Dương tử. Nơi đây họ trông lúa mì, uống sữa và không trồng lúa nước thì không thể là chủ nhân của nền Văn minh Lúa nước của người Lạc Việt. Tuy thế, họ vẫn tự hào với nền lịch sử lâu đời mà thời gian thì ít hơn cả của ngừoi Bách Việt ở Nam sông Dương Tử mà chúng ta gọi là nền Văn minh Lạc Việt. Xin nhớ rằng, chủ nhân của nền Lý học không có nghĩa là sáng tạo ra nó mà là sự hiểu biết và gìn giữ nó từ những nền Văn minh cổ xưa có từ trước đó trao lại. Chúng ta cần nhìn lại một cách khách quan rằng nền Lý học Đông phương huyền vĩ nói chung và Địa lý phong thủy nói riêng không phải có nguồn gốc từ Trung Hoa, mà đó là di sản của nền Văn minh Lạc Việt 5000 năm lịch sử. Hãy tự hào, gìn giữ và phát huy những gì mà Tổ tiên chúng ta, tổ tiên của dòng dõi LẠC VIỆT bởi đó chính là nền tảng cho một Việt Nam thịnh vượng trong tương lai ! TẾT KỶ HỢI 2019 MẠNH ĐẠI QUÂN (Tức Hoàng Triệu Hải)
  8. Phần 3: THỦY PHÁP THỦY PHÁP: Thủy pháp Trường Sinh là phương pháp là cải tạo và tạo ra các dòng sông chảy quanh Kinh thành, Hồ và kênh thoát cùng với sông nhân tạo sẽ được định vị tại các vị trí Trường Sinh, Đế Vượng và thoát ra tại Tử, Mộ , Tuyệt. Thủy pháp cổ này được lưu truyền tới ngày nay và công trình còn giữ nguyên vẹn bố cục này chính là Kinh Đô Huế do Vua Gia Long xây dựng. Thủy pháp này của người Việt khác hoàn toàn với người Trung Hoa và theo cách của người Trung hoa thì hoàn toàn không thể lý giải được do các vị trí Trường Sinh, Đế Vượng và Suy, Tử đều không chính xác tại các vị trí thực địa. Bây giờ chúng ta xem xét bố cục Thủy pháp của Tử Cấm Thành, và so sánh với thủy pháp của Kinh thành Thăng Long dựa trên bản vẽ từ thời Hồng Đức. Tôi không so sánh với Kinh đô Huế bởi sẽ có người nói rằng, Tử Cấm Thành có trước Kinh đô Huế nên chúng ta sao chép từ người Trung Hoa. Tôi sử dụng phần mềm tính trường sinh theo lý thuyết của cổ thư Hán, tức là phương pháp của người Trung Hoa tính Trường sinh Toàn bộ bản vẽ Kinh thành Bắc Kinh, Thủy chảy từ các phương Bệnh , Tử sau đó tới Hồ lập tại Đế Vượng và cũng thoát đi ở Trường Sinh Với cách này, hướng chính của Tử Cấm Thành có sông Kim Thủy là sông nhân tạo chạy quanh để thực hiện Thủy pháp Trường Sinh. Thủy nhập từ bệnh, lập hướng chính đặt vào Mộc Dục và thoát ra ở Trường Sinh. Theo chia sẻ của Hưng Nguyễn thì Trung Hoa lập Đế vượng ở Sơn nên thủy pháp sẽ trọng lấy SƠN để rồi từ đó dựa vào Thủy khứ để lập cục và hướng. Vậy nên chúng ta sẽ tiếp tục phân tích theo phương pháp này. Do Tử cấm Thành không có Sơn nên đồi Cảnh Sơn là Sơn được tạo ra từ việc tạo sông Kim Thủy và Tử Cấm Thành lấy Long mạch chạy vào từ Càn. Thủy lai tức là nơi sông Kim thủy chảy vào từ sơn Hợi , Thủy khứ tức là nơi thoát đi tại Thìn –Khôn- Tị (Thìn Tốn Tị theo Phong thủy cổ thư). Với cách Cục này Tử Cấm Thành lấy Sơn làm Đế Vượng theo Thủy pháp trường sinh, Trường sinh tại Thân trong khi Thủy lai thực tế chảy từ Hợi tức là vị trí Lâm quan, lập hướng chính Ngọ là vị trí Thai. Vấn đề ở đây chính là sông Kim Thủy được tạo ra theo mục đích chính là Thủy pháp, tức là hoàn toàn có thể định hướng và vị trí ra vào cũng như dòng chảy theo ý đồ của Địa lý phong thủy Sư. Cho nên, sông Kim thủy được tạo ra cùng lúc xây Tử Cấm Thành chứ nó không tồn tại trước khi xây tức là vị trí Thủy lai không có trước mà do thiết kế. Sau đây là phương pháp Trường sinh an theo Địa Lý Lạc Việt Theo phương pháp này thì Thủy chảy tới Bắc Kinh từ phương Thai, lập hướng Đế Vượng và thoát ra tại Quan đới. Tử Cấm Thành lập hướng chính Ngọ, Hỏa Cục. Dòng sông Kim thủy chảy tới từ Tuyệt, Đế vượng tại chính hướng và thoát ra tại Lâm quan. Với Thủy pháp này của Tử cấm Thành thì Thủy pháp của Kinh đô Huế có phần minh chứng rõ ràng tính hơn khi đổi chỗ Tốn-Khôn theo Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt của Địa lý Lạc Việt: mọi vị trí nước vào tại Trường Sinh, lập hướng Đế Vượng và thoát đi tại Tử Mộ Tuyệt cực kỳ chính xác. Thủy pháp của thành Thăng Long thật tiếc là ko còn nguyên vẹn để phân tích. Tuy nhiên, dựa vào bản đồ cũng như những gì còn sót lại, chúng ta vẫn có thể tìm thấy được vị trí Thủy lai, Thủy khứ là hoàn toàn trùng hợp với thủy pháp của Kinh đô Huế Xin nhấn mạnh là thành Thăng Long có trước Tử Cấm Thành đến hơn 400 năm Nếu tính theo phương pháp của cổ thư như hình dưới đây, nó rất giống với cách phân tích theo Thủy pháp của Tử Cấm Thành theo Phong thủy cổ thư Hán
  9. PHẦN 2: ĐỊA LÝ PHONG THỦY Bắc kinh nhìn từ trên máy bay là một màu nâu và ghi xám với các cột ống khói khổng lồ và không giống như các thành phố công nhiệp như Thẩm Quyến hay Thượng Hải, Hồng Kong. Cô hướng dẫn viên cho chúng tôi ở Bắc kinh là người Quảng tây, nói tiếng Việt khá chuẩn. Cô ấy cho biết đa phần những người nói được tiếng Việt với phát âm và giọng giống người Việt thì chỉ có người ở vùng Quảng Tây và Quảng Châu, còn người phía Bắc thì không nói được như vậy. Ở Quảng Châu thì buổi sáng người ta hay chào hỏi bằng câu “Đã ăn Trà chưa ?” và họ có thể ngồi với nhau từ sáng tới trưa để” buôn dưa lê” nhưng người ở phía Bắc (bắc sông Trường giang) thường ăn bánh bao uống sữa đậu đi làm và chào nhau rất đơn giản “Chào buổi sáng”. Cô HDV kể chúng tôi nghe về Từ Hi thái Hâu, về lịch sử , về phong thủy và Người Trung quốc nói, muốn tìm hiểu 500 năm lịch sử thì tới Bắc kinh, 1000 năm lịch sử thì tới Tây An. Ăn ở Quảng Châu, Mặc ở Hàng Châu, lấy vợ Tô Châu và chết ở Liễu Châu. Qua một số thông tin như vậy, tôi đã thấy rằng nét tương đồng và dấu ấn của nền văn hóa Lạc Việt ở Nam sông Dương Tử ở vùng lưỡng Quảng. Người Hán ở phía Bắc không trồng lúa thì sao lại là chủ nhân của nền văn minh lúa nước, của lịch nông nghiệp cho được ??? Trên các con đường thành phố Bắc Kinh, có rất nhiều cây Liễu và trong công viên Bắc Hải thì toàn là Liễu cổ thụ. Cảnh trí thật nên thơ với những dãy phố cổ, những ngôi nhà cổ sơn màu xám và nâu sẫm. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của Địa Lý Lạc Việt thì nó quá Vượng Âm cho nên cuộc sống ở đây rất áp lực và như một cái vòng luẩn quẩn. Đúng là nó sẽ rất phát triển về kinh tế, nhưng người dân và chính phủ luôn xảy ra những mâu thuẫn bất đồng âm thầm bên trong. Muốn vào Tử Cấm Thành, chúng tôi phải đi qua kiểm tra an ninh hết sức chặt chẽ sau đó đi qua Thiên An Môn nơi diễn ra sự kiện đẫm máu năm 1989 giữa chính phủ Trung Quốc và giới Sinh Viên. Cô hướng dẫn viên nói rằng Người Bắc Kinh gọi Tử Cấm Thành là Long mạch Dương, là nơi tiếp Dương khí cho toàn bộ Bắc Kinh. Cô nói rằng người Trung Quốc rất tự hào vì công trình này của họ là biểu tượng của Phong thủy của người Trung Quốc, là Âm Dương và Ngũ hành. Xin trích một đoạn trong bài viết về Phong thủy Tử Cấm Thành của người trung quốc: +++ Trích: ÂM VÀ DƯƠNG. Người Trung Quốc cổ đại tin rằng khởi đầu thế giới chỉ có hai yếu tố âm và dương. Trời là dươngp, đất là âm. Mặt trời là dương và mặt trăng là âm. Hoàng đế Vĩnh Lạc lệnh cho các thầy phong thủy tạo ra thiết kế ba lớp: lớp ngoài tạo thành vòng tròn có 4 đàn tế, lớp giữa là tường thành, và trong cùng là cung điện. Nhìn vào bản đồ Bắc Kinh thời cổ đại, ta có thể thấy phía ngoài tường thành là đền thờ Trời, Đất, Mặt trăng và Mặt trời, tạo thành không gian hình tròn. Tử Cấm Thành nằm ở trung tâm Bắc Kinh thời xưa, với hình thế núi phía sau (núi Vạn Niên) và sông chảy phía trước (sông Kim Thủy). Sông Kim Thủy là một kênh đào. Núi Vạn Niên cũng là sản phẩm nhân tạo, được làm từ đất đào sông, gạch đá từ cung điện nhà Nguyên cũ. Núi Vạn Niên được xây ở phía bắc cung điện mới, với vai trò ngăn chặn tà ma xâm nhập Hết trích +++ Thế nhưng ngay sau Thần Vũ Môn phía bắc (B trong hình) và đồi Cảnh Sơn có một con đường cắt ngang có tên là Cảnh Sơn trước, mà như vậy thì cái gọi Long mạch đã bị cắt phá bởi con đường chạy ngang này bất chấp Long mạch hay Khí mạch được tiếp từ Núi Vạn niên hay bất kỳ một ngọn núi nào. Tử Cấm Thành có hình chữ nhật, chiều bắc - nam dài 961 m và đông - tây dài 753 m. Nó gồm 980 kiến trúc nhà ở với 8,886 phòng, được bao bọc bởi tường cao 7.9 m và dày 6 m, với hào sâu 52 m. Bốn góc là 4 tòa tháp (E) với kiểu mái phức tạp, tượng trưng cho Đằng Vương các (滕王阁) và Hoàng Hạc lâu (黄鹤楼). Mỗi mặt tường có một cổng: Ngọ môn (午门) (A); Thần Vũ môn (神武门)(B); Đông Hoa môn (东华门)(D) và Tây Hoa môn (西华门)(C). Tử Cấm thành được chia làm hai phần: Ngoại đình (外廷) (còn gọi là Tiền triều 前朝) phía Nam dành cho các lễ nghi, và Nội đình (内廷) (tức Hậu cung 后宫) phía Bắc là nơi ở của Hoàng đế và Hoàng thất, cũng là nơi Hoàng đế và các quan lại họp bàn việc triều chính hàng ngày. Ngọ Môn là điểm đầu tiên sau khi bước qua Thiên An Môn, và tại đây tôi đo hướng của Tử Cấm Thành chính xác là 180 độ. Toàn bộ cổng đều gắn 9 núm đồng to x 9 hàng bởi vì toàn bộ số trong Tử Cấm Thành đều dùng số 9 – tượng trưng cho Thiên tử. Tử trong Tử Cấm Thành không phải Tử là chết mà nghĩa là 紫 màu tím. Tuy nhiên, trong lý học thì CỬU TỬ tức là Sao số 9 Dương kim. Theo một số phân tích như của Gs.Thêm thì người Trung quốc rất coi trọng số 8 và 6, tức là hệ số chẵn. Nhưng Tử Cấm Thành với các con số 9 tương trưng cho Thiên tử thì hoàn toàn dùng số 9, số lẻ thuần Dương biểu hiện cực thịnh của chuỗi vận động trước khi nhập vào Trung cung (số 10). Theo nguyên tắc, số 6 của Hà Đồ thuộc về cung Càn-là Vua và số 9 thuộc quái Đoài (theo Hà đồ phối Hậu thiên lạc Việt) và là quái Ly (theo Hà đồ Văn vương), và trong Địa lý phong thủy thì sao Cửu tử 9 là sao Hữu Bật. Theo cách mà người Trung hoa lý giải thì Tử là sao Tử Vi, là Vua theo môn tử vi đẩu số cho nên lấy tên là Tử và mọi thứ dùng theo số 9. Giữa độ số 9 và sao tử vi không tìm thấy sự liên quan bởi đây là hai hệ qui chiếu khác nhau. Cho nên, sự lý giải vì sao lại lấy là con số 9 thì họ hoàn toàn không lý giải được ngoài thông tin” Số của Vua”. Hình thể của toàn bộ Tử Cấm Thành so với những công trình cổ gần nhất với nó chính là Angkor Wat tại Cambodia. Tổng diện tích cũng như chiều dài và chiều rộng gần như nhau: Angkor Wat có kich thước xấp xỉ 888mx1111m không bao gồm hào nước và Tử Cấm Thành là xấp xỉ 888x1111m bao gồm cả hào nước. Xin nói thêm Angkor Wat được xây theo kiến trúc xây dựng và Địa Lý Ấn Độ và kích thước này được gọi là tỷ lệ vàng, với các góc độ tính từ tâm là 53,8 độ (tương tự tỷ lệ của kim tự tháp Ai Cập) , hằng số Pi 3.141, tỷ lệ giữa các với các góc độ tính từ tâm là 53,8 độ (tương tự tỷ lệ của kim tự tháp Ai Cập) , và tỷ lệ tam giác 3-4-5 (3-4-5 Triangle). Tỷ lệ này là một kiến thức cổ xưa có trên trái đất và tỷ lệ 3-4-5 tam giác đã có trong kim tự tháp Ai Cập trước đó hàng ngàn năm và nó xuất hiện trong rất nhiều các công trình cổ xưa của nhân loại, và tất nhiên nó không thuộc sở hữu của người Trung Hoa. Ông Nguyễn An theo sử sách Trung Hoa ghi chép lại thì “ Nguyễn An tự tay vạch kiểu, thành hình là lập được thế, mắt ngắm là nghĩ ra cách làm, tất cả đều đúng với quy chế. Bộ công và các thợ thuyền đành chịu khoanh tay, bái phục, nghe ông chỉ bảo, sai khiến, thật là người đại tài, xuất chúng. ” Từ đây, Tôi cho rằng Hoàng Thành Thăng Long của chúng ta cũng có một bố cục tương tự bởi cho tới nay thì những gì còn sót lại là bản đồ không còn nguyên vẹn nhưng trên bản theo Hồng Đức bản đồ sách thì hình thể tương tự như vậy. Về sau này thì bản đồ người Pháp vẽ lại có hình Vuông và đây là hình thể giống như Kinh Đô Huế, tức là khoảng thời nhà Nguyễn.
  10. ĐỊA LÝ PHONG THỦY TỬ CẤM THÀNH DẤU ẤN CỦA NGƯỜI VIỆT TRÊN ĐẤT TRUNG HOA PHẦN 1 : NGUYỄN AN - TỔNG CÔNG TRÌNH SƯ Khi còn thời niên thiếu, tôi luôn mơ ước được đặt chân tới Tử Cấm Thành và Vạn lý trường Thành bởi ảnh hưởng lớn từ văn học Trung Hoa. Vậy mà mãi tới cái tuổi Ngài Khổng Tử gọi là “Ngũ thập tri thiên mệnh” cận kề, ước mơ ấy mới được thực hiện. Tôi tới Bắc Kinh lần này chỉ một mục đích là được nhìn thấy công trình được xây nên bởi kiến thức của người Việt, điều mà cho tới mãi sau này tôi mới biết và thậm trí là rất nhiều người Việt của chúng ta cũng không hề biết. Đó là Tổng công trình sư của công trình này là một người VIỆT. Tôi xin trích một đoạn từ Wikipedia về tiểu sử của Ngài Nguyễn An, Tổng công trình sư của thành Bắc Kinh. “trích dẫn: Nguyễn An (chữ Hán: 阮安, 1381-1453), còn gọi là A Lưu (chữ Hán: 阿留, tên gọi ở Trung Hoa),[1] kiến trúc sư thời xưa, người Việt. Ông cùng với Sái Tín (蔡信)[2][3], Trần Khuê (陳珪), Ngô Trung (吳中) là một trong những kiến trúc sư trưởng của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, Trung Quốc.[4] Ông cũng tham gia trị thủy hệ thống sông Hoàng Hà. Nguyễn An sinh năm Tân Dậu (1381), quê ở vùng Hà Đông (có lẽ là ở một làng nghề nào đó thuộc phía Nam trấn Sơn Tây hay Tây Bắc trấn Sơn Nam lúc đó, sau vào thời nhà Nguyễn thuộc tỉnh Hà Đông, nay thuộc địa phận thành phố Hà Nội. Khi gần 16 tuổi (khoảng năm 1397), thời vua Trần Thuận Tông nhà Trần, ông đã tham gia các hiệp thợ xây dựng cung điện ở kinh thành Thăng Long nhà Trần. Năm 1407, nhà Minh sang đánh bại nhà Hồ, chiếm được Việt Nam. Tướng nhà Minh là Trương Phụ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Trung Quốc (Hồ Nguyên Trừng sau làm quan nhà Minh), còn tiến hành lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang sang Trung Hoa, chọn để hoạn làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh. Trong số này có nhiều người sau trở nên nổi tiếng vì tài giỏi như: Nguyễn An, Phạm Hoằng, Vương Cấn,... Lúc này là những năm Vĩnh Lạc, thời vua Minh Thành Tổ Chu Đệ (1403 - 1424), ông vua này cho dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh (của nhà Nguyên trước đó), đổi tên là thành Bắc Kinh và cho xây dựng lại to đẹp hơn và đúng theo ý muốn của mình. Đầu tiên vua Minh cho xây dựng tử cấm thành tức Cố Cung trước (xây từ năm 1406 đến năm 1420 thì hoàn thành). Trong số thái giám phục vụ ở cung vua, Minh Thành Tổ thấy Nguyễn An rất giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc xây dựng, lại liêm khiết hiếm thấy nên tin dùng. Kiến trúc sư trưởng Bắc Kinh Năm Vĩnh Lạc 14 (1416) theo lệnh của Minh Thành Tổ, Nguyễn An khi ấy mới ngoài 30, đã được giao trọng trách "tổng công trình sư" xây dựng thành Bắc Kinh mới (Cố Cung). Đến đời vua Minh Anh Tông thành Bắc Kinh lại được trùng tu và xây dựng bổ sung. Năm 1437, vua Minh Anh Tông giao cho bộ Công xây dựng lại kinh thành, viên Thị lang bộ Công là Sái Tín tâu xin trưng dụng 18 vạn dân phu giỏi nghề và chi tiêu tốn kém, thu mua rất nhiều vật liệu song phải đợi 5 năm xây xong; vua Minh thấy vậy liền giao cho Nguyễn An làm tổng đốc công (tổng công trình sư) trùng tu thành Bắc Kinh. Sách Kinh thành ký thắng của Dương Sĩ Kỳ viết: “ Nguyễn An tự tay vạch kiểu, thành hình là lập được thế, mắt ngắm là nghĩ ra cách làm, tất cả đều đúng với quy chế. Bộ công và các thợ thuyền đành chịu khoanh tay, bái phục, nghe ông chỉ bảo, sai khiến, thật là người đại tài, xuất chúng. ” Minh sử quyển 304 - Liệt truyện 192 - Hoạn quan nhất chép về ông rất ngắn (sau Trịnh Hòa, Hầu Hiển, Kim Anh, Hưng An, Phạm Hoằng, Vương Cấn), nhưng có đề cập tới việc xây dựng thành trì, cung điện, các sở quan tại Bắc Kinh cũng như trị thủy như sau: 阮安有巧思,奉成祖命營北京城池宮殿及百司府廨,目量意營,悉中規制,工部奉行而已。正統時,重建三殿,治楊村河,並有功。景泰中,治張秋河,道卒,囊無十金。 (Nguyễn An hữu xảo tư, phụng Thành Tổ mệnh doanh Bắc Kinh thành trì cung điện cập bách ti phủ giải, mục lượng ý doanh, tất trúng quy chế, Công bộ phụng hành nhi dĩ. Chính Thốngthì, trùng kiến tam điện, trì Dương Thôn hà, tịnh hữu công. Cảnh Thái trung, trì Trương Thu hà, đạo tuất, nang vô thập kim). Như vậy, từ vẽ đồ án thiết kế, đào tạo nhân lực, đến chỉ đạo thi công ông đều tham gia. Công việc của ông làm chính là kết hợp nhiệm vụ của một nhà kiến trúc sư công trình, một nhà quy hoạch, một kỹ sư xây dựng lẫn một nhà quản lý dự án xây dựng, ở thời đại ngày nay. Ông xứng đáng là kiến trúc sư trưởng của thành Bắc Kinh lúc đó. Năm Chính Thống thứ hai (1437), ông xây dựng Thành nội tức là Hoàng thành (thêm hai cung, ba điện, năm phủ, sáu bộ, và dinh thự công sở các ty), Thành ngoại với 9 cửa kinh sư: cửa Chính Dương (có 1 chính lầu và 3 gian Nguyệt thanh lâu), và các cửa: Sùng Văn, Tuyên Vũ, Triệu Dương, Phụ Thành, Đông Trực, Tây Trực, An Dinh, Đức Thắng (mỗi cửa này đều có 1 chính lầu và 1 Nguyệt thanh lâu (lầu ngắm trăng)). Công việc trên được ông chỉ huy thực hiện hoàn thành trong hơn hai năm, rút ngắn tiến độ được gần một năm, mà lại chỉ dùng hết một vạn nhân lực để thi công. Tháng 3 năm Chính Thống thứ 5 (1440), ông lại được nhà vua giao cho 7 vạn thợ và lệnh cho xây dựng và trùng tu ba điện: Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân, cùng hai cung: Càn Thanh, Khôn Ninh (hai cung, ba điện này được xây xong năm 1420, nhưng năm 1421 lại bị sét đánh hư hại). Đến tháng 10 năm sau (1441) thì công việc này xong, vua nhà Minh thưởng cho Nguyễn An: 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấn thóc và 1 vạn quan tiền. Đến tháng 10 năm Chính Thống 10 (1445), ông lại được giao xây dựng lại tường thành Bắc Kinh, vốn trước bên ngoài xây bằng gạch nhưng ở trong đắp đất nên hễ mưa là sụt. Nhà sử học Trương Tú Dân từng làm việc tại Thư viện Bắc Kinh, có điều kiện khảo cứu về Nguyễn An và đã từng sang Đài Bắc tập trung tài liệu để viết sách về Nguyễn An, nhận xét: "Từ xưa đến nay, người tốt trong hoạn quan trăm ngàn người không được một. Còn An hết lòng vì công việc, thanh bạch, liêm khiết, khắc khổ, khi lâm chung không có nén vàng nào trong túi, là một con người cao thượng, chỉ để lại công đầu ở Bắc Kinh. Nguyễn An là người kiệt xuất trong hoạn quan, công với quốc gia không thể phai mờ. Ngày nay tên Tam Bảo thái giám, đàn bà trẻ con đều tỏ tường, còn tên nhà đại kiến trúc Nguyễn An - A Lưu thì ngay học giả, chuyên gia ít ai hay biết. Thật bất hạnh thay. Tôi nghĩ, với An không chỉ riêng giới công trình đáng ngưỡng mộ mà thị dân Bắc Kinh cũng nên uống nước nhớ nguồn, kỷ niệm chớ quên." Từ năm 1953, các nhà sử học Việt Nam như Trần Văn Giáp, Minh Tranh, Đào Duy Anh và Đặng Thai Mai lần lượt sang thăm Trung Quốc, đến Thư viện Bắc Kinh thu thập sử liệu Việt Nam, trong đó có các tài liệu về Nguyễn An. Hêt trích dẫn” Trong một bài trả lời phỏng vấn của báo SGGP , Giáo sư Trần Ngọc Thêm có trả lời như sau: +++++++++ “”- PV: Thưa giáo sư, bộ phim tài liệu của CHLB Đức cho thấy Nguyễn An có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng Tử Cấm Thành. Vì sao một người tài như vậy lại lưu lạc sang Trung Quốc và được các vua Minh trọng dụng? S-TSKH TRẦN NGỌC THÊM: Theo Minh Sử, vào tháng 12 năm Bính Tuất (1406) tướng nhà Minh là Trương Phụ đem quân sang An Nam với danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”, giúp nhà Trần đánh nhà Hồ sau sự kiện Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Trương Phụ bắt Hồ Quý Ly (Thượng hoàng) và Hồ Hán Thương (con trai thứ được Hồ Quý Ly truyền ngôi) đưa về đày ở Quảng Châu. Tháng 7 năm Đinh Hợi (1407), Trương Phụ sai tuyển chọn 9.000 người tài, có học vấn cao và 7.700 thợ giỏi đưa về Trung Quốc xây dựng kinh đô. Một số thanh niên tuấn tú, thông minh được tuyển chọn để thiến, đào tạo thành thái giám phục vụ trong cung. Trong số này có Nguyễn An. Nguyễn An sinh năm Tân Dậu (1381), quê vùng Hà Đông, nổi tiếng thần đồng là người giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc, cương nghị và liêm khiết. Năm 1397, khi chưa đầy 16 tuổi, Nguyễn An đã có mặt trong các kíp thợ xây dựng các công trình kiến trúc tuyệt tác cung điện nhà Trần (đời vua Trần Thuận Tông). Chính vì vậy, khi quyết định xây dựng Tử Cấm Thành, nghe tiếng Nguyễn An là có người tài kiến trúc lại liêm khiết, vua Minh Thành Tổ (niên hiệu Vĩnh Lạc) giao cho ông trọng trách là tổng đốc công xây dựng công trình này. - Là một người Việt Nam, khi xây dựng Tử Cấm Thành chắc hẳn Nguyễn An đã đưa những tư duy văn hóa Việt vào công trình này. Theo giáo sư thì điểm nào thể hiện điều này rõ nét nhất? Tử Cấm Thành có diện tích 72 vạn m2, gồm 800 cung và 8.886 phòng, được Nguyễn An thiết kế gồm một vòng cung hình chữ nhật bao quanh cả kinh thành. Toàn thành có 9 cổng và 3 lớp vòng thành (tam trùng thành quách). So với Nam Kinh và các kinh thành trước đó của Trung Quốc, Tử Cấm Thành có hai điểm mới. Thứ nhất, Tử Cấm Thành có hình chữ nhật trong khi các các kinh thành cũ thiết kế kiểu hình vuông, theo nguyên tắc “tiền triều, hậu thị”, tức cung điện phía trước, chợ búa phía sau. Thứ hai, Tử Cấm Thành có 3 lớp vòng thành trong khi kinh thành cũ thường chỉ có 1 đến 2 lớp. Hai sự thay đổi này được đánh giá là chịu ảnh hưởng của tư duy kiến trúc Việt Nam coi trọng số lẻ, chẳng hạn như Cổ Loa cũng có 3 vòng thành. - Không chỉ Nguyễn An, giai đoạn này nhiều người tài của Việt Nam đã bị đưa sang Trung Quốc, đúng không, thưa ông? Các vua nhà Minh đều xem Nguyễn An như một “kỳ nhân”. Bên cạnh đó, còn một số người Việt Nam khác tài giỏi cũng được sử sách công nhận như Hồ Nguyên Trừng (con trưởng của Hồ Quý Ly), Phạm Hoằng, Vương Cẩn… Hồ Nguyên Trừng là một thiên tài kỹ thuật quân sự. Chính ông đã sáng tạo nên súng thần công, được vua Minh dùng chống các đội quân xâm lược phía Bắc và phong cho ông chức Thượng thư bộ Công, coi ông là ông tổ của súng thần công Trung Quốc. Ông còn là một nhà văn với tác phẩm đặc sắc để lại cho đời là “Nam Ông mộng lục”. Còn Phạm Hoằng là người chủ trì xây dựng ngôi chùa lớn Vĩnh An tự ở Tây Nam Bắc Kinh. Vua Anh Tông nhà Minh tặng ông biệt danh “Bồng Lai Cát Sĩ”. Vương Cẩn (Trần Vũ) là thái giám giả, bị phát hiện nhưng nhờ ông rất tài giỏi nên được vua miễn tội chết, lại được ban cho cung nữ và nhiều vàng bạc… - Thưa giáo sư, ông là người 15 năm trước đây đã nhắc đến Nguyễn An trong tác phẩm “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của mình và bây giờ lại đưa những thước phim “Tử Cấm Thành - bản di chúc của một bạo chúa” lên giới thiệu trên trang web vanhoahoc.edu.vn. Theo ông, những thông tin quý như vậy tại sao chưa được nhiều người biết đến? Đúng là trong số chúng ta chưa có nhiều người biết đến một trong công lao đóng góp của Nguyễn An - những người tài giỏi Việt Nam trong những công trình để đời tại thủ đô của Trung Quốc. Mặc dù nhiều sử sách Trung Quốc thời trung đại như “Hoàng Minh thông kỷ”, “Anh Tông chính thống thực lục” hay những sách như “Kinh kỳ ký thắng” của Dương Sĩ Kỳ, “Thủy Động nhật ký” của Diệp Thanh… đều ghi nhận công lao của Nguyễn An. Nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn sống vào thế kỷ 18 (1726-1784) cũng đã viết trong cuốn “Kiến Văn tiểu lục” ca tụng tài năng và công lao của Nguyễn An trong việc xây dựng và tu tạo thành Bắc Kinh. Tại Mỹ, trong tập 7 của bộ sách lịch sử Trung Quốc do Đại học Cambridge biên soạn, trong phần viết về triều đại nhà Minh, cũng đã kể rõ vai trò của kiến trúc sư trưởng người Việt Nam là Nguyễn An trong việc xây dựng cung điện Bắc Kinh. Tuy nhiên, người Trung Quốc đời sau đã không công bằng với Nguyễn An khi cố tình lờ đi chuyện này. Sau này, có một nhà sử học đương đại Trung Quốc tên là Trương Tú Dân đã công bố trên tờ “Ích Thế báo” số ra ngày 11-11-1947 một bài báo với nhan đề: “Thị dân Bắc Kinh nên kỷ niệm Nguyễn An, người An Nam, Thái giám nhà Minh, tổng công trình sư tạo dựng lầu thành Bắc Kinh thế kỷ XV”. Trong đó, sau khi kể các công lao của Nguyễn An, ông nêu rõ: Nguyễn An sống cùng thời với Tam Bảo thái giám Trịnh Hòa (người ba lần sang Tây Dương), đều là những người kiệt xuất trong các hoạn quan, có công với quốc gia không thể phai mờ. Trong khi nói đến Trịnh Hòa, người dân Trung Quốc ai cũng rõ, còn tên của nhà đại kiến trúc Nguyễn An gốc An Nam thì ngay cả học giả, chuyên gia cũng ít ai hay biết, thật là bất công. Do đó với Nguyễn An, không chỉ giới công trình sư ngưỡng mộ mà người dân Bắc Kinh nên uống nước nhớ nguồn, tổ chức kỷ niệm ông. Gần đây, Đài truyền hình ZDK của CHLB Đức đã xây dựng bộ phim tài liệu nhan đề “Tử Cấm Thành Trung Quốc - bản di chúc của một bạo chúa” đã một lần nữa xác quyết công lao của Nguyễn An. Bộ phim đã cung cấp cho ta thêm một bằng chứng khách quan bằng hình ảnh, nó giúp chúng ta có thêm cơ sở để tiến hành vinh danh công lao của ông sòng phẳng trước lịch sử. Để rồi không chỉ chúng ta mà con cháu chúng ta cũng tự hào về những con người tinh hoa của dân tộc.”” Đón đọc phần 2
  11. BÀI VIẾT XÁC ĐỊNH ĐỊA LÝ LẠC VIỆT QUA THỦY PHÁP TRƯỜNG SINH GHI DẤU TRÊN TỬ CẤM THÀNH BẮC KINH. CỦA GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG HOÀNG TRIỆU HẢI. Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Thưa quý vị và các bạn.Hơn 20 năm chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, chính là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương huyền vĩ với nguyên lý căn để 'Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt'. Đấy là nguyên lý lý thuyết mang tính căn để và là cái chìa khóa duy nhất để mở ra kho tàng bí ẩn của nền văn minh Đông phương huyền vĩ, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch.Nguyên lý lý thuyết căn để này là một bằng chứng xác định rất quan trọng, chứng minh cho cội nguồn văn hiến Việt, nhân danh khoa học. Dù khái niệm khoa học được định nghĩa như thế nào. Bởi vì, nó phù hợp với mọi chuẩn mực thẩm định thể hiện ở những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Một trong nhưng tiêu chí quan trọng nhất - và chưa phải là duy nhất - được phát biểu như sau:'Một lý thuyết, hoặc một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, phải giải thich một cách hợp lý hầu hết mọi vấn đề liên quan đến nó, một cách có tính hệ thống, tính nhất quán, hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri'.Nguyên lý căn để 'Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt', hoàn toàn thỏa mãn tất cả những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. Nó đã giải thích hầu hết những vấn đề liên quan đến Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ ở miền nam sông Dương tử - trong hầu hết những di sản của nền văn minh Đông phương, gồm hầu hết những các bộ môn dự báo của Lý học Đông phương. Từ Đông y, Địa Lý phong thủy, Tử Vi và cả mọi ngành ứng dụng khác trong mọi lĩnh vực khác....Một trong những ngành ứng dụng được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, một cách hoàn hảo nhất chính là Địa Lý phong thủy Lạc Việt. Trong đó có một phương pháp ứng dụng cụ thể, gọi là 'Thủy pháp trường sinh'.Thưa quý vị và các bạn.Thủy pháp trường sinh là một phương pháp ứng dụng cụ thể trong ngành kiến trúc xây dựng cổ Đông phương, quen gọi là Địa Lý phong thủy. Đối tượng nghiên cứu của nó là sự tương tác của các dòng Khí vận động của môi trường bên ngoài một đơn vị kiến trúc. Cụ thể trong các bản văn chữ Hán gọi là "nước" (Ngôn ngữ Hán phát âm là 'Shuẩy' - Trong tiếng Việt phát âm là 'Thủy' và phân biệt với 'Nước'. Trong tiếng Việt, hai từ này không đồng nghĩa '*').Tuy nhiên, mô hình biểu kiến mô tả phương pháp này, trong các bản văn chữ Hán, không mang tính quy luật và tính hệ thống. Nhân danh nền văn hiến Việt, trên cơ sở nguyên lý căn để 'Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt', tôi đã hiệu chỉnh lại mô hình 'Thủy Pháp trường sinh'.Một trong những tiêu chí khoa học, xác định rằng:- 'Một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, thì những mô hình biểu kiến của nó, phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được'.Thưa quý vị và các bạn.Những dòng nước chảy quanh Tử Cấm Thánh Bắc Kinh, do nhà kiến trúc thiên tài của Việt tộc là Nguyễn An, là một thực tại có thể quan sát được, đã xác định một phương pháp phù hợp với những mô hình thủy pháp nhân danh nền văn hiến Việt. Và điều này được Hoàng Triệu Hải - một cao thủ Địa Lý Lạc việt mô tả trong bài viết thực địa dưới đây.Xin hân hạnh giới thiệu.
  12. ĐỊA LÝ hay PHONG THỦY Cần khẳng định ngay một điều rằng, ĐỊA LÝ chính là tên gọi của bộ môn mà chúng ta thường quen gọi là Phong Thủy. Nếu từ PHONG THỦY - Fengshui mà hiện tại chúng ta đang sử dụng để mô tả bộ môn Địa Lý thì từ Phong thủy chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng 20 năm trở lại đây . Trong nền văn hóa của Việt Nam, từ xa xưa chúng ta đã dùng từ Địa Lý để nói tới bộ môn khoa học cổ trong Qui hoạch thiết kế và xây dựng kinh thành, thành phố, nhà cửa cũng như âm trạch mồ mả . Nếu tra cứu trên thư viện mở, chúng ta có thể thấy bộ môn Địa Lý mà chúng ta quen gọi là Phong Thủy đã xuất hiện trên trái đất từ khoảng ít nhất 6000 năm TCN qua các di tích và tài liệu bảo tồn tại ở Ấn Độ. Từ Fengshui tức là Phong Thủy được người người truyền giáo Tây Âu đặt ra thay cho từ Địa Lý vào khoảng thế kỷ thứ 19 khi họ tới Trung Quốc. Sở dĩ họ đặt tên như vậy là vì họ nhìn hình thức của các Pháp sư hay Linh mục bản đia vận dụng phương pháp của môn Địa Lý thường lựa chọn hướng của các dòng chảy, hướng của nguồn năng lượng dựa trên vị trí, địa điểm, địa thế, hình thể của sông núi hay các công trình xây dựng và khu đất. Do công việc này được thực hiện nhiều từ các Pháp sư địa phương nên những người Châu ÂU cho rằng bộ môn Phong Thủy có xuất phát từ Đạo giáo và cộng đồng khoa học cho rằng bộ môn Phong Thủy là giả khoa học cho dù nó là bộ môn nghiên cứu và thiết kế các công trình hướng tới sự cân bằng giữa con Người và Trái Đất. Thời gian gần đây, từ Phong Thủy được chấp nhận sử dụng rộng rãi thay thế từ Địa Lý và cũng được hiểu như là các hoạt động liên quan tới tâm linh, siêu hình hay các vấn đề khoa học thần bí. Có rất nhiều định nghĩa về Phong Thủy được viết và được hiểu đơn giản là bộ môn nghiên cứu sự ảnh hưởng của Gió và Nước lên đời sống, ảnh hưởng tới phúc họa của một ngôi nhà và những con người sống bên trong đó nhưng thực chất Phong thủy đơn giản như vậy không ? Tôi không dám đưa ra bất kỳ một định nghĩa nào nhưng xin trình bày quan điểm của cá nhân về cụm từ Phong thủy. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, khi xem xét “Phong thủy” của đất đai, nhà cửa, mồ mả thì không có một môn phái hay trường phái nào xem xét hướng Gió cả. Bản chất Phong thủy chính là tên gọi của bộ môn Địa Lý – bộ môn ứng dụng của học thuyết ADNH, và Phong thủy chỉ là hình thức từ góc nhìn trực quan từ những con người không rất xa lạ với nền Lý Học Đông Phương. Tên gọi Phong thủy có từ sự nhìn nhận và mô tả hình thái bên ngoài của bộ môn Địa Lý bởi việc đầu tiên của các Địa Sư chính là tìm Mạch khí của Núi và Sông. Bản chất của KHÍ (Qi theo cách gọi của người Trung Hoa) là vô hình , không nhìn thấy, không đo được, không cảm nhận được. Do đó để nhận biết KHÍ thì phải dựa vào các hình thái tồn tại của KHÍ, trong đó có Gió và Nước. “KHÍ gặp gió thì tán, gặp nước thì tụ”, cho nên khi đặt Mộ (Âm Trạch) thì các Địa Sư phải chọn nơi kín gió, có nước để nhận biết khu vực TỤ Khí. Còn với Dương Trạch tức là xây các công trình để ở thì việc bố trí sao cho không để Gió làm tán Khí trong ngôi gia, tạo ra các khu hồ, ao, bể nước để tụ Khí và hoàn toàn không quán xét gì tới “HƯỚNG GIÓ” cả. Trong cuộc sống hiện đại có rất nhiều các yếu tố tác động lên ngôi nhà và những người sống trong đó, và môn Địa Lý quán xét tất cả các yếu tố đó bao gồm môi trường xung quanh, hướng nhà, thiết kế nhà, hình thể ngôi nhà, bố trí nội thất, màu sắc..vv. nhưng tuyệt nhiên không có nghiên cứu tới “hướng của Gió” mà chỉ có hướng định vị bằng la bàn tức là hướng từ trường tự nhiên của đất, là Mạch Khí của Núi, Hướng của dòng nước chảy. Địa lý quán xét ”Gió” ở một phạm vi khác nhưng Gió và Nước không thể đại diện cho tất cả các yếu tố tương tác khác mà chúng ta gọi là ĐỊA LÝ. Có rất nhiều người dùng cách nhìn trực quan để quán xét bộ môn Địa Lý, cũng giống như cách mà người Tây Âu nhìn để đặt tên môn Địa lý thành Phong thủy. Cách đặt vấn đề là những người giàu có thường không xem xét tới Địa lý (Phong thủy), hoặc những mảnh đất các Địa sư bảo xấu không dùng nhưng lại được bán và giao dịch rất nhiều tiền và người mua từ đầu cũng kiếm được rất nhiều tiền. Hoặc người đó ác lắm sao vẫn giàu thế , hay Đại gia này không đi lễ hay theo đạo gì mà hắn giàu có lắm. vv và vv. Có nhiều người cũng đặt vấn đề, vì sao các Kinh thành được xem xét rất hoàn hảo về Địa lý(Phong Thủy) nhưng rồi các triều đại cũng xụp đổ và mộ các vị Vua đó cũng đặt huyệt Đế Vương mà Vương triều đó cũng bị suy tàn. Vậy phải chăng Địa Lý(Phong Thủy) không có tác dụng gì và là sự lừa bịp trong suốt mấy ngàn năm ? Địa lý(phong thủy) không phải là tôn giáo và không tuân theo bất kỳ một nguyên tắc nào của Tôn giáo bởi Địa lý là những tương tác và tuân thủ theo qui luật của Tự nhiên, chứ không theo khuôn phép và tư tưởng của Tôn giáo. Ngược lại, Tôn giáo lại phải tuân thủ theo qui luật vận động của tự nhiên chứ không thể dùng tư tưởng của Tôn giáo để chi phối qui luật tự nhiên. Do đó, chuyện một người ác hay hiền liên quan tới nhân quả theo thuyết của đạo Phật không ảnh hưởng gì tới tiền bạc vật chất mà người đó được hưởng. Nhưng qui luật ở chỗ nếu người Ác làm ngôi nhà sai hay đúng theo Địa lý thì tức nó sẽ tác động lên cuộc sống của anh ta. Anh ta sẽ gặp “quả báo” sớm hay muộn, nặng hay nhẹ , tức là chịu sự chi phối của qui luật vận động. Bộ môn này cũng không liên quan tới việc giá Đất đắt hay rẻ, khu đất nào tương lai sẽ bán được nhiều tiền. Những Huyệt để đặt âm trạch (mồ mả) thường đạt được đầy đủ các tiêu chí Địa lý nhưng sẽ ở trong tận vùng rừng núi mà khu vực đó thì không ai xây nhà ở trên cái Huyệt đó để ở. Đất đai nhà cửa ở các khu đô thị nhanh chóng lên giá bởi mới có cây cầu, mới có con đường, hay khu đô thị đẳng cấp. Chủ đầu tư làm ra để bán và họ chẳng cần phải bận tâm về việc khu đó có phải là Huyệt mạch tốt hay không. Hai tiêu chí đặt ra là khác nhau, do đó việc “nhậy cảm” trong buôn bán bất động sản để mua rẻ bán đắt hay kiếm lời lãi nhiều hoàn toàn không liên quan tới tiêu chí Địa lý “ phong thủy” ở đó tốt hay xấu. Tốt hay xấu lại phải xét trên quan điểm là khi ta SỐNG trong ngôi nhà hoặc mảnh đất nhiều tiền đó, nó ảnh hưởng Tốt hay Xấu lên cuộc sống bên trong ngôi nhà đó. Tốt hay xấu cũng không thể cảm nhận được ngay trên góc độ TRỰC QUAN, có nghĩa là đo đếm và nhìn thấy được. Địa lý (phong thủy) tác động từ từ, chậm rãi và hoàn toàn chỉ cảm nhận được khi bạn quan tâm theo dõi và để tâm cảm nhận tương tác của Địa lý lên cuộc sống. Có những mảnh đất, ngôi nhà rất xấu xét trên quan điểm Địa lý nhưng người sống trong căn nhà đó thậm trí là những vị lãnh đạo cao cấp, là những đại gia nghìn tỷ. Hướng rất xấu so với tuổi chủ nhà nhưng hướng đó thậm trí sau 9-19 năm nó mới phát tác các vận xấu bởi nó âm ỉ tích lũy chờ thời cơ bùng phát, trong khi chủ nhà đó ở vài năm đã sửa nhà hoặc đổi nhà khác . Cho nên họ chưa kịp nhận biết cái xấu thì đã rời khỏi chỗ đó, thì làm sao biết được Địa lý (phong thủy) nơi đó có tác động xấu lên cuộc sống của họ như thế nào. Một Kinh đô có Địa lý(phong thủy) tốt không có nghĩa là nằm ngoài vận mệnh của một đất nước, không có nghĩa là nó sẽ không bị tàn phá bởi chiến tranh hay bị kẻ khác xâm chiếm thống trị. Nhưng tên tuổi Kinh đô đó cũng như khoảng thời gian trị vị của những vị Hoàng Đế thêm uy danh và quyền lực. Nếu lăng mộ của các Vị Vua đó đặt vào huyệt tốt, dòng dõi của vị Vua đó sẽ được tiếp nối nhưng hậu duệ vị Vua đó không có được huyệt mộ tốt thì dòng dõi Vua chúa cũng sẽ chấm dứt sau 3-4 đời kế tiếp sau đó. Ví dụ như nếu Ông Nội làm Vua truyền ngôi cho con Trai và sau đó là cháu Nội, nếu Ông Nội mất được chôn tại huyệt xấu thì đời cháu thứ 3 hoặc thứ 4 sẽ không còn được làm Vua hoặc sẽ bị tổn hại nhân Đinh mà không có người nối ngôi. Địa lý (phong thủy) không thể cải Mệnh số, tức là biến đổi Định tính đã được đóng khung trong Mệnh Số của con người. Mệnh số làm Vua thì ắt làm Vua nhưng Địa lý (phong thủy) tốt xấu ảnh hưởng tới quyền lực và tên tuổi vị Vua đó. Địa lý quyết định về Định Lượng –Số Lượng, tức là giúp một con người đạt được tối đa những gì tốt nhất, nhiều nhất đã được qui định trong khung Mệnh số. Sẽ có ngừoi đặt câu hỏi, vậy các Đại gia ngàn tỉ họ ko quan tâm và không cần làm gì theo Địa lý nhưng họ vẫn giàu có ? Câu trả lời chính là cuộc sống không chỉ có sự giàu có, tiền bạc và chính vì thế một lá số tử vi của một con người không chỉ có một Cung mà là 12 cung. Nếu chỉ nhìn vào vật chất, thì ngay bản thân các Đại gia ngàn tỉ cũng không thể biết mình sẽ có thêm bao nhiêu ngàn tỉ nữa hay có thể mất hết sau một đêm để rồi hì hục gây dựng lại suốt quãng đời sau đó. Địa lý(phong thủy) có thể giúp những vị Đại gia đó có thêm nhiều hơn, mất ít hơn, gặp ít tai họa hơn nhưng cũng không có nghĩa là nằm ngoài qui luật của Vận số. Chúng ta không thể biết số lượng chính xác vật chất chúng ta có thể được hưởng trong tương lai là bao nhiêu, chính vì thế môn Địa Lý (phong thủy) với tính tư duy khoa học trừu tượng trở nên mơ hồ và mê tín đối với những con người luôn nhìn bộ môn này dứoi con mắt trực quan và vật chất. Theo thời đại hòa nhập và không gian phẳng thì tên gọi chỉ dùng để hiểu việc chúng ta đề cập tới vấn đề gì chứ ít ai lại quan tâm bản chất. Tuy nhiên, tên gọi Địa lý – tiếng Anh : Geomance mới là tên chính xác chứ không phải là Phong Thủy bởi tên Địa Lý đủ để bao trùm mọi tính chất và thể hiện đúng những gì chúng ta nghiên cứu về nó.
  13. CHỌN NGÀY TỐT Vận khí Bình Địa Mộc - Kỷ Hợi Năm 2019 PHƯƠNG PHÁP: Phương pháp chọn ngày tốt xấu được lưu truyền từ hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc Việt nam là rất đa dạng. Chúng tôi sử dụng phương pháp loại trừ, tức là dùng tất cả các phương pháp chọn ngày giờ theo phong tục cổ truyền để chọn ra một ngày được coi là tốt nhất sau khi loại ra những ngày xấu dựa trên các phương pháp này. Các phương pháp Cổ bao gồm các phương pháp: ü Sinh khắc của Can Chi ü Nhị thập bát tú ü 12 Chỉ Trực ü Hoàng Đạo – Hắc Đạo ü Sát chủ, Thọ tử, Dương Công Kị Nhật, Tam nương, Nguyệt kị, Vãng vong, Thiên Tai-Địa Họa Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Mậu Tuất 2018 và chào đón năm mới Kỷ Hợi 2019. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 ngàn năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được gìn giữ . Phong tục truyền thống bao gồm ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, đón Lành tránh Dữ. Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) đề xuất về các ngày được coi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Toàn bộ ngày giờ dùng trong năm Kỷ Hợi 2019, vận khí (mệnh tuổi) Bình Địa Mộc theo Lạc Thư Hoa Giáp. Tất Niên: Đây là một nghi thức tổng kết và ghi nhận những thành quả sau 365 ngày lao động sản xuất của Gia Đình và Dòng Tộc. Thông thường sẽ diễn ra vào các ngày 29 và 30 tháng Chạp với một nghi lễ Cúng Thần Linh và Gia Tiên. - 21 tháng chạp : 9-11h; 13-15h; 17-19h - 24 tháng chạp: 7-9h; 11-13h - 25 tháng chạp: 9-11h; 17-19h Ngày Xuất hành, Mở hàng: Ngày xuất hành là ngày đi xa để làm việc hay thực hiện việc quan trong chứ không phải là đêm 30 tết hay sáng mùng 1. Tuy nhiên theo phong tục thì ngày mùng 1 tết là ngày xuất hành để chúc tết và tới Chùa cầu An, nên sẽ có khung giờ tốt . Ngày mùng 1 tết năm nay là ngày Tiểu cát nên chúng ta có thể ra khỏi nhà để đi xông đất hoặc Lễ Chùa từ khung giờ 1-3h; 5-7h; Ngày Tốt Khai Trương ,Mở hàng: v Mùng 2* tháng Giêng: 7-9h; 15-17h. v Mùng 4* tháng Giêng: 11-13h. Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Nam Tuổi xông đất: Giáp Dần , Mậu Tí , Bình Dần, Bính Tý, Giáp Thìn, Mậu Tý Hướng Tốt Để Động Thổ: phương vị động thổ cho năm 2019 là tại hướng Nam: 157.5 độ- 202.5 độ . Các Phương xấu 2019 cần tránh: Năm 2019 các Phương xấu bao gồm: Thái Tuế đóng ở sơn Càn – Hợi thuộc Tây Bắc, Xung Thái Tuế tại các sơn Khôn-Tị thuộc Đông Nam, Tuế phá ở sơn Cấn - Dần thuộc Đông Bắc, Tam sát bao gồm các sơn Thân – Dậu –Tuất, Đại sát ở sơn Mão thuộc phương Đông và Nhị hắc và Ngũ Hoàng tại Đông Bắc, Đông Nam. NGÀY GIỜ TỐT NĂM KỶ HỢI 2019 Là những ngày Tốt dùng để Động thổ, khai trương, xuất hành, cưới hỏi và những việc quan trọng. Tuy nhiên danh mục dưới đây là những ngày dùng chung trong mọi việc nên có những ngày không nằm trong danh mục dưới đây vẫn có những ngày tốt khác dụng cho những công việc cụ thể. Do vậy, quí vị nên tham khảo thêm với chúng tôi cho những công việc và mục đích cụ thể. Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau với những ngày có đánh dấu (*) là ngày Hoàng Đạo 1. Tháng Giêng: v Mùng 2* tháng Giêng:giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 15 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h; 9-11h; 13-15h. v Ngày 25 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h, 9-11h; 17-19h v Ngày 29* tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 15-17h 2. Tháng Hai : v Mùng 8 tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;17-19h v Mùng 9 tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 17-19h; 19-21h v Ngày 20 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 17-19h. v Ngày 29* tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 15-17h. 3. Tháng Ba : v Mùng 4* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 19-21h v Mùng 10* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; v Ngày 16* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 13-15h v Ngày 19* tháng ba: giờ tốt; 3-5h;7-9h ;11-13h; 13-15h v Ngày 28* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 19-21h v Ngày 29* tháng ba: giờ tốt;11-13h;13-15h; 19-21h 4. Tháng Tư: v Mùng 6* tháng Tư : giờ tốt; 9-11h ;13-15h, 15-17h. v Ngày 17 tháng Tư : giờ tốt: 11-13h; 15-17h v Ngày 24 tháng Tư : giờ tốt 5-7h;17-19. v Ngày 29* tháng Tư : giờ tốt 3-5h; 13-15h; 19-21h 5. Tháng Năm : v Mùng 1* tháng Năm : giờ tốt; 5-7h; 9-11h. v Mùng 4* tháng Năm : giờ tốt 3-5h; 7-9h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 12* tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 7-9h; 19-21h. v Ngày 16 tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 19* tháng Năm : giờ tốt 5-7h ;9-11h; 15-17h; 21-23h. v Ngày 25 tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 9-11h. v Ngày 28 tháng Năm : giờ tốt 3-5h;7-9h; 15-17h; 19-21h. 6. Tháng Sáu: v Mùng 1* tháng Sáu: giờ tốt; 7-9h; 19-21h. v Mùng 2 tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 15-17h; 21-23h. v Mùng 8* tháng Sáu : giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 15* tháng Sáu: giờ tốt 11-13h; 15-17h. v Ngày 20* tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 13-15h; 15-17h. v Ngày 26* tháng Sáu: giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 29* tháng Sáu: giờ tốt 15-17h; 19-21h. 7. Tháng Bảy : v Mùng 10 tháng Bảy : giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. v Ngày 11* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 15-17h. v Ngày 17* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 9-11h. v Ngày 19* tháng Bảy: giờ tốt 5-7h; 9-11h; 17-19h. 8. Tháng Tám : v Mùng 8 tháng Tám : giờ tốt 5-7h; 11-13h; 19-21h. v Ngày 16 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h. v Ngày 19 tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 24 tháng Tám: giờ tốt 5-7h; 13-15h. v Ngày 25 tháng Tám: giờ tốt 7-9h; 19-21h. 9. Tháng Chín : v Mùng 1 tháng Chín : giờ tốt 13-15h; 17-19h. v Mùng 6* tháng Chín : giờ tốt 9-11h; 17-19h. v Mùng 10* tháng Chín : giờ tốt 7-9h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 28 tháng Chín: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. 10. Tháng Mười : v Mùng 2* tháng Mười : giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h. v Mùng 8 * tháng Mười : giờ tốt 13-15h; 17-19h; 21-23h. v Mùng 9 tháng Mười: giờ tốt 11-13h: 15-17h; 19-21h. v Ngày 15 tháng Mười : giờ tốt 11-13h: 19-21h. v Ngày 16 *tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 17-19h. v Ngày 21 tháng Mười : giờ tốt 11-13h. v Ngày 28* tháng Mười : giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h. 11. Tháng Một (11): v Mùng 4 * tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h. v Mùng 6 tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. v Mùng 10 tháng Một (11): giờ tốt 11-13h; 15-17h. v Ngày 11* tháng Một (11): giờ tốt 9-11h; 15-17h. v Ngày 26 tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h; 19-21h. v Ngày 28* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h. v Ngày 30* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h. 12. Tháng Chạp (12): v Mùng 2 tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 15-17h. v Mùng 6 tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h; 21-23h. v Ngày 11 tháng Chạp (12): giờ tốt 7- 9h: 15-17h. v Ngày 12* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 13-15h; 21-23h. v Ngày 15* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 15-17h. v Ngày 24* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h. v Ngày 26* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 17-19h; 21-23h. v Ngày 30* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 17-19h; 21-23h. CHÚC MỪNG NĂM MỚI, CHÚC QUÍ VỊ MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG Hà nội tháng 12 năm Mậu Tuất Việt Lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  14. TỔNG QUAN NĂM KỈ HỢI 2019 Kính thưa Quí Vị, Tiếp nối truyền thống của Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương mà khởi xướng là nhà Nghiên Cứu : Nguyễn Vũ Tuấn Anh –Chủ tịch hội đồng khoa học Trung Tâm , nguyên Giám Đốc Trung Tâm, hàng năm cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về đều có những bài dự báo tổng quan cho năm mới dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và nền tảng nguyên lý “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”. Phương pháp dự báo sử dụng của Chúng tôi bao gồm Huyền Không Phi Tinh thuận-nghịch cùng phối hợp quẻ Lạc Việt Độn Toán và đây cũng sẽ luôn là phương pháp xuyên suốt cho tất cả các dự báo của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương . Quẻ Chủ : ĐỖ - VÔ VONG (ngày mùng 1 tháng Giêng năm KỈ HỢI) Quẻ Độn: Cảnh - ĐẠI AN Huyền không lạc việt phi tinh: Bát Bạch nhập trung cung. Thiên Can Kỉ- Thổ và Địa chi Hợi –Thủy tương khắc Lạc thư hoa giáp : Vận khí Bình Địa Mộc Quẻ chủ Đỗ - Vô Vong : Tượng trưng của sự kết thúc mội chuỗi chu kỳ vận động. Dựa trên sơ đồ phân cung của Địa Lý Lạc Việt phối hợp Lượng thiên Xích trên nền tảng Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài 9 – Ly 7, chúng ta xem xét trên từng khu vực - Tả Phù Bát bạch 8 nhập trung: là Lệnh tinh (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Mộc. Vận khí Mộc cực thịnh nên Bát Bạch nhập trung mang lại sự cát lợi cực vượng của sao này. - Sao Hữu Bật Cửu Tử - 9 theo Huyền Không phi tinh là tiến Khí chính Thần – ngũ hành thuộc Kim (khác với HKPT truyền thống thì ngũ hành của Cửu tử 9 thuộc Hỏa) – sao này đáo cung Càn chính là đem lại sự hưng vượng cho phương Tây bắc. - Liêm trinh Nhất bạch 1 đáo cung Ly: là sao tiến khí trong vận 8, ngũ hành Thủy đáo cung Ly tương khắc nên đây là cách cục bất lợi cho phương Nam. - Cự môn Nhị hắc 2 đáo cung Cấn: Là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc âm hỏa đới thổ đáo cung Cấn âm mộc. Đây là cách cục chiêu hung của Nhị hắc tại phương Đông bắc - Lộc tồn Tam Bích 3 đáo cung Đoài: là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc dương mộc đáo cung Đoài dương Kim tương khắc nên hạn chế bất lợi của tam bích tại phương này. - Văn khúc Tứ lục 4 đáo cung Khảm: Là sao tử khí trong vận 8 lại được hỗ trợ từ cung Khảm tương sinh với ngũ hành âm kim của tứ lục nên sao này sẽ phát huy hết tính chất xấu của nó. Tuy nhiên, do Bát bạch nhập trung nên nhờ cát khí của trung cung mà hạn chế phần nào tác hại gây ra từ sao này tại phương Bắc. - Ngũ hoàng 5 đáo cung Khôn-Đông Nam: đây là chủ của Hung sự trong năm tại phương Đông Nam - -Vũ Khúc Lục bạch 6 đáo cung Chấn –Đông: là sao suy khí trong vận 8 lại bị cung Khôn thuộc Hỏa khắc nên đây là tổ hợp chiêu hung. - Phá Quân Thất xích 7 đáo cung Tốn: là sao thoái khí nằm tại cung Tốn thuộc Kim . Do đó giảm bớt tác hại của sao số 7 Từ những hạng mục cát hung của từng phương, tôi xin đưa ra các nhận định tổng quan như sau: 1. Kinh tế Đây là một năm dự báo cho nền kinh tế khó khăn, đặc biệt là Tài Chính Ngân Hàng. Các quyết sách từ các lãnh đạo của các nền kinh tế lớn như trừng phạt kinh tế, các hàng rào thuế quan vv.. sẽ làm cho nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng khó khăn. Các công ty sẽ phải đối mặt với những thách thức về tài chính. Việt nam cũng sẽ bị ảnh hưởng và ngành ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, các công ty đối mặt với lãi suất và chống đỡ với những cơn bão kinh tế từ bên ngoài. BĐS năm nay sẽ chững lại do tác động từ nghành ngân hàng, tuy nhiên sẽ không vỡ như những năm 2012-13 Nửa đầu 2019 Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và nửa sau 2019 sẽ bớt dần nhưng rất chậm. Một số ngân hàng lớn có nguy cơ phá sản, nợ xấu hoặc tranh chấp kiện tụng do bị lừa đảo. Lãi suất tăng tác động ko nhỏ tới nền kinh tế toàn cầu nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng. 2. Xã hội : Bất bình và lộn xộn sẽ xảy ra do kinh tế khó khăn gây ra. Lãnh đạo các nước lớn sẽ phải đối mặt với những thách thức không nhỏ từ những cuộc biểu tình hay bạo loạn tương tự như Pháp năm 2018. Các lãnh đạo tập đoàn lớn, ngân hàng lớn cũng sẽ phải đối mặt với rất nhiều chuyện phiền phức liên quan tới chính sách và pháp luật. 3. Nông nghiệp: Nghành chăn nuôi đặc biệt như Trâu , Bò, Lợn, lại cần hết sức cẩn trọng do bệnh tật. Nông nghiệp thế giới nói chung sẽ mất mùa cục bộ do lũ lụt gây ra ở qui mô cục bộ. Nhưng vùng hay gặp lũ lụt chính là những nơi cần có phương án đối phó với lũ lụt. Một lần nữa phải đề phòng với những khả năng xảy ra với hoa quả xuất khẩu qua biện giới do chính sách thay đổi như đã xảy ra với Thanh Long , Dưa Hấu. Hoa quả được mùa nhưng mất giá cũng là một điểm không thuận lợi cho nông nghiệp. 4. Thiên tai : Lũ lụt xảy ra cục bộ ở một số nơi nhưng thiệt hại rất nặng nề. Các vụ cháy sẽ giảm đi so với năm 2018. Khả năng cao xảy ra sóng thần ở một số nước thường có động đất. 5. Nhân họa , tai nạn: Các vụ rơi máy bay, tai nạn giao thông trên thế giới lại diễn ra, và ít nhất sẽ có một vụ tai nạn khảm khốc làm nhiều người thiệt mạng. Các tranh chấp xã hội với nhà cầm quyền lại xảy ra dẫn tới xô sát làm nhiều người bị thương và thiệt mạng. Việt nam sẽ gặp khó khăn từ ngay tháng 11 của năm Mậu Tuất cho tới giữa nửa đầu năm 2019, tuy không nặng nề nhưng cũng sẽ là những thách thức đáng kể, đặc biệt là nghành tài chính ngân hàng. Trên đây là các cái nhìn tổng quan cho năm Kỷ Hợi 2019 của Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải). Tết đến Xuân sang, xin kính chúc quí vị một năm mới An Khang-Thịnh Vượng và thật nhiều Sức khỏe-Hạnh Phúc. Hà nội tháng 1 năm 2019 Việt lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  15. Phản biện bạn Trần Thiên Khánh trong CLB lý học Nguyễn Bỉnh Khiêm Thứ nhất : Xin đươc dịch để mọi người ko đọc được tiếng Trung có thể tham khảo. ++++++++++++ Từ điển Hán - Hán: http://xh.5156edu.com/html5/78297.html: Định nghĩa có luôn bác nhé: "事物由于矛盾转化而生生不已" _______________________________________ 1.事物由于矛盾转化而生生不已。 Sự vật do mâu thuẫn chuyển hóa mà sinh sinh không ngừng. 词语分开解释:(phần giải thích từ ngữ) ________________________________________ 相 : 相 xiāng 交互,行为动作由双方来:互相。相等。相同。相识。相传(chu俷 )。相符。相继。相间(ji 详细>> Tương: tương hỗ,hành vi động tác do song phương mà thành,tương hỗ,tương đẳng,tương đồng,tương tư,tương truyền,tương phụ,tương thuận 生 : 生 shēng 一切可以发育的物体在一定条件下具有了最初的体积和重量,并能发展长大:诞生。滋生。生长 详细>> Sinh: tất cả vật thể có thể sinh ra tại 1 điều kiện nhất định, có thể phát triển lớn lên như SINH RA, SINH TRƯỞNG. , Sinh tồn http://www.zdic.net/c/8/e2/226726.htm… 相生  xiāng shēng  ㄒㄧㄤ ㄕㄥ 相克 词语解释 ◎ 相生 xiāngshēng [interpromoting relation in five elements] 五行学说术语。借木、火、土、金、水五种物质之间互相滋生和促进的关系。来说明脏腑相互协调的生理现象。其次序是木生火、火生土,土生金,金生水,水生木 Tương sinh Thuật ngữ học thuyết ngũ hành bao gồm :mộc,hoả,thổ,kim,thuỷ,5 loại vật chất tương hỗ, Các hiện tượng có quan hệ với nhau ,mộc sinh hoả,hoả sinh thổ,thổ sinh kim,kim sinh thuỷ,thuỷ sinh mộc -------------------------- 相生(xiāng shēngㄒㄧㄤ ㄕㄥ) 1. 彼此互為因果。老子.第二章:「故有無相生、難易相成、長短相較、高下相傾。」 2. 孫子.勢:「奇正相生,如循環之無端。孰能窮之?」反相剋 Lão tử đệ nhị chương: Cố hữu vô tương, Sinh nan dịch tương, Thành trưởng đoản tương, giác cao hạ tương, khuynh (do đó, có và ko tương s inh, khó dễ tương thành, dài ngắn tương giao, cao thấp tương khuynh Tôn tử thế: kì chính tương sinh như tuần hoàn chi mô đoan thục nại cùng chi ++++++++++++++++++ Sau khi tra cứu hai trang từ điển Hán ngữ của bác Khánh, chỉ có một trang là có giải nghĩa khá chuẩn. Tôi cho rằng đây là một từ điển duy nhất có sự khác biệt về định nghĩa của từ Tương Sinh Tương Khắc. Tuy nhiên, vị học giả đưa định nghĩa này cũng không thể cho ra một định nghĩa rõ hơn về NGũ Hành Tương Sinh Tương Khắc và dẫn giải các lý luận từ vẫn dẫn giải ra ngũ hành là 5 dạng vật chất. do đó Tương Sinh vẫn được hiểu là SINH RA. Điều chúng ta cần bàn ở đây là 5 ngàn năm trước không có cái gọi là từ điển, và đương nhiên từ mượn không thể diễn tả được ý nghĩa và bản chất của một tên gọi cho một học thuyết. Chúng ta hiện có tên con sông Tiêu Tương ở Bắc Ninh, ít nhất được biết tới tồn tại tên này từ thời nhà Lý Công Uẩn. Hoặc trong đạo Mẫu , giá Chầu quan Đệ Tam cũng có nhắc tới Sông Tương. TQ có Sông Tương thuộc tỉnh Hồ Nam, và xin nhắc lại đó là thuộc về Bách Việt cổ. Tương cũng còn là một món quen thuộc của người dân miền Bắc mà thậm trí không cần từ điển nào giải thích “Nát như Tương” thì người Việt đều hiểu về chữ “tương “ này. Thứ hai, Rất cảm ơn bác đã đưa ra một lý giải chuẩn xác. Chính xác để phản ánh đầy đủ bản chất sẽ sẽ phải là Thủy Hỏa Tương Khắc, Kim Thủy Tương sinh. Vấn đề chính là khi tiếp nhận học thuyết này, người Hán vẫn hiểu là TƯƠNG SINH là SINH RA và từ TƯƠNG không còn có tác dụng của vai trò trong từ ghép tương sinh nữa, phó từ TƯƠNG mất giá trị trong từ ghép này. Do đó, họ mới hiểu sai Ngoại động từ thành nội động từ để từ đó sinh ra định nghĩa NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH thành Kim sinh thủy, Thủy sinh mộc. vv như hiện nay, và hóa thành vật chất được sinh ra theo như các định nghĩa sai lệch kéo dài hàng ngàn năm cho tới ngày nay. Với định nghĩa này, chúng ta sẽ không thể lý giải vì sao KIM là kim loại, lại sinh ra được THỦY là nước. … Thứ ba: Từ Tương ngoài chủ để này tức là các từ Tương dùng trong tục ngữ hay ngôn ngữ đều giống như người Việt chúng ta. Đặt lại vấn đề, Chữ Ngo và ngôn ngữ Việt ảnh hưởng tới chữ viết và văn hóa Hán , chúng ta sẽ có lập luận khác. Ngôn ngữ Mẹ Đẻ là công cụ giao tiếp có thể thay đổi theo thời gian nhưng ý nghĩa vẫn được thấu hiểu mà không cần từ điển. Thứ tư: Tôi có nhầm lẫn khi viết, từ Tướng Tương là tể tướng 宰相, không phải là tướng quân 将军 . Xin được cảm ơn và đính chính lại. Thứ năm, Như tôi đã trình bày, Ngôn ngữ Việt là một trong những hệ ngôn ngữ phong phú và phức tạp nhất . Vậy nên khó có thể có từ điển nào định nghĩa hết được các từ trong ngôn Ngữ Việt. Ngôn ngữ Mẹ Đẻ vốn để giao tiếp và sử dụng trong đời sống hàng ngày, nên khi nói đã thể hiện đầy đủ hàm ý của người muốn diễn đạt. TƯƠNG là món ăn được làm từ đậu tương vốn không có trong thực phẩm của người Hán, nhưng khi nói rau chấm tương thì ai cũng hiểu tương là gì. Ví dụ từ “Vãi Lúa” mới xuất hiện trong cách nói của thế hệ trẻ hiện nay, ko có từ điển nào nói về từ này. Nhưng khi nói thì đa số đều hiểu, “khôn vãi lúa, ngu vãi lúa…vv” là có ý gì. Thứ 6: Với cụm từ khi mang ý nghĩa Tương Sinh Tương Khắc mà vẫn được hiểu ý nghĩa thành SINH RA, với từ Tương có chung với tư TƯỚNG. Như vậy, ý nghĩa của Tương SInh TƯơng khắc theo ngôn ngữ Hán là SINH RA. Cho nên lẽ ra sẽ phải là Hỏa thổ tương Sinh, Hỏa kim tương khắc vvv. Trong ngôn ngữ Việt, từ ghép nhiều khi mang ý nghĩa định vị. Ví dụ: SÂN TRƯỜNG. Khi chúng ta ở trong Trường thì khi giao tiếp, chỉ cần chữ SÂN là hiểu SÂN ở trong sân trường. Còn khi ở ngoài khu vực, chúng ta sẽ nói SÂN trường để phân biêjt với SÂN ĐÌNH, SÂN NHÀ..vv. hoặc trong ngữ cảnh, nói về trường mà đứng ở ngoài sân trường thì sẽ nói SÂN TRƯỜNG. ,vv. NGôn ngữ Việt hoàn toàn phân định rõ ràng ngữ cảnh, không gian, thời gian và các tập hợp nhóm.