• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Mạnh Đại Quân

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    968
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    31

Mạnh Đại Quân last won the day on Tháng 12 14

Mạnh Đại Quân had the most liked content!

Danh tiếng Cộng đồng

545 Excellent

2 Người theo dõi

About Mạnh Đại Quân

  • Rank
    Quản trị Diễn Đàn
  • Birthday 24/12/1974

Contact Methods

  • Website URL
    http://vn.myblog.yahoo.com/hoangtrieuhai

Xem hồ sơ gần đây

2.416 lượt xem hồ sơ
  1. Phản biện bạn Trần Thiên Khánh trong CLB lý học Nguyễn Bỉnh Khiêm Thứ nhất : Xin đươc dịch để mọi người ko đọc được tiếng Trung có thể tham khảo. ++++++++++++ Từ điển Hán - Hán: http://xh.5156edu.com/html5/78297.html: Định nghĩa có luôn bác nhé: "事物由于矛盾转化而生生不已" _______________________________________ 1.事物由于矛盾转化而生生不已。 Sự vật do mâu thuẫn chuyển hóa mà sinh sinh không ngừng. 词语分开解释:(phần giải thích từ ngữ) ________________________________________ 相 : 相 xiāng 交互,行为动作由双方来:互相。相等。相同。相识。相传(chu俷 )。相符。相继。相间(ji 详细>> Tương: tương hỗ,hành vi động tác do song phương mà thành,tương hỗ,tương đẳng,tương đồng,tương tư,tương truyền,tương phụ,tương thuận 生 : 生 shēng 一切可以发育的物体在一定条件下具有了最初的体积和重量,并能发展长大:诞生。滋生。生长 详细>> Sinh: tất cả vật thể có thể sinh ra tại 1 điều kiện nhất định, có thể phát triển lớn lên như SINH RA, SINH TRƯỞNG. , Sinh tồn http://www.zdic.net/c/8/e2/226726.htm… 相生  xiāng shēng  ㄒㄧㄤ ㄕㄥ 相克 词语解释 ◎ 相生 xiāngshēng [interpromoting relation in five elements] 五行学说术语。借木、火、土、金、水五种物质之间互相滋生和促进的关系。来说明脏腑相互协调的生理现象。其次序是木生火、火生土,土生金,金生水,水生木 Tương sinh Thuật ngữ học thuyết ngũ hành bao gồm :mộc,hoả,thổ,kim,thuỷ,5 loại vật chất tương hỗ, Các hiện tượng có quan hệ với nhau ,mộc sinh hoả,hoả sinh thổ,thổ sinh kim,kim sinh thuỷ,thuỷ sinh mộc -------------------------- 相生(xiāng shēngㄒㄧㄤ ㄕㄥ) 1. 彼此互為因果。老子.第二章:「故有無相生、難易相成、長短相較、高下相傾。」 2. 孫子.勢:「奇正相生,如循環之無端。孰能窮之?」反相剋 Lão tử đệ nhị chương: Cố hữu vô tương, Sinh nan dịch tương, Thành trưởng đoản tương, giác cao hạ tương, khuynh (do đó, có và ko tương s inh, khó dễ tương thành, dài ngắn tương giao, cao thấp tương khuynh Tôn tử thế: kì chính tương sinh như tuần hoàn chi mô đoan thục nại cùng chi ++++++++++++++++++ Sau khi tra cứu hai trang từ điển Hán ngữ của bác Khánh, chỉ có một trang là có giải nghĩa khá chuẩn. Tôi cho rằng đây là một từ điển duy nhất có sự khác biệt về định nghĩa của từ Tương Sinh Tương Khắc. Tuy nhiên, vị học giả đưa định nghĩa này cũng không thể cho ra một định nghĩa rõ hơn về NGũ Hành Tương Sinh Tương Khắc và dẫn giải các lý luận từ vẫn dẫn giải ra ngũ hành là 5 dạng vật chất. do đó Tương Sinh vẫn được hiểu là SINH RA. Điều chúng ta cần bàn ở đây là 5 ngàn năm trước không có cái gọi là từ điển, và đương nhiên từ mượn không thể diễn tả được ý nghĩa và bản chất của một tên gọi cho một học thuyết. Chúng ta hiện có tên con sông Tiêu Tương ở Bắc Ninh, ít nhất được biết tới tồn tại tên này từ thời nhà Lý Công Uẩn. Hoặc trong đạo Mẫu , giá Chầu quan Đệ Tam cũng có nhắc tới Sông Tương. TQ có Sông Tương thuộc tỉnh Hồ Nam, và xin nhắc lại đó là thuộc về Bách Việt cổ. Tương cũng còn là một món quen thuộc của người dân miền Bắc mà thậm trí không cần từ điển nào giải thích “Nát như Tương” thì người Việt đều hiểu về chữ “tương “ này. Thứ hai, Rất cảm ơn bác đã đưa ra một lý giải chuẩn xác. Chính xác để phản ánh đầy đủ bản chất sẽ sẽ phải là Thủy Hỏa Tương Khắc, Kim Thủy Tương sinh. Vấn đề chính là khi tiếp nhận học thuyết này, người Hán vẫn hiểu là TƯƠNG SINH là SINH RA và từ TƯƠNG không còn có tác dụng của vai trò trong từ ghép tương sinh nữa, phó từ TƯƠNG mất giá trị trong từ ghép này. Do đó, họ mới hiểu sai Ngoại động từ thành nội động từ để từ đó sinh ra định nghĩa NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH thành Kim sinh thủy, Thủy sinh mộc. vv như hiện nay, và hóa thành vật chất được sinh ra theo như các định nghĩa sai lệch kéo dài hàng ngàn năm cho tới ngày nay. Với định nghĩa này, chúng ta sẽ không thể lý giải vì sao KIM là kim loại, lại sinh ra được THỦY là nước. … Thứ ba: Từ Tương ngoài chủ để này tức là các từ Tương dùng trong tục ngữ hay ngôn ngữ đều giống như người Việt chúng ta. Đặt lại vấn đề, Chữ Ngo và ngôn ngữ Việt ảnh hưởng tới chữ viết và văn hóa Hán , chúng ta sẽ có lập luận khác. Ngôn ngữ Mẹ Đẻ là công cụ giao tiếp có thể thay đổi theo thời gian nhưng ý nghĩa vẫn được thấu hiểu mà không cần từ điển. Thứ tư: Tôi có nhầm lẫn khi viết, từ Tướng Tương là tể tướng 宰相, không phải là tướng quân 将军 . Xin được cảm ơn và đính chính lại. Thứ năm, Như tôi đã trình bày, Ngôn ngữ Việt là một trong những hệ ngôn ngữ phong phú và phức tạp nhất . Vậy nên khó có thể có từ điển nào định nghĩa hết được các từ trong ngôn Ngữ Việt. Ngôn ngữ Mẹ Đẻ vốn để giao tiếp và sử dụng trong đời sống hàng ngày, nên khi nói đã thể hiện đầy đủ hàm ý của người muốn diễn đạt. TƯƠNG là món ăn được làm từ đậu tương vốn không có trong thực phẩm của người Hán, nhưng khi nói rau chấm tương thì ai cũng hiểu tương là gì. Ví dụ từ “Vãi Lúa” mới xuất hiện trong cách nói của thế hệ trẻ hiện nay, ko có từ điển nào nói về từ này. Nhưng khi nói thì đa số đều hiểu, “khôn vãi lúa, ngu vãi lúa…vv” là có ý gì. Thứ 6: Với cụm từ khi mang ý nghĩa Tương Sinh Tương Khắc mà vẫn được hiểu ý nghĩa thành SINH RA, với từ Tương có chung với tư TƯỚNG. Như vậy, ý nghĩa của Tương SInh TƯơng khắc theo ngôn ngữ Hán là SINH RA. Cho nên lẽ ra sẽ phải là Hỏa thổ tương Sinh, Hỏa kim tương khắc vvv. Trong ngôn ngữ Việt, từ ghép nhiều khi mang ý nghĩa định vị. Ví dụ: SÂN TRƯỜNG. Khi chúng ta ở trong Trường thì khi giao tiếp, chỉ cần chữ SÂN là hiểu SÂN ở trong sân trường. Còn khi ở ngoài khu vực, chúng ta sẽ nói SÂN trường để phân biêjt với SÂN ĐÌNH, SÂN NHÀ..vv. hoặc trong ngữ cảnh, nói về trường mà đứng ở ngoài sân trường thì sẽ nói SÂN TRƯỜNG. ,vv. NGôn ngữ Việt hoàn toàn phân định rõ ràng ngữ cảnh, không gian, thời gian và các tập hợp nhóm.
  2. NGÔN NGỮ VIỆT TRONG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH Và TƯƠNG KHẮC Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất vũ trụ, mô tả lịch sử từ hình thành từ giây /O/ của vũ trụ đến mọi quy luật vận động tương tác của mọi dạng tồn tại của vật chất cho đến ngày hôm nay, với khả năng tiên tri. Nó mô tả sự tồn tại của các hạt vật chất nhỏ nhất đến sự vận động của các Thiên hà khổng lồ. giải thích mọi vấn đề và sự kiện, liên quan đến cuộc sống, xã hội và con người với tính qui luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Cho tới ngày nay, chúng ta vẫn ứng dụng và chấp nhận những sự mặc định, tồn tại từ hàng ngàn năm và đa số cho rằng học thuyết đồ sộ này thuộc về nền văn minh Hoa hạ. Tuy nhiên, định nghĩa về Ngũ Hành sinh khắc từ cổ thư chữ Hán còn lưu truyền lại tới nay đều định hướng cho một suy luận sai lệch về Ngũ Hành SINH-KHẮC và một hệ lý thuyết rời rạc, chắp vá dẫn tới tranh cãi không có hồi kết. Trong toàn bộ sách Lý Học, Thuật số thì chúng ta chỉ một định nghĩa hết sức ngắn gọn như sau: Trích: “Ngũ hành chỉ 5 loại vật chất gồm: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ luôn vận động chuyển hóa “Ngũ” trong ngũ hành chỉ 5 loại vật chất cơ bản hoặc nguyên tố cơ bản cấu thành nên thế giới. Kim loại, nước, cây,lửa, và đất. “Hành là chỉ mối liên hệ với nhau trong vận động chuyển hóa của 5 loại vật chất đó” Đây là đoạn trích dẫn từ cuốn “Táng Thư” một trong tứ khố toàn thư do Quách Phác đời Tấn trứ tác, được dịch ra Việt ngữ hiện đang được lưu hành trên các giá sách. Trong cuốn "Tam mệnh thông hội", một cuốn sách trong bộ tứ khố toàn thư đồ sộ, được dịch ra Việt ngữ thì chúng ta có được nhiều thông tin giải thích về Thái Cực, Âm Dương và Ngũ Hành. Tuy nhiên, đúc kết phần Ngũ Hành Sinh khắc chúng ta cũng có được định nghĩa như hình ảnh dưới đây Đây là hai đại diện tiêu biểu cho định nghĩa về Ngũ Hành Sinh Khắc mà tất cả những người đam mê thuật số đều thuộc lòng. Tới đây chúng ta dễ dàng nhận thấy, Ngũ hành theo cổ thư Hán đều được định danh là 5 loại vật chất và từ đó, từ ghép “TƯƠNG SINH –TƯƠNG KHẮC” 五行相生相克 Có được định nghĩa về từ. Tôi có tham khảo một số bạn giỏi tiếng Trung về mặt ngôn ngữ thuần túy thì có được các thông tin sau: Theo bạn có nick face book là Sơn Nguyễn Sơn thì : [ “五行相生相克 từ này trong các sách về thuật số TQ thường đều có ạ. Từ điển không phải tất cả các từ đều có đâu ạ”]. Bạn Ruan Minh: ["Nếu là từ theo tên của ai đó là TƯƠNG SINH thì CHỈ có cách là chọn từng từ để lấy ý nghĩa phù hợp . Ngoài ra nếu TƯƠNG SINH theo hai từ đi liền nhau thì hầu như là từ ghép, mà thường lấy từ tương sinh trong cụm từ :TƯƠNG SINH TƯƠNG KHẮC thì là hai chữ "相生"]. Theo bạn có nịck Facebooj Hai Anh Vu: ["Theo từ điển của họ thì tương sinh chỉ sử dụng trong ngũ hành còn ngoài ra thì không dùng vào hoàn cảnh khác ạ"]. Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Lãn Miên thì không có từ TƯƠNG SINH -TƯƠNG KHẮC trong ngôn ngữ Trung Hoa mà đây là từ ghép của hai từ TƯƠNG và SINH hoặc TƯƠNG VÀ KHẮC. Vậy nên cho dù có thêm chữ TƯƠNG đằng trước từ SINH và KHẮC thì vẫn chỉ hiểu là SINH và KHẮC bởi từ TƯƠNG ko có ý nghĩa khi ghép với từ SINH và KHẮC. Chúng ta sẽ tham khảo ý nghĩa các từ TƯƠNG, SINH và KHẮC theo từ điển Hán –Hán Nôm I/ TƯƠNG Chữ "Tương" trong chữ " tương sinh hay tương khắc như hình ảnh dưới đây. Chữ này bên trái là chữ mộc (là cây hay là 1 trong 5 ngũ hành,...) Bên phải là chữ mục ( là con mắt hay là nhìn,..). Chữ tương này còn có thể đọc là tướng cũng được, chữ này có thể dùng làm phó từ (hỗ tương: 互相 qua lại), danh từ (tể tướng 宰相), hay động từ (tướng du 相攸 kén nơi đáng lấy làm chồng). Vậy là chúng ta có thể thấy, từ TƯƠNG trong tiếng Trung hoàn toàn là từ có tính chất phụ, tức là được thêm vào bởi nó có thể là TƯỚNG trong Tướng quân, hay Tướng trong từ Tể tướng. Trong ngôn ngữ Việt thì Tương là Tương mà Tướng là Tướng, nên từ ghép Tương Sinh có ý nghĩa cụ thể. Còn từ Tương theo ý nghĩa này khi ghép với Sinh vẫn sẽ có ý nghĩa là SINH mà thôi. Các chữ Tương khác trong tự điển: A/ Chữ 驤 tương 骧 xiāng Bộ 187 馬 mã [17, 27] U+9A64 (Danh) Ngựa có chân sau bên phải màu trắng. (Động) Chạy nhanh, nhảy lên. (Động) Ngẩng lên. B/ Chữ 葙 tương xiāng Bộ 140 艸 thảo [9, 13] U+8459 (Danh) Thanh tương 青葙 tục gọi là dã kê quan 野雞冠 hoa mồng gà. C/ Chữ 螿 tương 螀 jiāng Bộ 142 虫 trùng [11, 17] U+87BF (Danh) Hàn tương 寒螿 một loài côn trùng giống như ve sầu nhưng nhỏ hơn D. Chữ 襄 tương xiāng Bộ 145 衣 y [11, 17] U+8944 (Động) Giúp đỡ, phụ tá. ◇Đoạn Ngọc Tài 段玉裁: "Tương: Kim nhân dụng tương vi phụ tá chi nghĩa, danh nghĩa vị thường hữu thử". 襄: 今人用襄為輔佐之義, 名義未嘗有此 (Thuyết văn giải tự chú 說文解字注, Y bộ 衣部). Như: tương trợ 襄助 giúp đỡ, tương lí 襄理 giúp làm. (Động) Bình định. Chương Bỉnh Lân 章炳麟: Xuất xa nhi Hiểm Duẫn tương, Nhung y nhi Quan, Lạc định 出車而玁狁襄, 戎衣而關洛定 (Ngụy Vũ Đế tụng 魏武帝頌). (Động) Hoàn thành, thành tựu. Như: tương sự 襄事 nên việc, xong việc. Tả truyện 左傳: "Táng Định Công. Vũ, bất khắc tương sự, lễ". dã 葬定公. 雨, 不克襄事, 禮也 (Định Công thập ngũ niên 定公十五年). (Động) Tràn lên, tràn ngập. Lịch Đạo Nguyên 酈道元: Ba tương tứ lục, tế ngư bôn bính, tùy thủy đăng ngạn, bất khả thắng kế波襄四陸, 細魚奔迸, 隨水登岸, 不可勝計 (Thủy kinh chú 水經注, Lỗi thủy 耒水). (Động) Trở đi trở lại, dời chuyển. Thi Kinh 詩經: Kì bỉ Chức Nữ, Chung nhật thất tương 跂彼織女, 終日七襄 (Tiểu nhã 小雅, Đại đông 大東) Chòm sao Chức Nữ ba góc, Suốt ngày dời chuyển bảy giờ. (Động) Dệt vải. Hàn Dũ 韓愈: "Đằng thân khóa hãn mạn, Bất trước Chức Nữ tương 騰身跨汗漫, 不著織女襄" (Điệu Trương Tịch 調張籍). (Động) Trừ khử, trừ bỏ. Thi Kinh 詩經: Tường hữu tì, Bất khả tương dã 牆有茨, 不可襄也 (Dung phong 鄘風, Tường hữu tì 牆有茨) Tường có cỏ gai, Không thể trừ khử được. (Danh) Ngựa kéo xe. § Thông tương 驤. Như: thượng tương 上襄 ngựa rất tốt. ◇Thi Kinh 詩經: Lưỡng phục thượng tương, Lưỡng sam nhạn hàng 兩服上襄, 兩驂雁行 (Trịnh phong 鄭風, Thái Thúc ư điền 大叔於田) Hai ngựa thắng hai bên phía trong là thứ ngựa rất tốt, Hai ngựa thắng hai bên phía ngoài như hàng chim nhạn. (Danh) Một phương pháp gieo hạt thời xưa. (Danh) Họ Tương. E/ Chữ 醬 tương酱 jiàng Bộ 164 酉 dậu [11, 18] U+91AC (Danh) Thịt băm nát. § Cũng như hải 醢. (Danh) Thức ăn nghiền nát. Như: quả tương 果醬 món trái cây xay nhuyễn, hoa sanh tương 花生醬 đậu phụng nghiền. (Danh) Món ăn dùng các thứ đậu, ngô, gạo, ngâm ủ nấu gạn, cho muối vào nghiền nát. ◎Như: thố tương 酢醬 tương chua giấm, điềm miến tương 甜麵醬 tương ngọt. (Tính) Đã ướp, ngâm, tẩm (với dầu, muối). Như: tương qua 醬瓜 dưa ướp, tương thái 醬菜 món (rau) ngâm. (Động) Ngâm, ướp, tẩm (thức ăn). G/Chữ 鑲 tương, nhương镶 xiāng, ráng Bộ 167 金 kim [17, 25] U+9472 (Động) Vá, nạm, trám. Như: tương nha 鑲牙 trám răng. Tam quốc diễn nghĩa 三國演義: Bàng khuyết nhất giác, dĩ hoàng kim tương chi 傍缺一角, 以黃金鑲之 (Đệ lục hồi) Bên cạnh (viên ấn ngọc) sứt một góc, lấy vàng trám lại. (Danh) Một loại binh khí thời xưa, giống như kiếm. Một âm là nhương. (Danh) Bộ phận làm mô hình ở trong khuôn đúc đồ đồng, đồ sắt. H/Chữ 緗 tương 缃 xiāng Bộ 120 糸 mịch [9, 15] U+7DD7 (Danh) Lụa vàng nhạt. § Ngày xưa hay dùng để đựng sách hay bao sách, nên gọi sách vở quý báu là phiếu tương 縹緗 hay kiêm tương 縑緗. Quan Hán Khanh 關漢卿: "Độc tận phiếu tương vạn quyển thư" 讀盡縹緗萬卷書 (Đậu nga oan 竇娥冤) Đọc hết sách quý cả vạn cuốn. (Tính) Vàng nhạt. ◇Nhạc phủ thi tập 樂府詩集: Tương khỉ vi hạ quần, Tử khỉ vi thượng nhu 緗綺為下裙, 紫綺為上襦 (Mạch thượng tang 陌上桑) Lụa vàng nhạt làm váy, Lụa tía làm áo ngắn. i/Chữ 纕 tương xiāng, ráng Bộ 120 糸 mịch [17, 23] U+7E95 (Động) Mang, đeo. ◇Khuất Nguyên 屈原: Kí thế dư dĩ huệ tương hề, hựu thân chi dĩ lãm chỉ 既替余以蕙纕兮, 又申之以攬芷 (Li tao 離騷) Bị phế bỏ rồi, ta lấy cỏ bội lan đeo hề, lại còn hái cỏ chỉ. K/ Chữ 漿 tương 浆 jiāng, jiàng Bộ 85 水 thủy [11, 15] U+6F3F (Danh) Chỉ chung chất lỏng sền sệt. ◎Như: đậu tương 豆漿 sữa đậu nành, nê tương 泥漿 bùn loãng. ◇Đỗ Phủ 杜甫: Khu nhi la tửu tương 驅兒羅酒漿 (Tặng Vệ Bát xử sĩ 贈衛八處士) Xua con đi bày rượu và thức uống. (Danh) Hồ (để dán). ◎Như: tương hồ 漿糊 hồ để dán. (Động) Hồ, dùng nước pha bột để hồ quần áo. ◎Như: tương y phục 漿衣服 hồ quần áo, tương tẩy 漿洗 giặt và hồ. ◇Thủy hử truyện 水滸傳: Đãn hữu y phục, tiện nã lai gia lí tương tẩy phùng bổ 但有衣服, 便拿來家裏漿洗縫補 (Đệ thập hồi) Hễ có quần áo, xin cứ đem lại nhà này giặt giũ khâu vá. L/ Chữ 瓖 tươngxiāng Bộ 96 玉 ngọc [17, 21] U+74D6 (Danh) Ngọc trang sức trên dây đái ngựa. (Động) Nạm, trám. § Cũng như tương 鑲. M/ Chữ 箱 tương, sương xiāng Bộ 118 竹 trúc [9, 15] U+7BB1 (Danh) Hòm xe, toa xe. ◎Như: xa tương 車箱 chỗ trong xe để chở người hoặc đồ vật. (Danh) Hòm, rương. ◎Như: bì tương 皮箱 hòm da (valise bằng da), phong tương 風箱 bễ quạt lò, tín tương 信箱 hộp thư. (Danh) Kho chứa. ◎Như: thiên thương vạn tương 千倉萬箱 ngàn vựa muôn kho, ý nói thóc nhiều lắm. (Danh) Chái nhà. § Thông sương 廂. (Danh) Lượng từ: thùng, hòm, hộp. ◎Như: lưỡng tương y phục 兩箱衣服 hai rương quần áo, tam tương thủy quả 三箱水果 ba thùng trái cây. § Ghi chú: Ta quen đọc là sương. N/ Chữ 湘 tương, sương xiāng Bộ 85 水 thủy [9, 12] U+6E58 (Danh) Sông Tương. § Ta quen đọc là sương. O/ Chữ 相 tương, tướng xiāng, xiàng Bộ 109 目 mục [4, 9] U+76F8 (Phó) Lẫn nhau (bên này và bên kia qua lại, cùng có ảnh hưởng). ◎Như: hỗ tương 互相 qua lại, tương thị nhi tiếu 相視而笑 nhìn nhau mà cười. ◇Thôi Hộ 崔護: Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng 去年今日此門中, 人面桃花相映紅 (Đề đô thành nam trang 題都城南莊) Năm ngoái vào ngày hôm nay, ở trong cửa này, Mặt nàng cùng với hoa đào phản chiếu nhau thắm một màu hồng. (Phó) Với nhau (kết quả so sánh hai bên). ◎Như: tương dị 相異 khác nhau, tương tượng 相像 giống nhau, tương đắc ích chương相得益彰 thích hợp nhau thì càng rực rỡ, kì cổ tương đương 旗鼓相當 cờ trống ngang nhau (tám lạng nửa cân). (Phó) Cho nhau (qua lại nhưng chỉ có tác động một bên). § Ghi chú: Phó từ biến nghĩa thành đại danh từ: tôi, anh, ông ta, v.v. (tùy theo văn mạch). ◎Như: hà bất tảo tương ngữ? 何不早相語 sao không sớm cho tôi hay? ◇Sưu thần hậu kí 搜神後記: Nãi ngữ lộ nhân vân: Dĩ cẩu tương dữ 乃語路人云: 以狗相與 (Quyển cửu) Bèn nói với người đi đường: Cho anh con chó này. ◇Hậu Hán Thư 後漢書: Mục cư gia sổ niên, tại triều chư công đa hữu tương thôi tiến giả 穆居家數年, 在朝諸公多有相推薦者 (Chu Nhạc Hà liệt truyện 朱樂何列傳) (Chu) Mục ở nhà mấy năm, tại triều đình có nhiều người tiến cử ông ta. (Danh) Chất, bản chất. ◇Thi Kinh 詩經: Kim ngọc kì tương 金玉其相 (Đại nhã 大雅, Vực bốc 棫樸) Chất như vàng ngọc. Một âm là tướng. (Danh) Dung mạo, hình dạng. ◎Như: phúc tướng 福相 tướng có phúc, thông minh tướng 聰明相 dáng dấp thông minh. ◇Tây du kí 西遊記: (Tôn Hành Giả) hiện liễu bổn tướng (孫行者)現了本相 (Đệ tam thập ngũ hồi) (Tôn Hành Giả) hiện ra hình dạng thật của mình. (Danh) Chức quan tướng cầm đầu cả trăm quan. ◎Như: tể tướng 宰相, thừa tướng 丞相, tướng quốc 相國. (Danh) Tên chức quan có từ đời Hán, tương đương chức thái thú một quận. (Danh) Người giúp lễ. § Ngày xưa tiếp khách, cử một người giúp lễ gọi là tướng. (Danh) Người dẫn dắt kẻ mù lòa. ◇Tuân Tử 荀子: Nhân chủ vô hiền, như cổ vô tướng 人主無賢, 如瞽無相 (Thành tướng 成相) Bậc làm chúa không có người hiền tài (giúp đỡ), thì cũng như kẻ mù lòa không người dẫn dắt. (Danh) Tên một nhạc khí thời xưa, giống như trống, đánh lên để giữ nhịp chung. (Danh) Tiếng hát giã gạo. ◇Lễ Kí 禮記: Lân hữu tang, thung bất tướng 鄰有喪, 舂不相 (Khúc lễ thượng 曲禮上). (Danh) Chỉ vợ. (Danh) Hình chụp. ◇Lỗ Tấn 魯迅: Giá trương tướng chiếu đích ngận hảo 這張相照的很好 (Trí mẫu thân 致母親). (Danh) Trên cột tay đàn tì bà có bốn hoặc sáu khối làm bằng ngà voi, sừng trâu, gỗ hồng... dùng để xác định âm vị. (Danh) Tên riêng chỉ tháng bảy âm lịch. (Danh) Sao Tướng. (Danh) (Thuật ngữ Phật giáo) Chỉ hình trạng bên ngoài sự vật. (Danh) Họ Tướng. (Động) Xem, coi, thẩm xét. ◇Tả truyện 左傳: Lượng lực nhi hành chi, tướng thì nhi động 量力而行之, 相時而動 (Ẩn Công thập nhất niên 隱公十一年) Lượng sức và xem thời cơ mà hành động. (Động) Xem để đoán lành xấu phúc họa. ◇Sử Kí 史記: Tướng quân chi diện, bất quá phong hầu, hựu nguy bất an 相君之面, 不過封侯, 又危不安 (Hoài Âm Hầu liệt truyện 淮陰侯列傳) Coi tướng diện ngài, thì chỉ phong hầu là cùng, mà lại bấp bênh chứ không yên vững. (Động) Giúp đỡ, phụ trợ. ◎Như: tướng phu giáo tử 相夫教子 giúp chồng dạy con. ◇Phù sanh lục kí 浮生六記: Tuyệt xứ phùng sanh, diệc khả vị cát nhân thiên tướng hĩ 絕處逢生, 亦可謂吉人天相矣 (Khảm kha kí sầu 坎坷記愁) Chỗ đường cùng gặp lối thoát, cũng có thể bảo rằng trời giúp người lành vậy. (Động) Cho làm tướng. (Động) Kén chọn. ◎Như: tướng du 相攸 kén nơi đáng lấy làm chồng. ◇Tam quốc diễn nghĩa 三國演義: Lương cầm tướng mộc nhi tê, hiền thần trạch chủ nhi sự 良禽相木而棲, 賢臣擇主而事 (Đệ lục thập ngũ hồi) Chim khôn lựa cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ. (Động) Cai quản, cầm đầu, cai trị. ◇Liễu Tông Nguyên 柳宗元: Thị túc vi tá thiên tử, tướng thiên hạ pháp hĩ 是足為佐天子, 相天下法矣, 物莫近乎此也 (Tử Nhân truyện 梓人傳) Là đủ để phò vua, cai quản phép tắc của thiên hạ vậy. 1. [隱相] ẩn tướng 2. [倒履相迎] đảo lí tương nghênh 3. [同惡相濟] đồng ác tương tế 4. [同惡相助] đồng ác tương trợ 5. [同病相憐] đồng bệnh tương liên 6. [白衣卿相] bạch y khanh tướng 7. [蚌鷸相持] bạng duật tương trì 8. [寶相] bảo tướng 9. [不相得] bất tương đắc10. [不相干] bất tương can 11. [不相能] bất tương năng 12. [布衣卿相] bố y khanh tướng 13. [卜相] bốc tướng 14. [拜相] bái tướng 15. [皮相] bì tướng 16. [骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 17. [骨相] cốt tướng 18. [窮相] cùng tướng 19. [針芥相投] châm giới tương đầu 20. [真相] chân tướng 21. [照相] chiếu tướng 22. [宮相] cung tướng 23. [名相] danh tướng 24. [面面相窺] diện diện tương khuy 25. [互相] hỗ tương 26. [旗鼓相當] kì cổ tương đương 27. [內相] nội tướng 28. [相對] tương đối 29. [相腳頭] tương cước đầu 30. [相配] tương phối 31. [相關] tương quan 32. [首相] thủ tướng 33. [丞相] thừa tướng O/Chữ 將 tương, tướng, thương将 jiāng, jiàng, qiāng Bộ 41 寸 thốn [8, 11] U+5C07 (Phó) Sẽ, có thể. ◇Luận Ngữ 論語: Quý Thị tương phạt Chuyên Du 季氏將伐顓臾 (Quý thị 季氏) Họ Quý có thể sẽ đánh nước Chuyên Du. (Phó) Sắp, sắp sửa. ◎Như: tương yếu 將要 sắp sửa. ◇Luận Ngữ 論語: Điểu chi tương tử, kì minh dã ai; nhân chi tương tử, kì ngôn dã thiện 鳥之將死, 其鳴也哀; 人之將死, 其言也善 (Thái Bá 泰伯) Con chim sắp chết, tiếng kêu bi ai; người ta sắp chết, lời nói tốt lành. (Phó) Gần (số lượng). ◇Mạnh Tử 孟子: Tương ngũ thập lí dã 將五十里也 (Đằng Văn Công thượng 滕文公上) Gần năm mươi dặm. (Phó) Vừa, vừa mới. ◎Như: tương khốc tựu tiếu 將哭就笑 vừa mới khóc đã cười, tha tương tiến môn một nhất hội nhi 他將進門沒一會兒 anh ta vừa mới vào cửa không bao lâu. (Động) Tiến bộ, tiến lên. ◇Thi Kinh 詩經: Nhật tựu nguyệt tương 日就月將 (Chu tụng 周頌, Kính chi 敬之) (Mong) ngày tháng được thành công, tiến bộ. (Động) Cầm, giữ, đem. ◎Như: tương tửu lai 將酒來 đem rượu lại. (Động) Giúp đỡ, phù trợ. ◇Thi Kinh 詩經: Lạc chỉ quân tử, Phúc lí tương chi 樂只君子, 福履將之 (Chu nam 周南, Cù mộc 樛木) Vui thay bậc quân tử (bà Hậu Phi), Phúc lộc sẽ giúp đỡ bà. (Động) Nghỉ, nghỉ ngơi. ◎Như: tương dưỡng 將養 an dưỡng, nghỉ ngơi. ◇Lí Thanh Chiếu 李清照: Sạ noãn hoàn hàn thì hậu, tối nan tương tức 乍暖還寒時候, 最難將息 (Tầm tầm mịch mịch từ 尋尋覓覓詞) Thời tiết chợt ấm rồi lại lạnh, thật khó mà nghỉ ngơi được. (Động) Tiễn đưa. ◇Thi Kinh 詩經: Chi tử vu quy, Bách lượng tương chi 之子于歸, 百兩將之 (Triệu nam 召南, Thước sào 鵲巢) Cô ấy về nhà chồng, Trăm cỗ xe đưa tiễn. (Động) Làm, tiến hành. ◎Như: thận trọng tương sự 慎重將事 cẩn thận làm việc. (Động) Chiếu tướng (đánh cờ tướng). ◎Như: ngã giá nhất bộ trừu xa, hạ nhất bộ tựu yếu tương liễu 我這一步抽車, 下一步就要將了 tôi một bước rút con xe, hạ xuống một bước thế là chiếu tướng! (Động) Nói khích. ◎Như: thoại tương tha 話將他 nói khích anh ta. (Giới) Lại, đi. § Dùng như bả 把. ◎Như: tương hoa sáp hảo 將花插好 cắm hoa vào, tương môn quan hảo 將門關好 đóng cửa lại. (Giới) Lấy, đem. § Dùng như dĩ 以. ◎Như: tương công chiết tội 將功折罪 lấy công bù tội. ◇Chiến quốc sách 戰國策: Tô Tần thủy tương liên hoành thuyết Tần Huệ Vương 蘇秦始將連橫說秦惠王 (Tần sách nhất) Tô Tần mới đầu đem (chủ trương) liên hoành thuyết phục Tần Huệ Vương. (Liên) Với, và. ◇Dữu Tín 庾信: Mi tương liễu nhi tranh lục, Diện cộng đào nhi cạnh hồng 眉將柳而爭綠, 面共桃而競紅 (Xuân phú 春賦) Mi với liễu tranh xanh, Mặt cùng đào đua hồng. (Liên) Vừa, lại. ◎Như: tương tín tương nghi 將信將疑 vừa tin vừa ngờ (nửa tin nửa ngờ). (Trợ) Đặt sau động từ, dùng chung với tiến lai 進來, khởi lai 起來, tiến khứ 進去: nào, đi, lên. ◎Như: đả tương khởi lai 打將起來 đánh đi nào, khốc tương khởi lai 哭將起來 khóc lên đi. Một âm là tướng. (Danh) Người giữ chức cao trong quân. ◎Như: đại tướng 大將, danh tướng 名將, dũng tướng 勇將. (Động) Chỉ huy, cầm đầu. ◎Như: Hàn Tín tướng binh, đa đa ích thiện 韓信將兵, 多多益善 Hàn Tín chỉ huy quân, càng đông càng tốt. Một âm là thương. (Động) Xin, mời, thỉnh cầu. ◇Thi Kinh 詩經: Thương tử vô nộ 將子無怒 (Vệ phong 衛風, Manh 氓) Mong anh đừng giận dữ. 1. [陰將] âm tướng 2. [大將] đại tướng 3. [敗將] bại tướng 4. [部將] bộ tướng 5. [主將] chủ tướng 6. [諸將] chư tướng 7. [戰將] chiến tướng 8. [名將] danh tướng 9. [勇將] dũng tướng 10. [卿將] khanh tướng 11. [健將] kiện tướng 12. [儒將] nho tướng 13. [裨將] tì tướng14. [將領] tướng lĩnh 15. [將將] tướng tướng, thương thương 16. [將來] tương lai 17. [上將] thượng tướng 18. [中將] trung tướng P/Chữ 蔣 tương, tưởng蒋 jiǎng, jiāng Bộ 140 艸 thảo [11, 15] U+8523 (Danh) Tên cây, tức giao bạch 茭白. Một âm là tưởng. (Danh) Nước Tưởng, thời Xuân Thu. Nay thuộc Hà Nam. (Danh) Họ Tưởng. Các từ ghép bao gồm 24. [倒履相迎] đảo lí tương nghênh 25. [同惡相濟] đồng ác tương tế 26. [同惡相助] đồng ác tương trợ 27. [同病相憐] đồng bệnh tương liên 28. [蚌鷸相持] bạng duật tương trì 29. [不相得] bất tương đắc 30. [不相干] bất tương can31. [不相能] bất tương năng 32. [骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 33. [針芥相投] châm giới tương đầu 34. [面面相窺] diện diện tương khuy 35. [互相] hỗ tương 36. [旗鼓相當] kì cổ tương đương 37. [相對] tương đối 38. [湘潭] tương đàm 39. [相腳頭] tương cước đầu 40. [將來] tương lai 41. [相配] tương phối 42. [相關] tương quan Trong toàn bộ liệt kê các từ TƯƠNG, chúng ta hoàn toàn không tìm ra được một từ TƯƠNG mang ý nghĩa của TƯƠNG SINH. II/ SINH – SANH Chúng ta chỉ xét 1 từ SINH CHỮ 生 sanh, sinh shēng Bộ 100 生 sinh [0, 5] U+751F (Động) Ra đời, nẩy nở, lớn lên. ◇Thi Kinh 詩經: Ngô đồng sanh hĩ, Vu bỉ triêu dương ˙梧桐生矣, 于彼朝陽 (Đại nhã 大雅, Quyển a 卷阿) Cây ngô đồng mọc lên, Ở bên phía đông trái núi kia. (Động) Đẻ ra, nuôi sống. ◎Như: sanh tử 生子 đẻ con. ◇Bạch Cư Dị 白居易: Toại lệnh thiên hạ phụ mẫu tâm, Bất trọng sanh nam trọng sanh nữ 遂令天下父母心, 不重生男重生女 (Trường hận ca 長恨歌) Làm cho lòng các bậc cha mẹ trong thiên hạ, (Không coi trọng) không ham đẻ con trai nữa, mà coi trọng sự sinh con gái. (Động) Làm ra, gây ra, sản xuất. ◎Như: sanh bệnh 生病 phát bệnh, sanh sự 生事 gây thêm chuyện, sanh lợi 生利 sinh lời. (Động) Sống còn. ◎Như: sanh tồn 生存 sống còn, sinh hoạt 生活 sinh sống. (Động) Chế tạo, sáng chế. ◎Như: sanh xuất tân hoa dạng 生出新花樣 chế tạo ra được một dạng hoa mới. (Danh) Sự sống, đời sống. ◇Luận Ngữ 論語: Tử sanh hữu mệnh, phú quý tại thiên 死生有命, 富貴在天 (Nhan Uyên 顏淵) (Sự) sống chết có số, phú quý do trời. (Danh) Lượng từ: đời, kiếp. ◎Như: tam sanh nhân duyên 三生姻緣 nhân duyên ba đời, nhất sanh nhất thế 一生一世 suốt một đời. (Danh) Mạng sống. ◎Như: sát sinh 殺生 giết mạng sống, táng sinh 喪生 mất mạng. (Danh) Chỉ chung vật có sống. ◎Như: chúng sanh 眾生, quần sanh 群生. (Danh) Nghề để kiếm sống, việc làm để kiếm sống. ◎Như: mưu sanh 謀生 nghề kiếm sống, vô dĩ vi sanh 無以為生 không có gì làm sinh kế. (Danh) Người có học, học giả. ◎Như: nho sanh 儒生 học giả. (Danh) Học trò, người đi học. ◎Như: môn sanh 門生 đệ tử, học sanh 學生 học trò. (Danh) Vai trong trong hí kịch. ◎Như: tiểu sanh 小生 vai kép, lão sanh 老生 vai ông già, vũ sanh 武生 vai võ. (Danh) Họ Sinh. (Tính) Còn sống, chưa chín (nói về trái cây). ◎Như: sanh qua 生瓜 dưa xanh. ◇Thủy hử truyện 水滸傳: Hữu sanh thục ngưu nhục, phì nga, nộn kê 有生熟牛肉, 肥鵝, 嫩雞 (Đệ thập nhất hồi) Có thịt bò chín và tái, ngỗng béo, gà non. (Tính) Còn sống, chưa nấu chín (nói về thức ăn). ◎Như: sanh nhục 生肉 thịt sống, sanh thủy 生水 nước lã. (Tính) Lạ, không quen. ◎Như: sanh nhân 生人 người lạ, sanh diện 生面 mặt lạ, mặt không quen, sanh tự 生字 chữ mới (chưa học). (Tính) Chưa rành, thiếu kinh nghiệm. ◎Như: sanh thủ 生手 người làm việc còn thiếu kinh nghiệm. (Tính) Chưa luyện. ◎Như: sanh thiết 生鐵 sắt chưa tôi luyện. (Phó) Rất, lắm. ◎Như: sanh phạ 生怕 rất sợ, sanh khủng 生恐 kinh sợ. (Trợ) Tiếng đệm câu. ◇Truyền đăng lục 傳燈錄: Hoàng Bách vấn vân: Nhữ hồi thái tốc sanh? Sư vân: Chỉ vi lão bà tâm thiết黃蘗問云: 汝迴太速生? 師云: 只為老婆心切 (Trấn Châu Lâm Tế Nghĩa Huyền thiền sư 鎮州臨濟義玄禪師) Hoàng Bá hỏi: Sao lại về nhanh thế? Sư trả lời: Vì thầy có lòng thương xót như bà nội. § Ghi chú: Ta quen đọc là sinh. 1. [蔭生] ấm sinh, ấm sanh 2. [誕生] đản sinh, đản sanh 3. [塗炭生民] đồ thán sinh dân 4. [同生共死] đồng sanh cộng tử 5. [白面書生] bạch diện thư sanh 6. [稟生] bẩm sanh, bẩm sinh 7. [本生] bổn sinh 8. [捕生] bộ sinh 9. [百花生日] bách hoa sinh nhật 10. [半生半熟] bán sinh bán thục 11. [平生] bình sinh, bình sanh 12. [貢生] cống sanh, cống sinh 13. [救生] cứu sinh 14. [九死一生] cửu tử nhất sinh 15. [個人衛生] cá nhân vệ sinh 16. [更生] cánh sinh 17. [公共衛生] công cộng vệ sinh 18. [怎生] chẩm sanh 19. [眾生] chúng sanh, chúng sinh 20. [諸生] chư sanh, chư sinh 21. [佾生] dật sinh 22. [養生] dưỡng sanh 23. [好生] hảo sinh, hiếu sinh 24. [學生] học sinh 25. [回生] hồi sanh 26. [化生] hóa sanh, hóa sinh 27. [寄生] kí sanh 28. [今生] kim sanh, kim sinh 29. [來生] lai sanh, lai sinh 30. [廩生] lẫm sanh31. [老蚌生珠] lão bạng sinh châu 32. [陌生] mạch sanh 33. [一生] nhất sanh, nhất sinh 34. [人生朝露] nhân sanh triêu lộ 35. [人生觀] nhân sinh quan 36. [人生] nhân sinh, nhân sanh 37. [儒生] nho sanh 38. [生育] sanh dục 39. [生計] sanh kế 40. [生氣] sanh khí, sinh khí41. [生靈] sanh linh 42. [生產] sanh sản, sinh sản 43. [生肖] sanh tiếu 44. [畜生] súc sinh 45. [初生] sơ sanh 46. [生意] sinh ý 47. [生機] sinh cơ 48. [生活] sinh hoạt, sanh hoạt 49. [生薑] sinh khương 50. [生理] sinh lí 51. [生涯] sinh nhai, sanh nhai 52. [哉生明] tai sinh minh 53. [哉生魄] tai sinh phách 54. [三生] tam sanh, tam sinh 55. [畢生] tất sinh, tất sanh 56. [四生] tứ sinh, tứ sanh 57. [再生] tái sanh58. [喪生] táng sinh 59. [鯫生] tưu sanh 60. [蒼生] thương sinh 61. [先生] tiên sanh, tiên sinh 62. [全生] toàn sinh, toàn sanh 63. [衛生] vệ sanh, vệ sinh 64. [往生] vãng sanh 65. [無國界醫生組織] vô quốc giới y sinh tổ chức 66. [無生] vô sinh 67. [出生] xuất sanh, xuất sinh III/ KHẮC Chúng ta chỉ xét 1 từ KHẮC CHỮ 克 khắc 剋 kè (Động) Đảm đương, gách vác. ◇Lưu Vũ Tích 劉禹錫: Thường cụ bất khắc phụ hà, dĩ thiểm tiền nhân 常懼不克負荷, 以忝前人(Vị Đỗ tư đồ tạ tứ truy tặng biểu 為杜司徒謝賜追贈表) Thường lo sợ không đảm đương gánh vác nổi, làm nhục tiền nhân. (Động) Được, chiến thắng. ◎Như: khắc địch 克敵 chiến thắng quân địch. (Động) Kiềm chế, ước thúc. ◎Như: khắc phục 克復 ước thúc, làm chủ được. ◇Luận Ngữ 論語: Khắc kỉ phục lễ vi nhân 克己復禮為仁 (Nhan Uyên 顏淵) Kiềm chế được chính mình (tư dục) mà trở về lễ (đạo li) là đạt được đức Nhân. (Động) Hạn định, ước định, hẹn. ◎Như: khắc kì động công 克期動工 hẹn định thời kì khởi công. (Động) Khấu trừ. ◇Thủy hử truyện 水滸傳: Quả nhân ngự tứ chi tửu, nhất bình khắc giảm bán bình 寡人御賜之酒, 一瓶克減半瓶 (Đệ bát thập tam hồi) Rượu vua ban cho quả nhân, một bình khấu trừ nửa bình. (Động) Tiêu hóa. ◎Như: đa cật thủy quả năng khắc thực 多吃水果能克食 uống nhiều nước quả thật giúp cho tiêu hóa. (Danh) Lượng từ: gam (tiếng Anh "gram"). ◎Như: nhất khắc đẳng ư thiên phân chi nhất công cân 一克等於千分之一公斤 một gam bằng một phần ngàn kí-lô. (Phó) Có thể. ◎Như: bất khắc phân thân 不克分身 không thể sẻ thân ra được. 1. [不克] bất khắc 2. [克己] khắc kỉ 3. [克己主義] khắc kỉ chủ nghĩa 4. [克服] khắc phục 5. [坦克車] thản khắc xa 6. [捷克] tiệp khắc 7. [巧克力] xảo khắc lực 8. [伊拉克] y lạp khắc Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy, từ ghép Tương Sinh và Tương Khắc không có trong ngôn ngữ Trung Hoa mà họ chỉ giải nghĩa hai từ ghép này thông qua thuật ngữ Ngũ Hành thuật số tức là trong ngôn ngữ thì họ lấy hiện tượng để giải nghĩa cho từ . Tuy nhiên đối với Ngôn Ngữ Việt thì lại hoàn toàn khác, Ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt ý nghĩa và từ ghép Tương Sinh, Tương Khắc trong tiếng Việt lại không phải là SINH ra hay KHẮC chế theo như nghĩa Hán-Việt. Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Lãn Miên, từ Tương Sinh trong tiếng Việt biểu đạt giống như hai cực nam châm khác dấu hút nhau. Tức là cùng hỗ trợ -bù đắp lẫn cho nhau, bổ trợ và thu hút nhau. Sinh khắc thì ngược lại, giống như hai cực nam châm cùng dấu, là cản trở , giảm bớt nhau, không hỗ trợ cho nhau. Xin trích phần bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Thiên Sứ/ Nguyễn Vũ Diệu) về khái niệm ngũ hành: Trích dẫn: ["NGÔN NGỮ VIỆT VÀ BẢN CHẤT KHÁI NIỆM NGŨ HÀNH. 1/ Hành Kim: Khi tiếng Việt nói KIM để mô tả một hành trong Ngũ hành thì phân biệt rất rõ với từ "kim LOẠI". Khái niệm "Kim loại" trong tiếng Việt, đồng nghĩa với khái niệm kim loại trong ngôn ngữ hiện đại. Nhưng khái niệm "KIM" mà ngôn ngữ Việt mô tả hành "KIM' trong Ngũ hành thì hoàn toàn khác hẳn khái niệm "Kim loại'. Từ KIM trong tiếng Việt, không có nghĩa là "Đồng" trong tiếng Hán, và sau đó chỉ có nghĩa là "vàng" (Như chính bài "phản đối" của Trùng Dương Mai viết ở trên và ngay trong bài viết này). Từ KIM trong tiếng Việt cũng không đồng nghĩa với "kim loại". Nhưng nó đồng nghĩa với cây KIM, cái KIM, trong "se chỉ, luồn KIM"; "kim chỉ", Và hình tương "cây kim", "cái kim" trong ngôn ngữ Việt, chính là một HÌNH TƯỢNG mô tả khái niệm về thuộc tính của hành KIM trong Ngũ hành của tiếng Việt, mà chính những cổ thư chữ Hán đã nói tới, là: "Kim": "Nhọn sắc, cứng, mạnh". Rõ ràng, từ KIM - đồng nghĩa với "KIM, chỉ" trong tiếng Việt, mô tả một thuộc tính của một dạng vật chất có khả năng phân loại những cấu trúc và cả sự vận đông của những cấu trúc vật chất có cùng thuộc tính. Chứ không phải mô tả một sự một cấu trúc vật chất cụ thể như trong tiếng Hán, là: Đồng, vàng. 2/ Hành Thủy. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng THỦY, để mô tả hành Thủy trong Ngũ hành, không đồng nghĩa với "nước". Ngược lại, trong tiếng Hán thì 水 > shuǐ (Suẩy) là một từ chung về cả ký tự đều mô tả là "nước". Trong tiếng Việt, từ "THỦY" và "nước" phát âm hoàn toàn khác nhau, ký tự cũng hoàn toàn khác. Cho nên, trong tiếng Việt, khí nói đến "THỦY KHÍ" thì nội hàm khái niệm không thể tương tự là "Khí của nước". Nhưng trong tiếng Hán và ký tự Hán thì chỉ có thể hiểu theo một nghĩa duy nhất là "khí của nước". Ví dụ, cổ thư chữ Hán viết trong "Hồng Phạm cứu trù": Trù thứ nhất, gồm: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim. Thổ. 1.五行,即:水、火、木、金、土. Rõ ràng trong tiếng Hán chỉ có một từ duy nhất, ký tự 水, mà họ đọc là "Suẩy", có nghĩa là "NƯỚC" trong tiếng Việt. Còn tiếng Việt khí mô tả hành THỦY trong Ngũ hành, đọc là "THỦY", và "NƯỚC" hoàn toàn phân biệt khác nhau. Thí dụ, tiếng Hán viết: 引 水 入 田 . Âm Việt Nho đọc: "Dẫn thủy nhập điền". Tiếng Việt với khái niệm tương tự là "Đưa nước vào ruộng". Tương tự như vậy, nếu dịch ra những ngôn ngữ khác phi Hán - kể cả tiếng Việt - thì tất cả các ngôn ngữ phi Hán, đều hiểu - qua tiếng Hán, khi mô tả Ngũ hành - thì ký tự 水, đọc là "Suẩy" có nghĩa là "nước". Hay nói một cách khác: Tiếng Hán, khi mô tả ngũ hành thì ký tự 水, đồng nghĩa với khái niệm "nước" trong tiếng Việt và các ngôn ngữ liên quan. Và đó là từ mô tả một dạng vật chất có cấu trúc cụ thể là "nước", Khoa học hiện đại mô tả cấu trúc vật chất cụ thể là H2O. Nhưng trong tiếng Việt không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt: "THỦY" là "Nước" được. Vì trong tiếng Việt THỦY & NƯỚC, phát âm và chữ viết khác nhau - và mặc dù, nếu dịch ra tiếng Hán thì chung một ký tự 水. Vì trong tiếng Việt, "NƯỚC" chỉ là hình tượng mô tả "THỦY". Cũng như: Nói "Mẫu Thoải" (Thủy) trong tiếng Việt, không thể hiểu là "mẹ của nước", hoặc "Mẹ nước". Mà trong ngôn ngự Việt khi nói "Mẫu Thoải (Thủy)" , cần hiểu rằng nguồn gốc của Thủy. Tôi đã phân tích hình tượng "Tam tòa thánh Mẫu" trong tín ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam, liên quan đến Kinh Dịch Lạc Việt và thuyết Ngũ hành. Trong đó: Mẫu Thượng Thiên áo trắng (Thuộc Kim. Đoài/ Tốn), Mẫu Đệ nhất Áo Đỏ (Quái Khôn). Và Mẫu Thoải (Thủy) áo Xanh biển (Xanh Dương, xanh da trời), trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" (Nxb Tri Thức . 2014). 3/ Hành Mộc. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng MỘC, phát âm và ký tự khác hẳn "gỗ" , "cây", "cỏ". Còn trong tiếng Hán thì chỉ có ký tự 木, tương đương và đồng nghĩa với khái niệm "cây" trong tiếng Việt. Thí dụ: 草木 . Từ Việt Nho là "Thảo MỘC", nghĩa là "CÂY cỏ". Tóm lại, ký tự cây trong tiếng Hán 木 đọc là Mủ, tức là một cấu trúc vật chất cụ thể, có nghĩa tương đương tiếng Việt - và các ngôn ngữ khác - là 'CÂY'. Tiếng Việt Nho là đọc và ký tự trong tiếng Việt là MỘC, để mô tả hành MỘC trong Ngũ Hành, còn để chỉ "thợ MỘC" và không thể nhầm lẫn với "thợ cây", hoặc trong tiếng Việt khi nói "Việc THỔ MỘC" thì hiểu rằng: đó là việc liên quan đến xây, cất nhà cửa. Không ai hiểu là việc của "cây, đất" cả. Vì trong tiếng Việt, đây là những ngôn từ với ký tự khác nhau. 4/ Hành Hỏa. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng HỎA, phát âm và ký tự khác hẳn "lửa". Trong tiếng Hán, từ "lửa" (Hỏa) chỉ dùng một ký tự 火, Trong tiếng Việt, âm Việt Nho là "HỎA", và khác hẳn về âm và ký tự với "LỬA". Tức là tiếng Hán với ký tự 火 đọc là "hủa", chỉ để mô tả một trạng thái vật chất cụ thể tồn tại. Từ 火 trong tiếng Hán dù dịch ra ngôn ngữ nào, cũng tương đương khái niệm Việt là "LỬA" và không phải là khái niệm HỎA trong tiếng Việt khi mô tả một hành trong Ngũ Hành. 5/ Hành Thổ. Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng THỔ, phát âm và ký tự khác hẳn "Đất". Ngược lại, trong tiêng Hán, để mô tả khái niệm tương đương khái niệm "Đất" trong tiếng Việt, chỉ có một ký tự 土, đọc là "Thủ". Thí dụ: "Đất nước" trong ký tự tiếng Hán, là 國土; hoặc như các từ sau: “niêm thổ” 黏土 đất thó, đất sét, “sa thổ” 沙土 đất cát, “nê thổ” 泥土 đất bùn. Tóm lại, trong tiếng Hán, ký tự THỔ dùng trong Ngũ hành và mô tả khái niệm tương đương "Đất" trong tiếng Việt - và các ngôn ngữ khác - là như nhau. Nhưng trong tiếng Việt, ký tự THỔ dùng trong Ngũ hành và các ứng dụng trong ngôn ngữ Việt khác như: "THỔ trạch" "Liền Thổ" và khái niệm "Đất" và "sát ĐẤT" khác hẳn nhau. Qua sự mô tả ở trên, thi thấy rất rõ ràng, rằng: Các ký tự Hán mô tả Ngũ hành: 金; 木; 水; 火;土 Được hiểu tương tự khái niệm: "VÀNG, CÂY, NƯỚC, LỬA, ĐẤT" trong tiếng Viêt và các ngôn ngữ khác. Tức là nó mô tả các trạng thái cấu trúc vật chất rất cụ thể tồn tại trên Địa Cầu. Khác hẳn cách phát âm và ký tự của ngôn ngữ Việt mô tả ngũ hành: KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ. Mặc dù từ Việt Nho - Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ này, đều có ký tự tương đương trong tiếng Hán. Nhưng trong tiếng Việt thì nghĩa của chúng khác hẳn ký tự tương đương trong tiếng Hán. Trong tiếng Việt, các từ KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ một tả năm trạng thái và THUỘC TÍNH VẬN ĐỘNG VÀ TƯƠNG TÁC CỦA DẠNG CẤU TRÚC VẬT CHẤT CƠ BẢN, CÓ THỂ PHÂN LOẠI TRONG KHÔNG - THỜI GIAN. Do đó, với các nhà nghiên cứu ở các dân tộc phi Hán - kể cả Việt Nam - nếu mặc định thuyết Âm Dương Ngũ hành của người Hán và hiểu theo cách hiểu của người Hán thì sẽ dẫn tới nhầm lẫn khái niệm về bản chất thật của khái niệm Ngũ hành. Bởi vì, bản chất khái niệm KIM, MỘC THỦY HỎA THỔ theo tiếng Việt là khái niệm hệ quả của tư duy tổng hợp trừu tượng, nhận thức 5 trạng thái THUỘC TÍNH cấu trúc vật chất có tính phân loại, cho tất cả mọi hiện tượng vận đông và tương tác của toàn thể cấu trúc vật chất trong vũ trụ, và trong không/ thời gian. Còn trong tiếng Hán không thể hiện được điều này. Và tiếng Hán, tự nó xác định sự xuất hiện của "VÀNG, CÂY, NƯỚC, LỬA, ĐẤT" - là định tính cấu trúc vật chất cụ thể, đã có trong những giai đoạn đầu tiên của vũ trụ?!? Bởi vậy, nếu các từ KIM, MỘC THỦY HỎA THỔ mô tả NGŨ HÀNH trong tiếng Việt - thì khi dịch ra tiếng nước ngoài thì buộc phải để nguyên văn và diễn giải, chú thích. Chứ không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt : "Kim là vàng, là đồng", Thủy là nước....được. Vì chính tiếng Việt đã có từ tương đương: "KIM > "Cô gái se chỉ, luồn Kim";" "THỦY> Thủy quân bơi dưới nước"; "MỘC> Thợ MỘC, đốn cây, lấy gỗ"; ""HỎA> Hỏa đầu quân dùng súng phun lửa, để đốt..."; "THỔ> Sổ Địa bạ ghi THỔ trạch, có diện tích ĐẤT'....vv...và...vv...Những thí dụ trên cho thấy: Không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt những từ trên. Và tiếng Hán với ký tự Hán sẽ rất buồn cười. Vì xác định khái niệm Ngũ hành và quán xét từ nền văn hiến Việt với sự xác định : Nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông Phương, nên tôi mới xác định ngũ hành là 5 yếu tố phân loại THUỐC TÍNH VẬN ĐỘNG &TƯƠNG TÁC CỦA VẬT CHẤT TRONG KHÔNG THỜI GIAN. Chính điều này, đã dẫn tôi đến sự xác định rằng: Hệ thống Nghịch lý toán học hiện đại Cantor hoàn toàn chính xác. Ngũ hành phân loại cả thời gian, chính bởi yếu tố phân loại các thuộc tính vận động, tương tác của vật chất trong không thời gian đó"]. HẾT trích dẫn Chúng ta có thể nhận thấy rằng, Ngũ Hành KHÔNG phải là định danh của 5 loại vật chất mà đây là 5 hệ thuộc tính vận động và tương tác. Để giải thích vì sao KIM lại sinh THỦY, không thể lý giải nếu như chúng ta qui ước KIM và THỦY là hai loại vật chất. Bởi Thủy vật chất là Nước thì không thể được sinh ra từ KIM là kim loại. Chúng ta cũng không thể dùng hệ bát quái tức là lấy quái Càn là Kim, là Trời để lý giải TRỜI sinh ra Mưa , là nước vì Nếu vậy thì quái Càn cũng là Trời, là Cha, là Con ngựa già,… Vậy Con ngựa già hay người Cha thì cũng SINH được ra Mưa – là sinh Thủy – Nước ???? Hệ thống bát quái không thể dùng để mô tả trạng thái NGũ Hành bởi Ngũ Hành là bản nguyên trong khi đó Bát quái là hệ thống phân loại chi tiết vạn vật. Nếu coi Mộc là vật chất tức là Gỗ, Cây thì nếu theo định nghĩa về TƯƠNG SINH của cổ thư Hán , chúng ta không thể lý giải được vì sao Thủy –Nước lại SINH ra được cây Gỗ ? Với định nghĩa về Ngũ Hành Sinh Khắc của cổ thư Hán, như trong cuốn Tam mệnh thông hội thì SINH là Sinh theo nghĩa 生 sanh, sinh (shēng) thì không có cách nào lại lý giải được từ SINH lại là “Có thủy ẩm ướt thì cây cối càng sinh trưởng tươi tốt” , hay Kim sinh thủy: “ Kim ở nhiệt độ cao nóng chảy thành thể lỏng, hoặc thủy cần nhờ cậy vào đồ vật bằng sắt mới khơi đường lưu thông” ??? vậy thì Thủy là NƯỚC sinh ra từ đâu khi kim nung chảy lại chỉ biến thành thể lỏng ? Với Ngũ Hành Tương Sinh- Tương Khắc từ định nghĩa của người Việt thì “Âm dương tương Giao, thiên nhất sinh thủy” , Nước được sinh ra từ sự giao hòa của trời đất, khi mà khí ÂM lên cao (Âm thăng) giao hòa với khí Dương của trời (Dương giáng) tạo ra Nước : hoàn toàn mô tả được quá trình sinh ra Nước trong tự nhiên. Cũng như vậy đối với hệ Nạp Âm cho Lạc thư hoa giáp (theo cổ thư Hán là Lục thập hoa giáp), thì với định nghĩa ngũ hành là 5 yếu tố vật chất sẽ không thể giải thích được các hành nạp âm, ví dụ như “Hải Trung Kim”: Kim này hoàn toàn không có trong phân loại vật chất hiện hữu, không thể tìm và nhìn thấy được Kim loại dưới biển để sinh ra Nước -theo định nghĩa của từ Tương Sinh trong cổ thư Hán. Như vậy từ Tương SINH và Tương Khắc thể hiện rõ ý nghĩa của hiện tượng và hoàn toàn không phải là Sinh ra , và Khắc chế. Trong Ngôn ngữ Việt thì từ ghép Tương Sinh Tương Khắc mô tả sự tương tác qua lại của các yếu tố trong cùng một môi trường tương tác (Từ tương tác cũng không có ý nghĩa trong ngôn ngữ Trung quốc) . Qua đây chúng ta có thể nhận thấy Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc về nền Văn minh Lạc Việt với bề dầy gần 5000 năm lịch sử, đã bị đánh tráo nguồn gốc nên tiếp thu một cách rời rạc và không thể lý giải ngay cả từ ngôn ngữ dùng để định nghĩa cho một sự tương tác. Ngôn ngữ Việt của chúng ta phức tạp và vô cùng phong phú, đa dạng nên hoàn toàn phù hợp để giải thích mọi ý nghĩa, định nghĩa và quan hệ qua lại một cách khoa học và logic về Lý học Đông Phương- Lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà chủ nhân đích thực là nền Văn Minh Lạc Việt 5000 năm lịch sử.
  3. NGÔN NGỮ VIỆT TRONG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH Và TƯƠNG KHẮC Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất vũ trụ, mô tả lịch sử từ hình thành từ giây /O/ của vũ trụ đến mọi quy luật vận động tương tác của mọi dạng tồn tại của vật chất cho đến ngày hôm nay, với khả năng tiên tri. Nó mô tả sự tồn tại của các hạt vật chất nhỏ nhất đến sự vận động của các Thiên hà khổng lồ. giải thích mọi vấn đề và sự kiện, liên quan đến cuộc sống, xã hội và con người với tính qui luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Cho tới ngày nay, chúng ta vẫn ứng dụng và chấp nhận những sự mặc định, tồn tại từ hàng ngàn năm và đa số cho rằng học thuyết đồ sộ này thuộc về nền văn minh Hoa hạ. Tuy nhiên, định nghĩa về Ngũ Hành sinh khắc từ cổ thư chữ Hán còn lưu truyền lại tới nay đều định hướng cho một suy luận sai lệch về Ngũ Hành SINH-KHẮC và một hệ lý thuyết rời rạc, chắp vá dẫn tới tranh cãi không có hồi kết. Trong toàn bộ sách Lý Học, Thuật số thì chúng ta chỉ một định nghĩa hết sức ngắn gọn như sau: Trích: “Ngũ hành chỉ 5 loại vật chất gồm: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ luôn vận động chuyển hóa “Ngũ” trong ngũ hành chỉ 5 loại vật chất cơ bản hoặc nguyên tố cơ bản cấu thành nên thế giới. Kim loại, nước, cây,lửa, và đất. “Hành là chỉ mối liên hệ với nhau trong vận động chuyển hóa của 5 loại vật chất đó” Đây là đoạn trích dẫn từ cuốn “Táng Thư” một trong tứ khố toàn thư do Quách Phác đời Tấn trứ tác, được dịch ra Việt ngữ hiện đang được lưu hành trên các giá sách. Trong cuốn "Tam mệnh thông hội", một cuốn sách trong bộ tứ khố toàn thư đồ sộ, được dịch ra Việt ngữ thì chúng ta có được nhiều thông tin giải thích về Thái Cực, Âm Dương và Ngũ Hành. Tuy nhiên, đúc kết phần Ngũ Hành Sinh khắc chúng ta cũng có được định nghĩa như hình ảnh dưới đây Đây là hai đại diện tiêu biểu cho định nghĩa về Ngũ Hành Sinh Khắc mà tất cả những người đam mê thuật số đều thuộc lòng. Tới đây chúng ta dễ dàng nhận thấy, Ngũ hành theo cổ thư Hán đều được định danh là 5 loại vật chất và từ đó, từ ghép “TƯƠNG SINH –TƯƠNG KHẮC” 五行相生相克 Có được định nghĩa về từ. Tôi có tham khảo một số bạn giỏi tiếng Trung về mặt ngôn ngữ thuần túy thì có được các thông tin sau: Theo bạn có nick face book là Sơn Nguyễn Sơn thì : [ “五行相生相克 từ này trong các sách về thuật số TQ thường đều có ạ. Từ điển không phải tất cả các từ đều có đâu ạ”]. Bạn Ruan Minh: ["Nếu là từ theo tên của ai đó là TƯƠNG SINH thì CHỈ có cách là chọn từng từ để lấy ý nghĩa phù hợp . Ngoài ra nếu TƯƠNG SINH theo hai từ đi liền nhau thì hầu như là từ ghép, mà thường lấy từ tương sinh trong cụm từ :TƯƠNG SINH TƯƠNG KHẮC thì là hai chữ "相生"]. Theo bạn có nịck Facebooj Hai Anh Vu: ["Theo từ điển của họ thì tương sinh chỉ sử dụng trong ngũ hành còn ngoài ra thì không dùng vào hoàn cảnh khác ạ"]. Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Lãn Miên thì không có từ TƯƠNG SINH -TƯƠNG KHẮC trong ngôn ngữ Trung Hoa mà đây là từ ghép của hai từ TƯƠNG và SINH hoặc TƯƠNG VÀ KHẮC. Vậy nên cho dù có thêm chữ TƯƠNG đằng trước từ SINH và KHẮC thì vẫn chỉ hiểu là SINH và KHẮC bởi từ TƯƠNG ko có ý nghĩa khi ghép với từ SINH và KHẮC. Chúng ta sẽ tham khảo ý nghĩa các từ TƯƠNG, SINH và KHẮC theo từ điển Hán –Hán Nôm I/ TƯƠNG Chữ "Tương" trong chữ " tương sinh hay tương khắc như hình ảnh dưới đây. Chữ này bên trái là chữ mộc (là cây hay là 1 trong 5 ngũ hành,...) Bên phải là chữ mục ( là con mắt hay là nhìn,..). Chữ tương này còn có thể đọc là tướng cũng được, chữ này có thể dùng làm phó từ (hỗ tương: 互相 qua lại), danh từ (tể tướng 宰相), hay động từ (tướng du 相攸 kén nơi đáng lấy làm chồng). Vậy là chúng ta có thể thấy, từ TƯƠNG trong tiếng Trung hoàn toàn là từ có tính chất phụ, tức là được thêm vào bởi nó có thể là TƯỚNG trong Tướng quân, hay Tướng trong từ Tể tướng. Trong ngôn ngữ Việt thì Tương là Tương mà Tướng là Tướng, nên từ ghép Tương Sinh có ý nghĩa cụ thể. Còn từ Tương theo ý nghĩa này khi ghép với Sinh vẫn sẽ có ý nghĩa là SINH mà thôi. Các chữ Tương khác trong tự điển: A/ Chữ 驤 tương 骧 xiāng Bộ 187 馬 mã [17, 27] U+9A64 (Danh) Ngựa có chân sau bên phải màu trắng. (Động) Chạy nhanh, nhảy lên. (Động) Ngẩng lên. B/ Chữ 葙 tương xiāng Bộ 140 艸 thảo [9, 13] U+8459 (Danh) Thanh tương 青葙 tục gọi là dã kê quan 野雞冠 hoa mồng gà. C/ Chữ 螿 tương 螀 jiāng Bộ 142 虫 trùng [11, 17] U+87BF (Danh) Hàn tương 寒螿 một loài côn trùng giống như ve sầu nhưng nhỏ hơn D. Chữ 襄 tương xiāng Bộ 145 衣 y [11, 17] U+8944 (Động) Giúp đỡ, phụ tá. ◇Đoạn Ngọc Tài 段玉裁: "Tương: Kim nhân dụng tương vi phụ tá chi nghĩa, danh nghĩa vị thường hữu thử". 襄: 今人用襄為輔佐之義, 名義未嘗有此 (Thuyết văn giải tự chú 說文解字注, Y bộ 衣部). Như: tương trợ 襄助 giúp đỡ, tương lí 襄理 giúp làm. (Động) Bình định. Chương Bỉnh Lân 章炳麟: Xuất xa nhi Hiểm Duẫn tương, Nhung y nhi Quan, Lạc định 出車而玁狁襄, 戎衣而關洛定 (Ngụy Vũ Đế tụng 魏武帝頌). (Động) Hoàn thành, thành tựu. Như: tương sự 襄事 nên việc, xong việc. Tả truyện 左傳: "Táng Định Công. Vũ, bất khắc tương sự, lễ". dã 葬定公. 雨, 不克襄事, 禮也 (Định Công thập ngũ niên 定公十五年). (Động) Tràn lên, tràn ngập. Lịch Đạo Nguyên 酈道元: Ba tương tứ lục, tế ngư bôn bính, tùy thủy đăng ngạn, bất khả thắng kế波襄四陸, 細魚奔迸, 隨水登岸, 不可勝計 (Thủy kinh chú 水經注, Lỗi thủy 耒水). (Động) Trở đi trở lại, dời chuyển. Thi Kinh 詩經: Kì bỉ Chức Nữ, Chung nhật thất tương 跂彼織女, 終日七襄 (Tiểu nhã 小雅, Đại đông 大東) Chòm sao Chức Nữ ba góc, Suốt ngày dời chuyển bảy giờ. (Động) Dệt vải. Hàn Dũ 韓愈: "Đằng thân khóa hãn mạn, Bất trước Chức Nữ tương 騰身跨汗漫, 不著織女襄" (Điệu Trương Tịch 調張籍). (Động) Trừ khử, trừ bỏ. Thi Kinh 詩經: Tường hữu tì, Bất khả tương dã 牆有茨, 不可襄也 (Dung phong 鄘風, Tường hữu tì 牆有茨) Tường có cỏ gai, Không thể trừ khử được. (Danh) Ngựa kéo xe. § Thông tương 驤. Như: thượng tương 上襄 ngựa rất tốt. ◇Thi Kinh 詩經: Lưỡng phục thượng tương, Lưỡng sam nhạn hàng 兩服上襄, 兩驂雁行 (Trịnh phong 鄭風, Thái Thúc ư điền 大叔於田) Hai ngựa thắng hai bên phía trong là thứ ngựa rất tốt, Hai ngựa thắng hai bên phía ngoài như hàng chim nhạn. (Danh) Một phương pháp gieo hạt thời xưa. (Danh) Họ Tương. E/ Chữ 醬 tương酱 jiàng Bộ 164 酉 dậu [11, 18] U+91AC (Danh) Thịt băm nát. § Cũng như hải 醢. (Danh) Thức ăn nghiền nát. Như: quả tương 果醬 món trái cây xay nhuyễn, hoa sanh tương 花生醬 đậu phụng nghiền. (Danh) Món ăn dùng các thứ đậu, ngô, gạo, ngâm ủ nấu gạn, cho muối vào nghiền nát. ◎Như: thố tương 酢醬 tương chua giấm, điềm miến tương 甜麵醬 tương ngọt. (Tính) Đã ướp, ngâm, tẩm (với dầu, muối). Như: tương qua 醬瓜 dưa ướp, tương thái 醬菜 món (rau) ngâm. (Động) Ngâm, ướp, tẩm (thức ăn). G/Chữ 鑲 tương, nhương镶 xiāng, ráng Bộ 167 金 kim [17, 25] U+9472 (Động) Vá, nạm, trám. Như: tương nha 鑲牙 trám răng. Tam quốc diễn nghĩa 三國演義: Bàng khuyết nhất giác, dĩ hoàng kim tương chi 傍缺一角, 以黃金鑲之 (Đệ lục hồi) Bên cạnh (viên ấn ngọc) sứt một góc, lấy vàng trám lại. (Danh) Một loại binh khí thời xưa, giống như kiếm. Một âm là nhương. (Danh) Bộ phận làm mô hình ở trong khuôn đúc đồ đồng, đồ sắt. H/Chữ 緗 tương 缃 xiāng Bộ 120 糸 mịch [9, 15] U+7DD7 (Danh) Lụa vàng nhạt. § Ngày xưa hay dùng để đựng sách hay bao sách, nên gọi sách vở quý báu là phiếu tương 縹緗 hay kiêm tương 縑緗. Quan Hán Khanh 關漢卿: "Độc tận phiếu tương vạn quyển thư" 讀盡縹緗萬卷書 (Đậu nga oan 竇娥冤) Đọc hết sách quý cả vạn cuốn. (Tính) Vàng nhạt. ◇Nhạc phủ thi tập 樂府詩集: Tương khỉ vi hạ quần, Tử khỉ vi thượng nhu 緗綺為下裙, 紫綺為上襦 (Mạch thượng tang 陌上桑) Lụa vàng nhạt làm váy, Lụa tía làm áo ngắn. i/Chữ 纕 tương xiāng, ráng Bộ 120 糸 mịch [17, 23] U+7E95 (Động) Mang, đeo. ◇Khuất Nguyên 屈原: Kí thế dư dĩ huệ tương hề, hựu thân chi dĩ lãm chỉ 既替余以蕙纕兮, 又申之以攬芷 (Li tao 離騷) Bị phế bỏ rồi, ta lấy cỏ bội lan đeo hề, lại còn hái cỏ chỉ. K/ Chữ 漿 tương 浆 jiāng, jiàng Bộ 85 水 thủy [11, 15] U+6F3F (Danh) Chỉ chung chất lỏng sền sệt. ◎Như: đậu tương 豆漿 sữa đậu nành, nê tương 泥漿 bùn loãng. ◇Đỗ Phủ 杜甫: Khu nhi la tửu tương 驅兒羅酒漿 (Tặng Vệ Bát xử sĩ 贈衛八處士) Xua con đi bày rượu và thức uống. (Danh) Hồ (để dán). ◎Như: tương hồ 漿糊 hồ để dán. (Động) Hồ, dùng nước pha bột để hồ quần áo. ◎Như: tương y phục 漿衣服 hồ quần áo, tương tẩy 漿洗 giặt và hồ. ◇Thủy hử truyện 水滸傳: Đãn hữu y phục, tiện nã lai gia lí tương tẩy phùng bổ 但有衣服, 便拿來家裏漿洗縫補 (Đệ thập hồi) Hễ có quần áo, xin cứ đem lại nhà này giặt giũ khâu vá. L/ Chữ 瓖 tươngxiāng Bộ 96 玉 ngọc [17, 21] U+74D6 (Danh) Ngọc trang sức trên dây đái ngựa. (Động) Nạm, trám. § Cũng như tương 鑲. M/ Chữ 箱 tương, sương xiāng Bộ 118 竹 trúc [9, 15] U+7BB1 (Danh) Hòm xe, toa xe. ◎Như: xa tương 車箱 chỗ trong xe để chở người hoặc đồ vật. (Danh) Hòm, rương. ◎Như: bì tương 皮箱 hòm da (valise bằng da), phong tương 風箱 bễ quạt lò, tín tương 信箱 hộp thư. (Danh) Kho chứa. ◎Như: thiên thương vạn tương 千倉萬箱 ngàn vựa muôn kho, ý nói thóc nhiều lắm. (Danh) Chái nhà. § Thông sương 廂. (Danh) Lượng từ: thùng, hòm, hộp. ◎Như: lưỡng tương y phục 兩箱衣服 hai rương quần áo, tam tương thủy quả 三箱水果 ba thùng trái cây. § Ghi chú: Ta quen đọc là sương. N/ Chữ 湘 tương, sương xiāng Bộ 85 水 thủy [9, 12] U+6E58 (Danh) Sông Tương. § Ta quen đọc là sương. O/ Chữ 相 tương, tướng xiāng, xiàng Bộ 109 目 mục [4, 9] U+76F8 (Phó) Lẫn nhau (bên này và bên kia qua lại, cùng có ảnh hưởng). ◎Như: hỗ tương 互相 qua lại, tương thị nhi tiếu 相視而笑 nhìn nhau mà cười. ◇Thôi Hộ 崔護: Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng 去年今日此門中, 人面桃花相映紅 (Đề đô thành nam trang 題都城南莊) Năm ngoái vào ngày hôm nay, ở trong cửa này, Mặt nàng cùng với hoa đào phản chiếu nhau thắm một màu hồng. (Phó) Với nhau (kết quả so sánh hai bên). ◎Như: tương dị 相異 khác nhau, tương tượng 相像 giống nhau, tương đắc ích chương相得益彰 thích hợp nhau thì càng rực rỡ, kì cổ tương đương 旗鼓相當 cờ trống ngang nhau (tám lạng nửa cân). (Phó) Cho nhau (qua lại nhưng chỉ có tác động một bên). § Ghi chú: Phó từ biến nghĩa thành đại danh từ: tôi, anh, ông ta, v.v. (tùy theo văn mạch). ◎Như: hà bất tảo tương ngữ? 何不早相語 sao không sớm cho tôi hay? ◇Sưu thần hậu kí 搜神後記: Nãi ngữ lộ nhân vân: Dĩ cẩu tương dữ 乃語路人云: 以狗相與 (Quyển cửu) Bèn nói với người đi đường: Cho anh con chó này. ◇Hậu Hán Thư 後漢書: Mục cư gia sổ niên, tại triều chư công đa hữu tương thôi tiến giả 穆居家數年, 在朝諸公多有相推薦者 (Chu Nhạc Hà liệt truyện 朱樂何列傳) (Chu) Mục ở nhà mấy năm, tại triều đình có nhiều người tiến cử ông ta. (Danh) Chất, bản chất. ◇Thi Kinh 詩經: Kim ngọc kì tương 金玉其相 (Đại nhã 大雅, Vực bốc 棫樸) Chất như vàng ngọc. Một âm là tướng. (Danh) Dung mạo, hình dạng. ◎Như: phúc tướng 福相 tướng có phúc, thông minh tướng 聰明相 dáng dấp thông minh. ◇Tây du kí 西遊記: (Tôn Hành Giả) hiện liễu bổn tướng (孫行者)現了本相 (Đệ tam thập ngũ hồi) (Tôn Hành Giả) hiện ra hình dạng thật của mình. (Danh) Chức quan tướng cầm đầu cả trăm quan. ◎Như: tể tướng 宰相, thừa tướng 丞相, tướng quốc 相國. (Danh) Tên chức quan có từ đời Hán, tương đương chức thái thú một quận. (Danh) Người giúp lễ. § Ngày xưa tiếp khách, cử một người giúp lễ gọi là tướng. (Danh) Người dẫn dắt kẻ mù lòa. ◇Tuân Tử 荀子: Nhân chủ vô hiền, như cổ vô tướng 人主無賢, 如瞽無相 (Thành tướng 成相) Bậc làm chúa không có người hiền tài (giúp đỡ), thì cũng như kẻ mù lòa không người dẫn dắt. (Danh) Tên một nhạc khí thời xưa, giống như trống, đánh lên để giữ nhịp chung. (Danh) Tiếng hát giã gạo. ◇Lễ Kí 禮記: Lân hữu tang, thung bất tướng 鄰有喪, 舂不相 (Khúc lễ thượng 曲禮上). (Danh) Chỉ vợ. (Danh) Hình chụp. ◇Lỗ Tấn 魯迅: Giá trương tướng chiếu đích ngận hảo 這張相照的很好 (Trí mẫu thân 致母親). (Danh) Trên cột tay đàn tì bà có bốn hoặc sáu khối làm bằng ngà voi, sừng trâu, gỗ hồng... dùng để xác định âm vị. (Danh) Tên riêng chỉ tháng bảy âm lịch. (Danh) Sao Tướng. (Danh) (Thuật ngữ Phật giáo) Chỉ hình trạng bên ngoài sự vật. (Danh) Họ Tướng. (Động) Xem, coi, thẩm xét. ◇Tả truyện 左傳: Lượng lực nhi hành chi, tướng thì nhi động 量力而行之, 相時而動 (Ẩn Công thập nhất niên 隱公十一年) Lượng sức và xem thời cơ mà hành động. (Động) Xem để đoán lành xấu phúc họa. ◇Sử Kí 史記: Tướng quân chi diện, bất quá phong hầu, hựu nguy bất an 相君之面, 不過封侯, 又危不安 (Hoài Âm Hầu liệt truyện 淮陰侯列傳) Coi tướng diện ngài, thì chỉ phong hầu là cùng, mà lại bấp bênh chứ không yên vững. (Động) Giúp đỡ, phụ trợ. ◎Như: tướng phu giáo tử 相夫教子 giúp chồng dạy con. ◇Phù sanh lục kí 浮生六記: Tuyệt xứ phùng sanh, diệc khả vị cát nhân thiên tướng hĩ 絕處逢生, 亦可謂吉人天相矣 (Khảm kha kí sầu 坎坷記愁) Chỗ đường cùng gặp lối thoát, cũng có thể bảo rằng trời giúp người lành vậy. (Động) Cho làm tướng. (Động) Kén chọn. ◎Như: tướng du 相攸 kén nơi đáng lấy làm chồng. ◇Tam quốc diễn nghĩa 三國演義: Lương cầm tướng mộc nhi tê, hiền thần trạch chủ nhi sự 良禽相木而棲, 賢臣擇主而事 (Đệ lục thập ngũ hồi) Chim khôn lựa cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ. (Động) Cai quản, cầm đầu, cai trị. ◇Liễu Tông Nguyên 柳宗元: Thị túc vi tá thiên tử, tướng thiên hạ pháp hĩ 是足為佐天子, 相天下法矣, 物莫近乎此也 (Tử Nhân truyện 梓人傳) Là đủ để phò vua, cai quản phép tắc của thiên hạ vậy. 1. [隱相] ẩn tướng 2. [倒履相迎] đảo lí tương nghênh 3. [同惡相濟] đồng ác tương tế 4. [同惡相助] đồng ác tương trợ 5. [同病相憐] đồng bệnh tương liên 6. [白衣卿相] bạch y khanh tướng 7. [蚌鷸相持] bạng duật tương trì 8. [寶相] bảo tướng 9. [不相得] bất tương đắc10. [不相干] bất tương can 11. [不相能] bất tương năng 12. [布衣卿相] bố y khanh tướng 13. [卜相] bốc tướng 14. [拜相] bái tướng 15. [皮相] bì tướng 16. [骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 17. [骨相] cốt tướng 18. [窮相] cùng tướng 19. [針芥相投] châm giới tương đầu 20. [真相] chân tướng 21. [照相] chiếu tướng 22. [宮相] cung tướng 23. [名相] danh tướng 24. [面面相窺] diện diện tương khuy 25. [互相] hỗ tương 26. [旗鼓相當] kì cổ tương đương 27. [內相] nội tướng 28. [相對] tương đối 29. [相腳頭] tương cước đầu 30. [相配] tương phối 31. [相關] tương quan 32. [首相] thủ tướng 33. [丞相] thừa tướng O/Chữ 將 tương, tướng, thương将 jiāng, jiàng, qiāng Bộ 41 寸 thốn [8, 11] U+5C07 (Phó) Sẽ, có thể. ◇Luận Ngữ 論語: Quý Thị tương phạt Chuyên Du 季氏將伐顓臾 (Quý thị 季氏) Họ Quý có thể sẽ đánh nước Chuyên Du. (Phó) Sắp, sắp sửa. ◎Như: tương yếu 將要 sắp sửa. ◇Luận Ngữ 論語: Điểu chi tương tử, kì minh dã ai; nhân chi tương tử, kì ngôn dã thiện 鳥之將死, 其鳴也哀; 人之將死, 其言也善 (Thái Bá 泰伯) Con chim sắp chết, tiếng kêu bi ai; người ta sắp chết, lời nói tốt lành. (Phó) Gần (số lượng). ◇Mạnh Tử 孟子: Tương ngũ thập lí dã 將五十里也 (Đằng Văn Công thượng 滕文公上) Gần năm mươi dặm. (Phó) Vừa, vừa mới. ◎Như: tương khốc tựu tiếu 將哭就笑 vừa mới khóc đã cười, tha tương tiến môn một nhất hội nhi 他將進門沒一會兒 anh ta vừa mới vào cửa không bao lâu. (Động) Tiến bộ, tiến lên. ◇Thi Kinh 詩經: Nhật tựu nguyệt tương 日就月將 (Chu tụng 周頌, Kính chi 敬之) (Mong) ngày tháng được thành công, tiến bộ. (Động) Cầm, giữ, đem. ◎Như: tương tửu lai 將酒來 đem rượu lại. (Động) Giúp đỡ, phù trợ. ◇Thi Kinh 詩經: Lạc chỉ quân tử, Phúc lí tương chi 樂只君子, 福履將之 (Chu nam 周南, Cù mộc 樛木) Vui thay bậc quân tử (bà Hậu Phi), Phúc lộc sẽ giúp đỡ bà. (Động) Nghỉ, nghỉ ngơi. ◎Như: tương dưỡng 將養 an dưỡng, nghỉ ngơi. ◇Lí Thanh Chiếu 李清照: Sạ noãn hoàn hàn thì hậu, tối nan tương tức 乍暖還寒時候, 最難將息 (Tầm tầm mịch mịch từ 尋尋覓覓詞) Thời tiết chợt ấm rồi lại lạnh, thật khó mà nghỉ ngơi được. (Động) Tiễn đưa. ◇Thi Kinh 詩經: Chi tử vu quy, Bách lượng tương chi 之子于歸, 百兩將之 (Triệu nam 召南, Thước sào 鵲巢) Cô ấy về nhà chồng, Trăm cỗ xe đưa tiễn. (Động) Làm, tiến hành. ◎Như: thận trọng tương sự 慎重將事 cẩn thận làm việc. (Động) Chiếu tướng (đánh cờ tướng). ◎Như: ngã giá nhất bộ trừu xa, hạ nhất bộ tựu yếu tương liễu 我這一步抽車, 下一步就要將了 tôi một bước rút con xe, hạ xuống một bước thế là chiếu tướng! (Động) Nói khích. ◎Như: thoại tương tha 話將他 nói khích anh ta. (Giới) Lại, đi. § Dùng như bả 把. ◎Như: tương hoa sáp hảo 將花插好 cắm hoa vào, tương môn quan hảo 將門關好 đóng cửa lại. (Giới) Lấy, đem. § Dùng như dĩ 以. ◎Như: tương công chiết tội 將功折罪 lấy công bù tội. ◇Chiến quốc sách 戰國策: Tô Tần thủy tương liên hoành thuyết Tần Huệ Vương 蘇秦始將連橫說秦惠王 (Tần sách nhất) Tô Tần mới đầu đem (chủ trương) liên hoành thuyết phục Tần Huệ Vương. (Liên) Với, và. ◇Dữu Tín 庾信: Mi tương liễu nhi tranh lục, Diện cộng đào nhi cạnh hồng 眉將柳而爭綠, 面共桃而競紅 (Xuân phú 春賦) Mi với liễu tranh xanh, Mặt cùng đào đua hồng. (Liên) Vừa, lại. ◎Như: tương tín tương nghi 將信將疑 vừa tin vừa ngờ (nửa tin nửa ngờ). (Trợ) Đặt sau động từ, dùng chung với tiến lai 進來, khởi lai 起來, tiến khứ 進去: nào, đi, lên. ◎Như: đả tương khởi lai 打將起來 đánh đi nào, khốc tương khởi lai 哭將起來 khóc lên đi. Một âm là tướng. (Danh) Người giữ chức cao trong quân. ◎Như: đại tướng 大將, danh tướng 名將, dũng tướng 勇將. (Động) Chỉ huy, cầm đầu. ◎Như: Hàn Tín tướng binh, đa đa ích thiện 韓信將兵, 多多益善 Hàn Tín chỉ huy quân, càng đông càng tốt. Một âm là thương. (Động) Xin, mời, thỉnh cầu. ◇Thi Kinh 詩經: Thương tử vô nộ 將子無怒 (Vệ phong 衛風, Manh 氓) Mong anh đừng giận dữ. 1. [陰將] âm tướng 2. [大將] đại tướng 3. [敗將] bại tướng 4. [部將] bộ tướng 5. [主將] chủ tướng 6. [諸將] chư tướng 7. [戰將] chiến tướng 8. [名將] danh tướng 9. [勇將] dũng tướng 10. [卿將] khanh tướng 11. [健將] kiện tướng 12. [儒將] nho tướng 13. [裨將] tì tướng14. [將領] tướng lĩnh 15. [將將] tướng tướng, thương thương 16. [將來] tương lai 17. [上將] thượng tướng 18. [中將] trung tướng P/Chữ 蔣 tương, tưởng蒋 jiǎng, jiāng Bộ 140 艸 thảo [11, 15] U+8523 (Danh) Tên cây, tức giao bạch 茭白. Một âm là tưởng. (Danh) Nước Tưởng, thời Xuân Thu. Nay thuộc Hà Nam. (Danh) Họ Tưởng. Các từ ghép bao gồm 24. [倒履相迎] đảo lí tương nghênh 25. [同惡相濟] đồng ác tương tế 26. [同惡相助] đồng ác tương trợ 27. [同病相憐] đồng bệnh tương liên 28. [蚌鷸相持] bạng duật tương trì 29. [不相得] bất tương đắc 30. [不相干] bất tương can31. [不相能] bất tương năng 32. [骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 33. [針芥相投] châm giới tương đầu 34. [面面相窺] diện diện tương khuy 35. [互相] hỗ tương 36. [旗鼓相當] kì cổ tương đương 37. [相對] tương đối 38. [湘潭] tương đàm 39. [相腳頭] tương cước đầu 40. [將來] tương lai 41. [相配] tương phối 42. [相關] tương quan Trong toàn bộ liệt kê các từ TƯƠNG, chúng ta hoàn toàn không tìm ra được một từ TƯƠNG mang ý nghĩa của TƯƠNG SINH. II/ SINH – SANH Chúng ta chỉ xét 1 từ SINH CHỮ 生 sanh, sinh shēng Bộ 100 生 sinh [0, 5] U+751F (Động) Ra đời, nẩy nở, lớn lên. ◇Thi Kinh 詩經: Ngô đồng sanh hĩ, Vu bỉ triêu dương ˙梧桐生矣, 于彼朝陽 (Đại nhã 大雅, Quyển a 卷阿) Cây ngô đồng mọc lên, Ở bên phía đông trái núi kia. (Động) Đẻ ra, nuôi sống. ◎Như: sanh tử 生子 đẻ con. ◇Bạch Cư Dị 白居易: Toại lệnh thiên hạ phụ mẫu tâm, Bất trọng sanh nam trọng sanh nữ 遂令天下父母心, 不重生男重生女 (Trường hận ca 長恨歌) Làm cho lòng các bậc cha mẹ trong thiên hạ, (Không coi trọng) không ham đẻ con trai nữa, mà coi trọng sự sinh con gái. (Động) Làm ra, gây ra, sản xuất. ◎Như: sanh bệnh 生病 phát bệnh, sanh sự 生事 gây thêm chuyện, sanh lợi 生利 sinh lời. (Động) Sống còn. ◎Như: sanh tồn 生存 sống còn, sinh hoạt 生活 sinh sống. (Động) Chế tạo, sáng chế. ◎Như: sanh xuất tân hoa dạng 生出新花樣 chế tạo ra được một dạng hoa mới. (Danh) Sự sống, đời sống. ◇Luận Ngữ 論語: Tử sanh hữu mệnh, phú quý tại thiên 死生有命, 富貴在天 (Nhan Uyên 顏淵) (Sự) sống chết có số, phú quý do trời. (Danh) Lượng từ: đời, kiếp. ◎Như: tam sanh nhân duyên 三生姻緣 nhân duyên ba đời, nhất sanh nhất thế 一生一世 suốt một đời. (Danh) Mạng sống. ◎Như: sát sinh 殺生 giết mạng sống, táng sinh 喪生 mất mạng. (Danh) Chỉ chung vật có sống. ◎Như: chúng sanh 眾生, quần sanh 群生. (Danh) Nghề để kiếm sống, việc làm để kiếm sống. ◎Như: mưu sanh 謀生 nghề kiếm sống, vô dĩ vi sanh 無以為生 không có gì làm sinh kế. (Danh) Người có học, học giả. ◎Như: nho sanh 儒生 học giả. (Danh) Học trò, người đi học. ◎Như: môn sanh 門生 đệ tử, học sanh 學生 học trò. (Danh) Vai trong trong hí kịch. ◎Như: tiểu sanh 小生 vai kép, lão sanh 老生 vai ông già, vũ sanh 武生 vai võ. (Danh) Họ Sinh. (Tính) Còn sống, chưa chín (nói về trái cây). ◎Như: sanh qua 生瓜 dưa xanh. ◇Thủy hử truyện 水滸傳: Hữu sanh thục ngưu nhục, phì nga, nộn kê 有生熟牛肉, 肥鵝, 嫩雞 (Đệ thập nhất hồi) Có thịt bò chín và tái, ngỗng béo, gà non. (Tính) Còn sống, chưa nấu chín (nói về thức ăn). ◎Như: sanh nhục 生肉 thịt sống, sanh thủy 生水 nước lã. (Tính) Lạ, không quen. ◎Như: sanh nhân 生人 người lạ, sanh diện 生面 mặt lạ, mặt không quen, sanh tự 生字 chữ mới (chưa học). (Tính) Chưa rành, thiếu kinh nghiệm. ◎Như: sanh thủ 生手 người làm việc còn thiếu kinh nghiệm. (Tính) Chưa luyện. ◎Như: sanh thiết 生鐵 sắt chưa tôi luyện. (Phó) Rất, lắm. ◎Như: sanh phạ 生怕 rất sợ, sanh khủng 生恐 kinh sợ. (Trợ) Tiếng đệm câu. ◇Truyền đăng lục 傳燈錄: Hoàng Bách vấn vân: Nhữ hồi thái tốc sanh? Sư vân: Chỉ vi lão bà tâm thiết黃蘗問云: 汝迴太速生? 師云: 只為老婆心切 (Trấn Châu Lâm Tế Nghĩa Huyền thiền sư 鎮州臨濟義玄禪師) Hoàng Bá hỏi: Sao lại về nhanh thế? Sư trả lời: Vì thầy có lòng thương xót như bà nội. § Ghi chú: Ta quen đọc là sinh. 1. [蔭生] ấm sinh, ấm sanh 2. [誕生] đản sinh, đản sanh 3. [塗炭生民] đồ thán sinh dân 4. [同生共死] đồng sanh cộng tử 5. [白面書生] bạch diện thư sanh 6. [稟生] bẩm sanh, bẩm sinh 7. [本生] bổn sinh 8. [捕生] bộ sinh 9. [百花生日] bách hoa sinh nhật 10. [半生半熟] bán sinh bán thục 11. [平生] bình sinh, bình sanh 12. [貢生] cống sanh, cống sinh 13. [救生] cứu sinh 14. [九死一生] cửu tử nhất sinh 15. [個人衛生] cá nhân vệ sinh 16. [更生] cánh sinh 17. [公共衛生] công cộng vệ sinh 18. [怎生] chẩm sanh 19. [眾生] chúng sanh, chúng sinh 20. [諸生] chư sanh, chư sinh 21. [佾生] dật sinh 22. [養生] dưỡng sanh 23. [好生] hảo sinh, hiếu sinh 24. [學生] học sinh 25. [回生] hồi sanh 26. [化生] hóa sanh, hóa sinh 27. [寄生] kí sanh 28. [今生] kim sanh, kim sinh 29. [來生] lai sanh, lai sinh 30. [廩生] lẫm sanh31. [老蚌生珠] lão bạng sinh châu 32. [陌生] mạch sanh 33. [一生] nhất sanh, nhất sinh 34. [人生朝露] nhân sanh triêu lộ 35. [人生觀] nhân sinh quan 36. [人生] nhân sinh, nhân sanh 37. [儒生] nho sanh 38. [生育] sanh dục 39. [生計] sanh kế 40. [生氣] sanh khí, sinh khí41. [生靈] sanh linh 42. [生產] sanh sản, sinh sản 43. [生肖] sanh tiếu 44. [畜生] súc sinh 45. [初生] sơ sanh 46. [生意] sinh ý 47. [生機] sinh cơ 48. [生活] sinh hoạt, sanh hoạt 49. [生薑] sinh khương 50. [生理] sinh lí 51. [生涯] sinh nhai, sanh nhai
  4. ĐI TÌM CỘI NGUỒN KINH DỊCH (bài tham luận hội thảo Tìm Về Cội Nguồn Kinh Dịch) tác giả: Mạnh Đại Quân (Hoàng Triệu Hải) Đã có rất nhiều Học giả, các nhà nghiên cứu, Giáo Sư, Tiến sỹ công bố những nghiên cứu rất bài bài và sâu sắc về nguồn gốc của Kinh Dịch cũng như sự liên quan chặt chẽ giữa Kinh Dịch và Lịch sử 5000 năm Văn Hiến của người Việt. Tuy nhiên, sự đóng góp đó dường như chưa đủ để minh chứng cho nguồn gốc của một trong những kì quan thuộc về nền Văn minh Phương Đông mà chủ nhân đích thực chính là nền Văn minh Lạc Việt 5000 năm lịch sử. Sự khó khăn lớn nhất chính là chúng ta không có bất kì một bằng chứng và tài liệu lịch sử nào liên quan tới Kinh Dịch của người Việt, ngoại trừ việc lưu truyền thông qua văn hóa truyền thống, văn hóa tín ngưỡng và huyền sử. Đại đa số những người học và nghiên cứu Kinh Dịch hiện nay đều cho rằng việc đi tìm cội nguồn của Kinh Dịch là việc làm không cần thiết bởi không quan trọng bằng việc hiểu và ứng dụng Dịch. Cho dù có tìm được hay không tìm được nguồn gốc của Kinh Dịch thì cũng chẳng thể đăng ký bản quyền hay thay đổi được tuyên bố nguồn gốc và sở hữu của người Trung Hoa, kể cả khi chính người Trung Hoa cũng không giải thích được nguồn gốc mơ hồ do chính họ tạo ra. Việc đi tìm nguồn gốc Kinh Dịch chính là để giải mã toàn bộ hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành – một lý thuyết khoc học cổ xưa nhất của nền văn minh loài người. Trên cơ sở đó sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn tổng thể về quá trình lịch sử của nền văn minh Lạc Việt huyền vỹ một thời bên bờ Nam sông Dương Tử. 1. Lịch sử hình thành. Trích dẫn từ nguồn Wikipedia: “Kinh Dịch được cho là có nguồn gốc từ huyền thoại Phục Hy (伏羲 Fú Xī). Theo nghĩa này thì ông là một nhà văn hóa, một trong Tam Hoàng của Trung Hoa thời thượng cổ (khoảng 2852-2738 TCN, theo huyền thoại), được cho người sáng tạo ra bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của ba hào. Dưới triều vua Vũ (禹 Yǔ) nhà Hạ, bát quái đã phát triển thành quẻ, có tất cả sáu mươi tư quẻ (六十四卦 lìu shí­ sì gùa), được ghi chép lại trong kinh Liên Sơn (連山 Lián Shān) còn gọi là Liên Sơn Dịch. Liên Sơn, có nghĩa là "các dãy núi liên tiếp" trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng quẻ Thuần Cấn (艮 gèn) (núi), với nội quái và ngoại quái đều là Cấn (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là Tiên Thiên Bát Quái. Sau khi nhà Hạ bị nhà Thương thay thế, các quẻ sáu hào được suy diễn ra để tạo thành Quy Tàng (歸藏 Gūi Cáng; còn gọi là Quy Tàng Dịch), và quẻ Thuần Khôn (坤 kūn) trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua Văn Vương nhà Chu diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ Thuần Càn (乾 qián) (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong Thoán Từ (卦辭 guà cí) và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. Hậu Thiên Bát Quái ra đời. Khi vua Chu Vũ Vương (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là Chu Công Đán tạo ra Hào Từ (爻辭 yáo cí), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời nhà Chu (khoảng 1122-256 TCN). Muộn hơn, trong thời kỳ Xuân Thu (khoảng 722-481 TCN), Khổng Tử đã viết Thập Dực (十翼 shí yì), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn."[1]. Vào thời Hán Vũ Đế (漢武帝 Hàn Wǔ Dì) của nhà Tây Hán (khoảng 200 TCN), Thập Dực được gọi là Dịch truyện (易傳 yì zhùan), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành Chu Dịch (周易 zhōu yì)” Hết trích dẫn Theo các nguồn thông tin khác thì Liên Sơn Dịch được cho là có từ thời Thần Nông (2737BC – Liên Sơn Thị hay còn gọi là Thần Nông thị) , Qui Tàng có từ thời Hoàng Đế (2699BC). Cuốn Liên Sơn Dịch được cho là có khoảng 10 tập- 80 ngàn chữ và được làm ra vào thời nhà Hạ dựa trên bát quái của Phục Hi. Trong ba bộ Kinh Dịch thì Liên Sơn Dịch và Qui Tàng Dịch được cho là thất lạc cho dù vẫn có sách về hai bộ Kinh này. Chỉ còn Chu Dịch được coi là đại diện cho dù về mặt lịch sử hình thành thì Chu Dịch được ra đời sau cùng, vào thời nhà Chu . Như vậy, Kinh Dịch hay 64 trùng quái phải có mặt ít nhất là từ thời Thần Nông tức Liên Sơn thị (2737-2699 BC). Kinh dịch bao gồm 64 quẻ được lập nên từ 8 Quái được cho là do Vua Phục Hy (2800-2737 BC) sáng tạo ra. Đây là một vị Vua không có thực và chỉ tồn tại trong truyền thuyết. Tới đây chúng ta bắt đầu thấy sự mơ hồ và mù mờ trong nguồn gốc của Bát quái. Tiếp tục đi ngược dòng lịch sử, phải có Tứ Tượng rồi mới có Bát Quái, nhưng trước khi có Tứ Tượng lại phải có Lưỡng Nghi và Thái Cực. Thái Cực sinh Lưỡng Nghi Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng Tứ Tượng biến hóa vô cùng. Như vậy, Bát quái là một sản phẩm được sinh ra từ học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Bát quái thể hiện sự nhận thức của con người với sự vận động của vạn vật xung quanh mình. Bát quái là một siêu công thức được sinh ra từ học thuyết ADNH, và học thuyết ADNH mang tính bao trùm Vũ trụ. Triết lý về Âm Dương được cho là do Phục Hy sáng tạo ra, và cũng có nguồn ghi rằng do Đạo Giáo (400BCE) sáng tạo nên do được tiếp thu từ nhà Chu (1040 BCE). Phục Hy là nhân vật huyền thoại không có thực trong lịch sử và không thể nào một học thuyết lại được tạo ra từ một nhân vật không có thật. Còn nếu Đạo Giáo sáng tạo ra hoặc giả như được tiếp nhận được từ nhà Chu thì đúng là “Sinh Con rồi mới sinh Cha, sinh Cháu giữ nhà rồi mới sinh Ông” bởi người ta không thể sáng tạo ra bát quái , Kinh Dịch rồi mới sáng tạo ra thuyết Âm Dương ngũ hành. Âm Dương trích từ nguồn wiki “Âm dương là hai khái niệm được hình thành cách đây rất lâu. Về nguồn gốc của âm dương và triết lý âm dương, rất nhiều người theo Khổng An Quốc và Lưu Hâm (nhà Hán) mà cho rằng Phục Hy là người có công sáng tạo và được ghi chép trong kinh dịch (2800 TCN). Một số người khác thì cho rằng đó là công lao của "âm dương gia", một giáo phái của Trung Quốc. Cả hai giả thuyết trên đều không có cơ sở khoa học vì Phục Hy là một nhân vật thần thoại, không có thực còn âm dương gia chỉ có công áp dụng âm dương để giải thích địa lý-lịch sử mà thôi. Phái này hình thành vào thế kỷ thứ 3 nên không thể sáng tạo âm dương được Các nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung Quốc đã kết luận rằng "khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam". ("Phương Nam" ở đây bao gồm vùng nam Trung Hoa, từ sông Dương Tử trở xuống và vùng Việt Nam. Xem thêm dân tộc Việt Nam để biết thêm khu vực của người Cổ Mã Lai sinh sống.) Trong quá trình phát triển, nước Trung Hoa trải qua hai thời kỳ: 1. "Đông tiến" là thời kỳ Trung Hoa mở rộng từ thượng lưu (phía tây) xuống hạ lưu (phía đông) của sông Hoàng Hà; 2. "Nam tiến" là thời kỳ mở rộng từ lưu vực sông Hoàng Hà (phía bắc) xuống phía nam sông Dương Tử. Trong quá trình nam tiến, người Hán đã tiếp thu triết lý âm dương của các cư dân phương nam, rồi phát triển, hệ thống hóa triết lý đó bằng khả năng phân tích của người du mục làm cho triết lý âm dương đạt đến hoàn thiện và mang ảnh hưởng của nó tác động trở lại cư dân phương nam. Cư dân phương nam sinh sống bằng nông nghiệp nên quan tâm số một của họ là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người. Sinh sản của con người thì do hai yếu tố: cha và mẹ, nữ và nam; còn sự sinh sôi nảy nở của hoa màu thì do đất và trời - "đất sinh, trời dưỡng". Chính vì thế mà hai cặp "mẹ-cha", "đất-trời" là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn đến triết lý âm dương. Về mặt ngôn ngữ học, "âm dương" là phát âm của yin yang trong tiếng Hán, nhưng chính tiếng Hán để chỉ khái niệm âm dương lại vay mượn từ các ngôn ngữ phương Nam trước đây. Ví dụ, so sánh yang với giàng (trong tiếng Mường), yang sri (thần lúa), yang Dak (thần nước), yang Lon (thần đất) (trong tiếng của nhiều dân tộc Tây Nguyên); so sánh yin với yana (tiếng Chàm cổ, ví dụ Thiên Yana = mẹ trời), ina (tiếng Chàm hiện đại), inang(tiếng Indonesia), nạ (tiếng Việt cổ, ví dụ: nạ ròng = người đàn bà có con, hay tục ngữ Việt Nam: "Con thì na, cá thì nước"),... thì thấy rõ điều đó. Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp "mẹ-cha" và "đất-trời" này, người ta đã mở rộng ra nhiều cặp đối lập phổ biến khác. Đến lượt mình, các cặp này lại là cơ sở để suy ra vô số các cặp mới. Nếu so sánh phương Đông với phương Tây thì phương Tây chú trọng đến tư duy phân tích, siêu hình còn phương Đông chú trọng đến tư duy tổng hợp, biện chứng. Nhưng nếu xét riêng ở phương Đông thì nếu đi từ bắc xuống nam ta sẽ thấy phía bắc Trung Quốc nặng về phân tích hơn tổng hợp, còn phía nam thì ngược lại, nặng về tổng hợp hơn phân tích. Triết lý âm dương bắt nguồn từ phương Nam, nhưng đối với các dân tộc Đông Nam Á, do tính phân tích yếu nên họ chỉ lại ở tư duy âm dương sơ khai mang tính tổng hợp. Trong khi đó khối Bách Việt đã phát triển và hoàn thiện nó. Tổ tiên người Hán cũng vậy, sau khi tiếp thu triết lý âm dương sơ khai, họ cũng phát triển nó nhưng do năng lực phân tích của họ mạnh hơn năng lực phân tích của người Bách Việt mà từ triết lý âm dương ban đầu, người Bách Việt và người Hán đã xây dựng nên hai hệ thống triết lý khác nhau. Ở phương Nam, với lối tư duy mạnh về tổng hợp, người Bách Việt đã tạo ra mô hình vũ trụ với số lượng thành tố lẻ (dương): hai sinh ba (tam tài), ba sinh năm (ngũ hành). Chính vì thế mà Lão Tử, một nhà triết học của nước Sở (thuộc phương Nam) lại cho rằng: "nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Tư duy số lẻ là một trong những nét đặc thù của phương Nam. Trong rất nhiều thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, các số lẻ như 1, 3, 5, 7, 9 xuất hiện rất nhiều. Ví dụ: "ba mặt một lời"; "ba vợ, bảy nàng hầu"; "tam sao, thất bản"... Ở phương Bắc, với lối tư duy mạnh về phân tích, người Hán đã gọi âm dương là lưỡng nghi, và bằng cách phân đôi thuần túy mà sinh ra mô hình vũ trụ chặt chẽ với số lượng thành tố chẵn (âm). Chính vì vậy Kinh Dịch trình bày sự hình thành vũ trụ như sau: "lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hóa vô cùng" (hai sinh bốn, bốn sinh tám). Người phương Bắc thích dùng số chẵn; ví dụ, "tứ đại", "tứ mã", "tứ trụ",... Lối tư duy như vậy, hoàn toàn không có chỗ cho ngũ hành - điều này cho thấy, quan niệm cho rằng "âm dương - ngũ hành - bát quái" chỉ là sản phẩm của người Hán có lẽ là một sai lầm, nhưng theo quan niệm trong phong thủy thì " lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh ngũ hành, ngũ hành sinh vạn vật" ngũ hành lại được sinh từ bát quái ứng với Đoài-Càn (kim),Tốn-Chấn(mộc),Khảm(thủy),ly(hỏa),Cấn-Khôn(thổ) tạo thành vòng tuần hoàn luôn bổ trợ lẫn nhau nhưng vì một số bất cập nên không được nhiều người biết đến, vào thời nay phong thủy đa số đều dùng cách này để đọc phong thủy. Hết trích dẫn Tôi chưa thấy thuyết phục từ chứng cứ về cách lập luận số chẵn – lẻ của người viết trên thư viện mở WIKI nhưng đây là một bằng chứng cho thấy ngày càng nhiều người nhận ra rằng Âm Dương Ngũ Hành, Hà Đồ-Lạc Thư-Bát Quái-Kinh Dịch không thể được tạo ra bởi người Trung Hoa. Ngay từ những thời điểm mà người Trung Hoa cố gắng hợp thức hóa nguồn gốc và tác giả của học thuyết Âm Dương nhưng chúng ta vẫn có thể tìm thấy sự lộn xộn và mù mờ trong chính những gì họ công bố. THÁI CỰC ĐỒ (ÂM DƯƠNG ĐỒ HÌNH) 1. Dấu tích lịch sử: Theo các tài liệu lịch sử còn lưu lại thì Thái cực đồ hình (Taijitu 太極圖) được biết tới do Chu Đôn Di Zhou Dunyi (周敦頤 1017–1073) đời Tống (960-1279) sáng tạo ra cùng với cơ sở Học thuyết Thái cực . Đồ hình Thái Cực này được coi là đồ hình đầu tiên mô tả Thái Cực sinh Lưỡng Nghi do được ghi chép và lưu giữ nguồn gốc. Đồ hình H1 là đồ hình được Joseph Adler chụp từ nguyên gốc trong cuốn Thông Thư (通書) của Chu Đôn Di. Trong suốt thời kì nhà Minh (1368–1644), Đạo giáo lúc đó rất phát triển và dựa trên nền tảng Đạo giáo đã có rất nhiều sáng tạo Thái Cực đồ hình mô tả cơ sở học thuyết của họ lúc đó. Trong khi nguyên gốc đồ hình của Chu Đôn Di sử dụng các vòng tròn thì trong thời kì nhà Minh (1368-1644) bắt đầu xuất hiện các đồ hình vòng xoáy.Đồ hình có vòng xoáy sớm nhất được cho là của Triệu Huy Khiên - Zhao Huiqian (趙撝 , 1351–1395) trong cuốn Lục Thư Bản Nghĩa viết năm 1370s thuộc bộ Tứ Khố Toàn Thư. Đồ hình này được ghép thêm với bát quái và được được gọi là Thái Cực Hà Đồ . Tới cuối đời nhà Minh thì mới xuất hiện thêm hai chấm bên trong thay bởi hai hình giọt nước, và được sử dụng rộng rãi trở thành Vũ Trụ Quan của người Trung Hoa. H1: Chu Đôn Di đồ hình H2: Triệu Huy Khiêm Đồ hình LAI TRÍ ĐƯC (來瞿唐 / 来瞿唐, 1525–1604) sau đó lại thiết kế lại Thái Cực Hà Đồ dựa trên khuôn mẫu của biểu tượng Phật giáo Tây tạng Gankyil H4: Lai Zhide vs Gankyil Tiên thiên thái cực đồ và vô cực đồ được phát triển và sử dụng nhiều nhất vào thời kì nhà Thanh (1644–1912) THÁI CỰC ĐỒ HIỆN ĐẠI Vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20, người Trung Hoa công bố rộng rãi Thái Cực đồ hình với hai vòng xoáy của thời Minh và gọi đó là Đồ Hình Âm-Dương. Khoảng từ những năm 1960 thì Âm Dương Đồ Hình được thêm vào hai chấm ở mỗi xoáy cùng kết hợp với Hà Đồ được sử dụng rộng rãi. Đồ hình này được dùng trong thiết kế và nhận diện của môn Thái Cực Quyền từ những năm 1970 để thể hiện tinh thần của bộ môn này. 2. DẤU HIỆU TỪ ROMAN Tại Rome, người ta tìm thấy dấu tích của Âm Dương Đồ Hình trên khiên và phù hiệu của Kỵ Binh của đế chế La Mã (AD 430). Trong bài viết "The Ying-Yan Among The Insignia of The Roman Empire - Âm Dương Đồ Hình bên trong dấu hiệu của Đế Chế La Mã" của Giovanni Monastra, người đã phát hiện ra dấu hiệu của Đồ Hình này từ thư tịch cổ có tên là "Notitia Dignitatum Omnium tam Civilium quam Militarium " được viết từ cuối thế kỷ thứ 4 đầu thế kỉ thứ 5. Trong cuốn thư tịch cổ này, ngoài việc viết về các đơn vị hành chính và quân sự của Đế chế La Mã người ta tìm thấy rất nhiều ký hiệu và đồ hình cùng 4 màu sắc Đỏ-Xanh-Vàng-Trắng thể hiện thế giới Siêu hình, Tôn giáo và Tri thức. Ở trang tiếp theo, người ta lại tìm thấy Thái Cực Đồ của Chu Đôn Di theo hình ảnh dưới đây (hình thứ ba hàng thứ ba từ dưới lên) Theo tác giả, không có một nhà nghiên cứu La Mã Cổ nào kể cả nhà nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa Á Đông Franz Cumont phát hiện và đặt ra câu hỏi nghi vấn này ? liệu có phải đây là Thái Cực Đồ hay Âm Dương Đồ Hình của Á Đông xuất hiện trong Đế chế La Mã. Ngay cả đối với giới khoa học và nghiên cứu khảo cổ tại Châu Âu, không một ai đề cập tới vấn đề này và chủ yếu họ tìm hiểu sự giao thoa giữa các nền văn hóa cổ đại và tác giả cho rằng đây là một sai lầm. 3. Quốc Kỳ Hàn Quốc Ra đời đầu tiên vào thời kì Joseon 1882, được nói rõ sử dụng "BAT QUAI DO" cho Hoàng Gia. Vậy từ thế kỉ 18, Thái Cực Đồ của người Việt đã được biết tới và sử dụng tại Hàn Quốc 4. Đặt lại vấn đề Trong cuốn " Reconstructing the confucian dao" của Adler Joseph tạm dịch là Tái Thiết Đạo Khổng, chương năm trang 153, tác giả viết :" Mặc dù cho tới nay, sự xuất hiện của học thuyết Âm Dương được coi là nguồn gốc của Thái Cực Đồ vào thời Chu Hi ( 朱熹, October 18, 1130 – April 23, 1200) và Chu Đôn Di (周敦頤; Zhou Dunhyi; 1017–1073) có được học thuyết này từ Đạo Giáo. Chu Đôn Di và những người theo ông ta luôn khẳng định Chu Đôn Di là người sáng tạo ra Thái Cực Đồ. Chu Hi thì không chấp nhận học thuyết của Chu Trấn -hay Chu Hoàng - Hậu Lương Mạt Đế (Zhu Zhen (朱瑱) (October 20, 888–November 18, 923) cũng như đồ hình từ Đạo Giáo bởi theo Chu Hy, nó phá hoại tính đặc thù của Khổng Giáo. Trang 154, tác giả lại viết " Câu hỏi đặt ra là Thái Cực Đồ Hình của Chu Đôn DI lại được đem ra tranh luận kịch liệt suốt từ thế kỷ thứ 12. Theo ghi chép thì học thuyết đáng lưu ý nhất là của Chu Hoàng, và truyền cho Đôn Di thông qua Mục Tu ( Mu Xiu 穆修, 979–1032). Mục Tu là quan Trung phẩm chết khi Chu Đôn Di mới 15 tuổi: Mục Tu nhận được từ Chủng Phóng ( Chong Fang 种放956-1015) là một quan lại triều đình từ quan ẩn dật. Chủng Phóng học được Trần Đoàn Lão Tổ. Trần Đoàn ghi lại rằng, ông thu nhận được rất nhiều đồ hình trong đó bao gồm Quẻ, Quái trong Kinh Dịch được truyền bá rộng rãi bởi Thiệu Ung ( 邵雍 Shao Yung; 1011–1077) và Chu Hy . Một điều khá quan trọng là Tiên Thiên Đồ của Phục Hy được cả Thiệu Ung và Chu Hi. Chu Trấn đã đưa các đồ hình vào lý thuyết này từ trước, tới năm 1134 tức là 61 năm sau khi Chu Đôn Di chết thì những nguồn gốc lý thuyết của ông ta đều không xác định và tính xác thực về những gì ông ta đưa ra đáng để tranh luận. Thêm một sự liên hệ rõ ràng tới Đạo giáo là một khả năng Thái Cực Đồ bị ảnh hưởng từ Phật giáo bởi Chu Đôn Di được biết là Thầy cũng như bạn của Ông ta đều theo đạo Phật. Người được nhắc tới nhiều nhất là Thọ Nhai (Shou Ya) chùa Helin tại Runzhou (tỉnh Jiangsu), nơi Chu Đôn Di sống một thời gian những năm 20 tuổi. Theo Triều Thuyết Chi (Chao Yuezhi 1059-1129), Thọ Nhai dạy Chu Đôn Di nhưng dạy những gì thì không biết và Chu có phải là người KHÔNG theo Đạo Phật cũng đầy hoài nghi . Có một yếu tố đặc trưng của Phật giáo ảnh hưởng tới Thái Cực Đồ, là Guifeng Zongmi (圭峰 宗密 780-841) là nhà người Nhật dạy Phật giáo thời nhà Đường, là ông Tổ của Thiền Tông và Hoa Nghiêm Tông. Một trong những tựa hay sử dụng trong tác phẩm về Thiền Tông chính là Đồ hìnhcủa sự Khai Sáng, yếu tố Siêu Hình đại diện cho tàng Vô Thức. Nó chính là sự nhận diện cho Thái Cực Đồ. Tuy nhiên, Chu Hi bỏ hình tròn nhỏ vào giữa Đồ hình này và nói rằng nó đại diện cho Thái Cực. (Đồ hình của Tsungmi ) Đồ hình này được tìm thấy từ tàng thư tại hang Mogao, Dunhuang xác định là năm 952. Như vậy, đây là bằng chứng cho thấy Đồ hình Chu Đôn Di có nguồn gốc từ Phật giáo. Như vậy, chúng ta có thể thấy đồ hình ÂM DƯƠNG ngày nay chỉ mới xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu TK 20. Nó không thể hiện được tính minh triết của lý thuyết Âm Dương mà là thể hiện qua tư duy và lý thuyết của Đạo giáo. Thế nhưng rất nhiều tác giả vẫn khăng khăng cho là, hai chấm đen trong lưỡng nghi thể hiện Thiếu Âm và Thiếu Dương là từ thời Chu Đôn Di, khi mà ngay cả Chu Đôn Di cũng không được coi là người tạo ra Thái Cực Đồ. Thái Cực Đồ hay ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG được lưu giữ từ nền văn hóa Việt trải gần 5000 năm Lịch sử , mô tả đầy đủ triết lý của lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã cho ta thấy, người Việt mới là người nắm giữ đầy đủ học thuyết này. Những vòng xoáy âm dương được tìm thấy ở rất nhiều các công trình cổ đại, các di vật khảo cổ trên khắp thế giới. Niên đại lâu nhất của cổ vật được tìm thấy tới 12000 năm BCE (trước CN). · Phế tích tại Chichen izta từ nền văn minh Aztecs. Dấu hiệu âm dương Việt lại tiếp tục xuất hiện trên các cong trình kiến trúc tại thánh địa của người Maya ! Cổ vật từ nền văn minh maya cổ đại tìm thấy tại Ecuador Con Cá Vettersfelde hay là witaszkowo ( một thành phố tại Ba lan) nơi con cá được tìm thấy. Đây là con cá được làm khoảng 500 năm trước công nguyên do người Scythians (gốc iran) chế tạo từ vàng nguyen chất. Một loại vũ khí của người Maori , thổ dân new Zealand Đây là viên đá cổ thuộc kỳ đồ đá mới Neolithic 10200 năm Bc và kết thúc khoảng 4500Bc được tìm thấy ở Knowth- Ireland, được gọi là viên đá mặt trăng Dấu tích đồ hình âm dương Việt trên họa tiết trang phục trong nền văn minh Trylolye 5400-2750 TCN. (nay thuộc nước cộng hòa Moldova, Romania và Ukraina) ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TRONG ĐẠO HINDU “Thái cực sinh lưỡng nghi Lưỡng nghi sinh tứ tượng Tứ tượng biến hoá vô cùng” Âm Dương Ngũ Hành vỗn vẫn được biết tới là một nền tảng lý thuyết của nền văn minh Đông phương. Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân của tôi thì ADNH là một lý thuyết thuộc về một nền văn minh cổ của nhân loại đã bị huỷ diệt, và mỗi một nền văn minh sau này nắm giữ một mảnh của lý thuyết vĩ đại đó. Qua các nghiên cứu cá nhân, tôi vô tình phát hiện ra sự mô tả lý thuyết ADNH trong đạo HINDU, một trong những Đạo lâu đời nhất và cũng là Đạo có nhiều CHÚA Trời nhất (khoảng 330 triệu vị Thần). Một trong những biểu tượng có trong các ngôi Đền Hindu, đó là biểu tượng LINGA SHIVA, biểu tượng của sự Huỷ Diệt và Tái Sinh. Có rất nhiều sự sai lầm về hình tượng này. Một số thì cho rằng đây là Biểu tượng tôn thờ tín ngưỡng phồn thực, rằng đây chỉ là mô tả bộ phận sinh dục của người đàn ông, và ở dưới là hình tượng mô tả bộ phận sinh dục của đàn bà. Trong Hindu giáo, biểu tượng này được gọi là Linga Shiva và cũng có sự hiểu sai lệch rằng đây là hình tượng Dương vật của thần Shiva(một trong những vị Thần vĩ đại nhất trong Hindu giáo), và phía dưới là biểu tượng Âm vật của thần Shakti. Từ Shiva có nghĩa là Tốt Lành, Linga (hay Lingam) có nghĩa là hình tượng, là dấu hiệu. Và Linga Shiva tức là hình tượng của sự bất tử của Thần Shiva. Đó là biểu tượng của Đấng sáng tạo, là sự tự nhận thức vượt qua sự sinh sôi, sự huỷ diệt, sự tốt-xấu, Thần Linh và Ma Quỉ, thời gian và Vũ trụ. Là điểm khởi nguồn của vạn vật. Nếu dịch nghĩa từ Dương Vật trong ngôn ngữ Hindi (Sanskrit), thì sẽ là từ SHISHNAM, không phải là từ Linga. Sự hiểu sai ngay từ chính người theo Đạo Hindu cũng do bởi sự cố tình làm sai lệch ý nghĩa, xuất phát từ những kẻ xâm lược và muốn huỷ diệt Hindu giáo. Biểu tương này là thể hiện sự bất tử của Thần Shiva nhưng từ sự sai lệch dẫn tới từ này mang ý nghĩa khác, Từ Yoni cũng vậy, có nghĩa là Mẹ Thiên Nhiên, là biểu tượng của sự sinh sôi nhưng lại được hiểu sai thành bộ phận sinh dục phụ nữ. Đây là hình tượng của Thần Parvati, vợ của Thần Shiva. Biểu tượng Linga có hai dạng chính: 1. Tại Ấn độ, Nepal: Linga hình tròn và Yoni cũng hình tròn. Trên Linga có biểu tượng ba gạch liền và hình tượng Con Mắt thứ Ba ở giữa. Con mắt này đều xuất hiện trên Trán của Thần Shiva thể hiện sự thông hiểu, là ý thức, nhận thức, là sự xuyên suốt. Đây cũng chính là mô tả hình thái của Vũ Trụ 2. Tại Đông Nam Á: Biểu tượng Linga phức tạp hơn, thể hiện hình tượng của ba vị Thần tối cao trong Hindu giáo. 3 vị thần thể hiện vòng tròn cuộc sống (Samsara) : SINH-VƯỢNG-MỘ a. Thần Shiva-hình Tròn và chạm khắc mặt của vị Thần này- Là vị thần của sự huỷ diệt,sự tái sinh, là công lý, phán xét. b. Thần Visnu-Bát giác, là vị thần của sự che trở, bao bọc, bảo vệ c. Brahma-hình Vuông. là đấng sang tạo.Là vị thần tạo ra nguồn gốc của con người. d. Yuni: địa cầu, đất Mẹ Nhìn vào Biểu tượng Linga , điều nhận thấy đầu tiên đó là hình tượng Quẻ CÀN trong Bát Quái của Lý Học Đông Phương. Đây là tượng của Thần Shiva là Đấng sáng tạo nhưng cũng là vị Thần của sự Huỷ Diệt, và đó cũng chính là ý nghĩa của quẻ CÀN :Hình Trụ/Tròn Là Trời, là Cha, thuộc Dương. Biểu tượng Yoni: Là tượng của Trái Đất, là Mẹ,thuộc ÂM. Tuy nhiên Yoni ở vùng ĐNA như Campuchia, Vietnam thì lại là hình Vuông – Là quẻ Khôn,. Vẫn là hình Tròn và Vuông trong Lý Học Đông Phương thể hiện sự Sinh Sôi, Sáng Tạo, là hình tượng của Cha –Mẹ. Tuy thể hiện qua nhiều hình thể khác nhau do ảnh hưởng của tôn giáo nhưng về bản chất vẫn là sự mô tả nhận thức của con Người với Vũ Trụ quan. Chúng ta cũng có thể nhận thấy đâu đó có sự xuất hiện của Tứ Tượng và Bát quái trên Linga. Ví dụ Linga tại Nepal, tượng bát quái mô phỏng bằng bông hoa Sen Theo các tài liệu nghiên cứu thì các vị Thần Hindu giáo được đặt tên cho các Chòm Sao Hoàng Đạo của chiêm tinh học Vệ Đà vào khoảng 5000 năm trước công nguyên. Do đó, Thiên Chúa giáo cũng nhận được ảnh hưởng của biểu tượng Linga (Âm Dương) và hình dưới chính là quảng trường Thánh Peter tại Vatican. Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành là lý thuyết gốc để rồi từ đó chúng ta mới có các bộ môn ứng dụng như lịch Can Chi, Kinh Dịch, Địa Lý, Tử Vi, vv..Người Trung Quốc tin rằng học thuyết ADNH cùng những bộ môn ứng dụng đó là do tổ tiên họ sáng tạo ra, từ những nhân vật thần thoại như vua Phục Hy nửa người nửa rắn hay linh vật như Long Mã , Rùa thần. Người Trung Hoa kể rằng vua Phục Hy - thời tam Hoàng ngũ Đế , là thủy tổ của loài người (nhưng không xác định được là thần hay là người) niên đại khoảng năm 2852–2737 TCN (nguồn Wiki) . Phục Hy là người tạo ra Bát Quái, Hà Đồ , Kinh Dịch và Tiên Thiên bát quái đồ. Tuy nhiên chúng ta đều biết rằng vào thời kì niên đại khoảng 3000 năm TCN thì đã tồn tại các nền văn minh khác, và cùng thời với nền Văn Minh Lạc Việt của Vua Hùng (2879 TCN) 1. Bát quái , Hà Đồ và Kinh Dịch được vua Phục Hy tạo ra, Lạc Thư do vua Đại Vũ tạo ra nhưng mãi sau gần 2000 năm sau thì người Trung Quốc mới có học thuyết Âm Dương ngũ hành ? Phải có Thái Cực và ÂM DƯƠNG thì mới sinh ra Bát Quái nhưng thật tài tình là người Trung Quốc sáng tạo ra Bát Quái rồi mới tạo ra lý thuyết Thái Cực sinh Lưỡng Nghi !Đấy chẳng phải là câu chuyện “ Sinh Con rồi mới Sinh Cha”? ! 2. Lục Thập hoa Giáp và lịch Can Chi thì người Trung Quốc nói rằng họ có từ năm 1250 TCN vào thời nhà Thương. Nhưng hệ thống Ngũ Hành thì lại được tuyên bố được sáng tạo vào khoảng 168 TCN thời nhà Hán (206-220 BCE) ? chưa có ngũ hành mà lại có lịch Can Chi và Lục Thập Hoa Giáp ? 3. Hà Đồ - Lạc Thư mô tả chiều Ngũ Hành Tương Sinh và Tương Khắc thế nhưng Ngũ Hành lại sinh ra sau Hà Đồ - Lạc Thư tới hơn 2700 năm ? 4. Hà Đồ -Lạc Thư được người Trung Hoa khẳng định là ma trận toán học đầu tiên và cổ xưa nhất trên thế giới. Thế nhưng họ lại cũng khẳng định hệ thống toán học cổ xưa nhất của Trung Quốc có trên mai rùa và thư tịch cổ lại có từ thời nhà Thương (1600-1046 TCN), tức là ma trận toán học lại có trước cả khi có hệ thống toán học ? vậy làm sao lại có được ma trận 3x3 mà tổng các hàng, cột đều bằng 15 và có hệ thống số đếm trên Lạc Thư- Hà Đồ do vua Phục Hy và Đại Vũ làm ra từ trước cả hơn 1000 năm ? 5. Tử Vi đẩu số, một bộ môn ứng dụng từ thuyết Âm Dương Ngũ Hành được coi là sự sáng tạo của một Đạo sỹ thời nhà Đường (681-907) tên là Lã Thuần Dương(Lu Chun Yang - 呂純陽), sau đó được Ông Hy Di Trần Đoàn đời nhà Tống phát triển bổ xung, rồi tới cuối cùng hoàn thiện như ngày hôm nay bởi La Hồng Tiên ( Luo Hong Xian -羅洪先) đời nhà Thanh . Thời điểm mà người Trung Hoa nói rằng tạo ra thái cực đồ với hệ lý thuyết Âm Dương ( Thái cực sinh lưỡng nghi) là vào thời nhà Tống, do Chu Đôn Di sáng tạo ra. Người ta nói rằng đây là bộ môn thiên văn cổ dùng để tiên tri, bói toán nhưng nó hoàn toàn dựa vào học thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà ra. Nếu bạn đã một lần xem tử vi đẩu số, chắc hẳn ngoài chữ "SAO" thì bạn sẽ không tìm được dấu vết nào liên quan tới Thiên văn học cả. Câu hỏi là : - Nếu chưa có lý thuyết về Âm-Dương thì làm sao sinh ra Ngũ Hành để rồi có được lá số tử vi với hệ thống phức tạp liên quan tới Âm Dương ? Như vậy chẳng phải là Sinh Cháu giữ nhà rồi mới Sinh Ông ? Chỉ duy nhất có Thái Ất thần số là bộ môn thiên văn học cổ của người Việt không bị gắn vào thời kỳ nào hay tác giả nào, chỉ nói chung chung là của người Trung Hoa. Chúng ta cũng nên biết rằng Thái Ất là bộ môn tính toán Lịch cao cấp nhất cho tới ngày nay, từ năm GIÁP TÝ thời thượng cổ cách nay(2017) là 10,141,313 năm. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là người nắm giữ đầy đủ nhất về bộ môn này. Trong lịch sử Trung Quốc đã ghi lại lịch Can Chi của người Việt đã được Vua Hùng tặng cho vua Nghiêu (Yao Emperor 2356-2255 TCN) viết dưới dạng chữ Khoa Đẩu. Hệ Can Chi cũng là hệ duy nhất sử dụng trong các ĐỜI trị vị của HỒNG BÀNG THỊ. 18 Thời Vua Hùng bao gồm (trích dẫn từ WIkipedia tiếng Anh, tiếng Việt không đề cập tới chi tiết này): I. Kỷ thứ nhất (2879–2000 BC) • Càn hệ (Hùng Dynasty I, c. 2879 – 2794 BC) • Khảm hệ (Dynasty II, c. 2793 – 2525 BC) • Cấn hệ (Dynasty III, c. 2524 – 2253 BC) • Chấn hệ (Dynasty IV, c. 2254 – 1913 BC) II. Kỷ Phùng Nguyên (2000–1500 BC) • Tốn hệ (Dynasty V, c. 1912 – 1713 BC) • Ly hệ (Dynasty VI, c. 1712 – 1632 BC) • Khôn hệ (Dynasty VII, c. 1631 – 1432 BC) III. Kỷ Đồng Đậu (1500–1100 BC) • Đoài hệ (Dynasty VIII, c. 1431 – 1332 BC) • Giáp hệ (Dynasty IX, c. 1331 – 1252 BC) • Ất hệ (Dynasty X, c. 1251 – 1162 BC) • Bính hệ (Dynasty XI, c. 1161 – 1055 BC) IV. Kỷ Gò Mun (1100–800 BC) • Đinh hệ (Dynasty XII, c. 1054 – 969 BC) • Mậu hệ (Dynasty XIII, c. 968 – 854 BC) • Kỷ hệ (Dynasty XIV, c. 853 – 755 BC) V Kỷ Đông Sơn (800–258 BC) • Canh hệ (Dynasty XV, c. 754 – 661 BC) • Tân hệ (Dynasty XVI, c. 660 – 569 BC) • Nhâm hệ (Dynasty XVII, c. 568 – 409 BC) • Qúy hệ (Dynasty XVIII, c. 408 – 258 BC) Không có Âm Dương Ngũ Hành, Bát Quái, Can Chi thì làm sao Tổ Tiên của Việt tộc lại sử dụng tri thức đó cho chính các thời kỳ trị vị, Hiến pháp (Hồng Phạm Cửu trù), lịch Can Chi, Lạc thư Hoa Giáp (nạp âm 60 năm khởi từ Giáp Tý) ? Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành của nền Văn Minh Lạc Việt đã phải có từ trước khi Thủy Tổ của Việt tộc -Vua Kinh Dương Vương lâp quốc tới nay là 4896 năm. Người Trung Quốc sau khi Tần Thủy Hoàng xâm chiếm và hủy hoại toàn bộ nước Văn Lang để thống nhất Trung Quốc, đốt sách và hủy hoại nền văn minh Lạc Việt nhằm viết lại lịch sử. Ông ta đã không lấy được đầy đủ học thuyết ADNH từ nền văn minh Lạc Việt nên sau đó hễ cứ lấy được mẩu nào thì gắn truyền thuyết vào mẩu đó mà không có tính hệ thống nên đã trở thành sự chắp vá, thậm trí gán cả vào các truyền thuyết mơ hồ. Cái nào tìm được trên khảo cổ hay văn bản cổ thì họ công bố luôn mà không cần tìm hiểu nguồn gốc trước đó, ví dụ như hệ thống toán học cổ và Lạc Thư-Hà Đồ. Cho nên Ông Cha ta mới tạo ra chuyện Sinh con rồi mới sinh cha,Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh Ông để nhắn nhủ cho thế hệ con cháu đi tìm sự mâu thuẫn trong nguồn gốc của học thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH của người Trung Hoa cũng như tìm lại Cội nguồn đích thực của học thuyết này.
  5. ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT TRONG QUI HOẠCH KIẾN TRÚC KINH ĐÔ HUẾ Mạnh Đại Quân - Hoàng Triệu Hải. Giám đốc TTNC LHDP. Năm 1803 Hoàng đế Gia Long sau khi lên ngôi đã cho khảo sát địa thế và tiến hành xây dựng Kinh đô Huế cho triều đại kéo dài từ 1802 – 1945. Nhiều nhà Địa Sư nói Kinh đô Huế là “Vương đảo” quả cũng không sai, bởi Kinh thành Huế được bao bọc bởi dòng sông Hương phía trước và hai nhánh là sông Kim Long và sông Bạch Yến phía sau rồi cùng hội tụ tại hạ lưu. Kinh thành Huế được thiết kế và qui hoạch kiến trúc theo truyền thống hàng ngàn năm của người Việt. Kinh đô Huế được xây dựng trong suốt 30 năm – năm 1832 hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. Ngành Địa lý phong thủy của người Việt hay Trung Hoa, từ xa xưa vốn dĩ chỉ giành cho Vua Chúa, được lưu trữ và truyền lại trong Hoàng Tộc. Từ đời trước, khi Chúa Nguyễn từ Bắc vào “Đàng Trong”, đã mang theo di sản của cha ông từ “Đàng Ngoài”, và sau này Kinh thành Huế, là nơi được Hoàng Đế Gia Long áp dụng Địa lý cho qui hoạch kiến trúc cũng như Lăng mộ của chính mình. Tôi tin chắc chắn rằng: Vua Gia Long đã tiếp nối những tinh hoa của dân tộc Việt và truyền thừa những di sản của tổ tiên để lại. Và Ngài đã tiếp tục truyền lại cho đời sau, kiến thức từ công trình duy nhất còn tồn tại tới ngày hôm nay – Kinh đô Huế. Dưới góc nhìn Âm trạch thì lăng mộ của Hoàng Đế Gia Long cũng là một ẩn số, bởi cách Ngài bố trí và xây dựng khu lăng mộ này, để triều Nguyễn là Một trong những vương triều trị vị lâu nhất trong lịch sử Việt nam. Lăng mộ hiện nay, theo quan điểm riêng của tôi là mộ gió, tức là phần hài cốt được táng ở một nơi bí mật. Câu chuyện bắt đầu từ ngày tôi được đọc bài viết về Địa lý phong thủy Lăng Mộ của Hoàng Đế Gia Long. Nó cuốn hút tôi bởi những bí ẩn, mà những người theo đuổi bộ môn này đều muốn khám phá. Tôi ước sớm có thể quay trở lại Huế chỉ với một mục đích: Tìm hiểu về ứng dụng Địa lý của người Việt, vẫn còn được lưu lại trên Kinh đô Huế. Thật nhanh chóng chỉ sau đó 1 tuần, cơ duyên cho tôi được toại nguyện. Với sự giúp đỡ của những nhà nghiên cứu tại Huế, tôi được nghe kể và đưa tới những địa điểm mang dấu ấn của Hoàng Đế Gia Long: Lăng Mộ, Đàn tế Nam giao, Đại Nội. Tôi được quay lại các địa điểm Lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, Lăng Khải Định, đồi Vọng Cảnh và mỗi một nơi tôi đều được kể về lịch sử cũng như các câu chuyện của những nhà nghiên cứu văn hóa Huế. Nhìn bản đồ và hình ảnh từ vệ tinh của Kinh đô Huế, chúng ta cũng chưa nhận ra hết được sự đặc biệt của kiến trúc và qui hoạch, dưới góc nhìn Địa lý phong thủy. Phải nói rằng, Kinh đô Huế đã mang lại cho tôi hết bất ngờ này tới bất ngờ khác, liên quan đến sự huyền vĩ của nền văn hiến Việt cho chuyên ngành Địa Lý phong thủy. Hướng của Kinh đô Huế được xác định là hướng của Đại Nội, nơi được coi là trung tâm đầu não của Kinh đô Huế. Hướng của cổng Ngọ Môn và Đại Nội là 142 độ: Tức tọa phương Càn, hướng phương Khôn (theo Lý học Lạc Việt đổi chỗ Tốn/ Tây nam – Khôn đông nam), với nguyên lý căn để là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ', do nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Thiên Sứ phát hiện và làm cơ sở cho việc chứng minh cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương. Mô tả chính xác là Đại Nội Huế tọa Hợi (Tây Bắc), Hướng Tỵ (Đông Nam), kiêm hướng 4 độ. Bản đồ của người Pháp vẽ đầu thế kỷ thứ 19 cũng mô tả chính xác hướng trục Bắc - Nam theo đúng hướng Bắc của la kinh Toàn bộ Kinh thành Huế, được xây dựng mô tả theo 24 Sơn và Thủy pháp cực kì chuẩn và được mô tả trong hình dưới đây. Sau khi phân cung, chúng ta sẽ dễ hiểu vì sao tường hào bao quanh Kinh thành lại có những góc nhô ra và lượn vào như vậy. Và vì sao, lại có khu Mang Cá, khu vực được thiết kế như chiếc Vương Miện của Hoàng Đế. Kinh đô Huế được sử dụng Địa lý phong thủy Tam hợp , trong đó lấy trục Tây Bắc-Đông Nam là trục Đế Vương. Xin được bạn đọc quan tâm lưu ý rằng: Chỉ có Địa lý Lạc Việt, sau khi đổi chỗ Tốn - Khôn với nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" thì mới có hai trục được gọi là Phúc Đức, Bao gồm trục Bắc-Nam và Tây Bắc – Đông Nam. Trong Địa Lý phong thủy Tàu, chỉ có duy nhất một trục Bắc (Khảm)/ Nam (Ly) là Phúc Đức trạch; Còn trục Đông Bắc (Cấn) / Tây Nam - Theo Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư là Khôn - chỉ là Sinh Khí trạch. Trên cơ sở đó, toàn bộ các căn nhà bên trong kinh thành sẽ được lấy theo hướng Trường Sinh của Tứ Đại Cục: Kim – Mộc - Thủy - Hỏa là các sơn Dần - Thân - Tị - Hợi , Cấn - Khôn -Tốn - Càn. Toàn bộ kinh thành là Thủy Cục và Thủy pháp là hệ thống Sông, Hồ nhân tạo cực kỳ chuẩn xác. Chúng ta dễ dàng nhận thấy: khi phân cung và định vị theo Địa Lý Lạc Việt, việc thiết kế khu vực Mang Cá chính là nơi toàn bộ nước được hội tụ về đây, trước khi chảy thoát ra ở phương SUY . Phần sông Ngự Hà chạy thành nửa hình chữ nhật , toàn bộ nằm trong khu Trường Sinh và Đế Vượng , thoát ra ở Suy – Bệnh. Tôi sử dụng phần mềm phân cung - và nếu theo lý thuyết phong thủy từ cổ thư chữ Hán, thì việc bố trí ta thấy đã nằm ngoài thủy pháp trường sinh của Kinh đô Huế. Khi đã sai lệch - giữa Địa Lý Phong Thủy Việt và sách Địa Lý Phong thủy Hán - thì không thể trấn yểm để phá hoại! Quả thật quá cao siêu! Đoạn sau đây, trích từ bài để bạn đọc tham khảo: Toàn bộ hệ thống hồ nước, sông được đào khi xây dựng Kinh thành Huế, đều được bố trí rất chuẩn xác tại các Sơn theo bố cục Loan Đầu tự nhiên của Huế. Bí ẩn ở chỗ, rất nhiều hồ được đặt đủ vào các sơn Canh- Dậu-Tân, Tuất-Càn- Hợi, Nhâm- Tí- Quí. Hình dưới đây được mô tả theo Địa Lý phong thủy Tàu, phân cung và lấy Trường Sinh theo phương pháp từ cổ thư chữ Hán, là tọa Càn, hướng Tốn (Đông Nam - theo "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư" , tứ cổ thư chữ Han). Các bạn cũng thấy sự sai lệch giữa Thủy Pháp Việt và sách Hán. Hình dưới đây. mô tà sự trùng hợp giữa Cung điện mang tên "Trường Sinh" trong Đại Nội, cũng chính là vị trí Trường Sinh của kinh Đô Huế. Hình mô tả trong Đại Nội có cung Trường Sanh, đó chính là vị trí Trường Sinh của Kinh Đô Huế. Tôi không có đủ thời gian để khảo sát dòng chảy các con sông quanh Kinh thành Huế. Nhưng theo bố cục này thì tôi có nhận định dòng chảy như sau: Tôi mong rằng sẽ có người nghiên cứu dòng chảy của Huế xác nhận thông tin này. Từ những thông tin tìm được từ Kinh thành Huế , tôi xác định rằng: nơi đây chính là di sản bảo tồn những lý thuyết và phương pháp Địa lý phong thủy của dân tộc Việt. (Địa Lý Lạc Việt). Và cũng là nơi xác định tính chính xác của của nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" (đổi chỗ Tốn-Khôn). Khả năng rất cao là phương pháp này, cũng đã được áp dụng cho phong thủy của Tử Cấm Thành - công trình do Ông Nguyễn An người Việt thiết kế xây dựng. (còn tiếp) Hà Nội mùng 10 tháng 3 năm Mậu Tuất -Việt Lịch
  6. hoả hoạn Http://m.soha.vn/he-lo-nguyen-nhan-chay-chung-cu-carina-lam-13-nguoi-chet-20180328072039921.htm
  7. Cá tra vướng vào tăng thuế , lại chuẩn bị kiện tụng http://m.cafef.vn/ca-tra-bi-ap-thue-cbpg-cao-ky-luc-mot-cach-vo-ly-viet-nam-se-kien-len-toa-an-thuong-mai-quoc-te-my-20180320214522861.chn
  8. http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh/2018-03-15/gia-thep-xay-dung-tang-manh-54904.aspx giá thép tăng mạnh đầu Năm 2018
  9. Các vụ tai nạn nghiêm trọng trên tuyết đường Bắc - Nam http://m.nguoiduatin.vn/xe-cuu-hoa-va-cham-xe-khach-cao-toc-phap-van-cau-gie-un-tac--a362778.html
  10. Các vụ cướp tiệm vàng, ngân hàng sẽ gia tăng, cần đề phòng http://m.soha.vn/tao-ton-dung-bua-dap-tu-cuop-tiem-vang-tai-binh-duong-20180204225257789.htm
  11. TỔNG QUAN NĂM MẬU TUẤT 2018 Kính thưa Quí Vị, Tiếp nối truyền thống của Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương mà khởi sướng là nhà Nghiên Cứu : Nguyễn Vũ Tuấn Anh –Chủ tịch hội đồng khoa học Trung Tâm , nguyên Giám Đốc Trung Tâm, hàng năm cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về đều có những bài dự báo tổng quan cho năm mới dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và nền tảng nguyên lý “Hà Đồi phối hậu Thiên Lạc Việt”. Phương pháp dự báo sử dụng của Chúng tôi bao gồm Huyền Không Phi Tinh thuận-nghịch cùng phối hợp quẻ Lạc Việt Độn Toán và đây cũng sẽ luôn là phương pháp xuyên suốt cho tất cả các dự báo của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương . Quẻ Chủ : ĐỖ - TIỂU CÁT (ngày mùng 1 tháng Giêng năm Mậu Tuất) Quẻ Độn: Cảnh - Xích Khẩu Huyền không lạc việt phi tinh: Cử Tử nhập trung cung. Thiên Can Mậu- Thổ bình hòa Địa chi Tuất –Thổ Lạc thư hoa giáp : Vận khí Bình Địa Mộc Quẻ chủ Đỗ - Tiểu Cát : Tượng trưng của sự phát triển và thành công trong lĩnh vực văn hóa, kết nối, Dựa trên sơ đồ phân cung của Địa Lý Lạc Việt phối hợp Lượng thiên Xích trên nền tảng Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài 9 – Ly 7, chúng ta xem xét trên từng khu vực -Cửu Tử nhập trung: Sao Hữu Bật Cửu Tử - 9 theo Huyền không đại quái là Lệnh Tinh, theo Huyền Không phi tinh là tiến Khí chính Thần – ngũ hành thuộc Kim (khác với HKPT truyền thống thì ngũ hành của Cửu tử 9 thuộc Hỏa). Đây chính là sự cát lợi bởi được hỗ trợ từ Thiên can và Địa chi cho dù khắc vận khí Mộc. -Tả Phù Bát bạch 8 đáo cung Tốn - Tây Nam : là Sao đương lệnh (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Mộc. Cho dù là cát tinh nhưng nằm tại cung Tốn thuộc Kim (Huyền không Lạc Việt) nên cũng giảm đi rất nhiều sự cát lợi của sao này. -Phá Quân Thất xích 7 đáo cung Chấn: là sao thoái khí nhưng vẫn được coi là cát tinh trong vận 8.Được hỗ trợ cung Chấn Mộc lại càng gia tang thuộc tính Hỏa của nó. -Vũ Khúc Lục bạch 6 đáo cung Khôn –Đông Nam: là sao suy khí trong vận 8 lại bị cung Khôn thuộc Hỏa khắc nên đây là tổ hợp chiêu hung. -Ngũ hoàng 5 đáo cung Khảm- Bắc: đây là chủ của Hung sự trong năm tại phương Bắc. -Văn khúc Tứ lục 4 đáo cung Đoài: Là sao tử khí trong vận 8 lại được hỗ trợ từ cung Đoài thuộc kim nên sao này sẽ phát huy hết tính chất xấu của nó. Tuy nhiên, do cửu tử 9 nhập trung nên nhờ cát khí của trung cung mà hạn chế phần nào tác hại gây ra từ sao này cũng như tăng thêm cát khí cho cung Đoài. -Lộc tồn Tam Bích 3 đáo cung Cấn: là sao tử khí trong vận 8 lại là một cặp âm dương với cung Cấn. Đây cũng sẽ là cách cục chiêu hung của sao tam bích tại phương này. -Cự môn Nhị hắc 2 đáo cung Ly: Là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc âm hỏa đới thổ đáo cung Ly dương hỏa. Một cặp âm dương là cách cục chiêu hung của Nhị hắc -Liêm trinh Nhất bạch 1 đáo cung Càn: là sao tiến khí trong vận 8, ngũ hành Thủy đáo cung Càn nên đây là cách cục Cát lợi cho phương Càn. Từ những hạng mục cát hung của từng phương, tôi xin đưa ra các nhận định tổng quan như sau: 1. Kinh tế Đặc trưng của năm Mậu Tuất chính là sự phát triển và phục hồi cho các nền Kinh tế. Các ngành nghề như ngân hàng, kinh doanh bất động sản, kim loại quí, chứng khoán, tiền ảo sẽ là một năm khởi sắc. Sắt và kim loại sẽ tăng giá trị, do đó cũng rất phù hợp với việc BĐS sẽ tăng tốc . Tuy nhiên cần hết sức thận trọng bởi tiềm ẩn khá nhiều rủi ro khi mà xung Thái tuế thêm với sao Lục Bạch ở phương Khôn – đại diện cho Tiền Tài. Sao Lục Bạch chủ về tiền bạc thất bại, hao tổn, hình ngục do tiền bạc gây ra, trộm cướp. Do đó các Tiệm Vàng , Ngân Hàng cần hết sức đề phòng nâng cao cảnh giác với các vụ trộm cướp. Các nghành nghề như Cầm Đồ hoặc cho vay lãi ngày cần đề phòng dễ mất mát vì do quá ham lợi nhuận. 2. Nông nghiệp: Nghành chăn nuôi đặc biệt như Trâu , Bò, Lợn, Cá lại cần hết sức cẩn trọng do bệnh tật, do tranh chấp thương mại hoặc chính sách nhập khẩu của đối tác đối với các mặt hàng xuất khẩu như Cá, Lợn. 3. Văn hóa: Sẽ là một năm phát triển và nhiều thành tựu đối với ngành văn hóa. Bên cạnh đó cũng sẽ có nhiều vụ scandan liên quan tới nghành Văn hóa nói chung. 4. Chính sách: Đây là năm có nhiều cơ hội thuận lợi cho các nhà Lãnh đạo ra những quyết sách, chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chúng ta sẽ đón nhận những chính sách rất tốt để phát triển cũng như giải quyết những bế tắc tồn đọng. Cho dù kết quả cuối cùng sẽ còn nhiều bàn cãi nhưng tựu chung vẫn là những bước tiến đáng ghi nhận. 5. Ngoại giao: Là năm rất dễ xảy ra xung đột vào các tháng 3-6-9-12 âm lịch, do đó cần có những cái đầu lạnh của các nhà lãnh đạo cho một nền hòa bình toàn cầu. 6. Thiên tai : Chúng ta đã trải qua một năm 2017 với lũ lụt và bão tố hoành hành , như tôi đã dự báo trong bài Tổng quan 2017. Năm nay lũ lụt sẽ giảm đi rất nhiều nhưng vẫn có, tuy nhiên mức độ nhỏ và dễ dàng đối phó . Năm nay thiên tai và tai họa lại là từ Hỏa hoạn, do đó việc phòng cháy chữa cháy cần đặt lên hàng đầu. 7. Nhân họa , tai nạn: Cướp bóc mang tính hung tợn lại gia tăng, các cửa hàng kinh doanh Vàng bạc và Ngân hàng cần hêt sức đề phòng cảnh giác. Tai nạn giao thông mang tính thảm khốc khi số lượng người chết gia tăng trên các trục đường chính Bắc – Nam. Cháy nổ tuy ít nhưng mức độ thiệt hại gia tăng, thủy tai tuy giảm so với năm 2017 nhưng cũng vẫn là những thiệt hại nặng nề do bão lũ. 8. Bệnh tật: Các bệnh liên quan tới Máu huyết, dịch sốt xuất Huyết sẽ lại xảy ra ở phía Bắc và Nam với mức độ cao hơn năm ngoái. Các loại bệnh khác cần lưu tâm liên quan tới Thận, Tiêu Hóa. Trên đây là các cái nhìn tổng quan cho năm Mậu Tuất 2018 của Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải). Tết đến Xuân sang, xin kính chúc quí vị một năm mới An Khang-Thịnh Vượng và thật nhiều Sức khỏe-Hạnh Phúc. Hà nội tháng 1 năm Mậu Tuất 2018 Việt lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  12. CHỌN NGÀY TỐT Năm 2018 –Mậu Tuất -Vận khí Bình Địa Mộc PHƯƠNG PHÁP: Phương pháp chọn ngày tốt xấu được lưu truyền từ hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc Việt nam là rất đa dạng. Chúng tôi sử dụng phương pháp loại trừ, tức là dùng tất cả các phương pháp chọn ngày giờ theo phong tục cổ truyền để chọn ra một ngày được coi là tốt nhất sau khi loại ra những ngày xấu dựa trên các phương pháp này. Các phương pháp Cổ bao gồm các phương pháp: ü Sinh khắc của Can Chi ü Nhị thập bát tú ü 12 Chỉ Trực ü Hoàng Đạo – Hắc Đạo ü Sát chủ, Thọ tử, Dương Công Kị Nhật, Tam nương, Nguyệt kị, Vãng vong, Thiên Tai-Địa Họa Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Đinh Dậu và chào đón năm mới Mậu Tuất 2018. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được gìn giữ . Phong tục truyền thống bao gồm ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, đón Lành tránh Dữ. Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) đề xuất về các ngày gọi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo.Dùng cho năm Mậu Tuất, vận khí (mệnh tuổi) Bình Địa Mộc theo Lạc Thư Hoa Giáp. Tất Niên: Đây là một nghi thức tổng kết và ghi nhận những thành quả sau 365 ngày lao động sản xuất của Gia Đình và Dòng Tộc. Thông thường sẽ diễn ra vào các ngày 29 và 30 tháng Chạp với một nghi lễ Cúng Thần Linh và Gia Tiên. Đối với Công Ty và Nhà máy thì việc tổ chức ngày Tất niên cần diễn ra sớm hơn do đó những ngày tốt theo Việt lịch hợp với lễ Tất Niên, ngày đánh dấu * là ngày Hoàng Đạo. v Ngày 20 * tháng Chạp: Giờ tốt 7-9h ; 11-13h v Ngày 23* tháng Chạp: Giờ tốt 15-17h v Ngày 26* tháng Chạp: Giờ tốt 9-11h v Ngày 29* tháng Chạp: Giờ tốt 7-9h; 15-17h Ngày Xuất hành, Mở hàng: Ngày xuất hành là ngày đi xa để làm việc hay thực hiện việc quan trong chứ không phải là đêm 30 tết hay sáng mùng 1. Tuy nhiên theo phong tục thì ngày mùng 1 tết là ngày xuất hành để chúc tết và tới Chùa cầu An, nên sẽ có khung giờ tốt . v Ngày mùng 1 tết năm nay là ngày Tiểu cát nên chúng ta có thể ra khỏi nhà để đi xông đất hoặc Lễ Chùa từ khung giờ 23-1.00; 11-13h; 15-17h Thời gian quay lại làm việc là sau mùng 3 tết, cho nên ngày xuất hành tốt nhất là ngày: v Mùng 5 tháng Giêng: giờ tốt 7-9h ( trường hợp này là ngày Nguyệt kị nhưng do tính chất bắt buộc – vì là ngày nghỉ cuối cùng nên dùng ngày mùng 5 tốt hơn mùng 6) v Ngày 16 tháng Giêng: giờ tốt 9-11h; 17-19h. Ngày Tốt Khai Trương ,Mở hàng: v Mùng 2* tháng Giêng: 9-11h; 13-15h v Mùng 4 tháng Giêng: 9-11h; 17-19h v Ngày 16 tháng Giêng: giờ tốt 9-11h; 17-19h. Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Tây Nam Tuổi xông đất: Kỷ Hợi 1959 , Quí Hợi 1983, Kỷ Tỵ 1989. Hướng Tốt Để Động Thổ: phương vị động thổ cho năm 2017 là tại hướng Tây Nam: 202,5 độ- 247,5 độ . NGÀY GIỜ TỐT NĂM MẬU TUẤT 2018 Là những ngày Tốt dùng để Động thổ, khai trương, xuất hành, cưới hỏi và những việc quan trọng Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau: Lưu ý: Các ngày có đánh dấu (*) là ngày Hoàng Đạo 1. Tháng Giêng(kỵ giờ Dần 3-5h): v Mùng 2* tháng Giêng: 9-11h; 13-15h v Ngày 16 tháng Giêng: giờ tốt 9-11h; 17-19h. v Ngày 20 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h, 9-11h. v Ngày 29* tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 15-17h 2. Tháng Hai (kỵ giờ Tỵ 9-11h): v Ngày 8* tháng Hai: 7-9h; 11-13h; 15-17h v Ngày 10 tháng Hai: giờ tốt 7-9h ;11-13h v Ngày 12 tháng Hai: giờ tốt 7-9h, 19-21h. v Ngày 20* tháng Hai: giờ tốt 7-9h, 19-21h v Ngày 21* tháng Hai: giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h v Ngày 24 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h v Ngày 25 tháng Hai: giờ tốt 3-5h; 15-17h 3. Tháng Ba (kỵ giờ Thân 15-17h): v Ngày 4* Tháng Ba: 5-7h; 13-15h; v Ngày 10* Tháng Ba: giờ tốt 7-9h ;11-13h v Ngày 15* Tháng Ba: giờ tốt 11-13h, 15-17h. v Ngày 16* Tháng Ba: giờ tốt 9-11h, 13-15h v Ngày 28 Tháng Ba giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h 4. Tháng Tư kỵ giờ Thìn (7-9h): v Ngày 1* Tháng Tư: 5-7h; 9-11h. v Ngày 12* Tháng Tư: 15-17h; 19-21h. v Ngày 19* Tháng Tư: 5-7h; 13-15h; 17-19h v Ngày 25 Tháng Tư: : 5-7h ; 9-11h 5. Tháng Năm kỵ giờ Dậu(17-19h): 1 2 6 9 17 21 25 26 29 v Ngày 01* Tháng Năm: 7-9h; 15-17h. v Ngày 06* Tháng Năm: 5-7h; 9-11h; v Ngày 21* Tháng Năm: 11-13h; 15-17h v Ngày 26* Tháng Năm: 5-7h; 13-15h v Ngày 29* Tháng Năm: 7-9h; 15-17h 6. Tháng Sáu kỵ giờ Mão (5-7h): v Ngày 08 Tháng Sáu: 7-9h; 15-17h; 19-21h v Ngày 09* Tháng Sáu: 13-15h; 17-19h v Ngày 15* Tháng Sáu: 9-11h; 17-19h v Ngày 21*Tháng Sáu: 9-11h; 13-15h v Ngày 24*Tháng Sáu: 15-17h; 17-19h 7. Tháng Bảy kỵ giờ Dần (3-5h): v Ngày 06* Tháng Bảy: 5-7h; 17-19h v Ngày 10 Tháng Bảy: 9-11h; 13-15h; 17-19h v Ngày 12* Tháng Bảy: 9-11h v Ngày 24* Tháng Bảy: 5-7h ; 17-19h v Ngày 30* Tháng Bảy: 5-7h ; 17-19h 8. Tháng Tám kỵ giờ Tỵ (9-11h):1 4 6 8 11 12 15 16 20 24 25 26 28 v Ngày 01 Tháng Tám: 13-15h ; 17-19h v Ngày 06 Tháng Tám: 7-9h; 15-17h; 19-21h v Ngày 12* Tháng Tám: 7-9h ; 11-13h v Ngày 15 * Tháng Tám: 5-7h ; 13-15h; 17-19h; 21-23h v Ngày 24 Tháng Tám: 11-13h ; 15-17h ; 19-21h v Ngày 25 Tháng Tám: 9-11h ; 13-15h; 17-19h 9. Tháng Chín kỵ giờ Thân (15-17h): 1 2 8 10 11 20 26 29 v Ngày 01 Tháng Chín: 7-9 ; 11-13h v Ngày 02* Tháng Chín: 5-7h; 9-11h ; 13-15h v Ngày 08* Tháng Chín: 9-11h ; 13-15h; 17-19h v Ngày 20* Tháng Chín: 5-7h; 9-11h ; 17-19h v Ngày 29* Tháng Chín: 7-9h; 19-21h 10. Tháng Mười kỵ giờ Thìn (7-9h): v Ngày 08* Tháng Mười: 15-17h v Ngày 10* Tháng Mười: 19-21h v Ngày 20*Tháng Mười: 15-17h; 19-21h v Ngày 21 Tháng Mười: 5-7h; 13-15h; 17-19h 11. Tháng Một (11) kỵ giờ Dậu (17-19h): v Ngày 02 Tháng Một (11): 9-11h v Ngày 04* Tháng Một (11): 5-7h; 13-15h v Ngày 16* Tháng Một (11): 9-11h; 13-15h v Ngày 20 Tháng Một (11): 5-7h; 13-15h v Ngày 26 Tháng Một (11): 9-11h v Ngày 28* Tháng Một (11): 5-7h; 13-15h; 21-23h 12. Tháng Chạp (12) kỵ giờ Mão(5-7h): v Ngày 09* Tháng Chạp (12): 5-7h; 9-11h; 17-19h v Ngày 12* Tháng Chạp (12): 15-17h; 19-21h v Ngày 15* Tháng Chạp (12): 9-11h; 13-15h v Ngày 21* Tháng Chạp (12): 9-11h; 17-19h v Ngày 25* Tháng Chạp (12): 7-9h; 19-21h v Ngày 30* Tháng Chạp (12): 7-9h; 11-13h; 15-17h CHÚC MỪNG NĂM MỚI, CHÚC QUÍ VỊ MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG Hà nội tháng 12 năm Đinh Dậu Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  13. THANH LONG – BẠCH HỔ TỨ TƯỢNG (Tứ THÚ) HUYỀN VŨ-CHU TƯỚC ; TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY Bộ môn Địa Lý Phong Thủy có gốc rễ từ học thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH, và tất nhiên mọi yếu tố trong Địa lý đều tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc của học thuyết này. Tứ Tượng hay tứ thánh thú là một khái niệm hình tượng trong Lý học Đông Phương. Huyền Vũ của phương Bắc, Thanh Long của phương Đông, Bạch Hổ của phương Tây và Chu Tước của phương Nam. Tuy nhiên, cách định nghĩa về tứ tượng hiện nay đều không mang tính hệ thống và từ đó chúng ta không thể có được một sự thống nhất trong ứng dụng của các yếu tố cơ bản này. Nhân sự việc tôi có xem một video trên youtube của một vị chuyên gia phong thủy bên Mỹ, ông ta cho rằng yếu tố Thanh Long – Bạch Hổ trong Âm trạch (mồ mả) khác với Dương Trạch (nhà ở) tức là Âm trạch thì Tả Thanh Long tức bên trái quan tài xác định theo đầu người đã khuất, Nhưng dương trạch là nhà ở thì phải đứng từ ngoài nhìn vào nhà, thì bên tay trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ. Từ đây cho chúng ta thấy một điều, các lập luận kiểu như thế này thể hiện một sự sai lầm khi không hiểu bản chất cốt lõi trong mô hình biểu kiến này. 1. Định nghĩa và cách hiểu hiện nay Định nghĩa hiện nay đa phần được hiểu các yếu tố này như sau: “Hình thế núi cao ba bề gợi cho ta nhớ tới một chiếc “ghế bành”, biểu tượng của cuộc sống tiện nghi. Thế đất Tứ Tượng bao gồm: - Huyền Vũ (rùa đen) là trái núi phía sau ngôi nhà, lý tưởng nhất là nằm ở phương Bắc. - Thanh Long (rồng xanh) là ngọn đồi phía tay trái ngôi nhà, tốt nhất là nằm ở phương Đông. - Bạch Hổ (hổ trắng) là ngọn đồi phía tay phải ngôi nhà, nó phải thấp hơn đồi Thanh Long bên trái và núi Huyền Vũ sau nhà. - Chu Tước (chim sẻ đỏ) là gò đồi nhỏ trước mặt nhà, lý tưởng nhất là ở phương Nam.” Việc qui định các yếu tố tứ tượng hay tứ thú này trong Địa Lý Phong Thủy theo định nghĩa như trên là sự áp đặt dẫn tới việc thiếu tính chặt chẽ và hiểu sai lệch. Ví dụ như nếu nhà hướng Tây thì tức là không xác định được các yếu tố còn lại bởi định danh hướng - Chu tước do Chu tước định danh là hướng Nam và tọa sơn là Huyền Vũ. Với cách hiểu thế này thì chỉ có ngôi nhà có hướng Nam thì mới hợp các yếu tố Địa Lý ? điều này hoàn toàn vô lý. 2.Đi tìm định danh Tứ Thú hay Tứ Tượng - Biểu tượng tứ thú trong Địa Lý dùng để mô tả tính âm dương : Trước-Sau, Phải-Trái , xuất phát từ mô hình chuẩn được nền văn minh Cổ Xưa xây dựng nên. Trong Địa Lý Lạc Việt, nguyên tắc Âm Dương là : Dương trước – Âm Sau, Dương thấp- Âm Cao, Dương tả-Âm hữu, Nam tả-Nữ hữu, Nam nghịch-Nữ Thuận. a. Huyền Vũ bản chất không liên quan tới tên của loài Rùa nhưng vì sao lại lấy hình tượng loài Rùa cho yếu tố Huyền Vũ ? và trong ĐLPT thì Huyền Vũ lại được coi là Sơn ? “Con rùa chính là biểu tượng của nền văn hiến Việt ở thời sơ khai: "Vào thời vua Nghiêu, có sứ giả Việt Thường dâng con rùa lớn. Trên lưng có khắc văn Khoa Đầu, ghi việc trời đất mở mang". Hình tượng chim Hạc (Lạc) đứng trên lưng rùa chầu tiên thánh, cũng là một biểu tượng khác xác định giá trị của nền văn minh Lạc Việt. Sự xác định Huyền Vũ chính là thực tại vũ trụ thì đối xứng với Huyền Vũ phương Bắc, chính là sự nhận thức của văn hóa, tri thức: Phượng hoàng lửa phương Nam. “ Trích dẫn: Thầy Thiên Sứ -Nguyễn Vũ Tuấn Anh Sơn hay điểm tựa vững chắc,, chính là sự nhận thức văn hóa và tri thức, và vì thế được coi là yếu tố phía sau- Thuộc ÂM. Lạnh và tối ở phương Bắc trái với nóng và Sáng ở phương Nam, Tri thức và văn hóa thuộc về phương Bắc , vậy nên mô hình biểu kiến Huyền Vũ thuộc phương Bắc và Trong đồ hình Tiên Thiên , quẻ khôn được xếp vào phương Bắc – Khôn-Lạnh thuộc Âm – phía Sau. Tất nhiên, mô hình biểu kiến Huyền Vũ ở phương Bắc nhưng không có nghĩa là Phương Bắc nhất định là yếu tố Huyền Vũ. Huyền Vũ thuộc Âm- Nhô cao - là Sơn . b. Chu tước: lấy tượng là chim Tước Đỏ. là Nóng – Sáng Đối với phương Bắc Lạnh- tối, đại diện là Phương Nam – thuộc Dương. Tiên thiên quái Càn- Dương được xếp ở phương Nam. Đây là yếu tố Hướng trong ĐLPT bởi Dương trước – thấp. Trong ĐLPT thì Thấp trũng là hình tượng của Thủy – tụ. Chính vì thế, yếu tố Thủy không phài là nước và Sơn không phải là núi. Hai yếu tố này là cùng cặp DƯƠNG -ÂM : TRƯỚC-SAU, THẤP-CAO. Vì vậy tính chất của cặp Âm Dương này là : phía trước thuộc DƯƠNG là Thấp hơn, là phía Trước, là Sáng sủa đối với nó là phía Sau, là Cao hơn, là tối. c. Thanh Long : lấy tượng là rồng Xanh và tất nhiên Rồng không có thật.Tuy nhiên, Rồng là biểu tượng sức mạnh, là Dương, là linh vật tạo ra mưa , nước. Trên mô hình biểu kiến nếu đứng tựa lưng vào phía Bắc, hướng về phương Nam thì bên Trái là Biển cả ,là nơi Rồng ẩn náu. Dương bên Trái, thấp hơn so với bên Phải, và đó chính là vì sao tiên thiên lại xếp quái Ly-Hỏa ở phương Đông. d. Bạch Hổ: lấy tượng là Hổ trắng, mà trong tự nhiên Hổ nương náu trên núi rừng. Trên mô hình biểu kiến nếu đứng tựa lưng vào phía Bắc hướng về phương Nam , bên Trái là Biển cả thì bên phải là núi rừng. Núi cao hơn –thuộc Âm- Bên Phải . Trong Tiên Thiên quái Khảm được xếp ở phương Tây. Cặp Dương – Âm : Trái – Phải, Thấp –Cao không có nghĩa theo mô hình biểu kiến là con Hổ, con Rồng, hướng Đông-Tây hay nước và núi mà tính chất của nó chính là: Bên Phải thuộc Âm cao hơn bên Trái thuộc Dương. Qui các yếu tố về các cặp Âm-Dương, chúng ta có thể áp dụng vào mọi trường hợp trong Địa Lý Phong Thủy mà không cần chấp vào biểu tượng hay mô hình biểu kiến. Đây là chính là lý thuyết nền tảng của Địa Lý Lạc Việt, một bộ môn ứng dụng từ học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành của nền Văn Vinh Lạc Việt 5000 năm một thời rực rỡ huy hoàng phía Nam sông Dương Tử. Hà nội Tháng một năm Mậu Tuất tức tháng 12 năm 2017 Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  14. Thay mặt Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương xin trân trọng thông báo Kể từ ngày4-7-2017, Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương chính thức thay đổi địa chỉ văn phòng Trung Tâm . Điều lệ hoạt động , tên và lĩnh vực hoạt động đăng ký với Bộ Khoa Học Công Nghệ là không thay đổi. Thay mặt Trung Tâm Mạnh Đại Quân
  15. ĐI TÌM NGUỒN GỐC PHONG THỦY Trước tiên chúng ta đi tìm dấu vết lịch sử của bộ môn Địa lý mà hiện nay chúng ta vẫn gọi là Phong Thủy ở các nền văn minh khác. Theo quan điểm thống nhất từ TTNC Lý học Đông Phương mà đứng đầu là giám đốc TT - Ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh - nich Thiên Sứ đều xác định rằng: các bộ môn ứng dụng từ lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà chúng ta đang có hiện nay thuộc về một nền văn minh đã từng tồn tại và đã bị phá hủy.Người Việt với nền văn minh Lạc Việt gần 5000 năm phía Nam sông Dương Tử là dân tộc thừa hưởng và nắm giữ toàn bộ lý thuyết này. Tôi cố gắng đi tìm lại chứng cứ còn tồn tại để chứng minh một điều : Người Trung Quốc không phải là người tạo ra học thuyêt Âm Dương Ngũ Hành cùng các bộ môn ứng dụng như Địa Lý, Tử vi, Kinh Dịch... Cần khẳng định một điều rằng nếu từ PHONG THỦY - Fengshui mà hiện tại chúng ta đang sử dụng để mô tả bộ môn Địa Lý thì từ Phong thủy chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng 20 năm trở lại đây . Trong nền văn hóa của Việt Nam, từ xa xưa chúng ta đã dùng từ Địa Lý để nói tới bộ môn khoa học cổ trong thiết kế và xây dựng nhà cửa. Nếu tra cứu trên thư viện mở, chúng ta có thể thấy bộ môn Địa Lý mà chúng ta quen gọi là Phong Thủy đã xuất hiện trên trái đất từ khoảng ít nhất 6000 năm TCN qua các di tích và tài liệu bảo tồn tại ở Ấn Độ. Từ Fengshui tức là Phong Thủy được người người truyền giáo Tây Âu đặt ra thay cho từ Địa Lý vào khoảng thế kỷ thứ 19 khi họ tới Trung Quốc. Sở dĩ họ đặt tên như vậy là vì họ nhìn hình thức của các Pháp sư hay Linh mục bản đia vận dụng phương pháp của môn Địa Lý thường lựa chọn hướng của các dòng chảy, hướng của nguồn năng lượng dựa trên vị trí, địa điểm, địa thế, hình thể của sông núi hay các công trình xây dựng và khu đất. Do công việc này được thực hiện nhiều từ các Pháp sư địa phương nên những người Châu ÂU cho rằng bộ môn Phong Thủy có xuất phát từ Đạo giáo và cộng đồng khoa học cho rằng bộ môn Phong Thủy là giả khoa học cho dù nó là bộ môn nghiên cứu và thiết kế các công trình hướng tới sự cân bằng giữa con Người và Trái Đất. Thời gian gần đây, từ Phong Thủy được chấp nhận sử dụng rộng rãi thay thế từ Địa Lý và cũng được hiểu như là các hoạt động liên quan tới tâm linh, siêu hình hay các vấn đề khoa học thần bí. (wikipedia) Tại Ấn độ, cho tới hiện nay thì tên nguyên gốc Địa Lý được bảo tồn nguyên vẹn do người Ấn độ lưu giữ nó thông qua đạo Hindu, có tên là Vaastu Shatra. Cho dù bộ môn này không được biết tới nhiều ngoài biên giới Ấn Độ vì nó mang màu sắc tín ngưỡng tôn giáo truyền thống của người Ấn Độ (các Cung và phương Hướng cai quản bởi các vị thần theo Hindu giáo )nhưng lại được công nhận là bộ môn khoa học bởi các yếu tố mang tính khoa học được người Ấn Độ giải thích rõ ràng và trực quan. Tất cả các đền thờ Hindu cổ trong đó có đền Ankor là đền thờ Hindu cổ lớn nhất hiện nay còn bảo tồn được xây dựng theo lý của bộ môn Vastu shatra. Lịch sử và ngành khảo cổ cho rằng bộ môn khoa học này của người Ấn Độ có từ 6000 năm TCN. Dựa trên đồ hình Mandala, Vastu dùng sơ đồ 9x9 với trung tâm là hình vuông ở giữa. Người Ấn Độ công khai nói rằng, đồ hình 3x3 mà người Trung Quốc gọi là Lạc Thư xuất phát từ đồ hình này. Người Trung Quốc lấy lõi của đồ hình 8x8 ghép thêm với ma trận của tây phương để biến thành Lạc Thư. Ở chính giữa là thần Brahma, là trung tâm. Nữ thần lửa Agni ở phía Đông Nam, Thần Kuber ở phía Bắc là vị thần của Tiền bạc (theo Lý học Đông phương thì Thủy quản tiền bạc). Ở đây, chúng ta thấy sự sắp xếp theo theo bộ môn Bát Trạch và đặc biệtc Nữ thần Lửa ở Đông Nam theo Bát Trach Lạc Việt (ĐN quái Khôn-Âm Hỏa đới Thổ). Tại các nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Mongolia, Siberia thì Địa lý có tên là Kumalak được ứng dụng như một bộ môn bói toán. Bộ môn này tồn tại khoảng hơn 1000 năm tại khu vực này và hiện nay vẫn được sử dụng và lan tới các nước Đông Âu, Nga, và Tây Phi. Phương pháp sử dụng như trò chơi Ô ăn quan gồm 41 hòn đá, dùng trên sơ đồ 3x3 chia theo 4 hành là Nước, Lửa, Gió và Đất. Sự sắp xếp đồ hình 3x3 theo thứ tự từ phải qua trái, từ trên xuống dưới. Tại Hy lạp cổ đại thì Địa lý đã được sử dụng như một phương pháp tiên đoán về đất, đá, cát. Họ sử dụng công cụ và sơ đồ 12 ô như sau: Phương pháp này được dùng rất nhiều trong thời trung cổ và phục hưng tại Châu Âu và nhưng sau này thì bi coi là phản khoa học và mê tín. Tại các nước Ả Rập thì bộ môn này có tên là Sikidi và chủ yếu cũng dùng để bói toán. Họ vẽ trên cát đồ hình và dùng hạt đậu để chia trên sơ đồ, sau đó đếm số chẵn lẻ để bói toán. Điều đặc biệt, tượng số hoàn toàn sử dụng các dấu Chấm và được chia theo 5 hành nhưng là 5 hành theo văn hóa Tây phương và Ấn Độ tức là Đất, Lửa, Nước, Gió và Không Gian. Theo các nhà khảo cổ Tây phương thì dấu hiệu sớm nhất cho thấy người Trung Quốc sử môn Địa Lý trong công trình là vào đời nhà Chu ( 1122-249 TCN) qua sơ đồ thiết kế Minh Đường của Vương Mãng (45 TCN- 23 SCN). Thời nhà Hán (206 TCN-220 CN), việc tìm thấy các di chỉ khảo cổ cho thấy kinh đô Tràng An (194-190 TCN) đã sử dụng sự hiểu biết về địa lý và thiên văn học để thiết kế và xây dựng nên kinh thành này. Thành được xây theo hình thể chòm sao Bắc Đẩu Phía Bắc thành thiết kế theo chòm sao Bắc Đẩu là Tiểu Hùng Tinh, và phía Nam thành thì theo chòm sao Đại Hùng Tinh Thiên bàn đồ hình của TQ sớm nhất được tìm thấy trong lăng mộ của Lỗ Công nhà Tây Chu (168 TCN). Đối với các bộ môn ứng dụng học thuyết ADNH thì Lạc Thư và Hà Đồ có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Ngay đối với môn Địa Lý từ các nền văn minh khác cũng ứng dụng đồ hình 3x3 (không phải là ma phương có tổng các hàng =15). Chúng ta quay lại tìm hiểu về Cửu Cung Lạc Thư - Hà Đồ. Theo các nghiên cứu về toán học từ thời cổ đại, các nhà nghiên cứu toán học cho biết ma phương -magick square (là đồ hình có số ô hàng ngang bằng số ô hàng dọc trong đó tổng các số hàng dọc - hàng ngang đều bằng nhau) thì người Trung Quốc tuyên bố họ là người sáng tạo ra ma phương 3x3, có tổng hàng dọc và hàng ngang là 15. Người sáng tạo là ai thì không có tên nhưng có thể vào thế kỷ thứ nhất SCN. Đồ hình này người Trung Quốc nói rằng liên quan tới việc trị thủy trên sông và được ghi chép trên mai rùa. Nhà nghiên cứu Mark Swaney nói rằng về Ma phương 3x3 liên quan giữa toán học và Siêu nhiên .Ông ta không thể tìm thêm chứng cứ hay di chỉ khảo cổ nào liên quan giữa đồ hình -ma phương 3x3 với mai rùa, theo như truyền thuyết của người Trung Quốc nhằm làm sáng tỏ thêm tính khoa học của ma phương này. Ma phương này có liên quan rất chặt chẽ với Kinh Dịch và người ta nói ma phương này có liên quan tới sơ đồ của bản thiết kế Minh Đường của Vương Mãng. Mark nói rằng ông ta nghiên cứu rất nhiều về bản thiết kế này nhưng cũng không tìm thấy có sự liên quan nào tới ma phương 3x3 với kiến trúc thiết kế của Minh Đường.Ma Phương 3x3 là đồ hình của Sao Thổ theo chiêm tinh Tây phương và thường dùng làm bùa chú chứ không dùng để thiết kế. Mark nhấn mạnh rằng lịch sử hình thành ma phương của người Trung Quốc rất rời rạc và mù mờ, khi tài liệu sớm nhất có đề cập tới Lạc Thư là trong cuốn Kinh Thư (650TCN), và có vẻ như là ma phương 3x3 nhưng không có đồ hình. Tới các tài liệu 500-300 TCN cũng chỉ đề cập tới Lạc Thư - Hà Đồ là Bản đồ dòng Sông chứ không hề có chi tiết rõ ràng về bản đồ này. Chỉ tới năm 80 SCN thì người Trung Quốc mới đưa ra ma phương 3x3 và rõ ràng nhất là năm 570 SCN mới nói chi tiết về Lạc Thư là Ma Phương như ngày hôm nay. Sau khi tất cả các bài nghiên cứu phủ nhận câu chuyện huyền thoại về xuất xứ của Lạc Thư (Lo shou - 洛書) cũng như không có bằng chứng cụ thể nào về đồ hình này với mai Rùa hoặc Long mã -một linh vật chỉ có trong huyền thoại , hay liên quan tới dòng sông Lạc (LUO RIVER) hoặc (Yellow River Map) với dòng sông Hoàng Hà (Yellow River). Trong nền văn minh Lạc Việt -Âu Lạc, chúng ta đều biết dòng máu Lạc Hồng là nói về dòng giống con cháu Rồng Tiên Cha Lạc Long Quân, Mẹ Âu Cơ. Lạc là tên gọi của một trong các dân tộc Bách Việt và tại thời kì đó, chữ Lạc biểu thị thời kì của Vua và chức danh như Lạc Hầu, Lạc Tướng, và con dân là Lạc Dân. Tôi nhận thấy rằng, người Châu Âu không tìm thấy dấu vết liên quan tới dòng sông Lạc bởi vì Lạc Thư chính là Thư của Lạc Việt tức là sách của Lạc Việt - Lạc Thư ! Hình Lạc Thư - Hà Đồ biểu thị các cặp số âm dương bằng các dấu chấm đen và trắng. Nếu ta thể hiện dấu chấm bằng các con số Ả rập như hiện nay thì sẽ có các cặp số 1-6; 3-8, 2-7, 4-9, 5-10. Trong hệ toán học cổ của người Trung Quốc thì số đếm được thể hiện bằng que hay còn gọi là Rod Counting Cho tới ngày nay thì người Trung Quốc vẫn dùng số bằng ký tự và dưới dạng đếm que (Rod Counting), hoàn toàn không có dấu Chấm. Lạc thư được cho là do vua Đại Vũ (2200-2010 TCN) tìm thấy trên mai Rùa Thần để trị thủy trên sông Lạc, và là ma phương toán học 3x3 đầu tiên trên thế giới. Vậy mà hệ số đếm đơn giản nhất được tìm thấy trên giáp cốt thư của nhà Thương (1600-1050 TCN) và toán học được ghi chép sớm nhất vào đời nhà Chu (1050-256 TCN). Ma phương là phép tính toán học lại xuất hiện trước hàng ngàn năm sự xuất hiện của số đếm và phương pháp toán học cổ đại Trung Quốc. Rõ ràng, nếu coi Lạc Thư - Hà Đồ là ma phương toán học hay hệ số đếm thì người Trung Quốc không phải là chủ nhân của Lạc Thư- Hà Đồ. Tượng số bằng Dấu chấm, gạch đã được thể hiện trên Trống Đồng của nền văn minh Lạc Việt cách 2500 TCN và tất nhiên hệ tượng số này cũng được thể hiện trên Lạc Thư-Hà Đồ. Khi nền văn minh Ấn độ tràn vào Trung Quốc, bùa của thần trí tuệ đầu Voi Ganesh chính là ma phương đồ hình 3x3 cùng với các ma phương khác như 4x4,...8x8. Do sự giống nhau về hình thức và tiếp thu không hoàn chỉnh sau khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ năm 258TCN, các tài liệu chỉ được ghi chép đề cập tới sự liên quan về đồ hình Lạc Thư - HÀ Đồ chứ không hề có đồ hình chi tiết nào được lưu lại. Dĩ nhiên , sự giống nhau qua dẫn tới việc ghép Lạc Thư - Hà Đồ với ma phương 3x3 của Chu Văn Vương để có Hậu Thiên Văn Vương ngày nay. Đây là mối thắt nút không thể lý giải nổi những mâu thuẫn khi sắp xếp các quái trong hậu thiên Văn Vương. Lạc Thư - Hà Đồ Hà Đồ theo các bằng chứng lịch sử được tìm thấy trong Kinh Thư của đời Chu . Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là sau cuộc phá hủy kinh sách của nhà Tần (201-206 TCN), thì cuốn Kinh này được sao chép viết lại bởi Phu Thăng ( 伏胜 268-178 TCN). Như vậy, Hà Đồ có thể được thêm vào Kinh Thư trong giai đoạn này hoặc cho dù xuất hiện sớm hơn của Kinh Thư vào thời Chu Khang Vương (1020-996 TCN) để giải thích cho ý nghĩa bát quái (theo nhà sử học Kuo-Cheng Wu) thì ý kiến này cũng chưa đủ thuyết phục. Trong cuốn " Legacy of the Luoshu: The 4,000 Year Search for the Meaning of the Magic Square of Order Three" của tác giả Frank J. Swetz , trang 14 : ...tới thế kỉ thứ 10, Zheng Xuan - Trịnh Huyền (906-989) là một Nho Sỹ nổi tiếng lần đầu tiên công bố sơ đồ bản vẽ sông Lạc và sông Hoàng Hà tức là Hà Đồ và Lạc Thư biểu thị bằng các Chấm đen và trắng." Cho tới thế kỷ thứ 12, phong thủy sư Cai Yuanding (Thái Nguyên Định 蔡元定mà nó tồn tại dưới hình thức bùa chú cũng như một công cụ để bói toán." 1145-1198) và Chu Hi cùng công bố về Cửu cung và Lạc Thư là một. Chu Hi dùng lý lẽ và kết luận về Cửu Cung Lạc Thư của Nguyên Định như một chứng cứ và được chấp nhận rộng khắp. Tuy nhiên thì tong suốt thời nhà Tống (960-1279), Hà Đồ Lạc Thư không còn mang ý nghĩa Vũ trụ quan Cho tới năm 1275, các nhà nghiên cứu lịch sử và toán học cũng không tìm thấy bất kỳ một Ma Phương nào lớn hơn 3 tạo ra từ Trung Hoa, và Norman Biggs- nhà toán học hàng đầu của Anh nói rằng: " Người Trung Hoa coi Ma Phương 3x3 là một đối tượng thuộc về siêu nhiên chứ không phải một đối tượng cho cho sự tò mò và khám phá của con Người. Điều này chứng tỏ rằng Ma Phương toán học cổ đại hoàn toàn không liên quan gì tới Hà Đồ và Lạc Thư và rõ ràng Hà Đồ không phải là Ma Phương :" Tài liệu cổ xưa nhất nói về Hà Đồ đều không rõ ràng, nhưng một trong những tài liệu cổ đề cập tới một bản đồ Sông Hoàng (Hoàng Hà) là của ShuChing 650 TCN. Bản đồ Sông này được nói tới có vẻ giống như là Ma Phương 3x3. Hà Đồ hay Bản Đồ Sông Hoàng được đề cập tới trong các tài liệu cổ ở từ các năm 500TCN- 350 TCN nhưng không rõ ràng ở chỗ mô tả nó có phải là ma phương 3x3 hay không. Cho tới tận năm 570 CN thì Hà Đồ được mô tả như Ma Phương 3x3 hiện nay. Hà Đồ được nói rằng nó có liên quan tới Kinh Dịch nhưng cũng chưa tìm được chứng cứ về sự liên quan này"Mark Swaney, nhà nghiên cứu về ma phương cổ đã viết trong một công trình nghiên cứu của mình về Hà Đồ Cho tới thời điểm này, không có bất cứ một tài liệu hay chứng cứ khảo cổ nào về việc Hà Đồ xuất hiện trên lưng Long mã để chứng minh cho nguồn gốc mà người Trung Hoa nói trong truyền thuyết và nguồn gốc của Hà Đồ. Lý do chính là sự đánh tráo nguồn gốc nhằm hợp thức hóa nguồn gốc theo truyền thuyết người Trung Quốc nghĩ ra. Từ Hà Đồ vốn đã bị thay đổi từ chữ Âu Đồ (Âu Lạc), bởi xoay ngược chữ Âu區, thay 2 chữ khẩu bằng dấu chấm thủy, thành chữ Hà 河 (Nền Văn Minh Việt Cổ - trang 58 - Gs. Hoàng Tuấn) Chúng ta lại lưu ý tới mốc quan trọng này : Hà Đồ theo các bằng chứng lịch sử được tìm thấy trong Kinh Thư của đời Chu nhưng điểm đáng lưu ý là thời điểm sau cuộc phá hủy kinh sách của nhà Tần (201-206 TCN), thì cuốn Kinh này được sao chép viết lại bởi Phu Thăng ( 伏胜 268-178 TCN). Nền văn minh Âu Lạc sụp đổ vào năm 258TCN , sự thay đổi nguồn gốc ÂU ĐỒ - LẠC THƯ có từ đây. Sở dĩ người ta các nhà nghiên cứu không tìm thây sự liên quan Lạc Thư với Rùa thần bởi vì đây chính là cách mà Tổ Tiên chúng ta truyền lại cho đời sau. Trong cuốn Trờ về Nguồn của nhà nghiên cứu dịch học Quang Thống xuất bản tại Mỹ năm 1996, tr30-31 được trích dẫn trong cuốn Nền Văn Minh Việt Cổ của tác giả GS, Hoàng Tuấn (tr 58-59) : "Thấy trước cái thế bị đánh tập trung, tổ tiên ta đã đoán trước được sự mất nước của nòi giống lôi kéo theo sự phá hủy cả một nền văn minh mà không thể một sớm một chiều khôi phục lại được. Muốn duy trì nền văn minh cho con cháu mai hậu,... tổ tiên ta dã dùng con rùa (con vật sống lâu nhất từ hai ngàn năm đến bốn ngàn năm mà khoa sinh vật học thế kỷ 20 này mới khám phá ra được tuổi đời của nó), để ghi khắc ký hiệu của một nền văn minh trên lưng nó, rồi đem thả xuống sông với hy vọng mai sau con cháu phải xuôi nam tìm nơi sinh sống sẽ gặp lại được vết tích của nền văn minh Lạc Việt., hầu khôi phục dân tộc. Từ đó những nơi nào tập trung dòng giống Lạc Việt được truyền tụng cho nhau, nhất là trước các đình, chùa, đền miếu, lăng tẩm, đều hay dựng bức bình phong đắp con rùa đội cuốn sách (Hà Đồ chỉ con rùa và lạc thư chỉ cuốn sách), là ý muốn nói tới nền văn minh Lạc Việt được ghi khắc trên lưng con Rùa." Tôi chưa đồng ý với ý kiến Hà Đồ chỉ con Rùa của tác giả Quang Thống, bởi Rùa chín tự bản thân đã có hình tượng là Rùa và trên lưng chở cuốn sách. Đây là lời nhắc nhở con cháu Âu Đồ -Lạc Thư có trên mai Rùa và chìa khóa của bí ẩn về Âu Đồ - Lạc Thư , và cũng là nguồn gốc của "trên lưng Rùa thần có khắc Lạc Thư" hoặc có thể bắt đầu từ 1-2-3-4-5-6-7-8-9) nhưng không có nghĩa BÁT QUÁI là con số biểu tượng của nó. Số đại diện cho Bát QUÁI có thể thay đổi nhưng BÁT QUÁI tượng không thay đổi. (Ví dụ: thứ tự quẻ tiên thiên bắt đầu từ 0-1-2-3-4-5-6-7-8đại diện cho BÁT QUÁIDấu chấm đen trắng trên ÂU ĐỒ- LẠC THƯ thể hiện thứ tự của Bát Quái, rồi tạo ra 64 trùng quái để mô tả quá trình vận động của vạn vật. Nó khác hoàn toàn với việc đem chữ số toán học thay vào Quái để mô tả sự vận động của vũ trụ. Các dấu Chấm trên ÂU ĐỒ - LẠC THƯ là ký hiệu số đếm Âu Đồ và Lạc Thư là nền tảng lý thuyết cơ bản của Địa Lý và khi đã bị sai lệch trong lý thuyết gốc thì việc ứng dụng trên cơ sở lý thuyết đó cũng bị sai lệch và nhầm lẫn. Hơn thế nữa, nó lại được hiểu sai về nguồn gốc và được nhìn nhận dưới góc độ tín ngưỡng hay đạo giáo nên bộ môn khoa học này trở thành giả khoa học. Qua các bằng chứng còn tồn tại, những lý thuyết cổ xưa của nền văn minh Lạc Việt được bảo vệ dưới vỏ bọc của tín ngưỡng tôn giáo ngày càng được làm sáng tỏ dưới góc nhìn khoa học Trong rất nhiều tài liệu cổ đề cập tới Lạc Thư là chiều ngũ hành tương khắc và Âu Đồ là mô tả chiều tương sinh ngũ hành. Thế nhưng do việc chấp nhất vào tính chất của ma phương đồ nên vẫn chấp nhận tính phi logic theo chiều ngũ hành tương sinh trên Âu Đồ. Chính vì thế chúng ta nhận thấy Âu Đồ hiện nay không thể hiện chiều ngũ hành tương sinh. Âu Đồ được sắp xếp theo chiều tương sinh ngũ hành của các quẻ mà ý nghĩa của số quẻ cũng như ngũ hành theo số của Lạc Thư được sắp xếp theo chiều ngũ hành tương Khắc của chữ Vạn) : 1-6 thuộc hành Thủy, 3-8 thuộc hành Mộc, 2-7 thuộc hành Hỏa và 4-9 thuộc Hành Kim. Ở đây đã có sự gượng ép khi đưa 4-9 vào hành Hỏa và 2-7 vào hành Kim khi mà Âu Đồ sắp xếp theo chiều ngũ hành tương Sinh. Rất nhiều cuốn sách và tác giả đã đề cập tới ý nghĩa và ngũ hành Âu Đồ và Lạc Thư, nhưng khi sắp xếp trên Bát quái cửu cung thì hoàn toàn không đề cập tới Âu Đồ. Nếu ta bỏ qua tượng số của Quái (số học gán vào quái) mà chỉ ghép các Quái theo chiều ngũ hành tương sinh, chúng ra sẽ có đồ hình Âu Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt. Trên Tiên thiên Bát Quái đồ, chúng ta sẽ thấy xuất hiện 8 tam giác đối nhau qua đỉnh. Mỗi cặp tam giác đối nhau có tổng số hào Âm và tổng số hào Dương luôn bằng nhau . Nếu chúng ta áp dụng định luật này đối với Lạc Thư phối Hậu thiên bát quái Văn Vương, định luật này bị phá bỏ hoàn toàn. Ví dụ : Càn - Tốn có tổng số 5 hào Dương+1 hào Âm, và đáy tam giác là hai vạch liền (hào Dương). Nếu chúng ta áp dụng định luật này đối với Âu Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt: hoàn toàn thỏa mãn định luật của Tiên thiên bát quái đồ: Tổng số hào ÂM và hào Dương của các tam giác đối đỉnh bằng nhau. Ví dụ : Càn-Khôn có tổng 3 hào Dương + 3 Hào Âm “Không có gì xảy ra trên vòm trời xanh kia mà không có phần đối xứng lại ở quả đất này” Số trong ma phương có tổng là 15 ở các chiều dọc, chéo, ngang và con số này mặc dù không liên quan tới các con số của Lạc thư hay Hà đồ nhưng vẫn được đưa vào như một căn cứ xác định nguồn gốc của Âu Đồ - Lạc Thư, vốn là một yếu tố được coi là gốc rễ của Địa Lý Phong Thủy. Sự sai lệch ở đây là việc coi Ma Phương và Hà Đồ là như nhau nhưng thực chất đây là hai hệ qui chiếu hoàn toàn khác nhau: một là hệ thống toán học và một là mô hình biểu kiến của sự vận động của vũ trụ,. Lạc Thư - Hà Đồ trong Kinh Dịch: Trong tất cả các cuốn sách về Kinh Dịch (Book of Change) đều đề cập tới hai đồ hình Lạc Thư-Hà Đồ và đều có liên quan tới Kinh Dịch. Tuy nhiên, sau đó không có bất kì một dấu hiệu hay phân tích nào cho thấy sự liên quan này. Qua hàng ngàn năm, việc áp đặt toán học với số thứ tự của các quái vào ma phương , rồi sau đó ghép quái theo số thứ tự của nó vào ma phương đã làm sai lệch ý nghĩa. Khi xếp chồng hai Âu Đồ Bát Quái lên nhau, chúng ta sẽ có đủ 64 trùng Quái và đó chính là Kinh Dịch. Dấu chấm đen trắng thể hiện bát Quái qua tượng số và thứ tự số, xếp cặp với nhau theo các Quái cùng. Sự sắp xếp này hoàn toàn không mang ý nghĩa số học mà tuân thủ theo nguyên tắc Âm Dương Ngũ Hành. Chúng ta có thể nhận thấy có rất nhiều sự liên quan mật thiết của bộ môn Địa Lý cổ xưa còn tồn tại và lưu giư trong các nền văn minh khác với bộ môn Địa Lý của nền văn minh Lạc Việt mà chúng ta đang lưu giữ và thực hiện trong suốt 5000 năm lịch sử. Phong thủy một lần nữa là tên gọi sai lệch cho bộ môn Địa Lý và nó càng không thể hiện được tính khoa học của bộ môn này. Việc đi tìm lại nguồn gốc bộ môn Địa Lý Phong Thủy (tên gọi phân biệt với môn Đia lý cơ bản trong chương trình phổ thông) nhằm khẳng định tính khoa học của bộ môn này cũng như tìm ra những điểm sai lệch trong nền tảng lý thuyết gốc được ứng dụng bởi người Trung Quốc Phong thủy là tên gọi sai cho bộ môn khoa học cổ ĐỊA LÝ và bộ môn này không phải của người Trung Hoa sáng tạo ra, kể cả cái tên PHONG THỦY. Hà Nội 24 tháng 2 năm 2017 Mạnh Đại Quân