• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Mạnh Đại Quân

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    977
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    43

Bài viết posted by Mạnh Đại Quân


  1. PHẦN 4: NGŨ HÀNH

    Trục chính của Tử Cấm Thành chạy dọc theo trục Thần Đạo từ Bắc xuống nam chia toàn bộ Cố cung thành hai phần Đông và Tây.Đi vào từ Ngọ môn, sẽ thấy một con sông (Kim Thủy) được bắc qua bởi năm cây cầu, dẫn đến Thái Hòa môn, đằng sau là một quảng trường lớn. Phía cuối quảng trường là bậc thang làm bằng đá cẩm thạch trắng, dẫn vào Tam Đại điện (三大殿) là Thái Hòa điện (太和殿), Trung Hòa điện (中和殿) và Bảo Hòa điện (保和殿).[4]. Thái Hòa điện ban đầu có tên là Phụng Thiên điện (奉天殿) là điện lớn nhất, cao 30 m so với quảng trường xung quanh, là nơi diễn ra các nghi thức và lễ tế quan trọng. Trung Hòa Điện ban đầu có tên là Hoa Cái điện (华盖殿) nhỏ hơn, là nơi Hoàng đế chuẩn bị và nghỉ ngơi trong các buổi lễ. Phía sau là Bảo Hòa điện ban đầu có tên là Cẩn Thân điện (谨身殿), để tập dượt chuẩn bị cho các nghi lễ, và cũng là nơi tổ chức vòng thi cuối cùng của kỳ thi khoa cử. Cả ba điện đều có ngai vàng, và cái lớn nhất được đặt ở Thái Hòa điện.Đông và Tây của khu vực  Tiền triều là Võ Anh điện (武英殿) (H) và Văn Hoa điện (文華殿) (J). Theo các phân tích của người Trung quốc thì do Vua ưu tiên quan Văn hơn quan Võ nên đặt hệ thống các quan Võ bên Phải và quan Văn bên Trái.

    Tuy nhiên, theo qui ước Âm Dương của người Việt thì Sở dĩ Văn được xếp bên Đông thuộc Dương và Võ được xếp bên Tây thuộc Âm bởi đây là phân loại Âm Dương : Tư tưởng, ý thức, suy nghĩ và định hướng, chính sách có trước hành động nên thuộc Dương. Võ bị là hành động, là thực hiện có sau ý thức nên thuộc Âm.

    đó là tới Hậu Cung là nơi ở của Hoàng đế và Hoàng thất.Hậu cung được phân cách với Tiền triều bởi một sân thuôn dài,. Ở triều Thanh, Hoàng đế ở và làm việc chủ yếu ở Hậu cung, còn Tiền triều chỉ được sử dụng cho các lễ nghi quan trọng.  Tổ hợp ba cung Thái Trung Bảo ở chính giữa Tử Cấm Thành tạo ra quẻ Càn ở chính tâm, sau

    Ở trung tâm của Hậu cung là ba cung lớn (Hậu tam cung 后三): Càn Thanh cung (乾清宮), Giao Thái điện (交泰殿) và Khôn Ninh cung (坤宁). Hoàng đế, biểu thị cho Dương và Trời, ở Càn Thanh cung. Hoàng hậu, biểu thị cho Âm và Đất, ở Khôn Ninh cung. Giao Thái điện ở giữa hai cung, tượng trưng cho sự giao hòa Âm - Dương. 

    Forbidden_city_map_wp_1.jpg

    Về lý thuyết thì đây là cách bố trí rất hợp do “tổ Rồng” là Giao thái điện, là nơi Vua và Hoàng Hậu gặp nhau nhằm sinh ra Hoàng Tử nối ngôi. Phía trước là Càn cung và sau là Khôn cung. Nếu chúng ta đứng từ cổng Chính nhìn vào, chúng ta sẽ có quẻ BĨ (Thiên Địa Bĩ) và nếu chúng ta đứng từ phía trong hậu cung nhìn ra sẽ có quẻ THÁI (Địa Thiên Thái). Có lẽ đây là lời “xui dại” của ông KTS trưởng Nguyễn An bởi tính logic hợp lý về bố cục tức là Càn ở trước nhưng xét theo Dịch phong thủy thì cách cục hợp phải là Địa Thiên Thái tức là Khôn trước rồi tới Càn theo trục nạp Khí. Chính vì bố cục này là BĨ ở hậu cung nên Hoàng Hậu rất khó sinh Hoàng Tử, các Triều đại Vua tại đây đều loạn ở Hậu cung, đấu đá tranh giành và thường sinh biến do đảo chính cướp ngôi. Lịch sử đã chứng minh cuộc sống vô cùng khắc nghiệt trong hậu cung của  24 đời Vua trị vì tại đây. Vua cũng thường ít sủng ái Hoàng Hậu và thường nối ngôi từ nghành thứ, tức là các Con của Phi tần hay cung nữ. Thậm trí, Từ Hi từ một cung nữ ở đây trở thành Hoàng Đế của Trung Hoa với sự ăn chơi và tàn bạo khét tiếng trong lịch sử Trung Quốc

    Đây là cách cục khi đánh giá từ ngoài thì bên trong vô cùng yên bình và thịnh trị, nhưng bên trong thì rất lục đục, bế tắc cho dù tới thời Ung Chính thì Hoàng hậu có thể chọn các cung trong 12 cung ở Đông và Tây cung của cung Càn Thanh gọi là Đông lục và Tây lục.

    Trích một đoạn bài viết giới thiệu Phong thủy Tử Cấm Thành

    +++

    NGŨ HÀNH

    Thuyết ngũ hành là một trong những học thuyết quan trọng của Trung Quốc thời cổ đại, gồm kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Khắp Tử Cấm Thành, du khách có thể tìm thấy những chi tiết đặc trưng của các hành này.

    “Thổ” xuất hiện ở điện trước và sau (được xây trên hai nền lớn tạo thành chữ thổ trong tiếng Trung). Ngoài ra, màu tượng trưng cho đất là màu vàng - màu cao quý nhất. Do đó, mái của các công trình ở khu điện trước và sau trong Tử Cấm Thành được lợp ngói vàng - thể hiện tầm quan trọng của chúng, đồng thời đánh dấu đây là trung tâm của cả nước.

    Yếu tố “hỏa” nằm ở phía Nam, với cổng Ngọ Môn có hình năm con phượng hoàng. Cột trên năm cây cầu đá ngoài cổng được tạc họa tiết lửa.

    Phía bắc là “thủy” kết hợp với truyền thuyết về Huyền Vũ (rùa đen). Cổng Huyền Vũ (sau này được đổi thành Thần Vũ) tượng trưng cho vị thần nước, nắm giữ sự sống và cái chết, cùng khả năng xua tà ma. Do đó, các phòng phía Đông và phía Tây của điện Tần An đều có ngói màu đen.

    “Kim” là yếu tố ở phía Tây. Theo phong thủy, kim sinh hỏa, nên dòng sông chảy quanh cung điện bắt đầu từ phía Bắc (chính vì thế mà có tên sông Kim Thủy).

    Cuối cùng, “mộc” nằm ở phía Đông, thể hiện sự sinh trưởng và thay đổi của vạn vật. Phía đông rất giàu năng lượng, nơi lý tưởng để làm chỗ ở cho các hoàng tử. Màu của hành mộc là xanh lục, do đó các khu nhà ở của hoàng tử đều lợp ngói xanh - thể hiện mong mỏi các hoàng tử luôn mạnh khỏe và có tiềm năng không giới hạn.

    +++

     Xét về mặt hình khí của các công trình bên trong Tử Cấm Thành, mái nhà là gạch lưu li màu vàng kết hợp với màu đỏ của gỗ và phần xây dựng. Theo nguyên tắc ngũ hành của người Việt thì mái tượng hỏa màu đỏ thuộc Dương bên trên và nhà hình thổ màu vàng thuộc Âm bên dưới. Mái thuộc Dương tương Sinh cho Thổ thuộc âm bên dưới. Tuy nhiên theo cách xây dựng của Tử Cấm Thành thì Mái hình hỏa tượng Thổ và nhà hình Thổ tượng Hỏa cho dù là tương Sinh nhưng là Âm sinh Dương , đi nghịch qui luật. Hơn nữa, việc mái Vàng hình hỏa lại làm cho Hỏa càng thêm vượng. Trên các mái nhà đều có hình tượng rồng,giống như Si vẫn của ngừoi Việt nhưng hoàn toàn không phải là Si vẫn chống cháy.

    PB230217.JPG

    Rồng trên mái các công trình Tử Cấm Thành

     

    si van.jpgsi van 1.jpg

    Si vẫn trên mái của các công trình cổ của người Việt

    Chính vì lẽ đó, trong lịch sử của Tử Cấm Thành có rất nhiều vụ cháy lớn xảy ra như

    Diên Hi cung nằm gần Thương Chấn Môn - cửa ra vào Tử Cấm Thành dành cho cung nữ, thái giám và hạ nhân nên khá ồn ào và phức tạp. Nơi này từng nhiều lần xảy ra hỏa hoạn: năm Đạo Quang thứ 12 (1832), cháy lớn ở phòng bếp phía nam đông điện, năm Đạo Quang thứ 25 (1845), Diên Hi cung xảy ra 1 trận đại hỏa hoạn, thiêu hủy toàn bộ chính điện, hậu điện cùng với đông tây phối điện, tổng cộng 25 gian, cháy gần đến cửa cung. Sau khi trùng tu, đến năm Hàm Phong thứ 5 lại xảy ra hỏa hoạn. Năm Đồng Trị thứ 11 (1872), từng có đề nghị phục kiến Diên Hi cung nhưng chưa thực hiện được.

    Cho dù Tử Cấm Thành là hiện thân của công trình khoác lên mình tấm áo Phong thủy của người Trung Hoa, nhưng về bản chất cốt lõi thì hoàn toàn mang đậm dấu ấn của người Việt và sự tài tình của  Ông Nguyễn An thiết kế đưa những yếu tố mang tính chất  mầm gây họa vào công trình này.

    Sẽ có Người nói rằng, nếu Phong thủy xấu thế sao Tử Cấm Thành lại còn nguyên vẹn trong khi Kinh đô Huế có Phong thủy tốt hơn theo bài viết này, lại bị phá hủy và Hoàng Thành Thăng Long thì hoàn toàn biến mất. Và sao, nếu theo quan điểm của Tôi là Địa lý Phong thủy người Việt giỏi hơn hay nói kiểu khác đi tức là chủ nhân đích thực của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Địa lý phong thủy là của người Việt chứ không phải người Trung Quốc mà họ lại giỏi và phát triển hơn chúng ta ?

    Xin trả lời thế này, việc Lãnh đạo và người Dân Trung Hoa đều rất tin và tự hào vì họ ứng dụng các công trình theo Phong thủy. Họ tự hào vì lịch sử dân tộc của họ và đó chính là nền tảng để trở thành một quốc gia phát triển, cũng như Singapore không hề dấu mà công  khai các công trình xây dựng theo Phong thủy.

    Địa lý phong thủy không thể thay đổi định tính, tức là vận mệnh của một dân tộc quốc gia. Vậy nên các công trình cho dù tốt về Phong thủy cũng không thể thay đổi định mệnh của một triều đại hay một quốc gia. Nhưng ĐLPT lại giúp thay đổi định lượng tức là sự phát triển nhiều hay ít, suy tàn nhanh hay chậm. Vì thế, xin đừng nhầm lẫn tác động của Địa lý phong thủy lên định mệnh của một Triều đại hay một Quốc gia.

    Địa lý phong thủy của Người Việt cổ hoàn toàn khác biệt bởi nguồn gốc của nền Lý Học Đông Phương này xuất phát từ nền Văn minh Lạc Việt. Ngày nay, có rất nhiều các nhà nghiên cứu Việt nam đã từng sống ,học tập và nghiên cứu  tại Trung Quốc cũng đã chỉ ra tính bất hợp lý trong vùng địa lý, phong tục tập quán của người Trung Quốc phía bắc sông Dương tử. Nơi đây họ trông lúa mì, uống sữa và không trồng lúa nước thì  không thể là chủ nhân của nền Văn minh Lúa nước của người Lạc Việt. Tuy thế, họ vẫn tự hào với nền lịch sử lâu đời mà thời gian thì ít hơn cả của ngừoi Bách Việt ở Nam sông Dương Tử mà chúng ta gọi là nền Văn minh Lạc Việt.

    Xin nhớ rằng, chủ nhân của nền Lý học không có nghĩa là sáng tạo ra nó mà là sự hiểu biết và gìn giữ nó từ những nền Văn minh cổ xưa có từ trước đó trao lại.

    Chúng ta cần nhìn lại một cách khách quan rằng nền Lý học Đông phương huyền vĩ nói chung và Địa lý phong thủy nói riêng không phải có nguồn gốc từ Trung Hoa, mà đó là di sản của nền Văn minh Lạc Việt 5000 năm lịch sử. Hãy tự hào, gìn giữ và phát huy những gì mà Tổ tiên chúng ta, tổ tiên của dòng dõi LẠC VIỆT bởi đó chính là nền tảng cho một Việt Nam thịnh vượng trong tương lai !

                                                                                    TẾT KỶ HỢI 2019

    MẠNH ĐẠI QUÂN (Tức Hoàng Triệu Hải)

     

     

    6 people like this

  2. Phần 3: THỦY PHÁP

    THỦY PHÁP:

    Thủy pháp Trường Sinh là phương pháp là cải tạo và tạo ra các dòng sông chảy quanh Kinh thành, Hồ và kênh thoát cùng với sông nhân tạo sẽ được định vị tại các vị trí Trường Sinh, Đế Vượng và thoát ra tại Tử, Mộ , Tuyệt. Thủy pháp cổ này được lưu truyền tới ngày nay và công trình còn giữ nguyên vẹn bố cục này chính là Kinh Đô Huế do Vua Gia Long xây dựng. Thủy pháp này của người Việt khác hoàn toàn với người Trung Hoa và theo cách của người Trung hoa thì hoàn toàn không thể lý giải được do các vị trí Trường Sinh, Đế Vượng và Suy, Tử đều không chính xác tại các vị trí thực địa.

    Bây giờ chúng ta xem xét bố cục Thủy pháp của Tử Cấm Thành, và so sánh với thủy pháp của Kinh thành Thăng Long dựa trên bản vẽ từ thời Hồng Đức. Tôi không so sánh với Kinh đô Huế bởi sẽ có người nói rằng, Tử Cấm Thành có trước Kinh đô Huế nên chúng ta sao chép từ người Trung Hoa. Tôi sử dụng phần mềm tính trường sinh theo lý thuyết của cổ thư Hán, tức là phương pháp của người Trung Hoa tính Trường sinh

    truong sinh tau outter also bac kinh.jpg

    Toàn bộ bản vẽ Kinh thành Bắc Kinh, Thủy chảy từ các phương Bệnh , Tử sau đó tới Hồ lập tại Đế Vượng và cũng thoát đi ở Trường Sinh

    truong sinh tau inner Bac kinh.jpg

    Với cách này, hướng chính của Tử Cấm Thành có sông Kim Thủy là sông nhân tạo chạy quanh để thực hiện Thủy pháp Trường Sinh. Thủy nhập từ bệnh, lập hướng chính đặt vào Mộc Dục và thoát ra ở Trường Sinh.

     

    Theo chia sẻ của  Hưng Nguyễn thì Trung Hoa lập Đế vượng ở Sơn nên thủy pháp sẽ trọng lấy SƠN để rồi từ đó dựa vào Thủy khứ để lập cục và hướng. Vậy nên chúng ta sẽ tiếp tục phân tích theo phương pháp này.

    Do Tử cấm Thành không có Sơn nên đồi Cảnh Sơn là Sơn được tạo ra từ việc tạo sông Kim Thủy và Tử Cấm Thành lấy Long mạch chạy vào từ Càn. Thủy lai tức là nơi sông Kim thủy chảy vào từ sơn Hợi , Thủy khứ tức là nơi thoát đi tại Thìn –Khôn- Tị (Thìn Tốn Tị theo Phong thủy cổ thư). Với cách Cục này Tử Cấm Thành lấy Sơn làm Đế Vượng theo Thủy pháp trường sinh, Trường sinh tại Thân trong khi Thủy lai thực tế chảy từ Hợi tức là vị trí Lâm quan,  lập hướng chính Ngọ là vị trí Thai.

    truong sinh thuy cuc theo tam hop.jpg

    Vấn đề ở đây chính là sông Kim Thủy được tạo ra theo mục đích chính là Thủy pháp, tức là hoàn toàn có thể định hướng và vị trí ra vào cũng như dòng chảy theo ý đồ của Địa lý phong thủy Sư. Cho nên, sông Kim thủy được tạo ra cùng lúc xây Tử Cấm Thành chứ nó không tồn tại trước khi xây tức là vị trí Thủy lai không có trước mà do thiết kế.

     

    Sau đây là phương pháp Trường sinh an theo Địa Lý Lạc Việt

    truong sinh Lac viet thanh bac kinh.jpgtruong sinh lac viet tu cam thanh.jpg

    Theo phương pháp này thì Thủy chảy tới Bắc Kinh từ phương Thai, lập hướng Đế Vượng và thoát ra tại Quan đới. Tử Cấm Thành lập hướng chính Ngọ, Hỏa Cục.

    Dòng sông Kim thủy chảy tới từ Tuyệt, Đế vượng tại chính hướng và thoát ra tại Lâm quan. Với Thủy pháp này của Tử cấm Thành thì Thủy pháp của Kinh đô Huế có phần minh chứng rõ ràng tính hơn khi đổi chỗ Tốn-Khôn theo Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt của Địa lý Lạc Việt: mọi vị trí nước vào tại Trường Sinh, lập hướng Đế Vượng và thoát đi tại Tử Mộ Tuyệt cực kỳ chính xác.

    Thủy pháp của thành Thăng Long thật tiếc là ko còn nguyên vẹn để phân tích. Tuy nhiên, dựa vào bản đồ cũng như những gì còn sót lại, chúng ta vẫn có thể tìm thấy được vị trí Thủy lai, Thủy khứ là hoàn toàn trùng hợp với thủy pháp của Kinh đô Huế

    Xin nhấn mạnh là thành Thăng Long có trước Tử Cấm Thành đến hơn 400 năm

    truong sinh viet.jpgtruong sinh thuy phap lac viet.jpg

    Nếu tính theo phương pháp của cổ thư như hình dưới đây, nó rất giống với cách phân tích theo Thủy pháp của Tử Cấm Thành theo Phong thủy cổ thư Hán

    1 person likes this

  3. PHẦN 2: ĐỊA LÝ PHONG THỦY

    Bắc kinh nhìn từ trên máy bay là một màu nâu và ghi xám với các cột ống khói khổng lồ và không giống như các thành phố công nhiệp như Thẩm Quyến hay Thượng Hải, Hồng Kong. Cô hướng dẫn viên cho chúng tôi ở Bắc kinh là người Quảng tây, nói tiếng Việt khá chuẩn. Cô ấy cho biết đa phần những người nói được tiếng Việt với phát âm và giọng giống người Việt thì chỉ có người ở vùng Quảng Tây và Quảng Châu, còn người phía Bắc thì không nói được như vậy. Ở Quảng Châu thì buổi sáng người ta hay chào hỏi bằng câu “Đã ăn Trà chưa ?” và họ có thể ngồi với nhau từ sáng tới trưa để” buôn dưa lê” nhưng người ở phía Bắc (bắc sông Trường giang) thường ăn bánh bao uống sữa đậu đi làm và chào nhau rất đơn giản “Chào buổi sáng”. Cô HDV kể chúng tôi nghe về Từ Hi thái Hâu, về lịch sử , về phong thủy và Người Trung quốc nói, muốn tìm hiểu 500 năm lịch sử thì tới Bắc kinh, 1000 năm lịch sử thì tới Tây An. Ăn ở Quảng Châu, Mặc ở Hàng Châu, lấy vợ Tô Châu và chết ở Liễu Châu.  

    Qua một số thông tin như vậy, tôi đã thấy rằng nét tương đồng và dấu ấn của nền văn hóa Lạc Việt ở Nam sông Dương Tử ở vùng lưỡng Quảng. Người Hán ở phía Bắc không trồng lúa thì sao lại là chủ nhân của nền văn minh lúa nước, của lịch nông nghiệp cho được ???

    Trên các con đường thành phố Bắc Kinh, có rất nhiều cây Liễu và trong công viên Bắc Hải thì toàn là Liễu cổ thụ. Cảnh trí thật nên thơ với những dãy phố cổ, những ngôi nhà cổ sơn màu xám và nâu sẫm.

    hqdefault.jpgPB240344.JPG

    PB240346.JPG

    Tuy nhiên, dưới góc nhìn của Địa Lý Lạc Việt thì nó quá Vượng Âm cho nên cuộc sống ở đây rất áp lực và như một cái vòng luẩn quẩn. Đúng là nó sẽ rất phát triển về kinh tế, nhưng người dân và chính phủ luôn xảy ra những mâu thuẫn bất đồng âm thầm bên trong.

    Muốn vào Tử Cấm Thành, chúng tôi phải đi qua kiểm tra an ninh hết sức chặt chẽ sau đó đi qua Thiên An Môn nơi diễn ra sự kiện đẫm máu năm 1989 giữa chính phủ Trung Quốc và giới Sinh Viên. Cô hướng dẫn viên nói rằng Người Bắc Kinh gọi Tử Cấm Thành là Long mạch Dương, là nơi tiếp Dương khí cho toàn bộ Bắc Kinh. Cô nói rằng người Trung Quốc rất tự hào vì công trình này của họ là biểu tượng của Phong thủy của người Trung Quốc, là Âm Dương và Ngũ hành. Xin trích một đoạn trong bài viết về Phong thủy Tử Cấm Thành của người trung quốc:

    +++

    Trích:
    ÂM VÀ DƯƠNG.

    Người Trung Quốc cổ đại tin rằng khởi đầu thế giới chỉ có hai yếu tố âm và dương. Trời là dương
    p, đất là âm. Mặt trời là dương và mặt trăng là âm. Hoàng đế Vĩnh Lạc lệnh cho các thầy phong thủy tạo ra thiết kế ba lớp: lớp ngoài tạo thành vòng tròn có 4 đàn tế, lớp giữa là tường thành, và trong cùng là cung điện. Nhìn vào bản đồ Bắc Kinh thời cổ đại, ta có thể thấy phía ngoài tường thành là đền thờ Trời, Đất, Mặt trăng và Mặt trời, tạo thành không gian hình tròn.

    Tử Cấm Thành nằm ở trung tâm Bắc Kinh thời xưa, với hình thế núi phía sau (núi Vạn Niên) và sông chảy phía trước (sông Kim Thủy). Sông Kim Thủy là một kênh đào. Núi Vạn Niên cũng là sản phẩm nhân tạo, được làm từ đất đào sông, gạch đá từ cung điện nhà Nguyên cũ. Núi Vạn Niên được xây ở phía bắc cung điện mới, với vai trò ngăn chặn tà ma xâm nhập

    Hết trích

    +++

    Thế nhưng ngay sau Thần Vũ Môn phía bắc (B trong hình) và đồi Cảnh Sơn có một con đường cắt ngang có tên là Cảnh Sơn trước, mà như vậy thì cái gọi Long mạch đã bị cắt phá bởi con đường chạy ngang này bất chấp Long mạch hay Khí mạch được tiếp từ Núi Vạn niên hay bất kỳ một ngọn núi nào.

    ban do canh son vc than vu mon.jpg

    Tử Cấm Thành có hình chữ nhật, chiều bắc - nam dài 961 m và đông - tây dài 753 m. Nó gồm 980 kiến trúc nhà ở với 8,886 phòng, được bao bọc bởi tường cao 7.9 m và dày 6 m, với hào sâu 52 m. Bốn góc là 4 tòa tháp (E) với kiểu mái phức tạp, tượng trưng cho Đằng Vương các (滕王) và Hoàng Hạc lâu (鹤楼). Mỗi mặt tường có một cổng: Ngọ môn () (A); Thần Vũ môn (神武)(B); Đông Hoa môn (东华门)(D) và Tây Hoa môn (西华门)(C).

    Tử Cấm thành được chia làm hai phần: Ngoại đình (外廷) (còn gọi là Tiền triều 前朝) phía Nam dành cho các lễ nghi, và Nội đình (内廷) (tức Hậu cung ) phía Bắc là nơi ở của Hoàng đế và Hoàng thất, cũng là nơi Hoàng đế và các quan lại họp bàn việc triều chính hàng ngày.

    Forbidden-City-Map-big2.jpg

    Ngọ Môn là điểm đầu tiên sau khi bước qua Thiên An Môn, và tại đây tôi đo hướng của Tử Cấm Thành chính xác là 180 độ.  Toàn bộ cổng đều gắn 9 núm đồng to x 9 hàng bởi vì toàn bộ số trong Tử Cấm Thành đều dùng số 9 – tượng trưng cho Thiên tử. Tử trong Tử Cấm Thành không phải Tử là chết mà nghĩa là màu tím. Tuy nhiên, trong lý học thì CỬU TỬ tức là Sao số 9 Dương kim. Theo một số phân tích như của Gs.Thêm thì người Trung quốc rất coi trọng số 8 và 6, tức là hệ số chẵn. Nhưng Tử Cấm Thành với các con số 9 tương trưng cho Thiên tử thì hoàn toàn dùng số 9, số lẻ thuần Dương biểu hiện cực thịnh của chuỗi vận động trước khi nhập vào Trung cung (số 10). Theo nguyên tắc, số 6 của Hà Đồ thuộc về cung Càn-là Vua và số 9 thuộc quái Đoài (theo Hà đồ phối Hậu thiên lạc Việt) và là quái Ly (theo Hà đồ Văn vương), và trong Địa lý phong thủy thì sao Cửu tử 9 là sao Hữu Bật. Theo cách mà người Trung hoa lý giải thì Tử là sao Tử Vi, là Vua theo môn tử vi đẩu số cho nên lấy tên là Tử và mọi thứ dùng theo số 9. Giữa độ số 9 và sao tử vi không tìm thấy sự liên quan bởi đây là hai hệ qui chiếu khác nhau. Cho nên, sự lý giải vì sao lại lấy là con số 9 thì họ hoàn toàn không lý giải được ngoài thông tin” Số của Vua”.

    PB230123.JPG

    Hình thể của toàn bộ Tử Cấm Thành so với những công trình cổ gần nhất với nó chính là Angkor Wat tại Cambodia. Tổng diện tích cũng như chiều dài và chiều rộng gần như nhau: Angkor Wat có kich thước xấp xỉ 888mx1111m không bao gồm hào nước và Tử Cấm Thành là xấp xỉ 888x1111m bao gồm cả hào nước. Xin nói thêm Angkor Wat được xây theo kiến trúc xây dựng và Địa Lý Ấn Độ và kích thước này được gọi là tỷ lệ vàng, với các góc độ tính từ tâm là 53,8 độ (tương tự tỷ lệ của kim tự tháp Ai Cập) , hằng số Pi 3.141, tỷ lệ giữa các với các góc độ tính từ tâm là 53,8 độ (tương tự tỷ lệ của kim tự tháp Ai Cập) , và tỷ lệ tam giác 3-4-5 (3-4-5 Triangle).

    tct va angko.jpgty le vang.png

    Tỷ lệ này là một kiến thức cổ xưa có trên trái đất và tỷ lệ 3-4-5 tam giác đã có trong kim tự tháp Ai Cập trước đó hàng ngàn năm và nó xuất hiện trong rất nhiều các công trình cổ xưa của nhân loại, và tất nhiên nó không thuộc sở hữu của người Trung Hoa.

    Ông Nguyễn An theo sử sách Trung Hoa ghi chép lại thì

     

    Nguyễn An tự tay vạch kiểu, thành hình là lập được thế, mắt ngắm là nghĩ ra cách làm, tất cả đều đúng với quy chế. Bộ công và các thợ thuyền đành chịu khoanh tay, bái phục, nghe ông chỉ bảo, sai khiến, thật là người đại tài, xuất chúng.

     

    Từ đây, Tôi cho rằng Hoàng Thành Thăng Long của chúng ta cũng có một bố cục tương tự bởi cho tới nay thì những gì còn sót lại là bản đồ không còn nguyên vẹn nhưng trên bản theo Hồng Đức bản đồ sách thì hình thể tương tự như vậy. Về sau này thì bản đồ người Pháp vẽ lại có hình Vuông và đây là hình thể giống như Kinh Đô Huế, tức là khoảng thời nhà Nguyễn.

     

     

    1 person likes this

  4. ĐỊA LÝ PHONG THỦY TỬ CẤM THÀNH

    DẤU ẤN CỦA NGƯỜI VIỆT TRÊN ĐẤT TRUNG HOA

    forbidden_city_3d_model_c4d_max_obj_fbx_ma_lwo_3ds_3dm_stl_1030177_o.jpg

    PHẦN 1 : NGUYỄN AN - TỔNG CÔNG TRÌNH SƯ 

    Khi còn thời niên thiếu, tôi luôn mơ ước được đặt chân tới Tử Cấm Thành và Vạn lý trường Thành bởi ảnh hưởng lớn từ văn học Trung Hoa. Vậy mà mãi tới cái tuổi Ngài Khổng Tử gọi là “Ngũ thập tri thiên mệnh” cận kề, ước mơ ấy mới được thực hiện.

    Tôi tới Bắc Kinh lần này chỉ một mục đích là được nhìn thấy công trình được xây nên bởi kiến thức của người Việt, điều mà cho tới mãi sau này tôi mới biết và thậm trí là rất nhiều người Việt của chúng ta cũng không hề biết. Đó là Tổng công trình sư của công trình này là một người VIỆT.

    Tôi xin trích một đoạn từ Wikipedia về tiểu sử của Ngài Nguyễn An, Tổng công trình sư của thành Bắc Kinh.

    trích dẫn:

    Nguyễn An (chữ Hán: 阮安1381-1453), còn gọi là A Lưu (chữ Hán: 阿留, tên gọi ở Trung Hoa),[1] kiến trúc sư thời xưa, người Việt. Ông cùng với Sái Tín (蔡信)[2][3], Trần Khuê (陳珪), Ngô Trung (吳中) là một trong những kiến trúc sư trưởng của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, Trung Quốc.[4] Ông cũng tham gia trị thủy hệ thống sông Hoàng Hà.

    Nguyễn An sinh năm Tân Dậu (1381), quê ở vùng Hà Đông (có lẽ là ở một làng nghề nào đó thuộc phía Nam trấn Sơn Tây hay Tây Bắc trấn Sơn Nam lúc đó, sau vào thời nhà Nguyễn thuộc tỉnh Hà Đông, nay thuộc địa phận thành phố Hà Nội. Khi gần 16 tuổi (khoảng năm 1397), thời vua Trần Thuận Tông nhà Trần, ông đã tham gia các hiệp thợ xây dựng cung điện ở kinh thành Thăng Long nhà Trần. Năm 1407, nhà Minh sang đánh bại nhà Hồ, chiếm được Việt Nam. Tướng nhà Minh là Trương Phụ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Trung Quốc (Hồ Nguyên Trừng sau làm quan nhà Minh), còn tiến hành lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang sang Trung Hoa, chọn để hoạn làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh. Trong số này có nhiều người sau trở nên nổi tiếng vì tài giỏi như: Nguyễn An, Phạm Hoằng, Vương Cấn,... Lúc này là những năm Vĩnh Lạc, thời vua Minh Thành Tổ Chu Đệ (1403 - 1424), ông vua này cho dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh (của nhà Nguyên trước đó), đổi tên là thành Bắc Kinh và cho xây dựng lại to đẹp hơn và đúng theo ý muốn của mình. Đầu tiên vua Minh cho xây dựng tử cấm thành tức Cố Cung trước (xây từ năm 1406 đến năm 1420 thì hoàn thành). Trong số thái giám phục vụ ở cung vua, Minh Thành Tổ thấy Nguyễn An rất giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc xây dựng, lại liêm khiết hiếm thấy nên tin dùng.

    Kiến trúc sư trưởng Bắc Kinh

    Năm Vĩnh Lạc 14 (1416) theo lệnh của Minh Thành Tổ, Nguyễn An khi ấy mới ngoài 30, đã được giao trọng trách "tổng công trình sư" xây dựng thành Bắc Kinh mới (Cố Cung). Đến đời vua Minh Anh Tông thành Bắc Kinh lại được trùng tu và xây dựng bổ sung. Năm 1437, vua Minh Anh Tông giao cho bộ Công xây dựng lại kinh thành, viên Thị lang bộ Công là Sái Tín tâu xin trưng dụng 18 vạn dân phu giỏi nghề và chi tiêu tốn kém, thu mua rất nhiều vật liệu song phải đợi 5 năm xây xong; vua Minh thấy vậy liền giao cho Nguyễn An làm tổng đốc công (tổng công trình sư) trùng tu thành Bắc Kinh. Sách Kinh thành ký thắng của Dương Sĩ Kỳ viết:

     

    Nguyễn An tự tay vạch kiểu, thành hình là lập được thế, mắt ngắm là nghĩ ra cách làm, tất cả đều đúng với quy chế. Bộ công và các thợ thuyền đành chịu khoanh tay, bái phục, nghe ông chỉ bảo, sai khiến, thật là người đại tài, xuất chúng.

     

    Minh sử quyển 304 - Liệt truyện 192 - Hoạn quan nhất chép về ông rất ngắn (sau Trịnh Hòa, Hầu Hiển, Kim Anh, Hưng An, Phạm Hoằng, Vương Cấn), nhưng có đề cập tới việc xây dựng thành trì, cung điện, các sở quan tại Bắc Kinh cũng như trị thủy như sau: 阮安有巧思,奉成祖命營北京城池宮殿及百司府廨,目量意營,悉中規制,工部奉行而已。正統時,重建三殿,治楊村河,並有功。景泰中,治張秋河,道卒,囊無十金。 (Nguyễn An hữu xảo tư, phụng Thành Tổ mệnh doanh Bắc Kinh thành trì cung điện cập bách ti phủ giải, mục lượng ý doanh, tất trúng quy chế, Công bộ phụng hành nhi dĩ. Chính Thốngthì, trùng kiến tam điện, trì Dương Thôn hà, tịnh hữu công. Cảnh Thái trung, trì Trương Thu hà, đạo tuất, nang vô thập kim).

     

    Như vậy, từ vẽ đồ án thiết kế, đào tạo nhân lực, đến chỉ đạo thi công ông đều tham gia. Công việc của ông làm chính là kết hợp nhiệm vụ của một nhà kiến trúc sư công trình, một nhà quy hoạch, một kỹ sư xây dựng lẫn một nhà quản lý dự án xây dựng, ở thời đại ngày nay. Ông xứng đáng là kiến trúc sư trưởng của thành Bắc Kinh lúc đó. Năm Chính Thống thứ hai (1437), ông xây dựng Thành nội tức là Hoàng thành (thêm hai cung, ba điện, năm phủ, sáu bộ, và dinh thự công sở các ty), Thành ngoại với 9 cửa kinh sư: cửa Chính Dương (có 1 chính lầu và 3 gian Nguyệt thanh lâu), và các cửa: Sùng Văn, Tuyên Vũ, Triệu Dương, Phụ Thành, Đông Trực, Tây Trực, An Dinh, Đức Thắng (mỗi cửa này đều có 1 chính lầu và 1 Nguyệt thanh lâu (lầu ngắm trăng)). Công việc trên được ông chỉ huy thực hiện hoàn thành trong hơn hai năm, rút ngắn tiến độ được gần một năm, mà lại chỉ dùng hết một vạn nhân lực để thi công. Tháng 3 năm Chính Thống thứ 5 (1440), ông lại được nhà vua giao cho 7 vạn thợ và lệnh cho xây dựng và trùng tu ba điện: Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân, cùng hai cung: Càn Thanh, Khôn Ninh (hai cung, ba điện này được xây xong năm 1420, nhưng năm 1421 lại bị sét đánh hư hại). Đến tháng 10 năm sau (1441) thì công việc này xong, vua nhà Minh thưởng cho Nguyễn An: 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấn thóc và 1 vạn quan tiền. Đến tháng 10 năm Chính Thống 10 (1445), ông lại được giao xây dựng lại tường thành Bắc Kinh, vốn trước bên ngoài xây bằng gạch nhưng ở trong đắp đất nên hễ mưa là sụt.

    Nhà sử học Trương Tú Dân từng làm việc tại Thư viện Bắc Kinh, có điều kiện khảo cứu về Nguyễn An và đã từng sang Đài Bắc tập trung tài liệu để viết sách về Nguyễn An, nhận xét: "Từ xưa đến nay, người tốt trong hoạn quan trăm ngàn người không được một. Còn An hết lòng vì công việc, thanh bạch, liêm khiết, khắc khổ, khi lâm chung không có nén vàng nào trong túi, là một con người cao thượng, chỉ để lại công đầu ở Bắc Kinh. Nguyễn An là người kiệt xuất trong hoạn quan, công với quốc gia không thể phai mờ. Ngày nay tên Tam Bảo thái giám, đàn bà trẻ con đều tỏ tường, còn tên nhà đại kiến trúc Nguyễn An - A Lưu thì ngay học giả, chuyên gia ít ai hay biết. Thật bất hạnh thay. Tôi nghĩ, với An không chỉ riêng giới công trình đáng ngưỡng mộ mà thị dân Bắc Kinh cũng nên uống nước nhớ nguồn, kỷ niệm chớ quên."

    Từ năm 1953, các nhà sử học Việt Nam như Trần Văn GiápMinh TranhĐào Duy Anh và Đặng Thai Mai lần lượt sang thăm Trung Quốc, đến Thư viện Bắc Kinh thu thập sử liệu Việt Nam, trong đó có các tài liệu về Nguyễn An.

    Hêt trích dẫn”

    Trong một bài trả lời phỏng vấn của báo SGGP , Giáo sư Trần Ngọc Thêm có trả lời như sau:

    +++++++++

    “”- PV: Thưa giáo sư, bộ phim tài liệu của CHLB Đức cho thấy Nguyễn An có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng Tử Cấm Thành. Vì sao một người tài như vậy lại lưu lạc sang Trung Quốc và được các vua Minh trọng dụng?

    S-TSKH TRẦN NGỌC THÊM: Theo Minh Sử, vào tháng 12 năm Bính Tuất (1406) tướng nhà Minh là Trương Phụ đem quân sang An Nam với danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”, giúp nhà Trần đánh nhà Hồ sau sự kiện Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Trương Phụ bắt Hồ Quý Ly (Thượng hoàng) và Hồ Hán Thương (con trai thứ được Hồ Quý Ly truyền ngôi) đưa về đày ở Quảng Châu. Tháng 7 năm Đinh Hợi (1407), Trương Phụ sai tuyển chọn 9.000 người tài, có học vấn cao và 7.700 thợ giỏi đưa về Trung Quốc xây dựng kinh đô. Một số thanh niên tuấn tú, thông minh được tuyển chọn để thiến, đào tạo thành thái giám phục vụ trong cung. Trong số này có Nguyễn An.

    Nguyễn An sinh năm Tân Dậu (1381), quê vùng Hà Đông, nổi tiếng thần đồng là người giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc, cương nghị và liêm khiết. Năm 1397, khi chưa đầy 16 tuổi, Nguyễn An đã có mặt trong các kíp thợ xây dựng các công trình kiến trúc tuyệt tác cung điện nhà Trần (đời vua Trần Thuận Tông). Chính vì vậy, khi quyết định xây dựng Tử Cấm Thành, nghe tiếng Nguyễn An là có người tài kiến trúc lại liêm khiết, vua Minh Thành Tổ (niên hiệu Vĩnh Lạc) giao cho ông trọng trách là tổng đốc công xây dựng công trình này.

    - Là một người Việt Nam, khi xây dựng Tử Cấm Thành chắc hẳn Nguyễn An đã đưa những tư duy văn hóa Việt vào công trình này. Theo giáo sư thì điểm nào thể hiện điều này rõ nét nhất?

    Tử Cấm Thành có diện tích 72 vạn m2, gồm 800 cung và 8.886 phòng, được Nguyễn An thiết kế gồm một vòng cung hình chữ nhật bao quanh cả kinh thành. Toàn thành có 9 cổng và 3 lớp vòng thành (tam trùng thành quách). So với Nam Kinh và các kinh thành trước đó của Trung Quốc, Tử Cấm Thành có hai điểm mới. Thứ nhất, Tử Cấm Thành có hình chữ nhật trong khi các các kinh thành cũ thiết kế kiểu hình vuông, theo nguyên tắc “tiền triều, hậu thị”, tức cung điện phía trước, chợ búa phía sau. Thứ hai, Tử Cấm Thành có 3 lớp vòng thành trong khi kinh thành cũ thường chỉ có 1 đến 2 lớp. Hai sự thay đổi này được đánh giá là chịu ảnh hưởng của tư duy kiến trúc Việt Nam coi trọng số lẻ, chẳng hạn như Cổ Loa cũng có 3 vòng thành.

    - Không chỉ Nguyễn An, giai đoạn này nhiều người tài của Việt Nam đã bị đưa sang Trung Quốc, đúng không, thưa ông?

    Các vua nhà Minh đều xem Nguyễn An như một “kỳ nhân”. Bên cạnh đó, còn một số người Việt Nam khác tài giỏi cũng được sử sách công nhận như Hồ Nguyên Trừng (con trưởng của Hồ Quý Ly), Phạm Hoằng, Vương Cẩn… Hồ Nguyên Trừng là một thiên tài kỹ thuật quân sự. Chính ông đã sáng tạo nên súng thần công, được vua Minh dùng chống các đội quân xâm lược phía Bắc và phong cho ông chức Thượng thư bộ Công, coi ông là ông tổ của súng thần công Trung Quốc. Ông còn là một nhà văn với tác phẩm đặc sắc để lại cho đời là “Nam Ông mộng lục”. Còn Phạm Hoằng là người chủ trì xây dựng ngôi chùa lớn Vĩnh An tự ở Tây Nam Bắc Kinh. Vua Anh Tông nhà Minh tặng ông biệt danh “Bồng Lai Cát Sĩ”. Vương Cẩn (Trần Vũ) là thái giám giả, bị phát hiện nhưng nhờ ông rất tài giỏi nên được vua miễn tội chết, lại được ban cho cung nữ và nhiều vàng bạc…

    - Thưa giáo sư, ông là người 15 năm trước đây đã nhắc đến Nguyễn An trong tác phẩm “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của mình và bây giờ lại đưa những thước phim “Tử Cấm Thành - bản di chúc của một bạo chúa” lên giới thiệu trên trang web vanhoahoc.edu.vn. Theo ông, những thông tin quý như vậy tại sao chưa được nhiều người biết đến?

    Đúng là trong số chúng ta chưa có nhiều người biết đến một trong  công lao đóng góp của Nguyễn An - những người tài giỏi Việt Nam trong những công trình để đời tại thủ đô của Trung Quốc. Mặc dù nhiều sử sách Trung Quốc thời trung đại như “Hoàng Minh thông kỷ”, “Anh Tông chính thống thực lục” hay những sách như “Kinh kỳ ký thắng” của Dương Sĩ Kỳ, “Thủy Động nhật ký” của Diệp Thanh… đều ghi nhận công lao của Nguyễn An. Nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn sống vào thế kỷ 18 (1726-1784) cũng đã viết trong cuốn “Kiến Văn tiểu lục” ca tụng tài năng và công lao của Nguyễn An trong việc xây dựng và tu tạo thành Bắc Kinh. Tại Mỹ, trong tập 7 của bộ sách lịch sử Trung Quốc do Đại học Cambridge biên soạn, trong phần viết về triều đại nhà Minh, cũng đã kể rõ vai trò của kiến trúc sư trưởng người Việt Nam là Nguyễn An trong việc xây dựng cung điện Bắc Kinh.

    Tuy nhiên, người Trung Quốc đời sau đã không công bằng với Nguyễn An khi cố tình lờ đi chuyện này. Sau này, có một nhà sử học đương đại Trung Quốc tên là Trương Tú Dân đã công bố trên tờ “Ích Thế báo” số ra ngày 11-11-1947 một bài báo với nhan đề: “Thị dân Bắc Kinh nên kỷ niệm Nguyễn An, người An Nam, Thái giám nhà Minh, tổng công trình sư tạo dựng lầu thành Bắc Kinh thế kỷ XV”. Trong đó, sau khi kể các công lao của Nguyễn An, ông nêu rõ: Nguyễn An sống cùng thời với Tam Bảo thái giám Trịnh Hòa (người ba lần sang Tây Dương), đều là những người kiệt xuất trong các hoạn quan, có công với quốc gia không thể phai mờ. Trong khi nói đến Trịnh Hòa, người dân Trung Quốc ai cũng rõ, còn tên của nhà đại kiến trúc Nguyễn An gốc An Nam thì ngay cả học giả, chuyên gia cũng ít ai hay biết, thật là bất công. Do đó với Nguyễn An, không chỉ giới công trình sư ngưỡng mộ mà người dân Bắc Kinh nên uống nước nhớ nguồn, tổ chức kỷ niệm ông. 

    Gần đây, Đài truyền hình ZDK của CHLB Đức đã xây dựng bộ phim tài liệu nhan đề “Tử Cấm Thành Trung Quốc - bản di chúc của một bạo chúa” đã một lần nữa xác quyết công lao của Nguyễn An. Bộ phim đã cung cấp cho ta thêm một bằng chứng khách quan bằng hình ảnh, nó giúp chúng ta có thêm cơ sở để tiến hành vinh danh công lao của ông sòng phẳng trước lịch sử. Để rồi không chỉ chúng ta mà con cháu chúng ta cũng tự hào về những con người tinh hoa của dân tộc.””

    Đón đọc phần 2

    6 people like this

  5. BÀI VIẾT XÁC ĐỊNH ĐỊA LÝ LẠC VIỆT QUA THỦY PHÁP TRƯỜNG SINH GHI DẤU TRÊN TỬ CẤM THÀNH BẮC KINH.
    CỦA GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG HOÀNG TRIỆU HẢI.

    Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
     

    Forbidden City.jpg

    Thưa quý vị và các bạn.
    Hơn 20 năm chứng minh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, chính là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương huyền vĩ với nguyên lý căn để 'Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt'. Đấy là nguyên lý lý thuyết mang tính căn để và là cái chìa khóa duy nhất để mở ra kho tàng bí ẩn của nền văn minh Đông phương huyền vĩ, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch.
    Nguyên lý lý thuyết căn để này là một bằng chứng xác định rất quan trọng, chứng minh cho cội nguồn văn hiến Việt, nhân danh khoa học. Dù khái niệm khoa học được định nghĩa như thế nào. Bởi vì, nó phù hợp với mọi chuẩn mực thẩm định thể hiện ở những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Một trong nhưng tiêu chí quan trọng nhất - và chưa phải là duy nhất - được phát biểu như sau:
    'Một lý thuyết, hoặc một giả thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, phải giải thich một cách hợp lý hầu hết mọi vấn đề liên quan đến nó, một cách có tính hệ thống, tính nhất quán, hoàn chỉnh, có tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri'.
    Nguyên lý căn để 'Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt', hoàn toàn thỏa mãn tất cả những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. Nó đã giải thích hầu hết những vấn đề liên quan đến Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt, một thời huyền vĩ ở miền nam sông Dương tử - trong hầu hết những di sản của nền văn minh Đông phương, gồm hầu hết những các bộ môn dự báo của Lý học Đông phương. Từ Đông y, Địa Lý phong thủy, Tử Vi và cả mọi ngành ứng dụng khác trong mọi lĩnh vực khác....
    Một trong những ngành ứng dụng được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, một cách hoàn hảo nhất chính là Địa Lý phong thủy Lạc Việt. Trong đó có một phương pháp ứng dụng cụ thể, gọi là 'Thủy pháp trường sinh'.
    Thưa quý vị và các bạn.
    Thủy pháp trường sinh là một phương pháp ứng dụng cụ thể trong ngành kiến trúc xây dựng cổ Đông phương, quen gọi là Địa Lý phong thủy. Đối tượng nghiên cứu của nó là sự tương tác của các dòng Khí vận động của môi trường bên ngoài một đơn vị kiến trúc. Cụ thể trong các bản văn chữ Hán gọi là "nước" (Ngôn ngữ Hán phát âm là 'Shuẩy' - Trong tiếng Việt phát âm là 'Thủy' và phân biệt với 'Nước'. Trong tiếng Việt, hai từ này không đồng nghĩa '*').
    Tuy nhiên, mô hình biểu kiến mô tả phương pháp này, trong các bản văn chữ Hán, không mang tính quy luật và tính hệ thống. Nhân danh nền văn hiến Việt, trên cơ sở nguyên lý căn để 'Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt', tôi đã hiệu chỉnh lại mô hình 'Thủy Pháp trường sinh'.
    Một trong những tiêu chí khoa học, xác định rằng:
    - 'Một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng, thì những mô hình biểu kiến của nó, phải phản ánh một thực tại có thể quan sát được'.
    Thưa quý vị và các bạn.
    Những dòng nước chảy quanh Tử Cấm Thánh Bắc Kinh, do nhà kiến trúc thiên tài của Việt tộc là Nguyễn An, là một thực tại có thể quan sát được, đã xác định một phương pháp phù hợp với những mô hình thủy pháp nhân danh nền văn hiến Việt. Và điều này được Hoàng Triệu Hải - một cao thủ Địa Lý Lạc việt mô tả trong bài viết thực địa dưới đây.
    Xin hân hạnh giới thiệu.

     

    5 people like this

  6. ĐỊA LÝ hay PHONG THỦY

    Cần khẳng định ngay một điều rằng, ĐỊA  LÝ chính là tên gọi của bộ môn mà chúng ta thường quen gọi là Phong Thủy.

    Nếu từ PHONG THỦY - Fengshui mà hiện tại chúng ta đang sử dụng để mô tả bộ môn Địa Lý thì từ Phong thủy chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng 20 năm trở lại đây . Trong nền văn hóa của Việt Nam, từ xa xưa chúng ta đã dùng từ Địa Lý để nói tới bộ môn khoa học cổ trong Qui hoạch thiết kế và xây dựng kinh thành, thành phố, nhà cửa cũng như âm trạch mồ mả .  Nếu tra cứu trên thư viện mở, chúng ta có thể thấy bộ môn Địa Lý mà chúng ta quen gọi là Phong Thủy đã xuất hiện trên trái đất từ khoảng ít nhất 6000 năm TCN qua các di tích và tài liệu bảo tồn tại ở Ấn Độ. Từ Fengshui tức là Phong Thủy được người người truyền giáo Tây Âu đặt ra thay cho từ Địa Lý vào khoảng thế kỷ thứ 19 khi họ tới Trung Quốc. Sở dĩ họ đặt tên như vậy là vì họ nhìn hình thức của các Pháp sư hay Linh mục bản đia vận dụng phương pháp của môn Địa Lý thường  lựa chọn hướng của các dòng chảy, hướng của nguồn năng lượng dựa trên vị trí, địa điểm, địa thế, hình thể của sông núi hay các công trình xây dựng và khu đất. Do công việc này được thực hiện nhiều từ các Pháp sư địa phương nên những người Châu ÂU cho rằng bộ môn Phong Thủy có xuất phát từ Đạo giáo và cộng đồng khoa học cho rằng bộ môn Phong Thủy là giả khoa học cho dù nó là bộ môn nghiên cứu và thiết kế các công trình hướng tới sự cân bằng giữa con Người và Trái Đất. Thời gian gần đây, từ Phong Thủy được chấp nhận sử dụng rộng rãi  thay thế  từ Địa Lý và cũng được hiểu như là các hoạt động liên quan tới tâm linh, siêu hình hay các vấn đề khoa học thần bí.

    Có rất nhiều định nghĩa về Phong Thủy được viết và được hiểu đơn giản là bộ môn nghiên cứu sự ảnh hưởng của Gió và Nước lên đời sống, ảnh hưởng tới phúc họa của một ngôi nhà và những con người sống bên trong đó nhưng thực chất Phong thủy đơn giản như vậy không ? Tôi không dám đưa ra bất kỳ một định nghĩa nào nhưng xin trình bày quan điểm của cá nhân về cụm từ Phong thủy.

    Chúng ta có thể nhận thấy rằng, khi xem xét “Phong thủy” của đất đai, nhà cửa, mồ mả thì không có một môn phái hay trường phái nào xem xét hướng Gió cả. Bản chất Phong thủy chính là tên gọi của bộ môn Địa Lý – bộ môn ứng dụng của học thuyết ADNH, và Phong thủy chỉ là hình thức từ góc nhìn trực quan từ những con người không rất xa lạ với nền Lý Học Đông Phương. Tên gọi Phong thủy có từ sự nhìn nhận và mô tả hình thái bên ngoài của bộ môn Địa Lý bởi việc đầu tiên của các Địa Sư chính là tìm Mạch khí của Núi và Sông. Bản chất của KHÍ (Qi theo cách gọi của người Trung Hoa) là vô hình , không nhìn thấy, không đo được, không cảm nhận được. Do đó để nhận biết KHÍ thì phải dựa vào các hình thái tồn tại của KHÍ, trong đó có Gió và Nước. “KHÍ gặp gió thì tán, gặp nước thì tụ”, cho nên khi đặt Mộ (Âm Trạch) thì các Địa Sư phải chọn nơi kín gió, có nước để nhận biết khu vực TỤ Khí.  Còn với Dương Trạch tức là xây các công trình để ở thì việc bố trí sao cho không để Gió làm tán Khí trong ngôi gia, tạo ra các khu hồ, ao, bể nước để tụ Khí và hoàn toàn không quán xét gì tới “HƯỚNG GIÓ” cả. Trong cuộc sống hiện đại có rất nhiều các yếu tố tác động lên ngôi nhà và những người sống trong đó, và môn Địa Lý quán xét tất cả các yếu tố đó bao gồm môi trường xung quanh, hướng nhà, thiết kế nhà, hình thể ngôi nhà, bố trí nội thất, màu sắc..vv. nhưng tuyệt nhiên không có nghiên cứu tới “hướng của Gió” mà chỉ có hướng định vị bằng la bàn tức là hướng từ trường tự nhiên của đất,  là Mạch Khí của Núi, Hướng của dòng nước chảy. Địa lý quán xét ”Gió” ở một phạm vi khác nhưng Gió và Nước không thể đại diện cho tất cả các yếu tố tương tác khác mà chúng ta gọi là ĐỊA LÝ.

    Có rất nhiều người dùng cách nhìn trực quan để quán xét bộ môn Địa Lý, cũng giống như cách mà người Tây Âu nhìn để đặt tên môn Địa lý thành Phong thủy. Cách đặt vấn đề là những người giàu có thường không xem xét tới Địa lý (Phong thủy), hoặc những mảnh đất các Địa sư bảo xấu không dùng nhưng lại được bán và giao dịch rất nhiều tiền và người mua từ đầu cũng kiếm được rất nhiều tiền. Hoặc người đó ác lắm sao vẫn giàu thế , hay Đại gia này không đi lễ hay theo đạo gì mà hắn giàu có lắm. vv và vv.  Có nhiều người cũng đặt vấn đề, vì sao các Kinh thành được xem xét rất hoàn hảo về Địa lý(Phong Thủy) nhưng rồi các triều đại cũng xụp đổ  và mộ các vị Vua đó cũng đặt huyệt Đế Vương mà Vương triều đó cũng bị suy tàn.   Vậy phải chăng Địa Lý(Phong Thủy) không có tác dụng gì và là sự lừa bịp trong suốt mấy ngàn năm ?

    Địa lý(phong thủy) không phải là tôn giáo và không tuân theo bất kỳ một nguyên tắc nào của Tôn giáo bởi Địa lý là những tương tác và tuân thủ theo qui luật của Tự nhiên, chứ không theo khuôn phép và tư tưởng của Tôn giáo. Ngược lại, Tôn giáo lại phải tuân thủ theo qui luật vận động của tự nhiên chứ không thể dùng tư tưởng của Tôn giáo để chi phối qui luật tự nhiên. Do đó, chuyện một người ác hay hiền liên quan tới nhân quả theo thuyết của đạo Phật không ảnh hưởng gì tới tiền bạc vật chất mà người đó được hưởng. Nhưng qui luật ở chỗ nếu người Ác làm ngôi nhà sai hay đúng theo Địa lý thì tức nó sẽ tác động lên cuộc sống của anh ta. Anh ta sẽ gặp “quả báo” sớm hay muộn, nặng hay nhẹ , tức là chịu sự chi phối của qui luật vận động.

    Bộ môn này cũng không liên quan tới việc giá Đất đắt hay rẻ, khu đất nào tương lai sẽ bán được nhiều tiền. Những Huyệt để đặt âm trạch (mồ mả) thường đạt được đầy đủ các tiêu chí Địa lý nhưng sẽ ở trong tận vùng rừng núi mà khu vực đó thì không ai xây nhà ở trên cái Huyệt đó để ở. Đất đai nhà cửa ở các khu đô thị nhanh chóng lên giá bởi mới có cây cầu, mới có con đường, hay khu đô thị đẳng cấp.  Chủ đầu tư làm ra để bán và họ chẳng cần phải bận tâm về việc khu đó có phải là Huyệt mạch tốt hay không. Hai tiêu chí đặt ra là khác nhau, do đó việc “nhậy cảm” trong buôn bán bất động sản để mua rẻ bán đắt hay kiếm lời lãi nhiều hoàn toàn không liên quan tới tiêu chí Địa lý “ phong thủy” ở đó tốt hay xấu. Tốt hay xấu lại phải xét trên quan điểm là khi ta SỐNG trong ngôi nhà hoặc mảnh đất nhiều tiền đó, nó ảnh hưởng Tốt hay Xấu lên cuộc sống bên trong ngôi nhà đó.

    Tốt hay xấu cũng không thể cảm nhận được ngay trên góc độ TRỰC QUAN, có nghĩa là đo đếm và nhìn thấy được. Địa lý (phong thủy) tác động từ từ, chậm rãi và hoàn toàn chỉ cảm nhận được khi bạn quan tâm theo dõi và để tâm cảm nhận tương tác của Địa lý lên cuộc sống. Có những mảnh đất, ngôi nhà rất xấu xét trên quan điểm Địa lý nhưng người sống trong căn nhà đó thậm trí là những vị lãnh đạo cao cấp, là những đại gia nghìn tỷ.  Hướng rất xấu so với tuổi chủ nhà nhưng hướng đó thậm trí sau 9-19 năm nó mới phát tác các vận xấu bởi nó âm ỉ tích lũy chờ thời cơ bùng phát, trong khi chủ nhà đó ở vài năm đã sửa nhà hoặc đổi nhà khác . Cho nên họ chưa kịp nhận biết cái xấu thì đã rời khỏi chỗ đó, thì làm sao biết được Địa lý (phong thủy) nơi đó có tác động xấu lên cuộc sống của họ như thế nào.

    Một Kinh đô có Địa lý(phong thủy) tốt không có nghĩa là nằm ngoài vận mệnh của một đất nước, không có nghĩa là nó sẽ không bị tàn phá bởi chiến tranh hay bị kẻ khác xâm chiếm thống trị. Nhưng tên tuổi Kinh đô đó cũng như khoảng thời gian trị vị của những vị Hoàng Đế thêm uy danh và quyền lực. Nếu lăng mộ của các Vị Vua đó đặt vào huyệt tốt, dòng dõi của vị Vua đó sẽ được tiếp nối nhưng hậu duệ vị Vua đó không có được huyệt mộ tốt thì dòng dõi Vua chúa cũng sẽ chấm dứt sau 3-4 đời kế tiếp sau đó. Ví dụ như  nếu Ông Nội làm Vua truyền ngôi cho con Trai và sau đó là cháu Nội, nếu Ông Nội mất được chôn tại huyệt xấu thì đời cháu thứ 3 hoặc thứ 4 sẽ không còn được làm Vua hoặc sẽ bị tổn hại nhân Đinh mà không có người nối ngôi.

    Địa lý (phong thủy) không thể cải Mệnh số, tức là biến đổi Định tính đã được đóng khung trong Mệnh Số của con người. Mệnh số làm Vua thì ắt làm Vua nhưng Địa lý (phong thủy) tốt xấu ảnh hưởng tới quyền lực và tên tuổi vị Vua đó. Địa lý quyết định về Định Lượng –Số Lượng, tức là giúp một con người đạt được tối đa những gì tốt nhất, nhiều nhất đã được qui định trong khung Mệnh số.

    Sẽ có ngừoi đặt câu hỏi, vậy các Đại gia ngàn tỉ họ ko quan tâm và không cần làm gì theo Địa lý nhưng họ vẫn giàu có ?  Câu trả lời chính là cuộc sống không chỉ có sự giàu có, tiền bạc và chính vì thế một lá số tử vi của một con người không chỉ có một Cung mà là 12 cung. Nếu chỉ nhìn vào vật chất, thì ngay bản thân các Đại gia ngàn tỉ cũng không thể biết mình sẽ có thêm bao nhiêu ngàn tỉ nữa hay có thể mất hết sau một đêm để rồi hì hục gây dựng lại suốt quãng đời sau đó. Địa lý(phong thủy) có thể giúp những vị Đại gia đó có thêm nhiều hơn, mất ít hơn, gặp ít tai họa hơn nhưng cũng không có nghĩa là nằm ngoài qui luật của Vận số. Chúng ta không thể biết số lượng chính xác vật chất chúng ta có thể được hưởng trong tương lai là bao nhiêu, chính vì thế môn Địa Lý (phong thủy) với tính tư duy khoa học trừu tượng trở nên mơ hồ và mê tín đối với những con người luôn nhìn bộ môn này dứoi con mắt trực quan và vật chất.

    Theo thời đại hòa nhập và không gian phẳng thì tên gọi chỉ dùng để hiểu việc chúng ta đề cập tới vấn đề gì chứ ít ai lại quan tâm bản chất. Tuy nhiên, tên gọi Địa lý – tiếng Anh : Geomance mới là tên chính xác chứ không phải là Phong Thủy bởi tên Địa Lý đủ để bao trùm mọi tính chất và thể hiện đúng những gì chúng ta nghiên cứu về nó.

     

     

    5 people like this

  7. CHỌN NGÀY TỐT

    Vận khí Bình Địa Mộc - Kỷ Hợi Năm 2019 


    tải xuống.jpg

    PHƯƠNG PHÁP:

    Phương pháp chọn ngày tốt xấu được lưu truyền từ hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc Việt nam là rất đa dạng. Chúng tôi sử dụng phương pháp loại trừ, tức là dùng tất cả các phương pháp chọn ngày giờ theo phong tục cổ truyền để chọn ra một ngày được coi là tốt nhất sau khi  loại ra những ngày xấu dựa trên các phương pháp này.

    Các phương pháp Cổ bao gồm các phương pháp:

    ü  Sinh khắc của Can Chi

    ü  Nhị thập bát tú

    ü  12 Chỉ Trực

    ü  Hoàng Đạo – Hắc Đạo

    ü  Sát chủ, Thọ tử, Dương Công Kị Nhật, Tam nương, Nguyệt kị, Vãng vong, Thiên Tai-Địa Họa

    Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Mậu Tuất 2018 và chào đón năm mới Kỷ Hợi 2019. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 ngàn năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được gìn giữ . Phong tục truyền thống bao gồm  ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, đón Lành tránh Dữ. 
    Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) đề xuất về các ngày được coi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Toàn bộ ngày giờ dùng trong năm Kỷ Hợi 2019, vận khí (mệnh tuổi) Bình Địa Mộc theo Lạc Thư Hoa Giáp.

    Tất Niên:
    Đây là một nghi thức tổng kết và ghi nhận những thành quả sau 365 ngày lao động sản xuất của Gia Đình và Dòng Tộc. Thông thường sẽ diễn ra vào các ngày 29 và 30 tháng Chạp với một nghi lễ Cúng Thần Linh và Gia Tiên.

    -      21 tháng chạp : 9-11h; 13-15h; 17-19h

    -      24 tháng chạp: 7-9h; 11-13h

    -      25 tháng chạp: 9-11h; 17-19h

    Ngày Xuất hành, Mở hàng:

    Ngày xuất hành là ngày đi xa để làm việc hay thực hiện việc  quan trong chứ không phải là đêm 30 tết hay sáng mùng 1. Tuy nhiên theo phong tục thì ngày mùng 1 tết là ngày xuất hành để chúc tết và tới Chùa cầu An, nên sẽ có khung giờ tốt .

     

    Ngày mùng 1 tết năm nay là ngày Tiểu cát nên chúng ta có thể ra khỏi nhà để đi xông đất hoặc Lễ Chùa từ khung giờ 1-3h; 5-7h;

    Ngày Tốt Khai Trương ,Mở hàng:

    v Mùng 2* tháng Giêng: 7-9h; 15-17h.

    v Mùng 4* tháng Giêng: 11-13h.

    Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Nam

    Tuổi xông đất: Giáp Dần , Mậu Tí , Bình Dần, Bính Tý, Giáp Thìn, Mậu Tý

    Hướng Tốt Để Động Thổ:

    phương vị động thổ cho năm 2019 là tại hướng Nam: 157.5 độ- 202.5 độ .

    Các Phương xấu 2019 cần tránh:

    Năm 2019 các Phương xấu bao gồm: Thái Tuế đóng ở sơn Càn – Hợi thuộc Tây Bắc, Xung Thái Tuế tại các sơn Khôn-Tị thuộc Đông Nam, Tuế phá ở sơn Cấn - Dần thuộc Đông Bắc, Tam sát bao gồm các sơn Thân – Dậu –Tuất, Đại sát ở sơn Mão thuộc phương Đông và Nhị hắc và Ngũ Hoàng tại Đông Bắc, Đông Nam.

     

    NGÀY GIỜ TỐT NĂM KỶ HỢI 2019

    Là những ngày Tốt dùng để Động thổ, khai trương, xuất hành, cưới hỏi và những việc quan trọng. Tuy nhiên danh mục dưới đây là những ngày dùng chung trong mọi việc nên có những ngày không nằm trong danh mục dưới đây vẫn có những ngày tốt khác dụng cho những công việc cụ thể. Do vậy, quí vị nên tham khảo thêm  với chúng tôi cho những công việc và mục đích cụ thể. Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau với những ngày có đánh dấu (*) là ngày Hoàng Đạo
     

    1.    Tháng Giêng:

    v Mùng 2* tháng Giêng:giờ tốt 7-9h; 15-17h.

    v Ngày 15 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h; 9-11h; 13-15h.

    v Ngày 25  tháng Giêng: giờ tốt 5-7h, 9-11h; 17-19h

    v Ngày 29*  tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 15-17h

    2.     Tháng Hai :

    v  Mùng 8 tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;17-19h

    v  Mùng 9 tháng Hai: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 17-19h; 19-21h

    v  Ngày 20 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 17-19h.

    v  Ngày 29* tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 15-17h.

     

    3.     Tháng Ba :

    v  Mùng 4* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 19-21h

    v  Mùng 10* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h;

    v  Ngày 16* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 13-15h

    v  Ngày 19* tháng ba: giờ tốt; 3-5h;7-9h ;11-13h; 13-15h

    v  Ngày 28* tháng ba: giờ tốt; 7-9h ;11-13h; 19-21h

    v  Ngày 29* tháng ba: giờ tốt;11-13h;13-15h; 19-21h

    4.     Tháng Tư:

    v  Mùng 6* tháng Tư : giờ tốt; 9-11h ;13-15h, 15-17h.

    v  Ngày 17 tháng Tư : giờ tốt: 11-13h; 15-17h

    v  Ngày 24 tháng Tư : giờ tốt 5-7h;17-19.

    v  Ngày 29* tháng Tư : giờ tốt 3-5h; 13-15h; 19-21h

    5.     Tháng Năm :

    v  Mùng 1* tháng Năm : giờ tốt; 5-7h; 9-11h.

    v  Mùng 4* tháng Năm : giờ tốt 3-5h; 7-9h; 15-17h; 19-21h.

    v  Ngày 12* tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 7-9h; 19-21h.

    v  Ngày 16 tháng Năm : giờ tốt 7-9h; 15-17h.

    v  Ngày 19* tháng Năm : giờ tốt 5-7h ;9-11h; 15-17h; 21-23h.

    v  Ngày 25 tháng Năm : giờ tốt 5-7h; 9-11h.

    v  Ngày 28 tháng Năm : giờ tốt 3-5h;7-9h; 15-17h; 19-21h.

    6.     Tháng Sáu:

    v  Mùng 1* tháng Sáu: giờ tốt; 7-9h; 19-21h.

    v  Mùng 2 tháng Sáu:   giờ tốt  9-11h; 15-17h; 21-23h.

    v  Mùng 8* tháng Sáu : giờ tốt 9-11h; 15-17h.

    v  Ngày 15* tháng Sáu: giờ tốt  11-13h; 15-17h.

    v  Ngày 20* tháng Sáu: giờ tốt  9-11h; 13-15h; 15-17h.

    v  Ngày 26* tháng Sáu: giờ tốt  9-11h; 15-17h.

    v  Ngày 29* tháng Sáu: giờ tốt  15-17h; 19-21h.

    7.     Tháng Bảy :

    v  Mùng 10 tháng Bảy : giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h.

    v  Ngày 11* tháng Bảy: giờ tốt  5-7h; 15-17h.

    v  Ngày 17* tháng Bảy: giờ tốt  5-7h; 9-11h.

    v  Ngày 19* tháng Bảy: giờ tốt  5-7h; 9-11h; 17-19h.

    8.     Tháng Tám :

    v  Mùng 8 tháng Tám : giờ tốt 5-7h; 11-13h; 19-21h.

    v  Ngày 16 tháng Tám: giờ tốt  5-7h; 13-15h.

    v  Ngày 19 tháng Tám: giờ tốt  7-9h; 15-17h.

    v  Ngày 24 tháng Tám: giờ tốt  5-7h; 13-15h.

    v  Ngày 25 tháng Tám: giờ tốt  7-9h; 19-21h.

    9.     Tháng Chín :

    v  Mùng 1 tháng Chín : giờ tốt 13-15h; 17-19h.

    v  Mùng 6* tháng Chín : giờ tốt 9-11h; 17-19h.

    v  Mùng 10* tháng Chín : giờ tốt 7-9h; 15-17h; 19-21h.

    v  Ngày 28 tháng Chín: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h.

    10.  Tháng Mười :

    v  Mùng 2*  tháng Mười : giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h.

    v  Mùng 8 * tháng Mười : giờ tốt 13-15h; 17-19h; 21-23h.

    v  Mùng 9 tháng Mười: giờ tốt 11-13h: 15-17h; 19-21h.

    v  Ngày 15 tháng Mười : giờ tốt 11-13h: 19-21h.

    v  Ngày 16 *tháng Mười : giờ tốt 5-7h; 9-11h; 17-19h.

    v  Ngày 21 tháng Mười : giờ tốt 11-13h.

    v  Ngày 28* tháng Mười : giờ tốt 9-11h; 13-15h; 17-19h.

    11.  Tháng Một (11):

    v  Mùng 4 * tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h.

    v  Mùng 6 tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h.

    v  Mùng 10 tháng Một (11): giờ tốt 11-13h; 15-17h.

    v  Ngày 11* tháng Một (11): giờ tốt 9-11h; 15-17h.

    v  Ngày 26 tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h; 19-21h.

    v  Ngày 28* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h.

    v  Ngày 30* tháng Một (11): giờ tốt 7-9h; 11-13h; 19-21h.

    12.  Tháng Chạp (12):

    v  Mùng 2 tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 15-17h.

    v  Mùng 6 tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h; 21-23h.

    v  Ngày 11 tháng Chạp (12): giờ tốt 7- 9h: 15-17h.

    v  Ngày 12* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 13-15h; 21-23h.

    v  Ngày 15* tháng Chạp (12): giờ tốt 7-9h; 15-17h.

    v  Ngày 24* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 15-17h; 17-19h.

    v  Ngày 26* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h; 17-19h; 21-23h.

    v  Ngày 30* tháng Chạp (12): giờ tốt 9-11h: 17-19h; 21-23h.

     

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI, CHÚC QUÍ VỊ MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG

     

    Hà nội tháng 12 năm Mậu Tuất Việt Lịch

    Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) 

     

     

    8 people like this

  8.  

     

    TỔNG QUAN NĂM KỈ HỢI 2019

    phi tinh HKLV 2019 thuan.jpg

     

    Kính thưa Quí Vị,

    Tiếp nối truyền thống của Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương mà khởi xướng là nhà Nghiên Cứu : Nguyễn Vũ Tuấn Anh –Chủ tịch hội đồng khoa học Trung Tâm , nguyên Giám Đốc Trung Tâm, hàng năm cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về đều có những bài  dự báo tổng quan cho năm mới dựa trên học thuyết  Âm Dương Ngũ Hành và nền tảng nguyên lý “Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”.

    Phương pháp dự báo sử dụng của Chúng tôi bao gồm Huyền Không Phi Tinh thuận-nghịch cùng phối hợp quẻ Lạc Việt Độn Toán và đây cũng sẽ luôn là phương pháp xuyên suốt cho tất cả các dự báo của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương .

    Quẻ Chủ : ĐỖ - VÔ VONG (ngày mùng 1 tháng Giêng năm KỈ HỢI)

    Quẻ Độn: Cảnh  - ĐẠI AN

    Huyền không lạc việt phi tinh: Bát Bạch nhập trung cung.

    Thiên Can Kỉ- Thổ   Địa chi Hợi –Thủy tương khắc

    Lạc thư hoa giáp : Vận khí Bình Địa Mộc

     

    Quẻ chủ Đỗ - Vô Vong : Tượng trưng của sự kết thúc mội chuỗi chu kỳ vận động.

     

    Dựa trên sơ đồ phân cung của Địa Lý Lạc Việt phối hợp Lượng thiên Xích trên nền tảng Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài 9 – Ly 7, chúng ta xem xét trên từng khu vực

    -        Tả Phù Bát bạch 8 nhập trung: là Lệnh tinh (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Mộc. Vận khí Mộc cực thịnh nên Bát Bạch nhập trung mang lại sự cát lợi cực vượng của sao này.

    -        Sao Hữu Bật Cửu Tử - 9 theo Huyền Không phi tinh là tiến Khí chính Thần – ngũ hành thuộc Kim (khác với HKPT truyền thống thì ngũ hành của Cửu tử 9 thuộc Hỏa) – sao này đáo cung Càn chính là đem lại sự hưng vượng cho phương Tây bắc.

    -        Liêm trinh Nhất bạch 1 đáo cung Ly: là sao tiến khí trong vận 8, ngũ hành Thủy đáo cung Ly tương khắc nên đây là cách cục bất lợi cho phương Nam.

    -        Cự môn Nhị hắc 2 đáo cung Cấn: Là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc âm hỏa đới thổ đáo cung Cấn âm mộc. Đây là cách cục chiêu hung của Nhị hắc tại phương Đông bắc

    -        Lộc tồn Tam Bích 3 đáo cung Đoài: là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc dương mộc đáo cung Đoài dương Kim tương khắc nên hạn chế bất lợi của tam bích tại phương này.

    -        Văn khúc Tứ lục 4 đáo cung Khảm: Là sao tử khí trong vận 8 lại được hỗ trợ từ cung Khảm  tương sinh với ngũ hành âm kim của tứ lục nên sao này sẽ phát huy hết tính chất xấu của nó. Tuy nhiên, do Bát bạch nhập trung nên nhờ cát khí của trung cung mà hạn chế phần nào tác hại gây ra từ sao này tại phương Bắc.

    -        Ngũ hoàng 5 đáo cung Khôn-Đông Nam: đây là chủ của Hung sự trong năm tại phương Đông Nam

    -        -Vũ Khúc Lục bạch 6 đáo cung Chấn –Đông: là sao suy khí trong vận 8  lại bị cung Khôn thuộc Hỏa khắc nên đây là tổ hợp chiêu hung.

    -        Phá Quân Thất xích 7  đáo cung Tốn: là sao thoái khí nằm tại cung Tốn thuộc Kim . Do đó giảm bớt tác hại của sao số 7

    Từ những hạng mục cát hung của từng phương, tôi xin đưa ra các nhận định tổng quan như sau:

    1.     Kinh tế

     

    Đây là một năm dự báo cho nền kinh tế khó khăn, đặc biệt là Tài Chính Ngân Hàng. Các quyết sách từ các lãnh đạo của các nền kinh tế lớn như trừng phạt kinh tế, các hàng rào thuế quan vv.. sẽ làm cho nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng khó khăn. Các công ty sẽ phải đối mặt với những thách thức về tài chính. Việt nam cũng sẽ bị ảnh hưởng và ngành ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, các công ty đối mặt với lãi suất và chống đỡ với những cơn bão kinh tế từ bên ngoài.

    BĐS năm nay sẽ chững lại do tác động từ nghành ngân hàng, tuy nhiên sẽ không vỡ như những năm 2012-13

    Nửa đầu 2019 Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và nửa sau 2019 sẽ bớt dần nhưng rất chậm.

    Một số ngân hàng lớn có nguy cơ phá sản, nợ xấu hoặc tranh chấp kiện tụng do bị lừa đảo. Lãi suất tăng tác động ko nhỏ tới nền kinh tế toàn cầu nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng.

    2.     Xã hội :

    Bất bình và lộn xộn sẽ xảy ra do kinh tế khó khăn gây ra. Lãnh đạo các nước lớn sẽ phải đối mặt với những thách thức không nhỏ từ những cuộc biểu tình hay bạo loạn tương tự như Pháp năm 2018. Các lãnh đạo tập đoàn lớn, ngân hàng lớn cũng sẽ phải đối mặt với rất nhiều chuyện phiền phức liên quan tới chính sách và pháp luật.

    3.     Nông nghiệp:

    Nghành chăn nuôi đặc biệt như Trâu , Bò, Lợn, lại cần hết sức cẩn trọng do bệnh tật. Nông nghiệp thế giới nói chung sẽ mất mùa cục bộ do lũ lụt gây ra ở qui mô cục bộ.  Nhưng vùng hay gặp lũ lụt chính là những nơi cần có phương án đối phó với lũ lụt.

    Một lần nữa phải đề phòng với những khả năng xảy ra với hoa quả xuất khẩu qua biện giới do chính sách thay đổi như đã xảy ra với Thanh Long , Dưa Hấu. Hoa quả được mùa nhưng mất giá cũng là một điểm không thuận lợi cho nông nghiệp.

     

    4.     Thiên tai :

     

    Lũ lụt xảy ra cục bộ ở một số nơi nhưng thiệt hại rất nặng nề. Các vụ cháy sẽ giảm đi so với năm 2018.  Khả năng cao xảy ra sóng thần ở một số nước thường có động đất.

    5.     Nhân họa , tai nạn:

     

    Các vụ rơi máy bay, tai nạn giao thông trên thế giới lại diễn ra, và ít nhất sẽ có một vụ tai nạn khảm khốc làm nhiều người thiệt mạng.

    Các tranh chấp xã hội với nhà cầm quyền lại xảy ra dẫn tới xô sát làm nhiều người bị thương và thiệt mạng.

     

    Việt nam sẽ gặp khó khăn từ ngay tháng 11 của năm Mậu Tuất cho tới giữa nửa đầu năm 2019, tuy không nặng nề nhưng cũng sẽ là những thách thức đáng kể, đặc biệt là nghành tài chính ngân hàng.  

    Trên đây là các cái nhìn tổng quan cho năm Kỷ Hợi 2019 của Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải). Tết đến Xuân sang, xin kính chúc quí vị một năm mới An Khang-Thịnh Vượng và thật nhiều Sức khỏe-Hạnh Phúc.

    Hà nội tháng 1 năm 2019 Việt lịch

    Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                                                                           

     

    12 people like this

  9. IMG-4739.JPGIMG-4740.JPGIMG-4741.JPG

    Phản biện bạn Trần Thiên Khánh trong CLB lý học Nguyễn Bỉnh Khiêm 
    Thứ nhất :
    Xin đươc dịch để mọi người ko đọc được tiếng Trung có thể tham khảo.
    ++++++++++++
    Từ điển Hán - Hán: http://xh.5156edu.com/html5/78297.html: Định nghĩa có luôn bác nhé: "事物由于矛盾转化而生生不已"

    _______________________________________
    1.事物由于矛盾转化而生生不已。 Sự vật do mâu thuẫn chuyển hóa mà sinh sinh không ngừng.

    词语分开解释:(phần giải thích từ ngữ)
    ________________________________________
    相 : 相 xiāng 交互,行为动作由双方来:互相。相等。相同。相识。相传(chu俷 )。相符。相继。相间(ji 详细>> Tương: tương hỗ,hành vi động tác do song phương mà thành,tương hỗ,tương đẳng,tương đồng,tương tư,tương truyền,tương phụ,tương thuận
    生 : 生 shēng 一切可以发育的物体在一定条件下具有了最初的体积和重量,并能发展长大:诞生。滋生。生长 详细>> Sinh: tất cả vật thể có thể sinh ra tại 1 điều kiện nhất định, có thể phát triển lớn lên như SINH RA, SINH TRƯỞNG. , Sinh tồn

    http://www.zdic.net/c/8/e2/226726.htm…

    相生  
    xiāng shēng 
    ㄒㄧㄤ ㄕㄥ
    相克
    词语解释

    ◎ 相生 xiāngshēng
    [interpromoting relation in five elements] 五行学说术语。借木、火、土、金、水五种物质之间互相滋生和促进的关系。来说明脏腑相互协调的生理现象。其次序是木生火、火生土,土生金,金生水,水生木
    Tương sinh Thuật ngữ học thuyết ngũ hành bao gồm :mộc,hoả,thổ,kim,thuỷ,5 loại vật chất tương hỗ, Các hiện tượng có quan hệ với nhau ,mộc sinh hoả,hoả sinh thổ,thổ sinh kim,kim sinh thuỷ,thuỷ sinh mộc
    --------------------------

    相生(xiāng shēngㄒㄧㄤ ㄕㄥ)
    1. 彼此互為因果。老子.第二章:「故有無相生、難易相成、長短相較、高下相傾。」
    2. 孫子.勢:「奇正相生,如循環之無端。孰能窮之?」反相剋
    Lão tử đệ nhị chương: Cố hữu vô tương, Sinh nan dịch tương, Thành trưởng đoản tương, giác cao hạ tương, khuynh (do đó, có và ko tương s inh, khó dễ tương thành, dài ngắn tương giao, cao thấp tương khuynh
    Tôn tử thế: kì chính tương sinh như tuần hoàn chi mô đoan thục nại cùng chi
    ++++++++++++++++++
    Sau khi tra cứu hai trang từ điển Hán ngữ của bác Khánh, chỉ có một trang là có giải nghĩa khá chuẩn. Tôi cho rằng đây là một từ điển duy nhất có sự khác biệt về định nghĩa của từ Tương Sinh Tương Khắc. Tuy nhiên, vị học giả đưa định nghĩa này cũng không thể cho ra một định nghĩa rõ hơn về NGũ Hành Tương Sinh Tương Khắc và dẫn giải các lý luận từ vẫn dẫn giải ra ngũ hành là 5 dạng vật chất. do đó Tương Sinh vẫn được hiểu là SINH RA.
    Điều chúng ta cần bàn ở đây là 5 ngàn năm trước không có cái gọi là từ điển, và đương nhiên từ mượn không thể diễn tả được ý nghĩa và bản chất của một tên gọi cho một học thuyết. 
    Chúng ta hiện có tên con sông Tiêu Tương ở Bắc Ninh, ít nhất được biết tới tồn tại tên này từ thời nhà Lý Công Uẩn. Hoặc trong đạo Mẫu , giá Chầu quan Đệ Tam cũng có nhắc tới Sông Tương. TQ có Sông Tương thuộc tỉnh Hồ Nam, và xin nhắc lại đó là thuộc về Bách Việt cổ.
    Tương cũng còn là một món quen thuộc của người dân miền Bắc mà thậm trí không cần từ điển nào giải thích “Nát như Tương” thì người Việt đều hiểu về chữ “tương “ này.

    Thứ hai,

    Rất cảm ơn bác đã đưa ra một lý giải chuẩn xác. Chính xác để phản ánh đầy đủ bản chất sẽ sẽ phải là Thủy Hỏa Tương Khắc, Kim Thủy Tương sinh. Vấn đề chính là khi tiếp nhận học thuyết này, người Hán vẫn hiểu là TƯƠNG SINH là SINH RA và từ TƯƠNG không còn có tác dụng của vai trò trong từ ghép tương sinh nữa, phó từ TƯƠNG mất giá trị trong từ ghép này. Do đó, họ mới hiểu sai Ngoại động từ thành nội động từ để từ đó sinh ra định nghĩa NGŨ HÀNH TƯƠNG SINH thành Kim sinh thủy, Thủy sinh mộc. vv như hiện nay, và hóa thành vật chất được sinh ra theo như các định nghĩa sai lệch kéo dài hàng ngàn năm cho tới ngày nay. Với định nghĩa này, chúng ta sẽ không thể lý giải vì sao KIM là kim loại, lại sinh ra được THỦY là nước. …

    Thứ ba:

    Từ Tương ngoài chủ để này tức là các từ Tương dùng trong tục ngữ hay ngôn ngữ đều giống như người Việt chúng ta. Đặt lại vấn đề, Chữ Ngo và ngôn ngữ Việt ảnh hưởng tới chữ viết và văn hóa Hán , chúng ta sẽ có lập luận khác. Ngôn ngữ Mẹ Đẻ là công cụ giao tiếp có thể thay đổi theo thời gian nhưng ý nghĩa vẫn được thấu hiểu mà không cần từ điển.

    Thứ tư:
    Tôi có nhầm lẫn khi viết, từ Tướng Tương là tể tướng 宰相, không phải là tướng quân 将军 . Xin được cảm ơn và đính chính lại.

    Thứ năm,

    Như tôi đã trình bày, Ngôn ngữ Việt là một trong những hệ ngôn ngữ phong phú và phức tạp nhất . Vậy nên khó có thể có từ điển nào định nghĩa hết được các từ trong ngôn Ngữ Việt. Ngôn ngữ Mẹ Đẻ vốn để giao tiếp và sử dụng trong đời sống hàng ngày, nên khi nói đã thể hiện đầy đủ hàm ý của người muốn diễn đạt. TƯƠNG là món ăn được làm từ đậu tương vốn không có trong thực phẩm của người Hán, nhưng khi nói rau chấm tương thì ai cũng hiểu tương là gì. Ví dụ từ “Vãi Lúa” mới xuất hiện trong cách nói của thế hệ trẻ hiện nay, ko có từ điển nào nói về từ này. Nhưng khi nói thì đa số đều hiểu, “khôn vãi lúa, ngu vãi lúa…vv” là có ý gì.

    Thứ 6: 
    Với cụm từ khi mang ý nghĩa Tương Sinh Tương Khắc mà vẫn được hiểu ý nghĩa thành SINH RA, với từ Tương có chung với tư TƯỚNG. Như vậy, ý nghĩa của Tương SInh TƯơng khắc theo ngôn ngữ Hán là SINH RA. Cho nên lẽ ra sẽ phải là Hỏa thổ tương Sinh, Hỏa kim tương khắc vvv.
    Trong ngôn ngữ Việt, từ ghép nhiều khi mang ý nghĩa định vị. Ví dụ: SÂN TRƯỜNG. Khi chúng ta ở trong Trường thì khi giao tiếp, chỉ cần chữ SÂN là hiểu SÂN ở trong sân trường. Còn khi ở ngoài khu vực, chúng ta sẽ nói SÂN trường để phân biêjt với SÂN ĐÌNH, SÂN NHÀ..vv. hoặc trong ngữ cảnh, nói về trường mà đứng ở ngoài sân trường thì sẽ nói SÂN TRƯỜNG. ,vv. NGôn ngữ Việt hoàn toàn phân định rõ ràng ngữ cảnh, không gian, thời gian và các tập hợp nhóm.

    3 people like this

  10. NGÔN NGỮ VIỆT TRONG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

    TƯƠNG SINH Và TƯƠNG KHẮC 

    Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất vũ trụ, mô tả lịch sử từ hình thành từ giây /O/ của vũ trụ đến mọi quy luật vận động tương tác của mọi dạng tồn tại của vật chất cho đến ngày hôm nay, với khả năng tiên tri. Nó mô tả sự tồn tại của các hạt vật chất nhỏ nhất đến sự vận động của các Thiên hà khổng lồ. giải thích mọi vấn đề và sự kiện, liên quan đến cuộc sống, xã hội và con người với tính qui luật, tính khách quan và  khả năng tiên tri.

    Cho tới ngày nay, chúng ta vẫn ứng dụng và chấp nhận những sự mặc định,  tồn tại từ hàng ngàn năm và đa số cho rằng học thuyết đồ sộ này thuộc về nền văn minh Hoa hạ.
    Tuy nhiên, định nghĩa về Ngũ Hành sinh khắc từ cổ thư chữ Hán còn lưu truyền lại tới nay đều định hướng cho một suy luận sai lệch về Ngũ Hành SINH-KHẮC và một hệ lý thuyết rời rạc, chắp vá dẫn tới tranh cãi không có hồi kết.

    Trong toàn bộ sách Lý Học, Thuật số thì chúng ta chỉ  một định nghĩa hết sức ngắn gọn như sau:
    Trích:

    “Ngũ hành chỉ 5 loại vật chất gồm: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ luôn vận động chuyển hóa “Ngũ” trong ngũ hành chỉ 5 loại vật chất cơ bản hoặc nguyên tố cơ bản cấu thành nên thế giới. Kim loại, nước, cây,lửa, và đất. “Hành là chỉ mối liên hệ với nhau trong vận động chuyển hóa của 5 loại vật chất đó”

     

    Đây là đoạn trích dẫn từ cuốn “Táng Thư” một trong tứ khố toàn thư do Quách Phác đời Tấn trứ tác, được dịch ra Việt ngữ hiện đang được lưu hành trên các giá sách.

    Trong cuốn "Tam mệnh thông hội", một cuốn sách trong bộ tứ khố toàn thư đồ sộ, được dịch ra Việt ngữ  thì chúng ta có được nhiều thông tin giải thích về Thái Cực, Âm Dương và Ngũ Hành. Tuy nhiên, đúc kết phần Ngũ Hành Sinh khắc chúng ta cũng có được định nghĩa như hình ảnh dưới đây

     

     

     

    tuong sinh khac.jpg

    Đây là hai đại diện tiêu biểu cho định nghĩa về Ngũ Hành Sinh Khắc mà tất cả những người đam mê thuật số đều thuộc lòng.

    Tới đây chúng ta dễ dàng nhận thấy, Ngũ hành theo cổ thư Hán đều được định danh là 5 loại vật chất và từ đó, từ ghép “TƯƠNG SINH –TƯƠNG KHẮC五行相生相克  Có được định nghĩa về từ.

    Tôi có tham khảo một số bạn giỏi tiếng Trung về mặt ngôn ngữ thuần túy thì có được các thông tin sau:

    Theo bạn có nick face book là Sơn Nguyễn Sơn thì :
    [ “
    五行相生相克 từ này trong các sách về thuật số TQ thường đều có ạ. Từ điển không phải tất cả các từ đều có đâu ạ”].

    Bạn Ruan Minh:

    ["Nếu là từ theo tên của ai đó là TƯƠNG SINH thì CHỈ có cách là chọn từng từ để lấy ý nghĩa phù hợp . Ngoài ra nếu TƯƠNG SINH theo hai từ đi liền nhau thì hầu như là từ ghép, mà thường lấy từ tương sinh trong cụm từ :TƯƠNG SINH TƯƠNG KHẮC thì là hai chữ "相生"].

    Theo bạn có nịck Facebooj Hai Anh Vu:

    ["Theo từ điển của họ thì tương sinh chỉ sử dụng trong ngũ hành còn ngoài ra thì không dùng vào hoàn cảnh khác ạ"].

    Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Lãn Miên thì không có từ TƯƠNG SINH -TƯƠNG KHẮC trong ngôn ngữ Trung Hoa mà đây là từ ghép của hai từ TƯƠNG và SINH hoặc TƯƠNG VÀ KHẮC.  Vậy nên cho dù có thêm chữ TƯƠNG đằng trước từ SINH và KHẮC thì vẫn chỉ hiểu là SINH và KHẮC bởi từ TƯƠNG ko có ý nghĩa khi ghép với từ SINH và KHẮC.

    Chúng ta sẽ tham khảo ý nghĩa các từ TƯƠNG, SINH và KHẮC theo từ điển Hán –Hán Nôm

    I/ TƯƠNG

    tuong.jpg

    Chữ "Tương" trong chữ " tương sinh hay tương khắc như hình ảnh dưới đây. Chữ này bên trái là chữ mộc (là cây hay là 1 trong 5 ngũ hành,...) Bên phải là chữ mục ( là con mắt hay là nhìn,..). Chữ tương này còn có thể đọc là tướng cũng được, chữ này có thể dùng làm phó từ (hỗ tương: 互相 qua lại), danh từ (tể tướng 宰相), hay động từ (tướng du 相攸 kén nơi đáng lấy làm chồng). Vậy là chúng ta có thể thấy, từ TƯƠNG trong tiếng Trung hoàn toàn là từ có tính chất phụ, tức là được thêm vào bởi nó có thể là TƯỚNG trong Tướng quân, hay Tướng trong từ Tể tướng.

     

     

     

    Trong ngôn ngữ Việt thì Tương là Tương mà Tướng là Tướng, nên từ ghép Tương Sinh có ý nghĩa cụ thể. Còn từ Tương theo ý nghĩa này khi ghép với Sinh vẫn sẽ có ý nghĩa là SINH mà thôi.

    Các chữ Tương khác trong tự điển:

     


    A/ Chữ  tương  xiāng Bộ 187 mã [17, 27] U+9A64

     

    1. (Danh) Ngựa có chân sau bên phải màu trắng.
    2. (Động) Chạy nhanh, nhảy lên.
    3. (Động) Ngẩng lên.

    B/ Chữ  tương xiāng Bộ 140 thảo [9, 13] U+8459

     

    (Danh) Thanh tương  tục gọi là dã kê quan  hoa mồng gà.

    C/ Chữ  tương  jiāng Bộ 142 trùng [11, 17] U+87BF

     

    1. (Danh) Hàn tương  một loài côn trùng giống như ve sầu nhưng nhỏ hơn

    D. Chữ  tương xiāng Bộ 145 y [11, 17] U+8944

     

     

     

    1. (Động) Giúp đỡ, phụ tá. Đoạn Ngọc Tài "Tương: Kim nhân dụng tương vi phụ tá chi nghĩa, danh nghĩa vị thường hữu thử".    (Thuyết văn giải tự chú , Y bộ ). Như: tương trợ  giúp đỡ, tương lí  giúp làm.
    2. (Động) Bình định. Chương Bỉnh Lân Xuất xa nhi Hiểm Duẫn tương, Nhung y nhi Quan, Lạc định  (Ngụy Vũ Đế tụng ).
    3. (Động) Hoàn thành, thành tựu. Như: tương sự  nên việc, xong việc. Tả truyện  "Táng Định Công. Vũ, bất khắc tương sự, lễ".  (Định Công thập ngũ niên ).
    4. (Động) Tràn lên, tràn ngập. Lịch Đạo Nguyên Ba tương tứ lục, tế ngư bôn bính, tùy thủy đăng ngạn, bất khả thắng kế (Thủy kinh chú , Lỗi thủy ).
    5. (Động) Trở đi trở lại, dời chuyển. Thi Kinh Kì bỉ Chức Nữ, Chung nhật thất tương  (Tiểu nhã , Đại đông ) Chòm sao Chức Nữ ba góc, Suốt ngày dời chuyển bảy giờ.
    6. (Động) Dệt vải. Hàn Dũ "Đằng thân khóa hãn mạn, Bất trước Chức Nữ tương " (Điệu Trương Tịch 調).
    7. (Động) Trừ khử, trừ bỏ. Thi Kinh Tường hữu tì, Bất khả tương dã  (Dung phong , Tường hữu tì ) Tường có cỏ gai, Không thể trừ khử được.
    8. (Danh) Ngựa kéo xe. § Thông tương . Như: thượng tương  ngựa rất tốt. Thi Kinh Lưỡng phục thượng tương, Lưỡng sam nhạn hàng  (Trịnh phong , Thái Thúc ư điền ) Hai ngựa thắng hai bên phía trong là thứ ngựa rất tốt, Hai ngựa thắng hai bên phía ngoài như hàng chim nhạn.
    9. (Danh) Một phương pháp gieo hạt thời xưa.
    10. (Danh) Họ Tương.

    E/ Chữ  tương jiàng Bộ 164 dậu [11, 18] U+91AC
    (Danh) Thịt băm nát. § Cũng như hải .

    1. (Danh) Thức ăn nghiền nát. Như: quả tương  món trái cây xay nhuyễn, hoa sanh tương  đậu phụng nghiền.

     

     

    1. (Danh) Món ăn dùng các thứ đậu, ngô, gạo, ngâm ủ nấu gạn, cho muối vào nghiền nát. Như: thố tương  tương chua giấm, điềm miến tương  tương ngọt.
    2. (Tính) Đã ướp, ngâm, tẩm (với dầu, muối). Như: tương qua  dưa ướp, tương thái  món (rau) ngâm.
    3. (Động) Ngâm, ướp, tẩm (thức ăn).

    G/Chữ  tương, nhương xiāngráng Bộ 167 kim [17, 25] U+9472
    (Động) Vá, nạm, trám. Như: tương nha  trám răng. Tam quốc diễn nghĩa Bàng khuyết nhất giác, dĩ hoàng kim tương chi  (Đệ lục hồi) Bên cạnh (viên ấn ngọc) sứt một góc, lấy vàng trám lại.

    1. (Danh) Một loại binh khí thời xưa, giống như kiếm.
    2. Một âm là nhương. (Danh) Bộ phận làm mô hình ở trong khuôn đúc đồ đồng, đồ sắt.

    H/Chữ  tương  xiāng Bộ 120 mịch [9, 15] U+7DD7

     

    1. (Danh) Lụa vàng nhạt. § Ngày xưa hay dùng để đựng sách hay bao sách, nên gọi sách vở quý báu là phiếu tương  hay kiêm tương . Quan Hán Khanh "Độc tận phiếu tương vạn quyển thư"  (Đậu nga oan ) Đọc hết sách quý cả vạn cuốn.
    2. (Tính) Vàng nhạt. Nhạc phủ thi tập Tương khỉ vi hạ quần, Tử khỉ vi thượng nhu  (Mạch thượng tang ) Lụa vàng nhạt làm váy, Lụa tía làm áo ngắn.


    i/Chữ  tương xiāngráng Bộ 120 mịch [17, 23] U+7E95

     

    1. (Động) Mang, đeo. Khuất Nguyên Kí thế dư dĩ huệ tương hề, hựu thân chi dĩ lãm chỉ  (Li tao ) Bị phế bỏ rồi, ta lấy cỏ bội lan đeo hề, lại còn hái cỏ chỉ.

    K/ Chữ 漿 tương  jiāngjiàng Bộ 85 thủy [11, 15] U+6F3F
     

     

    1. (Danh) Chỉ chung chất lỏng sền sệt. Như: đậu tương 漿 sữa đậu nành, nê tương 漿 bùn loãng. Đỗ Phủ Khu nhi la tửu tương 漿 (Tặng Vệ Bát xử sĩ ) Xua con đi bày rượu và thức uống.
    2. (Danh) Hồ (để dán). Như: tương hồ 漿 hồ để dán.
    3. (Động) Hồ, dùng nước pha bột để hồ quần áo. Như: tương y phục 漿 hồ quần áo, tương tẩy 漿 giặt và hồ. Thủy hử truyện Đãn hữu y phục, tiện nã lai gia lí tương tẩy phùng bổ 便漿 (Đệ thập hồi) Hễ có quần áo, xin cứ đem lại nhà này giặt giũ khâu vá.


    L/ Chữ  tươngxiāng Bộ 96 ngọc [17, 21] U+74D6

     

    1. (Danh) Ngọc trang sức trên dây đái ngựa.
    2. (Động) Nạm, trám. § Cũng như tương .

    M/ Chữ  tương, sương xiāng Bộ 118 trúc [9, 15] U+7BB1
    (Danh) Hòm xe, toa xe. Như: xa tương  chỗ trong xe để chở người hoặc đồ vật.

    1. (Danh) Hòm, rương. Như: bì tương  hòm da (valise bằng da), phong tương  bễ quạt lò, tín tương  hộp thư.
    2. (Danh) Kho chứa. Như: thiên thương vạn tương  ngàn vựa muôn kho, ý nói thóc nhiều lắm.
    3. (Danh) Chái nhà. § Thông sương .
    4. (Danh) Lượng từ: thùng, hòm, hộp. Như: lưỡng tương y phục  hai rương quần áo, tam tương thủy quả  ba thùng trái cây.
    5. § Ghi chú: Ta quen đọc là sương.

    N/ Chữ  tương, sương xiāng Bộ 85 thủy [9, 12] U+6E58
    (Danh) Sông Tương. § Ta quen đọc là sương.

    O/ Chữ  tương, tướng xiāngxiàng Bộ 109 mục [4, 9] U+76F8
    (Phó) Lẫn nhau (bên này và bên kia qua lại, cùng có ảnh hưởng). Như: hỗ tương  qua lại, tương thị nhi tiếu  nhìn nhau mà cười. Thôi Hộ Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng  (Đề đô thành nam trang ) Năm ngoái vào ngày hôm nay, ở trong cửa này, Mặt nàng cùng với hoa đào phản chiếu nhau thắm một màu hồng.

    1. (Phó) Với nhau (kết quả so sánh hai bên). Như: tương dị  khác nhau, tương tượng  giống nhau, tương đắc ích chương thích hợp nhau thì càng rực rỡ, kì cổ tương đương  cờ trống ngang nhau (tám lạng nửa cân).
    2. (Phó) Cho nhau (qua lại nhưng chỉ có tác động một bên). § Ghi chú: Phó từ biến nghĩa thành đại danh từ: tôi, anh, ông ta, v.v. (tùy theo văn mạch). Như: hà bất tảo tương ngữ?  sao không sớm cho tôi hay? Sưu thần hậu kí Nãi ngữ lộ nhân vân: Dĩ cẩu tương dữ  (Quyển cửu) Bèn nói với người đi đường: Cho anh con chó này. Hậu Hán Thư Mục cư gia sổ niên, tại triều chư công đa hữu tương thôi tiến giả  (Chu Nhạc Hà liệt truyện ) (Chu) Mục ở nhà mấy năm, tại triều đình có nhiều người tiến cử ông ta.
    3. (Danh) Chất, bản chất. Thi Kinh Kim ngọc kì tương  (Đại nhã , Vực bốc ) Chất như vàng ngọc.
    4. Một âm là tướng. (Danh) Dung mạo, hình dạng. Như: phúc tướng  tướng có phúc, thông minh tướng  dáng dấp thông minh. Tây du kí 西(Tôn Hành Giả) hiện liễu bổn tướng () (Đệ tam thập ngũ hồi) (Tôn Hành Giả) hiện ra hình dạng thật của mình.
    5. (Danh) Chức quan tướng cầm đầu cả trăm quan. Như: tể tướng thừa tướng tướng quốc .
    6. (Danh) Tên chức quan có từ đời Hán, tương đương chức thái thú một quận.
    7. (Danh) Người giúp lễ. § Ngày xưa tiếp khách, cử một người giúp lễ gọi là tướng.
    8. (Danh) Người dẫn dắt kẻ mù lòa. Tuân Tử Nhân chủ vô hiền, như cổ vô tướng  (Thành tướng ) Bậc làm chúa không có người hiền tài (giúp đỡ), thì cũng như kẻ mù lòa không người dẫn dắt.
    9. (Danh) Tên một nhạc khí thời xưa, giống như trống, đánh lên để giữ nhịp chung.
    10. (Danh) Tiếng hát giã gạo. Lễ Kí Lân hữu tang, thung bất tướng  (Khúc lễ thượng ).
    11. (Danh) Chỉ vợ.
    12. (Danh) Hình chụp. Lỗ Tấn Giá trương tướng chiếu đích ngận hảo  (Trí mẫu thân ).
    13. (Danh) Trên cột tay đàn tì bà có bốn hoặc sáu khối làm bằng ngà voi, sừng trâu, gỗ hồng... dùng để xác định âm vị.
    14. (Danh) Tên riêng chỉ tháng bảy âm lịch.
    15. (Danh) Sao Tướng.
    16. (Danh) (Thuật ngữ Phật giáo) Chỉ hình trạng bên ngoài sự vật.
    17. (Danh) Họ Tướng.
    18. (Động) Xem, coi, thẩm xét. Tả truyện Lượng lực nhi hành chi, tướng thì nhi động  (Ẩn Công thập nhất niên ) Lượng sức và xem thời cơ mà hành động.
    19. (Động) Xem để đoán lành xấu phúc họa. Sử Kí Tướng quân chi diện, bất quá phong hầu, hựu nguy bất an  (Hoài Âm Hầu liệt truyện ) Coi tướng diện ngài, thì chỉ phong hầu là cùng, mà lại bấp bênh chứ không yên vững.
    20. (Động) Giúp đỡ, phụ trợ. Như: tướng phu giáo tử  giúp chồng dạy con. Phù sanh lục kí Tuyệt xứ phùng sanh, diệc khả vị cát nhân thiên tướng hĩ  (Khảm kha kí sầu ) Chỗ đường cùng gặp lối thoát, cũng có thể bảo rằng trời giúp người lành vậy.
    21. (Động) Cho làm tướng.
    22. (Động) Kén chọn. Như: tướng du  kén nơi đáng lấy làm chồng. Tam quốc diễn nghĩa Lương cầm tướng mộc nhi tê, hiền thần trạch chủ nhi sự  (Đệ lục thập ngũ hồi) Chim khôn lựa cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ.
    23. (Động) Cai quản, cầm đầu, cai trị. Liễu Tông Nguyên Thị túc vi tá thiên tử, tướng thiên hạ pháp hĩ  (Tử Nhân truyện ) Là đủ để phò vua, cai quản phép tắc của thiên hạ vậy.

    1[隱相] ẩn tướng 2[倒履相迎] đảo lí tương nghênh 3[同惡相濟] đồng ác tương tế 4[同惡相助] đồng ác tương trợ 5[同病相憐] đồng bệnh tương liên 6[白衣卿相] bạch y khanh tướng 7[蚌鷸相持] bạng duật tương trì 8[寶相] bảo tướng 9[不相得] bất tương đắc10[不相干] bất tương can 11[不相能] bất tương năng 12[布衣卿相] bố y khanh tướng 13[卜相] bốc tướng 14[拜相] bái tướng 15[皮相] bì tướng 16[骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 17[骨相] cốt tướng 18[窮相] cùng tướng 19[針芥相投] châm giới tương đầu 20[真相] chân tướng 21[照相] chiếu tướng 22[宮相] cung tướng 23[名相] danh tướng 24[面面相窺] diện diện tương khuy 25[互相] hỗ tương 26[旗鼓相當] kì cổ tương đương 27[內相] nội tướng 28[相對] tương đối 29[腳頭] tương cước đầu 30[相配] tương phối 31[相關] tương quan 32[首相] thủ tướng 33[丞相] thừa tướng


    O/Chữ  tương, tướng, thương jiāngjiàngqiāng Bộ 41 thốn [8, 11] U+5C07

     

    1. (Phó) Sẽ, có thể. Luận Ngữ Quý Thị tương phạt Chuyên Du  (Quý thị ) Họ Quý có thể sẽ đánh nước Chuyên Du.
    2. (Phó) Sắp, sắp sửa. Như: tương yếu  sắp sửa. Luận Ngữ Điểu chi tương tử, kì minh dã ai; nhân chi tương tử, kì ngôn dã thiện  (Thái Bá ) Con chim sắp chết, tiếng kêu bi ai; người ta sắp chết, lời nói tốt lành.
    3. (Phó) Gần (số lượng). Mạnh Tử Tương ngũ thập lí dã  (Đằng Văn Công thượng ) Gần năm mươi dặm.
    4. (Phó) Vừa, vừa mới. Như: tương khốc tựu tiếu  vừa mới khóc đã cười, tha tương tiến môn một nhất hội nhi  anh ta vừa mới vào cửa không bao lâu.
    5. (Động) Tiến bộ, tiến lên. Thi Kinh Nhật tựu nguyệt tương  (Chu tụng , Kính chi ) (Mong) ngày tháng được thành công, tiến bộ.
    6. (Động) Cầm, giữ, đem. Như: tương tửu lai  đem rượu lại.
    7. (Động) Giúp đỡ, phù trợ. Thi Kinh Lạc chỉ quân tử, Phúc lí tương chi  (Chu nam , Cù mộc ) Vui thay bậc quân tử (bà Hậu Phi), Phúc lộc sẽ giúp đỡ bà.
    8. (Động) Nghỉ, nghỉ ngơi. Như: tương dưỡng  an dưỡng, nghỉ ngơi. Lí Thanh Chiếu Sạ noãn hoàn hàn thì hậu, tối nan tương tức  (Tầm tầm mịch mịch từ ) Thời tiết chợt ấm rồi lại lạnh, thật khó mà nghỉ ngơi được.
    9. (Động) Tiễn đưa. Thi Kinh Chi tử vu quy, Bách lượng tương chi  (Triệu nam , Thước sào ) Cô ấy về nhà chồng, Trăm cỗ xe đưa tiễn.
    10. (Động) Làm, tiến hành. Như: thận trọng tương sự  cẩn thận làm việc.
    11. (Động) Chiếu tướng (đánh cờ tướng). Như: ngã giá nhất bộ trừu xa, hạ nhất bộ tựu yếu tương liễu  tôi một bước rút con xe, hạ xuống một bước thế là chiếu tướng!
    12. (Động) Nói khích. Như: thoại tương tha  nói khích anh ta.
    13. (Giới) Lại, đi. § Dùng như bả . Như: tương hoa sáp hảo  cắm hoa vào, tương môn quan hảo  đóng cửa lại.
    14. (Giới) Lấy, đem. § Dùng như  . Như: tương công chiết tội  lấy công bù tội. Chiến quốc sách Tô Tần thủy tương liên hoành thuyết Tần Huệ Vương  (Tần sách nhất) Tô Tần mới đầu đem (chủ trương) liên hoành thuyết phục Tần Huệ Vương.
    15. (Liên) Với, và. Dữu Tín Mi tương liễu nhi tranh lục, Diện cộng đào nhi cạnh hồng  (Xuân phú ) Mi với liễu tranh xanh, Mặt cùng đào đua hồng.
    16. (Liên) Vừa, lại. Như: tương tín tương nghi  vừa tin vừa ngờ (nửa tin nửa ngờ).
    17. (Trợ) Đặt sau động từ, dùng chung với tiến lai khởi lai tiến khứ : nào, đi, lên. Như: đả tương khởi lai  đánh đi nào, khốc tương khởi lai  khóc lên đi.
    18. Một âm là tướng. (Danh) Người giữ chức cao trong quân. Như: đại tướng danh tướng dũng tướng .
    19. (Động) Chỉ huy, cầm đầu. Như: Hàn Tín tướng binh, đa đa ích thiện  Hàn Tín chỉ huy quân, càng đông càng tốt.
    20. Một âm là thương. (Động) Xin, mời, thỉnh cầu. Thi Kinh Thương tử vô nộ  (Vệ phong , Manh ) Mong anh đừng giận dữ.

    1[陰將] âm tướng 2[大將] đại tướng 3[敗將] bại tướng 4[部將] bộ tướng 5[主將] chủ tướng 6[諸將] chư tướng 7[戰將] chiến tướng 8[名將] danh tướng 9[勇將] dũng tướng 10[卿將] khanh tướng 11[健將] kiện tướng 12[儒將] nho tướng 13[裨將] tì tướng14[將領] tướng lĩnh 15[將將] tướng tướng, thương thương 16[將來] tương lai 17[上將] thượng tướng 18[中將] trung tướng


    P/Chữ  tương, tưởng jiǎngjiāng Bộ 140 thảo [11, 15] U+8523

     

    1. (Danh) Tên cây, tức giao bạch .
    2. Một âm là tưởng. (Danh) Nước Tưởng, thời Xuân Thu. Nay thuộc Hà Nam.
    3. (Danh) Họ Tưởng.

    Các từ ghép bao gồm
    24[倒履相迎] đảo lí tương nghênh 25[同惡相濟] đồng ác tương tế 26[同惡相助] đồng ác tương trợ 27[同病相憐] đồng bệnh tương liên 28[蚌鷸相持] bạng duật tương trì 29[不相得] bất tương đắc 30[不相干] bất tương can31[不相能] bất tương năng 32[骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 33[針芥相投] châm giới tương đầu 34[面面相窺] diện diện tương khuy 35[互相] hỗ tương 36[旗鼓相當] kì cổ tương đương 37[相對] tương đối 38[湘潭] tương đàm 39[腳頭] tương cước đầu 40[將來] tương lai 41[相配] tương phối 42[相關] tương quan

    Trong toàn bộ liệt kê các từ TƯƠNG, chúng ta hoàn toàn không tìm ra được một từ TƯƠNG mang ý nghĩa của TƯƠNG SINH.

    II/ SINH – SANH

     

    Chúng ta chỉ xét 1 từ SINH  CHỮ  sanh, sinh shēng Bộ 100 sinh [0, 5] U+751F

     


    (Động) Ra đời, nẩy nở, lớn lên. Thi Kinh Ngô đồng sanh hĩ, Vu bỉ triêu dương ˙ (Đại nhã , Quyển a ) Cây ngô đồng mọc lên, Ở bên phía đông trái núi kia.

     

    1. (Động) Đẻ ra, nuôi sống. Như: sanh tử  đẻ con. Bạch Cư Dị Toại lệnh thiên hạ phụ mẫu tâm, Bất trọng sanh nam trọng sanh nữ  (Trường hận ca ) Làm cho lòng các bậc cha mẹ trong thiên hạ, (Không coi trọng) không ham đẻ con trai nữa, mà coi trọng sự sinh con gái.
    2. (Động) Làm ra, gây ra, sản xuất. Như: sanh bệnh  phát bệnh, sanh sự  gây thêm chuyện, sanh lợi  sinh lời.
    3. (Động) Sống còn. Như: sanh tồn  sống còn, sinh hoạt  sinh sống.
    4. (Động) Chế tạo, sáng chế. Như: sanh xuất tân hoa dạng  chế tạo ra được một dạng hoa mới.
    5. (Danh) Sự sống, đời sống. Luận Ngữ Tử sanh hữu mệnh, phú quý tại thiên  (Nhan Uyên ) (Sự) sống chết có số, phú quý do trời.
    6. (Danh) Lượng từ: đời, kiếp. Như: tam sanh nhân duyên  nhân duyên ba đời, nhất sanh nhất thế  suốt một đời.
    7. (Danh) Mạng sống. Như: sát sinh  giết mạng sống, táng sinh  mất mạng.
    8. (Danh) Chỉ chung vật có sống. Như: chúng sanh quần sanh .
    9. (Danh) Nghề để kiếm sống, việc làm để kiếm sống. Như: mưu sanh  nghề kiếm sống, vô dĩ vi sanh  không có gì làm sinh kế.
    10. (Danh) Người có học, học giả. Như: nho sanh  học giả.
    11. (Danh) Học trò, người đi học. Như: môn sanh  đệ tử, học sanh  học trò.
    12. (Danh) Vai trong trong hí kịch. Như: tiểu sanh  vai kép, lão sanh  vai ông già, vũ sanh  vai võ.
    13. (Danh) Họ Sinh.
    14. (Tính) Còn sống, chưa chín (nói về trái cây). Như: sanh qua  dưa xanh. Thủy hử truyện Hữu sanh thục ngưu nhục, phì nga, nộn kê  (Đệ thập nhất hồi) Có thịt bò chín và tái, ngỗng béo, gà non.
    15. (Tính) Còn sống, chưa nấu chín (nói về thức ăn). Như: sanh nhục  thịt sống, sanh thủy  nước lã.
    16. (Tính) Lạ, không quen. Như: sanh nhân  người lạ, sanh diện  mặt lạ, mặt không quen, sanh tự  chữ mới (chưa học).
    17. (Tính) Chưa rành, thiếu kinh nghiệm. Như: sanh thủ  người làm việc còn thiếu kinh nghiệm.
    18. (Tính) Chưa luyện. Như: sanh thiết  sắt chưa tôi luyện.
    19. (Phó) Rất, lắm. Như: sanh phạ  rất sợ, sanh khủng  kinh sợ.
    20. (Trợ) Tiếng đệm câu. Truyền đăng lục Hoàng Bách vấn vân: Nhữ hồi thái tốc sanh? Sư vân: Chỉ vi lão bà tâm thiết (Trấn Châu Lâm Tế Nghĩa Huyền thiền sư ) Hoàng Bá hỏi: Sao lại về nhanh thế? Sư trả lời: Vì thầy có lòng thương xót như bà nội.
    21. § Ghi chú: Ta quen đọc là sinh.

    1[蔭生] ấm sinh, ấm sanh 2[誕生] đản sinh, đản sanh 3[塗炭生民] đồ thán sinh dân 4[同生共死] đồng sanh cộng tử 5[白面書生] bạch diện thư sanh 6[稟生] bẩm sanh, bẩm sinh 7[本生] bổn sinh 8[捕生] bộ sinh 9[百花生日] bách hoa sinh nhật 10[半生半熟] bán sinh bán thục 11[平生] bình sinh, bình sanh 12[貢生] cống sanh, cống sinh 13[救生] cứu sinh 14[九死一生] cửu tử nhất sinh 15[個人衛生] cá nhân vệ sinh 16[更生] cánh sinh 17[公共衛生] công cộng vệ sinh 18[怎生] chẩm sanh 19[眾生] chúng sanh, chúng sinh 20[諸生] chư sanh, chư sinh 21[佾生] dật sinh 22[養生] dưỡng sanh 23[好生] hảo sinh, hiếu sinh 24[學生] học sinh 25[回生] hồi sanh 26[化生] hóa sanh, hóa sinh 27[寄生] kí sanh 28[今生] kim sanh, kim sinh 29[來生] lai sanh, lai sinh 30[廩生] lẫm sanh31[老蚌生珠] lão bạng sinh châu 32[陌生] mạch sanh 33[一生] nhất sanh, nhất sinh 34[人生朝露] nhân sanh triêu lộ 35[人生觀] nhân sinh quan 36[人生] nhân sinh, nhân sanh 37[儒生] nho sanh 38[生育] sanh dục 39[生計] sanh kế 40[生氣] sanh khí, sinh khí41[生靈] sanh linh 42[] sanh sản, sinh sản 43[生肖] sanh tiếu 44[畜生] súc sinh 45[初生] sơ sanh 46[生意] sinh ý 47[生機] sinh cơ 48[生活] sinh hoạt, sanh hoạt 49[生薑] sinh khương 50[生理] sinh lí 51[生涯] sinh nhai, sanh nhai 52[哉生明] tai sinh minh 53[哉生魄] tai sinh phách 54[三生] tam sanh, tam sinh 55[畢生] tất sinh, tất sanh 56[四生] tứ sinh, tứ sanh 57[再生] tái sanh58[喪生] táng sinh 59[鯫生] tưu sanh 60[蒼生] thương sinh 61[先生] tiên sanh, tiên sinh 62[全生] toàn sinh, toàn sanh 63[衛生] vệ sanh, vệ sinh 64[往生] vãng sanh 65[無國界醫生組織] vô quốc giới y sinh tổ chức 66[無生] vô sinh 67[出生] xuất sanh, xuất sinh

     

     

    III/ KHẮC

     

    Chúng ta chỉ xét 1 từ KHẮC CHỮ  khắc  

     

    1. (Động) Đảm đương, gách vác. Lưu Vũ Tích Thường cụ bất khắc phụ hà, dĩ thiểm tiền nhân (Vị Đỗ tư đồ tạ tứ truy tặng biểu ) Thường lo sợ không đảm đương gánh vác nổi, làm nhục tiền nhân.
    2. (Động) Được, chiến thắng. Như: khắc địch  chiến thắng quân địch.
    3. (Động) Kiềm chế, ước thúc. Như: khắc phục  ước thúc, làm chủ được. Luận Ngữ Khắc kỉ phục lễ vi nhân  (Nhan Uyên ) Kiềm chế được chính mình (tư dục) mà trở về lễ (đạo li) là đạt được đức Nhân.
    4. (Động) Hạn định, ước định, hẹn. Như: khắc kì động công  hẹn định thời kì khởi công.
    5. (Động) Khấu trừ. Thủy hử truyện Quả nhân ngự tứ chi tửu, nhất bình khắc giảm bán bình  (Đệ bát thập tam hồi) Rượu vua ban cho quả nhân, một bình khấu trừ nửa bình.
    6. (Động) Tiêu hóa. Như: đa cật thủy quả năng khắc thực  uống nhiều nước quả thật giúp cho tiêu hóa.
    7. (Danh) Lượng từ: gam (tiếng Anh "gram"). Như: nhất khắc đẳng ư thiên phân chi nhất công cân  một gam bằng một phần ngàn kí-lô.
    8. (Phó) Có thể. Như: bất khắc phân thân  không thể sẻ thân ra được.

    1[不克] bất khắc 2[克己] khắc kỉ 3[克己主義] khắc kỉ chủ nghĩa 4[克服] khắc phục 5[坦克車] thản khắc xa 6[捷克] tiệp khắc 7[巧克力] xảo khắc lực 8[伊拉克] y lạp khắc

     

     

     

    Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy, từ ghép Tương Sinh và Tương Khắc không có trong ngôn ngữ Trung Hoa mà họ chỉ giải nghĩa hai từ ghép này thông qua thuật ngữ Ngũ Hành thuật số tức là trong ngôn ngữ thì họ lấy hiện tượng để giải nghĩa cho từ .

     

    Tuy nhiên đối với Ngôn Ngữ Việt thì lại hoàn toàn khác,

     

    Ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt ý nghĩa và từ ghép Tương Sinh, Tương Khắc trong tiếng Việt lại không phải là SINH ra hay KHẮC chế theo như nghĩa Hán-Việt.

    Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Lãn Miên, từ Tương Sinh trong tiếng Việt biểu đạt giống như hai cực nam châm khác dấu hút nhau. Tức là cùng hỗ trợ -bù đắp lẫn cho nhau, bổ trợ và thu hút nhau. Sinh khắc thì ngược lại, giống như hai cực nam châm cùng dấu, là cản trở , giảm bớt nhau, không hỗ trợ cho nhau.

    Xin trích phần bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Thiên Sứ/ Nguyễn Vũ Diệu) về khái niệm ngũ hành:

    Trích dẫn:

     

    ["NGÔN NGỮ VIỆT VÀ BẢN CHẤT KHÁI NIỆM NGŨ HÀNH.
    1/ Hành Kim:
    Khi tiếng Việt nói KIM để mô tả một hành trong Ngũ hành thì phân biệt rất rõ với từ "kim LOẠI". Khái niệm "Kim loại" trong tiếng Việt, đồng nghĩa với khái niệm kim loại trong ngôn ngữ hiện đại. Nhưng khái niệm "KIM" mà ngôn ngữ Việt mô tả hành "KIM' trong Ngũ hành thì hoàn toàn khác hẳn khái niệm "Kim loại'. Từ KIM trong tiếng Việt, không có nghĩa là "Đồng" trong tiếng Hán, và sau đó chỉ có nghĩa là "vàng" (Như chính bài "phản đối" của Trùng Dương Mai viết ở trên và ngay trong bài viết này). Từ KIM trong tiếng Việt cũng không đồng nghĩa với "kim loại". Nhưng nó đồng nghĩa với cây KIM, cái KIM, trong "se chỉ, luồn KIM"; "kim chỉ",
    Và hình tương "cây kim", "cái kim" trong ngôn ngữ Việt, chính là một HÌNH TƯỢNG mô tả khái niệm về thuộc tính của hành KIM trong Ngũ hành của tiếng Việt, mà chính những cổ thư chữ Hán đã nói tới, là: "Kim": "Nhọn sắc, cứng, mạnh". 
    Rõ ràng, từ KIM - đồng nghĩa với "KIM, chỉ" trong tiếng Việt, mô tả một thuộc tính của một dạng vật chất có khả năng phân loại những cấu trúc và cả sự vận đông của những cấu trúc vật chất có cùng thuộc tính. Chứ không phải mô tả một sự một cấu trúc vật chất cụ thể như trong tiếng Hán, là: Đồng, vàng.

     

    2/ Hành Thủy.
    Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng THỦY, để mô tả hành Thủy trong Ngũ hành, không đồng nghĩa với "nước". Ngược lại, trong tiếng Hán thì
    > shuǐ (Suẩy) là một từ chung về cả ký tự đều mô tả là "nước". Trong tiếng Việt, từ "THỦY" và "nước" phát âm hoàn toàn khác nhau, ký tự cũng hoàn toàn khác. Cho nên, trong tiếng Việt, khí nói đến "THỦY KHÍ" thì nội hàm khái niệm không thể tương tự là "Khí của nước". Nhưng trong tiếng Hán và ký tự Hán thì chỉ có thể hiểu theo một nghĩa duy nhất là "khí của nước".
    Ví dụ, cổ thư chữ Hán viết trong "Hồng Phạm cứu trù":
    Trù thứ nhất, gồm: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim. Thổ.

     

    1.五行,即:水、火、木、金、土.

     

    Rõ ràng trong tiếng Hán chỉ có một từ duy nhất, ký tự , mà họ đọc là "Suẩy", có nghĩa là "NƯỚC" trong tiếng Việt. Còn tiếng Việt khí mô tả hành THỦY trong Ngũ hành, đọc là "THỦY", và "NƯỚC" hoàn toàn phân biệt khác nhau. Thí dụ, tiếng Hán viết:
    .
    Âm Việt Nho đọc: "Dẫn thủy nhập điền". Tiếng Việt với khái niệm tương tự là "Đưa nước vào ruộng". Tương tự như vậy, nếu dịch ra những ngôn ngữ khác phi Hán - kể cả tiếng Việt - thì tất cả các ngôn ngữ phi Hán, đều hiểu - qua tiếng Hán, khi mô tả Ngũ hành - thì ký tự
    , đọc là "Suẩy" có nghĩa là "nước". Hay nói một cách khác: Tiếng Hán, khi mô tả ngũ hành thì ký tự , đồng nghĩa với khái niệm "nước" trong tiếng Việt và các ngôn ngữ liên quan. Và đó là từ mô tả một dạng vật chất có cấu trúc cụ thể là "nước", Khoa học hiện đại mô tả cấu trúc vật chất cụ thể là H2O.
    Nhưng trong tiếng Việt không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt: "THỦY" là "Nước" được. Vì trong tiếng Việt THỦY & NƯỚC, phát âm và chữ viết khác nhau - và mặc dù, nếu dịch ra tiếng Hán thì chung một ký tự
    . Vì trong tiếng Việt, "NƯỚC" chỉ là hình tượng mô tả "THỦY". Cũng như: Nói "Mẫu Thoải" (Thủy) trong tiếng Việt, không thể hiểu là "mẹ của nước", hoặc "Mẹ nước". Mà trong ngôn ngự Việt khi nói "Mẫu Thoải (Thủy)" , cần hiểu rằng nguồn gốc của Thủy. Tôi đã phân tích hình tượng "Tam tòa thánh Mẫu" trong tín ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam, liên quan đến Kinh Dịch Lạc Việt và thuyết Ngũ hành. Trong đó: Mẫu Thượng Thiên áo trắng (Thuộc Kim. Đoài/ Tốn), Mẫu Đệ nhất Áo Đỏ (Quái Khôn). Và Mẫu Thoải (Thủy) áo Xanh biển (Xanh Dương, xanh da trời), trong sách "Minh triết Việt trong văn minh Đông phương" (Nxb Tri Thức . 2014).

     

    3/ Hành Mộc.
    Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng MỘC, phát âm và ký tự khác hẳn "gỗ" , "cây", "cỏ". Còn trong tiếng Hán thì chỉ có ký tự
    , tương đương và đồng nghĩa với khái niệm "cây" trong tiếng Việt. Thí dụ: 草木 . Từ Việt Nho là "Thảo MỘC", nghĩa là "CÂY cỏ". Tóm lại, ký tự cây trong tiếng Hán đọc là Mủ, tức là một cấu trúc vật chất cụ thể, có nghĩa tương đương tiếng Việt - và các ngôn ngữ khác - là 'CÂY'. Tiếng Việt Nho là đọc và ký tự trong tiếng Việt là MỘC, để mô tả hành MỘC trong Ngũ Hành, còn để chỉ "thợ MỘC" và không thể nhầm lẫn với "thợ cây", hoặc trong tiếng Việt khi nói "Việc THỔ MỘC" thì hiểu rằng: đó là việc liên quan đến xây, cất nhà cửa. Không ai hiểu là việc của "cây, đất" cả. Vì trong tiếng Việt, đây là những ngôn từ với ký tự khác nhau.

     

    4/ Hành Hỏa.
    Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng HỎA, phát âm và ký tự khác hẳn "lửa". Trong tiếng Hán, từ "lửa" (Hỏa) chỉ dùng một ký tự
    , Trong tiếng Việt, âm Việt Nho là "HỎA", và khác hẳn về âm và ký tự với "LỬA". Tức là tiếng Hán với ký tự đọc là "hủa", chỉ để mô tả một trạng thái vật chất cụ thể tồn tại. Từ trong tiếng Hán dù dịch ra ngôn ngữ nào, cũng tương đương khái niệm Việt là "LỬA" và không phải là khái niệm HỎA trong tiếng Việt khi mô tả một hành trong Ngũ Hành.

     

    5/ Hành Thổ.
    Tương tự như vậy, trong tiếng Việt khi nói tiếng THỔ, phát âm và ký tự khác hẳn "Đất". Ngược lại, trong tiêng Hán, để mô tả khái niệm tương đương khái niệm "Đất" trong tiếng Việt, chỉ có một ký tự
    , đọc là "Thủ". Thí dụ: "Đất nước" trong ký tự tiếng Hán, là 國土; hoặc như các từ sau: “niêm thổ” 黏土 đất thó, đất sét, “sa thổ” 沙土 đất cát, “nê thổ” 泥土 đất bùn.
    Tóm lại, trong tiếng Hán, ký tự THỔ dùng trong Ngũ hành và mô tả khái niệm tương đương "Đất" trong tiếng Việt - và các ngôn ngữ khác - là như nhau. Nhưng trong tiếng Việt, ký tự THỔ dùng trong Ngũ hành và các ứng dụng trong ngôn ngữ Việt khác như: "THỔ trạch" "Liền Thổ" và khái niệm "Đất" và "sát ĐẤT" khác hẳn nhau.

     

    Qua sự mô tả ở trên, thi thấy rất rõ ràng, rằng: Các ký tự Hán mô tả Ngũ hành:
    ; ; ; ;
    Được hiểu tương tự khái niệm: "VÀNG, CÂY, NƯỚC, LỬA, ĐẤT" trong tiếng Viêt và các ngôn ngữ khác.
    Tức là nó mô tả các trạng thái cấu trúc vật chất rất cụ thể tồn tại trên Địa Cầu. Khác hẳn cách phát âm và ký tự của ngôn ngữ Việt mô tả ngũ hành: KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ. Mặc dù từ Việt Nho - Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ này, đều có ký tự tương đương trong tiếng Hán. Nhưng trong tiếng Việt thì nghĩa của chúng khác hẳn ký tự tương đương trong tiếng Hán. Trong tiếng Việt, các từ KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ một tả năm trạng thái và THUỘC TÍNH VẬN ĐỘNG VÀ TƯƠNG TÁC CỦA DẠNG CẤU TRÚC VẬT CHẤT CƠ BẢN, CÓ THỂ PHÂN LOẠI TRONG KHÔNG - THỜI GIAN.
    Do đó, với các nhà nghiên cứu ở các dân tộc phi Hán - kể cả Việt Nam - nếu mặc định thuyết Âm Dương Ngũ hành của người Hán và hiểu theo cách hiểu của người Hán thì sẽ dẫn tới nhầm lẫn khái niệm về bản chất thật của khái niệm Ngũ hành. Bởi vì, bản chất khái niệm KIM, MỘC THỦY HỎA THỔ theo tiếng Việt là khái niệm hệ quả của tư duy tổng hợp trừu tượng, nhận thức 5 trạng thái THUỘC TÍNH cấu trúc vật chất có tính phân loại, cho tất cả mọi hiện tượng vận đông và tương tác của toàn thể cấu trúc vật chất trong vũ trụ, và trong không/ thời gian. Còn trong tiếng Hán không thể hiện được điều này. Và tiếng Hán, tự nó xác định sự xuất hiện của "VÀNG, CÂY, NƯỚC, LỬA, ĐẤT" - là định tính cấu trúc vật chất cụ thể, đã có trong những giai đoạn đầu tiên của vũ trụ?!?
    Bởi vậy, nếu các từ KIM, MỘC THỦY HỎA THỔ mô tả NGŨ HÀNH trong tiếng Việt - thì khi dịch ra tiếng nước ngoài thì buộc phải để nguyên văn và diễn giải, chú thích. Chứ không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt : "Kim là vàng, là đồng", Thủy là nước....được. Vì chính tiếng Việt đã có từ tương đương: "KIM > "Cô gái se chỉ, luồn Kim";" "THỦY> Thủy quân bơi dưới nước"; "MỘC> Thợ MỘC, đốn cây, lấy gỗ"; ""HỎA> Hỏa đầu quân dùng súng phun lửa, để đốt..."; "THỔ> Sổ Địa bạ ghi THỔ trạch, có diện tích ĐẤT'....vv...và...vv...Những thí dụ trên cho thấy: Không thể dịch tiếng Việt ra tiếng Việt những từ trên. Và tiếng Hán với ký tự Hán sẽ rất buồn cười.

     

    Vì xác định khái niệm Ngũ hành và quán xét từ nền văn hiến Việt với sự xác định : Nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông Phương, nên tôi mới xác định ngũ hành là 5 yếu tố phân loại THUỐC TÍNH VẬN ĐỘNG &TƯƠNG TÁC CỦA VẬT CHẤT TRONG KHÔNG THỜI GIAN. Chính điều này, đã dẫn tôi đến sự xác định rằng: Hệ thống Nghịch lý toán học hiện đại Cantor hoàn toàn chính xác. Ngũ hành phân loại cả thời gian, chính bởi yếu tố phân loại các thuộc tính vận động, tương tác của vật chất trong không thời gian đó"].

     

    HẾT trích dẫn

     

    Chúng ta có thể nhận thấy rằng, Ngũ Hành KHÔNG phải là định danh của 5 loại vật chất mà đây là 5 hệ thuộc tính vận động và tương tác.

    Để giải thích vì sao KIM lại sinh THỦY, không thể lý giải nếu như chúng ta qui ước KIM và THỦY là hai loại vật chất. Bởi Thủy vật chất là Nước thì không thể được sinh ra từ KIM là kim loại. Chúng ta cũng không thể dùng hệ bát quái tức là lấy quái Càn là Kim, là Trời để lý giải TRỜI sinh ra Mưa , là nước vì Nếu vậy thì quái Càn cũng là Trời, là Cha, là Con ngựa già,… Vậy Con ngựa già hay người Cha thì cũng SINH được ra Mưa – là sinh Thủy – Nước ???? Hệ thống bát quái không thể dùng để mô tả trạng thái NGũ Hành bởi Ngũ Hành là bản nguyên trong khi đó Bát quái là hệ thống phân loại chi tiết vạn vật.

    Nếu coi Mộc là vật chất tức là Gỗ, Cây thì nếu theo định nghĩa về TƯƠNG SINH của cổ thư Hán , chúng ta không thể lý giải được vì sao Thủy –Nước lại SINH ra được cây Gỗ ?

    Với định nghĩa về Ngũ Hành Sinh Khắc của cổ thư Hán, như trong cuốn Tam mệnh thông hội thì SINH là Sinh theo nghĩa  sanh, sinh (shēng) thì không có cách nào lại lý giải được từ SINH lại là “Có thủy ẩm ướt thì cây cối càng sinh trưởng tươi tốt” , hay Kim sinh thủy: “ Kim ở nhiệt độ cao nóng chảy thành thể lỏng, hoặc thủy cần nhờ cậy vào đồ vật bằng sắt mới khơi đường lưu thông” ??? vậy thì Thủy là NƯỚC sinh ra từ đâu khi kim nung chảy lại chỉ biến thành thể lỏng ?

    Với Ngũ Hành Tương Sinh- Tương Khắc từ định nghĩa của người Việt thì “Âm dương tương Giao, thiên nhất sinh thủy” , Nước được sinh ra từ sự giao hòa của trời đất, khi mà khí ÂM lên cao (Âm thăng) giao hòa với khí Dương của trời (Dương giáng) tạo ra Nước : hoàn toàn mô tả được quá trình sinh ra Nước trong tự nhiên.

    Cũng như vậy đối với hệ Nạp Âm cho Lạc thư hoa giáp (theo cổ thư Hán là Lục thập hoa giáp), thì với định nghĩa ngũ hành là 5 yếu tố vật chất sẽ không thể giải thích được các hành nạp âm, ví dụ như “Hải Trung Kim”: Kim này hoàn toàn không có trong phân loại vật chất hiện hữu, không thể tìm và nhìn thấy được Kim loại dưới biển để sinh ra Nước -theo định nghĩa của từ Tương Sinh trong cổ thư Hán.

    Như vậy từ Tương SINH và Tương Khắc thể hiện rõ ý nghĩa của hiện tượng và hoàn toàn không phải là Sinh ra , và Khắc chế. Trong Ngôn ngữ Việt thì từ ghép Tương Sinh Tương Khắc mô tả sự tương tác qua lại của các yếu tố trong cùng một môi trường tương tác (Từ tương tác cũng không có ý nghĩa trong ngôn ngữ Trung quốc) .

     

    Qua đây chúng ta có thể nhận thấy Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc về nền Văn minh Lạc Việt với bề dầy gần 5000 năm lịch sử, đã bị đánh tráo nguồn gốc nên tiếp thu một cách rời rạc và không thể lý giải ngay cả từ ngôn ngữ dùng để định nghĩa cho một sự tương tác. Ngôn ngữ Việt của chúng ta phức tạp và vô cùng phong phú, đa dạng nên hoàn toàn phù hợp để giải thích mọi ý nghĩa, định nghĩa và quan hệ qua lại một cách khoa học và logic về Lý học Đông Phương- Lý thuyết Âm Dương  Ngũ Hành mà chủ nhân đích thực là nền Văn Minh Lạc Việt 5000 năm lịch sử.

     

     

     

     

     

     

     

    7 people like this

  11. NGÔN NGỮ VIỆT TRONG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

    TƯƠNG SINH Và TƯƠNG KHẮC 

    Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất vũ trụ, mô tả lịch sử từ hình thành từ giây /O/ của vũ trụ đến mọi quy luật vận động tương tác của mọi dạng tồn tại của vật chất cho đến ngày hôm nay, với khả năng tiên tri. Nó mô tả sự tồn tại của các hạt vật chất nhỏ nhất đến sự vận động của các Thiên hà khổng lồ. giải thích mọi vấn đề và sự kiện, liên quan đến cuộc sống, xã hội và con người với tính qui luật, tính khách quan và  khả năng tiên tri.

    Cho tới ngày nay, chúng ta vẫn ứng dụng và chấp nhận những sự mặc định,  tồn tại từ hàng ngàn năm và đa số cho rằng học thuyết đồ sộ này thuộc về nền văn minh Hoa hạ.
    Tuy nhiên, định nghĩa về Ngũ Hành sinh khắc từ cổ thư chữ Hán còn lưu truyền lại tới nay đều định hướng cho một suy luận sai lệch về Ngũ Hành SINH-KHẮC và một hệ lý thuyết rời rạc, chắp vá dẫn tới tranh cãi không có hồi kết.

    Trong toàn bộ sách Lý Học, Thuật số thì chúng ta chỉ  một định nghĩa hết sức ngắn gọn như sau:
    Trích:

    “Ngũ hành chỉ 5 loại vật chất gồm: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ luôn vận động chuyển hóa “Ngũ” trong ngũ hành chỉ 5 loại vật chất cơ bản hoặc nguyên tố cơ bản cấu thành nên thế giới. Kim loại, nước, cây,lửa, và đất. “Hành là chỉ mối liên hệ với nhau trong vận động chuyển hóa của 5 loại vật chất đó”

    Đây là đoạn trích dẫn từ cuốn “Táng Thư” một trong tứ khố toàn thư do Quách Phác đời Tấn trứ tác, được dịch ra Việt ngữ hiện đang được lưu hành trên các giá sách.

    Trong cuốn "Tam mệnh thông hội", một cuốn sách trong bộ tứ khố toàn thư đồ sộ, được dịch ra Việt ngữ  thì chúng ta có được nhiều thông tin giải thích về Thái Cực, Âm Dương và Ngũ Hành. Tuy nhiên, đúc kết phần Ngũ Hành Sinh khắc chúng ta cũng có được định nghĩa như hình ảnh dưới đây

     

    tuong sinh khac.jpg

    Đây là hai đại diện tiêu biểu cho định nghĩa về Ngũ Hành Sinh Khắc mà tất cả những người đam mê thuật số đều thuộc lòng.

    Tới đây chúng ta dễ dàng nhận thấy, Ngũ hành theo cổ thư Hán đều được định danh là 5 loại vật chất và từ đó, từ ghép “TƯƠNG SINH –TƯƠNG KHẮC五行相生相克  Có được định nghĩa về từ.

    Tôi có tham khảo một số bạn giỏi tiếng Trung về mặt ngôn ngữ thuần túy thì có được các thông tin sau:

    Theo bạn có nick face book là Sơn Nguyễn Sơn thì :
    [ “
    五行相生相克 từ này trong các sách về thuật số TQ thường đều có ạ. Từ điển không phải tất cả các từ đều có đâu ạ”].

    Bạn Ruan Minh:

    ["Nếu là từ theo tên của ai đó là TƯƠNG SINH thì CHỈ có cách là chọn từng từ để lấy ý nghĩa phù hợp . Ngoài ra nếu TƯƠNG SINH theo hai từ đi liền nhau thì hầu như là từ ghép, mà thường lấy từ tương sinh trong cụm từ :TƯƠNG SINH TƯƠNG KHẮC thì là hai chữ "相生"].

    Theo bạn có nịck Facebooj Hai Anh Vu:

    ["Theo từ điển của họ thì tương sinh chỉ sử dụng trong ngũ hành còn ngoài ra thì không dùng vào hoàn cảnh khác ạ"].

    Theo nhà nghiên cứu ngôn ngữ Lãn Miên thì không có từ TƯƠNG SINH -TƯƠNG KHẮC trong ngôn ngữ Trung Hoa mà đây là từ ghép của hai từ TƯƠNG và SINH hoặc TƯƠNG VÀ KHẮC.  Vậy nên cho dù có thêm chữ TƯƠNG đằng trước từ SINH và KHẮC thì vẫn chỉ hiểu là SINH và KHẮC bởi từ TƯƠNG ko có ý nghĩa khi ghép với từ SINH và KHẮC.

    Chúng ta sẽ tham khảo ý nghĩa các từ TƯƠNG, SINH và KHẮC theo từ điển Hán –Hán Nôm

    I/ TƯƠNG

    Chữ "Tương" trong chữ " tương sinh hay tương khắc như hình ảnh dưới đây. Chữ này bên trái là chữ mộc (là cây hay là 1 trong 5 ngũ hành,...) Bên phải là chữ mục ( là con mắt hay là nhìn,..). Chữ tương này còn có thể đọc là tướng cũng được, chữ này có thể dùng làm phó từ (hỗ tương: 互相 qua lại), danh từ (tể tướng 宰相), hay động từ (tướng du 相攸 kén nơi đáng lấy làm chồng). Vậy là chúng ta có thể thấy, từ TƯƠNG trong tiếng Trung hoàn toàn là từ có tính chất phụ, tức là được thêm vào bởi nó có thể là TƯỚNG trong Tướng quân, hay Tướng trong từ Tể tướng.

    Trong ngôn ngữ Việt thì Tương là Tương mà Tướng là Tướng, nên từ ghép Tương Sinh có ý nghĩa cụ thể. Còn từ Tương theo ý nghĩa này khi ghép với Sinh vẫn sẽ có ý nghĩa là SINH mà thôi.

    Các chữ Tương khác trong tự điển:


    A/ Chữ  tương  xiāng Bộ 187 mã [17, 27] U+9A64

    1. (Danh) Ngựa có chân sau bên phải màu trắng.

    2. (Động) Chạy nhanh, nhảy lên.

    3. (Động) Ngẩng lên.

    B/ Chữ  tương xiāng Bộ 140 thảo [9, 13] U+8459

    (Danh) Thanh tương  tục gọi là dã kê quan  hoa mồng gà.

    C/ Chữ  tương  jiāng Bộ 142 trùng [11, 17] U+87BF

    1. (Danh) Hàn tương  một loài côn trùng giống như ve sầu nhưng nhỏ hơn

    D. Chữ  tương xiāng Bộ 145 y [11, 17] U+8944

     

    1. (Động) Giúp đỡ, phụ tá. Đoạn Ngọc Tài "Tương: Kim nhân dụng tương vi phụ tá chi nghĩa, danh nghĩa vị thường hữu thử".    (Thuyết văn giải tự chú , Y bộ ). Như: tương trợ  giúp đỡ, tương lí  giúp làm.

    2. (Động) Bình định. Chương Bỉnh Lân Xuất xa nhi Hiểm Duẫn tương, Nhung y nhi Quan, Lạc định  (Ngụy Vũ Đế tụng ).

    3. (Động) Hoàn thành, thành tựu. Như: tương sự  nên việc, xong việc. Tả truyện  "Táng Định Công. Vũ, bất khắc tương sự, lễ".  (Định Công thập ngũ niên ).

    4. (Động) Tràn lên, tràn ngập. Lịch Đạo Nguyên Ba tương tứ lục, tế ngư bôn bính, tùy thủy đăng ngạn, bất khả thắng kế (Thủy kinh chú , Lỗi thủy ).

    5. (Động) Trở đi trở lại, dời chuyển. Thi Kinh Kì bỉ Chức Nữ, Chung nhật thất tương  (Tiểu nhã , Đại đông ) Chòm sao Chức Nữ ba góc, Suốt ngày dời chuyển bảy giờ.

    6. (Động) Dệt vải. Hàn Dũ "Đằng thân khóa hãn mạn, Bất trước Chức Nữ tương " (Điệu Trương Tịch 調).

    7. (Động) Trừ khử, trừ bỏ. Thi Kinh Tường hữu tì, Bất khả tương dã  (Dung phong , Tường hữu tì ) Tường có cỏ gai, Không thể trừ khử được.

    8. (Danh) Ngựa kéo xe. § Thông tương . Như: thượng tương  ngựa rất tốt. Thi Kinh Lưỡng phục thượng tương, Lưỡng sam nhạn hàng  (Trịnh phong , Thái Thúc ư điền ) Hai ngựa thắng hai bên phía trong là thứ ngựa rất tốt, Hai ngựa thắng hai bên phía ngoài như hàng chim nhạn.

    9. (Danh) Một phương pháp gieo hạt thời xưa.

    10. (Danh) Họ Tương.

    E/ Chữ  tương jiàng Bộ 164 dậu [11, 18] U+91AC
    (Danh) Thịt băm nát. § Cũng như hải .

    1. (Danh) Thức ăn nghiền nát. Như: quả tương  món trái cây xay nhuyễn, hoa sanh tương  đậu phụng nghiền.

     

    1. (Danh) Món ăn dùng các thứ đậu, ngô, gạo, ngâm ủ nấu gạn, cho muối vào nghiền nát. Như: thố tương  tương chua giấm, điềm miến tương  tương ngọt.

    2. (Tính) Đã ướp, ngâm, tẩm (với dầu, muối). Như: tương qua  dưa ướp, tương thái  món (rau) ngâm.

    3. (Động) Ngâm, ướp, tẩm (thức ăn).

    G/Chữ  tương, nhương xiāngráng Bộ 167 kim [17, 25] U+9472
    (Động) Vá, nạm, trám. Như: tương nha  trám răng. Tam quốc diễn nghĩa Bàng khuyết nhất giác, dĩ hoàng kim tương chi  (Đệ lục hồi) Bên cạnh (viên ấn ngọc) sứt một góc, lấy vàng trám lại.

    1. (Danh) Một loại binh khí thời xưa, giống như kiếm.

    2. Một âm là nhương. (Danh) Bộ phận làm mô hình ở trong khuôn đúc đồ đồng, đồ sắt.

    H/Chữ  tương  xiāng Bộ 120 mịch [9, 15] U+7DD7

    1. (Danh) Lụa vàng nhạt. § Ngày xưa hay dùng để đựng sách hay bao sách, nên gọi sách vở quý báu là phiếu tương  hay kiêm tương . Quan Hán Khanh "Độc tận phiếu tương vạn quyển thư"  (Đậu nga oan ) Đọc hết sách quý cả vạn cuốn.

    2. (Tính) Vàng nhạt. Nhạc phủ thi tập Tương khỉ vi hạ quần, Tử khỉ vi thượng nhu  (Mạch thượng tang ) Lụa vàng nhạt làm váy, Lụa tía làm áo ngắn.


    i/Chữ  tương xiāngráng Bộ 120 mịch [17, 23] U+7E95

    1. (Động) Mang, đeo. Khuất Nguyên Kí thế dư dĩ huệ tương hề, hựu thân chi dĩ lãm chỉ  (Li tao ) Bị phế bỏ rồi, ta lấy cỏ bội lan đeo hề, lại còn hái cỏ chỉ.

    K/ Chữ 漿 tương  jiāngjiàng Bộ 85 thủy [11, 15] U+6F3F

    1. (Danh) Chỉ chung chất lỏng sền sệt. Như: đậu tương 漿 sữa đậu nành, nê tương 漿 bùn loãng. Đỗ Phủ Khu nhi la tửu tương 漿 (Tặng Vệ Bát xử sĩ ) Xua con đi bày rượu và thức uống.

    2. (Danh) Hồ (để dán). Như: tương hồ 漿 hồ để dán.

    3. (Động) Hồ, dùng nước pha bột để hồ quần áo. Như: tương y phục 漿 hồ quần áo, tương tẩy 漿 giặt và hồ. Thủy hử truyện Đãn hữu y phục, tiện nã lai gia lí tương tẩy phùng bổ 便漿 (Đệ thập hồi) Hễ có quần áo, xin cứ đem lại nhà này giặt giũ khâu vá.


    L/ Chữ  tươngxiāng Bộ 96 ngọc [17, 21] U+74D6

    1. (Danh) Ngọc trang sức trên dây đái ngựa.

    2. (Động) Nạm, trám. § Cũng như tương .

    M/ Chữ  tương, sương xiāng Bộ 118 trúc [9, 15] U+7BB1
    (Danh) Hòm xe, toa xe. Như: xa tương  chỗ trong xe để chở người hoặc đồ vật.

    1. (Danh) Hòm, rương. Như: bì tương  hòm da (valise bằng da), phong tương  bễ quạt lò, tín tương  hộp thư.

    2. (Danh) Kho chứa. Như: thiên thương vạn tương  ngàn vựa muôn kho, ý nói thóc nhiều lắm.

    3. (Danh) Chái nhà. § Thông sương .

    4. (Danh) Lượng từ: thùng, hòm, hộp. Như: lưỡng tương y phục  hai rương quần áo, tam tương thủy quả  ba thùng trái cây.

    5. § Ghi chú: Ta quen đọc là sương.

    N/ Chữ  tương, sương xiāng Bộ 85 thủy [9, 12] U+6E58
    (Danh) Sông Tương. § Ta quen đọc là sương.

    O/ Chữ  tương, tướng xiāngxiàng Bộ 109 mục [4, 9] U+76F8
    (Phó) Lẫn nhau (bên này và bên kia qua lại, cùng có ảnh hưởng). Như: hỗ tương  qua lại, tương thị nhi tiếu  nhìn nhau mà cười. Thôi Hộ Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng  (Đề đô thành nam trang ) Năm ngoái vào ngày hôm nay, ở trong cửa này, Mặt nàng cùng với hoa đào phản chiếu nhau thắm một màu hồng.

    1. (Phó) Với nhau (kết quả so sánh hai bên). Như: tương dị  khác nhau, tương tượng  giống nhau, tương đắc ích chương thích hợp nhau thì càng rực rỡ, kì cổ tương đương  cờ trống ngang nhau (tám lạng nửa cân).

    2. (Phó) Cho nhau (qua lại nhưng chỉ có tác động một bên). § Ghi chú: Phó từ biến nghĩa thành đại danh từ: tôi, anh, ông ta, v.v. (tùy theo văn mạch). Như: hà bất tảo tương ngữ?  sao không sớm cho tôi hay? Sưu thần hậu kí Nãi ngữ lộ nhân vân: Dĩ cẩu tương dữ  (Quyển cửu) Bèn nói với người đi đường: Cho anh con chó này. Hậu Hán Thư Mục cư gia sổ niên, tại triều chư công đa hữu tương thôi tiến giả  (Chu Nhạc Hà liệt truyện ) (Chu) Mục ở nhà mấy năm, tại triều đình có nhiều người tiến cử ông ta.

    3. (Danh) Chất, bản chất. Thi Kinh Kim ngọc kì tương  (Đại nhã , Vực bốc ) Chất như vàng ngọc.

    4. Một âm là tướng. (Danh) Dung mạo, hình dạng. Như: phúc tướng  tướng có phúc, thông minh tướng  dáng dấp thông minh. Tây du kí 西(Tôn Hành Giả) hiện liễu bổn tướng () (Đệ tam thập ngũ hồi) (Tôn Hành Giả) hiện ra hình dạng thật của mình.

    5. (Danh) Chức quan tướng cầm đầu cả trăm quan. Như: tể tướng thừa tướng tướng quốc .

    6. (Danh) Tên chức quan có từ đời Hán, tương đương chức thái thú một quận.

    7. (Danh) Người giúp lễ. § Ngày xưa tiếp khách, cử một người giúp lễ gọi là tướng.

    8. (Danh) Người dẫn dắt kẻ mù lòa. Tuân Tử Nhân chủ vô hiền, như cổ vô tướng  (Thành tướng ) Bậc làm chúa không có người hiền tài (giúp đỡ), thì cũng như kẻ mù lòa không người dẫn dắt.

    9. (Danh) Tên một nhạc khí thời xưa, giống như trống, đánh lên để giữ nhịp chung.

    10. (Danh) Tiếng hát giã gạo. Lễ Kí Lân hữu tang, thung bất tướng  (Khúc lễ thượng ).

    11. (Danh) Chỉ vợ.

    12. (Danh) Hình chụp. Lỗ Tấn Giá trương tướng chiếu đích ngận hảo  (Trí mẫu thân ).

    13. (Danh) Trên cột tay đàn tì bà có bốn hoặc sáu khối làm bằng ngà voi, sừng trâu, gỗ hồng... dùng để xác định âm vị.

    14. (Danh) Tên riêng chỉ tháng bảy âm lịch.

    15. (Danh) Sao Tướng.

    16. (Danh) (Thuật ngữ Phật giáo) Chỉ hình trạng bên ngoài sự vật.

    17. (Danh) Họ Tướng.

    18. (Động) Xem, coi, thẩm xét. Tả truyện Lượng lực nhi hành chi, tướng thì nhi động  (Ẩn Công thập nhất niên ) Lượng sức và xem thời cơ mà hành động.

    19. (Động) Xem để đoán lành xấu phúc họa. Sử Kí Tướng quân chi diện, bất quá phong hầu, hựu nguy bất an  (Hoài Âm Hầu liệt truyện ) Coi tướng diện ngài, thì chỉ phong hầu là cùng, mà lại bấp bênh chứ không yên vững.

    20. (Động) Giúp đỡ, phụ trợ. Như: tướng phu giáo tử  giúp chồng dạy con. Phù sanh lục kí Tuyệt xứ phùng sanh, diệc khả vị cát nhân thiên tướng hĩ  (Khảm kha kí sầu ) Chỗ đường cùng gặp lối thoát, cũng có thể bảo rằng trời giúp người lành vậy.

    21. (Động) Cho làm tướng.

    22. (Động) Kén chọn. Như: tướng du  kén nơi đáng lấy làm chồng. Tam quốc diễn nghĩa Lương cầm tướng mộc nhi tê, hiền thần trạch chủ nhi sự  (Đệ lục thập ngũ hồi) Chim khôn lựa cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ.

    23. (Động) Cai quản, cầm đầu, cai trị. Liễu Tông Nguyên Thị túc vi tá thiên tử, tướng thiên hạ pháp hĩ  (Tử Nhân truyện ) Là đủ để phò vua, cai quản phép tắc của thiên hạ vậy.

    1[隱相] ẩn tướng 2[倒履相迎] đảo lí tương nghênh 3[同惡相濟] đồng ác tương tế 4[同惡相助] đồng ác tương trợ 5[同病相憐] đồng bệnh tương liên 6[白衣卿相] bạch y khanh tướng 7[蚌鷸相持] bạng duật tương trì 8[寶相] bảo tướng 9[不相得] bất tương đắc10[不相干] bất tương can 11[不相能] bất tương năng 12[布衣卿相] bố y khanh tướng 13[卜相] bốc tướng 14[拜相] bái tướng 15[皮相] bì tướng 16[骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 17[骨相] cốt tướng 18[窮相] cùng tướng 19[針芥相投] châm giới tương đầu 20[真相] chân tướng 21[照相] chiếu tướng 22[宮相] cung tướng 23[名相] danh tướng 24[面面相窺] diện diện tương khuy 25[互相] hỗ tương 26[旗鼓相當] kì cổ tương đương 27[內相] nội tướng 28[相對] tương đối 29[腳頭] tương cước đầu 30[相配] tương phối 31[相關] tương quan 32[首相] thủ tướng 33[丞相] thừa tướng


    O/Chữ  tương, tướng, thương jiāngjiàngqiāng Bộ 41 thốn [8, 11] U+5C07

    1. (Phó) Sẽ, có thể. Luận Ngữ Quý Thị tương phạt Chuyên Du  (Quý thị ) Họ Quý có thể sẽ đánh nước Chuyên Du.

    2. (Phó) Sắp, sắp sửa. Như: tương yếu  sắp sửa. Luận Ngữ Điểu chi tương tử, kì minh dã ai; nhân chi tương tử, kì ngôn dã thiện  (Thái Bá ) Con chim sắp chết, tiếng kêu bi ai; người ta sắp chết, lời nói tốt lành.

    3. (Phó) Gần (số lượng). Mạnh Tử Tương ngũ thập lí dã  (Đằng Văn Công thượng ) Gần năm mươi dặm.

    4. (Phó) Vừa, vừa mới. Như: tương khốc tựu tiếu  vừa mới khóc đã cười, tha tương tiến môn một nhất hội nhi  anh ta vừa mới vào cửa không bao lâu.

    5. (Động) Tiến bộ, tiến lên. Thi Kinh Nhật tựu nguyệt tương  (Chu tụng , Kính chi ) (Mong) ngày tháng được thành công, tiến bộ.

    6. (Động) Cầm, giữ, đem. Như: tương tửu lai  đem rượu lại.

    7. (Động) Giúp đỡ, phù trợ. Thi Kinh Lạc chỉ quân tử, Phúc lí tương chi  (Chu nam , Cù mộc ) Vui thay bậc quân tử (bà Hậu Phi), Phúc lộc sẽ giúp đỡ bà.

    8. (Động) Nghỉ, nghỉ ngơi. Như: tương dưỡng  an dưỡng, nghỉ ngơi. Lí Thanh Chiếu Sạ noãn hoàn hàn thì hậu, tối nan tương tức  (Tầm tầm mịch mịch từ ) Thời tiết chợt ấm rồi lại lạnh, thật khó mà nghỉ ngơi được.

    9. (Động) Tiễn đưa. Thi Kinh Chi tử vu quy, Bách lượng tương chi  (Triệu nam , Thước sào ) Cô ấy về nhà chồng, Trăm cỗ xe đưa tiễn.

    10. (Động) Làm, tiến hành. Như: thận trọng tương sự  cẩn thận làm việc.

    11. (Động) Chiếu tướng (đánh cờ tướng). Như: ngã giá nhất bộ trừu xa, hạ nhất bộ tựu yếu tương liễu  tôi một bước rút con xe, hạ xuống một bước thế là chiếu tướng!

    12. (Động) Nói khích. Như: thoại tương tha  nói khích anh ta.

    13. (Giới) Lại, đi. § Dùng như bả . Như: tương hoa sáp hảo  cắm hoa vào, tương môn quan hảo  đóng cửa lại.

    14. (Giới) Lấy, đem. § Dùng như  . Như: tương công chiết tội  lấy công bù tội. Chiến quốc sách Tô Tần thủy tương liên hoành thuyết Tần Huệ Vương  (Tần sách nhất) Tô Tần mới đầu đem (chủ trương) liên hoành thuyết phục Tần Huệ Vương.

    15. (Liên) Với, và. Dữu Tín Mi tương liễu nhi tranh lục, Diện cộng đào nhi cạnh hồng  (Xuân phú ) Mi với liễu tranh xanh, Mặt cùng đào đua hồng.

    16. (Liên) Vừa, lại. Như: tương tín tương nghi  vừa tin vừa ngờ (nửa tin nửa ngờ).

    17. (Trợ) Đặt sau động từ, dùng chung với tiến lai khởi lai tiến khứ : nào, đi, lên. Như: đả tương khởi lai  đánh đi nào, khốc tương khởi lai  khóc lên đi.

    18. Một âm là tướng. (Danh) Người giữ chức cao trong quân. Như: đại tướng danh tướng dũng tướng .

    19. (Động) Chỉ huy, cầm đầu. Như: Hàn Tín tướng binh, đa đa ích thiện  Hàn Tín chỉ huy quân, càng đông càng tốt.

    20. Một âm là thương. (Động) Xin, mời, thỉnh cầu. Thi Kinh Thương tử vô nộ  (Vệ phong , Manh ) Mong anh đừng giận dữ.

    1[陰將] âm tướng 2[大將] đại tướng 3[敗將] bại tướng 4[部將] bộ tướng 5[主將] chủ tướng 6[諸將] chư tướng 7[戰將] chiến tướng 8[名將] danh tướng 9[勇將] dũng tướng 10[卿將] khanh tướng 11[健將] kiện tướng 12[儒將] nho tướng 13[裨將] tì tướng14[將領] tướng lĩnh 15[將將] tướng tướng, thương thương 16[將來] tương lai 17[上將] thượng tướng 18[中將] trung tướng


    P/Chữ  tương, tưởng jiǎngjiāng Bộ 140 thảo [11, 15] U+8523

    1. (Danh) Tên cây, tức giao bạch .

    2. Một âm là tưởng. (Danh) Nước Tưởng, thời Xuân Thu. Nay thuộc Hà Nam.

    3. (Danh) Họ Tưởng.

    Các từ ghép bao gồm
    24[倒履相迎] đảo lí tương nghênh 25[同惡相濟] đồng ác tương tế 26[同惡相助] đồng ác tương trợ 27[同病相憐] đồng bệnh tương liên 28[蚌鷸相持] bạng duật tương trì 29[不相得] bất tương đắc 30[不相干] bất tương can31[不相能] bất tương năng 32[骨肉相殘] cốt nhục tương tàn 33[針芥相投] châm giới tương đầu 34[面面相窺] diện diện tương khuy 35[互相] hỗ tương 36[旗鼓相當] kì cổ tương đương 37[相對] tương đối 38[湘潭] tương đàm 39[腳頭] tương cước đầu 40[將來] tương lai 41[相配] tương phối 42[相關] tương quan

    Trong toàn bộ liệt kê các từ TƯƠNG, chúng ta hoàn toàn không tìm ra được một từ TƯƠNG mang ý nghĩa của TƯƠNG SINH.

    II/ SINH – SANH

    Chúng ta chỉ xét 1 từ SINH  CHỮ  sanh, sinh shēng Bộ 100 sinh [0, 5] U+751F


    (Động) Ra đời, nẩy nở, lớn lên. Thi Kinh Ngô đồng sanh hĩ, Vu bỉ triêu dương ˙ (Đại nhã , Quyển a ) Cây ngô đồng mọc lên, Ở bên phía đông trái núi kia.

    1. (Động) Đẻ ra, nuôi sống. Như: sanh tử  đẻ con. Bạch Cư Dị Toại lệnh thiên hạ phụ mẫu tâm, Bất trọng sanh nam trọng sanh nữ  (Trường hận ca ) Làm cho lòng các bậc cha mẹ trong thiên hạ, (Không coi trọng) không ham đẻ con trai nữa, mà coi trọng sự sinh con gái.

    2. (Động) Làm ra, gây ra, sản xuất. Như: sanh bệnh  phát bệnh, sanh sự  gây thêm chuyện, sanh lợi  sinh lời.

    3. (Động) Sống còn. Như: sanh tồn  sống còn, sinh hoạt  sinh sống.

    4. (Động) Chế tạo, sáng chế. Như: sanh xuất tân hoa dạng  chế tạo ra được một dạng hoa mới.

    5. (Danh) Sự sống, đời sống. Luận Ngữ Tử sanh hữu mệnh, phú quý tại thiên  (Nhan Uyên ) (Sự) sống chết có số, phú quý do trời.

    6. (Danh) Lượng từ: đời, kiếp. Như: tam sanh nhân duyên  nhân duyên ba đời, nhất sanh nhất thế  suốt một đời.

    7. (Danh) Mạng sống. Như: sát sinh  giết mạng sống, táng sinh  mất mạng.

    8. (Danh) Chỉ chung vật có sống. Như: chúng sanh quần sanh .

    9. (Danh) Nghề để kiếm sống, việc làm để kiếm sống. Như: mưu sanh  nghề kiếm sống, vô dĩ vi sanh  không có gì làm sinh kế.

    10. (Danh) Người có học, học giả. Như: nho sanh  học giả.

    11. (Danh) Học trò, người đi học. Như: môn sanh  đệ tử, học sanh  học trò.

    12. (Danh) Vai trong trong hí kịch. Như: tiểu sanh  vai kép, lão sanh  vai ông già, vũ sanh  vai võ.

    13. (Danh) Họ Sinh.

    14. (Tính) Còn sống, chưa chín (nói về trái cây). Như: sanh qua  dưa xanh. Thủy hử truyện Hữu sanh thục ngưu nhục, phì nga, nộn kê  (Đệ thập nhất hồi) Có thịt bò chín và tái, ngỗng béo, gà non.

    15. (Tính) Còn sống, chưa nấu chín (nói về thức ăn). Như: sanh nhục  thịt sống, sanh thủy  nước lã.

    16. (Tính) Lạ, không quen. Như: sanh nhân  người lạ, sanh diện  mặt lạ, mặt không quen, sanh tự  chữ mới (chưa học).

    17. (Tính) Chưa rành, thiếu kinh nghiệm. Như: sanh thủ  người làm việc còn thiếu kinh nghiệm.

    18. (Tính) Chưa luyện. Như: sanh thiết  sắt chưa tôi luyện.

    19. (Phó) Rất, lắm. Như: sanh phạ  rất sợ, sanh khủng  kinh sợ.

    20. (Trợ) Tiếng đệm câu. Truyền đăng lục Hoàng Bách vấn vân: Nhữ hồi thái tốc sanh? Sư vân: Chỉ vi lão bà tâm thiết (Trấn Châu Lâm Tế Nghĩa Huyền thiền sư ) Hoàng Bá hỏi: Sao lại về nhanh thế? Sư trả lời: Vì thầy có lòng thương xót như bà nội.

    21. § Ghi chú: Ta quen đọc là sinh.


    1[蔭生] ấm sinh, ấm sanh 2[誕生] đản sinh, đản sanh 3[塗炭生民] đồ thán sinh dân 4[同生共死] đồng sanh cộng tử 5[白面書生] bạch diện thư sanh 6[稟生] bẩm sanh, bẩm sinh 7[本生] bổn sinh 8[捕生] bộ sinh 9[百花生日] bách hoa sinh nhật 10[半生半熟] bán sinh bán thục 11[平生] bình sinh, bình sanh 12[貢生] cống sanh, cống sinh 13[救生] cứu sinh 14[九死一生] cửu tử nhất sinh 15[個人衛生] cá nhân vệ sinh 16[更生] cánh sinh 17[公共衛生] công cộng vệ sinh 18[怎生] chẩm sanh 19[眾生] chúng sanh, chúng sinh 20[諸生] chư sanh, chư sinh 21[佾生] dật sinh 22[養生] dưỡng sanh 23[好生] hảo sinh, hiếu sinh 24[學生] học sinh 25[回生] hồi sanh 26[化生] hóa sanh, hóa sinh 27[寄生] kí sanh 28[今生] kim sanh, kim sinh 29[來生] lai sanh, lai sinh 30[廩生] lẫm sanh31[老蚌生珠] lão bạng sinh châu 32[陌生] mạch sanh 33[一生] nhất sanh, nhất sinh 34[人生朝露] nhân sanh triêu lộ 35[人生觀] nhân sinh quan 36[人生] nhân sinh, nhân sanh 37[儒生] nho sanh 38