• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Mạnh Đại Quân

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    965
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    27

Everything posted by Mạnh Đại Quân

  1. ĐI TÌM CỘI NGUỒN KINH DỊCH (bài tham luận hội thảo Tìm Về Cội Nguồn Kinh Dịch) tác giả: Mạnh Đại Quân (Hoàng Triệu Hải) Đã có rất nhiều Học giả, các nhà nghiên cứu, Giáo Sư, Tiến sỹ công bố những nghiên cứu rất bài bài và sâu sắc về nguồn gốc của Kinh Dịch cũng như sự liên quan chặt chẽ giữa Kinh Dịch và Lịch sử 5000 năm Văn Hiến của người Việt. Tuy nhiên, sự đóng góp đó dường như chưa đủ để minh chứng cho nguồn gốc của một trong những kì quan thuộc về nền Văn minh Phương Đông mà chủ nhân đích thực chính là nền Văn minh Lạc Việt 5000 năm lịch sử. Sự khó khăn lớn nhất chính là chúng ta không có bất kì một bằng chứng và tài liệu lịch sử nào liên quan tới Kinh Dịch của người Việt, ngoại trừ việc lưu truyền thông qua văn hóa truyền thống, văn hóa tín ngưỡng và huyền sử. Đại đa số những người học và nghiên cứu Kinh Dịch hiện nay đều cho rằng việc đi tìm cội nguồn của Kinh Dịch là việc làm không cần thiết bởi không quan trọng bằng việc hiểu và ứng dụng Dịch. Cho dù có tìm được hay không tìm được nguồn gốc của Kinh Dịch thì cũng chẳng thể đăng ký bản quyền hay thay đổi được tuyên bố nguồn gốc và sở hữu của người Trung Hoa, kể cả khi chính người Trung Hoa cũng không giải thích được nguồn gốc mơ hồ do chính họ tạo ra. Việc đi tìm nguồn gốc Kinh Dịch chính là để giải mã toàn bộ hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành – một lý thuyết khoc học cổ xưa nhất của nền văn minh loài người. Trên cơ sở đó sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn tổng thể về quá trình lịch sử của nền văn minh Lạc Việt huyền vỹ một thời bên bờ Nam sông Dương Tử. 1. Lịch sử hình thành. Trích dẫn từ nguồn Wikipedia: “Kinh Dịch được cho là có nguồn gốc từ huyền thoại Phục Hy (伏羲 Fú Xī). Theo nghĩa này thì ông là một nhà văn hóa, một trong Tam Hoàng của Trung Hoa thời thượng cổ (khoảng 2852-2738 TCN, theo huyền thoại), được cho người sáng tạo ra bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của ba hào. Dưới triều vua Vũ (禹 Yǔ) nhà Hạ, bát quái đã phát triển thành quẻ, có tất cả sáu mươi tư quẻ (六十四卦 lìu shí­ sì gùa), được ghi chép lại trong kinh Liên Sơn (連山 Lián Shān) còn gọi là Liên Sơn Dịch. Liên Sơn, có nghĩa là "các dãy núi liên tiếp" trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng quẻ Thuần Cấn (艮 gèn) (núi), với nội quái và ngoại quái đều là Cấn (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là Tiên Thiên Bát Quái. Sau khi nhà Hạ bị nhà Thương thay thế, các quẻ sáu hào được suy diễn ra để tạo thành Quy Tàng (歸藏 Gūi Cáng; còn gọi là Quy Tàng Dịch), và quẻ Thuần Khôn (坤 kūn) trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua Văn Vương nhà Chu diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ Thuần Càn (乾 qián) (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong Thoán Từ (卦辭 guà cí) và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. Hậu Thiên Bát Quái ra đời. Khi vua Chu Vũ Vương (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là Chu Công Đán tạo ra Hào Từ (爻辭 yáo cí), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời nhà Chu (khoảng 1122-256 TCN). Muộn hơn, trong thời kỳ Xuân Thu (khoảng 722-481 TCN), Khổng Tử đã viết Thập Dực (十翼 shí yì), để chú giải Kinh Dịch. Ông nói "Nếu trời để cho ta sống thêm mươi năm nữa thì ta sẽ đọc thông Kinh Dịch. Năm mươi tuổi mới học Kinh Dịch cũng có thể không mắc phải sai lầm lớn."[1]. Vào thời Hán Vũ Đế (漢武帝 Hàn Wǔ Dì) của nhà Tây Hán (khoảng 200 TCN), Thập Dực được gọi là Dịch truyện (易傳 yì zhùan), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành Chu Dịch (周易 zhōu yì)” Hết trích dẫn Theo các nguồn thông tin khác thì Liên Sơn Dịch được cho là có từ thời Thần Nông (2737BC – Liên Sơn Thị hay còn gọi là Thần Nông thị) , Qui Tàng có từ thời Hoàng Đế (2699BC). Cuốn Liên Sơn Dịch được cho là có khoảng 10 tập- 80 ngàn chữ và được làm ra vào thời nhà Hạ dựa trên bát quái của Phục Hi. Trong ba bộ Kinh Dịch thì Liên Sơn Dịch và Qui Tàng Dịch được cho là thất lạc cho dù vẫn có sách về hai bộ Kinh này. Chỉ còn Chu Dịch được coi là đại diện cho dù về mặt lịch sử hình thành thì Chu Dịch được ra đời sau cùng, vào thời nhà Chu . Như vậy, Kinh Dịch hay 64 trùng quái phải có mặt ít nhất là từ thời Thần Nông tức Liên Sơn thị (2737-2699 BC). Kinh dịch bao gồm 64 quẻ được lập nên từ 8 Quái được cho là do Vua Phục Hy (2800-2737 BC) sáng tạo ra. Đây là một vị Vua không có thực và chỉ tồn tại trong truyền thuyết. Tới đây chúng ta bắt đầu thấy sự mơ hồ và mù mờ trong nguồn gốc của Bát quái. Tiếp tục đi ngược dòng lịch sử, phải có Tứ Tượng rồi mới có Bát Quái, nhưng trước khi có Tứ Tượng lại phải có Lưỡng Nghi và Thái Cực. Thái Cực sinh Lưỡng Nghi Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng Tứ Tượng biến hóa vô cùng. Như vậy, Bát quái là một sản phẩm được sinh ra từ học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Bát quái thể hiện sự nhận thức của con người với sự vận động của vạn vật xung quanh mình. Bát quái là một siêu công thức được sinh ra từ học thuyết ADNH, và học thuyết ADNH mang tính bao trùm Vũ trụ. Triết lý về Âm Dương được cho là do Phục Hy sáng tạo ra, và cũng có nguồn ghi rằng do Đạo Giáo (400BCE) sáng tạo nên do được tiếp thu từ nhà Chu (1040 BCE). Phục Hy là nhân vật huyền thoại không có thực trong lịch sử và không thể nào một học thuyết lại được tạo ra từ một nhân vật không có thật. Còn nếu Đạo Giáo sáng tạo ra hoặc giả như được tiếp nhận được từ nhà Chu thì đúng là “Sinh Con rồi mới sinh Cha, sinh Cháu giữ nhà rồi mới sinh Ông” bởi người ta không thể sáng tạo ra bát quái , Kinh Dịch rồi mới sáng tạo ra thuyết Âm Dương ngũ hành. Âm Dương trích từ nguồn wiki “Âm dương là hai khái niệm được hình thành cách đây rất lâu. Về nguồn gốc của âm dương và triết lý âm dương, rất nhiều người theo Khổng An Quốc và Lưu Hâm (nhà Hán) mà cho rằng Phục Hy là người có công sáng tạo và được ghi chép trong kinh dịch (2800 TCN). Một số người khác thì cho rằng đó là công lao của "âm dương gia", một giáo phái của Trung Quốc. Cả hai giả thuyết trên đều không có cơ sở khoa học vì Phục Hy là một nhân vật thần thoại, không có thực còn âm dương gia chỉ có công áp dụng âm dương để giải thích địa lý-lịch sử mà thôi. Phái này hình thành vào thế kỷ thứ 3 nên không thể sáng tạo âm dương được Các nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung Quốc đã kết luận rằng "khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam". ("Phương Nam" ở đây bao gồm vùng nam Trung Hoa, từ sông Dương Tử trở xuống và vùng Việt Nam. Xem thêm dân tộc Việt Nam để biết thêm khu vực của người Cổ Mã Lai sinh sống.) Trong quá trình phát triển, nước Trung Hoa trải qua hai thời kỳ: 1. "Đông tiến" là thời kỳ Trung Hoa mở rộng từ thượng lưu (phía tây) xuống hạ lưu (phía đông) của sông Hoàng Hà; 2. "Nam tiến" là thời kỳ mở rộng từ lưu vực sông Hoàng Hà (phía bắc) xuống phía nam sông Dương Tử. Trong quá trình nam tiến, người Hán đã tiếp thu triết lý âm dương của các cư dân phương nam, rồi phát triển, hệ thống hóa triết lý đó bằng khả năng phân tích của người du mục làm cho triết lý âm dương đạt đến hoàn thiện và mang ảnh hưởng của nó tác động trở lại cư dân phương nam. Cư dân phương nam sinh sống bằng nông nghiệp nên quan tâm số một của họ là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người. Sinh sản của con người thì do hai yếu tố: cha và mẹ, nữ và nam; còn sự sinh sôi nảy nở của hoa màu thì do đất và trời - "đất sinh, trời dưỡng". Chính vì thế mà hai cặp "mẹ-cha", "đất-trời" là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn đến triết lý âm dương. Về mặt ngôn ngữ học, "âm dương" là phát âm của yin yang trong tiếng Hán, nhưng chính tiếng Hán để chỉ khái niệm âm dương lại vay mượn từ các ngôn ngữ phương Nam trước đây. Ví dụ, so sánh yang với giàng (trong tiếng Mường), yang sri (thần lúa), yang Dak (thần nước), yang Lon (thần đất) (trong tiếng của nhiều dân tộc Tây Nguyên); so sánh yin với yana (tiếng Chàm cổ, ví dụ Thiên Yana = mẹ trời), ina (tiếng Chàm hiện đại), inang(tiếng Indonesia), nạ (tiếng Việt cổ, ví dụ: nạ ròng = người đàn bà có con, hay tục ngữ Việt Nam: "Con thì na, cá thì nước"),... thì thấy rõ điều đó. Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp "mẹ-cha" và "đất-trời" này, người ta đã mở rộng ra nhiều cặp đối lập phổ biến khác. Đến lượt mình, các cặp này lại là cơ sở để suy ra vô số các cặp mới. Nếu so sánh phương Đông với phương Tây thì phương Tây chú trọng đến tư duy phân tích, siêu hình còn phương Đông chú trọng đến tư duy tổng hợp, biện chứng. Nhưng nếu xét riêng ở phương Đông thì nếu đi từ bắc xuống nam ta sẽ thấy phía bắc Trung Quốc nặng về phân tích hơn tổng hợp, còn phía nam thì ngược lại, nặng về tổng hợp hơn phân tích. Triết lý âm dương bắt nguồn từ phương Nam, nhưng đối với các dân tộc Đông Nam Á, do tính phân tích yếu nên họ chỉ lại ở tư duy âm dương sơ khai mang tính tổng hợp. Trong khi đó khối Bách Việt đã phát triển và hoàn thiện nó. Tổ tiên người Hán cũng vậy, sau khi tiếp thu triết lý âm dương sơ khai, họ cũng phát triển nó nhưng do năng lực phân tích của họ mạnh hơn năng lực phân tích của người Bách Việt mà từ triết lý âm dương ban đầu, người Bách Việt và người Hán đã xây dựng nên hai hệ thống triết lý khác nhau. Ở phương Nam, với lối tư duy mạnh về tổng hợp, người Bách Việt đã tạo ra mô hình vũ trụ với số lượng thành tố lẻ (dương): hai sinh ba (tam tài), ba sinh năm (ngũ hành). Chính vì thế mà Lão Tử, một nhà triết học của nước Sở (thuộc phương Nam) lại cho rằng: "nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Tư duy số lẻ là một trong những nét đặc thù của phương Nam. Trong rất nhiều thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, các số lẻ như 1, 3, 5, 7, 9 xuất hiện rất nhiều. Ví dụ: "ba mặt một lời"; "ba vợ, bảy nàng hầu"; "tam sao, thất bản"... Ở phương Bắc, với lối tư duy mạnh về phân tích, người Hán đã gọi âm dương là lưỡng nghi, và bằng cách phân đôi thuần túy mà sinh ra mô hình vũ trụ chặt chẽ với số lượng thành tố chẵn (âm). Chính vì vậy Kinh Dịch trình bày sự hình thành vũ trụ như sau: "lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái biến hóa vô cùng" (hai sinh bốn, bốn sinh tám). Người phương Bắc thích dùng số chẵn; ví dụ, "tứ đại", "tứ mã", "tứ trụ",... Lối tư duy như vậy, hoàn toàn không có chỗ cho ngũ hành - điều này cho thấy, quan niệm cho rằng "âm dương - ngũ hành - bát quái" chỉ là sản phẩm của người Hán có lẽ là một sai lầm, nhưng theo quan niệm trong phong thủy thì " lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh ngũ hành, ngũ hành sinh vạn vật" ngũ hành lại được sinh từ bát quái ứng với Đoài-Càn (kim),Tốn-Chấn(mộc),Khảm(thủy),ly(hỏa),Cấn-Khôn(thổ) tạo thành vòng tuần hoàn luôn bổ trợ lẫn nhau nhưng vì một số bất cập nên không được nhiều người biết đến, vào thời nay phong thủy đa số đều dùng cách này để đọc phong thủy. Hết trích dẫn Tôi chưa thấy thuyết phục từ chứng cứ về cách lập luận số chẵn – lẻ của người viết trên thư viện mở WIKI nhưng đây là một bằng chứng cho thấy ngày càng nhiều người nhận ra rằng Âm Dương Ngũ Hành, Hà Đồ-Lạc Thư-Bát Quái-Kinh Dịch không thể được tạo ra bởi người Trung Hoa. Ngay từ những thời điểm mà người Trung Hoa cố gắng hợp thức hóa nguồn gốc và tác giả của học thuyết Âm Dương nhưng chúng ta vẫn có thể tìm thấy sự lộn xộn và mù mờ trong chính những gì họ công bố. THÁI CỰC ĐỒ (ÂM DƯƠNG ĐỒ HÌNH) 1. Dấu tích lịch sử: Theo các tài liệu lịch sử còn lưu lại thì Thái cực đồ hình (Taijitu 太極圖) được biết tới do Chu Đôn Di Zhou Dunyi (周敦頤 1017–1073) đời Tống (960-1279) sáng tạo ra cùng với cơ sở Học thuyết Thái cực . Đồ hình Thái Cực này được coi là đồ hình đầu tiên mô tả Thái Cực sinh Lưỡng Nghi do được ghi chép và lưu giữ nguồn gốc. Đồ hình H1 là đồ hình được Joseph Adler chụp từ nguyên gốc trong cuốn Thông Thư (通書) của Chu Đôn Di. Trong suốt thời kì nhà Minh (1368–1644), Đạo giáo lúc đó rất phát triển và dựa trên nền tảng Đạo giáo đã có rất nhiều sáng tạo Thái Cực đồ hình mô tả cơ sở học thuyết của họ lúc đó. Trong khi nguyên gốc đồ hình của Chu Đôn Di sử dụng các vòng tròn thì trong thời kì nhà Minh (1368-1644) bắt đầu xuất hiện các đồ hình vòng xoáy.Đồ hình có vòng xoáy sớm nhất được cho là của Triệu Huy Khiên - Zhao Huiqian (趙撝 , 1351–1395) trong cuốn Lục Thư Bản Nghĩa viết năm 1370s thuộc bộ Tứ Khố Toàn Thư. Đồ hình này được ghép thêm với bát quái và được được gọi là Thái Cực Hà Đồ . Tới cuối đời nhà Minh thì mới xuất hiện thêm hai chấm bên trong thay bởi hai hình giọt nước, và được sử dụng rộng rãi trở thành Vũ Trụ Quan của người Trung Hoa. H1: Chu Đôn Di đồ hình H2: Triệu Huy Khiêm Đồ hình LAI TRÍ ĐƯC (來瞿唐 / 来瞿唐, 1525–1604) sau đó lại thiết kế lại Thái Cực Hà Đồ dựa trên khuôn mẫu của biểu tượng Phật giáo Tây tạng Gankyil H4: Lai Zhide vs Gankyil Tiên thiên thái cực đồ và vô cực đồ được phát triển và sử dụng nhiều nhất vào thời kì nhà Thanh (1644–1912) THÁI CỰC ĐỒ HIỆN ĐẠI Vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20, người Trung Hoa công bố rộng rãi Thái Cực đồ hình với hai vòng xoáy của thời Minh và gọi đó là Đồ Hình Âm-Dương. Khoảng từ những năm 1960 thì Âm Dương Đồ Hình được thêm vào hai chấm ở mỗi xoáy cùng kết hợp với Hà Đồ được sử dụng rộng rãi. Đồ hình này được dùng trong thiết kế và nhận diện của môn Thái Cực Quyền từ những năm 1970 để thể hiện tinh thần của bộ môn này. 2. DẤU HIỆU TỪ ROMAN Tại Rome, người ta tìm thấy dấu tích của Âm Dương Đồ Hình trên khiên và phù hiệu của Kỵ Binh của đế chế La Mã (AD 430). Trong bài viết "The Ying-Yan Among The Insignia of The Roman Empire - Âm Dương Đồ Hình bên trong dấu hiệu của Đế Chế La Mã" của Giovanni Monastra, người đã phát hiện ra dấu hiệu của Đồ Hình này từ thư tịch cổ có tên là "Notitia Dignitatum Omnium tam Civilium quam Militarium " được viết từ cuối thế kỷ thứ 4 đầu thế kỉ thứ 5. Trong cuốn thư tịch cổ này, ngoài việc viết về các đơn vị hành chính và quân sự của Đế chế La Mã người ta tìm thấy rất nhiều ký hiệu và đồ hình cùng 4 màu sắc Đỏ-Xanh-Vàng-Trắng thể hiện thế giới Siêu hình, Tôn giáo và Tri thức. Ở trang tiếp theo, người ta lại tìm thấy Thái Cực Đồ của Chu Đôn Di theo hình ảnh dưới đây (hình thứ ba hàng thứ ba từ dưới lên) Theo tác giả, không có một nhà nghiên cứu La Mã Cổ nào kể cả nhà nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa Á Đông Franz Cumont phát hiện và đặt ra câu hỏi nghi vấn này ? liệu có phải đây là Thái Cực Đồ hay Âm Dương Đồ Hình của Á Đông xuất hiện trong Đế chế La Mã. Ngay cả đối với giới khoa học và nghiên cứu khảo cổ tại Châu Âu, không một ai đề cập tới vấn đề này và chủ yếu họ tìm hiểu sự giao thoa giữa các nền văn hóa cổ đại và tác giả cho rằng đây là một sai lầm. 3. Quốc Kỳ Hàn Quốc Ra đời đầu tiên vào thời kì Joseon 1882, được nói rõ sử dụng "BAT QUAI DO" cho Hoàng Gia. Vậy từ thế kỉ 18, Thái Cực Đồ của người Việt đã được biết tới và sử dụng tại Hàn Quốc 4. Đặt lại vấn đề Trong cuốn " Reconstructing the confucian dao" của Adler Joseph tạm dịch là Tái Thiết Đạo Khổng, chương năm trang 153, tác giả viết :" Mặc dù cho tới nay, sự xuất hiện của học thuyết Âm Dương được coi là nguồn gốc của Thái Cực Đồ vào thời Chu Hi ( 朱熹, October 18, 1130 – April 23, 1200) và Chu Đôn Di (周敦頤; Zhou Dunhyi; 1017–1073) có được học thuyết này từ Đạo Giáo. Chu Đôn Di và những người theo ông ta luôn khẳng định Chu Đôn Di là người sáng tạo ra Thái Cực Đồ. Chu Hi thì không chấp nhận học thuyết của Chu Trấn -hay Chu Hoàng - Hậu Lương Mạt Đế (Zhu Zhen (朱瑱) (October 20, 888–November 18, 923) cũng như đồ hình từ Đạo Giáo bởi theo Chu Hy, nó phá hoại tính đặc thù của Khổng Giáo. Trang 154, tác giả lại viết " Câu hỏi đặt ra là Thái Cực Đồ Hình của Chu Đôn DI lại được đem ra tranh luận kịch liệt suốt từ thế kỷ thứ 12. Theo ghi chép thì học thuyết đáng lưu ý nhất là của Chu Hoàng, và truyền cho Đôn Di thông qua Mục Tu ( Mu Xiu 穆修, 979–1032). Mục Tu là quan Trung phẩm chết khi Chu Đôn Di mới 15 tuổi: Mục Tu nhận được từ Chủng Phóng ( Chong Fang 种放956-1015) là một quan lại triều đình từ quan ẩn dật. Chủng Phóng học được Trần Đoàn Lão Tổ. Trần Đoàn ghi lại rằng, ông thu nhận được rất nhiều đồ hình trong đó bao gồm Quẻ, Quái trong Kinh Dịch được truyền bá rộng rãi bởi Thiệu Ung ( 邵雍 Shao Yung; 1011–1077) và Chu Hy . Một điều khá quan trọng là Tiên Thiên Đồ của Phục Hy được cả Thiệu Ung và Chu Hi. Chu Trấn đã đưa các đồ hình vào lý thuyết này từ trước, tới năm 1134 tức là 61 năm sau khi Chu Đôn Di chết thì những nguồn gốc lý thuyết của ông ta đều không xác định và tính xác thực về những gì ông ta đưa ra đáng để tranh luận. Thêm một sự liên hệ rõ ràng tới Đạo giáo là một khả năng Thái Cực Đồ bị ảnh hưởng từ Phật giáo bởi Chu Đôn Di được biết là Thầy cũng như bạn của Ông ta đều theo đạo Phật. Người được nhắc tới nhiều nhất là Thọ Nhai (Shou Ya) chùa Helin tại Runzhou (tỉnh Jiangsu), nơi Chu Đôn Di sống một thời gian những năm 20 tuổi. Theo Triều Thuyết Chi (Chao Yuezhi 1059-1129), Thọ Nhai dạy Chu Đôn Di nhưng dạy những gì thì không biết và Chu có phải là người KHÔNG theo Đạo Phật cũng đầy hoài nghi . Có một yếu tố đặc trưng của Phật giáo ảnh hưởng tới Thái Cực Đồ, là Guifeng Zongmi (圭峰 宗密 780-841) là nhà người Nhật dạy Phật giáo thời nhà Đường, là ông Tổ của Thiền Tông và Hoa Nghiêm Tông. Một trong những tựa hay sử dụng trong tác phẩm về Thiền Tông chính là Đồ hìnhcủa sự Khai Sáng, yếu tố Siêu Hình đại diện cho tàng Vô Thức. Nó chính là sự nhận diện cho Thái Cực Đồ. Tuy nhiên, Chu Hi bỏ hình tròn nhỏ vào giữa Đồ hình này và nói rằng nó đại diện cho Thái Cực. (Đồ hình của Tsungmi ) Đồ hình này được tìm thấy từ tàng thư tại hang Mogao, Dunhuang xác định là năm 952. Như vậy, đây là bằng chứng cho thấy Đồ hình Chu Đôn Di có nguồn gốc từ Phật giáo. Như vậy, chúng ta có thể thấy đồ hình ÂM DƯƠNG ngày nay chỉ mới xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu TK 20. Nó không thể hiện được tính minh triết của lý thuyết Âm Dương mà là thể hiện qua tư duy và lý thuyết của Đạo giáo. Thế nhưng rất nhiều tác giả vẫn khăng khăng cho là, hai chấm đen trong lưỡng nghi thể hiện Thiếu Âm và Thiếu Dương là từ thời Chu Đôn Di, khi mà ngay cả Chu Đôn Di cũng không được coi là người tạo ra Thái Cực Đồ. Thái Cực Đồ hay ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG được lưu giữ từ nền văn hóa Việt trải gần 5000 năm Lịch sử , mô tả đầy đủ triết lý của lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã cho ta thấy, người Việt mới là người nắm giữ đầy đủ học thuyết này. Những vòng xoáy âm dương được tìm thấy ở rất nhiều các công trình cổ đại, các di vật khảo cổ trên khắp thế giới. Niên đại lâu nhất của cổ vật được tìm thấy tới 12000 năm BCE (trước CN). · Phế tích tại Chichen izta từ nền văn minh Aztecs. Dấu hiệu âm dương Việt lại tiếp tục xuất hiện trên các cong trình kiến trúc tại thánh địa của người Maya ! Cổ vật từ nền văn minh maya cổ đại tìm thấy tại Ecuador Con Cá Vettersfelde hay là witaszkowo ( một thành phố tại Ba lan) nơi con cá được tìm thấy. Đây là con cá được làm khoảng 500 năm trước công nguyên do người Scythians (gốc iran) chế tạo từ vàng nguyen chất. Một loại vũ khí của người Maori , thổ dân new Zealand Đây là viên đá cổ thuộc kỳ đồ đá mới Neolithic 10200 năm Bc và kết thúc khoảng 4500Bc được tìm thấy ở Knowth- Ireland, được gọi là viên đá mặt trăng Dấu tích đồ hình âm dương Việt trên họa tiết trang phục trong nền văn minh Trylolye 5400-2750 TCN. (nay thuộc nước cộng hòa Moldova, Romania và Ukraina) ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH TRONG ĐẠO HINDU “Thái cực sinh lưỡng nghi Lưỡng nghi sinh tứ tượng Tứ tượng biến hoá vô cùng” Âm Dương Ngũ Hành vỗn vẫn được biết tới là một nền tảng lý thuyết của nền văn minh Đông phương. Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân của tôi thì ADNH là một lý thuyết thuộc về một nền văn minh cổ của nhân loại đã bị huỷ diệt, và mỗi một nền văn minh sau này nắm giữ một mảnh của lý thuyết vĩ đại đó. Qua các nghiên cứu cá nhân, tôi vô tình phát hiện ra sự mô tả lý thuyết ADNH trong đạo HINDU, một trong những Đạo lâu đời nhất và cũng là Đạo có nhiều CHÚA Trời nhất (khoảng 330 triệu vị Thần). Một trong những biểu tượng có trong các ngôi Đền Hindu, đó là biểu tượng LINGA SHIVA, biểu tượng của sự Huỷ Diệt và Tái Sinh. Có rất nhiều sự sai lầm về hình tượng này. Một số thì cho rằng đây là Biểu tượng tôn thờ tín ngưỡng phồn thực, rằng đây chỉ là mô tả bộ phận sinh dục của người đàn ông, và ở dưới là hình tượng mô tả bộ phận sinh dục của đàn bà. Trong Hindu giáo, biểu tượng này được gọi là Linga Shiva và cũng có sự hiểu sai lệch rằng đây là hình tượng Dương vật của thần Shiva(một trong những vị Thần vĩ đại nhất trong Hindu giáo), và phía dưới là biểu tượng Âm vật của thần Shakti. Từ Shiva có nghĩa là Tốt Lành, Linga (hay Lingam) có nghĩa là hình tượng, là dấu hiệu. Và Linga Shiva tức là hình tượng của sự bất tử của Thần Shiva. Đó là biểu tượng của Đấng sáng tạo, là sự tự nhận thức vượt qua sự sinh sôi, sự huỷ diệt, sự tốt-xấu, Thần Linh và Ma Quỉ, thời gian và Vũ trụ. Là điểm khởi nguồn của vạn vật. Nếu dịch nghĩa từ Dương Vật trong ngôn ngữ Hindi (Sanskrit), thì sẽ là từ SHISHNAM, không phải là từ Linga. Sự hiểu sai ngay từ chính người theo Đạo Hindu cũng do bởi sự cố tình làm sai lệch ý nghĩa, xuất phát từ những kẻ xâm lược và muốn huỷ diệt Hindu giáo. Biểu tương này là thể hiện sự bất tử của Thần Shiva nhưng từ sự sai lệch dẫn tới từ này mang ý nghĩa khác, Từ Yoni cũng vậy, có nghĩa là Mẹ Thiên Nhiên, là biểu tượng của sự sinh sôi nhưng lại được hiểu sai thành bộ phận sinh dục phụ nữ. Đây là hình tượng của Thần Parvati, vợ của Thần Shiva. Biểu tượng Linga có hai dạng chính: 1. Tại Ấn độ, Nepal: Linga hình tròn và Yoni cũng hình tròn. Trên Linga có biểu tượng ba gạch liền và hình tượng Con Mắt thứ Ba ở giữa. Con mắt này đều xuất hiện trên Trán của Thần Shiva thể hiện sự thông hiểu, là ý thức, nhận thức, là sự xuyên suốt. Đây cũng chính là mô tả hình thái của Vũ Trụ 2. Tại Đông Nam Á: Biểu tượng Linga phức tạp hơn, thể hiện hình tượng của ba vị Thần tối cao trong Hindu giáo. 3 vị thần thể hiện vòng tròn cuộc sống (Samsara) : SINH-VƯỢNG-MỘ a. Thần Shiva-hình Tròn và chạm khắc mặt của vị Thần này- Là vị thần của sự huỷ diệt,sự tái sinh, là công lý, phán xét. b. Thần Visnu-Bát giác, là vị thần của sự che trở, bao bọc, bảo vệ c. Brahma-hình Vuông. là đấng sang tạo.Là vị thần tạo ra nguồn gốc của con người. d. Yuni: địa cầu, đất Mẹ Nhìn vào Biểu tượng Linga , điều nhận thấy đầu tiên đó là hình tượng Quẻ CÀN trong Bát Quái của Lý Học Đông Phương. Đây là tượng của Thần Shiva là Đấng sáng tạo nhưng cũng là vị Thần của sự Huỷ Diệt, và đó cũng chính là ý nghĩa của quẻ CÀN :Hình Trụ/Tròn Là Trời, là Cha, thuộc Dương. Biểu tượng Yoni: Là tượng của Trái Đất, là Mẹ,thuộc ÂM. Tuy nhiên Yoni ở vùng ĐNA như Campuchia, Vietnam thì lại là hình Vuông – Là quẻ Khôn,. Vẫn là hình Tròn và Vuông trong Lý Học Đông Phương thể hiện sự Sinh Sôi, Sáng Tạo, là hình tượng của Cha –Mẹ. Tuy thể hiện qua nhiều hình thể khác nhau do ảnh hưởng của tôn giáo nhưng về bản chất vẫn là sự mô tả nhận thức của con Người với Vũ Trụ quan. Chúng ta cũng có thể nhận thấy đâu đó có sự xuất hiện của Tứ Tượng và Bát quái trên Linga. Ví dụ Linga tại Nepal, tượng bát quái mô phỏng bằng bông hoa Sen Theo các tài liệu nghiên cứu thì các vị Thần Hindu giáo được đặt tên cho các Chòm Sao Hoàng Đạo của chiêm tinh học Vệ Đà vào khoảng 5000 năm trước công nguyên. Do đó, Thiên Chúa giáo cũng nhận được ảnh hưởng của biểu tượng Linga (Âm Dương) và hình dưới chính là quảng trường Thánh Peter tại Vatican. Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành là lý thuyết gốc để rồi từ đó chúng ta mới có các bộ môn ứng dụng như lịch Can Chi, Kinh Dịch, Địa Lý, Tử Vi, vv..Người Trung Quốc tin rằng học thuyết ADNH cùng những bộ môn ứng dụng đó là do tổ tiên họ sáng tạo ra, từ những nhân vật thần thoại như vua Phục Hy nửa người nửa rắn hay linh vật như Long Mã , Rùa thần. Người Trung Hoa kể rằng vua Phục Hy - thời tam Hoàng ngũ Đế , là thủy tổ của loài người (nhưng không xác định được là thần hay là người) niên đại khoảng năm 2852–2737 TCN (nguồn Wiki) . Phục Hy là người tạo ra Bát Quái, Hà Đồ , Kinh Dịch và Tiên Thiên bát quái đồ. Tuy nhiên chúng ta đều biết rằng vào thời kì niên đại khoảng 3000 năm TCN thì đã tồn tại các nền văn minh khác, và cùng thời với nền Văn Minh Lạc Việt của Vua Hùng (2879 TCN) 1. Bát quái , Hà Đồ và Kinh Dịch được vua Phục Hy tạo ra, Lạc Thư do vua Đại Vũ tạo ra nhưng mãi sau gần 2000 năm sau thì người Trung Quốc mới có học thuyết Âm Dương ngũ hành ? Phải có Thái Cực và ÂM DƯƠNG thì mới sinh ra Bát Quái nhưng thật tài tình là người Trung Quốc sáng tạo ra Bát Quái rồi mới tạo ra lý thuyết Thái Cực sinh Lưỡng Nghi !Đấy chẳng phải là câu chuyện “ Sinh Con rồi mới Sinh Cha”? ! 2. Lục Thập hoa Giáp và lịch Can Chi thì người Trung Quốc nói rằng họ có từ năm 1250 TCN vào thời nhà Thương. Nhưng hệ thống Ngũ Hành thì lại được tuyên bố được sáng tạo vào khoảng 168 TCN thời nhà Hán (206-220 BCE) ? chưa có ngũ hành mà lại có lịch Can Chi và Lục Thập Hoa Giáp ? 3. Hà Đồ - Lạc Thư mô tả chiều Ngũ Hành Tương Sinh và Tương Khắc thế nhưng Ngũ Hành lại sinh ra sau Hà Đồ - Lạc Thư tới hơn 2700 năm ? 4. Hà Đồ -Lạc Thư được người Trung Hoa khẳng định là ma trận toán học đầu tiên và cổ xưa nhất trên thế giới. Thế nhưng họ lại cũng khẳng định hệ thống toán học cổ xưa nhất của Trung Quốc có trên mai rùa và thư tịch cổ lại có từ thời nhà Thương (1600-1046 TCN), tức là ma trận toán học lại có trước cả khi có hệ thống toán học ? vậy làm sao lại có được ma trận 3x3 mà tổng các hàng, cột đều bằng 15 và có hệ thống số đếm trên Lạc Thư- Hà Đồ do vua Phục Hy và Đại Vũ làm ra từ trước cả hơn 1000 năm ? 5. Tử Vi đẩu số, một bộ môn ứng dụng từ thuyết Âm Dương Ngũ Hành được coi là sự sáng tạo của một Đạo sỹ thời nhà Đường (681-907) tên là Lã Thuần Dương(Lu Chun Yang - 呂純陽), sau đó được Ông Hy Di Trần Đoàn đời nhà Tống phát triển bổ xung, rồi tới cuối cùng hoàn thiện như ngày hôm nay bởi La Hồng Tiên ( Luo Hong Xian -羅洪先) đời nhà Thanh . Thời điểm mà người Trung Hoa nói rằng tạo ra thái cực đồ với hệ lý thuyết Âm Dương ( Thái cực sinh lưỡng nghi) là vào thời nhà Tống, do Chu Đôn Di sáng tạo ra. Người ta nói rằng đây là bộ môn thiên văn cổ dùng để tiên tri, bói toán nhưng nó hoàn toàn dựa vào học thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà ra. Nếu bạn đã một lần xem tử vi đẩu số, chắc hẳn ngoài chữ "SAO" thì bạn sẽ không tìm được dấu vết nào liên quan tới Thiên văn học cả. Câu hỏi là : - Nếu chưa có lý thuyết về Âm-Dương thì làm sao sinh ra Ngũ Hành để rồi có được lá số tử vi với hệ thống phức tạp liên quan tới Âm Dương ? Như vậy chẳng phải là Sinh Cháu giữ nhà rồi mới Sinh Ông ? Chỉ duy nhất có Thái Ất thần số là bộ môn thiên văn học cổ của người Việt không bị gắn vào thời kỳ nào hay tác giả nào, chỉ nói chung chung là của người Trung Hoa. Chúng ta cũng nên biết rằng Thái Ất là bộ môn tính toán Lịch cao cấp nhất cho tới ngày nay, từ năm GIÁP TÝ thời thượng cổ cách nay(2017) là 10,141,313 năm. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là người nắm giữ đầy đủ nhất về bộ môn này. Trong lịch sử Trung Quốc đã ghi lại lịch Can Chi của người Việt đã được Vua Hùng tặng cho vua Nghiêu (Yao Emperor 2356-2255 TCN) viết dưới dạng chữ Khoa Đẩu. Hệ Can Chi cũng là hệ duy nhất sử dụng trong các ĐỜI trị vị của HỒNG BÀNG THỊ. 18 Thời Vua Hùng bao gồm (trích dẫn từ WIkipedia tiếng Anh, tiếng Việt không đề cập tới chi tiết này): I. Kỷ thứ nhất (2879–2000 BC) • Càn hệ (Hùng Dynasty I, c. 2879 – 2794 BC) • Khảm hệ (Dynasty II, c. 2793 – 2525 BC) • Cấn hệ (Dynasty III, c. 2524 – 2253 BC) • Chấn hệ (Dynasty IV, c. 2254 – 1913 BC) II. Kỷ Phùng Nguyên (2000–1500 BC) • Tốn hệ (Dynasty V, c. 1912 – 1713 BC) • Ly hệ (Dynasty VI, c. 1712 – 1632 BC) • Khôn hệ (Dynasty VII, c. 1631 – 1432 BC) III. Kỷ Đồng Đậu (1500–1100 BC) • Đoài hệ (Dynasty VIII, c. 1431 – 1332 BC) • Giáp hệ (Dynasty IX, c. 1331 – 1252 BC) • Ất hệ (Dynasty X, c. 1251 – 1162 BC) • Bính hệ (Dynasty XI, c. 1161 – 1055 BC) IV. Kỷ Gò Mun (1100–800 BC) • Đinh hệ (Dynasty XII, c. 1054 – 969 BC) • Mậu hệ (Dynasty XIII, c. 968 – 854 BC) • Kỷ hệ (Dynasty XIV, c. 853 – 755 BC) V Kỷ Đông Sơn (800–258 BC) • Canh hệ (Dynasty XV, c. 754 – 661 BC) • Tân hệ (Dynasty XVI, c. 660 – 569 BC) • Nhâm hệ (Dynasty XVII, c. 568 – 409 BC) • Qúy hệ (Dynasty XVIII, c. 408 – 258 BC) Không có Âm Dương Ngũ Hành, Bát Quái, Can Chi thì làm sao Tổ Tiên của Việt tộc lại sử dụng tri thức đó cho chính các thời kỳ trị vị, Hiến pháp (Hồng Phạm Cửu trù), lịch Can Chi, Lạc thư Hoa Giáp (nạp âm 60 năm khởi từ Giáp Tý) ? Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành của nền Văn Minh Lạc Việt đã phải có từ trước khi Thủy Tổ của Việt tộc -Vua Kinh Dương Vương lâp quốc tới nay là 4896 năm. Người Trung Quốc sau khi Tần Thủy Hoàng xâm chiếm và hủy hoại toàn bộ nước Văn Lang để thống nhất Trung Quốc, đốt sách và hủy hoại nền văn minh Lạc Việt nhằm viết lại lịch sử. Ông ta đã không lấy được đầy đủ học thuyết ADNH từ nền văn minh Lạc Việt nên sau đó hễ cứ lấy được mẩu nào thì gắn truyền thuyết vào mẩu đó mà không có tính hệ thống nên đã trở thành sự chắp vá, thậm trí gán cả vào các truyền thuyết mơ hồ. Cái nào tìm được trên khảo cổ hay văn bản cổ thì họ công bố luôn mà không cần tìm hiểu nguồn gốc trước đó, ví dụ như hệ thống toán học cổ và Lạc Thư-Hà Đồ. Cho nên Ông Cha ta mới tạo ra chuyện Sinh con rồi mới sinh cha,Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh Ông để nhắn nhủ cho thế hệ con cháu đi tìm sự mâu thuẫn trong nguồn gốc của học thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH của người Trung Hoa cũng như tìm lại Cội nguồn đích thực của học thuyết này.
  2. PHONG THỦY LẠC VIỆT ỨNG DỤNG TRONG KIẾN TRÚC XÂY DỰNG NHÀ RIÊNG CỦA HOÀNG TRIỆU HẢI Chuyện về Phong Thủy Lạc Việt và những người liên quan tới quan điểm Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt luôn là đề tài “nóng” khi được đưa lên các diễn đàn lý học. Thôi thì chuyện đúng sai, tin hay không tin cũng còn tùy vào cách nhìn nhận và đánh giá của mỗi một người nhưng riêng đối với bản thân tôi thì niềm tin đó là tuyệt đối. Đã đi qua một nửa cuộc đời với những trải nghiệm nhất định, tôi không có bất kỳ một sự băn khoăn nào khi ứng dụng Phong Thủy Lạc Việt (PTLV) và những lý thuyết học được từ Sư Phụ Thiên Sứ trong cuộc sống. Có lẽ sẽ hơi dài dòng khi viết lại một chút về duyên của tôi với PTLV bởi đây cũng là một cơ hội tôi muốn gửi tới Sư Phụ sự biết ơn của tôi đối với Thầy.Tôi đã từng theo học và nghiên cứu về Phong thủy Huyền không, Tứ Trụ, Bốc Dịch với người thầy đầu tiên tên là Chú Thần. Gọi là Chú nhưng cũng tuổi Chú đáng tuổi Ông Nội tôi. Thời gian đó tôi ứng dụng nhưng có rất nhiều điểm khúc mắc trong chuỗi lý thuyết mà lúc đó tôi chấp nhận nó bởi không thể lý giải. Tôi vốn xuất thân là dân kinh doanh và thời điểm liên tục từ những năm 2000 tới năm 2009 là những năm tháng khó khăn nhất, đen tối nhất của cuộc đời, khác xa với những gì mà khi năm tôi 18 tuổi, Tử vi của tôi xem theo cách thông thường là mạng Đại Khê Thủy, (nói vậy để phân biệt trong bài viết này với Tử vi Lạc Việt vì theo Tử Vi Lạc Việt, tôi là mệnh Sơn Hạ Hỏa) rằng tôi sẽ rất thành đạt. Tự đi tìm lời giải đáp, và cũng phải cám ơn “Anh Google”, tôi tìm và làm quen với Sư Phụ Thiên Sứ và Trung tâm NCLH Đông Phương. Ngày đầu tiên ấy, tôi cùng Sư Phụ và ACE trung tâm đi Đền Hùng, cũng là lần đầu tôi về viếng Quốc Tổ , Quốc Mẫu. Chỉ trong tuần đầu tiên đi cùng Sư Phụ, tôi đã có chìa khóa để mở rất nhiều cánh cửa có dấu hỏi, những cánh cửa bị khóa và tôi chấp nhận đi qua trong suốt quá trình nghiên cứu. Khi mà còn nhiều người còn băn khoăn về PTLV, họ sẽ luôn đặt câu hỏi “Nếu hệ thống lý thuyết của PTLV đúng, thì những Phong thủy gia của PTLV phải ứng dụng cho bản thân họ đúng trước đã” . Câu trả lời của PTLV là những ví dụ cụ thể: là Sư Phụ từ lúc khó khăn,nhà ở thuê thì nay đã có ngôi nhà to đẹp. Hoàng Triệu Hải tôi từ lúc phải ởchung, chật hẹp thì nay đã có một mảnh đất cắm dùi. Trong bài viết này, tôi cũng sẽ không đi sâu vào việc giải thích lý thuyết như trong bài của Sư Phụ viết về ngôi nhà của mình, cũng vì một phần tự thấy khả năng truyền đạt bằng viết rất kém, phần nữa là cũng không cần thiết viết lại những điều mà Sư Phụ đã viết rồi.Tôi chỉ nói về sự ứng dụng triệt để lý thuyết của PTLV vào ngôi nhà của mình. 1. Yếu tố Loan đầu: Mượn và modified lời bài hát “Chị Tôi” của nhạc sỹ Trần Tiến: “ Nhà tôi bên bến Sông, có cây cầu nằm ngay hông J “. Nằm bên phía trái của dòng chảy Sông Hồng cách cầu Long Biên 500m, theo lý thuyết Khí của PTLV là tụ khí kém hơn so với phía phải. Cửa chính của nhà quay ra mặt sông nên lợi về âm khí, sau lưng là đê Sông Hồng – “tiền Cái , hậu Đê” đã hội tụ đủ. Nằm trong đoạn cong và gần ngã ba sông Hồng-sông Đuống nên Khí ở đây rât vượng, đất đai màu mỡ tươi tốt.Trước mặt nhà là bãi giữa nhỏ, lúc nước lên cũng ngập trắng. Phía xa hơn là bãi giữa sông Hồng nên thôi thì nhà cũng được coi là có Án. Cuộc đất nhà tôi không khuyết lõm, bề ngang 11m, dài 22m , hướng chính Tây 270 độ, xây năm 2001. Có điểm bất lợi là nhà tôi nằm cuối cùng của ngõ và cổng chính nằm chính giữa Ngõ, nên xung sát khí khá mạnh. Nền sau một thời gian bắt đầu lún và thấp hơn so với mặt ngõ. Về mặt lý thuyết mà nói, nền nhà thấp hơn nền mặt ngõ là rất xấu nhưng trong trường hợp nhà tôi thì lại có lợi. Có lợi về khí bởi vì thẳng ngõ là cổng nhà. 2. Bát trạchLạc Việt, Hình lý khí và cấu trúc hình thể: Trên nền tảng lý thuyết Hà Đồphối Hậu Thiên Lạc Việt, Tốn-Khôn đổi chỗ, đổi độ số Đoài –Ly , luôn được tôi áp dụng trong Bát trạch và Huyền không. Điểm đầu tiên dễ nhận thấy,tôi bố trí hầm cầu tại Tây Nam, theo PTLV là cung Tốn và đặt bếp tại Đông Nam – là cung Khôn. Ngôi nhà này theo thiết kế cũ là bể phốt đặt ở hướng Bắc – cung Khảm và bể nước ngầm ở hướng Nam – cung Ly theo PTLV. Tôi đã đào toàn bộ nền nhà, lấp hầm cầu (bể phốt) và bể nước, trấn yểm theo phương pháp của PTLV, rồi xây mới bể phốt ngoài sân tại cung Tốn. Lẽ ra cũng vẫn có thể để nguyên vị trí bể phốt cũ hoặc đặt bể phốt mới ở cung Chấn, nhưng có hai lý do: - Thứ nhất: tôi muốn nhấn mạnh việc đổi vị trí Tốn-Khôn và việc tôi ứng dụng triệt để việc đổi chỗ này cho nhà của mình. - Thứ hai:Cung Chấn hay cung Khảm sẽ làm đứt trạch nhà, đứt mạch từ trường và không rõ ràng trong việc lựa chọn Tốn-Khôn. Một chi phí không nhỏ cho việc chuyển đổi bể phốt (hầm cầu) và Sư Phụ cũng khuyên tôi không nên phí tiền, cứ để nguyên tại vị trí cũ. Lần này thì tôi không nghe lời Sư Phụ bởi tôi muốn nói rằng, tôi đi khuyên người khác theo lý thuyết đổi chỗ Tốn-Khôn thì tôi là người đầu tiên phải làm theo đúng lý thuyết đó. Phân cung bát trạch mặt bằng móng nhà cũ Phân cung bát trạch mặt bằng nhà mới (Còn tiếp)
  3. ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT TRONG QUI HOẠCH KIẾN TRÚC KINH ĐÔ HUẾ Mạnh Đại Quân - Hoàng Triệu Hải. Giám đốc TTNC LHDP. Năm 1803 Hoàng đế Gia Long sau khi lên ngôi đã cho khảo sát địa thế và tiến hành xây dựng Kinh đô Huế cho triều đại kéo dài từ 1802 – 1945. Nhiều nhà Địa Sư nói Kinh đô Huế là “Vương đảo” quả cũng không sai, bởi Kinh thành Huế được bao bọc bởi dòng sông Hương phía trước và hai nhánh là sông Kim Long và sông Bạch Yến phía sau rồi cùng hội tụ tại hạ lưu. Kinh thành Huế được thiết kế và qui hoạch kiến trúc theo truyền thống hàng ngàn năm của người Việt. Kinh đô Huế được xây dựng trong suốt 30 năm – năm 1832 hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. Ngành Địa lý phong thủy của người Việt hay Trung Hoa, từ xa xưa vốn dĩ chỉ giành cho Vua Chúa, được lưu trữ và truyền lại trong Hoàng Tộc. Từ đời trước, khi Chúa Nguyễn từ Bắc vào “Đàng Trong”, đã mang theo di sản của cha ông từ “Đàng Ngoài”, và sau này Kinh thành Huế, là nơi được Hoàng Đế Gia Long áp dụng Địa lý cho qui hoạch kiến trúc cũng như Lăng mộ của chính mình. Tôi tin chắc chắn rằng: Vua Gia Long đã tiếp nối những tinh hoa của dân tộc Việt và truyền thừa những di sản của tổ tiên để lại. Và Ngài đã tiếp tục truyền lại cho đời sau, kiến thức từ công trình duy nhất còn tồn tại tới ngày hôm nay – Kinh đô Huế. Dưới góc nhìn Âm trạch thì lăng mộ của Hoàng Đế Gia Long cũng là một ẩn số, bởi cách Ngài bố trí và xây dựng khu lăng mộ này, để triều Nguyễn là Một trong những vương triều trị vị lâu nhất trong lịch sử Việt nam. Lăng mộ hiện nay, theo quan điểm riêng của tôi là mộ gió, tức là phần hài cốt được táng ở một nơi bí mật. Câu chuyện bắt đầu từ ngày tôi được đọc bài viết về Địa lý phong thủy Lăng Mộ của Hoàng Đế Gia Long. Nó cuốn hút tôi bởi những bí ẩn, mà những người theo đuổi bộ môn này đều muốn khám phá. Tôi ước sớm có thể quay trở lại Huế chỉ với một mục đích: Tìm hiểu về ứng dụng Địa lý của người Việt, vẫn còn được lưu lại trên Kinh đô Huế. Thật nhanh chóng chỉ sau đó 1 tuần, cơ duyên cho tôi được toại nguyện. Với sự giúp đỡ của những nhà nghiên cứu tại Huế, tôi được nghe kể và đưa tới những địa điểm mang dấu ấn của Hoàng Đế Gia Long: Lăng Mộ, Đàn tế Nam giao, Đại Nội. Tôi được quay lại các địa điểm Lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, Lăng Khải Định, đồi Vọng Cảnh và mỗi một nơi tôi đều được kể về lịch sử cũng như các câu chuyện của những nhà nghiên cứu văn hóa Huế. Nhìn bản đồ và hình ảnh từ vệ tinh của Kinh đô Huế, chúng ta cũng chưa nhận ra hết được sự đặc biệt của kiến trúc và qui hoạch, dưới góc nhìn Địa lý phong thủy. Phải nói rằng, Kinh đô Huế đã mang lại cho tôi hết bất ngờ này tới bất ngờ khác, liên quan đến sự huyền vĩ của nền văn hiến Việt cho chuyên ngành Địa Lý phong thủy. Hướng của Kinh đô Huế được xác định là hướng của Đại Nội, nơi được coi là trung tâm đầu não của Kinh đô Huế. Hướng của cổng Ngọ Môn và Đại Nội là 142 độ: Tức tọa phương Càn, hướng phương Khôn (theo Lý học Lạc Việt đổi chỗ Tốn/ Tây nam – Khôn đông nam), với nguyên lý căn để là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ', do nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Thiên Sứ phát hiện và làm cơ sở cho việc chứng minh cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương. Mô tả chính xác là Đại Nội Huế tọa Hợi (Tây Bắc), Hướng Tỵ (Đông Nam), kiêm hướng 4 độ. Bản đồ của người Pháp vẽ đầu thế kỷ thứ 19 cũng mô tả chính xác hướng trục Bắc - Nam theo đúng hướng Bắc của la kinh Toàn bộ Kinh thành Huế, được xây dựng mô tả theo 24 Sơn và Thủy pháp cực kì chuẩn và được mô tả trong hình dưới đây. Sau khi phân cung, chúng ta sẽ dễ hiểu vì sao tường hào bao quanh Kinh thành lại có những góc nhô ra và lượn vào như vậy. Và vì sao, lại có khu Mang Cá, khu vực được thiết kế như chiếc Vương Miện của Hoàng Đế. Kinh đô Huế được sử dụng Địa lý phong thủy Tam hợp , trong đó lấy trục Tây Bắc-Đông Nam là trục Đế Vương. Xin được bạn đọc quan tâm lưu ý rằng: Chỉ có Địa lý Lạc Việt, sau khi đổi chỗ Tốn - Khôn với nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" thì mới có hai trục được gọi là Phúc Đức, Bao gồm trục Bắc-Nam và Tây Bắc – Đông Nam. Trong Địa Lý phong thủy Tàu, chỉ có duy nhất một trục Bắc (Khảm)/ Nam (Ly) là Phúc Đức trạch; Còn trục Đông Bắc (Cấn) / Tây Nam - Theo Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư là Khôn - chỉ là Sinh Khí trạch. Trên cơ sở đó, toàn bộ các căn nhà bên trong kinh thành sẽ được lấy theo hướng Trường Sinh của Tứ Đại Cục: Kim – Mộc - Thủy - Hỏa là các sơn Dần - Thân - Tị - Hợi , Cấn - Khôn -Tốn - Càn. Toàn bộ kinh thành là Thủy Cục và Thủy pháp là hệ thống Sông, Hồ nhân tạo cực kỳ chuẩn xác. Chúng ta dễ dàng nhận thấy: khi phân cung và định vị theo Địa Lý Lạc Việt, việc thiết kế khu vực Mang Cá chính là nơi toàn bộ nước được hội tụ về đây, trước khi chảy thoát ra ở phương SUY . Phần sông Ngự Hà chạy thành nửa hình chữ nhật , toàn bộ nằm trong khu Trường Sinh và Đế Vượng , thoát ra ở Suy – Bệnh. Tôi sử dụng phần mềm phân cung - và nếu theo lý thuyết phong thủy từ cổ thư chữ Hán, thì việc bố trí ta thấy đã nằm ngoài thủy pháp trường sinh của Kinh đô Huế. Khi đã sai lệch - giữa Địa Lý Phong Thủy Việt và sách Địa Lý Phong thủy Hán - thì không thể trấn yểm để phá hoại! Quả thật quá cao siêu! Đoạn sau đây, trích từ bài để bạn đọc tham khảo: Toàn bộ hệ thống hồ nước, sông được đào khi xây dựng Kinh thành Huế, đều được bố trí rất chuẩn xác tại các Sơn theo bố cục Loan Đầu tự nhiên của Huế. Bí ẩn ở chỗ, rất nhiều hồ được đặt đủ vào các sơn Canh- Dậu-Tân, Tuất-Càn- Hợi, Nhâm- Tí- Quí. Hình dưới đây được mô tả theo Địa Lý phong thủy Tàu, phân cung và lấy Trường Sinh theo phương pháp từ cổ thư chữ Hán, là tọa Càn, hướng Tốn (Đông Nam - theo "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư" , tứ cổ thư chữ Han). Các bạn cũng thấy sự sai lệch giữa Thủy Pháp Việt và sách Hán. Hình dưới đây. mô tà sự trùng hợp giữa Cung điện mang tên "Trường Sinh" trong Đại Nội, cũng chính là vị trí Trường Sinh của kinh Đô Huế. Hình mô tả trong Đại Nội có cung Trường Sanh, đó chính là vị trí Trường Sinh của Kinh Đô Huế. Tôi không có đủ thời gian để khảo sát dòng chảy các con sông quanh Kinh thành Huế. Nhưng theo bố cục này thì tôi có nhận định dòng chảy như sau: Tôi mong rằng sẽ có người nghiên cứu dòng chảy của Huế xác nhận thông tin này. Từ những thông tin tìm được từ Kinh thành Huế , tôi xác định rằng: nơi đây chính là di sản bảo tồn những lý thuyết và phương pháp Địa lý phong thủy của dân tộc Việt. (Địa Lý Lạc Việt). Và cũng là nơi xác định tính chính xác của của nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" (đổi chỗ Tốn-Khôn). Khả năng rất cao là phương pháp này, cũng đã được áp dụng cho phong thủy của Tử Cấm Thành - công trình do Ông Nguyễn An người Việt thiết kế xây dựng. (còn tiếp) Hà Nội mùng 10 tháng 3 năm Mậu Tuất -Việt Lịch
  4. hoả hoạn Http://m.soha.vn/he-lo-nguyen-nhan-chay-chung-cu-carina-lam-13-nguoi-chet-20180328072039921.htm
  5. TỔNG QUAN NĂM MẬU TUẤT 2018 Kính thưa Quí Vị, Tiếp nối truyền thống của Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương mà khởi sướng là nhà Nghiên Cứu : Nguyễn Vũ Tuấn Anh –Chủ tịch hội đồng khoa học Trung Tâm , nguyên Giám Đốc Trung Tâm, hàng năm cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về đều có những bài dự báo tổng quan cho năm mới dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và nền tảng nguyên lý “Hà Đồi phối hậu Thiên Lạc Việt”. Phương pháp dự báo sử dụng của Chúng tôi bao gồm Huyền Không Phi Tinh thuận-nghịch cùng phối hợp quẻ Lạc Việt Độn Toán và đây cũng sẽ luôn là phương pháp xuyên suốt cho tất cả các dự báo của Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương . Quẻ Chủ : ĐỖ - TIỂU CÁT (ngày mùng 1 tháng Giêng năm Mậu Tuất) Quẻ Độn: Cảnh - Xích Khẩu Huyền không lạc việt phi tinh: Cử Tử nhập trung cung. Thiên Can Mậu- Thổ bình hòa Địa chi Tuất –Thổ Lạc thư hoa giáp : Vận khí Bình Địa Mộc Quẻ chủ Đỗ - Tiểu Cát : Tượng trưng của sự phát triển và thành công trong lĩnh vực văn hóa, kết nối, Dựa trên sơ đồ phân cung của Địa Lý Lạc Việt phối hợp Lượng thiên Xích trên nền tảng Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài 9 – Ly 7, chúng ta xem xét trên từng khu vực -Cửu Tử nhập trung: Sao Hữu Bật Cửu Tử - 9 theo Huyền không đại quái là Lệnh Tinh, theo Huyền Không phi tinh là tiến Khí chính Thần – ngũ hành thuộc Kim (khác với HKPT truyền thống thì ngũ hành của Cửu tử 9 thuộc Hỏa). Đây chính là sự cát lợi bởi được hỗ trợ từ Thiên can và Địa chi cho dù khắc vận khí Mộc. -Tả Phù Bát bạch 8 đáo cung Tốn - Tây Nam : là Sao đương lệnh (theo HKPT) theo số Hà Đồ thuộc hành Mộc. Cho dù là cát tinh nhưng nằm tại cung Tốn thuộc Kim (Huyền không Lạc Việt) nên cũng giảm đi rất nhiều sự cát lợi của sao này. -Phá Quân Thất xích 7 đáo cung Chấn: là sao thoái khí nhưng vẫn được coi là cát tinh trong vận 8.Được hỗ trợ cung Chấn Mộc lại càng gia tang thuộc tính Hỏa của nó. -Vũ Khúc Lục bạch 6 đáo cung Khôn –Đông Nam: là sao suy khí trong vận 8 lại bị cung Khôn thuộc Hỏa khắc nên đây là tổ hợp chiêu hung. -Ngũ hoàng 5 đáo cung Khảm- Bắc: đây là chủ của Hung sự trong năm tại phương Bắc. -Văn khúc Tứ lục 4 đáo cung Đoài: Là sao tử khí trong vận 8 lại được hỗ trợ từ cung Đoài thuộc kim nên sao này sẽ phát huy hết tính chất xấu của nó. Tuy nhiên, do cửu tử 9 nhập trung nên nhờ cát khí của trung cung mà hạn chế phần nào tác hại gây ra từ sao này cũng như tăng thêm cát khí cho cung Đoài. -Lộc tồn Tam Bích 3 đáo cung Cấn: là sao tử khí trong vận 8 lại là một cặp âm dương với cung Cấn. Đây cũng sẽ là cách cục chiêu hung của sao tam bích tại phương này. -Cự môn Nhị hắc 2 đáo cung Ly: Là sao tử khí trong vận 8, ngũ hành thuộc âm hỏa đới thổ đáo cung Ly dương hỏa. Một cặp âm dương là cách cục chiêu hung của Nhị hắc -Liêm trinh Nhất bạch 1 đáo cung Càn: là sao tiến khí trong vận 8, ngũ hành Thủy đáo cung Càn nên đây là cách cục Cát lợi cho phương Càn. Từ những hạng mục cát hung của từng phương, tôi xin đưa ra các nhận định tổng quan như sau: 1. Kinh tế Đặc trưng của năm Mậu Tuất chính là sự phát triển và phục hồi cho các nền Kinh tế. Các ngành nghề như ngân hàng, kinh doanh bất động sản, kim loại quí, chứng khoán, tiền ảo sẽ là một năm khởi sắc. Sắt và kim loại sẽ tăng giá trị, do đó cũng rất phù hợp với việc BĐS sẽ tăng tốc . Tuy nhiên cần hết sức thận trọng bởi tiềm ẩn khá nhiều rủi ro khi mà xung Thái tuế thêm với sao Lục Bạch ở phương Khôn – đại diện cho Tiền Tài. Sao Lục Bạch chủ về tiền bạc thất bại, hao tổn, hình ngục do tiền bạc gây ra, trộm cướp. Do đó các Tiệm Vàng , Ngân Hàng cần hết sức đề phòng nâng cao cảnh giác với các vụ trộm cướp. Các nghành nghề như Cầm Đồ hoặc cho vay lãi ngày cần đề phòng dễ mất mát vì do quá ham lợi nhuận. 2. Nông nghiệp: Nghành chăn nuôi đặc biệt như Trâu , Bò, Lợn, Cá lại cần hết sức cẩn trọng do bệnh tật, do tranh chấp thương mại hoặc chính sách nhập khẩu của đối tác đối với các mặt hàng xuất khẩu như Cá, Lợn. 3. Văn hóa: Sẽ là một năm phát triển và nhiều thành tựu đối với ngành văn hóa. Bên cạnh đó cũng sẽ có nhiều vụ scandan liên quan tới nghành Văn hóa nói chung. 4. Chính sách: Đây là năm có nhiều cơ hội thuận lợi cho các nhà Lãnh đạo ra những quyết sách, chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chúng ta sẽ đón nhận những chính sách rất tốt để phát triển cũng như giải quyết những bế tắc tồn đọng. Cho dù kết quả cuối cùng sẽ còn nhiều bàn cãi nhưng tựu chung vẫn là những bước tiến đáng ghi nhận. 5. Ngoại giao: Là năm rất dễ xảy ra xung đột vào các tháng 3-6-9-12 âm lịch, do đó cần có những cái đầu lạnh của các nhà lãnh đạo cho một nền hòa bình toàn cầu. 6. Thiên tai : Chúng ta đã trải qua một năm 2017 với lũ lụt và bão tố hoành hành , như tôi đã dự báo trong bài Tổng quan 2017. Năm nay lũ lụt sẽ giảm đi rất nhiều nhưng vẫn có, tuy nhiên mức độ nhỏ và dễ dàng đối phó . Năm nay thiên tai và tai họa lại là từ Hỏa hoạn, do đó việc phòng cháy chữa cháy cần đặt lên hàng đầu. 7. Nhân họa , tai nạn: Cướp bóc mang tính hung tợn lại gia tăng, các cửa hàng kinh doanh Vàng bạc và Ngân hàng cần hêt sức đề phòng cảnh giác. Tai nạn giao thông mang tính thảm khốc khi số lượng người chết gia tăng trên các trục đường chính Bắc – Nam. Cháy nổ tuy ít nhưng mức độ thiệt hại gia tăng, thủy tai tuy giảm so với năm 2017 nhưng cũng vẫn là những thiệt hại nặng nề do bão lũ. 8. Bệnh tật: Các bệnh liên quan tới Máu huyết, dịch sốt xuất Huyết sẽ lại xảy ra ở phía Bắc và Nam với mức độ cao hơn năm ngoái. Các loại bệnh khác cần lưu tâm liên quan tới Thận, Tiêu Hóa. Trên đây là các cái nhìn tổng quan cho năm Mậu Tuất 2018 của Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải). Tết đến Xuân sang, xin kính chúc quí vị một năm mới An Khang-Thịnh Vượng và thật nhiều Sức khỏe-Hạnh Phúc. Hà nội tháng 1 năm Mậu Tuất 2018 Việt lịch Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  6. Cá tra vướng vào tăng thuế , lại chuẩn bị kiện tụng http://m.cafef.vn/ca-tra-bi-ap-thue-cbpg-cao-ky-luc-mot-cach-vo-ly-viet-nam-se-kien-len-toa-an-thuong-mai-quoc-te-my-20180320214522861.chn
  7. http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/kinh-doanh/2018-03-15/gia-thep-xay-dung-tang-manh-54904.aspx giá thép tăng mạnh đầu Năm 2018
  8. Các vụ tai nạn nghiêm trọng trên tuyết đường Bắc - Nam http://m.nguoiduatin.vn/xe-cuu-hoa-va-cham-xe-khach-cao-toc-phap-van-cau-gie-un-tac--a362778.html
  9. Các vụ cướp tiệm vàng, ngân hàng sẽ gia tăng, cần đề phòng http://m.soha.vn/tao-ton-dung-bua-dap-tu-cuop-tiem-vang-tai-binh-duong-20180204225257789.htm
  10. CHỌN NGÀY TỐT Năm 2018 –Mậu Tuất -Vận khí Bình Địa Mộc PHƯƠNG PHÁP: Phương pháp chọn ngày tốt xấu được lưu truyền từ hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc Việt nam là rất đa dạng. Chúng tôi sử dụng phương pháp loại trừ, tức là dùng tất cả các phương pháp chọn ngày giờ theo phong tục cổ truyền để chọn ra một ngày được coi là tốt nhất sau khi loại ra những ngày xấu dựa trên các phương pháp này. Các phương pháp Cổ bao gồm các phương pháp: ü Sinh khắc của Can Chi ü Nhị thập bát tú ü 12 Chỉ Trực ü Hoàng Đạo – Hắc Đạo ü Sát chủ, Thọ tử, Dương Công Kị Nhật, Tam nương, Nguyệt kị, Vãng vong, Thiên Tai-Địa Họa Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Đinh Dậu và chào đón năm mới Mậu Tuất 2018. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được gìn giữ . Phong tục truyền thống bao gồm ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, đón Lành tránh Dữ. Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải) đề xuất về các ngày gọi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo.Dùng cho năm Mậu Tuất, vận khí (mệnh tuổi) Bình Địa Mộc theo Lạc Thư Hoa Giáp. Tất Niên: Đây là một nghi thức tổng kết và ghi nhận những thành quả sau 365 ngày lao động sản xuất của Gia Đình và Dòng Tộc. Thông thường sẽ diễn ra vào các ngày 29 và 30 tháng Chạp với một nghi lễ Cúng Thần Linh và Gia Tiên. Đối với Công Ty và Nhà máy thì việc tổ chức ngày Tất niên cần diễn ra sớm hơn do đó những ngày tốt theo Việt lịch hợp với lễ Tất Niên, ngày đánh dấu * là ngày Hoàng Đạo. v Ngày 20 * tháng Chạp: Giờ tốt 7-9h ; 11-13h v Ngày 23* tháng Chạp: Giờ tốt 15-17h v Ngày 26* tháng Chạp: Giờ tốt 9-11h v Ngày 29* tháng Chạp: Giờ tốt 7-9h; 15-17h Ngày Xuất hành, Mở hàng: Ngày xuất hành là ngày đi xa để làm việc hay thực hiện việc quan trong chứ không phải là đêm 30 tết hay sáng mùng 1. Tuy nhiên theo phong tục thì ngày mùng 1 tết là ngày xuất hành để chúc tết và tới Chùa cầu An, nên sẽ có khung giờ tốt . v Ngày mùng 1 tết năm nay là ngày Tiểu cát nên chúng ta có thể ra khỏi nhà để đi xông đất hoặc Lễ Chùa từ khung giờ 23-1.00; 11-13h; 15-17h Thời gian quay lại làm việc là sau mùng 3 tết, cho nên ngày xuất hành tốt nhất là ngày: v Mùng 5 tháng Giêng: giờ tốt 7-9h ( trường hợp này là ngày Nguyệt kị nhưng do tính chất bắt buộc – vì là ngày nghỉ cuối cùng nên dùng ngày mùng 5 tốt hơn mùng 6) v Ngày 16 tháng Giêng: giờ tốt 9-11h; 17-19h. Ngày Tốt Khai Trương ,Mở hàng: v Mùng 2* tháng Giêng: 9-11h; 13-15h v Mùng 4 tháng Giêng: 9-11h; 17-19h v Ngày 16 tháng Giêng: giờ tốt 9-11h; 17-19h. Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Tây Nam Tuổi xông đất: Kỷ Hợi 1959 , Quí Hợi 1983, Kỷ Tỵ 1989. Hướng Tốt Để Động Thổ: phương vị động thổ cho năm 2017 là tại hướng Tây Nam: 202,5 độ- 247,5 độ . NGÀY GIỜ TỐT NĂM MẬU TUẤT 2018 Là những ngày Tốt dùng để Động thổ, khai trương, xuất hành, cưới hỏi và những việc quan trọng Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau: Lưu ý: Các ngày có đánh dấu (*) là ngày Hoàng Đạo 1. Tháng Giêng(kỵ giờ Dần 3-5h): v Mùng 2* tháng Giêng: 9-11h; 13-15h v Ngày 16 tháng Giêng: giờ tốt 9-11h; 17-19h. v Ngày 20 tháng Giêng: giờ tốt 5-7h, 9-11h. v Ngày 29* tháng Giêng: giờ tốt 7-9h, 15-17h 2. Tháng Hai (kỵ giờ Tỵ 9-11h): v Ngày 8* tháng Hai: 7-9h; 11-13h; 15-17h v Ngày 10 tháng Hai: giờ tốt 7-9h ;11-13h v Ngày 12 tháng Hai: giờ tốt 7-9h, 19-21h. v Ngày 20* tháng Hai: giờ tốt 7-9h, 19-21h v Ngày 21* tháng Hai: giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h v Ngày 24 tháng Hai: giờ tốt 7-9h; 11-13h; 15-17h v Ngày 25 tháng Hai: giờ tốt 3-5h; 15-17h 3. Tháng Ba (kỵ giờ Thân 15-17h): v Ngày 4* Tháng Ba: 5-7h; 13-15h; v Ngày 10* Tháng Ba: giờ tốt 7-9h ;11-13h v Ngày 15* Tháng Ba: giờ tốt 11-13h, 15-17h. v Ngày 16* Tháng Ba: giờ tốt 9-11h, 13-15h v Ngày 28 Tháng Ba giờ tốt 5-7h; 13-15h; 17-19h 4. Tháng Tư kỵ giờ Thìn (7-9h): v Ngày 1* Tháng Tư: 5-7h; 9-11h. v Ngày 12* Tháng Tư: 15-17h; 19-21h. v Ngày 19* Tháng Tư: 5-7h; 13-15h; 17-19h v Ngày 25 Tháng Tư: : 5-7h ; 9-11h 5. Tháng Năm kỵ giờ Dậu(17-19h): 1 2 6 9 17 21 25 26 29 v Ngày 01* Tháng Năm: 7-9h; 15-17h. v Ngày 06* Tháng Năm: 5-7h; 9-11h; v Ngày 21* Tháng Năm: 11-13h; 15-17h v Ngày 26* Tháng Năm: 5-7h; 13-15h v Ngày 29* Tháng Năm: 7-9h; 15-17h 6. Tháng Sáu kỵ giờ Mão (5-7h): v Ngày 08 Tháng Sáu: 7-9h; 15-17h; 19-21h v Ngày 09* Tháng Sáu: 13-15h; 17-19h v Ngày 15* Tháng Sáu: 9-11h; 17-19h v Ngày 21*Tháng Sáu: 9-11h; 13-15h v Ngày 24*Tháng Sáu: 15-17h; 17-19h 7. Tháng Bảy kỵ giờ Dần (3-5h): v Ngày 06* Tháng Bảy: 5-7h; 17-19h v Ngày 10 Tháng Bảy: 9-11h; 13-15h; 17-19h v Ngày 12* Tháng Bảy: 9-11h v Ngày 24* Tháng Bảy: 5-7h ; 17-19h v Ngày 30* Tháng Bảy: 5-7h ; 17-19h 8. Tháng Tám kỵ giờ Tỵ (9-11h):1 4 6 8 11 12 15 16 20 24 25 26 28 v Ngày 01 Tháng Tám: 13-15h ; 17-19h v Ngày 06 Tháng Tám: 7-9h; 15-17h; 19-21h v Ngày 12* Tháng Tám: 7-9h ; 11-13h v Ngày 15 * Tháng Tám: 5-7h ; 13-15h; 17-19h; 21-23h v Ngày 24 Tháng Tám: 11-13h ; 15-17h ; 19-21h v Ngày 25 Tháng Tám: 9-11h ; 13-15h; 17-19h 9. Tháng Chín kỵ giờ Thân (15-17h): 1 2 8 10 11 20 26 29 v Ngày 01 Tháng Chín: 7-9 ; 11-13h v Ngày 02* Tháng Chín: 5-7h; 9-11h ; 13-15h v Ngày 08* Tháng Chín: 9-11h ; 13-15h; 17-19h v Ngày 20* Tháng Chín: 5-7h; 9-11h ; 17-19h v Ngày 29* Tháng Chín: 7-9h; 19-21h 10. Tháng Mười kỵ giờ Thìn (7-9h): v Ngày 08* Tháng Mười: 15-17h v Ngày 10* Tháng Mười: 19-21h v Ngày 20*Tháng Mười: 15-17h; 19-21h v Ngày 21 Tháng Mười: 5-7h; 13-15h; 17-19h 11. Tháng Một (11) kỵ giờ Dậu (17-19h): v Ngày 02 Tháng Một (11): 9-11h v Ngày 04* Tháng Một (11): 5-7h; 13-15h v Ngày 16* Tháng Một (11): 9-11h; 13-15h v Ngày 20 Tháng Một (11): 5-7h; 13-15h v Ngày 26 Tháng Một (11): 9-11h v Ngày 28* Tháng Một (11): 5-7h; 13-15h; 21-23h 12. Tháng Chạp (12) kỵ giờ Mão(5-7h): v Ngày 09* Tháng Chạp (12): 5-7h; 9-11h; 17-19h v Ngày 12* Tháng Chạp (12): 15-17h; 19-21h v Ngày 15* Tháng Chạp (12): 9-11h; 13-15h v Ngày 21* Tháng Chạp (12): 9-11h; 17-19h v Ngày 25* Tháng Chạp (12): 7-9h; 19-21h v Ngày 30* Tháng Chạp (12): 7-9h; 11-13h; 15-17h CHÚC MỪNG NĂM MỚI, CHÚC QUÍ VỊ MỘT NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG Hà nội tháng 12 năm Đinh Dậu Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  11. THANH LONG – BẠCH HỔ TỨ TƯỢNG (Tứ THÚ) HUYỀN VŨ-CHU TƯỚC ; TRONG ĐỊA LÝ PHONG THỦY Bộ môn Địa Lý Phong Thủy có gốc rễ từ học thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH, và tất nhiên mọi yếu tố trong Địa lý đều tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc của học thuyết này. Tứ Tượng hay tứ thánh thú là một khái niệm hình tượng trong Lý học Đông Phương. Huyền Vũ của phương Bắc, Thanh Long của phương Đông, Bạch Hổ của phương Tây và Chu Tước của phương Nam. Tuy nhiên, cách định nghĩa về tứ tượng hiện nay đều không mang tính hệ thống và từ đó chúng ta không thể có được một sự thống nhất trong ứng dụng của các yếu tố cơ bản này. Nhân sự việc tôi có xem một video trên youtube của một vị chuyên gia phong thủy bên Mỹ, ông ta cho rằng yếu tố Thanh Long – Bạch Hổ trong Âm trạch (mồ mả) khác với Dương Trạch (nhà ở) tức là Âm trạch thì Tả Thanh Long tức bên trái quan tài xác định theo đầu người đã khuất, Nhưng dương trạch là nhà ở thì phải đứng từ ngoài nhìn vào nhà, thì bên tay trái là Thanh Long, bên phải là Bạch Hổ. Từ đây cho chúng ta thấy một điều, các lập luận kiểu như thế này thể hiện một sự sai lầm khi không hiểu bản chất cốt lõi trong mô hình biểu kiến này. 1. Định nghĩa và cách hiểu hiện nay Định nghĩa hiện nay đa phần được hiểu các yếu tố này như sau: “Hình thế núi cao ba bề gợi cho ta nhớ tới một chiếc “ghế bành”, biểu tượng của cuộc sống tiện nghi. Thế đất Tứ Tượng bao gồm: - Huyền Vũ (rùa đen) là trái núi phía sau ngôi nhà, lý tưởng nhất là nằm ở phương Bắc. - Thanh Long (rồng xanh) là ngọn đồi phía tay trái ngôi nhà, tốt nhất là nằm ở phương Đông. - Bạch Hổ (hổ trắng) là ngọn đồi phía tay phải ngôi nhà, nó phải thấp hơn đồi Thanh Long bên trái và núi Huyền Vũ sau nhà. - Chu Tước (chim sẻ đỏ) là gò đồi nhỏ trước mặt nhà, lý tưởng nhất là ở phương Nam.” Việc qui định các yếu tố tứ tượng hay tứ thú này trong Địa Lý Phong Thủy theo định nghĩa như trên là sự áp đặt dẫn tới việc thiếu tính chặt chẽ và hiểu sai lệch. Ví dụ như nếu nhà hướng Tây thì tức là không xác định được các yếu tố còn lại bởi định danh hướng - Chu tước do Chu tước định danh là hướng Nam và tọa sơn là Huyền Vũ. Với cách hiểu thế này thì chỉ có ngôi nhà có hướng Nam thì mới hợp các yếu tố Địa Lý ? điều này hoàn toàn vô lý. 2.Đi tìm định danh Tứ Thú hay Tứ Tượng Biểu tượng tứ thú trong Địa Lý dùng để mô tả tính âm dương : Trước-Sau, Phải-Trái , xuất phát từ mô hình chuẩn được nền văn minh Cổ Xưa xây dựng nên. Trong Địa Lý Lạc Việt, nguyên tắc Âm Dương là : Dương trước – Âm Sau, Dương thấp- Âm Cao, Dương tả-Âm hữu, Nam tả-Nữ hữu, Nam nghịch-Nữ Thuận. a. Huyền Vũ bản chất không liên quan tới tên của loài Rùa nhưng vì sao lại lấy hình tượng loài Rùa cho yếu tố Huyền Vũ ? và trong ĐLPT thì Huyền Vũ lại được coi là Sơn ? “Con rùa chính là biểu tượng của nền văn hiến Việt ở thời sơ khai: "Vào thời vua Nghiêu, có sứ giả Việt Thường dâng con rùa lớn. Trên lưng có khắc văn Khoa Đầu, ghi việc trời đất mở mang". Hình tượng chim Hạc (Lạc) đứng trên lưng rùa chầu tiên thánh, cũng là một biểu tượng khác xác định giá trị của nền văn minh Lạc Việt. Sự xác định Huyền Vũ chính là thực tại vũ trụ thì đối xứng với Huyền Vũ phương Bắc, chính là sự nhận thức của văn hóa, tri thức: Phượng hoàng lửa phương Nam. “ Trích dẫn: Thầy Thiên Sứ -Nguyễn Vũ Tuấn Anh Sơn hay điểm tựa vững chắc,, chính là sự nhận thức văn hóa và tri thức, và vì thế được coi là yếu tố phía sau- Thuộc ÂM. Lạnh và tối ở phương Bắc trái với nóng và Sáng ở phương Nam, Tri thức và văn hóa thuộc về phương Bắc , vậy nên mô hình biểu kiến Huyền Vũ thuộc phương Bắc và Trong đồ hình Tiên Thiên , quẻ khôn được xếp vào phương Bắc – Khôn-Lạnh thuộc Âm – phía Sau. Tất nhiên, mô hình biểu kiến Huyền Vũ ở phương Bắc nhưng không có nghĩa là Phương Bắc nhất định là yếu tố Huyền Vũ. Huyền Vũ thuộc Âm- Nhô cao - là Sơn . b. Chu tước: lấy tượng là chim Tước Đỏ. là Nóng – Sáng Đối với phương Bắc Lạnh- tối, đại diện là Phương Nam – thuộc Dương. Tiên thiên quái Càn- Dương được xếp ở phương Nam. Đây là yếu tố Hướng trong ĐLPT bởi Dương trước – thấp. Trong ĐLPT thì Thấp trũng là hình tượng của Thủy – tụ. Chính vì thế, yếu tố Thủy không phài là nước và Sơn không phải là núi. Hai yếu tố này là cùng cặp DƯƠNG -ÂM : TRƯỚC-SAU, THẤP-CAO. Vì vậy tính chất của cặp Âm Dương này là : phía trước thuộc DƯƠNG là Thấp hơn, là phía Trước, là Sáng sủa đối với nó là phía Sau, là Cao hơn, là tối. c. Thanh Long : lấy tượng là rồng Xanh và tất nhiên Rồng không có thật.Tuy nhiên, Rồng là biểu tượng sức mạnh, là Dương, là linh vật tạo ra mưa , nước. Trên mô hình biểu kiến nếu đứng tựa lưng vào phía Bắc, hướng về phương Nam thì bên Trái là Biển cả ,là nơi Rồng ẩn náu. Dương bên Trái, thấp hơn so với bên Phải, và đó chính là vì sao tiên thiên lại xếp quái Ly-Hỏa ở phương Đông. d. Bạch Hổ: lấy tượng là Hổ trắng, mà trong tự nhiên Hổ nương náu trên núi rừng. Trên mô hình biểu kiến nếu đứng tựa lưng vào phía Bắc hướng về phương Nam , bên Trái là Biển cả thì bên phải là núi rừng. Núi cao hơn –thuộc Âm- Bên Phải . Trong Tiên Thiên quái Khảm được xếp ở phương Tây. Cặp Dương – Âm : Trái – Phải, Thấp –Cao không có nghĩa theo mô hình biểu kiến là con Hổ, con Rồng, hướng Đông-Tây hay nước và núi mà tính chất của nó chính là: Bên Phải thuộc Âm cao hơn bên Trái thuộc Dương. Qui các yếu tố về các cặp Âm-Dương, chúng ta có thể áp dụng vào mọi trường hợp trong Địa Lý Phong Thủy mà không cần chấp vào biểu tượng hay mô hình biểu kiến. Đây là chính là lý thuyết nền tảng của Địa Lý Lạc Việt, một bộ môn ứng dụng từ học Thuyết Âm Dương Ngũ Hành của nền Văn Vinh Lạc Việt 5000 năm một thời rực rỡ huy hoàng phía Nam sông Dương Tử. Hà nội Tháng một năm Mậu Tuất tức tháng 12 năm 2017 Mạnh Đại Quân (tức Hoàng Triệu Hải)
  12. Thay mặt Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương xin trân trọng thông báo Kể từ ngày4-7-2017, Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương chính thức thay đổi địa chỉ văn phòng Trung Tâm . Điều lệ hoạt động , tên và lĩnh vực hoạt động đăng ký với Bộ Khoa Học Công Nghệ là không thay đổi. Thay mặt Trung Tâm Mạnh Đại Quân
  13. ĐI TÌM NGUỒN GỐC PHONG THỦY Trước tiên chúng ta đi tìm dấu vết lịch sử của bộ môn Địa lý mà hiện nay chúng ta vẫn gọi là Phong Thủy ở các nền văn minh khác. Theo quan điểm thống nhất từ TTNC Lý học Đông Phương mà đứng đầu là giám đốc TT - Ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh - nich Thiên Sứ đều xác định rằng: các bộ môn ứng dụng từ lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà chúng ta đang có hiện nay thuộc về một nền văn minh đã từng tồn tại và đã bị phá hủy.Người Việt với nền văn minh Lạc Việt gần 5000 năm phía Nam sông Dương Tử là dân tộc thừa hưởng và nắm giữ toàn bộ lý thuyết này. Tôi cố gắng đi tìm lại chứng cứ còn tồn tại để chứng minh một điều : Người Trung Quốc không phải là người tạo ra học thuyêt Âm Dương Ngũ Hành cùng các bộ môn ứng dụng như Địa Lý, Tử vi, Kinh Dịch... Cần khẳng định một điều rằng nếu từ PHONG THỦY - Fengshui mà hiện tại chúng ta đang sử dụng để mô tả bộ môn Địa Lý thì từ Phong thủy chỉ mới xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng 20 năm trở lại đây . Trong nền văn hóa của Việt Nam, từ xa xưa chúng ta đã dùng từ Địa Lý để nói tới bộ môn khoa học cổ trong thiết kế và xây dựng nhà cửa. Nếu tra cứu trên thư viện mở, chúng ta có thể thấy bộ môn Địa Lý mà chúng ta quen gọi là Phong Thủy đã xuất hiện trên trái đất từ khoảng ít nhất 6000 năm TCN qua các di tích và tài liệu bảo tồn tại ở Ấn Độ. Từ Fengshui tức là Phong Thủy được người người truyền giáo Tây Âu đặt ra thay cho từ Địa Lý vào khoảng thế kỷ thứ 19 khi họ tới Trung Quốc. Sở dĩ họ đặt tên như vậy là vì họ nhìn hình thức của các Pháp sư hay Linh mục bản đia vận dụng phương pháp của môn Địa Lý thường lựa chọn hướng của các dòng chảy, hướng của nguồn năng lượng dựa trên vị trí, địa điểm, địa thế, hình thể của sông núi hay các công trình xây dựng và khu đất. Do công việc này được thực hiện nhiều từ các Pháp sư địa phương nên những người Châu ÂU cho rằng bộ môn Phong Thủy có xuất phát từ Đạo giáo và cộng đồng khoa học cho rằng bộ môn Phong Thủy là giả khoa học cho dù nó là bộ môn nghiên cứu và thiết kế các công trình hướng tới sự cân bằng giữa con Người và Trái Đất. Thời gian gần đây, từ Phong Thủy được chấp nhận sử dụng rộng rãi thay thế từ Địa Lý và cũng được hiểu như là các hoạt động liên quan tới tâm linh, siêu hình hay các vấn đề khoa học thần bí. (wikipedia) Tại Ấn độ, cho tới hiện nay thì tên nguyên gốc Địa Lý được bảo tồn nguyên vẹn do người Ấn độ lưu giữ nó thông qua đạo Hindu, có tên là Vaastu Shatra. Cho dù bộ môn này không được biết tới nhiều ngoài biên giới Ấn Độ vì nó mang màu sắc tín ngưỡng tôn giáo truyền thống của người Ấn Độ (các Cung và phương Hướng cai quản bởi các vị thần theo Hindu giáo )nhưng lại được công nhận là bộ môn khoa học bởi các yếu tố mang tính khoa học được người Ấn Độ giải thích rõ ràng và trực quan. Tất cả các đền thờ Hindu cổ trong đó có đền Ankor là đền thờ Hindu cổ lớn nhất hiện nay còn bảo tồn được xây dựng theo lý của bộ môn Vastu shatra. Lịch sử và ngành khảo cổ cho rằng bộ môn khoa học này của người Ấn Độ có từ 6000 năm TCN. Dựa trên đồ hình Mandala, Vastu dùng sơ đồ 9x9 với trung tâm là hình vuông ở giữa. Người Ấn Độ công khai nói rằng, đồ hình 3x3 mà người Trung Quốc gọi là Lạc Thư xuất phát từ đồ hình này. Người Trung Quốc lấy lõi của đồ hình 8x8 ghép thêm với ma trận của tây phương để biến thành Lạc Thư. Ở chính giữa là thần Brahma, là trung tâm. Nữ thần lửa Agni ở phía Đông Nam, Thần Kuber ở phía Bắc là vị thần của Tiền bạc (theo Lý học Đông phương thì Thủy quản tiền bạc). Ở đây, chúng ta thấy sự sắp xếp theo theo bộ môn Bát Trạch và đặc biệtc Nữ thần Lửa ở Đông Nam theo Bát Trach Lạc Việt (ĐN quái Khôn-Âm Hỏa đới Thổ). Tại các nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgyzstan, Mongolia, Siberia thì Địa lý có tên là Kumalak được ứng dụng như một bộ môn bói toán. Bộ môn này tồn tại khoảng hơn 1000 năm tại khu vực này và hiện nay vẫn được sử dụng và lan tới các nước Đông Âu, Nga, và Tây Phi. Phương pháp sử dụng như trò chơi Ô ăn quan gồm 41 hòn đá, dùng trên sơ đồ 3x3 chia theo 4 hành là Nước, Lửa, Gió và Đất. Sự sắp xếp đồ hình 3x3 theo thứ tự từ phải qua trái, từ trên xuống dưới. Tại Hy lạp cổ đại thì Địa lý đã được sử dụng như một phương pháp tiên đoán về đất, đá, cát. Họ sử dụng công cụ và sơ đồ 12 ô như sau: Phương pháp này được dùng rất nhiều trong thời trung cổ và phục hưng tại Châu Âu và nhưng sau này thì bi coi là phản khoa học và mê tín. Tại các nước Ả Rập thì bộ môn này có tên là Sikidi và chủ yếu cũng dùng để bói toán. Họ vẽ trên cát đồ hình và dùng hạt đậu để chia trên sơ đồ, sau đó đếm số chẵn lẻ để bói toán. Điều đặc biệt, tượng số hoàn toàn sử dụng các dấu Chấm và được chia theo 5 hành nhưng là 5 hành theo văn hóa Tây phương và Ấn Độ tức là Đất, Lửa, Nước, Gió và Không Gian. Theo các nhà khảo cổ Tây phương thì dấu hiệu sớm nhất cho thấy người Trung Quốc sử môn Địa Lý trong công trình là vào đời nhà Chu ( 1122-249 TCN) qua sơ đồ thiết kế Minh Đường của Vương Mãng (45 TCN- 23 SCN). Thời nhà Hán (206 TCN-220 CN), việc tìm thấy các di chỉ khảo cổ cho thấy kinh đô Tràng An (194-190 TCN) đã sử dụng sự hiểu biết về địa lý và thiên văn học để thiết kế và xây dựng nên kinh thành này. Thành được xây theo hình thể chòm sao Bắc Đẩu Phía Bắc thành thiết kế theo chòm sao Bắc Đẩu là Tiểu Hùng Tinh, và phía Nam thành thì theo chòm sao Đại Hùng Tinh Thiên bàn đồ hình của TQ sớm nhất được tìm thấy trong lăng mộ của Lỗ Công nhà Tây Chu (168 TCN). Đối với các bộ môn ứng dụng học thuyết ADNH thì Lạc Thư và Hà Đồ có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Ngay đối với môn Địa Lý từ các nền văn minh khác cũng ứng dụng đồ hình 3x3 (không phải là ma phương có tổng các hàng =15). Chúng ta quay lại tìm hiểu về Cửu Cung Lạc Thư - Hà Đồ. Theo các nghiên cứu về toán học từ thời cổ đại, các nhà nghiên cứu toán học cho biết ma phương -magick square (là đồ hình có số ô hàng ngang bằng số ô hàng dọc trong đó tổng các số hàng dọc - hàng ngang đều bằng nhau) thì người Trung Quốc tuyên bố họ là người sáng tạo ra ma phương 3x3, có tổng hàng dọc và hàng ngang là 15. Người sáng tạo là ai thì không có tên nhưng có thể vào thế kỷ thứ nhất SCN. Đồ hình này người Trung Quốc nói rằng liên quan tới việc trị thủy trên sông và được ghi chép trên mai rùa. Nhà nghiên cứu Mark Swaney nói rằng về Ma phương 3x3 liên quan giữa toán học và Siêu nhiên .Ông ta không thể tìm thêm chứng cứ hay di chỉ khảo cổ nào liên quan giữa đồ hình -ma phương 3x3 với mai rùa, theo như truyền thuyết của người Trung Quốc nhằm làm sáng tỏ thêm tính khoa học của ma phương này. Ma phương này có liên quan rất chặt chẽ với Kinh Dịch và người ta nói ma phương này có liên quan tới sơ đồ của bản thiết kế Minh Đường của Vương Mãng. Mark nói rằng ông ta nghiên cứu rất nhiều về bản thiết kế này nhưng cũng không tìm thấy có sự liên quan nào tới ma phương 3x3 với kiến trúc thiết kế của Minh Đường.Ma Phương 3x3 là đồ hình của Sao Thổ theo chiêm tinh Tây phương và thường dùng làm bùa chú chứ không dùng để thiết kế. Mark nhấn mạnh rằng lịch sử hình thành ma phương của người Trung Quốc rất rời rạc và mù mờ, khi tài liệu sớm nhất có đề cập tới Lạc Thư là trong cuốn Kinh Thư (650TCN), và có vẻ như là ma phương 3x3 nhưng không có đồ hình. Tới các tài liệu 500-300 TCN cũng chỉ đề cập tới Lạc Thư - Hà Đồ là Bản đồ dòng Sông chứ không hề có chi tiết rõ ràng về bản đồ này. Chỉ tới năm 80 SCN thì người Trung Quốc mới đưa ra ma phương 3x3 và rõ ràng nhất là năm 570 SCN mới nói chi tiết về Lạc Thư là Ma Phương như ngày hôm nay. Sau khi tất cả các bài nghiên cứu phủ nhận câu chuyện huyền thoại về xuất xứ của Lạc Thư (Lo shou - 洛書) cũng như không có bằng chứng cụ thể nào về đồ hình này với mai Rùa hoặc Long mã -một linh vật chỉ có trong huyền thoại , hay liên quan tới dòng sông Lạc (LUO RIVER) hoặc (Yellow River Map) với dòng sông Hoàng Hà (Yellow River). Trong nền văn minh Lạc Việt -Âu Lạc, chúng ta đều biết dòng máu Lạc Hồng là nói về dòng giống con cháu Rồng Tiên Cha Lạc Long Quân, Mẹ Âu Cơ. Lạc là tên gọi của một trong các dân tộc Bách Việt và tại thời kì đó, chữ Lạc biểu thị thời kì của Vua và chức danh như Lạc Hầu, Lạc Tướng, và con dân là Lạc Dân. Tôi nhận thấy rằng, người Châu Âu không tìm thấy dấu vết liên quan tới dòng sông Lạc bởi vì Lạc Thư chính là Thư của Lạc Việt tức là sách của Lạc Việt - Lạc Thư ! Hình Lạc Thư - Hà Đồ biểu thị các cặp số âm dương bằng các dấu chấm đen và trắng. Nếu ta thể hiện dấu chấm bằng các con số Ả rập như hiện nay thì sẽ có các cặp số 1-6; 3-8, 2-7, 4-9, 5-10. Trong hệ toán học cổ của người Trung Quốc thì số đếm được thể hiện bằng que hay còn gọi là Rod Counting Cho tới ngày nay thì người Trung Quốc vẫn dùng số bằng ký tự và dưới dạng đếm que (Rod Counting), hoàn toàn không có dấu Chấm. Lạc thư được cho là do vua Đại Vũ (2200-2010 TCN) tìm thấy trên mai Rùa Thần để trị thủy trên sông Lạc, và là ma phương toán học 3x3 đầu tiên trên thế giới. Vậy mà hệ số đếm đơn giản nhất được tìm thấy trên giáp cốt thư của nhà Thương (1600-1050 TCN) và toán học được ghi chép sớm nhất vào đời nhà Chu (1050-256 TCN). Ma phương là phép tính toán học lại xuất hiện trước hàng ngàn năm sự xuất hiện của số đếm và phương pháp toán học cổ đại Trung Quốc. Rõ ràng, nếu coi Lạc Thư - Hà Đồ là ma phương toán học hay hệ số đếm thì người Trung Quốc không phải là chủ nhân của Lạc Thư- Hà Đồ. Tượng số bằng Dấu chấm, gạch đã được thể hiện trên Trống Đồng của nền văn minh Lạc Việt cách 2500 TCN và tất nhiên hệ tượng số này cũng được thể hiện trên Lạc Thư-Hà Đồ. Khi nền văn minh Ấn độ tràn vào Trung Quốc, bùa của thần trí tuệ đầu Voi Ganesh chính là ma phương đồ hình 3x3 cùng với các ma phương khác như 4x4,...8x8. Do sự giống nhau về hình thức và tiếp thu không hoàn chỉnh sau khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ năm 258TCN, các tài liệu chỉ được ghi chép đề cập tới sự liên quan về đồ hình Lạc Thư - HÀ Đồ chứ không hề có đồ hình chi tiết nào được lưu lại. Dĩ nhiên , sự giống nhau qua dẫn tới việc ghép Lạc Thư - Hà Đồ với ma phương 3x3 của Chu Văn Vương để có Hậu Thiên Văn Vương ngày nay. Đây là mối thắt nút không thể lý giải nổi những mâu thuẫn khi sắp xếp các quái trong hậu thiên Văn Vương. Lạc Thư - Hà Đồ Hà Đồ theo các bằng chứng lịch sử được tìm thấy trong Kinh Thư của đời Chu . Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là sau cuộc phá hủy kinh sách của nhà Tần (201-206 TCN), thì cuốn Kinh này được sao chép viết lại bởi Phu Thăng ( 伏胜 268-178 TCN). Như vậy, Hà Đồ có thể được thêm vào Kinh Thư trong giai đoạn này hoặc cho dù xuất hiện sớm hơn của Kinh Thư vào thời Chu Khang Vương (1020-996 TCN) để giải thích cho ý nghĩa bát quái (theo nhà sử học Kuo-Cheng Wu) thì ý kiến này cũng chưa đủ thuyết phục. Trong cuốn " Legacy of the Luoshu: The 4,000 Year Search for the Meaning of the Magic Square of Order Three" của tác giả Frank J. Swetz , trang 14 : ...tới thế kỉ thứ 10, Zheng Xuan - Trịnh Huyền (906-989) là một Nho Sỹ nổi tiếng lần đầu tiên công bố sơ đồ bản vẽ sông Lạc và sông Hoàng Hà tức là Hà Đồ và Lạc Thư biểu thị bằng các Chấm đen và trắng." Cho tới thế kỷ thứ 12, phong thủy sư Cai Yuanding (Thái Nguyên Định 蔡元定mà nó tồn tại dưới hình thức bùa chú cũng như một công cụ để bói toán." 1145-1198) và Chu Hi cùng công bố về Cửu cung và Lạc Thư là một. Chu Hi dùng lý lẽ và kết luận về Cửu Cung Lạc Thư của Nguyên Định như một chứng cứ và được chấp nhận rộng khắp. Tuy nhiên thì tong suốt thời nhà Tống (960-1279), Hà Đồ Lạc Thư không còn mang ý nghĩa Vũ trụ quan Cho tới năm 1275, các nhà nghiên cứu lịch sử và toán học cũng không tìm thấy bất kỳ một Ma Phương nào lớn hơn 3 tạo ra từ Trung Hoa, và Norman Biggs- nhà toán học hàng đầu của Anh nói rằng: " Người Trung Hoa coi Ma Phương 3x3 là một đối tượng thuộc về siêu nhiên chứ không phải một đối tượng cho cho sự tò mò và khám phá của con Người. Điều này chứng tỏ rằng Ma Phương toán học cổ đại hoàn toàn không liên quan gì tới Hà Đồ và Lạc Thư và rõ ràng Hà Đồ không phải là Ma Phương :" Tài liệu cổ xưa nhất nói về Hà Đồ đều không rõ ràng, nhưng một trong những tài liệu cổ đề cập tới một bản đồ Sông Hoàng (Hoàng Hà) là của ShuChing 650 TCN. Bản đồ Sông này được nói tới có vẻ giống như là Ma Phương 3x3. Hà Đồ hay Bản Đồ Sông Hoàng được đề cập tới trong các tài liệu cổ ở từ các năm 500TCN- 350 TCN nhưng không rõ ràng ở chỗ mô tả nó có phải là ma phương 3x3 hay không. Cho tới tận năm 570 CN thì Hà Đồ được mô tả như Ma Phương 3x3 hiện nay. Hà Đồ được nói rằng nó có liên quan tới Kinh Dịch nhưng cũng chưa tìm được chứng cứ về sự liên quan này"Mark Swaney, nhà nghiên cứu về ma phương cổ đã viết trong một công trình nghiên cứu của mình về Hà Đồ Cho tới thời điểm này, không có bất cứ một tài liệu hay chứng cứ khảo cổ nào về việc Hà Đồ xuất hiện trên lưng Long mã để chứng minh cho nguồn gốc mà người Trung Hoa nói trong truyền thuyết và nguồn gốc của Hà Đồ. Lý do chính là sự đánh tráo nguồn gốc nhằm hợp thức hóa nguồn gốc theo truyền thuyết người Trung Quốc nghĩ ra. Từ Hà Đồ vốn đã bị thay đổi từ chữ Âu Đồ (Âu Lạc), bởi xoay ngược chữ Âu區, thay 2 chữ khẩu bằng dấu chấm thủy, thành chữ Hà 河 (Nền Văn Minh Việt Cổ - trang 58 - Gs. Hoàng Tuấn) Chúng ta lại lưu ý tới mốc quan trọng này : Hà Đồ theo các bằng chứng lịch sử được tìm thấy trong Kinh Thư của đời Chu nhưng điểm đáng lưu ý là thời điểm sau cuộc phá hủy kinh sách của nhà Tần (201-206 TCN), thì cuốn Kinh này được sao chép viết lại bởi Phu Thăng ( 伏胜 268-178 TCN). Nền văn minh Âu Lạc sụp đổ vào năm 258TCN , sự thay đổi nguồn gốc ÂU ĐỒ - LẠC THƯ có từ đây. Sở dĩ người ta các nhà nghiên cứu không tìm thây sự liên quan Lạc Thư với Rùa thần bởi vì đây chính là cách mà Tổ Tiên chúng ta truyền lại cho đời sau. Trong cuốn Trờ về Nguồn của nhà nghiên cứu dịch học Quang Thống xuất bản tại Mỹ năm 1996, tr30-31 được trích dẫn trong cuốn Nền Văn Minh Việt Cổ của tác giả GS, Hoàng Tuấn (tr 58-59) : "Thấy trước cái thế bị đánh tập trung, tổ tiên ta đã đoán trước được sự mất nước của nòi giống lôi kéo theo sự phá hủy cả một nền văn minh mà không thể một sớm một chiều khôi phục lại được. Muốn duy trì nền văn minh cho con cháu mai hậu,... tổ tiên ta dã dùng con rùa (con vật sống lâu nhất từ hai ngàn năm đến bốn ngàn năm mà khoa sinh vật học thế kỷ 20 này mới khám phá ra được tuổi đời của nó), để ghi khắc ký hiệu của một nền văn minh trên lưng nó, rồi đem thả xuống sông với hy vọng mai sau con cháu phải xuôi nam tìm nơi sinh sống sẽ gặp lại được vết tích của nền văn minh Lạc Việt., hầu khôi phục dân tộc. Từ đó những nơi nào tập trung dòng giống Lạc Việt được truyền tụng cho nhau, nhất là trước các đình, chùa, đền miếu, lăng tẩm, đều hay dựng bức bình phong đắp con rùa đội cuốn sách (Hà Đồ chỉ con rùa và lạc thư chỉ cuốn sách), là ý muốn nói tới nền văn minh Lạc Việt được ghi khắc trên lưng con Rùa." Tôi chưa đồng ý với ý kiến Hà Đồ chỉ con Rùa của tác giả Quang Thống, bởi Rùa chín tự bản thân đã có hình tượng là Rùa và trên lưng chở cuốn sách. Đây là lời nhắc nhở con cháu Âu Đồ -Lạc Thư có trên mai Rùa và chìa khóa của bí ẩn về Âu Đồ - Lạc Thư , và cũng là nguồn gốc của "trên lưng Rùa thần có khắc Lạc Thư" hoặc có thể bắt đầu từ 1-2-3-4-5-6-7-8-9) nhưng không có nghĩa BÁT QUÁI là con số biểu tượng của nó. Số đại diện cho Bát QUÁI có thể thay đổi nhưng BÁT QUÁI tượng không thay đổi. (Ví dụ: thứ tự quẻ tiên thiên bắt đầu từ 0-1-2-3-4-5-6-7-8đại diện cho BÁT QUÁIDấu chấm đen trắng trên ÂU ĐỒ- LẠC THƯ thể hiện thứ tự của Bát Quái, rồi tạo ra 64 trùng quái để mô tả quá trình vận động của vạn vật. Nó khác hoàn toàn với việc đem chữ số toán học thay vào Quái để mô tả sự vận động của vũ trụ. Các dấu Chấm trên ÂU ĐỒ - LẠC THƯ là ký hiệu số đếm Âu Đồ và Lạc Thư là nền tảng lý thuyết cơ bản của Địa Lý và khi đã bị sai lệch trong lý thuyết gốc thì việc ứng dụng trên cơ sở lý thuyết đó cũng bị sai lệch và nhầm lẫn. Hơn thế nữa, nó lại được hiểu sai về nguồn gốc và được nhìn nhận dưới góc độ tín ngưỡng hay đạo giáo nên bộ môn khoa học này trở thành giả khoa học. Qua các bằng chứng còn tồn tại, những lý thuyết cổ xưa của nền văn minh Lạc Việt được bảo vệ dưới vỏ bọc của tín ngưỡng tôn giáo ngày càng được làm sáng tỏ dưới góc nhìn khoa học Trong rất nhiều tài liệu cổ đề cập tới Lạc Thư là chiều ngũ hành tương khắc và Âu Đồ là mô tả chiều tương sinh ngũ hành. Thế nhưng do việc chấp nhất vào tính chất của ma phương đồ nên vẫn chấp nhận tính phi logic theo chiều ngũ hành tương sinh trên Âu Đồ. Chính vì thế chúng ta nhận thấy Âu Đồ hiện nay không thể hiện chiều ngũ hành tương sinh. Âu Đồ được sắp xếp theo chiều tương sinh ngũ hành của các quẻ mà ý nghĩa của số quẻ cũng như ngũ hành theo số của Lạc Thư được sắp xếp theo chiều ngũ hành tương Khắc của chữ Vạn) : 1-6 thuộc hành Thủy, 3-8 thuộc hành Mộc, 2-7 thuộc hành Hỏa và 4-9 thuộc Hành Kim. Ở đây đã có sự gượng ép khi đưa 4-9 vào hành Hỏa và 2-7 vào hành Kim khi mà Âu Đồ sắp xếp theo chiều ngũ hành tương Sinh. Rất nhiều cuốn sách và tác giả đã đề cập tới ý nghĩa và ngũ hành Âu Đồ và Lạc Thư, nhưng khi sắp xếp trên Bát quái cửu cung thì hoàn toàn không đề cập tới Âu Đồ. Nếu ta bỏ qua tượng số của Quái (số học gán vào quái) mà chỉ ghép các Quái theo chiều ngũ hành tương sinh, chúng ra sẽ có đồ hình Âu Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt. Trên Tiên thiên Bát Quái đồ, chúng ta sẽ thấy xuất hiện 8 tam giác đối nhau qua đỉnh. Mỗi cặp tam giác đối nhau có tổng số hào Âm và tổng số hào Dương luôn bằng nhau . Nếu chúng ta áp dụng định luật này đối với Lạc Thư phối Hậu thiên bát quái Văn Vương, định luật này bị phá bỏ hoàn toàn. Ví dụ : Càn - Tốn có tổng số 5 hào Dương+1 hào Âm, và đáy tam giác là hai vạch liền (hào Dương). Nếu chúng ta áp dụng định luật này đối với Âu Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt: hoàn toàn thỏa mãn định luật của Tiên thiên bát quái đồ: Tổng số hào ÂM và hào Dương của các tam giác đối đỉnh bằng nhau. Ví dụ : Càn-Khôn có tổng 3 hào Dương + 3 Hào Âm “Không có gì xảy ra trên vòm trời xanh kia mà không có phần đối xứng lại ở quả đất này” Số trong ma phương có tổng là 15 ở các chiều dọc, chéo, ngang và con số này mặc dù không liên quan tới các con số của Lạc thư hay Hà đồ nhưng vẫn được đưa vào như một căn cứ xác định nguồn gốc của Âu Đồ - Lạc Thư, vốn là một yếu tố được coi là gốc rễ của Địa Lý Phong Thủy. Sự sai lệch ở đây là việc coi Ma Phương và Hà Đồ là như nhau nhưng thực chất đây là hai hệ qui chiếu hoàn toàn khác nhau: một là hệ thống toán học và một là mô hình biểu kiến của sự vận động của vũ trụ,. Lạc Thư - Hà Đồ trong Kinh Dịch: Trong tất cả các cuốn sách về Kinh Dịch (Book of Change) đều đề cập tới hai đồ hình Lạc Thư-Hà Đồ và đều có liên quan tới Kinh Dịch. Tuy nhiên, sau đó không có bất kì một dấu hiệu hay phân tích nào cho thấy sự liên quan này. Qua hàng ngàn năm, việc áp đặt toán học với số thứ tự của các quái vào ma phương , rồi sau đó ghép quái theo số thứ tự của nó vào ma phương đã làm sai lệch ý nghĩa. Khi xếp chồng hai Âu Đồ Bát Quái lên nhau, chúng ta sẽ có đủ 64 trùng Quái và đó chính là Kinh Dịch. Dấu chấm đen trắng thể hiện bát Quái qua tượng số và thứ tự số, xếp cặp với nhau theo các Quái cùng. Sự sắp xếp này hoàn toàn không mang ý nghĩa số học mà tuân thủ theo nguyên tắc Âm Dương Ngũ Hành. Chúng ta có thể nhận thấy có rất nhiều sự liên quan mật thiết của bộ môn Địa Lý cổ xưa còn tồn tại và lưu giư trong các nền văn minh khác với bộ môn Địa Lý của nền văn minh Lạc Việt mà chúng ta đang lưu giữ và thực hiện trong suốt 5000 năm lịch sử. Phong thủy một lần nữa là tên gọi sai lệch cho bộ môn Địa Lý và nó càng không thể hiện được tính khoa học của bộ môn này. Việc đi tìm lại nguồn gốc bộ môn Địa Lý Phong Thủy (tên gọi phân biệt với môn Đia lý cơ bản trong chương trình phổ thông) nhằm khẳng định tính khoa học của bộ môn này cũng như tìm ra những điểm sai lệch trong nền tảng lý thuyết gốc được ứng dụng bởi người Trung Quốc Phong thủy là tên gọi sai cho bộ môn khoa học cổ ĐỊA LÝ và bộ môn này không phải của người Trung Hoa sáng tạo ra, kể cả cái tên PHONG THỦY. Hà Nội 24 tháng 2 năm 2017 Mạnh Đại Quân
  14. ĐI TÌM NGUỒN GỐC CỦA PHONG THỦY, Đây là tựa đề bài nghiên cứu của Tôi , sẽ được chinh thức đưa lên diễn đàn LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG vào ngày mai và tất nhiên, bài viết này nhằm chứng minh một điều : PHONG THỦY là tên gọi sai, và môn khoa học liên quan tới tên này không phải của người Trung Hoa, ngoại trừ cái tên PHONG THỦY ! mời quí vị đón đọc. Đây là bài khởi động trước LẠC THƯ - HÀ ĐỒ - SỰ MÙ MỜ TRONG TRUYỀN THUYẾT HAY BÍ ẨN KHOA HỌC Hà Xuất Đồ, Lạc Xuất Thư, Thánh Nhân Tắc Chi Nguồn gốc của Hà Đồ, Lạc Thư cùng với Kinh Dịch vẫn là một truyền thuyết bởi đã có rất nhiều học giả tự Cổ trí Kim đều đã đặt câu hỏi: Ai là người đã tạo ra Lạc Thư, Hà Đồ và Kinh Dịch ? Ở vào thế kỉ thứ 21, khi nền khoa học hiện đại đã phát triển vượt bậc thì chúng ta cũng không thể tin vào một bộ môn khoa học như Kinh Dịch hay Phong Thủy lại được tạo ra từ những huyền thoại. Bát Quái, Lạc Thư, Hà Đồ là những nguyên lý cơ bản ứng dụng trong bộ môn Phong thủy nhưng lại có một xuất xứ mù mờ mang đầy màu sắc của huyền sử và truyền thuyết. Cho tới nay, Phục Hi hay Bào Hi vẫn được coi là một nhân vật huyền thoại không có thật trong lịch sử cũng như Rùa thần hay Long mã đều không tồn tại. Phục Hy vốn nửa người nửa rắn, và người Trung Hoa nói rằng Ông ta vốn gốc là loài Người. Truyền thuyết ghi lại Phục Hy và Nữ Oa tạo xuất thân từ núi Côn Luân vào khoảng 2600 năm trước CN. Hai người này lấy nhau và tạo ra con người cùng vạn vật và hai người trở thành hai trong Ba vị Vua đầu tiên của dân tộc Trung Hoa. Phục Hy sống thọ 197 năm. Phục Hy là người tạo ra Quẻ, bát quái, Hà Đồ Một lần nữa, sự xuất hiện của Hà Đồ Long Mã cũng là một con vật không có thật , được xuất hiện sớm nhất trong bộ Chu lễ -giữa thế kỷ thứ 2 TCN. "The water of the Ho sent forth a dragon horse; on its back there was curly hair, like a map of starry dots", says the Yijing commentary (tr. Visser 1913:57), "The water of the Lo sent forth a divine tortoise; on its back there were riven veins, like writing of character pictures." Hetu 河圖 is alternately named longtu 龍圖 and matu 馬圖, with "dragon" and "horse". For instance, the Baihutong 白虎通 (封禪) says 河出龍圖 "the Yellow River sent forth the dragon chart" while the Liji (禮運, cf. Legge 1885:1:392-3) says 河出馬圖 "the Yellow River sent forth the horse chart". The Shujing (顧命)[1] records the original Hetu "river plan" among the royal treasures of King Cheng of Zhou (r. ca. 1042-1021 BCE). Kong Anguo's Shujing commentary explains the longma. 白虎通義: Bạch Hổ Thông Nghĩa - Ban Cố tự Mạnh Kinh (32-92 AD) Viết : 河出龍圖 :Hà Xuất Long Đồ. Hay trong Kinh Lễ viết: Hà Xuất Mã Đồ. Trong Kinh Thư thì ghi rằng Hà Đồ được tìm thấy trong kho báu của Chu Thành Vương (1042-1021 TCN)-Kinh Thư của Khổng An Quốc có ghi chú lời giải thích về Long Mã: 'A dragon horse is the [qi 氣] vital spirit of Heaven and Earth. As a being its shape consists of a horse's body, yet it has dragon scales. Therefore it is called 'dragon horse'. Its height is eight ch'ih five ts'un. A true dragon horse has wings at its sides and walks upon the water without sinking. If a holy man is on the throne it comes out of the midst of the Ming river, carrying a map on its back. (tr. Visser 1913:58)" ĐỒ hình lạc thư được cho là do vua Đại Vũ (2200-2101), tìm thấy trên lưng Rùa thần sông Lạc. Tuy nhiên, sự mập mờ trong n guồn gốc của Lạc Thư là rất rõ khi người Trung Hoa nói đây là sơ đồ sông Lạc (650BCE) rồi sau đó đề cập rằng đây là chỉ Ma phương toán học và cuối cùng đưa ra tuyên bố chính thức như hiện tại vào năm 570 sau CN. Hà Đồ theo các bằng chứng lịch sử được tìm thấy trong Kinh Thư của đời Chu . Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là sau cuộc phá hủy kinh sách của nhà Tần (201-206 TCN), thì cuốn Kinh này được sao chép viết lại bởi Phu Thăng ( 伏胜 268-178 TCN). Như vậy, Hà Đồ có thể được thêm vào Kinh Thư trong giai đoạn này hoặc cho dù xuất hiện sớm hơn của Kinh Thư vào thời Chu Khang Vương (1020-996 TCN) để giải thích cho ý nghĩa bát quái (theo nhà sử học Kuo-Cheng Wu) thì ý kiến này cũng chưa đủ thuyết phục. Trong cuốn " Legacy of the Luoshu: The 4,000 Year Search for the Meaning of the Magic Square of Order Three" của tác giả Frank J. Swetz , trang 14 : " ...tới thế kỉ thứ 10, Zheng Xuan - Trịnh Huyền (906-989) là một Nho Sỹ nổi tiếng lần đầu tiên công bố sơ đồ bản vẽ sông Lạc và sông Hoàng Hà tức là Hà Đồ và Lạc Thư biểu thị bằng các Chấm đen và trắng.Cho tới thế kỷ thứ 12, phong thủy sư Cai Yuanding (Thái Nguyên Định 蔡元定 1145-1198) và Chu Hi cùng công bố về Cửu cung và Lạc Thư là một. Chu Hi dùng lý lẽ và kết luận về Cửu Cung Lạc Thư của Nguyên Định như một chứng cứ và được chấp nhận rộng khắp. Tuy nhiên thì tong suốt thời nhà Tống (960-1279), Hà Đồ Lạc Thư không còn mang ý nghĩa Vũ trụ quan mà nó tồn tại dưới hình thức bùa chú cũng như một công cụ để bói toán." Cho tới tận năm 1275, các nhà nghiên cứu lịch sử và toán học cũng không tìm thấy bất kỳ một Ma Phương nào lớn hơn 3 tạo ra từ Trung Hoa, và Norman Biggs- nhà toán học hàng đầu của Anh nói rằng: " Người Trung Hoa coi Ma Phương 3x3 là một đối tượng thuộc về siêu nhiên chứ không phải một đối tượng cho cho sự tò mò và khám phá của con Người. Điều này chứng tỏ rằng Ma Phương toán học cổ đại hoàn toàn không liên quan gì tới Hà Đồ và Lạc Thư và rõ ràng Hà Đồ không phải là Ma Phương Mark Swaney, nhà nghiên cứu về ma phương cổ đã viết trong một công trình nghiên cứu của mình về Hà Đồ :" Tài liệu cổ xưa nhất nói về Hà Đồ đều không rõ ràng, nhưng một trong những tài liệu cổ đề cập tới một bản đồ Sông Hoàng (Hoàng Hà) là của ShuChing 650 TCN. Bản đồ Sông này được nói tới có vẻ giống như là Ma Phương 3x3. Hà Đồ hay Bản Đồ Sông Hoàng được đề cập tới trong các tài liệu cổ ở từ các năm 500TCN- 350 TCN nhưng không rõ ràng ở chỗ mô tả nó có phải là ma phương 3x3 hay không. Cho tới tận năm 570 CN thì Hà Đồ được mô tả như Ma Phương 3x3 hiện nay. Hà Đồ được nói rằng nó có liên quan tới Kinh Dịch nhưng cũng chưa tìm được chứng cứ về sự liên quan này" Cho tới nay, không có bất cứ một tài liệu hay chứng cứ khảo cổ nào về việc Hà Đồ xuất hiện trên lưng Rùa để chứng minh cho nguồn gốc mà người Trung Hoa nói trong truyền thuyết và nguồn gốc của Hà Đồ. Trong rất nhiều tài liệu cổ đề cập tới Lạc Thư là chiều ngũ hành tương khắc và Hà Đồ là mô tả chiều tương sinh ngũ hành. Thế nhưng do việc chấp nhất vào "hợp thập" của các con số nên vẫn chấp nhận đổi vị trí Kim-Hỏa và vì thế chúng ta nhận thấy Hà Đồ hiện nay không thể hiện chiều ngũ hành tương sinh. Số trong ma phương có tổng là 15 ở các chiều dọc, chéo, ngang và con số này mặc dù không liên quan tới các con số của lạc thư hay hà đồ nhưng vẫn được đưa vào như một bằng chứng thuyết phục về mặt logic của Hà Đồ. Cho dù "hợp thâp" là một yếu tố được coi là mấu chốt của Hà Đồ trong Địa Lý Phong Thủy nhưng đã có sự sai lệch khi Ma Phương và Hà Đồ là hai hệ thống toán học với mô hình biểu kiến của sự vận động của vũ trụ, hai mô hình hoàn toàn khác nhau.
  15. Mới đầu năm mà đã lũ lụt bắt đầu có dấu hiệu hoành hành ------- Lo vỡ đập nước cao nhất Mỹ, 200.000 dân California sơ tán 13/02/2017 11:06 GMT+7 TTO - Người dân nhiều khu vực ở bang California, Mỹ đã được yêu cầu sơ tán khẩn sau khi đập tràn của đập Oroville - đập nước cao nhất Mỹ, bị hư hỏng có nguy cơ vỡ. http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20170213/dap-nuoc-cao-nhat-my-sap-sap-dan-california-so-tan-khan/1264033.html
  16. Dưới đây là bài viết Tổng quan 2017 được MĐQ trình bày tại buổi giao lưu Gặp mặt cuối năm Group Thảo Luận Phong Thủy Hà Nội và tại Hội Nghị Tiên Tri 2017 diễn ra hàng năm do Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Văn Hóa Á Đông tổ chức. Bên cạnh bài Dự báo của Sư phụ Thiên Sứ thì năm nay là năm đầu tiên, MĐQ được sư phụ tạo điều kiện lên trình bày bài viết của riêng của mình. Bài viết ngắn gọn bởi thời gian trình bày chỉ trong 10 phút nên sẽ còn nhiều điều cần bổ xung và rút kinh nghiệm, hy vọng năm tới MĐQ sẽ có bài viêt chi tiết hơn. TỔNG QUAN NĂM ĐINH DẬU 2017 Quẻ Chủ : ĐỖ - XÍCH KHẨU Quẻ Độn: Cảnh - Tốc Hỷ Huyền không lạc việt phi tinh: Nhất bạch nhập trung cung. Thiên Can Đinh Hỏa khắc Địa chi Dậu Kim Lạc thư hoa giáp : Vận khí Thiên Hà Thủy Kinh tế : Năm nay 2017 theo Huyền Không Lạc Việt phi thuận là Nhất bạch nhập trung cung. Sao Nhất bạch thuộc Khảm - Dương Thủy là cát tinh chủ về Tài Lộc, Văn Chương nhưng cũng là chủ sự của mưa bão, lũ lụt, trộm cướp, bệnh tật liên quan tới rượu bia và hao tổn người. Cho dù Nhất bạch trong vận 8 là Sinh Khí nhưng chưa đủ mạnh nhưng lại gặp năm Đinh Dậu nạp giáp Thiên Hà Thủy nên Thủy khí được kích hoạt tối đa. Nhất Bạch tương Sinh với Lệnh Tinh là Bát bạch nên Kinh tế thế giới bắt đầu trên đà hồi phục nhưng chỉ từ cuối năm 2017. Nửa đầu của năm 2017 thì nền kinh tế thế giới sẽ phải hứng chịu một đợt suy thoái và hỗn độn khiến cho nhiều chính phủ đau đầu. Tuy nhiên,nền Kinh tế Mỹ bắt đầu khởi sắc ngay do Ngũ Hoàng đóng tại cung Đoài -Kim do khả năng nước Mỹ sẽ có một chính sách tiền tệ và tài chính rất tốt từ ngài Tổng thống mới đắc cử Donald Trump. Sẽ có những tranh chấp và căn thẳng giữa Mỹ -Trung Quốc và Châu Âu liên quan tới chính sách mới của Mỹ và sẽ có rất nhiều các cuộc hội đàm cũng như tranh cãi nổ ra. Năm 2017 tiếp tục là một năm đầy khó khăn và thử thách khi hình tượng của năm nay là "Lửa thử Vàng". Các chính sách dù chưa được áp dụng hoặc còn tiếp tục gây tranh cãi khi đưa vào thực hiện nhưng nếu kiên định duy trì và theo đuổi những chính sách đúng đắn thì sẽ thu được kết quả tốt đẹp trong những năm tới. Các nhà Lãnh Đạo là nữ cần hết sức cẩn trọng bởi đây sẽ là một năm không thuận lợi cho họ. Nông Nghiệp: chúng ta sẽ có một năm thành công của các sản phẩm nông nghiệp khi xuất khẩu nhiều sản phẩm sang các thị trường tiềm năng. Tuy nhiên, do thiên tai lụt lội nên cũng sẽ là một năm cần lưu tâm tới vấn đề dự trữ lúa gạo lương thực Quốc Gia Ngân hàng tài chính: Do chính sách mới nên nền kinh tế Mỹ sẽ trên đà phục hồi mạnh mẽ. Đồng EU vì thế sẽ không còn giữ được khoảng cách xa với đồng USD . Như vậy, việc xuất khẩu sẽ có lợi hơn nhập khẩu và đây chính là thách thức với nền kinh tế nhập Siêu của Việt Nam. Sẽ vẫn tiếp tục một năm đầy thử thách và khó khăn cho Việt Nam trên đà phục hồi ngân sách. Các công ty đặc biệt có lãnh đạo là phụ nữ đều cẩn thận việc thất thoát tài chính, mất trộm hoặc phá sản. Do thiên tai lũ lụt nên sẽ có nhiều ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế. Thị trường bất động sản bắt đầu khởi động và trở nên sáng hơn. Năm nay là một năm thuận lợi cho các công ty chuyên về Gỗ, các sản phẩm nông nghiệp. Thiên tai: Lũ lụt hoành hành nhiều và ở diện rộng . Tai nạn hỏa hoạn: Các vụ cháy xe và cháy nhà cửa gây chết người tuy có giảm nhưng vẫn là một trong những tiếp tục xảy ra trong năm nay. Phụ nữ đã lập gia đình năm nay nhất thiết cẩn trọng đề phòng bị mất của hoặc hại thân. Văn Hóa: Sẽ là một năm thành công cho văn hóa truyền thống dân tộc. Trân trọng cảm ơn Quí Vị, xin chúc Quí Vị một năm mới An Khang - Hạnh Phúc Hà nội tháng Chạp năm Bính Thân. Mạnh Đại Quân
  17. NGÀY TỐT NĂM ĐINH DẬU 2017 Năm 2017 -Đinh Dậu -Vận khí Thiên Hà thủy Dùng cho Tất niên, xuất hành, khai trương, động thổ. Tống Cựu Nghênh Tân, tiễn năm cũ Bính Thân và chào đón năm mới Đinh Dậu. Theo truyền thống dân tộc Việt trải gần 5000 ngàn năm, các phong tục tập quán cho ngày Tết cổ truyền vẫn được chúng ta được lưu giữ . Phong tục truyền thống bao gồm ngày tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, tránh hung tìm cát. Ban biên tập diễn đàn Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương sưu tầm, tìm hiểu so sánh, đối chiếu đề xuất về các ngày gọi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Dùng cho năm Đinh Dậu, vận khí (mệnh tuổi) Thiên Hà Thủy theo Lạc Thư Hoa Giáp. Tất Niên: Đây là ngày kết thúc một năm làm việc vất vả, ngày nhìn lại những thành quả lao động của năm cũ. Những ngày tốt theo Việt lịch hợp với lễ Tất Niên: Ngày 19**,28, 29…kỵ giờ Mão Trong đó những ngày tốt nhất có đáng dấu hai hoa thị (*). Các doanh nghiệp có thể chọn ngày19, 28, hoặc 29 để có một kết thúc tốt đẹp cho trăm nghiệp trăm nghề để chuẩn bị cho một năm mới vạn sự an lành. Ngày Lập Xuân: Ngày 08 tháng Giêng năm Đinh Dậu, tức là ngày 04/02/2017 Dương lịch. Ngày Xuất hành: Mồng 01 tháng Giêng năm Đinh Dậu,tức ngày thứ Bảy 28.01.2017 Dương lịch Đây là ngày Bảo Quang Hoàng Đạo là ngày tốt cho cầu công danh, sự nghiệp, học hành, thăng quan, phát tài, phát lộc và phát triển trong mọi sự. Giờ tốt trong ngày: Giờ Mão, từ 05h20 đến 7h19 Giờ Dậu, từ 17h20 đến 19h19 Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Nam và hướng Tây Nam Hướng Tốt Để Động Thổ: Trong năm 2017, theo Huyền Không Lạc Việt thì sao Nhất Bạch nhập trung Cung, Sao nhị Hắc ở Tây Bắc và sao Ngũ Hoàng ở phía Tây. Do đó, phương vị Tây và Tây Bắc không được phép động thổ. Năm 2017 nạp âm là năm Đinh Dậu, cho nên sao Thái Tuế tức là sao Mộc sẽ nằm ở hai sơn Canh-Dậu (hướng Tây), xung Thái Tuế ở hai sơn Giáp-Mão (hướng Đông) và Tuế Phá ở hướng Bắc. Phương Tam sát là các sơn Dần-Mão-Thìn Do đó, phương vị động thổ cho năm 2017 là tại hướng Tây Nam: 202,5 độ- 247,5 độ . Ngày Tốt Khai Trương: Mồng 01 tháng Giêng năm Đinh Dậu, tức ngày thứ Bảy28.01.2017 Dương lịch là ngày Bảo Quang Hoàng Đạo Giờ tốt trong ngày: Giờ Mão, từ 05h20 đến 7h19 Giờ Tỵ, từ 09h20 đến 11h19 Giờ Dậu, từ 17h20 đến 19h19 Hoặc Mồng 08 tháng Giêng năm Đinh Dậu, tức ngày thứ Năm 04.02.2016 Dương lịch là ngày Tư Mệnh Hoàng Đạo Giờ tốt trong ngày: Giờ Thìn, từ 07g20 đến 09g19 Giờ Ngọ, từ 11g20 đến 13g19 Giờ Tuất, từ 19g20 đến 21g19 Tuổi tốt để xông đất, mở hàng và khai trương: Chọn tuổi: Ất Mùi (1955), Bính Thân (1956), Giáp Thìn (1964), Ất Tỵ (1965), Ất Sửu (1985), Mậu Thìn (1988), Nhâm Thân (1992), Ất Hợi (1995) Những tuổi như trên được mời mua mở hàng khai trương đầu năm,động thổ xây sửa nhà. Cần lựa chọn người tử tế đàng hoàng, nhân cách đầy đủ, trí tuệ thông minh, hiền hậu nhân từ, khoáng đạt, không thọ tang, vợ chồng hạnh phúc. Lưu ý Nam nữ đều tốt. Người được mời xông đất, khai trương đâù năm kiêng mặc áo trắng hoặc đen. Áo mặc tông màu xanh biển, màu xanh da trời, xanh lá cây là thuận nhất với năm Đinh Dậu vận khí Thiên Hà Thủy. Năm Đinh Dậu vận khí Thiên Hà Thủy có lẽ là năm mà Lý học Đông phương và các nhà khoa học dễ nhất trí về một nền kinh tế toàn cầu vẫn còn khó khăn nhưng bắt đầu trên con đường phục hồi. Một năm dự báo sẽ có nhiều mưa bão và lụt lội hoành hành khắp nơi. * * NGÀY TỐT NĂM ĐINH DẬU 2017 Vận khí Thiên Hà Thủy Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương Dùng cho khai trương, động thổ, sửa chữa xây cất nhà cửa, nhập trạch (vào nhà mới), tân gia, cưới hỏi, an trang, ký kết hợp đồng, khởi sự, giao dịch, đi - về…những công việc quan trọng. Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau: Lưu ý: Các ngày có đánh dấu (**) là ngày Hoàng Đạo Tháng Giêng: Ngày 01**, 06, 08**,10**,11**,16,17**,29** kỵ giờ Dần Tháng Hai: Ngày 04,12**,24**,26 kỵ giờ Tỵ. Tháng Ba: Ngày 16**,24, 29 kỵ giờ Thân. Tháng Tư: Ngày 01, 06,12**,15,19**,30 kỵ giờ Thìn. Tháng Năm: Ngày 01**, 11**,19,29 kỵ giờ Dậu. Tháng Sáu: Ngày 06, 11**,19,20**,21**,29 kỵ giờ Mão. Tháng Bảy: Ngày 15**,16,25,26 kỵ giờ Dần. Tháng Tám: Ngày 8, 10, 24**,25, kỵ giờ Tỵ. Tháng Chín: Ngày 04, 06**, 16,20**,kỵ giờ Thân. Tháng Mười: Ngày 09, 12, 21, 24**, kỵ giờ Thìn. Tháng Một (11): Ngày 09, 10**, 11**, 16**,19**kỵ giờ Dậu. Tháng Chạp (12): Ngày 01, 09**, 15**, 29** kỵ giờ Mão. Hà nội 19-12-2016 Mạnh Đại Quân
  18. CÂU CHUYỆN CÁI BẾP Bếp trong mỗi ngôi nhà luôn chiếm giữ một vị trí quan trọng và đối với ĐLPT Lạc Việt thì việc bố trí Bếp cũng như không gian Bếp ở đâu trong ngôi nhà khi thiết kế phong thủy là một yếu tố đặc biệt quan trọng. Ý nghĩa cũng như tính chất đặc biệt quan trọng của Bếp trong ĐLPT Lạc Việt được giành riêng thành một bài giảng trong các khóa học của PTLV bởi nó không chỉ là tượng trưng cho tiền bạc mà còn là sức khỏe. Bếp cũng thay đổi theo khoa học hiện đại, từ bếp củi, bếp than, bếp dầu, bếp điện , bếp ga , bếp hồng ngoại rồi bếp từ. Các loại bếp hiện đại dù không có kiềng ba chân, không có cửa bếp nhưng được xác định theo tiêu chuẩn Sơn-Tọa -Hướng của ĐLPT Lạc Việt một cách thống nhất theo Âm Dương Ngũ Hành. Bếp Từ đang dần được thay thế các loại bếp Ga do tính an toàn cao cũng như chi phí sử dụng rẻ hơn. Tuy nhiên, bếp Từ được xếp là Âm Hỏa so với các loại bếp khác nên khi bố trí Bếp cũng như cách xử lý trong trường hợp Bếp Từ cũng có phần đặc biệt hơn. Câu chuyện thực tế xảy ra vào tháng 11 năm 2016 tại nhà Bố Mẹ Vợ của tôi, và lý do vì sao tôi lại sử dụng câu chuyện này chứ không phải của các ngôi nhà khác ? Đó chính là vì ngôi nhà này do chính tôi thiết kế và làm Phong Thủy toàn bộ nhưng vẫn có chuyện để viết cho Quí vị. Nhà của Ông Bà Nhạc nằm ngay sát nhà tôi, cách nhau một bức tường thấp và một cánh cửa. Nói vậy để hiểu rằng khoảng cách giữa hai nhà chỉ là phần không gian nhỏ giữa hai bên. Trước khi chuyển nhà vào năm 2015, ở nhà cũ do không thể chỉnh sửa phong thủy nên Mẹ Vợ tôi mắc chứng bệnh về mắt rất lạ: Có thể kéo được sợi như tơ từ mắt ra. Liên tục nhiều năm liền với các bác sỹ giỏi của viện Mắt TW, chỉ là việc gắp sợi và tra thuốc. Từ khi chuyển về nhà mới năm 2015 thì căn bệnh này đã gần như biến mất. Tất nhiên Bà vẫn có bệnh tiền đình và giãn tĩnh mạch nên vẫn có bệnh mỗi "trái nắng trở giời". Vào khoảng cuối tháng 10 năm 2016, sau khi bị ngộ độc thức ăn, thì Bà nằm ốm luôn hai tuần. Khỏi được vài hôm thì lại ốm và lần này ốm nặng hơn: Đau lưng , đâu đầu và chóng mặt. Bác sỹ chuyền nước, châm cứu, uống -tiêm thuốc cả chục ngày không những không khỏi mà còn không thuyên giảm. Tôi thì cho là do Bà bị tiền đình cộng thêm bị ngộ độc thức ăn nên cũng không nghĩ rằng vấn đề có nguyên nhân từ Phong Thủy. Trước đó hai tuần thì có người nói với Bà do khi làm nhà mượn tuổi chưa Cúng chuyển tên nên có bệnh. Bà làm lễ cúng ngay sau đó nhưng tất nhiên kết quả chỉ là thỏa mãn cho phần tâm lý. Tháng 10 thì Ông Bà cũng đặt thêm một tủ đông vào vị trí cung Tốn, và tất nhiên tôi cũng đặt nghi vấn vào sự việc này nhưng rất ít khả năng vì Tốn-Tây Nam trong hai tháng 10 và 11 đều không có vấn đề về Huyền Không. Tuy nhiên, tôi vẫn yêu cầu Ông Bà tắt tủ đông lạnh đi để kiểm tra ảnh hưởng của nó. Sáng hôm sau thì Ông thông báo là Bà đã hết đau lưng nhưng ngày hôm sau lại đau lại và đau hơn. Cho tới tuần cuối tháng 11 thì Bà gọi tôi sang nói rằng kiểm tra lại Phong Thủy xem có vấn đề gì không mà Bác sỹ nói là "rất kì lạ khi uống thuốc mà bệnh không giảm". Thực tế thì ngay khi Bà ốm, tôi đã sang kiểm tra Bếp và mọi thứ xung quanh. Không có gì thay đổi. Sau khi Bà yêu cầu, tôi lại xuống kiểm tra một lần nữa nhưng cùng Ông ngoại. Lần này, tôi hỏi Ông xem có thay đổi gì hoặc đặt thêm gì trong bếp không nhưng hoàn toàn không có gì mới. Tôi nhìn thấy bên cạnh bếp ga chính chuẩn PTLV, Ông Bà đặt cạnh là một cái bếp từ loại chuyên dùng ăn lẩu. Tôi cũng vẫn đinh ninh bếp này là ông bà để vì tiện dùng khi ăn lẩu , đỡ phải cất đi nên không hỏi. Vẫn cẩn thận đo lại Bếp chính một lần nữa vì bệnh của Bà như thế nhất định phải từ cái Bếp. Đo đi đo lại vẫn ổn, quay qua bếp lẩu Từ ngay sát bên cạnh đo thử thì thấy xung khí ngập tràn. Tôi quay qua hỏi Ông vì sao Ông không cất đi mà để đây, thì Ông bảo là Ông Bà thời gian gần đây thì dùng bếp lẩu từ để đun nấu chứ không đun bằng bếp ga chính. Lúc này thì tôi mới tá hỏa và yêu cầu ông đặt ngay bếp lẩu từ lên trên bếp ga chính, cho dù Ông Bà cũng rất cẩn thận khi đặt sát và song song cùng bếp chính. Tôi lập tức đặt một hũ tham sinh vào trung cung nơi có Nhị Hắc tinh đóng đô tháng 11, quay qua Tôi nói với Ông : "Mai Bà sẽ khỏi" Sáng hôm sau, Ông tươi cười dơ ngón tay cái "Thump -Up" nói với tôi: "Mẹ đã ngồi dậy và ăn hết bát phở". Sau hai tuần chỉ nằm và không ngồi được thì đây đã là tiến triển vượt bậc. Đến tối thì Bà đã xuống nhà ăn cơm thay bởi ăn cháo. Ông nói với Tôi:"Không biết là do Thầy PT cao tay hay bệnh tâm lý nhưng thế là tốt rồi", Tôi chỉ cười vì biết rằng nguyên nhân từ cái bếp ngập tràn xung khí và vì Phong Thủy mang tính qui luật nên khi đã nhìn thấy kết quả ắt sẽ tìm được nguyên nhân. Sang tới hôm sau thì Bác Sỹ đã dừng tiêm và chuyền nước, Bà bắt đầu đi ra đi vào bình thường tuy rằng Bà vẫn kêu đau lưng và chóng mặt.Tôi lại rằng là do hậu quả của việc nằm trên giường quá lâu và tiêm nhiều thuốc nên chưa thể hoàn toàn hết, nhưng đêm nằm nghĩ mới giật mình, rằng cái Bếp từ cần phải được tán hết khí. Vấn đề ở chỗ, do vị trí của bếp rất vượng khí nên khi có xung khí dồn vào lâu ngày gặp tháng 11 có sao Nhị Hắc đóng ở Trung Cung nên phát bệnh. Cho dù đã di chuyển bếp vào nơi không có xung khí nhưng bếp do vẫn tụ xung khí nên khi dùng bếp ở vị trí mới nó vẫn mang tới tác hại. Tôi yêu cầu ông mang bếp ra ngoài sân và tạm thời không dùng tới nó mà dùng bếp ga. Ngay khi ngồi viết bài viết này, Bà đã đi chợ nấu cơm và trở lại các hoạt động bình thường. Tôi yêu cầu Bà cất bếp lẩu từ vào kho và chỉ dùng khi ăn lẩu. Vậy là chỉ sau 4 ngày từ ngày phát hiện ra nguyên nhân, Bà đã hoàn toàn hồi phục sức khỏe. Tôi hy vọng bài viết này sẽ thêm một kinh nghiệm khi quí vị đặt Bếp và bố trí không gian Bếp, bởi tác hại của nó khi có xung khí là rất mạnh và nhanh.Tất nhiên, khi không gian Bếp thoát khí hoặc vô khí thì tác hại của xung khí (nếu có) vào bếp sẽ giảm và ít tác dụng nhưng đối với ĐLPT Lạc Việt thì Bếp và không gian Bếp luôn phải vượng khí. Đó là yêu cầu bắt buộc bởi Bếp sẽ mang tới cho ngôi gia sức khỏe và sự thịnh vượng. Hà nội 06-12-2016 Mạnh Đại Quân
  19. THÁI CỰC ĐỒ (ÂM DƯƠNG ĐỒ HÌNH) 1. Dấu tích lịch sử: Theo các tài liệu lịch sử còn lưu lại thì Thái cực đồ hình (Taijitu 太極圖) được biết tới do Chu Đôn Di Zhou Dunyi (周敦頤 1017–1073) đời Tống (960-1279) sáng tạo ra cùng với cơ sở Học thuyết Thái cực . Đồ hình Thái Cực này được coi là đồ hình đầu tiên mô tả Thái Cực sinh Lưỡng Nghi do được ghi chép và lưu giữ nguồn gốc. Đồ hình H1 là đồ hình được Joseph Adler chụp từ nguyên gốc trong cuốn Thông Thư (通書) của Chu Đôn Di. Trong suốt thời kì nhà Minh (1368–1644), Đạo giáo lúc đó rất phát triển và dựa trên nền tảng Đạo giáo đã có rất nhiều sáng tạo Thái Cực đồ hình mô tả cơ sở học thuyết của họ lúc đó. Trong khi nguyên gốc đồ hình của Chu Đôn Di sử dụng các vòng tròn thì trong thời kì nhà Minh (1368-1644) bắt đầu xuất hiện các đồ hình vòng xoáy.Đồ hình có vòng xoáy sớm nhất được cho là của Triệu Huy Khiên - Zhao Huiqian (趙撝 , 1351–1395) trong cuốn Lục Thư Bản Nghĩa viết năm 1370s thuộc bộ Tứ Khố Toàn Thư. Đồ hình này được ghép thêm với bát quái và được được gọi là Thái Cực Hà Đồ . Tới cuối đời nhà Minh thì mới xuất hiện thêm hai chấm bên trong thay bởi hai hình giọt nước, và được sử dụng rộng rãi trở thành Vũ Trụ Quan của người Trung Hoa. H1: Chu Đôn Di đồ hình H2: Triệu Huy Khiêm Đồ hình LAI TRÍ ĐƯC (來瞿唐 / 来瞿唐, 1525–1604) sau đó lại thiết kế lại Thái Cực Hà Đồ dựa trên khuôn mẫu của biểu tượng Phật giáo Tây tạng Gankyil H4: Lai Zhide vs Gankyil Tiên thiên thái cực đồ và vô cực đồ được phát triển và sử dụng nhiều nhất vào thời kì nhà Thanh (1644–1912) THÁI CỰC ĐỒ HIỆN ĐẠI Vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20, người Trung Hoa công bố rộng rãi Thái Cực đồ hình với hai vòng xoáy của thời Minh và gọi đó là Đồ Hình Âm-Dương. Khoảng từ những năm 1960 thì Âm Dương Đồ Hình được thêm vào hai chấm ở mỗi xoáy cùng kết hợp với Hà Đồ được sử dụng rộng rãi. Đồ hình này được dùng trong thiết kế và nhận diện của môn Thái Cực Quyền từ những năm 1970 để thể hiện tinh thần của bộ môn này. 2. DẤU HIỆU TỪ ĐẾ CHẾ LA MÃ Tại Rome, người ta tìm thấy dấu tích của Âm Dương Đồ Hình trên khiên và phù hiệu của Kỵ Binh của đế chế La Mã (AD 430). Trong bài viết "The Ying-Yan Among The Insignia of The Roman Empire - Âm Dương Đồ Hình bên trong dấu hiệu của Đế Chế La Mã" của Giovanni Monastra, người đã phát hiện ra dấu hiệu của Đồ Hình này từ thư tịch cổ có tên là "Notitia Dignitatum Omnium tam Civilium quam Militarium " được viết từ cuối thế kỷ thứ 4 đầu thế kỉ thứ 5. Trong cuốn thư tịch cổ này, ngoài việc viết về các đơn vị hành chính và quân sự của Đế chế La Mã người ta tìm thấy rất nhiều ký hiệu và đồ hình cùng 4 màu sắc Đỏ-Xanh-Vàng-Trắng thể hiện thế giới Siêu hình, Tôn giáo và Tri thức. Ở trang tiếp theo, người ta lại tìm thấy Thái Cực Đồ của Chu Đôn Di theo hình ảnh dưới đây (hình thứ ba hàng thứ ba từ dưới lên) Theo tác giả, không có một nhà nghiên cứu La Mã Cổ nào kể cả nhà nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa Á Đông Franz Cumont phát hiện và đặt ra câu hỏi nghi vấn này ? liệu có phải đây là Thái Cực Đồ hay Âm Dương Đồ Hình của Á Đông xuất hiện trong Đế chế La Mã. Ngay cả đối với giới khoa học và nghiên cứu khảo cổ tại Châu Âu, không một ai đề cập tới vấn đề này và chủ yếu họ tìm hiểu sự giao thoa giữa các nền văn hóa cổ đại và tác giả cho rằng đây là một sai lầm. 3. Quốc Kỳ Hàn Quốc Ra đời đầu tiên vào thời kì Joseon 1882, được nói rõ sử dụng "BAT QUAI DO" cho Hoàng Gia. Vậy từ thế kỉ 18, Thái Cực Đồ của người Việt đã được biết tới và sử dụng tại Hàn Quốc. Quốc Kỳ của HQ trước năm 1800 sử dụng đồ hinh Thái Cực Hà Đồ của Chu Đôn Di. nhưng hai năm sau sử dụng Thái Cực Đồ của nền văn hiến Lạc Việt. Taegukgi of the Joseon dynasty (before 1800) Taegukgi by Park Yeong-hyo (September 1882) Taegukgi (1910) from 1945 to 1948; 4. Đặt lại vấn đề Trong cuốn " Reconstructing the confucian dao" của Adler Joseph tạm dịch là Tái Thiết Đạo Khổng, chương năm trang 153, tác giả viết :" Mặc dù cho tới nay, sự xuất hiện của học thuyết Âm Dương được coi là nguồn gốc của Thái Cực Đồ vào thời Chu Hi ( 朱熹, October 18, 1130 – April 23, 1200) và Chu Đôn Di (周敦頤; Zhou Dunhyi; 1017–1073) có được học thuyết này từ Đạo Giáo. Chu Đôn Di và những người theo ông ta luôn khẳng định Chu Đôn Di là người sáng tạo ra Thái Cực Đồ. Chu Hi thì không chấp nhận học thuyết của Chu Trấn -hay Chu Hoàng - Hậu Lương Mạt Đế (Zhu Zhen (朱瑱) (October 20, 888–November 18, 923) cũng như đồ hình từ Đạo Giáo bởi theo Chu Hy, nó phá hoại tính đặc thù của Khổng Giáo. Trang 154, tác giả lại viết " Câu hỏi đặt ra là Thái Cực Đồ Hình của Chu Đôn DI lại được đem ra tranh luận kịch liệt suốt từ thế kỷ thứ 12. Theo ghi chép thì học thuyết đáng lưu ý nhất là của Chu Hoàng, và truyền cho Đôn Di thông qua Mục Tu ( Mu Xiu 穆修, 979–1032). Mục Tu là quan Trung phẩm chết khi Chu Đôn Di mới 15 tuổi: Mục Tu nhận được từ Chủng Phóng ( Chong Fang 种放956-1015) là một quan lại triều đình từ quan ẩn dật. Chủng Phóng học được Trần Đoàn Lão Tổ. Trần Đoàn ghi lại rằng, ông thu nhận được rất nhiều đồ hình trong đó bao gồm Quẻ, Quái trong Kinh Dịch được truyền bá rộng rãi bởi Thiệu Ung ( 邵雍 Shao Yung; 1011–1077) và Chu Hy . Một điều khá quan trọng là Tiên Thiên Đồ của Phục Hy được cả Thiệu Ung và Chu Hi sử dụng. Chu Trấn đã đưa các đồ hình vào lý thuyết này từ trước, tới năm 1134 tức là 61 năm sau khi Chu Đôn Di chết thì những nguồn gốc lý thuyết của ông ta đều không xác định và tính xác thực về những gì ông ta đưa ra đáng để tranh luận. Thêm một sự liên hệ rõ ràng tới Đạo giáo là một khả năng Thái Cực Đồ bị ảnh hưởng từ Phật giáo bởi Chu Đôn Di được biết là Thầy cũng như bạn của Ông ta đều theo đạo Phật. Người được nhắc tới nhiều nhất là Thọ Nhai (Shou Ya) chùa Helin tại Runzhou (tỉnh Jiangsu), nơi Chu Đôn Di sống một thời gian những năm 20 tuổi. Theo Triều Thuyết Chi (Chao Yuezhi 1059-1129), Thọ Nhai dạy Chu Đôn Di nhưng dạy những gì thì không biết và Chu có phải là người KHÔNG theo Đạo Phật cũng đầy hoài nghi . Có một yếu tố đặc trưng của Phật giáo ảnh hưởng tới Thái Cực Đồ, là Guifeng Zongmi (圭峰 宗密 780-841) là nhà người Nhật dạy Phật giáo thời nhà Đường, là ông Tổ của Thiền Tông và Hoa Nghiêm Tông. Một trong những tựa hay sử dụng trong tác phẩm về Thiền Tông chính là Đồ hìnhcủa sự Khai Sáng, yếu tố Siêu Hình đại diện cho tàng Vô Thức. Nó chính là sự nhận diện cho Thái Cực Đồ. Tuy nhiên, Chu Hi bỏ hình tròn nhỏ vào giữa Đồ hình này và nói rằng nó đại diện cho Thái Cực. (Đồ hình của Tsungmi ) Đồ hình này được tìm thấy từ tàng thư tại hang Mogao, Dunhuang xác định là năm 952. Như vậy, đây là bằng chứng cho thấy Đồ hình Chu Đôn Di có nguồn gốc từ Phật giáo. Như vậy, chúng ta có thể thấy đồ hình ÂM DƯƠNG ngày nay chỉ mới xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu TK 20. Nó không thể hiện được tính minh triết của lý thuyết Âm Dương mà là thể hiện qua tư duy và lý thuyết của Đạo giáo. Thế nhưng rất nhiều tác giả vẫn khăng khăng cho là, hai chấm đen trong lưỡng nghi thể hiện Thiếu Âm và Thiếu Dương là từ thời Chu Đôn Di, khi mà ngay cả Chu Đôn Di cũng không được coi là người tạo ra Thái Cực Đồ. Thái Cực Đồ hay ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG được lưu giữ từ nền văn hóa Việt trải gần 5000 năm Lịch sử , mô tả đầy đủ triết lý của lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã cho ta thấy, người Việt mới là người nắm giữ đầy đủ học thuyết này. (Còn tiếp tục bổ xung) Mạnh Đại Quân
  20. ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT CHUYỂN ĐỘ SỐ ĐOÀI-LY TRONG ÂM TRẠCH Đối với Địa Lý phong thủy Lạc Việt thì nguyên lý lý thuyết nền tảng là “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” : Quái Khôn ở Đông Nam và huyền không Thât Xích 7 -Hỏa thuộc quái Ly và Cửu Tử 9 -Kim thuộc quái Đoài. Đây chính là lý thuyết nền tảng bất di bất dịch của ĐLPT Lạc Việt. Trong Bát Trạch Tam Nguyên Lạc Việt, các trường hợp đặc biệt chính là gia chủ phi cung Đoài - 9 và Ly -7 sẽ hoán đổi so với Phong thủy cổ thư - tức là theo PTLV các trường hợp phi cung Đoài -Tây tứ trạch theo PT cổ thư sẽ là phi Cung LY-Đông tứ trạch, phi Cung LY-Đông tứ trạch theo PT cổ thư sẽ là phi cung Đoài -Tây tứ trạch. Trường hợp trong bài viết lần này là trường hợp rất đặc biệt , không phải chỉ bởi vì là trường hợp duy nhất hay đầu tiên đối với Mạnh Đại Quân khi ứng dụng lý thuyết PTLV trong đổi chỗ Tốn-Khôn và độ số Đoài-Ly cho cả ÂM và DƯƠNG trạch, mà điều đặc biệt chính là những thông tin các bạn tìm hiểu được sau khi đọc xong bài viết này của tôi. 1. Thời gian 7 Năm trước: Tôi nhận được một cuộc điện thoại nhờ tư vấn sửa chữa phong thủy cho căn hộ chung cư cao cấp nhất tại Hà Nội thời điểm đó. Anh có giới thiệu là thành viên của diễn đàn TTNC Lý Học Đông Phương và rất tin vào PTLV, và là một nhà khoa học có chức vị tại viện Vật Lý Nguyên Tử. Trước khi tới căn hộ của Anh, tôi đã biết khu vực Anh ở là môi trường của Ung thư bởi tôi đã tư vấn vài ca phong thủy tại khu vực này. Khi đo đạc tại căn hộ, ngoài việc căn hộ của Anh bế khí rất nặng, mà trường Địa khí cũng thấp khủng khiếp. Tôi xác định nhà Anh đang và sẽ có người bị Ung thư. Sau này tôi mới biết , chính vì kết luận đó mà Anh đặt niềm tin vào tôi, bởi vì lúc đó con gái lớn chưa tới 18 tuổi của Anh đang điều trị ung thư Máu. Sau khi hoàn thiện toàn bộ tư vấn sửa chữa, một thời gian sau thì Anh thông báo cháu đã khỏe và tiếp tục quay lại chương trình du học bị bỏ dở và đồng thời nhờ tôi tư vấn phong thủy cho căn biệt thự của Anh. Bẵng đi một thời gian hơn 4 năm, Anh gọi lại và thông báo con gái lớn của Anh đã qua đời vì căn bệnh ung thư khi đang du học tại Nước ngoài do đó việc xây dựng lại phải trì hoãn. Anh cũng dọn ra sống ở nơi khác và cháu thứ hai lại tiếp tục đi du học. 2. Tới nay: Sau một thời gian ổn định thì năm ngoái Anh lại gọi cho Tôi và quyết định xây căn biệt thự của Anh sau nhiều năm trì hoãn. Có rất nhiều thay đổi trong kế hoạch và cho tới hiện giờ, căn biệt thự mới đang trong quá trình hoàn thiện. Đầu tháng 9, Anh nhắn tin nhờ tôi xem quẻ về việc cháu gái út con Anh bị tai biến phải mổ cấp cứu. Tôi rất ngạc nhiên bởi căn bệnh này vốn thuộc về những người lớn tuổi. Tôi dùng Lạc Việt Độn Toán bốc được quẻ Khai -Tiểu Cát: ca phẫu thuật thành công và tôi nói sau một tuần sẽ ổn định.Sau ca mổ, Anh thông báo cho tôi cháu đã qua cơn nguy kịch.Bản thân tôi lúc đó cũng không thể ngờ cháu đang phải đối diện với sự sống và cái chết. 10 ngày sau, Anh nhắn tin cho tôi từ Nước ngoài thông báo tình hình khá phức tạp bởi trường hợp của cháu rất đặc biệt :tỉ lệ là 1/Một triệu trường hợp. Chuyển biến khá xấu và Anh rất lo lắng bởi cháu vẫn phải nằm trong phòng điều trị đặc biệt. Tôi gieo quẻ, vẫn là quẻ tốt.... Tôi yêu cầu anh gửi sơ đồ nhà, hình ảnh nơi cháu đang ở để khảo sát. Không nằm ngoài dự đoán, căn nhà cháu sinh sống có cửa nằm trực diện với đường vào khu đất và đối diện bên đường là tường hàng xóm. Đầu giường nằm trên trục tâm đường Ngay lập tức trong đêm, tôi hướng dẫn Anh cách xử lý phong thủy tại căn nhà này theo ĐLPT Lạc Việt. (phần này xin phép không công bố) Anh gửi cho tôi thông tin để xem tử vi cho cháu , tôi giật mình bởi cung Tật Ách, Đại hạn, Tiểu hạn, cung Phúc đức trên lá tử vi rất xấu. Đối với một lá số như vậy, khó lòng qua khỏi trọng bệnh. Tôi lập tức gọi điện thoại cho Anh đề nghị Anh đưa tôi về xem mộ phần của Ông Nội cháu, vì hai con của Anh một thì đã qua đời vì ung thư, một đang nguy kịch bởi căn bệnh lạ - một hiện tượng bất thường. Sau một ngày thu xếp từ nước ngoài, Anh nhờ người đưa tôi về quê Anh và câu chuyện về ngôi mộ đặt vào trục Đại không vong khi khảo sát đã được tôi đưa lên trang Facebook cá nhân. Mộ của Ông Nội cháu được đặt vào trục đại không vong, vốn là điều kị nhất trong địa lý phong thủy-link bài viết tại đây Cách duy nhất trong trường hợp này là phải xoay mộ, cả quách tiểu lẫn mộ đá. Ngoài việc chi phí lớn do ngôi mộ này đã sang cát (bốc mộ năm 2008) được xây vĩnh cửu bằng đá tảng, xung quanh đang mùa gặt khó vào mà đối với tôi hay bất kì ai thì khi mồ yên mả đẹp thì không ai muốn dỡ đi làm lại từ đầu. Việc đưa ra lời khuyên cho Anh với tôi rất nan giải. Bởi ngoài Anh ra thì Mẹ anh vẫn là người quyết định cuối cùng, khi phải giải thích với họ hàng làng xóm ở quê nhà. Sau khi xin ý kiến của sư phụ Thiên Sứ, tôi quyết định khuyên Anh và gia đình xoay mộ và đề nghị Anh cung cấp ngày, giờ mất Bố của Anh. Sau khi nhận được thông tin, một lần nữa tôi lại phát hiện ra Bố của Anh mất bị 2 trùng tang, trong đó trùng tang giờ Tam xa - tức là sẽ kéo theo hai đến ba người nữa trong dòng huyết thống. Trường hợp này không được phép cải táng - chôn vĩnh viễn cùng đồ trấn yểm, tuy nhiên thì bố của Anh mất 2003 và cải táng 2008. Sau khi cải táng xong thì nhà Anh bắt đầu có chuyện... Vậy là nguyên nhân đã được xác định, tôi thông báo cho Anh và đề nghị ngày 4-10 Âm sẽ thực hiện việc xoay mộ và trấn yểm. 3.Ngày 4-10: Ngày mùng 2-10, ngài Đại đức một chùa lớn tại Hà nội là bạn tôi đã làm lễ , mọi thứ đã sẵn sàng.Tôi được Mẹ của Anh đón về trong tâm trạng lo lắng. Bác nói với tôi đã gầy đi 3kg do suy nghĩ và căng thẳng, khi mà phải làm một việc chẳng đừng và cũng không biết liệu kết quả có được tốt hay không. Về tới Mộ, toàn bộ mộ Đá được dỡ ra nhưng chắc quí vị không tưởng tượng được rằng nó vỡ vụn kiểu như kính: đá tảng dầy cỡ 8-10cm nhưng nó nứt vỡ theo kiểu kính. Đặt la kinh lên mộ, một chiếc Kim la bàn đứng yên không hoạt động , giống y như hôm tôi khảo sát lần đầu. Sát khí quá mạnh ! Bố của Anh sinh năm 1937, theo bát trạch tam nguyên của cổ thư là số 9 phi cung Ly. Đây là hiện tượng khác biệt giữa nguyên lý ứng dụng giữa Địa Lý phong thủy Lạc Việt và cổ thư chữ Hán, mà tôi đã trình bày ở phần trên. Đối với ĐL PT Lạc Việt: “Hà Đồ phối hậu thiên Lạc Việt”thì số 9 thuộc cung Đoài. Sau khi đào hết đất và thấy tiểu quách, phía dưới quách được đặt hướng Nam chếch khỏi trục đại không vong khoảng 2 độ.Đối với ĐLPT Lạc Việt thì trục B-N là tuyệt mạng trạch với người Tây trạch và hơn thế nữa, mệnh trạch Kim không thể phối với hướng Ly- Hỏa. Tôi xoay mộ và trấn theo đúng phương pháp lý thuyết bí truyền từ sư phụ Thiên Sứ, thực hiện chính xác tới từng độ trên la kinh. Thật may mắn, huyệt mộ được xây hình chữ nhật khá rộng và khi quay hết cỡ thì quách tiểu được đặt chính xác theo độ số -điều lo lắng nhất của tôi được giải tỏa. Đặt đồ trấn yểm và lấp đất xong, tôi lại tiếp tục xác định chính xác hướng mộ đá. Ngôi mộ nặng 1,1 tấn được thợ đặt chính xác sau khi phá nát góc của một loại các ruộng đang tới vụ thu hoạch. Tôi và gia đình thở phào nhẹ nhõm vì công việc đã chu toàn ,tôi nhắn nhủ với Mẹ của Anh rằng gia đình sẽ có thêm sơn đinh ! Tôi quay về Hà Nội trước và gia đình ở lại để lo nốt phần cúng lễ tạ. Tới 8.20 tối, Mẹ của Anh gọi cho tôi thông báo với giọng đầy xúc động: " Cháu ơi, con bé nó vừa được rút hết ống xông và ống truyền rồi, có thể đưa thức ăn trực tiếp qua miệng. Bác cảm ơn cháu" . Tôi xúc động rớm nước mắt, bởi không thể ngờ được bởi chỉ trước đó một ngày, Anh nhắn tin thông báo cho tôi cháu mới chỉ co duỗi một chút bên tay trái (do tổn thương não bên phải nên toàn bộ nửa bên phải không cử động). Ba ngày sau, tôi lại được thông báo cháu đã chuyển từ tuyến trên xuống phòng điều trị hồi phục ! Mùng 7-10: Anh thông báo rất căng thẳng vì bệnh viện nói rất bi quan do tiến trình hồi phục chậm sau 5 tuần phẫu thuật. Họ nói nếu gia đình muốn đưa về Việt Nam sẽ tạo điều kiện ngay.Tôi gieo quẻ và nói với anh cứ yên tâm ở lại chữa bệnh. Mùng 8-10: Anh thông báo về với một video đầy cảm xúc, cháu có thể cười và nheo hai mắt. Xin nói lại là hai mắt chứ không chỉ mắt trái.Trạng thái tinh thần của Anh chị rất vui vì giải tỏa được căng thẳng. 11-10: Anh thông báo cháu đang tập mở mắt , thực sự là biến chuyển quá thuận lợi Tôi tin rằng, sau 10 ngày tức là sau 17-10-2016, cháu bé sẽ ổn định. Quẻ Lạc Việt độn toán khó sai ! Có thể sẽ có người nói "May thầy phước Chủ", có thể đúng khi mọi điều kiện để thực hiện được công việc xoay mộ rất thuận lợi. Nhưng tôi khằng định nhân danh nền Văn hiến Việt 5000 năm, Địa lý Phong Thủy Lạc Việt không có chỗ của sự may mắn mà chỉ có thể Đúng hoặc Sai. Sư phụ Thiên Sứ luôn nói rằng: “Chúng ta không thể tìm một cái Đúng từ một cái Sai!”. Và kết quả công việc của tôi đã chứng minh điều đó: Không thể làm đúng từ một cái sai ! Địa lý phong thủy Lạc Việt đáp ứng điều kiện CẦN & ĐỦ cho việc chữa bệnh cho cháu bé, giúp Cháu vượt qua giai đoạn nguy hiểm. Tôi không xác định ĐLPT là thần thánh có thể cải tử hoàn sinh, nhưng nó luôn là điều kiện CẦN &Đủ , giúp cho mỗi chúng ta gặp được nhiều may mắn vượt qua khó khăn thử thách của định mệnh. Hà nội tháng 10 năm 2016 . Mạnh Đại Quân p/s: Thân gửi Anh và gia đình MĐQ cũng mong Anh và gia đình khi đọc được bài viết này của MĐQ sẽ hiểu và hoan hỉ khi đưa chuyện của cháu và gia đình lên diễn đàn. Bởi câu chuyện của gia đình Anh sẽ giúp được rất nhiều người tránh được những sai lầm không đáng có.Trong bài viết MĐQ xin dấu toàn bộ tên, số điện thoại cũng như thông tin chi tiết về gia đình Anh, về lá số tử vi của con gái Anh.Cảm ơn Anh !
  21. Nụ cười toả sáng của cháu bé nói lên tất cả. Cảm ơn quí vi theo dõi bài viết này
  22. TRUNG TÂM NCLH ĐÔNG PHƯƠNG THÔNG BÁO CHIÊU SINH TTNC LHDP Tuyển sinh lớp PTLV ứng dụng do đích thân Sư phụ Thiên Sứ giảng dạy. Toàn bộ chương trình học sẽ được thực hiện qua Video do Sư phụ Thiên Sứ giảng. Các buổi offline thường xuyên sẽ do Hoàng Triệu Hải và Thiên Luân đảm nhiệm. Chương trình học sẽ chính thức đưa vào topic này sau khi đủ số học viên đăng ký, Thành viên trung tâm có nhu cầu tham gia học, có thể đăng ký tại topic này. Đề nghị khi đăng ký ghi rõ địa chỉ, tên thật, email và số đt liên lạc. Trân trọng MĐQ PS: Chỉ đăng ký. Chưa phải đóng tiền học phí.
  23. Được sự đồng ý của SP Thiên Sứ, hth xin được mở topic riêng về dự báo và chứng nghiệm hướng đi của Bão và Áp Thấp mới hình thành có khả năng ảnh hưởng tới Việt Nam Trước tiên là áp thấp nhiệt đới đã hình thành bão Chaba Thêm một vài hình ảnh về cơn bão này
  24. Vâng đúng ạ. Trước tiên cảm ơn Hoàng Định về lời khuyên hưu ích. Hôm nay cháu mới bắt đầu tập mở miệng nên chắc phải chờ thêm thời gian vài ba ngày nữa.
  25. Cập nhật mới nhất từ gia đình Anh: "Cháu cười toe toét " ,