• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

thanhdc

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    420
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    1

Everything posted by thanhdc

  1. Thứ Hai, 27/07/2009, 08:12 Cần một con đường di sản văn hóa Sa Huỳnh TP- Trong bối cảnh ly tán, manh mún đáng lo ngại của hệ thống di tích, di vật văn hóa Sa Huỳnh hiện tại, một “Con đường di sản văn hóa Sa Huỳnh” nhằm kết nối không gian suốt dọc duyên hải miền Trung của nền văn hóa lừng lẫy này là điều đặc biệt cần thiết. Khái niệm “con đường di sản văn hoá Sa Huỳnh” được TS Đoàn Ngọc Khôi (Bảo tàng Quảng Ngãi) nêu lên tại Hội thảo khoa học quốc tế 100 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh (diễn ra 24/7 tại Quảng Ngãi) chừng như khuất lấp giữa mấy chục tham luận chuyên sâu nhưng lại thiết thực hơn cả. Giàu có Từ phát hiện đầu tiên của người Pháp vào năm 1909 với 200 mộ chum có niên đại 2.500 - 3.000 năm tại cồn cát Sa Huỳnh (Đức Phổ, Quảng Ngãi), đến nay, văn hóa Sa Huỳnh đã phát lộ dày đặc suốt lòng đất và hải đảo duyên hải miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận, lên đến Tây Nguyên với hàng trăm di tích. Riêng tại lưu vực sông Thu Bồn rộng lớn của Quảng Nam chỉ từ sau 1975 đến nay cũng đã phát hiện gần 100 di tích văn hóa Sa Huỳnh rải từ đồng bằng ven biển tới núi cao. Theo dự án đã phê duyệt, Nhà Trưng bày văn hóa Sa Huỳnh đặt tại Sa Huỳnh (xã Phổ Khánh, Đức Phổ) với diện tích hai hécta, tổng kinh phí gần 30 tỷ đồng, thời gian thực hiện dự kiến từ nay tới năm 2012. Th.S Karsten Brabander đến từ Viện Khảo cổ học Đức vẫn ngạc nhiên khi (riêng đợt khai quật các năm 2003 - 2004 của nhóm khảo cổ Việt - Đức tại Lai Nghi (Điện Bàn, Quảng Nam) trong 63 ngôi mộ tìm thấy (ngoài đồ gốm, đồng, thiếc), 10 ngàn hạt trang sức, trong đó phần lớn bằng thủy tinh. Qua phân tích, thấy hoàn toàn không trùng với những loại thủy tinh vốn thường gặp trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, chứng tỏ một kỹ thuật làm thủy tinh độc đáo riêng của người Sa Huỳnh. Hay như bộ đàn đá Hàm Mỹ đầu tiên của văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện tại Bình Thuận như một dấu ấn văn hóa độc đáo. Thậm chí mới đây có những phát hiện dấu tích văn hóa Sa Huỳnh ngay trên địa bàn của văn hóa Đông Sơn (di tích Bãi Cọi - Nghi Xuân, Hà Tĩnh). Văn hóa Sa Huỳnh được ghi nhận là một trong ba trung tâm văn hóa quan trọng nhất trong thời đại kim khí Việt Nam, cùng với văn hóa Đông Sơn phía Bắc và văn hoá Óc Eo phía Nam. Ngay nền văn hóa Chămpa rực rỡ thoát thai chính từ văn hóa Sa Huỳnh, mà đến nay mọi bí ẩn vẫn còn đó. Manh mún Không có được vận mệnh may mắn (chữ dùng của TS Diệp Đình Hoa - Viện KHXH VN) khi so sánh với văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện sớm hơn nhưng, với tính chất đa dạng, phức tạp, không tạo được sự nhất trí ngay từ đầu trong việc định danh những di tích, di vật. Và những di tích, di vật ấy, sau tròn một thế kỷ, vẫn còn ngổn ngang khắp rẻo đất miền Trung. Ngoài nhà trưng bày văn hóa Sa Huỳnh tại Hội An (Quảng Nam) được coi là dày dặn nhất với gần 2.400 hiện vật, theo TS Lương Hồng Quang - Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật VN, hầu như chưa hề có một tỉnh nào có bảo tàng chuyên đề về văn hóa Sa Huỳnh. Thi thoảng vài nơi có một gian trưng bày nhỏ lẻ, hay một số sưu tập tư nhân. Ngay chính quê hương của nền văn hóa lừng lẫy này cũng chỉ có một gian trưng bày khuất lấp với vài trăm hiện vật. Ngoài ra, hàng trăm di tích đã khai quật vẫn dầm mưa dãi nắng, ít ai biết đến. Chưa kể tốc độ phát triển kinh tế, đô thị hóa ở vùng miền Trung có thể khiến nhiều di chỉ chưa kịp phát hiện bị đè lấp. Nói như TS Phạm Đức Mạnh - GĐ Bảo tàng LS- VH, Trường ĐHKHXHNV TPHCM, đã đến lúc cần phải “điền dã cấp cứu”. Ông Nguyễn Danh Hạnh (Bảo tàng Phú Yên) trăn trở, tỉnh có sáu di tích, trong đó mới có ba di tích được khai quật, việc nghiên cứu tại địa phương còn nhiều hạn chế. TS Đinh Bá Hòa - GĐ Bảo tàng Bình Định lý giải, việc bảo vệ các di tích văn hoá Sa Huỳnh cực kỳ khó khăn, bởi “nhiều năm nay chúng ta chỉ mới khai quật để nghiên cứu nhưng ít đề nghị xếp hạng cho di tích do thiếu quan tâm, dù Luật Di sản văn hóa đã ghi rõ”. Gắn với du lịch, ông Lê Hồng Khánh - Trung tâm văn hóa Quảng Ngãi, cho rằng ngành này chưa chú ý đúng mức đến di sản lớn đang có trong tay. Một việc nhỏ như làm sao hướng dẫn viên có được khả năng giúp du khách đến Lý Sơn hình dung sinh hoạt của người Sa Huỳnh trên hải đảo cách chúng ta nhiều nghìn năm. “Cần xây dựng con đường di sản văn hóa Sa Huỳnh, có sự liên kết giữa các tỉnh miền Trung trong không gian văn hóa Sa Huỳnh, trong đó Quảng Ngãi giữ vị trí trung tâm. Đây là nơi phát hiện đầu tiên về văn hóa Sa Huỳnh, và cũng là nơi sắp tới sẽ hình thành khu bảo tồn di tích gốc- TS Đoàn Ngọc Khôi - Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi, đề nghị. Ngoài ra, cần xây dựng bản đồ GPS cập nhật thông tin về di tích, di vật của các địa điểm văn hóa Sa Huỳnh nhằm giúp quản lý và nghiên cứu bảo tồn. Đồng thời áp dụng công nghệ mới để bảo tồn di tích ngoài trời thu hút khách tham quan du lịch”. Trần Tuấn nguồn: http://www.tienphong.vn
  2. Sáng nay Thanhdc đã nhận được sách anh gửi gồm 3 cuốn: Khai ngộ về tính thấy Tìm về cội nguồn kinh dịch Hà đồ trong văn minh lạc việt. Cảm ơn anh nhiều. Thanhdc.
  3. Cách tìm nhanh hướng Sinh khí như sau: Lấy cung phi của gia chủ phối với 8 Quái của 8 hướng. Các cặp Quái dưới đây phối với nhau xuôi ngược đều được Sinh khí: Khảm - Tốn ; Ly - Chấn ; Cấn - Khôn ; Càn - Đoài
  4. Hơn 100 feet sâu dưới lòng hồ Huron là một dải đá rộng mà 9000 năm trước là một cầu đất, đây là bằng chứng khảo cổ đầu tiên mà các nhà nghiên cứu Đại học Michigan đã phát hiện về hoạt động của con người được bảo tồn bên dưới Great Lakes. Một dải đá dùng để săn bắn dưới lòng hồ Huron rộng khoảng 3.5 m. (Ảnh: John O’Shea) Các nhà nghiên cứu đã xác định vị trí của công trình được cho là để săn tuần lộc caribu và lều trại mà những người săn thú sử dụng trong quãng thời gian này. John O’Shea, người phụ trách Khảo cổ học Great Lakes tại Bảo tàng nhân loại học đồng thời là giáo sư Khoa khảo cổ học, cho biết: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi nhận biết công trình như vậy dưới đáy hồ. Về mặt khoa học, phát hiện này rất quan trọng vì toàn bộ cấu trúc cổ đại được bảo tồn và không hề bị biến đổi do nông nghiệp hoặc quá trình phát triển hiện đại. Phát hiện này có ý nghĩa đối với mô hình sinh thái học, khảo cổ học và môi trường”. Bài báo về phát hiện được công bố trên Proceedings of the National Academy of Sciences. Các đồng tác giả bao gồm O’Shea và Guy Meadows, giám đốc Phòng thí nghiệm thủy động lực đồng thời là giáo sư thuộc Khoa Kiến trúc và kỹ thuật nước, và Khoa học không gian, biển và khí quyển. O’Shea và Meadows phát hiện những đặc điểm mà họ tin rằng là hố săn, lều trại, đường lùa tuần lộc, và những cọc đá được sử dụng để thu hút tuần lộc caribou vào đường lùa. Đường lùa là dãy đá dài được sử dụng để hướng tuần lộc vào bẫy. Công trình dài 1148 feet mà họ tin là đường lùa thú cũng tương tự như một công trình khác trên hòn đảo Victoria tại vùng cận Bắc Cực Canada. Hoạt động săn bắt diễn ra trên dải đất Alpena-Amberley rộng 10 dặm và kéo dài hơn 100 dặm từ Point Clark, Ontario đến Presque Isle, Michigan. Dải đất này là một cầu nối có từ khoảng 10.000 đến 7.500 năm trước khi mực nước thấp hơn nhiều. Bề mặt của nó vẫn còn khá nguyên vẹn, không giống như một số khu vực gần bờ nơi các nhà khoa học tin rằng các công trình khảo cổ khác tồn tại. Những địa điểm này bao phủ bởi trầm tích, vì vậy các công trình được cho là đã bị mất hoàn toàn. Các nhà khoa học đã từng đưa ra giả thuyết rằng dải đất có thể có những dấu hiệu của loài người cổ xưa. Nhưng họ không biết tìm kiếm dấu hiệu nào. O’Shea và Meadows tập trung vào công trình săn tuần lộc sau khi xem xét khí hậu của khu vực này vào thời điểm đó, có thể tương tự như cận Bắc Cực. Những người săn thú cận Bắc Cực thường sử dụng đường lùa tuần lộc caribu. Các nhà nghiên cứu U-M giới hạn khu vực tìm kiếm những công trình này bằng cách mô phỏng dải đất khi nó ở trên cạn. Họ làm việc với Robert Reynods - giáo sư khoa học máy tính tại Đại học bang Wayne để tái tạo môi trường cổ đại rồi mô phỏng đường di trú của tuần lộc caribu. Dựa trên phân tích này, họ chọn 3 vi trí để nghiên cứu. O’Shea và Meadows sử dụng tàu nghiên cứu mới Blue Traveler của U-M, tàu thiết bị năng lượng mặt trời hoạt động dưới nước với máy quay để khảo sát những vị trí này. Meadows cho biết: “Sự kết hợp các công cụ tối tân này đã làm nên sự thành công của nghiên cứu. Không có những công cụ hiện đại, chúng tôi có thể đã không đạt được kết quả này”. Các nhà khảo cổ học sẽ bắt đầu khảo sát các khu vực này vào mùa hè. Hiểu biết về giai đoạn Paleo-Indian và đầu Archaic tại khu vực Great Lakes còn rất hạn chế vì hầu hết các dấu tích khảo cổ được cho là đã bị mất bên dưới các hồ. Paleo-Indians là những người du cư, O’Shea cho biết. Vào thời kỳ Archaic, các cộng đồng người đã trở nên ổn định hơn với dân số lớn hơn, nền kinh tế phân bố rộng rãi hơn. O’Shea nhận định: “Không có các di tích khảo cổ từ giai đoạn này, bạn không thể biết làm thế nào loài người chuyển từ điểm A đến điểm B, hoặc từ Paleo-Indians đến Archaic. Đây là lý do tại sao phát hiện của nghiên cứu có tính chất đặc biệt quan trọng”. Có thể ngoài các công trình săn bắn, các khu định cư cũng được bảo tồn dưới lòng hồ. Những khu vực sinh sống này có thể chứa các tạo tác hữu cơ có thể bị hư hỏng ở vùng đất axit khô hơn trên đất liền. Nghiên cứu do Quỹ khoa học quốc gia tài trợ. Tham khảo: Evidence for early hunters beneath the Great Lakes. Proceedings of the National Academy of Sciences, June 8, 2009 G2V Star (Theo ScienceDaily)Các nhà nghiên cứu đã xác định vị trí của công trình được cho là để săn tuần lộc caribu và lều trại mà những người săn thú sử dụng trong quãng thời gian này. John O’Shea, người phụ trách Khảo cổ học Great Lakes tại Bảo tàng nhân loại học đồng thời là giáo sư Khoa khảo cổ học, cho biết: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi nhận biết công trình như vậy dưới đáy hồ. Về mặt khoa học, phát hiện này rất quan trọng vì toàn bộ cấu trúc cổ đại được bảo tồn và không hề bị biến đổi do nông nghiệp hoặc quá trình phát triển hiện đại. Phát hiện này có ý nghĩa đối với mô hình sinh thái học, khảo cổ học và môi trường”. Bài báo về phát hiện được công bố trên Proceedings of the National Academy of Sciences. Các đồng tác giả bao gồm O’Shea và Guy Meadows, giám đốc Phòng thí nghiệm thủy động lực đồng thời là giáo sư thuộc Khoa Kiến trúc và kỹ thuật nước, và Khoa học không gian, biển và khí quyển. O’Shea và Meadows phát hiện những đặc điểm mà họ tin rằng là hố săn, lều trại, đường lùa tuần lộc, và những cọc đá được sử dụng để thu hút tuần lộc caribou vào đường lùa. Đường lùa là dãy đá dài được sử dụng để hướng tuần lộc vào bẫy. Công trình dài 1148 feet mà họ tin là đường lùa thú cũng tương tự như một công trình khác trên hòn đảo Victoria tại vùng cận Bắc Cực Canada. Hoạt động săn bắt diễn ra trên dải đất Alpena-Amberley rộng 10 dặm và kéo dài hơn 100 dặm từ Point Clark, Ontario đến Presque Isle, Michigan. Dải đất này là một cầu nối có từ khoảng 10.000 đến 7.500 năm trước khi mực nước thấp hơn nhiều. Bề mặt của nó vẫn còn khá nguyên vẹn, không giống như một số khu vực gần bờ nơi các nhà khoa học tin rằng các công trình khảo cổ khác tồn tại. Những địa điểm này bao phủ bởi trầm tích, vì vậy các công trình được cho là đã bị mất hoàn toàn. Các nhà khoa học đã từng đưa ra giả thuyết rằng dải đất có thể có những dấu hiệu của loài người cổ xưa. Nhưng họ không biết tìm kiếm dấu hiệu nào. O’Shea và Meadows tập trung vào công trình săn tuần lộc sau khi xem xét khí hậu của khu vực này vào thời điểm đó, có thể tương tự như cận Bắc Cực. Những người săn thú cận Bắc Cực thường sử dụng đường lùa tuần lộc caribu. Các nhà nghiên cứu U-M giới hạn khu vực tìm kiếm những công trình này bằng cách mô phỏng dải đất khi nó ở trên cạn. Họ làm việc với Robert Reynods - giáo sư khoa học máy tính tại Đại học bang Wayne để tái tạo môi trường cổ đại rồi mô phỏng đường di trú của tuần lộc caribu. Dựa trên phân tích này, họ chọn 3 vi trí để nghiên cứu. O’Shea và Meadows sử dụng tàu nghiên cứu mới Blue Traveler của U-M, tàu thiết bị năng lượng mặt trời hoạt động dưới nước với máy quay để khảo sát những vị trí này. Meadows cho biết: “Sự kết hợp các công cụ tối tân này đã làm nên sự thành công của nghiên cứu. Không có những công cụ hiện đại, chúng tôi có thể đã không đạt được kết quả này”. Các nhà khảo cổ học sẽ bắt đầu khảo sát các khu vực này vào mùa hè. Hiểu biết về giai đoạn Paleo-Indian và đầu Archaic tại khu vực Great Lakes còn rất hạn chế vì hầu hết các dấu tích khảo cổ được cho là đã bị mất bên dưới các hồ. Paleo-Indians là những người du cư, O’Shea cho biết. Vào thời kỳ Archaic, các cộng đồng người đã trở nên ổn định hơn với dân số lớn hơn, nền kinh tế phân bố rộng rãi hơn. O’Shea nhận định: “Không có các di tích khảo cổ từ giai đoạn này, bạn không thể biết làm thế nào loài người chuyển từ điểm A đến điểm B, hoặc từ Paleo-Indians đến Archaic. Đây là lý do tại sao phát hiện của nghiên cứu có tính chất đặc biệt quan trọng”. Có thể ngoài các công trình săn bắn, các khu định cư cũng được bảo tồn dưới lòng hồ. Những khu vực sinh sống này có thể chứa các tạo tác hữu cơ có thể bị hư hỏng ở vùng đất axit khô hơn trên đất liền. Nghiên cứu do Quỹ khoa học quốc gia tài trợ. Tham khảo: Evidence for early hunters beneath the Great Lakes. Proceedings of the National Academy of Sciences, June 8, 2009 G2V Star (Theo ScienceDaily)Các nhà nghiên cứu đã xác định vị trí của công trình được cho là để săn tuần lộc caribu và lều trại mà những người săn thú sử dụng trong quãng thời gian này. John O’Shea, người phụ trách Khảo cổ học Great Lakes tại Bảo tàng nhân loại học đồng thời là giáo sư Khoa khảo cổ học, cho biết: “Đây là lần đầu tiên chúng tôi nhận biết công trình như vậy dưới đáy hồ. Về mặt khoa học, phát hiện này rất quan trọng vì toàn bộ cấu trúc cổ đại được bảo tồn và không hề bị biến đổi do nông nghiệp hoặc quá trình phát triển hiện đại. Phát hiện này có ý nghĩa đối với mô hình sinh thái học, khảo cổ học và môi trường”. Bài báo về phát hiện được công bố trên Proceedings of the National Academy of Sciences. Các đồng tác giả bao gồm O’Shea và Guy Meadows, giám đốc Phòng thí nghiệm thủy động lực đồng thời là giáo sư thuộc Khoa Kiến trúc và kỹ thuật nước, và Khoa học không gian, biển và khí quyển. O’Shea và Meadows phát hiện những đặc điểm mà họ tin rằng là hố săn, lều trại, đường lùa tuần lộc, và những cọc đá được sử dụng để thu hút tuần lộc caribou vào đường lùa. Đường lùa là dãy đá dài được sử dụng để hướng tuần lộc vào bẫy. Công trình dài 1148 feet mà họ tin là đường lùa thú cũng tương tự như một công trình khác trên hòn đảo Victoria tại vùng cận Bắc Cực Canada. Hoạt động săn bắt diễn ra trên dải đất Alpena-Amberley rộng 10 dặm và kéo dài hơn 100 dặm từ Point Clark, Ontario đến Presque Isle, Michigan. Dải đất này là một cầu nối có từ khoảng 10.000 đến 7.500 năm trước khi mực nước thấp hơn nhiều. Bề mặt của nó vẫn còn khá nguyên vẹn, không giống như một số khu vực gần bờ nơi các nhà khoa học tin rằng các công trình khảo cổ khác tồn tại. Những địa điểm này bao phủ bởi trầm tích, vì vậy các công trình được cho là đã bị mất hoàn toàn. Các nhà khoa học đã từng đưa ra giả thuyết rằng dải đất có thể có những dấu hiệu của loài người cổ xưa. Nhưng họ không biết tìm kiếm dấu hiệu nào. O’Shea và Meadows tập trung vào công trình săn tuần lộc sau khi xem xét khí hậu của khu vực này vào thời điểm đó, có thể tương tự như cận Bắc Cực. Những người săn thú cận Bắc Cực thường sử dụng đường lùa tuần lộc caribu. Các nhà nghiên cứu U-M giới hạn khu vực tìm kiếm những công trình này bằng cách mô phỏng dải đất khi nó ở trên cạn. Họ làm việc với Robert Reynods - giáo sư khoa học máy tính tại Đại học bang Wayne để tái tạo môi trường cổ đại rồi mô phỏng đường di trú của tuần lộc caribu. Dựa trên phân tích này, họ chọn 3 vi trí để nghiên cứu. O’Shea và Meadows sử dụng tàu nghiên cứu mới Blue Traveler của U-M, tàu thiết bị năng lượng mặt trời hoạt động dưới nước với máy quay để khảo sát những vị trí này. Meadows cho biết: “Sự kết hợp các công cụ tối tân này đã làm nên sự thành công của nghiên cứu. Không có những công cụ hiện đại, chúng tôi có thể đã không đạt được kết quả này”. Các nhà khảo cổ học sẽ bắt đầu khảo sát các khu vực này vào mùa hè. Hiểu biết về giai đoạn Paleo-Indian và đầu Archaic tại khu vực Great Lakes còn rất hạn chế vì hầu hết các dấu tích khảo cổ được cho là đã bị mất bên dưới các hồ. Paleo-Indians là những người du cư, O’Shea cho biết. Vào thời kỳ Archaic, các cộng đồng người đã trở nên ổn định hơn với dân số lớn hơn, nền kinh tế phân bố rộng rãi hơn. O’Shea nhận định: “Không có các di tích khảo cổ từ giai đoạn này, bạn không thể biết làm thế nào loài người chuyển từ điểm A đến điểm B, hoặc từ Paleo-Indians đến Archaic. Đây là lý do tại sao phát hiện của nghiên cứu có tính chất đặc biệt quan trọng”. Có thể ngoài các công trình săn bắn, các khu định cư cũng được bảo tồn dưới lòng hồ. Những khu vực sinh sống này có thể chứa các tạo tác hữu cơ có thể bị hư hỏng ở vùng đất axit khô hơn trên đất liền. Nghiên cứu do Quỹ khoa học quốc gia tài trợ. Tham khảo: Evidence for early hunters beneath the Great Lakes. Proceedings of the National Academy of Sciences, June 8, 2009 G2V Star (Theo ScienceDaily) Nguồn: www.khoahoc.com.vn
  5. Cập nhật lúc 17:35, Thứ Tư, 15/07/2009 (GMT+7) Vietnamnet - Báo cáo tổng kết 7 năm thực hiện luật Di sản văn hóa của Bộ VH-TT-DL tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, TP.HCM có 18 trong số 55 di tích xếp hạng quốc gia bị xâm phạm. Thực tế, số lượng và mức độ bị xâm hại của các di tích tại TP.HCM "sống động" hơn nhiều những con số khô khan trên. Địa chỉ đầu tiên là đình Thông Tây Hội, ngôi đình cổ rộng 5.188m2 nay chỉ còn 1.500m2. Ngôi đình cổ chết từ bên trong Xây dựng vào năm 1679, đình Thông Tây Hội trên đường Thống Nhất (P.11, Q. Gò Vấp, TP.HCM) được xem là ngôi đình cổ nhất của vùng đất Sài Gòn - Gia Định. Dù nhìn bên ngoài, đình vẫn giữ được hình hài, nhưng sự tàn phá của thời gian lẫn con người đã làm ngôi đình này chết dần từ bên trong. Theo tài liệu chúng tôi có được, ban đầu đình được xây dựng bằng gỗ lá. Về sau, đình được cất lại bằng gỗ lợp ngói, nhỏ và đơn giản. Sau nhiều lần trùng tu, ngôi đình hình thành với đường nét kiến trúc phù hợp với kiến trúc tôn giáo ở miền Nam thế kỷ 18 - 19. Cột kèo bị ruỗng mục Đình Thông Tây Hội trước đây vốn có diện tích 5.188m2, xoay mặt về hướng đông, có chánh điện, võ ca (nơi tổ chức hát bội vào những dịp tế lễ), nhà hội sở (nơi tiếp khách) cùng một vài công trình phụ khác. Bên trong chánh điện có 8 hàng cột mỗi hàng 6 cây. Bốn cây cột cái cao nhất nằm ngay vị trí trang trọng bao trọn ban thờ thần. Tất cả các cột trong chánh điện đều được chạm trổ hoa văn. Từ ngoài sân nhìn lên nóc chánh điện, hình tượng lưỡng long tranh châu bằng đất nung tráng men xanh rất sống động. Đình thờ hai vị thần Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương vốn là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, được mệnh danh là "Thủy tổ khai hoang" trong lịch sử Việt Nam. Mưa xối vào bằng Di tích quốc gia Khuôn viên đình Thông Tây Hội bị các hộ dân lấn chiếm xây nhà, trường học cũng được xây lên một phần ở đây nên diện tích hiện tại thu hẹp chỉ còn 1.500m2. Bản thân ngôi đình bị xuống cấp nghiêm trọng. Mái ngói âm dương sau nhiều năm không bảo quản tốt đã bị dột. Nước mưa theo cột chảy xuống làm hư mục rất nhiều rui, mè, kèo, trính. Kính chắn mưa vỡ tan Do thiếu bàn tay chăm sóc, mối mọt đã xông vào và có khả năng ăn ruỗng cột, còn trên những lá kèo đã xuất hiện nhiều tổ mối. Chánh điện, võ ca được trùng tu, nâng nền lại từ năm 1998, nhưng do tận dụng những cây gỗ cũ, nên chất lượng không tốt. Riêng hội sở (nơi dành tiếp khách) chưa được nâng nền, nước mưa từ sân đình chảy xuống ngập lênh láng. Trong chánh điện, chỉ một cơn mưa nhỏ, nước đã chảy xuống ướt sũng nền nhà. Phần kính được lắp đặt trong lần trùng tu trước để chắn mưa đã bị vỡ vụn. Nước mưa vô tư xối thẳng vào tấm bằng công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia! Trong khi đó, ở sân đình, gạch lát sân đã vỡ nát gần như toàn bộ. Lá khô, rác thải sinh hoạt như bịch nhựa, vỏ chai tung tóe khắp nơi. Mùi hôi của các loại chất phóng uế bừa bãi xông lên nồng nặc. Người dân còn tụ tập buôn bán tạo cho sân đình một cảnh quan vô cùng nhếch nhác. Một cơn mưa nhỏ, nền chánh điện đã thế này Sân đình cũng là bãi đáp của dân hút chích. Ống kim tiêm bỏ vương vãi nhiều nơi cạnh đình, dù trụ sở Công an P.11, Q.Gò Vấp nằm cạnh bên được xây dựng trên phần đất vốn trước đây thuộc khuôn viên đình. Miếu thờ phải né nhà dân Về cơ bản, nhiều di vật quí của ngôi đình vẫn còn. Những nét chạm trổ tinh xảo trên các rường cột còn khá nguyên vẹn. Nhiều bàn thờ khảm xà cừ vẫn chưa bị thời gian và bàn tay con người tàn phá. Các bộ liễn, hoành phi câu đối khắc trên thân cột vốn hiếm thấy trong các đình chùa ở miền Nam nhưng tại ngôi đình này vẫn còn rực rỡ. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Tý, người canh giữ ngôi đình từ 12 năm nay cho biết phần võ ca đã được trùng tu nhưng còn thiếu hai phần cánh, chiều rộng mỗi cánh khoảng 4m. Đã có nhiều "Mạnh thường quân" ủng hộ xây dựng nhưng phần đất bên cánh phải đã bị lấn chiếm, còn không đủ 3m, nên việc xây dựng không thể thực hiện được. Nhà dân chiếm dụng, bao vây ngôi đình cổ Ngoài ra, trên phần đất có nhiều miếu thờ cũng đã bị nhà dân chiếm dụng nên đành phải dời những miếu này về sát cạnh đình. Miếu bà cũng trong tình trạng tương tự. Phần đất của Miếu bà hiện nay được trưng dụng để xây dựng trường học và trụ sở công an phường nên miếu cũng phải di dời. Ông Tý cho biết thêm, muốn nâng nền của ngôi đình thì chỉ cần dỡ ngói và đưa cột cao lên. "Nhưng chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đã kéo theo nhiều hệ lụy, cần đến một khoản kinh phí khá lớn. Trong khi đó về mặt quản lý, nhà nước chưa có sự quan tâm đúng mức". Đình Thông Tây Hội đang đứng trước nguy cơ chết mòn. Ngôi đình cổ xưa nhất vùng Sài Gòn - Gia Định đang thiếu bàn tay chăm sóc và tiếng nói của những người có trách nhiệm. Nhưng trước hết, cần sớm "chặt" những bàn chân vô ý thức của những kẻ đang dẫm đạp lên di sản mà cha ông để lại cho hậu thế. Lê Du An - Trần Đình Bài 2: Nguy cơ tiêu vong khu nhà cổ gần 200 năm tuổi Nguồn: vietnamnet.vn
  6. Nguy cơ tiêu vong khu nhà cổ gần 200 tuổi Cập nhật lúc 10:58, Thứ Sáu, 17/07/2009 (GMT+7) Vietnamnet - Khu nhà cổ gần 200 năm tuổi ở phường Tăng Nhơn Phú A, Q.9, TP.HCM nằm ngay phía sau đình Tăng Phú - di tích kiến trúc cấp thành phố duy nhất được phép giữ lại trong khu quy hoạch công nghệ cao, đang có nguy cơ biến mất. TIN LIÊN QUAN Ngôi đình 330 tuổi đang chết dần ở TP.HCM Bùi ngùi nhà cổ Cách đình Tăng Phú chưa đầy 100m, khu nhà cổ nằm trên con đường mòn mọc đầy cỏ, trông như bị bỏ hoang vì gia chủ đang trong tư thế chuẩn bị phải giao đất lại cho dự án khu công nghệ cao của TP.HCM. Cách đây gần 4 tháng, khu nhà cổ còn có 6 căn, tuổi thọ đều gần 200 năm tuổi, nhưng hiện chỉ còn 4 căn và cũng không biết sẽ tồn tại được bao lâu vì đang nằm trong diện giải tỏa. Hai căn đã mất, một của bà Dương Thị Sáu bán hồi tháng 4/2009 với giá 200 triệu đồng, căn còn lại của bà Nguyễn Thị Đồng bị con cháu bán chia nhau đi tứ tán. Hơn 150 năm, bằng tuổi đình Tăng Phú gần đó, nhưng ngôi nhà của ông Thời có nguy cơ bị giải tỏa Ông Huỳnh Hữu Thời - thế hệ thứ ba trong căn nhà cổ hơn 150 năm tuổi, số 14/176 khu phố 3, phường Tăng Nhơn Phú A cho biết: "Ông nội tôi bảo, ngay sau khi đình Tăng Phú được xây xong, ông mời nhóm thợ này về dựng căn nhà. Tuổi ngôi nhà tôi giờ cũng bằng tuổi ngôi đình ngoài kia". Trong bốn ngôi nhà cổ còn lại ở khu phố 3, nhà ông Thời được gìn giữ tốt nhất. Tuy nhiên, một phần nhà cũng đã được gia cố tạm thời bằng bê tông vì không trùng tu kịp thời theo đúng quy cách. Câu đối chạm khắc trên gỗ đã bị dỡ xuống do phải sơn lại vì bị mối mọt lâu ngày làm hư hại nặng. Ngôi nhà của ông Nguyễn Minh Chính ở số 14/182 lớn nhất trong khu đang trong trình trạng xuống cấp một cách đáng ngại. Ngói âm dương của ngôi nhà rơi khỏi mái, chất chồng ngổn ngang. Phía nhà sau, chủ nhà cho thuê làm nơi đóng canô. Quanh nhà, vẫn còn dấu tích của một khu vườn được chăm chút kỹ lưỡng trong quá khứ nhưng giờ đây cỏ mọc ngút ngàn. Nhà của ông Nguyễn Minh Chính rệu rã Trên tường nhà, chỉ còn thấp thoáng một vài hoa văn, còn hầu hết đã phai màu, rêu bám. Mái nhà bị mối bám dày. Ông Nguyễn Minh Chính than thở: "Anh em tôi rất muốn gìn giữ ngôi nhà của tổ tiên, nhưng nó đang nằm trong diện bị giải tỏa để xây dựng khu công nghệ cao. Chúng tôi chưa biết làm thế nào cả". Ngôi nhà số 33/2 của anh em ông Đặng Thanh Hải và Đặng Thanh Hà cũng có số phận bi đát không kém. Ông Hải cho biết: "Ngày xưa dòng họ Đặng và dòng họ Nguyễn, tức gia đình tôi và gia đình ông Minh Chính cùng nhau mời thợ từ Huế vào để xây dựng khu nhà này. Chúng tôi buộc phải di dời tới nơi định cư mới nhưng chưa biết sẽ ở đâu. Bốn đời dòng họ tôi đã sống trong căn nhà này. Nghĩ mà thấy có lỗi với tổ tiên". Ngôi nhà nằm ngay phía sau nhà họ Đặng là của ông Lê Xuân Hảo, hiện được cho thuê và cũng đang trong tình trạng xuống cấp trầm trọng. Trùng tu hay chờ giải tỏa? Những khu vườn ở đây vẫn còn dấu ấn về một không gian của vùng đất lâu đời, nhưng không còn được chăm chút đã trở nên hoang tàn, heo hút. Con đường chính dẫn vào lầy lội. Bước vào đây, ít ai nghĩ rằng không bao lâu nữa nơi này sẽ mọc lên một khu công nghệ cao quy mô nhất nhì TP.HCM. Tuy nhiên, hiện tại, mọi thứ vẫn chưa có gì rõ ràng đối với chủ nhân những căn nhà cổ. Cỏ hoang mọc um tùm bên một ngôi nhà cổ Ông Huỳnh Hữu Thời cho biết: "Căn nhà là cái gốc của tổ tiên nên tôi rất muốn giữ lại. Khi biết nhà nằm trong diện giải tỏa, tôi làm đơn xin giữ nhưng đã gần hai năm qua vẫn chưa nhận được phản hồi. Mấy anh bên trung tâm di sản có xuống khuyến khích chúng tôi gìn giữ căn nhà, trong khi gia đình đã nhận quyết định giải tỏa nên tôi thật sự băn khoăn. Tôi chỉ mong giữ lại được ngôi nhà để con cháu còn biết mái nhà của cụ kị chúng". Ông Nguyễn Minh Chính trầm ngâm: "Ngôi nhà của gia đình tôi đã xuống cấp, nhưng lại kẹt trong thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu trùng tu rồi mà bị giải tỏa thì hóa ra tốn công, của vô ích. Muốn giữ lại thì không có tư cách pháp nhân nào ngoài việc được công nhận di tích. Nhưng đến nay, dù nhà tôi đã được khảo sát một vài lần, vẫn chưa có công văn chính thức nào cho biết số phận của nó". Ngôi nhà dòng họ Đặng của ông Hải và Hà bị bê tông hóa một phần Hoang mang không biết nên làm gì, là tâm trạng chung của chủ nhân những căn nhà cổ nơi đây. Nhiều năm đã trôi qua từ khi vùng đất này nằm trong kế hoạch giải tỏa, nhưng ban quản lý khu công nghệ cao lẫn chính quyền địa phương vẫn chưa có câu trả lời chính thức giúp người dân... giải tỏa nỗi hoang mang. Khu đất với đình làng Tăng Phú và những mái nhà cổ còn sót lại, vẫn còn vết tích xưa cũ, chứa đựng những giá trị văn hóa - lịch sử mà khó có một thứ lợi ích vật chất nào có thể bù đắp được. Nếu bắt buộc phải giải tỏa, cần có kế hoạch di dời, tái tạo lại không gian văn hóa trên, để những chứng tích cuối cùng của đặc trưng kiến trúc nhà Việt xưa ở TP.HCM không bị hủy diệt cùng thời gian và tác động của hiện đại hóa. Chưa có phương án bảo tồn Ông Đào Văn Chương - Phó Giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích TP.HCM: Khoảng thời gian từ 1992 đến 1993, Ban quản lý di tích trước đây có gửi thông báo đến Phòng văn hóa thông tin Q.9 đề nghị có trách nhiệm bảo vệ hai căn nhà của ông Huỳnh Hữu Thời và ông Nguyễn Minh Triết (bây giờ do ông Nguyễn Minh Chính, cháu ông Triết đang ở) trong khi chờ xếp hạng di tích. Tuy nhiên đến thời điểm này vẫn chưa triển khai được vì nhiều yếu tố: - Những ngôi nhà cổ này thuộc tài sản riêng của người dân. Thế nên, khi chúng ta làm chưa có quy chế cụ thể, chưa đạt được thỏa thuận về quản lý sau khi xếp hạng với chủ sở hữu những ngôi nhà cổ này. Riêng trường hợp ngôi nhà của gia đình ông Nguyễn Minh Chính, do nội bộ gia đình phức tạp, những đồ vật trong gia đình hầu như bị lấy đi, phân tán trong dòng họ. Nếu đạt được thỏa thuận bảo tồn thì chỉ còn có thể duy trì cấu trúc căn nhà đã là quý. Còn trường hợp nhà ông Huỳnh Hữu Thời, tôi có nghe nói đơn của ông đã được ghi nhận, nhưng đến nay vẫn chưa thấy Phòng văn hóa, thể thao và du lịch Q.9 đề cập. - Những đơn vị lập dự án khu công nghệ cao đã thể hiện sự thiếu trách nhiệm trong khi khảo sát. Theo nguyên tắc, khi đụng đến một địa điểm có dấu hiệu là di tích, chứ đừng nói là đã hiện diện, thì phải làm việc thật kỹ với địa phương. Xoay xở thế nào ra phương án tốt nhất để có thể bảo tồn không gian di tích. Công việc này ít được các đơn vị lập dự án làm đúng. Chúng tôi chưa nhận được công văn nào từ dự án khu công nghệ cao về việc bảo tồn di tích trong khu vực xây dựng dự án để có phương án bảo tồn. •Bài, ảnh: Lê Tám Nguồn: vietnamnet.vn
  7. Cội Nguồn Văn Minh Ở Trung Quốc : Sự Khác Nhau Giữa Tài Liệu Khảo Cổ Và Cồ Sử Cùng Sự Giải Thích Hà văn Thùy Tìm hiểu nguồn gốc văn minh ở lưu vực Hoàng Hà Zhou Jixu Trung tâm nghiên cứu Đông Á Đại học Pennsylvania, Philadelphia, Pennsylvania, Khoa Trung Quốc, Đại học Sichuan, Chengdu, Sichuan Tạp chí Sino-Platonic Papers Đại học Pennsylvania. Number 175 December, 2006 Hà Văn Thùy (lược dịch) LND: Đây là tài liệu mới nhất, trình bày một cách hệ thống, phong phú nhiều tư liệu về văn minh tiền sử Trung Hoa, đặc biệt quý là những chứng cứ khảo cổ học. Tác giả cũng đóng góp những nhận định riêng của mình. Tài liệu dài 62 trang khổ A4, cỡ chữ 12. Trong 4 phần của tài liệu, tôi bỏ qua phần II: Sự bắt đầu của nông nghiệp theo tài liệu lịch sử Trung Hoa và những trang so sánh giữa tiếng Trung Hoa cổ và ngôn ngữ Tiền Ấn- Âu. Ở phần cuối, người dịch mạo muội có đôi lời bình luận. Tóm tắt : Dự án nghiên cứu này dựa trên cách nhìn hoàn toàn mới về tiền sử châu thổ Hoàng Hà với những nhân tố chứng tỏ rằng: văn minh Hoàng Hà không phải là sản phẩm của sự tiến hóa độc lập mà là do tác động của yếu tố ngoại lai tới văn hóa bản địa. Nền nông nghiệp sớm nhất ở Trung Quốc, như phát hiện của khảo cố học Trung Hoa, xuất hiện trước 4000 năm TCN, trải rộng giữa lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Nhưng theo các tài liệu cổ thì sản xuất nông nghiệp bắt đầu sớm nhất vào thời Hậu Tắc (后稷), khoảng 2100 TCN ở trung lưu Hoàng Hà. Tại sao có chênh lệch về thời gian lớn như vậy? Cách giải thích là: những câu chuyện về nông nghiệp mà Hậu Tắc là đại diện đầu tiên của nông nghiệp chỉ thuộc về dân cư của nhà nước Hoàng Đế, những người có nguồn gốc du mục. Hậu Tắc và nhân dân của ông học hỏi việc trồng trọt từ dân bản địa sống trên lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử 5000 năm TCN, nhưng cho đến nay họ đã được hòa đồng trong lịch sử. Các bộ lạc của Hoàng Đế chiếm giữ trung lưu Hoàng Hà vì họ có sức mạnh, nhưng họ củng cố, mở rộng, và tiếp tục sự cai trị của mình tại Trung Quốc bằng cách chấp nhận các nền văn hóa nông nghiệp. Các dân tộc chiếm đất là một nhánh Tiền Ấn-Âu. Các hồ sơ lịch sử, chẳng hạn như Thượng Thư (Shang Shu), kinh Thi (Shi Jing), Quốc Chuẩn (Zuo Zhuan - Biên niên của các nhà nước phong kiến), và Sử ký (Shi Ji), vv… tất cả chỉ mô tả sự hình thành và suy tàn của nhà nước Hoàng Đế. Những nền văn minh bản địa 5.000 năm TCN trên lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử bị loại trừ khỏi văn bản lịch sử truyền thống và bởi vậy đã bị vùi lấp trong 3.000 năm. Nghiên cứu này cố gắng bộc lộ các dữ kiện lịch sử với những bằng chứng về khảo cổ học, tài liệu cổ, và ngôn ngữ học lịch sử. Từ khóa: Nguồn gốc của nông nghiệp, khảo cổ học, tài liệu cổ, ngôn ngữ học lịch sử. 1. Hậu Tắc (khoảng 2100 TCN) là tổ tiên của bộ lạc Chu, mà sau này đã tăng trưởng mạnh mẽ để thành lập vương triều Chu ở Trung Quốc (1046-220 TCN?). Hậu Tắc được coi là một trong những nhà lãnh đạo của các nhóm có thế lực trong số hậu duệ của Hoàng Đế, dựa theo các tài liệu cổ điển Trung Hoa. Nội dung: Tài liệu gồm 4 phần: I. Sự bắt đầu của văn minh nông nghiệp theo bằng chứng khảo cổ học. II. Sự bắt đầu của nông nghiệp theo tài liệu lịch sử Trung Hoa. III. Giải thích sự khác nhau giữa phát hiện khảo cổ và tài liệu lịch sử IV. Kết luận I. Sự bắt đầu của văn minh nông nghiệp theo bằng chứng khảo cổ học. I.1 Phác thảo về nông nghiệp tiền sử Trung Quốc Về ý nghĩa của nông nghiệp sản xuất ngũ cốc đối với văn minh nhân loại, Paul C. Mangelsdorf đã nói: “Không có nền văn minh nào xứng đáng với tên gọi đó cho tới khi phát hiện ra nông nghiệp trồng ngũ cốc.” Đó có thể chủ yếu là vấn đề về dinh dưỡng... Hạt ngũ cốc, cũng như trứng và sữa, thực phẩm được thiên nhiên tạo nên nhằm cung cấp carbohydrate, protein, mỡ, khoáng chất và vitamin .... Có lẽ mối quan hệ giữa ngũ cốc và các nền văn minh cũng là một sản phẩm của kỷ luật mà ngũ cốc áp đặt lên những người trồng cấy chúng. Ngũ cốc chỉ được trồng từ hạt giống và phải được trồng và thu hoạch đúng thời vụ. Ở đây họ quan tâm đến những giống cây trồng khác nhau, trong đó có thời tiết lúc gieo trồng và thu hoạch, gần như ở bất kỳ thời điểm nào trong năm... Sự phát triển của ngũ cốc luôn luôn dẫn tới trạng thái cuộc sống định cư.... Nông nghiệp ngũ cốc cung cấp ổn định nguồn thực phẩm, tạo điều kiện vui chơi giải trí, nuôi dưỡng nghệ thuật, thủ công và khoa học. Có thể nói rằng: "Một mình nông nghiệp ngũ cốc cũng tương đương các hình thức sản xuất lương thực khác về khoản đóng thuế, sự bồi dưỡng, khuyến khích lao động và tài khéo léo.” (“Wheat,” Scientific American, CLXXXIX, July 1953, 50-59. Quoted in Ho 1975: 44-45, fn) Nông nghiệp sản xuất ngũ cốc là cơ sở cần thiết của mọi nền văn minh cổ xưa. Trong nửa thế kỷ qua, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã thực hiện nhiều khám phá mới về nền văn minh tiền sử Trung Hoa. Từ thời Đá Mới đến đầu triều đại nhà Hạ (khoảng 7000-2000 TCN), đã tìm thấy rất nhiều di chỉ văn hóa tiền sử ở trung lưu thung lũng Hoàng Hà và trung, hạ lưu thung lũng sông Dương Tử, chẳng hạn như văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao - 仰韶, 4600-3000 TCN), văn hóa Long Sơn (Longshan -龙山- 3000-2200 TCN) trong thung lũng Hoàng Hà; các di chỉ văn hóa Hà Mục Độ (Hemudu 5000-4000 TCN), văn hóa Liangzhu (2800-1800 TCN) tại vùng hạ luu Dương Tử. Các di chỉ này cho thấy thung lũng Hoàng Hà và Dương Tử là một trong những khu vực đầu tiên trên thế giới xuất hiện văn minh nông nghiệp. Đáng ngạc nhiên là nhiều nơi trong số những địa điểm này đã có nông nghiệp rất phát triển lâu dài trước thời điểm hình thành nông nghiệp (khoảng 2100 TCN) được đề cập nhiều lần trong một số sách cổ Trung Hoa. Có một sự khác biệt lớn về thời gian (cũng như địa điểm) giữa những khám phá khảo cổ học và ghi chép của tài liệu cổ. Văn minh nông nghiệp Trung Quốc cổ có thể được chia làm hai khu vực: trung lưu Hoàng Hà và trung lưu, hạ luu sông Dương Tử. Đã có những ngũ cốc khác nhau được trồng ở hai khu vực: cây kê ở vùng trước còn lúa gạo ở vùng sau. Vài di tích lúa được phát hiện tại các di chỉ của văn minh Yangshao trong thung lũng Hoàng Hà. Theo Zhou Jixu: “The Rise of the Agricultural Civilization in China,” Sino-Platonic Papers, 175 (December, 2006)2 (sau đây viết tắc là sđd), cây kê thuộc hai giống khác nhau là Setaria và Panicum. Phổ biến là loài Setaria italica đại diện của giống Setaria, được đặt tên bằng tiếng Hoa: su (粟). Sau đó là hai loài phụ của P. miliaceum, được gọi bằng tiếng Hoa là Shu (黍) và ji (稷) (Hồ 1975: 57). Lúa ở Trung Quốc thuộc hai loài phụ là Oryza sativa japonica, có dạng hạt tròn gọi là 粳稻, và O. sativa indica, là dạng "nhiệt đới" chín sớm với gạo hạt dài, gọi là 籼稻 (Hồ 1975: 62). Chúng ta sẽ xem xét các nguồn gốc của cây kê và lúa gạo sản xuất tại Trung Quốc, dựa trên những nghiên cứu của các học giả và các tài liệu khảo cổ trong những thập kỷ gần đây. I.2 Thời điểm trồng kê Giáo sư Ho Ping-Ti trong công trình “Cái nôi phương Đông” viết: “Trong thế giới cũ, lĩnh vực nông nghiệp đầu tiên xuất hiện ở tây nam Châu Á, trên những dải đồi vùng Lưỡi liềm phì nhiêu, khoảng 7000 TCN. Một số địa điểm xuất hiện sau 5000 BC. Nông nghiệp thâm canh hơn nhờ tưới nước xuất hiện ở đồng bằng sông Tigris và Euphrates. Việc sản xuất nông nghiệp của Ai Cập cổ xưa và các thung lũng sông Indus cũng tùy thuộc vào lũ lụt và thuỷ lợi. Tuy nhiên, trong số các đặc điểm chính của hệ thống nông nghiệp sớm nhất Trung Quốc, nó đã được tự do từ các ảnh hưởng của lũ lụt lớn của vùng đồng trũng sông Hoàng Hà, và như là một hệ quả, diễn ra thiếu sự tưới nước nguyên thủy.” (Ho 1977: 44). Trong công trình của mình, ông đã chứng minh rằng các trung tâm Đá Mới ở Bắc Trung Quốc, ngoài Mesopotamia và Trung Mỹ, là một khu vực, trong đó nông nghiệp độc lập phát triển. Vùng văn hóa Đá Mới trung luu Hoàng Hà là một trong ba trung tâm văn minh nông nghiệp sớm nhất trên thế giới. "Đây là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp dựa trên các hạt ngũ cốc đã đạt tới văn minh đầu tiên trong cả thế giới cũ và mới" (Hồ 1977: 40). Sau đây là tóm tắt các chứng cứ chính của GS Hồ trong công trình dầy 440 trang. Những trích dẫn từ Cái nôi phương Đông. (Ho 1977). Chúng ta biết rằng không có vấn đề là Setaria italica đã được phát triển rộng rãi trong các cao nguyên hoàng thổ thuộc thời kỳ Yangshao. Bằng chứng khảo cổ quan trọng nhất là di chỉ điển hình của văn hóa Yangshao tại Bán Pha (Pan-po 半坡), những chum vại đầy vỏ S. italica đã được tìm thấy trong các kho. Số lượng hạt kê dự trữ, cùng với sự giàu có của nông nghiệp và sự bố trí phức tạp của các làng mạc được thành lập ngoài sự nghi ngờ rằng Setaria italica đã được trồng và thu hoạch bởi những người đàn ông (trang 57). Bán Pha là giai đoạn cực kỳ quan trọng cho sự hiểu biết về các nền văn minh khởi thủy của Trung Quốc vì nó được gọi là giai đoạn sớm nhất của lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa trên cây kê, thuần hóa vật nuôi chủ yếu trên con lợn, bố trí cộng đồng làng với những nghĩa địa kiểu mẫu, sơn gốm, những ký tự và con số nguyên bản Trung Quốc. Zhou Jixu, (sđd. 3) dẫn một loạt 4 dữ liệu radiocarbon cho thấy di chỉ này tồn tại gần như liên tục trong sáu trăm năm thuộc thiên niên kỷ thứ năm trước Công nguyên (trang 16) .3 Bảng I: Một số niên đại C14 trong văn minh tiền sử Trung Hoa 2. Banpo, Sian Yangshao: 4115±110 B.C ; 4865±110 B.C. 4. Banpo, Sian Yangshao: 3955±105 B.C ; 4555±105 B.C. 5. Banpo, Sian Yangshao: 3890±105 B.C ; 4490±105 B.C. 6. Banpo, Sian Yangshao: 3635±105 B.C ; 4235±105 B.C. 7. Hougang 后岗Anyang 安阳 Henan Yangshao: 3535±105 B.C ; 4135±105 B.C. GS Hồ chỉ ra rằng Setaria và Panicum millets là những cây bản xứ (trong những vùng đất cao hoàng thổ của Trung Quốc), theo bằng chứng từ những tài liệu cổ, những cây kê mọc hoang còn tồn tại tới hôm nay ở vùng hoàng thổ, cùng lịch sử lâu dài việc trồng trọt chúng. GS Hồ cũng thảo luận về chủng tộc và nguồn gốc địa lý của người Yangshao. Ông kết luận rằng người Yangshao đến từ miền Nam Trung Quốc, bằng cách sử dụng các bằng chứng về địa lý, môi trường, cổ nhân học, những đồ vật tiêu biểu và văn hóa. Dưới đây là những tóm tắt của ông. 1. Các bằng chứng về thổ nhưỡng và thực vật học: những lớp phủ băng lục địa chưa bao giờ bao trùm toàn bộ Trung Quốc trong thời Pleistocene. Trong nhiều địa phương ở miền Bắc và miền Nam Trung Quốc, các loại đất phát triển từ Cretaceous (120 triệu đến 60 triệu năm trước), và tertiary (60 triệu đến 1 triệu năm trước). Sự tồn tại của các loại đất là căn cứ cho rằng chúng hình thành từ lâu trước thời đại Băng hà. "Sự phong phú khác thường của hệ cây gỗ Đông Á vượt quá số lượng giống loài tại tất cả các phần còn lại của khu vực phía Bắc... Sự phong phú của hệ thực vật Đông Á, đặc biệt là Trung Quốc, là do tính đa dạng lớn của nó về mặt địa hình, khí hậu và các điều kiện sinh thái. Về mặt lịch sử, do không có sự đóng băng rộng lớn trong thời gian Pleistocene cho phép sự bảo tồn một số lớn giống trước đây phân tán rộng nhưng sau đó biến mất trong những phần khác của thế giới."4 Biloba Ginko và Metasequoia5 là những thí dụ nổi tiếng nhất của những "hóa thạch sống" làm chứng cho sự thiếu vắng những lớp phủ băng lục địa ở Trung Quốc. Bởi vậy trong thời gian băng giá cuối cùng, những vùng đất thấp phía nam Trung Quốc có khả năng thích hợp hơn với người tiền sử so với người phía bắc Trung Quốc, trong điều kiện khí hậu và tài nguyên thiên nhiên cho sự tồn tại của con người. 2. Bằng chứng từ cổ nhân học: như khi so sánh với những nhóm người Mông Cổ khác, người Yangshao mang đặc tính cơ thể gần nhất với người Trung Hoa hiện đại ở miền nam Trung quốc và người Đông Dương hiện đại. Gần gũi tiếp theo của họ là với người Trung Hoa hiện đại ở Bắc Trung quốc. Họ có những đặc trưng thể chất khác biệt rõ ràng với người Eskimos của Alaska, Tungus của Manchuria, người Tây Tạng, và người Mongoloid vùng hồ Baikal. Theo thuật ngữ nhân chủng học Xô-viết được chấp nhận bởi trường phái lục địa Trung Hoa, người Yangshao Trung Quốc được phân loại theo "chi nhánh Thái Bình Dương của chủng Mongoloid" hoặc "chủng Mongoloid phương Nam," và như vậy là phân biệt với các proto-Tungus của Manchuria, những người được xếp vào chủng "Mongoloid phương Bắc" (Ho 1975: 38). 3. Bằng chứng của những đồ vật đặc trưng cho văn hóa Yangshao. "Đặc tính nổi bật nhất của những đồ vật đá thuộc văn hóa Yangshao, ngoài tính độc đáo hình học của chúng, là sự thịnh hành những công cụ mài bóng. Người dân của nền văn hóa này đã không biết kỹ thuật tạo vẩy và sửa rìa (flaking & chipping). / Trong việc sản xuất rìu, mũi mác, mũi tên, những cái cày, liềm và dùi đục lỗ, họ sử dụng phương pháp mài. Điều này thể hiện những truyền thống văn hóa đặc biệt và cội nguồn của văn hóa Yangshao, không liên quan đến phía bắc, nơi kỹ thuật ghè đẽo thịnh hành, mà tới phía nam và vùng biển phía Đông Trung quốc ".6 4. Bằng chứng của chuỗi văn hóa: Những nhà khảo cổ Hoa lục xác minh giai đoạn sớm nhất của văn hóa Yangshao gần gũi với những công cụ của di chỉ Lijiachun trong hạt Xixiang, di chỉ Shensi ở phía nam núi Qinling. Ở Lijiachun, nhiều đồ gốm có hình dạng tương tự với một vài địa điểm của Yangshao, tuy nhiên có hai khác biệt quan trọng: sự thịnh hành của đồ gốm cordmarke và sự vắng đồ gốm sơn.7 Dọc theo bờ biển Thái Bình Dương phía Đông và Đông Nam Á, trong nhiều vùng nửa phía nam Trung Quốc, đồ gốm sớm nhất và ổn định là cordmarke, và từ Li-chia-ts’un phía nam Qinling và trên sông Hán Giang nối Shensi với trung lưu sông Dương Tử, một sắc thái miền nam của di chỉ văn hóa Yangshao là điều không thể nghi ngờ (Ho 1975: 39-40). Giáo sư Hồ kết luận : “Trong viễn cảnh tầm xa, nền tảng của hệ thống nông nghiệp bền vững nhất thế giới, một hệ thống quá rộng lớn để làm nên đặc tính vững bền của văn minh Trung Hoa, được đặt vào vùng hạt nhân Yangshao trong thời kỳ đồ Đá Mới”(Ho 1975: 48). Có hay không việc văn hóa Đá Mới Yangshao hình thành và phát triển độc lập, vẫn còn là điều tranh luận (Zhang 2004). Nhưng bằng chứng được trích ở trên đủ chứng tỏ môt thực tại lịch sử: một văn minh nông nghiệp trưởng thành đã tồn tại trong thung lũng sông Hoàng Hà. I.3 Thời điểm xuất hiện việc trồng lúa. Một khu vực hạt nhân khác của văn minh nông nghiệp sớm nhất ở Trung Quốc đã được hình thành tại lưu vực sông Dương Tử. Khoảng 7000-5000 năm TCN, đã có nền nông nghiệp trồng lúa trưởng thành ở trung và hạ lưu sông Dương Tử. Những nhà khảo cổ học Trung Hoa đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực này từ những năm 1950. Có một lời giải chung cho câu hỏi này trong tài liệu của giáo sư Zhu Naicheng "Tổng quan về nông nghiệp trồng lúa tiền sử Trung Quốc" (Zhu 2005). Sau đây trình bày những phác thảo của bài viết. Nguồn gốc của nghề trồng lúa ở Trung Quốc được hình thành khoảng 10.000 BC, theo khảo cổ tiền sử Trung Quốc và kết quả phân tích các mẫu thực vật cổ. Theo bài báo của Zhu, có bốn giai đoạn phát triển của nghề trồng lúa thời tiền sử Trung Quốc. 1. Khởi nguồn (khoảng 10.000 TCN). Hai di chỉ là Hang Xianren trong hạt Vạn Niên (Wannian), tỉnh Giang Tây (Jiangxi), và Dốc Đứng (Yuchan) trong hạt Dao tỉnh Hồ Nam (Hunan), là một phần của đồng bằng sông Dương Tử, và khí hậu trong khu vực cận nhiệt đới nam Trung Hoa. Về mặt địa lý, chúng ở trung tâm của nam Trung Quốc, phía nam Qinling (秦岭) và phía nam sông Hoài . 2. Giai đoạn trưởng thành (7000-5000 BC?) Những vết tích văn hóa chính đến từ văn hóa Pengtoushan (彭头山), văn hóa Giả Hồ (Jiahu) thuộc kiểu văn hóa Peiligang và địa điểm Shangshan (上山) trong hạt Pujiang thuộc thung lũng sông Qian-tang. Những địa điểm văn hóa Pengtoushan được định vị trong miền đồng bằng xung quanh Hồ Động Đình (Dongting) và khu vực dọc theo sông Dương Tử phía tây tỉnh Hồ Bắc (Hubei). Niên đại những địa điểm này vào khoảng 6500-5500 TCN. Nhiều vết tích của lúa trồng được phát hiện tại đây, cung cấp bằng chứng quan trọng về việc gia tăng canh tác lúa. Những di chỉ kiểu Giả Hồ của văn hóa Peiligang phân tán trong đồng bằng trung và đông tỉnh Hà Nam (Henan), có niên đại 6800-5500 BC. Những vết tích sự trồng trọt lúa cũng được tìm thấy tại địa điểm Giả Hồ (Jiahu) ở hạt Vũ Dương (Wuyang 舞阳)- 3. Những công cụ được khai quật ở đây chủ yếu là sa thạch, phần nhiều trong số đó được làm bởi phương pháp mài nhẵn. Những công cụ đó có thể được xác định là cái mai đá, cái liềm, con dao, đá cối xay, cái gậy đá cối xay, cái mai xương… vân vân. Dấu hiệu quan trọng của sự phát triển nông nghiệp đầu tiên là những công cụ đá mài bóng đó. Tại địa điểm Thượng Sơn (Shangshan上山) trong hạt Pujiang (浦江) thuộc lòng chảo trung tâm tỉnh Chiết Giang (Zhejiang), những vết tích trồng lúa có thể xưa tới khoảng 7000 TCN. Có nhiều dấu in của vỏ trấu trên những mẩu đồ gốm đào được. Đất làm gốm được trộn đều với một số lớn vỏ trấu, chứng tỏ vết tích của việc trồng lúa. Niên đại Carbon-14, được thực hiện bởi các chuyên gia tại Trường Cao đẳng Nghệ thuật và Khoa học Đại học Bắc Kinh, Zhou Jixu, (sđd.6) cho thấy rằng các mảnh gốm với vỏ trấu được định tuổi đến 9000-11000 năm cách nay 8. Những công cụ khai quật được là đá cối xay, gậy đá cối xay, những quả bóng đá, những cái đục, rìu, và những rìu lưỡi vòm. Đồ gốm bao gồm lọ, bình, chảo cũng như những mảnh với chân tròn, được tìm thấy sớm nhất ở Trung Quốc cho đến lúc này. 3. Thời kỳ phát triển (5000-3000 TCN) Văn hóa lúa nước đã được mở rộng đến trung, hạ luu sông Dương Tử, các đồng bằng sông Ganjiang (赣江), sông Minjiang (闽江), sông Chu (Zhujiang 珠江), và một phần của khu vực trung và hạ lưu sông Hoàng Hà trong khoảng thời gian 5000-3000 TCN. Đáng kể là việc trồng lúa vẫn còn được phát hiện tại hạ lưu sông Dương Tử, chẳng hạn như trong văn hóa Hà Mục Độ (Hemudu河姆渡), Majiapang (马家浜) và Songzhe (嵩泽), và cũng có thể ở trung lưu sông Dương Tử, chẳng hạn như văn hóa Tangjiagang (汤家岗), Daxi (大溪) và Longqiuzhuang (龙虬庄) trong các khu vực phía Đông của sông Hoài. Khu vực trồng lúa đã vươn tới trên 35 ° vĩ độ bắc trong khu vực trung và hạ lưu Hoàng Hà. Chúng ta có thể thấy văn hóa đặc trưng của thời kỳ này tại di chỉ Hemudu, khoảng 5000 TCN. Hiện có số lượng lớn hạt lúa bị các bon hóa với hình dạng đầy đủ và thậm chí cả với các sợi râu, thêm vào đó vô số những công cụ nông nghiệp được khai quật, bao gồm cái mai xương, cái chày gỗ, đá cối xay, quả bóng đá, vân vân… Số lượng những cái mai bằng xương vượt quá 170 chiếc. Những mảnh gốm dùng để nấu cơm mang vết tích các bon hóa được khám phá. Gốm được khai quật chủ yếu là gốm đen do pha trộn than, với những kiểu dáng như cái bình, cái bát, đĩa, tách đứng, chảo, he盉 (dụng cụ để uống), đỉnh (ding鼎, cái chảo lớn ba chân), cái đài, vân vân… Có thể được phân loại vào trong ba nhóm: đồ đun nấu, đồ dùng để uống, và cất giữ sản phẩm. Cũng khai quật được các dụng cụ săn bắn và câu cá, chẳng hạn như còi bằng xương, mũi tên xương, đạn đá, và rất nhiều trái cây, chẳng hạn như chà là đen, quả sồi, Gordon euryale và hạt dẻ nước… những hiện vật đó cho thấy rằng săn bắn, câu cá, và thu lượm vẫn còn là một phần trong đời sống của người dân Hemudu. Nhiều công cụ dùng để xe chỉ và dệt được khám phá tại chỗ, đã chứng tỏ kỹ thuật dệt phát triển trong thời kỳ đó. Những căn nhà của người Hemudu được xây dựng trên sàn gỗ để nâng cao trên đất phòng lũ lụt, và nhà được làm bằng gỗ. Việc xây dựng kiểu Hemudu là không bình thường trong thời ký Đá Mới ở Trung Quốc. Di chỉ Hemudu đã được công nhận là một trong những địa điểm khảo cổ quan trọng nhất ở Trung Quốc, và chữ "Hemudu" là tên được sử dụng để gọi tất cả các địa điểm thuộc cùng một loại hình văn hóa. 4. Giai đoạn hoàn tất sự phát triển (3000-2000 TCN) Phạm vi của văn hóa lúa nước nguyên thủy đã thành thục gần như trùng với địa bàn của nghề trồng lúa phát triển. Những di tích phong phú nhất của nghề trồng lúa được khám phá ở văn hóa Liangzhu, Qujialing (屈家岭), Shijiahe (石家河), và Fanchengdui (樊城堆) ở trung và hạ lưu sông Dương Tử. Cả lúa lẫn kê đều đã được gieo trồng trong khu vực giữa sông Hoàng Hà và sông Hoài. Tiên tiến nhất là văn hóa Liangzhu. Có rất nhiều công cụ trồng trọt khác nhau trong văn hóa Liangzhu. Những công cụ đá được khai quật 8. theo dữ liệu tại di chỉ Shangshan có thể được xếp loại thuộc thời kỳ trước đó, được mô tả trong mục "nguồn gốc". Zhou Jixu, (sđd.7): cái cày, shi (耜 một loại mai), cái mai, cái cuốc, và cái liềm vân vân… đã được chế tác đẹp đẽ. Những công cụ cho thấy kỹ thuật trồng trọt cao hơn so với thời kỳ trước đó. Sự nuôi dưỡng gia súc phát triển rõ rệt. Những nghề thủ công nguyên sơ bắt đầu thuần thục. Việc sản xuất đồ gốm, chế tạo ngọc bích, sơn mài, dệt, chế tạo vật dụng bằng tre và gỗ, việc chạm khắc ngà, ghề khảm… tất cả các hàng thủ công này phát triển chưa từng có trước đây. Tất cả những sự khéo léo như vậy trước đó chưa hề có. Sự sản xuất những vật bằng ngọc bích đặc biệt đáng chú ý trong thời kỳ này. Đấy là nhận xét của giáo sư Zhu trong bài báo kể trên. Khi thảo luận về cái nôi của văn minh lúa nước trong công trình Cái nôi phương Đông của mình, giáo sư Hồ cũng nói: "Trong bất kỳ trường hợp nào, sự kết hợp giữa khảo cổ học và tư liệu lịch sử của chúng tôi cho thấy vẻ hợp lý khi cho rằng Trung Quốc như là một trong những quê hương gốc của cây lúa và có lẽ là khu vực đầu tiên trên thế giới, nơi lúa đã được trồng"(Hồ 1975: 70-71). Dưới đây là những tư liệu Carbon-14 tại ba di chỉ trồng lúa (Hồ 1975: 16-17).9 8. Songze (松泽) Qingpu (青浦) Shanghai, Qingliangang (青莲岗) 3395±105 B.C ; 3395±105 B.C. 10. Qianshanyang (钱山漾) Wuxing (吴兴) Zhejiang, Liangzhu 2750±105 B.C. ; 3300±105 B.C. 14. Huanglianshu (黄楝树) Xichuan (淅川) Henan Qujialing (屈家岭) 2270±95 B.C. ; 2720±95 B.C. Niên đại C-14 của di chỉ Hemudu là 7000 năm cách nay; của di chỉ Shangshan ở hạt Pujiang là 9000-11.000 năm, theo bài báo của giáo sư Zhu. Sự trồng trọt lúa gạo đẩy mạnh văn minh xã hội Trung Hoa cổ. Giáo sư Zhu tổng kết điều này như sau: Nông nghiệp lúa nước đã thống trị kinh tế xã hội trong thời kỳ văn hóa Songze (嵩泽) ở vùng hạ lưu sông Dương Tử sau 4000 TCN. Số lượng và chủng loại xương động vật và công cụ săn bắn được khai quật từ các di chỉ đã được giảm rõ rệt trong thời kỳ văn hóa Songze. Điều này cho thấy phương thức kinh tế săn bắn và hái lượm giảm thiểu, việc sản xuất lương thực, chủ yếu là gạo, rõ ràng bùng nổ. Những xương hàm dưới của heo nhà được sử dụng trong đám ma cho thấy việc chăn nuôi gia súc có tiến triển. Sự hình thành ngành trồng lúa nước với tư cách nông nghiệp cơ bản thành thục trong thời kỳ văn hóa Liangzhu tại hạ và trung lưu sông Dương Tử. Zhou Jixu, (sđd. 8): bằng chứng chính là sự xuất hiện của toàn bộ các công cụ canh tác cần thiết cho việc cày cấy, nuôi trồng, và thu hoạch. Việc ủ rượu xuất hiện, sự sinh sản gia súc được tăng cường, và tỉ lệ gia súc được dùng làm thịt gia tăng. Những nghề thủ công trở nên phát đạt. Những trung tâm định cư được khám phá tại di chỉ Mojiaoshan (莫角山), cho thấy sự gia tăng nhân số. Bàn thờ và mộ được xây dựng trong di chỉ Yaoshan (瑶山) và Fanshan (反山). Những hiện tượng này đánh dấu xã hội Trung Hoa đã bước vào nền văn minh dẫn tới những "vương quốc cổ " khoảng 3000-2800 TCN. Tỷ lệ lúa gạo trồng với tư cách là nông nghiệp chính, từng bước tăng thêm trong thời kỳ văn hóa Daxi (大溪) tại vùng trung lưu sông Dương Tử. Những chum vại gốm lớn có thể đã được sử dụng để dự trữ hạt cho thấy sản xuất lương thực đã tăng. Số lượng các làng xóm nhiều thêm, trung tâm định cư cùng với những tường lũy bao quanh được thiết lập vào khoảng 4000 TCN. Từ các công bố trên, chúng ta có thể thấy, đặc điểm nổi bật của văn minh nông nghiệp là, những trung tâm định cư, kèm theo đô thị với thành lũy bao quanh, phát triển gốm sứ, và các địa điểm tôn giáo lớn, hình thành khoảng 4000-3000 năm TCN. Nhiều vùng của sông Dương Tử và Hoàng Hà đã tiến tới một nền văn minh nông nghiệp trưởng thành, chậm nhất là vào khoảng 4000 năm TCN. Những người sống ở lưu vực sông Dương Tử, và văn hóa lúa nước từ đâu tới? Sử dụng bằng chứng từ cổ nhân học và di truyền học người, nhiều nhà nhân chủng học và di truyền học chỉ ra những đặc trưng cơ thể của những người cổ sống trong vùng nam sông Dương Tử có mối quan hệ chặt chẽ với nhóm Nam Á và phân biết rõ ràng với những người sống ở khu vực phía bắc sông Dương Tử. Các dữ kiện cho thấy những người cổ xưa sống ở đồng bằng sông Dương Tử đã từ miền nam châu Á tới. Ngoài ra, bốn mẩu bằng chứng thường hỗ trợ nguồn miền nam của người Yangshao của G.S Hồ (xem ở trên) cũng có thể được áp dụng ở đây. II. Sự khởi đầu của văn minh nông nghiệp theo tài liệu lịch sử Trung Quốc. II.1 Cách tính thời gian lịch sử Để tính toán các thời đại lịch sử trên cơ sở các sự kiện được ghi trong tài liệu cổ, nghiên cứu này dựa vào hai nguồn: Một là các dữ liệu từ "Dự án Xác định niên đại các triều Hạ, Thương, Chu" do Viện lịch sử thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc thực hiện. Theo đó, các thời biểu của 3 triều đại sớm nhất của Trung Quốc cổ là: Hạ 2070-1600 TCN, Thương 1600-1046 TCN, Chu 1046-221 TCN. Các nguồn khác là phả hệ của những vua cổ xưa trên lưu vực Hoàng Hà trước thời Hạ, như ghi nhận của Wudi Benji "Những biên niên cơ bản của Ngũ Đế trong Sử ký của Tư Mã Thiên.” (Sđd9) Theo quan điểm của Tư Mã Thiên, khó mà biết về thời gian sớm hơn Ngũ Đế, nhưng thời kỳ từ Ngũ Đế về sau có thể được xác định.10 Trình tự tính theo "Những biên niên cơ bản của Ngũ Đế" trước nhà Hạ như sau: (sáu người cai trị trong chín thế hệ) Phả hệ của các Hoàng Đế (theo Sử ký). (phần này không dịch) II.2 Sự Bắt đầu của lĩnh vực nông nghiệp như được ghi trong những tài liệu cổ điển Trung hoa. Những văn minh tiền sử thuộc triều đại Hạ, Thương, Chu xuất hiện trong thung lũng Hoàng Hà, đặc biệt là văn minh của triều đại Chu, không nghi ngờ là dựa vào nông nghiệp ngũ cốc. Sự giàu có dư thừa cung cấp bởi sản xuất nông nghiệp tạo cho dân tộc Trung Hoa một sự tiến bộ lớn trong phát triển văn hóa. Tại sao bộ lạc Chu có thể lớn lên nhiều hơn những bộ lạc khác và để trở nên người cai trị vùng Hoàng Hà và sau đó là Dương Tử? Quyết định quan trọng nhất trong sự tiến bộ khác nhau của họ là bỏ cuộc sống du cư, chọn và dính chặt vào cuộc sống nông nghiệp. III. Giải thích sự chênh lệch giữa khám phá khảo cổ và các tài liệu lịch sử Như thảo luận trong phần đầu của nghiên cứu này, sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp trong các thung lũng sông Hoàng Hà đã diễn ra 5000 TCN hoặc sớm hơn. Các tài liệu khảo cổ cho thấy việc trồng kê là rất quan trọng trong khu vực Hoàng Hà 5000 TCN. Việc trồng lúa ở trung lưu sông Dương Tử đã được hình thành rất sớm. Sự trưởng thành của nghề trồng lúa theo thời gian có bằng chứng tại di chỉ Jiahu, tỉnh Hà Nam 6800 TCN, tại di chỉ Hemudu tỉnh Chiết Giang 5000 TCN. Tại sao sự khởi đầu về sản xuất nông nghiệp tại thung lũng Hoàng Hà nêu trong các tài liệu cổ lại muộn hơn nhiều, vào khoảng 2100 TCN? Làm thế nào giải thích khoảng cách 3000 năm đó? Câu trả lời là người dân Chu, những hậu duệ của Hoàng Đế, không phải là những người bản dịa sống trên khu vực hoàng thổ Hoàng Hà. Nông nghiệp thời Chu đã được hình thành trên cơ sở tiếp thu nền nông nghiệp truyền thống đã được sáng tạo bởi những người đã sống trong lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử từ xa xưa. Lối sống nông nghiệp của người Chu là kết quả của việc học hỏi từ những người khác. Các bộ lạc của Hoàng Đế (trong đó có bộ lạc Chu) là những cư dân du mục. Khi di cư vào khu vực Hoàng Hà, họ đã chịu ảnh hưởng của lối sông nông nghiệp tiên tiến của người dân bản địa, mặc dù đó là một bước tiến dài từ du mục để chuyển sang lối sống mới. Những thay đổi triệt để từ du mục sang trồng trọt đã thay đổi cuộc sống xã hội Chu. Khoảng 2300 TCN, quốc gia của Hoàng Đế đã chiến thắng và thống trị các khu vực của sông Hoàng Hà. Đây còn là thời gian sớm nhất mà truyền thuyết, lịch sử Trung Quốc trong các tài liệu cổ xưa ghi lại. Vì vậy, theo các tài liệu sớm nhất ghi lại những thành quả này, Hoàng Đế và các quốc gia hậu thế của ông giữ vai trò hàng đầu. Từ Thượng Thư, kinh Thi đến Sử ký, tất cả các sách cổ điển đã chính thống hóa Hoàng Đế cùng con cháu ông, trong khi loại trừ các dân tộc khác. Vì vậy, trong các tài liệu cổ xưa, chúng ta chỉ có thể thấy, sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc bắt đầu khoảng 2100 TCN, dưới thời kỳ Nghiêu, Thuấn, Vũ, những nhà lãnh đạo tuyệt vời của quốc gia của Hoàng Đế. Lĩnh vực nông nghiệp được nói đến bắt đầu vào thời Chu. Sự khởi đầu của nông nghiệp bản địa trên lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử vì vậy bị loại khỏi lịch sử thành văn. Không giống như các dân cư Ngưỡng Thiều và Hà Mục Độ là những người đến từ miền Nam Trung Quốc, dân cư của Hoàng Đế đến từ phía Tây của Trung Quốc, từ phần phía Tây của lục địa Âu-Á. Họ chinh phục người dân của lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử, những người thủ đắc nền văn hóa nông nghiệp phát triển. Bằng cách kết hợp văn hóa riêng của họ với các yếu tố văn hoá của người bản địa, dân cư của Hoàng Đế từng bước phát triển một nền văn minh rực rỡ mới vào thời Hạ, Thương và Chu. Họ thay thế người dân bản địa nắm giữ vai trò lãnh đạo trên các giai đoạn lịch sử Trung Quốc. Cho rằng dân cư của Hoàng Đế là một chi nhánh của người Ấn –Âu cổ, là một trong những sự kiện đáng kể nhất nay được biết tới trong lịch sử nhân loại. Một số lượng lớn từ Ấn-Âu trong ngôn ngữ Trung Hoa cổ rõ ràng xác nhận thực tế này. Các di tích còn lại của thời Hoàng Đế có liên quan đến các văn hóa Long Sơn trong bằng chứng khảo cổ học và các nền văn minh của Hạ, Thương, Chu, Qin (秦) là các triều đại kế nghiệp của nó.27 Bằng chứng cho tuyên bố này đến từ hai nguồn: đầu tiên sử dụng các bằng chứng về các tài liệu cổ xưa để chứng minh rằng người dân Chu, và là dân cư của Hoàng Đế, đã được khởi đầu từ người du mục, và thứ hai là đã có một số lớn từ Ấn-Âu trong ngôn ngữ thời Chu, dựa theo các bằng chứng ngôn ngữ học lịch sử. Thứ ba là sự tương đồng về tôn giáo giữa dân cư Hoàng Đế và người Tiền Ấn-Âu. IV. Kết luận. Văn minh Trung Hoa không nảy sinh một cách cô lập trong thời cổ. Các nền văn minh lâu đời nhất trên thế giới, bao gồm Ai Cập, Hy Lạp, Ấn Độ, và Anatolian đã không phát triển một cách tách biệt khỏi những văn minh khác. Đó là quy luật chung trong lịch sử con người mà những văn minh khác nhau được phân cực, hỗn hợp, và ảnh hưởng lẫn nhau. Bằng chứng ngôn ngữ học lịch sử, khảo cổ cho thấy, văn minh Biển Aege và văn minh Hy Lạp, văn minh Thung lũng Indus và văn minh Ấn Độ cổ, văn minh Hattic và văn minh Hittite đã là những cặp mà cái sau chiến thắng cái trước để tạo dựng văn minh mới của mình. Cũng nên ghi nhận rằng, những kẻ xâm chiếm này đều là người Ấn-Âu tiền sử (khoảng 2000-1200 BC). Cũng như vậy, văn minh Trung Quốc đã trải qua những xung đột văn hóa trong thời cổ xưa. Những người Châu Âu từ thảo nguyên phía tây Trung Á đã mang những thành phần văn hóa mới đến thung lũng Hoàng Hà khoảng 2300 TCN. Họ đã kết hợp kỹ thuật tiên tiến của mình, như luyện kim đồng đỏ, những công cụ kim loại, vũ khí, xe ngựa và thuần hóa ngựa, với văn hóa nông nghiệp phát triển bản địa trong lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Sự phối hợp này tạo nên văn minh lộng lẫy của thời Hạ, Thương, Chu. Trái với quan điểm đại chúng cho rằng, "văn minh Hoàng Hà có lịch sử độc lập” nó thực sự là sự hòa hợp. Ý tưởng rằng nền văn minh Trung Hoa có một lịch sử độc lập đã rất phổ biến, do ảnh hưởng mạnh mẽ, đặc biệt của hệ thống chữ viết Trung Hoa, đã được sử dụng từ triều Thương (1600 TCN) cho tới hôm nay. Các ký tự Trung Quốc với tự dạng đặc biệt đã phủ tấm màn gây khó cho việc tìm ra mối quan hệ giữa tiếng Trung Hoa cổ và những ngôn ngữ cổ khác. Những ký tự vuông cổ xưa dễ khiến người ta có ảo tưởng lầm lẫn rằng ngôn ngữ cổ Trung Hoa ổn định và không thay đổi như là hình vuông. Nếu đúng như vậy, thì chúng ta làm thế nào có thể hiểu được thứ ngôn ngữ lạ lùng này theo phương pháp ngôn ngữ chung? Làm thế nào chúng ta có thể tìm thấy những mối quan hệ của ngôn ngữ Trung Hoa cổ và các ngôn ngữ khác. Thật ra, tiếng Trung hoa cổ là một trong những ngôn ngữ bình thường của con người giống như những tiếng khác, nếu chúng ta lột bỏ cái áo choàng khoác cho ký tự khỏi ngôn ngữ. Trong sự nghiên cứu tiền sử, ngôn ngữ học lịch sử sở hữu một chức năng đặc biệt, mà có thể được dùng để xác định bản chất của một nền văn minh và nguồn gốc dân tộc của nó, dựa vào bằng chứng của ngôn ngữ học. Vì ngôn ngữ là con dấu đặc biệt của mỗi dân tộc, không thể bị mai một qua thời gian. Những khám phá về các nền văn minh Ấn Độ cổ xưa đến từ người châu Âu đã được minh chứng hoàn toàn bởi ngôn ngữ học lịch sử trong thế kỷ XVIII - XIX. Trong khoảng một trăm năm, các nhà khảo cổ tìm thấy văn minh bản ngữ trước đó, mà văn minh Thung lũng Indus đã hình thành trên nền tảng của nó. Và cùng lúc, sự khảo sát di truyền học chứng tỏ người Ấn Độ chia sẻ nguồn gen với người Châu Âu. Sự khám phá của ngôn ngôn ngữ học lịch sử trước đó đã được xác nhận. Vì vậy, ngôn ngữ học lịch sử được tiếng là "khoa học đi trước thời gian." Chúng tôi không thể đánh giá thấp chức năng đặc biệt của ngôn ngữ học lịch sử trong nghiên cứu tiền sử con người, chúng tôi không thể đui mù chống lại những bằng chứng của ngôn ngữ, và chúng tôi không thể phủ nhận ngôn ngữ học lịch sử, như là một khoa học tích cực cho thấy giá trị bao quát của nó trong việc nghiên cứu ngôn ngữ con người, lịch sử, và tiền sử. Ngôn ngữ học lịch sử là một phương pháp khoa học được sử dụng trong nghiên cứu tiền sử toàn thể loài người. Những trường phái lớn của ngôn ngữ học trên thế giới, trong đó có Trung Quốc chia sẻ điều này. Có quan niệm thịnh hành xem lịch sử của Trung Quốc đã bắt đầu với Hoàng Đế (khoảng 2300 TCN), người đánh bại tất cả các kẻ địch của mình và thống trị khu vực Hoàng Hà. Nhưng không nhiều người biết rằng Hoàng Đế và người của ông di cư từ tây lục địa Âu-Á tới và rằng họ và con cháu của họ thực sự có vai trò dẫn đầu trong các giai đoạn lịch sử của thung lũng Hoàng Hà từ khoảng 2300 TCN. Lịch sử được ghi trong tài liệu truyền thống mà chỉ duy nhất tính đến việc người của Hoàng Đế đi vào trong thung lũng Hoàng Hà và phát triển văn minh ở đó. Những người đã sống trước đó và tạo dựng nền văn minh tiền sử huy hoàng của hai con sông (Hàng Hà và Dương Tử) đã bị chìm sâu sau màn sương lịch sử (tham khảo phần I của nghiên cứu này). Họ đã bị loại trừ khỏi sử biên niên truyền thống, trong đó bao gồm hầu như tất cả các sách lịch sử Trung Quốc, từ Thượng Thư, kinh Thi đến Sử ký vv. Đây là một lịch sử mang xu hướng đảo lộn vị trí giữa chủ và khách. Một trong những lý do cho tình trạng này là sự đàn áp và loại trừ do phe đảng mạnh của Hoàng Đế. Các lý do khác là, trong khi các dân khác đã không sáng chế ra hệ thống chữ viết của mình thì các quốc gia của Hoàng Đế đã làm được; một trong số đó đã được người dân Trung Quốc sử dụng cho đến nay. Những ký tự Trung Hoa cổ được ghi nhận chỉ hình thành và suy thoái trong dân tộc của Hoàng Đế thời cổ. Đó là lý do tại sao có sự chênh lệch lớn giữa các di chỉ khảo cổ khu vực Hoàng Hà, Dương Tử và các hồ sơ lịch sử truyền thống chỉ liên quan đến những ngày đầu của ngành nông nghiệp trong khu vực. Liên quan đến nền văn minh của "Hai sông Đông Á," được tạo ra bởi những người đến trước (xem phần I của nghiên cứu này), chúng tôi cũng có thể tìm thấy một số đáng kể thông tin từ những văn bản lịch sử mà có thể cùng xác nhận bởi những khám phá của khảo cổ và bằng chứng ngôn ngữ học lịch sử. Sự khác biệt trong lối sống, phong tục, và ngôn ngữ giữa các cư dân bản địa và người dân của Hoàng Đế cung cấp cho chúng tôi thêm bằng chứng rằng người dân của Hoàng Đế đã chiếm đoạt một nền văn hóa đang tồn tại. Chúng ta sẽ thảo luận về những vấn đề này sau. NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI DỊCH A. Về cội nguồn văn minh nông nghiệp Trung Hoa Nửa thế kỷ qua, nhiều phát hiện khảo cổ trên đất Trung Hoa gây chấn động giới nghiên cứu nhưng chúng chỉ được công bố riêng rẽ. Đây là công trình tập hợp khá đầy đủ những phát hiện đó. Nhờ vậy, tác giã đã thành công trong việc tái hiện lịch sử hình thành văn minh nông nghiệp trên đất Trung Hoa cổ: 1. Khởi nguồn (khoảng 10.000 TCN). Vết tích trồng trọt sớm nhất vào khoảng 10.000 năm TCN tại Hang Xianren trong hạt Vạn Niên (Wannian), tỉnh Giang Tây (Jiangxi), và Dốc đứng (Yuchan) trong hạt Dao tỉnh Hồ Nam (Hunan), là một phần của đồng bằng sông Dương Tử, và khí hậu trong khu vực cận nhiệt đới nam Trung Hoa. Về mặt địa lý, chúng ở trung tâm của nam Trung Quốc, phía nam Qinling (秦岭) và phía nam sông Hoài (淮河). 2. Giai đoạn trưởng thành (7000-5000 BC?). Những vết tích văn hóa chính đến từ văn hóa Pengtoushan (彭头山), văn hóa Giả Hồ (Jiahu) thuộc kiểu văn hóa Peiligang và địa điểm Shangshan (上山) trong hạt Pujiang thuộc thung lũng sông Qian-tang. Những địa điểm văn hóa Pengtoushan được định vị trong miền đồng bằng xung quanh Hồ Động Đình (Dongting) và khu vực dọc theo sông Dương Tử phía tây tỉnh Hồ Bắc (Hubei). 3.Thời kỳ phát triển (5000-3000 TCN) Văn hóa lúa nước được mở rộng đến trung, hạ luu sông Dương Tử, các dồng bằng sông Ganjiang (赣江), sông Minjiang (闽江), sông Chu (Zhujiang 珠江), và một phần của khu vực trung và hạ lưu sông Hoàng Hà trong khoảng thời gian 5000 -3000 BC. 4. Giai đoạn hoàn tất sự phát triển (3000-2000 TCN). Phạm vi của văn hóa lúa nước nguyên thủy đã thành thục gần như trùng với địa bàn của nghề trồng lúa phát triển. Những di tích phong phú nhất của nghề trồng lúa được khám phá ở văn hóa Liangzhu, Qujialing (屈家岭), Shijiahe (石家河), và Fanchengdui (樊城堆) ở trung và hạ lưu sông Dương Tử. Từ những phát hiện khảo cổ phong phú trên, tác giả đã rút ra kết luận thuyết phục: Niên đại C-14 của di chỉ Hemudu là 7000 năm cách nay; của di chỉ Shangshan ở hạt Pujiang là 9000-11.000 năm. Sự trồng trọt lúa gạo đẩy mạnh văn minh xã hội Trung Hoa cổ. Nông nghiệp lúa nước đã thống trị kinh tế xã hội trong thời kỳ văn hóa Songze (嵩泽) ở vùng hạ lưu sông Dương Tử sau 4000 TCN. B.Việc giải thích sự khác nhau về thởi điểm khởi đầu trồng lúa giữa tư liệu khảo cổ và thư tịch. Tác giả đã chính xác và công bằng khi nhận định: “Người dân Chu, những hậu duệ của Hoàng Đế, không phải là những người bản dịa sống trên khu vực hoàng thổ Hoàng Hà.” “Lối sống nông nghiệp của người Chu là kết quả của việc học hỏi từ những người khác. Các bộ lạc của Hoàng Đế (trong đó có bộ lạc Chu) là những cư dân du mục.” Và: “Khoảng 2300 TCN, quốc gia của Hoàng Đế đã chiến thắng và thống trị các khu vực của sông Hoàng Hà. Đây còn là thời gian sớm nhất mà truyền thuyết, lịch sử Trung Quốc trong các tài liệu cổ xưa ghi lại. Vì vậy, theo các tài liệu sớm nhất ghi lại những thành quả này, Hoàng Đế và các quốc gia hậu thế của ông giữ vai trò hàng đầu. Từ Thượng Thư, kinh Thi đến Sử ký, tất cả các sách cổ điển đã chính thống hóa Hoàng Đế cùng con cháu ông, trong khi loại trù các dân tộc khác. Vì vậy, trong các tài liệu cổ xưa, chúng ta chỉ có thể thấy rằng sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc bắt đầu khoảng 2100 TCN, dưới thời kỳ Nghiêu, Thuấn, Vũ, những nhà lãnh đạo tuyệt vời của quốc gia của Hoàng Đế. Lĩnh vực nông nghiệp được nói đến bắt đầu vào thời Chu. Sự khởi đầu của nông nghiệp bản địa trên lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử vì vậy bị loại khỏi lịch sử thành văn.” C. Về ngồn gốc của dân cư Hoàng Đế Về cội nguồn những người vào lưu vực Hoàng Hà, lập quốc gia Hoàng Đế, tác giả nhận định: “Không giống như các dân cư Ngưỡng Thiều và Hà Mục Độ là những người đến từ miền Nam Trung Quốc, dân cư của Hoàng Đế đến từ phía Tây của Trung Quốc, từ phần phía Tây của lục địa Âu-Á. Họ chinh phục người dân của lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử, những người thủ đắc nền văn hóa nông nghiệp phát triển. Bằng cách kết hợp văn hóa riêng của họ với các yếu tố văn hoá của người bản địa, dân cư của Hoàng Đế từng bước phát triển một nền văn minh rực rỡ mới vào thời Hạ, Thương và Chu. Họ thay thế người dân bản địa nắm giữ vai trò lãnh đạo trên các giai đoạn lịch sử Trung Quốc. Cho rằng dân cư của Hoàng Đế là một chi nhánh của người Ấn –Âu cổ, là một trong những sự kiện đáng kể nhất nay được biết tới trong lịch sử nhân loại. D.Đôi điều bàn lại. Không phủ nhận vai trò của ngôn ngữ học lịch sử trong việc tìm ra mối liên hệ giữa sắc dân này với sắc dân khác. Nhưng ngôn ngữ học lịch sử rất ít thẩm quyền khi xác định nguồn gốc của một sắc dân. Thực tế đã chứng minh điều này. Bình Nguyên Lộc đã “lộn ngược” khi cho rằng “Nguồn gốc Mã Lai của người Việt Nam.” Các nhà ngôn ngữ học lịch sử Pháp, Việt cũng sai lầm từ nhận định “Tiếng Việt mượn 70% tiếng Trung Quốc” để cho rằng người Hán là tổ tiên người Việt… Bản thân ngôn ngữ học lịch sử chỉ cho thấy mối quan hệ giữa các ngữ mà không đủ thẩm quyền phán quyết đâu là gốc còn đâu là ngọn! Vì vậy, dù bỏ nhiều công sức đưa ra những bằng chứng ngôn ngữ học thì luận điểm của tác giả cũng thiếu sức thuyết phục. Sự việc càng rõ hơn khi đối chiếu về phương diện di truyền học. Nếu bộ tộc Hiên Viên của Hoàng Đế là người Indo-Europian thì người Hán, hậu duệ của bộ tộc Hoàng Đế, chiếm 93% số dân Trung Quốc phải là người Indo-Europian giống như người đang sống ở Tây Ấn hiện nay. Thực tế không như vậy. Di truyền học xác minh, người Hán thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Vì vậy, cố nhiên họ không thể có tổ tiên mang mã di truyền Indo-Europian. Thử đưa ra cách lý giải khác: Khi các bộ lạc của Hoàng Đế vào xâm chiếm trung lưu Hoàng Hà, họ mạnh về vũ trang nhưng nhân số ít. Bản thân họ không thể tạo nên dân cư đông đảo như vậy ở thời Chu. Thực tế là họ đã hòa huyết với người bản địa, sinh ra lớp người mới, thuộc chủng Mongoloid phương Nam, chiếm 93% số dân Trung Quốc ngày nay. Từ đó có thể suy ra: các bộ lạc của Hoàng Đế là người Mongoloid phương Bắc đã từng sống lâu đời ở phía Tây Bắc Trung Quốc. Đó chính là những người mà 2500 năm trước, tổ tiên họ hòa huyết với người Bách Việt bên Hoàng Hà, sinh ra người Bán Pha. Điều này đã được trình bày trong bài “Về nguồn gốc người Hán và sự hình thành nước Tàu” (Hà Văn Thùy- Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học 2008). Đúng là khoảng 2000 đến 1500 năm TCN, người Arian từ vùng Ba Tư xâm lăng Ấn Độ, làm nên văn minh sông Indus. Truyền thuyết và lịch sử cho biết, đó là những người mạnh mẽ và hung bạo, đã tàn sát và nô lệ hóa dân Dravians bản địa. Trong khi đó, cũng là du mục nhưng người của Hoàng Đế, do quá trình tiếp xúc tự nhiên lâu đời, đã không tàn sát người Bách Việt bản địa hoặc nô lệ hóa họ mà sớm tạo được cuộc sống hòa hợp như trong kinh Thư cho thấy. Do chỉ chăm chú tới nhũng tài liệu chính thức như Thượng Thư, kinh Thi, Sử ký nên tác giả, giáo sư Zhou Jixu, bỏ qua những tư liệu quý trong truyền thuyết. Truyền thuyết cho rằng, Hoàng Đế chiến thắng Si Vưu vào năm 2600 TCN tại trận Trác Lộc trên khủyu sông Hoàng Hà. Một câu ca còn lưu truyền: Tích nhật Hoàng đế chiến Si Vưu/ Trác lôc kinh kim vị nhược hưu (ngày trước Hoàng Đế đánh si Vưu, tới nay cuộc chiến vẫn chưa dừng). Một cuộc chiến tranh dai dẳng, không ít khốc liệt nhưng có lẽ không diễn ra thảm sát và không có nô lên hóa kẻ bại trận. Như vậy, về thời gian, cuộc xâm lăng của Hoàng Đế xảy ra trước cuộc xâm lăng của người Arian gần 1000 năm. Cả về nhân chủng, về thời gian và phương cách của cuộc xâm lăng của tộc Hoàng Đế đều chứng tỏ họ không phải thuộc chủng Indo-Europian. Một ý của tác giả cho rằng, người của Hoàng Đế đã tạo nên văn hóa Long Sơn. Đó không phải là sự thật. Long Sơn cũng như Yangshao thuộc về cùng một văn hóa, do giai đoạn sớm của văn hóa Hòa Bình phát triển lên, như Hội nghị khoa học thế giới về tiền sử Viễn Đông họp ở Hà Nội năm 1932 xác nhận.(Hà Văn Thùy. Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt. NXB Văn học, 2007). Dù có những điều cần bàn lại như trên thì tài liệu của giáo sư Zhou Jixu vẫn là những tri thức khả tín giúp chúng ta nhìn rõ hơn vào quá trình hình thành văn hóa nông nghiệp ở Trung Quốc: Những người từ Nam Á đi lên đã xây dựng nền văn hóa nông nghiệp trên đất Trung Hoa từ 12000 năm trước, đạt đến sự rực rỡ vào khoảng 7000-5000 năm TCN. Người Hán là hậu duệ của các bộ lạc du mục do Hoàng Đế dẫn đầu vào chiếm đất phía nam Hoàng Hà, chiếm đoạt văn minh nông nghiệp của người bản địa, dựng lên vương triều Hoàng Đế. Vấn đề đặt ra là người Nam Á ấy là ai? Đó chính là người từ Việt Nam đi lên khoảng 40.000 năm trước. Do sống phân tán trên địa bàn rộng có hoàn cảnh địa lý khác nhau, đã phân ly thành hơn 20 tộc Việt, được lịch sử gọi là người Bách Việt. Trong công trình của mình, với những cứ liệu khảo cổ học thuyết phục, có thể tác giả chứng minh được rằng Trung Quốc là trung tâm phát triển nông nghiệp đầu tiên trên thế giới. Luận cứ của tác giả một lần nữa giúp khẳng định, Đông Nam Á là trung tâm của văn minh nhân loại./. Hà Văn Thùy Nguồn: www.vanchuongviet.org
  8. Xác định chủ quyền văn hoá của Tổ tiên Việt tộc Vũ Khánh Thành 1. Nhà nông đầu tiên trên thế giới Ngày 8.5.09 vừa qua trên BBC có một bài ngắn đưa tin Martin Jones thuộc Đại Học Cambridge đã cho thấy việc trồng trọt các vụ mùa riêng biệt có thể đã bắt đầu từ vùng Viễn Đông cách đây từ 10 ngàn năm tức là sớm hơn hai thiên niên kỷ so với những gì mà lúc trước người ta dự đoán. Cho tới nay, người ta thường cho rằng nông nghiệp định cư thực sự bắt đầu cách đây tám ngàn năm tại vùng Lưỡng Hà cổ, nay là Iraq. Giáo sư Jones nói rằng, kết quả khảo cổ tại Trung quốc làm thay đổi mọi thứ. Giống lúa cổ nhất tại Trung Quốc giờ đây đã có 12 ngàn năm tuổi. Hạt Kê ở miền bắc nước này có tới 8 ngàn năm tuổi. tại nhiều vùng ở châu Á và Mông Cổ, đây là loại lương thực chính mà người ta ăn vài lần trong ngày. Vì là một bản tin vắn, không có thêm nhiều chi tiết, không biết Giáo Sư Jones nói Trung Quốc là một nước, một dân tộc như hiện nay hay lãnh thổ của dân Bách Việt trong vùng Hoàng Hà Dương Tử mà dân Bách Việt đã định cư truớc khi có Trung Quốc của Hán Tộc được làm nên do người Mông Cổ du mục xâm chiếm vùng Hoàng Hà Dương Tử, hoà huyết với dân Bách Việt thành ra người Hán mà lãnh thổ của họ thời đó còn bé tí ti, chỉ như một quận huyện ngày nay. Gọi là Trung Quốc là nước ở giữa, có nghĩa chung quanh còn có nhiều nuớc khác chứ không là toàn lãnh thổ Trung Quốc như ta thấy ngày nay. Trong tác phẩm “Việt Nam Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông” tác giả Du Miên Lê Thanh Hoa đã trưng dẫn bản đồ của tạp chí National Geographic (Hoa Kỳ) ấn hành, ghi rõ Việt (Yue) sống đời định cư 5,000 năm trước tây lịch và là giống dân đầu tiên trồng lúa gạo trên thế giới. Cuốn “An Historical Atlas of China” của Albert Herrmann, Giáo Sư Đại Học Berlin cũng cho biết như vậy. Cuốn BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ của Thuận Đức, Âu Đại Nhậm, Trịnh Bá soạn, là cuốn cổ sử về giống Việt, viết ra từ 500 năm trước tại Trung Quốc, cất trong kho trữ sách trung ương, chỉ dành cho một số người tra cứu sử liệu được đọc mà thôi. Ngay cả Sử Quán của triều Nguyễn Việt Nam cũng cố công tìm nhưng không tìm thấy. Vào năm 2006, Trung tâm nghiên cứu văn hoá Việt Nam tại Hoa Kỳ đã cho in, phổ biến bản dịch của Giáo Sư Trần Lam Giang. Ấn bản này có cả phụ lục nguyên bản của sử gia thời nhà Minh, Âu Đại Nhậm, để đối chiếu. Giai đoạn lịch sử mà “Bách Việt Tiên Hiền Chí” đề cập là triều Hán, triều đại chủ trương đánh chiếm và sáp nhập toàn bộ đất Việt vào lãnh thổ Tàu. Cuối cùng, một dải đất rộng bao la, nay ước chừng 1/3 toàn bản đồ Tàu, của nước Việt đã bị đẩy mãi xuống tận miền Nam, và Bách Việt nay chỉ còn có Lạc Việt, chi trưởng của Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Nhà văn Hà Văn Thuỳ trong bài viết “ Khai sinh người Hán và sự hình thành nước Tàu” (Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn Học, 2008) khẳng định: “Tổ tiên người Hán chỉ ra đời khoảng 2600 năm TCN, khi người Mông Cổ tràn xuống nam Hoàng Hà chiếm đất của người Việt, hòa huyết với người Việt sinh ra. Vì vậy, tất cả văn hóa vật thể và phi vật thể có trên đất Trung Hoa trước 2600 năm TCN đều là sản phẩm của Việt tộc.” Và bài “Truy Tìm Gốc Tích Cây Kê” cũng trong sách trên đã xác định rằng muốn tìm nguồn gốc cây Kê phải giải quyết hai vấn đề: Người trồng Kê ở làng Bonfo 5,000 năm trước là ai và trước hết ở đâu ? Ông dẫn chứng tác phẩm “Nguồn Gốc Phương Đông” (The Cradle of The East) của Giáo Sư Ho Ping-Ti để đi đến kết luận là có sự hoà huyết giữa người du mục và người nông nghiệp, sống hoà thuận trong cộng đồng Bách Việt. Giáo sư Zhu Naiccheng trong chuyên luận “ A Summary of Prehistoric Rice-cultivating Agriculture” cũng kết luận rằng “Cả gạo lẫn cây Kê đều được gieo trồng trong khu vực giữa sông Hoàng hà và sông Huai (Hoài) tức “lúa gạo và cây Kê đã được trồng xen nhau trong miền văn hoá tiền sử Trung Hoa” Tiến Sĩ Nguyễn Văn Tuấn, Giám Đốc Viện Garma Úc, trong bài giới thiệu cuốn Địa Đàng Phương Đông của Stephen Oppenheimer đã viết “Qua những khám phá này, chúng ta có bằng chứng để phát biểu rằng, trước khi tiếp xúc với người Hán từ phương Bắc (Trung Hoa) đến, tổ tiên chúng ta đã tạo dựng nên một nền văn minh khá cao, nếu không nói là cao nhất trong vùng Đông Nam Á … Tổ tiên chúng ta đã phát triển và ứng dụng kỹ thuật trồng lúa trước người Hán hay là những người thầy dạy cho người Hán trồng lúa (chứ không phải ngược lại) và có thể tổ tiên chúng ta cũng chính là tổ tiên của người Trung Hoa ngày nay. Đã đến lúc phải trả lại sự thực và danh dự cho tổ tiên chúng ta”. 2. Chuyện nguồn gốc Kinh Dịch Học giả Nguyễn Thiếu Dũng trong bài viết kỷ niệm 10 năm ông công bố chứng cứ chứng minh “Kinh Dịch là di sản sáng tạo của Việt Nam” đăng nhiều nơi trong đó có mang anviettoancau.net tháng 4 năm 2009 ông cho rằng người Trung Hoa đã có hai ngàn năm để nói Kinh Dịch là của họ với hơn mấy ngàn đầu sách luôn luôn khẳng định điều này khiến nó đã trở thành một sự thực hiển nhiên khó ai cãi lại đuợc. Nhưng ngày nay đã có những chứng cớ cho chúng ta thấy rằng nguồn gốc Kinh Dịch không thể tìm thấy ở Trung Hoa , mà Việt Nam mới chính là nơi khai sinh Kinh Dịch. Nguyễn Thiếu Dũng đã lược qua nhiều chứng cớ lịch sử, nhiều sử gia, nhiều tác giả từ xưa tới nay của Trung Hoa đã đi tìm lý chứng để giải quyết vấn nạn về nguồn gốc Kinh Dịch, nhưng họ đành bó tay không truy vấn được. Vậy thì người Việt nam hà cớ gì cứ đi theo họ để xác nhận một điều họ đã phủ nhận, cứ trân trọng mãi cái họ đã ném đi ? Vậy đâu là những chứng cớ từ Việt Nam ? A.Năm 1970 Giáo Sư Kim Định đã dõng dạc tuyên bố “Kinh Dịch là của Việt Nam” trong tác phẩm Dịch Kinh Linh Thể. Tiếp sau là Bác Sĩ Nguyễn Thi Thanh, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Phạm Trần Anh, Trần Đại Sỹ, Trần Quang Bình, Hà Văn Thuỳ, Nguyễn Quang Nhật, Nguyễn Việt Nho, Trúc Lâm Đoàn Vũ … đã mạnh dạn đề xuất nhiều chứng cớ khoa học. B. Riêng Nguyễn Thiếu Dũng, trong ròng rã 10 năm không mỏi mệt, tác giả đã trình với công luận những chứng cứ khả dĩ chứng minh được Kinh Dịch là di sản của tổ tiên Việt nam qua mấy điểm chính sau đây: 1) Căn cứ vào những hoa văn trên đồ gốm Phùng Nguyên và đồ đồng Đông Sơn thì Việt Nam đã ghi khắc những quẻ Dịch trước Trung Quốc và sớm hơn chứng liệu của Trung Quốc (xin xem Phát hiện Kinh Dịch thời đại Hùng Vương-Thanhnienonline) 2) Chứng liệu của Việt Nam trực tiếp từ tượng quẻ không phải qua suy luận từ số đến tượng như Trung Quốc.Có đầy đủ 8 quẻ đơn và một số quẻ kép trên đồ đồng Đông Sơn.Những quẻ này có thể đọc thành văn bản phản ánh tư tưởng quốc gia Văn Lang (Sứ giả Văn lang-Anviettoancau.net) 3) Quẻ Dịch trên đồ Phùng Nguyên và Đông Sơn chứng tỏ hào dương vạch liền và hào âm vạch đứt của Trung Quốc là biến thể của Hào dương vạch liền và hào âm vạch chấm chấm của Việt nam,Trung Quốc đã nối những chấm âm lại thành vạch đứt để vạch cho nhanh (cải biên) (Chiếc gậy thần-dạng thức nguyên thủy của hào âm hào dương-Thanhnienonline). 4) Các từ Dịch/Diệc, Hào, Càn, Khôn, Cấn, Chấn, Khảm, Ly,Tốn, Đoài chỉ là từ ký âm tiếng Việt (Bàn về tên gọi tám quẻ cơ bản của Kinh Dịch-Dunglac.net) 5) Quan trọng nhất theo tiêu chuẩn tam tài Trung Quốc chỉ sử dụng Tiên Thiên đồ, Hậu Thiên Đồ mà không có Trung Thiên Đồ, một đồ cốt yếu đã được tổ tiên Việt Nam sử dụng để viết quái, hào từ Kinh Dịch cũng như phân bố vị trí các quẻ. Đồ này được tổ tiên Việt nam dấu trong truyền thuyết, trên trống đồng nên có thể khẳng định Trung Quốc không thể nào là người khai sinh kinh Dịch (Trung Quốc đã công bố hơn 4000 Dịch đồ nhưng không có đồ nào phù hợp với Trung Thiên Đồ) (Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam-Thanhnienonline) 6) Truyền thuyết Việt Nam một phần là những câu chuyện liên hệ với Kinh Dịch, như chuyện con Rồng cháu Tiên là chuyện của Trung Thiên Đồ, chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh là chuyện kể lại từ những lời hào quẻ Mông, người Trung Hoa chỉ cần thay đổi bộ thủy trong hai chữ “chất cốc” thành bộ mộc là đổi câu chuyện nói về lũ lụt thành chuyện dạy trẻ mông muội là xóa được gốc tích của Kinh.Truyền thuyết được lưu giữ chính là để bảo tồn Kinh Dịch.(Các bài trên Anviettoancau.net- cùng tác giả) Trong một bài báo ngắn chúng tôi không thể trình bày hết mọi chứng cứ nhưng thiết tưởng bấy nhiêu đó cũng đủ để hy vọng các bậc thức giả Việt Nam nên xét lại vấn đề, cân nhắc phân minh trả lại sự công bằng cho Tổ Tiên. Thái độ “mackeno” của quí vị chỉ làm tăng thêm nỗi đắng cay chua xót của liệt tổ ở chốn u linh. Xin hãy chung tay làm sáng tỏ huyền án này. Hởi ai có thấu lòng tiên tổ! Xin giải oan cho “Giọt máu Rồng” ./. Vũ Khánh Thành. Nguồn : www.vanchuongviet.org
  9. Động đất gây sóng thần tại New Zealand Cập nhật lúc 10h06' ngày 16/07/2009 Chiều qua 15-7, một trận động đất mạnh đã gây sóng thần nhỏ tại New Zealand và đặt bờ biển nước này trong tình trạng báo động. Cơ quan khảo sát địa chất Mỹ (USGS) cho biết động đất xảy ra ngoài khơi tây nam New Zealand, cách thành phố Invercargill 161 km về phía tây, ở độ sâu 33 km. Trung tâm cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương ở Hawaii cho biết họ phát hiện có sóng thần nhỏ và đã phát cảnh báo chung cho khu vực Bản đồ nơi xảy ra động đất (Ảnh: AP) “Một trận động đất cường độ này thường có nguy cơ gây sóng thần tàn phá trên diện rộng và có thể tấn công các bờ biển tại khu vực nằm gần tâm chấn trong vòng vài phút đến vài giờ”, cảnh báo của trung tâm nói. Cảnh báo này sau đó đã được dỡ bỏ. Động đất xảy ra lúc 9g22 giờ quốc tế, tức 16g22 chiều nay giờ Việt Nam. USGS và các nhà địa chấn Nhật Bản cho rằng động đất mạnh 7,8 độ richter, tuy nhiên nhà chức trách New Zealand nói nó có thể yếu hơn, khoảng 6,6 độ richter. Hiện chưa có thông tin về thiệt hại hay thương vong, dù tin cho biết động đất được cảm nhận ở khắp đảo South của New Zealand. Tờ Herald cho biết tại Queenstown, nhiều người bỏ chạy ra đường khi nhận thấy các tòa nhà bị rung lắc, đường dây điện và điện thoại bị ngắt ở vài khu vực. Simon Darby, một người dân đảo South, nói trận động đất kéo dài khoảng 2 phút rưỡi. “Tôi sống ở Tokyo 3 năm và chưa từng thấy trận động đất nào lớn như thế. Dù ở cách tâm động đất tới 400 km, chúng tôi cũng cảm nhận được nó. Tôi đã bỏ chạy một mạch ra ngoài bãi xe”, anh kể lại. Tường Vy - Tuổi trẻ (Theo AP, BBC) Nguồn: www.khoahoc.com.vn
  10. Đúng như Sư phụ nhận định đây là kết quả của ngành khảo cổ học, các kết quả khảo cổ trên cho thấy một nền văn minh lúa nước rất phát triển đã tồn tại trước khi người Hoa Hạ có mặt tại vùng đất này. Kính.
  11. Thứ Tư, 15/07/2009 - 11:32 PM "Máy bay Iran “đã bốc cháy trên không trung” (Dân trí) - Chiếc máy bay Tupolev đâm xuống cánh đồng tại tây bắc Iran vào ngày 15/7 đã giết chết 168 người, trong đó có nhiều nhân vật quan trọng. Một quan chức cấp cao Iran cho hay, chiếc máy bay đã bắt lửa trên không sau khi gặp trục trặc kỹ thuật. >> Video: Máy bay Iran chở gần 170 người tan xác trên mặt đất Hiện trường chiếc máy bay gặp nạn. Trong vụ tai nạn tồi tệ nhất Iran suốt 6 năm qua, chiếc máy bay của hãng hàng không Caspian Airlines đã lao xuống cánh đồng cùng với 153 hành khách và 15 thành viên phi hành đoàn, tạo ra một hố sâu, rộng mù mịt khói trên mặt đất. Chiếc máy bay, đang đi từ Tehran tới thủ đô Yerevan của Armenia, đã đâm xuống đất gần thành phố Qazvin, tây bắc Iran trưa ngày 15/7, sau khi cất cánh được khoảng 16 phút. Một mảnh vỡ của máy bay. “Đây là một vụ tai nạn khủng khiếp, các mảnh vụn của máy bay trải rộng trên một diện tích 200m2”, một quan chức cứu hỏa cho hay. “Đã có một vụ nổ lớn, để lại một hố lớn sâu tới 10m trên mặt đất. Chúng tôi không thể giúp được gì nữa. Chúng tôi chỉ cố gắng dập lửa càng nhanh càng tốt”, quan chức này nói trên đài truyền hình quốc gia.Nhiều nhân vật quan trọng trên chiếc máy bay gặp nạn Arsen Pogosian, phó chủ tịch cơ quan hàng không dân dụng của Armenia cho hay hầu hết hành khách trên máy bay là người Iran, với nhiều người thuộc cộng đồng người Armenia. Ngoài ra, có 6 công dân Armenia, 2 người Gruzia. 2 người Gruzia gồm một người là quan chức sứ quán Gruzia tại thủ đô Yerevan của Armenia; trong khi người kia là vợ của đại diện ngoại giao của Gruzia tại Tehran, Gocha Gvaramadze. Phần còn lại của đuôi máy bay. Trong số những người trên máy bay còn có 8 thành viên của đội tuyển võ judo quốc gia Iran và 2 huấn luyện viên. Ngoài ra còn có một cựu nghị sỹ đại diện cho cộng đồng người Armenia ở Iran.Hãng hàng không Caspian Airline cho hay, khoảng 20-25 hành khách trên máy bay là người Armenia. Tại Iran có khoảng 100.000 người dân tộc Armenia sinh sống. Rất nhiều người Armenia thường xuyên bay đi về giữa Tehran và Yerevan để thăm người thân ở Armenia. Tại hiện trường người ta cũng tìm thấy tấm card của một người Nhật, hãng thông tấn IRNA cho hay. Mảnh vỡ được cho là một phần cánh máy bay. Những người thân, bạn bè mắt ngấn lệ đã tới sân bay Yerevan để đọc bảng liệt kê danh sách những người trên máy bay. Iran là nhà của hàng ngàn người dân tộc Armenia. Các bác sỹ phải điều trị cho rất nhiều người thân của các nạn nhân bị sốc và bị đau tim.Fina Karapetian, một người Armenia trong độ tuổi 30, cho biết chị gái cô cùng 2 cháu trai, một 11 tuổi và một 6 tuổi, đã ở trên chiếc máy bay gặp nạn. “Tôi nghe mọi người nói là tất cả đều đã chết. Tôi sẽ làm được gì nếu không có Armen and Vahe”, cô nói trước khi ngất đi. “Chiếc máy bay Tupolev đã bị phá hủy hoàn toàn và các thi thể, thật đáng buồn, cũng bị cháy rụi”, chỉ huy cảnh sát thành phố Qazvin, ông Massoud Jafarinasab, cho biết trên hãng thông tấn bán chính thức Fars của Iran. Đài truyền hình Iran cho thấy các mảnh vỡ và các mảnh thi thế cùng một chiếc hố sâu rộng, mịt mù khói với các mảnh kim loại rải rác khắp nơi. Khói bốc lên từ hiện trường trong khi cảnh sát và những người khác đứng quanh. “Máy bay bốc cháy trên không” Vụ tai nạn đã để lại một hố rộng và sâu tới 10m trên mặt đất Quan chức cấp cao của tỉnh Sirous Saberi cho hay chiếc máy bay đã gặp trục trặc kỹ thuật và đã cố gắng hạ cánh khẩn cấp. “Nhưng rất tiếc nó đã bốc cháy trong không trung và đâm xuống”, ông cho biết trên hãng thông tấn Fars. Một nhân chứng cho biết trên đài truyền hình quốc gia IRIB rằng đã nhìn thấy động cơ bên trái của máy bay bốc cháy trên không trung. Tuy nhiên, đài phát thanh quốc gia Iran lại khẳng định phi công không hề nhắc đến trục trặc kỹ thuật nào trong đoạn hội thoại đã được ghi âm lại với trạm điều khiển không lưu. “Trên máy bay có 151 người lớn, 2 trẻ em và 15 thành viên phi hành đoàn”, đại diện của hãng hàng không Caspian Airline cho hay. Mảnh vỡ và các mảnh thi thể rải khắp một diện tích 200m2. “15 hoặc 16 phút sau khi cất cánh, máy bay đã bị rơi gần thành phố Qazvin, cách bắc Tehran khoảng 150km”. Ông cũng cho biết thêm chiếc máy bay gặp nạn là chiếc Tu-154 và nguyên nhân của vụ tai nạn vẫn chưa được sáng tỏ. Hộp đen của máy bay cũng chưa được tìm thấy. “Máy bay Iran cũ kỹ do bị Mỹ cấm vận” Theo các chuyên gia an toàn hàng không, vài thập kỷ trở lại đây, Iran đã phải trải qua rất nhiều vụ tai nạn máy bay thảm khốc, mà không ít liên quan đến máy bay do Nga sản xuất. Do Mỹ áp đặt lệnh cấm vận Iran, ngăn không cho nước này mua các máy bay hoặc bộ phận máy bay mới của phương Tây, buộc họ phải bổ sung vào đội máy bay Boeing và Airbus “già cỗi” bằng các máy bay có từ thời Liên Xô cũ. Các nhân viên cứu hộ đã không giúp được gì nhiều ngoài dập lửa. Đây là vụ tai nạn máy bay thảm khốc thứ ba liên quan đến một chiếc Tupolev Tu-154 tại Iran kể từ năm 2002 và là vụ tai nạn thảm khốc nhất kể từ năm 2003, khi một chiếc Ilyushin Il-76, cũng Liên Xô sản xuất, đã bị đâm ở vùng núi Iran.Tháng 6/2006, 29 người đã thiệt mạng khi chiếc máy bay chở khách Air Tour Tupolev 154 bốc cháy lúc hạ cánh ở thành phố Mashhad, đông bắc Iran. Năm 2002, toàn bộ 118 người trên chiếc Air Tours Tupolev 154 khác thiệt mạng khi máy bay gặp tai nạn gần thành phố miền tây Khorramabad. Tháng 2/2003, một chiếc máy bay chở binh sỹ Ilyushin-76 bị đâm ở đông nam Iran, khiến toàn bộ 276 binh sỹ thuộc Lực lượng vệ binh Cách mạng Iran và phi hành đoàn thiệt mạng. Hãng hàng không Caspian Airlines thành lập vào năm 1993, có trụ sở tại Tehran. Đội máy bay toàn là loại Tupolev của họ kết nối các thành phố ở Iran và các tuyến đường tới Các tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất, Ukraine và Armenia. Phan Anh Theo Reuters Thứ Năm, 16/07/2009 - 8:56 AM[/b] Các hộp đen của máy bay Iran “đã bị hỏng” (Dân trí) - Giới chức Iran cho hay họ đã tìm thấy các hộp đen của chiếc máy bay Caspian Airlines gặp nạn ở miền bắc đất nước, khiến toàn bộ 168 người trên khoang thiệt mạng. Tuy nhiên chúng đã bị hư hỏng nặng. Một nhân viên cứu hộ đang di chuyển cánh quạt động cơ máy bay gặp nạn. Các nhà điều tra đã tìm được các máy ghi dữ liệu của chuyến bay, hay các hộp đen, lẫn trong các mảnh vụn kim loại cùng các mảnh thi thể. Các mảnh vỡ trải trên một diện tích rộng ở cánh đồng thuộc tỉnh Qazvin, cách tây bắc Tehran khoảng 120km. Farsi Majidi, người đứng đầu ủy ban điều tra cho biết trên TV News của hãng thông tấn AP rằng: “Ơn trời, chúng tôi đã tìm thấy 2 trong số 3 hộp ghi dữ liệu của chuyến bay, hay các hộp đen”. Và “mặc dù chúng đã bị hỏng, nhưng chúng tôi vẫn hi vọng có thể lấy được thông tin từ các hộp đen này”. Máy bay lao xuống đất, phát nổ, để lại một hố sâu tới 10m. Chiếc máy bay khi đó đang bay từ thủ đô Iran tới thủ đô Yerevan của Armenia. Các nhân chứng cho hay chiếc máy bay 22 năm tuổi của Nga, với 153 hành khách và 15 thành viên phi hành đoàn đã lao từ trên không trung, cắm mũi xuống đất, với phần đuôi bốc cháy. Chiếc máy bay mang số hiệu 7908 gặp nạn chỉ 16 phút sau khi cất cánh từ sân bay quốc tế Imam Khomeini ở Tehran. “Rất nhiều đầu, ngón tay và hộ chiếu” Các đội cứu hộ đã rà soát và nhặt nhạnh trong một khu vực rộng 200m, trên cánh đồng ở làng Jannatabad. Khi lao xuống, chiếc máy bay tạo ra một miệng hố lớn, mù mịt khói. Mostafa Babashahverdi, một nông dân địa phương, cho biết trên hãng thông tấn Reuters rằng: “Chúng tôi tìm thấy rất nhiều đầu, ngón tay bị rời ra và cả hộ chiếu của các hành khách”. Thi thể nạn nhân được đưa ra khỏi hiện trường. Các nhân chứng cho hay chiếc máy bay Tu-154 đã bay lượn vòng một lúc để tìm chỗ hạ cánh khẩn cấp. Một người đàn ông miêu tả nó đã nổ tung khi lao xuống đất. “Tôi nhìn thấy chiếc máy bay cắm mũi xuống. Nó đâm xuống đất, tạo ra một tiếng nổ lớn. Vụ va chạm đã làm rung chuyển mặt đất giống như xảy ra một trận động đất”, Ali Akbar Hashemi cho biết trên hãng thông tấn AP. Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad đã gửi lời chia buồn tới các gia đình bị nạn và yêu cầu bộ giao thông tiến hành điều tra vụ việc. Phan Anh Theo BBC Nguồn dantri.com.vn
  12. Thứ Tư, 15/07/2009 - 4:22 PM Đâm máy bay tại Iran, 169 người có thể đã chết (Dân trí) - Một chiếc máy bay chở khách trưa ngày 15/7 đã bị đâm ở tây bắc Iran và 169 người trên khoang có thể đã thiệt mạng, hãng thông tấn ISNA cho hay. “Có 153 hành khách cùng với 16 thành viên phi hành đoàn trên máy bay bị đâm”, ISNA cho biết nhưng không trích dẫn nguồn tin. Trước đó đài truyền hình quốc gia Iran cho biết toàn bộ 150 người trên máy bay đã thiệt mạng. Khi gặp nạn, chiếc máy bay loại Tupolev thuộc hãng hàng không Caspian Airlines của Iran đang trên đường từ Tehran tới thủ đô Yerevan của Armemia. Chiếc máy bay đã bị đâm ở gần thành phố Qazvin, tây bắc Iran vào 11h33 sáng nay, 15/7. Giám đốc cơ quan cấp cứu của Qazvin Hossein Bahzadpour cho hay trên hãng thông tấn IRNA rằng chiếc máy bay đã bị phá hủy hoàn toàn và các mảnh vỡ bị thiêu rụi trong lửa. Ông này cho biết tất cả mọi người trên khoang có thể đã chết. Truyền hình bằng tiếng Anh Press TV của Iran cho biết trong dòng tít chạy trên màn hình là: "150 người trên chiếc máy bay gặp nạn của Iran được cho là đã chết”. IRNA dẫn lời người phát ngôn của hàng không Iran cho biết một chiếc máy bay đã bị đâm 16 phút sau khi cất cánh từ sân bay quốc tế Imam Khomeini ở thủ đô Tehran. Phan Anh Theo AP Nguồn : dantri.com.vn
  13. Kính thưa Thầy! Sau đây là định nghĩa Xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) được giải thích trong Quy chế kèm theo quyết định số: 307/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì XTNĐ là vùng gió xoáy, đường kính có thể tới hàng trăm km, hình thành trên biển nhiệt đới, gió thổi xoáy vào trung tâm theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, áp suất khí quyển (khí áp) trong xoáy thuận nhiệt đới thấp hơn xung quanh, có mưa, đôi khi kèm theo dông, tố, lốc-theo điều 2 khoản 1). Nó bao gồm áp thấp nhiệt đới (Áp thấp nhiệt đới là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất từ cấp 6 đến cấp 7 và có thể có gió giật - theo điều 2 khoản 5) và bão (nhiệt đới) (Bão là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất từ cấp 8 trở lên và có thể có gió giật. Bão từ cấp 10 đến cấp 11 được gọi là bão mạnh; từ cấp 12 trở lên được gọi là bão rất mạnh - theo điều 2 khoản 6). Quy chế này rất chắc chắn là của Tổng cục Khí tượng thủy văn trình lên Thủ tướng. Ngoài định nghĩa theo quy chế ở nước ta theo quy ước quốc tế thì: Gọi là xoáy thuận vì nó xoay tròn theo hướng tự quay của Trái Đất. Xoáy thuận (cyclone) không phải chỉ có mỗi bão, chẳng hạn còn có áp thấp khi cấp gió không đủ để gọi là bão, nó được phát triển từ các khu vực có áp suất thấp với lõi nóng. Đối với xoáy ngược (anticyclone) thì nói chung khó xuất hiện ở khu vực nhiệt đới mà chỉ có thể ở vùng áp cao với lõi lạnh và thời tiết lạnh, như ở vùng ôn đới hay hàn đới. Kính.
  14. Áp thấp nhiệt đới Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Áp thấp nhiệt đới Áp thấp nhiệt đới (tropical depression) là tên gọi một hiện tượng thời tiết phức hợp diễn ra trên diện rộng trên biển hoặc đất liền khi có hiện tượng gió xoáy tập trung quanh một vùng áp thấp nhưng chưa đủ mạnh để gọi là bão nhiệt đới. Điều kiện hình thành Để một áp thấp hình thành phải có đủ các điều kiện thuận lợi của bề mặt khí quyển như khí áp, nhiệt độ, gió... Bởi vậy, những vùng có khí hậu nóng của vùng nhiệt đới, trên đại dương hoặc trên biển nhiệt đới thường hay xuất hiện áp thấp nhiệt đới. Khi một vùng không khí nóng hơn các vùng xung quanh, khí áp sẽ giảm đi, điều này sẽ hút gió từ các phía có khí áp cao hơn về và có xu hướng thăng động ( bốc lên cao ). Gió là không khí chuyển từ áp cao đến áp thấp, nhưng do ảnh hưởng của lực Coriolis ( lực lệch hướng do trái đất tự quay ) nên hướng gió hút vào tâm áp thấp sẽ bị lệch hướng tạo thành hình thế gió xoáy. Ở bán cầu Bắc, hướng gió sẽ lệch về bên phải hướng chuyển động nên hình thành xoáy nghịch nhiệt đới. Ở bán cầu Nam, lực Coriolis làm hướng gió lệch về bên phải so với hướng chuyển động, nên hình thành xoáy thuận nhiệt đới. Điều này cũng diễn ra tương tự như các áp thấp ôn đới cũng có hướng gió xoáy ngược chiều nhau ở hai bán cầu, hình thành do sự nhiễu động của các front ( mạc giáp khí, diện khí ) ở các vùng khí hậu ôn đới. Sự khác nhau giữa áp thấp nhiệt đới và bão nhiệt đới Khi áp thấp nhiệt đới đủ mạnh vì liên tục phát triển đủ năng lượng để thu hút gió và hơi nước mạnh lên sẽ hình thành bão nhiệt đới. Bão biển nhiệt đới là danh từ được dịch từ tiếng Anh "tropical cyclone" hoặc "tropical storm". Sự khác biệt giữa áp thấp nhiệt đới và bão nhiệt đới là phân biệt theo cấp gió . Theo sự phân chia cấp gió của đô đốc hải quân người Ai Len: Sir Francis Beautfort, thì gió được chia thành 12 cấp. Khi gió xoáy mạnh từ cấp 7 - 8 được gọi là áp thấp nhiệt đới. Theo định nghĩa quốc tế, bão biển nhiệt đới phải có gió mạnh hơn 63 km/giờ (hơn cấp 8, 34 knots). Nếu gió yếu hơn 63 km/giờ, gọi là áp thấp nhiệt đới (tropical depression). Nếu gíó mạnh hơn 118 km/giờ (cấp 12, 64 knots), bão được gọi là bão to với cuồng phong (typhoon). Ngoài ra còn có bão rất to hay siêu bão (super typhoon) với gió mạnh hơn 241 km/giờ. Danh từ "typhoon" được dùng trong vùng Biển Đông và Tây Bắc Thái Bình Dương; "hurricane" trong vùng Đại Tây Dương; và "tropical cyclone" trong vùng Ấn Độ Dương. Áp thấp nhiệt đới ở Việt Nam Ở nước ta, mùa bão thường bắt đầu từ miền Bắc vào tháng 5,6 và di chuyển vào miền Nam cho đến hết tháng 12. Ba tháng 9,10 và 11 thường có nhiều cơn bão nhất. Trung bình, hàng năm có từ 4 đến 6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới vào bờ biển nước ta. Khi chưa hình thành bão, nếu tốc độ của gió còn dưới 63 km/giờ, thì gọi là áp thấp nhiệt đới. Mỗi khi có bão với gió mạnh hơn 63 km/giờ, bão được đặt tên bởi Cơ Quan Khí Tuợng Nhật Bản (Japanese Meteorological Agency) ở Tokyo.
  15. BÃO NHIỆT ĐỚI (Tropical Storm) Bão là hiện tượng gió mạnh kèm theo mưa rất lớn do có sự xuất hiện và hoạt động của các khu áp thấp (low pressure area) khơi sâu. Bão biển nhiệt đới là danh từ được dịch từ tiếng Anh "tropical cyclone" hoặc "tropical storm". Theo định nghĩa quốc tế, bão biển nhiệt đới phải có gió nhanh hơn 63 km/giờ (cấp 8, 34 knots). Nếu gió yếu hơn 63 km/giờ, gọi là áp thấp nhiệt đới (tropical depression). Nếu gíó mạnh hơn 118 km/giờ (cấp 12, 64 knots), bão được gọi là bão to với cuồng phong (typhoon). Ngoài ra còn có bão rất to hay siêu bão (super typhoon) với gió nhanh hơn 241 km/giờ. Xin xem Bảng cấp gió để biết thêm định nghĩa các cấp gió. Bão có nhiều tên gọi khác nhau tuỳ vào khu vực phát sinh: + Bão hình thành trên Đại Tây Dương: hurricanes + Bão hình thành trên Thái Bình Dương: typhoons + Bão hình thành trên Ấn Độ Dương: cyclones Điều kiện cơ bản để hình thành bão là nhiệt độ cao và những vùng dồi dào hơi nước: khi nhiệt độ cao sẽ làm cho hơi nước bốc lên mạnh và bị đấy lên cao, tại khu vực đó 1 tâm áp thấp hình thành. Do sự chênh lệch khí áp, không khí ở khu vực lân cận sẽ tràn vào.Tại tâm bão (mắt bão) không khí chuyển từ trên xuống dưới, xung quanh tâm bão: không khí bốc mạnh lên cao ngưng tụ thành 1 bức tường mây dày đặc, tạo ra những cơn mưa cực lớn và gió xoáy rất mạnh. Khi đi vào đất liền hoặc vùng biển lạnh ở các vĩ độ cao, bão mất nguồn năng lượng bổ sung từ không khí nóng ẩm trên biển, cộng với đó là ảnh hưởng của lực ma sát với mặt đất nên suy yếu dần và tan đi. Ảnh: Bão Số 9 (Durian) hình thành và di chuyển vào Việt Nam Cấu tạo của 1 cơn bão gồm các phần sau: mắt bão (the eye), thành mắt bão (the eyewall), dải mây (rainbands) và lớp mây ti dày đặc phía trên (the Dense Cirrus Overcast) Ảnh: Cấu tạo của 1 cơn bão Bão thường xuất hiện ở khu vực từ vĩ tuyến 5 đến 20 0 vĩ Bắc và Nam, điển hình là ở Thái bình Dương với tên gọi là Bão nhiệt đới (Tropical Storm). Tại đây, nhiệt độ tương đối cao, tạo điều kiện cho sự đối lưu của nước, hình thành bão. Những cơn mưa rào do bão mang tới làm cho cỏ cây phát triển tươi tốt. Tuy nhiên những trận bão dữ dội có thể tàn phá mùa màng, sập nhà cửa, gây thiệt hại rất lớn cho con người. Ảnh: Khu vực hay xảy ra bão trên thế giới và số bão trung bình hàng năm Ở Việt Nam, bão phát sinh từ tháng 5 đến tháng 12 trên khu vực biển Đông. Sau khi đạt tới trình độ phát triển mạnh, bão di chuyển theo hướng từ Đông sang Tây, về phía đất liền và thường tan đi khi đã đổ bộ vào bờ biển. Từ Bắc vào Nam mùa bão chậm dần phù hợp với sự di chuyển của dải hội tụ nhiệt đới: từ Móng Cái - Thanh Hoá (tháng 7,8), Thanh Hoá - Quảng Trị (tháng 9), Quảng Trị - Bồng Sơn (tháng 10), Bồng Sơn - TPHCM (tháng 11), TPHCM - Cà Mau (tháng 12). Năm 2006 là năm xuất hiện nhiều trận bão mạnh: bão Chanchu (5/2006), bão Xangsane và Cimaron (10/2006), Chebi (11/2006), bão Durian và Utor (12/2006). Các cơn bão gây thiệt hại lớn cho người dân (đặc biệt là các khu vực gần biển)./. (theo vnbaolut.com)
  16. Xoáy thuận nhiệt đới Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Xoáy thuận Catarina, một trong những xoáy thuận nhiệt đới hiếm thấy ở Nam Đại Tây Dương nhìn từ Trạm không gian quốc tế ngày 26 tháng 3 năm 2004.Xoáy thuận nhiệt đới là những hệ thống áp thấp được hình thành trên các vùng đại dương nhiệt đới có hoàn lưu xoáy thuận (ngược chiều kim đồng hồ ở Bắc Bán cầu). Các xoáy thuận nhiệt có tốc gió duy trì cực đại nhỏ hơn 17 m/s được gọi là áp thấp nhiệt đới (tropical depression), từ 17 m/s đến 33 m/s được gọi là bão nhiệt đới (tropical cyclone hoặc tropical storm). Khi tốc độ gió duy trì cực đại vượt quá 33 m/s, chúng được gọi là Hurricane ở Đại Tây Dương, Đông Thái Bình Dương và Biển Caribe, và được gọi là Typhoon ở Tây Thái Bình Dương. Hurricane và Typhoon được chia làm 5 cấp tùy theo sức gió theo thang bão Saffir-Simpson. Ở Việt Nam, các xoáy thuận nhiệt đới đổ bộ vào Biển Đông thường khá yếu. Bão được phân loại dựa trên cấp gió Beaufort. Nó bao gồm áp thấp nhiệt đới (Có sức gió mạnh nhất từ cấp 6 đến cấp 7 và có thể có gió giật.) và bão nhiệt đới (Có sức gió mạnh nhất từ cấp 8 trở lên và có thể có gió giật. Bão từ cấp 10 đến cấp 11 được gọi là bão mạnh; từ cấp 12 trở lên được gọi là bão rất mạnh).
  17. Kính thưa Thầy! Đây là một công trình nghiên cứu rất đáng quan tâm và đáng trân trọng của một người Việt ở xa xứ nhưng điều này có vẻ như không mang lại một điều gì cho "hầu hết các nhà khoa học trong nước" và "cộng đồng khoa học thế giới" . Kính.
  18. V. KẾT LUẬN Thưa Quý-vị Quý-vị đã cùng tôi đi vào những chi tiết từ huyền thoại, huyền sử, cổ sử, cùng triết học, cho tới tin học, y học để tìm về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, về biên giới cổ của tộc Việt. Trong chính sử Trung-quốc, Việt-Nam đều ghi rõ ràng nguồn gốc tộc Việt, nhưng cái nguồn gốc ðó cãn cứ vào cổ thý của người Trung-hoa, nên hoàn toàn sai lạc. Bởi cổ thư cho rằng ngýời Trung-hoa tự sinh ra, rằng ngýời Việt chẳng qua do những ngýời Trung-hoa di chuyển xuống lưu ngụ. Sự thực nhờ hệ thống ADN, chúng ta biết rằng chính những người ở châu Phi ðến Ðông Nam-á trước, rồi di chuyển lên Hoa-Nam. Tại Hoa-Nam giống người này lại hợp với giống ngýời từ châu Phi sang châu Âu, rồi từ châu Âu vào Trung-á, hợp với người ở Hoa-Nam mà thành tộc Hán. Nhưng ngược lại, do cổ thư Trung, Việt, hay do ADN, chúng ta cũng biết rất rõ biên cương nước Việt thời mới lập quốc. Hồi thơ ấu, tôi sống bên cạnh những nhà Nho, chỉ ðọc sách chữ Hán của người Hoa, người Việt viết. Mà những sách này ðều chép rằng tộc Việt gồm có trãm họ khác nhau, mang tên Bách-Việt. Những tên Âu-Việt, Lạc-Việt, Ðông-Việt, Nam-Việt, Việt-Thường ðều thuộc Bách-Việt cả. Cái tên trãm họ hay trãm Việt (Bách-Việt) phát xuất từ huyền thọai vua Lạc-Long sinh ra trãm con. Trãm có nghĩa là toàn thể, tất cả, chứ không hoàn toàn là con số như ta tưởng ngày nay (14). Các vị cổ học, học cổ sử, rồi coi lĩnh ðịa tộc Việt bao gồm phía Nam sông Trường-giang lấy mốc là hồ Ðộng-ðình với sông Tương, núi Ngũ-lĩnh là ðưõng nhiên. Chính hồi nhỏ, khi học tại trường Pháp, vào thời kỳ 13-14 tuổi, tôi chỉ ðược học vài trang ngắn ngủi về nguồn gốc tộc Việt, trong khi ðó gia ðình cho tôi đọc mấy bộ sử dài hàng mấy chục nghìn trang của Hoa, của Việt (Nếu dịch sang chữ Việt số trang gấp bốn, sang Pháp, Anh văn số trang gấp năm sáu). Chính tôi cũng nhìn nguồn gốc tộc Việt, lĩnh thổ tộc Việt tương tự như các nhà cổ học. Nay tôi mới chứng minh ðược. Phải chờ cho ðến khi tôi ra trường (1964). Bấy giờ giáo sư Vũ Vãn-Mẫu thạc-sĩ luật khoa nhờ Hoàng triều tiến-sỹ Nguyễn Sỹ-Giác sưu tầm tài liệu cổ luật. Cụ Giác học theo lối cổ, không biết những phương pháp quy nạp, tổng hợp nên giới thiệu giáo sư Mẫu với tôi. Ngay từ lần ðầu gặp nhau, mà một già, một trẻ ðã có hai cái nhìn khác biệt. Giáo sý Mẫu trên 50 tuổi mà lại có một cái nhìn rất trẻ, tôi mới có 25 tuổi lại có cái nhìn rất già về nguồn gốc tộc Việt. Qua cuộc trao đổi sơ khởi, bấy giờ tôi mới biết có rất nhiều truyền thuyết nói về nguồn gốc dân tộc Việt, mà các tác giả thiếu cái học sâu xa về cổ học Hoa-Việt đưa ra. Vì vậy tôi đã sưu tầm tất cả những gì trong thý tịch cổ, giúp giáo sý Mẫu ðem viết thành tài liệu giảng dạy. 32 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Nhưng sự sưu tầm ðó không ðầy ðủ, vì chỉ căn cứ trên thư tịch cổ. Nay tôi mới biết có quá nhiều sai lầm, tôi xin lỗi các ðồng nghiệp hiện diện, xin lỗi Quý-vị. Hồi bấy giờ tôi sống ở Sài-gòn, thuộc Việt-Nam cộng-hòa đang là nước chống Cộng, nên tôi không thể sang Trung-Quốc, cũng như về Bắc tìm kiếm thêm tài liệu. Phải chờ đến năm 1976 làm việc cho CMFC, hàng năm dẫn các đồng nghiệp sang Trung-Quốc nghiên cứu, trao đổi y học, tôi mới có dịp tìm kiếm lại di tích xưa trong thư viện, trong bảo tàng viện, trên bia ðá cùng miếu mạo, ðền chùa và nhất là ðến tại chỗ nghiên cứu. Gần ðây nhờ các ðồng nghiệp dùng hệ thống ADN, tôi mới biện biệt ðược nguồn gốc tộc Việt, biên cương thời lập quốc của tộc Việt. Hôm nay tôi xin kết luận với các bạn rằng : - Người Trung-hoa không phải là con trời như những vãn gia cổ của họ viết, dù ngày nay họ còn nghĩ như vậy. - Họ cũng không tự sinh ra, rồi tản ði tứ phương. - Không hề có việc người Trung-hoa trốn lạnh hay vì lý do chính trị di cư xuống vùng ðất hoang, tạo thành nước Việt. Trong lịch sử quả có một số người Trung-hoa di cư sang Việt-Nam sau những biến cố chính trị. Như ngày nay ngýời Việt di cư ði sống khắp thế giới. - Lại càng không có việc người Việt gốc từ dòng giống Mã-lai như một vài người ngố ngếch ðưa ra. - Theo sự nghiên cứu bắng hệ thống ADN, từ cổ, giống ngời Trung-hoa, do giống người từ Ðông Nam-á di lên. Những ngýời Ðông Nam-á lại ðến từ châu Phi qua ngả Nam-á vào thời gian hõn 20.000 nãm trước. - Người châu Phi ðến Bắc Trung-hoa do ngả Âu-châu rồi vào Trung-á, khoảng 15.000 nãm. Rồi hai giống người này tạo thành tộc Hoa. - Tộc Việt sống rải rác từ phía Nam sông Trường-giang, xuống mãi vịnh Thái-lan. - Biên giới nước Việt thủa lập quốc gồm từ Nam sông Trường giang ðến vịnh Thái-lan, Ðông tới biển. Tây tới Tứ-xuyên của Trung-quốc ngày nay. Ðến ðây tôi xin phép các vị giáo sư, quý khách, các sinh viên cho tôi ngừng lời. Xin hẹn lại quý vị đến tháng 11-92 tôi sẽ trình bày trước qúy vị về nguồn gốc triết Việt. Trân trọng kính chào quý vị. Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ, 33 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Chú giải của Tãng Hồng Minh, (1) Tiêu biểu mới nhất là một nhóm thức giả do nhà vãn Vương Kỳ Sơn ðứng chủ biên, ðã xuất bản cuốn Việt-Nam đệ ngũ thiên niên kỷ vào năm 1994 tại Hoa-kỳ. (2) Sau này được tôn thụy hiệu là Lục-Dương. (3). Như vậy vua Lạc-Long lấy con gái của anh con bác. (4) Ðộc giả có thể tìm đọc tài liệu nghiên cứu này bạt quyển 1. Anh- hùng Lĩnh-nam do Nam-Á Paris xuất bản 1987 mang tên « bản phụ chú nghiên cứu về nỏ thần ». (5). Phương pháp mà các giáo sý Tarentino, Vareilla Pascale dùng ðể biện biệt những bộ xương khai quật trong cổ mộ vùng Hồ-nam, Vân-nam, Quảng-châu, Quý-châu không khác các chuyên viên Hoa-kỳ trong ủy ban tìm kiếm tử sĩ Hoa-kỳ tại Việt-nam đã xử dụng. Có điều, các chuyên viên Hoa-kỳ gặp nhiều khó khăn hơn, vì phải đi vào chi tiết từng cá nhân, còn IFA chỉ phân chủng loại. (6). Xin xem Cẩm-khê-di-hận do Nam-Á Paris xuất bản 1992, để biết hai trận hồ Động-đình. Một trận do Chu Tái-Kênh, Đinh Xuân-Hoa, Phật-Nguyệt, Đinh Bạch- Nương, Đinh Tĩnh-Nương, Quách-Lãng đánh với Lưu-Long, Mã-Viện. Một trận do Hoàng Thiều-Hoa cùng với các tướng trên ðánh với mười hai ðại tướng quân Hán . (7) Tý-mã Thiên, Sử-ký, quyển 1, Ngũ-đế bản-kỷ, Trung-hoa thư cục xuất bản 1959 trang 3-6. (8) Độc giả muốn biết chi tiết trận đánh lịch sử này, xin đọc Động-đình hồ ngoại-sử, cùng tác giả, do Nam-Á Paris xuất bản (1990). (9) Xin đọc « Mùa xuân trên hồ Động-đình tưởng nhớ Trưng-Vương » trong phần bạt Anh-hùng Lĩnh-nam, do Nam-Á xuất bản 1987. (10) Vũ Vãn- Mẫu, Cổ luật Việt-nam và tư- pháp sử, quyển thứ nhất, tập thứ nhất, trang 9-51. (11) Chữ vãn hóa Bắc-sơn ở ðây chỉ có ý nghĩa rằng cuộc khai quật ở núi Bắc-sơn (Lạng-sơn), ðã tìm thấy những cổ vật đồ đá.(thời kỳ đồ đá) (12) Chữ văn hóa Đông-sơn chỉ cuộc khai quật ở Đông-sơn, đã tìm thấy đồ đồng (thời đồ đồng). (13) Hè 1992 sau khi cùng phái đoàn IFA du khảo về loại cây trị cholestérol ở Vân-nam, thời gian còn lại, Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ ði khảo cứu xương người cùng các khai quật ở Vân-nam, Quảng Ðông (Trung-quốc), các tỉnh Bắc-thái như Nùng-khai, Thanon, U-bon, U-don Tha-ni. 34 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ ðã tìm lại được hai trống đồng thời vua Trưng, ở Quảng-đông, để trong bảo tàng viện địa phương. Ông đã mất rất nhiều tiền, cùng trăm ngàn khó khăn mới mua và đưa lọt về Paris. (14) Chữ trăm trong ngôn ngữ Việt có nhiều nghĩa. - Có nghĩa là đời người như : Trăm năm trong cõi người.ta. Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau (Kiều) Trãm nãm xe sợi chỉ hồng, Bắt người tài sắc buộc trong khung trời. Trãm nãm, trãm tuổi ,trãm chồng, Hễ ai có bạc tôi bồng trên tay. (ca dao) - Có nghĩa là chết: Khi nào cụ tôi trãm nãm ði rồi. Nhân sinh bách tuế vi kỳ ( Người ta sinh ra lấy trãm nãm làm hẹn) Trãm nãm như cõi trời chung, Có nghề cũng phải có công mới thành. (ca dao) - Có nghĩa là tất cả : Trăm họ, hay trăm bệnh, Trăm hoa đua nở mùa xuân, Cớ sao cúc lại muộn buồn thế kia ? (ca dao) Trăm dâu đổ đầu tằm. (Tục ngữ) Trăm con trong huyền sử Việt hay Bách-Việt có nghĩa này. 35 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Tài liệu nghiên cứu chính SÁCH CHỮ HÁN Tư Mã-Thiên, Sử ký, Trung-hoa thư cục Thượng-hải xuất bản 1959 Ban-Cố, Tiền Hán thư, Trung- hoa thư cục xuất bản 1959. Phạm Việp, Hậu Hán thư, Trung hoa thư cục xuất bản 1959. Hoài Nam Tử, quyển 18, Trung Hoa thư cục Ðài Bắc xuất bản, 1959. Cố Dã-Vương, Ðịa- dư chí, Cẩm-chương thư cục xuất bản 1920. Trần Luân-Quýnh, Hải quốc kiến văn lục, cổ bản , thư viện Paris. Lê Quý-Đôn, Phu-biên tạp lục, cổ bản của thư viện Paris. Lê Quý-Đôn, Đại-Việt thông sử, cổ bản của thư viện Paris. Phan huy-Ích, Lịch triều biến chương lọai chí, cổ bản của thư viện Paris. Quốc - sử quán, Hoàng-Việt địa dư chí, bản của thư viện Paris. Quốc-sử quán, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản của thư viện Paris. Địa đồ xuất bản xã, Trung-hoa nhân dân cộng hòa quốc phân tỉnh địa đồ tập, Bắc-kinh 1974. Đại học văn khoa Hồ-nam, Hồ-nam lịch đại khảo chứng 1980. Cùng rất nhiều tài liệu không tác giả, lưu trữ tại thư viện, bảo tàng viện Hồ-nam, Quý-châu, Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-Nam. SÁCH CHỮ PHÁP Léonard Aurouseau, La première conquête chinoise des pays anamites, BEFEO XXIII. Claude Madrolle, Le Tonkin Ancien, BEFEO, XXXVII. SÁCH CHỮ VIỆT Đào Duy-Anh, Nguồn gốc dân tộc Việt-nam, Hà-nội 1946.
  19. 2. Thiên-đài nơi tế cáo của vua Minh. Tương truyền vua Minh lập ðàn tế cáo trời ðất trên núi Quế-dương, phân chia lãnh thổ Lĩnh-Bắc tức Trung-Quốc, Lĩnh-Nam tức Đại-Việt. Đàn tế đó gọi là Thiên-đài. Nhưng dãy núi Quế-dương có mấy chục ngọn núi nhỏ không biết ngọn Thiên-ðài là ngọn nào ? Trên bản ðồ không ghi. Sau tôi hỏi thãm dân chúng thì họ chỉ cho tôi thấy núi Thiên-đài nằm gần bên bờ Tương-giang. Ðiều này dễ hiểu, tỷ nhý ngày nay, du khách nhìn bản đồ sẽ không thấy địa điểm Sài-gòn. Nhưng trong dân chúng, họ vẫn nhớ tên cũ. Tôi ði thãm Thiên-ðài. Thiên-ðài là ngọn ðồi nhỏ, cao 179m, ðỉnh tròn có đường thoai thoải đi lên. Trên đỉnh có ngôi chùa nhỏ, nay để hoang. Tuy chùa được cấp huyện bảo tồn nhưng không có người trụ trì. Chùa xây bằng gạch nung, mái lợp ngói. Lâu ngày chùa không được tu bổ, nhiều chỗ ngói bị lở, bị khuyết. Tường mất hết vữa, gạch bị mòn nhiều chỗ gần như lún sâu. Duy nền với cổng bằng ðá là còn nguyên, tuy nhiều chỗ đá bị bong ra. Bên trong cột kèo bằng gỗ đã nứt nẻ khá nhiều. Những câu đối , chữ còn, chữ mất. Tại thư viện Hồ-nam tôi tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Ðầu ðề ghi : Thiên-ðài di sự lục Trinh-quán tiến sĩ Chu Minh-Vãn sọan. Trinh-quán là niên hiệu của vua Ðường Thái-Tông, từ nãm Ðinh-Hợi (627) ðến Ðinh-Mùi (647) nhưng không biết Chu ðỗ tiến-sĩ nãm nào ? Tuy sách do Chu Minh-Vãn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép lại vào ðời Thanh Khang-Hy. Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu Minh-Vãn sọan, phần chép tiếp theo Chu Minh-Vãn, của một sư ni tên Ðàm-Chi, không rõ chép vào bao giờ. Phần thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang-Hy (1662-1772). Chu Minh-Văn là tiến sĩ đời Đường, nên văn của ông thuộc loaị văn cổ rất súc tích, đầy những điển cố cùng thành ngữ lấy trong Tứ-thư, Ngũ-kinh cùng kinh Phật. Nhân viên quản thủ thý viện thấy tôi ðọc dễ dàng, chỉ lướt qua là hiểu ngay, ông ta ngạc nhiên khâm phục vô cùng. Nhưng nếu ông ấy biết rằng, tôi chỉ ðược học lọai vãn ðó vào hồi sáu, bảy tuổi thì ông sẽ hết phục. Tài liệu Chu Minh-Văn cũng nhắc lại việc vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc-Tục.Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, vì vậy đài cũng mang tên Thiên-đài núi cũng mang tên Thiên-đài sơn, Minh-Vãn còn kể thêm : « Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên-đài thờ vua Đế Minh, vua Kinh-Đương. Đến thời Đông-Hán, một tướng của vua Bà tên Đào Hiển-Hiệu được lệnh rút khỏi Trường-sa. Khi rút tới Quế-dương ông cùng nghìn quân lên Thiên-đài lễ, nghe người giữ ðền kể sự tích xưa. Ông cùng quân sĩ nhất ðịnh tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm ðược núi. Về ðời Ðường ðể xóa vết tích Việt-Hoa cùng Nam Bắc, các quan ðược sai sang ðô hộ Lĩnh-Nam mới cho xây chùa tại ðây ». 21 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Tôi biết vua Bà là vua Trưng, còn tướng Ðào Hiển-Hiệu là em con chú của Bắc-bình vương Ðào Kỳ. Ngài Ðào Kỳ lĩnh chức Ðại Tý-mã thời vua Trưng. Còn týớng Ðào Hiển-Hiệu tước phong quốc công, giữ chức Hổ-nha ðại tướng quân. Nữ tướng Hoàng Thiều-Hoa chỉ huy trận rút lui khỏi Trường-sa, hồ Ðộng-ðình, đã sai Hiển-Hiệu đi cản hậu, đóng nút chặn ở Thiên-đài, đợi quân Lĩnh-Nam rút hết, sẽ rút sau. Nhưng Hiển-Hiệu cùng chư quân lên núi thấy di tích thời Quốc-tổ, Quốc-mẫu, ðã không chịu lui quân, tử chiến, khiến quân Hán chết không biết bao nhiêu mà kể tại đây. Ngoài cổng chùa có hai đôi câu đối : Thoát thân Nam thành xưng sư tổ, Thọ pháp Tây-thiên diễn Phật- kinh. Hai câu này ngụ ý ca tụng Thái-tử Tất-Đạt-Đa đang đêm ra khỏi thành đi tìm lẽ giải thoát sau đó đắc pháp ở Tây-thiên, đi giảng kinh. Tam bảo linh ứng, phong điều vũ thuận, Phật công hiển hách quốc thái an dân Hai câu này là ngụ ý nói : Tam bảo linh thiêng, khiến cho mưa thuận, gió hòa đó là công lao của nhà Phật khiến quốc thái dân an . Nơi có dấu vết Thiên- ðài, còn đôi câu đối khắc vào đá : Thiên-đài đại đại phân Nam, Bắc. Lĩnh địa niên niên dữ Việt-thường. Nghĩa là: Từ sau vụ vua Minh tế cáo ở ðây, ðài thành Thiên-ðài, biết bao ðời phân ra Nam, Bắc. Núi Ngũ-lĩnh nãm này qua nãm khác với giòng giống Việt-thường. Chỗ miếu thờ của Ðào Hiển-Hiệu có ðôi câu ðối : Nhất kiếm Nam-hồ kinh Vũ-ðế, Thiên ðao Bắc-lĩnh trấn Lýu Long. Nghĩa là : Một kiếm ðánh trận ở phía Nam hồ Ðộng-ðình làm kinh tâm vua Quang-Vũ nhà Hán. Ý chỉ nữ tướng Phật-Nguyệt ðánh bại Mã Viện ở phía Nam hồ Động-đình. Một nghìn tay đao do Hiển-Hiệu thủ ở Bắc núi Ngũ-lĩnh trấn Lưu Long. 22 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Kết luận : « Như vậy việc vua Minh tế cáo trời ðất là có thật. Vì có Thiên-đài nên thời Lĩnh-Nam mới có trận hồ Động-đình. Hai sự kiện đó chứng tỏ lãnh địa thời vua Trưng cũng như Văn-Lang xưa qủa tới Ngũ-lĩnh, hồ Động-đình ». 3. Cánh đồng Tương, Nhắc lại: Có hai huyền sử nói về cánh đồng Tương : - Một là Quốc-tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc-mẫu dẫn năm mươi con lên núi, mỗi năm tái hội nhau trên cánh đồng Tương một lần. - Hai là Quốc-tổ, Quốc-mẫu truyền các hoàng tử đi khắp bốn phương quy dân lập ấp,mỗi năm hội tại cánh đồng Tương một lần. Tôi đoán : Cả hai vị Quốc-tổ Kinh-Dương, Lạc-Long sau khi kết hôn đều đem Quốc-mẫu lên núi Tam-sơn trên hồ Ðộng-ðình hưởng thanh phúc ba nãm.Vậy thì cánh đồng Tương sẽ gần đâu đó trên hồ Động-đình. Phía Nam hồ Động-đình là sông Tương-giang, chảy theo hýớng Nam-Bắc dài 811 km, lưu vực tới 92500km2, chẻ ðôi tỉnh Hồ-nam với Quảng-tây. Vậy cánh ðồng Tương sẽ nằm trong lưu vực Tương giang. Tôi thuê thuyền ði từ cảng Dương-lâm nơi xuất phát ra Tương-giang là hồ Ðộng-ðình, xuống Nam, qua Tương-âm, tôi dừng lại, nghiên cứu ðịa thế cùng thãm chùa Bạch-mã. Đây là địa phận quận Ích-dương.Vô tình tôi tìm ra một nhánh sông Âu-giang và một cái hồ rất lớn, vào mùa nước lớn rộng tới 4-5 mẫu, vào mùa nước cạn chỉ còn 2-3 mẫu mà thôi. Suốt lộ trình từ hồ Động-đình trở xuống, trên cửa sông Tương cũng như hai bên bờ chim Âu bay lượn khắp nơi. Ðặc biệt trên Âu-giang, Âu-hồ, giống chim này càng nhiều vô kể. Từ Âu-giang, tôi trở lại sông Tương, xuôi tới Trường-sa thủ phủ của Hồ-nam rồi tới các quận lỵ Tương-ðàm, Chu-châu, Hành-dương, Quế-dương. Không khó nhọc tôi tìm ra : « Cánh đồng Tương, tức là vùng trũng phía Tây-ngạn, giới hạn phía Bắc là hồ Động-đình, Nguyên-giang. Phía Nam là Linh-lăng, Hành-giang. Phía Tây là vùng Chiêu-dương, Lãnh-thủy. Như nay cánh ðồng Tương chỉ còn khu vực tứ giác : Tương-giang, Nguyên-giang, Liên-thủy, Thạch-khê-thủy ». Sau khi tìm ra cánh đồng Tương, Thiên-đài, cùng những đàn chim âu , tôi giải đoán như thế này : 23 Yên-tử cưĩ Trần Ðại-Sỹ « Quốc-tổ Lạc Long kết hôn với công chúa con Ðế-Lai, hẳn công chúa cũng có tên. Như vì lâu ngày người ta không nhớ ðýợc tên ngài, nên ðã lấy con chim Âu, rất hiền hòa, xinh đẹp ở vùng hồ Động-đình, Tương-giang mà gọi là Âu-Cơ (Cơ là vợ vua). Vì người ta gọi Quốc-mẫu là Âu-Cơ, thì họ nghĩ ngay đến Quốc-mẫu sinh đẻ. Khi chim Âu đẻ thì phải đẻ ra trứng. Còn con số một trăm, là con số triết học Việt-Hoa dùng để chỉ tất cả. Như trăm bệnh là tất cả các bệnh, trăm họ là toàn dân. Trăm con có nghĩa là tất cả dân trong nước ðều là con Quốc-mẫu » Kết luận : « Ðã có cánh đồng Tương, thì chuyện Quốc-tổ, Quốc-mẫu hẹn mỗi năm hội tại đây một lần là có. Khi sự kiện có núi Ngũ-lĩnh, có Thiên-đài. Nay chứng cớ được kiểm điểm, thì lãnh địa của tộc Việt xưa quả tới hồ Động-đình ». 4. Hồ Động-đình và Tam-sơn Hồ Ðộng-ðình nằm ở phía Nam sông Trường-giang. Hồ ðýợc coi nhý nõi phát tích ra tộc Việt. Ðịa khu Bắc sông Trường-giang ðược gọi là tỉnh Hồ-bắc, tức ðất Kinh-châu thuở xưa. Ðịa khu phía Nam sông Trường-giang ðược gọi là tỉnh Hồ-nam. Hồ Ðộng-ðình nằm trong tỉnh Hồ-nam. Hồ thông với sông Trường-giang bằng hai con sông. Cho nên người ta coi hồ như nơi chứa nước sông Trường-giang, rồi ðổ vào Tương-giang. Trên Bắc-ngạn hồ có núi Tam-sơn. Tôi ðã lên đây ba lần. Tương truyền các các nữ tướng thời vua Trưng như Trưng-Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan đánh chiếm Trường-sa vào ngày đầu năm, vì vậy tôi cũng tới đây vào dịp này để thấy rõ phong cảnh, rồi tả trận đánh trong bộ Cẩm-khê-di-hận(6). Hồ rộng 3915 cây số vuông, độ sâu về mùa cạn là 38,5 mét, về mùa nước lớn là 39,20 mét. Tra trong chính sử thì quả hồ Động-đình thuộc lãnh địa Văn-Lang. Như trên đã nói, triều đại Thần-Nông Bắc đến đời vua Du-Võng thì mất vào năm 2696 trước Tây-lịch, chuyển sang thời đại Hoàng-Đế. Sử gia Trung-Quốc cho rằng Hoàng-Đế là tổ lập quốc. Nói theo triết học Tây phương thì vua Du-Võng gốc từ Thần-Nông thuộc nông nghiệp cư trú trong vùng ðồng bằng ở phương Nam lấy hỏa làm biểu hiệu nên còn gọi là Viêm-đế. Còn vua Hoàng-đế gốc ở dân du mục, săn bắn, từ phương Bắc xuống. Dân du mục nghèo, nhưng giỏi chinh chiến. Dân nông nhiệp giàu nhưng không giỏi võ bị nên bị thua. Bộ Sử-ký của Tư-mã-Thiên, quyển 1, Ngũ-đế bản kỷ chép rằng : «...Thời vua Hoàng-đế, họ Thần-Nông (Bắc) đã suy, chư hầu chém giết lẫn nhau, khiến trăm họ khốn khổ vô cùng. Triều Thần-Nông không ðủ khả nãng chinh phục. Vua Hiên-Viên Hoàng-Ðế thao luyện can qua, chinh phục những chư hầu hung ác. Vì vậy các nõi theo về rất ðông. Trong các chư hầu thì Suy-Vưu mạnh nhất. Vua Du-Võng triều Thần-Nông định đem quân xâm lăng chư hầu, nhưng chư hầu chỉ tuân lệnh Hoàng-Đế. Vua Hoàng-Đế tu sửa đức độ, luyện tập binh mã, vỗ về trăm họ, giúp đỡ bốn phương, luyện tập thú dữ rồi đại chiến với vua Du-Võng ở Bản-tuyền, thành công. 24 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Suy-Vưu làm lọan, không tuân ðế hiệu. Hoàng-Ðế triệu tập chư hầu cùng Suy-Vưu ðại chiến ở Trác-lộc, bắt sống Suy Vưu. Chư hầu tôn ngài làm Thiên-tử thay họ Thần-Nông. Trong thiên hạ nơi nào không thuận vua Hoàng-Ðế ðem quân chinh phục. Lãnh thổ của Hoàng-Đế, Đông tới biển, vùng núi Hoàn-sơn, Ðại-tông. Phía Tây tới núi Không-ðộng, Kê-ðầu. Nam tới Giang, Hùng, Tương... »(7) Sông Giang ðây tức là sông Trường-giang, Hùng ðây tức là Hùng-nhĩ-sơn, Tương là Tương-sơn. Bùi Nhân ðời Tống lập giải Sử-ký nói rằng Tương-sơn thuộc Trường-sa. Kết luận : « Từ chính sử, huyền-sử ðều cho biết lĩnh ðịa Vãn-lang tới hồ Ðộng-ðình. Khi vua Hoàng-Đế dứt triều Thần-Nông Bắc, thì triều Thần-Nông Nam tức họ Hồng-bàng còn kéo dài đến 2439 năm nữa. Lãnh thổ Trung-quốc thời Hoàng-Đế cũng chỉ tới sông Trường-giang. Phía Nam bao gồm Trường-sa, hồ Động-đình vẫn thuộc Văn-lang. Khi chính sử ghi chép như vậy thì việc Quốc-tổ, Quốc-mẫu với hồ Động-đình, núi Tam-sơn không còn là huyền thoại nữa. Vậy chuyện các ngài lên núi hưởng thanh phúc nên ghi vào chính sử. 5. Biên giới lĩnh ðịa tộc Việt thế kỷ 2 trước Tây lịch. Sử Hán là bộ Sử-ký của Tý-mã Thiên. Sử Việt như bộ Ðại-Việt sử ký toàn thư, Khâm-ðịnh Việt-sử thông giám cương mục, ðều ghi rằng vào thế kỷ thứ nhì trước Tây-lịch, thời Triệu Ðà cai trị lĩnh ðịa tộc Việt, biên giới vẫn còn ở vùng Truwờng-sa, hồ Ðộng-ðình. Sử Hán, sử Việt đều chép chi tiết giống nhau về vụ Triệu Đà lập quốc ở lãnh thổ Lĩnh-Nam. Tần Thủy- Hoàng sai Đồ Thư mang quân sang đánh Âu-lạc, chiếm được vùng đất phía Bắc, lập làm ba quận : - Nam-hải (Quảng-đông và một phần Phúc-kiến), - Quế-lâm (Quảng-tây, Hồ-nam và một phần Quí châu), - Tuwợng-quận (Vân-nam và một phần Quý-châu). Vua An-Dương sai Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung và Cao-cảnh hầu Cao Nỗ ðem quân chống, giết ðược Ðồ Thuw và tiêu diệt nữa triệu quân Tần. Tuy vậy vua An-Dương cũng không chiếm lại vùng ðất ðã mất. Sau nhân thời thế loạn lạc, một viên quan Tần là Triệu Đà trấn vùng Nam-hải, đem quân chiếm vùng Tượng-quận, Quế-lâm, rồi dùng gián ðiệp trong vụ án Mỵ-Châu, Trọng-Thủy mà chiếm ðược Âu-lạc lập ra nước Nam-Việt. Lãnh thổ nước Nam-Việt bao gồm những vùng nào ? Không một sử gia nào chép rõ ràng. Nhưng cứ những sự kiện lẻ tẻ, ta cũng có thể biết rằng lãnh địa Nam-Việt là lãnh địa thời Văn-lang. 25 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Trong khi Triệu Ðà lập nghiệp ở phương Nam, thì cuộc nội chiến ở phương Bắc chấm dứt. Hạng Vũ, Lưu Bang diệt Tần, rồi Lýu Bang thắng Hạng Vũ lập ra nhà Hán. Lýu Bang lên ngôi vua sai Lục Giả sang phong chức tước cho Triệu Ðà. Ðúng ra Triệu Ðà cũng không chịu thần phục nhà Hán, nhýng họ hàng thân thuộc, mồ mả của Triệu Ðà ðều ở vùng Chân-ðịnh. Ðà sợ nhà Hán tru diệt họ hàng, cùng ðào mồ cuốc mả tổ tiên lên mà phải lùi bước. Nãm 183 trước Tây-lịch, Cao-tổ nhà hán là Lưu Bang chết, Lã-hậu chuyên quyền cấm bán hạt giống, thú vật cái, kim khí sang Nam-Việt. Triệu Đà không thần phục nhà Hán, rồi đem quân đánh Trường-sa, Nam-quận. Kết luận : « Trường-sa là quận biên cương của Hán. Vậy ít nhất lãnh thổ Nam-Việt, Bắc tới Trường-sa. Nam quận là quận ở phía Bắc sông Trường-giang. Mà Nam-quận là quận biên cương Hán, thì biên giới Nam-Việt ít nhất tới Nam-ngạn sông Trường-giang ». 6. Lĩnh ðịa thời vua Trưng 6.1. Vua Bà của Trung-quốc là vua Trưng, Trong những nãm 1978-1979 khi dẫn phái ðoàn Ủy-ban y học Pháp-Hoa (CMFC) ði trao ðổi tại các tỉnh cực Nam Trung-Quốc nhý Quảng-ðông, Quảng-tây, Vân-nam, Quý-châu và Tứ-xuyên... tôi thấy khắp các tỉnh này, không ít thì nhiều đều có đạo thờ vua Bà. Nhưng tôi không tìm được tiểu sử vua Bà ra sao. Ngay những cán bộ Trung-quốc ở địa phương, họ luôn đề cao vua Bà, mà họ cũng chỉ biết lờ mờ vua Bà là người nổi lên chống tham quan. Khắp nãm tỉnh, tôi ghi chú ðýợc hõn trãm ðền, miếu thờ những týớng lĩnh thời vua Bà. Bấy giờ tôi lại tìm thấy ở Hồ-nam, nhiều di tích về đạo thơ vua Bà hơn. Tại thư viện bảo tồn di tích cổ, tôi tìm thấy một cuốn phổ rất cổ, soạn vào thế kỷ thứ tám chép sự tích nữ vương Phật Nguyệt như sau : « Ngày xưa, Ngọc-hoàng Thượng-ðế ngự trên ðiện Linh-tiêu, có hai công chúa ðứng hầu.Vì sơ ý hai công chúa đánh vỡ chén ngọc. Ngọc-hoàng Thượng-ðế nổi giận ðầy hai công chúa xuống hạ giới. Hai công chúa ði ðầu thai ðược mấy ngày thì Tiên-lại giữ sổ tiên-giới tâu rằng có 162 tiên đầu thai xuống theo hai công chúa. Ngọc-hoàng Thượng-ðế sợ công chúa làm loạn ở hạ giới, ngài mới truyền Thanh-y ðồng tử ðầu thai ðể theo dẹp loạn. Thanh-y ðồng tử sợ ðịch không lại hai công chúa, có ý ngần ngừ không dám đi. Ngọc-hoàng Thượng-ðế truyền Nhị thập bát tú ðầu thai theo. Thanh-y ðồng tử sau là vua Quang Vũ nhà Hán. Nhị thập bát tú ðầu thai thành hai mươi tám vị vãn thần võ tướng ðời Ðông-Hán. Còn hai công chúa đầu thai xuống quận Giao-chỉ, vào nhà họ Trưng. Chị là Trắc, em là Nhị. Lúc Trưng Trắc sinh ra có hương thơm ðầy nhà, thông minh quán chúng, có sức mạnh bạt sơn cử ðỉnh, ðược gả cho Ðặng Thi-Sách. 26 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Thi-Sách làm phản, bị Thái-thú Tô Ðịnh giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, ðược 162 anh hùng các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng chiếm hết sáu quận của Trung-quốc ở phía Nam sông Trýờng-giang : Cửu-chân, Nhật-nam, Giao-chỉ, Quế-lâm, Tượng-quận, Nam-hải. Chý tướng tôn Trưng Trắc lên làm vua, thường gọi là vua Bà. Quang-Vũ nhà Hán sai Phục-ba tướng quân Tân-tức hầu Mã Viện. Long-nhương tướng quân Thận-hầu Lưu Long ðem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt tổng trấn hồ Ðộng-ðình. Mã Viện, Lýu Long bị bại.Vua Quang Vũ truyền Nhị thập bát tú nghênh chiến, cũng bị bại. Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga-mi, một tay nhổ núi Thái-sơn, ðánh quân Hán chết, xác lấp sông Trýờng-giang, hồ Ðộng-ðình, oán khí bốc lên tới trời. Ngọc-hoàng Thượng-ðế sai thiên-binh, thiên-tướng trợ chiến cũng bị bại. Ngài phải sai thần Du Liệt sang Tây phương cầu cứu Phật Nhý Lai. Ðức Phật sai muười tám vị Kim-cương, ba ngàn La-hán trợ chiến cũng bị bại. Cuối cùng ngài truyền Quán Thế Âm bồ tát tham chiến. Nữ vương Phật-Nguyệt với Quan-Âm ðấu phép ba ngày ba ðêm, bất phân thắng bại. Sau Quán Thế Âm thuyết pháp nữ výõng Phật Nguyệt giác ngộ, bỏ ði tu. Ta nhân ngày lành, viết lại chuyện xưa, xin dâng ðôi câu ðối : Tích trù Ðộng-ðình uy trấn Hán, Phương lưu thanh sử lực phù Trưng (Một trận Ðộng-ðình uy trấn Hán Tên còn trong sử sức phù Trưng). Bỏ ra ngoài những huyền hoặc về Nữ-vương Phật-Nguyệt, tài liệu chứng minh : Ðạo thờ vua Bà tại năm tỉnh Nam Trung-quốc là di tích của lòng tôn kính thờ anh hùng dân tộc của tộc Việt trên lãnh thổ cũ của người Việt còn sót lại. Vua Bà mà người Trung-hoa thờ như một thứ tôn giáo, chính là vua Trưng. Kết luận : « Khi ðã có nữ tướng Phật Nguyệt ðánh trận Trường-sa, hồ Ðộng-ðình. Mà có trận hồ Động-đình thì lãnh thổ thời Lĩnh-Nam, phía Bắc quả tới phía Nam sông Trường-giang ». 6.2. Quả có trận Truường-sa, hồ Ðộng-ðình năm 39 sau Tây-lịch, Huyền sử (những cuốn phổ) nói rằng : Khi bà Trưng Nhị cùng các týớng Trần Nãng, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan, Lại Thế-Cường ðánh Trường-sa vào ðầu nãm Kỷ-Hợi (39 sau Tây-lịch). Trong trận ðánh này, nữ tướng Trần Thiếu-Lan tử trận, ðược mai táng ở ghềnh sông Thẩm-giang(8). Thẩm-giang chính là ðọan sông ngắn ở Bắc, tiếp nối với hồ Ðộng-ðình. Một cuốn phổ khác, chép vào thời Nguyễn nói rằng : Các sứ thần triều Lý, Trần, Lê khi qua đây đều có sắm lễ vật đến cúng miếu thờ bà Trần Thiếu-Lan. Năm 1980 tôi đến đây tìm hiểu. Không khó nhọc tôi tìm ra trong cuốn địa phương chí, do sở du lịch Trường-sa cấp, một đọan chép : 27 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ « Miếu thờ liệt nữ Trần Thiếu-Lan ở ðầu sông Tương. Hồi cách mạng vãn hóa bị phá hủy. Tượng ðồng bị nấu ra. Vệ binh ðỏ phá luôn cả bia ðá ». Tôi tìm tới nơi, thì miếu chỉ còn lại cái nền bằng đá ong, mộ vẫn còn.(9). Kết luận : « Thời Lĩnh-Nam qủa có việc Trýng Nhị, Trần Nãng, Hồ Ðề, Trần Thiếu-Lan, Lại Thế-Cường ðánh trận Trường-sa. Trong trận, nữ tướng Trần Thiếu-Lan tuẫn quốc. Khi có trận ðánh này, thì lãnh địa thời Lĩnh-Nam quả gồm có hồ Trường-sa , hồ Động- đình ». 6.3. Quả có trận Bồ-lăng, năm 42 sau Tây-lịch, Huyền sử kể rằng: ba tướng họ Đào là Chiêu-Hiển, Đô Thống và Tam-Lang được vua Trưng trao cho trấn tại Tượng-quận (Vân-nam) . Nhưng vì quân ít, thế cô, ba ông không chống lại với quân Hán, do Vương Bá chỉ huy. Ba ông ðã tự tận. Hiện tại đền thờ của ba ông có đôi câu đối: Tượng-quận dương uy nhiêu tướng lược, Bồ-lãng tuẫn tiết tận thần trung. Nghĩa là: trận Tượng-quận dương oai, rõ tài tướng giỏi. Bến Bồ-lãng tuẫn tiết, tỏ ra thần trung. Hầu hết các sử gia ðều cho rằng: Bồ-lãng tức là bến Bồ-ðề, ngoại ô Thãng-long. Vả lãnh thổ Việt-Nam hồi đó đâu có rộng vậy? Tôi không tin lý luận này. Tôi quyết có trận Tượng-quận. Vì sao? Vì ba ngài chiến đấu tại Tượng-quận, khi Tượng-quận thất thủ, tuẫn tiết thì tuẫn tiết tại chỗ, có đâu rút từ Tượng-quận về tới Long-biên (Hà-nội) trải mấy nghìn cây số, rồi mới tự tử? Vả cái tên bến Bồ-đề mới xuất hiện vào năm 1427-1428 khi vua Lê Thái-tổ vây Đông-đô (Thăng-long). Vì vậy, trong dịp hè năm 1982, tôi cầm đầu phái đoàn CMFC sang Vân-Nam, Trung-quốc, để nghiên cứu về một giống trà có khả năng trị tuyệt chứng Cholestérol, Triglycéride... Lợi dụng dịp nầy, tôi quyết tìm cho ra sự thực. Ghi chú của Tăng Hồng Minh Phái đoàn gồm: Trưởng-ðoàn: Bác-sĩ Trần Ðại-Sỹ, Thành viên: Bác-sĩ Pascale Vareilla (Biologie), Claude Tarentino (Anatomie), Antonio Fernandes (Cardiologie.) Các dýợc sĩ: Valérie Cordinante, Jean Marie Limager. Kỹ sý canh nông Antoine Reynault, và một diễn viên ðiện ảnh Hương-cảng. 28 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Trong chương trình phái đoàn chỉ công tác tại các vùng thuộc Vân-Nam nhý: Chiêu-dương, Ðông-xuyên, Khâu-bắc, Nguyên-dương, Bảo-sơn, Ðiền-Bắc, Côn-minh; rồi dùng phi cơ từ Côn-minh trở về Paris. Nhýng khi tới Ðông-xuyên, giáo sý Trần Ðại-Sỹ tìm ra dấu vết cuộc chiến giữa quân vua Trưng và quân Hán, mà không rõ ràng cho lắm. Ông dẫn phái đoàn trở lại Côn-minh, sau khi thảo luận với giáo-sý sử học Ðoàn Dương của ðại học Vãn-sử, ðược giáo sư Ðoàn cho biết: "Trong truyền thuyết dân gian nói rằng hồi ðầu thế kỷ thứ nhất có trận ðánh giữa quân vua Bà với quân Hán tại Bồ-lãng. Nay Bồ-lãng nằm trên lãnh thổ Tứ-xuyên, chỗ ngã ba sông Trýờng-giang và Ô-giang." Thế là giáo sư Trần Ðại-Sỹ ðề nghị phái ðoàn dùng ðường thủy về Hồ-Nam, sau ðó ðáp phi cõ từ Hồ-Nam ra Hương-cảng, rồi ði Paris. Trên ðường từ Ðộ-khẩu (Vân-Nam) ði Hồ-Nam, sẽ qua... Bồ-lãng. Ðýợc ði chơi, dĩ nhiên phái ðoàn mừng không sao tả siết!!!. Dĩ nhiên túi tiền của CMFC või ði 53.074 dollars nữa ðể chi cho phái ðoàn. Theo tôi, với số tiền ấy, mà kết quả tìm được Tây-biên của Lĩnh-Nam, cũng rẻ chán. Thế nhưng khi trở về Paris, vụ này ðồn ðại ra ngoài, một Bác-sĩ Việt-Nam tên Trần L.(từng là bộ trưởng Y-tế hồi VNCH), viết thuư cho ông bộ trưởng Vãn-hóa Pháp, tố cáo Giáo-sý Trần Ðại-Sỹ lợi dụng chức vụ trưởng ðoàn công tác y khoa, ðể tìm di tích cổ sử viết sách. Ông Bộ-trưởng trả lời ðại ý: "Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ không dùng một xu (centimes) nào của chính phủ Pháp, nên bộ không có thẩm quyền." Cuối thư ông Bộ-trưởng hạ một câu: " Ví dù Bác-sĩ Trần Ðại-Sỹ có lợi dụng chức vụ, có dùng tiền của bộ Vãn-hóa, mà tìm tư liệu làm giầu cho thư viện Pháp thì là điều đáng khuyến khích. Hơn nữa tài liệu đó làm lợi cho Việt-Nam, Ông (Trần L.) phải vui mừng mới phải chứ." Tăng Hồng Minh tôi là người Việt gốc Hoa, tôi xin tiết lộ một chi tiết này, ðể các vị ðộc giả Việt-Nam suy nghĩ!!! Thế là phái ðoàn dùng tầu ði từ Ðộ-khẩu theo Kim-sa-giang (Trường-giang) qua Nam-khê, Giang-tân, Trùng-khánh, tới ngã ba sông Ô-giang, Trường-giang thì gặp bến Bồ-lăng. Tại đây tôi được sở du-lịch chỉ cho xem miếu thờ ba vị thần, tướng của vua Bà. Nhưng họ không biết tên vua Bà cùng ba vị tướng. Cả vùng này có ðạo thờ vua Bà (lên ðồng). Hồi trước 1949 rất thịnh. Sau cách mạng Vãn-hóa (1965-1967) miếu ðược cấp cho dân chúng ở. Hỏi hướng dẫn viên du lịch về vua Bà, họ chỉ cho biết vua Bà là nguười nổi lên chống tham quan thời Hán. Tôi ðến thãm miếu. Miếu khá lớn, chủ hộ ở trong miếu trước ðây là cán bộ Vãn-hóa Bồ-lãng. Trước miếu có nhiều câu ðối, nay chỉ còn lại có ba. Ông chủ hộ khoe rằng để bảo tồn di tích văn hóa, hằng năm ông phải mua sơn tô chữ cho khỏi mất: Khẳng khái, phù Trưng, thời bất lợi, Ðoạn trường, trục Ðịnh, tiết …can vân. Nghĩa là: Khẳng khái phù vua Trưng, ngặt thời của Ngài không lâu. Ðuổi ðược Tô Ðịnh, nhưng ðau lòng thay, phải tự tận, khí tiết ngút từng mây. 29 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Tôi xin vào trong miếu xem, thì bệ thờ nay là nõi vợ chồng ông nằm ngủ. Hai bên bệ cũng có ðôi câu ðối. Giang-thượng tam anh phù nữ chúa, Bồ-lãng bách tộc khốc thần trung. Nghĩa là: Trên sông Trường-giang, ba vị anh hùng phò tá nữ chúa. Tại bến Bồ-lăng, trăm họ khóc cho các vị thần trung thành. Ông chủ hộ thì cho rằng bách tộc là toàn dân Trung-quốc. Tôi giảng cho ông nghe về sự tích trăm con của Quốc-tổ, Quốc-mẫu. Vì vậy chữ bách tộc đây để chỉ người Việt. Ông thích lắm. Ông chỉ vào khoảng trống của hai cái cột thuật rằng trước kia cũng có ðôi câu ðối, nhuưng bị vạc mất. Ông ðề nghị tôi làm một ðôi khác thay thế. Tôi nhờ hướng dẫn viên du lịch mua giùm hai hộp sõn. Một hộp sơn ðỏ loại láng và một hộp loại thiếp vàng. Ông với tôi sơn cột mầu ðỏ. Chiều hôm ðó sơn ðỏ khô, tôi trở lại viết bằng sõn thiếp vàng ðôi câu ðối có sẵn tại ðền thờ ba ngài ở thôn Ngọc-ðộng, huyện Gia-lâm, Hà-nội: Tái Bắc tức chinh trần, công cao trục Ðịnh, Bồ-lãng dương nộ lãng, nghĩa trọng phù Trưng. Nghĩa là: Ải Bắc yêu gió bụi can qua, công cao ðuổi Tô Ðịnh. Bồ-lãng nổi bao ðào, nghĩa nặng phù vua Trưng. Kết luận: «Như vậy thì quả có trận Tượng-quận. Mà có trận Tượng-quận thì biên giới Lĩnh-Nam hồi ấy giáp Ba-Thục, tức Tứ-xuyên ngày nay». 7. Nghiên cứu những khai quật Vào những năm 1964-1965, giáo sư luật khoa Vũ Văn Mẫu đang sọan thảo tài liệu về cổ luật Việt-Nam. Người giúp giáo sý Mẫu ðọc sách cổ là Hoàng-triều tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác. Cụ Giác tuy thông kinh ðiển, thuư tịch cổ, nhưng lại không biết ngoại ngữ, cùng phương pháp phân tích, tổng hợp Tây-phương. Cụ giới thiệu tôi với giáo suư Mẫu. Tôi ðã giúp giáo sư Mẫu ðọc, soạn các thư tịch liên quan ðến cổ luật. Chính vì vậy tập tài liệu « Cổ-luật Việt Nam và tư pháp sử » có chương mở ðầu «Liên hệ giữa nguồn gốc dân tộc và Cổ luật Việt-Nam » (10). Bấy giờ tôi còn trẻ, không đủ tài liệu khai quật của Trung-Quốc, của Bắc Việt-Nam, và bấy giờ những lý thuyết về ADN chưa có hệ thống, nên có nhiều chi tiết sai lầm. Hôm nay ðây, tôi xin lỗi anh linh Hoàng-triều tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác, anh linh giáo sý Vũ Vãn-Mẫu. Tôi xin lỗi các vị ðồng nghiệp hiện diện, xin lỗi các sinh-viên về những sai lầm ðó. 30 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Triều ðại Hồng-Bàng thành lập từ nãm 2879 nãm trước Tây-lịch, tương ðương với thời ðại ðồ ðá mài (le néolithique), tức cuối thời ðại vãn-hóa Bắc-sơn (11). Trong những khai quật về thời ðại này tại Bắc-Việt, Ðông Vân-Nam, Quảng-Ðông, Hồ-Nam, người ta ðều tìm được những chiếc rìu thiết diện hình trái soan, trong khi tại Nhật, Bắc Trường-giang chỉ tìm được lọai rìu thiết diện hình chữ nhật, chứng tỏ vào thời đó có một thứ văn hóa tộc Việt giống nhau. Sang thời đại văn-hóa Đông-sơn (12) hay đồ đồng (âge de bronze). Trong thời gian này đã tìm được trống đồng Đông-sơn trên bờ sông Mã (Thanh hóa). Sự thật trống đồng đã tìm thấy ở toàn bộ các tỉnh Nam Trường-giang như Hồ-nam, Quý-châu,Vân-nam, Quảng-đông, Quảng-tây, Nam-dương, Lào (13) , Bắc và Trung-Việt. Nhưng ở Nam-dương, Lào rất ít. Nhiều nhất ở Bắc-Việt, rồi tới Vân-nam, Lưỡng-quảng. Phân tích thành phần gần như giống nhau. Ðồng 53%, Thíếc 15-16%, Chì 17-19%, Sắt 4%. Một ít vàng bạc. Khảo về y-phục, mồ mả, răng xương trong các ngôi mộ, qua các thời đại cho đến hết thế kỷ thứ nhất sau Tây-lịch, tôi thấy trong các vùng Nam Trường giang cho ðến Trung Bắc-Việt, cùng Lào, Thái ðều giống nhau. Bây giờ dùng hệ thống ADN kiểm những bộ xương, kiểm máu người sống, chúng tôi ðã biện biệt được sự khác biệt vào thời Việt, Hoa lập quốc. Kết luận:,« Tộc Việt quả có lĩnh địa Bắc tới hồ Động-đình, Tây tới Tứ-xuyên như cổ sử nói ». 8. Tổng kết, Sáu vấn ðề tôi nêu ra ở trên, rồi ði tìm, tất cả đều còn đầy đủ di tích. Như vậy: Biên giới cổ của nýớc Việt-Nam, với các triều ðại Hồng-bàng, Âu-lạc, Lĩnh-Nam phía Bắc quả tới hồ Ðộng-ðình, phía Tây giáp Tứ-xuyên.
  20. Ghi chú của Tăng Hồng Minh Giáo-sư khoa Chính-trị học J.Fr Longanacre (USA) hỏi : - Thế cái chủ đạo mà người Trung-quốc tự thị là con trời phát xuất từ ðâu ? Vào thời nào ? Ðáp : - Thưa Giáo-sư, cũng phát xuất từ Kinh-thư, thiên Thái-thệ : Trời sinh ra dân, Ðặt ra vua, ra thầy, Ðều ðể giúp Thượng-ðế, Vỗ về dân bốn phương. Giáo-sư Mohamed Khalid (Nhân chủng học Iran) hỏi: - Tôi nghiên cứu hầu hết các thuyết nói về nguồn gốc tộc Hoa. Tôi thấy dường như người ta ðều cho rằng tộc Hoa tự sinh ra, rồi di chuyển ði các nõi: Ra biển thành người Nhật, Nam-dương, Phi-luật-tân. Xuống Nam thành người Việt, Miên, Lào, Thái, Miến. Lên Bắc thành Ðại-hàn, Mông-cổ, sang phía Ðông-Bắc thành người Trung Ðông. Có ðúng thế không? Ðáp: - Thưa Giáo-sư họ suy nghĩ như vậy là sai hoàn toàn. Họ cãn cứ vào truyền thuyết mà nói như vậy. Truyền thuyết cãn cứ vào thư tịch cổ, nên sai, hoàn toàn sai. Vì thư tịch cổ do những vãn nhân không ði ra ngoài, ngồi ở vùng lưu vực Hoàng-hà, tưởng tượng mà viết ra. Cả hội trường cùng im lặng. - Nếu nói rằng người Trung-hoa nhờ có tinh thần thực dụng, nhờ có chữ viết, nhờ vãn hóa Nho-giáo, rồi trở thành hùng mạnh, rồi ðem quân ðánh chiếm các nước nhỏ xung quanh, tạo thành một nước vĩ ðại như ngày nay là ðúng. Còn như bảo rằng họ là con trời hoặc họ tự sinh ra, rồi di chuyển ðinh sinh sống các nơi... thì sai. Tôi sẽ dẫn chứng ở dưới bằng ADN: tộc Hoa, do giống người từ Ðông Nam-á ði lên. Mà những người Ðông Nam-á có gốc từ Phi-châu. Họ ðến Nam-á từ lâu. Rồi tộc ðó lại kết hợp với những người cũng từ châu Phi ði lên châu Âu, vào Bắc Trung-quốc khoảng 15.000 nãm trước. Chúng ta trở lại với ðầu ðề. Tiếp theo Kinh Thư, sách Tả-truyện, Tả Khâu Minh cũng viết : Trời làm chủ Thiên-hạ, Vua nối trời mà cai trị. Kẻ chịu mệnh trời mà cai trị là Thiên-tử. Ðến Mạnh-tử, thiên Ly-lâu viết: Thiên hạ là quốc gia, Gốc của thiên hạ là quốc, Gốc ở quốc là gia. Vì ảnh hưởng của sách cổ nên người Hoa mới nảy sinh ra tư tưởng « Nội Hoa hạ, ngoại Di, Ðịch ». Nghĩa là trong Ngũ-phục thì là chốn văn minh, còn ngoài ra thì là mọi rợ. 11 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Kinh-lễ, thiên Vương-chế nói : Ðông phương viết Di, Tây phương viết Nhung, Nam phương viết Man, Bắc phương viết Ðịch. Nghĩa là : Người ở Ðông phương gọi là Di, Tây-phương là Nhung, Nam phương là Man, Bắc phương là Ðịch. Di, Nhung, Man, Ðịch là những từ ðể chỉ mọi rợ. Bốn chữ ðó khi viết thì có bộ trùng, bộ thú, bộ khuyển ở cạnh. Có nghĩa các sắc dân đó là cầm thú, côn trùng, chó mèo ! Ngay đối với người Âu, Mỹ hồi thế kỷ thứ 20 về trước, người Hoa gọi là Bạch-quỷ ! (Thính giả cười ồ lên !) . Họ còn phân ra người Âu là Tây-dương Quỷ. Người Mỹ là Mỹ-lan-tây Quỷ. Người Anh là Hồng-mao Quỷ . Nguời Nga là La-sát Quỷ. Ghi chú của Tãng Hồng Minh Sinh viên Marta Maria Fernandes hỏi : « Thưa Giáo-sư, về Trung-quốc, tiếng Pháp gọi là La Chine, người Trung-quốc là Chinois. Còn sách của Chinois ở lục địa thì họ xưng là Trung-quốc ; của người ở Hương-cảng, Ðài-loan thì họ xưng là Trung-hoa. Ðôi khi họ xưng là Trung-nguyên, rồi Hoa-hạ. Tôi ðọc một số sách bằng Việt ngữ thì người Việt gọi là chữ Hán chứ không gọi là chữ Hoa, hay chữ Trung-quốc; và người Việt khi thì gọi Chinois là người Hoa, khi thì gọi là người Tầu. Như trên Giáo-sư ðã giải thích từ Trung-quốc. Còn từ Hoa ở đâu mà có ? Tại sao lại có những từ phức tạp như vậy ? » Ðáp : « Như tôi ðã trình bầy : Với lối phân chia Cửu-châu, Ngũ-phục ; trong năm cõi trên thì cõi Điện là vùng bao quanh Thiên-hạ. Phía trong cõi Điện là Giao. Trong Giao một trăm dặm là Quốc. Trong Quốc có thành gọi là Đô. Đô là nõi vua ở. Vì vậy họ mới xưng là Trung-quốc, tức nước ở giữa Thiên-hạ. Chữ Trung-quốc ở ðây có tính chất chính trị, và ðịa lý. Còn từ Trung-nguyên có nghĩa là vùng đất ở giữa. Trung-nguyên chỉ có nghĩa địa lý mà thôi. Sau cuộc cách mạng Tân-Hợi (1911), Bác-sĩ Tôn Văn và Quốc-dân đảng lên nắm quyền, lấy quốc danh là Trung Hoa nhân dân cộng hòa quốc, gọi tắt là Trung-Hoa Dân-quốc từ ngày 1-1-1912. Hiện chính phủ Đài-loan vẫn duy trì quốc danh này. Hồng-quân tiến chiếm được Bắc-kinh, lập nền cai trị Trung-nguyên, họ xưng là Cộng-hòa nhân dân Trung-quốc gọi tắt là Trung-quốc kể từ ngày 1-10-1949. 12 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Còn nguồn gốc từ Hoa thì lúc đầu Trung-quốc chỉ là mấy bộ tộc ở vùng Ung-châu, Lương-châu (Ghi chú xin ðừng lầm Ung này với Ung-châu thời Tống, nay là Nam-ninh thuộc Quảng Tây). Phía Ðông Nam là Hoa-âm, Ðông Bắc là Hoa-dương, giới hạn bởi Hoa-sơn. Vì vậy họ mới xưng nước là Hoa. Sau vì có văn minh, họ chiếm, đồng hóa các vùng xung quanh, mà có 9 châu như trong Kinh-thư. Hoa là tên nước chứ không phải là tên chủng tộc. Còn từ Hoa Hạ thì do con sông Hạ-thủy khởi nguồn từ Ung-Lương, nên lấy từ Hạ-thủy làm tên tộc. Hạ là tên tộc, không phải là tên nước. Sau này người ta ghép chữ Hoa là nước với chữ Hạ là tộc thành từ Hoa-Hạ vừa ðể biểu tượng cho nước, vừa biểu tượng cho tộc. Cao-tổ nhà Hán là Lưu Bang, khởi nghiệp từ sông Hán-thủy, nên xưng là triều Hán (207 trước Tây-lịch). Nãm 179 trước Tây-lịch, Triệu Ðà chiếm Âu-lạc (tên cũ của Việt-Nam). Y là thần tử triều Hán, cấm dân Việt học chữ Khoa-ðẩu của tộc Việt, bắt học chữ Hoa. Do vậy người Việt gọi chữ Hoa là chữ Hán. Người Việt gọi người Chinois là người Hoa, người Trung-quốc là lẽ thường. Còn danh tự người Tầu thì bắt nguồn từ những triều đại Trung-quốc bị sụp đổ, các di thần dùng tầu vượt biển sang Việt Nam xin kiều ngụ, nên người Việt gọi họ là người Tầu ». Chúng ta trở lại với ðầu ðề. Từ nguồn gốc kinh ðiển cổ, người Hoa tự cho mình là con trời (Thiên-tử), cho nên hầu hết các tiểu thuyết của họ thì vua luôn có tướng tinh là con rồng vàng, là Thanh-y ðồng tử trên thượng giớí giáng sinh. Các quan võ thì luôn là Vũ-khúc tinh quân, các quan văn là Văn-khúc tinh quân. Quần thần thì là Nhị-thập bát tú giáng hạ. Với chủ đạo này, họ đã đánh chiếm mấy trăm nước tạo thành một Trung-quốc vĩ đại. 2.- Chủ đạo của Việt-Nam. Như trên đã trình bầy, với nguồn gốc lập quốc, ngýời Việt có niềm tin mình là con của Rồng, cháu của Tiên, cho nên người Việt có một sức bảo vệ quốc gia cực mạnh. Truyền thống sang thế kỷ thứ 2 trước Tây-lịch lại thêm vào tinh thần của vua An-Dương. Sang ðầu thế kỷ thứ nhất, nổ ra cuộc khởi nghĩa của một phụ nữ, và 162 anh hùng, trong ðó có hơn trãm là nữ. Cuộc khởi nghĩa ðuổi ngoại xâm Trung-hoa, lập lên triều ðại Lĩnh-Nam. Phụ nữ ðó là vua Trưng. Nối tiếp mỗi thời ðại ðều có tinh thần riêng, tạo thành niềm tin vững chắc. Tộc Việt ðã chiến đấu không ngừng để chống lại cuộc Nam tiến liên miên trong hai nghìn năm của người Hoa. Bất cứ thời nào, người Việt dù bị phân hóa ðến ðâu, nhưng khi bị ngoại xâm, họ lập tức ngồi lại với nhau ðể bảo vệ quốc gia. Trong những lớp phế hưng của lịch sử Việt, hễ ai dựa theo chủ ðạo tộc Việt, ðều thành công trong việc giữ ðược quyền cai trị dân. Gần ðây nhất, người Việt bị các thế lực Quốc-tế, gây ra cuộc chiến tranh tương tàn khủng khiếp (1945-1975). Nhưng nay, Việt-Nam ðang trên ðà phục hưng chủ ðạo. Ý tôi muốn nói sự cố gắng phi thường 13 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ của hơn hai triệu ngýời Việt ở ngoài lãnh thổ Việt-Nam, đã là bó đước sáng chuyển chủ đạo trở về nước mình. Trong thời gian 1954-1975, miền Bắc theo chế độ Cộng-sản, theo chủ thuyết Quốc-tế. Nhưng họ biết khai thác cái chủ đạo của Việt-Nam, họ huy động được tinh thần yêu nước của dân tộc, nên cuối cùng họ chiến thắng. Cũng tiếc thay, những người cầm quyền miền Nam từ 1963-1975, không biết khai thác lòng yêu nước của dân tộc, lại chấp nhận cho quân ðội Hoa-kỳ và ðồng minh nhảy vào vòng chiến, việc này có khác gì quỳ gối, trao ngọn cờ chính nghĩa cho miền Bắc! Tôi nghĩ những người lãnh đạo miền Nam như ông Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm, cho đến giờ này (1992) chưa từng biết gì về kho tàng lòng yêu nước của người Việt, lại cũng chưa từng nghe, từng nói ðến chữ chủ ðạo tộc Việt bao giờ. Trước họ, cố Tổng-thống Ngô Ðình Diệm (1954-1963), vì biết rõ chủ đạo tộc Việt. Ngài từ chối không cho Hoa-kỳ đổ quân vào Việt Nam, mà đang là một đồng minh của Hoa-kỳ, Ngài đã trở thành kẻ thù của Hoa-kỳ, bị Hoa-kỳ giết hết sức thảm khốc. III. ĐI TÌM LẠI NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT. Năm trước đồng nghiệp của tôi đã giảng cho các bạn sinh viên hiện diện các giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, bao gồm : 1.- Thuyết của giáo sư Léonard Aurousseau về cuộc di cư của người Ý-Việt hay Ngô-Việt sang Âu-Lạc. 2.- Thuyết của Claude Madroll về cuộc di cư của người Mân-Việt sang Âu-Lạc. 3.- Thuyết của học giả Ðào Duy-Anh, Hồ Hữu-Tường về cuộc di cư do thời tiết của người Việt từ Bắc xuống Nam. Tất cả các thuyết này ðều cãn cứ vào những thư tịch cổ Trung-quốc, Việt-Nam. Mà những thư tịch này không có một biện chứng khoa học nào cả. Cuối cùng các giáo sư ðồng nghiệp ðã nhận định rằng : Nhờ vào khoa khảo cổ, nhờ¨¨ vào hệ thống khoa học DNA, từ nay không còn những giả thuyết về nguồn gốc tộc Việt nữa, mà chỉ còn lại công cuộc nghiên cứu của tôi, rồi kết luận : 14 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ « Thoạt kỳ thủy, trên vùng ðất thuộc lãnh thổ Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại: Giống người ðã từ châu Phi đến bằng hai đường. Một là đường Nam-á, đến Đông Nam-á, ngược lên vùng Hoa Nam. Hai là từ châu Phi, tới châu Âu, rồi sang Bắc Trung-quốc. Cuối cùng cả hai giống người hòa lẫn với nhau trên lãnh thổ Trung-quốc. Còn trong vòng 5000 năm trước Tây lịch cho đến nay, thì tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía nam sông Trường-giang, Đông tới biển, Tây tới Tứ-xuyên, Nam tới vịnh Thái-lan. Ngýời Việt từ Ngô-Việt di cư xuống phương Nam. Ngýời Mân-Việt ði xuống Giao-chỉ. Ngýời Việt di cư từ nam sông Trường-giang tránh lạnh xuống Bắc-Việt ðều ðúng. Ðó là những cuộc di cư của tộc Việt trong lãnh thổ của họ, như cuộc di cư từ Bắc vào Nam nãm 1954 ; chứ không phải họ là người Trung-quốc di cư xuống Nam, lập ra nước Việt. » Chính vì lý do dùng hệ thống ADN biện biệt tộc Hoa, tộc Việt, nên tôi được mời đến đây đọc bài diễn văn khai mạc niên khóa này. Sau đây tôi trình bầy sơ lược về công trình nghiên cứu đó. Tôi xin nhắc lại, tôi chỉ là một bác sĩ y-khoa, cho nên những nghiên cứu của tôi đặt trên lý luận thực nghiệm, cùng lý luận y-khoa, nó hơi khác với những gì mà các bạn đã học. Ghi chú của Tăng Hồng Minh Sinh viên Vũ-thị Thu-Dung hỏi: - Thưa Thầy, con có ðọc một bộ sách của nhà vãn Bình Nguyên Lộc nói về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam. Trong bộ sách đó, ông khẳng định rằng người Việt gốc từ Mã-lai. Xin Thầy cho biết ý kiến? - Tôi chưa ðọc bộ sách ðó, vả có ðọc tôi cũng không thể ðem ra bàn luận ở ðây. Giáo-sư Viện-trưởng: - Tôi xin bổ túc lời diễn giả. Ban tu thư của IFA sưu tầm tất cả những thư tịch nói về nguồn gốc dân tộc Việt-Nam. Trước sau có 34 nguười ðã trình bầy. Nhưng chỉ những tác giả sau ðây ðược ghi vào album nghiên cứu: - Edouard Chavannes trong bản dịch bộ Sử-ký của Tý Mã Thiên. - Leonard Aurousseau trong bài nghiên cứu "La première conquête chinoise des pays anamites" đăng trong tạp chí của trường Viễn-đông bác cổ của chúng tôi tại Hà-nội (ý chỉ nước Pháp), ký hiệu BEFEO XXIII. 138-244. - Claude Madrolle, trong bài Le Tonkin Ancien đăng trong BEFEO XXXVII 264-332. - Lê Chí Thiệp, trong Văn-hóa nguyệt san (VNCH) số tháng 3-4 năm 1959. - Đào Duy Anh, trong Nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, được ông Hồ Hữu Tường cổ võ trong bộ Tương lai vãn hóa Việt-Nam. - Gần ðây, giáo sý Nguyễn Khắc Ngữ trong bộ Nguồn gốc dân tộc Việt-Nam, xb nãm 1985 ở Canada. 15 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ - Một số các bài của giáo sý Lương Kim Ðịnh, Nguyễn Ðãng-Thục và Tiến-sĩ Thái Vãn Kiểm, hội viên Hàn-lâm-viện Hải-ngoại của Pháp-quốc.. Một số tác giả viết chỉ với mục ðích khoa trương, lập dị, hoặc không có cãn cứ, hoặc thiếu kiến thức, chúng tôi không ghi vào thư mục nghiên cứu, nên Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ không tham khảo, và dĩ nhiên không ðem ra bàn ở ðây: - Paul Francastel trong Origine du Việt-Nam, France Asie xb. - Nguyễn Phương trong Tiến trình hình thành dân tộc Việt-Nam, tạp chí Đại-học Huế tháng 4 năm 1963. - Bình Nguyên Lộc trong tác phẩm mà em đã đọc. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong việc đi tìm nguồn gốc tộc Việt, tôi đã dùng phýõng pháp y-khoa nhiều nhất, và phương pháp khoa học mới ðây. Tôi ðã được giáo sư Tarentino về khoa Anatomie của Ý và giáo sư sinh vật Vareilla Pascale của Pháp tích cực giúp ðỡ. Tôi chỉ muốn chứng minh rằng trong khoảng 5000 trước Tây-lịch, lãnh thổ tộc Việt nằm từ phía Nam sông Trường-giang tới vịnh Thái-lan. Phía Tây tới tỉnh Tứ-xuyên Trung-quốc , phía Ðông tới biển Nam-hải. Nghĩa là bao gồm toàn bộ Hoa-Nam, và Ðông-dương. 1. Dùng biện chứng y-khoa vào khảo cổ. Biện chứng cãn bản của người nghiên cứu y-khoa là : « Khi có chứng trạng, ắt có nguyên do » Biện chứng này ðã giúp tôi rất nhiều trong khi nghiên cứu về nguồn gốc tộc Việt. Khi nghiên cứu, những tài liệu cổ, dù là huyền thoại, dù là huyền sử, dù là triết học, tôi cũng coi là chất liệu quan trọng. Như tôi ðã trình bày, nước tôi có một tôn giáo, mà toàn dân ðều theo ðó là thờ các anh hùng dân tộc. Tại những ðền thờ chư vị anh hùng, thường có một cuốn phổ kể sự tích các ngài. Vì theo thời gian, tiểu sử các ngài bị dân chúng huyền thoại hóa đi, riết rồi thành hoang đường. Cho nên những học giả đi tiên phong, nghiên cứu về sử học Việt thường bỏ qua. Tôi lại suy nghĩ khác : « Không có nguyên do , sao có chứng trạng ? ». Vì vậy tôi đã tìm ra rất nhiều điều lý thú. Tỷ dụ : Bất cứ một nhà nghiên cứu nào, khi khảo về thời vua An-Dương cũng cho rằng chuyện thần Kim-quy do vua móng làm nỏ bắn một lúc hàng nghìn mũi tên khiến Triệu-Đà bị bại là hoang đường, là ma trâu đầu rắn. Nhưng tôi lại tin và cuối cùng tôi tìm ra sự thật. Hồi ấy Cao Cảnh hầu Cao Nỗ đã chế ra nỏ liên châu, như súng liên thanh ngày nay. Tôi cũng tìm ra kích thước của ba mũi tên ðồng của nỏ này.(4) 16 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Trước tôi ðã có các nhà khảo cổ căn cứ vào xương sọ tìm được tại Trung và Bắc-phần (70 cái). Trong đó có 38 cái do người Pháp sưu tầm thuộc thời đại Đồ-đá, thì 29/38 cái được kết luận là thuộc chủng loại Malanésien, Indonésien, Australoide hay Nam-á. Với 29 cái thì không thể kết luận rằng đó là toàn thể. Gần đây các học giả Việt-Nam lại tìm ra 32 xương sọ, thuộc thời ðại Ðồ-sắt (1000 nãm trýớc Tây-lịch ðến 300 sau Tây-lịch), thì 22/27 thuộc chủng loại Mongoide. Với 32 cái thì không thể kết luận rằng đó là toàn thể tộc Việt thuộc chủng loại Mongoide. Những tác giả trên đã căn cứ vào chỉ số xương sọ mà kết luận. Nhưng y học ðã tiến bộ, căn cứ vào chỉ số xương sọ ðể ðịnh nguồn gốc ðã bị đánh đổ. Nguyên do : Khi con ngýời di cư ðến vùng khác, bị khí hậu, bị nước uống, bị thực phẩm làm thay ðổi xương sọ. Chúng tôi dùng hệ thống ADN, hệ thống sinh học mới nhất thử nghiệm ngay những ngýời ðang sống của 35 dòng họ tại Hoa Nam với Việt-Nam, rồi với những dòng họ khác tại Hoa Bắc. Lại cũng thử nghiệm những bộ xương của ba vùng trên, không phân biệt thời gian. Cuối cùng chúng tôi tìm ra sự khác biệt của những tộc Hoa Nam, Việt Nam với những tộc Hoa Bắc, và đi đến kết luận : lãnh thổ Văn-lang, tới hồ Động-đình. (5) Ghi chú của Tăng Hồng Minh Một quan khách, nữ giáo sư khoa Thiên-văn học tên Madeleine Chevalier hỏi: - ADN là gì? Tôi nghe nói, cũng như ðọc trên báo hoài, mà không biết rõ chi tiết cái hệ thống này? Trần Đại-Sỹ: - Tôi xin nhường lời cho Giáo-sư Vareilla Pascale chuyên khoa về vấn đề này trả lời. Vareilla Pascale: - Cảm ơn Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ ðã cho tôi danh dự trả lời Giáo-sư Chevalier. ADN viết tắt của từ Acide désoxyribonucléique, tiếng Anh là Deoxyribosenucleic acide, viết tắt là DNA. ( Phần này khá dài, khoảng 20 trang A4, chúng tôi không dịch hết, vì quá chuyên môn, chỉ dành cho sinh viên y khoa.) 2. Những vấn đề. Ranh giới phía Nam của nước Văn-lang tới nước Hồ-tôn đã quá rõ ràng. Ranh giới phía Tây với Ba-thục, phía Đông với biển lại tùy thuộc vào ranh giới phía Bắc. Nếu như ranh giới phía Bắc qủa tới hồ Ðộng-ðình, thì ranh giới phía Tây chắc phải giáp Ba-thục và phía Đông phải giáp Đông-hải. Có thực như thế không? Vì vậy tôi đi tìm ranh giới phía Bắc. Dưới ðây là huyền thọai, huyền sử mà tôi ðã bấu víu vào để đi nghiên cứu. Tôi cần tra cứu cho ra: 17 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Vấn ðề thứ nhất, Cổ sử Việt ðều nói rằng ranh giới phía Bắc tới hồ Ðộng-ðình. Có thực nhý vậy không? Truyền thuyết nói Ðế-Minh lập ðàn tế cáo trời ðất, rồi chia thiên hạ làm hai. Từ Ngũ-lĩnh về Bắc cho Ðế-Nghi, sau thành Trung-quốc. Từ Ngũ-lĩnh về Nam truyền cho vua Kinh-Dương sau thành Văn-lang. Núi Ngũ-lĩnh, hồ Ðộng-ðình nay vẫn còn. Nhýng liệu có di tích gì chứng minh chăng? Tôi phải đi tìm Ngũ-lĩnh, hồ Động-đình. Vấn đề thứ nhì, Truyền thuyết nói : Sau khi vua Kinh-Dương, vua Lạc-Long kết hôn, ðều lên núi Tam-sơn trên hồ Ðộng-ðình hưởng thanh phúc ba nãm. Lúc ngài lên núi có chín vạn hoa tầm xuân nở. Tôi phải ði tìm núi Tam-sơn ở hồ Ðộng-ðình. Liệu trên núi này có di tích gì về cuộc tình năm nghìn năm trước chăng? Vấn đề thứ ba, Truyền sử nói : Sau khi Quốc-tổ Lạc-Long, Quốc-mẫu Âu-Cơ cho các hoàng tử đi bốn phương qui dân lập ấp, dặn rằng : Mỗi năm về Tương-đài chầu Quốc-tổ, Quốc-mẫu một lần. Cổ sử nói : Quốc-tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc-mẫu dẫn năm mươi con lên núi, hẹn mỗi năm một lần gặp nhau ở cánh đồng Tương. Cánh đồng Tương ở đâu? Nếu có cánh đồng Tương thì cũng có thể kết luận rằng biên giới nước Vãn-lang tới hồ Ðộng-ðình. Tôi phải đi tìm. Vấn đề thứ tư, chứng tích thứ nhất xác định: Bộ Sử-ký của Tư-mã, Nam-Việt liệt truyện có thuật việc: vua nước Nam-Việt là Triệu-Ðà thường ðem quân quấy nhiễu biên giới Việt-Hán là Nam-quận, Trường-sa (Mậu-Ngọ 183 trước Tây-lịch). Như vậy biên giới Nam-Việt (Tức Việt-Nam) với Hán ( Tức Trung-quốc) ở vùng này. Ngày nay Trường-sa là thủ phủ của tỉnh Hồ-nam, nằm ngay Nam ngạn sông Trường-giang. Vấn ðề thứ nãm, Huyền sử nói rằng : trong cuộc khởi nghĩa của vua Trưng: - Khi Trưng Nhị, Trần Nãng, Phật Nguyệt, Lại Thế-Cường, Trần Thiếu-Lan ðem quân ðánh Trường-sa (39 sau Tây-lịch), thì nữ týớng Trần Thiếu-Lan tử trận, mộ chôn ở ghềnh Thẩm-giang (sự thật ðó là Tương-giang thông với hồ Ðộng-ðình). - Sau đó ít năm có trận đánh giữa Lĩnh-Nam và Hán (42 sau Tây-lịch). Tướng Lĩnh-Nam tổng trấn hồ Ðộng-ðình là Phật Nguyệt, tướng Hán là Mã Viện, Lýu Long (40 sau Tây-lịch). 18 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Có thực thế không? Có hai trận Trường-sa, hồ Ðộng-ðình không? Nếu có thì ranh giới thời Lĩnh-Nam (40-43 sau Tây-lịch) quả tới hồ Động-đình. Vấn đề thứ sáu, Năm 42, sau Tây-lịch, ba tướng thống lĩnh Kỵ-binh thời vua Trưng là Đào Chiêu-Hiển, Đào Đô-Thống, Đào Tam-Lang, đánh nhau với quân Hán tại Bồ-lăng thuộc Tượng-quận, vì quân ít, thế cô, ba ông tự tử. Vậy Bồ-lăng ở đâu? Có trận này không? Nếu có trận này thì ranh giới Lĩnh-Nam phía Tây quả tới Ba-thục (Tứ-xuyên.) Thưa Quý-vị, Nhưng các sử gia gần ðây (1900-1975) ðều ðặt nghi vấn rằng : Làm gì biên giới thời Văn-Lang rộng như vậy? Nếu có chỉ ở vào phía Bắc biên giới Hoa-Việt hiện nay trăm cây số là cùng. Lại cũng có những người dốt nát (1975-1991), không ðủ sách ðọc, không theo kịp sự tiến triển của y học, họ chỉ ðọc những tài liệu sai lầm, rồi họ như con ngựa kéo xe, chỉ biết có vậy, chúng tôi thấy họ ngu dốt quá, nên không trả lời, cũng nhuư giải thích. Tôi cãn cứ vào những chứng trạng trên mà ði tìm nguồn gốc. V. ĐI TÌM BIÊN GIỚI NÝỚC VÃN-LANG 1. Núi Ngũ-lĩnh. Cuối nãm Canh-Thân (1980) tôi lấy máy bay ði Bắc-kinh, rồi ðổi máy bay ở Bắc-kinh ði Trường-sa. Trường-sa là thủ phủ của tỉnh Hồ-nam. Tất cả di tích của tộc Việt như hồ Ðộng-ðình, núi Tam-sơn, núi Ngũ-lĩnh, sông Tương, Thiên-ðài, Tương-ðài, cánh ðồng Tương ðều nằm ở tỉnh này. Tôi ði nghiên cứu với một thư giới thiệu của giới chức cao cấp y học Pháp-Hoa (CMFC). Có một sự hiểu lầm lớn, vì trong thư giới thiệu các giới chức y-khoa chỉ xin ðược giúp ðỡ cho tôi, nên khi tôi muốn tiếp xúc với sở du-lịch, ty vãn hóa ðịa phưõng, họ ðều tưởng tôi tới Trường-sa ðể nghiên cứu sự cấu tạo hình thể cùng bệnh tật dân chúng tại đây. Thành ra tôi bị mất khá nhiều thì giờ nghe thuyết trình của các đồng nghiệp về vấn đề này. Tôi cư ngụ trong khách sạn Trường-sa tân ðiếm nằm trên ðại lộ Nhân-dân. Tôi mua cuốn ðịa phương chí mới nhất của tỉnh, rồi mò vào thư viện ty vãn hóa, sở bảo vệ cổ-tích, ðại-học vãn-khoa, lục lọi những tài liệu cổ, mà ngay những sinh viên vãn khoa cũng ít ai ghé mắt tới. Ðầu tiên tôi ði tìm núi Ngũ-lĩnh. Không khó nhọc, tôi thấy ngay đó là năm dãy núi gần như ngãn ðôi Nam, Bắc Trung-quốc : 19 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ - Một là Ðại-dữu lĩnh. - Hai là Quế-dương, Kỳ-ðiền lĩnh. - Ba là Cửu-chân, Ðô-lung lĩnh. - Bốn là Lâm gia, Minh-chữ lĩnh. - Nãm là Thủy-an, Việt-thành lĩnh. Về vị trí : - Ngọn Thủy-an, Việt-thành chạy từ tỉnh Phúc-kiến, ðến huyện Tuần-mai tỉnh Quảng-ðông. - Ngọn Ðại-dữu chạy từ huyện Ðại-dữu (Nam-an), tỉnh Giang-Tây ðến huyện Nam-hùng tỉnh Quảng-ðông. - Ngọn Cửu-chân, Ðô-lung chạy từ Ðạo-huyện tỉnh Hồ-nam tới Gia- huyện tỉnh Quảng-tây. - Ngọn Lâm-gia, Minh-chữ chạy từ Lâm-huyện tỉnh Hồ-Nam ðến Liên-huyện tỉnh Quảng-Ðông. - Ngọn Quế-dương từ Toàn-huyện tỉnh Hồ-nam tới huyện Quế-lâm tỉnh Quảng-tây . Lập tức tôi thuê xe ði một vòng thăm các núi này. Tôi đi mất mười ngày, trải gần 15.000 cây số. Như vậy là Ngũ-lĩnh có thật, nay có núi ðã đổi tên, có núi vẫn giữ tên cũ. Một câu hỏi đặt ra : Tại sao khi vua Minh phân chia từ Ngũ-lĩnh về Nam thuộc Lộc-Tục mà lĩnh địa Việt tới hồ Động-đình, mà hồ ở phía Bắc núi đến mấy trăm cây số. Tôi giải đoán như thế này : - Một là vua Minh tế trời ở trên núi Ngũ-lĩnh là nơi người gặp tiên rồi chia ðịa giới. Nhưng bấy giờ dân chưa ðông, mà sông Trường-giang rộng mênh mông, sóng lớn quanh nãm nên vua Nghi chỉ giữ từ Bắc ngạn mà thôi. Còn vua Kinh-Dương thì sinh trưởng ở vùng này, lại nữa lấy con vua Ðộng-ðình (một tiểu quốc), nên thừa kế luôn vùng đất của nhạc gia. - Hai là dân chúng Nam-ngạn Trýờng-giang với vùng Nam Ngũ-lĩnh vốn cùng một khí hậu, phong tục, nên họ theo về Nam không theo về Bắc, thành thử hồ Ðộng-ðình mới thuộc lãnh địa Việt. Kết luận : « Quả có núi Ngũ-lĩnh phân chia Nam, Bắc Trung-quốc hiện thời, vậy có thể núi này đúng là nõi phân chia lãnh thổ Văn-Lang và Trung-Quốc khi xưa ». Ánh sáng ðã soi vào nghi vấn huyền thọai.
  21. Cháu xin gửi lời chia buồn tới cô Wildlavender và gia đình.
  22. Em đã chuyển khoản vào TK của anh rồi, khi nào có đủ sách anh chuyển cho em nhé. Cảm ơn anh nhiều. Thanhdc.
  23. Kính thưa Thầy! Từ ngày còn hồi còn ngồi ghế trường ĐH học trò đã được học Triết học Mác - Lênin ( Triết học hiện đại), con người hiện đại coi triết học là khoa học của mọi khoa học ( là mẹ của các khoa học khác). Có thể nói Triết học Mác - Lênin là một học thuyết về sự hiểu biết thế giới tự nhiên hoàn chỉnh nhất của loài người cho tới thời điểm này. Triết học Mác có 2 cặp phạm trù lớn đó là: Phạm trù vật chất và phạm trù ý thức Mác cho rằng vật chất quyết định ý thức và nêu nên phép Duy vật biện chứng áp dụng cho hầu hết vào các nghiên cứu của khoa học hiện đại. Nếu như ý thức của con người cũng là một dạng tồn tại của vật chất thì Triết học Mác với cách đặt vấn đề như trên quả thật chưa thể hoàn chỉnh để được coi là khoa học của các khoa học khác. Vài suy nghĩ khi đọc bài của Thầy, nếu không phù hợp xin Thầy cứ xóa bỏ. Kính.
  24. Xin gửi lời chia buồn đến anh Hungisu và gia đình.
  25. Chùm ảnh: Chiêm ngưỡng những “kho báu” của Ai Cập (Dân trí) - Ai Cập vốn nổi tiếng với những công trình kiến trúc độc đáo như khu kim tự tháp Giza, Tượng nhân sư, đền Karnak... Những công trình này đã trở thành niềm tự hào bất tận của người dân nơi đây. Các kim tự tháp Giza gần thủ đô Cairo là kỳ quan duy nhất trong 7 kỳ quan thế giới cổ đại còn tồn tại đến ngày nay và cũng được bình chọn là 1 trong 7 kỳ quan thế giới mới năm 2008. Tượng Nhân sư (Sphinx) nằm cách các kim tự tháp Giza khoảng 13km. Tượng cao hơn 18 mét, trải dài tới 57 mét và được tin là đã tồn tại ít nhất 5.000 năm. Nhà thờ Hồi giáo Muhammad Ali Pasha, tọa lạc tại quần thể thành quách đền đài của Cairo, được xây dựng trong thế kỷ 19. Những cột đá khổng lồ được chạm khắc hoa văn tại đền Karnak ở Luxor. Hình một vị vua Ai Cập trên những bức tường tại đền Karnak. Hai bức tượng đá khổng lồ của Pharaoh Amenhotep III tại nghĩa địa Theban. Ngôi đền của Nữ hoàng Hatshepsut tại Luxor. Thời gian thi công đền Abu Simbel kéo dài suốt 20 năm, từ năm 1244 đến năm 1224 trước Công nguyên. Ngôi đền được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới vào năm 1960. Các núi lửa tại sa mạc Đen. Đền thờ thần chim Horus ở Edfu là đền thờ lớn thứ 2 tại Ai Cập, chỉ sau đền Karnak. Một khối đá phấn khổng lồ được hình thành từ những trận bão cát trên sa mạc Trắng ở Farafra. Dòng sông Nile thơ mộng chảy qua Aswan, miền nam Ai Cập. Thư viện nổi tiếng tại Alexandria. Pháp đài Quatbay, được xây dựng từ thế kỷ 15, tọa lạc bên bờ Địa Trung Hải tại thành phố Alexandria. Kim tự tháp Maidum nằm trên rìa sa mạc ở Bein Sueif, cách Cairo khoảng 70km. Bảo tàng Ai Cập tại thủ đô Cairo là nơi trưng bày nhiều cổ vật. An Bình Theo MSN Nguồn : dantri.com