• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

thanhdc

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    420
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    1

Everything posted by thanhdc

  1. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 4 1/9/2012 1:49:51 PM 3. Y lý chủ đạo của y học dân gian. Y học Dân gian coi tất cả các tác nhân gây bệnh cho Con người đều là Tà. Tà là chỉ hiện tượng được cho là không chính đáng: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” (Nguyễn Đình Chiểu). Đâm là hành vi bạo lực, nhưng bạo lực đó là để diệt mấy thằng gian nên bạo lực đó vẫn là chính nghĩa. Ở đây nhà thơ chơi chữ “chẳng tà” vừa có nghĩa là chính đáng mà còn có nghĩa là không bị cùn. Trạng thái Tà có ba tính chất: Tà Khí; Tà Tâm và Ác Tà – còn gọi là Trùng Tà. Cơ thể bị mắc bệnh có nghĩa là đã bị nhiễm Tà. Mức độ nặng nhẹ của bệnh được xác định trên cơ sở đối chiếu với tiêu chuẩn của sức khỏe. (Tứ diện hiện sinh). Người Việt Cổ cho rằng: Cơ thể một con người được coi là khỏe mạnh khi con người đó luôn cảm nhận được đủ bốn khoái cảm lớn ở trong thân thể mình. Bốn khoái cảm lớn đó thường được gọi là “Đại tứ khoái”, gồm có: Ăn; Ngủ: Làm tình và bài tiết. Thiếu một trong bốn khoái cảm đó là có bệnh. Cơ thể không còn bốn đại khoái cảm nữa là “Cận tử” rồi. Cổ nhân cho rằng: Dù là người cao sang, thông tuệ cho đến người hèn yếu đều có chung khoái cảm sinh lý nói trên, vì nó thuộc về bản vị. Còn những khoái cảm tinh thần thuộc về nhân vị, sản phẩm của lí tưởng – niềm tin, biến ảo khó lường nên không phải là nơi căn bản của cơ thể sống. Do đó, mọi bệnh tật phát sinh trong cơ thể người đều do Tà hoặc trùng đã ám vào đại tứ khoái mà sinh ra. Chữa bệnh là trục tà cho "Đại tứ khoái". Khôi phục đủ “Đại tứ khoái” cho cơ thể là con người khỏi bệnh. Ăn: Khoái cảm lớn nhất, đói mà được ăn. Những người nghèo đói không được ăn, không có khoái cảm ăn. Ngược lại người giàu có cần ăn thức gì có thức đó và thường có cảm giác ăn không ngon miệng, mất khoái cảm ăn. Cả hai loại người này đều thấy ăn không ngon miệng khi cơ thể bị ốm. Tìm ra bệnh là mang lại khoái cảm ăn là đã chữa đúng bệnh. Có khi chỉ một bát cháo hoa hay một bữa cơm là cũng đã chữa khỏi bệnh. Ngủ: Ngủ là nhu cầu tự nhiên của con người. Khoái cảm của ngủ là ngon giấc không mộng mị, nếu có mộng thì là mộng đẹp. Ngủ dậy thấy khoan khoái dễ chịu thì đó là khoái cảm của ngủ. Giấc ngủ không được như mô tả ở trên là có bệnh. Mất ngủ, ngủ ít (Tối thiểu 8 giời ngày) ngủ không ngon giấc, tỉnh rồi lại thiếp đi, mộng mị lộn sộn, nửa thức nửa ngủ. Không ngủ nữa thức dậy thấy mệt mỏi, chán trường, là cơ thể đang có bệnh. Tìm ra bệnh chữa trị bệnh đưa lại giấc ngủ ngon và lành là khỏi bệnh. Làm tình: Y học dân gian coi khoái cảm trong làm tình là biểu hiện đồng bộ, toàn diện sức khoẻ của một con người. Cuộc tình đến ngưỡng cao trào nó làm rung động toàn cơ thể, bởi vì toàn bộ các hệ thống các cơ quan nội quan trong con người đều xúc động. Cảm khoái đó khiến các nhà Nho vốn nổi tiếng là nhã cũng không kìm nén được phải thốt ra lời: “đại khoái hĩ !”. Một con người không cao hứng trong cuộc tình, hoặc lâm vào tình cảnh “trên bảo dưới không nghe”, hoặc lãnh đạm với nhu cầu giao hợp là có bệnh. Người phụ nữ đã tắt kinh vẫn có nhu cầu tình dục. Với người đàn ông nhu cầu đó đi mãi suốt cuộc đời. Dân gian nói hình ảnh rằng: Chỉ khi nào cắt đầu gối không có máu chảy thì mới hết nhu cầu làm tình. Bài tiết: Đại tiểu tiện thông suốt tạo cho ta khoái cảm như một sự giải thoát. Đại tiện chỉ cần hai lần phóng là hết phân, cơ thể thấy nhẹ bẫng, là khỏe mạnh. Đại tiện vất vả phải lực dặn, phân ra lai dai, ngồi nhà cầu lâu, có cảm giác nóng ở lỗ thải phân, phân mỏng nát và có mùi thối khẳn là cơ thể đang có bệnh không chỉ ở đường tiêu hóa mà từ gan đã có chuyện lâm nguy, hiện tượng ỉa té tức là bệnh đường ruột cấp tính; ỉa té mà không đái là chỉ báo đã bị nhiễm vi khuẩn tả. Ỉa té mà vẫn đái được thì đó chỉ là rối loạn tiêu hóa bình thường không phải nhiễm vi khuẩn tả, đừng quá lo! Đi tiểu vất vả, đường liệu phóng yếu, không gây được tiếng re re do ác lực phóng liệu là cơ thể yếu. Đái xón, đái dắt, dòng liệu ngừng nhưng vẫn chưa hết cảm giác mót, đứng một lúc nước tiểu lại chảy buộc ta phải dặn tiểu; người phụ nữ đũng quần luôn ẩm ướt là cơ thể đang có bệnh. Tìm ra bệnh, chữa bệnh mang lại khoái cảm khi bài tiết là khỏi bệnh. Bốn khoái cảm này kết hợp lại thành cái bất biến cùng với “Tứ diện hiện sinh” để ứng phó với vạn biến truy tìm tất cả các loại bệnh có trong cơ thể con người. Trong bốn đại khoái cảm này thì khoái cảm ăn và khoái cảm ngủ luôn được chú ý đến đầu tiên. Thầy lang dân gian khi được mời đến chữa cho bệnh nhân mắc HIV/ AIDS thì thường là bệnh AIDS đã là giai đoạn cuối, AIDS đã toàn phát. Ở tình trạng này thì ở cả Tây y và Trung y đều bó tay. Người ta chăm sóc bệnh nhân HIV/ AIDS ở giai đoạn cuối chỉ vì nhân đạo, sống ngày nào biết ngày ấy. Nhưng lang thuốc dân gian không nghĩ thế, bệnh nhân nếu còn biết cười trước một câu nói vui, “bông phèng” là còn có cơ hội để nhận chữa. Lang thuốc dân gian đã nhận chữa cho con bệnh nào thì ông ta tự tin rằng giữa sống và chết có sác xuất là 50/50. Việc đầu tiên là phải cấp cứu đã. Thuốc cấp cứu chữa người ở giai đoạn AIDS toàn phát là viên thuôc “Hoàn sinh”, toàn bộ chất liệu của viên thuốc này là kết tinh của 20 a xít amin cần có cho sự sống của con người trong 24 giờ. Chức năng của nó là cấp tập khôi phục khoái cảm của ăn và ngủ đã bị héo tàn của người bệnh. Sau khi đã uống thuốc cấp cứu rồi thầy lang mới bắt tay khám bệnh. Người nhiễm HIV/ AIDS ở giai đoạn toàn phát cơ thể đã suy sụp. Trước hiểm hoạ cận tử thì phải cấp cứu hoàn sinh khoái cảm ăn. Uống thuốc cấp cứu hoàn sinh là cho ăn cưỡng bức để làm hồi tỉnh lại cơ chế tự nhận thức của toàn cơ thể. Quy luật sinh học của nhận thức luôn diễn ra là đi từ cái cưỡng bức đến cái tự giác. Cưỡng bức nhanh chóng khôi phục khoái cảm ăn để cơ thể có cảm giác đói. Khi đã có cảm giác đói có nghĩa là nó đã tới được cái tự giác. Phép dùng thuốc của y học dân gian là cơ chế cưỡng bức để khôi phục cái “tự giác” ở cơ thể con người mà thôi. Thời gian uống thuốc hoàn sinh khoảng 3 giờ mà người bệnh có cảm giác đói, biểu hiện của nó là nước bọt tiết nhiều ở miệng, dân gian gọi đó là hiện tượng “nuốt nước bọt”. Tỷ số sác xuất giữa sống và chết được nâng nên 60/40 việc khám bệnh bắt đầu từ đây. 4. Y thuật của y học dân gian: Y học dân gian coi “thuật” là kỹ năng kỹ sảo để nhận biết đối tượng hiện có làm bộc lộ những bí mật của nó, biến cái không phải của ta thành cái phụ thuộc vào ta. Từ quan niệm về khái niệm “thuật” như vậy nên y thuật của y học dân gian có những nội dung sau: 4.1. Y thuật chủ đạo. Quan niệm Bệnh là do Tà, hoặc Trùng gây nên. Chữa bệnh tức là trừ Tà, là diệt Trùng đã nhập vào người, ám vào “Đại tứ khoái“. Khi cơ thể bị một loại bệnh nào đó thì có nghĩa là toàn cơ thể đã bị nhập Tà. Biểu hiện cụ thể của bệnh ở một bộ phận nào đó không có nghĩa các bộ phận khác còn an lành. Ví dụ: Đau mắt và nhức răng chẳng hạn. Cổ nhân nói: “Thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng”. Ai mắc phải một trong hai thứ đau này đều rên rỉ: “Buốt ơi là buốt! Choáng váng, run bắn cả người”. Đây là một tổng kết thực tế được dùng làm chỉ báo: “Thân đã nhập Tà, ắt sinh bệnh Cả” (Cả nghĩa là lớn, như: Vợ Cả; Sông Cả; Cả vú lấp miệng em). Thuật chạy chữa luôn phải tuân theo: “Bệnh Cả không phân lẽ mọn. Chữa chạy bệnh Cả, ắt phải chữa toàn thân. Phép “Xông là để xua Tà. Phép uống là để trục Tà; trong uống ngoài xoa là làm tiệt chủng Tà, v.v...". Dưới ánh sáng của tri thức khoa học hiện đại, có thể hiểu ý người xưa, như vầy: Cơ thể là một khối thống nhất, nhưng sự thống nhất đó là “thống nhất trong liên lập”, thống nhất qua hòa nhập chứ không phải thống nhất của hòa tan. Sự thống nhất đó được tạo thành qua vận động chuyển hóa trao đổi chất của 80.000 tỉ tế bào hình thành nên cơ thể người. Lấy hiện tượng đau răng để biện giải cho rõ thêm: Con Người bắt đầu bước vào tuổi trưởng thành đã có 30 cái răng, Tây y có hơn 30 Luận án tiến sĩ về răng nhưng vẫn chưa trả lời được rõ có bao nhiêu nguyên nhân sinh học và hóa học làm rụng răng (nguyên nhân vật lý làm gẫy răng không tính đến, vì đó là “bất khả kháng” rồi). Đau răng thực chất là đau ở tủy răng. Nói đến tủy là phải biết ngay đó là những bó dây thần thần kinh luôn được “ngâm” trong dung dịch tủy rồi. Tây y đã tìm thấy mối liên hệ giữa răng và tim. Nhưng đứng trước câu hỏi: Đau răng làm yếu tim hay yếu tim làm đau răng? Chưa được trả lời ở tầm “tâm phục, khẩu phục”. Có thể phải có một Luận án Tiến sĩ nữa để trả lời cho câu hỏi này chăng? Cách chữa đau răng hữu hiệu nhất của Tây y là nhổ răng đau vứt đi! Xử lí như thế tức là không muốn giải quyết mâu thuẫn mà là triệt tiêu mâu thuẫn. Mâu và thuẫn luôn luôn là biểu hiện sự thống nhất của hai mặt đối lập; triệt tiêu mâu thuẫn cũng đồng nghĩa với phủ định hiện thực (phủ định sạch trơn). Giải quyết mâu thuẫn tức là phủ định của phủ định” để có hiện thực ở tầm cao hơn. Đứng ở góc độ sinh học mà nói thì cách chữa bệnh bằng “cắt bỏ” là hủy diệt sinh giới. Răng, ngoài chức năng trực tiếp là nghiền, xé thức ăn, nó còn là trạm ra đa tiền phương nhận diện sớm nhất về chất lượng thức ăn đưa vào cơ thể rồi truyền “Tin mới nhận được” cho tuyến thần kinh cột sống, nơi khu trú các tế bào sinh huyết chuyên sản sinh Bạch cầu của Hệ thống miến dịch. Các tế bào bạch cầu non vừa sinh ra lập tức được điều động đến tuyến ức và các hạch bạch huyết để nạp thêm nồng độ men, (enzyme) sinh chất tạo ra Kháng Thể - tương thích nhằm hoạt hóa kháng nguyên, hỗ trợ cho “Sự nghiệp tiêu hóa thức ăn” của cơ thể. Lâu nay người ta chỉ nhấn mạnh đến yếu tố miễn dịch của Hệ thống miễn dịch mà lờ đi chức phận hỗ trợ tiêu hóa thức ăn của Hệ thống này. Răng quan trọng như vậy nên được cấu tạo rất tinh vi. Tủy răng được bọc bằng vật liệu vừa cứng rắn lại vừa dai, chịu được cả lực nén lẫn lực kéo, lực uốn, có sức bền hơn bất cứ loại gạch nào đang dùng để xây nhà cao tầng. Bên ngoài lớp bê tông chịu lực này còn được tráng một men bảo vệ bóng như sứ, gốm có độ phản quang hấp dẫn ưa nhìn. Từ rất sớm người Việt cổ đã hiểu được tác dụng y học của răng nên đã tìm cách bảo vệ bằng biện pháp gia cường thêm một lớp cao phân tử đen nhánh có khả năng chống lại các loại men phá hủy vỏ răng. Thế thôi chưa đủ, cổ nhân còn thường xuyên dùng một hợp chất được gọi là “Huyết trầu” hay “Quyết trầu” để rửa sạch răng. Tập quán ăn trầu không chỉ làm thắm môi hồng má, tươi sắc diện mà còn là biện pháp Y tế để bảo vệ răng. Gần đây có chỉ báo ăn trầu gây ung thư vòm họng, cần thận trọng trong xét đoán bởi lẽ ăn nhiều thịt, uống nhiều rượu cũng có nguy cơ bị ung thư vòm họng còn cao hơn cả ăn trầu. Nghiên cứu thành phần cấu tạo nên “Miếng trầu” thấy có: Lá trầu không; quả cau; vỏ rễ cây Quạch; một chút vôi chín; một chút thuốc Lào. Tất cả các vật liệu này được răng nghiền trong miệng Người trộn lẫn với nước bọt có chứa các chất sát trùng và các men tiêu hóa làm nên Bài thuốc Ta. “Tẩy trùng”. Tôi đã dùng Bài thuốc này để chữa lành bệnh ở vùng miệng, ống tiêu hóa, lở loét ở xung quanh lỗ thải phân, bệnh ngoài da cho người nhiễm HIV bị mắc bệnh cơ hội do vi rút Herpes và nấm Candida gây ra rất thần diệu mà các thuốc Tây, thuốc Tầu cùng loại đều không sánh được. Bài thuốc Dân Gian này nếu được diễn đạt theo ngôn ngữ Tây dược thì sẽ có công thức hóa học rất hoành tráng! Một trong những khác biệt của Y Việt cổ truyền với các nền Y học khác là đánh giá vị thế Răng và Tóc rất cao trong cơ thể sống. Cổ nhân dạy: “Cái Răng, Cái Tóc là gốc con người”. Xin nhớ cho là gốc chứ không phải như một số người nói là “góc”. Nói góc là nói cho có vần theo kiểu “nghệ thuật thơ Bút Tre” hiếp ý để đoạt vần. Nói “góc” thì lời di huấn của Tiền nhân thành vô nghĩa, dẫn tới phản cảm, coi khinh trí tệ của Tổ tiên. Việc truyền bá Y học Dân gian chủ yếu bằng truyền miệng, dễ sai lạc. Tiền nhân biết thế nên đã có biện pháp rất độc đáo. Biện pháp đó là khai thác bản tính ham tiền của con ngươi. Các Cụ đã quy đổi vị thế quan trọng của Răng và Tóc trong cơ thể sống ra tiền, tức là tiền tệ hóa nó và định giá luôn: "Trăm quan đổi lấy nụ Cười/ Nghìn quan mua lấy miệng cười Răng Đen" để dân chúng thấy Răng và Tóc có giá cao như thế, cố mà giữ. Hoàng Đế Quang Trung là người trung thành với văn hóa dân tộc, trong Tuyên ngôn dánh giặc Mãn Thanh, ông nêu rất nhiều lí do quan trọng buộc dân Việt phải Đánh Tầu xâm lấn, có hai lí do khá lí thú đã được nêu: "Đánh (cho) để Tóc! Đánh để Đen răng. Trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc, để chỉ nhìn bề ngoài không lẫn với giặc Tầu, người Việt cả đàn ông lẫn đàn bà đều nhuộm răng đen, để tóc dài, riêng đàn ông luôn “búi tó củ hành”, (Hiện nay còn thấy nhiều bậc Trưởng Lão Đất Quảng và Nam Bộ vẫn búi tó củ hành). Đối với giặc Tầu, dân ta gọi nó là: “Chú Khách trọc đầu trắng răng”. Xin thưa, muốn sống lâu phải giữ gìn răng cho tốt. Người cao tuổi, còn một cái răng cũng quyết giữ, đừng nhẹ dạ bùi tai nghe lời dụ của thợ làm răng giả vặn nghiến chiếc răng còn sống để lắp cả hàm răng giả, tiện cho họ nhưng hại tới sức khỏe của ta. Lắp răng giả tốt có thể nghiền xé được thức ăn, nhưng vì là của giả nên nó không làm được chức phận thông tin, không làm tăng được năng lực cho Hệ thống miễn dịch. Bởi vì, suy cho đến cùng, mọi cái chết vì bệnh tật hoặc do lão hóa đều có cội nguồn từ Hệ thống miễn dịch bị suy yếu mà ra cả. Không chỉ cái răng mà rất nhiều bộ phận khác của cơ thể đều có ảnh hưởng đến Hệ thống miễn dịch. Ngược lại, Hệ thống miễn dịch suy yếu lập tức kéo theo hàng loạt các bộ phận khác của cơ thể bị suy yếu theo. Ngay từ rất sớm người Việt đã ý thức được điều đó nên trong Y thuật đã chú ý có cách nhìn tổng quan trong khám bệnh và chữa bệnh. Có được cái nhìn tổng quan rồi, nhưng làm thế nào để tiếp cận được với người mắc bệnh và dùng những thủ thuật gì để khám bệnh? Dưới đây là các câu trả lời. 4.2. Khám bệnh khi “Nhân hoạt” tức làm khám bệnh khi người bệnh đang hoạt động. Thầy lang dân gian thường khám bệnh tại nhà bệnh nhân, bệnh nhân được khám trong trường hợp đang hoạt động. Những hoạt động đó không vượt quá ngưỡng gắng sức của con người như: làm việc vặt trong gia đình; quét nhà; giặt quần áo, nấu ăn, học bài. Để hiểu rõ tình hình thần kinh của bệnh nhân trong tình hình hiện nay ở Xã hội hiện đại thầy thuốc còn mang đến nhà bệnh nhân những phim truyện hay và cùng xem phim với bệnh nhân lôi cuốn bệnh nhân cùng phê bình phim với thầy thuốc. Có thể còn đánh cờ với bệnh nhân nữa. Đã gặp bốn trường hợp qua cách khám này tôi thấy họ không bị nhiễm HIV. Khi nói cho bệnh nhân nhận xét này bệnh nhân không tin. Sau thuyết phục bệnh nhân đi khám lại ở hai cơ sở y tế Nhà nước khác nhau bằng “Cửa trước” thì rõ ràng kết quả là âm tính. Người bệnh nhận án nhiễm HIV đã bốn năm nhưng lần đi khám trước là đi “Cửa sau”. Toàn bộ sức khoẻ của con người bộc lộ qua hành động. Trong thuật khám bệnh nhân hoạt, y học dân gian chú ý đến nhiều nhất là người bệnh sử dụng đôi mắt như thế nào, ăn uống ra sao. Người phương Tây ví đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, còn y học dân gian “bám” vào đôi mắt để khám bệnh là dựa vào toàn bộ sự đánh giá của dân gian vào đôi mắt. Con người không thể che dấu được tình cảm thật qua ánh mắt mặc dù trong hành động thực tế lại không phản ánh đúng tình cảm thật của họ. Người xưa, kín đáo trong tỏ tình: khi giai gái yêu nhau thật sự nhưng giữa đám đông họ thường không ở bên nhau mà lại là “Yêu nhau đứng ở đằng xa, con mắt liếc lại bằng ba đứng gần”. Cái con mắt liếc lại đó đã được y học dân gian sử dụng như một thiết bị khám bệnh tổng thể rất tinh vi mà có lẽ còn lâu khoa học hiện đại mới chế tạo được một thiết bị có công năng tuyệt vời đến như thế. Ngày nay trong xã hội hiện đại con người đã bị nhiễm phải “Virut nói dối”, nghĩ ngược nhưng nói xuôi. Nhưng với ánh mắt thì virut nói dối không xâm nhập được. Tất nhiên, với những người lưu manh chuyên nghiệp và những người có bản lĩnh cao thì ánh mắt đã được điều khiển, song sự điều khiển nhân tạo đó vẫn không thể thắng nổi từ trường điện sinh học tự nhiên tạo ra ánh mắt. Anh mắt “nhân tạo” vẫn dài dại không khôn như ánh mắt thật. Để kiểm tra hệ thống tiết hoóc môn tự động trong cơ thể người nhiễm HIV/ AIDS y học dân gian chỉ cần qua thiết bị “Con mắt liếc lại” là đọc được bệnh. Căn cứ vào cơ chế tự động tiết hoóc môn được diều khiển từ hệ thần kinh sinh dưỡng mà hệ thần kinh điều khiển không tác động được để nhận biết tình trạng tiết hoóc môn ở người bệnh. Một người đàn ông cơ thể ở trạng thái bình thường bất chấp tuổi tác, địa vị xã hội, tính khí bốc lửa hay mô phạm nhưng khi nhìn thấy một người đàn bà đẹp dù tinh vi đến mấy thì ánh mắt của con người ấy cũng phải dừng lại trên thân hình của mỹ nhân. Nếu thấy mỹ nhân mà dửng dưng thật sự, người đàn ông đó đang có bệnh mà có thể là bệnh nặng. Người đàn bà cũng thế kể cả khi đã tắt kinh, phụ nữ tuy có kín đáo hơn nhưng cũng không thể cưỡng được phản ứng tự động của hệ thần kinh dịch thể. Tất nhiên tổ tiên ta chưa biết đến hoóc môn là gì – mà loài người cũng mới biết đến nó gần 100 năm nay thôi. Diễn giải bằng ngôn ngữ Tây y để dễ thảo luận. Những người nhiễm HIV khi chưa ở giai đoạn toàn phát thường có hai biểu hiện trái ngược nhau, đàn ông thường bị liệt dương, còn phụ nữ lại có hiện tượng ngược lại. Ăn là hành động tiêu hoá bình thường. Nhưng khi ăn cơ thể con người vận dụng hầu hết các giác quan: thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và cả thính giác. Một bữa ăn ngon với con người có trình độ văn hoá cao là phải thoả mãn được tất cả các nhu cầu của các giác quan đó. Ăn trở thành một đại khoái cảm là vì thế. Bữa ăn là một niềm vui cuộc sống. Bữa ăn ở tất cả các dân tộc trên thế gian này đều được coi là biểu hiện của hạnh phúc gia đình. Tổ tiên ta khám bệnh qua quan sát hành vi ăn là căn cứ vào tổng kết của dân gian, coi đó như là một chỉ số hằng định: nam thực như hổ, nữ thực như mưu. Tiêu chuẩn này không chỉ thể hiện cốt cách của giới người mà còn là một chỉ báo của cơ thể người ở trạng thái bình thường. Thực như hổ không có nghĩa là ăn nhanh không nhai kỹ. Bạn đã thấy hổ ăn chưa? Khi chưa nhai kỹ hổ chưa nuốt thì nó chưa ngoạm miếng thứ hai. Nhưng thái độ ăn dứt khoát tập trung và vần tỏ được khí phách của chúa sơn lâm khi dùng bữa. Tổ tiên ta luôn đòi hỏi người đàn ông làm trai cho đáng nên trai, nên ngay từ nết ăn cũng phải rất đàn ông. Người đàn ông nào khi ăn không toát ra cốt cách thực như hổ là có bệnh. Bệnh được phát hiện qua hành động ăn thường dễ thấy do rối loạn tiêu hoá cơ thể mệt mỏi ăn không ngon miệng nhưng có một loại bệnh kín mà chỉ qua khâu ăn là phát hiện được bệnh. Nếu người đàn ông nào khi ăn lại có biểu hiện thực như miu thì người đó có nguy cơ rối loạn hoóc môn và hoóc môn nữ tính trội hơn, đây là một chỉ báo của bệnh ái – ái nam ái nữ. Đối với phụ nữ cũng vậy nết ăn như miu không chỉ là sự ví von khiên cưỡng mà là sự quan sát thực tế rất nhiều đời. Con mèo dùng bữa rất ít và ăn chậm nhưng nó lại hay ăn vặt bằng cách săn bắt chuột. Có lẽ thói quen hay ăn quà vặt của người đàn bà hồi xưa mà cổ nhân chọn đó làm tiêu chuẩn sinh học hằng định qua hành vi ăn của phụ nữ. Con gái mà ăn nhanh, nhồm nhàm, ăn hùng hục là mất nữ tính, đó cũng là một chỉ báo rối loạn hoóc môn nam tính trội. Những người đàn bà này dễ mắc bệnh ái nam. Còn một chỉ báo bệnh chung cho cả hai loại người: “Ăn như rồng cuốn nói như rồng leo, làm như mèo mửa”. Đây là đích thị hội chứng của bệnh lười. Bệnh lười là một bệnh xã hội mãn tính. Thuốc chữa bệnh lười rất công hiệu là không cho ăn nữa, để: “Đói bụng đầu gối phải bò, no ăn ấm bụng chẳng dò đi đâu”. Ngôn y Dân gian tài tình thế đấy. Chuẩn của một bệnh xã hội mãn tính là bệnh lười mà đặt ba khâu quan trọng nhất thể hiện nhân cách: ăn, nói, làm liền nhau và đối nhau chan chát vừa mô tả đúng bệnh lại đồng thời cho văn học một hình tượng về một nhân cách chẳng ra gì đó là: lười. Thầy thuốc Dân gian phải khám bệnh qua quan sát bệnh nhân ăn mới thực sự nắm được cái gốc của bệnh tật. Quan sát bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS nhận thấy có một sự rối nhiễu của hệ thần kinh sinh dưỡng, đồng thời tác động đến cả hệ thần kinh dịch thể khiến cho khi có cảm giác đói nhưng khi ăn lại không ngon miệng, không tìm thấy niềm vui trong ăn uống. Đối với các bệnh nặng nhưng chưa phải là nan y thì chỉ qua khâu khám khi nhân hoạt là đã đủ cơ sở để luận trị bệnh. Đối với các bệnh nan y nan đoán như HIV/ AIDS chẳng hạn thì phải khám hai khâu nữa là khám bệnh khi “Nhân tình” và khám bệnh khi “Nhân tĩnh”. 4.3. Y thuật khám bệnh khi “Nhân tình”. Nhân tình là cách nói gọn chỉ con người ở trạng thái tỏ tình. Tình cảm của con người muôn vẻ nhưng được nhóm lại ở các trạng thái: khi con người tỏ tình yêu; khi con người tỏ tình buồn; khi con người tỏ tình vui và khi con người tỏ tình tức giận; khi con ngưòi khinh bỉ; khi con người suy nghĩ; khi con người lo lắng; khi con người sợ hãi; khi con người hốt hoảng. Các nhà Nho quen diễn đạt bằng quy nạp, gọi các trạng thái này là Tình cảm (Tình tứ) và Tình Chí (Chí tình). Tình Tứ, có 4 loại: ái (yêu), ố (ghét), hỉ (mừng), nộ (giận giữ). Tình chí có 5 loại: Ưu (lo lắng); Suy nghĩ (Tư duy); bi (buồn), Bỉ (khinh bỉ ); Khủng (hoảng hốt, khủng hoảng). Trung Y cũng có 7 loại tình chí là: Hỉ; Nộ; Bi; Ưu; Tư; Kinh; Khủng. Trung Y không đề cập đến tình yêu trong chữa bệnh. Ngược lại, Y Việt phát hiện nhiều bệnh nặng trong tình Yêu có thể gây chết người, đó là: Xi mê; Ghẻ lạnh; Ghen tuông; Đố kị; Hận; Thù. Sáu loại bệnh này được gọi gộp là bệnh “Tự ái”. Vì tự yêu mình quá mà sinh bệnh mù quáng, cần được chạy chữa bằng uống thuốc “Dưỡng Tâm”; “Định thần”, “Tĩnh trí”, kết hợp với các liệu pháp vật lí và tâm lí. Một thời, người ta đã chính trị hóa bệnh tự ái, với tên gọi là “Chủ nghĩa cá nhân - một thứ bệnh của Giai cấp bóc lột”. Cách chữa cũng dùng “Chính trị khan”, bằng giáo dục tư tưởng với lời kêu gọi nổi tiếng “Quét sạch Chủ nghĩa cá nhân!”, Bệnh không khỏi mà còn có nguy cơ truyền nhiễm như một loại dịch trầm kha! Y học dân tộc cổ truyền luận trị bệnh Tình qua các thủ thuật làm cho cá thể tỏ tình để bộc lộ toàn bộ thể trạng tinh thần kinh. Nhờ cách khám bệnh này y học dân gian đã nhìn được HIV thâm nhập vào người bệnh ở từng mức độ khác nhau chính xác hơn cả việc “chiếu điện” bằng các thiết bị tối tân. Khám bệnh khi nhân tình thầy lang cần có sự giúp sức của người thân bệnh nhân và thầy lang phải có một kịch bản: diễn viên của vở kịch này là những người thân của bênh nhân, còn bệnh nhân bị cuốn vào vai chính mà không biết nên diễn xuất rất thật với thực trạng bệnh tật của cơ thể và thầy lang quan sát ghi lại các diễn biến đó có lẽ còn chính xác hơn cả chụp điện cắt lớp. Các diễn viên phải diễn làm sao để bệnh nhân tỏ tình thực sự. Các trạng thái vui buồn tức giận rạo rực và súc động trong tỏ tình, là những biểu hiện sinh động của trạng thái cơ thể. Khi con người tỏ tình thì không chỉ hệ thần điều khiển hoạt động mà cả hệ thần kinh sinh dưỡng; hệ thần kinh dịch thể (Hoóc môn) đều bị cuốn vào những cuộc tình này. Bệnh nhân đang cười sặc sụa bỗng dừng lại tay ôm lấy tim. Đó là chỉ báo tim rất yếu. Bệnh nhân tức giận thở hổn hển mặt tái mét rồi chuyển sang đen xạm đó là chỉ báo phổi rất yếu không cung cấp đủ ô xy cho hồng cầu. Khám bệnh qua nhân tình đã soi sáng, giải thích giống như một sự giải mã những động tác ghi nhận được khi khám bênh qua nhân hoạt. Đối với người bệnh nhiễm HIV/ AIDS thì ba trạng thái tỏ tình, ái, ố, huỷ rất mờ nhạt: lạnh nhạt trong tình yêu; mù mờ trong nỗi buồn và cười không rõ nét. Còn yếu tố “nộ” thì lại quá mức bình thường. Hầu như tất cả sự tức giận của người nhiễm HIV đối với cuộc đời này đều trút vào cái sự kiện đang trực tiếp gây tức giận cho họ. Đây là một chỉ báo xã hội vô cùng quan trọng khi mọi người tiếp xúc với người nhiễm HIV. Con người này nếu bị kẻ xấu lợi dụng sẽ là những trái bom di động được nổ bằng sự khích động liều chết. Cách khám bệnh Tình hiệu quả nhất là Hoạt cảnh “Lên Đồng”. Y học cổ truyền nhờ đúc kết những quan sát thực tế nhiều đời đã sáng tạo ra cách khám bệnh vô cùng độc đáo hấp dẫn đó là Lên Đồng. Thầy Lang dân gian trong vai trò Cốt Đồng, áo quần có màu sắc rực rỡ múa lượn như bay trong làn điệu hát Chầu Văn có dàn nhạc đệm thánh thót giữa một không gian ánh đèn sáng lóa, khói hương nghi ngút thơm lừng đã đưa Con Bệnh vào tâm thế mê li, “không trong lượng” làm bộc lộ toàn bộ thực trạng sức khỏe. Cốt đồng quan sát và dẫn dụ khiến con bệnh ở trạng thái bị thôi miên, nhập đồng ! Đánh Đồng Thiếp là thế đó. Người bệnh khi nhập Đồng sẽ quay về thế giới huyền ảo và nói ra lời những suy nghĩ âm thầm tích chứa ở trong lòng chưa bao giờ nói ra lời. Thậm chí còn nói ra cả những lời trong quá trình sống thường tưởng tượng được nghe lời của người thân đã chết tâm sự với mình. Thầy Lang trong vai Cốt Đồng nhập vai tốt sẽ đạt mức “bốc đồng“ có cảm giác đã hòa nhập vào suy tư cùng “pha” với con bệnh, thu lượm được rất nhiều thông tin về diễn biến bệnh của Con bệnh. Người Việt Cổ đã biết dùng nghệ thuật múa kết hợp với nghệ thuật âm nhạc để chữa bệnh. Tổ tiên ta tài hoa xiết bao! Lợi dụng hiện tượng này những người lưu manh chuyên nghiệp ở thời nào cũng có đã dùng thuật lên đồng gọi hồn, lừa bịp người nhẹ dạ cả tin để vụ lợi. 4.4. Khám bệnh khi nhân tĩnh: Con người ở trạng thái tĩnh tại nhất là ngủ. Khi ngủ thực chất chỉ có hệ thần kinh điều khiển nghỉ ngơi thôi, còn 80.000 tỷ tế bào vẫn hoạt động theo Chương trình chuyển hóa. Chương trình chuyển hóa đó đã dược lập trình cho mỗi tế bào và chịu sự điều hành của Hệ thần kinh Sinh Dưỡng có sự phối hợp với Hệ thần kinh dịch thể, để cơ thể ngay trong khi ngủ vẫn thích nghi được với môi trường sống ngoài cơ thể. Bằng kĩ thuật “Nguyên tử được đánh dấu” khoa học hiện đại đã nhìn thấy: cứ sau 180 ngày có tới 50% phân tử Protein ở tế bào người được đổi mới hoàn toàn; cứ qua 60 ngày có 23.000 tế bào Hồng cầu được thay mới; Ở Gan sự đổi mới Protein toàn diện hơn, nhanh hơn: chỉ có 18 ngày. Cứ sau 24 giờ 5.000 tỷ tế bào trong cơ thể được “miễn nhiệm” và cũng có từng đó tế bào mới “kế nhiệm”! Sự đổi mới trong cơ thể người diễn ra liên tục, nhưng phần lớn thời điểm diễn ra Hoạt cảnh “từ chức và kế nhiệm“ là khi ta ngủ. Hệ thần kinh sinh dưỡng có hai hệ là hệ giao cảm và đối giao cảm đối lập nhau và tác động vào nhau tự động hoạt động để điều hoà hoạt động của các cơ quan nội quan không cần tác động của ý thức con người. Chính vì lẽ đó việc thay cũ và đổi mới trong cơ thể rất “khách quan”, không bị nạn “ô dù, bề cánh” khuynh đảo. Nếu sự chuyển hóa không “thông Đồng, Bến dọt”, một bộ phận nào đó của cơ thể không chịu đổi mới, cố giữ lại những tế bào đã “hết hạn sử dung”, lập tức “Chương trình đổi mới bị ùn tắc“, bệnh tật đều phát sinh từ sự trì trệ này mà ra. Toàn cơ thể khi đó lâm vào tình trạng suy nhược; nếu không chạy chữa sẽ tuần tiến đến suy kiệt, dẫn tới ngừng chuyển hóa, tức là Chết! Điều kì thú là không phải tất cả các loại tế bào đều bị thay thế, có nhiều loại tế bào được lựa chọn không bao giờ bị thay đổi, Sinh - Y gọi là tế bào đó đã biệt hóa, tức không phân chia ngay từ khi hình thành ở trong phôi, bền vững suốt đời, như các tế bào thần kinh (nơron), Có những loại tế bào, phát triển đến ngưỡng cơ thể đã trưởng thành thì ngừng phân chia và đi vào biệt hóa, như: các tế bào cấu tạo nên quả tim; phổi; xương; gan; các tế bào xương đã được cốt hóa. Tuy không bị thay thế về chức vị (cấu hình hệ thống), nhưng Protein cấu tạo nên tế bào đó vẫn luôn được đổi mới, tức là nó vẫn phải có sức trẻ. Gan là một ví dụ điển hình: Các tế bào Gan đã được biệt hóa, tức là không phân chia nữa, nhưng tốc độ đổi mới Protein ở Gan rất cao. Quan sát chuyển hóa tự nhiên ở cơ thể người cho ta một mô hình tuyệt vời về nghệ thuật tổ chức bộ máy và việc sử dụng “cán bộ” đan xen giữa cán bộ Già và Trẻ bảo đảm tính kế thừa vững chắc và cách tân liên tục của sự sống. Phải chăng sự hiện diện của cơ thể sống là một mách bảo, một mẫu hình giúp loài người tổ chức xã hội đúng đắn nhất? Nếu con người không nhận ra sự mách bảo đó, tự cho mình giỏi hơn tự nhiên, tổ chức bộ máy quản lí xã hội khác đi, lập tức bị trừng phạt. Sự trừng phạt đó chính là khủng hoảng xã hội và mẫu hình tổ chức bộ máy quản lí xã hội trái với tự nhiên đó dù có duy trì hàng trăm năm vẫn bị tan rã. Phải chăng căn bệnh không chấp nhận đổi mới là do không hiểu lẽ đời đã dẫn tới thảm họa suy vong của những dân tộc đã có thời chói sáng trong lịch sử Nhân loại? Đây không phải là câu hỏi lạc đề của một lang thuốc đang bàn về y thuật cổ truyền trong khám bệnh. Bởi lẽ, cả nhà Chính khách và thầy Lang đều có bổn phận chạy chữa các căn bệnh không chỉ ở con người sinh học mà cả con người xã hội đều mắc phải. Cả Ngài Chính Khách và Thầy Lang đều có thể tìm thấy lẽ đời đang tích chứa trong Sinh - Y học. Bằng trải nghiệm thực tế sống nhiều nghìn năm, tổ tiên người Việt đã nhận ra cái mà các cụ gọi là “Thiên Cơ”, dân gian gọi là lẽ đời đó đã ẩn chứa trong cơ thể người mà hình thành nên cách khám bệnh khi nhân tĩnh chăng? Dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, khám bệnh khi nhân tĩnh chính là tầm soát quá trình chuyển hóa vật chất trong cơ thể sống. Ý thức của con người là một trở ngại rất lớn cho các thầy thuốc khám bệnh; đặc biệt rất khó với thầy lang dân gian. Khám bệnh trong khi bệnh nhân thức, ý chí của con người hoạt động. Vì một lý do nào đó, người bệnh không trả lời đúng thực tế tình trạng sức khoẻ cho thầy thuốc biết, mà còn gây rối cho thầy thuốc. Khi thầy thuốc lấy tay ấn mạnh vào một huyệt đạo nào đó để thăm bệnh, gây đau nhưng bệnh nhân lại nói không đau. Khi mới chỉ đưa tay lướt nhẹ trên da lại kêu toáng lên là rất đau. Thầy lang dân gian khi phải khám bệnh cho người bệnh là trí thức, đặc biệt khó hơn khi vị trí thức bệnh nhân đó lại là chuyên gia của y học bác học. “Cái bẫy” của các vị bệnh nhân này giăng ra là để kiểm chứng năng lực thực sự của thầy lang dân gian. Nếu chỉ khám bệnh cho đối tượng này theo y thuật của y học bác học thì lang ta cầm chắc là đo ván. Nhưng khi tiến hành khám bệnh đồng bộ: Nhân hoạt, nhân tình, nhân tĩnh thì các bẫy kia dù tinh sảo đến mấy cũng bị hoá giải. Công cụ để lang thuốc dân gian hoá giải được các bẫy do đồng nghiệp gây ra lại chính là đôi mắt. Mắt là cái nhìn trực diện của não bộ. Khi đồng tử mở rộng là chụp hình, khi đồng tử thu hẹp là thu hình. Nếu nói đúng những điều người nghe chờ đợi thì đồng tử thu hẹp, nếu nói không đúng những diều người nghe mong đợi thì đồng tử mở rộng hơn (Dân gian gọi là trố mắt ra). Tất nhiên không thể lúc nào cũng nhìn thấy nhịp đóng mở của ống kính mắt mà có một cơ mắt chỉ báo hiện tượng này đó là cơ chân lông mày. Lông mày giãn ra là đồng tử mở rộng. Lông mày nhíu lại là đồng tử thu hẹp. Đây cũng là nguyên lý cơ bản để thực hiện thuật dẫn trí. Thuật dẫn trí rất phức tạp nhiêu khê nhưng cơ bản là làm sao cho người bị dẫn trí có cơ chế đóng mở đồng tử khớp theo nhịp đóng mở của người dẫn trí. Dẫn trí đến đỉnh cao là người dẫn trí nghĩ gì, muốn làm gì thì người bị dẫn trí cũng có suy nghĩ tương tự như thế và hành động theo người dẫn trí. Tuy nhiên dẫn trí chỉ có tác dụng khi người bị dẫn trí suy nhược hệ thần kinh điều khiển. Thuật dẫn trí nhằm mục đích giúp người bệnh không hoảng hốt, cô đơn trong chữa bệnh. Thuật dẫn trí được y học dân gian sử dụng để chữa trị cho người mắc bệnh tâm thần và chỉ có tác dụng khi hệ thần kinh điều khiển của người đó bị tê liệt. Khi hệ thần kinh điều khiển được hồi phục thì thuật dẫn trí vô nghiệm. Khi con người ngủ, hệ thần kinh điều khiển cùng các công cụ nghe nhìn, ngửi (Ngũ quan) ngủ, hệ thần kinh sinh dưỡng tự nó điều khiển cơ thể sống, thầy thuốc dân gian nhờ kinh nghiệm gia truyền gần như nhìn thấy toàn bộ nội quan hoạt động. Chỉ cần nghe hơi thở là biết tất cả các cơ quan có hoạt động nhịp nhàng hay đang vướng rối ở nơi nào. Qua hơi thở thầy thuốc thấy như “Máu reo” trong cơ thể. Nếu cơ thể không bị nhiễm trùng, hệ bạch mạch thông suốt máu reo như tiếng gió ở trời thu. Nếu cơ thể nhiễm trùng thì không nghe thấy tiếng reo nhẹ nhàng mơ hồ đó mà như thấy có sỏi sạn đang lộn sộn ở mạch huyết. Động tác cuối cùng để hội chẩn y thuật khám bệnh khi nhân tình là kiểm mộng. Bệnh nhân ngủ dậy ngồi chơi nói chuyện với thầy lang. Thầy lang từ từ hỏi bệnh nhân những giấc mộng thường gặp trong khi ngủ mười ngày gần đó. Người nhiễm HIV giai đoạn đầu thường kể lại rất rõ những giấc mộng trong mười ngày qua. Nếu đúng nhiễm HIV thật thì các giấc mộng gần như lặp lại, tuy không giống y nhau nhưng cốt chuyện giống nhau: như gặp người thân từ thời thơ ấu. Thậm chí còn gặp cả những người thân đã chết khi người bệnh chưa ra đời mà chỉ nghe bố mẹ kể lại, hoặc bị kiến đậu khắp người nhưng không cắn... Những người bị nhiễm HIV/ AIDS giai đoạn cuối cứ đặt mình ngủ là thấy ác mộng, hình ảnh thường gặp giống như những con ma trong phim ma của nước ngoài. Họ sợ hãi đến mức không dám ngủ, đó chính là nhân tố thúc đẩy bệnh trầm trọng thêm. Dựa trên cơ sở nào mà cổ nhân dùng y thuất định mộng để luận trị bệnh? Qua nghiên cứu, bí mật của giấc mộng có thể tóm lược như sau: Hệ thần kinh sinh dưỡng không phải là yếu tố duy nhất, bảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nội tạng. Các hoóc môn, sản phẩm của tuyến nội tiết cùng tham gia vào công việc này. Cũng cần nói rõ rằng việc điều tiết các hoóc môn phần nhiều là sự điều phối của hệ thần kinh sinh dưỡng, nhưng hệ thần kinh sinh dưỡng cũng lại chịu sự tác động trở lại (Feed back) của các hoóc môn tới một tuyến ở tận “Trung ương” đó là tuyến yên nhỏ bằng hạt đậu trắng nằm ở nền sọ, có liên quan đến vùng dưới đồi thuộc não trung gian. Hoóc môn tiết ra từ tuyến yên kích thích các tuyến khác tiết hoóc môn để kìm chế hoạt động thái quá ở một bộ phận nào đó của cơ thể. Tuyến yên nhận từ các hoóc môn những tin hoá học ở các tế bào trong cơ thể gửi về (Hoóc môn là một chất đưa tin) để kích thích tuyến yên phát ra các tín hiệu đến các tuyến ngoại vi. (Hệ thống thần kinh – hoóc môn này đã là chủ đề của nhiều công trình nghiên cứu trong những thập niên cuối thế kỷ 20). Hệ thống này liên tục cung cấp thông tin cho tuyến yên nằm trong não bộ kể cả lúc con người ngủ. Các thông tin hoá học từ các tế bào gửi về tuyến yên kết hợp với những thông tin khác não thu được qua máu lưu thông từ các dịch bào trung gian (Cytokiens - từ các tế bào tiết ra, từ gan...). Tất cả các thông tin mà não mới thu được trong giấc ngủ, kết hợp với các thông tin trong các bộ nhớ đã tạo ra đời sống thứ hai (đời sống ảo) cho người khi ngủ – đó là giấc mơ. Cho đến nay, giấc mơ vẫn còn là bí ẩn vì có rất nhiều chủ thuyết nhưng chưa được các nhà bác học đồng thuận. Qua kinh ngiệm khám chữa bệnh bằng y thuật định mộng và kiểm định ở chính bản thân cho rằng: Cơ chế đưa tin của tuyến hoóc môn và dịch bào trung gian chính là chất kích thích làm các kỷ niệm trong bộ nhớ của não chuyển động. Người khoẻ mạnh có sức đề kháng lấn át sức công phá của vi trùng, các thông tin trong cơ thể thuần tính người nên có mộng đẹp. Cơ thể nhiễm trùng độc hại có ác mộng vì bản thân ký sinh trùng (run, sán, vi khuẩn, vi rút) cũng là chất đưa tin. Phải chăng những ảnh ảo quái dị trong ác mộng chính là thông tin do ký sinh trùng phát ra để làm nhiễu mạch tin trong cơ thể người? Phải chăng những thông tin đó là phiên bản do chúng gửi tới não bộ người? Y học dân gian coi ác mộng là một chỉ báo, rõ nhất về cơ thể bị nhiễm Tà Trùng độc hại. Sau y thuật định mộng, quy trình khám bệnh của y học dân gian kết thúc vì đã có thể đọc được bệnh ở cơ thể người mắc bệnh. Còn nữa... Nguồn: vietycotruyen.com
  2. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 3 1/9/2012 11:49:06 AM II. Những công cụ của Y học Dân gian sử dụng để luận trị bệnh: 1. Lang Đạo (Đạo lý của Thầy Lang): Xác định vị thế của Thầy Lang đối với người mắc bệnh. Các Vua Hùng gọi các con trai của mình là Lang, tương tự như Vua các nước khác gọi con trai là Hoàng Tử. Bản thân các ông Vua ở thời Hùng Vương đều mang tên “húy” là Lang. Vị vua là Trưởng Nam của Lạc Long Quân và Âu Cơ ở triều đại thứ ba Thời Hùng Vương, có tên Vua là Hùng Quốc Vương, tên húy là (3) Lân Lang. Các triều đại tiếp theo Thời Hùng Vương đều có tên Vua và tên húy là (4) Bảo Lang; (5) Viên Lang; (6) Pháp Hải Lang; (7) Lang Tiên Lang; (8) Thừa Vân Lang; (9) Quốc Lang; (10) Hùng Hải Lang; (11) Hưng Đức Lang; (12) Đức Hiền Lang; (13) Tuấn Lang; (14) Châu Nhân Lang; (15) Cảnh Chiêu Lang; (16) Đức Quân Lang; (17) Bảo Quang Lang. Triều đại thứ 18, cũng là triều đại cuối cùng của thời Hùng Vương là Hùng Duệ Vương có tên húy là Huệ Lang. Xã hội Việt Cổ của Nhà nước Văn Lang rất kính trọng thầy thuốc, coi họ như sự hiện diện gần gũi của Đức Vua. Thầy thuốc được coi là Người Tài. Để tôn vinh, xã hội người Việt Cổ đã gọi người hành nghề Y - Dược là Lang Thuốc. Khi được xã hội tôn vinh là Lang, bản thân người làm thuốc cũng nhận thấy đây là một cơ hội cần tận dụng để tạo thuận lợi trong hành nghề, nên cũng tự nhận là Lang. Nhờ có vị thế xã hội là Lang, thầy thuốc mới giám mở miệng gọi người bị bệnh là “Con Bệnh”, không phải để vênh váo hợm hĩnh mà là tạo ra một không gian thuần kiết, linh thiêng cao cả “vô trùng”; ở đó chỉ có mối quan hệ y tế tinh khiết, không bị bụi trần làm cho ô nhiễm giữa người bị bệnh với người chữa bệnh. Khi gọi đối tượng mà mình phục vụ là “Con Bệnh”, người chữa bệnh đã tự giác đưa mình vào vị thế cao cả, tự dập tắt được các dục vọng thấp hèn, (Lang mà hành sử hèn hạ sao?). Tự đặt mình vào vị thế cao cả, Lang Thuốc sẽ thanh thản cho qua những ngang trái đời thường mà vì nhiều nhẽ người bệnh và người nhà của họ vô ý hoặc cố ý đối sử bất công, bất nghĩa với Lang. Thanh thản là yêu cầu buộc phải có khi bắt tay vào khám bệnh và chữa bệnh. Các Thầy Lang có Thuốc hay đều là những người có tư chất thanh thản trước mọi cám dỗ, nhưng lòng dào dạt yêu thương “Con Bệnh”. Người bị bệnh thuộc rất nhiều thành phần xã hội: Từ Đức Vua quyền uy tối thượng, quý tộc, quan lại, thương gia quyền quý giàu sang cho tới kẻ lưu manh cặn bã của xã hội; khi được gọi là “Con bệnh” thì người thầy thuốc coi họ như nhau. Tạo được tâm thế đó, thầy thuốc sẽ rất tự do, thông sáng trong chữa trị bệnh. Đây chính là nét văn hóa Y tế rất đặc sắc của người Việt. Vấn đề này rất lớn, nhưng lâu nay không thấy nói đến trong y học cổ truyền. Trên đường học hỏi vốn cổ của dân tộc, tôi đã cảm nhận được. Nói ra điều này cũng “run” lắm; bởi vì, xin mượn lời của một nhà thơ thời “Tiền chiến”: “Đường về xưa cũ xa xôi lắm/ Mà kẻ đi về có một tôi”. 2. Những chuẩn mực ứng dụng trong khám chữa bệnh Gọi người mắc bệnh là Con Bệnh mặc nhiên ghi nhận đối tượng không còn là người bình thường. Tiên đề này soi dọi toàn bộ quá trình khám bệnh, nghĩa là luôn lấy tiêu chuẩn của người bình thường để đối chiếu với thể trạng của con bệnh. Tiêu chuẩn sức khỏe của người bình thường được Y học dân gian ghi nhận qua 4 chỉ tiêu tổng hợp: Tính, Khí; Tình; Thần. Ông nội dặn bố tôi rằng: “Anh Cả hỏi thầy làm thế nào để nhìn thấy Kinh Lạc ư? Con hãy bơi và ngụp lặn thật sâu vào “Tứ Hải” đó sẽ nhìn thấy Kinh Lạc!“. Tính - Khí - Tinh - Thần ở một con người có khởi nguồn từ nguyên khí của Tổ tông nòi giống qua cha mẹ truyền cho (tiếp nhận di truyền) và là kết tinh của lịch sử phát triển tự thân của cá thể. Tính - Khí - Tinh - Thần không hiện diện như một vật chất cụ thể mà là sự toát ra qua sắc thái, hành vi của con người. Nó có cốt vật chất là sự chuyển hóa suốt quá trình trao đổi chất trong cơ thể để thích nghi với môi trường sống. Môi trường sống của Loài Người theo quan điểm của Y học Dân gian nước Việt luôn có hai tầng: Tầng nền tảng và Tầng biểu hiện. Tầng nền tảng là cốt vật chất được tạo thành từ các chất vô cơ kết hợp với các chất hữu cơ theo một quan hệ tương thích (công thức hóa học) đã nạp đủ năng lượng, hiện diện hữu hình với tên gọi CHẤT và TRƯÒNG, tuân theo chương trình thông tin SIÊU HÌNH đã được mã hóa nén vào một hợp chất hữu cơ được Thầy tu Grêgo Mendel (1822 - 1884), người Tiệp Khắc, tác giả của Học thuyết di truyền gọi là Gen. Tầng nền tảng tồn tại trong chuyển hóa theo quy luật cạnh tranh bằng chọn lọc tự nhiên để sinh tồn, mà đồng hóa và dị hóa là một trong những biểu hiện cụ thể. Tầng biểu hiện là các mối quan hệ xã hội luôn vận động theo quy luật đang còn tranh cãi (đấu tranh giai cấp tiến tới xóa bỏ giai cấp hay đấu tranh giai cấp để điều hòa lợi ích giai cấp, tiến tới một xã hội hài hòa lợi ích?). Qua thực tế chữa bệnh nhận thấy: Phần lớn bệnh tật nan y của con người phát sinh có nguồn gốc từ tầng biểu hiện của môi trường sống – tức là do mối quan hệ xã hội căng thẳng mà sinh bệnh. Nhân loại đang đứng trước hiểm họa sốc phản vệ vô căn – Tiếng Tây viết là “Stress” rất khó chữa vì khó truy tìm nguồn gốc bệnh sinh. Nếu chỉ tầm soát tìm nguồn gây bệnh ở từng lĩnh vực đơn lẻ, như tâm thần học; sinh lý học; xã hội học… thì không đọc đúng bệnh mà phải là tất cả các lĩnh vực khoa học hiện hữu của một nền văn hóa. Tính - Khí - Tình - Thần của y học dân gian Việt, không giống “Tam Bảo” của Trung Y là Tinh, Khí, Thần. Bốn mặt của sự sống (Tứ diện hiện sinh) của y học Việt cổ được hiểu như sau: 2.1. Tính là sự biểu hiện hành vi riêng có của cá thể đối tượng cộng đồng, thông qua cái gọi là tính nết, tích cách, như: Hoạt bát, nhanh nhẹn, năng động; đối lập với tính cách ù lì, chậm chạp, thụ động; nóng nảy, hấp tấp, nông cạn, lào phào (phổi bò) đối lập với: mềm mỏng, thận trọng, sâu sắc, thâm trầm. Có một thời tích cách được xem như là sản phẩm của “Nhân tạo” nhờ giáo dục mà có. Nhưng đứng trước các hiện tượng những cá thể có tài năng vượt trội, hơn hẳn những người cùng được đào tạo theo một chương trình, một nội dung giáo dục như nhau; thậm chí, có những tài năng thực sự lại chưa hề được hưởng một nền giáo dục chính quy, nhưng lại làm được những việc mà người đã được đào tạo chính quy để làm công việc đó không làm được, người ta chưa giải thích được. Thế rồi, đối diện với những cá thể tội phạm có trình độ văn hóa cao, sinh trưởng trong một môi trường sạch sẽ và cao sang lại độc ác hơn cả dã thú. Bọn này lại được đưa vào các cơ sở giáo dưỡng lí tưởng, tỏ ra ăn năn hối lỗi được thả ra, lập tức lại gây án. Hiện tượng này khá phổ biến ở tất cả các quốc gia, thường chiếm tỷ lệ tới 40% số người phạm tội được ra tù. Người ta đã cố công giải thích như: Công tác cải huấn chưa tốt? Không đúng! 60% số người phạm tội hoàn lương thực sự, có người sau khi ra tù còn tốt hơn cả những người chưa bị đi tù lần nào đã bác bỏ cách quy kết này. Còn một cách giải thích nữa là do di truyền? Cũng không đúng! Có tới 90% con của các nhà bác học lại không có tài năng xuất chúng, thậm chí còn đần độn. Ngược lại, có những tài năng kiệt xuất mà từ ông bà cho đến cha mẹ đều là người bình thường. Hầu hết những kẻ ác khét tiếng đều có cha mẹ là người lương thiện. Gần đây một số nhà nghiên cứu về nguồn gốc sự sống của Loài Người đưa ra nhận định: "Giữa học và thông minh hoàn toàn khác nhau. Học mà giỏi là Nhân tài, còn thông minh là Thiên tài". Vậy, hiện tượng kẻ ác thì lí giải ra sao; gọi tên nó là Thiên tội sao? Theo thiển ý của tôi cả hai hiện tượng “xuất chúng” nói trên đều là sản phẩm của “đột biến Gen”, cơ chế đột biến Gen mọi người đã biết rồi. Đột biến Gen tạo ra con người có tài năng xuất chúng (NGƯỜI HIỀN) là đột biến của sự phát triển, đã có tên gọi của nó, đó là “sự thăng hoa”. Đột biến Gen biến con người trở về dã thú (KẺ ÁC) là đột biến phản phát triển; nó cũng đã có tên gọi, đó là: sự thoái hóa biến chất. Đây là một loại bệnh ở Gen rất khó chữa. Đã là hiện tượng đột biến Gen thì không phải ai cũng được hoặc bị đột biến mà là Giời cho ai thì người đó được bắt tội ai thì người đó chịu. Xin hiểu cho, Giời ở đây là giới TỰ NHIÊN, chứ không phải là Ngọc Hoàng Thượng Đế trong truyện Thần thoại. Người Việt Cổ làm triết học bằng những lời lẽ bình dân. Lí giải hiện tượng này Tổ tiên ta nói: "Cha mẹ sinh con, Giời sinh tính". Người Trung Hoa cổ cũng có nhận xét tương tự, được nhà Nho Hán - Việt diễn đạt: “Giang sơn dễ đổi, tính cách khó thay”. Hình như chưa đồng tình lắm với nhận định này nên các nhà Nho Việt chơi chữ “KHÓ THAY”: vừa là động từ lại có thể hiểu là một thán từ nghi vấn, khiến cho câu nói trên vừa là câu khẳng định vừa là câu cảm thán. Y học dân gian coi tính cách như một chỉ báo sinh học hằng định của riêng một cá thể. Không chỉ Thầy Lang mà dân gian cũng căn cứ vào tính cách cá thể để đoán bệnh cho người thân. Thầy Lang thường được nghe người thân của Con Bệnh nói: “Cháu nó thường ngày rất hoạt bát, nhanh nhẹn lắm; không hiểu sao hồi này nó ủ rũ, hỏi không buồn nói, gọi chẳng thưa, chúng tôi lo quá, xin Thầy xem cho, cháu bị bệnh gì?”. 2. 2. Khí: Khái niệm “Khí” của Y học Dân gian khác hẳn với lọai Khí đang được giải thích là Trường – một dạng tồn tại siêu hình của vật chất, tuy không nhìn thấy nhưng có thể đo đếm được Khí của Y học Dân gian giống với khái niệm “Khí” mà Phan Châu Trinh đã dùng ("trấn Dân khí"); nó (Khí) là biểu hiện bản lĩnh của cá thể trước sự tác động của ngoại cảnh. Có thể hiếu khái niệm “Khí” ở đây là toàn bộ phong cách ứng xử, thường được gọi là “đối Nhân xử Thế” của một con người. Một người lúc khỏe mạnh có tính cách nhút nhát e thẹn, khiêm tốn, lễ phép với mọi người; khi lâm bệnh thì cái nhút nhát đó biến mất không còn biết e thẹn nữa, trở nên trơ lỳ. Một người khi khỏe mạnh vốn dĩ là người có phong cách ứng xử linh hoạt tinh khôn, dũng cảm; khi bị mắc bệnh thì cái “Khí phách” đó đã bị nhạt nhòa. Người mắc bệnh dù rất nặng nhưng khí phách vẫn còn là còn cơ hội để cứu sống. Dân gian gọi cái khái niệm “Khí” đó là “Hồn người”. 2.3. Khái niệm “Tình”. Chữ Tình trong y học Dân tộc Việt được hiểu như một trạng từ liên hệ, có nghĩa nguyên gốc là trạng thái cảm xúc tâm lý thể hiện nhu cầu sinh lý nhưng lại mang vỏ bọc tâm lý. “Tình” trong hành động thực tiễn lại nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm lý bằng hành vi sinh lý. Do đó, nhu cầu tỏ tình được xem như một biểu hiện sống căn bản nhất của con người. Trong sinh hoạt xã hội ta thường nói đến hai chữ “Tình cảm”, ít ai để ý là mình đang sử dụng cặp phạm trù triết học: Tình và Cảm để diễn đạt mối quan hệ phức tạp của sự tác động qua lại của “Cái sinh lý” với “Cái tâm lý” chỉ có ở động vật cao cấp. "Cái Cảm" là căn cứ, là nguyên nhân làm nên cái “cái Tình”. Lộ trình của diễn biến này là: khởi đầu là “cảm nhận”; “cảm nhận" đã chín muồi được chuyển đến ngưỡng “Cảm xúc”. Khi cái "Cảm xúc" tiếp tục được cái "Cảm nhận” liên tục bổ xung theo hướng quỹ tích để cái “Cảm xúc” nén nhiều thông tin tới mức nhảy vọt đến “cái Xúc động”, “cái Tình“ khi đó mới hiện ra. Từ “cái Tình” ở trình độ sơ cấp đó lại vẫn tiếp tục được cái Xúc động duy trì, dẫn tới ngưỡng “tỏ Tình”. Đến đây mới kết thúc sự vận động của cái ta vẫn nói “Cảm tình” ở chu kỳ thứ nhất. Chu kỳ tiếp theo lại có xuất phát từ “cái Tình” đã tụ ở chu kỳ một để “Cảm nhận” ở trình độ cao hơn đưa tới cảm xúc mãnh liệt hơn và tất yếu “Xúc động” lớn hơn. Nếu diễn biến nói trên xảy ra ở quan hệ Nam Nữ, thì “cái Xúc động” lớn hơn đó gọi là Yêu. Yêu cũng có nhiều cấp độ: khởi đầu gọi là “phải lòng”, nếu phát triển thì thành “Nhân ngãi”, phát triển nữa thành Vợ thành Chồng. Người xưa, thấy ai đó khi chưa thành Vợ thành Chồng mà đã hiến thân cho nhau được gọi một cách xem thường là đôi giai gái đó đã “già nhân ngãi, non vợ chồng, rồi, bởi chúng đã “Ăn nằm với nhau rồi còn gì nữa đâu, mà cao giá!”. Ai đó chỉ giả vở yêu để chiếm đoạt thân xác, hoặc kiếm tiền, thỏa mãn rồi là bỏ, không đi hết đường tình để đến hôn nhân; nếu là đàn ông được gọi tên là Sở Khanh (Kẻ ăn cắp tình của nàng Kiều); nếu là đàn bà chịu án phạt nặng hơn, bị rủa là “Con đĩ". Người Việt xưa, đã phát hiện thấy tính trội của người đàn ông trong nhu cầu tình dục; cuộc đời tình dục của đàn ông dài hơn đàn bà rất nhiều năm. Nếu hai vợ chồng bằng tuổi nhau khi về già, gia cảnh dễ bị người chồng giở chứng: “Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” nữa, nên cho phép “Tài trai có hai, ba vợ”. (Trai, phải có tài mới có khả năng lấy nhiều vợ, chứ không phải bất kỳ người đàn ông nào cũng lấy được nhiều vợ đâu). Nhưng để ổn định trong quan hệ xã hội, giữ vững Gia Đình là nền móng của xã hội, lại đòi hỏi người đàn bà: “Gái chính chuyên chỉ có một chồng”. Người đàn bà Việt xưa không coi đó là sự hy sinh là thiệt thòi mà là thiên chức là vinh dự của người Mệ Cả của “Đại gia đình” đã tự giác chấp nhận, “Luật Hôn nhân“ đó, nên có người vì sợ chồng đi chơi “Nhà Thổ”, đã cưới vợ lẽ cho chồng, thậm chí còn dụ em gái của mình làm lẽ để giữ chồng cho chị. Nhiều thằng cha láu cá, lợi dụng sự rộng lượng của vợ để thực hiện kế sách: “Mía ngọt đánh cả cụm!" Nhiều ngưòi có thân phận vợ lẽ đã được xã hội Việt tôn vinh như: “Nàng Ba Châu Long”; “Nguyễn phi Ỷ Lan”; “Vợ Ba Đề Thám”. Rất nhiều vị Danh nhân văn hóa đã tỏ lòng biết ơn đối các bà mẹ trong gia đình. Có người tỏ lòng biết ơn Mẹ Cả đã chăm bẵm cho mình thành tài mặc dù vị đó là con của Vợ lẽ của bố; có vị là con Mẹ Cả, nhưng người chăm bẵm để họ thành tài lại là vợ thứ của bố. Biểu hiện tình người như thế này không phải là văn hóa sao? Tiếp thu văn hóa Châu Âu, xã hội ta hiện nay lên án hành vi này và kiên quyết giữ vững quan điểm “một vợ một chồng". Kết quả như thế nào chắc mọi người đã rõ. Cần nói thêm rằng: văn hóa Châu Âu trên danh nghĩa “một vợ một chồng”, nhưng không cấm người sống độc thân làm tình với rất nhiều người. Thực chất, người theo chủ nghĩa độc thân đó lại có rất nhiều vợ và rất nhiều chồng. Có những người đàn bà có rất nhiều con nhưng chưa hề lấy chồng. Ngoại tình là trở thành một biểu hiện “văn hóa” Âu - Mỹ. Trên danh nghĩa người Âu – Mỹ lên án ngoại tình, nhưng thực tế người lên án đĩnh đạc nhất lại là kẻ “ngoại tình thành Thần”. Những tác phẩm nghệ thuật mô tả các cuộc tình vụng trộm ly kỳ được nhiều người đọc nhất, mặc dù các tác phẩm đó không nhận được các giải thưởng nghệ thuật. Hiện tượng đó nói lên điều gì? Phải chăng loài người đang thích chơi trò chơi đạo đức giả trong lĩnh vực tình yêu; cái lĩnh vực tâm thần mà chính Lê Nin trong một buổi tối đang ngắm sao trời, Người đã thốt lên: “Tình yêu là điều kỳ diệu nhất của con người!" Khi Tình chuyển sang một cung bậc mới cao cả hơn, được gọi là “Tình nghĩa Vợ Chồng”. Nếu khi yêu chỉ là cho, khi đã là Tình nghĩa Vợ Chồng thì cho luôn gắn liền với nhận. Đôi lứa nào không ý thức được điều căn bản này, cứ vô tư nhận mà không cho thì đôi lứa đó sẽ tan vỡ. Nếu diễn biến tình cảm nói trên xảy ra ở các lĩnh vực khác, như học thuật, võ thuật, thể thao và các nghề nghiệp thực dụng khác thì trạng thái tình cảm “khâm phục, “hâm mộ” sẽ hiện ra. Đối tượng được Yêu, được Kính phục lại dùng thủ đoạn gian trá để mê hoặc, quyến rũ, khi người bị mê hoặc nhận ra thủ đoạn gian trá đó thì toàn bộ niềm tin sập đổ. Sự ngưỡng vọng cao cả bao nhiêu thì sự thất vọng sẽ sụp đổ ê chề, nghiền nát “Thần Tượng“. Những kẻ giả trá leo cao thường bị ngã đau là như vậy. Sự mô tả như trên tuy còn rất thô sơ, cũng có thể được coi đó là “Quy luật Tình cảm của Con Người” theo quan niệm Y học Dân gian. Y học Dân gian không có thói quen lập ngôn, “dựng Học thuyết” mà chỉ lặng lẽ thực hành tản mát ở từng Nhà, nên người đời gần như không biết tới có nền Y học thuần Việt hàng ngàn đời nay (không ít hơn 4000 năm). Hiểu rõ “Quy luật của tình cảm Người” như vậy nên Y học dân gian chữa các bệnh về tâm thần (Trầm cảm, Điên) rất hiệu nghiệm. Vi rút HIV là con vi trùng do cấu trúc vỏ của nó rất dễ bị các tế bào thân kinh hút phải. Lang thuốc muốn chữa trị hội chứng HIV/ AIDS buộc phải có kiến thức “quê mùa” này. Dùng những biểu hiện “Tình” ở người khỏe mạnh làm chuẩn đo trạng thái tâm thần kinh của người bệnh là một “bí phương” của Gia Bảo nhà tôi. Cách diễn đạt còn quê mùa chắc chỉ gây cười cho các bậc Khoa Bảng, nhưng tôi chỉ “Sờ thấy đầu gối mới dám nói chân của mình là thật”. Dù có bị các vị Khoa Bảng cười chê đành phải chịu thôi. Khi một con người không còn nhu cầu tỏ tình, không còn khả năng thực hiện những cuộc tình mang tính người thì sự tồn tại đó giống như một cỗ máy sinh học thua kém cả các loài cầm thú. Trung y coi Tinh, Khí, Thần là 3 thứ quý nhất (Tam Bảo) của sự sống. Nhưng khi xác định nguyên nhân gây bệnh trong cơ thể (Nội nhân) lại nêu ra 7 loại tình chí: Hỉ (vui mừng) thuộc tạng Tâm (tim); Nộ (giận dữ) thuộc Gan; Bi (buồn phiền) thuộc tạng phổi; Ưu (lo lắng) thuộc tạng tỳ (dạ dày); Tư (suy nghĩ) cũng thuộc dạ dày. Có lẽ căn cứ vào lý luận này của Trung y mà người đời nói là “nghĩ bụng” chăng? (Ngày nay nếu nghe nói: ”Con người tư duy bằng dạ dày“ thì đến con trẻ cũng cho là điên); Kinh (sợ sệt) thuộc tạng Thận; Khủng (hốt hoảng) cũng thuộc tạng Thận. Trung y cổ truyền cho rằng 7 loại tình chí này thuộc về hoạt động tinh thần. Như vậy là Trung y cổ truyền cũng nhận ra hiện tượng “Tình” có quan hệ đến bệnh tật, nhưng nó đã lẫn lộn giữa Tinh và Tình. Ở một chỗ khác Trung y cổ truyền cho rằng Tinh là cơ sở vật chất của cơ thể. Khí và Thần đều do Tinh tạo ra. Tinh tiên thiên là bẩm tố của cha mẹ truyền lại qua các tế bào sinh dục. Tinh hậu thiên do tạng tỳ vận hóa từ thức ăn đồ uống. Như vậy là lý luận Trung y cổ đã tự mâu thuẫn. Khi xác định 7 loại tình chí gây bệnh, Trung y cổ đồng hóa Tinh và Tình với nhau và gọi đó là tinh thần, nhưng khi định nghĩa Tinh thì lại coi tinh là vật chất cụ thể. Có lẽ đây chỉ là những kiến thức “Hàn lâm” để các cơ quan Công quyền căn cứ vào đó xác minh tri thức khoa học y tế của người Lang Thuốc Gia truyền đến xin Giấy Chứng Nhân hành nghề chữa bệnh thôi. Khái niệm “Tình” trong Y Việt cổ truyền là một tổng kết từ thực tế thể hiện bản chất của con người Việt. Người Việt rất trọng Tình. Người Việt muôn đời nay luôn nói vói nhau: Con người ta sống ở đời cốt giữ lấy cái tình, khi đã cạn tình thì không còn gì để nói nữa. Đối với người Việt, tình người là cao đẹp nhất, Có thể nói Tình Người là bản vị của dân tộc Việt. Y học Dân gian luôn coi Tình Người là bản sắc của mỗi con người, nhưng cách tỏ tình lại rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Có những người khi cơ thể khỏe mạnh luôn tỏ rõ tình cảm của mình: Yêu, ghét, khinh bỉ, kính trọng… đều lộ rõ không che dấu, thậm chí còn cực đoan đến độ si mê; khi con người đó bị ốm nặng thì không còn biểu hiện tình cảm như trước nữa. Trái lại, có nghững con người, bình sinh rất mô phạm, che dấu tình cảm rất kín kẽ nghiêm ngặt; nhưng khi bị ốm thì trái lại tình cảm dấu kín đã bùng ra; Nếu biết mình sắp chết thì con người đó bình sinh cứng cỏi bao nhiêu, khi lâm chung lại dịu dàng tỏ rõ tình cảm, thậm chí còn rất yếu đuối nữa. 2.4. Khái niệm “Thần”. Dân gian nước Việt coi “Thần” là biểu tượng của sự tài giỏi linh thiêng nhưng lại rất giống với “Người Bình Dân”: Làm thật, ăn thật, nói thật, và còn “đa dâm” nữa. Dân gian luôn nghĩ Thần không cao đạo như “Thánh”. Về ngôi thứ Thần đứng sau Thánh, nhưng Thần được người bình dân thích hơn Thánh. Người Việt bình dân luôn nghĩ mình có thể trở thành Thần, ít người có ham muốn trở thành Thánh. Để chứng minh phán đoán của mình là đúng đắn, nhưng người thân coi thường không nghe theo nên hỏng việc, liền chỉ trích: ”Tôi đã nói rồi, Nhân bảo như Thần bảo, không nghe, cho chết!“. Y học dân gian cho rằng trong bất kỳ con người nào cũng có “chất Thần”. Chính vì lẽ đó nên đã dùng khái niệm “Thần” như một thước đo của các trạng thái “Tính, Khí, Tình”. Ta thường nghe dân gian nói “Thần Hồn nát Thần Tính” để chỉ ai đó sợ hãi tới mức không còn bình tĩnh để xử lý hiện tượng có lý trí. Để chỉ một hành vi của ai đó được coi là tuyệt vời Dân gian nói: thật “Thần Tình”. Người Sài Gòn chính gốc hay nói: ”Thiệt Tình...” để chỉ một cái gì đó không bình thường. Dân gian thường tỏ thái độ đối với một hiện tượng vừa như muốn chê bai lại vừa như thầm khen. Ví dụ, khi thấy một người đàn ông tài hoa, quyến rũ được nhiều đàn bà, Dân gian nói: Gã đó “Tán gái thành Thần”; “Nói dối thành Thần”. Nói dân tộc Việt là dân tộc có năng lực tư duy phức tạp bẩm sinh ngoài những căn cứ vào sự thể hiện trí tuệ cao cấp có giá trị lớn, còn căn cứ vào nhưng biểu hiện đời thường như thế nữa. Người nước ngoài học tiếng Việt rất cực nhọc, không phải tiếng Việt khó học; chỉ cần 15 ngày học thuộc 24 chữ cái, nhớ đủ 5 dấu trọng âm, biết ghép chữ thành vần là nói được tiếng Việt rồi. Nhưng để hiểu đúng cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen thì phái nắm bắt cho được cái Thần của tiếng Việt là “ý tại ngôn ngoại”. Chỉ khi nào đạt trình độ đó Bạn mới có thể dùng tiếng Việt, để diễn đạt đúng tư duy của mình. Đạt trình độ đó, dù Bạn rất thông minh cũng mất ít nhất là 5 năm. Cái khó học đó chính vì tiếng Viêt là vỏ bọc tư duy phức tạp của người Việt. Nguyên nhân sâu xa nhất dẫn đến thất bại của các “Đế quốc To” khi xâm lăng nước Việt là Nó không hiểu tiếng Việt. Bạn phải thận trọng khi sử dụng “Thông ngôn”; phải kiểm tra xem Quý vị nhận làm thông ngôn có đúng là chuyên gia Tiếng Việt không đã rồi hãy dùng. Một con người khỏe mạnh, cái “chất Thần” đó luôn toát trong mọi cử chỉ, lời nói, cách ăn, lối mặc, gương mặt sảng sủa dù màu da rất đen; ánh mắt long lanh nhưng ấm áp, tình tứ, ý nhị. Sức khỏe giảm sút biểu hiện lộ rõ sự nhược Thần: sắc mặt u tối; ánh mắt dù vẫn long lanh nhưng sắc lạnh; cử chỉ phóng túng biểu hiện “bất cần Đời”. Thầy Lang Dân gian khi tiếp xúc đầu tiên với con bệnh trước hết phải ghi nhận biểu hiện cái gọi là “Thần thái”. Từ cảm nhận tình trạng của “Thần thái“ đã vạch ra hướng khám bệnh và trị bệnh. Kinh nghiệm thực tế đã khiến các ông Lang giỏi nghề, chỉ qua quan sát “Thần thái” đã có thể phán “khoảng 3 ngày nữa con người này sẽ chết”. Sự thật đã diễn ra đúng như vậy. Người đời thấy lạ nên sùng tín cho ông ta có khả năng “Thần giao cách cảm”. Dân gian nói: “Trông mặt mà bắt hình dong“ là như vậy. Bốn mặt thể hiện của sự sống ở cơ thể người nói trên được Y học Dân gian dùng làm chuẩn mực để đối chiếu trong suốt quá trình khám bệnh và trị bệnh ở tất cả các loại bệnh, trong đó có bệnh nhiếm vi rut HIV gây hội chứng AIDS. Còn tiếp ... Nguồn: vietycotruyen.com
  3. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 2 1/9/2012 11:44:33 AM Trải bao đời tích luỹ kiến thức y học dân gian đã có hẳn một cương lĩnh hành nghề sâu sắc và uyên bác. Vì đất nước trải hơn ngàn năm Bắc thuộc, với chính sách diệt chủng đồng hoá tàn bạo, phong kiến Tầu đã tiêu huỷ rất nhiều tài sản văn hóa quý giá của dân tộc Việt. Cái gì chúng hiểu thì chúng cướp mất, cái gì không hiểu thì chúng tiêu hủy. Với chính sách làm cho tiệt chủng văn hoá Việt, Vua quan Tầu ở tất cả mọi thời đại đều bảo nhau khi vào nước Việt thì dù chỉ thấy một nửa chữ Việt cũng phải tiêu hủy. Dấu vết văn hóa Việt cổ đã bị bọn Tầu xóa sạch. Nhưng, ngạn ngữ Việt đã nói “cái kim bọc dẻ lâu ngày cũng lòi ra”. Thói huyênh hoang kheo mẽ do căn bệnh “chiến thắng tinh thần” truyền thống đã khiến nó “dấu đầu lại hở đuôi”. Chính sử của Tầu ghi lại: Nhà Tây Chu (1.135 – 770), triều đại Chu Công, Nước Việt Thường sai sứ sang cống chim Bạch trĩ, Chu Công cho chế xe Chỉ Nam đưa sứ Việt Thường về nước. Chỉ qua một dấu vết này thôi cũng đủ căn cứ để nói rằng nước Việt Thường thủa ấy đã là nước văn hiến. Bởi lẽ, nhà Tây Chu khi đó đâu đã gây được sức ép với nước Việt Thường, khiến Việt Thường phải cống nạp. Nước Việt Thường cử sứ đi Tây Chu là hành vi mở rộng ngoại giao, chỉ có dân tộc nào đạt trình độ văn hóa cao mới biết hành sử như vậy. Tình tiết, do sứ Việt cống chim Bạch trĩ khiến Chu Công xúc động cho đóng riêng cỗ xe Chỉ Nam đưa sứ Việt về nước, cũng ẩn chứa nhiều thông tin lý thú. Theo luận lý thông thường dễ nhận ra ngay sử Tầu ghi sứ Việt cống chim Bạch trĩ là bịa đặt. Nước Việt Thường khi đó theo Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, thì Việt Thường chỉ là một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Bộ Việt Thường ở địa phận Quảng Bình – Quảng Trị bây giờ. Con chim Bạch Trĩ là giống sinh sống ở vùng rừng nhiệt đới, liệu nó có sống nổi không khi theo sứ Việt vượt vạn dậm trường đi từ Quảng trị đến Thiểm Tây có khí hậu vùng ôn đới giá lạnh; phương tiện giao thông khi đó chủ yếu là đi ngứa, nhanh lắm cũng phải hàng tháng mới đến kinh Đô Tây Chu. Hơn nữa chỉ có con chim Bạch Trĩ mà Chu Công xúc động tới mức tiếp sứ Việt thịnh tình, lại còn cho đóng riêng cỗ xe đưa sứ Việt về nước? Đây là một sự lạ đối với người Hán vốn coi những dân tộc ngoài dân tộc Hán đều là mọi rợ. Vậy thì cống vật phải là cái gì đó rất có giá trị rất lớn lao? Cống vật đó chính là “Thuật bói quẻ”, sau này Chu Công cải biên lồng thuyết âm dương vào làm nên kiệt tác Chu Dịch; trước đó Văn Vương (bố của Chu Công) mới chỉ biết dùng cỏ thi để bói với mai rùa. Bói Quẻ do Sứ Việt phổ biến kỳ lạ ở chỗ chỉ dùng hai vạch ngang: vạch liền tượng trưng cho Trời; vạch đứt ở giữa ttượng trưng cho Đất, rồi theo thuật bói quy định chồng các vạch lên nhau là có thể luận giải được tất cả Vũ Trụ và lòng người, (nói kỹ ở phần sau). Việc Chu Công đóng xe Chỉ Nam đưa sứ Việt về là lén cử người đi theo về đất Việt để ăn cắp bí quyết bói quẻ mà thôi. Ông Leibniz, nhà triết học và toán học, người Đức (1646 – 1716), năm 1679 cho công bố phát minh ra phép nhị phân số học thay cho phép thập phân. Nội dung phép nhị phân là cứ thêm một số 0 là nhân với 2 chứ không phải nhân với 10 như phép thập phân. Nguyên tắc nhị phân của Leibniz đang được ứng dụng vào máy tính điện tử hiện nay: chỉ có hai số 1 và 0 thôi. Khoảng năm 1700 một nhà truyền giáo Dòng Tên ở Trung Hoa báo cho Leibniz biết thuật toán do ông ta phát minh đã có ở Trung hoa và gửi cho ông ta 64 quẻ kinh Dịch. Leibniz vô cùng kinh ngạc khi thấy Kinh Dịch chỉ dùng hai vạch âm dương mà vạch được rất nhiều quẻ y hệt ông đã dùng số 1 và số 0 mà viết được mọi số. Như vậy là phép tnh có cơ số nhị phân đã được phát minh ra ở Á Châu trước phát minh của nhà bác học Đức tới 2.000 năm. Năm 1973, Nhà xuất bản Khai trí (Sài Gòn cũ) in tác phẩm: “Kinh dịch nguyên thủy “ của tác giả Lê Chí Thiệp. Tác giả đã liên hệ đến khí hậu, đất đai, đời sống của dân tộc Việt Thường để chứng minh: “Tiên thiên Bát quái (Chu Dịch) do người Việt Thường sáng tác và phổ biến cho Tầu. Khói lửa chiến tranh đã làm ngưng trệ cuộc thảo luận sử học lý thú này. Tôi tin luận điểm của ông Lê Chí Thiệp, nhưng lịch sử là phải có chứng cớ cụ thể, cần được các nhà Sử học dù có bị thiến vẫn nói đúng sự thật như Tư Mã Thiên thì mới làm sáng tỏ tồn nghi văn hóa sử này. Một tồn nghi lịch sử văn hóa Việt nữa thuộc lĩnh vực Y học cũng rất hấp dẫn: đó là Học thuyết Kinh Lạc cũng của người Việt bị Tầu cướp mất và công bố là của ho. Học thuyết Kinh Lạc như mọi người thấy hiện nay đang được giới thiệu như là lý luận của thuật châm cứu. Người Tầu nói học thuyết Kinh Lạc là của họ. Bằng chứng đưa ra là sách “Linh Khu” nói về châm cứu của họ có từ thế kỷ thứ 5 - 3 trước Công nguyên. Mấy năm gần đây, tài liệu giảng dạy Đông y của Nhà nước ta đã mạnh mẽ nói thuật châm cứu là của Việt Nam có từ thời An Dương Vương, nhưng chứng cớ đưa ra lại là Dã sử “Lĩnh nam chích quái “ nói: Thời Thục An Dương Vưong có Thôi Vỹ dùng thuật cứu để chữa bệnh. Nếu so đọ về chứng cớ nguồn gốc từ thời cổ thì người Tầu có sách “Linh Khu”, còn chứng cớ của ta chỉ có mấy dòng trong Dã Sử, Ta “thua”. Nếu cho rằng những chứng cớ thời cổ đại chỉ là đời sau bịa đặt và lấy chứng cớ có thật từ thời Trung cổ và thời cận đại thì chứng của nước Việt thuyết phục hơn. Bởi vì năm 1401, dưới thời Nhà Hồ, Nguyễn Đại Năng viết tác phẩm “Châm cứu tiệp hiệu diễn ca”. (Nguyễn Đại Năng là người giỏi khoa châm cứu, Nhà Hồ lập Quảng Tế Hựu là cơ quan trông coi việc y tế, ông được giao phụ trách Cơ quan này. Tác phẩm “Châm cứu tiệp hiệp diến ca" ghi lại 130 lọai bệnh chính, được chỉ định 140 huyệt để chữa, trong đó có 11 huyệt do chính ông mới phát hiện ra, trước đó chưa có ai biết. Nguồn: V.N.K: Từ Điển Văn Hóa, Nxb Văn Học, năm 1993, tr.325). Tác phẩm “Bảo Anh lương phương” của lưỡng quốc trạng nguyên Nguyên Trực, hướng dẫn bấm huyệt chữa bệnh cho trẻ con. (Nguyễn Trực (1417 – 1473), là một trí thức lớn của triều Lê. Ông đỗ trạng nguyên năm 1442, được cử đi sứ Trung Quốc, gặp kỳ thi, xin vào dự và đỗ trạng nguyên của Tầu luôn. Sách đã dẫn, tr.410). Sau hai tác phẩm có trí tuệ cao cấp về Kinh Lạc cùng kỹ thuật châm cứu của người Việt, 200 năm sau (1601) Dương Kế Châu (người Tầu, đời Minh) mới cho ra đời tác phẩm: “Châm cứu Đại Thành”. Thế rồi bẵng đi 350 năm sau, vào thập niên 50 của thế kỷ 20 người Trung Hoa mới công bố kỹ thuật “đầu châm”, châm cứu ở đầu. Năm 1958, Trung Quốc công bố tiếp kỹ thuật “châm tê” để mổ. Còn ở nước Việt ta câu chuyện châm cứu lại diễn ra liên tục: Thế kỷ thứ 17 xuất hiện tác phẩm “Châm cứu thủ đồ huyệt” của Lý Công Tuân; thế kỷ thứ 18, Lê Hữu Trác tổng hợp các phương pháp chữa bệnh cho trẻ con bằng châm cứu có trong tác phẩm của ông để lại đang thấy hiện nay. Thế rồi Triều nguyễn Ánh theo Pháp để diệt Nhà Tây Sơn, giành được giang sơn rồi lại hủ lậu khiếp sợ ánh sáng Nhân quyền của Cách mạng Tư sản Pháp vội vã quỳ gối trước Nhà Mãn Thanh, vùi dập văn hiến Việt; tiếp đến thời Pháp thuộc, cùng với y học dân tộc, châm cứu cũng chung số phận như “Câu Ca Dao bị vất giữ ngã ba đương“ mà Chế Lan Viên đã thảng thốt kêu lên. Sau Cách Mạng Tháng Tám 1945, tiếp ngay đến cuộc Kháng chiến chống Pháp, y học dân tộc được hồi sinh, châm cứu đã góp phần đắc lực cứu chữa cho nhiều chiến sỹ quân đội Nhân Dân. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ: quan hệ Việt – Trung “vừa là đồng chí vừa là anh em”, nên ta cũng đành lặng yên không tách bạch Trung y với Việt y. Chính vì thế mà năm 1969 xuất hiện thông tin Bác sĩ Hoàng Đình Cầu đã mổ 9 ca cắt thùy phổi với sự cộng tác của kíp châm tê do bác sĩ Trương Kim Du và Bác sĩ Bùi Quang Hiển phụ trách. Thông tin này đã góp phần làm bùng nổ các cuộc Hội thảo về châm cứu trên toàn thế giới. Thế rồi biệt tài châm cứu Nguyễn Tài Thu xuất hiện khiến Y giới toàn cầu phải tâm phục khẩu phục về thành tựu châm cứu của y học hiện đại Việt Nam. Tuy nhiên, thuật châm cứu chỉ là khoa học thực hành học thuyết Kinh Lạc mà thôi. Kinh Lạc mới là quan trọng, bởi lẽ đây là một phát minh rất lớn của trí tuệ Y học. Gia Bảo nhà tôi ghi lại: Hệ Kinh Lạc là của tổ tiên người Việt, do chính con cháu của 50 người con do Mẹ Âu Cơ sinh hạ rồi theo cha Lạc Long Quân đi ra Biển phát minh ra. Để có thể làm chủ biển khơi, người Việt cổ đã nghĩ ra thuật xăm mình nhằm dọa nạt thủy quái. Xăm mình là phải dùng vật nhọn châm trích vào da rồi bôi nhựa cây có màu sắc rực rỡ vào. Quá trình hình thành thuật xăm mình đó phải kéo dài hàng trăm năm, người Việt đã phải chết rất nhiều người vì châm trích phải chỗ phạm mới đi tới xác định được các huyệt cùng các tuyến huyệt liên hệ với nhau. Nhờ tích lũy kinh nghiệm thực tế nhiều đời, người Việt đã tìm ra ở cơ thể người có tới 14 đường nối các huyệt cùng tuyến chạy dọc cơ thể và tứ chi gọi là Kinh. Các đường kinh đó lại có mối liên hệ ngang với nhau; những đường vắt ngang cơ thể đó gọi là Lạc. Vì sao đặt tên là Kinh và Lạc? Từ Kinh trong tiếng Việt hiện đại có hàng trăm nghĩa khác nhau. Trong tiếng Việt cổ, từ Kinh dùng để chỉ hiện tượng rất đáng sợ và phải kính trọng (phát kinh, kinh ngạc…). Từ nghĩa gốc đó, ngay trong thời cổ, từ Kinh đã được dùng để chỉ sự đúng đắn, đồng thời nó bắt đầu có ý là sự chủ trì. Trong Cộng đồng các dân tộc của xã hội Việt thời Hồng Bàng, Bộ tộc có đông người nhất được gọi là người Kinh. Vị Vua đầu tiên của nước Việt cổ là Tộc trưởng của người Kinh, nên gọi là Kinh Dương Vương, hiện còn mộ của ông ở làng An Lữ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Để tưởng nhớ vị vua đầu tiên của dân tộc Việt, 14 tuyến huyệt đạo chính mang tên Kinh. Chức quan trong Vương triều Việt đầu tiên mang tên Lạc Tướng. Trong tiếng Việt cổ từ Lạc được dùng để chỉ ruộng đất, cũng còn nghĩa quan hệ (liên lạc). Tuyến huyệt đạo dài mang danh Vua là Kinh thì đường liên lạc vắt ngang tuyến Vua ắt phải là quan, do đo các huyệt đạo có mối liên hệ ngang gọi tên là Lạc. Hệ thống Kinh Lạc trong cơ thể người trở thành cơ sở thực tế để người Việt nhìn vào nó qua sắc diện của con người mà đoán bệnh trị bệnh ngay từ buổi bình minh của văn hóa Việt. Tuệ Tĩnh đã tổng hợp lại trong tác phẩm ”Các chứng chết, mạch chết”. Ví dụ: “mặt phù, sắc xanh đen là chết”; “Lưỡi rụt, hòn dái co là chết”; “Mặt không tươi sáng, chân răng biến sắc đen là chết”, v. v. (Xem Tuệ Tĩnh toàn tập, N.x.b Y học). Hệ thống Kinh Lạc có trước cuộc xâm lăng nước Việt đầu tiên của người Tầu hàng nghìn năm. Người Tầu cướp lấy rồi nhồi nhét ngôn ngữ âm dương ngũ hành của họ vào, sau đó mang sang dạy lại cho các Nho sĩ Việt hành nghề Trung y. Cho đến nay không ít các thầy thuốc Trung y ở bên Tầu và cả ở Ta nữa vẫn coi Hệ Kinh Lạc là của Tầu. Hệ thống Kinh Lạc được người Việt tìm thấy và phải trả giá bằng rất nhiều mạng sống của nhiều thế hệ người Việt. Đây chính là sản phẩm mà ngày nay y học hiện đại gọi là thành tựu của khoa học thực nghiệm trong cơ thể (Invivo). Hệ thống Kinh Lạc không thể tìm thấy bằng sự tưởng tượng “âm dương ngũ hành; thái âm, thái dương…“ trừu tượng Khoa học giải phẫu của Tây y tinh vi là thế nhưng vẫn chưa chụp đựoc ảnh Hệ thống Kinh Lạc. Người ta đã liên hệ với cơ chế hoạt động của hệ thống thần kinh, tuyến nội tiết, hệ Bạch mạch, gần đây nhất người Nhật có thêm cái gọi là ”Tuần kinh cảm truyền” để giải mã Kinh Lạc. Nhưng Kinh Lạc vẫn im lặng tồn tại trong ánh hào quang rực rỡ và bí ẩn. Mấy năm gần đây có nhà khoa học Việt quốc nội đã cả quyết sẽ dùng toán học để giải mã Hệ Kinh Lạc, chắc công việc đang tiến hành. (Người tuyên bố là Tiến sĩ H.P ông đã mất rồi!). Hệ thống Kinh Lạc đã được Y học dân gian nước Việt ứng dụng rất lâu đời, đặc biệt là lĩnh vực dược học. Người ta thường thấy các Lang ta chế tẩm thuốc rất cầu kỳ, cho rằng các thủ thuật đó mang tính lừa bịp, thần bí hóa thuốc chữa bệnh. Thực chất việc sao tẩm thuốc là nhằm cho thuốc “quy kinh”, tức là dùng kỹ thuật dược lý để đưa thuốc vào đúng ổ bệnh. Đây là một bí quyết độc đáo mà dược học Tây y đang nghiên cứu để ứng dụng. Phương hướng phát triển khoa học dược học hiện đại đang đi theo hướng này trong thế kỷ thứ 21. Tây y đang kỳ vọng vào “công nghệ na nô”, chế tạo ra các robốt siêu nhỏ bằng vật liệu hữu cơ để đưa thuốc vào đúng ổ bệnh không phân tán thuốc ra các tế bào lành. Trung y cũng nói rất nhiều về các vị thuốc uống khi vào bụng sẽ vào kinh nào đó trong cơ thể, nhưng vẫn chưa đủ thực chứng để thuyết phục. Do phải hành nghề y học dân tộc dưới ách thống trị của giặc ngoại xâm, chữ viết của người Việt cổ bị chúng tiêu hủy đến tuyệt diệt, nên người Việt phải truyền nghề cho nhau bằng truyền khẩu. Để dễ thuộc và nhớ lâu các kiến thức đó được lồng vào những chuyện ly kỳ và huyền ảo. Phải đợi đến khi nghĩ ra mẹo dùng chữ Tầu để nói tiếng Ta, đó là chữ Nôm, tri thức y học dân tộc mới được ghi chép thành văn. (Có lẽ câu chuyện dân gian “Hồn Trương Ba, da anh hàng thịt” là nhằm thể hiện sự uất ức này của người Việt chăng ? Nếu các nhà nghệ thuật khai thác vốn cổ theo hướng này thì vở kịch “Hồn Trương Ba da anh Hàng thịt” sẽ có âm hưởng “bi hùng”, chứ không “bi hài” cười cợt dẽ dãi như đã thấy hiện nay). Nhân thể nói thêm: Gia tộc tôi không thích chữ Nôm, cụ tôi nói với bố tôi: “Nhìn vào mặt nó mà nói tiếng của mình, tao thấy nhục lắm, nhưng vẫn phải dùng thôi, méo mó có hơn không! Chữ Nôm là cái áo quá hẹp trên “cơ thể tư duy phức tạp” đồ sộ của tiếng Việt. Chính vì lẽ đó mà sau khi có chữ Nôm (khoảng từ thế kỷ thứ X) tới 700 năm sau các văn nhân thi sĩ nước Việt mới chịu dùng chữ Nôm để sáng tác văn chương. Yêu nước, ai hơn được Phan Châu Trinh, vậy mà Người có chịu dùng chữ Nôm đâu! Một dân tộc thông tuệ như dân tộc Việt mà đến thế kỷ thứ X mới có chữ viết là chữ Nôm sao!? Thời Hùng Vương lẫy lừng như thế, Thục Phán An Dương Vương là cháu Vua Hùng đã đánh tan đội quân xâm lược Nhà Tần do Đồ Thư làm chủ soái, khiến “Quân Tần thây phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người” (Sách Hoài Nam Tử đời Hán viết như vậy). Những con người lập chiến công lớn như thế mà mù chữ sao? Vào thời bấy giờ tiếng Hán và chữ Hán đâu đã có ở nước Âu Lạc. Khác với các ngành khoa học khác chịu nạn “Tam sao thất bản” y học lấy thực tế chữa bệnh để kiểm chứng nên còn lại đến ngày nay kho tàng trí tuệ y Việt rất lớn. Tài sản y học thuần Việt đó đã được ghi chép từ rất sớm thâm trầm lặng lẽ trong dân gian và được giữ kín trong mỗi gia đình, rộng ra một chút là họ tộc. Hiện tượng ghi chép của Tuệ Tĩnh chỉ là chỉ báo cho biết có việc ghi chép đó. Sở dĩ lịch sử thành văn chính thống hiện nay coi Tuệ Tĩnh là ông tổ của y học Dân tộc vì sự ghi chép của Tuệ Tĩnh lần đầu tiên công khai giữa thiên hạ mà thôi. Theo như lời bố tôi dặn dò: ông nội tôi khi truyền nghề cho bố tôi có dặn rằng: các bài thuốc ghi trong các tác phẩm Hồng Nghĩa Giác Tư Y Sư; Nam dược thần diệu đã lai Tàu rồi. Ông Cụ chỉ tâm đắc một câu của Lê Hữu Trác tuyên bố: ”Đọc sách của Trọng Cảnh, nhưng không theo phương của Trọng Cảnh” mà thôi. Với lịch sử y học dân tộc thành văn, Tuệ Tĩnh được coi là ông tổ của thuốc Nam có lẽ hậu thế cần kiểm định. Nhưng có một điều chắc chắn cần nói rõ: nếu chỉ căn cứ vào các bài thuốc, vị thuốc trong các tác phẩm của Tuệ Tĩnh để nói rằng: y Việt cổ truyền chỉ có thế thôi là xúc phạm đến “Văn hiến Đại Việt ta” đó. Vào những năm đầu công nguyên nước Việt ta lúc đó mới có khoảng 1 triệu người, dân số nước Trung Quốc có khoảng 50 triệu người. So sánh dân số nước ta với Trung Quốc thì dân số nước ta chỉ bằng 2%. Đầu thế kỷ 21 dân số Trung Quốc là 1,3 tỷ người, dân số nước ta kể cả đồng bào đang sống ở nước ngoài là 84 triệu người. So sánh thì dân số nước ta với Trung Quốc là 6,45%.Như vậy là sau hai nghìn năm đấu tranh để sinh tồn giữa hai dân tộc sống cạnh nhau thì sức phát triển dân số nước ta trội hơn dân tộc Trung Quốc là 4,45%. Chỉ số sống sót vượt trội qua 2000 năm sâu sắc biết bao. Một dân tộc nhỏ, duy trì được nòi giống bên cạnh người hàng xóm khổng lồ mà ở tất cả các triều đại từ thượng cổ đến hiện đại luôn bắt nạt ta, xua quân đánh phá nước ta, mà dân tộc ta vẫn có chỉ số sống sót vượt trội kẻ bắt nạt mình 4,45%, điều đó không đáng được tự tôn rất khiêm nhường là dân tộc Đại Việt sao? Một dân tộc tồn tại và phát triển trong một môi trường vô cùng bất lợi như thế mà có chỉ số sống sót cao như thế, nếu không có một nền y học tự nó, uyên thâm và hiệu quả thì dân tộc ta có được chỉ số sống sót hào hùng như thế không? Dân tộc Việt mới chỉ được hưởng thành quả của y học bác học từ sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, đến nay mới có 67 năm. Gần 2000 năm trước dân tộc ta chữa bệnh bằng y học dân gian là chính. Trung y chỉ có mặt ở các nhà giàu. Một nền y học dân gian với bề dầy lịch sử lớn như thế, hiệu quả như thế lại là vô tri sao? Sau Tuệ Tĩnh từ Lê Hữu Trác y học dân tộc bị lấn áp trước nền y học Trung Hoa đồ sộ được các nhà nho du nhập vào. Trung y được giai cấp phong kiến thống trị chọn làm chính thống và trở thành ngành y học bác học của quốc gia. Tới triều Nguyễn, Nho học và Trung y vẫn ngự trị. Đến thời Pháp thuộc Tây y lấn áp Trung y. Sau Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 Nhà nuớc Dân Chủ Nhân Dân có cái nhìn hài hoà giữa Tây y và Trung y với chỉ đạo Đông Tây y kết hợp trị bệnh. Nhưng một thời gian dài đã coi Trung y là y học Dân tộc cổ truyền. Tổ quốc đang có một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá không chỉ về ý nghĩa văn hoá nhân văn mà cả về kinh tế nữa chưa được khai thác. Nếu nguồn tài nguyên này được khai thác, nó có đủ năng lực tham gia vào nền kinh tế trí thức mà nhân loại đang nô nức đi vào. Còn tiếp ... Nguồn: vietycotruyen.com
  4. "Lộ" sai sót mới tại CK Đường lên đỉnh Olympia 2012? Tiếp sau câu hỏi được BTC thừa nhận "thiếu chặt chẽ", nghi ngờ có những sai sót mới trong câu hỏi của trận chung kết “Đường lên đỉnh Olympia 2012” lại nổi lên... >> Sai đề Olympia: Hứa “rút kinh nghiệm”, BTC không hủy kết quả CK Tiếng Latinh hay tiếng Ý? Theo phản ánh của độc giả, rất có thể có thêm những sai sót mới trong trận chung kết “Đường lên đỉnh Olympia 2012”. Ở câu hỏi đầu tiên của phần thi Vượt chướng ngại vật, MC Tùng Chi đưa gợi ý về từ hàng ngang thứ 5 gồm 6 chữ cái: "Ngôn ngữ chính thức của Vatican là tiếng gì?". Hai bạn Ngọc Khánh và Lê Phương đều đưa câu trả lời là "Italia", trong khi Thái Hoàng có đáp án là "Tiếng Ý". Đáp án cuối cùng cho vòng chướng ngại vật: "Ngôn ngữ chính thức của Vatican là tiếng La Tinh". Theo phản ánh của độc giả, đáp án là “tiếng Ý” hay tiếng Italia có thể chấp nhận được. "Latinh là ngôn ngữ viết, không ai sử dụng để nói cả. Nếu vậy thì không thể coi Latinh là ngôn ngữ chính xác của Vatican được", một độc giả phân tích. Câu hỏi gây tranh cãi khiến "Đường lên đỉnh Olympia 2012" chưa thể yên. Xung quanh nghi vấn sai sót mới trong câu hỏi của chương trình Chung kết “Đường lên đỉnh Olympia”, PV đã liên lạc với PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn (Chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ học, ĐH KHXH&NV - ĐHQGHN) để tìm hiểu cụ thể. PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn giải thích: “Ngôn ngữ chính thức là ngôn ngữ đã được xác nhận tình trạng pháp lý riêng tại mỗi quốc gia, mỗi tiểu bang và lãnh thổ (được qui định trong hiến pháp hoặc luật ngôn ngữ) và là ngôn ngữ được dùng trong các cơ chế hành pháp (văn bản hành chính, pháp luật) của một quốc gia". Đối với trường hợp tiếng Anh ở Mỹ thì Hiến pháp Mỹ không qui định tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức nhưng trên thực tế tiếng Anh được sử dụng như một ngôn ngữ chính thức. Theo cách hiểu về ngôn ngữ chính thức trên đây thì có sự khác biệt về ngôn ngữ chính thức ở thành Vatican (Vatican city) và Tòa thánh Vatican (Holy See, nằm trong Vatican city). Ở thành Vatican, luật không qui định ngôn ngữ nào là ngôn ngữ chính thức nhưng tiếng Ý (Italiano) được dùng chủ yếu trong giao dịch hành chính (và giao tiếp hàng ngày) nên được coi như ngôn ngữ chính thức. Ở Tòa thánh Vatican, ngôn ngữ chủ yếu được dùng trong các văn bản quan trọng nhất (tôn giáo, hành chính) là tiếng Latin nên có thể coi đây là ngôn ngữ chính thức, còn ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày vẫn là tiếng Ý. Vì vậy, câu hỏi “ngôn ngữ chính thức của Vatican là gì?" là một câu hỏi mơ hồ, có thể hiểu theo 2 cách: hỏi về ngôn ngữ chính thức của thành Vatican hoặc hỏi về ngôn ngữ chính thức của Tòa thánh Vatican. Và vì vậy cả hai câu câu trả lời - tiếng Ý/Italiano (ngôn ngữ chính thức của thành Vatican) và tiếng Latinh (ngôn ngữ chính thức của Tòa thánh Vatican) đều đúng cả. Các ô hàng ngang phần thi Vượt chướng ngại vật được mở. “Tiếng Việt” hay “Tiếng Việt hiện đại”? Từ dữ liệu là tiếng Latinh và 6 thanh điệu ở hai ô hàng ngang, thí sinh Thái Hoàng đưa ra đáp án ô bí ẩn chương trình là “Tiếng Việt” và nhận được 80 điểm của phần thi này. Tuy nhiên, TS Phan Quốc Linh ( từ CH Bulgaria) lại cho rằng rừ khóa "Tiếng Việt hiện đại “mới là đáp án đúng cho phần thi này Sau đây là phần phân tích của TS Linh. “Bằng vào những từ khóa trong hàng ngang của phần thi Vượt chướng ngại vật, MC giải thích rằng tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Latinh. Đây là nhận thức sai lầm về tiếng Việt, do vậy, từ khóa cũng sai nốt, đồng nghĩa là phần thi này cũng không còn giá trị. Các câu hỏi các từ hàng ngang trong phần thi Vượt chướng ngại vật đều cho thấy mối liên hệ và quan hệ đến những biểu trưng của “Tiếng Việt hiện đại” mà không thể nói là “Tiếng Việt” chung chung được.Vì sao? Ngôn ngữ gồm hai bộ phận: ngôn ngữ nói (tiếng nói) và ngôn ngữ viết (ngôn ngữ ký tự). Tiếng Việt (tiếng nói) thuộc hệ Nam-Á,nhóm Môn-Khmer, nhánh Việt-Mường. Trong quá trình phát triển lâu đời, tiếng Việt trải qua quá trình sử dụng ký tự thuộc các ngữ hệ khác nhau, đầu tiên là chữ Hán, chữ Nôm, và về sau này (vào đầu thế kỷ 19) cho đến ngày nay, là chữ cái Latinh. Chỉ mới điểm qua vài nét hết sức sơ lược về lịch sử phát triển của tiếng Việt, cũng đã cho thấy rằng việc BTC đã “ngắt đoạn” tiếng Việt chỉ là từ khi sử dụng ký tự Latinh, là không thỏa đáng. Lý do chúng tôi gọi đây là “Tiếng Việt hiện đại”, cũng là điều dễ hiểu. Bởi vì việc sử dụng ký tự La tinh để ghi lại tiếng nói trong tiếng Việt cũng đồng thời với thời kỳ Việt nam giao lưu với thế giới hiện đại, đòi hỏi ngôn ngữ cũng phải thích ứng theo. Như vậy, có thể coi ngôn ngữ tiếng Việt trước đó là đã cũ, lỗi thời, việc thay bằng ký tự La tinh, thể hiện một bước phát triển mới, xét trong tiến trình phát triển nội tại của chính nó (tiếng Việt). Nếu gọi là “Chữ Quốc ngữ”, theo cách gọi chính thống, e rằng chỉ mới nói đến tiếng Việt theo quan niệm hành chính sự vụ, nghĩa là phải chờ đến lúc tiếng Việt (với ký tự chữ cái La tinh) được công nhận chính thức, được sử dụng rộng rãi, đại trà. Gọi là "Tiếng Việt hiện đại” chúng tôi có chủ ý muốn khẳng định sự hiện diện của ký tự La tinh đúng như nó xuất hiện ở tiếng nước ta ngay từ buổi đầu” Tuy nhiên, theo ý kiến của PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn: “Các dữ kiện về tiếng Việt được đưa ra (qua các ô hàng ngang) bao gồm cả dữ kiện đồng đại (hiện đại) và lịch đại (lịch sử)”. Trong đó, dữ kiện đồng đại bao gồm: (dùng chữ hệ) Latinh; 29 (chữ cái); 6 (thanh điệu); (từ đơn dài nhất là) NGHIÊNG. Bên cạnh đó, dữ kiện lịch đại bao gồm: (dùng) chữ Nôm, Hán. Dữ kiện đồng đại và lịch đại bao gồm: (thuộc nhánh) Việt Mường; (thuộc ngữ hệ) Nam Á Vì vậy đáp án “Tiếng Việt” là đúng vì nó thỏa mãn cả ba dữ kiện đưa ra nêu trên. Nếu nói “Tiếng Việt hiện đại” thì không thỏa mãn dữ kiện về lịch đại (chữ Nôm, Hán thể hiện ở hàng ngang thứ 4 và thứ 6). MC Tùng Chi "ba hoa" phản khoa học Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn: “Trong câu “ba hoa” về Tiếng Việt, MC Tùng Chi đã có những nhận xét phản khoa học, chẳng hạn: Nhầm tiếng và chữ: ban đầu chúng ta chỉ có tiếng Hán, sau đó chúng ta có tiếng Nôm (đúng ra phải nói là dùng chữ Hán, chữ Nôm)”. Bên cạnh đó, MC Tùng Chi còn nhầm chữ cái với âm tiết: từ đơn dài nhất trong tiếng Việt là từ NGHIÊNG, có 7 âm tiết (đúng ra phải nói là có 7 chữ cái) “Đây là những sai sót không nên xảy ra và hoàn toàn có thể tránh được nếu BTC làm việc cẩn thận và biết tranh thủ ý kiến của các chuyên gia”, PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn nói. Theo TS Phan Ngọc Linh - Phạm Thịnh VTC Nguồn: Báo Dân trí PS: Nếu các vị tham gia Hội thảo chữ Việt cổ của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền thì chắc không có sai sót như trên.
  5. Kính thưa Sư phụ Thiên Sứ, đọc bài viết của Thầy con hiểu rõ hơn về Việt sử 5000 văn hiến của dân tộc và quan trọng hơn là những bài viết của Thầy cho thấy các luận điểm sai lầm về nghiên cứu. Con cảm ơn nội dung các bài viết của Thầy cho con rõ hơn về chân lý. Kính.
  6. Thanhdc xin đăng ký ghi danh học.
  7. Tai nạn tăng nặng......... ================= Ba Lan: Hai tàu hỏa lao đầu vào nhau, hơn 70 người thương vong Chủ Nhật, 04/03/2012 - 08:10 (Dân trí) - 14 người thiệt mạng và ít nhất 60 người bị thương khi hai tàu hỏa lao đầu vào nhau ở miền nam Ba Lan vào tối qua. Hiện trường vụ tai nạn. Theo đài truyền hình Ba Lan, vụ tai nạn xảy ra vào tối qua, trên tuyến đường chính Warsaw-Krakow ở thị trấn nhỏ Szczekociny. Hai tàu cao tốc, trong đó có một tàu chạy nhầm đường ray, đã đối đầu vào nhau. Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk đã lên đường tới hiện trường vụ tai nạn cùng với 3 bộ trưởng nội các. “Đây có vẻ như là một trong những vụ tai nạn tàu hỏa nghiêm trọng nhất trong những năm gần đây”, Bộ trưởng Giao thông Slawomir Nowak cho biết trên kênh tin tức TVN24. “Đã có người tử vong và rất nhiều người bị thương”, ông cho hay khi đang trên đường tới hiện trường cùng với Thủ tướng Tusk.Cảnh sát cho hay một số hành khách vẫn còn bị mắc kẹt trong đống đổ nát của tàu. Trực thăng cứu hộ từ Warsaw và Wroclaw đang hỗ trợ đưa người bị thương tới bệnh viện. 3 toa bị bẹp rúm Nhiều người bị mắc kẹt bên trong các toa tàu bị bẹp rúm. Vụ tai nạn xảy ra vào 21h15 tối qua khi một đoàn tàu chạy về hướng bắc từ Przemysl tới Warsaw va chạm với tàu chạy về phía nam từ Warsaw tới Krakow. Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn một đường ray ở nhà ga Szczekociny đang được bảo dưỡng theo kế hoạch. Tàu Krakow đã đi nhầm đường ray, Andrzej Pawlowski, thành viên của ban giám đốc công ty đường sắt nhà nước PKP cho hay trên đài truyền hình TVN24. 3 toa được cho là đã bị hư hại nghiêm trọng và công tác cứu hộ hiện đang tập trung tại đó để tìm kiếm hành khách. 3 toa đã bị “phá hủy hoàn toàn- bẹp rúm”, một nhân chứng cho biết trên tờ Gazeta Wyborcza. Một hành khách khác ước tính tàu của ông đi với vận tốc khoảng 120km/h khi đột ngột phanh gấp. “Rồi sau đó chúng tôi cảm thấy một tiếng va chạm mạnh, chúng tôi bị bắn tung người khắp toa”, hành khách cho hay trên TVN24. Video hiện trường vụ tai nạn: Vũ Quý Theo BBC
  8. Kim tự tháp giá 5 tỷ USD Cập nhật 27/02/2012 09:25:00 AM (GMT+7) Dù có huy động cần cẩu, trực thăng, xe tải và máy kéo với số lượng lớn, việc xây dựng một kim tự tháp như Đại Kim tự tháp Giza ngày nay vẫn vô cùng khó. Trong mắt nhiều người, việc kim tự tháp này được xây dựng cách đây 4500 năm vẫn giống như một phép lạ hay thậm chí là có liên quan đến bàn tay của người ngoài hành tinh. Tuy nhiên, gần đây đã nổi lên một giả thuyết về việc Đại Kim tự tháp được xây từ trong xây ra, thông qua hệ thống ròng rọc nội bộ hết sức tinh vi và khoa học. Nếu theo đúng kế hoạch xây dựng hoàn hảo đó, chúng ta sẽ có thể tái tạo Kỳ quan của thế giới cổ đại với mức chi phí lên tới 5 tỷ USD. Việc xây dựng một kim tự tháp như Đại Kim tự tháp Giza ngày nay vẫn vô cùng khó. Tại sao lại là một con số khủng khiếp như vậy? Trước hết, hãy nhìn vào các số liệu của Đại Kim tự tháp. Giza dài tổng cộng mỗi cạnh 756 feet, cao 481 feet và bao gồm 2,3 triệu khối đá, mỗi khối nặng xấp xỉ 3 tấn. Như vậy là tổng trọng lượng của nó lên tới 6,5 triệu tấn. Tương truyền toàn bộ công trình đã được hoàn thiện chỉ trong vòng 20 năm, đồng nghĩa với việc mỗi khối đá đã được vận chuyển và đặt vào chỗ của nó chỉ trong vòng 5 phút (nếu cho là việc xây dựng diễn ra 24/24h). Tiến độ đó hiển nhiên đòi sức lao động của hàng ngàn người. Những giả thuyết trước đây về việc người Ai Cập cổ đại dùng hệ thống ròng rọc bên ngoài để xay Giza có nhiều kẽ hở như một ròng rọc như vậy sẽ phải dài hơn một dặm mới đủ sức để kéo được các khối đá nặng. Ngoài ra, nó sẽ cần một khối đá đối trọng nặng gấp đôi Kim tự tháp để cân bằng. Kiến trúc sư Jean-Pierre Houdin tin rằng, chỉ có một phần ba chiều cao của Giza, tính từ đáy lên, là được xây dựng từ những khối đá kéo bằng ròng rọc ngoài. Với 33% khối lượng công việc còn lại, người Ai Cập sẽ đắp cao lên thông qua một hệ thống ròng rọc trong tinh vi. Houdin đã phối hợp với hãng đồ họa 3D Dassault System để phát triển một mô hình ảo của quy trình xây dựng nói trên. Cùng lúc, một nhóm học giả tại Đại học Laval (Quebec) đang dự định quét tia hồng ngoại để xác định có hay không sự tồn tại của mạng lưới ròng rọc bên trong Đại Kim Tự tháp. Có hai điểm khác biệt lớn trong việc xây dựng Kim tự tháp ngày ấy và bây giờ, theo Houdin. Trước hết, thay vì dùng sức người để kéo đá bằng ròng rọc, giờ đây chúng ta sẽ sử dụng những công cụ có động cơ. Thứ hai, đối với phần đỉnh cao nhất của kim tự tháp (khoảng 10-15m trên cùng), bạn có thể dùng một cẩu trục nhỏ. Với sự trợ giúp của phương tiện hiện đại và trực thăng, một Giza của thời hiện đại sẽ đòi hỏi sức người của khoảng 1500-2000 người làm việc ròng rã trong 5 năm. Tổng chi phí ước tính sẽ lên tới 5 tỷ USD. Để so sánh, tòa nhà One World Trade Center cao 1776 feet ở trung tâm Manhattan (Mỹ) cũng chỉ có chi phí xây dựng khoảng 4 tỷ USD. Y Lam Nguồn: vietnamnet
  9. Bài thơ " Lịch Sử nước ta " của Hồ Chủ Tịch Để khơi gợi lòng tự hào dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài kêu gọi "Lịch sử nước ta". Bài gồm 210 câu thơ lục bát, dễ thuộc, dễ hiểu, phù hợp với nhân dân Việt Nam lúc đó với trên 90% dân số mù chữ. Bác đã viết tác phẩm này năm 1941, tại rừng Pác Bó, khi Người đang hoạt động cách mạng tại căn cứ địa Cao Bằng Lịch sử nước ta Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Kể năm hơn bốn ngàn năm Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà. Hồng Bàng là tổ nước ta Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang Thiếu niên ta rất vẻ vang Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời. Tuổi tuy chưa đến chín mười Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương. An Dương Vương thế Hùng Vương Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân. Nước Tàu cậy thế đông người Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam Quân Tàu nhiều kẻ tham lam Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi? Hai Bà Trưng có đại tài Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian Ra tay khôi phục giang san Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta Tỉnh Thanh Hoá có một bà Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi. Tài năng dũng cảm hơn người Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương. Phụ nữ ta chẳng tầm thường Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời. Kể gần sáu trăm năm giời Ta không đoàn kết bị người tính thôn. Anh hùng thay ông Lý Bôn Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người. Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài Lập nên triều Lý sáu mươi năm liền. Vì Lý Phật Tử ngu hèn Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta. Thương dân cực khổ xót xa Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu. Vì dân đoàn kết chưa sâu Cho nên thất bại trước sau mấy lần. Ngô Quyền quê ở Đường Lâm Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm. Đến hồi thập nhị sứ quân Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn. Động Hoa Lư có Tiên Hoàng Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh. Ra tài kiến thiết kinh dinh, Đến Vua Phế Đế chỉ kinh hai đời. Lê Đại Hành nối lên ngôi Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành. Vì con bạo ngược hoành hành Ba đời thì đã tan tành nghiệp vương. Công Uẩn là kẻ phi thường Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta. Mở mang văn hoá nước nhà Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân. Lý Thường Kiệt là hiền thần Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành. Tuổi già phỉ chí công danh Mà lòng yêu nước trung thành không phai. Họ Lý truyền được chín đời Hai trăm mười sáu năm giời thì tan. Nhà Trần thống trị giang san, Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài, Quân Nguyên binh giỏi tướng tài: Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu, Tung hoành chiếm nửa Âu châu Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la, Lăm le muốn chiếm nước ta Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ, Hải quân theo bể kéo đi, Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nêm. Dân ta nào có chịu hèn Đồng tâm hợp lực mấy phen đuổi Tàu. Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu, Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang. Mênh mông một dải Bạch Đằng Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh, Hai lần đại phá Nguyên binh, Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời. Quốc Toản là trẻ có tài, Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền Mấy lần đánh thắng quân Nguyên Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung. Thật là một đấng anh hùng. Trẻ con Nam Việt nên cùng neo theo. Đời Trần văn giỏi võ nhiều Ngoài dân thịnh vượng trong triều hiền minh. Mười hai đời được hiển vinh, Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi. Cha con nhà Hồ Quý Ly, Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên. Tình hình trong nước không yên, Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu, Bao nhiêu của cải trân châu, Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn. Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn, Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn. Mấy phen sông Nhị núi Lam, Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng. Kìa Túy Động nọ Chi Lăng, Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành. Mười năm sự nghiệp hoàn thành, Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan. Vì dân hăng hái kết đoàn, Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng. Vua hiền có Lê Thánh Tôn, Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành. Trăm năm truyền đến cung hoàng, Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi. Bấy giờ trong nước lôi thôi, Lê Nam, Mạc Bắc rạch đôi san hà, Bảy mươi năm vạn can qua Cuối đời mười sáu Mạc đà suy vi. Từ đời mười sáu trở đi, Vua Lê, chúa Trịnh chia vì khá lâu Nguyễn Nam Trịnh Bắc đánh nhau, Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng. Dân gian có kẻ anh hùng, Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn, Đóng đô ở đất Quy Nhơn, Đánh tan Trịnh, Nguyễn cứu dân đảo huyền Nhà Lê cũng bị mất quyền, Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương. Nguyễn Huệ là kẻ phi thường Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc tàu, Ông đà chí cả mưu cao, Dân ta lại biết cùng nhau 1 lòng. Cho nên tàu dẫu làm hung, Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà. Tướng tây Sơn có một bà, Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân, Tay bà thống đốc ba quân, Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là. Gia Long lại dấy can qua, Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài. Tự mình đã chẳng có tài, Nhờ tây qua cứu tính bài giải vây. Nay ta mất nước thế này, Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà, Khác gì cõng rắn cắn gà, Rước voi dầy mả thiệt là ngu si. Từ năm Tân Hợi trở đi, tây đà gây chuyện thị phi với mình. Vậy mà vua chúa triều đình, Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoai. nay ta nước mất nhà tan Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn. Năm Tự Đức thập nhất niên, Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây. Hăm lăm năm sau trận này, Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan, Ngàn năm gấm vóc giang san, Bị vua họ Nguyễn đen hàng cho Tây ! Tội kia càng đắp càng đầy, Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng. Nước ta nhiều kẻ tôi trung, Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương. Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương, Cùng thành còn mất làm gương để đời. Nước ta bị Pháp cướp rồi, Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng; Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương. Mấy năm ra sức cần Vương, Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên, Giang san độc lập một miền, Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành. Anh em khố đỏ, khố xanh, Mưu khoải nghĩa tại Hà thành năm xưa, Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa, Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn. Kìa Yên Bái, nọ Nghệ Anh Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu. Nam Kỳ im lặng đã lâu, Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây. Bắc Sơn đó, Đô Lương đây! Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn. Xét trong lịch sử Việt Nam, Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng. Nhiều phen đánh Bắc dẹp Đông, Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên. Ngày nay đến nỗi nghèo hèn, Vì ta chỉ biết lo yên một mình. Để người đè nén, xem khinh, Để người bóc lột ra tình tôi ngươi ! Bây giờ Pháp mất nước rồi, Không đủ sức, không đủ người trị ta. Giặc Nhật Bản thì mới qua; Cái nền thống trị chưa ra mối mành. Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh, Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà. Ấy là nhịp tốt cho ta, Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông. Người chúng ít, người mình đông Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên. Hỡi ai con cháu Rồng Tiên ! Mau mau đoàn kết vũng bền cùng nhau. Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu, Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn. Người giúp sức, kẻ giúp tiền, Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta. Trên vì nước, dưới vì nhà, Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh. Chúng ta có hội Việt Minh Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh Mai sau sự nghiệp hoàn thành Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh ! Nguồn: hoangsa.org.
  10. Thanh Hóa: Chủ Nhật, 08/01/2012 - 14:40 Tết “năm cùng” của người Dao (Dân trí) - Hàng năm, cứ đến đầu tháng 12 Âm lịch trở đi, khi mùa màng đã thu hoạch xong, mỗi gia đình người Dao lại tổ chức ăn Tết “năm cùng”, để báo công với ông bà tổ tiên thành quả của một năm lao động của gia đình... Phong tục của người xưa Trong một năm, theo phong tục của người Dao có 3 cái Tết quan trọng là tết Thanh minh, rằm tháng Bảy và Tết năm cùng nhưng quan trọng nhất vẫn là Tết năm cùng. Vì đây là dịp báo cáo với ông bà tổ tiên về một năm lao động của gia đình, dòng họ. Để chuẩn bị cho ngày Tết, gia đình người Dao chuẩn bị rất nhiều thịt lợn. Đối với cộng đồng người Dao sống ở miền Tây Thanh Hóa nói chung và người Dao ở huyện Cẩm Thủy nói riêng, cuối năm là dịp để con cháu đi làm ăn xa trở về báo hiếu với gia đình và dòng họ. Ngay từ đầu tháng 12 Âm lịch, tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi gia đình để tổ chức một cái Tết thật linh đình. Đây là dịp để anh em họ hàng tập trung nhau lại để góp cỗ làm Tết cho thật to, nhà ai có gì góp nấy, nhưng quan trọng nhất là trưởng họ. Từ đầu tháng 9 Âm lịch, trưởng họ đã phải chuẩn bị gạo nếp ngon, nuôi lợn, nuôi gà để cuối năm khao cả họ. Nếu năm nào họ hàng và bạn bè đến đông thì Tết được xem là đầm ấm và đông vui. Gia đình ông Phùng Văn Thái ở thôn Sơn Lập, xã Cẩm Châu, năm nay cũng tổ chức Tết năm cùng, nhưng không được to như mọi năm vì một năm qua, gia đình ông làm ăn không được thuận buồm xuôi gió. Để chuẩn bị cho cái Tết quan trọng này, gia đình ông cũng nuôi được con lợn 60kg và một yến gà để làm lễ báo cáo với tổ tiên về một năm lao động vất vả. Năm nay tất cả họ hàng nội ngoại trong gia đình ông đều có mặt đông đủ, lợn đã thịt sẵn, chỉ chờ các cụ cao tuổi có chức sắc đến làm lễ cúng báo cáo ông bà tổ tiên. Nét đặc biệt nhất của Tết năm cùng là làm bánh dầy. Đây là truyền thống lâu đời của người Dao. Mỗi khi đến Tết, những trai làng khoẻ mạnh nhất, nhiệt tình nhất đều có mặt để tham gia vào việc giã bánh. Ngay giữa mùa đông lạnh giá nhưng để giã được một khối bánh, các thanh niên khoẻ mạnh, ai nấy cũng vã mồ hôi. Bánh dầy được làm từ gạo nếp đồ thành xôi chín rồi đổ vào cối đá cho 4-5 thanh niên cùng nhau giã, họ giã đến khi nào những hạt cơm nếp nhuyễn ra tạo thành một khối dẻo dứt không ra mới thôi. Sau đó bột được nặn thành từng cái một chấm với muối vừng ăn. Để bánh ngon hơn, dẻo hơn thì trước đó nhà chủ phải chọn gạo nếp thật ngon, ngâm từ đêm hôm trước đến hôm sau mới mang ra đồ, có như vậy thì bánh mới để được lâu. Mẻ bánh đầu tiên tất cả mọi người không ai được nếm hay thử vì đây là mẻ bánh dành để cúng ông bà tổ tiên, từ mẻ bánh thứ hai trở đi mọi người mới được ăn, các cụ cao tuổi là người được thử trước. Bữa cơm ấm cúng ngày Tết của người Dao. Đối với người Dao thì nghi lễ báo công phải mời các thầy cúng có chức sắc trong làng đến tham gia làm lễ, họ là những người có mặt sớm nhất để lo cho buổi lễ khỏi thiếu sót. Người Dao trong không quan trọng vật lễ, gia đình có gì thì cúng cái đó. Tuỳ vào điều kiện kinh tế từng gia đình, nhà ai có điều kiện làm càng to càng tốt nhưng đầu lợn và gà trống, bánh dầy là những thứ không thể thiếu. Từ đầu thang 12 Âm lịch trở đi, bà con người Dao đã được sống trong không khí những ngày Tết tràn đầy hạnh phúc và vui tươi, trong nhà ngoài ngõ ai ai cũng mang trong mình một hơi men ngày Tết. Với họ Tết năm cùng là quan trọng nhất. Bao nhiêu tiền của để dành trong một năm cũng dồn vào đây hết. Trong một năm, mỗi trưởng họ đều chuẩn bị 30 - 40 triệu để lo cho 3 cái tết: Thanh Minh, Rằm tháng 7 và Tết năm cùng, tốn kém nhưng nhà ai cũng làm vì họ cho rằng đây là truyền thống ông cha để lại. Bữa cơm ngày Tết Sau khi tất cả những lễ vật được bày trước bàn thờ gia tiên, thầy cúng có chức sắc nhất đứng trước bàn thờ cầm “Gậy thần” (chiếc gậy có một đầu nhọn bịt bằng sắt, đầu kia tiện hoa văn rất đẹp, luôn đặt ở vị trị trang trọng nhất của bàn thờ) và một cành lá tươi, đại diện cho gia chủ báo cáo quá trình một năm lao động và xin gia tiên phù hộ cho một năm mới đạt được nhiều thành tựu hơn. Sau khi cành lá được thầy cúng cắm ra trước cửa thì lần lượt các thầy cúng khác kế tiếp nhau vào làm lễ, cứ như vậy sau 2 tiếng đồng hồ thì lễ vật được mang xuống dọn ra mâm cho con cháu cùng ăn. Tất cả mọi đồ ăn đều phải đựng trong lá chuối. Trong lễ cúng tổ tiên, người Dao không dùng hương để đốt mà dùng một thứ vỏ cây mỏng rất thơm mua về bỏ vào một cái chén nhỏ. Mỗi lần đốt một cái vỏ cây lại phải dùng một viên than hồng để đốt cùng, cho đến khi nào cái chén đầy than và vỏ hương mới thôi. Mâm cơm Tết năm cùng cũng rất đặc biệt. Thầy cúng và các vị chức sắc trong làng được bố trí ngồi cao nhất và được phép ăn trước, sau đó lần lượt đến khách mời của bố mẹ, con cái và anh em nội ngoại. “Mỗi dịp cuối năm ai đi xa cũng vậy, rất nhớ những lễ tết năm cùng. Tục lệ đã ăn sâu vào mỗi thế hệ con người nơi đây rồi cứ đến ngày này ai cũng thấy phấn khởi nô nức để về dự tết với gia đình”, anh Phùng Văn Tuấn chia sẻ. Theo tục của người Dao thì tất cả thức ăn đều phải để trên lá chuối tươi, cho dù nhà có điều kiện bao nhiêu đi nữa thĩ cũng phải làm như vậy. Trong mâm cơm Tết năm cùng này, thứ nước luộc từ thịt lợn là ngon nhất mà bất kỳ một khách mời nào đến cho dù có khó tính mấy cũng không thể chê được. Nước chấm cũng làm từ nước luộc thịt nhưng lại cho hành sống làm gia vị vì quan điểm trong mâm cỗ có gì thì chế biến từ thứ đó ra để dùng, vừa lành lại vừa ngon. Thầy cúng cầm gậy thần báo công với ông bà tổ tiên. Trước khi dùng bữa, mọi người cùng nâng chén, trưởng họ phải đi một vòng mời rượu để báo cáo với bà con họ hàng về bữa cơm Tết năm cùng này để mọi người cùng phấn đấu hơn trong năm sau. Chia tay gia đình ông Thái, chia tay với không khí Tết năm cùng của đồng bào người Dao, không khí của một mùa xuân mới đang tràn ngập khắp các bản làng nơi đây. Chúc cho tất cả bà con nơi đây đón một năm mới hạnh phúc, ấm no hơn và quan trọng nhất là những nét đẹp văn hoá mang đầy bản sắc dân tộc của người Dao được gìn giữ và bảo tồn. Hồ Điệp - Duy Tuyên
  11. CUNG kính mời nhau chén rượu nồng. CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong. TÂN niên phúc lộc khơi vừa dạ. XUÂN mới tài danh khởi thỏa lòng. VẠN chuyện lo toan thay đổi hết. SỰ gì bế tắc thảy hanh thông. NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn. Ý nguyện trọn đời đẹp ước mong. Chúc mừng năm mới Nhâm Thìn.
  12. "Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba" 08/01/2012 07:34:00 - Trong dân gian vẫn truyền tụng câu "Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba" hay "Mùng năm, mười bốn, hai ba, Đi chơi cũng thiệt huống là đi buôn" để chỉ những ngày xấu, không may mắn. Vậy điều này có đúng không? Lý giải như thế nào? Đã tồn tại 3.000 năm Tôi đem câu chuyện chọn ngày của anh Hùng tới gặp lương y Vũ Quốc Trung - người đã dày công nghiên cứu và từng xuất bản sách về chủ đề này. Ông cho rằng, đó là tâm lý dễ hiểu và không phải là hiếm trong xã hội. "Trong cổ học phương Đông, người ta thường chọn ngày tốt để bắt đầu một công việc gọi là khởi sự, bởi họ tin rằng "đầu có xuôi thì đuôi mới lọt", chọn ngày tốt sẽ tạo cho họ niềm tin là công việc được thuận lợi. Sở dĩ có câu "Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba" là vì theo quan niệm dân gian, đó là ngày "Tam Nương sát". Điều này xuất phát từ thời xa xưa, khi người ta gặp những chuyện không hay như làm nhà bị sập, gây chết người hoặc làm công việc hệ trọng như cưới hỏi, đi xa nhưng không thành. Lâu dần người ta đúc kết được rằng, vào những ngày cụ thể nào đó sẽ không tốt để làm việc lớn. Từ đó có quan niệm về ngày tốt, ngày xấu. Cứ thế, quan niệm đó truyền từ đời này qua đời khác và cho đến tận hôm nay", ông Trung lý giải.Cũng theo ông Trung, việc chọn ngày giờ tốt đã có từ 3.000 năm nay. Điều này được ghi trong sách Thông thư của Trung Quốc. "Nói thế để thấy rằng, việc chọn ngày tốt - xấu không đơn thuần là một trò mê tín mà còn dựa trên những cơ sở thực tế", ông Trung nhấn mạnh. Tại sao lại tránh ngày 3, 5, 7, 14, 23 âm lịch? Theo ông Trần Ngọc Kiệm, chuyên gia phong thủy, sở dĩ có câu "Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba" là vì theo quan niệm dân gian, đó là ngày "Tam Nương sát". "Thượng tuần sơ Tam dữ sơ Thất (đầu tháng ngày 3, ngày 7), trung tuần Thập tam Thập bát dương (giữa tháng ngày 13, 18), hạ tuần Chấp nhị dữ Chấp thất (cuối tháng ngày 22, 27", đó là những ngày được cho là xuất hành hoặc khởi sự đều vất vả, không được việc. Ngoài ra, người Việt Nam cũng có quan niệm cho rằng, vào những ngày đó, Ngọc Hoàng sai 3 cô gái xinh đẹp (Tam nương) xuống hạ giới để làm mê muội và thử lòng con người. Nếu ai gặp phải sẽ bị các cô làm cho bỏ bê công việc, đam mê tửu sắc, cờ bạc... Đồng thời, đó cũng là một lời nhắc nhở con cháu nên làm chủ trong mọi hoàn cảnh, chịu khó học tập, cần cù làm việc. Còn các ngày 5, 14, 23 lại được cho là ngày Nguyệt kỵ. Các ngày này cộng lại đều bằng 5, dân gian thường gọi là ngày "nửa đời, nửa đoạn" nên làm gì cũng chỉ giữa chừng, khó đạt được mục tiêu. Ông Kiệm cũng cho biết thêm, phi tinh trong cửu cung bát quái gồm có nhất bạch, nhị hắc, tam bích, tứ lục, ngũ hoàng, lục bạch, thất xích, bát bạch, cửu tử. Trong số cửu tinh này thì sao ngũ hoàng (thuộc trung cung) được cho là xấu nhất, vận sao ngũ hoàng bay tới đâu mang họa tới đó. Cứ theo phi tinh 9 cung lại quay trở về ngũ hoàng. Đặc biệt nhất là ngày 5 tháng 5 (trùng lặp Ngũ hoàng thổ), người ta thường nói "nen nét như rắn mùng 5". Vào ngày này rắn không ra khỏi mà bởi vì thời gian đó phương lực ly tâm từ Trái Đất kết hợp với lực hấp dẫn từ Mặt Trăng, hướng tâm từ Mặt Trời và vũ trụ không bình thường gây cho rắn run sợ, ù tai, hoa mắt không dám ra ngoài. Tương truyền ai chặt được đầu rắn mùng 5 ra đường sẽ gặp nhiều may mắn. Còn ông Vũ Quốc Trung lại lý giải ở một góc độ khác. Ông Trung cho rằng, số 3, 7 trong câu "Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba" chỉ là một sự ước lệ, ám chỉ những ngày lẻ. Bởi quan niệm truyền thống cho rằng, con số lẻ là những con số đơn độc, còn số chẵn mới là số có đôi có cặp. Do đó, làm việc gì cũng nên tránh sự đơn độc thì khả năng thành công sẽ cao hơn. Còn số 5, 14, 23 là số chỉ dành cho vua chúa. "Có thể xuất phát từ việc không muốn dân thường dùng chung ngày với mình nên các bậc vua chúa mới đặt ra câu nói ấy". Quan niệm truyền thống cho rằng, con số lẻ là những con số đơn độc, còn số chẵn mới là số có đôi có cặp. Do đó, làm việc gì cũng nên tránh sự đơn độc thì khả năng thành công sẽ cao hơn. Không nên quá câu nệ Mặc dù lý giải những ngày Tam nương, Nguyệt kỵ là xấu song theo ông Trần Ngọc Kiệm, trong khoa Chiêm tinh học thì những ngày này không được cho là quan trọng so với các sao chính tinh và ngày kiêng kỵ khác gồm: Sát chủ, Thụ tử, Trùng tang, Trùng phục, Không sàng, Không phòng, Thiên tai địa hoạ, Trời nghiêng đất lở, Hoang ốc, Thiên hình hắc đạo... "Tuy nhiên, dân gian vẫn quan niệm "có thờ có thiêng", do đó nhiều người vẫn kiêng kỵ đi xa, làm việc lớn vào những ngày đó. Đó là đức tin của họ", ông nói. Ông Vũ Quốc Trung cũng nhấn mạnh: "Cho đến nay vẫn chưa có ai kiểm chứng đây là những ngày xui xẻo, đó chỉ đơn thuần xuất phát từ quan niệm của dân gian, cứ người này truyền cho người khác mới tạo thành như thế. Việc kiêng kỵ này cũng là một liệu pháp để mọi người có động lực, niềm tin, yên tâm vào công việc đang làm, sẽ làm. Tuy nhiên, không nên lệ thuộc quá nhiều sẽ gây hỏng việc, đồng thời sa đà vào những trò mê tín dị đoan". Thanh Thủy
  13. Đà Nẵng:Bí ẩn 6 giếng vuông 300 năm tuổi Thứ Hai, 09/01/2012 - 16:30 (Dân trí) - Có đến 4 cái giếng cổ hình vuông trên dưới 300 tuổi còn nguyên vẹn tại làng Nam Ô (phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng). Hiện chưa có nghiên cứu nào cho biết giếng cổ của người Chăm hay người Việt.Theo nguồn tư liệu thực địa của ông Đặng Dùng, cư dân bản địa chuyên nghiên cứu lịch sử văn hóa địa phương, làng Nam Ô có đến 6 cái giếng cổ hình vuông được tiền nhân tạo lập, phân bố đều khắp theo hướng Đông - Tây - Nam - Bắc với khoảng cách từ 200 đến 300 mét. Trong đó, có 4 cái vẫn còn nguyên vẹn, chất lượng không thay đổi, là giếng Đình, giếng Thành Cung, giếng Trò và giếng Lăng. Giếng Lăng tại làng Nam Ô (phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng) Qua quan sát đo đạc, cả 4 giếng trên có hình vuông, được ghép bằng những tấm đá xanh có bề dày 0,10 mét, ngang 1 mét và cao 0,6 mét. Cứ 4 tấm đá như thế ghép thành một ô vuông mỗi cạnh 1 mét ăn trong khớp rãnh được tạo sẵn. Từ đáy giếng - từng ô vuông đặt chồng lên nhau trong khe âm dương lên tới thành giếng. Mỗi giếng có từ 12 đến 14 lớp như thế (tùy theo thế đất cao thấp và mạch nước nơi giếng tọa lạc). Bốn lớp trên cùng khép vào khe của 4 trụ đá vuông 0,20 mét x 0,20 mét gọi là trụ giếng. Trên mỗi đầu trụ giếng khắc sâu chạy viền thành cổ trụ. Trên thành giếng là 4 thanh đá khác, dài 1 mét vuông đặt nằm ngang - 2 đầu thanh đá ăn vào mộng (đuôi cá) đục sẵn trên vai trụ giếng. Đáy thành giếng có khe áp vào đầu tấm đá dưới nền thành giếng có kết cấu chắc chắn, vững chãi. Ông Dùng cho biết thêm, các cụ xưa kể rằng để làm kiểu giếng đá vuông này, người xưa phải lấy đá xanh từ xa, nghe đâu là Trường Định (nằm giữa nguồn sông Cu Đê - nay là xã Hòa Bắc, cách làng Nam Ô 6 đến 7 km về phía Tây) đem về chế tác theo quy cách: Khắc chữ lưu năm đời vua vào trụ đá là năm tạo lập. Để giếng có mạch nước tốt, không bị khô cạn vào ngày đại hạn, người xưa đã mời các bậc thâm nho trong vùng, các thầy địa lý để tìm và chọn nơi tụ thủy. Sau đó đào, tạo một khoảng đất rộng xung quanh chỗ đánh dấu, đào xuống khi nào gặp mạch nước, múc một chén, nếm bằng lưỡi, ngửi bằng mũi và để qua đêm nhìn bằng mắt xem có phèn đọng hay không. Xấu thì tìm chỗ khác, tốt thì tiến hành xếp từng phiến đá thành ô vuông, sắp dần lên cho đến khi đặt trụ giếng, khép đá thành tang giếng. Sau khi giếng được công nhận là gặp mạch nước tốt, mọi người reo hò hoan hỷ bày tỏ niềm vui. Giếng chính thức đưa vào cho dân làng sử dụng. Các giếng cổ hình vuông trên là của cư dân Champa trên đất Nam Ô hay là sản phẩm của người Việt đến nay vẫn bỏ ngỏ, bởi chưa có một cuộc khảo cứu nào của các nhà chuyên môn để trả lời vấn đề này. Tốc độ đô thị hóa chóng mặt, nếu không có sự can thiệp kịp thời của các cơ quan chức năng, các giếng cổ hàng trăm năm tuổi trên lo rằng sẽ nhanh chóng bị nhà cửa, đường sá đè lấp. Bởi đây không chỉ kết tinh tài năng kỹ thuật của cha ông mà còn ẩn chứa những giá trị văn hóa lịch sử quý giá. Viết Hảo
  14. TƯ LIỆU THAM KHẢO THUYẾT VỀ "KHÍ" CỦA TRƯƠNG TẢI HÀM NGHĨA CHUNG VỀ KHÍ Khí là nguồn gốc hoặc là bản thể của vạn vật trong thế giới tự nhiên. Khí là thứ vật chất tinh vi, chuyển động không ngừng, Khí là cơ sở thống nhất của Thiên Địa vạn vật, là nguồn gốc sinh thành vạn vật. Lý luận này có liên quan đến thuyết sinh – thành vũ trụ cổ đại. Khí là nguyên nhân sự tồn tại của thiên địa vạn vật, cho nên Khí không là hình thái vật chất cụ thể nào, nó không có hình thể, không có âm thành và hình thái. Như vậy, những người đưa ra và theo thuyết Khí bản thể luận đã loại bỏ ý kiến cho rằng Lý, Thái cực, Đạo có trước Khí, và chúng ngự ở trên Khí để chi phối Khí; họ chỉ rõ: Khí là bản thể cao nhất. Mặt khác, họ thuyết minh mối liên kết giữa Khí với Thái hư, và nêu rõ: Khí là phạm trù thông thường mang nội dung trừu tượng. Khí là nguyên tố hoặc chất liệu của tồn tại khách quan. Chất liệu này, nguyên tố này hoặc hữu thể, hữu hình, có thể thấy được, có thể nghe được; hoặc là vô hình, vô thể, không thấy được, không nghe được. Khí là hiện tượng vật chất vi nhỏ, là thứ hỗn độn chưa có hình chất, sau khi ngưng tụ mới trở thành có hình có tượng. Nghiên cứu Khí sẽ nhận thấy tính thống nhất của vạn vật trên thế giới, nghĩa là thấy được bản chất chung của những hiện tượng và của vạn vật. Những học gia theo quan điểm Khí bản thể luận, thì coi Khí là phạm trù cao nhất của kết cấu logic triết học lý luận mà họ tin theo. Các học gia theo quan điểm Lý học bản thể luận và Tâm thức bản thể luận cũng cho rằng: Khí có tính vật chất và tính năng động, Khí nhập vào Đạo, vào Lý, vào Thái cực, và vào Tâm, đó là nguyên tố, chất liệu hoặc khâu trung gian để cấu tạo nên thế giới muôn vật. Khí là thực thể khách quan có động thái công năng. Khí không ngừng chuyển động biến hóa, lúc thì tụ vào, lúc thì tản ra, nghi ngút, khi bay bổng, khi trầm lắng, lúc co đặc, lúc dàn mỏng, … Chuyển động biến hóa chính là hình thức và điều kiện tồn tại của Khí. Nếu Khí không có công năng động thái này thì Khí không tồn tại và chẳng có giá trị gì. Khí hàm chứa cặp âm dương đối lập thống nhất, Khí là bản chất của vật, cho nên Khí chuyển động biến hóa không ngừng thì mọi vật luôn chuyển động và biến hóa. Vai trò của Khí trong một hệ thống được xem như thứ vật chất trung gian môi giới, chuyển động biến hóa của Khí mà tạo tác nên muôn vật, thuộc tính của Khí cũng ảnh hưởng đến muôn vật. Khí là sinh mạng của con người. Con người sống thọ hay chết yểu, đức tính con người thiện hay ác, đời sống vật chất giầu hay nghèo, sang hay hèn, địa vị tôn quý hay ti tiện, đều liên quan đến Khí. Khí chuyển động ở cơ thể con người thực hiện đạo dẫn thần khí, đấy chính là công pháp nhằm điều chỉnh cơ năng sinh lý cơ thể con người, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất, tăng cường sinh lực và khả năng miễn dịch, trị bệnh kiện thân, kéo dài tuổi thọ. Vì thế Khí là đồng hồ sinh học mang nội dung những thông tin về sinh mệnh cơ thể người, bởi vì con người bẩm thụ khí mà sinh ra. Khí có Khí trong sạch và Khí vẩn đục, Khí u ám, Khí quang minh, Khí thành hiền, Khí thô bỉ, do bẩm thụ Khí khác nhau mà từng con người có tư chất, thọ yểu, quý tiện khác nhau. Khí là vật chất môi giới hoặc môi thể đầy ắp trong vũ trụ. Trong khoảng không vũ trụ, các hành tinh như nhật nguyệt trăng sao, cùng chuyển động trong một trật tự hài hòa, mọi sự vật tương hỗ cùng tồn tại trong một hệ thống, giữa các sự vật đó có một dòng Khí quán thông với nhau, làm cho các vật thể có sức hút để giữ lấy nhau, và có lực đẩy để khỏi va chạm vào nhau. Sức hút ấy, lực đẩy ấy, gọi là “ái cự lực”. Nó làm cho mọi vật trong vũ trụ vừa cự nhau vừa dựa vào nhau mà tồn tại. Khí chính là môi giới hoặc môi thể làm cho ánh sáng, âm thanh được phát ra và truyền đi lan tỏa rộng khắp. (Khí hút nhau gọi là “ái lực”, khí đẩy nhau gọi là “cự lực”, cái gọi là “ái cự lực” tạo nên sự chuyển động trong mâu thuẫn tự thân của Khí) Khí là phẩm cấp đạo đức. Khí là do tụ nghĩa mà sinh thành một lý tưởng đạo đức, Khí này đầy ắp giữa khoảng trời đất, nó quán thông với Khí của đất trời. Thứ Khí này, không phải thứ huyết khí cụ thể, mà là tri Khí, thần Khí, là một loại tinh thần, ý thức hoặc ý chí, đó cũng là sự tu dưỡng đạo đức. Khí hàm nghĩa vừa là thực thể của tồn tại khách quan, vừa là tinh thần đạo đức của chủ thể. Khí là phàm trù bao trùng cả thế giới tự nhiên cùng toàn bộ đời sống xã hội, sự sống của con người, Khí cũng là phạm trù mà mọi dòng phái, mọi học phái triết học cùng sử dụng chung trong suốt chặng đường phát triển của lịch sử. Khí có hàm nghĩa rất sâu rộng, khó mà lý giải một cách phiến diện và đơn nhất. THÁI HƯ TỨC LÀ “KHÍ” Trương Tải (1020-1077) là triết gia thời Bắc Tống, Ông sáng lập ra học phái Quan học, với tư tưởng Khí là bản thể của vũ trụ, xây dựng logic kết cấu Khí nhất nguyên luận, ông cho rằng: Thái hư vô hình là trạng thái bản nhiên (vốn có) của Khí, Khí là nguồn gốc và quá trình biến hóa của muôn vật trong vũ trụ. Khí với hư, hữu với vô, âm với dương, coi Khí hóa là Đạo, Đạo với Lý gắn bó chặt chẽ với nhau, quan điểm Lý khách thể thật rõ ràng. Trương Tải cho rằng, Khí tức là hư, hư tức là Khí; Khí tụ thành hình, Khí tan biến thì hình mất, Khí trở về nguồn, quay về Thái hư. Thái hư là tên gọi khác của Khí, hàm nghĩa của Khí và Thái hư tương đương nhau, chúng khác nhau ở chỗ, Thái hư là Khí vô hình, trạng thái hữu hình là muôn vật. Thái hư không có thuộc tính của hữu hình. Chính mông - Thái hòa, Trương Tải chỉ rõ: "Thái hư không thể không có Khí, Khí không thể không tụ thành muôn vật, muôn vật không thể không tản ra thành Thái hư, theo đó mà quay vòng không bao giờ dứt". Thái hư vô hình và muôn vật hữu hình là quá trình chuyển hóa lẫn nhau, bởi vì chúng cùng chung nguồn gốc là Khí. Từ quan điểm "Thái hư vô hình là bản thể của Khí", Trương Tải cho rằng Thái hư cũng là bản nguyên của vũ trụ. Trương tử ngữ lục - trung viết: "Hư là tổ tông của trời đất, trời đất sinh từ hư không" (Hư giả, thiên địa chi tổ, thiên địa tòng hư trung lai). Quan điểm "hư có thể sinh ra khí", coi hư là bản nguyên của vũ trụ, coi Khí do Thái hư sinh ra, quan điểm này trái ngược với lý luận "Thái hư tức là Khí" của Trương Tải. Ông chỉ rõ, quan điểm "Hư sinh Khí" thực chất là quan điểm "Hữu sinh ra từ Vô" của Lão Tử, đó là lối tư duy hư cấu, một thứ bản thể mang tính quan niệm, thoát ly thế giới vật chất, sau đó lại từ cõi "Hư" hoặc "Vô" sinh ra thế giới vật chất. Trương Tải kiên trì quan điểm: Khí là gốc, khẳng định vật chất là tính bản nguyên và là tính chất thứ nhất của Khí. Thật rõ ràng ! Đạo thể hiện quy luật mang tính cương lĩnh định hướng; Lý thể hiện quá trình mang tính nguyên tắc thực thi. Đạo và Lý thể hiện sự chuyển động biến hóa của Khí , chúng không phải bản thể ở trên Khí, mà thống nhất trong hệ thống triết học Khí bản thể luận. Ông nói: "Bởi Thái hư nên mới có tên gọi là Thiên, bởi Khí hóa nên mới có tên gọi là Đạo". Trương Tải cho rằng Đạo là "Do Khí hóa mà có tên là Đạo", tức là quá trình chuyển động biến hóa của Khí mang tính vật chất, xa rời Khí là xa rời chuyển động của Khí, như vậy sẽ không có cái gọi là Đạo. Khi nói về phạm trù Lý, ông viết: "Khí trời đất tuy hàng trăm ngả tụ và tản, được và mất, nhưng chúng vẫn thuận theo Lý, không rối loạn", đều tuân theo quy luật và trật tự, đó chính là Lý. Đạo và Lý không thể tách rời khỏi Khí mà tồn tại riêng. "Thái hư là thể của Khí" đã giải quyết đúng mối quan hệ Thái hư với Khí, Thái hư vô hình và muôn vật hữu hình được đặt thống nhất trong Khí. Trên cơ sở "Thái hư tức là Khí", Trương Tải nêu quan điểm Khí vừa là 'hữu' vừa là 'vô'. "Khí năng nhất hữu vô" tức là Khí có thuộc tính thống nhất 'hữu - vô' ngay trong bản thân Khí. Chính mông - Thái hòa viết: "Nếu nói vô vàn tượng là sự vật thấy được trong Thái hư, thì đó là vật với hư không tồn tại mối liên hệ trợ giúp nhau. Hình độc lập với Hình, Tính độc lập với Tính. Hình và Tính, trời và người không tồn tại mối qua hệ qua lại với nhau; kiến giải như vậy là sa vào thuyết sai lầm, coi trời đất núi sông là hệ quả ảo hóa". Thái hư là vô hình, muôn tượng là hữu hình, tuy Trương Tải xây dựng mối liên hệ giữa chúng, thông qua thuyết Khí tụ tán, nhưng giữa chúng vốn có sự khác biệt. Ông chỉ rõ, nếu không nhận ra sự khác biệt đó, sẽ không thể hiểu được muôn vật sinh ra như thế nào, tách rời bản nguyên với muôn vật, coi chúng là tồn tại độc lập riêng rẽ, không liên quan với nhau, thì sa vào quan điểm sai lầm của Phật giáo, coi thế giới Càn Khôn là ảo hóa. Trương Tải nói: "Biết hư không tức là Khí, hữu vô, ẩn hiện, thần hóa, tính mệnh quan hệ trong sự thống nhất vô nhị. Nhìn vào những chuyển động tụ tán, xuất nhập, có hình và không có hình, có thể biết được gốc sinh ra chúng, hiểu biết đó chính là đi sau vào Dịch". "Bản" tức là lấy Khí làm gốc, hữu vô, ẩn hiện, tụ tản, có hình hoặc không có hình đều bắt nguồn ở Khí, chúng là hai loại hình thái biểu hiện khác nhau của Khí bản thể. Khi Khí tản, chúng là Thái hư vô hình, biểu hiện của chúng là: vô, ẩn, u tối, không có hình, hư. Khi Khí tụ, chúng là muôn vật hữu hình, biểu hiện của chúng là: hữu, hiển, minh, hình, và thực. Đạo và Dịch phản ánh chuyển động biến hóa của Khí. Hoành cừ dịch thuyết - Hệ từ thượng viết: "Khí tụ lại, hiện ranh giới rõ ràng thì đó là hữu hình. Khí tản ra, không thấy ranh giới rõ ràng thì đó là vô hình. Vậy, khi mà Khí tụ lại, sao lại không gọi chúng là Hữu ? Khi mà Khí tản ra, sao lại không theo đó gọi chúng là Vô ?". "Từ vô sinh ra hữu, biểu hiện thành vật. Từ hữu chuyển thành vô, đó là quá trình ẩn mà biến đi...đại ý là không vượt quá giới hạn hữu vô, vật tuy là thực mà gốc của thực ở cõi vô" (vật tuy thị thực, bản thị hư lai). Trương Tải cho rằng, Khí kiêm hai thuộc tính hữu và vô, đây là thuộc tính của tự nhiên. Hai thuộc tính của tự nhiên dựa vào nhau, trợ giúp nhau, không thể khuyết một trong hai thuộc tính đó. Chính mông - Càn xưng viết: "Những gì có thể tạo nên hình dạng đều là Hữu, mọi cái là Hữu đều là Tượng, mọi Hình Tượng đều là Khí". Từ Khí hóa nên Tượng, từ Tượng hóa thành Hữu. Khi Khí tản chưa tụ lại thì đó là Vô. "Thái Hư là gốc của Khí, thì trong suốt vô hình". Từ Khí hóa hư, hư thì vô hình. Thuộc tính "vô" của Khí không phải tuyệt đối hư vô, đó chính là chỉ về Thái hư vô hình, mắt không nhìn thấy được, khi so sánh với muôn vật hữu tượng hữu hình thì Thái hư là vô hình, cho nên gọi đó là Vô, nhưng Thái hư vô hình không phải tuyệt đối hư vô, mà trong cái "hư" hàm chứa cái "thực", trong cái "vô" hàm chứa cái "hữu". Trương tử ngữ lục - trung - Trương Tải nói: "Đạo của trời đất lấy cực hư làm thực, con người cần tìm lấy cái thực trong cái hư" (Thiên địa chi đạo vô phi dĩ chí hư vi thực, nhân tu hư trung cầu xuất thực). Muôn vật hữu hình tuy là thực hữu, nhưng sự vật cụ thể chung quy phải tiêu vong. So sánh với sự vật cụ thể biến hóa mất đi, thì Thái hư vô hình là vĩnh hằng. Hữu và Vô luôn chuyển hóa lẫn nhau, sự vật hữu hình chuyển hóa thành Thái hư vô hình, Thái hư vô hình chuyển hóa thành sự vật hữu hình. Thế giới vật chất biến hóa theo quy luật Khí hóa tụ tán, hữu và vô liên hệ với nhau. Vô không phải tuyệt đối hư vô, mà chỉ là vô hình của Thái hư. Trương tử ngữ lục - Trung viết: "Kim loại sắt thép cũng đến lúc phải mục ruỗng, núi đồi cũng đến lúc phải đổ nát. Mọi vật hữu hình đều dễ hoại, chỉ có Thái hư là không lay chuyển, cho nên, Thái hư là thực nhất". Chính mông - Thái hòa - Trương Tải nhấn mạnh: "Biết Thái hư là Khí, không phải là Vô". Trong hư không mênh mông vô cùng vô tận, đâu đâu cũng là Khí mịt mù. Bản thân Thái hư chính là Khí, Khí của Thái hư là vô hình. Hiểu được đạo lý này, thì không có cái gọi là Vô; Dịch - Hệ từ: "Thánh nhân ngẩng lên và cúi xuống, rồi nói biết hàm nghĩa của 'u minh', mà không nói biết hàm nghĩa của 'hữu vô'. 'U' tức là 'vô', 'minh' tức là 'hữu'. Dùng khái niệm 'u' thay thế cho khái niệm 'vô', để tránh ngộ nhận 'vô' là khẳng định tuyệt đối hư vô vậy". Khí là thứ vật chất mang tính liên tục, tính tự có khiêm thuộc tính hữu và vô. Đây thuộc về phạm trù tính hữu hạn và tính vô hạn, tính tạm thời với tính vĩnh hằng, tính gián đoạn với tính liên tục trong sự tồn tại của thế giới vật chất. Sự cầu thị trong thế giới Càn Khôn. Trương Tải cho rằng, mâu thuẫn tồn tại trong nội bộ của sự vật là căn nguyên làm cho sự vật chuyển động. Khí âm dương cảm ứng nhau, biến hóa co dãn không ngừng, sự chuyển động này ở trong nó hàm chứa biến hóa, là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người. Sự biến hóa đó gọi là "Thần", có nghĩa là biến hóa thần diệu khôn lường. Khí âm và Khí dương tác động lẫn nhau là căn nguyên của mọi biến hóa. Như vậy, sự biến hóa tồn tại trong cả âm lẫn dương, tồn tại ngay trong cả động và tĩnh, tồn tại trong cả thực và hư; đó là thuộc tính cố hữu của Khí, thuộc tính này được bộc lộ ra muôn vàn sự vật cụ thể, Khí chỉ là một mà biến hóa của Khí có nhiều vẻ khác nhau. Khí là bản nguyên của "vô" và sự vật, Khí là một, bản nguyên của vô vàn sự vật cũng chỉ là một. Nhưng nhất Khí phân chia âm dương, âm dương đối lập thể hiện trong muôn vàn sự khác biệt. Cho nên, Trương Tải đề xuất quan điểm biện chứng "nhất vật lưỡng thể". Hoàng cừ dịch thuyết - Hệ từ hạ viết: "Khí Thái hư là một vật có âm có dương, nhưng lại có lưỡng thể thuận trong sự thống nhất" (Thái hư chi Khí, âm dương nhất vật dã, nhiên hữu lưỡng thể kiện thuận nhi dĩ). Khí Thái hư là một, Khí có âm có dương, đó là hai. Hai tồn tại trong cái một, biểu hiện thành hai mặt đối lập, "nhất" (một) là chỉ sự thống nhất của hai mặt đối lập. Khí là bản nguyên của vũ trụ, là sự đối lập thống nhất của âm dương. Nếu không có đối lập sẽ không có thống nhất. Nếu không thống nhất thì không có đối lập, "nhất" và "lưỡng" cùng dựa vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau, muôn vật trong trời đất giao cảm cùng biến hóa, sinh sôi và phát triển. Hoành cừ dịch thuyết - Thuyết quẻ viết: "Nhất vật lưỡng thể" là quy luật phổ biến trong vũ trụ, tất cả mọi sự vật đều tồn tại hai mặt vừa đối lập vừa thống nhất. "Nhất" đó là "Thần"; "lưỡng" nghĩa là biến hóa khôn lường, có "lưỡng" cho nên tự nó biến hóa phát triển cái "nhất", có nghĩa là trời cùng tham dự trong quá trình biến hóa". Hư thực, động tĩnh, tụ tản, trong đục là biểu hiện cụ thể của hai mặt đối lập, cũng là nội hàm cụ thể của nhất Khí âm dương, hai mặt đối lập âm dương cùng hợp thành thể thống nhất của Khí, chúng là căn nguyên của mọi biến hóa chứa đựng trong sự chuyển động, đồng thời mọi vật cũng được sinh ra trong quá trình biến hóa đó. Trương Tải viết: "Nếu không có hai mặt đối lập thì không thấy sự thống nhất, nếu không thấy sự thống nhất thì không có sự sống của hai mặt đối lập. Biểu hiện của lưỡng thể trong sự thống nhất hư thực, động tĩnh, tụ tản, trong đục" (Lưỡng bất lập tắc nhất bất khả biến, nhất bất khả biến tắc lưỡng chi dụng tức. Lưỡng thể giả, hư thực dã, động tĩnh dã, tụ tán dã, thanh trọc dã, kỳ cứu nhân chi dĩ). "Khí có âm dương, chuyển động dần đó là biến hóa, hợp nhất khôn lường thì gọi là thần" (Khí hữu âm dương, thôi hành hữu tiệm vi hóa, hợp nhất bất trắc vi thần). Trong quá trình chuyển động biến hóa, "có biến thì có tượng" (hữu biến tắc hữu tượng). Hoành cừ dịch thuyết - Hệ từ thượng viết: "Trời chuyển động nhất Khí làm cho muôn vật sinh sôi". Khí chuyển động sinh ra muôn vật, mặt khác, muôn vật là thể vật chất chứa đựng quá trình chuyển động. Quá trình biến hóa được chia làm hai giai đoạn: biến hóa dần dần và biến hóa rõ rệt: "Biến là mô tả sự chuyển hóa rõ rệt, hóa là mô tả sự chuyển hóa dần dần". Cái bên ngoài thực hữu thấy được, thì đó là sự biến; cái bên trong thực có mà không thấy được sự chuyển hóa dần dần, đó là sự hóa. Nên nói: "trong hóa ngoài biến, trong chậm ngoài nhanh, trong âm ngoài dương, trong hư ngoài thực". Trương Tải cho rằng, sự vật chuyển hóa dần dần, để đạt tới chuyển hóa nhanh rõ rệt. Biến và Hóa chuyển hóa lẫn nhau. Chính mông - Thần hóa viết: "Biến chuyển lên hóa, chuyển từ thô đến tinh. Hóa để mà sắp xếp, chọn lọc thì gọi là biến, biến rõ rệt tinh tế" (Biến tắc hóa, dẫn thô nhập tinh dã. Hóa nhi tài chi vị chi biến, dĩ trữ hiển vi dã). Tư tưởng nhận thức về quá trình biến hóa trong chuyển động của vạn vật thật sâu sắc ! Hoành cừ dịch thuyết - Thượng kinh Quan viết: "Có âm dương thì nhất định chúng cảm ứng nhau. Vậy, cảm ứng của trời có liên quan gì đến tư duy ? Đó là tự nhiên". Cảm ứng nghĩa là ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau, có khác nhau thì có cảm ứng, những điều này đã xác định mối liên hệ giữa các sự vật với nhau, khi có cảm ứng âm dương. Sự cảm ứng âm dương phát sinh một cách tự nhiên, không liên quan đến tư duy của con người. Chính mông - Càn xưng viết: "Muôn vật vốn có cùng một nguồn gốc, cho nên một gốc có thể gắn hợp những mặt khác nhau, hiện tượng có gọi là cảm, âm dương cảm ứng lẫn nhau, vì chúng có cùng một nguồn gốc. Muôn vật do trời đất sinh ra, tuy chúng thụ Khí khác nhau nhưng đều luôn cảm ứng lẫn nhau". "Ham muốn của con người giảm đi theo tuổi già, đấy là sự việc cảm ứng nhau. Cảm cũng như ảnh hưởng, không có lặp lại trước sau, có chuyển động là có cảm ứng, tất cả mọi cảm đều ứng, vậy nói mọi cảm ứng đều diễn ra nhanh chóng". Muôn vật trong vũ trụ cảm ứng lẫn nhau, bất kể cùng loại hay khác loại, sự vật của thế giới tự nhiên hay của xã hội loài người, chúng đều cảm ứng có mối liên hệ với nhau một cách phổ biến; đó là quy luật phổ biến của vũ trụ. Trương Tải trình bày mô thức tồn tại "nhất vật lưỡng thể", khẳng định Khí âm dương cảm ứng lẫn nhau, và chuyển động biến hóa cấu tạo nên Khí hóa lưu hành. Nguyên nhân làm cho sự vật chuyển động biến hóa là nội lực bản thân của sự vật. Chính mông - tham lưỡng viết: "Tất cả mọi chuyển động quay tròn nhất định phải có động cơ, đã gọi là động cơ thì không thể từ bên ngoài đưa tới". Động cơ, đó chính là tác động tương hỗ của nhị Khí âm dương. Biến hóa vô cùng tận của Khí âm dương thúc đẩy cả vũ trụ biến hóa. Mối liên hệ giữa Thái hư với Khí, chỉ rõ Thái hư là trạng thái vô hình và bản nhiên của Khí, Khí là bản thể của vũ trụ, Khí có thuộc tính tương phản: hữu vô, hư thực, ẩn hiện. Khí âm dương tác động lẫn nhau, làm cho thế giới vật chất không ngừng chuyển động và biến hóa. Đối với Trương Tải, Khí là phạm trù cao nhất. Mệnh đề Khí có âm dương, nhất vật lưỡng thể, có ảnh hưởng sâu rộng với hậu thế. Ông nói: "Rất khó nhận ra đâu là mối tiếp giáp cái hữu với cái vô; tiếp giáp hữu hình với vô hình. Cần hiểu là Khí bắt đầu từ đây, thì Khí kiêm cả hữu và vô, vô thì Khí sinh ra một cách tự nhiên, sự sống của Khí tức là Đạo là Dịch". Trương Tải nói: “Khí năng nhất hữu vô. Hữu sinh hình, vô sinh dụng.” Hà Uyên sưu tầm.
  15. Thanh Hóa: Phát hiện trống đồng cổ dưới chân núi Rú Thần Chủ Nhật, 01/01/2012 - 14:08 (Dân trí) - Trong lúc xới đất trồng cây khu vực dưới chân núi Rú Thần, ông Trịnh Văn Trung (42 tuổi, thôn Thọ Vực, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) đã phát hiện ra một chiếc trống đồng cổ. Theo ông Trung, mới đây, trong lúc đang xới đất trồng cây ông đã phát hiện một chiếc trống đồng cổ. Ngay sau khi phát hiện chiếc trống đồng cổ nói trên, người dân đã báo cáo lên chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng. Chiếc trống đồng cổ mới được người dân phát hiện. Sau khi nhận được thông tim, Viện Khảo cổ học đã về tìm hiểu. Theo nhận định ban đầu của các nhà khảo cổ học, rất nhiều khả năng chiếc trống đồng mới được phát hiện thuộc về văn hóa Đông Sơn.Theo quan sát, kích thước của chiếc trống khá lớn với đường kính khoảng 0,8m, chiều cao 0,6m. Giữa mặt trống đồng có một ngôi sao 12 cánh, xen giữa các cánh sao là những họa tiết và những đường vạch chéo có hình tam giác lồng vào nhau. Nhiều hoa văn tinh xảo trên mặt trống đồng. Bao quanh các ngôi sao là các vòng, nhiều những hình người đan xen lồng ghép vào nhau, tái hiện một bức tranh về đời sống và sinh hoạt của con người thời bấy giờ như giã gạo, săn thú, múa hát, chèo thuyền... Bên cạnh đó là những hình động vật xen lẫn với hoa văn hình học.Hiện tại, chiếc trống đang được các nhà khảo cổ tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu kỹ về nguồn gốc và xuất xứ. Nguyễn Thùy - Duy Tuyên
  16. Chúc mừng sinh nhật Tuyết Minh. Thêm tuổi mới đầy vui vẻ và hạnh phúc.
  17. CHÚC MỪNG SINH NHẬT HUYNH HOÀNG TRIỀU HẢI CHÚC MỪNG SINH NHẬT THIÊN LUÂN
  18. NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20-11 HỌC TRÒ KÍNH CHÚC SƯ PHỤ SỨC KHỎE, BÌNH AN, VINH DANH VĂN HIẾN VIỆT
  19. Tận mục ngôi nhà triệu đô ở Bắc Ninh Không ít những tay buôn chuyên săn tìm nhà cổ đến gạ gẫm, trong đó có cả người nước ngoài đến tham quan nghiên cứu tìm hiểu và ngã giá triệu đô, đề nghị mua lại toàn bộ khung ngôi nhà để mang về trưng bày. Nỗi lòng của chủ nhân ngôi nhà cổ Đến làng Mẫn Xá, Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh hỏi về ông Nguyễn Văn Trang ai cũng biết. Họ biết đến ông bởi ông là một lão nông chân đất đã thẳng thừng khước từ cả triệu USD để giữ lại cho con cháu và thế hệ về sau một ngôi nhà cổ mà theo ông đây là ngôi nhà cổ nhất xứ Kinh Bắc và được tổ tiên dòng họ Nguyễn Văn làm từ thời vua Minh Mạng. Đi qua một đoạn đường ngoằn nghèo chỉ rộng khoảng 1m, mặt đường phủ rêu xanh trên nền gạch màu đỏ, hai bên là những dãy nhà san sát, chúng tôi cũng tìm đến được nhà ông Nguyễn Văn Trang.Ông Trang năm nay đã bước qua tuổi 71, tự nhận mình già trước tuổi nhưng đổi lại ông vẫn còn khỏe và trí nhớ rất minh mẫn. Với chất giọng khàn khàn ông từ từ kể cho chúng tôi nghe về gốc tích căn nhà và xen vào đó là nỗi lòng của một lão nông quyết giữ bằng được của hồi môn mà tổ tiên để lại. Toàn cảnh ngôi nhà cổ của ông Trang Theo gia phả dòng họ Nguyễn Văn ở Mẫn Xá thì cụ tổ ông Trang là Nguyễn Văn Cẩn, sinh năm 1753, đến đất này lập nghiệp và được coi là một bậc “phú gia địch quốc” (ý nói có tài sản sánh ngang quốc gia) tại đất Kinh Bắc xưa. Trong gia phả chép lại, ngôi nhà cổ này được dựng vào năm 1774, năm đó cụ Cẩn mới ở tuổi 21.Với nghề bốc thuốc và dạy học, dù mới 21 tuổi nhưng cụ đã có khối tài sản khổng lồ và cụ cũng vài lần phát chẩn cho dân nghèo. Ông Trang hiện là trưởng họ Nguyễn Văn và là cháu đời thứ 7 của cụ Cẩn, đang sống và gìn giữ ngôi nhà cổ.Theo ông Trang hiện tại ngôi nhà vẫn giữ được rất nhiều nét độc đáo mà hiếm ngôi nhà nào có được: Ngôi nhà được làm theo lối kiến trúc cổ nhất mà ông từng biết đó là “xà cọc con tròng kẻ truyền”, với nhiều hình chạm trổ tinh xảo và những nét hoa văn quý hiếm. Cả ngôi nhà được khớp lại bởi 8 vì, mỗi vì 5 cột, tổng cộng có 40 cột hoàn toàn bằng gỗ lim, cột lớn nhất có đường kính khoảng 35cm. Ngôi nhà được chia làm 7 gian, với diện tích khoảng 110m2, trong đó 3 gian giữa để bàn thờ tổ tiên và nơi tiếp khách…còn lại 4 gian chia cho hai bên để làm phòng ngủ. Gian buồng được thông với 3 gian giữa của ngôi nhà bằng của nách được thiết kế rất đẹp theo hình tò vò. Phần trên của ngôi nhà được đục đẽo rất cầu kỳ, con Chòng (nơi để gác hoành) được những bàn tay khéo léo của người thợ ngày trước tạo thành hình đầu rồng, phượng… hướng ra phía trước, bên dưới là một lớp hoa văn được đục đẽo theo hình hoa lá núi rừng… Hai núm tròn trên cánh cửa ra vào buồng ngủ được hiểu theo câu 3 vuông 7 tròn Điều đặc biệt ở ngôi nhà cổ này là cái Dạ Tàn (tức là mái phía trước) được thiết kế rất thấp vì vậy khi bước vào nhà ai cũng phải cúi người, nếu không để ý rất dễ đụng đầu, đó được ngầm hiểu là động tác chào gia chủ. Bên trên cửa vào gian buồng có hai núm gỗ được khắc hình tròn, còn cửa chính của ngôi nhà là hình vuông.Đem sự khác biệt này hỏi vị chủ nhân của ngôi nhà chúng tôi nhận được câu trả lời: “Cái đó được cha ông ta ngày trước lý giải theo câu “3 vuông 7 tròn” tức là nàng dâu khi về nhà chồng phải tuân theo gia pháp, phong tục cách sống và nếp sinh hoạt nhà chồng, đồng thời phải sống sao cho tròn với bổn phận làm con, cái cửa đó là nơi đi lại thường xuyên của con dâu nên các cụ mình để đó như thầm nhắc nhở”. Đến nay ngôi nhà đã trải qua 237 năm và đã có 7 đời người sinh sống trong ngôi nhà này mà những chiếc cột lim vẫn một màu đen bóng và chắc nịch như thách đố thời gian. Mặc cho vị chủ nhân đã vài lần tu sửa nhưng ngôi nhà vẫn giữ được nét cổ kính, những chi tiết hoa văn dường như vẫn còn nguyên vẹn. Ông Nguyễn Văn Trang đang giới thiệu tỷ mỉ về ngôi nhà của mình Nhìn ngôi nhà của mình rồi ngước mắt về phía ngôi nhà cao tầng, Ông Trang chạnh lòng: Hai vợ chồng tôi năm nay cũng đã ngoài 70, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng vẫn muốn giữ lại ngôi nhà của tổ tiên cho con cháu sau này và ông lo khi ông về với tiên tổ không biết hậu thế có dủ kiên nhẫn để tiếp bước.Xuýt xoa một chút rồi ông nói tiếp, Mẫn Xá là ngôi làng còn giữ được nhiều nét đặc trưng một một làng cổ, từ đường làng, ngõ xóm, đến vật liệu để xây nhà tất cả hiện lên một phong cách cổ kính mà ít nơi còn có. Nhưng những nét cổ kính đó đang dần mất đi, với nghề đúc nhôm truyền thống đã làm cuộc sống của người dân nơi đây ngày một khấm khá, môi trường thay đổi, không khí nồng nặc mùi phôi nhôm. Kinh tế đang phát triển ảnh hưởng đến bộ mặt của ngôi làng. Bên cạnh những ngôi nhà cổ được lợp bằng ngói vẩy san sát nhau thì xen vào đó, vài ngôi nhà cao tầng “trễm trệ” lẻ loi vô tình phá đi không gian hoài cổ độc đáo mà nó vốn có. "Tiền không làm cho tôi mờ mắt" Biết ông đang sở hữu ngôi nhà cổ rất có giá trị (cả về văn hóa lẫn vật chất) nên không ít những tay buôn chuyên săn tìm nhà cổ đến gạ gẫm. Để có được cái gật đầu của ông họ sẵn sàng trả giá rất cao. Không chỉ có người trong nước mà ông còn được đón các đoàn từ nước ngoài đến tham quan nghiên cứu tìm hiểu. Năm 2000, giáo sư Yamada Yukimasa - giảng viên Trường đại học Tokyo và giáo sư Trần Thị Quế Hà - giảng viên Trường ĐH Showa Nhật Bản đến Việt Nam, kết hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin làm cuộc khảo cứu về nhà ở dân gian truyền thống. Sau nhiều ngày rong ruổi tại Bắc Ninh, đoàn chuyên gia đã tìm được ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Trang và họ khẳng định ngôi nhà độc đáo và được xây dựng vào thời vua Minh Mạng. Tấm bia đá màu xanh với rất nhiều chữ Hán, Nôm Nghiên cứu kỹ ngôi nhà cũng như gia phả dòng họ Nguyễn Văn, họ đề nghị mua lại toàn bộ khung ngôi nhà để mang về trưng bày với giá gần 1 triệu USD. Ngoài ra họ còn ngỏ ý sẽ dựng cho ông ngôi nhà y hệt như vậy trên nền đất cũ, mà chỉ lấy cái khung nhà cổ mang đi. Ông Trang đưa ra quyết định là không bán. Quyết định kiên quyết của ông khiến họ hàng ông còn phải họp nhiều lần nữa nhưng với sự dứt khoát của ông Trang, ngôi nhà vẫn không được bán.Vào năm 2002, ông lại đón đoàn chuyên gia của Malaysia đến thăm, nghiên cứu,sau khi hỏi mua biết ông không bán dù có trả rất nhiều tiền, họ quay sang xin mẫu ngôi nhà của ông. Mọi người trong đoàn tiến hành đo đạc và lấy hình ảnh những chi tiết hoa văn quý của ngôi nhà. Sau đó họ mua gỗ về và thuê thợ dưới làng Đồng Kỵ làm y nguyên như vậy. Khi làm xong để chắc chắn họ đã dựng thử ngôi nhà lên và mời ông Trang xuống kiểm tra xem còn chỗ nào thiếu và chưa giống không. Xong xuôi đâu đó họ thuê ôtô chở về Hải Phòng và mang về nước. Năm 2005, đoàn Nhật Bản lại quay trở lại nhà ông và lần này họ mang theo một cái máy nhỏ, khi đến họ đặt máy lên nóc nhà và thử cái gì đó, khi hỏi người phiên dịch thì ông mới được biết là họ đo sức chịu động đất của ngôi nhà và khẳng định rất tốt. Ngôi nhà được thiết kế với nhiều hoa văn tinh tế Theo ông Trang thì những năm trước người của nhà nước cũng đôi lần đến đặt vấn đề mua lại ngôi nhà của ông để đem về dựng ở Hà Nội, đi kèm với đó là lời hứa sẽ dựng một ngôi nhà y hệt như vậy cho ông, cũng bằng gỗ lim và những chitiết hoa văn như vậy. Nhưng ông lại cho rằng "đây là cái nhà mà tổ tiên của mình để lại, đã qua bao nhiêu đời dù khó khăn thì ông cha cũng không bán cớ sao nay mình lại bán", nghĩ vậy nên ông không nhận lời và lấy cớ đây là ngôi nhà của dòng họ, ông chỉ là người được trao quyền trông nom chứ không có quyền bán để từ chối khéo.Dưới cái bàn thờ tổ tiên nhà ông vẫn còn lưu giữ được hai phiến đá, một phiến đá xanh, một phiến đá trắng. Trên đó viết rất nhiều chữ Hán, Nôm mà chính ông cũng không hiểu mà theo những chuyên gia về tìm hiểu thì phiến đá đó được viết vào tháng 8 mùa thu năm Minh Mạng. Dù đã cố gắng tìm nhưng những đoàn chuyên gia đều không tìm ra chữ khắc trên khung nhà. Nên tuổi của ngôi nhà vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi, có người nói ngôi nhà này được làm vào thời Lý dựa trên những nét hoa văn trên khung nhà nhưng cũng có ý kiến cho rằng, được làm từ thời vua Minh Mạng dựa theo gia phảvà những gì còn ghi lại trên hai phiến đá. Còn theo ông Trang, ông cũng không biết chính xác ngôi nhà làm từ khi nào màchỉ biết nó được dựng vào năm 1774 mà trước đó cụ Nguyễn Văn Cẩn cũng mua lại nhà của người khác. Nhưng theo ông Trang thì dù sao đi chăng nữa thì dây vẫn là ngôi nhà quý đốivới ông và dòng họ Nguyễn Văn ở Mẫn Xá nên dù có ai trả ông bao nhiêu tiền cũng không bán và ông không bị đồng tiền làm mờ mắt. (Theo Bưu điện Việt Nam)
  20. Chúc mừng Thiên Luân luôn luôn hạnh phúc và vui vẻ.
  21. CHÚC MỪNG SINH NHẬT SƯ PHỤ! KÍNH CHÚC SƯ PHỤ MẠNH KHỎE - AN LẠC Kính.
  22. Xin đề xuất để tên riêng "Ly hoc Đong phuong" và sau đó ta ghi chú giải như trên của SP thì sẽ rõ nghĩa hơn.Kính.
  23. Xin cung cấp thêm 1 bản dịch: * Lý học Đông phương = The mystery of the ancient principles of Oriental scholarship (The doctrine of the ancient Oriental astrology) The mystery of the ancient principles of Oriental scholarship Dich nghĩa là: Sự huyền bí từ nguyên lý học thuật cổ Đông phương * Ngũ hành = Five types of matter in the universe * Ông Khiết là tên riêng nên giữ nguyên và có chú thích bằng tiếng Anh (The Toad statue). Kính.
  24. 10 địa danh thần bí nhất hành tinh Cập nhật lúc 14h33' ngày 27/07/2011 Nhiều chuyên gia nổi tiếng cho rằng những khu vực bí ẩn trên khắp thế giới được tạo nên nhờ vào những nền văn minh sở hữu kiến thức và công nghệ tiên tiến đã bị thất lạc. Nhiều người khác lại không tin rằng từng có nền văn minh nào trên trái đất lại tiến bộ đến như vậy và mọi nền kiến thức cao siêu đều được các phi hành gia cổ đại trao lại cho chúng ta. Hầu hết các nhà khoa học đều không thể đưa ra được lời giải thích thỏa đáng cho những điều bí ẩn từ thời xa xưa. Dưới đây chính là 10 địa danh thần bí nhất quả đất mà chưa ai lý giải nổi: 1. Kim tự tháp Giza và nhân sư Sphinx (Ai Cập) Mặc dù đây rõ ràng là những kim tự tháp được sử dụng để chôn cất vua chúa, nhưng cấu trúc, ngày giờ xây dựng, và biểu tượng kim tự tháp ở Giza vẫn hoàn toàn là một dấu hỏi lớn. Chính sự bí ẩn càng làm tăng phần thu hút cho kì quan cổ đại này, nhiều người thời nay vẫn xem Giza như một nơi thần thánh. Đã có rất nhiều thuyết giải thú vị được đưa ra để giải thích cho “bí ẩn kim tự tháp”. Thậm chí, những khách tham quan hoài nghi nhất cũng không thể không ngỡ ngàng trước độ tuổi, quy mô hoành tráng, và bài toán hài hòa của những kim tự tháp ở Giza. 2. Stonehenge (Anh Quốc) Đây là một trong những công trình nổi tiếng nhất thế giới nằm tại khu vực Wiltshire, Anh. Stonehenge là một tượng đài được hình thành bởi nhiều tảng đá lớn xếp hình vòng tròn khổng lồ. Nhiều người cho rằng công trình này được xây dựng từ năm 2500 Trước Công Nguyên nhưng đã được khôi phục và sửa sang lại trong suốt hơn 1400 năm. Mặc dù có rất nhiều suy đoán, nhưng không ai biết mục đích chính của di tích thời tiền sử này là gì và nó vẫn là một trong những bí ẩn lớn nhất của nhân loại. 3. Đảo Phục sinh (Chile) Đảo Phục sinh, hay còn được biết dưới cái tên Rapa Nui hoặc Isla de Pascua, là một hòn đảo của người Polynesia nằm ở phía Đông Nam Thái Bình Dương. Nơi đây nổi tiếng với những bức tượng dị thường được tạo ra bởi người Rapanui. Các bức tượng này, còn được gọi là Moai, là một phần trong tục thờ cúng tổ tiên của người dân của đảo này và chúng được chạm khắc từ khoảng năm 1250-1500 thời Trung Cổ. Moai nặng nhất đã bị xói mòn có trọng lượng 86 tấn, thể hiện chiến công lẫy lừng đối với người Rapanui vì họ có thể tạo ra và di chuyển được những bức tượng này. Gần một sửa số Moai còn lại vẫn ở Rano Raraku, mỏ Moai chính, nhưng hàng trăm tượng còn lại đã bị chuyển đến những bục đá quanh vành đai của đảo. 4. Baalbeck (Li-băng) Baalbeck là một thành phố ở phía Đông Li-băng. Năm 331 trước Công Nguyên, khi Hi Lạp đến xâm chiếm, Baalbeck mới chỉ là một thị trấn phồn vinh. Lebanon đã trở thành thuộc địa của người Rome dưới Đế chế Augustus từ năm 16 trước Công Nguyên. Trong suốt ba thập kỉ sau đó, người Rome đã xây dựng một quần thể tượng đài gồm 3 ngôi đền, 3 sân vườn, và một bức tường rào quanh được dựng từ những tảng đá vĩ đại nhất do con người tự tạo. Một số du khách tin rằng công trình này chỉ có thể là kiệt tác từ ngoài hành tinh. Tại cổng vào phía Nam của Baalbeck là một quần thể khác, ở đây những tảng đá trong đền đều bị cắt gọt. Một khối đá khổng lồ, được xem như tảng đá lớn nhất bị “mổ xẻ”, hiện vẫn nằm nguyên vị trí từ cách đây 2000 năm trước. Nó còn có tên gọi là “Đá phụ nữ mang thai”, kích thước là 21,5m x 4,8m, x 4,2m và nặng khoảng 1.000 tấn. 5. Machu Picchu (Peru) Machu Picchu là thành phố được bảo tồn nguyên vẹn nhất từ Đế chế Inca, nằm trên một quả núi có chóp nhọn ở độ cao 2.430m, thuộc Thung lũng Urubamba tại Peru, cách khoảng 70 km về phía tây bắc Cusco. Từng bị thế giới lãng quên trong suốt nhiều thế kỉ, Machu Picchu đã được tái khám phá bởi nhà khảo cổ học Mỹ Hiram Bingham vào năm 1911. Các tảng đá trong thành phố này được xếp rất khít nhau đến nỗi lưỡi dao cũng không thể lọt qua. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Machu Picchu được xây dựng từ năm 1450 thời Trung Cổ dành cho người thống trị Inca là Pachacuti. 6. Đường kẻ Nazca (Peru) Một trong số những kiến trúc địa lý nổi tiếng nhất thế giới khác là các đường kẻ Nazca trên sa mạc Nazca ở Peru. Từ trên không nhìn xuống, có thể thấy rõ nhưng đường kẻ này tạo ra khoảng 300 hình thù khác nhau, có hình dáng của những con vật và con chim khổng lồ được khắc họa trên mặt cát sa mạc. 7. Tiahuanacu (Bolivia) Tihuanacu (hay Tiwanaku) là một bí ẩn lớn cho khoa học bởi độ tuổi (được ước tính khoảng 17.000 tuổi) và công nghệ đá đặc biệt của nó. Người ta từng cho rằng Tiahuanaco là thánh điện để thờ cúng thánh thần và là điểm tập trung văn hóa, giúp lan truyền qua nhiều khu vực xung quanh. Người cổ đại đã xây dựng một kim tự tháp bằng đá được gọi là Akapana. 8. Chichen Itza (Mexico) Chichen Itza là địa điểm khảo cổ của một thành phố cổ xưa do người Maya xây dựng. Nơi đây chứa đựng vô số những phong cách kiến trúc đa dạng như El Castillo (đền thờ của Kukulkan) và đền thờ của Warriors. Chichen Itza là một thành phố rộng lớn, được xây bởi một bộ tộc Maya là Itzaes trong thế kỷ thứ 9 sau Công nguyên và phát triển như một thủ đô trong khu vực chính cho tới thế kỷ thứ 12. Nguồn gốc thực sự của người Itza vẫn còn bí ẩn. 9. Những quả cầu đá bí ẩn của Costa Rica Một trong những bí ẩn lạ lùng nhất trong khảo cổ học được phát hiện ở đồng bằng sông Diquis, Costa Rica. Từ những năm 1930, hàng trăm quả cầu bằng đá được tìm thấy có đường kính từ vài cm đến hơn 2m, một số có nặng tới 16 tấn. Hầu hết trong số chúng được làm từ granodiorite - loại đá hỏa sinh cứng. Những quả cầu lớn này là tác phẩm điêu khắc bằng đá nguyên khối được thực hiện bởi bàn tay của con người. 10. Thành phố dưới nước ở Nhật Bản Nằm ở bờ biển phía Nam của Yonaguni, Nhật Bản, tàn tích ngập dưới nước này được ước tính khoảng 8.000 năm tuổi. Mặc dù, một số người tin rằng nó được hình thành bởi hiện tượng địa lý nhưng cho tới nay người ta xác nhận nó là sản phẩm nhân tạo bởi nghệ thuật khắc trổ phức tạp. Nó được phát hiện vào năm 1995 bởi một thợ lặn thể thao bị lạc khỏi bờ biển Okinawa với một máy quay phim trong tay. Theo Dân trí (WK) Nguồn: www.khoahoc.com.vn Đã tìm ra cách đọc ý nghĩ Cập nhật lúc 08h47' ngày 02/08/2011 Các nhà khoa học đã có thể nhận biết được một người đang dự định làm gì trước khi anh ta chưa bắt tay vào việc thực hiện. Sở dĩ họ có thể làm được việc này là vì họ kiểm tra được hoạt động của bộ não. >> Phát minh mới: Máy đọc ý nghĩ Tờ nhật báo Daily Mail đưa tin, hiện nay, người ta mới chỉ có khả năng biết một người đang chuẩn bị làm gì trước vài phút, nhưng triển vọng của phát minh này thật rộng lớn. Biết trước một sự việc nằm trong dự định của một người đôi khi vô cùng có lợi. Chẳng hạn nếu cảnh sát nắm được một âm mưu khủng bố khi bọn tội phạm sắp tiến hành để ngăn chặn “từ trong trứng” thì tránh được biết bao nhiêu tổn thất có thể xảy ra. Các nhà khoa học đã có thể biết được một người dự định làm gì khi dùng máy cộng hưởng từ quét quá trình hoạt động của não bộ. Ảnh minh họa. Nhà nghiên cứu hàng đầu Jackson Hallivan, trường Đại học Tây Ontario (Canada) tuyên bố: “Đó là một bước tiến lớn trong nhận thức của chúng ta về cơ chế làm việc của bộ não người và biết được trong não một kế hoạch hoạt động đã được cấu thành như thế nào”. Trong một năm liên tục, các nhà khoa học đã dùng thiết bị cộng hưởng từ chức năng “quét” quá trình làm việc của bộ não những người tình nguyện khi họ thực hiện một trong ba hành động hơn giản: bắt trúng một vật đang bay đến ở phần đầu, phần giữa và phần cuối hoặc đơn giản là cố gắng chạm vào vật ấy. Khi phân tích các tín hiệu từ các vùng khác nhau từ não phát ra, các nhà khoa học có thể đoán được dự kiến của những người tình nguyện với độ chính xác rất cao so với đoán hú họa. Dù chỉ biết trước một ý định trước khi thực hiện có 1 giây thì trong nhiều tình huống cụ thể điều này vẫn có lợi ích rất lớn. Một nhà khoa học làm việc trong dự án này là John Culham nhận xét: “Những hình ảnh thể hiện hoạt động não cho chúng tôi rút ra được kết luận rằng việc lập kế hoạch hành động xảy ra trong những vùng khác nhau trong não người mà không cần phải cắm những điện cực trực tiếp vào não”. Ngoài mục đích quân sự và điều tra của cảnh sát, các nhà khoa học cho rằng phát minh này có ứng dụng rất quan trọng trong y học.: “Nếu chúng ta có thể đọc trước được mong muốn của một người nhờ những tín hiệu của não thì chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng các tín hiệu để điều khiển các chi giả cho những thương bệnh binh, trong số đó có cả những người bị bại liệt do tổn thương cột sống”, ông Hallivan nhấn mạnh. Theo Vietnamnet
  25. Xin chia buồn cùng anh Hoàng Triều Hải và Gia đình.