• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

thanhdc

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    420
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    1

Bài viết posted by thanhdc


  1. Vào khoảng 9.000 năm trước thời của nhà triết học Plato, sau khi vương quốc Atlantis suy tàn, các vị thần quyết định phá huỷ lục địa này bằng một trận động đất khủng khiếp với những cơn sóng thần nhấn chìm toàn bộ những công trình và nền văn minh Atlantis xuống đáy biển. Có thể nói lục địa Atlantis của Plato chính là nền văn minh Đông Nam Á cổ xưa đã bị chìm ngập dưới đáy biển khi nước biển dâng do băng tan trong kỷ băng hà cuối cùng.

    Điều này phù hợp với những nhận định của SP về chủ nhân của học thuyết ÂDNH. Các nhà nghiên cứu trên thế giới sẽ dần làm sáng tỏ điều này.

  2. 6 phát hiện khảo cổ làm thay đổi thế giới

    Chủ Nhật, 01/09/2013 - 11:40

    (Dân trí)- Với những di tích khảo cổ dưới đây, các nhà khoa học, khảo cổ học có thể ngẩng cao đầu tự hào trước thế giới vì tầm quan trọng của nó.

    Công trình Gobekli Tepe, Thổ Nhĩ Kỳ

    Posted Image

    Quang cảnh địa điểm khai quật Gobekli Tepe

    Göbekli Tepe là một ngôi đền trên đỉnh của một mỏm núi thuộc một dãy núi phía đông bắc thị trấn Şanlıurfa, phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ. Địa điểm này hiện đang được các nhà khảo cổ học Đức và Thổ Nhĩ Kỳ khai quật, rất có thể nơi đây đã được những người săn bắn-hái lượm dựng lên vào 9000 năm trước Công Nguyên. Cấu trúc nơi đây là các công trình đá khối hình tròn. Tường được làm bằng đá khô chưa thao tác và gồm nhiều cột đá vôi nguyên khối hình chữ T cao tới 3 mét. Göbekli Tepe được coi là khám phá khảo cổ có tầm quan trọng lớn nhất bởi nó đã thay đổi cơ bản sự hiểu biết của chúng ta về một giai đoạn mang tính quyết định trong sự phát triển của xã hội loài người.

    Những hình vẽ trên cao nguyên Nazca, Peru

    Posted Image

    Ảnh vệ tinh của cao nguyên Nazca

    Những hình vẽ trên cao nguyên Nazca tạo nên một "vườn hình học" tại sa mạc Nazca, một sa mạc khô cằn rộng 53 dặm giữa hai thị trấn Nazca và Palpa ở Pampas de Jumana (một khu vực bằng phẳng miền nam Peru). Những hình vẽ tại cao nguyên Nazca được chia thành 2 loại là những hình mô phỏng sinh học và những nét chạm hình học. Những hình mô phỏng sinh học là những hình ảnh được vẽ mô phỏng loài vật hoặc cây cối, có đến 70 hình thuộc loại này. Hình vẽ mô phỏng sinh học lớn nhất rộng 660 foot (Tương đương 201m). Trong những hình vẽ này có hình ảnh về loài nhện, chim, cây cối, hoa và cả hình ảnh của con người. Những nét chạm hình học bao gốm những đường thẳng, những hình xoắn ốc, tam giác, hình thang… Chúng được tạo nên trong suốt thời kỳ nền văn hóa Nazca tại khu vực này, giữa năm 200 trước Công nguyên tới năm 600. Những hình vẽ trên cao nguyên Nazca được chụp ảnh lần đầu tiên khi máy bay thương mại bay qua sa mạc Peru trong thập niên 1920. Các hành khách nói rằng họ thấy "những dải đất nguyên thuỷ" trên mặt đất phía dưới. Khi sỏi đá được quét đi, chúng phản xạ ánh sáng bên dưới, bằng cách này, những đường kẻ có thể nhìn thấy rõ hơn.

    Bãi đá cổ Stonehenge, Anh

    Posted Image

    Hình chụp bãi đá cổ Stonehenge ở Anh

    Stonehenge là một công trình tượng đài cự thạch thời kỳ đồ đá mới và thời kỳ đồ đồng gần Amesbury ở Anh, thuộc hạt Wiltshire, 13 km về phía bắc Salisbury. Công trình này nằm trên một vùng đất hình tròn đường kính 140 m và có những cột đá dựng đứng thành 4 vòng tròn đồng tâm dạng cột. Mỗi cột đá cao khoảng 4m, rộng khoảng 2m, dày khoảng 1m, nặng khoảng 25 tấn. Trong đó 2 cột đá nặng nhất khoảng 50 tấn. Trên một số cột đá còn có những tảng đá xếp ngang như xà nhà, tạo thành cổng vòm lớn. Có thể nói đây là một trong những địa điểm tiền sử nổi tiếng thế giới. Các nhà khảo cổ cho rằng các cột đá này được dựng lên từ khoảng 2500-2000 trước Công nguyên dù các vòng đất xung quanh được xây dựng sớm hơn, khoảng 3100 năm trước Công nguyên. Vào năm 1986 khu vực này và khu vực xung quanh đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.

    Kim tự tháp Ai Cập

    Posted Image

    Kim tự tháp ở Ai Cập là những kỳ quan thế giới cổ đại duy nhất còn tồn tại

    Kim tự tháp Ai Cập là các công trình cổ đại hình chóp bằng đá ở Ai Cập.Có tất cả 138 kim tự tháp đã được khám phá ở Ai Cập tính đến năm 2008. Hầu hết chúng đều đóng vai trò là lăng mộ cho các vị vua Pharaon và hoàng hậu trong hai thời kỳ Cổ vương quốc và Trung vương quốc. Những kim tự tháp Ai Cập đầu tiên được biết đến nằm ở Saqqara, phía tây bắc Memphis. Trong số đó, Kim tự tháp Djoser là lâu đời nhất, được xây dựng vào khoảng từ năm 2630 đến năm 2611 trước Công nguyên ở Vương triều thứ ba. Kim tự tháp này cũng như khu phức hợp xung quanh do kiến trúc sư Imhotep thiết kế, và được xem là những công trình bằng đá nguyên khối cổ nhất thế giới. Số lượng nhân công để xây các kim tự tháp được ước tính vào khoảng từ vài nghìn, 20 nghìn cho tới 100 nghìn người. Những kim tự tháp Ai Cập nổi tiếng nhất nằm ở Giza, ngoại ô Cairo. Một số kim tự tháp Giza được xem là nằm trong số những công trình vĩ đại nhất từng được xây. Kim tự tháp Khufu tại Giza là kim tự tháp Ai Cập lớn nhất và là kỳ quan thế giới cổ đại duy nhất còn tồn tại

    Cỗ máy Antikythera, Hy Lạp

    Posted Image

    Ảnh cỗ máy Antikythera

    Antikythera được coi là máy tính analog đầu tiên trên thế giới được chế tạo từ năm 80 trước Công nguyên. Nó được nhà khảo cổ học Valerios Stais vô tình tìm thấy vào ngày 17/5/1902 và nằm ở độ sâu 42 mét tại đảo Antikythera, Hy Lạp. Thiết bị này tương đối nhỏ, kích thước 33x17x9 cm, được làm bằng đồng, tráng canxi và có thể được trang bị khung gỗ. Khi được tìm thấy, Antikythera trông không khác gì một đống phế thải mà người ngoài hành tinh vô tình bỏ lại trái đất. Áp dụng các hệ thống chụp X quang 3 chiều với độ phân giải cao, các chuyên gia có thể giải mã những chữ khắc trên đó và thiết lập lại những chức năng của bánh răng bằng đồng trên hệ thống này. Phát hiện gần đây của các chuyên gia đã khẳng định Antikythera có nhiệm vụ theo dõi chuyển động của mặt trời, mặt trăng và các hành tinh. Ngoài ra, nó còn xây dựng được lịch theo chu kỳ 4 năm của Olympiad, tiền thân của đại hội Olympic ngày nay.

    Lục địa Atlantis, Hy Lạp

    Posted Image

    Ảnh vệ tinh của quần đảo Santorini. Nơi này thường được cho là địa điểm của Atlantis.

    Thủ đô của Atlantis thực sự là một kỳ quan kiến trúc và công trình xây dựng kỳ vĩ bao gồm những bức tường thành và kênh đào hình tròn đồng tâm. Ở trung tâm thành phố là một quả đồi lớn, trên đỉnh đồi là nơi đặt đền thờ Poseidon. Bên trong đền chính là bức tượng Thần biển bằng vàng đang cưỡi ngựa thần sáu cánh.

    Vào khoảng 9.000 năm trước thời của nhà triết học Plato, sau khi vương quốc Atlantis suy tàn, các vị thần quyết định phá huỷ lục địa này bằng một trận động đất khủng khiếp với những cơn sóng thần nhấn chìm toàn bộ những công trình và nền văn minh Atlantis xuống đáy biển. Có thể nói lục địa Atlantis của Plato chính là nền văn minh Đông Nam Á cổ xưa đã bị chìm ngập dưới đáy biển khi nước biển dâng do băng tan trong kỷ băng hà cuối cùng.

    Phan Hạnh

    Theo Live Science


  3. Hầu hết thế giới này đang sử dụng chữ La Tinh. Nhưng người Việt dùng chữ La Tinh để ký tự hóa ngôn ngữ và truyền đạt ý tưởng thì chữ Quốc ngữ với ký tự La tinh - mà người Việt đang dùng này - không phải là ký tự mô tả tiếng Anh, hoặc La Mã.

    Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nước khác đã thất bại khi rất muốn La tinh hoá chữ viết của họ chỉ có Việt Nam là thành công trong việc La tinh hoá chữ viết của mình.

    Trung Hoa và Nhật Bản không thể đổi sang hệ thống chữ viết dùng chữ cái La tinh mà chỉ để ghi âm cho người nước ngoài học ngôn ngữ bản địa được dễ dàng, chứ không thay thế hẳn như trường hợp Việt Nam vì số âm tiết của ngôn ngữ họ hạn hẹp.

    Tại·sao chỉ có Việt Nam đổi hệ·thống chữ·viết biểu·ý sang hệ·thống chữ·viết dùng chữ·cái La·tinh?

    Tại sao chỉ có Việt Nam đổi hệ thống chữ viếtbiểu ý (ký tự – character) từ Nôm tự (quốc ngữ xưa) sang hệ thống chữ viết biểuâm (chữ cái – letter) dùng chữ cái La tinh (quốc ngữ nay) trong khi các quốcgia đồng văn khác như Trung Hoa, Nhật Bản và Cao Ly (Triều Tiên hay Hàn Quốc)thì không?

    A. Trước hết, tôi xin được điểm qua một cáchkhái quát về hệ thống chữ viết.

    Trên thế giới, có nhiều hệ thống chữ viết khácnhau, nhưng tựu chung lại chỉ có hai hệ thống: chữ biểu âm và chữ biểu ý.

    Trong hệ thống chữ biểu âm, mỗi biểu tượng(symbol) hoặc ký hiệu (notation) còn được gọi là ký tự (character), nhưng cácký tự in được (printable character) được sử dụng để đại diện cho mỗi âm hay âmvị còn được gọi là chữ cái (letter). Chẳng hạn như chữ Latin, chữ Ả Rập, chữHindu, hiragana (平假名 Bình giả danh) và katakana (片假名 Phiến giả danh) của Nhật Bản. Bảng chữ cái (alphabet) của một số hệ thốngchữ viết biểu âm là cơ sở để dựa vào đó con người diễn đạt tiếng nói thành từ(word), cụm từ (phrase). Sau đây là các bảng chữ cái tiêu biểu của một số hệ thống:

    Latinh: A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, L, M,N, O, P, Q, R, S, T, U, V, W, X, Y, Z.

    Hy Lạp: Α, Β, Γ, Δ, Ε, Ζ, Η, Θ, Ι, Κ, Λ, Μ, Ν,Ξ, Ο, Π, Ρ, Σ, Τ, Υ, Φ, Χ, Ψ, Ω.

    Hebrew: (đọc từ phải sang trái) א, ב, ג, ד, ה, ו, ז, ח, ט, י, כ, ל, מ, נ, ס, ע, פ, צ, ק, ר, ש, ת.

    Trong hệ thống chữ biểu ý, mỗi biểu tượng(symbol) hoặc mỗi ký hiệu (notation) còn được gọi là ký tự (character) đại diệncho một từ, hình vị hay đơn vị ngữ nghĩa. Chẳng hạn như chữ Ai Cập, chữ Hán, chữMaya và kanji (漢字Hán tự) của Nhật Bản.

    Bảng bộ thủ (部首) của hệthống chữ viết biểu ý Trung Hoa, có thể được coi như Bảng Mẫu tự Trung Hoa(Chinese Main Character Table) bởi lẽ 80% toàn bộ chữ Hán được tạo ra bằngphương thức Hình Thanh (形聲), (hay tượng thanh, hài thanh).Mượn phần âm thanh (聲) của một chữ có sẵn rồi ghép vào mộtbộ (phần hình 形) chỉ ý nghĩa, để tạo ra chữ mới.

    Bảng bộ thủ được phân loại thành 214 bộ (mẫu tự). Mỗi bộ thủ mẹ (mẫu tự) này được kếthợp với bộ thủ khác hoặc thêm một số nét để tạo thành một ký hiệu mới (newnotation) hay ký tự (character) mới hay chữ con mới (sub-character). Mẫu tựTrung Hoa được tạo ra dựa theo tám dạng nét cơ bản:

    1. Nét ngang: hoành 一 (viết từ trái sang phải) như trong chữ [一 , nhất], (một)

    2. Nét sổ thẳng: trực 丨 (viết từ trên xuống dưới) như trong chữ [十 , thập], (mười)

    3. Nét phẩy: phiệt 丿(viếttừ trên-trái xuống phải-dưới) như trongchữ [八 , bát],(tám)

    4. Nét mác: phật 乁 (viếttừ trên-trái xuống phải-dưới) như trong chữ [入, nhập],(vào)

    5. Nét móc câu với 5 dạng khác nhau và khônghoán đổi nhau được: , 亅, 勹, 乚

    [hoành câu] nét ngang móc như trong chữ [字 , tự] (chữ)

    [sổ câu] nét đứng móc 亅 như trong chữ [小 , tiểu] (nhỏ)

    [loan câu] nét cong với móc 勹 như trong chữ [狗 , cẩu], (chó)

    [tiết câu] nét mác với móc 乚 như trong chữ [我 , ngã], (tôi)

    [bình câu] nét cong đối xứng với móc nhưtrong chữ [忘 ,vong], (quên)

    6. Nét gãy: chiết フ

    7. Nét xốc: khiêu 冫 như trong chữ [跳 , khiêu], (nhảy)

    8. Nét chấm: điểm 丶 (viếttừ trên xuống dưới-phải hoặc trái) như trong chữ [六, lục],(sáu)

    Ngoài ra còn một số nét kết hợp không theo chuẩncơ bản. Bao gồm các dạng nét như sau:

    [sổ bình câu] nét đứng kết hợp với bình câu và móc như trong chữ [也 ,dã], (cũng)

    [phiệt điểm] nét phẩy về trái kết thúc bởi chấm như trong chữ [女 , nữ],(con gái)

    [sổ triệp triệp câu] nét sổ với 2 lần gập và móc như trong chữ [馬 ,mã], (ngựa)

    Tuy phân chia chúng ra thành 8 dạng nét cơ bảncho tiện sắp xếp, nhưng trong đó một số nét cơ bản lại có nhiều tiểu dạng khácnhau và các dạng đó không hoán đổi với nhau được. Do vậy, dựa vào thực tế ta cóthể nói Mẫu tự Trung Hoa được tạo ra dựa theo 23 dạng nét (shape) cơ bản.Phương thức Hình Thanh (形聲) gây ra rất nhiều từ đồng âm,người ta phải xem hoặc đọc thêm bằng mắt (vì phần nghĩa do phần hình 形 chỉ định) mới hiểu rõ nghĩa.

    Bảng bộ thủ dựa theo số nét (number ofstrokes):

    1. 一 丨 丶 丿 乙 亅

    2. 二 亠 人 儿 入 八 冂 冖 冫 几 凵 刀 力 勹 匕 匚 匸 十 卜卩 厂 厶 又

    3. 口 囗 土 士 夂 夊 夕 大 女 子 宀 寸 小 尢 尸 屮 山 巛 工己 巾 干 幺 广 廴 廾 弋 弓 彐 彡 彳

    4. 心 戈 戶 手 支 攴 文 斗 斤 方 无 日 曰 月 木 欠 止 歹 殳 毋 比 毛 氏 气水 火 爪 父 爻 爿 片 牙 牛 犬

    5. 玄 玉 瓜 瓦 甘 生 用 田 疋 疒 癶 白 皮 皿 目 矛 矢 石 示禸 禾 穴 立

    6. 竹 米 糸 缶 网 羊 羽 老 而 耒 耳 聿 肉 臣 自 至 臼 舌 舛舟 艮 色 艸 虍 虫 血 行 衣 襾

    7. 見 角 言 谷 豆 豕 豸 貝 赤 走 足 身 車 辛 辰 辵 邑 酉 釆里

    8. 金 長 門 阜 隶 隹 雨 青 非

    9. 面 革 韋 韭 音 頁 風 飛 食 首 香

    10. 馬 骨 高 髟 鬥 鬯 鬲 鬼

    11. 魚 鳥 鹵 鹿 麥 麻

    12. 黄 黍 黑 黹

    13. 黽 鼎 鼓 鼠

    14. 鼻 齊

    15. 齒

    16. 龍 龜

    17. 龠

    Tuy nhiên, với việc giản thể hoá chữ Hán dochính quyền Trung Quốc khởi xướng sau này nên số bộ thủ tăng thêm 13 bộ nữa. Dođó, bảng bộ thủ (部首) ngày nay gồm 227 bộ thủ (mẫu tự TrungHoa).

    B. Tại sao các quốc gia như Trung Hoa, Nhật Bảnvà Cao Ly không đổi hệ thống chữ viễt biểu ý (ký tự – character) sang hệ thốngchữ viết dùng chữ cái La tinh, duy chỉ có Việt Nam?

    Tiếng Trung Hoa, Nhật, Cao Ly và Tiếng Việt Nồm(post-Nôm) là những tiếng đơn âm nên đều mắc phải một trở ngại chung là có nhiềuchữ đọc giống nhau nhưng nghĩa khác nhau xa (đồng âm dị nghĩa). Trung Hoa và NhậtBản không thể đổi sang hệ thống chữ viết dùng chữ cái La tinh mà chỉ để phiênâm cho người nước ngoài học ngôn ngữ bản địa được dễ dàng, chứ không thay thế hẳnnhư trường hợp Việt Nam vì số âm tiết của ngôn ngữ họ hạn hẹp.

    Tiếng Bắc Kinh, Phổ Thông hay Quan Thoại chỉcó 1.300 âm, để giải quyết vấn đề đồng âm dị nghĩa do số âm tiết hạn chế ngườiTrung Hoa phải chế ra vô số ký hiệu hay ký tự (character) khác nhau để phân biệtý nghĩa của chúng dựa vào phương thức Hình Thanh là chính. Chẳng hạn, một tiếnghay một âm “hoàng”, trong Hán tự có 17 ký tự (character) khác nhau để ghi 17nghĩa khác nhau (đồng âm dị tự dị nghĩa), âm “kỳ” có 22, âm “hoa” có 10… Họ cốgắng giải quyết vấn đề đồng âm bằng cách ghép hai hay ba ký tự với nhau — tuynhiên có rất nhiều từ mới gồm hai hoặc ba ký tự hợp thành này, lại cũng thườngcó nhiều nghĩa. Do đó với hệ thống chữ viễt biểu ý, Tiếng Trung Hoa phải dùng227 bộ thủ (部首) hay mẫu tự Hán để tạo ra 3.000 ký tự cơ bản (basic Chinese character) để ghi lại hơn 50.000 từ (word), trong khi đóTiếng Việt dùng 29 ký tự (chracter) hay chữ cái (letter) hoặc Tiếng Anh chỉdùng 26 ký tự hay chữ cái cũng để ghi một lượng từ tương đương. Do vậy nếukhông thuộc mặt chữ và biết rõ nghĩa của 3.000 ký tự cơ bản (basic Chinesecharacter) của mỗi thời đại thì không thể nói và hiểu rành rọt được Tiếng Hán củathời đại đó.

    Tiếng Nhật do chỉ có 120 âm, 5 nguyên âm, nênđồng âm dị nghĩa rất nhiều, nếu viết bằng La Tinh thì không rõ nghĩa. Nhật ngữhiện đại dùng ba thể Kanji, Hiragana, và Katakana. Kanji dùng diễn đạt ý nghĩacơ bản của từ. Hiragana dùng sau Kanji để bổ túc ý nghĩa và ngữ pháp Nhật.Katakana chỉ dùng để phiên âm hoặc tạo các từ vay mượn của nước ngoài (gairaigo外來語, ngoại lai ngữ).

    Người Cao Ly dùng chữ ký âm, được gọi làHangul (한글) hay Chosŏn’gŭl (조선글) của riêng họ, tuy thoạt nhìn có vẻ giống Hántự ở một khía cạnh nào đó, nhưng thật ra họ chỉ dùng 24 ký tự giống như bảng chữcái La Tinh để ký âm tiếng Cao Ly. Do đó, thực sự mà nói là chỉ có Trung Quốcvà Nhật Bản là sử dụng hệ thống chữ viễt biểu ý.

    Tiếng Việt có thể đổi sang hệ thống chữ biểuâm La tinh để ghi âm nhờ vào sự phong phú về phát âm. Mỗi tiếng nói là do mộtâm tiết kết hợp với một thanh mà tạo thành. Tiếng Việt có khoảng 15.000 âm nênít bị trường hợp chữ đọc giống nhau nhưng nghĩa khác nhau xa (đồng âm dịnghĩa). Để có thể ghi lại số lượng âm khổng lồ này, chưa kể f, j, w, z, chúngta dùng 29 ký tự (printable character) hay chữ cái (letter) bao gồm 12 nguyên âmgồm a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y; 17 phụ âm gồm b, c, d, đ, g (gh), h, k.l, m, n, p. q, r, s, t, v, x. Như vậy vẫn chưa đủ, ngoài ra ta còn có 3 bánnguyên âm đôi iê, ươ và uô; 9 phụ âm đôi (consonant digraph) gồm ch, gi, kh, ng(ngh), nh, ph, qu, th, tr, cộng thêm sáu thanh điệu (tone) được ghi bằng các dấuthanh (accent mark) gồm thanh ngang (không dấu), dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấusắc và dấu nặng. Thế mới thấy số lượng âm thanh của Tiếng Việt phong phú vàgiàu chất nhạc vô cùng. Do nhu cầu giao tiếp quốc tế cũng như ghi lại nhiều kiếnthức mới, khoa học mới. Khuynh hướng đưa thêm các chữ cái F, J, W, Z được dùngđể phiên âm tên, địa danh tiếng nước ngoài và dùng trong lĩnh vực khoa học nhưhoá học, vật lý học, toán học… dần dần được nhiều người ủng hộ.

    Ngoài ra, vấn nạn “đồng tự, đồng âm nhưng dịnghĩa” đối với Tiếng Hán là một bài toán nan giải, thế nhưng đối với Tiếng Việt,chúng ta có thể giải quyết một cách triệt để được vấn đề “chữ viết giống nhau,đọc giống nhau nhưng nghĩa khác nhau xa” nhờ thoát ra khỏi sự trói buộc, đóngkhung trong phép lục thư (六書) của Trung Hoa và thay vào đóbằng cách ghép các từ đơn căn bản thành nhiều từ kép mới, cũng như nhiều tiếngmới bằng những nguyên tắc, phương thức mới linh động:

    1. Láy từ

    Ví dụ:

    Trắng tinh, trắng toát, trắng xoá

    Đen đúa, đen nghịt, đen ngòm, đen xì.

    2. Đồng kết: ghép (kết hợp) từ thuần Việt vớitừ Nho Việt có cùng nghĩa (đồng nghĩa)

    Ví dụ:

    Hát xướng: hát (Việt), xướng (Nho).

    Trắng bạch: trắng (Việt) + bạch (Nho)

    3. Dị tự: sử dụng chữ cái I hoặc Y tạo ra từ mới

    Ví dụ:

    Lí trong “lí nhí” khác với lý trong “lý tưởng”

    Kì trong “kì cọ” khác với kỳ trong “kỳ ngộ”,“kỳ tích”

    4. Tạo tân từ hoàn toàn mới dựa vào dấu thanh

    Ví dụ:

    thẹ số: number tag, thẻ tín dụng: credit card

    siếu: meta, siêu: super

    Tóm lại, Tiếng Việt có thể đổi sang hệ thốngchữ biểu âm La tinh để ghi âm nhờ vào sự phong phú về phát âm và nhờ vào số lượngchữ cái dồi dào, 12 nguyên âm (a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y), 3 bánnguyên âm đôi (iê, ươ và uô), 17 phụ âm đơn (b, c, d, đ, g (gh), h, k. l, m, n,p. q, r, s, t, v, x), 9 phụ âm kép (ch, gi, kh, ng (ngh), nh, ph, qu, th, tr),cộng thêm sáu thanh (thanh ngang (không dắu), dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấusắc và dấu nặng) để có thể ghi lại số lượng âm khổng lồ này. Hy vọng một ngàynào đẹp trời nào đó, các chữ cái F, J, W, Z được chính thức thêm vào bảng chữcái Tiếng Việt để phiên âm tên, địa danh tiếng nước ngoài và dùng trong lĩnh vựckhoa học như hoá học, vật lý học, toán học… thì quá tuyệt vời. Thêm vào đó nhờthoát ra được sự trói buộc trong phép lục thư (六書) củaTrung Hoa, chúng ta có thể tạo ra nhiều từ ghép mới bằng những nguyên tắc mớilinh động hơn, giảm thiểu được vấn đề đồng âm, đổng tự và góp phần làm trongsáng Tiếng Việt.

    Đặng Hải Nguyên

    http://thuatngu.tieng-viet.org/

    2 people like this

  4. TRÍ TUỆ CỦA TẾ BÀO

    Bruce Lipton

    Dịch sang tiếng Việt: Luanle

    Lời giới thiệu của người dịch:

    Tiến sĩ Bruce Lipton là nhà khoa học tiên phong chuyên nghiên cứu về lãnh vực sinh học tế bào. Ông viết bài này vào đầu năm 2007 gồm những kiến thức mới mẻ về sinh học, giúp cho chúng ta cập nhật thêm một số hiểu biết trong lãnh vực này. Không những ông bàn về sinh học với những khám phá mới làm đảo lộn lý thuyết về di truyền, mà ông còn dẫn dắt chúng ta đi vào những áp dụng của ngành này trong y khoa hiện đại và tương lai. Nhưng điều làm cho tôi thích nhất là ông đã kể lại những kinh nghiệm khai ngộ của ông về đời sống khi nghiên cứu tế bào. Ông giải thích cơ chế kích động và phản động trong tế bào, và cho rằng đây là cội nguồn của sức mạnh và sự sáng tạo trong đời sống chúng ta.

    Tôi nghĩ rằng ông là một trong những khoa học gia hiếm hoi đang dấn thân xoá mờ biên giới giữa khoa học và đạo học. Thật vậy, trong bài này ông đã dùng hiểu biết khoa học soi sáng thêm vào các vấn đề quan trọng của đời sống như:

    - Khí lực là gì? Vai trò của khí lực trong khoa học, y khoa và đời sống?

    - Con người có khả năng làm chủ và sửa đổi số mạng hay không?

    - Thanh và trược điển?

    (Nếu muốn tham khảo bản gốc anh văn xin vào trang web:

    http://www.brucelipt...-of-your-cells)

    Luanle

    Trí tuệ của tế bào - Phần 1 .

    Trí tuệ của tế bào nói về một ngành sinh vật học mới, nó có khả năng làm thay đổi tận gốc rễ nền văn minh và thế giới chúng ta đang sống. Khoa sinh học mới này sẽ dẫn dắt chúng ta rời khỏi những niềm tin cho rằng con người bị lệ thuộc vào các gien (gene - nhiễm sắc thể), rằng con người là bộ máy sinh hóa (biochemical), không có khả năng làm chủ đời sống của mình. Khoa này mang chúng ta đến một thực tại mới, trong đó niềm tin và tâm trí điều khiển các gien, cũng như làm chủ những hành vi và kinh nghiệm sống trong cuộc đời. Môn sinh học này dựa trên nền tảng khoa học hiện đại và được bổ sung thêm với những kiến giải mới.

    Ngành khoa học mới này sẽ biến đổi chúng ta từ kẻ thọ tạo trở thành người sáng tạo, trao cho ta quyền năng sáng tạo và khai mở đời sống của mình. Đây đích thực là sự hiểu biết về bản thân. Có câu ngạn ngữ, 'Kiến thức là sức mạnh', thật vậy, ta đang bắt đầu hiểu được quyền năng của chính mình. Đây là điều mà tôi tin mọi người sẽ gặt hái được khi tìm hiểu về môn khoa học mới này.

    Du hành vào không gian bên trong.

    Tôi bắt đầu học môn sinh học khi lên lớp hai. Ông thầy mang vào lớp kính hiển vi để học sinh nhìn hình dạng tế bào. Tôi còn nhớ đã học rất hứng thú. Khi lên đại học tôi dùng kính hiển vi điện tử thay thế cho loại kính cũ để quan sát đời sống các tế bào. Những điều học được đã làm thay đổi đời sống cùng nhận thức của tôi một cách sâu xa và tôi muốn chia xẻ điều này với các bạn. Khi dùng kính hiển vi điện tử tôi có thể thấy không những hình dạng bề ngoài mà còn hiểu được cấu trúc cùng chức năng của các tế bào. Giống như người ta nói rất nhiều về du hành vào không gian, tôi cũng đang du hành vào vũ trụ bên trong và thấy được nhiều điều, bắt đầu có những nhận thức bao quát hơn về bản chất của đời sống, của tế bào và phần tham gia của ta vào đời sống các tế bào.

    Khoảng năm 1968, tôi tham dự khoá huấn luyện về nuôi cấy tế bào, bắt đầu học tạo sinh vô tính (cloning) tế bào mầm (stem cells), tôi làm cuộc thí nghiệm đầu tiên với sự hướng dẫn của Tiến sĩ Irv Konigsberg, ông là một khoa học gia sáng giá đã tạo được tế bào mầm đầu tiên. Loại tế bào tôi đang nghiên cứu gọi là nguyên bào cơ (myoblast). Myo là cơ, blast là tiền bối, tiền sinh. Khi tôi để các tế bào vào đĩa trong môi trường thích hợp cho tế bào cơ phát triển, chúng sinh sôi nảy nở và kết quả cho tôi một loại mô cơ co dãn được. Tuy nhiên, nếu tôi thay đổi môi trường thì số phận của các tế bào cũng thay đổi. Khởi đầu tôi đặt các tế bào cơ nói trên vào một môi trường khác thì nó lại trở thành các tế bào xương. Nếu tôi lại thay đổi môi trường thì nó biến thành các tế bào mỡ. Kết quả của các thí nghiệm này khiến cho tôi rất phấn khởi bởi vì trong khi các tế bào gốc đều giống nhau, số phận của chúng lại bị qui định bởi môi trường do tôi tạo ra .

    Trong khi thực hiện các cuộc thí nhiệm này tôi cũng đang đi dạy tại trường đại học y khoa Wisconsin, truyền đạt lại những kiến thức cổ điển cho rằng gien qui định số phận các tế bào. Nhưng thí nghiệm lại cho tôi thấy rằng số phận của tế bào lại bị qui định ít nhiều bởi môi trường. Dĩ nhiên, đồng nghiệp của tôi cũng bị bất ngờ bởi các thí nghiệm này. Mọi người đều đang tin theo thuyết di truyền bảo rằng 'gien làm chủ đời sống', trong khi đó công trình của tôi lại cho thấy môi trường làm thay đổi tế bào, họ bàn rằng đây chỉ là một biệt lệ.

    Bạn là một cộng đồng gồm 50 ức tế bào.

    Bây giờ tôi thụ đắc một hiểu biết hoàn toàn mới mẻ về sự sống, điều này đã đem lại cách truyền đạt kiến thức mới về tế bào. Khi bạn tự nhìn mình thì thấy ta là một cá nhân riêng biệt. Nhưng nếu bạn hiểu thực chất ta là ai, bạn sẽ ngộ ra rằng mình thực ra là một cộng đồng của 50 ức tế bào. Mỗi tế bào là một cá thể sống động, một sinh linh có đời sống và chức năng riêng biệt, nhưng nó cư xử với nhau trong tinh thần của một cộng đồng. Nếu tôi có thể thu gọn bạn cho nhỏ lại thành một tế bào rồi đem đặt vào trong cơ thể, bạn sẽ thấy một thành phố rất bận rộn với hàng ức ức cá thể đang sống trong một bọc bằng da. Ðiều này mang nhiều ý nghĩa khi ta hiểu rằng cộng đồng hoà hợp tạo ra sự khang kiện và cộng đồng mất quân bình sinh ra bệnh tật. Vì vậy, sự kiện đầu tiên cần nhớ, mỗi chúng ta là một cộng đồng.

    Sự kiện thứ hai: Không có một chức năng nào hiện hữu trong cơ thể mà lại không hiện diện trong từng tế bào. Ví dụ, bạn có các bộ máy như: tiêu hóa, hô hấp, bài biết, xương và cơ, nội tiết, sinh dục, thần kinh, miễn nhiễm, thì trong các tế bào cũng không thiếu những thứ đó. Thực vậy, chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của tế bào. Điều này rất hữu ích cho các nhà sinh vật học bởi vì họ có thể nghiên cứu về tế bào và áp dụng kiến thức này để tìm hiểu về cơ thể con người.

    Tôi đang dạy học về cái gọi là một mô hình y khoa, theo đó sinh lý con người giống như bộ máy sinh học gồm có các chất sinh hóa do các gien quản lý. Thế nên khi bệnh nhân đến khám bệnh, các bác sỹ tin rằng bệnh nhân đang có vấn đề về mặt sinh hoá hoặc gien cần được điều chỉnh để đem lại sức khoẻ. Đến một lúc tôi thấy rằng mình cần phải thoát ly khỏi trường đại học bởi vì tôi phát hiện có một sự mâu thuẫn rất lớn giữa những điều tôi dạy cho sinh viên và những điều tôi biết qua thí nghiệm để tìm hiểu cái gì làm chủ các tế bào.

    Một cách hiểu mới mẻ về khoa học.

    Khi rời khỏi trường đại học tôi có dịp đọc thêm về vật lý học. Tôi lại tìm thấy những kiến thức không phù hợp với môn mà tôi đã dạy. Ngành tân vật lý học, vật lý lượng tử, có nói đến một cơ chế hoàn toàn xung khắc với cơ chế cổ xưa dựa trên vật lý Newton mà tôi từng dạy. Môn tân vật lý này chưa được đưa vào chương trình trường y khoa. Trước khi có khoa học hiện đại, thì môn khoa học thuộc về thẩm quyền của giáo hội Thiên Chúa. Nó được mệnh danh là khoa thần học tự nhiên, thấm nhuần lãnh vực tâm linh. Khoa này dạy rằng bàn tay của Chúa can dự vào mọi việc của thế gian, trong thiên nhiên quanh ta nơi nào cũng có hình ảnh của Chúa. Khoa thần học tự nhiên có nhiệm vụ giúp hiểu môi trường chung quanh để biết sống hòa điệu với thiên nhiên. Điều này cũng có nghĩa giúp sống hoà hợp với Thiên Chúa bởi vì Chúa có liên hệ chặt chẽ với thiên nhiên.

    Tuy nhiên, vì giáo hội lạm quyền và độc tôn chân lý, họ cố tình dìm đi những khám phá mới, thế nên Giáo Hội Cải Cách ra đời. Martin Luther thành lập tân giáo hội thách thức độc quyền của giáo hội Công giáo. Sau thời kỳ Cải Cách, người ta mới có dịp đặt lại vấn đề đức tin về vũ trụ. Môn khoa học cũ lột xác và trở thành như ngày nay. Ông Newton, nhà vật lý học chuyên khảo cứu về trọng lực và thiên văn đã đặt nền tảng cho ngành khoa học mới. Ông sáng tạo ra môn toán học giải tích để tính toán, tiên đoán được sự chuyển vận của thái dương hệ. Khoa học nhận định chân lý là những sự kiện có thể tiên đoán được. Môn vật lý Newton coi vũ trụ như là một bộ máy do vật chất tạo thành; khoa này lý luận rằng nếu ta hiểu được thành phần cấu tạo của bộ máy thì ta cũng sẽ hiểu rõ được thiên nhiên. Từ đó mục tiêu của khoa học là điều khiển và chế ngự thiên nhiên, hoàn toàn khác với mục tiêu của môn thần học tự nhiên trước kia là để sống hoà điệu với thiên nhiên.

    Vấn đề cái gì làm chủ đã trở thành một điểm rất quan trọng trong ngành sinh học. Vậy chứ cái gì đang qui định những nét cá tính thể hiện ra từ mỗi người chúng ta? Theo môn vật lý Newton thì các sinh vật là những bộ máy do vật chất cấu thành. Nếu muốn tìm hiểu các bộ máy này thì cần phải tháo gỡ nó ra thành từng bộ phận, còn gọi là tiến trình giản hoá. Ta nghiên cứu từng bộ phận để hiểu rồi sau đó ráp chúng lại được thì coi như đã hiểu được toàn thể cái máy. Ông C. Darwin cho rằng cá tính của chúng ta đến từ cha mẹ. Tinh trùng và noãn phối hợp nhau tạo ra kết quả là một con người mới thừa hưởng một chất liệu có khả năng qui định cá tánh của các hậu duệ. Người ta khởi sự nghiên cứu về sự phân bào từ đầu thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu họ thấy trong tế bào có những cấu trúc hình dây hiện diện trước lúc phân bào. Những cấu trúc này được gọi là nhiễm sắc thể.

    Cũng đáng chú ý là trong khi nhiễm sắc thể được tìm ra vào khoảng năm 1900 thì đến năm 1944 người ta mới biết được bộ phận nào mang các đặc tính di truyền. Cả thế giới rất phấn khởi. Họ bảo, quỷ thần ơi, sau bao nhiêu năm dài cuối cùng mình đã biết được cái nào mang đặc tính di truyền; có lẽ nó là DNA. Vào năm 1953, J. Watson & F. Crick đã tìm ra mỗi sợi DNA chứa một loạt gien. Gien là những mẫu thiết kế (blueprint) cho từng loại phân tử protein. Protein là thành tố xây dựng nên cơ thể và có trên 100,000 loại như vậy. Một hàng tít lớn chạy trên tờ báo ở New York công bố khám phá của hai nhà khoa học: 'Bí mật của đời sống đã bật mí'. Và kể từ lúc đó khoa sinh học hầu như chỉ chú trọng nghiên cứu về di thể (gene). Các khoa học gia thấy rằng nếu hiểu được mã di truyền thì họ có thể thay đổi được cá tánh của sinh vật, họ hăm hở lăn xả vào dự án nghiên cứu di thể con người để hiểu rõ bản chất của nó. Lúc đầu họ nghĩ rằng các gien chỉ qui định về hình dáng bên ngoài, nhưng khi họ tiếp tục thí nghiệm thì thấy rằng di thể cũng có ảnh hưởng đến tánh nết, cảm xúc. Khi biết rằng mọi sắc thái cá tính của con người đều do các di thể qui định, thì bỗng nhiên các gien lại mang thêm một ý nghĩa sâu xa hơn ......

    THE WISDOM OF YOUR CELLS

    The Wisdom of Your Cells is a new biology that will profoundly change civilization and the world

    we live in. This new biology takes us from the belief that we are victims of our genes, that we are

    biochemical machines, that life is out of our control, into another reality, a reality where our

    thoughts, beliefs and mind control our genes, our behavior and the life we experience. This

    biology is based on current, modern science with some new perceptions added.

    The new science takes us from victim to creator; we are very powerful in creating and unfolding

    the lives that we lead. This is actually knowledge of self and if we understand the old axiom,

    "Knowledge is power," then what we are really beginning to understand is the knowledge of

    self-power. This is what I think we will get from understanding the new biology.

    Flying Into Inner Space

    My first introduction to biology was in second grade. The teacher brought in a microscope to show

    us cells and I remember how exciting it was. At the university I graduated from conventional

    microscopes into electron microscopy and had a further opportunity to look into the lives of cells.

    The lessons I learned profoundly changed my life and gave me insights about the world we live in

    that I would like to share with you.

    Using electron microscopy, not only did I see the cells from the outside but I was able to go

    through the cell's anatomy and understand the nature of its organization, its structures and its

    functions. As much as people talk about flying into outer space, I was flying into inner space and

    seeing new vistas, starting to have greater appreciation of the nature of life, the nature of cells and

    our involvement with our own cells.

    At this time I also started training in cell culturing. In about 1968 I started cloning stem cells, doing

    my first cloning experiments under the guidance of Dr. Irv Konigsberg, a brilliant scientist who

    created the first stem cell cultures. The stem cells I was working with were called myoblasts. Myo

    means muscle; blast means progenitor. When I put my cells in the culture dishes with the

    conditions that support muscle growth, the muscle cells evolved and I would end up with giant

    contractile muscles. However, if I changed the environmental situation, the fate of the cells would

    be altered. I would start off with my same muscle precursors but in an altered environment they

    would actually start to form bone cells. If I further altered the conditions, those cells became

    adipose or fat cells. The results of these experiments were very exciting because while every one

    of the cells was genetically identical, the fate of the cells was controlled by the environment in

    which I placed them.

    While I was doing these experiments I also started teaching students at the University of

    Wisconsin School of Medicine the conventional understanding that genes controlled the fate of

    cells. Yet in my experiments it was clearly revealed that the fate of cells was more or less

    controlled by the environment. My colleagues, of course, were upset with my work. Everyone was

    Site : BruceLipton.com Article : Copyright 2006-2007 Bruce Lipton Ph.D.

    2

    then on the bandwagon for the human genome project and in support of the "genes-control-life"

    story. When my work revealed how the environment would alter the cells, they talked about it as

    an exception to the rule.

    You Are a Community of 50 Trillion Living Cells

    Now I have a completely new understanding of life and that has led to a new way to teach people

    about cells. When you look at yourself you see an individual person. But if you understand the

    nature of who you are, you realize that you are actually a community of about 50 trillion living cells.

    Each cell is a living individual, a sentient being that has its own life and functions but interacts with

    other cells in the nature of a community. If I could reduce you to the size of a cell and drop you

    inside your own body, you would see a very busy metropolis of trillions of individuals living within

    one skin. This becomes relevant when we understand that health is when there is harmony in the

    community and dis-ease is when there is a disharmony that tends to fracture the community

    relationships. So, number one, we are a community.

    Fact number two: There is not one function in the human body that is not already present in every

    single cell. For example, you have various systems: digestive, respiratory, excretory,

    musculoskeletal, endocrine, reproductive, a nervous system and an immune system but every one

    of those functions exists in every one of your cells. In fact we are made in the image of a cell. This

    is very helpful for biologists because we can do research on cells and then apply that information

    to understanding the nature of the human body.

    I was teaching what is called the medical model, the perception that human biology represents a

    biological machine comprised of biochemicals and controlled by genes. Therefore when a patient

    comes in to see a doctor, the belief system is that the patient has something wrong with their

    biochemistry or genes, which can be adjusted and can lead them to health. At some point I

    realized that I had to leave the university because I found great conflict in teaching the students

    about what controls the cell and yet getting a completely different understanding from the cells in

    my cultures.

    A New Understanding of Science

    When I was outside the university I had a chance to read into physics. Again I found information

    that did not conform to the science I had been teaching. In the world of new physics, quantum

    physics, the mechanisms that are described completely collide with the mechanisms we were

    teaching, which were based on the old Newtonian physics. The new physics currently is still not

    introduced in medical schools. Before conventional science, science was the province of the

    church. It was called natural theology and was infused with the spiritual domain, teaching that

    God's hand was directly involved in the unfoldment and maintenance of the world, that God's

    image was expressed through the nature we live in. Natural theology had a mission statement: to

    understand the nature of the environment so we could learn to live in harmony with it. Basically

    this meant learning how to live in harmony with God, considering that nature and God were so well

    connected.

    However, through the abuses of the church, their insistence on absolute knowledge and their

    efforts of suppressing new knowledge, there was what is called the Reformation. The Reformation,

    precipitated by Martin Luther, was a challenge to the church's authority. After the Reformation,

    Site : BruceLipton.com Article : Copyright 2006-2007 Bruce Lipton Ph.D.

    3

    when there was an opportunity to question beliefs about the universe, science became what was

    called modern science. Isaac Newton, the physicist whose primary studies were on the nature of

    gravity and the movement of the planets, provided the foundation for modern science. He invented

    a new mathematics called differential calculus in order to create an equation to predict the

    movements of the solar system. Science identified truths as things that were predictable.

    Newtonian physics perceives the universe as a machine made out of matter; it says that if you can

    understand the nature of the matter that comprises the machine, then you will understand nature

    itself. Therefore the mission of science was to control and dominate nature, which was completely

    different than the former mission of science under natural theology, which was to live in harmony

    with nature.

    The issue of control in regard to biology becomes a very important point. What is it that controls

    the traits that we express? According to Newtonian physics life forms represent machines made

    out of matter and if you want to understand those machines you take them apart, a process called

    reductionism. You study the individual pieces and see how they work and when you put all the

    pieces together again, you have an understanding of the whole. Charles Darwin said that the traits

    an individual expresses are connected to the parents. The sperm and egg that come together and

    result in the formation of a new individual must be carrying something that controls the traits in the

    offspring. Studies of dividing cells began in the early 1900s and they saw string-like structures that

    were present in cells that were beginning to divide. These string-like structures were called

    chromosomes.

    Interestingly enough, while chromosomes were identified around 1900, it was only in 1944 that we

    actually identified which of their components carried the genetic traits. The world got very excited.

    They said, oh, my goodness, after all these years we finally have gotten down to identifying the

    genetically controlling material; it appears to be the DNA. In 1953 the work of James Watson and

    Francis Crick revealed that each strand of DNA contained a sequence of genes. The genes are

    the blueprints for each of the over 100,000 different kinds of proteins that are the building blocks

    for making a human body. A headline announcing Watson and Crick's discovery appeared in a

    New York paper: "Secret of Life Discovered" and from that point on biology has been wrapped up

    in the genes. Scientists saw that by understanding the genetic code we could change the

    characters of organisms and therefore there was a big, headlong rush into the human genome

    project to try to understand the nature of the genes.

    At first they thought these genes only controlled the physical form, but the more they started to

    manipulate genes, they saw that there were also influences on behavior and emotion. Suddenly,

    the genes took on more profound meaning because all the characters and traits of a human were

    apparently controlled by these genes....

    Trí tuệ của tế bào - Phần 2

    Ta có phải là nạn nhân của sự di truyền?

    Nhưng cũng còn một câu hỏi chót: Vậy chứ cái gì làm chủ các DNA? Câu hỏi này đưa ta leo lên nấc thang cuối cùng để tìm ra điều gì đang ở vị thế chủ động tối cao? Các khoa học gia thực hiện thí nghiệm và thấy rằng DNA tự nhân bổn một mình! DNA kiểm soát các phân tử protein và các phân tử này chính là cơ thể chúng ta. Điều này muốn nói rằng DNA vốn đang làm chủ đời sống, đây là trọng tâm của chủ thuyết. Nó dẫn đến quan niệm cho rằng 'DNA có quyền lực tối thượng', theo đó số mạng của chúng ta đã được an bày bởi DNA từ lúc cha mẹ giao phối. Điều này đem lại hậu quả thế nào? Số mạng và cá tánh của bạn phản ảnh sự di truyền thọ nhận từ khi sinh ra; thực vậy bạn là nạn nhân của sự di truyền.

    Ví dụ, các khoa học gia quan sát một nhóm người để tính điểm về hạnh phúc, và họ cố dò ra coi có chăng một loại di thể hoạt động trong nhóm người có hạnh phúc mà lại bất động trong nhóm người bất hạnh. Đúng như vậy, họ đã tìm thấy loại di thể đó. Và họ đăng báo phổ biến ngay 'Đã tìm thấy di thể tạo ra hạnh phúc'. Bạn buột miệng nói, 'Khoan đã, nếu tôi có di thể hạnh phúc, nghĩa là đời tôi đã được định sẵn. Tôi chỉ là nạn nhân của di truyền'. Đây chính là những điều đã được dạy trong trường, tôi cũng đã dạy như vầy: con người hoàn toàn bất lực trước cuộc sống bởi vì họ không thể thay đổi di thể của mình. Nhưng khi nhận định như vậy, họ sẽ trở nên vô trách nhiệm:

    'Này nhé, thưa xếp, ngài bảo rằng tôi lười biếng, nhưng tôi muốn ông biết rằng cha tôi cũng lười. Vậy ông muốn tôi làm sao? Ý tôi muốn nói di thể của tôi khiến cho tôi lười biếng. Và tôi không thể làm sao sửa đổi'.

    Gần đây trên tuần báo Newsweek họ viết về những tế bào mỡ gây rối loạn sức khoẻ như thế nào. Điều này cũng đáng chú ý, bởi vì trong lúc đang có dịch béo phì thì khoa học lại đứng ra xa mà bảo: chính các tế bào mỡ gây rối loạn cho cuộc sống.

    Dự án nghiên cứu di thể con người.

    Dự án nghiên cứu di thể con người đã đến để cứu giúp nhân loại. Phương án này nhằm mục đích nhận diện mọi di thể trong con người hầu cho trong tương lai ngành di truyền học có cơ hội chữa lành mọi bệnh tật và giải quyết các vấn nạn mà con người phải đối đầu. Tôi nghĩ rằng dự án này là một công tác nhân đạo, nhưng sau khi nghe người kỹ sư trưởng P. Silverman trình bày đã khiến cho tôi chú ý. Ông nói rằng: tính ra có khoảng 100,000 gien bởi vì có 100,000 loại phân tử protein khác nhau trong con người; ngoài ra còn những di thể không tạo ra protein nhưng kiểm soát các di thể khác. Dự án này được thiết kế bởi các nhà đầu tư mạo hiểm; họ phác hoạ rằng có đến hơn 100,000 di thể cần được phân loại và cầu chứng rồi bán bản quyền cho kỹ nghệ dược phẩm. Các công ty bào chế sẽ dùng các gien để tạo ra đủ loại dược phẩm. Hóa ra, chương trình này không phải để phục vụ con người mà phần lớn là để kiếm tiền.

    Và đây chính là phần khôi hài. Khoa học gia biết rằng khi càng tiến hóa thì bộ máy con người càng phức tạp, trong khi một sinh vật nhỏ bé chỉ có khoảng vài ngàn gien thì con người tính ra có khoảng 150,000 gien, thế thì phải sản xuất đến 150,000 loại thuốc mới. Phương án bắt đầu năm 1987, khi có nhiều bộ óc con người chung sức thì có thể tạo ra phép lạ. Trong chỉ có 14 năm bản đồ gien của con người đã thành hình. Nó trở nên cái mà tôi gọi là một chuyện hài hước vĩ đại .

    Khởi đầu dự án, trước tiên họ nghiên cứu về một động vật nguyên sinh, một con trùng nhỏ xíu mắt thường khó thấy. Các nhà di truyền học thường dùng loại trùng này làm thí nghiệm bởi vì chúng sinh sản rất nhanh, nhiều và thể hiện những đặc điểm cần nghiên cứu. Họ tìm thấy các sinh vật này có khoảng 24,000 gien. Sau đó họ quyết định nghiên cứu thêm một loại mẫu khác trước khi bước qua nghiên cứu con người, sinh vật kế là con ruồi trái cây (fruit fly /ruồi đục quả) bởi vì đã có rất nhiều thông tin di truyền về loại ruồi này. Kết quả bộ gien của ruồi chỉ có 18,000 gien. Trong khi con trùng nguyên sinh có 24,000 gien thì con ruồi lại chỉ sở hữu 18,000 gien! Thật không thể hiểu nổi, nhưng họ để qua một bên và bắt đầu công trình về bộ gien con người .

    Đến năm 2001 thì gặt hái được thành quả và đây thật là một cú sốc: bản đồ di thể của con người chỉ có 25,000 gien; họ mong có đến gần 150,000 mà lại chỉ có 25,000 gien! Cú sốc khủng khiếp đến nổi họ không muốn nhắc đến điều này. Trong khi có nhiều quảng bá rầm rộ về công trình hoàn thành, thì không ai nêu lên vấn đề 100,000 gien bị mất tích. Những tạp chí khoa học cũng không có bài bình luận về dữ kiện này. Khi họ nhận thấy không có đủ số gien tương ứng với sự phức tạp của con người thì điều này đã làm cho bộ môn sinh học chấn động tận gốc rễ.

    Tại sao điều này lại quan trọng? Nếu khoa học dựa vào sự vận hành trung thực của đời sống, thì việc áp dụng khoa học vào ngành y khoa sẽ rất hữu ích. Nhưng nếu khoa học dựa vào một nền tảng sai lầm, thì việc áp dụng khoa học vào y khoa sẽ đem đến tai hại. Hiện nay người ta biết rằng nền y khoa truyền thống, được dùng nhiều nhất trong các nước tây phương, là nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất tại Hoa kỳ. Nó cũng chịu trách nhiệm với 1/5 số tử vong tại Úc châu. Bác sĩ Barbara Starfield viết một bài trên tạp chí của Hội Y Sỹ Hoa Kỳ (AMA) nói rằng, với ước tính dè dặt thì tây y đứng vào hàng thứ 3 về các nguyên nhân làm chết người tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong một cuộc nghiên cứu gần đây của Gary Null (xem Chết vì Thuốc:***.garynull.com), ông nói rằng thay vì đứng thứ ba thì phải xếp tây y đứng đầu về nguyên nhân gây ra tử vong, việc trị liệu bằng tây y đã làm chết hơn 750,000 người mỗi năm. Nếu ngành y nắm vững chuyện họ làm chắc sẽ không đến nổi gây chết chóc như thế.

    Bởi vì tôi ý thức rằng các gien không làm chủ đời sống, tôi xin nghỉ dạy đại học vào năm 1980, 7 năm trước khi dự án về di thể con người khởi sự. Tôi biết rằng chính môi trường mới có ảnh hưởng mạnh, nhưng các đồng nghiệp thì coi tôi như một người quá khích và gàn bướng bởi vì tôi chống lại những gì họ đang tin tưởng; cho nên chuyện này trở thành cuộc tranh luận về niềm tin. Đến một lúc, lòng tin buộc tôi phải từ chức giáo sư. Khi ấy tôi bắt đầu dấn thân tìm hiểu về chức năng của bộ óc và khoa thần kinh học. Tôi đi tìm câu trả lời cho vấn đề: 'Nếu DNA không điều khiển tế bào vậy thì 'bộ não' của tế bào nằm ở đâu?'

    Bộ máy điện não bên trong.

    Ngành tân sinh học cho thấy bộ não của tế bào chính là màng tế bào, nơi giao tiếp giữa nội môi của tế bào với thế giới luôn đổi thay bên ngoài. Chính các chức năng mới quản lý đời sống. Điều này rất quan trọng bởi vì khi hiểu được chức năng thì ta biết rằng mình không phải là nạn nhân của các gien. Thực vậy, ta có thể điều khiển các gien và cơ thể thông qua hoạt động của màng tế bào; chúng ta cũng đã và đang làm việc này đấy thôi, mặc dầu trong lòng vẫn còn mang nặng niềm tin cho rằng ta là nạn nhân.

    Tôi bắt đầu ngộ ra một điều: tế bào cũng như một con chíp (semiconductor) mà nhân tế bào là ổ cứng (hard disk) có chứa các thảo chương (programs - mã di truyền). Các gien là programs. Ngày kia, khi đang gõ trên máy tính, tôi chợt thấy rằng máy điện toán của mình giống như một tế bào. Tôi có programs cất giữ trong đó nhưng những gì hiện ra trên màn ảnh của máy không phải do các programs quyết định; mà sự quyết định đến từ dữ liệu do tôi đánh máy trên bàn phím để đưa thông tin từ môi trường bên ngoài vào trong máy. Bỗng nhiên, các mảng lộn xộn được ráp lại ăn khớp vào nhau: màng tế bào chính là bộ điện não của máy tính. Các gien trong tế bào là harddrive chứa mọi tiềm năng. Điều này giải thích tại sao mọi tế bào trong cơ thể có thể hình thành bất cứ các loại tế bào nào khác, bởi vì trong nhân của nó có chứa mọi thứ gien có khả năng tạo nên con người. Nhưng tại sao có lúc tế bào lại trở thành da, có lúc lại hoá thành xương hoặc mắt?

    Xin trả lời: không phải bởi vì các gien tự vận hành nhưng mà do môi trường cung ứng thông tin. Bỗng nhiên có một điều vĩ đại bổ chụp lấy tôi: cái khiến cho chúng ta người này khác với người kia là do sự hiện diện của một bộ gien thụ cảm (receptors) có tác dụng như một bàn phím nằm trên màng tế bào. Các phím này tiếp nhận thông tin từ môi trường bên ngoài. Điều khám phá lớn nhất chính là: cá tánh của chúng ta thực ra là kết quả của việc các mã di truyền tham gia vận hành theo tín hiệu từ môi trường kích động lên bàn phím trên mặt tế bào. Bạn không thuộc về bên trong của tế bào, mà bạn đang dùng bàn phím để điều khiển sự vận hành các tế bào. Bạn chính là một cá thể xuất phát từ môi trường (sản phẩm của môi trường) .

    Lúc còn trẻ, tôi thấy tôn giáo không mang lại chân lý nào. Tôi xa lánh lãnh vực tâm linh và cuối cùng bước vào khoa học. Khi ngộ ra rằng cá tánh của mình là sản phẩm của môi trường, do môi trường kích động lên các tế bào mà hình thành. Điều này đối với tôi là một cú sốc lớn nhất trong đời, từ lĩnh vực vô thần tôi bị lôi cuốn và quăng vào tình trạng đòi hỏi phải có tâm linh. Các tế bào của tôi giống như những chiếc TV nhỏ xíu có ăng ten, còn tôi là đài phát sóng làm chủ những hình ảnh từ các gien phát ra. Thực vậy, tôi hoạch định cho các tế bào của tôi làm việc.

    Tôi ngộ ra rằng nếu tế bào chết đi không có nghĩa là chương trình phát sóng biến mất, mà luồng sóng vẫn còn đó dẫu cho tế bào còn đó hay không. Một nỗi kính sợ sâu xa bỗng xâm chiếm lấy tôi. Điều tôi chứng ngộ là: cuộc sinh tồn không còn quan trọng nữa bởi vì những làn sóng phát xuất từ trường lực đã tạo ra bổn tánh hằng hữu của tôi, tôi là sản phẩm của trường lực. Nỗi sợ chết đã tan biến. Thời đó là 25 năm về trước, đây là một trong những kinh nghiệm giải thoát thật tuyệt vời mà tôi đã chứng ngộ.

    Quyền năng của nhận thức trong ngành sinh học mới.

    Chúng ta có những nhận định về môi trường xung quanh rồi mới điều chỉnh sinh hoạt của mình cho thích hợp, nhưng không phải lúc nào ta cũng nhận thức đúng đắn. Nếu ta cứ ngụp lặn trong tà kiến, thì những tà kiến này sẽ khiến cho sự chấn chỉnh đời sống trở nên sai lạc. Những nhận thức sai có thể hủy hoại đời sống. Nếu hiểu rằng màng tế bào tiếp nhận những kiến giải, rồi nó mới khiến cho các gien gởi những phản hồi ra ngoài môi trường; thì ta mới biết rằng khi đời sống không suông sẽ, điều cần nên làm là phải thay đổi nhận thức chứ không phải thay đổi các gien. Việc này dễ thực hiện hơn là đem cơ thể ra mà sửa chửa. Thật vậy, đây chính là quyền năng của ngành sinh học mới: Khi kiểm soát được sự nhận thức thì ta mới có chủ quyền trên cuộc sống của mình. Có vài điều sai lầm trong khoa học mà lại được tin tưởng như 'chân lý', đó là những giả thuyết sai lầm. Khi nào các giả thuyết này chưa được sửa chửa lại, thì ta vẫn tiếp tục nhận thức sai về mối tương quan giữa mình với địa cầu, với thiên nhiên, cũng như với môi trường. Hậu quả là ta sẽ hủy diệt môi trường, nguồn sinh lực của chúng ta .

    Giả định sai lầm đứng đầu cho rằng: vũ trụ được dựng nên bởi vật chất, do đó sự hiểu biết về vũ trụ có thể đạt đến bằng cách nghiên cứu vật chất. Thực ra, một nhận thức về đời sống và môi trường chỉ dựa trên cơ sở vật chất đã không còn chính xác nữa.

    Một giả định sai khác: các gien di truyền làm chủ đời sống. Thực ra, chính nhận thức của chúng ta mới làm chủ cuộc sống. Khi thay đổi nhận thức, ta nắm lại chủ quyền trong cuộc sống của mình. Tôi sẽ bàn về vấn đề này sau.

    Còn giả định sai thứ ba này rất nguy hiểm: thuyết này theo Darwin cho rằng chúng ta đạt đến trình độ tiến hóa như bây giờ phải thông qua một quá trình tranh đấu sinh tồn, 'kẻ mạnh nhất mới sống còn'. Ngành sinh học mới cho rằng sở dĩ có tiến hoá là nhờ ở sự cộng tác. Khi chưa hiểu như vậy, nhân loại sẽ còn tiếp tục cạnh tranh với nhau, đấu tranh và tàn phá địa cầu, mà không biết rằng nhân loại cần phải hợp tác để sinh tồn. Cạnh tranh liên tục sẽ làm cho nền văn minh nhân loại bị hủy diệt.

    Tương lai của ngành y khoa.

    Ngày nay người ta hiểu rằng vạn vật trong vũ trụ đều do năng lượng tạo ra ; mặc dù chúng ta thấy sự vật có vẻ như một khối dầy đặc, nhưng thực sự tất cả đều là các dạng năng lượng tương tác với nhau. Ngay cả khi con người giao tiếp nhau trong một môi trường, cũng là đang cùng lúc thu và phóng năng lượng. Có lẽ bạn đã quen dần với các danh từ như 'thanh khí' và trược khí', đó là các làn sóng đang dao động. Tất cả chúng ta đều là năng lượng. Năng lượng trong ta đang phản ảnh năng lượng ở chung quanh bởi vì các nguyên tử trong cơ thể không những phát ra năng lượng mà còn thu hút năng lượng. Mọi sinh vật đều đang cảm thông với nhau bằng các chấn động lực. Động vật cảm thông với cây cỏ và với các loài khác. Các pháp sư dùng chấn động lực nói chuyện với cây cỏ. Nếu bạn cảm nhận được sự khác nhau giữa chấn động lực 'thanh' và 'trược' thì bạn sẽ luôn luôn có xu hướng đi về nơi nào giúp bạn sinh tồn, phát triển, thương yêu, v.v... và xa lánh nơi nào làm tiêu hao, hủy hoại bạn.

    Khi không ý thức các loại chấn động lực này thì chúng ta đã bỏ qua một tín hiệu quan trọng nhất do môi trường phát ra. Môn tân vật lý giúp ta hiểu rằng các dạng năng lượng giao thoa và tương tác với nhau. Cho nên chúng ta cần phải chú tâm đến những lực vô hình này, nó đang tham gia trực tiếp vào những gì xảy ra trong đời sống hằng ngày. Trong khi y khoa không huấn luyện cho các bác sĩ biết rằng năng lượng là một thành phần của hệ thống, họ lại dễ dàng thích nghi với việc dùng các loại máy khám bệnh hiện đại. Thật khôi hài khi họ đọc kết quả như đọc một bản đồ, nhưng họ không hiểu điều căn bản rằng bản đồ của họ chính là những dấu vết của khí lực hiện diện trong cơ thể.

    Ví dụ, một hình chụp quang tuyến về bệnh ung thư cho thấy khối ung thư đã phát ra một loại khí lực mang dấu vết riêng của nó. Thay vì cắt bỏ khối ung thư, tại sao lại không thể dùng một loại khí lực, với cách cộng hưởng đặc thù, nó sẽ làm thay đổi khí lực của tế bào ung thư và đem chúng trở về trạng thái quân bình? Có lẽ bệnh sẽ lành. Điều này nghĩ cũng có lý khi ta nhớ đến cái gọi là "dùng bàn tay trị bệnh" đã có cả ngàn năm nay. Bệnh nhân tiếp nhận một loại khí lực để tương tác với cơ thể, và qua cơ chế cộng hưởng có thể làm thay đổi khí lực, nhiên hậu làm thay đổi vật chất, bởi vì vật chất cũng là khí lực. Đây là ngành y khoa tương lai, hiện ta chưa đạt đến trình độ này.

    Các nhà vật lý lượng tử cho biết rằng ở bên trong cấu trúc vật chất chỉ có năng lượng (khí lực) tồn tại mà thôi, chúng ta được tạo dựng bởi khí lực. Nghĩa là chúng ta tương tác với mọi thứ nằm trong trường lực. Điều này tạo ra một ảnh hưởng mạnh mẽ đến công tác chăm sóc sức khoẻ. Vật lý lượng tử cho biết các loại khí lực luôn luôn quyện vào nhau. Trong thế giới khí lực, các luồng sóng luôn luôn hoà nhập và tương tác với nhau. Ta không bao giờ có thể hoàn toàn tách rời một người ra khỏi môi trường y đang sống. Vật lý lượng tử cho rằng năng lượng vô hình chuyển tải thông tin hiệu quả hơn gấp trăm lần tín hiệu vật chất (ví dụ như thuốc men). Khi tìm hiểu về sức khoẻ, ta khởi sự nhận ra một thế giới vô hình mà ta chưa có khả năng giao tiếp.

    Nói cách khác, trong thế giới lượng tử ta không chú tâm đến vật chất mà đến khí lực. Trong một thế giới của máy móc ta cho rằng có thể hiểu thấu mọi sự việc nhờ pháp giản hóa (reductionism). Nhưng để tìm hiểu vũ trụ trong thế giới lượng tử hiện đại thì ta cần phải hiểu lý nhất thể (holism): bạn không thể nào tách rời một chấn động lực này với chấn động lực khác. Phải biết rằng trong thế giới này ta đang giao tiếp với không biết cơ man nào là chấn động lực.

    Đây là định nghĩa của tôi về môi trường: đó là tất cả những gì từ khởi từ thâm tâm bạn trải ra cho đến tận biên cương của vũ trụ. Nó bao gồm mọi thứ từ những vật thể gần gũi bạn cho đến các hành tinh, mặt trời cùng tất cả những gì đang xảy ra trong thái dương hệ. Chúng ta là một thành phần của toàn thể trường lực (*). Để tóm tắt ý nghĩa điều này tôi xin trích một câu nói của A. Einstein:

    'Trường lực là cơ chế duy nhất thống lãnh các loại hạt tử.'

    Điều ông muốn nói là thế này:'Trường lực, loại khí lực vô hình, là cơ chế duy nhất thống lãnh thế giới vật chất.'

    Ghi chú của người dịch:

    * 'Trường lực' (field) cũng có thể dịch là 'pháp giới' hiểu theo nghĩa:

    - Cái luật chung bao gồm vũ trụ làm một với hư không (Phật học từ điển - Đoàn trung Còn)

    - Pháp giới là cơ quan tạo hóa ra vạn vật trong Càn Khôn Vũ Trụ (Cao Đài Từ Điển).

    - 'Bởi chấp thân chấp cảnh nên quên mất chính mình, chứ vị đệ tử kia đâu biết rằng nếu soi rọi và tự tỏ, cảnh-thân đồng một, cùng pháp giới không hai, tất cả hàm linh đồng một chỗ uyên nguyên mà ra, mình cũng chính là tiếng mưa mà cũng là tất cả, một hạt mưa cũng chính là mình, mà tất cả cũng chỉ một không hai không khác.' (Lục tổ Huệ năng)

    Nguồn: http://thuannghia.vnweblogs.com

    1 person likes this

  5. Phát hiện cuốn sách quý liên quan đến Đại thi hào Nguyễn Du

    (Dântrí) - Thông tin từ Ban quản lý khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) cho biết, mới đây nhóm cán bộ của khu di tích này đã tìm thấy một cuốn sách cổ, quý có liên quan đến Đại thi hào Nguyễn Du.

    Posted Image

    Cuốn sách cổ được Ban quản lý khu di tích tìm thấy có liên quan đến Đại thi hào Dân tộc Nguyễn Du. (Ảnh: Ban quản lý khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du).

    Posted Image

    Posted Image

    Ngày 4/7 vừa qua, Ban quản lý khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) đã tìm thấy một cuốn sách cổ quý được viết bằng chữ Hán cổ. Qua quan sát, cuốn sách cổ này có độ dày 1,5cm, khổ 17cm x 14cm, được viết bằng chữ Hán cổ trên nên giấy dó mỏng màu vàng sẫm. Cuốn sách này được tìm thấy tại xã Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh và vẫn còn khá nguyên vẹn. Theo các cán bộ của Ban quản lý khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du thì nội dung lược dịch phần đầu của cuốn sách cho thấy đây là cuốn Khoa ấu chân thuyên điều lệ toàn thư. Đánh giá ban đầu của các nhà chuyên môn, thì cuốn sách này là một cuốn sách cổ quý, có thể là một cuốn trong tập “khoa ấu chân thuyên” của Lĩnh Nam phong công Nguyễn Quỳnh - ông nội của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

    Posted Image

    Sách cổ được viết bằng chữ Hán cổ trên nền giấy dó mỏng. (Ảnh: Ban quản lý khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du).

    Được biết, nội dung của cuốn sách cổ được chia làm 3 phần. Phần thứ nhất nói về thuyết ngũ hành; Phần thứ hai của cuốn sách mô tả và vẽ sơ đồ một số ngôi mộ tổ của dòng họ Nguyễn - Tiên Điền ở Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Hưng Yên; Phần thứ ba của cuốn sách lại ghi nhiều địa danh và có vẽ một số bản đồ cùng những luận bàn về nội dung thuyết ngũ hành được ghi ở phần thứ nhất.

    Ngọc Tú


  6. Phục chế hầm mộ 1500 tuổi ở Trung Quốc

    (Dân trí) - Một hầm mộ quy mô được xây dựng từ thời nhà Tề ở Trung Quốc vừa được các nhà khảo cổ học nước này phục chế thành công. Dù những món đồ quý giá đã bị lấy trộm hết nhưng chỉ riêng nội thất ngôi mộ đã là nguồn sử liệu vô giá.

    Mùa hè năm 2008, các nhà khảo cổ học Trung Quốc đã phát hiện ở thành phố Sóc Châu, tỉnh Sơn Tây có một hầm mộ niên đại lên tới 1.500 tuổi. Kể từ đó, công tác phục chế nhằm đưa những bức phù điêu chạm khảm trên các vách mộ trở về trạng thái nguyên bản đã được tiến hành và phải mất hơn 4 năm mới hoàn thành.

    Đầu tuần này, mọi công việc đã chính thức hoàn tất và kết quả được công bố cho giới khảo cổ thế giới cùng biết. Ngôi mộ này được xây cất từ thời nhà Tề (550-577).

    Trải qua lịch sử ngàn năm, nó đã nhiều lần bị bọn trộm cổ vật cướp phá, lấy hết những đồ tế lễ cúng theo người chết. Khi các nhà khảo cổ tìm tới đây, duy nhất chỉ còn lại những mảnh gốm vỡ, những mẩu gỗ mục, một vài chiếc móng tay sắt. Thậm chí cả cánh cửa dẫn vào hầm mộ và mái che cũng bị lấy đi mất.

    Posted Image

    Lỗi dẫn vào hầm mộ

    Posted Image

    Đoàn rước người xe nườm nượp

    Tuy vậy, những bức phù điêu màu sắc chạm trên các vách tường bằng thạch cao đã là một nguồn sử liệu quý giá. Những kẻ đào trộm cổ vật thậm chí đã vẽ lên tưởng để chuẩn bị đục những mảng phù điêu này ra nhưng vì lý do nào đó, chúng đã để lại.

    Trong quá trình phục chế, để đảm bảo giảm thiểu những hủy hoại mà môi trường và con người đã gây ra cho những bức phù điêu 1.500 tuổi, các nhà khảo cổ đã đục chúng ra khỏi vách và mang về phòng thí nghiệm để làm sạch và đưa các màu sắc về trạng thái ban đầu. Hiện những bức phù điêu này đã được đưa vào viện bảo tàng tỉnh Sơn Tây.

    Những bức phù điêu chạy quanh hầm mộ được đắp bằng đất hoàng thổ với những hình thù đa dạng. Trên mái vòm là hình những đám mây, dải ngân hà, ngôi sao... Ở phía Đông vách trần là hình mặt trời với một con quạ ở trong. Ở phía Tây vách trần là mặt trăng với hình con thỏ và con cóc ở trong. Xung quanh vách là những người lính bộ binh và kỵ binh đứng canh gác cho người đã khuất.

    Posted Image

    Bầu trời với mặt trăng, mặt trời, dải ngân hà và những ngôi sao

    Posted Image

    Mặt trời với con quạ nằm trong

    Posted Image

    Đoàn lính chạy vòng quanh các mặt tường với ý niệm bảo vệ linh cữu người đã khuất

    Ở bốn góc của hầm mộ là 4 loài vật tượng trưng cho tứ linh – một con rồng xanh, một con hổ trắng, một con chim đỏ và một con rùa đen. Mỗi con đứng gác ở một góc của hầm mộ. Đứng phía dưới tứ linh là 12 con giáp chạy ngược chiều kim đồng hồ.

    Posted Image

    Rồng xanh – một trong tứ linh

    Posted Image

    Phượng hoàng đỏ

    Posted Image

    Ngựa – một trong 12 con giáp

    Ngoài ra, trên tường phía bắc còn có hình một đàn ông và một đàn bà ngồi trên một chiếc kiệu có lọng che như thể chuẩn bị tham gia một đại tiệc lớn. Đây có lẽ là hình ảnh khắc họa chủ nhân ngôi mộ. Bên cạnh họ là những người hầu mang theo cờ quạt, nhạc cụ, bộ binh và kỵ binh đi trước dẫn đường.

    Posted Image

    Hai vị chủ nhân của ngôi mộ

    Posted Image

    Những người hầu gái đi theo phục vụ

    Posted Image

    Bộ binh đi theo hầu

    Posted Image

    Kỵ binh

    Posted Image

    Bộ binh và kỵ binh

    Posted Image

    Những người hầu mang theo nhạc cụ để biểu diễn phục vụ đoàn rước

    Cho tới ngày nay, có rất ít di tích khảo cổ còn sót lại từ thời nhà Tề. Đây có thể nói là phát hiện đáng kể đầu tiên, đem lại những thông tin vô giá về một thời kỳ lịch sử đã rất xa xôi.

    Bản thân bộ phù điêu đã vô cùng ấn tượng và kỳ công, cho thấy chủ nhân ngôi mộ phải là người có địa vị cao trong xã hội đương thời.

    Sau 4 năm phục chế, giờ đây những bức phù điêu được đặt trong những hộp kính chân không để chúng có thể được luân chuyển một cách dễ dàng và an toàn tới những địa điểm trưng bày triển lãm khác nhau.

    Pi Uy

    Theo The History Blog


  7. Xin có một câu hỏi cho Ông An Chi là: Ông có bao giờ tự hỏi vì sao các dân tộc anh em trong nước Việt Nam như dân tộc Mường hay như ông nói là người Thái Đen (hoặc Thái Trắng) lại có chữ viết mà dân tộc Kinh lại không có chữ viết riêng mà phải dùng chữ Hán và chữ Nôm để viết không?

    Lại còn đòi bằng chứng khảo cổ nhìn thấy mới tin:

    Ít nhất ông Xuyền cũng phải có một số văn bản, ít nữa là một vài, tối thiểu cũng là một, được các nhà khoa học, trước nhất là các nhà khảo cổ học và các nhà sử học xác nhận về tuổi thọ của nó; (những) tài liệu này phải được viết bằng thứ chữ giống y như những chữ trong cái bảng mà ông đã đưa ra. Đó là điều kiện tiên quyết. Đằng này, một tờ giấy lận lưng đúng theo điều kiện đó ông cũng không có…

    Đúng là người có chỉ số Bo cao. Buồn 1 phút.

    1 person likes this

  8. Tìm ra “tiên dược” chữa mọi bệnh ung thư?

    28/03/2013 15:45 GMT+7

    Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy một loại “tiên dược” có khả năng tiêu diệt tất cả các loại ung thư được thử nghiệm.

    Loại thuốc mới, được phát triển bởi các nhà khoa học thuộc trường đại học Y Stanford (Mỹ), có khả năng ngăn cản một loại protein có tên là CD47 – một loại tín hiệu quan trọng đối với hệ miễn dịch của cơ thể.

    Posted Image

    Các nhà khoa học đã tìm ra một loại thuốc có thể tiêu diệt hiệu quả các tế bào ung thư.

    Loại protein này được sản sinh trong các tế bào máu khỏe mạnh, nhưng các nhà khoa học phát hiện thấy rằng các tế bào ung thư sản xuất một số lượng lớn protein CD47 để đánh lừa hệ miễn không tiêu diệt những tế bào có hại.Từ phát hiện quan trọng này, các nhà nghiên cứu đã phát triển một loại kháng thể có khả năng ngăn cản protein CD47 do các tế bào ung thư sinh ra. Điều này giúp hệ miễn dịch có thể phát hiện và tấn công các loại tế bào nguy hiểm.

    Cho đến nay, các nhà khoa học đã thử nghiệm kháng thể để điều trị cho những con chuột được gây các bệnh ung thư ở người, như ung thư vú, buồng trứng, não, gan, ruột, bàng quang và tuyến tiền liệt. Trong mỗi trường hợp, kháng thể đã điều khiển hệ miễn dịch tiêu diệt các tế bào ung thư.

    “Chúng tôi nhận thấy rằng thậm chí sau khi khối u phát triển lớn, kháng thể vẫn có khả năng tiêu diệt khối u hay làm chậm phát triển và ngăn ngừa khối u di căn”, nhà nghiên cưu sinh vật học Irving Weissman, thành viên của nhóm nghiên cứu, cho biết.

    Một tác dụng phụ của phương pháp điều trị này là các tế bào khỏe mạnh cũng là mục tiêu tấn công trong thời gian ngắn.

    Nhóm của tiến sĩ Irving Weissman mới đây đã nhận được khoản tài trợ trị giá 20 triệu USD để tiếp tục nghiên cứu của họ trên cơ thể người.

    CÁC TIN LIÊN QUAN

    'Thần dược' chống lão hóa, ung thư và bệnh Alzheimer

    Lý giải 'thần dược' chữa ung thư ở Quảng Nam

    Hà Hương (Theo NY Post)

    Nguồn: http://vietnamnet.vn/



  9. Hé lộ nguyên nhân đại hồng thủy trong lịch sử
    27/03/2013 09:34 GMT+7

    Nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Mỹ đã lý giải nguyên nhân hành tinh của chúng ta liên tiếp chịu thảm hoạ thiên thạch và một trong số này gây nên nạn Đại hồng thuỷ.

    Từ lâu, các nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng, nguyên nhân của cuộc bắn phá là do sự dịch chuyển của các hành tinh. Sao Mộc và sao Thổ tiến gần về phía Mặt trời trong khi sao Hải vương và sao Thiên vương di chuyển ra xa nơi chúng hình thành. Sự dịch chuyển tạo ra lực hấp dẫn hút một lượng lớn thiên thạch vào trong hệ Mặt trời.

    Điều đó dẫn đến việc các thiên thạch va chạm với các hành tinh bao gồm Trái đất và Mặt trăng, gây ra hiện tượng các tiểu hành tinh và thiên thạch liên tiếp bắn phá Trái đất 3,9 tỷ năm trước đây (thường được nhắc đến nhất là nạn Đại hồng thủy).



    Posted Image


    Nguyên nhân trận Đại hồng thuỷ trong lịch sử loài người đã được hé lộ?




    Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào thực sự thuyết phục về vấn đề này cho đến khi Tiến sĩ Simone Marchi và các đồng nghiệp ở Viện Nghiên cứu Tây Nam, thành phố Boulder (Colorado, Mỹ) công bố công trình khoa học của mình.

    Được biết, nhóm nhà khoa học này vừa đăng tải đề tài nghiên cứu: Sự dịch chuyển của các hành tinh khí khổng lồ như sao Mộc đã tạo nên những cơn bão sao băng lớn nhất trong lịch sử hệ Mặt trời. Công trình vừa được công bố trên tạp chí Nature Geoscience.

    Tiến sĩ Simone Marchi, người đứng đầu cuộc nghiên cứu, đưa ra giả thuyết trên khi nghiên cứu mẫu đá Mặt trăng được tàu Apollo 16 mang về Trái đất năm 1972 và hai loại chính của thiên thạch.

    Các mẫu vật này đều chứa kim loại cao, H-chondrites là những chất tạo nên một nửa các thiên thạch có nguồn gốc từ tiểu hành tinh Vesta trên vành đai tiểu hành tinh chính của Thái dương hệ.

    Ông Marchi và đồng nghiệp sử dụng chỉ số đồng vị của Argon để xác định thời điểm va chạm xảy ra. Mô phỏng trên máy tính và mô hình cho thấy: Giai đoạn thiên thạch tấn công mạnh mẽ bên trong hệ Mặt trời là giữa 3,4 và 4,1 tỷ năm trước trùng với thời gian xảy ra nạn Đại hồng thủy. Các chỉ số Argon cũng cho thấy các mẫu thiên thạch chỉ có thể là kết quả của sự va chạm tốc độ cao, vượt quá 10 km/s.

    Các nhà khoa học khám phá rằng, một số khoáng chất ziricon trên Mặt trăng và dăm kết kiến tạo gây ra bởi vụ va chạm có tuổi thọ hơn bốn tỉ năm đều bắt nguồn từ một vụ va chạm lớn duy nhất gọi là Imbrium Basin. Điều này đã hỗ trợ cho thuyết Đại hồng thủy vốn đang bị suy yếu.

    “Các tính toán Argon mới cung cấp kết quả quan trọng lấp đầy lỗ hổng trong mô hình chuyển vị của các hành tinh. Vận tốc cao hơn có thể đẩy các hành tinh vào quỹ đạo hành tinh khác, va chạm xảy ra và vành đai tiểu hành tinh nhanh chóng trống rỗng", Tiến sĩ Simon O'Toole của Đài thiên văn Australia cho biết.

    Theo Kiến thức
    Nguồn: http://vietnamnet.vn/

  10. Bí ẩn mộ táng trâu trong đàn tế Nam Giao

    Ít người biết, trong quá trình phục dựng, tôn tạo Đàn tế Nam Giao thuộc Thành nhà Hồ (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), các nhà khoa học đã phát hiện một mộ táng trâu còn nguyên vẹn bộ xương nằm giữa bức tường của Đàn tế.

    Nó được phỏng đoán là mộ táng chú trâu được dùng làm vật tế lễ khi khởi công xây dựng Đàn.

    Mộ táng bí ẩn

    TS Đỗ Quang Trọng - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di sản Thành Nhà Hồ, thông tin: "Trong quá trình tôn tạo, phục dựng Đàn tế Nam Giao, các nhà khoa học đã phát hiện một mộ táng nằm gọn trong huyệt xây bằng đá. Vị trí của ngôi mộ đá này nằm dưới lòng bức tường bao vòng ngoài của Đàn tế Nam Giao, phía tiếp giáp với núi Đốn Sơn."

    Rất nhiều các giả thiết được đặt ra, nhưng cuối cùng, để đảm bảo cho công tác phục dựng lại toàn bộ Đàn tế, đoàn khảo sát đã quyết định khai quật ngôi mộ táng. Thật bất ngờ, đó là một bộ xương rất to, trong tư thế nằm ngửa, gần như còn nguyên trạng. Đó là bộ xương gia súc, và nhiều khả năng là bộ xương trâu. Thời điểm phát hiện ra ngôi mộ táng này vào khoảng tháng 4/2012.

    Qua nghiên cứu, các nhà khảo cổ đưa ra kết luận, đây là bộ xương trâu. Nhưng câu hỏi đặt ra là, vì sao lại mai táng trâu ở vị trí xây dựng Đàn, và được dựng mộ đá khá nghiêm cẩn?

    "Đối với người phương Đông, quan niệm "tam sinh" (ba vật dùng trong lễ tế thần gồm trâu-dê-ngựa) đã trở thành luật bất thành văn và ăn sâu trong lòng người Việt. Có thể, ngày trước khi dựng Đàn tế, cụ Hồ Quý Ly đã cho cúng trâu để tế thần linh. Mặt khác, xứ Thanh là vùng canh tác lúa nước màu mỡ phì nhiêu, nên con trâu luôn được đánh giá cao, là "đầu cơ nghiệp". Có thể đó là lý do Hồ Quý Ly cho cúng tế thần linh bằng trâu, với mong muốn dân được no đủ, mùa vụ bội thu" - Tiến sỹ Trọng phân tích.

    Ngay gần vị trí mộ đá táng trâu trong Đàn tế, hai khối non bộ tự nhiên là một phần dính liền của núi Đốn Sơn (hòn núi mà Đàn tế dựa lưng vào theo thế phong thủy, tựa núi vọng thủy, vì phía trước Đàn tế là con sông nước trong vắt) xếp khá đối xứng nhau: một bên có 7 ngọn và một bên có 8 ngọn. Điều này cho thấy, đây là vị trí phong thuỷ đắc địa và người xưa khi xây dựng Đàn tế đã tận dụng sự đăng đối của tự nhiên để phối cảnh.

    Posted Image

    Bộ xương trâu được phát lộ tại Đàn tế Nam Giao

    Trước khi di tích Đàn tế nằm trong quần thể Thành nhà Hồ được phong di sản văn hóa hế giới, Đàn tế Nam Giao là một khu đất bằng phẳng, được trồng keo, trồng cây bạch đàn, tai tượng... theo các dự án rừng khai thác của địa phương. Vị trí bức tường vòng ngoài của Đàn tế có mộ đá táng trâu và hai hòn non bộ đối xứng này, trước nguyên là một con đường mòn người dân bản địa từ khai phá để... đánh trâu vào núi. Người ta cũng đổ vật liệu thải của nhà máy sản xuất gạch gần đó khiến toàn bộ Đàn tế bị chôn lấp.

    "Khi khai quật bức tường, chúng tôi thấy làm may mắn khi thấy một đoạn tường đổ xuống không hề bị lộn xộn mà theo từng lớp gần như nguyên vẹn. Trên cơ sở này, chúng tôi đã dựng lại, đo đếm và xác định được gần như chính xác chiều cao của Viên tường" - TS Trọng nói.

    Gian nan bài toán bảo tồn

    Theo sử sách, Đàn tế Nam Giao được xây dựng vào tháng 8/1402 trên núi Đốn Sơn (hay còn gọi là Núi Đún). Lễ tế Giao đầu tiên của triều Hồ được tổ chức cùng năm. Di tích Đàn tế nằm trong lòng hai đỉnh của ngọn núi này theo thế dựa vào tay ngai, lọt trong khu vưc La thành (vòng ngoài) của Di tích Thành Nhà Hồ. Do địa thế sát chân núi, thoải dần về phía Nam nên khu vực Nam Giao quanh năm khô ráo. Các cuộc khai quật khảo cổ từ năm 2004 đã làm xuất lộ một Đàn tế có nền móng còn tương đối nguyên vẹn nhất trong số các đàn tế Nam Giao được biết đến ở Việt Nam.

    Là người trực tiếp tham gia khai quật, phục dựng Đàn tế, TS Đỗ Quang Trọng kể lại: Năm 2004, sau khi dâng hương xin Đức Vua về việc khai quật Đàn tế, như được linh ứng, đoàn khảo cổ thực hiện một hố khai quật chỉ 12m2 thì thật bất ngờ khi phát lộ cửa phía Đông của Đàn tế. Bởi trước đó, toàn khu này là vườn trồng keo lá tràm của người dân, bệnh viên và hàng loạt nhà ở của dân đã tồn tại nhiều năm trên mảnh đất này.

    Thậm chí, nhiều ngôi mộ táng của dân trong vùng cũng đã được chôn cất ở đây từ lâu. Chính vì thế, khi phát lộ hố khai quật đầu tiên, các nhà khoa học đã nhanh chóng định hình khu vực Đàn tế để khai quật, không làm hỏng những gì còn lại.

    Phần khảo cổ đã phát lộ cho thấy, di tích đã bị phá hoại nghiêm trọng, bởi các yếu tố như: Việc trồng cây keo tai tượng và các loại cây khác đã đàn phá vào nền móng; việc xây dựng nhà ở của dân đã san bạt di tích, đào phá nền di tích và khai thác tối đa nguồn đá cổ để xấy dựng, khiến trên 90% đá của di tích đã bị lấy mất; việc xây dựng lò nung vôi cạnh di tích và lấy đá di tích để nung vôi vừa phá huỷ đá vừa phá huỷ chân nền di tích; việc xây dựng đường xe trâu cũng phá huỷ phần lớn Viên đàn và Thần đạo cùng hai Tam quan ở nền 2; việc xây dựng Bệnh viện Vĩnh Lộc đã san mất toàn bộ góc Tây Nam nền 5; việc đào ao của dân đã phá huỷ toàn bộ góc Đông Nam ở nền 5...Do ý nghĩa và giá trị to lớn của di tích nên việc bảo tồn cấp thiết trước khi có một giải pháp tổng thể là vô cùng cấp bách. Nếu không bảo tồn thì nguy cơ di tích bị biến mất sẽ rất cao. Các chuyên gia của Tổ chức quốc tế về các công trình và di tích (ICOMOS) đã có văn bản yêu cầu chống xói lở, bảo tồn khẩn cấp cho di tích. Do vậy, Trung tâm Bảo tồn di sản Thành Nhà Hồ đã khẩn trương phối hợp với các đơn vị tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, tư vấn thi công tiến hành công tác bảo tồn.

    Sau quá trình dài vừa khai quật vừa đi học hỏi công tác bảo tồn đàn tế và di tích ở các nước khác như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, các nhà khoa học đã chọn được hướng bảo tồn khả thi nhất. Lúc đầu, có ý kiến cho rằng, nên làm một khu nhà bạt rộng để che chắn gió mưa. Thế nhưng, phương án này bị bác bỏ, vì vừa tốn kém vừa thiếu thực tế, khả năng bị đổ do gió bão rất cao.

    Cũng có phương án đưa ra là nên che bạt như ở một số di tích đã làm. Thế nhưng, phương án này cũng không nhận được sự đồng thuận cao. Cuối cùng, sau khi trực tiếp tham quan di tích khảo cổ kinh đô Asuka và Nara ở Nhật Bản, các nhà khoa học đã thống nhất dùng một loại giấy đặc biệt của Nhật. Theo đó, sau khi khai quật, từng phần sẽ được bao bọc loại giấy này, sau đó lấp đất lên trên để tôn tạo theo phác thảo hình khối ban đầu của Đàn tế, giúp chúng ta có thể mường tượng rõ nhất về tổng thể khu vực Đàn tế cách đây hơn 600 năm.

    Tổng diện tích mặt bằng Đàn tế khoảng 30.000 m2; khối lượng đất đào đắp xây dựng nền Đàn ước khoảng 30.000m3. Di tích có cấu tạo 5 cấp cao dần lên (nền 1 cao nhất là 21,7m; nền 5 thấp nhất là 12m so với mực nước biển); các cấp nền được xây bó vỉa bằng đá, móng tường đàn được xây bằng các loại đá phiến và đá phấn có màu đỏ son và vàng nhạt; trên các nền Đàn còn lại dấu tích các công trình kiến trúc như đường Thần đạo, nền sân lát gạch, các vòng tường đàn, nền đàn thờ đa thần, Viên đàn, Thần trù, Thần khố, Trai cung, Giếng Vua, hệ thống cống thoát nước, đường đi, các cổng, cửa được bố trí rất đăng đối và khoa học...

    Với ngôi mộ đá táng trâu nằm trong bức tường của Viên thành, thời điểm hiện tại, người ta mới lấy tạm một tấm phên tre phủ lên trên bề mặt. Theo kế hoạch, tới đây, số cốt xương của con trâu được chọn đem tế lễ hơn 600 năm về trước sẽ được khai quật. Mô hình mộ đá sẽ được dựng lại để đảm bảo thống nhất toàn vẹn của di tích Đàn tế trong quần thể Di sản Thành nhà Hồ.

    Theo Thái Linh

    Tuần Việt Nam

    1 person likes this

  11. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 12

    2/24/2012 4:04:51 PM

    4. Những đặc tính cơ bản của Thuốc Việt cổ truyền được nhìn nhận dưới ánh sáng của khoa học Hóa - Sinh.

    4.1. Thuốc Việt cổ truyền được dẫn dắt bởi Y lí Việt cổ truyền.

    Y lí Việt cổ truyền cho rằng: cơ thể con người là một khối thống nhất. Khi một bộ phận nào đó mắc bệnh thì các bộ khác trong cơ thể cũng lâm vào cảnh suy nhược theo. Đưa một loại thuốc vào cơ thể để chữa lành bộ phận bị mắc bệnh thì bài thuốc đó phải bao gồm cả những chất làm hồi phục chức năng sinh lí của những bộ phận khác trong cơ thể người bệnh. Thuốc Việt vì thế luôn là một hợp chất, rất hiểm gặp khi dùng một chất để điều trị. Vả lại việc dùng một biệt chất để chữa bệnh khi qua miệng xuống dạ dầy rồi thuốc thẩm thấu qua thành ruột non hòa dòng màu lưu thông khi đến ổ bệnh đã là một hợp chất rồi. Bất cứ bài thuốc chữa bệnh nào của Việt y đều có những vị thuốc bổ dưỡng, do dó thuốc chữa bệnh của Việt y chẳng những không gây ra hệ lụy cho những bộ phận cơ thể chưa nhiễm bệnh mà còn làm tăng sức đề kháng cho chúng để hỗ trợ cho các bộ phận bị nhiễm bệnh.

    4.2. Thuốc Việt cổ truyền được cấu tạo như một loại thức ăn

    Dùng khoa học Hóa - Sinh để phân tích những vị thuốc tham gia các bài thuốc chữa bệnh của Việt y cổ truyền người ta nhận thấy các vị thuốc đó đều có hàm lượng Protein rất cao.

    Protein phát âm theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là đầu tiên. Trong lĩnh vực thức ăn nó là chất quan trong số một. Protein là hợp chất hữu cơ phức tạp có phân tử lớn gồm 4 nguyên tố: cacbon, hydro, oxy, ni tơ (chất này thường được gọi là azot hoặc đạm). Ngoài các chất trên trong protein còn chứa vài nguyên tố khoáng như: photpho, lưu huỳnh, Kẽm… Cấu tạo nên phân tử protein là các axit amin,được trùng hợp bởi các mạch peptit.

    Protein được cung cấp cho cơ thể sống qua thức ăn ăn vào nếu có đầy đủ các axit amin cần thiết để tạo nên Protein của cơ thể được gọi là: “protein có giá trị sinh học đầy đủ”. Giá trị sinh học đầy đủ của protein được xác định từ hàm lượng các axit amin “không thay thế” (Còn gọi là axit amin thiết yếu). Phân tử protein nào không chứa đầy đủ các axit amin không thay thế gọi là “Protein có giá trị sinh học không đầy đủ”. Thiếu một axit amin thiết yếu thì khả năng sử dụng protein của cơ thể bị giảm theo tỷ thuận với nó.

    Thiếu hoặc không đạt chuẩn của một hoắc nhiều axit amin thiết yếu trong thức ăn đưa vào cơ thể sẽ gây rối loạn quá trình tổng hợp protein trong cơ thể, dẫn đến phá hủy sự trao đổi chất, phá hủy sự hình thành các enzym và hormone làm xuất hiện nhiều loại bệnh tật.

    Các axit amin thiết yếu là những axit amin cơ thể không tổng hợp được phải dưa từ ngoài vào qua proten thức ăn có trong thực phẩm cao cấp như: thịt, cá, sữa… Mười axit amin liệt kê sau đây là những axit amin thiết yếu: 1.Arginine, 2.Histidine, 3.Isoleucine, 4.Leucine, 5.Lysine, 6.Methionine, 7.Phenylalamine, 8.Threonine, 9.Tryptophan, 10.Valine Những thực phẩm chứa các axit amin này rất đắt tiền, người bình dân không thể ăn những thực phẩm này thường xuyên, vì thế tế bào của cơ thể người Việt bình dân nhiều đời nay luôn đói axit amin thiết yếu.

    Ví dụ: các axit amin Lysine, Trytophan có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa không phải lúc nào cũng có mặt trong bữa ăn của người bình dân. Cơ thể động vật thiếu các loại axit amin này thường xuyên nên cơ thể còi cọc, thần kinh suy yếu luôn sợ hãi.

    Dân tộc Việt ngay từ buổi hình thành luôn phải đối diện với hai loại giặc là giặc ngoại xâm và giặc đói. Đánh giặc ngoại xâm tuy rất khó, nhưng đánh giặc đói còn khó gấp nhiều lần. Vì thế giặc đói cứ bám riết vào dân tộc ta cho đến hôm nay vẫn chưa bị đánh tan. Cái đói luôn thường trực 24/24 giờ trong ngày. Suy dinh dưỡng chính là cội nguồn của mọi chứng bệnh từ ngàn đời. Do đó thuốc chữa bệnh của y học dân gian phải chữa hai chứng bệnh: một là bệnh đói của các tế bào trong cơ thể (khoa học hiên đại ngày nay gọi là đói các axít amin), hai là chữa các bệnh cụ thể. Những bệnh nan y nói chung đều có cội nguồn rối loạn cùng các axít amin cho cơ thể. Chính vì lẽ đó mà các bài thuốc phải có nhiều vị, vừa để cung cấp đủ các axít amin chữa đói cho tế bào làm tăng sức đề kháng cho cơ thể, rồi coi sức đề kháng đó là lực lượng chủ lực phối hợp với các vị thuốc để chiến thắng bệnh tật. Thủ pháp này đã vượt khỏi tầm chiến thuật, trở thành chiến lược của y học cổ truyền dân tộc Việt.

    Các protein tích chứa trong các bài thuôc cổ tuyền đều rất giàu acid amin. Nếu người bệnh uống đúng liều quy định thì lượng acid amin tổi thiểu của một ngày dinh dướng đã có đủ, Các acid amin (Aminoacid) là hợp chất hữu cơ có nhóm cacboxuyl (- COOH) và nhóm a min (- NH2) khiến nó trở thành chất lưỡng tính vừa có tính acid vừa có tính bazơ, trong môi trường bazơ nó là một acid; trong môi trường acid nó là một bazơ.

    Có rất nhiều định nghĩa hiện đại khác nhau về acid và bazơ, nhưng các nhà khoa học Hoá Hữu cơ chấp nhận định nghĩa của Lowry: acid là một hợp chất có thể cho prton H+. Bazơ là một hợp chất có thể nhận proton. Định nghĩa của Lowry đã mở ra một không gian mới cho chuyên ngành khoa học Hóa - Sinh - Y, người ta đã nhìn ra các chất acid liên hợp và bazơ liên hợp, nó làm cho người thực hành vững tâm hơn khi nhận diện nhiều ion và hợp chất không được xem là acid theo định nghĩa cổ điển; đưa tới một khảng định rất có giá trị thực tiễn cho dược học hiện đại, đó là: một phản ứng acid - bazơ đầy đủ là một sự di chuyển proton từ acid đến bazơ tạo thành bazơ liên hợp và acid liên hợp tương ứng.

    Từ những tiền đề trên trong quá trình sáng tạo thuốc mới các nhà dược học thực hành có thể tính được “Lực Acid và Bazơ”. Bằng những khảo sát thực nghiệm các nhà nghiên cứu hoá học cơ bản đã chỉ ra rằng: Lực acid của một phân tử gía tăng theo độ âm điện của nguyên tử. Độ âm điện càng cao, sự phóng thích Proton H+ càng dễ dàng và làm tằng lực acid. Một sự trùng hợp kỳ diệu là các vị thuốc bố trí trong các bầi thuốc cổ phần lớn đều là chất lưỡng tính vì thế mà tốc độ dẫn truyền của thuốc đối với cấu trúc sinh học của cơ thể người tạo ra một nhịp điệu Tiếp và Thu thuận lợi.

    Các vị thuốc trong các bài thuốc mới chỉ là tiền chất, còn phải được chế biến qua công đoạn ngôn ngữ cổ gọi là “dưỡng thuốc”. Dưới ánh sáng của khoa học hiện đại thì “dưỡng thuốc” thực chất là công nghệ vi sinh. Các vị thuốc đều phải được ủ trong điều kiện yếm khí. Sinh khối tạo được mới là thuốc để uống.

    Các vị thuốc có hàm lượng Xenlulo cao đều phải dùng một “quần xã vi sinh” lấy trong tự nhiên để phân giải trong điều kiện yếm khí. Các vị thuốc có hàm lượng Xenlulô cao sau khi được phân giải trộn với các chất có nguồn gốc động vật và có hàm lượng tinh bột cao, được chế biến qua giai đoạn ủ yếm khí với một loại men đặc hiệu để tạo sinh khối cuối cùng. Sinh khối cuối cùng có nhiều loại Prôtein đặc biệt. Chỉ khi nào thuốc có được loại chất protein đặc hiệu này mới có thể được sử dụng chữa bệnh.

    Các loại thuốc Việt cổ truyền ở dạng bột hoặc viên đều có hàm lượng Xenlulo rất cao không dưới 30% của một liều uống. Khi người bệnh uống hoặc ăn thuốc vào dạ dày lượng xenlulo này sẽ bị dồn xuống ruột già. Xenlulo của thuốc đọng lại ở ruột già sẽ huy động những vi sinh vật có lợi cho cơ thể sống tiếp tục phân hủy Xenlulo của thuốc để lấy các chất còn lại. Nếu dùng tiêu chuẩn “tan“ của Tây dược để đánh giá thuốc Việt cổ truyền là không thích hợp. Thuốc Việt cổ truyền cần được đánh giá độ hấp thụ thuốc theo tiêu tiêu chuẩn hấp thụ thức ăn.

    _Việt Y Cổ Truyền_


  12. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 11

    2/23/2012 3:46:56 PM

    Về yêu cầu đưa thuốc vào đúng ổ bệnh

    Việc đưa thuốc vào đúng ổ bệnh là đặc điểm riêng có của y học dân gian. Người ta cho rằng cách sao tẩm thuốc như phương pháp của Trung y đang làm là cách để đưa thuốc quy kinh. Nhưng chúng tôi cho rằng sao tẩm thuốc chỉ tác động được vào tính năng hoạt hoa của thuốc; còn việc đưa thuốc vào đúng ổ bệnh phức tạp hơn nhiều. Nếu dùng thuốc bằng con đường uống thì thuốc phải tham gia vào toàn bộ quá trình chuyển hoá. Bản thân thuốc buộc phải qua khâu tiêu hoá để biến thành thức ăn đồng hoá. Khi đã là thức ăn đồng hoá rồi thuốc phải tham gia vào chu trình Krepxơ, thuốc vừa bị đồng hoá vừa bị thoái hoá thì chức phận của thuốc làm sao được bảo toàn?

    Người Việt cổ chưa biết lý luận về chuyển hóa các chất trong cơ thể người. Có lẽ, cái buổi ban sơ đó cho đến khi đúc rút được kinh nghiệm dẫn thuốc vào ổ bệnh, chắc chắn người Việt cổ đã phải trả giá rất đắt về mạng sống của nhiều thế hệ người bệnh. Qua cách chế tạo thuốc bằng phương pháp cổ truyền tôi nhận ra người Việt cổ đưa thuốc vào cơ thể bằng “dẫn xuất enzym nhân tạo”, nói cho đúng hơn thuốc của người Việt cổ bao gồm hai thành phần của chuyển hoá là cơ chất và tiền chất của enzym biến đổi cơ chất đó. Bệnh tật là do chu trình chuyển hoá bị rối nhiễu, trì trệ. Chu trình chuyển hoá bị rối nhiễu, trì trệ là do hiệu năng hoạt hoá cơ chất của hệ thống enzym bạc nhược. Tất cả các bài thuốc chữa bệnh nan y của y học dân gian tôi sưu tầm được đều có tính chất này.

    Ví dụ: bài thuốc sử dụng để chữa lành các vết thương ở thành ngoài tế bào là cung cấp những tiền chất để tế bào sinh tổng hợp Collagen. Nghiên cứu khoa học cơ bản của Hoá - Sinh - Y học chỉ ra rằng: Quá trình sinh tổng hợp các týp Collagen là do sự “thúc ép của tế bào, hai đầu của các chất trong procollagen tách ra và những dây nhỏ xoắn ba được bắc cầu nối với nhau khi xếp thành hàng, tạo ra một sự chênh lệch, là một phần tư chiều dài giữa các phân tử nối tiếp nhau. Việc bắc cầu này là kết quả hoạt động của Lysyloxydase, một enzymcủa đồng(tôi viết nghiêng để gây chú ý)” (G.S. Phạm Khuê và T.S. Phạm Thắng: Cơ thể con người lúc về già, tr.171). Như vậy là yếu tố mang tính quyết định việc sinh tổng hợp các týp Collagen ở trong tế bào là enzym đồng Lysyloxydase. Trong bài thuốc cổ truyền dùng để tăng sinh Collagen có vị thuốc rất độc đáo là “rỉ đồng được sản xuất bằng mẻ”. Mẻ là một món ăn cổ truyền của dân Bắc Việt, được chế tạo bằng cách để cơm nguội cho vi khuẩn làm “thiu” đi, tạo ra một dạng huyền phù sinh học dùng để nấu canh chua, nấu thịt chó rất ngon miệng.

    Phân tích sinh hoá trong huyền phù mẻ có tới 17 axit amin và có tất cả các chủng loại của vitamin nhóm B. Cách chế tạo rỉ đồng bằng mẻ tiến hành như sau: dùng nồi đồng hoặc vật dụng làm bằng đồng nguyên chất, đánh sạch các vết bẩn bám trên mặt đồng, sau đó lấy nước mẻ quét lên một lớp mỏng, để vào bóng tối nơi có độ ẩm cao, sau 24 tiếng đồng hồ xuất hiện một lớp chất màu xanh da trời, đó là vị thuốc rỉ đồng chế tạo bằng mẻ, đây chính là tiền chất của enzym đồng Lysyloxydase. Tiền chất có bản chất enzym này sẽ đưa thuốc vào đến tận Riboxom, cung cấp vật liệu cùng chất xúc tác để cơ quan này sinh tổng hợp Collagen.

    Thuốc của y học dân gian không thể sản xuất hàng loạt theo công nghệ được chương trình hoá, vì cùng một loại bệnh nhưng mỗi người lại có “kháng nguyên phù hợp mô - HLA” rất khác nhau; không có loại thuốc đặc hiệu nào dùng chung cho tất cả mọi người. Đặc thù chữa bệnh của y học dân gian luôn là cách chữa rất bình dân: các vị thuốc của nó thì “thượng vàng hạ cám" đều dùng hết. Có vị thuốc chỉ là vật thể rất tầm thường mà thường ngày vẫn bị coi là đồ bỏ đi, rác thải. Ví dụ: vị thuốc chế tác từ vỏ quả Dứa có tác dụng chữa bệnh Máu nhiễm mỡ. Trong cái vỏ dứa vứt đi đó tổ tiên ta đã biết dùng vào việc chữa bệnh. Thời trai trẻ tôi chỉ biết làm theo kinh nghiệm lấy vỏ dứa sao vàng rồi nghiền nhỏ trộn với một số vị thuốc khác, mang ủ kín ba ngày ba đêm, khi mở ra thấy có mốc trắng mà thơm mùi rượu là vị thuốc đã được chế tẩm tốt. Dưới ánh sáng của khoa học hiện đại cái hồn của vỏ dứa chính là chất Bromelin. Bromelin là một men thuỷ phân Protit chịu nhiệt, dịch triết Bromelin ở pH 3,5 sau khi đun sôi 60 phút vẫn còn hoạt tính. Ở pH 3,3 Bromelin có tác dụng như Pepsin, ở pH 6 như Trysin. Trường hợp vô toan Bromelin vẫn còn tác dụng. Bromelin có tác dụng ức chế quá trình viêm làm giảm phù nề và tụ huyết.

    Còn tiếp ...

    Nguồn: vietycotruyen.com


  13. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 10

    2/14/2012 5:59:16 PM

    Việt Y xin giới thiếu một cách chế biến thuốc khác nữa cũng không kém phần độc đáo: nguyên liệu chính là toàn thân con khỉ lông vàng.

    Khỉ lông Vàng là con vật duy nhất biết tự bắt chước hành vi của Con người. Con vật này sinh đẻ rất ít, khi sinh chảy rất nhiều máu. Chính vì lẽ đó mà sau khi sinh, khỉ mẹ đã cắn rốn cho con và ăn luôn nhau thai. Nhờ ăn nhau thai tươi nên khỉ mẹ hồi sức rất nhanh. Từ nhiều đời nay, người Viêt cổ (Thổ Cao Bằng) đã quan sát được hiện tượng này. Người đi săn nào may mắn, tình cờ bắt gặp Khỉ đẻ, đợi vừa lúc Khỉ con ra khỏi cơ thể mẹ đã đuổi Khỉ mẹ đi để cướp nhau thai về ngâm rượu làm thuốc bổ.

    Rất hiếm găp khỉ hoang dã đẻ, vì khi trở dạ nó thường chọn mỏm núi hiểm trở để ngồi đẻ. Người Viêt cổ thường đi nạo vét các vết máu còn đọng lại ở những tảng đá có Khỉ đẻ mang về ngâm rượu dùng dần. Người Thổ Cao Bằng gọi tên vị thuốc này là “Lục Lình”. “Lình” tiếng Thổ là Khỉ; “Lục” tiếng Thổ là nhau thai. Các thầy Lang người Kinh đặt tên là “Huyết Lình”.Theo ghi chép của Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi công bố trong tác phẩm được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996: “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (trang 954) thì:” Vào mùa khỉ đẻ, vào tháng 5 - 6 âm lịch, người ta đến những nơi núi đá ở những nơi khỉ thường ở và đi lại, tìm những mỏm núi đá là nơi khỉ hay ngồi sau khi đẻ để cạo lấy huyết đã khô đen. Có những mảng huyết đọng dày tới 1cm… Thành phần hóa học, chưa thấy có tài liệu nghiên cứu. Soi kính hiển vi chỉ thấy toàn hồng cầu, có lẫn các chất bẩn khác”. Ông Đỗ Tất Lợi viết tiếp: “Huyết Lình là môt vị thuốc nhân dân hay dùng làm thuốc bổ máu cho phụ nữ sau khi đẻ, cho những người xanh xao gầy yếu, trẻ con gầy còm chậm lớn kém ăn”. Đó là ý kiến thành văn của nhà khoa học khoa bảng nhận xét về tác dụng dược lý của máu khỉ đẻ. Còn về nhau thai Khỉ hiện tại chưa thấy ai viết về nó.

    Qua thực tế chữa bệnh thấy rằng: Cả Tây y và Đông y đã dùng nhau thai Người làm vị thuốc bổ tăng cường thể lực có hiệu quả, nhưng chưa dùng nhau thai Khỉ. Thành phần hóa học có trong nhau thai Khỉ là những chất gì thì chưa thấy ai công bố. Trong thưc tế rất khó thu lượm nhau thai Khỉ, vì ngay sau lúc sinh Khỉ mẹ đã ăn ngay nhau thai. Các thầy Lang Việt biết dùng nhau thai Khỉ để làm thuốc thường chăn nuôi Khỉ tại nhà và mổ Khỉ mẹ để đoạt nhau thai cùng con của nó còn trong tinh trạng “bao tử”. Đây là những vị thuốc rất bí mật của các thầy Lang thuần Việt.

    Nhau thai Khỉ ngay sau khi lấy ra khỏi cơ thể Khỉ mẹ được ngâm ngay trong bình mật ong. Mật ong này phải là mật của ong hoang dã thu lượm ở những khu rừng nguyên sinh. Một nhau thai ngâm trong 1 lít mật với thời gian 6 tháng, Khi thấy nhau thai đã bị mật ong tiêu biến là dùng được. Tuy nhiên, nếu dùng đơn độc sẽ kém hiệu quả mà phải dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác.

    Bào thai khỉ sau khi bắt ra khỏi cơ thể mẹ được bọc bằng lá sen non hơ trên ngọn lửa nhỏ của rơm lúa nếp cho đến khi tóp lại chỉ còn một nửa khối lượng ban đầu lập tức cho vào một nồi đất, đậy vung cũng bằng đất rồi vùi vào đống vỏ trấu đang cháy, nung trong 24 giờ, đập nồi lấy sản phẩm nghiền thật mịn để khi dùng trộn với mật nhau thai đã nói ở trên.

    Những phần nội tạng còn lại trong xác khỉ mẹ được lấy ra để riêng biệt và sấy khô ở nhiệt độ không quá 560C rồi nghiền nhỏ. Đây chính là các dẫn chất sinh học để đưa thuốc vào đúng ổ bệnh. Ví dụ: Bột Não khỉ được trộn vào bài thuốc “Khôi phục hàng rào máu não”. Các loại tạng khác, như: gan, thận, phổi, dạ dầy, v.v... đều dùng làm dẫn chất sinh học cho các Bài thuốc đặc trị bệnh ở các cơ quan tương ứng trong cơ thể Người. Kinh nghiệm chế tác thuốc này đã khiến nhiều người hiểu lầm: “ăn gì bổ nấy”.

    Cần nói thêm việc này: Những người ngộ nhận “ăn gì bổ nấy” cho rằng: nếu một bộ phận của cơ thể người bị hư hỏng thì cho ăn bộ phận tương ứng của một loài vật nào đó là chữa khỏi. Ngộ nhận cảm tính này đã khiến nhiều người “ăn gì bổ nấy” không khỏi bệnh mà còn mắc thêm bệnh khác. Đau đầu mà ăn óc khỉ nhiều lần sẽ tăng nồng độ Cholesterol trong máu làm phát sinh bệnh tim mạch. Đau gan mà ăn nhiều gan gia súc gia cầm không những làm cho bệnh gan nặng thêm mà còn phát sinh nhiều bệnh khác do các chất độc trong gan mới ăn vào. Gan tuy chứa nhiều Protein bổ dưỡng thì đồng thời gan lại là nơi lọc máu giữ lại tất cả những chất độc hại có trong máu lưu thông để bảo vệ cơ thể. Ăn gan chính là đưa các chất độc hại vào cơ thể. Việt y dùng bột nghiền nhỏ của các tạng trong cơ thể súc vật là để chế biến tiền chất của các Enzym hình thành dẫn xuất đưa thuốc vào đúng ổ bệnh chứ không phải lấy các chất có trong các tạng của súc vật để làm chất chính chữa bệnh.

    Xử lí xác khỉ: tùy theo định hướng chế biến, chữa bệnh cụ thể mà nhồi các vị thuốc thảo dược đặc trị rồi khâu kín lại. Chỉ khâu phải là sợi cây đay. Sau khi khâu kín, nhúng vào nước đun sôi đẻ tuốt sạch lông. Lông khỉ phải thu gom lại để chế biến làm phụ gia cho một vị thuốc, nói ở phần sau.

    Xác Khỉ sau khi đã nhồi thuốc cho vào một cái thạp bằng sành chịu nhiệt cao có đường kính 30cm, cao 35 cm, đổ nước mưa đã lọc sạch bụi bẩn, đặt lên một bếp lò có 3 lỗ: Lỗ chính đặt thạp chứa xác Khỉ; lỗ phụ thứ nhất đặt nồi nước mưa đun cùng với thạp chính; lỗ phụ thứ hai đặt một nồi bằng đồng có đường kính 40cm, cao 20cm. Đốt lò ninh cao. Khi thạp chứa xác Khỉ cạn nước chỉ còn 1/3, chắt nước ra nồi đồng để cô cao, cho tiếp nước đã sôi của nồi bên cạnh vào thạp, đun tiếp và tiếp tục chắt lấy nước đặc sang nồi đồng cô cao. Khoảng 10 lần chắt nước, đến khi không còn chất gì nữa thì thôi.

    Khi dung dịch cao ở nồi đồng đã quánh lại thì đổ ra giấy bản lót trên một mâm bằng đồng thau, tải đều dung dịch ra kín mâm, lấy lồng bàn đậy lại. Sau 24 giờ, dung dịch đã kết lại thành keo, lấy cật tre, sắt thành những miếng nhỏ. Đó là Cao Khỉ toàn tính.

    Lông Khỉ (có hàm lượng axít amin Lysine rất cao) gom lại rửa sạch bọc vào lá sen già cho vào nồi đất vùi vào đống vỏ chấu đang cháy trong 24 giờ, lấy ra tán nhỏ rắc lên các miếng cao, gói kín bằng giấy chống ẩm để dùng dần.

    Như vậy là toàn bộ con Khỉ đã được chế biến thành nhiều vị thuốc, kết hợp với các vị thuốc khác hình thành Bài thuốc Mẫu Dưỡng. Chức năng chính của bài thuốc này là chống suy kiệt toàn thân cho người mắc phải các bệnh nan y như: Hôi chứng HIV/ AIDS, người cai nghiện chất ma túy, người mắc các bệnh ung thư.

    Bài thuốc này không chỉ được dùng để chữa trị cho người nhiễm HIV đã đi vào AIDS mà được sử dụng điều tri ngay sau khi đã có kết quả xét nghiệm dương tính với HIV. Nếu điều trị đúng liều sẽ giúp chặn đứng sự hủy diệt tế bào CD4+. Đặc biệt, Mẫu Dưỡng giúp phục tráng khả năng sản xuất kháng thể của các chủng tế bào Bạch Cầu, đặc biệt là Đại thực bào. Bài thuốc Mẫu Dưỡng cũng góp phần tích cực cải thiện chất lượng huyết tương, tăng hàm lượng huyết thanh trong huyết tương lấy lại sự cân bằng và đồng bộ cho các chủng loại Protein của Hệ thống Bổ thể. Tóm lại, uống thuốc Mẫu Dưỡng là thiết thực tăng cường khả năng miễn dịch cho Hệ thống miễn dịch trong cơ thể người nhiễm HIV. Thuốc Mẫu Dưỡng cũng được dùng để chống suy kiệt cho người mắc các loại bệnh ung thư đang được điều trị bằng liệu pháp “Xạ trị”.

    Còn tiếp ...

    Nguồn: vietycotruyen.com


  14. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 9

    1/25/2012 12:33:12 PM

    1. Quan niệm về Thuốc của việt Y cổ truyền.

    Theo nghĩa thông thường Thuốc là chất được chế biến dùng để phòng và chữa bệnh. Trong kho tàng tiếng Việt cổ Thuốc còn dùng để chỉ một hành vi tác động của chủ thể mưu toan điều khiển khách thể. Thường nghe dân gian nói: “không hiểu con bé ấy có bùa mê thuốc lú gì mà thằng cha ấy chết mê chết mệt”; hoặc: để bác bỏ một nhận định cho là không đúng của người đối thoại có địa vị xã hội cao hơn mình: “Bác lại thuốc em rồi!”. Thuốc của Việt y cổ truyền hình thành theo quan niệm đó. Hiểu theo nghĩa này, Thuốc là một giải pháp chữa bệnh. Thuốc chữa khỏi bệnh gọi là thuốc hay; thuốc không khỏi bệnh gọi là thuốc dởm. Coi thuốc là một giải pháp chữa bệnh, nên bệnh nào thì thuốc đó, “bệnh Quỷ thì phải có thuốc Tiên” là như vậy.

    2. Phát hiện vật liệu để chế tác thuốc

    Khi xác định rõ chứng bệnh thầy Lang đi tìm tính dược của thuốc mà kinh nghiệm nhiều đời đã chỉ định: “bệnh nào, thuốc đó”. Ví dụ: ”Vỏ bí đao thật khéo tiêu phù, xọp thuỷ thũng gì hơn Thương Lục”. (Tuệ Tĩnh: Toàn tập. Tr.397). Để có được chỉ định chắc chắn tự tin như vậy không phải do một thiên tài cá nhân làm được mà là kinh nghiệm tích góp từ nhiều đời và phải trả bằng rất nhiều mạng sống của người đi tìm thuốc.

    Quy trình xác định một vị thuốc, một bài thuốc được thực hiện rất nghiêm cẩn theo những chuẩn tắc “truyền kỳ”; chẳng hạn: các vị thuốc được đưa vào cơ thể người phải có thuộc tính là thức ăn. Tuyệt đối cấm đưa vị thuốc độc vào cơ thể người bệnh. Vị thuốc gốc, dù là nọc của Bò cạp, rắn Hổ mang, nhựa Cóc phải được chế biến hết độc mới được đưa vào cơ thể người. Vị thuốc lạ mới phát hiện phải qua kiểm định cho các loài vật nuôi ở trong nhà gồm có: cá, chim, khỉ, chó, mèo, trâu, bò. Tất cả các con vật này ăn vị thuốc đó sau một ngày đêm mà vẫn an toàn thì mới được dùng để chế tạo thuốc.

    Phần lớn dược liệu được Việt y cổ truyền lựa chọn để chế tạo thuốc đều xuất phát từ thức ăn. Có thể nói khái quát rằng: các món ăn quen thuộc có mặt thường xuyên trong các bữa ăn hàng ngày của người Việt đều là dược liệu để chế tạo thuốc. Món ăn chủ lực của người Việt bình dân là gạo thì gạo cũng là một vị thuốc tham gia các bài thuốc chữa được rất nhiều bệnh về máu, bệnh tiêu hóa và cả bệnh thần kinh nữa. Hầu hết các loại rau, củ, quả mọc trên nước Việt mà ăn được đều là những vị thuốc đặc hiệu. Rất nhiều các loài hoa được Việt y cổ truyền coi là vị thuốc thần diệu. Những con vật mà người Việt đã thuần dưỡng từ động vật hoang dã để làm thức ăn cũng được nhiều thế hệ Lang thuốc tuyển chọn làm dược liệu để chế biến thuốc.

    Ngoài thức ăn của con người được Việt y cổ truyền tuyển lựa để chế tạo thuốc chữa bệnh thì phải kể đến một số lượng lớn các loại thuốc đặc hiệu còn được tuyển lựa từ những cây cỏ, dong rêu mà các loài vật thường ăn cũng được phát hiện là những vật liệu để chế biến thành thuốc chữa bệnh nan y mà Tây dược, trung dược không biết đến. Vô số các loại côn trùng có mặt trong dược điển của Việt y cổ truyền. Nguồn dược liệu để chế biến thành thuốc chữa bệnh gần như là vô tận trong kho tàng Việt dược ở nước ta.

    Những vật liệu trước khi trở thành Thuốc chữa bệnh đều phải trải qua một quá trình thử nghiệm nghiêm ngặt. Bước thử thuốc đầu tiên diễn ra ở súc vật. Tổ tiên người Việt cho rằng những gì con vật ăn mà không chết là không có độc tố và vật liệu đó được sơ tuyển để chế tạo thuốc. Từ rất sớm ông bà ta đã nhận ra việc tiếp thụ thuốc ở cơ thể người khác rất xa với cơ thể súc vật. Khỉ có cấu trúc sinh học dạng hình giống người, nhưng cấu trúc gen của chuột lại gần với cấu trúc gen của người hơn. Nếu vị thuốc nào đó được cả hai loài vật này hấp thụ thì có cơ sở để sử dụng. Song, đó chưa phải là một bảo đảm rằng người sẽ tiếp thu vị thuốc đó. Chính vì thế mà trước khi cho người uống loại thuốc mới (mới đối với cơ thể người bệnh) phải qua khâu kiểm định trực tiếp ở người sẽ uống vị thuốc này. Cách thường làm là: Đổ dung dịch thuốc vào một ly thuỷ tinh, thầy Lang uống trước mặt bệnh nhân một ngụm thuốc để bệnh nhân tin thuốc không làm chết người. Sau đó cho người bệnh chải răng xúc miệng băng nước muối; kế đến cho người bệnh uống 100ml nước chanh muối nóng ở nhiệt độ 450C; sau 5 phút, cho người bệnh ngậm 10ml thuốc cần uống và làm động tác xúc miệng rồi nhổ ra một cốc thuỷ tinh trắng ghi số 1; tiếp đó người bệnh ngậm miệng, dùng lưỡi đảo vòng tròn trong miệng cho nước bọt tiết thật nhiều và làm động tác xúc miệng rồi nhổ nước bột ra cốc thuỷ tinh đánh số 2. Đợi cho các bong nước vỡ hết, dùng kính lúp có độ phóng to 10 lần quan sát dung dịch ở cả hai cốc thấy các hiện tượng sau đây:

    1. Màu của dung dịch cốc số 1 giống y mầu thuốc và màu của dung dịch thuốc và màu ở cốc số 2 trong veo. Như vậy là thuốc không có khả năng thấm qua thành ruột để vào máu mà chỉ có tác dụng ở ống tiêu hoá.

    2. Màu của dung dịch cốc số 1 khác màu thuốc đối chứng, lưng chừng cốc lửng lơ các chấm li ti, nhưng không chuyển động; màu của dung dịch cốc thứ 2 có chuyển màu nhưng nước còn trong. Thuốc được hấp thụ vào dòng máu lưu thông nhưng không có khả năng xâm nhập vào nội bào. Thuốc có tác dụng chữa bệnh ở máu và không tham gia chuyển hoá trong tế bào.

    3. Mầu dung dịch cốc số 1 khác hẳn mầu của thuốc đối chứng, trong cốc xuất hiện nhiều hạt li ti, có tốc độ di chuyển nhanh và lan toả đều trong cốc; Màu dung dịch của cốc số 2 đục màu sữa. Thuốc được hấp thụ rất mạnh và loan toả được trong toàn cơ thể.

    Kinh nghiệm kiểm định sự hấp thụ thuốc được dùng từ nhiều đời, liên hệ với kiến thức “Hóa - Sinh - Y học” hiện đại thấy rằng cơ sở khoa học của kinh nghiệm này là: Trong dịch nước bọt, ngoài các men tiêu hoá còn có nhiều chất sát trùng có bản chất Protein enzym của Hệ thống Bổ Thể; trong đó có chất Bacteriolysine. Người ta đã thấy enzym này diệt vi khuẩn rất hiệu quả. Hệ thống enzym này được các tế bào của tuyến nước bọt tiết ra khi khoang miệng có vật lạ. Các chấm nhỏ li ti thấy trong cốc số 1 chính là hình ảnh các enzym này tiếp cận với thuốc, sự chuyển động huyên náo của chúng chứng tỏ thuốc có khả năng tham gia chuyển hoá các chất trong cơ thể.

    Trước khi kết thúc mục lựa chọn vật liệu để chế tạo thuốc, chúng ta tham khảo định nghĩa về thuốc Độc. Loài người đối diện với chứng ngộ độc vì thuốc độc ngay từ buổi bình minh của lịch sử chưa thành văn. Bằng kinh nghiệm thực tế của từng cộng đồng Người đã tìm ra thuốc giải độc hữu hiệu. Nhưng bản chất thuốc độc là gì; và vì sao thuốc độc lại có thể giết chết người thì chưa giải thích được. Phải đợi đến đầu thế kỷ 20 vào năm 1927, khi tổng kết quá trình nghiên cứu về sự hô hấp mô (còn gọi là hô hấp tế bào), nhà bác học Vacbua đã đưa ra nhận định: tất cả các tế bào động vật đều có chất xúc tác chứa sắt đặc biệt kém bền với nhiệt, làm hoạt hóa o xy khí trời hít vào. Chất xúc tác này sau đó được gọi tên là men hô hấp Xytocromoxydaza, chúng là những Protit phức tạp thuộc vào loại sắc tố gọi là Cromoprotit. Trong thành phần nhóm ngoại của chúng đều có chứa nhóm có sắt. Vacbua bắt đầu công trình nghiên cứu của mình bằng cách nghiên cứu vai trò của các hợp chất sắt trong o xy hóa có xúc tác các chất hữu cơ khác nhau và nhận thấy: những chất phong bế được sắt trong các mô, đều dẫn tới ức chế hô hấp mô. Những chất đó đều gọi là thuốc độc đối với cơ thể sống. Ví dụ, như: Xyanua; Sunfua Hydro; Cacbon oxyt; v.v…

    3. Chế tác Thuốc

    Y học dân gian coi việc chế tác thuốc mới chính là khâu thể hiện toàn bộ trí tuệ của thầy Lang. Nói hay, đoán bệnh mạch lạc, nhưng lời nói nghe bùi tai đó phải thể hiện qua “Thuốc có Hay không?”. Do đó khâu chế tạo thuốc mới là hoạt động chính của thầy Lang Dân gian nước Việt. Những gì nếu được gọi là bí quyết của y học dân gian đều ở khâu chế tạo thuốc. Khâu chế tạo thuốc có hai yêu cầu phải đạt được: (1) khai thác triệt để tính dược của thuốc; (2) Thuốc đi vào cơ thể qua đường thực quản, đường khí quản, qua da, qua các huyệt đạo… đều phải đến đúng ổ bệnh. Ví dụ: thuốc chữa bệnh máu thì chỉ vào dòng máu lưu thông không vào trong nội bào; thuốc chữa gan thì chỉ đến Gan, Mật, v.v... không vào các cơ quan khác.

    - Về khai thác triệt để tính dược của thuốc: Người Việt cổ cho rằng một cây thuốc, một con thuốc, một loại đất đá nào đó đã được tiền nhân tìm ra là chữa được được bệnh thì toàn bộ vị thuốc đó có rất nhiều “tư chất” của Trời và Đất hợp lại, chứ không thể chỉ có một chất mà chữa được bệnh. Cho rằng: Bệnh tật là sự trừng phạt của Trời Đất đối những hành vi của Con Người đã xúc phạm đến trật tự của Trời Đất. Nhưng Trời Đất tồn tại là vì con người, nếu không có con người thì Trời và Đất cũng không còn nữa. Do đó, Trời Đất cũng sinh ra các vị thuốc để chữa các chứng bệnh đó. Nhưng làm sao để cho con người phát hiện các vị thuốc đó? Cái Đói! Chính nhờ có “Cái Đói” mà loài người khám phá ra các vị thuốc. Trong rừng sâu, không có cái ăn lại bị sốt rét rừng hành hạ; vừa đói lại vừa khát đã làm mờ cả mắt khiến người ta không sợ bẩn nữa đã nhặt con dun đất đang bò gần đấy để ăn. Và kỳ lạ thay, chỉ ăn mấy con dun mà cắt cơn sốt, lại không đói nữa. Người ta nói cho nhau biết sự lạ này; qua nhiều lần kiểm chứng, con dun đất trở thành “một con thuốc” kỳ diệu. Luận điểm: “Trời sinh Voi; Trời sinh cỏ” ra đời từ sự quan sát thực tế này.

    Bằng nhứng kinh nghiệm thực tế như thế đúc rút qua nhiều đời truyền lại cho nhau, nên khi tầm soát cơ thể con bệnh, thấy có biểu hiện bệnh gì là đã nhớ ngay đến vị thuốc chữa khỏi. Những thầy Lang có chữ đã dõng dạc phát ngôn: ”Nhân hạt gấc, bôi ung nhọt trên vú, tan/ Cuống dưa đá đồ mụn thịt trong mũi, tróc” (Tuệ Tĩnh: Sdd, tr. 396).

    Tuy nhiên, muốn biến hạt gấc, cuống dưa đá thành vị thuốc đặc hiệu thì phải có trí tuệ của Lang thuốc chế tạo nó và quy trình chế tạo các vị thuốc đó lại rất khác nhau ở các thầy Lang. Cũng từ hạt gấc người ta có thể chế tạo thành thuốc đặc trị chữa được ung thư vú không phải cắt bỏ vú như Tây y đang làm, nhưng cũng với hạt gấc đó có người chỉ mang ngâm rượu thì sản phẩm rượu hạt gấc đó bôi vào kẽ móng tay bị xưng (chín mé) cũng không khỏi. Bí ẩn này nằm ở khâu khai thác tiềm năng hoạt chất của vị thuốc gốc và các chất xúc tác tham gia vào các hoạt chất chính của vị thuốc gốc. Y học dân gian có lý luận hẳn hoi về vấn đề này.

    Người Việt cổ cho rằng: một cây, một con và cả những hòn đất, hòn đá, kim loại được phát hiện chữa được bệnh đều là những vật “Thiên di, Địa định”, nên nó không chỉ có một chất và chỉ chữa được một loại bệnh mà những chất bao quanh nó, nơi nó được sinh ra đều có tính "Thiên di, Địa định”; nếu bỏ qua các chất tham gia làm nên cây thuốc, con thuốc này thì đã bớt đi ý Trời và sự cưu mang của Đất, vị thuốc đó hết thiêng mà phải khai thác tổng thể, tận dụng hết tính dược có trong các vị đó thì mới có thể hoà hợp được với sự sống của cơ thể. Thực tiễn làm thuốc đã khiến cho gia tộc tôi thấm thía lời dạy bảo này của tiền nhân. Gạt bỏ màu sắc thần bí bề ngoài dễ nhận ra rằng, môi trường tạo nên vị thuốc, đặc biệt là những sản phẩm chuyển hoá của vị thuốc đó khi nó tồn tại trong môi trường cũng chứa các yếu tố dược tính. Lấy ví dụ chế biến con Dun Đất được mệnh danh là “Rồng Đất” thành một vị thuốc chủ công tham gia chữa trị các loại bệnh nan y.

    Trong thập niên đầu thế kỷ 20, các nhà khoa học Nhật Bản đã chứng minh bằng thực chứng trong Con dun đất có nhiều phức chất mang tính dược học: giảm sốt, trung hoà histamin, hạ huyết áp và ức chế sự co bóp của ruột non. Y học dân gian nước Việt đã sử dụng dun đất chữa bệnh rất lâu đời, đặc biệt là chữa sốt trong các bệnh nan y ung biếu và nhiễm tà trùng. Trong các bài thuốc cổ truyền “giải chài, giải ếm”, dun đất được huy động tới 3 loài để chữa sốt. Điều đặc biệt là y học đân gian chỉ dùng dun đất còn sống để chữa các triệu chứng sốt đặc biệt chứ không phải sốt thông thường. Sốt đặc biệt là: nhiệt thân của người bệnh chỉ giao động ở mức 37,20C đến 38,50C và kèm theo ra mồ hôi về đêm gọi là “mồ hôi trộm”. Căn cứ vào kinh nghiệm cổ truyền, đối chiếu với kiến thức Hóa - Sinh - Y học hiện đại, tôi gọi cái sốt này là cái “sốt thoái biến sinh học”, để phân biệt với biểu hiện sốt thông thường là “sốt sinh lý do phản ứng viêm”.

    Dun đất dùng chế biến thành Thuốc phải chọn giống và chăn nuôi đặc biệt. Thức ăn dùng nuôi dun thực chất cũng là những tiền chất cung cấp cho dun chuyển hoá để tạo ra trong cơ thể dun những phức chất đặc biệt mà dun hoang dã không có. Thức ăn nuôi dun là hỗn hợp mùn hữu cơ bao gồm: rễ cây xấu hổ, rễ cây hoa nhài, thân và rễ cây đậu đen. Ba loại rễ này được băm nhỏ, trộn với các chất trong dạ cỏ của con nai (Gia bảo ghi lại: con dun đất được người Việt cổ đầu tiên phát hiện chữa được sốt rét tìm thấy trong đống phân con Nai đã ải mục) có cho một chút nước tiểu trẻ con, và rỉ mật, trộn đều và ủ yếm khí 14 ngày đêm. Sản phẩm thu được là một loại mùn có chứa hỗn hợp các enzym của quần xã vi sinh vật trong dạ cỏ nai tiết ra trong tăng sinh và các nguyên tố vi lượng của các loại rễ cây. Đây là thức ăn chăn nuôi con thuốc “Địa Thần”. Dun được đưa vào chăn nuôi chỉ mới là trứng dun, loại bỏ các dun con. Nuôi trong 36 ngày cho thế hệ dun đầu tiên trưởng thành. Bắt những con dun có chiều dài từ 10 cm trở lên để chế thuốc.

    Trước khi mổ dun để chế thuốc phải chuẩn bị các hợp chất bao gồm; Đậu đen, rau ngót tươi ninh nhừ thành keo rồi làm khô đạt đô ẩm còn 14%. Lấy một bẹ chuối hột làm thớt mổ dun: Lấy 2 tăm tre nhọn, căng dun ra dùng cật tre xẻ dọc thân dun, rồi bỏ dun đã mổ vào bột đậu đen rau ngót. Khi dun đã được thấm hết máu, lấy thịt dun ra sấy khô ở nhiệt độ không quá 560C, sấy cho khô kiệt rồi lại phải qua khâu nướng dòn. Cách nướng dòn dun đất: Lấy phân của dun đất (phần đất đùn ở các lỗ dun) sao khô, khi đã đạt độ nóng khoản 800C cho dun vào nướng, khấy đều để phân dun luôn phủ kín dun. Khi thịt dun đã dòn, lấy ra, sàng hết phân dun. Thịt dun khô dòn nghiềm thật mịn, trộn lẫn vào bột đậu rồi dùng nước “cõi âm” làm tăng độ ẩm lại. Phân dun đang có độ nóng khoảng 1000C, lấy dấm ăn đổ vào không cho trào bọt, đun sôi trong 15 phút, tắt nguồn nhiệt để nước tự nguội. Sau đó chắt lấy phần nước trong để chế tạo nước ngâm mình cho người bệnh mỗi 7 ngày/lần.

    Nước “cõi âm” là hơi nước trong lòng đất bốc lên từ lúc mặt trời lặn đến đúng lúc mặt trời mọc tại địa điểm lấy nước. Cách lấy “nước cõi âm”, áp dụng kinh nghiệm tìm nguồn nước ngầm để đào giếng của Dân gian: Trên địa hình tự nhiên, nơi nào có vị trí trũng nhất, đào sâu xuống khoảng 40cm, bề mặt là một hình tròn có đường kính 50cm, bỏ vào đó 3 con dun đất đã trưởng thành, 3 con dế dũi, rồi úp chậu lên; sau 12 tiếng đồng hồ, mở ra thấy có nước đọng trên thành chậu: đó là nước “cõi âm”, 3 con dun và 3 co dế còn sống nghĩa là nước không có độc tố. Nước “cõi âm” không phải là nước tinh khiết mà là nước đã nhiễm các nguyên tố vi lượng ở rất nhiều tầng địa chất bốc lên. Các nguyên tố vi lượng này dùng được vì dun và dế đều còn sống.

    Hàng ngày nhiều nguyên tố vi lượng ở các tầng địa chất bốc lên, nhất là các nguyên tố vi lượng quý hiếm có hàm lượng kim loại ở ngưỡng Coenzym đã bị lãng phí không được sử dụng. Cách lấy nguyên tố vi lượng của y học đân gian quả là độc đáo.

    Khi đã xác định được mỏ nước cõi âm rồi, tiến hành lấy nước trộn thuốc. Dùng giấy bản (giấy thấm nước), giải kín lòng hố, dải đều thuốc đã chế, phải nắm chắc ngày đó có nắng to, khi có ánh nắng mặt trời thì úp chậu, sau 24 giờ mở chậu lấy thuốc mang vào nơi râm mát, hong gió cho thuốc khô; nếu độ ẩm không khí cao thì phải sấy ở nhiệt độ không quá 560C. Khi thuốc đạt độ khô 14% thuỷ phần thì đóng gói, để sử dụng dần.

    Còn tiếp ...

    Nguồn: vietycotruyen.com


  15. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 8

    1/18/2012 5:44:25 PM

    Con người đang tồn tại trên (trong) lớp vỏ trái đất. Lớp vỏ trái đất có 92 nguyên tố hóa học, hiện mới thấy 60 nguyên tố có các nguyên tử cấu thành phân tử sống, nhưng không phải tất cả 60 nguyên tố này đều có trong cơ thể người. Theo công bố của các nhà Sinh học hiện đại, người ta mới chỉ tìm thấy có hơn 30 nguyên tố cấu tạo nên cơ thể con người. Con người mang trong mình nó không đủ chủng loại vật chất đã có của vỏ trái đất thì mần răng là “Tiểu thiên địa“ được?!

    Con người chỉ là sản phẩm của vũ trụ, nhưng đó là sản phẩm đặc biệt, bởi lẽ trong con người tích chứa tố chất chinh phục vũ tru. Tố chất kỳ diệu chinh phục cả vũ trụ tiềm ẩn trong cơ thể con người đó là gì? Đó là trí khôn bậc cao, gọi cho đúng nghĩa đó là sự thông minh. Bởi vì, có rất nhiều loài vật cũng có trí khôn, nhưng chúng không có sự thông minh. Thông minh là sản phẩm của tư duy chỉ loài người mới có; loài vật tinh khôn nhất như tinh tinh chẳng hạn cũng không biết tư duy. Một con chó rất tinh khôn, nhưng do không biết tư duy, nên nó đã trung thành tuyệt đối với ông chủ của nó, mặc dù ông chủ của con chó tinh khôn đó là một thằng đểu.

    Sự sống của con người trên lớp vỏ trái đất không bao giờ đồng nhất với ngoại cảnh, như lý luận của Trung y cổ truyền. Sự sống là một quá trình thích nghi của cơ thể sống với ngoại cảnh. Kể cả khi con người ngồi trong con tàu thoát khỏi lực hút của trái đất để bay đến các địa chỉ khác nhau trong vũ trụ bao la đều luôn phải tuân theo quy luật thích nghi. Thích nghi là điều kiện bắt buộc để cơ thể sống của sinh vật tồn tại. Một sinh vật không còn khả năng thích nghi, sinh vật đó đã chết. Các sinh vật chỉ biết thích nghi bị động; riêng có con người ngoài bản năng sinh vật thích nghi bị động, nhờ biết tư duy nên còn biết thích nghi chủ động nữa. Con người sở dĩ được tôn vinh là chúa tể của muôn loài chính vì chỉ có con người mới biết thích nghi chủ động. Chỉ có con người mới nhận biết được rằng: “Vấn đề không chỉ là nhận thức thế giới mà là cải tạo thế giới“.

    Lí luận Trung y cổ tự tin vì có nền triết học uyên thâm của Trung Hoa cổ hướng dẫn cho rằng đã “đọc” được Vũ Trụ rồi, thì “đọc” con người quá dễ. Chính vì lẽ đó nên toàn bộ những quan niệm về Vũ Trụ như thế nào, Trung y cổ mang chụp vào con người y như thế. Tiếc thay, Vũ Trụ theo quan niệm của người Trung Hoa cổ chỉ bao gồm những khái niệm trừu tượng mơ hồ, còn con người lại là một cơ thể sống hiện thực, được cấu tạo bằng vật chất cụ thể. Lấy cái trừu tượng để áp đặt vào cái cụ thể là phương pháp hành sử sai lầm. Ứng dụng triết học vào các ngành khoa học cụ thể luôn là một quyết định tiêu dùng rất khó khăn, bởi lẽ Triết học không phải là “món ăn liền”.

    Trong tự nhiên, Con Người là một thực thể bí ẩn nhất, “khó đọc” nhất; bởi vì những điều Con Người nhận biết về Con Người được coi là hiện thực lại được cấu thành bởi những chuỗi hiện tượng bất định không rõ nguồn gốc “Từ đâu ra?”, buộc phải gọi tên là ”siêu thực”! (khái niệm siêu thực ở đây xin được hiều là cao hơn cả hiện thực chứ không phải là phi hiện thực). Khi đối diện với những hiện tượng siêu thực đó, chính con người phải tự thốt lên sự thán phục: “Chúa ơi! Không thể tin được!”.

    Lấy một ví dụ: ”Ủy ban Giải thưởng Nobel đã quyết định trao giải Nobel về Hóa học 2006 cho GS Roger Kornbrg, Trường Đại học Y Stanford (Mỹ) do công trình nghiên cứu về nền tảng phân tử của sự phiên mã di truyền. Sự phiên mã thông tin di truyền – nằm trên thể nhiễm sắc – đến các phần của tế bào là một trong các giai đoạn chính của sự sống. Chỉ cần cơ chế này dừng lại, như trường hợp tác động của độc tố sản xuất bởi một số nấm độc, toàn bộ hệ thống tế bào sẽ bị ngưng. Cơ thể mất khả năng đổi mới protein, nên suy sụp và chết trong vài ngày.

    GS Kornbegerg là người đầu tiên đã tạo được một ảnh thực sự, rất chính xác trình bày sự phiên mã di truyền đang lúc xảy ra ở các cơ thể có nhân (Eucaryotes).Trên ảnh này, thực hiện qua tia X, người ta thấy rõ tất cả các phân tử liên quan đến sự phiên mã di truyền như DNA xoắn kép mang thông tin di truyền, mạch RNAm (mạch RNA thông tin) vận chuển thông tin đến các “nhà máy sản xuất protein” của tế bào và cuối cùng RNA polymeraz, một enzym rất lớn có dạng một cuốn chỉ rối bời, có vai trò trung gian, đảm bảo sự phiên mã. RNA là trung gian giữa DNA và RNA”. (Trích nguyên văn Thông Báo của Tiến sĩ Phạm Văn Tất, đăng trên Tạp chí THUỐC & SỨC KHỎE, số 319, tháng 11/ 2006, tr.32).

    Đọc “Bức ảnh” thấy những gì đang diễn ra trong tế bào động vật cao cấp, ngưòi ta rất thán phục sự uyên bác của Tây Y trước những câu hỏi: Chuyển hóa vật chất diễn ra trong cơ thể động vật “Như thế nào?”. Nhưng Tây Y vẫn không giải thích được “Tại sao chuyển hóa vật chất trong cơ thể lại diễn ra theo một “Kịch bản” như thế ?“. Câu trả lời chắc chắn có được của giới Thần học là: “GIỜI sinh ra thế“. Ngày nay, số người thực lòng tin vào cách giải thích của Thần học cổ điển như thế còn rất ít, mặc dù đang có tới 80% cư dân ở các quốc gia đang sinh hoạt trong rất nhiều Tôn Giáo khác nhau. Tôn giáo hiện đại khác xưa nhiều lắm. Nếu được chiếu dưới góc nhìn Y tế thì Tôn giáo hiện đại đang là một hiện tượng rất lí thú về chất lượng tư duy trừu tượng của con người ở vào thời kì con người đã chiến thắng được sức hút của Trái Đất. Y học Dân Gian nước Việt rất quý trọng Tôn Giáo; bởi lẽ, Tôn Giáo hiện đại không chỉ chứa trong mình nó niềm tin Thần Thánh cổ xưa mà còn là những giải pháp có hiệu quả để bồi dưỡng tính Người, chỉ vẽ cho con người lối đi về hướng thiện. Phải chăng các hành vi khi ta đi lễ ở Nhà Thờ, đi lễ Chùa; khi đọc kinh xám hối, xưng tội là liệu pháp xoa dịu thần kinh, cân bằng tâm thế, để chữa trị các chứng bệnh mà Tây Y gọi là Stress?

    Lang Thuốc tôi cho rằng Tôn Giáo là một phát minh Y học vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng của Loài người. Nếu không có Tôn Giáo thì toàn Nhân Loại đã bị điên từ rất lâu rồi. Hiểu Tôn Giáo “thoáng“ như thế dễ nhận ra Thần Học là một khoa học diễn đạt Tôn Giáo, sẽ thấy cần kính trọng lĩnh vực trí tuệ này. Thần học đang có vị thế xã hội rất cao còn có một lí do quan trọng nữa đó là cách giải thích Thế Giới Tự Nhiên của các nhà khoa học cũng chưa có sức thuyết phục cao. Người ta có thể nói rằng kịch bản đang diễn ra trong ảnh chụp phiên mã di truyền là tuân theo quy luật sinh học. Nhưng, nói cho đầy đủ quy luật sinh học là những gì thì chưa ai dám khẳng định, bởi lẽ “phát hiện quy luật là vô cùng khó, đòi hỏi phải tiếp cận được với sáng tạo của Vũ Trụ vốn đã có trong lịch sử, trong khi sáng tạo Vũ Trụ không theo quy luật tuyến tính mà là quy luật bất toàn…” (TS. Vũ Gia Hiên: “Tìm hiểu quá trình tiến hóa vũ trụ và sinh giới, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2004).

    Một nền Y học hiệu quả (chữa khỏi bệnh) tự nó toát ra ý nghĩa triết học. Từ cơ sở Y - Triết đó được vận dụng làm cho Y học tiến bộ, đó mới đích thực là biện chứng của tự nhiên. Mang một luận thuyết triết học có sẵn phủ lên thực tiễn y học, tất yếu sẽ dẫn tới chủ quan duy ý chí. Luận trị bệnh theo cách đó, Dân Gian nước Việt gọi là nói dựa.

    Triết học Trung Hoa cổ thuộc dòng duy tâm chủ quan. Do dựa vào nền tảng triết học đó nên y lí của Trung y đưa ra những định đề võ đoán về tiến trình chuyển hóa vật chất trong cơ thể người qua các thuyết ÂM – DƯƠNG (Lưỡng nghi), NGŨ HÀNH (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Học thuyết Âm Dương ngũ hành được vận dụng làm nền tảng tư duy của Trung Y cổ, bao trùm từ lí luận đến thực hành, trong chuẩn đoán bệnh và chữa bệnh. Việc chế thuốc và dùng thuốc của Trung Y cũng theo Học thuyết Âm Dương. Tuy nhiên, Âm Dương ngũ hành trong lý luận Trung y tuy được nói tới lại hình thành trên nền móng của thứ “Triết học” đã bị dung tục hóa như một cơ chế vận hành máy móc mang đậm tính giáo điều duy tâm định mệnh. Bởi vì, lí luận chữa bệnh và chế thuốc của Trung y cổ truyền thực chất là sự minh họa cho học thuyết về tướng số; Chiêm tinh, phong thủy… Bắt đầu từ “Bát tự dự trắc” của Lý Hư Trung, đời Đường, đến Từ Tử Bình đời Tống. Hàm lượng trí tuệ triết học trong lý luận Trung y lấy trực tiếp từ phiên bản triết học của thuật bói toán của môn phái Dự trắc “Tứ đại Thiên vương”, bao gồm: “Tướng pháp”, “Chiêm tinh phong thủy học“, “Bát tự pháp”. Môn phái này Luận về Ngũ hành âm dương đối với cơ thể và dự trắc bệnh tật như sau:

    "Trời có bốn mùa năm hành để sinh trưởng thu tàng, để sinh ra hàn thử táo thấp phong. Người có năm tạng hóa, năm khí để sinh ra vui mừng dận hờn, lo nghĩ buồn rầu, sợ hãi. Nói về hiện tượng tự nhiên thì lấy thời lệnh thay đổi làm khởi điểm, căn cứ các đặc điểm của thời lệnh phối hợp với ngũ hành như mùa xuân thuộc mộc, mùa hè thuộc hỏa, trưởng hạ thuộc thổ, mùa thu thuộc kim và mùa đông thuộc thủy. Do sự biến đổi của thời tiết mà sinh ra biến hóa về phong thử, thấp, táo, hàn và quá trình phát triển sinh, trưởng, hóa, thu, tàng của vạn vật. Vì thế chẳng những ngũ hành phối hợp với bốn mùa lại còn liên hệ đến năm khí, quá trình phát triển của sinh vật về phương diện khác có liên quan đến màu sắc hương vị…”

    Học thuyết Âm Dương trong triết học Trung Hoa cổ uyên thâm, hàm xúc là thế, nhưng khi ứng dụng vào lý luận Trung y được gọi với tên là Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã bị tước hết ánh hào quang thông thái của nó. Lý luận Trung y đã diễn đạt như sau:

    1. Những hiện tượng, như: sự tích tụ, trạng thái yên lặng, những gì thuộc về bên trong, tất cả những gì thuộc về phía dưới, đều thuộc về ÂM

    2. Những hiện tượng: phân tán, hoạt động, những gì thuộc về bề ngoài, tất cả những gì thuộc về phía trên đều thuộc Dương.

    Từ quy định đó, thuyết Âm Dương trong y học bệ nguyên xi cách diễn đạt khái quát trừu tượng của triết học để ứng dụng thực tế: Trời thuộc Dương, Đất thuộc Âm, nước thuộc Âm, lửa thuộc Dương, nghỉ ngơi thuộc Âm, hoạt động thuộc Dương, vị đắng thuộc Âm, vị cay thuộc Dương, nữ giới thuộc Âm, nam giới thuộc Dương, v.v…

    Để vận dụng Âm - Dương vào Trung y cổ truyền phải thuộc cái gọi là “Quy luật Âm – Dương” biểu hiện ở 4 trạng thái sau đây:

    1. Âm - Dương đối lập, mô tả mâu thuẫn chế ước lẫn nhau: Ngày và Đêm; Nóng và Lạnh; Sống và Chết; Khỏe và Yếu; Ấm và Mát. Sở dĩ phải viết hoa các trạng từ vì các trạng từ đó ở trong học thuyết này đã được nhân cách hóa như một danh phận.

    2. Âm – Dương hỗ căn, cho rằng do cùng một cội nguồn, nên Âm Dương nương tựa giúp đỡ nhau, “Âm có trong Dương, Dương có trong Âm”. Do đó Âm thì phải thăng, Dương thì phải giáng.

    3. Âm – Dương tiêu trưởng, nghĩa là khi Âm tiêu thì Dương trưởng và ngược lại: “Cực Âm tất Dương, cực Dương tất Âm”.

    4. Âm – Dương bình hành, nghĩa là Âm và Dương cân bằng nhau, cùng tồn tại: “Âm - Dương bình hành trong sự tiêu trưởng; tiêu trưởng trong thế bình hành. Nếu sự cân bằng Âm - Dương bị phá vỡ thì sự vật sẽ tiêu vong”.

    Đối diện với câu hỏi: Tại sao, lại quy Nữ giới vào cực Âm, còn Nam giới là cực Dương? Trung y không trả lời được. Những người có thân xác là đàn ông nhưng tâm hồn họ, cung cách biểu hiện tâm tư tình cảm của họ lại y hệt đàn bà; có người thân xác là đàn bà, nhưng cung cách biểu hiện tâm tư tình cảm lại mạnh mẽ như đàn ông (á Nam, á Nữ) thì xếp họ ở cực nào?

    Để bổ xung cho thuyết Âm - Dương còn mù mờ, Trung Y dùng luôn thuyết “Ngũ Hành” của dòng triết học tướng số để làm rõ thêm cái gọi là “tiêu trưởng” trong thuyết Âm - Dương Y học.

    Thuyết Ngũ Hành quy tất cả vật chất vào 5 nhóm: Mộc, Hỏa, Kim, Thủy; đồng thời cũng quy tất cả các bộ phận trong cơ thể người thành 5 nhóm đó là: Tạng, Phủ, Khiếu, Thể, Tính rồi lần lượt ghép vào “Ngũ Hành”. Để khoa trương khả năng “bao trùm Vũ Trụ”,Thuyết này còn quy cả Tự Nhiên thành 5 nhóm là: Mùa, Khí, Màu, Vị, Luật, Hướng rồi cũng ghép vào “Ngũ Hành”. Đó là “bộ khung” của Ngũ Hành. Còn nguyên lí hoạt động quy định như sau:

    1. Khi ở thế cân bằng thì quan hệ giữa các nhóm là Tương sinh tương khắc:

    Tương sinh là giúp đỡ, thúc đẩy phát triển theo hành tiến: Mộc sinh Hỏa; Hỏa sinh Thổ; Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc … cứ mãi thế mà luân hồi. Hành sinh gọi là Hành Mẹ, Hành được sinh gọi là Hành Con. Như vậy sẽ có: Mộc là mẹ của Hỏa, Hỏa là con của Mộc; Hỏa lại sinh Thổ, nên Hỏa là mẹ Thổ, Thổ là con của Hỏa; Thổ lại sinh Kim…, Kim là con của Thổ; Kim lại sinh Thủy…, Thủy là con của Kim. Nếu dừng ở một chu kì thì có vẻ là có lí. Song, sự chuyển hóa của vạn vật là “Thiên (nghìn) biến, vạn hóa. Nếu tiếp chu ky nối theo thì lòi ra cái vô nghĩa: Thủy lại sinh Mộc, Mộc lại sinh Hỏa … Cứ thế luân hồi Mẹ - Con; Con - Mẹ tùm lum, đưa tới nghịch lí là các chất luôn ở trong trạng thái vừa là Mẹ vừa là Con của chính mình. Người Việt Cổ đã “bình”rất hóm về cái thuyết ngũ hành này là: “sinh Con rồi mới sinh Cha, sinh Cháu giữa nhà rồi mới sinh Ông”.

    Cái lôgic của Tương khắc còn đáng ngạc nhiên hơn nữa: Mộc khắc Thổ; Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc. “Khắc” được lí giải là kiềm chế. Khi nói “Sinh” là nói đến sự phát triển; mà bản chất của phát triển là sự kế thừa trong tuần tiến đến ngưỡng sâu sắc hơn, vững bền hơn cái trước nó, rồi “nhảy vọt” tạo nên chất mới và lượng mới. Cơ học lượng tử hiện đại gọi là nguyên lý bất định. Khoa học vật lý vũ trụ gọi là quy luật bất toàn. Vậy khi Mộc sinh ra Hỏa để Hỏa sinh ra Thổ là biểu hiện của dòng chảy phát triển, tại sao Mộc lại khắc Thổ, lại kiềm chế chính kết quả phát triển của nó? Câu trả lời là kiềm chế để không phát triển quá mức. Vậy “mức” là gì, lấy gì để kiềm chế? Dùng Thuốc ư? Rất mù mờ vì không có đủ chứng lí cụ thể minh họa, mà chỉ thông qua phán truyền chủ quan của Thầy chữa.

    2. Khi ở thế mất cân bằng thì quan hệ giữa các nhóm là Tương thừa tương vũ: dùng để biện hộ cho cái gọi là “khắc” khi áp dụng vào thực tế không hiệu quả.

    Ví dụ:

    - Khi “khắc” quá mạnh, tức là kiềm chế quá mạnh tới mức làm cho tê liệt ngừng hoạt động thì được gọi tên là Ngũ hành tương thừa.

    - Khi hành “Khắc” quá yếu khiến “Hành bị khắc” chống lại gọi tên là “ngũ hành tương vũ”.

    Ngày nay, nếu đem đối chiếu với các thành tựu của các ngành khoa học Hóa - Lí - Sinh - Y học hiện đại thì thuyết Âm – Dương - Ngũ Hành của Trung y cổ đại, thực chất chỉ là sản phẩm của tư duy tư biện, hoang tưởng. Trung y hiện đại đã nhận ra cái ngây thơ của lý thuyết cổ truyền, nên trong các tài liệu dạy Trung y ở bậc cao đẳng hiện đại, người ta không viện dẫn Âm Dương Ngũ Hành mơ hồ như cũ nữa mà đang có xu hướng dùng kiến thức Sinh – Hóa - Y học của Tây y để giải nghĩa các kinh nghiệm chữa bệnh cổ truyền của Trung y. Đây là một hướng phát triển y học hiện đại rất đúng đắn. Nhờ hướng phát triển này mà Trung y hiện đại đã thu được những kết quả rất đáng kính nể. Những tài liệu giảng dạy Trung y cổ truyền đang có hiện nay trở thành những kiến thức Y - Dược học vô cùng độc đáo thu hút được sự chú ý của toàn thế giới. Kinh nghiệm chữa bệnh cổ truyền của cộng đồng các dân tộc Trung Hoa là một kho báu về trí tuệ y học của Nhân Loại, bởi lẽ Đế Quốc Trung Hoa tồn tại nhiều nghìn năm, trí tuệ tự có của người Trung Hoa cộng với trí tuệ của các dân tộc mà Đế Quốc thu lượm được phong phú.

    Còn tiếp ...

    Nguồn: vietycotruyen.com


  16. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 7

    1/9/2012 2:01:09 PM

    Cái vòng tròn Thái Cực chứa Âm và Dương đó cứ đứng sừng sững tồn tại bất chấp thời gian, bởi lẽ nó luôn được các học giả nhiều đời liên tiếp nuôi dưỡng bằng cách quan sát được một cái gì đó thấy có ở Trời, ở Đất, ở lòng người cũng các biến chuyển về thế thái nhân tình… đều nhồi nhét vào cái vòng Thái cực để luận bàn, tàng chữ và khai thác phục vụ cho lợi ích của họ cho dân tộc họ và định hướng cho cả thời đại của họ nữa. Ngoài hai nguyên tắc cơ bản trên mối quan hệ Âm Dương còn được liên tiếp bổ xung các nguyên lí sau đây:

    1. Nguyên lí, Thành rồi Hủy:

    Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm nghĩa là hiện tượng nào cũng chứa trong nó mầm mống tự hủy nó. Cho nên trong lúc đang thịnh đã xuất hiện mầm suy; trong thịnh trị đã có mầm sự loạn; trong sự sống đã ló mầm cái chết. Chính vì lẽ đó nên không thể có Dương mà không có Âm hoặc ngược lại; không thể có sống mà không có chết. Một sự vật nào cũng luôn có hai mặt phải và trái; xã hội nào cũng có thiện và ác…

    2. Nguyên lí, Âm Dương tương giao tương thành:

    Âm Dương tuy trái ngược nhau nhưng không tương khắc như nước với lửa mà là tương giao (gặp nhau), tương thôi (xô đẩy nhau), tương thế (thay thế nhau): “Mặt trời qua thì mặt trăng lại, mặt trăng qua thì mặt trời lại; mặt trời mặt trăng cảm ứng nhau mà ánh sáng phát ra; mùa lạnh qua thì mùa nóng lại, mùa nóng qua thì mùa lạnh lại, lạnh nóng cảm ứng nhau, xô đẩy nhau mà thành ra năm tháng. Cái đã qua co rút lại, cái sắp tới duỗi dài ra, co rút (khuất), duỗi dài (thân)hai cái đó cảm ứng nhau mà lợi ích mới nảy ra “(Nhật vãng tắc nguyệt lai, Nguyệt vãng tắc nhật lai, nhật nguyệt tương thôi nhi minh sinh yên, hàn vãng tắc thử lai, thử vãng tắc hàn lai, hàn thử tương thôi nhi thế thành yên; vãng giả khất dã, lai giả thân dã; khuất thân tương cảm nhi lợi sinh yên).

    Lí sự như thế để muốn nói rằng: Âm Dương chỉ tương giao tương thôi chứ không tương phản. Âm Dương lần lượt thay thế nhau theo nhịp điệu nào đó dài ngắn tùy theo hiện tượng và tùy thời nữa. Chữ Thời trong triết học Tầu lắm chuyện nhiêu khê, hấp dẫn không thua gì ma túy.

    Âm dương không chỉ tương giao, tương thôi mà còn tương thành nữa vì chúng bổ túc cho nhau, ban ngày thì hoạt động, ban đêm để tĩnh dưỡng. Âm Dương phải tương thành còn vì một lẽ quan trọng nữa: Nếu Âm Dương tiêu diệt lẫn nhau thì không còn Dương cũng chẳng còn Âm, rột cuộc không còn gì cả, vạn vật bị tiêu diệt hết thì vũ trụ cũng chẳng còn.

    3. Nguyên lí Âm Dương tương cầu, tương ứng:

    Âm Dương có tương cầu thì mới gặp nhau, giao nhau thì mới sinh ra vạn vật. Khi Âm Dương tương ứng thì Dương xướng Âm họa mới hợp tác được với nhau. Càn (Trời thuộc Dương) cương kiện. Khôn (Đất thuộc Âm) nhu thuận. Càn tạo ra vạn vật mới ở dạng khí, vô hình. Khôn hứng lấy nuôi dưỡng vạn vật mới hữu hình. Công linh của Khôn và Càn là như nhau.

    4. Nguyên lí Âm Dương đều động … rồi biến hóa:

    Âm Dương không động thì không thể giao nhau.”Đạo Càn, lúc tĩnh thì chuyên nhất, lúc động tiến thẳng, cho nên sức sinh ra của nó rất lớn. Đạo khôn lúc tĩnh thì thu lại, lúc động thì mở ra, cho nên sức sinh của nó rộng“ (Phù Can, Kỳ tĩnh dã chuyên, kì động dã trực, thị dĩ đại sinh yên. Phù Khôn Kỳ tĩnh dã hấp, kỳ động dã tịch, thị dĩ quảng sinh yên).

    Âm Dương giao nhau để làm gì? Để biến tức là để sinh sinh hóa hóa. Mọi sự biến hóa đều từ Trời Đất mà ra. Không còn Càn Khôn (Âm Dương) thì không có sự biến hóa. Âm Dương không gặp nhau, tác động vào nhau, thì “cô Dương” không thể sinh, “độc Âm“ không thể thành.

    5. Nguyên lí Trật tự trong biến hóa, trước hết phải tuân theo Luật Tôn Ty

    Luật đó là “Thiên tôn Địa ty” (Trời cao Đất thấp, Trời tôn mà Đất tiện) hợp lẽ tự nhiên. Lẽ tự nhiên thứ Hai là chừng mực: (Thiên Địa tiết nhi tứ thời thành). Trời Đất có chừng mực mới thành bốn mùa. Lẽ tự nhiên thứ Ba là hằng cửu, nghĩa là theo một luật nào đó thì phải theo hoài, không được đổi thay. Lẽ tự nhiên thứ Tư: sự biến hóa phải theo trình tự từ tiệm biến mới đến được đột biến, khi đó gọi là Hóa!

    6. Nguyên lý Mãn chiêu tổn, Khiêm thụ ích (Đầy thì sẽ vơi, thiếu thì sẽ được thêm):

    Người Trung Hoa cổ cho rằng Vũ Trụ diễn biến theo quy luật bất di bất dịch, vĩnh cửu; thuật ngữ triết học của họ gọi là “Thường”. Lão Tử nói “Tri thường viết minh, bất tri thường, vọng tác hung” có nghĩa là biết rõ quy luật Thường là sáng suốt; không biết quy luật Thường mà làm bừa thì gặp điều không lành. Với quan niệm “động tĩnh hữu thường” cho rằng: Thiên hạ rất động nhưng vì có quy luật Thường nên không thể loạn mãi đựoc. Quy luật Thường đó chính là quy luật chuyển hóa của Âm với Dương, chúng thay nhau, cái này tiến thì cái kia lùi. Việc Đời không cát thì hung, không hung thì cát. Dương cực thịnh thì suy dần để Âm thịnh lên và ngược lại. Khắp vũ trụ không nơi đâu không thời nào là không theo luật đó: “mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích” (Đầy thì sẽ vơi, thiếu thì sẽ được thêm). Hoặc như: “Họa hề phúc chi sở ý, phúc hề họa chi sở phục” (Họa là chỗ dựa của phúc, phúc là chỗ ẩn nấp của họa).

    7. Nguyên lý phản phục, tuần hoàn:

    Triết học Trung Hoa rất tin vào quy luật tuần hoàn, cho rằng dù có biến động thế nào chung quy vẫn chỉ ở trong một vòng tròn. Từ trước Khổng Tử đến Khổng Tử và sau Khổng Tử cho đến hôm nay vẫn rất tâm đắc với cái gọi là Luật phản phục – quay về cái ban đầu. Cái ban đầu đó là Âm và Dương. Âm Dương luôn động, động sinh biến, biến tới cùng thì quay trở lại để cho thông, có thông thì mới vĩnh cửu, tồn tại mãi (Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu). Xã hội Trung Hoa chìm đắm trong trì trệ là do tư tưởng này chi phối chăng? Tinh thần bảo thủ, hiếu cổ đó đã khiến Đạo Nho mơ ước quay trở về thời Nghiêu, Thuấn. Lão Tử còn muốn quay lại xa hơn đó là thời nguyên thủy. Người Trung Hoa luôn cho rằng thời hoàng kim đáng tự hào nhất là ở quá khứ xa xôi: Nghiêu, Thuấn, ai đó hành sử thật đúng cái ngày xưa hư ảo đó mới đích thực là Vương Đạo, chí ít thì cũng được tôn vinh là người Quân tử.

    8. Nguyên lý Định mệnh

    Cho rằng đã có sự an bài, một định mệnh, dù sự việc có biến chuyển ra sao, xấu hay tốt đều đã định rồi. Nhân định không bằng Thiên định. Nhân định không thể thắng Thiên định, bậc thức giả biết trước được ý Trời thì chỉ có thể né tránh làm cho xu cát tị hung” bớt xấu đi mà thôi!

    Đến đây có thể nói đã kiểm kê gần đủ các quan điểm triết học Trung Hoa về Vũ Trụ quan. Những nội dung này là nền tảng để người Trung Hoa xây dựng lý luận Trung y. Song phần nội dung tư tưởng triết học về Nhân sinh quan cũng trực tiếp góp phần vào việc hình thành lý luận Trung y, cần được điểm qua.

    Nhân sinh quan trong triết học Trung Hoa được gọi là Đạo làm người. Để giữ vần điệu cho cách diễn đạt của lối hành văn biền ngẫu, người Trung Hoa thường nói “Đạo Trời, Việc Người“. Vậy Việc người gồm có những nội dung gì?

    Học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết tác phẩm “Kinh dịch – Đạo của người Quân Tử “có giới thiệu nhận định của các học giả phương Tây về triết học Trung Hoa. Người Tây cho rằng: Triết học Trung Quốc có đặc điểm cho vũ trụ vạn vật cùng một thể. Tư tưởng đó là tư tưởng căn bản của dân tộc Trung Hoa mà triết gia nào: Nho, Lão, hay Mặc cũng chấp nhận. Người Tây đã tạo danh từ Uni versisme (vũ trụ giáo) để gọi tên triết học Trung Hoa.

    Yếu tố “Giáo” mà người Tây phát hiện thấy trong tư tưởng triết học Trung Hoa theo tôi đó chính là phép biện chứng duy tâm khách quan thể hiện rõ nét nhất trong vũ trụ quan của người Trung hoa. Nhưng khi người Trung hoa mang cái logic biện chứng duy tâm khách quan đó để giảng Đạo Người thì ngay lập tức tạo cho “Nhân sinh quan” của người Trung Hoa hình thành nên phép biện chứng mới, đó là biện chứng duy tâm chủ quan. Dưới đây là tóm lược của Nguyễn Hiến Lê về nhân sinh quan của người Trung Hoa: “Đại biểu vũ trụ là trời đất; đại biểu vạn vật là người. Trời, đất, người cùng một thể, cho nên người được sắp ngang hàng với trời đất thành một bộ “tam tài” (ba ngôi). Trời (đất) với người quan hệ mật thiết với nhau (thiên nhân tương dữ), phép tắc của trời đất làm mô phạm cho hành vi của người, thiên đạo tức là nhân đạo; hơn nữa trời với người còn tưng ứng tương cảm với nhau, cho nên người Trung Hoa thời xưa rất coi trọng phép bói, mà quan “Chúc” coi về thiên sự (cầu nguyện trời ban phước lành cho dân, xem tượng trời, làm lịch để ứng vào nhân sự, coi việc bốc phệ để đoán việc cát hung) luôn làm cố vấn cho các vua chúa, chức ngang với quan “Sử” coi về nhân sự” (Nguyễn Hiến Lê - sách đã dẫn tr. 136).

    Sau khi phát minh ra Bát Quái (bói quẻ), xuất phát từ Bát quái khoảng hơn 1.500 năm vào đời Bắc Tống xuất hiện thêm “Thông Thư”, “Thái cực đồ thuyết” của Chu Đôn Di như đã nói ở trên. Từ “Thông Thư” và “Thái cực đồ thuyết” của Chu tử đã tạo nên rất nhiều học thuyết ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống conn người đời Đường nở rộ nhiều học thuyết bói toán, tướng số, phong thủy, thiên văn. Đáng chú ý nhất là học thuyết Bát Tự, còn có tên gọi khác là “Can Chi thông luận” (Thiên Can, Địa chi). Thoạt đầu chỉ là cách tính thời gian phương hướng, sau được ứng dụng để bói số mệnh, bấm độn, phong thủy, xem tướng. Bói toán, hiện thân của chủ nghĩa duy tâm trở thành quốc hồn quốc túy của dân tộc Trung Hoa trong suốt chiều dài lịch sử tư tưởng hơn 4000 năm. Tất cả những gì diễn ra trong đời sống xã hội thường ngày đều được xử lý bằng bói toán, cúng lễ. Tuy nhiên, sự sống của con người luôn hiện thực: đói thì phải ăn, ốm đau thì phải chữa trị. Dù có tin vào thánh thần đến mê muội, nhưng cúng mãi không khỏi thì phải uống thuốc thôi. Bởi vì, Con Người dù ở bất kỳ thời đại nào, kể cả khi vẫn còn ở tình trạng “ăn lông ở lỗ” cũng không bao giờ cam phận ngồi chờ chết. Tiếng gọi của sự sống đã được mã hóa ở từng gen người, ta vẫn quen gọi là bản năng sống. Người Trung Hoa cổ không phải là ngoại lệ với quy luật sống này.

    Theo các tài liệu hiện có do chính người Trung Hoa công bố thì dân tộc này đã biết chữa bệnh rất tài giỏi từ rất sớm cách nay khoảng 4600 năm. Bằng chứng đưa ra là Thần Nông để lại tác phẩm “Bản Thảo”; Hoàng Đế để lại tác phẩm “Nội kinh”. Ông Nguyễn Hiến Lê sau khi tầm soát sử Tầu rất kỹ đưa ra kết luận rằng: "1. Thời Tam Hoàng: Phục Hy, Thần Nông, Ngũ Đế không đáng tin. 2. Đời vua Nghiêu, vua Thuấn cũng còn đáng ngờ…” những cái tên đó đều là nhân vật huyền thoại. Hơn nữa các tài liệu khảo cổ học mới nhất của Trung Quốc được tìm thấy thì đến thời nhà Thương cách nay 3200 năm người Trung Hoa mới có chữ viết thì tác phẩm “Bản Thảo” của Thần Nông và tác phẩm “Nội Kinh“ của Hoàng Đế xuất hiện trước khi có chữ viết 1.400 năm được ghi lại bằng ký hiệu gì?

    Tác phẩm "Thần nông Bản Thảo" và "Hoàng Đế Nội Kinh" là có thật nhưng đó chỉ là kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian của nhiều đời, người sau chép lại và để cho thiên hạ phải kính nể dân tộc Trung Hoa có trí khôn rất sớm, nên vu cho các nhân vật huyền thoại là tác giả mà thôi. Trung y rất hãnh diện với nhân vật Biển Thước, coi ông là Y gia trước công nguyên năm thế kỷ đã biết thực hành thiết mạch, vọng sắc, nghe tiếng nói, tả hình là đã có thể nói về sở tại của bệnh. Từ Điển Bách Khoa tiếng Việt nói về Biển Thước như sau: “Bian Shi, tên thật là Tần Việt Nhân (Qin Yueren), người quận Bột Hải thời Chiến quốc, nay là tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Có nhiều kinh nghiệm chữa bệnh, phản đối kiểu chữa bệnh của thày mo, giỏi chữa các bệnh phụ khoa, nhi khoa, bệnh tai, mũi mắt. Tác phẩm có “Ngoại kinh” đã bị thất truyền, còn lại “Nội kinh” đề tác giả Tần Việt Nhân. Có người cho rằng Biển Thước là tên gọi chung các ông lang giỏi thời xưa. Tác giả cuốn “Nạn kinh” giải thích 81 vấn đề khó của “Nội kinh”. “ Nạn kinh” đựoc công nhận là một trong 4 bộ sách kinh điển của đông y (“Nội kinh“, “Nạn kinh”, “Thương hàn luận”, “Kim quý yếu lược“). Tôi nghi ngờ những tác phẩm nói là của Biển Thước chính là những gì mà các nhà luyện đan trường sinh cho Tần Thuỷ Hoàng khi đi về phương Nam đã đàm đạo với người Việt cổ rồi biên tập mà thành. Đây cũng là một biểu hiện giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc “núi liền núi, sông liền sông”. Có lẽ để ghi lại tình bằng hữu giữa các nhà y học hai nước mà Biển Thước có thêm một tên nữa là “Tần Việt Nhân” chăng?

    Chỉ cần điểm qua mấy sự thật lịch sử đó có thể nói rằng: Các sách thuốc cổ của Tầu là ghi lại những kinh nghiệm thực tế hàng ngàn năm của dân gian chữa bệnh bằng các cây thuốc, con thuốc ngẫu nhiên tìm ra, chứ không phải nhờ có triết học “Thái Cực sinh Lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh Tứ tượng; Tứ tượng sinh Bát quái…”, sau có thêm “Âm dương ngũ hành” mà tìm ra các phương pháp chữa bệnh đó. Nhiều năm sau, khi văn hóa Trung Hoa phát triển, nhất là sau khi có chữ viết, các học giả hành nghề thầy thuốc mới vận dụng triết học để giải thích các kinh nghiệm thực tế đó. Tán hươu, tán vượn, tán miết rồi hóa thành lý luận mà thôi. Bản thân những người lập ngôn cho lý luận Trung y cũng không hiểu được rằng khái niệm Nhân trong triết học Trung Hoa cổ được dùng với ý nghĩa xã hội học vì nó tập trung chủ yếu để giáo hóa luân lý, “lẽ đời”, tức là các mối quan hệ xã hội. Tác giả chính của khái niệm “Nhân” trong triết học Trung Hoa không ai khác được ngoài Đức Khổng Tử.

    Tư tưởng của Khổng Tử vô cùng phong phú, hàm xúc, nhưng nếu phải tóm tắt tư tưởng Khổng Tử thì có thể nói gọn đó là học thuyết về luân lý làm người và được diễn đạt tài tình chỉ qua một chữ “Nhân“. Người đời cho rằng tư tưởng của Khổng là Nhân và Lễ, theo tôi khái niệm Lễ của Khổng cũng chỉ là tổng thể ứng xử của “Nhân” thôi. Khái niệm Nhân của Khổng có nội hàm rất hẹp là Người, nhưng có ngoại diện rất rộng: Nhân Bản, Nhân Văn, Nhân nghĩa, Nhân tình, Nhân tính, Nhân tâm, Nhân sinh, Nhân loại, Nhân thiện, Nhân ác… Sau này do ảnh hưởng của triết lý Phật giáo, Nho giáo sau Khổng Tử cũng nói đến “Nhân quả” nữa.

    Nho giáo do Khổng Tử làm chủ soái không dùng thuật ngữ Âm Dương để diễn đạt khái niệm Nhân của ông mà khởi nguồn từ ông cho đến các đệ tử ở các thời đại kế tiếp dùng thuật ngữ triết học Chất và Văn. Sự vận động của Chất và Văn trong Nho giáo cũng na ná như sự vận động của Âm và Dương của triết lý dân gian. Nho giáo cho rằng: Chất là cái tạo ra bản thân vật. Văn là cái cơ bản nhất biểu hiện bản thân vật. Từ nhận định khái quát đó Nho giáo cho rằng Con người (Nhân) cũng có cái Chất và cái Văn của mình. Cái Chất của con người là Đạo làm người trong Ngũ luân (Năm Đạo Thường: 1. vua – tôi, 2. cha – con, 3. chồng - vợ, 4. anh – em, 5. bạn – bè). Cái Văn của con người là phong cách làm người trong cuộc sống cộng đồng ở ba lĩnh vực: gia đình, làng nước, thiên hạ. Trong ba loại cộng đồng này, ai đó bảo đảm được cái Chất và cái Văn của mình tương ứng thật tốt với nhau, người đó được tôn vinh là “Quân Tử“. Ai đó không thể hiện được đúng chuẩn mực như Nho giáo đặt ra, người đó bị miệt thị là “Tiểu Nhân”.

    Như vậy, con người xã hội lý tưởng của Nho giáo là Quân Tử. Con người này đã thực hiện xuất sắc những chuẩn mực do Nho giáo đặt ra. Những chuẩn mực đó là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Những con người, những triều đại thực hiện đúng và đủ các chuẩn mực đó được Không Tử ca ngợi hết lời: Ông Nghiêu, Ông Thuấn, Chu công… được ông nhận xét đó là biểu hiện “cái văn rực rỡ thay!”. Từ nhận xét này, Nho gia đời sau tán rộng ra lập thành định ngữ “văn minh, “văn trị”. Và khi mà khái niệm “Văn” được gắn với sự giáo hóa, thì khái niệm “văn hóa” đã hình thành. Nho giáo trường tồn chính là nhờ có những chuẩn mực xã hội rất nhân bản này. Nhưng tiếc thay cho dân tộc Trung Hoa, những chuẩn mực xã hội tuyệt vời đó đã bị các thế lực cầm quyền ở tất cả các thời đại lợi dụng làm cho biến dạng thành công cụ tước đoạt quyền con người. Các chuẩn mực xã hội của Nho giáo đã cung cấp cơ sở lý luận cho các thế lực cầm quyền định ra cái gọi là “Cơ chế” duy trì xã hội Trung Hoa cổ ổn định trong hơn 2000 năm, nhưng đó là sự ổn định trong trì trệ.

    Khái niệm Nhân trong triết học Trung Hoa là khái niệm mang sắc thái xã hội học. Không thể mang nguyên gốc khái niệm Nhân thuộc phạm trù xã hội học vào Y học được. Con người được nói tới trong Y học trước hết phải là con người sinh học, cho dù con người đó có đang mắc chứng bệnh do quan hệ xã hội gây nên (Stress chẳng hạn) thì liệu pháp chữa trị cũng vẫn là liệu pháp kệt hợp của tâm lý học; sinh y học. Không thể viết các chữ: “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín“ vào lá bùa rồi đốt thành than hòa nước cúng thần để uống mà chữa khỏi Stress được.

    Sai lầm căn bản nhất và nghiêm trọng nhất trong lý luận Trung y cổ truyền là căn cứ vào tư tưởng triết học “Thiên nhân tương dữ; Thiên đạo là nhân Đạo; Trời, Đất, Người cùng một thể, cho người được sắp ngang hàng với Trời, Đất thành một bộ Tam Tài (Ba ngôi), từ đó khái quát chủ quan coi con người và hoàn cảnh là một khối thống nhất rồi phiêu lãng tới mức đưa ra nhận định: “Nhân thân tiểu thiên địa”, coi con người là một vũ trụ thu nhỏ (Tiểu vũ trụ).

    Khi ta nói vũ trụ là đã có ta ở trong đó. Chỉ có một vũ trụ thôi. Nếu mỗi người là một tiểu vũ trụ thì ngay trên hành tinh nhỏ bé này có tới gần 6 tỷ tiểu vũ trụ sao? Có thể có ý kiến biện hộ rằng nói tiểu vũ trụ là nói có tính khái quát. Y học rất cần sự khái quát, nhưng là khái quát thực tiễn, khái quát những cái đã xảy ra và nhưng cái đã có đủ tiền đề vật chất để tất yếu sẽ xảy ra, chứ không hề có khái quát cái hư ảo trong y học. Y học không phải đất dụng võ cho chủ nghĩa duy tâm.

    Con người và hoàn cảnh không phải là một khối thống nhất như quan niệm của triết học Trung Hoa. Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhận định đó hoàn toàn đúng đắn cả về phương diện sinh học và xã hội học. Nếu coi vũ trụ là hoàn cảnh thì con người chỉ là sản phẩm của vũ trụ. Ngay như trái đất mà chúng ta đang sinh sống đây cũng chỉ là một sản phẩm của vũ trụ. Quan niệm vũ trụ chỉ có Âm và Dương cùng các nguyên lý chuyển hóa của nó trong tư tưởng triết học Trung Hoa ở vào thời điểm lịch sử con người mới thoát cảnh ăn lông ở lỗ thì rất tiến bộ và rất đáng kính trọng. Nhưng khi mà trí tuệ của Nhân Loại đã thắng được sức hút của Trái Đất, con người đã bay lên trời còn điệu nghệ hơn cả thần tiên thì cái khái niệm về vũ trụ ngây thơ như thế lại làm nền móng cho lý luận y học thì nguy hiểm cho sự sống của con người. Có lẽ vì lý do này mà có ý kiến của chính người Trung Hoa thời hiện đại đòi giải thể Trung y chăng? Đây là một biểu hiện rất khách quan khoa học của nền Trung y hiện đại. Chính nhờ tư duy cấp tiến này nên Trung y hiện đại kế thừa được kinh nghiệm cổ truyền có chọn lọc đã làm cho nền Y học hiện đại của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đang là một nền y học lớn của thế giới đương đại.

    Còn tiếp ...

    Nguồn: vietycotruyen.com


  17. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 6

    1/9/2012 1:56:56 PM

    Đối với Trung y cổ truyền, Y học dân tộc Việt đã tiến hành “phản biện” trong suốt quá trình chống ách thống trị của bọn xâm lược.

    Sự phản biện của Y học dân tộc Việt đối với Trung y cổ truyền tràn ra cả sau hơn nghìn năm “Bắc thuộc”. Sự tài tình của y Việt trong kháng chiến trường kì là bảo toàn được lực lượng, không bộc lộ thân phận, nhẫn nhịn trước thái độ miệt thị hạ nhục của đối thủ đang thống trị. Những tinh hoa của y Việt, như thủ pháp khám bệnh, các biện pháp cấp cứu, các vị thuốc chữa bệnh cấp diễn, các thủ pháp “chữa mẹo” tổ tiên ta giữ kín, kẻ chiếm đóng không cướp được. Ngược lại cái y lí mù mờ: “Âm - Dương - Ngũ hành; Bát cương, Bát pháp” dùng vào luận trị bệnh của Trung bị y Việt lặng lẽ từ chối. Nhưng cái hay thực sự độc đáo của Y học Trung Hoa cổ truyền được các thế hệ Lang Việt tiếp thu rất trân trọng. Hệ thống kinh lạc huyệt đạo của y học cổ truyền Trung Hoa qua ứng dụng thực tế đã mang lại hiệu quả chữa bệnh rất cao được các thế hệ Lang ta kính cẩn tiếp thu tới mức quên đi nguồn gốc Việt của nó.

    Trong lịch sử Nhân loại chưa từng có dân tộc nào bị ngoại bang xâm lược và thống trị hơn một nghìn năm vẫn không bị đồng hóa mà còn bảo tồn được văn hóa của dân tộc mình. Chữ viết của người Việt Cổ bị hủy diệt, người Việt áp dụng ngay thế võ truyền thống “Lấy gậy ông đập lưng ông, cướp súng của Giặc, đánh Giặc”. Hơn 60% từ vựng của tiếng Việt hiện đại được Việt hóa từ tiếng Hán. Nhưng người Hán khi đối diện với các từ Việt - Hán cũng phải qua phiên dịch mới nhận ra chút ít dấu vết mơ hồ của tiếng Hán nguyên gốc.

    Cũng là Nhà Nho có gốc Nho học từ Khổng Tử, nhưng các nhà Nho Việt có tính cách thể hiện trí tuệ khác hẳn Nho Tầu. Nếu các vị Nho gia Trung Hoa coi việc lập ngôn là đỉnh cao của danh vọng, nên khi lập ngôn thường cao ngạo, dương dương tự đắc, diễn đạt càng huyền bí rối rắm càng được coi là uyên bác; trái lại các Nhà Nho Việt không xuất hiện ở vị thế tự đắc lập ngôn mà thường là người phát ngôn phản biện của cả cộng đồng, rất thâm thúy và hóm hỉnh, chơi chữ đạt mức kì tài. Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du là một biểu hiện thiên tài Việt hóa Hán văn. Từ một hình tượng nghệ thuật tầm thường mang tên Thanh Tâm Tài Nhân trong nguyên tác văn học Hán, Nguyễn Du đã Việt hóa cốt truyện bằng một tư duy hình tượng thuần Việt, sáng tạo ra một nàng Kiều và các nhân vật sống cùng thời với nàng đạt tầm Chân – Thiện – Mỵ ở đỉnh cao của văn hóa Nhân loại, vượt thời gian. Ai đó muốn đọc sách cổ của Tầu, dù có giỏi tiếng Tầu mà đọc trực tiếp rất dễ chán. Nhưng kì lạ thay, đọc sách cổ của Tầu qua bản dịch của Nhà Nho Việt thì thích thú vô cùng, đọc miết mà không chán. Sự kì diệu đó là gì? Đó chính là cái “ma thuật” Việt hóa tư tưởng Tầu, tiếng Tầu của các Nhà Nho Việt mà đỉnh cao là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du. Đặc biệt nhất thấy ở văn phong Hồ Chí Minh: Về hình thức thể hiện tư tưởng: giản dị như cách nói của người Việt bình dân; về nội dung tư tưởng cần chuyển tải: Giữ nguyên vỏ bọc các khái niệm; các phạm trù của Nho học nhưng đã chứa nội dung tư tưởng mới mang hơi thở của đời sống đương đại. Cái kỳ tài của Cụ Hồ là Người đã sử dụng Nho học như một phương tiện vận tải để vận chuyển các tư tưởng mới của Cụ, kể cả của Mác và của Lê Nin vào đời sống hiện thực ở một đất nước trước Cách Mạng Tháng Tám 1945, có ai biết chữ thì người đó đều có “Đạo Nho”. Rất nhiều người có học chữ Nho từ trước Cách Mạng tháng Tám, sau này đi theo Cách mạng đã hiểu rõ và đúng hơn về Khổng Tử là nhờ cách diễn đạt Nho học của Bác Hồ.

    Có tới hàng triệu dẫn chứng về cái thâm mà hóm; hóm mà thâm thúy của các Nhà Nho Việt qua văn chương bác học, nhưng nhiều nhất, thú vị nhất là kho tàng truyện tiếu lâm (sáng tác của các Nhà Nho Việt ẩn danh) có mặt ở tất cả các Thời đại. Nhiều truyện tiếu lâm thời hiện đại đã đạt tới tầm “Kì Văn”. Xin kể một truyện tiếu lâm hiện đại ở thời “Bao cấp” để thư giãn: “Có một Nhà Thiết kế kiêm chỉ đạo thi công cỗ máy kéo nước Việt ta lên chủ nghĩa xã hội. Toàn bộ thiết kế đều rập đúng khuôn mẫu do Lê Nin sáng tạo. Nhưng cỗ máy không chạy. Buồn bực quá ông sai người đánh đồng thiếp triệu Lê Nin về hỏi. Lê Nin xuất hiện, Người nói: Cỗ máy không chạy vì các anh đã đặt 80% công suất của máy vào bộ phận còi”. Đối tượng để các Nhà Nho Việt công kích không chỉ nhằm vào những bất cập về chính sách cai trị và các ông Quan đạo đức giả cùng thời mà là tất cả các thói hư tật xấu của tất cả các hạng người trong xã hội, không chỉ ở trong nước mà vượt biên ra cả nước ngoài.

    Hành nghề Việt y phần lớn là Lang thuốc Dân gian gia truyền không có chính danh Khoa Bảng. Chúng tôi biết thân, biết phận như thế nên không có thói quen tranh luận ồn ào về học thuật vì chắng có ích lợi gì mà còn chuốc lấy tai họa nữa. Các Lang thuốc Dân gian không được cấp phép hành nghề vì không chịu qua các lớp nâng cao trình độ nghề nghiệp khoảng từ 3 đến 6 tháng tùy theo người đó có “biết điều” hay không với Cơ quan tổ chức sát hạch, bởi lẽ nội dung nâng cao là học Âm Dương ngũ hành; Bát cương, bát pháp… của Trung y, mà các thứ đó chúng tôi lại cho là vô tích sự. Hơn nữa, các Lang thuốc Dân gian thuần Việt tuổi đã cao, chẳng màng danh vọng hão huyền, lặng lẽ hành nghề hòa nhập vào đời sống xã hội bình dân, chỉ mong Nhà Cầm Quyền ở các thể chế Chính trị trước đây để cho yên thân là may mắn lắm rồi. Chính vì cách nghĩ an phận của các ông “Lang Băm” quê mùa chúng tôi như vậy nên một thời gian rất dài các vị quan chức Y tế Nhà nước nói đến Y học Dân tộc là nói đến Trung y cổ truyền. Có vị đã đạt tới đỉnh cao danh vọng nhờ ca tụng Trung y cổ truyền.

    Nhớ lại mấy năm đầu Đất nước mới bắt đầu thực hiện công cuộc Đổi Mới, một số người nghĩ rằng: Cứ nói ngược lại tất cả những gì trước đây đã được khẳng định bằng xảo thuật diễn đạt giật gân “hùng biện” là sẽ thành danh. Chính vì lẽ đó đã nói rằng: Văn hóa Đại Việt chỉ là một đứa con hoang được tạo thành bởi sự hãm hiếp của văn hóa Trung Hoa đối với cô gái quê mùa Nước Việt. Cách “đi vào Lịch sử” như thế không lạ. Ngay từ cuối những năm 60 của thế kỷ 20, Xuân Diệu đã đã định danh hành vi này là: Kẻ Sỹ no mắc thói tự phụ khi bất đắc chí thường hành xử: “Nếu không để được tiếng thơm cho muôn đời thì ghé đít đánh một cái dắm thật thối vào Lịch sử”. Điều khiến tôi thấy lạ là: Làm nhục nền văn hóa của dân tộc như thế mà còn được hoan hô!

    Các Lang thuốc dân gian nước Việt chúng tôi biết Trung y cổ truyền vĩ đại thật, nhưng Trung y cổ truyền dù có muốn cũng không thể cưỡng hiếp được Việt y cổ truyền. Từ Cẩm nang Gia bảo tuy rất thô sơ và nhỏ bé so với toàn bộ trí tuệ Việt đã thể hiện trong cuộc đấu tranh bảo tồn và phát văn hóa dân tộc, tôi muốn chứng minh sự thật hiển nhiên này

    Gia bảo ghi: "Sách thuốc Tầu, phần lí sự Âm - Dương - Ngũ hành; Bát cương; Nhị cương lục biến… là phù phiếm vô tích sự, xem để biết chứ không giúp gì cho việc đoán bệnh trị bệnh cả". Phần đoán bệnh dựa vào màu da, tính tình, kinh lạc, huyệt đạo là HAY cần học lấy. Phần chữa bệnh trong sách Tầu “nói dựa” vào Âm - Dương - Ngũ hành, thực ra là đúc kết từ thực tế chữa bệnh, rất quý cần học lấy; Bát pháp để trị bệnh của Tầu có phần đúng với thực tế nhưng không đủ. Chính cái không đủ này tai hại vô cùng, vì nếu việc chữa bệnh chỉ khoanh lại có 8 biện pháp thôi thì sẽ đẩy thầy thuốc vào bế tắc vì khi đã dùng hết 8 biện pháp rồi mà bệnh không khỏi, đành chịu sao? Bát pháp ôm sao hết các chứng bệnh, vì bách nhân bách bệnh cơ mà. Cần đọc để rộng đường đoán bệnh, chữa bệnh, nhưng chỉ để tham khảo thôi, không dùng để tham chính được.

    Về các vị thuốc, Gia Bảo căn dặn: Sách Tầu ghi các vị thuốc, nói là của họ, nhưng tất cả các vị thuốc đó đều mọc ở Vùng Đất Việt Cổ. Các vị thuốc đó đều rất hay vì đều đã cho súc vật ăn, cho cả người ăn thử nữa để chữa bệnh rất lâu đời thấy công hiệu nên vững tâm mà dùng. Các vị thuốc phải sao tẩm; mục đích sao tẩm là dùng dẫn chất quy kinh tức là đưa thuốc vào tới nơi sinh bệnh, hay lame. Tầu cướp của Ta từ thời Mã Viện đấy (?). Các vị thuốc nói trong sách Tầu phần lớn dùng vào việc hồi phục thể trạng, gọi chúng là Thuốc Bắc. Còn các vị thuốc chữa bệnh nhanh, công hiệu cao đều mọc ở phương Nam, gọi nó là Thuốc Nam. Thuốc Nam đánh giặc, thuốc Bắc lập công.Thuốc Nam, thuốc Bắc đều là thuốc Ta.

    Những lời ghi trong Gia Bảo dùng riêng ở trong nhà không ai biết thì yên thân. Nhưng khi công khai những nhận xét này ra mà không biết đường thưa thốt thì làm sao mà tránh khỏi bị nguyền rủa là: đồ vô học, điếc không sợ súng! Hơn nữa, Trung y cổ truyền đã thâm nhiễm vào nước ta đã hơn 2.000 năm. Nhiều người đang hành nghề Trung y lại có danh cao vọng trọng. Phê phán Trung y cổ truyền khác gì liều mạng “vuốt râu Hùm”. Bên cạnh những đấng cao sang đó lại có rất nhiều Thầy Lang tử tế đang “trị bệnh cứu người” bằng kinh nghiệm thực tế của Trung y cổ truyền có hiệu nghiệm rất cao; hành động liều lĩnh “coi thường Trung y cổ truyền khác gì trêu chửi. Biết trước là khi phê phán Trung y cổ truyền sẽ bị “Trên đánh, Dưới cũng đánh” nhưng vẫn làm, thì quả thật là liều!

    Một người bạn thân đọc qua tác phẩm này đã khuyên tôi: Vào lúc này, hễ nói đến Trung Quốc là phải hết sức thận trọng; bình luận về Trung y dù là cổ truyền thì phải khen chứ không được chê. Viết thế nay dễ làm ngươi Hoa nổi giận, rất dễ bị tai nạn. Lời cảnh báo đó không làm tôi sợ, vì tôi đang là Công Dân của một quốc gia có độc lập tự do. Bình luận về những cái không thiết thực của Trung y cổ truyền thì ngay chính người Trung Hoa đã làm để có một nền Trung y hiện đại rất được ngưỡng mộ. Việc làm của tôi chỉ thuần túy nói lên chân lý khoa học Y học không có hàm ý nói xấu Trung Quốc, làm phương hại đến tình hữu nghị Việt - Trung. Giới thiệu có một nền y học dân tộc Việt cổ truyền không có nghĩa phủ định nền y học Trung Quốc.

    Ở đời này làm gì cũng sợ bóng, sợ vía như thế thì chẳng dám làm gì cả. Từ khi quay lại với nghề Lang thuốc, tôi luôn tự răn mình rằng: Dù có bị coi là thằng Hề trong nghiên cứu Y học để cất lên tiếng nói: Có một nền y học thuần Việt đã bị bụi thời gian phủ mờ thì cũng có ích cho đời hơn cam phận là một “giá áo, túi cơm”, ngậm miệng để nhìn văn hóa dân tộc Việt bị vùi lấp.

    Tuy nhiên, cũng xin nói thật một điều: nếu không được sống gần 20 năm trong thời đổi mới, đủ thời gian để vững tin Dân tộc Việt đang thực sự muốn đổi mới; những bộ óc lớn đang Lãnh Đạo đất nước thực sự muốn đổi mới thì dù có “uống mật gấu” cũng chẳng dám nói “chẻ hoe” ra thế này đâu.

    Khi bắt tay chữa bệnh cho bạn, tôi mới thực sự quan tâm đến nhận xét của Gia Bảo về Trung y cổ truyền. Công bố lần đầu trên Báo Kinh tế nông Thôn cuối tuần, tháng 12 năm 2006, (mới đăng được phần đầu đã bị chặn lại không cho đăng tiếp) tôi vẫn tránh né không nói rõ và kỹ về Trung y cổ truyền. Lần thứ hai công bố này thấy cần nói rõ lý do tạo ra nhận xét của Gia Bảo về Trung y cổ truyền để xin thêm ý kiến của mọi người.

    Muốn hiểu kĩ hơn lời dặn dò của Tổ phụ, tôi đọc lại Trung y cổ truyền. Đọc Trung y cổ truyền, có nghĩa là phải đọc lí luận của Trung y cổ. Lí luận của Trung y cổ lại được hình thành trên nền móng của Triết học Trung Hoa cổ. Muốn hiểu lí luận Trung y cổ thì chí ít cũng phải hiểu qua triết học Trung hoa cổ, mà triết học Trung Hoa cổ bắt đầu từ đâu?

    Triết học Trung Hoa cổ là cốt lõi của văn hóa ở nước này. Nhưng chính sử của Trung Hoa ghi lại thì những gì thuộc về triết học, văn học, lịch sử thành văn có trước Nhà Tần (Tiên Tần) đã bị chính vị Hoàng đế đầu tiên có công thống nhất nước Trung Hoa là Tần Thủy Hoàng tiêu hủy hết. Tần Thủy Hoàng cho rằng tất cả những thứ đó đều nhảm nhí, bịa đặt không đáng tin cậy. Để tiệt nọc nhảm nhí đó, Tần Thủy Hoàng chẳng những đốt sách mà còn chôn sống các học giả và Nho sinh. Tần Thủy Hoàng đi vào lịch sử với biệt danh“đốt sách chôn học trò”, mở đầu cho một truyền thống đàn áp những tư tưởng không theo chính thống ở Quốc gia này.

    Triết học Trung Hoa cổ chứa đựng rất nhiều học thuyết pha tạp hỗn loạn cả duy tâm khách quan lẫn duy tâm chủ quan được sáng tác trường kì, từ thời cổ đại lai rai cho đến đầu đời Nhà Thanh vẫn còn chú giải và hiệu đính. Duy chỉ có Học thuyết Thái Cực sinh Lưỡng nghi (Âm và Dương) là sớm ổn định, tác giả của học thuyết vĩ đại này lại là “Trí tuệ Dân Gian”. Khổng Tử, Lão Tử cũng tỳ dựa vào Âm Dương để lập ngôn dựng Đạo. Ngay như Chu Dịch nổi tiếng là uyên thâm cũng chỉ là ăn theo, nói dựa vào Thái Cực và Âm Dương mà thôi. Tuy nhiên, Chu Dịch, có xứ mạng lịch sử rất to lớn đối với văn hóa Trung Hoa. Khi mới ra đời Chu Dịch xuất hiện như một loại sách bói quẻ (Quái). Nhờ mang thân phận là sách Bói nên đã thoát chết không bị Tân Thủy Hoàng chôn sống, vì ông ta cho phép giữa lại các sách dạy nghề và bói toán. Để chạy loạn Tần Doanh Chính, các Nho gia thời Tần đã làm cái việc gọi là mượn cái thây cho hồn nhập vào để sống lại (tá thi hoàn hồn), bằng cách “đem tư tưởng của Nho, Lão gài đặt vào phần Kinh làm cho Chu Dịch thành một tác phẩm triết lí có đủ vũ trụ quan, nhân sinh quan và có thể coi là một tổng hợp các tư tưởng phổ biến của Trung Hoa thời Tiên Tần…” (Nguyễn Hiến Lê: Kinh Dịch, đạo của người Quân tử, tr. 105). Do đó, muốn có cái nhìn tổng quát về tư tưởng Trung Hoa cổ, đọc kĩ Kinh Dịch cũng có thể coi là đủ.

    Chính Kinh Dịch là tác gỉa trực tiếp của cái gọi là Tứ Tượng và Bát quái. Bằng cách cụ tượng hóa Âm và Dương ở hai vạch ngang gọi là “Hào”. Vạch liên (----) gọi là Dương Hào; vạch đứt (--_--) gọi là Âm Hào và làm nên “kì thư” vô cùng đặc sắc, bí ẩn và cao siêu đến mức thuật ngữ “Quái” thông ngôn sang tiếng Ta là “Quẻ” lại được dùng tương tự một tính từ là “Quái”, như: “Quỷ quái, Ma quái, quái ác”. Kinh Dịch đã hoàn thiện lí luận Triết học Trung Hoa cổ; sau đó được Chu Đôn Di tổng kết toàn bộ tư tưởng triết học Trung Hoa từ cổ đại cho thời ông đang sống để có diện mạo như đang thấy ở ngày nay. Sau Chu Đôn Di, nhiều học giả đời sau có thêm thắt chút ít tư tưởng của họ, nhưng chỉ là “vẽ rắn thêm chân”, không có tư tưởng gì sâu sắc hơn.

    Chu Đôn Di là ai, và sự tổng kết tư tưởng triết học Trung Hoa có nội dung ra sao? Từ Điển Bách khoa Việt Nam, tr. 487 trả lời như sau: “CHU ĐÔN DI (triết; Zuhou Duny; 1017 - 73), nhà triết học Trung Quốc thời Bắc Tống, tự là Mậu Thúc. Chu Đôn Di là người kết hợp tư tưởng trong “Dịch truyện”, “Trung dung” và “Nguyên đạo” của Hàn Dũ (H. Hanyu) với một số tư tưởng của Đạo, Phật giáo. Cải biến “Vô cực đồ” của Trần Hoàn (H. Chen Tuân) thành “Thái cực đồ” - một thuyết về cấu tạo vũ trụ – đồng thời xây dựng nên một hệ thống triết học có nguồn gốc ở nhiều học phái với các khái niệm như thái cực, lí, khí, tính, mệnh v.v... trở thành phạm trù cơ bản của lí học đời Tống. Chu Đôn Di là một trong những người sáng lập ra “Thái cực đồ thuyết” nêu lên quá trình sinh thành của vũ trụ và con người” “Vô cực nhi thái cực” (vô cực mà thái cực). Thái cực động thì sinh dương. Động đến cực thì tĩnh. Tĩnh thì sinh âm. Tĩnh đến cực thì quay lại động. Một động, một tĩnh làm cơ sở cho nhau. Phân âm, phân dương, lưỡng nghi được lập nên. Dương biến âm hợp thì sinh ngũ hành là thủy, hỏa, mộc, kim, thổ. Ngũ khí tuần tự ban bố thì bốn mùa vận hành. Ngũ hành vốn là một ở âm dương; âm dương vốn là một thể thống nhất ở thái cực; thái cực vốn là vô cực, sinh ra ngũ hành, mối hành là một tính. Cái chân thực của vô cực, cái tinh túy của nhị (lưỡng nghi) và ngũ (ngũ hành) kết hợp gắn bó với nhau mà không ngừng đọng lại. Ở đó, đạo càn thì sinh nam, đạo khôn thì sinh nữ. Nhị khí giao cảm với nhau thì hóa sinh vạn vật, vạn vật thì sinh mãi biến hóa vô cùng (Thông Thư). Sự trình bày trên là tập hợp và hệ thống hóa các quan điểm về vô cực, thái cực âm dương, ngũ hành của triết học Trung Quốc trước đó, đồng thời là cơ sở để các nhà triết học Trung Quốc sau này không ngừng giải thích, tranh luận và phát huy. Tác phẩm tiêu biểu: “Thông Thư”, “Thái cực đồ thuyết” v.v... Người đời sau biện soạn thành “Chu Tử toàn thư”.

    Như trên đã nói, Kinh Dịch đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện lí luận triết học Trung Hoa cổ có tham vọng giảng nghĩa Đạo Trời và Đạo Người. Cần nói thêm khái niệm “Đạo” của người Trung Hoa, bởi lẽ thuật ngữ này nghĩa đen là đường đi, nhưng có nghĩa bóng rất phong phú được dùng rất phổ biến để diễn đạt tư duy phức tạp khi thì trừu tượng mơ hồ, khi lại rất cụ thể mang tính cưỡng bức bắt phải tin theo. Rất khó định nghĩa cho đủ thế nào là Đạo. Ngay như người “phát minh” ra thuật ngữ “Đạo” là Lão Tử cũng không giải thích được. Lão Tử nói: “Có một vật gì đó sinh ra cả trời đất, lặng lẽ, trống không, đứng riêng biệt không đổi thay, tuần hoàn không biết mỏi, có thể làm mẹ thiên hạ, Ta không rõ tên là gì, gọi là Đạo”. Phiên sang âm Hán Việt là “Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh. Tịch hề liêu hề, độc lập bất cải, chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu” (Đạo đức kinh). Có lẽ từ gợi ý này mà Lỗ Tấn có định nghĩa về Đường đi hàm xúc, bất hủ chăng? Đại ý là: thoạt đầu chỉ là một lối mòn, Con Người cứ theo đó, đi mãi thành Đường. Từ khái niệm âm dương lại thêm Đạo nữa, triết học Trung Hoa cổ biện luận: “Thánh nhân đặt ra dịch lí… dựng đạo trời gọi là âm với dương, dựng đạo đất gọi là mềm với cứng, dựng đạo người gọi là nhân với nghĩa”, (tạo thành Ba ngôi: Thiên Địa Nhân). Phiên âm là: Thánh nhân chi tác dịch dã… lập Thiên chi đạo viết âm dữ dương, lập Địa chi đạo viết nhu dữ cương, lập nhân chi đạo viết nhân dữ nghĩa.

    Người Trung hoa cổ hình thành tư tưởng Thái Cực là nguồn gốc của Vũ trụ từ rất sớm, các học giả đời sau nói rõ thêm đó là khí tiên thiên bất sinh bất diệt. Trong cái linh căn huyền ảo đó (Thái Cực) tiềm ẩn hai nguyên tố ngược nhau về tính chất, đó là Âm và Dương.

    Nguồn cảm hứng để người Trung Hoa cổ phát minh ra học thuyết âm dương không đâu xa mà chính là Trời và Đất. Trời và Đất chính là cha mẹ của vạn vật, đó là quan niệm khá phổ biến của toàn thể loài người thời thượng cổ, vì hàng ngày người ta thấy nhờ có đất mới có cây cỏ, thú vật nên loài người mới có miếng ăn. Con người còn thấy nhờ có tròi mới có ánh sáng, có nắng có mưa, có lửa; nhờ có những thứ đó con người và vạn vật mới sinh sôi được. Nhưng lí giải cơ chế vận hành của Trời với Đất ra sao thì chỉ có người Trung Hoa cổ mới nói được. Có thể nói rằng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, tư tưởng Trung Hoa cổ giống như một Thần Đồng. Song, Thần Đồng đã quá ngạo mạn, ngủ yên trong ánh hào quang do nó tự tạo ra đó nên đã bị thời gian vượt qua. Phải đợi đến đầu thế kỉ 20, tiếng sét của cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911 mới làm người khổng lồ Trung Hoa tỉnh mộng. Qua thực tế lịch sử cho thấy: chỉ có người Trung Hoa mới đánh thức được người Trung Hoa tỉnh mộng mà thôi.

    Tất nhiên tư tưởng triết học đặc sắc Trung Hoa đó không thể do một người nghĩ ra mà là trí tuệ của rất nhiều thế hệ các nhà thông thái ở các thời đại hiện diện ở nước này; họ cũng phải nghiền ngẫm hàng nghìn năm mới có diện mạo như ta thấy hiện nay. Thoạt đầu chỉ là âm dương rồi liên hệ đến Càn (Trời), Khôn (Đất), kết hợp khái niệm Đạo của Lão Tử. Nhờ có sự gợi ý của Đạo Lão mà chú ý đến giống đực, giống cái, đến cái được sinh ra, cái chết đi sinh sinh hóa hóa”. Trải qua hàng nghìn năm quan sát, con người nhận ra rồi gom góp suy nghĩ của nhiều đời làm nên học thuyết về Vũ Trụ đi tới một kết luận: “Thiên Địa Nhân luân, vạn vật hóa thuần”.

    “Quan niệm âm dương là một quan niệm đặc biệt Trung Hoa, không thấy trong tư tưởng của các dân tộc khác… Vì âm dương bao trùm cả không gian (như phía Bắc, phía Nam) thời gian (như ngày, đêm), thời tiết (như đông hè nắng mưa), không vật gì hữu hình hay vô hình trong vũ trụ mà không có âm dương: giống đực, giống cái, rỗng đặc, thịnh suy, thăng giáng, thu tán, thiện ác , tốt xấu, quân tử tiểu nhân… đều là âm dương cả.

    Âm dương không phải chỉ là hai cái khí, hay hai nguyên lí, không phải là những năng lực, những khía cạnh, những đặc tính… mà là tất cả những cái đó, cho nên không thể dịch từ ngữ âm dương được, và người Châu Âu đành phải phiên âm là Yin và Yang” (Nguyễn Hiến Lê - sách đã dẫn tr.114 - 115).

    Học thuyết Âm Dương không chỉ làm say đắm những bộ óc vĩ đại của người Trung Hoa mà còn nhanh chóng lan truyền ra khắp vùng Châu Á cùng thời mà nó còn sức quyến rũ những nhà thông thái Châu Âu ở thời hiện đại. Cái thần thái, cái ma lực lôi cuốn trí tuệ nhân loại của học thuyết Âm Dương chính là phép biện chứng chứa đựng trong học thuyết này. Chính nhờ có phép biện chứng của Âm với Dương đó mà tư tưởng của Khổng Tử chủ yếu bàn về luân lí của xã hội Loài Người để đưa ra luận điểm phải quản lý xã hội bằng “Nhân Trị“, được dẫn truyền qua nhiều thế hệ và trở thành nguồn cảm hứng vô cùng phong phú cho rất nhiều học giả “lập ngôn” diễn đạt tư tưởng ở thời đại của họ. Cũng chớ trêu thay, tư tưởng của Khổng Tử làm vẻ vang cho văn hóa Trung Hoa bao nhiêu, thì cũng chính tư tưởng đó đã kìm hãm xã hội Trung Hoa tiến bộ bấy nhiêu. Người Trung Hoa hiện đại đã nhiều lần muốn thoát khỏi sự ám ảnh của tư tưởng Khổng Tử mà cho đến nay vẫn không thoát nổi. Những thế lực muốn kìm hãm Trung Quốc phát triển đã đưa vào chiến lược của họ kế sách: tiếp tục ca ngợi Khổng Tử, đưa ông lên tận Mây Xanh, càng cao càng tốt.

    Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, không có học thuyết nào diễn đạt hàng loạt vấn đề khổng lồ về thế giới quan, nhân sinh quan cực kì phức tạp mà chỉ cần kí hiệu bằng một cái vòng tròn. Vòng tròn mang tên Thái Cực đó bên trong chứa hai giọt nước đen trắng vẽ cách điệu như đang ôm ấp nhau ở tư thế tráo đầu đuôi, ở phần đầu của mỗi giọt nước đều có hai điểm khác màu dễ liên tưởng như hai con mắt đang dõi nhìn nhau. Màu trắng tượng trưng cho Dương, màu đen tượng trưng cho Âm, hai điểm đen trắng như hai con mắt đó để ám chỉ rằng trong Dương luôn có Âm và trong Âm luôn có Dương; khi màu đen thót lại thì màu trắng phình ra, ngược lại khi màu trắng thót lại thì màu đen phình ra để ám chỉ Âm thịnh thì Dương suy, Dương thịnh thì Âm suy.

    Còn tiếp ...

    Nguồn: vietycotruyen.com


  18. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 5

    1/9/2012 1:52:58 PM

    Y học dân gian nước việt nhận biết về Tây Y và Trung Y cổ truyền

    Đôi nét về Cẩm nang Y - Dược Gia truyền.

    “Cẩm nang Y - Dược Gia truyền” gọi tắt là Gia Bảo, thực chất là sự đúc kết thực tế chữa bệnh của Tổ phụ chúng tôi ghi chép lại kinh nghiệm của nhiều thế hệ “Lang thuốc dân gian” của toàn thể dân tộc Việt mà dòng họ tôi thu thập được ở nhiều đời theo dạng “trường thiên nhật kí”, Cha truyền Con nối, một đời người dù thông tuệ xuất chúng cũng không thể viết nên được.

    Gọi tên là Gia Bảo có nghĩa là tài lệu dùng riêng của gia đình không được tiết lộ ra ngoài, nên cách nói, cách viết thường mộc mạc “nghĩ sao nói vậy” cho con cháu thấy thực chất của vấn đề, nên không dùng thủ pháp khiêm nhường giả trá theo lễ giáo ở xã hội phong kiến từ xa xưa.

    Tuy nhiên, cách viết đó chỉ dùng ở trong nhà thì thái độ “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật” là cần thiết. Khi công khai ra với Thiên Hạ vẫn giữ nguyên khẩu khí “tự phụ” như thế, dù có nói đúng cũng dễ bị coi là “lố”. Do phải sử dụng kinh nghiệm gia truyền để chữa bệnh và công bố ở công trình này, tôi đã diễn đạt theo ngôn ngữ hiện đại.

    Truyền thống Lang thuốc của gia tộc chúng tôi luôn tuân theo nguyên tắc: Người muốn hành nghề Việt y; Việt dược truyền thống bắt buộc phải biết phản biện được Trung Y; Trung dược. Phản biện để học hỏi chứ không bắt chước, vì người Việt được sinh ra trên đất Việt, khác với người Tầu được sinh ra ở nước Tầu. Đến thời Pháp thuộc, khi mà văn hóa Châu Âu, theo sau gót giày xâm lược của bọn “Bạch quỷ mắt xanh mũi lõ” tràn vào nước ta thì người hành nghề Việt y, Việt dược truyền thống còn phải biết phản biện cả Tây y nữa.

    Thực tế lịch sử cho thấy các Lang thuốc Dân Gian cổ truyền hầu hết là dân thường. Họ không phải là người Khoa Bảng, không được Vua, Chúa tin dùng, bị chê là hạng người “vô sư, vô sách”. Nhiều Cụ Lang Ta, thông minh, giỏi nghề cả đời sống trong trạng thái “bất đắc chí”. Thế sự thăng trầm, Triều đại cũ sập đổ Triều đại mới nổi lên, sủng thần hay chữ của triều đại cũ thất sủng liền ra nhập vào đội ngũ Lang Thuốc Dân Gian. Lịch sử nhiều nghìn năm của Y học dân tộc Việt diễn ra như vậy đã cô đọng lại làm nên một đội ngũ Lang Thuốc Dân Gian có thực học, luôn phải chống lại sự chèn ép của các Học Giả hãnh tiến của các chế độ cai trị đương thời. Hoàn cảnh đó là một thực tế làm tăng thêm lòng yêu nước, tự hào dân tộc của nhiều thế hệ Lang thuốc Dân Gian. Do căm ghét bọn xâm lược và bọn Việt gian, nên số đông các cụ Lang Ta ngấm ngầm tìm hiểu Trung y, Tây y với mục đích bài xích, ngăn cản Hậu Duệ làm Việt gian. Tìm hiểu nền y học nước ngoài với tâm trạng căm thù nên không tránh khỏi “thiếu công bằng”. Trong suốt thời kì Pháp thuộc chỉ có bọn tay sai cho Pháp và người giàu có ở thành thị mới chữa bệnh bằng Tây y. Sự bài xích Tây y của dân Việt quyết liệt tới mức thực dân Pháp phải đổi tên các cơ sở chữa bệnh của chúng với cái tên mang tính lừa mị là “Nhà thương”, nhằm thu hút người Việt theo Tây y.

    Tuy nhiên, chân lí Y học luôn mang tính toàn nhân loại, toàn cầu, nên trong thực tế thiên kiến cực đoan bài xích đã tự động nhường chỗ cho tinh thần phục thiện. Những tinh hoa của hai nền y học cả Trung y và Tây y đã được nhiều thế hệ Lang Ta “học lỏm“ rất “tinh quái”.. tức là Việt hóa những điều được cho là HAY của kẻ thù. Sự Việt hóa phải đạt đến trình độ “tinh quái” vừa để che mắt Địch để không bị khinh là Ta học Nó, vừa để tránh các cụ Trưởng Lão bảo thủ chửi là Việt Gian. Vì sự phức tạp trong quan hệ xã hội đó mà trong hành nghề Y Việt luôn xảy ra xung đột giữa cái được coi là phải với cái được coi là không phải.

    Đến đời bố tôi, (sau Cách Mạng Tháng Tám 1945), trước những tiến bộ chói sáng của nhiều Ngành khoa học cơ sở, các xét nghiêm “mẫu bệnh phẩm” của Tây y trở nên hết sức tinh vi phức tạp, phong phú. Người ta không chỉ “điện di” được Protein huyết thanh để tìm sự hiện diện của Praprotein (các giải đơn clôn) mà còn điện di được cả những chất lipoprotein; glycoprotein;… Tây y nghiên cứu thành phần cấu tạo của protein đã phát hiện được các “Bệnh phân tử”; dùng các chất đồng vị phóng xạ trong chuẩn đoán bệnh; nhuộm hóa học tế bào để xác định thành phần các tế bào máu; phát minh ra máy đếm hồng cầu, đếm bạch cầu; phát minh ra các thiết bị kiểm nghiệm tự động; chẩn đoán nhanh vi khuẩn, vi rút bằng phương pháp huỳnh quang… và rất nhiều thiết bị kì diệu khác, những người hành nghề Y học dân tộc Gia truyền trong họ tộc chúng tôi thường có phản ứng bằng hai cực đoan đối lập nhau, căng thẳng tới mức “từ mặt nhau”. Hai cực đoan đó thường biểu hiện như sau:

    Một là, bái phục Tây Y "sát đất" rồi bỏ nghề, tự thấy không thể “đọ tài” với Tây y được. Biểu hiện này không chỉ trong họ tộc tôi mà còn có cả ngoài xã hội nữa. Ngay ở bên Tầu, đất nước tự nhận là Trung tâm của Thiên Hạ có nền Trung y cổ truyền lừng danh cũng đã xuất hiện “Những lá cờ Trắng đầu hàng Tây Y theo kiểu Trương Công Diệu”. Ông Trương Công Diệu, viên chức của Sở Nghiên cứu kỹ thuật xã hội và Công nghệ Đại học Trung Nam thành phố Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam đề nghị xin bãi bỏ Đông Y, (Xem bài “Đông Y sẽ đi về đâu?”- Tạp chí Cây thuốc quý, số 80, tr.23).

    Hai là, lên án Tây Y ngông ngạo: dùng kĩ thuật tiến bộ hủy hoại tính nhân văn của con người. Nếu Tây Y không biết tự kiềm chế, quá phiêu lãng với các thành tưụ khoa học kĩ thuật đơn thuần, không chú ý đến tính người trong các dự án làm biến đổi cấu trúc sinh học tự nhiên của con người để thụ tinh nhân tạo; làm biến đổi gen người; lai ghép gen người, gen thú… để chữa bệnh nan y. Những hành vi đó chính là tội ác hủy hoại loài người. Nếu không ngăn chặn các dự án thiếu nhân tính đó thì sự tiến bộ trong khoa học sinh học, rốt cục sẽ tạo ra một giống nguời rất to khỏe, sống lâu, nhưng không có tâm hồn mà chỉ có bản năng sinh vật: BẢN NĂNG THÚ. Khoa học Y học tiến bộ theo con đường này sẽ làm cho Loài Người trong tương lai sẽ là NGƯỜI THÚ. Những chỉ báo cụ thể: phần lớn trẻ em được thụ tinh trong ống nghiệm hay ốm đau quạt quẹo, chỉ số thông minh thấp, thiếu tình Người là cơ sở thực tế cho sự lo ngại đó.

    Trường phái ”bái xích Tây y” đã có nhiều thực chứng cũng thuộc dạng “khó bác bỏ” là “Thuốc Tây” không hay! Cụ thể là Tây y bất lực trước rất nhiều bệnh mà “Thuốc Ta” coi là bệnh thông thường, như: các bệnh “vẩy nến”; “chàm”; “vô sinh”; “cai nghiện chất ma túy”; các chứng bệnh phụ nữ tiền sản và hậu sản; các bệnh ”Đái tháo có đường và đái tháo nhạt“; các chứng bệnh về “đổ tháo mồ hôi” mà Tây y phán là do “cường hạch thần kinh giao cảm” và không có thuốc chữa đặc hiệu, phải dùng “chiêu” giải phẫu “diệt hạch giao cảm”. Dịch vụ này rất đắt tiền, bệnh viện cấp “tỉnh lẻ” vẫn chưa làm được! Hiện tượng ra mồ hôi trộm trong các chứng bệnh nhiễm trùng nan y thì câu trả lời của Tây y là chữa khỏi nhiễm trùng thì mới khỏi bệnh ra mồ hôi trộm?! Giải thích như thế thì im lặng còn hay hơn! Ngay như các bệnh ung thư lành tính và ác tính, Tây y cũng chỉ có duy nhất “một chiêu phẫu thuật mổ xẻ và cắt bỏ” mà thôi.

    “Đại sự” đang làm Tây y bối rối là Hội chứng HIV/ AIDS. Tây y phát hiện Hội chứng HIV/ AIDS, rồi công bố sự phát hiện đó với các chứng cứ thoạt nhìn có cảm giác là rất khúc triết, sâu sắc và triệt để. Nhưng rồi kết quả diễn biến thực tế của bệnh đã nói lên nội dung công bố bệnh của Tây y còn rất mù mờ. Thuốc chữa của Tây y không khỏi bệnh đã đành, ngay như cách luận trị bệnh cũng đang làm rối trí các thầy thuốc thực hành. Tây y cho rằng cơ sở để xác định mức độ trầm trọng của bệnh là đếm số lượng tế bào Limpho CD4+; nếu cá thể nhiễm bệnh khi còn dưới 50 CD4/1ml máu thì bệnh nhân chỉ sống được không quá 1 năm. Trong thực tế nhiều người bị chết vì AIDS do nhiễm HIV khi số lượng CD4+ vẫn còn tới hàng trăm. Ngược lại có những người có lượng CD4 dưới 50/1ml vẫn sống lâu, không bị sa vào AIDS, tại sao? Tây y tỏ ra rất uyên bác trước những dạng câu hỏi: “như thế nảo?”, nhưng lại né tránh trước những dạng câu hỏi: ”tại sao?” trong chữa bệnh.

    Tây y công bố Hội chứng HIV với thiện ý cảnh báo cho Nhân loại một chứng bệnh nguy hiểm, nhưng cách công bố lại mang nặng tính hù dọa, gây ra hậu quả rất tàn ác. (Ở một làng thuộc Châu Phi, người ta đã chôn sống những người nhiễm HIV). Hiện tượng kì thị, cô lập người nhiễm HIV gây ra biết bao thảm kịch cho dân lành đã trở thành phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Tổ chức Y tế Thế giới đã tốn rất nhiều công sức để “Nói lại cho rõ” chứng bệnh này. Nhưng vết thương do tuyên truyền mang tính “Học phiệt”, hù dọa về căn bệnh này hằn rất sâu vào tiềm thức con người phải hàng thập kỉ nữa mới khắc phục được. Xét về mặt pháp lí có thể khép cách thông tin hù dọa này vào “tội khủng bố” được .

    Phản biện theo hướng chỉ nhìn thấy những khuyết nhược điểm có thật để lên án Tây y như vậy là không công bằng. Sẽ là vô ơn nếu không biết trân trọng những đóng góp lớn lao – có thể nói là vĩ đại nữa – của Tây y đối với Loài Người. Ngay như đối với Hội chứng HIV/ AIDS, mặc dù cách luận trị bệnh và thuốc chữa tuy còn nhiều khiếm khuyết, nhưng nhờ có sự công bố của Tây y về chứng bệnh nguy hiểm này đã góp phần nâng cao ”Y trí” cho cả Loài Người. Chủ nghĩa thực chứng của Tây y nếu khắc phục được xu hướng “máy móc cơ giới” thô bạo thì đó là một công cụ sắc bén, một lực lượng chủ lực để con người khám phá sinh giới tự nhiên đạt hiệu quả cao.

    Còn tiếp ...

    Nguồn: vietycotruyen.com


  19. Y học Dân gian nước Việt - Kỳ 4

    1/9/2012 1:49:51 PM

    3. Y lý chủ đạo của y học dân gian.

    Y học Dân gian coi tất cả các tác nhân gây bệnh cho Con người đều là Tà. Tà là chỉ hiện tượng được cho là không chính đáng: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” (Nguyễn Đình Chiểu). Đâm là hành vi bạo lực, nhưng bạo lực đó là để diệt mấy thằng gian nên bạo lực đó vẫn là chính nghĩa. Ở đây nhà thơ chơi chữ “chẳng tà” vừa có nghĩa là chính đáng mà còn có nghĩa là không bị cùn.

    Trạng thái Tà có ba tính chất: Tà Khí; Tà Tâm và Ác Tà – còn gọi là Trùng Tà. Cơ thể bị mắc bệnh có nghĩa là đã bị nhiễm Tà. Mức độ nặng nhẹ của bệnh được xác định trên cơ sở đối chiếu với tiêu chuẩn của sức khỏe. (Tứ diện hiện sinh). Người Việt Cổ cho rằng: Cơ thể một con người được coi là khỏe mạnh khi con người đó luôn cảm nhận được đủ bốn khoái cảm lớn ở trong thân thể mình. Bốn khoái cảm lớn đó thường được gọi là “Đại tứ khoái”, gồm có: Ăn; Ngủ: Làm tình và bài tiết. Thiếu một trong bốn khoái cảm đó là có bệnh. Cơ thể không còn bốn đại khoái cảm nữa là “Cận tử” rồi.

    Cổ nhân cho rằng: Dù là người cao sang, thông tuệ cho đến người hèn yếu đều có chung khoái cảm sinh lý nói trên, vì nó thuộc về bản vị. Còn những khoái cảm tinh thần thuộc về nhân vị, sản phẩm của lí tưởng – niềm tin, biến ảo khó lường nên không phải là nơi căn bản của cơ thể sống. Do đó, mọi bệnh tật phát sinh trong cơ thể người đều do Tà hoặc trùng đã ám vào đại tứ khoái mà sinh ra. Chữa bệnh là trục tà cho "Đại tứ khoái". Khôi phục đủ “Đại tứ khoái” cho cơ thể là con người khỏi bệnh.

    Ăn: Khoái cảm lớn nhất, đói mà được ăn. Những người nghèo đói không được ăn, không có khoái cảm ăn. Ngược lại người giàu có cần ăn thức gì có thức đó và thường có cảm giác ăn không ngon miệng, mất khoái cảm ăn. Cả hai loại người này đều thấy ăn không ngon miệng khi cơ thể bị ốm. Tìm ra bệnh là mang lại khoái cảm ăn là đã chữa đúng bệnh. Có khi chỉ một bát cháo hoa hay một bữa cơm là cũng đã chữa khỏi bệnh.

    Ngủ: Ngủ là nhu cầu tự nhiên của con người. Khoái cảm của ngủ là ngon giấc không mộng mị, nếu có mộng thì là mộng đẹp. Ngủ dậy thấy khoan khoái dễ chịu thì đó là khoái cảm của ngủ. Giấc ngủ không được như mô tả ở trên là có bệnh. Mất ngủ, ngủ ít (Tối thiểu 8 giời ngày) ngủ không ngon giấc, tỉnh rồi lại thiếp đi, mộng mị lộn sộn, nửa thức nửa ngủ. Không ngủ nữa thức dậy thấy mệt mỏi, chán trường, là cơ thể đang có bệnh. Tìm ra bệnh chữa trị bệnh đưa lại giấc ngủ ngon và lành là khỏi bệnh.

    Làm tình: Y học dân gian coi khoái cảm trong làm tình là biểu hiện đồng bộ, toàn diện sức khoẻ của một con người. Cuộc tình đến ngưỡng cao trào nó làm rung động toàn cơ thể, bởi vì toàn bộ các hệ thống các cơ quan nội quan trong con người đều xúc động. Cảm khoái đó khiến các nhà Nho vốn nổi tiếng là nhã cũng không kìm nén được phải thốt ra lời: “đại khoái hĩ !”. Một con người không cao hứng trong cuộc tình, hoặc lâm vào tình cảnh “trên bảo dưới không nghe”, hoặc lãnh đạm với nhu cầu giao hợp là có bệnh. Người phụ nữ đã tắt kinh vẫn có nhu cầu tình dục. Với người đàn ông nhu cầu đó đi mãi suốt cuộc đời. Dân gian nói hình ảnh rằng: Chỉ khi nào cắt đầu gối không có máu chảy thì mới hết nhu cầu làm tình.

    Bài tiết: Đại tiểu tiện thông suốt tạo cho ta khoái cảm như một sự giải thoát. Đại tiện chỉ cần hai lần phóng là hết phân, cơ thể thấy nhẹ bẫng, là khỏe mạnh. Đại tiện vất vả phải lực dặn, phân ra lai dai, ngồi nhà cầu lâu, có cảm giác nóng ở lỗ thải phân, phân mỏng nát và có mùi thối khẳn là cơ thể đang có bệnh không chỉ ở đường tiêu hóa mà từ gan đã có chuyện lâm nguy, hiện tượng ỉa té tức là bệnh đường ruột cấp tính; ỉa té mà không đái là chỉ báo đã bị nhiễm vi khuẩn tả. Ỉa té mà vẫn đái được thì đó chỉ là rối loạn tiêu hóa bình thường không phải nhiễm vi khuẩn tả, đừng quá lo! Đi tiểu vất vả, đường liệu phóng yếu, không gây được tiếng re re do ác lực phóng liệu là cơ thể yếu. Đái xón, đái dắt, dòng liệu ngừng nhưng vẫn chưa hết cảm giác mót, đứng một lúc nước tiểu lại chảy buộc ta phải dặn tiểu; người phụ nữ đũng quần luôn ẩm ướt là cơ thể đang có bệnh. Tìm ra bệnh, chữa bệnh mang lại khoái cảm khi bài tiết là khỏi bệnh.

    Bốn khoái cảm này kết hợp lại thành cái bất biến cùng với “Tứ diện hiện sinh” để ứng phó với vạn biến truy tìm tất cả các loại bệnh có trong cơ thể con người. Trong bốn đại khoái cảm này thì khoái cảm ăn và khoái cảm ngủ luôn được chú ý đến đầu tiên.

    Thầy lang dân gian khi được mời đến chữa cho bệnh nhân mắc HIV/ AIDS thì thường là bệnh AIDS đã là giai đoạn cuối, AIDS đã toàn phát. Ở tình trạng này thì ở cả Tây y và Trung y đều bó tay. Người ta chăm sóc bệnh nhân HIV/ AIDS ở giai đoạn cuối chỉ vì nhân đạo, sống ngày nào biết ngày ấy. Nhưng lang thuốc dân gian không nghĩ thế, bệnh nhân nếu còn biết cười trước một câu nói vui, “bông phèng” là còn có cơ hội để nhận chữa. Lang thuốc dân gian đã nhận chữa cho con bệnh nào thì ông ta tự tin rằng giữa sống và chết có sác xuất là 50/50. Việc đầu tiên là phải cấp cứu đã. Thuốc cấp cứu chữa người ở giai đoạn AIDS toàn phát là viên thuôc “Hoàn sinh”, toàn bộ chất liệu của viên thuốc này là kết tinh của 20 a xít amin cần có cho sự sống của con người trong 24 giờ. Chức năng của nó là cấp tập khôi phục khoái cảm của ăn và ngủ đã bị héo tàn của người bệnh.

    Sau khi đã uống thuốc cấp cứu rồi thầy lang mới bắt tay khám bệnh. Người nhiễm HIV/ AIDS ở giai đoạn toàn phát cơ thể đã suy sụp. Trước hiểm hoạ cận tử thì phải cấp cứu hoàn sinh khoái cảm ăn. Uống thuốc cấp cứu hoàn sinh là cho ăn cưỡng bức để làm hồi tỉnh lại cơ chế tự nhận thức của toàn cơ thể. Quy luật sinh học của nhận thức luôn diễn ra là đi từ cái cưỡng bức đến cái tự giác. Cưỡng bức nhanh chóng khôi phục khoái cảm ăn để cơ thể có cảm giác đói. Khi đã có cảm giác đói có nghĩa là nó đã tới được cái tự giác. Phép dùng thuốc của y học dân gian là cơ chế cưỡng bức để khôi phục cái “tự giác” ở cơ thể con người mà thôi. Thời gian uống thuốc hoàn sinh khoảng 3 giờ mà người bệnh có cảm giác đói, biểu hiện của nó là nước bọt tiết nhiều ở miệng, dân gian gọi đó là hiện tượng “nuốt nước bọt”. Tỷ số sác xuất giữa sống và chết được nâng nên 60/40 việc khám bệnh bắt đầu từ đây.

    4. Y thuật của y học dân gian:

    Y học dân gian coi “thuật” là kỹ năng kỹ sảo để nhận biết đối tượng hiện có làm bộc lộ những bí mật của nó, biến cái không phải của ta thành cái phụ thuộc vào ta. Từ quan niệm về khái niệm “thuật” như vậy nên y thuật của y học dân gian có những nội dung sau:

    4.1. Y thuật chủ đạo. Quan niệm Bệnh là do Tà, hoặc Trùng gây nên. Chữa bệnh tức là trừ Tà, là diệt Trùng đã nhập vào người, ám vào “Đại tứ khoái“. Khi cơ thể bị một loại bệnh nào đó thì có nghĩa là toàn cơ thể đã bị nhập Tà. Biểu hiện cụ thể của bệnh ở một bộ phận nào đó không có nghĩa các bộ phận khác còn an lành. Ví dụ: Đau mắt và nhức răng chẳng hạn. Cổ nhân nói: “Thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng”. Ai mắc phải một trong hai thứ đau này đều rên rỉ: “Buốt ơi là buốt! Choáng váng, run bắn cả người”. Đây là một tổng kết thực tế được dùng làm chỉ báo: “Thân đã nhập Tà, ắt sinh bệnh Cả” (Cả nghĩa là lớn, như: Vợ Cả; Sông Cả; Cả vú lấp miệng em). Thuật chạy chữa luôn phải tuân theo: “Bệnh Cả không phân lẽ mọn. Chữa chạy bệnh Cả, ắt phải chữa toàn thân. Phép “Xông là để xua Tà. Phép uống là để trục Tà; trong uống ngoài xoa là làm tiệt chủng Tà, v.v...". Dưới ánh sáng của tri thức khoa học hiện đại, có thể hiểu ý người xưa, như vầy: Cơ thể là một khối thống nhất, nhưng sự thống nhất đó là “thống nhất trong liên lập”, thống nhất qua hòa nhập chứ không phải thống nhất của hòa tan. Sự thống nhất đó được tạo thành qua vận động chuyển hóa trao đổi chất của 80.000 tỉ tế bào hình thành nên cơ thể người. Lấy hiện tượng đau răng để biện giải cho rõ thêm:

    Con Người bắt đầu bước vào tuổi trưởng thành đã có 30 cái răng, Tây y có hơn 30 Luận án tiến sĩ về răng nhưng vẫn chưa trả lời được rõ có bao nhiêu nguyên nhân sinh học và hóa học làm rụng răng (nguyên nhân vật lý làm gẫy răng không tính đến, vì đó là “bất khả kháng” rồi).

    Đau răng thực chất là đau ở tủy răng. Nói đến tủy là phải biết ngay đó là những bó dây thần thần kinh luôn được “ngâm” trong dung dịch tủy rồi. Tây y đã tìm thấy mối liên hệ giữa răng và tim. Nhưng đứng trước câu hỏi: Đau răng làm yếu tim hay yếu tim làm đau răng? Chưa được trả lời ở tầm “tâm phục, khẩu phục”. Có thể phải có một Luận án Tiến sĩ nữa để trả lời cho câu hỏi này chăng? Cách chữa đau răng hữu hiệu nhất của Tây y là nhổ răng đau vứt đi! Xử lí như thế tức là không muốn giải quyết mâu thuẫn mà là triệt tiêu mâu thuẫn. Mâu và thuẫn luôn luôn là biểu hiện sự thống nhất của hai mặt đối lập; triệt tiêu mâu thuẫn cũng đồng nghĩa với phủ định hiện thực (phủ định sạch trơn). Giải quyết mâu thuẫn tức là phủ định của phủ định” để có hiện thực ở tầm cao hơn. Đứng ở góc độ sinh học mà nói thì cách chữa bệnh bằng “cắt bỏ” là hủy diệt sinh giới.

    Răng, ngoài chức năng trực tiếp là nghiền, xé thức ăn, nó còn là trạm ra đa tiền phương nhận diện sớm nhất về chất lượng thức ăn đưa vào cơ thể rồi truyền “Tin mới nhận được” cho tuyến thần kinh cột sống, nơi khu trú các tế bào sinh huyết chuyên sản sinh Bạch cầu của Hệ thống miến dịch. Các tế bào bạch cầu non vừa sinh ra lập tức được điều động đến tuyến ức và các hạch bạch huyết để nạp thêm nồng độ men, (enzyme) sinh chất tạo ra Kháng Thể - tương thích nhằm hoạt hóa kháng nguyên, hỗ trợ cho “Sự nghiệp tiêu hóa thức ăn” của cơ thể. Lâu nay người ta chỉ nhấn mạnh đến yếu tố miễn dịch của Hệ thống miễn dịch mà lờ đi chức phận hỗ trợ tiêu hóa thức ăn của Hệ thống này.

    Răng quan trọng như vậy nên được cấu tạo rất tinh vi. Tủy răng được bọc bằng vật liệu vừa cứng rắn lại vừa dai, chịu được cả lực nén lẫn lực kéo, lực uốn, có sức bền hơn bất cứ loại gạch nào đang dùng để xây nhà cao tầng. Bên ngoài lớp bê tông chịu lực này còn được tráng một men bảo vệ bóng như sứ, gốm có độ phản quang hấp dẫn ưa nhìn. Từ rất sớm người Việt cổ đã hiểu được tác dụng y học của răng nên đã tìm cách bảo vệ bằng biện pháp gia cường thêm một lớp cao phân tử đen nhánh có khả năng chống lại các loại men phá hủy vỏ răng. Thế thôi chưa đủ, cổ nhân còn thường xuyên dùng một hợp chất được gọi là “Huyết trầu” hay “Quyết trầu” để rửa sạch răng. Tập quán ăn trầu không chỉ làm thắm môi hồng má, tươi sắc diện mà còn là biện pháp Y tế để bảo vệ răng. Gần đây có chỉ báo ăn trầu gây ung thư vòm họng, cần thận trọng trong xét đoán bởi lẽ ăn nhiều thịt, uống nhiều rượu cũng có nguy cơ bị ung thư vòm họng còn cao hơn cả ăn trầu.

    Nghiên cứu thành phần cấu tạo nên “Miếng trầu” thấy có: Lá trầu không; quả cau; vỏ rễ cây Quạch; một chút vôi chín; một chút thuốc Lào. Tất cả các vật liệu này được răng nghiền trong miệng Người trộn lẫn với nước bọt có chứa các chất sát trùng và các men tiêu hóa làm nên Bài thuốc Ta. “Tẩy trùng”. Tôi đã dùng Bài thuốc này để chữa lành bệnh ở vùng miệng, ống tiêu hóa, lở loét ở xung quanh lỗ thải phân, bệnh ngoài da cho người nhiễm HIV bị mắc bệnh cơ hội do vi rút Herpes và nấm Candida gây ra rất thần diệu mà các thuốc Tây, thuốc Tầu cùng loại đều không sánh được. Bài thuốc Dân Gian này nếu được diễn đạt theo ngôn ngữ Tây dược thì sẽ có công thức hóa học rất hoành tráng!

    Một trong những khác biệt của Y Việt cổ truyền với các nền Y học khác là đánh giá vị thế Răng và Tóc rất cao trong cơ thể sống. Cổ nhân dạy: “Cái Răng, Cái Tóc là gốc con người”. Xin nhớ cho là gốc chứ không phải như một số người nói là “góc”. Nói góc là nói cho có vần theo kiểu “nghệ thuật thơ Bút Tre” hiếp ý để đoạt vần. Nói “góc” thì lời di huấn của Tiền nhân thành vô nghĩa, dẫn tới phản cảm, coi khinh trí tệ của Tổ tiên.

    Việc truyền bá Y học Dân gian chủ yếu bằng truyền miệng, dễ sai lạc. Tiền nhân biết thế nên đã có biện pháp rất độc đáo. Biện pháp đó là khai thác bản tính ham tiền của con ngươi. Các Cụ đã quy đổi vị thế quan trọng của Răng và Tóc trong cơ thể sống ra tiền, tức là tiền tệ hóa nó và định giá luôn: "Trăm quan đổi lấy nụ Cười/ Nghìn quan mua lấy miệng cười Răng Đen" để dân chúng thấy Răng và Tóc có giá cao như thế, cố mà giữ. Hoàng Đế Quang Trung là người trung thành với văn hóa dân tộc, trong Tuyên ngôn dánh giặc Mãn Thanh, ông nêu rất nhiều lí do quan trọng buộc dân Việt phải Đánh Tầu xâm lấn, có hai lí do khá lí thú đã được nêu: "Đánh (cho) để Tóc! Đánh để Đen răng. Trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc, để chỉ nhìn bề ngoài không lẫn với giặc Tầu, người Việt cả đàn ông lẫn đàn bà đều nhuộm răng đen, để tóc dài, riêng đàn ông luôn “búi tó củ hành”, (Hiện nay còn thấy nhiều bậc Trưởng Lão Đất Quảng và Nam Bộ vẫn búi tó củ hành). Đối với giặc Tầu, dân ta gọi nó là: “Chú Khách trọc đầu trắng răng”.

    Xin thưa, muốn sống lâu phải giữ gìn răng cho tốt. Người cao tuổi, còn một cái răng cũng quyết giữ, đừng nhẹ dạ bùi tai nghe lời dụ của thợ làm răng giả vặn nghiến chiếc răng còn sống để lắp cả hàm răng giả, tiện cho họ nhưng hại tới sức khỏe của ta. Lắp răng giả tốt có thể nghiền xé được thức ăn, nhưng vì là của giả nên nó không làm được chức phận thông tin, không làm tăng được năng lực cho Hệ thống miễn dịch. Bởi vì, suy cho đến cùng, mọi cái chết vì bệnh tật hoặc do lão hóa đều có cội nguồn từ Hệ thống miễn dịch bị suy yếu mà ra cả.

    Không chỉ cái răng mà rất nhiều bộ phận khác của cơ thể đều có ảnh hưởng đến Hệ thống miễn dịch. Ngược lại, Hệ thống miễn dịch suy yếu lập tức kéo theo hàng loạt các bộ phận khác của cơ thể bị suy yếu theo. Ngay từ rất sớm người Việt đã ý thức được điều đó nên trong Y thuật đã chú ý có cách nhìn tổng quan trong khám bệnh và chữa bệnh. Có được cái nhìn tổng quan rồi, nhưng làm thế nào để tiếp cận được với người mắc bệnh và dùng những thủ thuật gì để khám bệnh? Dưới đây là các câu trả lời.

    4.2. Khám bệnh khi “Nhân hoạt” tức làm khám bệnh khi người bệnh đang hoạt động. Thầy lang dân gian thường khám bệnh tại nhà bệnh nhân, bệnh nhân được khám trong trường hợp đang hoạt động. Những hoạt động đó không vượt quá ngưỡng gắng sức của con người như: làm việc vặt trong gia đình; quét nhà; giặt quần áo, nấu ăn, học bài. Để hiểu rõ tình hình thần kinh của bệnh nhân trong tình hình hiện nay ở Xã hội hiện đại thầy thuốc còn mang đến nhà bệnh nhân những phim truyện hay và cùng xem phim với bệnh nhân lôi cuốn bệnh nhân cùng phê bình phim với thầy thuốc. Có thể còn đánh cờ với bệnh nhân nữa. Đã gặp bốn trường hợp qua cách khám này tôi thấy họ không bị nhiễm HIV. Khi nói cho bệnh nhân nhận xét này bệnh nhân không tin. Sau thuyết phục bệnh nhân đi khám lại ở hai cơ sở y tế Nhà nước khác nhau bằng “Cửa trước” thì rõ ràng kết quả là âm tính. Người bệnh nhận án nhiễm HIV đã bốn năm nhưng lần đi khám trước là đi “Cửa sau”.

    Toàn bộ sức khoẻ của con người bộc lộ qua hành động. Trong thuật khám bệnh nhân hoạt, y học dân gian chú ý đến nhiều nhất là người bệnh sử dụng đôi mắt như thế nào, ăn uống ra sao. Người phương Tây ví đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, còn y học dân gian “bám” vào đôi mắt để khám bệnh là dựa vào toàn bộ sự đánh giá của dân gian vào đôi mắt. Con người không thể che dấu được tình cảm thật qua ánh mắt mặc dù trong hành động thực tế lại không phản ánh đúng tình cảm thật của họ. Người xưa, kín đáo trong tỏ tình: khi giai gái yêu nhau thật sự nhưng giữa đám đông họ thường không ở bên nhau mà lại là “Yêu nhau đứng ở đằng xa, con mắt liếc lại bằng ba đứng gần”. Cái con mắt liếc lại đó đã được y học dân gian sử dụng như một thiết bị khám bệnh tổng thể rất tinh vi mà có lẽ còn lâu khoa học hiện đại mới chế tạo được một thiết bị có công năng tuyệt vời đến như thế.

    Ngày nay trong xã hội hiện đại con người đã bị nhiễm phải “Virut nói dối”, nghĩ ngược nhưng nói xuôi. Nhưng với ánh mắt thì virut nói dối không xâm nhập được. Tất nhiên, với những người lưu manh chuyên nghiệp và những người có bản lĩnh cao thì ánh mắt đã được điều khiển, song sự điều khiển nhân tạo đó vẫn không thể thắng nổi từ trường điện sinh học tự nhiên tạo ra ánh mắt. Anh mắt “nhân tạo” vẫn dài dại không khôn như ánh mắt thật. Để kiểm tra hệ thống tiết hoóc môn tự động trong cơ thể người nhiễm HIV/ AIDS y học dân gian chỉ cần qua thiết bị “Con mắt liếc lại” là đọc được bệnh. Căn cứ vào cơ chế tự động tiết hoóc môn được diều khiển từ hệ thần kinh sinh dưỡng mà hệ thần kinh điều khiển không tác động được để nhận biết tình trạng tiết hoóc môn ở người bệnh. Một người đàn ông cơ thể ở trạng thái bình thường bất chấp tuổi tác, địa vị xã hội, tính khí bốc lửa hay mô phạm nhưng khi nhìn thấy một người đàn bà đẹp dù tinh vi đến mấy thì ánh mắt của con người ấy cũng phải dừng lại trên thân hình của mỹ nhân. Nếu thấy mỹ nhân mà dửng dưng thật sự, người đàn ông đó đang có bệnh mà có thể là bệnh nặng. Người đàn bà cũng thế kể cả khi đã tắt kinh, phụ nữ tuy có kín đáo hơn nhưng cũng không thể cưỡng được phản ứng tự động của hệ thần kinh dịch thể. Tất nhiên tổ tiên ta chưa biết đến hoóc môn là gì – mà loài người cũng mới biết đến nó gần 100 năm nay thôi. Diễn giải bằng ngôn ngữ Tây y để dễ thảo luận. Những người nhiễm HIV khi chưa ở giai đoạn toàn phát thường có hai biểu hiện trái ngược nhau, đàn ông thường bị liệt dương, còn phụ nữ lại có hiện tượng ngược lại.

    Ăn là hành động tiêu hoá bình thường. Nhưng khi ăn cơ thể con người vận dụng hầu hết các giác quan: thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và cả thính giác. Một bữa ăn ngon với con người có trình độ văn hoá cao là phải thoả mãn được tất cả các nhu cầu của các giác quan đó. Ăn trở thành một đại khoái cảm là vì thế.

    Bữa ăn là một niềm vui cuộc sống. Bữa ăn ở tất cả các dân tộc trên thế gian này đều được coi là biểu hiện của hạnh phúc gia đình. Tổ tiên ta khám bệnh qua quan sát hành vi ăn là căn cứ vào tổng kết của dân gian, coi đó như là một chỉ số hằng định: nam thực như hổ, nữ thực như mưu. Tiêu chuẩn này không chỉ thể hiện cốt cách của giới người mà còn là một chỉ báo của cơ thể người ở trạng thái bình thường. Thực như hổ không có nghĩa là ăn nhanh không nhai kỹ. Bạn đã thấy hổ ăn chưa? Khi chưa nhai kỹ hổ chưa nuốt thì nó chưa ngoạm miếng thứ hai. Nhưng thái độ ăn dứt khoát tập trung và vần tỏ được khí phách của chúa sơn lâm khi dùng bữa.

    Posted Image

    Tổ tiên ta luôn đòi hỏi người đàn ông làm trai cho đáng nên trai, nên ngay từ nết ăn cũng phải rất đàn ông. Người đàn ông nào khi ăn không toát ra cốt cách thực như hổ là có bệnh. Bệnh được phát hiện qua hành động ăn thường dễ thấy do rối loạn tiêu hoá cơ thể mệt mỏi ăn không ngon miệng nhưng có một loại bệnh kín mà chỉ qua khâu ăn là phát hiện được bệnh. Nếu người đàn ông nào khi ăn lại có biểu hiện thực như miu thì người đó có nguy cơ rối loạn hoóc môn và hoóc môn nữ tính trội hơn, đây là một chỉ báo của bệnh ái – ái nam ái nữ. Đối với phụ nữ cũng vậy nết ăn như miu không chỉ là sự ví von khiên cưỡng mà là sự quan sát thực tế rất nhiều đời. Con mèo dùng bữa rất ít và ăn chậm nhưng nó lại hay ăn vặt bằng cách săn bắt chuột. Có lẽ thói quen hay ăn quà vặt của người đàn bà hồi xưa mà cổ nhân chọn đó làm tiêu chuẩn sinh học hằng định qua hành vi ăn của phụ nữ. Con gái mà ăn nhanh, nhồm nhàm, ăn hùng hục là mất nữ tính, đó cũng là một chỉ báo rối loạn hoóc môn nam tính trội. Những người đàn bà này dễ mắc bệnh ái nam. Còn một chỉ báo bệnh chung cho cả hai loại người: “Ăn như rồng cuốn nói như rồng leo, làm như mèo mửa”. Đây là đích thị hội chứng của bệnh lười. Bệnh lười là một bệnh xã hội mãn tính. Thuốc chữa bệnh lười rất công hiệu là không cho ăn nữa, để: “Đói bụng đầu gối phải bò, no ăn ấm bụng chẳng dò đi đâu”.

    Ngôn y Dân gian tài tình thế đấy. Chuẩn của một bệnh xã hội mãn tính là bệnh lười mà đặt ba khâu quan trọng nhất thể hiện nhân cách: ăn, nói, làm liền nhau và đối nhau chan chát vừa mô tả đúng bệnh lại đồng thời cho văn học một hình tượng về một nhân cách chẳng ra gì đó là: lười.

    Thầy thuốc Dân gian phải khám bệnh qua quan sát bệnh nhân ăn mới thực sự nắm được cái gốc của bệnh tật. Quan sát bệnh nhân nhiễm HIV/ AIDS nhận thấy có một sự rối nhiễu của hệ thần kinh sinh dưỡng, đồng thời tác động đến cả hệ thần kinh dịch thể khiến cho khi có cảm giác đói nhưng khi ăn lại không ngon miệng, không tìm thấy niềm vui trong ăn uống. Đối với các bệnh nặng nhưng chưa phải là nan y thì chỉ qua khâu khám khi nhân hoạt là đã đủ cơ sở để luận trị bệnh. Đối với các bệnh nan y nan đoán như HIV/ AIDS chẳng hạn thì phải khám hai khâu nữa là khám bệnh khi “Nhân tình” và khám bệnh khi “Nhân tĩnh”.

    4.3. Y thuật khám bệnh khi “Nhân tình”. Nhân tình là cách nói gọn chỉ con người ở trạng thái tỏ tình. Tình cảm của con người muôn vẻ nhưng được nhóm lại ở các trạng thái: khi con người tỏ tình yêu; khi con người tỏ tình buồn; khi con người tỏ tình vui và khi con người tỏ tình tức giận; khi con ngưòi khinh bỉ; khi con người suy nghĩ; khi con người lo lắng; khi con người sợ hãi; khi con người hốt hoảng. Các nhà Nho quen diễn đạt bằng quy nạp, gọi các trạng thái này là Tình cảm (Tình tứ) và Tình Chí (Chí tình). Tình Tứ, có 4 loại: ái (yêu), ố (ghét), hỉ (mừng), nộ (giận giữ). Tình chí có 5 loại: Ưu (lo lắng); Suy nghĩ (Tư duy); bi (buồn), Bỉ (khinh bỉ ); Khủng (hoảng hốt, khủng hoảng). Trung Y cũng có 7 loại tình chí là: Hỉ; Nộ; Bi; Ưu; Tư; Kinh; Khủng. Trung Y không đề cập đến tình yêu trong chữa bệnh. Ngược lại, Y Việt phát hiện nhiều bệnh nặng trong tình Yêu có thể gây chết người, đó là: Xi mê; Ghẻ lạnh; Ghen tuông; Đố kị; Hận; Thù. Sáu loại bệnh này được gọi gộp là bệnh “Tự ái”. Vì tự yêu mình quá mà sinh bệnh mù quáng, cần được chạy chữa bằng uống thuốc “Dưỡng Tâm”; “Định thần”, “Tĩnh trí”, kết hợp với các liệu pháp vật lí và tâm lí. Một thời, người ta đã chính trị hóa bệnh tự ái, với tên gọi là “Chủ nghĩa cá nhân - một thứ bệnh của Giai cấp bóc lột”. Cách chữa cũng dùng “Chính trị khan”, bằng giáo dục tư tưởng với lời kêu gọi nổi tiếng “Quét sạch Chủ nghĩa cá nhân!”, Bệnh không khỏi mà còn có nguy cơ truyền nhiễm như một loại dịch trầm kha!

    Y học dân tộc cổ truyền luận trị bệnh Tình qua các thủ thuật làm cho cá thể tỏ tình để bộc lộ toàn bộ thể trạng tinh thần kinh. Nhờ cách khám bệnh này y học dân gian đã nhìn được HIV thâm nhập vào người bệnh ở từng mức độ khác nhau chính xác hơn cả việc “chiếu điện” bằng các thiết bị tối tân.

    Khám bệnh khi nhân tình thầy lang cần có sự giúp sức của người thân bệnh nhân và thầy lang phải có một kịch bản: diễn viên của vở kịch này là những người thân của bênh nhân, còn bệnh nhân bị cuốn vào vai chính mà không biết nên diễn xuất rất thật với thực trạng bệnh tật của cơ thể và thầy lang quan sát ghi lại các diễn biến đó có lẽ còn chính xác hơn cả chụp điện cắt lớp. Các diễn viên phải diễn làm sao để bệnh nhân tỏ tình thực sự. Các trạng thái vui buồn tức giận rạo rực và súc động trong tỏ tình, là những biểu hiện sinh động của trạng thái cơ thể.

    Khi con người tỏ tình thì không chỉ hệ thần điều khiển hoạt động mà cả hệ thần kinh sinh dưỡng; hệ thần kinh dịch thể (Hoóc môn) đều bị cuốn vào những cuộc tình này. Bệnh nhân đang cười sặc sụa bỗng dừng lại tay ôm lấy tim. Đó là chỉ báo tim rất yếu. Bệnh nhân tức giận thở hổn hển mặt tái mét rồi chuyển sang đen xạm đó là chỉ báo phổi rất yếu không cung cấp đủ ô xy cho hồng cầu. Khám bệnh qua nhân tình đã soi sáng, giải thích giống như một sự giải mã những động tác ghi nhận được khi khám bênh qua nhân hoạt. Đối với người bệnh nhiễm HIV/ AIDS thì ba trạng thái tỏ tình, ái, ố, huỷ rất mờ nhạt: lạnh nhạt trong tình yêu; mù mờ trong nỗi buồn và cười không rõ nét. Còn yếu tố “nộ” thì lại quá mức bình thường. Hầu như tất cả sự tức giận của người nhiễm HIV đối với cuộc đời này đều trút vào cái sự kiện đang trực tiếp gây tức giận cho họ. Đây là một chỉ báo xã hội vô cùng quan trọng khi mọi người tiếp xúc với người nhiễm HIV. Con người này nếu bị kẻ xấu lợi dụng sẽ là những trái bom di động được nổ bằng sự khích động liều chết.

    Cách khám bệnh Tình hiệu quả nhất là Hoạt cảnh “Lên Đồng”. Y học cổ truyền nhờ đúc kết những quan sát thực tế nhiều đời đã sáng tạo ra cách khám bệnh vô cùng độc đáo hấp dẫn đó là Lên Đồng. Thầy Lang dân gian trong vai trò Cốt Đồng, áo quần có màu sắc rực rỡ múa lượn như bay trong làn điệu hát Chầu Văn có dàn nhạc đệm thánh thót giữa một không gian ánh đèn sáng lóa, khói hương nghi ngút thơm lừng đã đưa Con Bệnh vào tâm thế mê li, “không trong lượng” làm bộc lộ toàn bộ thực trạng sức khỏe. Cốt đồng quan sát và dẫn dụ khiến con bệnh ở trạng thái bị thôi miên, nhập đồng ! Đánh Đồng Thiếp là thế đó.

    Người bệnh khi nhập Đồng sẽ quay về thế giới huyền ảo và nói ra lời những suy nghĩ âm thầm tích chứa ở trong lòng chưa bao giờ nói ra lời. Thậm chí còn nói ra cả những lời trong quá trình sống thường tưởng tượng được nghe lời của người thân đã chết tâm sự với mình. Thầy Lang trong vai Cốt Đồng nhập vai tốt sẽ đạt mức “bốc đồng“ có cảm giác đã hòa nhập vào suy tư cùng “pha” với con bệnh, thu lượm được rất nhiều thông tin về diễn biến bệnh của Con bệnh. Người Việt Cổ đã biết dùng nghệ thuật múa kết hợp với nghệ thuật âm nhạc để chữa bệnh. Tổ tiên ta tài hoa xiết bao! Lợi dụng hiện tượng này những người lưu manh chuyên nghiệp ở thời nào cũng có đã dùng thuật lên đồng gọi hồn, lừa bịp người nhẹ dạ cả tin để vụ lợi.

    4.4. Khám bệnh khi nhân tĩnh: Con người ở trạng thái tĩnh tại nhất là ngủ. Khi ngủ thực chất chỉ có hệ thần kinh điều khiển nghỉ ngơi thôi, còn 80.000 tỷ tế bào vẫn hoạt động theo Chương trình chuyển hóa. Chương trình chuyển hóa đó đã dược lập trình cho mỗi tế bào và chịu sự điều hành của Hệ thần kinh Sinh Dưỡng có sự phối hợp với Hệ thần kinh dịch thể, để cơ thể ngay trong khi ngủ vẫn thích nghi được với môi trường sống ngoài cơ thể.

    Bằng kĩ thuật “Nguyên tử được đánh dấu” khoa học hiện đại đã nhìn thấy: cứ sau 180 ngày có tới 50% phân tử Protein ở tế bào người được đổi mới hoàn toàn; cứ qua 60 ngày có 23.000 tế bào Hồng cầu được thay mới; Ở Gan sự đổi mới Protein toàn diện hơn, nhanh hơn: chỉ có 18 ngày. Cứ sau 24 giờ 5.000 tỷ tế bào trong cơ thể được “miễn nhiệm” và cũng có từng đó tế bào mới “kế nhiệm”! Sự đổi mới trong cơ thể người diễn ra liên tục, nhưng phần lớn thời điểm diễn ra Hoạt cảnh “từ chức và kế nhiệm“ là khi ta ngủ.

    Hệ thần kinh sinh dưỡng có hai hệ là hệ giao cảm và đối giao cảm đối lập nhau và tác động vào nhau tự động hoạt động để điều hoà hoạt động của các cơ quan nội quan không cần tác động của ý thức con người. Chính vì lẽ đó việc thay cũ và đổi mới trong cơ thể rất “khách quan”, không bị nạn “ô dù, bề cánh” khuynh đảo. Nếu sự chuyển hóa không “thông Đồng, Bến dọt”, một bộ phận nào đó của cơ thể không chịu đổi mới, cố giữ lại những tế bào đã “hết hạn sử dung”, lập tức “Chương trình đổi mới bị ùn tắc“, bệnh tật đều phát sinh từ sự trì trệ này mà ra. Toàn cơ thể khi đó lâm vào tình trạng suy nhược; nếu không chạy chữa sẽ tuần tiến đến suy kiệt, dẫn tới ngừng chuyển hóa, tức là Chết!

    Điều kì thú là không phải tất cả các loại tế bào đều bị thay thế, có nhiều loại tế bào được lựa chọn không bao giờ bị thay đổi, Sinh - Y gọi là tế bào đó đã biệt hóa, tức không phân chia ngay từ khi hình thành ở trong phôi, bền vững suốt đời, như các tế bào thần kinh (nơron), Có những loại tế bào, phát triển đến ngưỡng cơ thể đã trưởng thành thì ngừng phân chia và đi vào biệt hóa, như: các tế bào cấu tạo nên quả tim; phổi; xương; gan; các tế bào xương đã được cốt hóa. Tuy không bị thay thế về chức vị (cấu hình hệ thống), nhưng Protein cấu tạo nên tế bào đó vẫn luôn được đổi mới, tức là nó vẫn phải có sức trẻ. Gan là một ví dụ điển hình: Các tế bào Gan đã được biệt hóa, tức là không phân chia nữa, nhưng tốc độ đổi mới Protein ở Gan rất cao. Quan sát chuyển hóa tự nhiên ở cơ thể người cho ta một mô hình tuyệt vời về nghệ thuật tổ chức bộ máy và việc sử dụng “cán bộ” đan xen giữa cán bộ Già và Trẻ bảo đảm tính kế thừa vững chắc và cách tân liên tục của sự sống. Phải chăng sự hiện diện của cơ thể sống là một mách bảo, một mẫu hình giúp loài người tổ chức xã hội đúng đắn nhất? Nếu con người không nhận ra sự mách bảo đó, tự cho mình giỏi hơn tự nhiên, tổ chức bộ máy quản lí xã hội khác đi, lập tức bị trừng phạt. Sự trừng phạt đó chính là khủng hoảng xã hội và mẫu hình tổ chức bộ máy quản lí xã hội trái với tự nhiên đó dù có duy trì hàng trăm năm vẫn bị tan rã. Phải chăng căn bệnh không chấp nhận đổi mới là do không hiểu lẽ đời đã dẫn tới thảm họa suy vong của những dân tộc đã có thời chói sáng trong lịch sử Nhân loại? Đây không phải là câu hỏi lạc đề của một lang thuốc đang bàn về y thuật cổ truyền trong khám bệnh. Bởi lẽ, cả nhà Chính khách và thầy Lang đều có bổn phận chạy chữa các căn bệnh không chỉ ở con người sinh học mà cả con người xã hội đều mắc phải. Cả Ngài Chính Khách và Thầy Lang đều có thể tìm thấy lẽ đời đang tích chứa trong Sinh - Y học.

    Bằng trải nghiệm thực tế sống nhiều nghìn năm, tổ tiên người Việt đã nhận ra cái mà các cụ gọi là “Thiên Cơ”, dân gian gọi là lẽ đời đó đã ẩn chứa trong cơ thể người mà hình thành nên cách khám bệnh khi nhân tĩnh chăng? Dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, khám bệnh khi nhân tĩnh chính là tầm soát quá trình chuyển hóa vật chất trong cơ thể sống.

    Ý thức của con người là một trở ngại rất lớn cho các thầy thuốc khám bệnh; đặc biệt rất khó với thầy lang dân gian. Khám bệnh trong khi bệnh nhân thức, ý chí của con người hoạt động. Vì một lý do nào đó, người bệnh không trả lời đúng thực tế tình trạng sức khoẻ cho thầy thuốc biết, mà còn gây rối cho thầy thuốc. Khi thầy thuốc lấy tay ấn mạnh vào một huyệt đạo nào đó để thăm bệnh, gây đau nhưng bệnh nhân lại nói không đau. Khi mới chỉ đưa tay lướt nhẹ trên da lại kêu toáng lên là rất đau.

    Thầy lang dân gian khi phải khám bệnh cho người bệnh là trí thức, đặc biệt khó hơn khi vị trí thức bệnh nhân đó lại là chuyên gia của y học bác học. “Cái bẫy” của các vị bệnh nhân này giăng ra là để kiểm chứng năng lực thực sự của thầy lang dân gian. Nếu chỉ khám bệnh cho đối tượng này theo y thuật của y học bác học thì lang ta cầm chắc là đo ván. Nhưng khi tiến hành khám bệnh đồng bộ: Nhân hoạt, nhân tình, nhân tĩnh thì các bẫy kia dù tinh sảo đến mấy cũng bị hoá giải.

    Công cụ để lang thuốc dân gian hoá giải được các bẫy do đồng nghiệp gây ra lại chính là đôi mắt. Mắt là cái nhìn trực diện của não bộ. Khi đồng tử mở rộng là chụp hình, khi đồng tử thu hẹp là thu hình. Nếu nói đúng những điều người nghe chờ đợi thì đồng tử thu hẹp, nếu nói không đúng những diều người nghe mong đợi thì đồng tử mở rộng hơn (Dân gian gọi là trố mắt ra). Tất nhiên không thể lúc nào cũng nhìn thấy nhịp đóng mở của ống kính mắt mà có một cơ mắt chỉ báo hiện tượng này đó là cơ chân lông mày. Lông mày giãn ra là đồng tử mở rộng. Lông mày nhíu lại là đồng tử thu hẹp. Đây cũng là nguyên lý cơ bản để thực hiện thuật dẫn trí.

    Thuật dẫn trí rất phức tạp nhiêu khê nhưng cơ bản là làm sao cho người bị dẫn trí có cơ chế đóng mở đồng tử khớp theo nhịp đóng mở của người dẫn trí. Dẫn trí đến đỉnh cao là người dẫn trí nghĩ gì, muốn làm gì thì người bị dẫn trí cũng có suy nghĩ tương tự như thế và hành động theo người dẫn trí. Tuy nhiên dẫn trí chỉ có tác dụng khi người bị dẫn trí suy nhược hệ thần kinh điều khiển. Thuật dẫn trí nhằm mục đích giúp người bệnh không hoảng hốt, cô đơn trong chữa bệnh.

    Thuật dẫn trí được y học dân gian sử dụng để chữa trị cho người mắc bệnh tâm thần và chỉ có tác dụng khi hệ thần kinh điều khiển của người đó bị tê liệt. Khi hệ thần kinh điều khiển được hồi phục thì thuật dẫn trí vô nghiệm.

    Khi con người ngủ, hệ thần kinh điều khiển cùng các công cụ nghe nhìn, ngửi (Ngũ quan) ngủ, hệ thần kinh sinh dưỡng tự nó điều khiển cơ thể sống, thầy thuốc dân gian nhờ kinh nghiệm gia truyền gần như nhìn thấy toàn bộ nội quan hoạt động. Chỉ cần nghe hơi thở là biết tất cả các cơ quan có hoạt động nhịp nhàng hay đang vướng rối ở nơi nào. Qua hơi thở thầy thuốc thấy như “Máu reo” trong cơ thể.

    Nếu cơ thể không bị nhiễm trùng, hệ bạch mạch thông suốt máu reo như tiếng gió ở trời thu. Nếu cơ thể nhiễm trùng thì không nghe thấy tiếng reo nhẹ nhàng mơ hồ đó mà như thấy có sỏi sạn đang lộn sộn ở mạch huyết.

    Động tác cuối cùng để hội chẩn y thuật khám bệnh khi nhân tình là kiểm mộng. Bệnh nhân ngủ dậy ngồi chơi nói chuyện với thầy lang. Thầy lang từ từ hỏi bệnh nhân những giấc mộng thường gặp trong khi ngủ mười ngày gần đó. Người nhiễm HIV giai đoạn đầu thường kể lại rất rõ những giấc mộng trong mười ngày qua. Nếu đúng nhiễm HIV thật thì các giấc mộng gần như lặp lại, tuy không giống y nhau nhưng cốt chuyện giống nhau: như gặp người thân từ thời thơ ấu. Thậm chí còn gặp cả những người thân đã chết khi người bệnh chưa ra đời mà chỉ nghe bố mẹ kể lại, hoặc bị kiến đậu khắp người nhưng không cắn...

    Những người bị nhiễm HIV/ AIDS giai đoạn cuối cứ đặt mình ngủ là thấy ác mộng, hình ảnh thường gặp giống như những con ma trong phim ma của nước ngoài. Họ sợ hãi đến mức không dám ngủ, đó chính là nhân tố thúc đẩy bệnh trầm trọng thêm. Dựa trên cơ sở nào mà cổ nhân dùng y thuất định mộng để luận trị bệnh?

    Qua nghiên cứu, bí mật của giấc mộng có thể tóm lược như sau:

    Hệ thần kinh sinh dưỡng không phải là yếu tố duy nhất, bảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nội tạng. Các hoóc môn, sản phẩm của tuyến nội tiết cùng tham gia vào công việc này. Cũng cần nói rõ rằng việc điều tiết các hoóc môn phần nhiều là sự điều phối của hệ thần kinh sinh dưỡng, nhưng hệ thần kinh sinh dưỡng cũng lại chịu sự tác động trở lại (Feed back) của các hoóc môn tới một tuyến ở tận “Trung ương” đó là tuyến yên nhỏ bằng hạt đậu trắng nằm ở nền sọ, có liên quan đến vùng dưới đồi thuộc não trung gian.

    Hoóc môn tiết ra từ tuyến yên kích thích các tuyến khác tiết hoóc môn để kìm chế hoạt động thái quá ở một bộ phận nào đó của cơ thể. Tuyến yên nhận từ các hoóc môn những tin hoá học ở các tế bào trong cơ thể gửi về (Hoóc môn là một chất đưa tin) để kích thích tuyến yên phát ra các tín hiệu đến các tuyến ngoại vi. (Hệ thống thần kinh – hoóc môn này đã là chủ đề của nhiều công trình nghiên cứu trong những thập niên cuối thế kỷ 20). Hệ thống này liên tục cung cấp thông tin cho tuyến yên nằm trong não bộ kể cả lúc con người ngủ.

    Các thông tin hoá học từ các tế bào gửi về tuyến yên kết hợp với những thông tin khác não thu được qua máu lưu thông từ các dịch bào trung gian (Cytokiens - từ các tế bào tiết ra, từ gan...). Tất cả các thông tin mà não mới thu được trong giấc ngủ, kết hợp với các thông tin trong các bộ nhớ đã tạo ra đời sống thứ hai (đời sống ảo) cho người khi ngủ – đó là giấc mơ.

    Cho đến nay, giấc mơ vẫn còn là bí ẩn vì có rất nhiều chủ thuyết nhưng chưa được các nhà bác học đồng thuận. Qua kinh ngiệm khám chữa bệnh bằng y thuật định mộng và kiểm định ở chính bản thân cho rằng: Cơ chế đưa tin của tuyến hoóc môn và dịch bào trung gian chính là chất kích thích làm các kỷ niệm trong bộ nhớ của não chuyển động. Người khoẻ mạnh có sức đề kháng lấn át sức công phá của vi trùng, các thông tin trong cơ thể thuần tính người nên có mộng đẹp. Cơ thể nhiễm trùng độc hại có ác mộng vì bản thân ký sinh trùng (run, sán, vi khuẩn, vi rút) cũng là chất đưa tin. Phải chăng những ảnh ảo quái dị trong ác mộng chính là thông tin do ký sinh trùng phát ra để làm nhiễu mạch tin trong cơ thể người? Phải chăng những thông tin đó là phiên bản do chúng gửi tới não bộ người? Y học dân gian coi ác mộng là một chỉ báo, rõ nhất về cơ thể bị nhiễm Tà Trùng độc hại.

    Sau y thuật định mộng, quy trình khám bệnh của y học dân gian kết thúc vì đã có thể đọc được bệnh ở cơ thể người mắc bệnh.

    Còn nữa...

    Nguồn: vietycotruyen.com