• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

VIETHA

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    967
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    4

Everything posted by VIETHA

  1. Trường hợp này họ bị lạc vào không gian khác mà có thời gian trôi nhanh hơn nên họ bị già đi. Chỉ trong 1 tíc tắc mà họ đã cách xa tới 10000 km điều này cũng lý giải tại sao mà đĩa bay có thể xuất hiện và biến mất trong nháy mắt bởi vì họ đã khắc phục được các không gian khác
  2. Mỹ thừa nhận Ebola có thể lây lan trong không khí Các chuyên gia ngày càng bày tỏ quan ngại rằng, virus Ebola có thể lan truyền qua các giọt lơ lửng trong không khí. Điều này sẽ giúp lý giải việc gia tăng chưa từng thấy số ca nhiễm Ebola trong năm 2014. Giám đốc Trung tâm Phòng ngừa và kiểm soát bệnh dịch Mỹ (CDC) Tom Frieden đã lên tiếng thừa nhận, virus Ebola có thể lây lan trong không khí. Tiến sĩ Michael Osterholm, giám đốc Trung tâm nghiên cứu và chính sách về bệnh truyền nhiễm thuộc Đại học Minnesota (Mỹ) cũng chia sẻ quan điểm này. Ông Osterholm bày tỏ: “Đây là mối bận tâm riêng rẽ lớn nhất trong 40 năm làm nghề chăm sóc sức khỏe cộng đồng của tôi. Trong sự nghiệp của mình, tôi không thể tưởng tượng thứ gì đó, kể cả HIV, có khả năng hủy hoại thế giới nhiều hơn virus Ebola truyền nhiễm qua đường hô hấp”. Mặc dù chúng ta có thể chưa hay tin trên các phương tiện thông đại chúng, nhưng cách đây không đầy 2 tháng, CDC đã cập nhật tiêu chuẩn đánh giá của họ về việc truyền nhiễm Ebola, tăng thêm điều kiện “ở cùng trong phạm vi 0,9 mét” hoặc “trong cùng phòng” với ai đó nhiễm virus. Website của CDC có nêu rõ: “Việc phơi nhiễm Ebola nguy cơ thấp bao gồm bất kỳ trường hợp nào trong số sau đây: các thành viên trong gia đình hoặc người tiếp xúc thông thường khác với bệnh nhân mang mầm bệnh; người chăm sóc bệnh nhân hoặc người tiếp xúc thông thường không có phơi nhiễm nguy cơ cao với bệnh nhân Ebola trong các cơ sở chăm sóc y tế ở những nước chịu ảnh hưởng của dịch bùng phát. Trong đó, việc tiếp xúc thông thường được định nghĩa là a) trong phạm vi xấp xỉ 0,9 mét hoặc trong cùng phòng hoặc nơi chăm sóc suốt một thời gian dài, mà không mặc các thiết bị bảo hộ cá nhân đề xuất hoặc B) tiếp xúc trực tiếp, chớp nhoáng (chẳng hạn như bắt tay) với một người nhiễm Ebola trong khi không sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân đề xuất”. Một nghiên cứu tiến hành năm 2012 cho thấy, virus Ebola có thể di chuyển qua lại giữa lợn và khỉ, vốn được nhốt ở các chuồng riêng rẽ và không bao giờ được đặt tiếp xúc trực tiếp. Trả lời phỏng vấn hãng tin BBC cách đây 2 năm, tiến sĩ Gary Kobinger đến từ Phòng thí nghiệm vi sinh vật quốc gia thuộc Cơ quan quản lý sức khỏe cộng đồng Canada tin rằng, Ebola đã lây lan thông qua các giọt lơ lửng trong không khí. Chuyên gia này giải thích, điều mà ông và các cộng sự nghi ngờ là, Ebola đang truyền nhiễm thông qua các giọt lớn, có thể ngưng đọng trong không khí, nhưng không lâu và không thể dịch chuyển xa. Tuy nhiên, những giọt chứa virus Ebola có thể được hấp thu vào đường thở của người, bắt đầu gây nhiễm trùng. Các nhà nghiên cứu đã thu được nhiều bằng chứng về việc mầm bệnh nguy hiểm thâm nhập theo cách này ở phổi của động vật linh trưởng không phải con người. Chủng virus Ebola đang hoành hành tại Tây Phi hiện không phải là Ebola Zaire, mà là một chủng mới. Theo CDC, chủng virus này về mặt di truyền giống chủng Ebola Zaire khoảng 97%. Đây là lí do khiến tiến sĩ Gil Mobley, một chuyên gia về bệnh dịch học Mỹ, nhận định, CDC đang “ém nhẹn” mức độ đe dọa của Ebola đối với nước Mỹ. Dẫu vậy, một bộ phim tài liệu mới hé lộ, CDC đang rất quan ngại về khả năng truyền nhiễm trong không khí của Ebola. Các nhân viên hàng không đã được yêu cầu cung cấp khẩu trang phẫu thuật cho bất kỳ ai nghi ngờ nhiễm virus để “giảm thiểu số lượng giọt bắn vào không khí thông qua trò chuyện, ho hoặc hắt hơi”. Nhiều chuyên gia đang hoài nghi về khả năng truyền nhiễm của Ebola và đặt câu hỏi “Nữ y tá người Tây Ban Nha đã trở thành người đầu tiên trên thế giới nhiễm Ebola bên ngoài châu Phi như thế nào?”. Ủy ban châu Âu thực tế đã yêu cầu Tây Ban Nha giải trình về cách nhân viên chăm sóc y tế này bị nhiễm bệnh, nếu virus không phải lây lan trong không khí. Các chuyên gia cũng muốn làm rõ việc một nhà quay phim của hãng thông tấn NBC, vốn mặc đồ bảo hộ kín toàn thân, đã nhiễm Ebola như thế nào. Việc trả lời các câu hỏi cơ bản như thế này được coi là vô cùng cần thiết trong bối cảnh Mỹ và các nước khác không hẳn được loại trừ trước nguy cơ bùng phát Ebola trên chính vùng đất của họ. Theo VNN
  3. Năm 1954, Harry Logan và Derek Norton ngồi trong một khinh khí cầu bay qua tam giác quỷ Bermuda đã biến mất một cách thần bí. Đến mùa xuân năm 1990, trong một cuộc thi đấu khinh khí cầu ở Cuba, chiếc khinh khí cầu đã mất tích 36 năm trước, đột nhiên xuất hiện. Người dân Cuba tưởng đó là vũ khí bí mật của Mỹ. Một nhà vật lý học người Anh thuộc trường Đại học Cambridge cho rằng, về mặt lý thuyết, việc thực hiện đi xuyên qua thời-không (thời gian và không gian) là có thể, nếu một hố sâu (wormhole) mỏng được bảo trì trạng thái mở trong một thời gian đủ lâu, người ta sẽ có thể sử dụng mạch ánh sáng để truyền đi những tin tức vượt qua thời gian và không gian. Liệu chúng ta có thể đi vào tương lai như bộ phim “Back to the Future” (Trở lại tương lai) được không? Điều này nghe có vẻ phi lý nhưng đã được Giáo sư Luke Butcher chứng minh. “Lỗ Sâu” là đường hầm chật hẹp có thể tồn tại, nó có khả năng liên kết hai thời-không khác nhau trong vũ trụ. Nhiều người nghĩ rằng điều này là không thể, nhưng họ vẫn luôn hy vọng ý tưởng có thể trở thành hiện thực, đây cũng chính là điều mà một số nhà khoa học đang cố gắng giải đáp các ẩn đố này. Giáo sư vật lý học người Anh Luke Butcher ở trường Đại học Cambridge cho rằng, về mặt lý thuyết, việc thực hiện đi xuyên qua thời gian và không gian (gọi tắt thời-không) không phải bất khả thi, nếu một lỗ sâu (wormhole) được bảo trì ở trạng thái mở trong một thời gian đủ lâu, người ta truyền những tin tức vượt thời-không thông qua các vi mạch ánh sáng. Mô phỏng một lỗ sâu (wormhole) trong trường thời gian và không gian Theo Wikipedia, “Lỗ Sâu” còn được dịch là “Hố Sâu”, “Động Sâu”, hay “Cầu Einstein – Rosen”, là đường thông đạo chật hẹp liên kết hai thời-không với nhau, có thể tồn tại trong vũ trụ. Lỗ Sâu là một khái niệm được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1916 bởi nhà vật lý người Áo Ludwig (Ludwig Flamm), vào những năm 1930, trong khi Albert Einstein và Nathan Rosen nghiên cứu các phương trình trường hấp dẫn, hai người họ đã đưa ra một giả thiết: Thông qua các Lỗ Sâu có thể dịch chuyển thời gian theo không gian hay còn gọi là “du hành vượt thời gian”. Tuy nhiên, trong lý thuyết của Einstein, cho dù Lỗ Sâu có tồn tại thì thời gian mà nó bảo trì trạng thái mở vẫn không đủ để con người, thậm chí là chỉ vật chất ở dạng một hạt cực nhỏ xuyên qua. Loại trạng thái đóng này được gọi là “Sụp đổ đường hầm” (Collapsing tunnel). Chiều dài lớn hơn chiều rộng, trạng thái mở của Lỗ Sâu có thể được bảo trì khá lâu. Việc đi xuyên qua thời-không được gọi là “Hiệu ứng Casimir” (Casimir Effect) năng lượng phụ, hoặc có thể khiến Lỗ sâu được bảo trì ở trạng thái mở trong thời gian tương đối lâu Giáo sư Luke Butcher đã đề xuất một lý thuyết: Nếu chiều dài của Lỗ sau lớn hơn nhiều so với chiều rộng của nó, trong đó tự nhiên sản sinh “Năng lượng Casimir”, thì có thể khiến cho một Lỗ sâu giữ được trạng thái mở lâu hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất tại Đại học Cambridge cho thấy, một số Lỗ sâu có thể bảo trì trạng thái mở với thời gian khá lâu, đủ để con người truyền đi thông tin qua lại tại hai đầu của hai thời-không. Năm 1988, nhà vật lý tại học viện Caltech Kip Thorne cho rằng, việc đi xuyên qua thời-không được gọi là “Hiệu ứng Casimir” (Casimir Effect) năng lượng phụ, hoặc có thể khiến Lỗ sâu được bảo trì ở trạng thái mở trong thời gian tương đối lâu. “Hiệu ứng Casimir” dựa trên khái niệm “chân không không phải là trống rỗng” trong lý thuyết trường lượng tử: Nếu chân không không tồn tại vật chất mà vẫn có sự tăng giảm năng lượng, như hai bản kim loại trung tính (không mang theo điện) được đặt trong chân không sẽ sinh ra lực hút. Hiệu ứng này chỉ xảy ra trong khi khoảng cách giữa hai vật thể rất nhỏ, lúc đó mới có thể đo thấy được. Giáo sư Butcher (Luke Butcher) tại đại học Cambridge đề xuất một lý thuyết: Nếu chiều dài của Lỗ sâu lớn hơn nhiều so với chiều rộng của nó, thì “năng lượng Casimir” sẽ tự nhiên được sinh ra bên trong và có thể bảo trì trạng thái mở cho Lỗ sâu trong thời gian lâu hơn. Ông Butcher cho biết: “Lỗ sâu là một cấu trúc hình ống. Thông qua nghiên cứu mới này cho thấy, nếu chiều dài Lỗ sâu lớn hơn chiều rộng nhiều lần, trung tâm của nó có thể sinh ra năng lượng phụ”. Mô phỏng một Lỗ sâu có dạng hình ống. Đầu kia của Lỗ sâu sẽ xuyên suốt qua thời gian. Theo ông Butcher, lỗ sâu bảo trì khoảng thời gian đủ dài để một quang tử (photon) xuyên việt thời-không. Theo lý thuyết này, các photon có thể giúp chúng ta truyền tải các tin tức và nội dung, gửi đến tương lai, hoặc quá khứ. Nhà khoa học nổi tiếng người Mỹ Giáo sư John Bukai cũng có nhận xét rằng, “đường hầm thời-không” tồn tại một cách khách quan, không thể nhìn thấy, không thể sờ thấy, không thể phát hiện, mà nó có xuất hiện ngẫu nhiên; đường hầm thời-không và thời-không mà nhân loại đang tồn tại trong đó là không cùng một hệ thống, trong đường hầm thời-không, thời gian có mang tính đảo ngược, có thể dịch chuyển xuôi – ngược”. Di chuyển 6.000 km trong tích tắc Mô phỏng Di chuyển vượt không gian từ Chascomus đến Mexico Một nhà vật lý học tại trường Đại học Cambridge cho rằng, về mặt lý thuyết, việc xuyên việt thời-không là có khả năng thực hiện, nếu một Lỗ sâu mỏng được bảo trì trạng thái mở trong một khoảng thời gian đủ lâu, mọi người có thể sử dụng xung mạch ánh sáng xuyên qua thời-không để truyền thông tin. Trong khi các nhà khoa học đang nỗ lực chứng thực chứng minh tính khả thi của việc xuyên việt thời-không, thì trong lịch sử đã từng xảy ra một số sự kiện siêu nhiên chưa thể giải thích, có lẽ đây chính là những bằng chứng thực tiễn về hiện tượng vượt thời-không. Sự kiện “Di chuyển vượt không gian từ Chascomus đến Mexico” (Teleportation from Chascomus to Mexico) của cặp vợ chồng Tiến sĩ Dahl Gaylard ở Argentina vào năm 1968 được đăng tải trên Wikimedia và các tờ báo của Argentina. Vào tối ngày 1/6/1968, hai chiếc xe Limousine ở ngoại ô Buenos Aires, Argentina đang phi nước đại về phía trước, hai chiếc xe này được điều khiển bởi vợ chồng Tiến sĩ Luật ông Dahl Gaylard và hai người bạn thân trong chuyến đi thăm một người bạn khác. Họ đồng khởi hành từ phía Nam thành phố Buenos Aires. Khi sắp tiếp cận ngoại ô thành phố, chiếc xe của Tiến sĩ Gaylard đột nhiên biến mất. Hai người bạn đi trên chiếc xe Limousine phía trước nhìn qua gương chiếu hậu không thấy đã dừng và thậm chí quay trở lại tìm kiếm vợ chồng ông Gaylard nhưng vẫn không thấy. Đây là một con đường thẳng không có ngã rẽ, trên đường không có một chiếc xe hay mảnh vỡ nào. Ngày hôm sau, họ gọi cho người thân và bạn bè trợ giúp tìm kiếm các khu vực xung quanh nhưng vẫn không thấy tăm hơi của hai vợ chồng Tiến sỹ Gaylard. Hai ngày sau (3/6/1968), họ nhận được cuộc gọi điện thoại từ lãnh sự quán Argentina tại Mexico. Điện thoại cho biết: “Có một cặp đôi tự xưng là vợ chồng Tiến Sỹ Luật Gaylard đang ở chỗ chúng tôi. Bạn có biết họ không?” Hóa ra cặp vợ chồng Tiến Sỹ Luật Gaylard đang ở thành phố Mexico. Họ đã biến mất khỏi ngoại ô thành phố Chascomus ở Argentina và xuất hiện ở nơi này, khoảng cách từ hai địa điểm lên tới 6.000 km. Kỳ lạ hơn nữa là ngay cả chiếc xe của cặp vợ chồng tiến sĩ cũng xuất hiện tại lãnh sự quán Argentina tại Mexico. Trưởng lãnh sự quán ở đó xác nhận, vào ngày 3/6 vợ chồng tiến sĩ Gaylard quả thực đã ở đó. Tiến sĩ Gaylard kể lại, khi họ lái xe rời khỏi thành phố Chascomus, vào khoảng 12h10 đêm, phía trước xe bất ngờ xuất hiện một màn sương trắng. Họ lập tức phanh gấp và nhanh chóng rơi vào trạng thái mất hết tri giác. Khi tỉnh giấc thì trời đã sáng, cảnh tượng bên ngoài cửa sổ xe không giống chút nào so với vùng đồng bằng ở Argentina. Sau khi xuống xe và tìm hiểu, họ thấy mình đang ở Mexico. Hai vợ chồng cảm thấy vô cùng kinh ngạc, liền hỏi đường tới lãnh sự quán Argentina để xin giúp đỡ. Vào thời điểm đó, họ phát hiện chiếc đồng hồ đeo tay đã dừng lại đúng vào thời khắc họ ở Argentina lúc 12: 10 ngày 3/6″. Khinh khí cầu trở lại sau 36 năm mất tích Nhiều vụ mất tích bí ẩn ở tam giác quỷ Bermuda Năm 1954, Harry Logan và Derek Norton ngồi trong một khinh khí cầu bay qua tam giác quỷ Bermuda đã biến mất một cách thần bí. Đến mùa xuân năm 1990, trong một cuộc thi đấu khinh khí cầu ở Cuba, chiếc khinh khí cầu đã mất tích 36 năm trước, đột nhiên xuất hiện. Người dân Cuba nghĩ rằng đó là vũ khí bí mật của Mỹ. Logan và Norton cho biết, khi hai ông đang tham gia một cuộc thi đấu khinh khí cầu vào năm 1954 tại San Juan Puerto Rico, bỗng thấy khắp người đau nhức như bị kim châm, cảm giác như có một dòng điện nhẹ chạy qua cơ thể, sau đó họ cảm thấy một cơn đau kịch liệt. Tất cả mọi thứ xung quanh, bao gồm cả bầu trời và đại dương đều chuyển sang màu đỏ, sư việc tiếp theo mà họ biết là có một chiếc máy bay chiến đấu theo dõi khinh khí cầu, ra lệnh cho họ hạ xuống, và đó là lúc họ đang ở Cuba. Ông Calvin Callaway, chuyên gia chuyên nghiên cứu các hiện tượng siêu nhiên tại Chicago, cùng đồng nghiệp xác nhận chiếc khinh khí cầu đã bị tam giác quỷ Bermuda hút vào. Những gì Logan và Norton đã trải qua có vẻ như chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng thực sự họ đã trải qua 36 năm. Những sự kiện vượt thời-không khác trong lịch sử, như các tàu thuyền và máy bay biến mất một cách thần bí tại tam giác quỷ Bermuda, cũng như trải nghiệm ở Philadelphia, cho tới bài báo cáo về hiện tượng “đường hầm thời gian” ngày 23/5/2013, v.v.. liệu có phải là lối vào của các Lỗ sâu (cánh cửa thời gian)? Giáo sư Longboat Key cho biết, trong thế giới vật chất tại Trái Đất này, việc tiến nhập vào “đường hầm thời gian” đồng nghĩa với hiện tượng biến mất một cách bí ẩn, và việc xuất hiện trở lại “đường hầm thời gian” cũng là sự tái hiện đầy bí ẩn. Vì thời gian trong “đường hầm thời gian” có thể tương đối tĩnh, do đó việc mất tích mấy chục năm cũng chỉ giống như trong nháy mắt. Cảm giác sai về thời gian – “Quá khứ, hiện tại và thời gian là đồng thời tồn tại” Quá khứ, hiện tại và thời gian phải chăng là đồng thời tồn tại? Người Đông Phương có câu: “một ngày ở trên trời, ngàn năm dưới mặt đất”, xuất phát từ tích cổ “Lạn Kha Sơn”. Đông Tấn Ngu Hỉ trong “Chí Lâm” có ghi: “Tại núi Tín An có một động đá, Vương Chất vào trong nhìn thấy hai cậu bé đang chơi cờ, liền đứng xem. Ván cờ chưa kết thúc, nhìn thấy thế cờ đã đi vào tàn cuộc, bèn quay trở ra, thì thấy làng quê đã biến đổi hoàn toàn. Những câu chuyện tương tự như vậy trong các tác phẩm cổ thư khác như “Tấn Thư”, “Thủy Kinh Chú”, “Thuật Dị Ký”, “Động Tiên Truyền” đều có ghi chép, điều này cho thấy người thời đó cũng đã trải nghiệm xuyên việt thời-không , và cũng như sự sai biệt thời gian giữa các không gian khác nhau. Einstein từng nói: “Sự khác biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai mà con người nhìn nhận chỉ là một sự trì hoãn tồn tại một cách ảo tưởng, thời gian không chỉ như chúng ta nhìn thấy, nó không chỉ chuyển động theo một hướng, mà hiện tại, quá khứ và tương lai là đồng thời tồn tại”. Einstein từng nói: Quá khứ, hiện tại và tương lai cùng tồn tại Giáo sư Đại học Columbia về vật lý và toán học, nhà vật lý lý thuyết Brian Greene, đã thuyết trình chủ đề mang tên “Ảo tưởng về thời gian: Quá khứ, hiện tại và tương lai cùng tồn tại”, giải thích việc hiểu lầm về thời gian của chúng ta. Bài diễn thuyết nói rằng: toàn thể vũ trụ giống như một ổ bánh mì lớn. Mỗi một điểm thời gian độc lập giống như từng lát cắt bánh mỳ đồng thời tồn tại. Quá khứ không hề biến mất, và tương lai đã tồn tại ở một nơi nào đó. Toàn bộ vũ trụ là một cấu trúc thông tin toàn ảnh ký (Hologram). Mỗi thời gian, không gian tồn tại những tín tức khác nhau, và đồng thời tồn tại trong vũ trụ. Video: Các nhà khoa học khẳng định vũ trụ ba chiều của chúng ta phản ánh tình hình vật thể tồn tại trong các không gian. Theo Đại Kỷ Nguyên
  4. Thông qua những dữ liệu từ NASA, nhiều người đã hoài nghi có thể tồn tại sự sống trên Sao Hỏa. Điều này đã được củng cố thêm khi ông Charles Bolden, lãnh đạo NASA, tiết lộ sự thật về hành tinh đỏ trong cuộc phỏng vấn với đài ITV News của Anh. Ông Charles Bolden, lãnh đạo NASA, tiết lộ “Sự sống trên Sao Hỏa là có tồn tại”. Ngày ra thông báo: 9/10/2014. Nơi thông báo: Nước Anh Nguồn: ITV News, Anh Quốc Nguồn Link URL: http://goo.gl/S4Rl0R Lãnh đạo NASA, ông Charles Bolden tuyên bố: “Sao Hỏa là một hành tinh chị em của Trái Đất. Nó là nơi từng tồn tại sự sống trong hệ Mặt Trời, ngoại trừ Trái Đất… và bây giờ cũng có thể vẫn tồn tại sự sống”. Đây là lần đầu tiên một lãnh đạo của NASA công khai tuyên bố có tồn tại sự sống trên hành tinh đỏ này. Tuyên bố này là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy những hoài nghi ngờ của các chuyên gia tìm kiếm sự sống ngoài hành tinh là có thật. Thậm chí lãnh đạo NASA còn cho biết, có thể hiện nay hành tinh này vẫn còn tồn tại sự sống. Lãnh đạo NASA, ông Charles Bolden nói trong cuộc phỏng vấn với đài ITV News. Ông Bolden tiết lộ trong video có phần ấp úng, có thể ông phải đấu tranh với bản thân, cũng như suy nghĩ rất kỹ trước khi tiết lộ thông tin này. Sâu thẳm trong ông, có thể vẫn còn nhiều bí mật khác mà ông chưa dám tiết lộ. Video lãnh đạo NASA tiết lộ sự sống trên Sao Hỏa đã và đang tồn tại: Theo Ufosightingsdaily http://tinhhoa.net/lanh-dao-nasa-tiet-lo-su-song-tren-sao-hoa-da-va-dang-ton-tai.html
  5. Đệ tam thiên “Kê Long luận” Lời tựa: Thiên này chủ yếu đàm luận về Đại Thánh nhân “Trịnh bản thiên thượng vân trung Vương, Tái lai kim nhật Trịnh thị Vương”, lai lịch của Đại Thánh nhân cũng như khái quát tình huống tạm thời bị trấn áp và bức hại của Pháp Luân Công. Thiên hạ liệt bang hồi vận, Cấn hoa Triều Tiên Kê Long địa. Thiên tung chi Thánh hợp đức cung, Bối cung chi gian lưỡng bạch tiên. “Thiên hạ liệt bang hồi vận, Cấn hoa Triều Tiên Kê Long địa” (Các nước thiên hạ vận trở về, Triều Tiên dâm bụt đất Kê Long): Vận tu luyện Pháp Luân Công của các nước toàn thiên hạ trở về với Hàn Quốc (“Triều Tiên”), nơi lấy hoa dâm bụt làm quốc hoa. “Thiên tung chi Thánh hợp đức cung, Bối cung chi gian lưỡng bạch tiên” (Thánh đến từ trời cung hợp đức, Ở giữa lưng cung hai tiên trắng): Đây là chỉ đồ hình Pháp Luân, gọi là “hợp đức cung”, tức cung tu tâm thành đức. Cụm từ “Thiên tung chi Thánh” ở đây khiến người ta suy ngẫm. Đây là “cung hợp đức” của “Thánh đến từ trời”, về điểm này thì người sáng lập Pháp Luân Công cũng giảng qua rồi. “Bối cung chi gian lưỡng bạch tiên”, “bối cung” tức Thái Cực với hai nửa Âm-Dương đấu lưng vào nhau; “lưỡng bạch tiên” chỉ hai chấm trắng nằm giữa hai cung Âm-Dương của Thái Cực. Huyết khiển đảo trung tứ hải thông, Vô hậu duệ chi hà lai Trịnh. Trịnh bản thiên thượng vân trung Vương, Tái lai kim nhật Trịnh thị Vương. Bất tri hà tính Trịnh Đảo Lệnh, Kê Long thạch bạch Trịnh vận Vương. Trịnh triệu thiên niên Trịnh Giám thuyết, Thế bất tri nhi Thần nhân tri. “Huyết khiển đảo trung tứ hải thông” (Bỏ máu giữa đảo bốn biển thông): «Cách Am Di Lục» nhiều lần giảng về “huyết khiển”, ý tứ không rõ ràng, khả năng chỉ một sự kiện nào đó trong lịch sử, “tứ hải thông” ở đây dùng để ẩn dụ sự tình Đại Pháp hồng truyền. “Vô hậu duệ chi hà lai Trịnh” (Không có hậu duệ sao Trịnh lại tới): Câu này biểu đạt hàm nghĩa một chữ “độc” (một mình, duy nhất). “Trịnh bản thiên thượng vân trung Vương, Tái lai kim nhật Trịnh thị Vương” (Trịnh vốn là Vua trong mây ở trên trời, Hôm nay trở lại để làm Vua họ Trịnh): «Cách Am Di Lục» nhiều lần nhấn mạnh “Trịnh” ở đây không phải họ Trịnh, mà chỉ rõ “Trịnh” tức là “Chính”, chữ “Trịnh” (郑) với chữ “Chính” (正) trong tiếng Hàn là đồng âm. “Trịnh” nguyên là Vua ở trên thiên thượng, hôm nay lại hạ thế làm “Vua họ Trịnh”, tức vị Vua của Chính Đạo. “Bất tri hà tính Trịnh Đảo Lệnh, Kê Long thạch bạch Trịnh vận Vương” (Không biết họ gì Trịnh Đảo Lệnh, Đá trắng Kê Long Vua vận Trịnh): Để xưng hô Đại Thánh nhân, «Cách Am Di Lục» thường dùng ẩn ngữ “Trịnh Đạo Lệnh”. Nhưng ở đây lại là “Trịnh Đảo Lệnh”, ý rất rõ ràng, là cố ý nói “Trịnh Đạo Lệnh” thành “Trịnh Đảo Lệnh”, mục đích là nhắc nhở ngay cả “Trịnh Đạo Lệnh” cũng không phải nguyên danh, mà là ẩn ngữ. Người viết cho rằng “Trịnh” thực ra là “Chính”, “Trịnh Đạo Lệnh” tức là “Chính Đạo Lệnh”. “Chính Đạo Lệnh” đủ để thuyết minh chân ý rồi, là “Đấng Hiệu Lệnh Chính Đạo”, mà “Kê Long thạch bạch Trịnh vận Vương” còn nói rõ hơn nữa về “Chính Đạo Lệnh”. Đây chính là người sáng lập Pháp Luân Công! “Kê Long” là tên một ngọn núi ở Hàn Quốc nổi tiếng có linh khí, ngụ ý tu luyện, “thạch bạch” chỉ chấm trắng trong Thái Cực của Pháp Luân, “Trịnh vận Vương” là vị Vua có sứ mệnh hoằng truyền Chính Đạo. “Trịnh triệu thiên niên Trịnh Giám thuyết, Thế bất tri nhi Thần nhân tri” (Trịnh triệu nghìn năm Trịnh Giám nói, Người không biết nhưng Thần nhân biết): Nghe nói Trịnh Giám, tác giả «Trịnh Giám Lục», một bộ dự ngôn khác của Hàn Quốc, từng nói: “Trịnh triệu thiên niên”, người đời không biết ý nghĩa trong đó, nhưng Thần nhân thì biết. Hảo sự đa ma bất miễn ngục, Bất nhẫn xuất thế bách tổ nhất tôn. Chung nhẫn chi xuất tam niên gian, Bất tử vĩnh sinh xuất vu thập thắng. Bất nhập tử hựu thứ thứ vận xuất hiện, Tứ diện như thị thập thắng. Bách tổ thập tôn hảo vận hĩ, Nam lai Trịnh thị thùy khả tri. Cung Ất hợp đức Chân nhân lai, Nam độ xà long Kim an tại. “Hảo sự đa ma bất miễn ngục” (Việc tốt nhiều ma không miễn ngục): Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền tại Trung Quốc, nhưng vì việc tốt hay gặp trắc trở nên bị trấn áp, nhiều đệ tử của Đại Thánh nhân bị tù đày. “Chung nhẫn chi xuất tam niên gian, Bất tử vĩnh sinh xuất vu thập thắng” (Nhẫn trọn vượt qua khoảng ba năm, Không chết sống mãi ở thập thắng): Người tu luyện Pháp Luân Công có thể vượt qua ba năm đàn áp điên cuồng nhất của tà ác {2000, 2001, 2002}, thì sẽ “bất tử vĩnh sinh”, cuối cùng thắng lợi. “Thập thắng” đã được giải là Pháp lý của Pháp Luân Đại Pháp. “Bất nhập tử hựu thứ thứ vận xuất hiện, Tứ diện như thị thập thắng” (Không chết vận nữa lại xuất hiện, Bốn mặt như là thập thắng): Nếu Pháp Luân Công trụ vững trong ba năm đàn áp điên cuồng này của tập đoàn Giang Trạch Dân, thì hình thế sẽ xoay chuyển. “Bốn mặt như là thập thắng”, nghĩa là bốn phương tám hướng đều là người tu luyện Pháp Luân Công, sẽ trở thành vận tốt cho con cháu (“Bách tổ thập tôn hảo vận hĩ“). “Nam lai Trịnh thị thùy khả tri, Cung Ất hợp đức Chân nhân lai” (Họ Trịnh từ Nam ai biết được, Cung Ất hợp đức Chân nhân đến): Ai có thể biết Chính Pháp Chính Đạo cứu cánh là gì? Ấy chính là vị Chân nhân truyền Đại Pháp đức cao bao gồm cả Phật Đạo lưỡng gia. «Cách Am Di Lục» thường dùng “cung Ất”, “lưỡng cung song Ất”, “cung cung Ất Ất” để chỉ Pháp Luân và Pháp Luân Công nói chung. “Cung cung” (弓弓) chỉ Thái Cực đồ của Đạo gia gồm hai cung Âm-Dương xoắn vào nhau; “Ất Ất” (乙乙) chỉ phù hiệu chữ Vạn “卍” của Phật gia, Ất+Ất = “乙”+”乙” = “卍”. Đồ hình Pháp Luân với các Thái Cực và phù hiệu chữ Vạn “卍”, biểu tượng của Pháp Luân Công (Ảnh: Minh Huệ Net) “Nam độ xà long Kim an tại” (Rồng rắn sang Nam đang yên ổn): Những người phá hoại Đại Pháp đến Hàn Quốc từ phương Bắc (Trung Quốc) và đệ tử của Đại Thánh nhân đến Hàn Quốc hoằng Pháp đều trụ tại Nam Hàn. Tại đây, vị Thần nhân dùng chữ “xà long” so với “long xà” là tuyệt nhiên bất đồng. “Long xà chi nhân” chỉ đệ tử của Đại Thánh nhân, còn “xà” trong “xà long” chỉ các tội đồ tà ác. Tu tùng bạch cưu tẩu thanh lâm, Nhất kê tứ giác bang vô thủ. Trịnh triệu chi biến nhất nhân Trịnh hĩ, Vô phụ chi tử Trịnh Đạo Lệnh. Thiên địa hợp vận xuất thị Mộc, Cung Ất lưỡng bạch thập thắng xuất. Thập bát tính nhân Trịnh Chân Nhân. Thiên địa chấn động hoa triêu tịch, Giang sơn nhiệt đãng quỷ bất tri. Kê Long tích bạch Trịnh Đạo Lệnh, Ngưu thiên mã bá thời sự tri. “Tu tùng bạch cưu tẩu thanh lâm” (Phải theo cưu trắng vào rừng xanh): Trước đây đã phá giải câu “Tu tùng bạch thỏ tẩu thanh lâm”, chỉ là ở đây “bạch thỏ” biến thành “bạch cưu”; “bạch thỏ” chỉ Thánh nhân sinh năm Thỏ, “thanh lâm” chỉ Trường Xuân tỉnh Cát Lâm. “Bạch” (màu trắng) là Kim, phía Tây, tức Tây phương; “cưu” là chim bồ câu, tượng trưng cho hòa bình. Như vậy từ ý nông cạn bề mặt thì “bạch cưu” là thiên sứ hòa bình ở phương Tây. “Nhất kê tứ giác bang vô thủ” (Một gà bốn sừng bang không tay): Phần bên trái chữ “kê” (鸡) thêm vào bốn sừng ghép với chữ “bang” (邦) đã bỏ đi chữ “thủ” (手) chính là chữ “Trịnh” (郑). “Trịnh triệu chi biến nhất nhân Trịnh hĩ” (Trịnh triệu biến thành một người Trịnh vậy): “Trịnh” đã được giải là “Chính”. “Vô phụ chi tử Trịnh Đạo Lệnh” (Bậc không cha là Trịnh Đạo Lệnh): “Trịnh Đạo Lệnh” là vị Vua của Chính Đạo. “Vô phụ chi tử” cũng làm nổi bật một chữ “độc” (một mình, duy nhất). “Vô phụ chi tử Trịnh Đạo Lệnh” ám chỉ thiên thượng không có ai cao hơn vị Thần Chính Đạo này nữa; “vô hậu duệ” ám chỉ tương lai sẽ không có cơ duyên như thế này nữa. Người viết cho rằng, đây chính là ý nghĩa thực sự của “lưỡng vô”. “Thiên địa hợp vận xuất thị Mộc, Cung Ất lưỡng bạch thập thắng xuất” (Trời đất hợp vận xuất cây hồng, Cung Ất hai trắng xuất thập thắng): Ý hai câu này là trời đất hợp vận xuất Thánh nhân thuộc Mộc, lý hai trắng thiên cung địa Ất xuất “thập thắng”, tức “cung Ất lưỡng bạch”, lý của Pháp Luân Đại Pháp. “Lưỡng bạch” đã được giải là ngôn ngữ thiển bạch đạo lý minh bạch, hoặc tâm trắng và thân trắng, hoặc nãi bạch thể và tịnh bạch thể. “Thập bát tính nhân Trịnh Chân Nhân” (Người họ mười tám Trịnh Chân Nhân): “thập” (十) cộng thêm “bát” (八) chính là “Mộc” (木), người trong họ có chữ “Mộc” (木) mới là Bậc Chân Nhân Chính Đạo. “Thiên địa chấn động hoa triêu tịch, Giang sơn nhiệt đãng quỷ bất tri” (Trời đất chấn động buổi chiều tà, Non sông rúng động quỷ không hay): Hai câu này dự báo tương lai sẽ phát sinh đại kiếp nạn trong nháy mắt, chỉ là thời gian chưa tới mà thôi, khi ấy quỷ hành ác vẫn không hay biết chân tướng nên mới dám lộng hành. “Kê Long tích bạch Trịnh Đạo Lệnh, Ngưu thiên mã bá thời sự tri” (Thiếc trắng Kê Long Trịnh Đạo Lệnh, Trâu trời ngựa bá biết thời sự): “Kê Long tích bạch” tượng trưng Pháp Luân. Người sáng lập Pháp Luân Công mới là Vua của Chính Đạo (“Trịnh Đạo Lệnh”), người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp đều hiểu điều này. Mĩ tai thử vận Thần minh giới, Trường An Đại Đạo Chính Đạo Lệnh. Đầu tiên tứ hải diệt ma điền, Tứ hải thái bình lạc lạc tai. “Mĩ tai thử vận Thần minh giới, Trường An Đại Đạo Chính Đạo Lệnh” (Vận này đẹp quá giới Thần linh, Trường An Đại Đạo Chính Đạo Lệnh): Vận giới Thần linh tuyệt đẹp này đến từ “Trường An Đại Đạo Chính Đạo Lệnh”. “Trường An Đại Đạo Chính Đạo Lệnh” là gì? Người viết cho rằng, bộ Đại Pháp này có thể mang đến cho nhân loại sự bình an trường cửu. Cũng có giải thích “Trường An Đại Đạo Chính Đạo Lệnh” nghĩa là vị “Chính Đạo Lệnh” này từng là minh quân Đường Thái Tông Lý Thế Dân ở kinh thành Trường An. “Đầu tiên tứ hải diệt ma điền, Tứ hải thái bình lạc lạc tai” (Đi khắp bốn biển diệt ruộng ma, Bốn biển thái bình mừng lắm thay): Sau khi ma quỷ khắp bốn biển bị tiêu diệt, toàn thiên hạ ăn mừng nghênh đón thời thái bình thịnh thế Đệ tứ thiên “Lai bối dự ngôn lục thập tài” Lời tựa: Từ tên mà tra nghĩa, đề mục thiên này nhìn đã rõ ngay, là dùng lục thập giáp tử để dự ngôn về “lai bối”. Đến nay người ta vẫn cho rằng thiên này nói về “hải vận khai” mang tính thương nghiệp, mà không biết rằng nó ẩn dụ đại hội giao lưu tu luyện tại Hàn Quốc, rất nhiều người tu luyện hải ngoại tới Hàn Quốc trao đổi kinh nghiệm, truyền báu vật, thúc đẩy hoằng Pháp tại Hàn Quốc. Liệt bang chi trung cao lập tiên, Liệt bang hồ điệp ca vũ lai. Hải trung phong phú hóa quy lai, Lục đại cửu nguyệt hải vận khai. Tống cựu nghênh tân hảo thời tiết, Như vân như vũ hạc phi lai. Chư bang đảo dư khuất phục tiên, Vô luận đại tiểu bang thuyền hạm. Thánh sơn thánh địa vọng viễn lai, Dẫn suất quy lai liệt bang dân. Kê Long đô thành tầm bích dân, Kim thạch tầm tường chân châu môn. Vô tội nhân sinh vĩnh cư cung, Hữu tội nhân sinh bất nhập thành. Bối thiên chi quốc vĩnh phá diệt, Phú quý bần tiện phản phúc nhật. Cung Ất thánh sơn vô kỳ bất thông, Kim ngân bảo hóa dụng thặng dư. Hòa bình dụng quan chính nghĩa lập, Vi giám đốc cánh vô cường. Nhật quang trú cánh vô nguyệt quang chi cực, Thất nhật sắc bảo thạch chiếu. Liệt bang vọng sắc phúc chi lai, Cánh vô nguyệt khuy bất dạ quang minh. “Liệt bang chi trung cao lập tiên, Liệt bang hồ điệp ca vũ lai” (Trong số các nước cao lập tiên, Bươm bướm các bang tới ca múa): Hàn Quốc còn gọi là Cao Ly, “cao lập” (高立) [gāolì] đọc giống Cao Ly (高丽) [gāolí], tức Nam Triều Tiên. “Hồ điệp” (bươm bướm) ẩn dụ người tu luyện hải ngoại, tới từ các nước (liệt bang), như bươm bướm vui mừng bay tới. “Hải trung phong phú hóa quy lai, Lục đại cửu nguyệt hải vận khai” (Dồi dào trong biển quay trở về, Tháng chín lục đại vận biển mở): Từ ngoại quốc tới Hàn Quốc, từ Hàn Quốc đi ra ngoài, đi đi về về đều là “dồi dào trong biển”, tức kinh nghiệm tu luyện quý giá. “Lục đại cửu nguyệt” khả năng chỉ mùa thu hoạch. “Tống cựu nghênh tân hảo thời tiết, Như vân như vũ hạc phi lai” (Chào cũ đón mới thời tiết đẹp, Như mây như mưa hạc bay tới): Rất nhiều người tu Đạo ở hải ngoại tới thăm Hàn Quốc. “Chào cũ đón mới” thường dùng vào năm mới, hay ngày hội đầu Xuân. Ở đây chỉ hình thế truyền bá Pháp Luân Công tại Hàn Quốc, lúc đầu đình trệ, sau mấy năm như cảnh tượng bay lên vậy. Chính vào lúc “thời tiết đẹp” này, rất nhiều người tu luyện ở nước ngoài (“hạc”) bay tới Hàn Quốc “như mây như mưa” để giao lưu. “Chư bang đảo dư khuất phục tiên, Vô luận đại tiểu bang thuyền hạm” (Các nước đảo đều khuất phục tiên, Bất kể tàu thuyền lớn hay nhỏ): Các nước đều khâm phục Hàn Quốc, vẫn là cảnh tượng tấp nập giao lưu tu luyện. “Thánh sơn thánh địa vọng viễn lai, Dẫn suất quy lai liệt bang dân” (Núi thánh đất thánh nhìn từ xa, Dẫn dân các nước quay trở về): “Núi thánh đất thánh” chỉ Pháp Luân Đại Pháp, người dân các nước đều đi tìm Đại Pháp để được quay trở về. “Kê Long đô thành tầm bích dân, Kim thạch tầm tường chân châu môn” (Đô thành Kê Long tìm bích dân, Vàng đá tìm tường cửa trân châu): “thành” và “bích” đều chỉ bức tường, “bích dân” chỉ dân của “đô thành Kê Long”; Kê Long là tên ngọn núi Hàn Quốc nổi tiếng có linh khí, ở đây ẩn dụ tu luyện. Tất cả đều xoay quanh “kim thạch” là Pháp Luân của Pháp Luân Công, tiến hành giao lưu tu luyện, thu hoạch được kinh nghiệm và bài học trân quý, tức “trân châu”. “Vô tội nhân sinh vĩnh cư cung, Hữu tội nhân sinh bất nhập thành” (Đời người vô tội mãi ở cung, Đời người có tội không vào thành): “cung” (宫) [gōng] {cung điện} là đồng âm của “Công” (功) [gōng], chỉ Pháp Luân Công, tức chân lý thập thắng, là thành mà người vô tội mãi ở, còn kẻ có tội không vào được. “Bối thiên chi quốc vĩnh phá diệt, Phú quý bần tiện phản phúc nhật” (Quốc gia phản trời mãi sụp đổ, Giàu sang bần hèn ngày đảo ngược): Nếu quốc gia kia đi ngược lại với Thiên lý, tức giáo huấn của Đại Pháp, làm trái với Đạo Trời, thì nó sẽ “sụp đổ”; bất kể quốc gia ấy là giàu hay nghèo, phú quý hay bần tiện, đều sẽ lật ngược trở lại. “Cung Ất thánh sơn vô kỳ bất thông, Kim ngân bảo hóa dụng thặng dư” (Núi thánh cung Ất không gì không thông, Vàng bạc tiền báu dùng thừa thãi): «Cách Am Di Lục» thường dùng “cung Ất”, “lưỡng cung song Ất”, “cung cung Ất Ất” để chỉ Pháp Luân và Pháp Luân Công nói chung. “Cung cung” (弓弓) chỉ Thái Cực đồ của Đạo gia gồm hai nửa Âm-Dương xoắn vào nhau theo hình vòng cung; “Ất Ất” (乙乙) chỉ phù hiệu chữ Vạn “卍” của Phật gia, Ất+Ất = “乙”+”乙” = “卍”. “Cung” (弓) [gōng] {cây cung} cũng đồng âm với “Công” (功) [gōng], chỉ Pháp Luân Công. Như vậy “núi thánh cung Ất” ám chỉ Pháp Luân Công, tựa như vàng bạc tiền báu dùng mãi không hết, chỉ cần tu luyện thì sẽ lợi ích vô cùng. “Vàng bạc tiền báu” được nói đến ở đây không phải vàng bạc tiền báu thật, mà là nội hàm Pháp lý vũ trụ vô cùng vô tận. Đồ hình Pháp Luân với các Thái Cực và phù hiệu chữ Vạn “卍”, biểu tượng của Pháp Luân Công (Ảnh: Minh Huệ Net) “Hòa bình dụng quan chính nghĩa lập, Vi giám đốc cánh vô cường” (Hòa bình dùng quan lập chính nghĩa, Vì đốc thúc càng không mạnh): Người viết cho rằng, đây là nói mỗi cá nhân đều lấy tu luyện làm mục đích, không hề tranh danh đoạt lợi nơi “quan trường” nữa. Xã hội ngày nay là không thể “hòa bình dùng quan” được, mà đầy rẫy tranh đấu. Nhờ có Đại Pháp dựng lập Pháp lý tại tầng nhân loại đây, mỗi cá nhân đều nghiêm khắc yêu cầu bản thân, không cần đốc thúc giám sát mà vẫn làm được rất tốt. “Nhật quang trú cánh vô nguyệt quang chi cực, Thất nhật sắc bảo thạch chiếu” (Ánh nắng ban ngày không ánh trăng đêm, Bảy sắc mặt trời đá quý chiếu rọi): Đây là miêu tả Pháp Luân như viên đá quý với bảy sắc mặt trời, sặc sỡ chói lọi. Nghe nói nền của Pháp Luân có thể biến đổi theo bảy màu, là đỏ, cam, vàng, lục, lục-lam, lam, tím (về phương diện Pháp Luân Công mà nói, thêm hữu sắc và vô sắc, là tổng cộng chín màu sắc). “Liệt bang vọng sắc phúc chi lai, Cánh vô nguyệt khuy bất dạ quang minh” (Các nước ngắm màu mà phúc tới, Càng không có ánh trăng khuyết buổi đêm): Pháp Luân tỏa hào quang tứ phía, khiến nhật nguyệt cũng phải lu mờ, sáng tạo nên hình thế “không ánh trăng đêm”, tức không có ma quỷ chiếm vị trí chủ đạo. Người tu luyện các nước nhờ ngắm màu sắc này mà hạnh phúc tới. Đương đại thiên niên nhân nhân giác, Thị mưu nhân sinh thế mưu nhân tử. Nhất đương thiên thiên đương vạn, Nhân nhược đương cường nhất hỉ nhất bi. Hưng tận bi lai khổ tận cam lai, Nhân nhân giải oan hảo thời tiết. Vĩnh xuân vô cùng phúc lạc, Xuất tử nhập sinh phác hoạt nhân. Bất tri tuế nguyệt hà giáp tử, Niên nguyệt nhật thời giáp tử vận. Âm Dương hợp nhất tam thập định, Bất canh điền nhi thực chi. Bất bái tế nhi tế chi, Bất ma bì nhi y chi. Bất mai táng nhi táng chi, Hữu hình vô hình Thần hóa nhật. Cầu nhân lưỡng bạch cầu cốc tam phong, Thế nhân bất tri khả ai khả ai. Tâm giác tri tâm giác tri, Thận chi thận chi tai. “Đương đại thiên niên nhân nhân giác, Thị mưu nhân sinh thế mưu nhân tử” (Nghìn năm đương đại người người tỉnh, Người mưu thị sinh người mưu thế tử): chữ “thị” (柿) {quả hồng} ở đây là câu đố chữ, “thị” (柿) do “Mộc” (木) ở bên trên chữ “Lý” (李) ghép với “tệ” (币) ở bên phải chữ “Sư” (師), tức chỉ “Lý Sư”, hay vị Sư phụ mang họ Lý. “Người mưu thị sinh người mưu thế tử” nghĩa là người mưu cầu tu Đạo theo vị Sư phụ họ Lý thì sống, người mưu cầu theo thế tục thì chết. “Nhất đương thiên thiên đương vạn, Nhân nhược đương cường nhất hỉ nhất bi” (Một đương nghìn nghìn đương vạn, Người yếu đương mạnh một vui một buồn): Người ta thường nói “một chọi mười, mười chọi trăm”, vậy mà đây là “một đương nghìn nghìn đương vạn”, người tu luyện Pháp Luân Công được đánh giá cao hơn hẳn. “Một vui” là chỉ trong vòng mấy năm truyền bá, Pháp Luân Công đã hồng truyền tới hơn 50 nước trên thế giới, còn “một buồn” là gặp phải trấn áp của tà ác tại Trung Quốc từ ngày 20/7/1999. “Hưng tận bi lai khổ tận cam lai, Nhân nhân giải oan hảo thời tiết” (Hết thịnh đến buồn khổ tận đến vui, Người người giải oan thời tiết đẹp): “hết thịnh đến buồn” chỉ người tu luyện tại Trung Quốc Đại Lục đạt đến 100 triệu, đúng lúc cực thịnh lại gặp phải đàn áp và bức hại; “khổ tận đến vui” chính là sau khi gặp phải trấn áp, Pháp Luân Công dần được giải oan tại Trung Quốc, danh dự Pháp Luân Công và Đại Thánh nhân cuối cùng được phục hồi, những người tu luyện lại có được hoàn cảnh tu luyện bình thường. “Vĩnh xuân vô cùng phúc lạc, Xuất tử nhập sinh phác hoạt nhân” (Xuân mãi vô cùng mừng hạnh phúc, Thoát chết được sống người mộc mạc): Sau khi được minh oan tại Trung Quốc Đại Lục, Pháp Luân Công sẽ có hoàn cảnh tu luyện mới tốt đẹp. Cuộc đàn áp rợp trời dậy đất như vậy sẽ không phát sinh nữa, những người tu luyện sẽ được hồi báo, cũng chính là “Xuân mãi vô cùng mừng hạnh phúc”. “Phác hoạt nhân” chính là những người nhờ theo Đại Thánh nhân mà được sống. Chữ “phác” (朴), nghĩa là “mộc mạc, giản dị”, xuất hiện nhiều lần tại nhiều thiên trong «Cách Am Di Lục», là chỉ Đại Thánh nhân hoặc đệ tử của Đại Thánh nhân. “Bất tri tuế nguyệt hà giáp tử” (Không biết năm tháng bao nhiêu giáp): Ý câu này là sau khi trải qua khảo nghiệm sinh tử, những người tu luyện sẽ được vĩnh sinh muôn đời. “Niên nguyệt nhật thời giáp tử vận, Âm Dương hợp nhất tam thập định” (Năm vận giáp tử thời nhật nguyệt, Âm Dương hợp nhất định ba mươi): Ý nói “thời nhật nguyệt”, “vận giáp tử” định ra một tháng cơ bản lấy 30 ngày (“tam thập định”), là dựa trên tương hợp của Âm-Dương, tức 15 ngày Thái Dương và 15 ngày Thái Âm tổ hợp thành, là thể hiện của lý “lưỡng nghi”. “Bất canh điền nhi thực chi. Bất bái tế nhi tế chi, Bất ma bì nhi y chi. Bất mai táng nhi táng chi, Hữu hình vô hình Thần hóa nhật. Cầu nhân lưỡng bạch cầu cốc tam phong” (Không cày ruộng mà có ăn. Không cúng bái mà có tế, Không rút gai mà có mặc. Không chôn cất mà có táng, Không hình có hình ngày hóa Thần. Cầu người hai trắng cầu lúa ba phong): Những câu như thế này cũng xuất hiện trong vài thiên khác của «Cách Am Di Lục», thế nào là không cày ruộng mà có ăn, không cúng bái mà có tế, không rút gai mà có mặc, không chôn cất mà có táng? Có thể được như vậy, chính là vì đạt tới “không hình có hình ngày hóa Thần” rồi, mà để đạt cảnh giới ấy, thì không cách nào khác ngoài “cầu người hai trắng cầu lúa ba phong”. Tức là phải đắc được Đại Pháp “lưỡng bạch” với ngôn ngữ thiển bạch, đạo lý minh bạch, đồng hóa với “tam phong”—”Chân-Thiện-Nhẫn”. “Lưỡng bạch” còn có giải thích khác là “tâm trắng, thân trắng” (tính mệnh song tu), hoặc “nãi bạch thể, tịnh bạch thể” (hai giai đoạn tịnh hóa thân thể trong tu luyện), nhưng dẫu giải thích thế nào, thì đều là tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. “Thế nhân bất tri khả ai khả ai. Tâm giác tri tâm giác tri, Thận chi thận chi tai” (Người đời không biết đáng thương đáng thương. Biết tỉnh tâm biết tỉnh tâm, Thận trọng thận trọng nhé): Vậy mà, con người thế gian không biết điều này, thật là đáng thương đáng thương lắm. Phải tỉnh tâm tỉnh ngộ đi nhé, lại cần phải thận trọng đấy.
  6. Đệ nhất thiên “Nam Sư Cổ bí quyết” Lời tựa: Trong «Cách Am Di Lục», thiên đầu tiên “Nam Sư Cổ bí quyết” là một thiên cực kỳ trọng yếu, khởi tác dụng “vẽ rồng điểm mắt” đối với toàn bộ cuốn sách. Cũng là nói rằng, chỉ cần phá giải “Nam Sư Cổ bí quyết” là có thể đem toàn bộ nội dung chủ yếu của «Cách Am Di Lục» ra nói mạch lạc. Thiên này luận thuật chân lý “thập thắng” là gì, Đại Thánh nhân là ai, tiên đoán chân lý thập thắng và người sáng lập sẽ tạm thời bị trấn áp, hơn nữa còn thuyết minh tường tận về “thập thắng”, “tam phong”, “lưỡng bạch”, “hải ấn”. Thiên này kết cấu nghiêm cẩn, dùng từ tinh luyện. “Sư Cổ hiệu Cách Am, hựu hiệu Kính Am, Anh Dương nhân, Minh miếu triều quan, xã tắc tham phụng bái thiên văn học giáo thụ, thiếu thời phùng Thần nhân thụ bí quyết, phong thủy thiên văn câu đắc thông hiểu, công dĩ Chính Đức tứ niên Kỷ Tỵ sinh, Long Khánh ngũ niên Tân Mùi tốt thọ, lục thập tam tuế“. Nam Sư Cổ, hiệu Cách Am, còn hiệu là Kính Am, người Anh Dương. Vào triều Minh nhậm chức quan ở Triều Tiên, giảng dạy thiên văn học, thuở nhỏ gặp Thần nhân truyền thụ bí quyết, phong thủy thiên văn không gì không thông hiểu. Nam Sư Cổ sinh năm 1509 Kỷ Tỵ, mất năm 1571 Tân Mùi, hưởng thọ 63 tuổi. Lưỡng cung song Ất tri ngưu mã, Điền hề tùng kim cấn hoa cung. Tinh thoát kỳ hữu mễ bàn tự, Lạc bàn tứ nhũ thập trọng sơn. Bát lực thập nguyệt nhị nhân tầm, Nhân ngôn nhất đại thập bát thốn. Ngọc đăng thu dạ tam bát nhật, Nam Bắc tương hòa thái bình ca. “Lưỡng cung song Ất tri ngưu mã, Điền hề tùng kim cấn hoa cung” (Cặp cung đôi Ất biết trâu ngựa, Ruộng này từ cung dâm bụt vàng). “Lưỡng cung song Ất tri ngưu mã”: Trời sinh nhất, nhất sinh lưỡng nghi, “lưỡng cung” hoặc “cung cung” (弓弓) ám chỉ Thái Cực đồ, cũng là Đạo gia. “Song Ất” tức “Ất Ất” (乙乙), Ất+Ất = “乙”+”乙” = “卍”, “song Ất” chỉ đích thị phù hiệu chữ Vạn “卍” của Phật gia. “Lưỡng cung song Ất” chính là chỉ hai gia lớn là Phật và Đạo. “Ngưu mã” (trâu ngựa) ở đây với “điền” (田) trong câu tiếp là có quan hệ, ngụ ý trâu ngựa cày cấy thu hoạch trên thửa ruộng. “Điền hề tùng kim cấn hoa cung”: “Điền” (田), là “điền” (ruộng) của hoa dâm bụt màu vàng (“kim cấn hoa cung”). Ở đây không phải chỉ “ruộng” với thổ nhưỡng, mà là một loại đồ hình, đồ hình có cung xán lạn màu vàng như hoa. Như vậy, “điền” (田) ở đây với “lưỡng cung song Ất” ở trên là tương liên, ý là trong “cung dâm bụt vàng” có hình tượng “lưỡng cung song Ất”. “Tinh thoát kỳ hữu mễ bàn tự, Lạc bàn tứ nhũ thập trọng sơn” (Tinh bỏ phần hữu còn chữ mễ, Rụng đi bốn nhũ mười núi nặng). “Tinh thoát kỳ hữu mễ bàn tự”: Chữ “tinh” (精) bỏ đi phần bên phải (“hữu”) chính là chữ “mễ” (米). “Lạc bàn tứ nhũ thập trọng sơn”: “Lạc”, là rụng đi, rụng đi “tứ nhũ”, tức chữ “mễ” (米) rụng đi bốn dấu phẩy (“tứ nhũ”) ở Đông Nam, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam chỉ còn lại chữ “thập” (十). Bốn câu bí ngữ ở trên miêu tả một đồ hình, “Lưỡng cung song Ất tri ngưu mã, Điền hề tùng kim cấn hoa cung” chỉ ra một thứ gì đó với rất nhiều hình thái. Có Thái Cực, cũng có phù hiệu chữ Vạn “卍”. Hai câu sau “Tinh thoát kỳ hữu mễ bàn tự, Lạc bàn tứ nhũ thập trọng sơn” nói với chúng ta vị trí các Thái Cực (bao gồm Tiên thiên Đại Đạo) và phù hiệu chữ Vạn “卍” trong đồ hình này. Vậy là, dùng bốn câu này miêu tả tổng thể, phác họa đồ hình Pháp Luân. Đồ hình Pháp Luân với các Thái Cực và phù hiệu chữ Vạn “卍”, biểu tượng của Pháp Luân Công. “Bát lực thập nguyệt nhị nhân tầm, Nhân ngôn nhất đại thập bát thốn” (Tám lực mười trăng hai người tìm, Lời người một lớn mười tám thốn). “Bát lực thập nguyệt nhị nhân tầm”: “bát lực nguyệt nhị nhân” (八力月二人) ghép lại thành chữ “thắng” (勝) (tiếng Hán phồn thể), “Bát lực thập nguyệt nhị nhân tầm” hợp lại thành “thập thắng” (十勝). “Thập thắng” này xuất hiện nhiều lần trong toàn cuốn sách, ở đây lấy hình thức câu đố chữ để đưa ra lần đầu tiên. “Nhân ngôn nhất đại thập bát thốn”: “nhân ngôn” (人言) hợp thành chữ “tín” (信), “nhất đại” (一大) hợp thành chữ “thiên” (天), “thập bát thốn” (十八寸) hợp thành chữ “thôn” (村), hợp lại hết thành “tín thiên thôn” (tin vào thôn ở trên trời, ngụ ý tín tâm tu luyện). Vậy còn “thập thắng” là gì? Phật gia coi vũ trụ như thế giới mười phương, còn Đạo gia giảng Thái Cực, theo Chu Dịch nói thì “cửu cung gia nhất” tức là “thập thắng”; bởi vậy, “thập thắng” (十勝) chỉ Pháp mà Phật gia giảng, hoặc Đạo mà Đạo gia giảng, ở đây chỉ chân Pháp lý của vũ trụ. “Ngọc đăng thu dạ tam bát nhật, Nam Bắc tương hòa thái bình ca” (Đèn ngọc đêm thu ba tám ngày, Nam Bắc cùng hát thái bình ca): “Ngọc đăng” (đèn ngọc), dùng “lục thập giáp tử” mà giải thì chính là năm Canh Thìn hoặc Giáp Thìn, tức 2000-2001 hoặc 2024-2025. Rất có khả năng là rơi vào mùa Xuân (tam bát nhật) và mùa Thu (thu dạ). Dục thức thương sinh bảo mệnh xứ, Cát Tinh chiếu lâm chân thập thắng. Lưỡng bạch tam phong chân lý, Nhãn xích chỉ hóa nhân bất đổ. Cửu cung gia nhất thập thắng lý, Xuân mãn càn khôn phúc mãn gia. Long quy hà lạc lưỡng bạch lý, Tâm thanh thân an hóa sinh nhân. Thế nhân bất tri song cung lý, Thiên hạ vạn dân giải oan thế. Độ hải di sơn hải ấn lý, Thiên hạ nhân dân Thần phán cơ. Tứ khẩu hợp thể toàn điền lý, Hoàng đình kinh độc đan tâm điền. Tứ phương trung chính tùng kim lý, Nhật nguyệt vô quang bất dạ thành. Lạc bàn tứ nhũ thập tự lý, Tử trung cầu sinh hoàn nhiên giác. Thủy thăng hỏa giáng bệnh khước lý, Bất lão bất tử cam vũ lộ. Tam nhân nhất tịch tu tự lý, Chân tâm bất biến đốc tín thiên. Lục giác bát nhân thiên hỏa lý, Hoạt nhân diệt ma Thần phán cơ. Tự nhân bất nhân thiên hư vô lý, Thiên Thần hạ giáng phân minh tri. Bát vương bát khẩu Thiện tự lý, Thiên Chân hóa tâm bất biến tâm. Càn ngưu khôn mã ngưu tính lý, Hòa khí Đông phong Chân Nhân xuất. “Dục thức thương sinh bảo mệnh xứ, Cát Tinh chiếu lâm chân thập thắng” (Muốn nhắc thương sinh nơi giữ mạng, Sao lành chiếu rọi thập thắng thật): Muốn biết nơi giữ mạng sống khỏi “tam tai bát nạn”, thì phải tìm “thập thắng” chân chính, “chân thập thắng” mới là Cát Tinh (Ngôi sao May mắn, Sao lành) từ trên cao chiếu rọi. “Lưỡng bạch tam phong chân lý, Nhãn xích chỉ hóa nhân bất đổ” (Chân lý hai trắng ba phong, Người mắt chỉ tiền nhìn không thấy): “lưỡng bạch” là chỉ ngôn ngữ thiển bạch, đạo lý minh bạch. Đây là nói Pháp lý này dùng ngôn ngữ dễ hiểu để giảng, hơn nữa giảng rất minh bạch rõ ràng, khiến những người có tuổi tác và học thức khác nhau vẫn đều có thể lý giải. Vậy còn “tam phong”? Người viết cho rằng “tam phong” chính là chỉ “Chân-Thiện-Nhẫn”, hoặc từ góc độ Kinh Dịch mà luận, thì có luận về “tam cực”, “tam thiên”, “tam tài”, cũng có thể là “tam phong”. “Lưỡng bạch tam phong chân lý, Nhãn xích chỉ hóa nhân bất đổ” ý tứ mười phần rõ ràng, chính là nói mặc dù công pháp truyền ra với ngôn ngữ thiển bạch, đạo lý minh bạch, nhưng những người bái vật chỉ biết đến tiền thì nhìn mà không thấy. “Cửu cung gia nhất thập thắng lý, Xuân mãn càn khôn phúc mãn gia” (Lý thập thắng chín cung thêm một, Xuân khắp trời đất phúc khắp nhà). Thế nào là “cửu cung gia nhất”? “Cửu cung”, tức bát quái thêm số 5 ở trung ương thành “cửu cung”; trong Bát quái, số cửu cung lần lượt là 1 Khảm (☵), 2 Khôn (☷), 3 Chấn (☳), 4 Tốn (☴), 5 Giữa, 6 Càn (☰), 7 Đoài (☱), 8 Cấn (☶), 9 Ly (☲). “Cửu cung gia nhất” tức cửu cung cộng thêm Thái Cực thành “thập thiên vô cực” hay “thập thắng”, đây là nói từ góc độ Kinh Dịch. Còn từ hình tượng mà luận, “cửu cung gia nhất” chính là đồ hình Pháp Luân với “cửu cung” — trung ương là một phù hiệu chữ Vạn “卍” lớn, cộng thêm bốn phù hiệu chữ Vạn “卍” nhỏ ở trên dưới trái phải, lại cộng thêm hai Thái Cực ở Đông Nam, Tây Bắc, và hai Thái Cực phù hiệu Tiên thiên Đại Đạo ở Tây Nam, Đông Bắc, tất cả hợp thành “cửu cung” (hình “cửu cung” là nằm ngoài Bát quái, đồ hình Pháp Luân là như vậy). Toàn bộ “cửu cung” hợp thành một khối, cộng thêm màu nền là được Pháp Luân đầy đủ hình tròn (chi tiết xem đồ hình Pháp Luân). “Thập thắng lý” đã được giải thích ở trước, chỉ Pháp lý chân chính của vũ trụ. “Long quy hà lạc lưỡng bạch lý, Tâm thanh thân an hóa sinh nhân” (Rồng rùa sông Lạc lý hai trắng, Tâm trong thân an biến hóa người): “long” là Hà Đồ, “quy” là Lạc Thư; “lý lưỡng bạch” ở đây đã được giải thích, là ngôn ngữ thiển bạch đạo lý minh bạch, cũng có lý giải khác là tâm trắng và thân trắng, hoặc nãi bạch thể và tịnh bạch thể (hai giai đoạn tu luyện thân thể người). Công pháp này có thể khiến “tâm thanh thân an” (tính mệnh song tu), bao hàm cả lý Thái Cực của Hà Đồ và lý chữ Vạn “卍” của Lạc Thư. “Thế nhân bất tri song cung lý, Thiên hạ vạn dân giải oan thế” (Người đời không biết lý song cung, Vạn dân thiên hạ được giải oan): “song cung” cũng là “lưỡng cung” đề cập ở trước, lý “cung cung” này, con người thế gian không biết nó mới là chân lý giải oan đời đời kiếp kiếp cho vạn dân thiên hạ. “Độ hải di sơn hải ấn lý, Thiên hạ nhân dân Thần phán cơ” (Vượt biển dời núi lý ấn biển, Nhân dân thiên hạ Thần phán cơ): “hải ấn” (con dấu của biển, ẩn dụ Pháp Luân) có thể vượt biển dời núi, có người nhìn được các khả năng kỳ diệu của nó. “Lý hải ấn”, là nền tảng (“cơ”) để thẩm phán nhân dân toàn thiên hạ. Ý là nhân dân thiên hạ cuối cùng sẽ có ngày thẩm phán tà ác. Ở đây dùng chữ rất độc đáo, đổi chữ “thẩm” trong “thẩm phán cơ” thành chữ “Thần”, tiếng Hàn phát âm “thẩm” (审) với “Thần” (神) là giống nhau, dùng chữ vi diệu là ở chỗ đó. “Tứ khẩu hợp thể toàn điền lý, Hoàng đình kinh độc đan tâm điền” (Bốn miệng hợp thể lý toàn điền, Đọc Hoàng đình kinh tâm tại điền): “Tứ khẩu hợp thể”, bốn chữ “khẩu” (口) hợp lại thành chữ “điền” (田). Dùng «Hoàng đình kinh», sách của Đạo gia để thuyết minh lý tu luyện của Đạo gia cũng bao hàm trong đây, ngụ ý sẽ có sách chỉ đạo tu luyện (“kinh”), phải đọc sách này để tu tâm tính. “Tứ phương trung chính tùng kim lý, Nhật nguyệt vô quang bất dạ thành” (Bốn phương quy chính từ lý vàng, Nhật nguyệt không sáng thành không đêm): “Tứ phương trung chính tùng kim lý”: Ở giữa đồ hình Pháp Luân là phù hiệu chữ Vạn “卍” lớn màu vàng, hào quang rực rỡ, khiến mặt trăng mặt trời cũng lu mờ như không có ánh sáng. Câu này nhấn mạnh phù hiệu chữ Vạn “卍” của Phật gia, chỉ rõ Pháp Luân Công lấy cơ điểm là Phật gia, bao gồm cả lý của Phật gia. Như vậy kết hợp với hai câu ở trên “Tứ khẩu hợp thể toàn điền lý, Hoàng đình kinh độc đan tâm điền”, thì suy ra là Đại Pháp tu luyện bao hàm cả lý của Phật gia và Đạo gia. “Lạc bàn tứ nhũ thập tự lý, Tử trung cầu sinh hoàn nhiên giác” (Rụng đi bốn nhũ lý chữ thập, Trong tử cầu sinh mới là Giác): “tứ nhũ” chính là bốn phù hiệu Thái Cực ở bốn góc vuông của đồ hình Pháp Luân. Câu này ám chỉ tu luyện là mười phần gian nan, có thể nói là vào sinh ra tử, mỗi quan, mỗi nạn không qua được đều có thể khiến công sức uổng phí, chỉ kiên trì đi hết quá trình mới có thể được xưng là Giác Giả. “Thủy thăng hỏa giáng bệnh khước lý, Bất lão bất tử cam vũ lộ” (Nước thăng lửa giáng lý sạch bệnh, Không già không chết giọt mưa lành): “Thủy thăng hỏa giáng”, ý là Âm-Dương quân bình, chứng tỏ công pháp này có thể khiến người ta đạt đến Âm-Dương cân bằng, là Đạo trường sinh thực sự khiến con người trường thọ. “Tam nhân nhất tịch tu tự lý, Chân tâm bất biến đốc tín thiên” (Ba người một chiều lý chữ tu, Chân tâm không đổi tin vào Trời): “Tam nhân nhất tịch” (三人一夕) hợp lại thành chữ “tu” (修). Thể hiện rằng chúng sinh sẽ chân tâm theo tu luyện Đại Pháp. “Lục giác bát nhân thiên hỏa lý, Hoạt nhân diệt ma Thần phán cơ” (Sáu sừng tám người lý lửa trời, Người sống ma diệt Thần phán cơ): “lục giác” (六角) tức chữ “thiên” (天), “bát nhân” (八人) tức chữ “hỏa” (火), “lục giác bát nhân” tức “thiên hỏa” (lửa trời), có thể khiến người tu Đạo sống mà ma quỷ diệt, là “cơ” để thẩm phán ma quỷ. “Tự nhân bất nhân thiên hư vô lý, Thiên Thần hạ giáng phân minh tri” (Tựa người mà không phải người lý không từ thiên hư, Thiên Thần giáng hạ phân biệt rõ ràng): “thiên hư vô lý” có thể nói là lý tối cao ở trên trời, hay còn gọi là lý “thập thiên vô cực”. Người truyền bộ Pháp này, trông giống người mà không phải người, là Thiên Thần hồng truyền lý vô biên của vũ trụ. “Bát vương bát khẩu Thiện tự lý, Thiên Chân hóa tâm bất biến tâm” (Tám vua tám miệng lý chữ Thiện, Tâm thiên chân là tâm bất biến): Nguyên văn minh xác đề cập “bát vương bát khẩu” (八王八口) hợp thành chữ “Thiện” (善), ý là Đại Pháp này sẽ tu “Thiện”, chiếu theo lý Thiện mà tu luyện. Còn đề cập đến chữ “Chân” (真), “thiên chân” là ngây thơ bẩm sinh, bản tâm bất biến. “Càn ngưu khôn mã ngưu tính lý, Hòa khí Đông phong Chân Nhân xuất” (Trâu càn ngựa khôn lý giống trâu, Khí hòa gió Đông Chân Nhân xuất): “Càn ngưu khôn mã ngưu tính lý”: Theo lý thường thì là “càn mã khôn ngưu” (ngựa dũng mãnh, trâu ôn hòa), vậy sao ở đây lại là “càn ngưu khôn mã”? Càn ngưu trong lý «Chu Dịch» thì là Càn (☰) ở trên, Khôn (☷) ở dưới, quẻ Thiên Địa Bĩ, ý là khai cuộc thì gian nan, chỉ nhẫn khổ mới có thể chuyển nguy thành an. Khôn mã trong lý «Chu Dịch» thì là Khôn (☷) ở trên, Càn (☰) ở dưới, quẻ Địa Thiên Thái, biểu thị vạn sự hanh thông. Ở đây gợi ý rất rõ, lần truyền Pháp và tu luyện này sẽ “khổ tận cam lai”, giai đoạn đầu sẽ gặp phải ma nạn, nhưng chỉ cần kiên trì chịu khổ vượt qua, thì vạn sự sẽ hanh thông. “Hòa khí Đông phong Chân Nhân xuất”: Báo trước Chân Nhân sẽ xuất hiện ở phương Đông. Trong «Cách Am Di Lục», thiên đầu tiên “Nam Sư Cổ bí quyết” là một thiên cực kỳ trọng yếu, khởi tác dụng “vẽ rồng điểm mắt” đối với toàn bộ cuốn sách. Cũng là nói rằng, chỉ cần phá giải “Nam Sư Cổ bí quyết” là có thể đem toàn bộ nội dung chủ yếu của «Cách Am Di Lục» ra nói mạch lạc. Thiên này luận thuật chân lý “thập thắng” là gì, Đại Thánh nhân là ai, tiên đoán chân lý thập thắng và người sáng lập sẽ tạm thời bị trấn áp, hơn nữa còn thuyết minh tường tận về “thập thắng”, “tam phong”, “lưỡng bạch”, “hải ấn”. Thiên này kết cấu nghiêm cẩn, dùng từ tinh luyện. Thời hảo thời hảo bất tái lai, Khai mục thính nhĩ tật túc nhập. Trung nhập thử thời kim hòa nhật, Xuất tử nhập sinh bất tri vong. Ngưu thanh ngưu thanh hòa ngưu thanh, Hòa khí Đông phong vạn bang xuy. Ẩn ác dương thiện quân tử nhật, Bất tri xuân nhật hà vọng sinh. Nhất điểu tam nhị tả hữu trung, Tị loạn chi bản đô tại tâm. Vân vụ trướng thiên hôn cù trung, Dục tử tử tẩu vĩnh bất đắc. Tiền vô hậu vô sơ lạc Đạo, Bất khả tư nghị bất vong xuân. Thiên căn nguyệt quật hàn vãng lai, Tam thập lục cung đô xuân. Vô vân vũ chân cam lộ phi, Thiên hương đắc số điền điền lý. Thập nhị môn khai đại hòa môn, Nhật nguyệt minh lãng quang huy tuyến. Mĩ tai thử vận cung Ất thế, Bạch nhật thăng thiên bỉ bỉ hữu. Điền trung sinh nhai nhã thanh khúc, Bất tri tuế nguyệt hà giáp tử. “Thời hảo thời hảo bất tái lai, Khai mục thính nhĩ tật túc nhập” (Thời cơ tốt đẹp không trở lại, Giương mắt dỏng tai mau tiến vào): Nhắc nhở con người thế gian không được lỡ mất cơ hội này, thời cơ không quay trở lại, hãy giương mắt nhìn và dỏng tai nghe Đại Pháp, đừng ngờ vực nữa, mau tới nhập Đạo đắc Pháp. “Trung nhập thử thời kim hòa nhật, Xuất tử nhập sinh bất tri vong” (Vào giữa lúc này đúng hôm nay, Bỏ chết theo sống không biết chết): “Vào giữa lúc này” chỉ ngày hôm nay, hiện tại đắc Pháp tu luyện sẽ được vĩnh sinh («Cách Am Di Lục» nhiều chỗ đề cập đến tiên nhập, trung nhập, mạt nhập, sẽ được giải thích kỹ sau). “Ngưu thanh ngưu thanh hòa ngưu thanh, Hòa khí Đông phong vạn bang xuy” (Tiếng trâu tiếng trâu lại tiếng trâu, Gió Đông ôn hòa thổi vạn bang): “ngưu” ở đây chỉ người tu luyện, “ngưu thanh” chỉ người tu luyện luyện công hoằng Pháp, một truyền mười, mười truyền trăm. Chẳng mấy chốc hồng truyền tới “vạn bang”, tức toàn thế giới. “Ẩn ác dương thiện quân tử nhật, Bất tri xuân nhật hà vọng sinh” (Che ác giương thiện ngày quân tử, Ngóng về ngày Xuân sắp đản sinh): Ức chế tà ác, hoằng dương cái Thiện là hành vi của người quân tử. Người viết cho rằng đây là chỉ đệ tử Đại Pháp thanh trừ tà ác, hoằng dương Đại Pháp, bức hại Đại Pháp sẽ kết thúc vào mùa Xuân. “Nhất điểu tam nhị tả hữu trung, Tị loạn chi bản đô tại tâm” (Một câu ba mồi trái phải giữa, Gốc của tránh loạn đều tại tâm): Hai câu này ý nguyên văn đã rõ ràng, gần như không cần phá giải. “Một câu ba mồi trái phải giữa” chính là chữ “tâm” (心). Bất chấp thế gian có kiếp nạn nào đi nữa, có thể tránh loạn này căn bản ở tại tu tâm. “Vân vụ trướng thiên hôn cù trung, Dục tử tử tẩu vĩnh bất đắc” (Mây mù ngút trời giữa đường tối, Muốn chết muốn chạy cũng không xong): Người viết cho rằng chỗ này miêu tả cuộc bức hại đệ tử Đại Pháp như “mây mù ngút trời”, những kẻ bức hại Đại Pháp sẽ “muốn chết muốn chạy cũng không xong”, tức không còn đường sinh. “Tiền vô hậu vô sơ lạc Đạo, Bất khả tư nghị bất vong xuân” (Trước không sau không Đạo vui đầu, Không thể nghĩ bàn không quên Xuân): Lần truyền Đại Pháp Đại Đạo Pháp Luân Công này là trong lịch sử chưa từng xảy ra, tức là trước chưa từng có mà sau cũng không có lại nữa, đây là Pháp lớn như vậy, Đạo lớn như vậy. Cần phải nhớ rằng bộ Đại Pháp Đại Đạo này được truyền ra vào cuối mùa Xuân (tháng 5/1992). “Thiên căn nguyệt quật hàn vãng lai, Tam thập lục cung đô xuân” (Gốc trời chốn trăng rét qua lại, Ba mươi sáu cung đều là Xuân): “thiên căn nguyệt quật” tức thiên môn địa hộ, có câu “Càn ngộ Tốn thời quan nguyệt quật, Địa phùng lôi xứ kiến thiên căn“, “Tu tham nguyệt quật phương tri vật, Vị niếp thiên căn khởi thức nhân“. Thực ra, “nguyệt quật” là âm Thủy, “thiên căn” là dương Thủy, như vậy “thiên căn địa quật” chính là thuyết Âm-Dương (theo «Dịch bản nghĩa đồ»). “Tam thập lục cung” thuộc Hà Đồ, Hà Đồ là hình tượng của vạn vật, Hà Đồ thành quẻ Ly (☲), quẻ Ly ngụ ý tâm. “Ba mươi sáu cung đều là Xuân”, nghĩa là vào mùa Xuân, tâm của vạn vật đều sung mãn sức sống. “Vô vân vũ chân cam lộ phi, Thiên hương đắc số điền điền lý” (Không có mây mưa sương ngọt bay, Hương trời đáp số lý điền điền): Không có mây mưa mà sương lành rải khắp, “cam lộ” ở đây không phải giọt sương ngọt ở thế gian, mà là Pháp lý tu luyện. “Thập nhị môn khai đại hòa môn, Nhật nguyệt minh lãng quang huy tuyến” (Mười hai cửa lớn cùng mở ra, Nhật nguyệt sáng trong ánh quang huy): “mười hai cửa” tức 12 Địa chi, từ ngôi Tý đến ngôi Hợi, chúng sinh đều tiến vào tu luyện, tiền trình mười phần quang minh. “Mĩ tai thử vận cung Ất thế, Bạch nhật thăng thiên bỉ bỉ hữu” (Vận này đẹp lắm thế cung Ất, Ban ngày bay lên có nhiều lượt): “Vận này” là vận phổ truyền thế gian của Pháp Luân Đại Pháp, khắp nơi đều có người tu luyện, cuối cùng sẽ như Đạo gia giảng là “bay lên giữa ban ngày” (bạch nhật phi thăng). «Cách Am Di Lục» thường dùng “cung Ất”, “lưỡng cung song Ất”, “cung cung Ất Ất” để chỉ Pháp Luân và Pháp Luân Công nói chung. “Cung cung” (弓弓) chỉ Thái Cực đồ của Đạo gia gồm hai nửa Âm-Dương xoắn vào nhau theo hình vòng cung; “Ất Ất” (乙乙) chỉ phù hiệu chữ Vạn “卍” của Phật gia, Ất+Ất = “乙”+”乙” = “卍”. “Điền trung sinh nhai nhã thanh khúc, Bất tri tuế nguyệt hà giáp tử” (Khúc nhạc thanh nhã giữa ruộng người, Không biết năm tháng đã mấy giáp): Chỉ rõ đây là nhạc luyện công thanh nhã, là một loại âm nhạc tu Đạo. Người tu luyện dụng tâm luyện công, không biết thời gian đã trôi qua bao lâu nữa. Câu này tiên tri Pháp Luân Công sẽ có nhạc luyện công. Dục thức song cung thoát kiếp lý, Huyết mạch quán thông hỉ nhạc ca. Dục thức thương sinh an tâm xứ, Tam phong lưỡng bạch hữu nhân xứ. Cẩm Thành Cẩm Thành hà Cẩm Thành, Kim bạch thổ thành Hán Thủy biên. Kê minh long khiếu hà xứ địa, Ấp giả khê biên thị Cẩm Thành. Kê Long Kê Long hà Kê Long, Tử hà tiên trung kim Kê Long. Phi sơn phi dã Cát Tinh địa, Kê Long bạch thạch chân Kê Long. Thập thắng thập thắng hà thập thắng, Thắng lợi đài thượng chân thập thắng. Lưỡng bạch lưỡng bạch hà lưỡng bạch, Tiên hậu thiên địa thị lưỡng bạch. Hà Đồ Lạc Thư linh quy số, Tâm linh y bạch chân lưỡng bạch. Tam phong tam phong hà tam phong, Phi sơn phi dã thị tam phong. Thế nhân bất tri hỏa vũ lộ, Vô cốc đại phong thị tam phong. Cung Ất cung Ất hà cung Ất, Thiên cung địa Ất thị cung Ất. Nhất dương nhất âm diệc cung Ất, Tử hà tiên nhân chân cung Ất. “Dục thức song cung thoát kiếp lý, Huyết mạch quán thông hỉ nhạc ca” (Muốn biết cặp cung lý thoát kiếp, Mạch máu thông suốt nhạc mừng vui): Đây là Lý duy nhất giải thoát khỏi kiếp nạn, Pháp Luân Công có thể khiến người luyện công huyết mạch thông suốt, giải quyết vấn đề chữa bệnh khỏe người mà y học hiện đại không giải quyết được. Câu trên chỉ rõ người tu luyện sẽ có âm nhạc luyện công, chỉ cần luyện công này sẽ giúp “huyết mạch quán thông”, bao nhiêu bệnh tật đều tiêu mất, đạt được trường thọ trường sinh. “Dục thức thương sinh an tâm xứ, Tam phong lưỡng bạch hữu nhân xứ” (Muốn nhắc thương sinh chốn an tâm, Ba phong hai trắng nơi có người): Chúng sinh muốn tìm một nơi an tâm, thì cần phải biết về “tam phong” và “lưỡng bạch”. Ở trước đã giải thích qua, “Chân-Thiện-Nhẫn” là “tam phong”; ngôn ngữ thiển bạch, đạo lý minh bạch là “lưỡng bạch”, cũng có giải thích khác là tâm trắng và thân trắng (tính mệnh song tu), hoặc nãi bạch thể và tịnh bạch thể (hai giai đoạn tu luyện thân thể người). “Cẩm Thành Cẩm Thành hà Cẩm Thành, Kim bạch thổ thành Hán Thủy biên” (Thành gấm thành gấm thành gấm nào, Thành đất vàng trắng bên sông Hán): «Cách Am Di Lục» là dự ngôn Hàn Quốc, do vậy không thể thiếu nội dung nói về Hàn Quốc. Ở đây giảng về địa điểm truyền Pháp tại Hàn Quốc. “Tam phong lưỡng bạch” tại “Cẩm Thành”. Như vậy “Cẩm Thành” là ở đâu? “Kim bạch thổ thành Hán Thủy biên”. Câu này thực tế là nhắm vào địa phương truyền bá Pháp Luân Công sớm nhất tại Hàn Quốc. “Kim bạch” tức hướng Tây, “thổ thành” ngụ ý thôn, ở vào “Hán Thủy biên”, tức bên bờ sông Hán giang. Như vậy “Cẩm Thành” ở đây là chỉ “Hán Thành”, tức Seoul, nơi có sông Hán từ Bắc Triều Tiên chảy qua, và địa điểm này là ngoại thành phía Tây thành phố Seoul. “Kê minh long khiếu hà xứ địa, Ấp giả khê biên thị Cẩm Thành” (Gà gáy rồng kêu ở đất nào, Ấp cạnh khe suối là thành gấm): “Kê minh long khiếu” (Gà gáy rồng kêu) chính là “Kê Long”. “Kê Long” là tên một ngọn núi ở Hàn Quốc nổi tiếng có linh khí, là đại từ ngụ ý tu luyện. Như vậy đất này là đất nào? Là “ấp cạnh khe suối”, đây là “Cẩm Thành”. “Ấp” là thôn, “ấp giả” là thôn dân, tức vùng ngoại thành Seoul, nơi thôn dân sinh sống. Người viết kinh ngạc khi phát hiện rằng, khi ghép chữ đầu câu “Kim bạch thổ thành Hán Thủy biên” với chữ đầu câu “Ấp giả khê biên thị Cẩm Thành”, thì được một địa danh cụ thể — Kim Thôn! (“Ấp” là thôn, Kim Ấp là Kim Thôn). Kim Thôn chính là một thôn ở Pha Châu, phía Tây Bắc thành phố Seoul. Tại đây, «Cách Am Di Lục» chỉ rõ Kim Thôn thuộc “Cẩm Thành” là địa điểm hoằng Pháp sớm nhất tại Hàn Quốc. “Kê Long Kê Long hà Kê Long, Tử hà tiên trung kim Kê Long” (Kê Long Kê Long Kê Long nào, Tiên trong mây tím Kê Long vàng): Trọng điểm bàn luận ở đây là “Kê Long”. Kê Long là lưỡng Mộc, dùng «Chu Dịch» mà giảng, “Kê” {gà} là Tốn (☴), hướng Đông Nam, thuộc Mộc; “Long” {rồng} là Chấn (☳), hướng chính Đông, thuộc Mộc. Như vậy, Kê Long có thể coi là lưỡng Mộc. Bởi vì «Cách Am Di Lục» nhiều lần đàm luận về “lưỡng Mộc Thánh nhân”, như vậy Kê Long cũng có thể hiểu là chỉ Thánh nhân, tức Đại Giác Giả truyền Pháp. Nhưng người viết cho rằng Kê Long nhiều chỗ chỉ người tu luyện theo Đại Giác Giả hoặc đại biểu cho tu luyện. Từ một góc độ khác mà giảng, «Chu Dịch» cho rằng Kê là “phong” {gió}, Long là “lôi” {sấm}, Kê Long tức phong lôi, ngụ ý biến hóa khôn lường — tượng trưng lịch trình tu luyện nhấp nhô lên xuống. Vậy vì sao nói “Tử hà tiên trung kim Kê Long”? “Tử hà tiên” ở đây chính là Thái Cực của Đạo gia trong đồ hình Pháp Luân. Đạo gia có thuyết về “Tử khí Đông lai” (khí tím đến từ phương Đông), màu tím là màu sắc của Đạo gia, còn vàng kim là màu của Phật gia. Từ đó có thể thấy, “tử hà tiên trung” (tiên trong mây tím) chính là phù hiệu Thái Cực của Tiên thiên Đại Đạo, còn “Kim Kê Long” (Kê Long vàng) là phù hiệu chữ Vạn “卍” của Phật gia ở trung tâm. Ở đây một lần nữa chỉ rõ kết cấu đồ hình Pháp Luân. Đồ hình Pháp Luân với các Thái Cực và phù hiệu chữ Vạn “卍”, biểu tượng của Pháp Luân Công. “Phi sơn phi dã Cát Tinh địa, Kê Long bạch thạch chân Kê Long” (Không núi không rừng đất sao lành, Kê Long đá trắng Kê Long thật): Ở đây còn minh xác hơn nữa nói với người đời rằng đừng phỏng đoán địa danh nào cả, bởi vì nó không phải địa danh. Ngoài ra còn chỉ rõ “Kê Long đá trắng”, “đá trắng” là gì? “Đá trắng” chính là hai chấm trắng bên trong Thái Cực và Tiên thiên Đại Đạo của Pháp Luân. “Thập thắng thập thắng hà thập thắng, Thắng lợi đài thượng chân thập thắng” (Thập thắng thập thắng thập thắng nào, Thắng lợi trên đài thập thắng thật): “thập thắng” chính là Pháp Luân Đại Pháp “cửu cung gia nhất” (chín cung thêm một), chân chính giành thắng lợi mới là “thập thắng thật”. Đổi lại mà giảng, Pháp Luân Công khẳng định sẽ giành thắng lợi. “Lưỡng bạch lưỡng bạch hà lưỡng bạch, Tiên hậu thiên địa thị lưỡng bạch” (Hai trắng hai trắng hai trắng nào, Trời trước đất sau là hai trắng). “Hà Đồ Lạc Thư linh quy số, Tâm linh y bạch chân lưỡng bạch” (Hà Đồ Lạc Thư số rùa thiêng, Tâm linh áo trắng hai trắng thật): Ở đây giảng long mã Hà Đồ tượng trưng cho Trời, linh quy Lạc Thư tượng trưng cho Đất, tức càn khôn. “Lưỡng bạch” đã được giải thích ở trên rồi. “Tam phong tam phong hà tam phong, Phi sơn phi dã thị tam phong” (Ba phong ba phong ba phong nào, Không núi không rừng là ba phong). “Thế nhân bất tri hỏa vũ lộ, Vô cốc đại phong thị tam phong” (Người đời không biết lửa mưa sương, Không lúa dồi dào là ba phong): Như trên đã bàn qua “tam phong” tức là “Chân-Thiện-Nhẫn”. Ở đây vị Thần nhân nhắc nhở thế nhân “tam phong” không phải là địa danh, mà là tu luyện tâm tính theo “Chân-Thiện-Nhẫn”. “Cung Ất cung Ất hà cung Ất, Thiên cung địa Ất thị cung Ất” (Cung Ất cung Ất cung Ất nào, Trời cung đất Ất là cung Ất). “Nhất dương nhất âm diệc cung Ất, Tử hà tiên nhân chân cung Ất” (Một dương một âm cũng cung Ất, Tiên nhân mây tím cung Ất thật): Ở đây lại dùng “cung” và “Ất” để giảng về hai gia lớn của vũ trụ là Phật và Đạo, Pháp Luân Đại Pháp là Đại Pháp vũ trụ bao hàm cả Phật Đạo lưỡng gia. Ngưu tính ngưu tính hà ngưu tính, Thiên Đạo canh điền thị ngưu tính. (Giống trâu giống trâu giống trâu nào, Cày ruộng Đạo Trời là giống trâu) Ngưu tính tại dã ngưu minh thanh, Thiên ngưu địa mã chân ngưu tính. (Giống trâu ngoài đồng tiếng trâu kêu, Trời trâu đất ngựa giống trâu thật) Phần trước tại câu “Càn ngưu địa mã ngưu tính lý” đã giải thích “ngưu tính” ngụ ý tu luyện. Trong “tam luận”, «Cách Am Di Lục» đàm luận “ngưu” là hình tượng có thể “tị loạn” mà sống trong thời kỳ lịch sử hiện nay, tức người tu luyện. Vậy còn “ngưu tính tại dã” (giống trâu ngoài đồng)? Nó ám chỉ những người tu luyện này đều luyện công ở ngoài trời, nên mới nói “ngưu tính tại dã”. “Thiên ngưu địa mã” tức quẻ Thiên Địa Bĩ, là “thiên địa bất giao mà vạn vật bất thông”, là quẻ “tiểu nhân hống hách mà quân tử mất tiêu”, cũng là những người tu luyện sẽ phải trải qua một trường ma nạn, nhưng vượt khỏi trường ma nạn này mới tính là người tu luyện Đại Pháp. Trịnh thị Trịnh thị hà Trịnh thị, Mãn thất gia tam thị Trịnh thị. (Họ Trịnh họ Trịnh họ Trịnh nào, Hết bảy thêm ba là họ Trịnh) Hà tính bất tri vô duệ hậu, Nhất tự tung hoành chân Trịnh thị. (Không biết họ gì không hậu duệ, Một chữ ngang dọc họ Trịnh thật) Ở đây bàn về Đại Thánh nhân. Bởi vì «Cách Am Di Lục» đàm luận về Đại Thánh nhân họ Trịnh, nên trước đây người ta vẫn cho rằng Đại Thánh nhân mang họ Trịnh, nhưng «Cách Am Di Lục» lại phủ định họ Trịnh trong bách gia tính là họ của Đại Thánh nhân. Thực ra đây là thủ pháp dùng ẩn ngữ đồng âm, tức chữ “Chính”; trong tiếng Hàn, “Chính” (正) với “Trịnh” (郑) là đồng âm [zhèng]. “Mãn thất gia tam” (Hết bảy thêm ba), tuy phương Tây là bảy, phương Đông là ba, nhưng người viết cho rằng đây là chỉ “tả tam hữu thất” (trái ba phải bảy), là số mười (số của cửu cung), tức “thập thắng”. Tất nhiên cũng không loại trừ Thánh nhân Chính Đạo (họ “Trịnh”) là Đại Thánh nhân bao dung cả Đông lẫn Tây. Vậy vì sao nói “vô duệ hậu” (không hậu duệ)? Câu này cường điệu một chữ “độc” (một mình, duy nhất). “Nhất tự tung hoành” (một chữ ngang dọc) đúng là chữ “thập” (十), quy về “thập thắng”. Ý mấy câu này nói Đại Thánh nhân là Đại Giác Giả độc nhất vô nhị, vô tiền khoáng hậu, trước chưa từng có mà sau cũng không có nữa. Hải ấn hải ấn hà hải ấn, Kiến bất tri nhi hỏa vũ lộ. (Ấn biển ấn biển ấn biển nào, Thấy mà không biết lửa mưa sương) Hóa tự hóa tự hà hóa ấn, Vô cùng tạo hóa thị hải ấn. (Chữ hóa chữ hóa ấn hóa nào, Tạo hóa vô cùng là ấn biển) Điền ý điền ý hà điền ý, Tứ diện phương chính thị điền ý. (Ý điền ý điền ý điền nào, Bốn mặt vuông vức là ý điền) Điền chi hựu điền biến hóa điền, Diệu thuật vô cùng chân điền ý. (Hết điền lại điền biến hóa điền, Kỳ diệu vô cùng ý điền thật) Tám câu trên chính là giảng về Pháp Luân. “Hải ấn” (ấn của biển) bắt nguồn từ thuyết “Ấn lớn của biển xuất vạn tượng”, nhiều lúc chỉ “trí huệ của Phật”. Vì sao lại là “hải ấn”? “Hỏa vũ lộ” (lửa mưa sương) nhìn mà không thấy là gì? Vì sao nói “nhìn mà không thấy”? Bởi vì nó không phải là lửa, mưa, sương mà thế gian có thể thấy được, mò mẫm ra được, mà là Pháp lý tu luyện. «Cách Am Di Lục» giảng “hỏa vũ lộ” là “tam phong”, như vậy “hỏa vũ lộ” chính là “Chân-Thiện-Nhẫn”. “Hóa tự” (chữ hóa), là tạo hóa vô cùng, tạo hóa có thể đổi trời thay đất. “Điền ý” là có ý gì? “Bốn mặt vuông vức là ý điền”. Vì sao nói “bốn mặt vuông vức” (tứ diện phương chính)? Chữ “điền” (田) chính là biểu đạt hình tượng Pháp Luân với cửu cung, trông rất vuông vức. Lời tiên tri nói với người đời Pháp Luân chính là “điền” (田), thứ ruộng có thể khiến con người biến hóa, là ruộng Pháp lý vũ trụ ảo diệu vô cùng. Tùng kim tùng kim hà tùng kim, Quang thái linh lung thị tùng kim. (Vàng kim vàng kim vàng kim nào, Hào quang lung linh là vàng kim) Nhật nguyệt vô quang quang huy thành, Tà bất phạm chính chân tùng kim. (Nhật nguyệt không sáng thành chói lọi, Tà không phạm chính đúng vàng kim) “Kim” (vàng) ở đây chính là chỉ phù hiệu chữ Vạn “卍” màu vàng ở trung tâm đồ hình Pháp Luân. “Hào quang lung linh là vàng kim”, ý nói “vàng” này tỏa hào quang lung linh. Nghĩa là phù hiệu chữ Vạn “卍” màu vàng ở trung tâm đồ hình Pháp Luân tỏa sáng lung linh, sáng tới mức khiến mặt trăng và mặt trời dường như “vô quang”, giống như một tòa thành tỏa ánh quang huy vậy. Ở đây dùng “quang huy thành” (tòa thành chói lọi) để ẩn dụ Pháp Luân với sắc thái tươi đẹp và có hình tròn. “Vàng kim” là gì? Từ nội hàm tiến thêm một bước nói “tà không phạm chính” là “đúng vàng kim”. Chân kinh chân kinh hà chân kinh, Yêu ma bất xâm thị kinh. (Chân kinh chân kinh chân kinh nào, Yêu ma không xâm là kinh) Thượng Đế dự ngôn Thánh Kinh thuyết, Hào li bất soa chân chân kinh. (Thượng Đế tiên tri Thánh Kinh nói, Không sai chút nào chân kinh thật) Bốn câu này bàn luận về kinh thư của Pháp Luân Đại Pháp, nói Nó là kinh chân chính, Thượng Đế đã từng dự ngôn rồi, không sai tý nào, từng câu từng chữ đều là chân kinh thật. Bộ chân kinh này chính là sách «Chuyển Pháp Luân» mà những người tu luyện Pháp Luân Công thường đọc. Cũng là nói rằng, tu bộ Đại Pháp này là có kinh thư, kinh thư này đúng là chân kinh thật. Cát địa Cát địa hà cát địa, Đa hội tiên trung thị Cát địa. (Đất lành đất lành đất lành nào, Nơi nhiều hội tiên là đất lành) Tam Thần sơn hạ ngưu minh địa, Quế thụ phạm phác thị Cát địa. (Dưới núi Tam Thần đất trâu kêu, Cây quế mộc mạc là đất lành) Ở đây bàn đến địa danh, lại gọi đây là “Cát địa” (đất lành). Cát địa là gì? Là bởi vì “nhiều hội tiên”, cũng là mảnh đất lành nơi nhiều “tiên nhân” tụ tập. Như vậy đất lành ở nơi đâu? Là “Dưới núi Tam Thần đất trâu kêu, Cây quế mộc mạc là đất lành“. Trước hết giải ẩn ngữ “quế thụ phạm phác”. “Quế thụ” (桂树), mỗi chữ bỏ phần bên phải rồi hợp lại thì thành chữ “lâm” (林). Đem chữ “phạm” (范) tách thành “trúc xa dĩ” (竹车已), thì có nghĩa là “xe trúc dừng”, mà “xe trúc” đã được Tân Hựu Thừa tiên sinh phá giải là chỉ Pháp Luân (Bánh xe Pháp). Như vậy “phạm phác” nghĩa là mộc mạc như trúc, bốn mùa đều xanh, mà “lâm” {rừng} bốn mùa đều xanh thì chính là “Trường Xuân”, là thủ phủ Trường Xuân của tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc. Chữ “phác” (朴), nghĩa là “mộc mạc, giản dị”, xuất hiện nhiều lần tại nhiều thiên trong «Cách Am Di Lục», là chỉ Đại Thánh nhân hoặc đệ tử của Đại Thánh nhân. “Phạm phác” chính là chỉ người sáng lập Pháp Luân Công truyền Pháp bắt đầu từ Trường Xuân, tỉnh Cát Lâm. Thành phố Trường Xuân, thuộc Cát Lâm chính là “Cát địa”. Giờ quay lại giải “núi Tam Thần” thì thấy quả nhiên là chỉ núi Bạch Đầu nổi tiếng (núi Trường Bạch) ở Đông Bắc Trung Quốc. “Dưới núi Tam Thần đất trâu kêu“. “Đất trâu kêu” là nơi người tu luyện dũng mãnh bước ra. “Quế thụ phạm phác” tức Trường Xuân ở tỉnh Cát Lâm, là mảnh đất lành “Cát địa”; trong tiếng Hán, “Cát Lâm” (吉林) có nghĩa là “khu rừng tốt lành”, “Trường Xuân” (长春) có nghĩa là “sức sống mãi mãi”. Trong «Cách Am Di Lục», thiên đầu tiên “Nam Sư Cổ bí quyết” là một thiên cực kỳ trọng yếu, khởi tác dụng “vẽ rồng điểm mắt” đối với toàn bộ cuốn sách. Cũng là nói rằng, chỉ cần phá giải “Nam Sư Cổ bí quyết” là có thể đem toàn bộ nội dung chủ yếu của «Cách Am Di Lục» ra nói mạch lạc. Thiên này luận thuật chân lý “thập thắng” là gì, Đại Thánh nhân là ai, tiên đoán chân lý thập thắng và người sáng lập sẽ tạm thời bị trấn áp, hơn nữa còn thuyết minh tường tận về “thập thắng”, “tam phong”, “lưỡng bạch”, “hải ấn”. Thiên này kết cấu nghiêm cẩn, dùng từ tinh luyện. Chân nhân Chân nhân hạ Chân nhân, Chân Mộc hóa sinh thị Chân nhân. Thiên hạ nhất khí tái sinh nhân, Hải ấn dụng sử thị Chân nhân. Chân Mộc hóa sinh biến hóa nhân, Ngọc vô hà thể bất biến lý. Đông phương xuân sinh kim hoa phát, Liệt bang hồ điệp ca vũ lai. Chấp hành thủ án sát biến tâm linh, Thiên hạ nhân dân đại hô thanh. Như cuồng như túy ngưu minh thanh. Hơn mười câu trên đàm luận về “Chân nhân”, tức Đại Thánh nhân, chỉ là sơ qua vài điểm mà thôi. “Chân nhân Chân nhân hạ Chân nhân“: Câu này tuyệt diệu ở chữ “hạ” (下), là Chân nhân, nhưng vì sao lại là “hạ Chân nhân”? Sở dĩ ở đây dùng chữ “hạ”, là để giảng ra thân phận của Chân nhân. Theo giai tầng xã hội, Chân nhân ở đây không thuộc thượng tầng, không phải người quyền quý, cũng không phải danh nhân học sĩ. Đương nhiên, đây là nói trước khi Pháp Luân Công chấn động thế giới. Bởi vậy mới dùng chữ “hạ” này để tiết lộ một đặc trưng của Đại Thánh nhân (“Chân nhân”). “Chân Mộc hóa sinh thị Chân nhân“: Câu này chỉ rõ một đặc trưng khác của Đại Thánh nhân, đó là ngày sinh theo Thiên can Ngũ hành thuộc Mộc. “Thiên hạ nhất khí tái sinh nhân” (Thiên hạ một khí người tái sinh): “Thiên hạ nhất khí” ám chỉ vị Chân nhân này từng hạ thế ở cả Đông và Tây phương, trên thân mình tụ khí toàn thiên hạ. Chữ “tái” trong “tái sinh nhân” đột xuất chỉ rõ vị Chân nhân này lại một lần nữa hạ xuống thế gian. “Hải ấn dụng sử thị Chân nhân” (Sử dụng ấn biển là Chân nhân): “Hải ấn” là Pháp Luân, như vậy vị Thánh nhân này là Giác Giả truyền Pháp Luân Đại Pháp. Pháp Luân, biểu tượng của Pháp Luân Công trông giống như chiếc ấn của biển. “Chân Mộc hóa sinh biến hóa nhân“: Người có Thiên can thuộc Mộc này có thể “biến hóa người”, cũng là có thể giảng Pháp giáo hóa chúng sinh, cứu độ chúng sinh. “Ngọc vô hà thể bất biến lý” (Ngọc không tỳ vết lý bất biến): Dùng hình tượng “Ngọc không tỳ vết” để ẩn dụ chân lý bất biến, nghìn vạn lần chân thực. “Đông phương xuân sinh kim hoa phát, Liệt bang hồ điệp ca vũ lai” (Mùa Xuân phương Đông hoa vàng nở, Bươm bướm các nước tới ca múa): Vị Chân nhân này hạ thế tại phương Đông, xuất sinh vào mùa Xuân, sự nghiệp của Chân nhân tựa như “hoa vàng nở”, rất nhiều người từ các nước ngưỡng mộ danh mà tới đắc Pháp. “Chấp hành thủ án sát biến tâm linh, Thiên hạ nhân dân đại hô thanh” (Cầm cân nảy mực quan sát tâm linh, Nhân dân thiên hạ kêu tiếng lớn): Vị Chân nhân này, tức người sáng lập Pháp Luân Công, truyền xuất Pháp Luân Đại Pháp là “trực chỉ nhân tâm”, có thể khiến nhân tâm cải biến, đạo đức con người hồi thăng. Bởi vậy, Pháp Luân Công vừa truyền ra, chỉ trong chưa đầy 10 năm đã hồng truyền hơn 50 nước, với hơn 100 triệu người tu luyện, đây chính là “Như cuồng như túy ngưu minh thanh” (Say mê vô cùng tiếng trâu kêu). Thế nhân bất tri trào tiếu thời, Chuyên vô thiên tâm hà xứ sinh. (Người đời không biết bèn chê cười, Không có thiên tâm sinh nơi đâu) Ngưu minh thập thắng tầm Cát địa, Tiên giác chi nhân dự ngôn thế. (Trâu kêu thập thắng tìm đất lành, Bậc sớm giác ngộ đã dự ngôn) Hôn cù trường dạ nhãn xích hóa, Nhân giai bất tư chân bất chân. (Đường tối đêm dài mắt chỉ tiền, Người chẳng ngẫm xem có đúng không) Ở đây chỉ về những người mà Lão Tử gọi là “hạ sĩ”. Đại Pháp Đại Đạo — Pháp Luân Đại Pháp đã truyền ra ở thế gian, vậy mà “Người đời không biết bèn chê cười“, những người không có “thiên tâm” (tâm phản bổn quy chân) ấy biết tìm đường sinh ở đâu đây? Chúng sinh hữu duyên mộ danh mà tới, người có thiện tâm đua nhau nhập Đạo tu luyện. Đối với việc này, các bậc tiên tri tiên giác đã sớm có dự ngôn rồi. Chỉ là người ta ham mê truy cầu kim tiền, không thử nghĩ xem dự ngôn có đúng hay không. Hảo sự đa ma thử thị nhật, Song khuyển ngôn tranh thảo thập khẩu. Tạm thời tạm thời bất miễn ách, Cửu chi gia nhất tuyến vô hình. Thập thắng lưỡng bạch tri khẩu nhân, Bất cố tả hữu tiền tiền tiến. Tử trung cầu sinh nguyên chân lý, Xuất tử nhập sinh tín thiên thôn. Tạo thứ bất li giá thượng đài, Thản thản đại lộ vĩnh bất biến. Hữu hình vô hình lưỡng đại trung, Đạo thông thiên địa vô hình ngoại. Triệu Ất thỉ khẩu Chân Giác nhân, Kỳ thiên đảo Thần thời bất hưu. Ác tội mãn thiên phán đoan nhật, Hàm Dương tam nguyệt gia an tại. Thanh hòe mãn đình chi nguyệt, Bạch dương vô nha chi nhật. Địa thử nữ ẩn nhật, Tam sàng hậu ngọa. Mười mấy câu này cực kỳ trọng yếu. Nó chỉ rõ Pháp Luân Công sẽ gặp phải trấn áp, nhưng đây chỉ là tạm thời, giữ vững Đại Pháp cuối cùng đắc thắng. “Hảo sự đa ma thử thị nhật” (Việc tốt lắm ma là ngày này): Việc tốt hay gặp trắc trở, Pháp Luân Công phát triển mạnh mẽ dẫn tới một số dị nghị, có người vì vậy mà phải vào tù, khó miễn nỗi khổ lao ngục. “Song khuyển ngôn tranh thảo thập khẩu” (Đôi chó tranh lời cỏ mười miệng): “Song khuyển ngôn tranh” là một câu đố chữ, chú khuyển đầu tiên là chữ “犭”, tranh nhau chữ “ngôn” (言) ở giữa với chú khuyển thứ hai là chữ “khuyển” (犬), hợp lại thành chữ “ngục” (狱). “Thảo” (草) tức “thảo” (艹), “thảo” (艹) cộng thêm chữ “thập” (十) và chữ “khẩu” (口) chính là chữ “khổ” (苦). “Song khuyển ngôn tranh thảo thập khẩu” hợp thành “ngục khổ”, nhiều người tu luyện Pháp Luân Công sẽ phải chịu nỗi khổ tù đày. “Tạm thời tạm thời bất miễn ách” (Tạm thời không miễn được tai ách): Pháp Luân Công khẳng định sẽ gặp phải trấn áp, nhưng trấn áp chỉ là tạm thời, là ngắn ngủi, chứ không kéo dài lâu. “Cửu chi gia nhất tuyến vô hình” (Chín chi thêm một đường vô hình): Chín cộng thêm một là mười, tức “thập thắng”. Đây là “Đại Đạo vô hình” (tuyến vô hình), cuối cùng giành thắng lợi (thập thắng). “Thập thắng lưỡng bạch tri khẩu nhân, Bất cố tả hữu tiền tiền tiến” (Thập thắng hai trắng biết miệng người, Bất chấp xung quanh tiến về trước): “tri khẩu nhân” có thể giải ở ba phương diện: (i) đồng âm với “địa cầu nhân” (người trái đất) trong tiếng Hàn; (ii) đồng âm với “trì cửu nhân” (người giữ vững lâu dài) trong tiếng Hàn; (iii) chữ “khẩu” (口) có bốn phương, tức là Địa, “tri khẩu nhân” tức là người thông hiểu chuyện thế gian. Từ ba phương diện này, có thể nói những người tu luyện Pháp Luân Công biết hết thảy đều là tạm thời, họ sẽ vẫn “Bất chấp xung quanh tiến về trước“, vứt bỏ sinh-tử để duy hộ Đại Pháp vũ trụ, trong ma nạn mà kiên định bất di. “Tử trung cầu sinh nguyên chân lý, Xuất tử nhập sinh tín thiên thôn” (Trong chết cầu sống vẫn nguyên chân lý, Thoát chết mà sống tin thôn trên trời): Những người tu luyện anh dũng vĩ đại này vì bảo vệ Pháp Luân Đại Pháp (Pháp Luân Công) mà đối diện với đàn áp điên cuồng, đối diện với tù đày, giam ngục, đối diện với tra tấn, và thậm chí là cái chết, nhưng vẫn không sợ hãi. Trong thống khổ cực độ của bị bức hại, họ vẫn kiên tín vào Pháp Luân Công, kiên tín rằng Pháp Luân Đại Pháp là chân lý vũ trụ (“nguyên chân lý”). Bởi vậy, họ “Thoát chết mà sống tin thôn trên trời“, kiên định tín ngưỡng bản thân, cho dù tà ác có dùng đến hết thảy cơ cấu chuyên chính và thủ đoạn đàn áp cũng đều vô dụng. “Tạo thứ bất li giá thượng đài, Thản thản đại lộ vĩnh bất biến” (Vội vàng mà không rời đài này, Bình thản đường lớn mãi bất biến): Trong bước ngoặt quan hệ đến sinh-tử này, người tu luyện chỉ cần không hoảng loạn khinh suất (“vội vàng”) mà ly khai Pháp Luân Công, thì trấn áp của tà ác chỉ là ngắn ngủi, trước mặt sẽ là “Bình thản đường lớn mãi bất biến“. “Hữu hình vô hình lưỡng đại trung, Đạo thông thiên địa vô hình ngoại” (Có hình vô hình giữa hai lớn, Đạo thông thiên địa ngoài vô hình): Khi đang tiên tri về Pháp Luân Công gặp phải trấn áp tại Trung Quốc, vì sao lại luận về hữu hình, vô hình ở đây? Bởi vì Thần nhân chủ trương “Đạo thông thiên địa ngoài vô hình“, chỉ cần là Chính Đạo, thì hà tất phải suy tính “hữu hình, vô hình” đây? Chẳng hạn sự kiện thỉnh nguyện tại Trung Nam Hải ngày 25/4, vừa phù hợp với nguyên lý của vũ trụ, cũng phù hợp với chính nghĩa nơi nhân loại, hà tất phải bàn luận về “hữu vi, vô vi”? “Triệu Ất thỉ khẩu Chân Giác nhân, Kỳ thiên đảo Thần thời bất hưu” (Triệu lời thề thốt người Chân Giác, Cầu trời khấn Thần không được ngưng): “Triệu Ất thỉ khẩu” là cụm từ trợ hứng trong tiếng Hàn, ý là “đẹp quá!”, “tốt!”. Tuyệt lắm những người “Chân Giác”, bất kể tình thế hiểm ác thế nào, cũng thề không từ bỏ tu luyện. “Ác tội mãn thiên phán đoan nhật, Hàm Dương tam nguyệt gia an tại” (Tội ác rợp trời ngày tháng Giêng, Hàm Dương tháng Ba nhà yên ổn): Pháp Luân Công do ông Lý Hồng Chí truyền ra từ ngày 13/5/1992 tại Trường Xuân, được mọi giai tầng trong xã hội hoan nghênh, chỉ trong mấy năm đã có hơn 100 triệu người tu luyện. Cho đến trước ngày 25/4/1999 thì cơ bản là phát triển ổn định, không chịu thiệt hại lớn nào. Vậy thì “Hàm Dương tháng Ba nhà yên ổn” là gì? Hàm Dương là cố đô Trung Quốc, ẩn dụ thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc ngày nay. Ý nghĩa thực câu này là, mãi đến ngày 29/5/1999 (cuối tháng Ba âm lịch), Bắc Kinh ở Trung Quốc vẫn không xảy ra sự kiện trấn áp đẫm máu nào. Cũng là nói rằng, mặc dù phát sinh sự kiện Trung Nam Hải ngày 25/4 chấn động trong và ngoài nước, nhưng theo các tư liệu hữu quan, Thủ tướng Chu Dung Cơ và đại biểu Pháp Luân Công đã giải quyết hòa bình sự kiện ngày 25/4. Đến một tháng sau đó vẫn không phát sinh trấn áp bằng bạo lực. Tuy nhiên, Chủ tịch Giang Trạch Dân đã tức giận mà phát động cuộc đàn áp “tội ác rợp trời” vào ngày 20/7/1999. “Thanh hòe mãn đình chi nguyệt, Bạch dương vô nha chi nhật” (Tháng mà hòe xanh khắp sân, Ngày mà bạch dương không mầm): “Thanh” (xanh) là tháng thiếu, mà cây hòe xanh khắp sân là mùa Hè, không còn nghi ngờ gì nữa. Tháng thiếu mùa Hè, chính là tháng 6 âm lịch, tương đương tháng 7 dương lịch. Còn đối với ngày cụ thể, nguyên văn dự ngôn dùng chữ “vô nha” (không mầm). Chữ “nha” (芽) bỏ đi phần “nha” (牙) thì chỉ còn lại chữ “thảo” (艹), tức là 20 (trong tiếng Hán cổ, chữ “卄” chỉ số 20). Như vậy ngày mà “tội ác rợp trời” (ác tội mãn thiên) chính là ngày 20 tháng 7. “Địa thử nữ ẩn nhật, Tam sàng hậu ngọa” (Đất chuột nữ ẩn ngày, Ba giường nằm sau): “Chuột” là “Tý” (子), cùng “nữ” (女) hợp thành một chữ “hảo” (好), “Địa thử nữ ẩn nhật” có nghĩa là “ngày đẹp”. “Tam sàng” (ba giường) trong tiếng Hàn phát âm giống “thế gian”, “hậu ngọa” (nằm sau) cùng ý với “lật ngược”, “Tam sàng hậu ngọa” có nghĩa là thế gian điên đảo thị phi, trời đất đảo ngược. Vào ngày 20/7/1999, Pháp Luân Công bị trấn áp điên cuồng, đâu đâu cũng là “tội ác rợp trời”, Pháp Luân Công và người sáng lập bị gán đủ loại tội danh, điên đảo thị phi, thế nhưng “ngày đẹp” đã không còn xa nữa. Thập thắng thập xứ luận, Vị bặc định huyệt bất khả sinh. Địa lý thiên lý thập thắng cung cung địa, Vạn vô nhất thất nhập giả sinh. Hữu trí vô trí phân biệt thời. “Thập thắng thập xứ luận, Vị bặc định huyệt bất khả sinh” (Thập thắng luận mười chỗ, Chưa bắt định huyệt không thể sống): “Thập thắng luận mười chỗ”, luận theo địa lý, Hàn Quốc có mười nơi, tức mười thành thị nơi Pháp Luân Công hoằng truyền (về điểm này những dự ngôn như «Trịnh Giám Lục» đều có luận thuật). Hàn Quốc có mười nơi mà Pháp Luân Công rất phổ biến, tuy nhiên “Chưa bắt định huyệt không thể sống“, “định huyệt” ở đây chính là nhập môn tu luyện, nếu không thì không còn đường sinh. “Địa lý thiên lý thập thắng cung cung địa, Vạn vô nhất thất nhập giả sinh” (Lý đất lý trời đất cung cung thập thắng, Không được sai sót người vào sống): Các vị từ lý đất mà tìm “đất cung cung thập thắng” cũng được, từ lý trời mà tìm “đất cung cung thập thắng” cũng được, nhưng nhất định không được sai sót, đây chính là đường sinh. Nói cách khác, các vị tìm thấy Pháp Luân Công ở điểm luyện công cũng được, tìm thấy Pháp Luân Công từ trên Pháp lý cũng được, có thể nhập môn tu luyện là khả dĩ rồi. Tóm lại, dù từ trên trời hay dưới mặt đất, chỉ cần tìm được Pháp Luân Công “thập thắng cung cung địa” là tốt rồi, đây chính là phân biệt giữa người có trí và không có trí (“Hữu trí vô trí phân biệt thời“). Họa nhân ác tích bất miễn ngục, Nhân thú phân biệt lưỡng đoan nhật. Phi hỏa lạc địa hỗn độn thế, Tây phương Canh Tân tứ cửu Kim. Tùng Kim diệu số đại vận dã. Đây là năm câu cuối kết thúc đệ nhất thiên “Nam Sư Cổ bí quyết”. Nó minh xác đàm luận Pháp Luân Công sẽ gặp phải trấn áp, và đất nước đàn áp Pháp Luân Công là “hỗn độn” (lộn xộn), tuy nhiên Pháp Luân Công sẽ phát triển mạnh ở phương Tây. “Họa nhân ác tích bất miễn ngục, Nhân thú phân biệt lưỡng đoan nhật” (Gây họa tích ác không miễn ngục, Người thú phân biệt ngày tháng Giêng): Ở đây giảng kẻ ác trấn áp Pháp Luân Công đều không thoát khỏi kết cục hạ địa ngục, đây chính là ngày phân biệt giữa người và thú. “Phi hỏa lạc địa hỗn độn thế” (Lửa bay rớt xuống đất hỗn độn): Ẩn dụ cuộc đàn áp điên cuồng của tà ác đối với Pháp Luân Công khiến đất nước và dân tộc Trung Hoa rơi vào tai họa. “Tây phương Canh Tân tứ cửu Kim, Tùng Kim diệu số đại vận dã” (Phương Tây Canh Tân vàng bốn chín, Vàng kim số đẹp ấy vận lớn): Theo «Chu Dịch», phương Tây thuộc về Canh Tân; trong Thiên can, Canh và Tân là số 9 và số 4, thuộc Kim. Ở đây nói về sự giúp đỡ và công nhận Pháp Luân Công của các nước phương Tây, chính là “Vàng kim số đẹp ấy vận lớn”. “Vàng kim” ở đây không phải chỉ phù hiệu chữ Vạn “卍” ở trung tâm Pháp Luân, mà ý là Pháp Luân Công phát triển như triều cường ở phương Tây. Bởi vì Trung Quốc Đại Lục hiện tại vẫn đang đàn áp Pháp Luân Công, nhiều nước phương Đông cũng chịu ảnh hưởng nặng, nên Pháp Luân Công phát triển mạnh thành “đại vận” ở phương Tây. “Nam Sư Cổ bí quyết” cơ bản khái quát nội dung chủ yếu của «Cách Am Di Lục», bao gồm địa điểm, quá trình, tình huống của Đại Thánh nhân truyền Pháp Luân Công, đồ hình Pháp Luân, tới khi bị trấn áp và cuối cùng công thành viên mãn, v.v. có thể nói là tập hợp tinh hoa trong toàn bộ dự ngôn.
  7. Đây là thể ngộ của một người tu luyện Đại Pháp. Tôi coppy lên đây để mọi người tham khảo. Cũng mong rằng nó có thể sẽ có ích cho mọi người. Còn không cũng mong những ai không đồng ý thì cũng xem như một câu truyện vui giải trí không phỉ báng để tránh tạo nghiệp quả. 1. Lời mở đầu “Vị lai Bát quái phương vị”, mọi người nghe thấy danh từ này có thể cảm thấy rất kỳ quái. Có lẽ tất cả độc giả hiểu được «Kinh dịch» đều đã biết về “Tiên thiên Bát quái phương vị” và “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Tôi xác thực đã đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”, hơn nữa kết quả là vô cùng chấn động nhân tâm, do đó tôi mới cắt ngang kế hoạch sáng tác để thêm vào đây một loại bài với tiêu đề có chút cổ quái này. Nguyên kế hoạch của tôi là trong loạt bài “Lịch sử quan của tôi” sẽ thảo luận về “Tiên thiên Bát quái phương vị”, “Hậu thiên Bát quái phương vị” và quan hệ tương hỗ trong một giai đoạn lịch sử. Do tôi đã đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”, hơn nữa kết quả cho thấy những thông tin khá quan trọng, nên loạt bài này nhất định phải chen vào. Thưa quý độc giả, nếu kiên nhẫn đọc hết loạt bài này, có thể các bạn sẽ đồng tình với quan điểm của tôi. Tác giả: Tiểu Nham 2. Nguyên do Nói đến Bát quái, danh từ này đã bị người Trung Quốc thời nay làm biến dị mất rồi. Ví như nói cá nhân này rất “bát quái”, thì chính là nói cá nhân này rất bậy bạ, lời nói ra quá mức độ. Người “bái quái” cũng giống như là tự dưng dựng chuyện vậy. Bởi vì người ta không lý giải được, cho nên hiện tại họ cấp cho danh từ “bát quái” này hàm nghĩa rất thế tục. Kỳ thực đây là không tôn trọng văn hóa truyền thống Trung Hoa và khinh nhờn tổ tiên Trung Hoa, cũng giống như tên món ăn “Phật nhảy qua tường” vậy. Phật là khẩu đoạn chấp trước, làm sao có thể “nhảy qua tường” để đến nhân gian thưởng thức mỹ vị được! Cái gọi là “mỹ vị” ở nhân gian, đối với Phật mà nói cũng tựa như đồ rác rưởi vậy! Đây là bởi vì thế nhân vô tri, nên mới dám nói như thế. Lý giải về Bát quái của con người thế gian cũng giống như thế. Nói đến Bát quái, tôi cũng cần phải nói về kết duyên của tôi với Bát quái. Người Trung Quốc hiện tại đại đa số là bất tín mệnh, không tin vào vận mệnh. Do chịu giáo dục bởi khoa học thực chứng của phương Tây nên người ta dần dần chỉ tin vào phấn đấu cá nhân và sức mạnh của đồng tiền, hơn nữa người Trung Quốc thời nay còn thực dụng hơn cả người Tây phương. Tuy nhiên tôi cũng giống như những người tu hành, đều là tín mệnh, tin vào vận mệnh. Tôi cho rằng duyên phận với Bát quái của tôi là khá lâu dài, nên muốn “kể từ đầu”; đương nhiên “từ đầu” này chỉ là từ đầu trong kiếp sống này, chứ còn nói về đời trước, thì e rằng rất nhiều người không tin nổi nữa. Nói là từ đầu, thì cũng là hơn 30 năm trước, cũng chính là mấy năm khi “Cách mạng Văn hóa” vừa mới kết thúc. Khi ấy tôi còn là một thiếu niên liễu lĩnh. Tôi có một vị đồng học, tổ tiên từng làm quan lớn khi Chính phủ Dân Quốc rời Đông Bắc sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và tiếp nhận rất nhiều sách vở của Hoàng cung Mãn Châu (rất nhiều đều là Phổ Nghi năm ấy đem từ Bảo tàng Cố cung). Một lần tôi và đồng học đến đó, chỉ thấy mấy gian phòng, khắp nơi là thư tịch; đồng học nói với tôi có thể lấy tùy thích. Khi ấy tôi chọn mấy bản đẹp, trong đó có cuốn «Cổ văn quan chỉ» được khâu chỉ, «Tứ khố toàn thư» trong Bảo tàng Cố cung, còn có «Thần thoại La Mã» xuất bản bằng tiếng Pháp từ thế kỷ 17, v.v. Tôi chọn mấy cuốn với tiêu chuẩn là nhìn đẹp, tốt nhất là văn hay tranh đẹp. Trong đó có một cuốn sách hình gọi là «Hán thượng dịch». Đây chính là lần kết duyên tối nguyên sơ của tôi với «Kinh dịch». Điều đáng tiếc chính là, những cuốn sách còn lại cuối cùng đều bị bán làm phế phẩm, trở thành bột giấy, không còn nữa. Cầm cuốn «Hán thượng dịch» trở về nhà, tôi hỏi mẹ tôi cái này có nghĩa là gì; mẹ tôi trả lời không được, nói đến hỏi thử bà ngoại xem. Bà ngoại tôi đã học qua trường tư thục, đối với Tứ thư, Ngũ kinh thì thuộc làu làu. Bà ngoại tôi là thầy dạy nhập môn của tôi, từng giảng cho tôi rất nhiều cố sự thời Xuân Thu Chiến Quốc và các điển cổ truyền thống, do đó «Đông Chu liệt quốc chí» đã trở thành sách giáo khoa của tôi hồi còn nhỏ. Thế là sau khi đến bà ngoại, tôi đem cuốn «Hán thượng dịch» cho bà xem. Bà ngoại xem xong nói, mỗi chữ hoặc mỗi câu trong đó thì bà đều hiểu nghĩa, nhưng không biết là nói về điều gì. Tôi nghe bà nói xong thấy rất nhụt chí, sau đó định từ bỏ cuốn «Hán thượng dịch» này. Đây chính là lần kết duyên đầu tiên của tôi với «Kinh dịch». Sự việc đã trôi qua hơn 30 năm rồi. Dưới đây tôi lại nói về duyên phận lần thứ hai của tôi với «Kinh dịch». Lần duyên phận này tương đối lâu dài, trước sau lên tới 8 năm. Hồi tưởng lại, thấy khi còn trẻ, tôi đã là người rất kiên định theo đuổi khoa học thực chứng. Tôi đặc biệt sùng bái thành tựu vật lý học cận đại. Giấc mơ thời niên thiếu của tôi chính là có thể tiến thêm một bước nữa, học tập vật lý học hoặc nghề nghiệp liên quan đến vật lý học. Xã hội thời bấy giờ giảng “học giỏi Toán Lý Hóa, có đi khắp thiên hạ cũng không sợ”. Đây cũng chính là những năm tôi lần đầu tiên tiếp xúc với «Hán thượng dịch». Tôi đã bắt đầu đọc cuốn «Vật lý học sử», đồng thời bắt đầu đọc sách liên quan đến triết học Newton và tư tưởng Einstein. Ở tuổi của tôi lúc bấy giờ, đây đã là rất quá mức rồi. Tuy nhiên, đối với hình thành thế giới quan của tôi, ngoại trừ ảnh hưởng của khoa học thực chứng ra, thì còn có một sự kiện ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của tôi. Đây chính là loạt tiết mục trên truyền hình, gọi là “Hướng về tương lai”, hình như là phim của Đức, nói về bí ẩn Kim tự tháp, bí ẩn Atlantis, bí ẩn đảo Phục Sinh, v.v. “Ồ, khoa học không thể giải quyết tất cả vấn đề, còn có rất nhiều ẩn đố chưa được nhân loại giải thích!” Đây là cách nghĩ của tôi năm ấy, từ đó thế giới quan của tôi cởi mở hơn nhiều, không còn phong bế chật hẹp như trước nữa; tôi cũng không còn coi khoa học thực chứng là một loại chân lý tuyệt đối nữa. Sau khi vào đại học, vì một số nguyên nhân, tôi không chọn học vật lý học, nhưng vẫn muốn lấy phương pháp vật lý học để vận dụng vào lĩnh vực chuyên nghiệp của tôi. Như một loại sở thích và niềm tin, tôi không hề từ bỏ học tập và nghiên cứu vật lý học. Tôi nghiên cứu chủ yếu về lý luận kết cấu xua tan, nhiệt lực học phi cân đối, luận từ trường, lượng tử lực học, thuyết Tương đối rộng, thuyết Tương đối hẹp cũng nghiên cứu không ít. Tuy nhiên nghiên cứu đi nghiên cứu lại, tôi phát hiện vật lý học cũng không phải là chân lý tuyệt đối; vật lý học dựa trên rất nhiều mệnh đề và giả thiết. Đặc biệt sau khi học về giả thuyết kiểm nghiệm trong thống kê, tôi biết loại giả thiết kiểm nghiệm này kỳ thực là rất chủ quan. Chỉ nằm trong phạm vi những giả thiết ấy thì các loại công thức và lý luận mới chính xác. Tuy nhiên một khi vượt qua những mệnh đề và giả thiết ấy, thì công thức và lý luận vật lý học lại không sử dụng được. Cũng chính là nói vật lý học hay là khoa học thực chứng đều không phải là vạn năng, mà chỉ là một loại chân lý tương đối. Sau đó tôi bắt đầu suy ngẫm, thấy rằng tính chân lý của khoa học là hữu hạn, là tương đối; như vậy tôi phải đi đâu đó để tìm tri thức hoặc chân lý cao hơn. Cá nhân tôi rất thích tư duy lô-gíc, thế là sau đó tự nhiên nghĩ đến mặt đối lập của khoa học—tôn giáo (thực ra cũng không phải là đối lập, chỉ là khi ấy tôi nghĩ như thế). Do đó tôi bắt đầu nghiên cứu khá hệ thống các loại tri thức tôn giáo, ví dụ Cơ Đốc giáo, Thánh Kinh, Phật giáo, Đạo giáo, v.v. Khi ấy, tôi gặp được một vị bằng hữu A, là bằng hữu của cha mẹ tôi, sau đó trở thành bạn vong niên của tôi. Bằng hữu A bắt đầu dẫn dắt tôi tiếp xúc có hệ thống với văn hóa truyền thống Trung Quốc và tư tưởng Phật giáo. Sau đó tôi học mệnh lý học, xem tướng và tứ trụ bát tự, v.v. thậm chí tôi đã từng xem bói cho hơn 100 vị bằng hữu. Đây là thời kỳ tiếp xúc với Bát quái lần thứ hai của tôi. Tôi không chỉ xem các loại bản đọc «Kinh dịch» bạch thoại, mà còn tìm được mấy bản «Chu dịch» đã được phiên dịch thành Anh văn từ những năm 1930. Lúc bấy giờ tôi rất kinh ngạc, ảnh hưởng của «Chu dịch» đã sớm lan ra nước ngoài, vậy mà trong hệ thống giáo dục của chúng tôi khi ấy thì một chút cũng không có. Sau đó thông qua đọc rất nhiều bản dịch Anh văn, tôi đã có hiểu biết sâu hơn về bản «Kinh dịch» bằng tiếng Trung. Ví dụ Anh văn dịch «Kinh dịch» là “The Book of Change”; từ “change” là một tầng lý giải mới đối với “dịch” (biến hóa); trước đây tôi nghĩ «Kinh dịch» chỉ là một cái tên sách mà không ngộ được hàm nghĩa sâu hơn của chữ “dịch”. Trong thời gian ấy, đối với nghiên cứu «Kinh dịch» của tôi còn có một động lực thúc đẩy, là gì vậy? Chính là tư tưởng binh pháp truyền thống của Trung Quốc. Thời ấy tôi rất hứng thú với «Binh pháp Tôn Tử» cũng như các tác phẩm tương quan, và những tư tưởng này cuối cùng đã trở thành một bộ phận trong hệ thống lý luận luận văn Tiến sĩ của tôi. Trong binh thư có một bản «Tam thập lục kế». «Tam thập lục kế» tại Trung Quốc có thể nói là người người đều biết, thế nhưng rất ít người chân chính nghiên cứu nó. «Tam thập lục kế» trở thành sách vào triều Minh, mỗi kế trong cuốn sách đều sử dụng nguyên lý trong «Kinh dịch» để giải thích. Điều này đối với tôi là một gợi ý rất lớn. Ví dụ cổ nhân dùng các số 6, 7, 8, 9 để biểu thị các hạng ứng dụng. Trong đó 6, 8 là Âm, 7, 9 là Dương. «Kinh dịch» dùng 6 để đại biểu Âm, lấy 9 để đại biểu Dương, ví như thượng cửu, thượng lục, sơ cửu, cửu nhị, cửu ngũ, v.v. Dương 9 Âm 6 chính là khái niệm hào của Âm Dương, và không chỉ có vậy. Thượng cửu, sơ lục, trưởng nam, thiếu nữ, vị trí trưởng ấu, Dương trưởng Âm thiếu; ở đây còn có khái niệm về hào vị. Điều này rất có quan hệ với ý nghĩa “trưởng nam thiếu nữ” của “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Ví như, “trưởng nam” đối ứng với 9, đại biểu Dương, Dương 7, 9 đứng đầu lấy làm trưởng giả, Dương giả là 9, làm trưởng, tức trưởng nam; “thiếu nữ” đối ứng với 6, đại biểu Âm, Âm 6, 8 đứng đầu lấy làm thiếu giả, là 6, làm thiếu, tức thiếu nữ. Trở lại đề tài chính, như vậy vì sao gọi là «Tam thập lục kế»? Lẽ nào trí tuệ Trung Quốc chỉ có 36 cái thôi sao? Đương nhiên không phải vậy. «Tam thập lục kế» có nghĩa là gì? Chúng ta biết rằng, 6 đại biểu Âm, binh gia giảng chính là âm mưu quỷ kế, do đó lấy ý là 6×6=36; “lục” đại biểu ý là âm mưu, tam thập lục thuộc về âm của âm, chứ tuyệt không phải trí tuệ Trung Quốc chỉ có 36 cái. Bởi vì «Tam thập lục kế» là dùng tư tưởng 8×8=64 quẻ trong «Kinh dịch» để tiến hành giải thích, nên khi ấy tôi nghĩ, liệu có thể lấy một bộ phận quẻ tượng trong «Kinh dịch» để dùng cho nghiên cứu quan hệ “mô hình xung đột đối kháng” của xã hội nhân loại hay không. Liệu có thể đem điều này áp dụng vào nghiên cứu xung đột xã hội “phi đối kháng”, ví dụ kinh tế hay không. Đây chính là cách nghĩ lúc bấy giờ của tôi. Sau đó tôi bắt đầu nghiên cứu «Kinh dịch» khá hệ thống, thậm chí còn tham gia các khóa học chuyên nghiệp, dùng phương pháp thống kê học để viết mấy bài luận văn học kỳ chuyên thảo luận về quan hệ giữa «Kinh dịch» và «Tam thập lục kế». Chúng ta biết rằng, Dịch học có thể phân thành hai nhánh lớn là Nho học và Đạo học; Khổng Tử làm thập dực, càng chú trọng về bộ phận tư tưởng trong Dịch học, thuộc về Nho học dịch; còn Đạo học dịch càng chú trọng vào thuật số và toán lý. Tuy nhiên sau khi Đổng Trọng Thư thời Tây Hán độc tôn Nho thuật, Nho học dịch được đưa vào căn phòng thanh lịch, còn Đạo học dịch đi vào bí truyền trong dân gian. Trên thực tế, những thư tịch về Dịch học mà chúng ta thấy ngoài xã hội hiện nay đều thuộc về Nho học dịch, còn những họ lớn thuật toán trong lịch sử như «Mai hoa thi» của Thiệu Ung triều Tống, «Thôi bối đồ» của Viên Thiên Cang triều Đường, «Thiêu bính ca» của Lưu Bá Ôn triều Minh đều thuộc về Đạo học dịch, hơn nữa đều là những dự ngôn vĩ đại truyền tụng cổ kim. Nói thẳng ra, trong thời kỳ này tôi chủ yếu mới chỉ dừng lại ở tầng diện gọi là “thuật” khi nghiên cứu và lý giải «Kinh dịch»; coi như học được thủ pháp này, toán pháp kia. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng thủ pháp chân chính là không thể từ Nho học dịch lưu truyền trong xã hội mà nắm được, cũng không thể từ cái gọi là thủ pháp và thuật số xuất bản ngoài xã hội để tìm được đáp án; những thứ chân chính đều là bí truyền cả! Toán lý chân chính, trong các sách này đều không có giảng. Sau đó tôi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, do đó đã vứt bỏ những thứ này, không lại hiếu kỳ về cái gì gọi là cát hung nữa, không lại tìm tòi tiểu đạo về vận mệnh nữa. Vậy là duyên phận thứ ba đối với «Kinh dịch» của tôi đã kết thúc. Thật ra, đây là thời kỳ tôi học tập khá có hệ thống về «Kinh dịch». Tuy nhiên tư tưởng chân chính đằng sau những tri thức này (không chỉ tư tưởng triết học của Nho học dịch, mà tư tưởng toán lý và quy luật vũ trụ ẩn đằng sau) vẫn còn là đám sương mù, không cách nào từ bản chất, từ cơ chế mà thấy rõ ràng được. Kể từ đó, bởi vì đã học Đại Pháp rồi, đối với các chủng lý luận thế tục và sách vở ngoài xã hội tôi không còn hứng thú nữa, cũng không lại quan tâm đến học thuyết nào đó nơi người thường nữa, bởi vì những thứ đó rất đơn giản, không có gì là thật cả, nhìn một cái là biết ngay. Lại khá nhiều năm qua đi như vậy. Đến năm 2005, do yêu cầu công tác, tôi cần phải tiến hành nghiên cứu các tư tưởng quản lý khác nhau ở cả Đông và Tây phương. Xuất phát từ gợi ý từ tư tưởng Bát quái phương vị, một ngày kia (có lẽ là tầm ngày 20 tháng 8 năm 2006) tôi đưa ra kết cấu nghiên cứu song bàn, trong là “nhân bàn”, ngoài là “thiên bàn”. Đồng thời tôi cũng phát hiện trong thể hệ tư duy Tây phương không hề có khái niệm về “vị trí” (khái niệm bối cảnh “context” là sau lý luận hệ thống mới có). Tôi phát hiện tư tưởng Tây phương bao giờ cũng tìm kiếm một loại góc độ quan sát tuyệt đối. Còn tư tưởng Bát quái, người phân Âm Dương, là dùng hào để biểu thị {hào gồm có hào Âm biểu thị bằng nét đứt và hào Dương biểu thị bằng nét liền}. Ngoài khái niệm về hào ra, còn có khái niệm về hào vị {vị trí của hào trong quẻ}, đây là điều không có trong truyền thống nghiên cứu Tây phương. Thông qua mô hình song bàn, căn cứ quan hệ tương hỗ giữa “chủ thể” và “khách thể” (tương đương với hào) cũng như “chủ vị” và “khách vị” (tương đương với hào vị), tôi đã nghiên cứu về “thiên nhân hợp nhất” trong truyền thống Đông phương và “tri hành hợp nhất” trong phương thức biểu đạt Bát quái. Tôi cũng nghiên cứu dưới điều kiện “Âm Dương phản bối”, quan hệ đảo ngược giữa “chủ thể” và “khách thể” trong tư tưởng Tây phương, cùng cái gọi là “khách quan” được nhấn mạnh trong tư tưởng Tây phương, cũng như vấn đề lai nguyên trong tư duy về thủ đoạn “vật chất”. Đây là bắt đầu lần tiếp xúc thứ ba của tôi với «Kinh dịch». Lần này khác với những lần trước chính là, bởi vì bản thân là người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp đã nhiều năm, hiểu rằng rất nhiều chỗ trong «Chuyển Pháp Luân» đều là tiết lộ Pháp lý tầng thứ cao trong vũ trụ. Những vấn đề Dịch học trước đây nhìn không ra, những cơ lý đằng sau «Kinh dịch» mà trước đây không phát hiện ra thì nay đều minh bạch cả, thậm chí chỉ nhìn một cái là rõ ngay. Từ đó tôi dễ dàng đưa ra những phát hiện về lý luận. Trong thời gian này tôi cảm nhận sâu sắc rằng, không phải bản thân có bản sự gì, cũng không phải bản thân thông minh thế nào, vậy mà trong bao nhiêu năm căn bản không xem lại «Kinh dịch», nói gì đến nghiên cứu, thế nhưng chỉ nhìn một cái đã minh bạch rồi, đây hoàn toàn là công của Pháp Luân Đại Pháp. Bộ Pháp này quả thực là quá vĩ đại, có thể khai mở hết thảy bí ẩn trong vũ trụ. Những yêu cầu trong công tác và nghiên cứu của tôi hết thảy đều nằm trong bộ Đại Pháp này. Trong khoảng thời gian này, cụ thể là ngày 2 tháng 9 năm 2006, tôi đã vận dụng cơ lý xoay chuyển Pháp Luân của Pháp Luân Đại Pháp để suy ra nguyên lý chuyển từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” sang “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Sau khi tìm được cơ lý “Hậu thiên Bát quái phương vị”, tôi cảm thấy chẳng để làm gì và còn định bỏ tại đó, không định nghĩ đến nó nữa. Lần này, nguyên do lần kết duyên thứ tư của tôi với «Kinh dịch» là như thế này. Hai tháng trước, tôi một lần nữa gặp lại bằng hữu A; tôi hỏi ông căn cứ nghiên cứu cổ tịch, mệnh lý học và thuật số bao nhiêu năm của ông thì ông có biết ai đã hiểu được năm xưa Văn Vương đã suy luận “Hậu thiên Bát quái” từ “Tiên thiên Bát quái” như thế nào? Bằng hữu A trả lời rằng ông chưa từng nghe nói có ai nghiên cứu ra điều này, chỉ biết mệnh lý thuật số mấy nghìn năm qua đều kiến lập trên cơ sở “Hậu thiên Bát quái” của Văn Vương. Còn Văn Vương đã suy ra “Hậu thiên Bát quái” như thế nào thì e rằng chẳng ai biết, ngoại trừ mấy pháp môn bí truyền của Đạo gia thì may ra có người biết. Sau đó tôi nói với bằng hữu A rằng tôi đã suy ra được rồi. Bằng hữu A giật mình. Đây còn chưa phải toàn bộ chỗ mấu chốt của vấn đề. Chỗ mấu chốt là đoạn đối thoại sau đó giữa tôi và bằng hữu A. Bằng hữu A nói: “Ông đã có thể từ ‘Tiên thiên Bát quái’ mà suy ra “Hậu thiên Bát quái’, vậy thì nhất định ông có thể từ ‘Hậu thiên Bát quái” suy ra ‘Vị lai Bát quái’”. Có lẽ có độc giả đã biết rằng, trong giới mệnh lý học, ngay từ cuối những năm 80 thế kỷ trước, rất nhiều “cao nhân” đều biết thiên tượng của vũ trụ hiện nay đã biến đổi rồi. Văn Vương năm xưa đưa ra “Hậu thiên Bát quái” cũng chính hợp với biến đổi thiên tượng lúc ấy giờ; xem bói dùng “Tiên thiên Bát quái’ không còn linh nữa, do đó Văn Vương tất phải căn cứ biến hóa thiên tượng khi ấy để đưa ra một bộ “Hậu thiên Bát quái” thích ứng với thiên tượng mới. Hiện tại 3.000 năm đã qua rồi, lại tới thời đại biến hóa thiên tượng rồi, do đó căn cứ thuật số trong «Dịch lý», bất luận là xem bói bốc quẻ hay tứ trụ bát tự cũng đều không chuẩn xác nữa. Thiên tượng đã cải biến rồi, tất cả thuật số toán pháp kiến lập trên cơ sở “Hậu thiên Bát quái phương vị” đều không còn linh nữa. Bằng hữu A đã rất sớm nói với tôi, hiện tại gieo quẻ đã không còn linh nữa, nhưng xem tướng thì còn được, là vì tướng do tâm sinh, có thể tùy thiên tượng biến hóa mà biến hóa, thế nhưng quẻ tượng thì đã không thể sử dụng được nữa. Từ đó bằng hữu A cứ nghĩ rằng, hiện tại thiên tượng vũ trụ đã biến đổi rồi, dù sao cũng phải có người đứng ra công bố Bát quái phương vị đồ ứng với thiên tượng mới của vũ trụ chứ! Đây là điều mà bằng hữu A nhớ mãi không quên, do đó tự nhiên ông cứ kiến nghị tôi đưa ra “Vị lai Bát quái”. Đây là sự việc mới xảy ra 2 tháng trước. Bằng hữu A cứ nói, tôi cứ nghe, cũng không có chuyển biến gì. Tối ngày 11 tháng 12, tôi mất ngủ, trằn trọc mãi không ngủ được. Mấy hôm ấy tôi đang chuẩn bị bài diễn thuyết về tư tưởng quản lý kinh doanh xí nghiệp và văn hóa truyền thống, do đó đến tối đại não vẫn khá hưng phấn. Đã quá 2 giờ đêm, tôi vẫn ngủ không được, xem ra cả đêm không ngủ được, thì đột nhiên nghĩ tới sự việc bằng hữu A mời tôi đưa ra “Vị lai Bát quái”. Thế là tôi nghĩ nên thử xem sao, vừa nằm vừa bắt đầu suy nghĩ, nói đến cũng thật thần kỳ, tôi không vẽ hình mà chỉ tính toán trong đầu não, tưởng tượng xem “Vị lai Bát quái” rốt cuộc là thế nào. Cứ như vậy, một tiếng đồng hồ trôi qua, tôi sắp nhắm mắt lại rồi mà vẫn cảm thấy thật khó mà tin nổi, chẳng lẽ đưa ra dễ dàng như vậy ư?! Suy ra được rồi, tôi vẫn còn chưa yên tâm, thế là sáng sớm hôm sau ngồi dậy đã cầm bút vẽ hình trên giấy, nghiệm chứng một lần nữa. Cách tính toán không có gì, nhưng kết quả bức vẽ lại khiến tôi giật mình. Đây chẳng phải là kết quả Chính Pháp vũ trụ mà Pháp Luân Đại Pháp tiết lộ hay sao?! Đây chẳng phải là kết quả giảng chân tướng cứu thế nhân của vô số đệ tử Pháp Luân Đại Pháp tu luyện trong Chính Pháp ư?! Đây chẳng phải là kết cục cuối cùng của chúng sinh trên thế gian hay sao?! Là thẩm phán tối hậu?! Điều này không khỏi khiến tôi nghĩ về bài thơ “Vô đề” trong tập Hồng Ngâm II của Lý Hồng Chí Tiên sinh, trong đó có câu: “Thần nhân quỷ súc diệt, Vị trí tự kỷ định“. Ôi chao, kết quả thật đáng kinh ngạc! Văn minh Trung Hoa 5.000 năm chỉ để đợi ngày này! Những ông tổ văn hóa Trung Hoa trong thời đầu của nền văn minh đã sớm đưa đại kết cục 5.000 năm sau vào ẩn đố trong Bái quái! Quả thực là quá thần kỳ, không thể tin được, quá vĩ đại! Những người Trung Quốc đáng quý, các bạn không được có lỗi với tổ tiên nhé! Phải xứng đáng với chiếu cố và an bài vi diệu vô cùng của Thần trên thiên thượng! Đừng để vì món lợi nhỏ trước mắt mà đánh mất cơ duyên đã chờ đợi trong hàng ức vạn năm! Tôi có một vị bằng hữu là tư vấn quản lý công ty mới đây đã nhiều lần hỏi tôi rằng, xã hội nhân loại vì sao “khởi điểm đã là đỉnh điểm”? Thượng Đế đã có an bài tỉ mỉ trong 5.000 năm qua, mục đích để làm gì? Cuối cùng để nhân loại chúng ta hiểu được điều gì? Đối diện với những câu hỏi này, tôi đã không ngừng từ Pháp lý của Pháp Luân Đại Pháp để giải thích. Tuy nhiên vị bằng hữu này của tôi vẫn không ngừng hỏi. Hai ngày trước, tôi đã đưa phát hiện “Vị lai Bát quái phương vị” nói cho vị này, và vị bằng hữu trông như đang ôm bảo bối trước ngực vậy. Nguyên là tôi không định dùng phát hiện này để giải đáp vấn đề cho bằng hữu, thế nhưng kết quả phát hiện đã giải đáp trọn vẹn những bí mật mà bằng hữu của tôi quan tâm; điều này vượt ra ngoài dự liệu của tôi. (II) Tiên thiên Bát quái phương vị và Hậu thiên Bát quái phương vị 1. Nói từ «Phong Thần diễn nghĩa» Vào những năm 80, 90 thế kỷ trước, tôi đọc được một tin tức trên báo chí nói rằng tại nơi mà Phục Hy năm xưa nhìn thấy bạch quy {rùa trắng} lại một lần nữa xuất hiện bạch quy, trên mu rùa có Bát quái văn. Nghe nói năm xưa Phục Hy nhờ quan sát Bát quái trên lưng rùa, sau đó ngẩng mặt nhìn trời, cúi đầu nhìn đất mà sáng lập Bát quái, khai sáng khởi nguyên văn hóa Trung Hoa. Sau đây tôi sẽ đưa ra một số thông tin sưu tập trên mạng để mọi người tham khảo. “19 năm trước (tác giả ghi chú: tức năm 1984), người ta bắt được một cụ rùa trắng hơn 200 tuổi tại hồ Tiền Thành, gần đài Họa Quái ở Hoài Dương. Do đó, hồ rùa trắng xuất ra rùa trắng, đã chứng minh tính chân thực của truyền thuyết 6.000 năm trước, ông tổ Thái Hạo Phục Hy bắt được bạch quy ở Thái Thủy, đào ao nuôi thả, ngày đêm quan sát, bắt đầu sáng tác Bát quái. Sau 6 năm biến mất trong hồ khi được phóng sinh, hôm nay rùa trắng lại hiện thân tại Hoài Dương.” “Vì sao bạch quy này xuất hiện tại đây và ‘dẫn người đến xem’? Theo cán bộ huyện về hưu, người từng nghiên cứu phong tục dân gian thì trong truyền thuyết, ông tổ Thái Hạo Phục Hy bấy giờ từ Thái Hà bắt được một con bạch quy, đào ao tự nuôi, thường đến ao quan sát và nhờ được gợi mở từ hoa văn trên thân bạch quy mà vẽ ra Bát quái; bởi vậy bạch quy là thánh vật giúp Phục Hy sáng tác Bát quái. Vậy rốt cuộc trên đời có bạch quy hay không? Sớm ngày 16 tháng 8 năm 1984, tại Đông Quan thuộc huyện Hoài Dương, một thiếu niên tên là Vương Đại Oa đã câu được một con bạch quy tại ao Bạch Quy trước đài Họa Quái. Chú rùa này toàn thân trắng toát, trong sáng lung linh, nặng 1,3 cân, gần như hình tròn. Theo giám định của chuyên gia hữu quan, chú rùa này đã 235 tuổi. Các chuyên gia kinh ngạc khi phát hiện các hoa văn trên thân bạch quy, cùng với bức họa Tiên thiên Bát quái của Phục Hy là nhất trí đến lạ thường. Chính giữa mu rùa có năm miếng, tượng trưng cho ‘Ngũ Hành’ là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; xung quanh trung tâm mu rùa có tám miếng, tượng trưng cho Bát quái là Càn, Cấn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Khôn, Đoài; vòng ngoài mu rùa có 24 miếng, tượng trưng cho 24 tiết khí, dưới bụng có 12 miếng, tục xưng là ‘Địa chi’, tượng trưng cho Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi; móng rùa giống móng rồng, bắp chân có chữ ‘nhân’.” “Theo «Nguyên hòa quận huyện đồ chí» thì: đài Bát quái và đàn Bát quái ở huyện Bắc chính là họa Bát quái do Phục Hy vẽ. Sử liệu hữu quan ở Hoài Dương ghi lại, sau khi định đô ở Hoài Dương, Phục Hy bắt được bạch quy từ Thái Thủy, đào ao nuôi dưỡng, ngẩng mặt nhìn trời, cúi đầu nhìn đất, quan sát vạn vật, lại căn cứ theo biến hóa thiên tượng và hình trên mu rùa để vẽ ra Bát quái. Năm 1984, bạch quy lại hiện thân tại Hoài Dương, còn ghi chép trước đó về bạch quy trong lịch sử thì chỉ là văn nhân mặc khách tưởng tượng mà thôi. Hôm nay, bạch quy lại một lần nữa hiện thân, khiến truyền thuyết trở thành hiện thực; vậy có thể nói, bạch quy là ‘hóa thạch sống’ để nghiên cứu văn hóa Phục Hy.” Đương nhiên, đại đa số người ta chỉ coi đây là một câu chuyện để đọc cho vui, và coi việc lấy Bát quái từ bạch quy là một cố sự thần thoại không cách nào khảo cứu. Nhưng trên thực tế, dường như tất cả văn hóa các dân tộc đều bắt nguồn từ những cố sự thần thoại như vậy, chẳng lẽ cố sự thần thoại là chuyện của Thần thật ư? Bản thân tôi không định coi nó là cố sự, khi ấy tôi nghĩ, bạch quy tái hiện nhất định là biến hóa thiên tượng! Bạch quy tuyệt không phải là vô duyên vô cớ mà xuất hiện. Ở đây tôi muốn kể cho mọi người một câu chuyện, và có thể các bạn chỉ coi như cố sự để nghe, bởi đây chẳng qua chỉ là một phỏng đoán của tôi mà thôi. Mọi người nhất định đều từng nghe cố sự Đát Kỷ làm loạn triều đình rồi phải không. Điều này đối với việc Văn Vương suy ra “Hậu thiên Bát quái” là có quan hệ, là chủ tuyến của «Phong Thần diễn nghĩa». Đát Kỷ nguyên là con gái của Ký Châu hầu Tô Hộ, sau đó bị cáo chín đuôi phụ thể, rồi đi mê hoặc Trụ Vương nhà Thương, dẫn đến mất nước; Võ Vương từ đó khai sáng giang sơn nhà Chu kéo dài 800 năm, xã hội Trung Quốc từ đó tiến nhập vào “thời đại Thiên Tử” của “Hậu thiên Bát quái”. Nếu như tôi nhớ không nhầm, thì đầu những năm 90 thế kỷ trước, tôi đã xem được một bài báo, nói trong rừng Tương Tây ở Hồ Nam, Trung Quốc, người ta đã phát hiện ra loài chim chín đầu có trong truyền thuyết. Đọc được tin tức này, tôi cảm thấy rất không hay, bởi tôi nghĩ tới cảnh thiên hạ đại loạn vì cáo chín đuôi năm xưa. Hồ ly yêu mị, hồ ly chín đuôi, nó nhất định là lẳng lơ dị thường; hôm nay xuất hiện chim chín đầu trong truyền thuyết, quả nhất định không thể xem thường. Chim thì thế nào? Chim thường ca hát, chim chín đầu ca hát thì nhất định là rất êm tai. Mấy năm sau, tại Tương Tây xuất hiện một “Spicy Girl”, luôn đứng hát bên cạnh Giang Trạch Dân, trở thành “quốc mẫu” nửa cấp ba lại nổi danh với nghiệp ca hát {nữ ca sĩ Tống Tổ Anh}. Đúng là thiên tượng đều có an bài ở bên dưới, chỉ có thế nhân là không tin mà thôi! (II) Tiên thiên Bát quái phương vị và Hậu thiên Bát quái phương vị 2. Tiên thiên Bát quái phương vị Sau đây chúng ta sẽ trở lại vấn đề chính. Nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta trong phần này là trình bày tôi đã suy luận Hậu thiên Bát quái phương vị từ Tiên thiên Bát quái phương vị dựa trên cơ chế nào. Như vậy trước tiên chúng ta phải xem hình dạng Tiên thiên Bát quái phương vị (Hình 1 và Hình 2) cùng những ngụ ý trong đó. Hình 1: Tiên thiên Bát quái phương vị đồ của Phục Hy Trên đây là đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị”. Theo truyền thuyết, thủy tổ văn hóa Trung Hoa là Phục Hy đã ngẩng mặt nhìn trời, cúi đầu nhìn đất mà sáng tạo ra phương vị Bát quái này. Tất nhiên, đây là cách nói về nguồn gốc của Bát quái trong xã hội nhân loại. Kỳ thực Bát quái có khởi nguyên cao hơn, vượt ra khỏi nhân loại. Như vậy ý nghĩa của nghiên cứu Bát quái phương vị là gì? Vì sao chúng ta phải nghiên cứu Bát quái phương vị? Chúng ta biết rằng, Bát quái là một loại mô hình vũ trụ, có sẵn công năng dự báo tương lai của vũ trụ và vận mệnh của con người. Dự báo như thế nào? Đương nhiên kinh điển nhất chính là có thể xem bói thông qua cỏ thi hoặc đồng tiền. Đây là coi bói đối với một sự kiện cụ thể, xem một quẻ tượng cụ thể để dự đoán cát hung. Còn nếu phải nghiên cứu một quy luật sự kiện lớn, ví dụ quy luật diễn hóa và thay đổi của xã hội nhân loại, thì nhất định phải biết thứ tự sắp xếp giữa các quái {quẻ} với nhau; đây chính là vấn đề Bát quái phương vị cần phải giải quyết, cũng chính là thứ tự sắp xếp của Bát quái. Mấy nghìn năm qua, tất cả mệnh lý thuật số trong «Chu dịch» đều là căn cứ vào thứ tự “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương mà thành lập. Nhưng “Hậu thiên Bát quái phương vị” là Chu Văn Vương căn cứ quan sát của mình đối với biến hóa thiên tượng hậu thiên để đưa ra. Do đó đây là Dịch học hậu thiên của Chu Văn Vương, còn gọi là «Chu dịch». Kỳ thực Dịch học không phải chỉ có «Chu dịch», ví dụ Dịch học trước Văn Vương còn có «Thương dịch» (Dịch học nhà Thương), «Hạ dịch» (Dịch học nhà Hạ), v.v. «Hạ dịch» lại có «Liên Sơn dịch»; «Thương dịch» lại có «Quy tàng dịch», v.v. Chiểu theo tập quán đặt tên, Dịch học Tây Hán được gọi là «Hán thượng dịch» (Tây Hán, Đông Hán còn được gọi là Hán thượng, Hán hạ); đây cũng chính là căn bản Dịch học tuổi thiếu thời của tôi. Tuy nhiên, về bản chất mà nói, các phiên bản Dịch học từ «Chu dịch» trở đi là không có khác biệt về bản chất với «Chu dịch», đều là căn cứ vào trình tự sắp xếp “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương, chỉ là thêm giải thích của người đời sau vào đó, ví dụ phiên bản «Chu dịch» hiện đại kèm theo giải thích của Thiệu Ung Thiệu Tử thời Bắc Tống. Trước tiên chúng ta xem sự phân biệt các quẻ tượng của “Tiên thiên Bát quái” có ý nghĩa gì. “Tiên thiên Bát quái” phân biệt là 1 Càn (☰), 2 Đoài (☱), 3 Ly (☲), 4 Chấn (☳), 5 Tốn (☴), 6 Khảm (☵), 7 Cấn (☶), 8 Khôn (☷). Trình tự sắp xếp này dường như có chút kỳ quái, bởi vì nếu theo chiều kim đồng hồ thì phải là Càn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn, Chấn, Ly, Đoài, hoặc nếu ngược chiều kim đồng hồ thì phải là Càn, Đoài, Ly, Chấn, Khôn, Cấn, Khảm, Tốn. Vậy thì tại sao tôi lại nói trình tự sắp xếp là như vậy? Đây gọi là “Thái Cực tuần hoàn”, chứ không phải “viên chu tuần hoàn” (tuần hoàn theo chu vi hình tròn) như chúng ta vẫn biết. Điều này chúng ta sẽ phải nói đến ở dưới đây. Như vậy 1 Càn, 2 Đoài, 3 Ly, 4 Chấn, 5 Tốn, 6 Khảm, 7 Cấn, 8 Khôn phân biệt đại biểu ý nghĩa gì? Nói tới đây, một số độc giả có thể phải kiên trì một chút, bởi vì phương thức trình bày của tôi ở đây là để những độc giả nào chưa có căn bản về «Chu dịch» vẫn có thể hiểu được, do đó tri thức cơ sở có thể phải nói tường tận một chút. Bởi vì “Tiên thiên Bát quái” đối ứng với thiên tượng của vũ trụ, nên hàm nghĩa “Tiên thiên Bát quái” cũng đối ứng với một số yếu tố trong giới tự nhiên, phân biệt là: 1 Càn đại biểu Thiên {trời}, 2 Đoài đại biểu Trạch {đầm}, 3 Ly đại biểu Hỏa {lửa} (tác giả ghi chú: Hỏa có thể đại biểu ‘điện’, trong “Vị lai Bát quái phương vị” chúng ta sẽ phải sử dụng hàm nghĩa này), 4 Chấn đại biểu Lôi {sấm}, 5 Tốn đại biểu Phong {gió}, 6 Khảm đại biểu Thủy {nước}, 7 Cấn đại biểu Sơn {núi}, 8 Khôn đại biểu Địa {đất}, tham khảo Hình 2. Hình 2: Biểu ý của Tiên thiên Bát quái Như vậy đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị” có ý nghĩa gì? Chúng ta biết rằng, “Tiên thiên Bát quái” là Dịch lý trước thời Văn Vương, là do Phục Hy sáng lập, đối ứng với thiên tượng vũ trụ trước thời Văn Vương. Như vậy thiên tượng vũ trụ thời ấy có đặc trưng gì? Chúng ta có thể từ đồ tượng “Tiên thiên Bát quái phương vị” để rút ra một số cái, bởi vì “Tiên thiên Bát quái phương vị” và thiên tượng vũ trụ thời bấy giờ là đối ứng. “Tiên thiên Bát quái phương vị” có thể phản ánh tầng không gian vũ trụ ở gần nhân loại, cũng chính là tầng vũ trụ mà nhân loại sinh tồn, trong đó vạn vật tự nhiên đều được sinh ra thành đôi, tồn tại đối lập nhau, ví dụ Thiên đối Địa (Càn đối Khôn), Hỏa đối Thủy (Ly đối Khảm), Phong đối Lôi (Tốn đối Chấn), Sơn đối Trạch (Cấn đối Đoài), mời xem Hình 2. Loại tồn tại đối lập này cũng chính là đặc tính vũ trụ thời ấy, rất nhấn mạnh tính đối lập của vạn vật, chính vì vậy có Phật thì có ma, có người thì có quỷ. Vì vậy đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị” phản ánh một loại thế giới với Âm-Dương đối lập, cũng là phản ánh Lý tương sinh-tương khắc sản sinh từ một tầng thứ nhất định trong vũ trụ đi đến trạng thái cực đoan. Do đó “Tiên thiên Bát quái phương vị” trên thực tế là mô tả vũ trụ nguyên thủy đã đi đến một loại trạng thái đối lập cực đoan. Như vậy chúng ta từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” còn có thể nhìn ra được gì nữa? Chính là phương thức định nghĩa về Âm-Dương trong “Tiên thiên Bát quái phương vị”. Chúng ta biết rằng, trong Bái quái mỗi một nét gạch được gọi là ‘hào’. Hào có thể phân Âm-Dương. Dương là một gạch liền, Âm là một gạch đứt. Đây là phân biệt Âm-Dương trong hào. Vậy thì làm sao để phân biệt Âm-Dương trong một quẻ? Định nghĩa về Âm-Dương của quẻ tượng trong “Tiên thiên Bát quái phương vị” và “Hậu thiên Bát quái phương vị” là khác nhau, đây là chỗ mấu chốt để hiểu được Lý chuyển từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” sang “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Chúng ta biết rằng, trong Bát quái, ngoại trừ khái niệm về hào ra, còn có khái niệm về ‘vị’, cũng chính là điều gọi là ‘sơ vị’ (vị trí của hào ở dưới cùng), ‘trung vị’ và ‘thượng vị’ (tác giả ghi chú: trong 64 quẻ của «Chu dịch», vị trí hào ở dưới cùng nhất là sơ vị). Trong phân tích lý tính của Tây phương không hề có khái niệm “vị”, do đó “vị” là khái niệm đặc trưng của văn hóa phương Đông. “Tư tưởng trung dung” của Nho gia và cách nói “Cửu ngũ chi tôn” của văn hóa truyền thống cũng đều từ đây mà ra. Trong “Tiên thiên Bát quái phương vị” thì Âm-Dương của hào ở vị trí sơ hào xác định Âm-Dương của quẻ tượng. Ví dụ vị trí sơ hào của Càn (☰), Đoài (☱), Ly (☲), Chấn (☳) đều là hào Dương, do đó bốn quẻ này đều là quẻ Dương; cũng như vậy vị trí sơ hào của Tốn (☴), Khảm (☵), Cấn (☶), Khôn (☷) đều là hào Âm, do đó bốn quẻ này đều là quẻ Âm. Chiểu theo cách phân định quẻ Âm-Dương này, chúng ta đưa Thái Cực vào đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị” và được Hình 3; đây chính là quan hệ giữa “Tiên thiên Bát quái phương vị” và Thái Cực. Hình 3: Quan hệ giữa Tiên thiên Bát quái và Thái Cực Như vậy từ Hình 3, chúng ta có thể có được thông tin gì? Chính là nói rằng thuộc tính Âm-Dương của bất kể sinh mệnh nào cũng đều là do thuộc tính Âm-Dương tại vị trí sơ sinh quyết định, cũng là Âm-Dương của vị trí sơ hào quyết định Âm-Dương tiên thiên. Bởi vì trong quá trình luân hồi, thuộc tính nam-nữ Âm-Dương của sinh mệnh không ngừng biến hóa; thế nhưng thuộc tính Âm-Dương của sinh mệnh chân chính là do Âm-Dương tiên thiên quyết định, cũng chính là Âm-Dương của vị trí sơ hào quyết định. Chúng ta biết rằng, ba hào vị của Bát quái là thượng vị, sơ vị và trung vị thay nhau đại biểu cho tam tài là Thiên, Địa, nhân, hơn nữa nhân ở trung vị, do đó phải thủ trung, cần trung dung. Trong 64 quẻ, ba hào trên được gọi là ‘thượng quái’, trong đó hào số năm xác định trung vị của thượng quái, đại biểu người, thuộc bề trên, là vị trí Đế vương, thời xưa gọi là ‘Cửu ngũ chi tôn’, đại biểu vị trí Đế vương. Còn ba hào dưới trong 64 quẻ được gọi là ‘hạ quái’, trong đó hào số hai làm trung vị, là nhân vị của hạ quái. Do đó nhân vị của hạ quái là người dưới, gọi là ngôi của bề tôi, thuộc vị trí ‘Cửu nhị thủ trung’. Hào thứ ba, hào thứ tư đều thuộc vào vị trí tiến thoái lưỡng nan, tựa như bước trên băng mỏng, lên không được xuống cũng không xong. Còn sơ hào, hào đầu tiên của phần dưới thường là cảnh tượng vạn vật sơ sinh, quyết định Âm-Dương của sơ sinh, thuộc năng lượng vô cùng yếu kém, thuộc điều gọi là trạng thái “tiềm long vật dụng” {rồng ẩn chớ dùng}. Còn hào thứ sáu ở trên đỉnh đầu thường thuộc vị trí vượt quá ‘trung dung trung chính’, thuộc về trạng thái “kháng long hữu hối” {rồng cao ngạo thì phải hối hận}. Lý Hồng Chí Tiên sinh đã có một đoạn giảng Pháp trong «Chuyển Pháp Luân» liên quan đến nguồn gốc của nam-nữ Âm-Dương, cũng có quan hệ đến ‘Âm Dương phản bối’ trong “Hậu thiên Bát quái’ mà chúng ta sẽ thảo luận sau. Do vậy xin cho phép tôi dẫn giải một chút cho quảng đại độc giả. Trong mục “Phản tu và tá công“, Lý Hồng Chí Tiên sinh giảng: “Thực ra [ngay cả] chủ nguyên thần cũng không nhất định có cùng [giới tính] với nhục thân; bởi vì chúng tôi đã phát hiện rằng bây giờ nữ nguyên thần của nam có rất nhiều, nam nguyên thần của nữ cũng có rất nhiều; hoàn toàn phù hợp với điều mà hiện nay Đạo gia gọi là thiên tượng âm dương đảo chiều và âm thịnh dương suy.” Trong giới tu luyện giảng rằng sinh mệnh con người nguyên là đến từ không gian vũ trụ, do đó thuộc tính sinh mệnh chân chính của con người là nguyên thần chứ không phải nhục thân, Pháp Luân Đại Pháp gọi là ‘chủ nguyên thần’, còn rất nhiều công pháp Đạo gia gọi là ‘thức thần’. Sinh mệnh chân chính của con người là nguyên thần chứ không phải nhục thân. Nhưng giới tính của nguyên thần và nhục thân không nhất định là giống nhau, đặc biệt đến thời đại ‘Âm dương phản bối’ (thời đại “Hậu thiên Bát quái”) thì lại càng như vậy. Hiển nhiên, chúng ta từ “Tiên thiên Bát quái” có thể thấy được Lý này, Âm-Dương của Bát quái là do Âm-Dương của sơ vị (hào vị thứ nhất) quyết định. Bản thân “Tiên thiên Bát quái” là có một tầng ngụ ý ấy. Tiếp theo, chúng ta lại xem quan hệ giữa “Tiên thiên Bát quái phương vị” và Thái Cực. Chúng ta phát hiện thấy Thái Cực này là một dạng hình tượng ‘trái Dương phải Âm’, cũng chính là điều gọi là ‘nam tả nữ hữu’. Loại Thái Cực ‘nam tả nữ hữu’ này đã thuyết minh một vấn đề gì? Chúng ta biết rằng, Dương khí thanh mà nhẹ, thăng lên trên; Âm khí đục mà nặng, hạ xuống dưới. ‘Trái Dương phải Âm’ đại biểu Âm-Dương không thể tương giao. Không thể tương giao chính là không có cơ chế “tương sinh” (chỉ có cơ chế đối lập, tương khắc), cũng chính là “Thần nhân” hoặc “Thiên nhân” tại không gian cao tầng trong vũ trụ còn chưa hạ xuống. Dưới mặt đất nếu như có người (người trước thời Văn Vương), thì đó chỉ là người sinh ra trên mặt đất, cũng chính là nhục thân này của con người, còn chưa có tư tưởng và văn hóa, cũng chính là người trên mặt đất mặc lớp da người này, không có quan hệ với người trên thiên thượng. Ý nghĩa căn bản của “Tiên thiên Bát quái phương vị” chính là đại biểu cho đặc tính của “vũ trụ đầu tiên”. Tất nhiên “vũ trụ đầu tiên” mà tôi nói này không phải cái gọi là “tiểu vũ trụ” 13 tỷ năm ánh sáng mà khoa học thực chứng và tri thức nhân loại nhận thức được, mà là “đại vũ trụ” bao gồm hàng nghìn vạn hồng khung hoàn vũ được giảng trong Pháp Luân Đại Pháp. “Vũ trụ đầu tiên” cũng là điều gọi là “cựu vũ trụ”. Tất nhiên đây chỉ là lý giải của cá nhân tôi.
  8. 2. Tầng ngụ ý thứ nhất của Vị lai Bát quái phương vị Nói nhiều như vậy, chẳng bằng chúng ta xem thử hàm nghĩa các phương diện của “Vị lai Bát quái phương vị” mà tôi đã đưa ra. Trước tiên chúng ta chiểu theo ý nghĩa “Tiên thiên Bát quái” để tiến hành phân tích, cũng là phân tích theo ý nghĩa vạn vật tự nhiên trong vũ trụ. Mời tham khảo Hình 25, cũng là ý nghĩa đối ứng với vạn vật trong vũ trụ của “Vị lai Bát quái phương vị”. Hình 25: Ngụ ý vạn vật tự nhiên của Vị lai Bát quái phương vị, tức ngụ ý tiên thiên của Vị lai Bát quái Thoạt nhìn Hình 25, độc giả có thể còn chưa có cảm giác gì. Thế nhưng một khi đưa Thái Cực vào đồ hình “Vị lai Bát quái phương vị”, thì chúng ta có thể nhìn một cái là rõ ngay. Hình 26 thể hiện quan hệ giữa “Vị lai Bát quái phương vị” và Thái Cực. Hình 26: Vị lai Bát quái phương vị và Thái Cực Hình 26 chính là thể hiện cảnh tượng mà tôi mong đợi, Dương trên Âm dưới, Thiên Phong Lôi Điện (Càn, Tốn, Chấn, Ly) tứ tượng trên trời đều nằm ở phần trên của Thái Cực, trở về thiên tượng, làm Dương; Địa Sơn Trạch Thủy (Khôn, Cấn, Đoài, Khảm) tứ tượng dưới đất đều nằm ở phần dưới của Thái Cực, trở về địa tượng, làm Âm. Trời trên Đất dưới, Dương trên Âm dưới, đây là điều chúng ta cần, cũng chính là kỳ vọng của tôi. Thế nhưng loại Bát quái phương vị này xác thực là đã định nghĩa lại Âm-Dương, không còn dựa trên hào vị nữa, mà là hàm nghĩa bản nguyên của vạn vật vũ trụ trong “Tiên thiên Bát quái”. Hơn nữa loại phân biệt Âm-Dương này là tự nhiên mà đúng, cao minh hơn rất nhiều tưởng tượng ban đầu của tôi. “Chính là nó, nó là đây”. Đây là cảm giác đầu tiên của tôi khi nhìn những quẻ tượng này, giống như cảm giác lâu ngày không gặp vậy. Tiếp đó tôi tiến thêm một bước nữa để quan sát, thì phát hiện thấy “Vị lai Bát quái phương vị” này là cảnh tượng “vạn vật quy vị” sau khi vũ trụ được Chính Pháp. Tứ tượng trên trời nhẹ mà ở trên, tứ tượng dưới đất nặng mà ở dưới, hơn nữa không lại là cảnh tượng đối lập hoàn toàn của vũ trụ ban đầu mà “Tiên thiên Bát quái” phản ánh nữa. Đây là tầng hàm nghĩa thứ nhất mà tôi nhìn thấy từ đồ hình “Vị lai Bát quái phương vị”, cũng là tầng hàm nghĩa liên quan tới “Tiên thiên Bát quái phương vị”, đại biểu cảnh tượng “vạn vật quy vị” trong vũ trụ. Ngụ ý này đã khiến tôi rất kinh ngạc. Tuy nhiên kết quả tiếp theo không chỉ khiến tôi cảm thấy kinh ngạc, mà chỉ có thể dùng từ “chấn động” để hình dung. 3. Tầng ngụ ý thứ hai của Vị lai Bát quái phương vị Như vậy tiếp theo đây, chúng ta cần tiết lộ thêm điều gì nữa? Ấy chính là quan hệ giữa “Vị lai Bát quái phương vị” và “Hậu thiên Bát quái”, cũng chính là dùng quan điểm hoặc ngụ ý nào của “Hậu thiên Bát quái” để xem xét và giải thích “Vị lai Bát quái phương vị”. Bởi vì trước đây chúng ta đã sử dụng ngụ ý “Tiên thiên Bát quái” để giải thích “Vị lai Bát quái phương vị” và đưa ra kết luận “vạn vật quy vị” trong vũ trụ. Như vậy chúng ta thử đổi góc độ quan sát và giải thích, đổi sang góc độ “Hậu thiên Bát quái” thì có thể thấy được điều gì? Cách nghĩ này là hết sức tự nhiên. Tôi nghĩ độc giả cũng có cùng suy nghĩ như vậy. Hình 27 bên dưới chính là ngụ ý hậu thiên của “Vị lai Bát quái”. Hình 27: Ngụ ý hậu thiên của Vị lai Bát quái phương vị Đối với người không tu luyện, Hình 27 có thể không nhìn ra điều gì, thế nhưng đối với người tu luyện, hoặc người tín ngưỡng Thần, kết quả tiết lộ từ bức hình này khiến người ta kinh ngạc. Xin cho phép tôi nói chậm một chút. Đối với những người vô thần hoặc “theo chủ nghĩa duy vật”, xin cứ coi đây là một câu chuyện để đọc cho vui vậy. Trước tiên, chúng ta biết rằng, “Hậu thiên Bát quái” chính là đại biểu cho nhân luân, thế nhưng hai quẻ Càn, Khôn trong “Hậu thiên Bát quái phương vị” lại không tiến nhập vào nhân luân. Do đó trong “Vị lai Bát quái phương vị” cũng như vậy, chúng ta vẫn bảo lưu bản ý tiên thiên của hai quẻ Càn (☰), Khôn (☷); Càn là Trời, Khôn là Đất. Hai quẻ này là khởi tác dụng làm cơ điểm tham khảo, sau đây chúng ta sẽ thấy được. Tiếp theo chúng ta thấy rằng, “Vị lai Bát quái phương vị” đại biểu cho cảnh tượng “nhân Thần quy vị” sau khi “vạn vật quy vị” trong vũ trụ. Chúng ta biết rằng, chiểu theo ý nghĩa của “Hậu thiên Bát quái”, từ trưởng nam đến thiếu nữ là đại biểu toàn bộ thành viên trong xã hội nhân loại. Nhưng trong “Vị lai Bát quái”, trưởng nam, trường nữ, trung nam, trung nữ, thiếu nam, thiếu nữ lại thay nhau đại biểu cho sáu vị trí khác nhau khi nhân loại trở về vũ trụ, hay theo Phật gia giảng là sáu loại quả vị khác nhau. Đây hoàn toàn là khắc họa chân thực bài thơ “Vô đề” trong tập «Hồng Ngâm II» của Đại sư Lý Hồng Chí: “…Thần nhân quỷ súc diệt, Vị trí tự kỷ định“. Để tiện phân tích, chúng ta đưa thêm trục hình chữ thập vào đồ hình “Vị lai Bát quái phương vị”. Vậy là chúng ta được Hình 28; trong đồ hình chúng ta có thể thấy rõ “nhân thế trục” {nằm ngang} và “Thần vũ trục” {nằm dọc}. Hình 28: Vị lai Bát quái phương vị và trục hình chữ thập Nói cụ thể, “Vị lai Bát quái phương vị” phản ánh cảnh tượng “nhân Thần quy vị” như thế nào? Ở đây, trên thực tế chúng ta đã tiến hành định nghĩa lại mới sáu vị trí nhân luân. ‘Trưởng giả’ {người cả} trong nhân luân, bao gồm trưởng nam, trưởng nữ, cũng chính là điều mà Lão Tử gọi là “thượng sỹ”; thượng sỹ nghe Đạo để rồi đắc Pháp tu luyện, do đó họ là có quả vị trong tương lai. Trưởng nam {quẻ Chấn (☳)} là thuần Dương, nhưng ở đây không hề đại biểu nam trong nam-nữ, mà đại biểu cho nhóm những người tu luyện tốt nhất. Quả vị trong tương lai của họ là vượt quá vị trí của Trời (vị trí quẻ Càn (☰) ở đây đại biểu cho một loại vị trí tham chiếu trong vũ trụ), có thể đạt tới cực của vũ trụ (trên cùng của “Thần vũ trục”), so với Trời (quẻ Càn) còn cao hơn. Loại quả vị này là vĩnh hằng; vũ trụ là bất diệt, quả vị cũng bất diệt. Đây là một loại kết cục ở vị trí tối cao nhất, tốt nhất. Tôi cần phải thuyết minh một chút ở đây, đó là chỉ có đến lúc này, chúng ta mới có thể lĩnh hội tương đối đầy đủ ngụ ý chân chính của “Thần trục” hoặc “Thần vũ trục”. Tiếp theo là điều gọi là ‘trưởng nữ’ {quẻ Tốn (☴)}. Trưởng nữ chính là chỉ người tu luyện còn kém một chút, nhưng vẫn thuộc bộ phận ‘thượng sỹ’ mà Lão Tử giảng, đều là người tu luyện cả mà! Tuy nhiên tu luyện có chút tỳ vết, Âm chính là đại biểu tỳ vết, có chút bất thuần. Những người này tương lai cũng là có quả vị. Vậy thì quả vị của họ ở tại đâu? Quả vị tương lai của họ so với Trời là bằng nhau (cao bằng quẻ Càn (☰)). Cũng là điều gọi là ‘thọ đồng với Trời’, cao bằng với Trời, sánh ngang với Trời, thế nhưng vẫn là có thọ, không thể trở thành vĩnh viễn được. Có một chút nuối tiếc. Ở đây cần thuyết minh một điểm, rằng đây chỉ là lý giải của cá nhân tôi. Tiếp nữa là điều mà Lão Tử gọi là ‘trung sỹ’. Trung sỹ bao gồm trung nam và trung nữ. Lúc này chúng ta mới phát hiện thấy ý nghĩa chân chính của việc chúng ta đổi chỗ hai quẻ Ly, Khảm khi đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”. Sau khi điều quái, chúng ta phát hiện ra rằng chiểu theo sắp xếp quả vị thì đọc ra là phi thường thuận, ví dụ trưởng nam, trưởng nữ, trung nam, trung nữ, thiếu nam, thiếu nữ; thế nhưng trước khi điều quái là trưởng nam, trưởng nữ, trung nữ, trung nam, thiếu nam, thiếu nữ. Đây cũng là một phương diện nghiệm chứng việc chúng ta đổi chỗ trung nam, trung nữ là chính xác. Như vậy trung nam, trung nữ thay nhau đại biểu điều gì? Trung nam, trung nữ đều là trung sỹ, trong tương lai cần phải lưu lại không gian nhân loại. Bởi vì họ không hề tu luyện, nên cũng không có quả vị cao hơn “nhân thế trục”. Chúng ta biết rằng, giới tu luyện giảng người thuộc sinh mệnh tính Dương trên thế gian, còn động vật, thực vật đều thuộc sinh mệnh tính Âm trên thế gian; do đó người ta không được tùy tiện thu khí, nếu không cả thân người đầy Âm khí. Như vậy trung nam, trung nữ trên “nhân thế trục” có ý nghĩa gì? Trung nam {quẻ Khảm (☵)} đại biểu những người có thể lưu lại không gian nhân loại trong tương lai. Vậy còn trung nữ? Trung nữ {quẻ Ly (☲)} chính là những người chuyển sinh thành động vật hoặc thực vật tại nhân gian trong tương lai. Đương nhiên có người không tin điều này, nhưng Phật gia giảng lục đạo luân hồi chính là như vậy. Tiếp theo chính là “hạ sỹ”, kết cục của họ như thế nào? Thiếu nam {quẻ Cấn (☶)} chính là những người xấu, nhưng còn chưa tới mức ‘thập ác bất xá’, kết cục của họ so với Đất {quẻ Khôn (☷)} là tương đương. Đất ở đây không phải là ‘đất’ trên Địa cầu, mà là ‘đất’ thấp hơn không gian nhân loại, cũng chính là Địa ngục. Trời mà ở trên chúng ta nói đối ứng với trưởng nữ, cũng không phải ‘trời’ ở không gian nhân loại, mà là Thiên đường. Cũng là nói rằng, Thiên Địa trong “Vị lai Bát quái” không phải ở không gian nhân loại, không nằm trong không gian phân tử của nhân loại, mà là Thiên Địa trong ý nghĩa trở về với vũ trụ, là siêu việt không gian nhân loại, là mang ý nghĩa tiên thiên, thuộc ý nghĩa của “Tiên thiên Bát quái”. Bởi vì chúng ta biết rằng, toàn bộ xã hội nhân loại, bao gồm Thiên Địa ở nhân gian, kỳ thực đều nằm trong ý nghĩa của “Hậu thiên Bát quái”. Cũng là nói rằng, thiếu nam phải hạ xuống Địa ngục, nhưng bất kể thời hạn thụ hình ở Địa ngục lâu đến đâu, cuối cùng vẫn có ngày phóng thích sau khi mãn hạn. Cũng giống trưởng nữ mà chúng ta nói ở trên, thọ đồng với Trời, thọ mệnh rất lâu dài nhưng vẫn là có thọ. Tiếp theo là thiếu nữ {quẻ Đoài (☱)}, cũng chính là tương đương với tù chung thân hoặc án tử hình ở nhân loại, là kết cục của những người xấu nhất. Chúng ta biết rằng, trong “Hậu thiên Bát quái” của Văn Vương, thiếu nữ thuộc người cực Âm, là địa vị thấp kém nhất trong toàn xã hội. Nhưng trong “Vị lai Bát quái”, thiếu nữ đại biểu cho những người tà ác nhất, bại hoại nhất; kết cục của họ là bị đả nhập Địa ngục ở không gian còn thấp hơn nhân loại, cũng chính là cực Âm của vũ trụ. Đây là một loại kết cục tận diệt mãi mãi, không có ngày thoát ra được, mãi mãi vùi thân, là một loại kết cục đáng sợ nhất. Trên đây là một số thông tin tối quan trọng mà tôi rút ra được từ “Vị lai Bát quái”. Tổng kết lại, thì “Vị lai Bát quái” thể hiện cho chúng ta một loại cảnh tượng “vạn vật quy vị” và “nhân Thần quy vị”. Tầng ý nghĩa thứ nhất, chính là cảnh tượng “vạn vật quy vị” trong vũ trụ; đây là kỳ vọng ban đầu của tôi, và cũng là điều tôi thực sự nhìn thấy được. Tầng ý nghĩa thứ hai, chính là cảnh tượng “nhân Thần quy vị” trên thế gian; đây là điều nằm ngoài dự liệu ban đầu của tôi, là điều khiến tôi kinh ngạc nhất, và cũng là nguyên nhân căn bản khiến tôi viết ra loạt bài này. Bởi vì kết quả khiến người ta rất chấn động. Ít nhất là tôi cho như vậy, do vậy suốt cả ngày hôm ấy tôi không thể đợi thêm được nữa.
  9. 4. Tôi suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương như thế nào? Điều tôi nói ở đây gồm có một tiền đề và ba nguyên lý. Một tiền đề chính là tiền đề về phân trục như tôi vừa nói qua, với định nghĩa “nhân trục” nằm ngang và “Thần trục” nằm dọc. Vậy còn ba nguyên lý là gì? Chính là ba nguyên lý biến động, trong đó hai cái là nguyên lý biến động của vũ trụ, còn một cái là nguyên lý biến động của xã hội nhân loại hoặc điều chỉnh tùy động. Đây chính là ba nguyên lý, rất là giản đơn, không hề phức tạp. Trước tiên chúng ta đem phương pháp phân trục hình chữ thập áp dụng vào “Tiên thiên Bát quái phương vị” của Phục Hy. Như vậy chúng ta được Hình 12. Hai quẻ Càn (☰), Khôn (☷) {Thiên, Địa} nằm trên ‘Thần vũ trục’. Bởi vì như chúng ta biết, nếu như đem Bát quái kết hợp với Ngũ hành, thì trung ương của Ngũ hành là Thổ, Thổ vượng tứ phương, trung ương là Thổ. Thổ cũng đại biểu cho người, văn hóa Trung Quốc “lấy Thổ làm tôn”, người sống trên đất, do vậy mới gọi là “Trung Thổ”. Bởi vì trung ương là người, cho nên “Thần vũ trục” cũng ẩn hàm quan hệ Thiên-Địa-nhân. Còn “nhân trục” nằm ngang triển khai thành Khảm (☵), Ly (☲) {Thủy, Hỏa}, đại biểu hai chủng vật chất không thể ly khai tại thế gian nhân loại; do đó hai quẻ Khảm, Ly đại biểu nhân loại, đại biểu “nhân thế trục” triển khai theo chiều ngang. Hình 12 chính là quan hệ giữa “Tiên thiên Bát quái” và trục hình chữ thập. Như vậy chúng ta đã chuẩn bị tiền đề để nghiên cứu biến hóa của Bát quái. Hình 12: Tiên thiên Bát quái phương vị và trục hình chữ thập Tiếp theo chúng ta phải nghiên cứu xem biến động như thế nào; đây chính là trọng tâm nhất của Dịch lý, là cơ lý về biến động. «Kinh dịch» chính là Dịch lý, cũng là Lý biến hóa. Vũ trụ biến động như thế nào? Thiên Địa biến động như thế nào? Xã hội nhân loại biến động như thế nào? Nhân loại cần biến động theo thiên tượng như thế nào? Đây đều là Dịch lý tối đại, tuyệt không đơn giản như những tiểu đạo về bói mệnh, toán quái. Vậy thì rốt cuộc biến động như thế nào? Biến động của vũ trụ phản ánh ra sao trong biến đổi của Bát quái phương vị? Ban đầu tôi đã nghiên cứu gợi ý từ câu nói trong «Chuyển Pháp Luân», “Xoáy vào (thuận chiều kim đồng hồ) độ bản thân, xoáy ra (ngược chiều kim đồng hồ) độ nhân“, xin xem Hình 13. Pháp Luân xoáy vào (thuận chiều kim đồng hồ) đại biểu cho độ bản thân, hướng vào trong, tu luyện tự kỷ, yêu cầu tự kỷ, cải biến tự kỷ, đề cao tâm tính, đề thăng, trở về vũ trụ, phản bổn quy chân, v.v. Pháp Luân xoáy ra (ngược chiều kim đồng hồ) độ nhân, hướng ra ngoài, cứu người, hành động, cải biến thế giới, yêu cầu người khác, chỉ huy người khác, hạ xuống nhân gian, v.v. Để biết nội dung chi tiết, xin mời quý độc giả tìm đọc cuốn «Chuyển Pháp Luân» của Lý Hồng Chí Tiên sinh. Ý nghĩa của việc Pháp Luân chuyển động thuận chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ đã gợi mở cho tôi. Nếu như vũ trụ lớn biến động, thì phản ánh như thế nào lên Bát quái phương vị? Ở trên chúng ta đã phân tích hai trục trong “Tiên thiên Bát quái”, như vậy đại biến động của vũ trụ nhất định sẽ phản ánh lên chuyển động của “nhân trục” và “Thần trục”. Vũ trụ phải biến động, mục đích là cải biến vũ trụ, là hành động, là cần cứu độ, là “Thiên nhân đi xuống”, do đó “Thần trục” phải xoay chuyển ngược chiều kim đồng hồ. Khi ấy tôi chính là nghĩ như vậy. Nhưng hiện tại tôi cho rằng, biến hóa từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” sang “Hậu thiên Bát quái phương vị” là do Thần trục động, bởi vì Thiên nhân đi xuống. Bởi vì Thần trục động, nên nhất định phải khiến nhân trục hoán vị, nhân trục ở đây chỉ là động theo. Nhưng nhân trục động, chính là phản bổn quy chân; đây là nguyên nhân biến động từ “Hậu thiên Bát quái” sang “Vị lai Bát quái”. Hình 13: Phương hướng và ý nghĩa sự xoay chuyển của Pháp Luân “Thần trục” và “nhân trục” hoán vị cho nhau, đây là nguyên lý biến hóa thứ nhất để suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Phản ánh chính là sự kiện trọng đại “Thiên nhân đi xuống” trong vũ trụ. Cũng là nói rằng, đại biến động của vũ trụ trước tiên phản ánh ở sự đổi chỗ giữa “Thần trục” và “nhân trục” trong “Bát quái phương vị đồ”. Thông qua đổi chỗ giữa “Thần trục” và “nhân trục” (Hình 14), chúng ta được trạng thái quá độ thứ nhất từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” sang “Hậu thiên Bát quái phương vị”, như thể hiện ở Hình 15. Hình 14: Thần trục và nhân trục đổi chỗ Hình 15: Từ Tiên thiên Bát quái chuyển sang trạng thái quá độ thứ nhất của Hậu thiên Bát quái Tiếp theo tôi sẽ giới thiệu một khái niệm tương quan với Bát quái, đó là đồ hình ‘Thiên viên Địa phương’ {Trời tròn Đất vuông}, hoặc gọi là đồ hình ‘ngoại viên nội phương’ {ngoài tròn trong vuông}. Đồ hình ‘Thiên viên Địa phương’ này thuyết minh điều gì? Chính là nói, trên Bát quái phương vị đồ, bốn quẻ nằm trên “nhân thế trục” và “Thần vũ trục” là đại biểu bốn cực của hình tròn ‘Thiên viên’; còn bốn quẻ còn lại là nằm ở bốn góc của hình vuông ‘Địa phương’. ‘Thiên viên Địa phương’ cũng là nói rằng tròn đại biểu cho Trời, vuông đại biểu cho Đất. Tuy nhiên người viết cho rằng đây chỉ là một loại lý giải nông cạn. Tôi rất mong tiếp thu nhận thức về ‘ngoại viên nội phương’. Bản thân tôi cho rằng, tròn đại biểu bên ngoài, đại biểu cho “đại vũ trụ”, còn vuông đại biểu bên trong, đại biểu cho “tiểu vũ trụ”, hoặc hệ Ngân Hà mà nhân loại chúng ta đang cư ngụ. Hình 16: Thiên viên Địa phương đồ Như vậy, chúng ta phát hiện thấy Lý biến hóa mà chúng ta đã đề cập tương đương với đổi trục hoán vị bốn quẻ ở hình tròn bên ngoài, hơn nữa là chiểu theo cơ lý xoay chuyển của Pháp Luân. Loại chuyển hoán này chỉ liên quan đến bốn quẻ trên hình tròn bên ngoài, và không hề động tới bốn quẻ nằm tại bốn góc hình vuông bên trong. Như vậy bốn quẻ ‘tứ giác quái’ này biến hóa như thế nào? Lúc này phương vị Thái Cực mà chúng ta đã nói ở trước mới khởi tác dụng. Chúng ta thử đặt ‘Tiên thiên Thái Cực’ vào đồ hình ‘Thiên viên Địa phương’ thì sẽ rõ. Hình 17: Thiên viên Địa phương của Tiên thiên Bát quái và Thái Cực Tiếp theo, chúng ta phát hiện thấy chiểu theo Lý biến hóa của tiểu vũ trụ, tức hoán đổi theo Lý ‘Âm Dương phản bối’ của Thái Cực, thì chúng ta phải lấy ‘Thần vũ trục’ làm trục đối xứng để đổi chỗ bốn quẻ tại bốn góc của hình vuông, tức Tốn (☴) đổi cho Đoài (☱), Cấn (☶) đổi cho Chấn (☳). Khi này chúng ta sẽ được một đồ hình quá độ gọi là trạng thái quá độ thứ hai của Hậu thiên Bát quái, xem Hình 18. Như vậy, Lý biến động của đại vũ trụ là Lý biến động của bốn quẻ nằm ở hình tròn bên ngoài {ngoại viên}, chiểu theo Lý xoay chuyển của Pháp Luân mà hoán trục; còn Lý biến động của tiểu vũ trụ là Lý biến động của bốn quẻ nằm tại bốn góc hình vuông bên trong {nội phương}, chiểu theo Lý của Thái Cực mà đảo chiều Âm-Dương. Hình 18: Trạng thái quá độ thứ hai từ Tiên thiên Bát quái phương vị sang Hậu thiên Bát quái phương vị sau khi hoán trục Trạng thái quá độ thứ hai này trông đã rất tương tự với “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương, nhưng vẫn chưa giống hoàn toàn. Tiếp theo, cũng chính như câu nói đề tỉnh của Thiệu Ung: “Thiệu Tử nói, Bát quái này của Văn Vương là vị trí dùng cho người, tức cái học của hậu thiên“. Cũng là nói rằng, “Hậu thiên Bát quái phương vị” giảng chính là nhân lý, cái lý ở nhân gian; do đó sau khi “Thiên nhân đi xuống”, tức đại biến động hoán trục của đại vũ trụ và Âm-Dương đổi chỗ của tiểu vũ trụ, còn có điều chỉnh theo nhân lý ở nhân gian nữa. Đây chính là Lý biến động thứ ba, nhân gian biến lý. Như vậy Lý ở nhân gian cần phải là như thế nào? Cũng có nghĩa là tiếp theo chúng ta phải đổi chỗ quẻ tượng như thế nào? Đầu tiên, bởi vì hai quẻ Càn, Khôn trong “Tiên thiên Bát quái” đại biểu Thiên, Địa, nên trong “Hậu thiên Bát quái” đại biểu Phụ, Mẫu. Chúng ta biết rằng, “Hậu thiên Bát quái” đại biểu nhân luân, mà xã hội nhân loại là sản vật của Thiên-Địa tương giao, nên chân chính đại biểu cho nhân luân không thể là hai quẻ Càn, Khôn, mà chỉ có thể là sáu quẻ còn lại. Bởi vì hai quẻ Càn, Khôn không thể vừa đại biểu Thiên, Địa, vừa đại biểu nhân luân sản sinh từ Thiên-Địa. Chính vì vậy hai quẻ Càn, Khôn chỉ có thể đại biểu Phụ, Mẫu {cha, mẹ} mà không thể đại biểu nhân luân, không thể đại biểu xã hội nhân loại, chỉ sử dụng sáu quẻ còn lại mới có thể đại biểu nhân luân, đại biểu xã hội nhân loại. Trong “Tiên thiên Bát quái phương vị”, quẻ Càn là cực Dương, là thủ lĩnh các quẻ Dương; quẻ Khôn là cực Âm, là thủ lĩnh các quẻ Âm. Mời xem Hình 3, Thái Cực còn gọi là ‘Âm-Dương ngư’ {cá Âm-Dương}, nhìn theo hướng xoay chuyển theo chiều kim đồng hồ, thì đầu cá Dương tại Càn (☰), đầu cá Âm tại Khôn (☷). Hình 3: Quan hệ giữa Tiên thiên Bát quái và Thái Cực Hiện tại chuyển hoán thành “Hậu thiên Bát quái”, thì cần phải là Lý của người, tức nhân luân chi lý, không thể lấy Càn, Khôn {Phụ, Mẫu} để lãnh đạo Âm-Dương ngư được, bởi vì hai quẻ Càn, Khôn không nằm trong nhân luân, không thể tự mình sinh chính mình được. Như vậy nhân luân chi lý, cũng chính là Âm-Dương ngư của nhân luân, cần phải do ai dẫn đầu? Nếu như có thể tìm được đáp án cho vấn đề này, thì hết thảy bí mật của “Hậu thiên Bát quái phương vị” sẽ được khai mở. Đáp án chính là “Con trai cả thay cha, con gái út thay mẹ”. Nếu như đem trạng thái quá độ thứ hai trong Hình 18 mà đổi quẻ Càn (☰) {cha} cho quẻ Chấn (☳) {trưởng nam}, quẻ Khôn (☷) {mẹ} cho quẻ Đoài (☱) {thiếu nữ}, thì chúng ta sẽ được đồ hình “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương, không lệch chút nào. Vậy thì vì sao phải đổi chỗ như thế? Vì sao phải lấy “Con trai cả thay cha, con gái út thay mẹ”? Chúng ta biết rằng, trong “Tiên thiên Bát quái”, quẻ Càn là thuần Dương, cực Dương, đứng đầu quần Dương, dẫn đầu Dương ngư; quẻ Khôn là thuần Âm, cực Âm, đứng đầu quần Âm, dẫn đầu Âm ngư. Trong “Hậu thiên Bát quái” hiện tại, hai quẻ Càn, Khôn {Phụ, Mẫu} không nằm trong nhân luân, thuộc bậc cha chú của “Hậu thiên Bát quái”, cũng chính là mang theo thuộc tính của “Tiên thiên Bát quái”; như vậy tiếp theo ai sẽ dẫn đầu Âm-Dương đây? Hiển nhiên trong sáu quẻ nhân luân, trưởng nam có thể dẫn dắt quần Dương, bởi rằng Dương giả, lấy trưởng làm tôn. Cũng như điều chúng ta từng nói qua, 7, 9 đều là số Dương, lấy 9 đại biểu cho Dương, số Dương cần phải lấy trưởng giả. Còn Âm giả, là lấy thiếu làm tôn, 6, 8 đều là số Âm, lấy 6 đại biểu cho Âm, số Âm cần phải lấy thiếu giả. Do đó thiếu nữ đại biểu cho mẹ, chứ không phải trưởng nữ đại biểu cho mẹ. Chính là ý nghĩa này. Vậy thì Lý nhân luân “Con trai cả thay cha, con gái út thay mẹ” còn có hàm nghĩa hoặc ý nghĩa nào khác nữa? Chúng ta giảng ý nghĩa là đa phương diện, ở đây chỉ xin đơn cử hai ý nghĩa. Trước tiên, từ trưởng nam cho đến thiếu nữ, là đại biểu cho tất cả con cái trong nhà ở một xã hội truyền thống. Chúng ta biết rằng, xã hội truyền thống được gắn bó bởi sợi dây huyết mạch gia đình, trong nhà giảng “trong trăm cái thiện, đức hiếu làm đầu”. Đây là luân lý tối căn bản, là yêu cầu đối với con cái. Lại nữa, xét từ góc độ xã hội, “con trai cả thay cha” có ý nghĩa gì? Con trai cả trong toàn xã hội là ai? Chính là Thiên Tử. Thiên là cha, nhi tử của Thiên, con trai cả của Trời chẳng phải chính là Thiên Tử hay sao! Do đó Thiên Tử đại biểu cho sự tôn quý bậc nhất ở nhân gian. Vậy còn con gái út {thiếu nữ} thì sao? Trong xã hội truyền thống, người phụ nữ có vị trí thấp kém; con gái út đại biểu cho nhân sỹ tầng thấp cực kỳ hèn mọn, đại biểu cho nữ tỳ {hầu gái}. Như vậy từ trưởng nam cho đến thiếu nữ cũng là đại biểu từ Thiên Tử cho đến nô tỳ, tức toàn bộ thành viên trong xã hội nhân loại. Chính là ý nghĩa này. Ở đây tôi cần nói thêm rằng, sau khi Văn Vương đưa ra “Hậu thiên Bát quái”, thì xã hội Trung Quốc cũng tiến nhập vào “thời đại Thiên Tử”. Khoảng thời gian này kéo dài 3.000 năm. Như chúng ta biết, vào thời nhà Hạ, nhà Thương trước nhà Chu, Đế vương đều được gọi là “Đại vương”, ngay cả Trụ vương nhà Thương tự cao tự đại cũng chỉ được gọi là ‘vương’. Ở dưới ‘vương’ là ‘hầu’, ‘hầu’ các phương được gọi là ‘chư hầu’. Chỉ sau thời Văn Vương, nhà Chu được khai sáng mới có danh xưng ‘Thiên Tử’. Do đó, sự phân chia thời kỳ lịch sử của tôi là hoàn toàn khác với những gì được giảng trong văn hóa đảng. Xã hội truyền thống Trung Quốc có thể được phân thành “thời đại Thần truyền” hay “thời đại Đế vương” đối ứng với “Tiên thiên Bát quái” và “thời đại bán-Thần” hay “thời đại Thiên Tử” đối ứng với “Hậu thiên Bát quái”. “Thời đại Thần truyền” là hai triều Hạ, Thương và thời đại trước đó, bao gồm cả thời đại truyền thuyết từ Phục Hy đến Ngũ Đế, với rất ít văn tự ghi lại và văn hóa tư tưởng lưu truyền. Vì sao? Nguyên nhân nhất định không phải cái gọi là ‘lực lượng sản xuất lạc hậu’ được giảng trong văn hóa đảng. Chính là bởi vì Thần không cho phép những thứ này được lưu truyền, bởi chúng không có quan hệ với Chính Pháp vũ trụ và “Thiên nhân đi xuống”; chúng là đối ứng với “Tiên thiên Bát quái”, không có quan hệ với “Hậu thiên Bát quái”. Mà “thời đại Thiên Tử” là từ Tây Chu đến khi Mãn Thanh diệt vong năm 1911, tổng cộng 3.000 năm. Đây cũng là sự phân chia lịch sử mà tôi căn cứ theo biến hóa của thiên tượng để đưa ra. “Thời đại Thần truyền” cũng là thời đại “Tiên thiên Bát quái phương vị”, “thời đại Thiên Tử” cũng là thời đại “Hậu thiên Bát quái phương vị”, là thời đại kiến lập văn hóa nhân loại, chuẩn bị cho “Vị lai Bát quái phương vị”, cũng là thời đại chuẩn bị văn hóa và tư tưởng cho Chính Pháp vũ trụ. Tôi nói như vậy, có thể rất nhiều độc giả không hiểu lắm, hoặc không tin lắm; tuy nhiên tôi không nói thì không được, bởi vì những điều này có tương quan mật thiết với “Vị lai Bát quái” sẽ được trình bày ở sau. 5. Ý nghĩa suy luận Hậu thiên Bát quái phương vị Như vậy suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị” còn có ý nghĩa gì nữa? Trước hết, đây là cơ sở lý luận vững chắc để chúng ta đưa ra “Vị lai Bát quái”. Từ “Tiên thiên Bát quái” đưa ra “Hậu thiên Bát quái” có thể nói là một loại diễn tập và kiểm chứng tính chính xác. Một khi có thể suy luận thành công, thì tự nhiên có thể đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”; bởi vì quẻ tượng tuy có thể cải biến, nhưng Lý biến động của quẻ tượng là bất biến; tức cơ lý hoán trục vũ trụ và điều chỉnh hoán vị là bất biến, sự biến lý bất biến. Ngoài ra, có lẽ cơ lý hoán trục, đảo chiều, đổi quẻ của Bát quái phương vị là một loại bản ý của “dịch”, mới là căn bản của Dịch học. Xưa nay lý giải của người ta đối với “dịch” chỉ là ở trên tầng thứ nhỏ hẹp. Quái lý kiến lập trên cơ sở “Hậu thiên Bát quái” mấy nghìn năm qua đều có “biến hóa” rất hữu hạn. Hơn nữa, nhờ kết hợp “Tiên thiên Bát quái phương vị” và “Hậu thiên Bát quái phương vị”, tôi mới có thể trình bày một khái niệm phi thường trọng yếu trong truyền thống tư tưởng phương Đông—thuyết tuần hoàn. Chúng ta biết rằng, thuyết tuần hoàn là tư tưởng mang đậm sắc thái phương Đông, trong thể hệ khoa học thực chứng phương Tây không hề có khái niệm này. Tư tưởng luân hồi của Phật gia cũng có quan hệ với tuần hoàn, nhân quả báo ứng cũng như vậy. Tư tưởng Tây phương không giảng tuần hoàn. Khoa học thực chứng của phương Tây giảng điều gì? Là thuyết về trật tự vũ trụ. Từ thuyết trật tự mới dẫn tới quan điểm về phát triển tuyến tính. Về điểm này, trong «Thương nghiệp kiểu mẫu» tôi đã có khá nhiều phân tích. Ở đây xin không nhắc lại nữa. Đảng cộng sản Trung Quốc hiện tại tâng bốc cái gọi là “quan điểm phát triển khoa học”, chẳng qua chỉ là hàng ngoại nhập, chẳng có quan hệ gì với tư tưởng truyền thống Trung Quốc. Bởi vì có quan điểm tuần hoàn trong văn hóa truyền thống Trung Quốc nên mới có tư tưởng “trung dung”. “Trung dung” tuyệt không phải là truy cầu phát triển để thỏa mãn lợi ích, hoặc càng nhiều thì càng tốt. Thượng hào của Bát quái giảng chính là “Kháng long hữu hối” {rồng cao ngạo thì phải hối tiếc}, cũng là đạo lý “hăng quá hóa dở”. Bởi vì trung dung thủ chính, nên tư tưởng truyền thống không hề cổ súy cách làm cực đoan, cũng không hề truy cầu phát triển. Ngoài ra, tuần hoàn có nghĩa là gì? Điều gì gọi là tuần hoàn? Có thể có người nói, câu hỏi này thật là ngớ ngẩn. Kỳ thực, tuần hoàn không phải là chuyển động hình tròn hết vòng này đến vòng khác, điều này hỏi ai hiểu rõ? Nếu bạn có nhận thức như vậy, thì ấy là bởi bạn chưa biết ý nghĩa chân chính của tuần hoàn là gì. Tuần hoàn xác thực là xoay tròn, nhưng xoay như thế nào? Trên thực tế, tuần hoàn theo vòng tròn mà đại đa số chúng ta biết đều thuộc về tuần hoàn theo ý nghĩa của “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Đây cũng gọi là ‘viên chu tuần hoàn’, theo thứ tự Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Nó là một vòng đi theo đường biên ngoài của hình tròn, hoặc thuận chiều kim đồng hồ, hoặc ngược chiều kim đồng hồ. Đây gọi là ‘viên chu tuần hoàn’, là tuần hoàn mang ý nghĩa hậu thiên. Người bình thường chỉ biết được tuần hoàn mang ý nghĩa như vậy. Còn có một chủng phương thức tuần hoàn nữa, mà trong tư tưởng Tây phương càng không có khái niệm này, gọi là ‘Thái Cực tuần hoàn’. Đây chính là tuần hoàn mà tôi đã nói qua trong “Tiên thiên Bát quái phương vị”, đó là 1 Càn, 2 Đoài, 3 Ly, 4 Chấn, 5 Tốn, 6 Khảm, 7 Cấn, 8 Khôn. Đổi sang một góc độ khác mà giảng, ‘viên chu tuần hoàn’ là một loại tuần hoàn xuyên thẳng vuông góc với mặt giao giới Âm-Dương. Chúng ta có thể lấy quả địa cầu làm ví dụ. Thái Cực của “Hậu thiên Bát quái phương vị” là trên Âm dưới Dương, cũng tương đương với Nam bán cầu và Bắc bán cầu trên quả địa cầu. Bắc bán cầu đại biểu Âm, Nam bán cầu đại biểu Dương. Tuyến giao giới Nam-Bắc Âm-Dương cũng tương đương với đường xích đạo. Như vậy cái gì trên quả địa cầu Nam-Bắc “Hậu thiên Bát quái” này là viên chu tuần hoàn? Chính là bất cứ đường kinh tuyến hình tròn nào chạy xuyên qua đường xích đạo. Đương nhiên trên “Hậu thiên Thái Cực” chỉ có một viên chu tuần hoàn, chứ không như trên quả địa cầu có vô số đường kinh tuyến hình tròn. Vậy thì ‘Thái Cực tuần hoàn’ là gì? Thái Cực tuần hoàn chính là tuần hoàn men theo tuyến giao giới Âm-Dương. Nếu có thể quan sát “Tiên thiên Thái Cực” một cách lập thể chứ không phải trên mặt phẳng, thì các bạn sẽ hiểu được cảm giác tuyến giao giới Âm-Dương mà tôi vừa nói. Loại quan sát này hơi khó. Chúng ta có thể lại lấy quả địa cầu làm ví dụ. Chúng ta biết rằng, “Tiên thiên Thái Cực” là phân bố theo trái Dương phải Âm, như vậy ví dụ hình tượng là chúng ta có thể lấy Đông bán cầu là Dương, Tây bán cầu là Âm. Vậy đâu là Thái Cực tuần hoàn? Chính là đường kinh tuyến hình tròn phân chia Đông-Tây bán cầu, trên quả địa cầu là hình tròn hợp thành bởi đường kinh tuyến Greenwich, Anh quốc và đường đổi ngày quốc tế. Đây là chúng ta chỉ lấy làm ví dụ mà thôi. Tôi lý giải như thế này: ‘viên chu tuần hoàn’ đối ứng với ‘tý ngọ chu thiên’ mà Đạo gia giảng, còn gọi là càn khôn vận chuyển, hoặc hà xa vận chuyển; còn ‘Thái Cực tuần hoàn’ đối ứng với điều gọi là ‘mão dậu chu thiên’. Loại chu thiên này là không được tùy ý giảng cho người ngoài nghe. Về hàm nghĩa chuẩn xác của tý ngọ chu thiên và mão dậu chu thiên, mời quý độc giả tham khảo luận thuật tương quan trong «Chuyển Pháp Luân», lý giải của tôi không nhất định là chuẩn xác. Ngoài ra, tôi vừa mới phát hiện, loại hình điều quái mà tôi nói ở trên chính là phù hợp với nguyên lý tam tài Thiên-Địa-nhân, trong đó nguyên lý biến động thứ nhất là bốn quẻ Thiên viên {Trời tròn}, chiểu theo Lý xoay chuyển của Pháp Luân, tiến hành hoán đổi nhân trục và Thần trục, thuộc Thiên biến chi lý. Bởi vì là bốn quẻ Thiên viên, nên chuyển động theo quỹ đạo hình tròn của Pháp Luân; nguyên lý biến động thứ hai, là theo bốn quẻ Địa phương {Đất vuông}, chiểu theo nguyên lý Thái Cực, tiến hành đổi chỗ theo Âm-Dương đảo chiều, thuộc Địa biến chi lý. Tiếp đó nguyên lý biến động thứ ba, là bốn quẻ nhân luân, chiểu theo Lý trưởng ấu {con trưởng, con út}, tiến hành đổi chỗ hai cặp, thuộc nhân biến chi lý. Căn cứ vào ba nguyên lý biến động này, mỗi lần đều là đổi chỗ bốn quẻ, hợp lại chính là biến động của tam tài Thiên-Địa-nhân IV) Từ Hậu thiên Bát quái phương vị suy ra Vị lai Bát quái phương vị 1. Đưa ra Vị lai Bát quái phương vị Ở trước tôi đã nói qua, sau khi suy luận được “Hậu thiên Bát quái phương vị” thì việc đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị” là rất đơn giản, thế nhưng kết quả lại không hề đơn giản chút nào. Trước tiên chúng ta hãy mô phỏng trình tự suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị” với những “tiền đề” và đặt “Hậu thiên Bát quái phương vị” lên trục hình chữ thập như Hình 19. Hình 19: Hậu thiên Bát quái phương vị và trục hình chữ thập Như vậy tiếp theo chúng ta phải làm gì nữa? Theo kinh nghiệm suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị”, chúng ta phải chiểu theo Lý biến hóa của vũ trụ để tiến hành đổi trục, cũng chính là đem “nhân trục” và “Thần trục” đổi chỗ cho nhau. Tuy lần này cũng là đổi trục, nhưng ý nghĩa đổi trục là khác với lần trước. Khác ở chỗ nào? Lần trước đổi trục là đối ứng với thiên tượng “Thiên nhân đi xuống” của vũ trụ, do đó “Thần trục” chuyển động ngược chiều kim đồng hồ là trục chủ động, “nhân trục” chuyển động chỉ là một loại động theo. Về điểm này, chúng ta đã trình bày ở trước rồi. Còn lần này ý nghĩa đổi trục là khác với “Thiên nhân đi xuống”, mà phản ánh thiên tượng vũ trụ là người trên trái đất (bộ phận những người tu luyện tốt) cần trở về vũ trụ, là một loại cảnh tượng “phản bổn quy chân”; do đó “nhân trục” xoay chuyển thuận chiều kim đồng hồ mới là trục chủ động, còn “Thần trục” xoay chuyển ngược chiều kim đồng hồ chỉ là một loại hưởng ứng. Khi thêm hình chuyển trục vào “Hậu thiên Bát quái phương vị” thì chúng ta được Hình 20. Hình 20: Cảnh tượng chuyển động của Hậu thiên Bát quái phương vị Chúng ta giảng rằng Lý biến động thứ nhất của đổi trục là Lý biến động của đại vũ trụ. Từ cảnh tượng chuyển trục này, tôi đã rút ra được một số thông tin quan trọng. Đây là suy đoán của cá nhân tôi, nhưng tôi vẫn cần phải nói ra. Chính là chúng ta có thể thấy “Thần trục” xoay chuyển mang hàm nghĩa “Thiên hỏa hàng” {lửa trời rơi xuống} (quẻ Ly (☲) từ trên đỉnh đi xuống) và “Hoàng tuyền thăng” {suối vàng thăng lên} (quẻ Khảm (☵) từ dưới đáy đi lên). Đây là chúng ta dùng hàm nghĩa của “Tiên thiên Bát quái” để tiến hành giải thích. Tất nhiên “Thần trục” xoay ngược chiều kim đồng hồ còn có một ý nghĩa nữa, mà chúng ta sẽ phải thảo luận. Hình 21: Trạng thái quá độ thứ nhất từ Hậu thiên Bát quái phương vị sang Vị lai Bát quái phương vị Sau khi đổi trục, chúng ta được trạng thái quá độ thứ nhất từ Hậu thiên Bát quái phương vị sang Vị lai Bát quái phương vị. Tiếp theo chúng ta tất phải chiểu theo Lý Thái Cực của tiểu vũ trụ để tiến hành đảo chiều Âm-Dương, đưa Thái Cực vốn đảo ngược được đảo trở lại. Trong Hình 22 ở dưới, chúng ta đưa Hậu thiên Thái Cực với Âm trên Dương dưới vào đồ hình quá độ, rồi lại chiểu theo Lý tiểu vũ trụ của Thái Cực để tiến hành điều quái qua trục đối xứng là “nhân trục”, lần lượt đổi Khôn (☷) cho Càn (☰), Tốn (☴) cho Cấn (☶). Hình 22: Điều quái đảo ngược Thái Cực để đưa ra Vị lai Bát quái Sau khi đảo ngược theo Thái Cực, chúng ta được đồ hình quá độ thứ hai, xin xem Hình 23. Hình 23: Trạng thái quá độ thứ hai từ Hậu thiên Bát quái phương vị sang Vị lai Bát quái phương vị Tiếp theo, chúng ta vẫn phải điều quái tiếp. Khi suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị”, chúng ta là chiểu theo “Con trai cả thay cha, con gái út thay mẹ” (Trường tử đại phụ, thiếu nữ đại mẫu) để điều quái, còn lần này thì sao đây? Lần trước chúng ta đã điều bốn quẻ, và lần này cũng cần phải điều bốn quẻ. Lần trước chúng ta đã biết rằng, chiểu theo Lý tiên thiên thì trái là Dương phải là Âm, nam tả nữ hữu. Nhưng hiện tại chúng ta có trung nữ (quẻ Ly) nằm bên trái, trung nam (quẻ Khảm) nằm bên phải, là cảnh tượng nam-nữ đảo ngược, do đó nhất định phải chiểu theo nam tả nữ hữu, trái Dương phải Âm để tiến hành điều quái, đổi chỗ hai quẻ Ly, Khảm. Tiếp theo, chúng ta còn phải tuân theo “trưởng trên thiếu dưới”, tức nguyên tắc nhân luân người trưởng ở trên, người út ở dưới để tiến hành điều quái, đem hai quẻ Tốn, Cấn đổi chỗ cho nhau (có thể lý giải chiểu theo tự nhiên là gió mây {Tốn} ở trên, núi non {Cấn} ở dưới để tiến hành điều chỉnh). Khi này chúng ta được Hình 24 ở bên dưới. Đây cũng là đồ hình “Vị lai Bát quái phương vị”. Hình 24: Vị lai Bát quái phương vị đồ Tại sao tôi khẳng định đây chính là đồ hình “Vị lai Bát quái phương vị”? Ở đây có nguyên nhân nhiều phương diện. Trước hết là bởi vì, tôi chiểu theo chặt chẽ phương pháp và nguyên lý suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị” để tiến hành đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”, với lần trước làm thí nghiệm và bảo đảm. Thứ hai, tôi có thể giải thích thông suốt mọi nguyên lý trong quá trình đưa ra. Thứ ba chính là kết quả đưa ra này có thể tiết lộ các thông tin. Hai điều đầu tiên chúng ta không bàn luận nữa. Sau đây chúng ta chủ yếu nói về phương diện thứ ba, cũng chính là hàm nghĩa của “Vị lai Bát quái phương vị”. Trước khi đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”, tôi vẫn luôn tưởng tượng về hình dạng của “Vị lai Bát quái”. Chúng ta biết rằng, định nghĩa của “Tiên thiên Bát quái” và “Hậu thiên Bát quái” đối với Âm-Dương là khác nhau. “Tiên thiên Bát quái” định nghĩa theo vị trí sơ hào, còn “Hậu thiên Bát quái” là lấy thuộc tính Âm-Dương của một hào nào đó để xác định Âm-Dương của quẻ tượng, từ Lý của vạn vật tự nhiên biến thành Lý nhân luân. Như vậy Âm-Dương của “Vị lai Bát quái” định nghĩa như thế nào? Bởi vì phương pháp hào và hào vị đều đã được sử dụng qua, như vậy tiếp theo chúng ta sử dụng phương pháp nào để định nghĩa Âm-Dương cho quẻ tượng? Sử dụng hào vị khác chăng? Liệu có còn thông qua biến hóa hào vị để phản ánh vũ trụ mới hoặc thuộc tính của vũ trụ thứ hai hay không? Trước đây tôi vẫn cứ nghĩ mãi về vấn đề này. Ngoài ra, tôi còn có một suy nghĩ thế này. Chúng ta biết rằng, “Tiên thiên Thái Cực” là trái Dương phải Âm, còn “Hậu thiên Thái Cực” là Âm trên Dương dưới, Âm-Dương đảo chiều; như vậy “Vị lai Thái Cực” nhất định phải quy chính trạng thái ‘Âm Dương phản bối’ này, nhất định phải là Dương trên Âm dưới, Âm-Dương không thể tương giao nữa, là cảnh tượng ổn định vĩnh hằng. Đây là cách nghĩ của tôi trước khi đưa ra “Vị lai Bát quái”, và cũng là kỳ vọng của tôi. Tuy nhiên kết quả việc đưa ra “Vị lai Bát quái” này lại thực sự vượt ra khỏi sự tưởng tượng và kỳ vọng của tôi. Trên thực tế, kết quả đưa ra không chỉ thỏa mãn yêu cầu ban đầu của tôi, mà còn chấn động hơn nữa, hoàn toàn vượt xa sự tưởng tượng của tôi. Thế nhưng kết quả này không thể cắt đứt quan hệ với “Tiên thiên Bát quái” và “Hậu thiên Bát quái”, thậm chí có thể nói “Tiên thiên Bát quái” và “Hậu thiên Bát quái” căn bản chỉ là để phục vụ cho “Vị lai Bát quái”, là bước chuẩn bị. Chúng nguyên là cùng một thể với tự nhiên. Đây là một phương diện khiến tôi vô cùng kinh ngạc.
  10. (II) Tiên thiên Bát quái phương vị và Hậu thiên Bát quái phương vị 3. Hậu thiên Bát quái phương vị Sau đây chúng ta sẽ xem xét hình dạng của đồ hình “Hậu thiên Bát quái phương vị”, xin xem Hình 4. Hình 4: Hậu thiên Bát quái phương vị đồ của Văn Vương Độc giả sẽ phát hiện thấy Bát quái này cũng là “tám quẻ” ấy, chẳng qua vị trí sắp đặt của chúng khác với “Tiên thiên Bát quái phương vị” của Phục Hy, cũng là nói phương vị đã cải biến rồi, trình tự sắp xếp đã thay đổi rồi. Như vậy xem thế nào? Chính là Càn (☰), Khảm (☵), Cấn (☶), Chấn (☳), Tốn (☴), Ly (☲), Khôn (☷), Đoài (☱). Đây là trình tự sắp xếp mà mọi người đều hiểu rõ, các độc giả hiểu được «Chu dịch» đều biết cách đọc theo thứ tự này. Chúng ta biết rằng, «Dịch học» thuộc vào dự trắc học, chỉ cần thứ tự thay đổi, thì cơ lý dự báo đã biến đổi rồi. Ở đây có lẽ phải kể cho mọi người một câu chuyện này. Chúng ta biết rằng, dự ngôn «Thôi bối đồ» là do Viên Thiên Cang và Lý Thuần Phong sống vào thời thịnh Đường Thái Tông sáng tác ra, có thể tiên tri những sự việc sau đó cả nghìn năm. Chiến loạn thời Đường mạt có ngũ đại thập quốc, «Thôi bối đồ» từ hoàng cung lưu lạc tới dân gian. Sau khi Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận nắm quyền, một ngày nọ Triệu Phổ đến hỏi ý Thái Tổ, nói là «Thôi bối đồ» đang được lưu truyền, nếu truyền rộng ra, người người đều biết khi nào thì Đại Tống vong quốc, vậy thì giang sơn Đại Tống làm sao thống trị đây? Phải chăng nên thu lấy «Thôi bối đồ» đang lưu truyền tại dân gian. Triệu Khuông Dận sau khi suy nghĩ nói rằng năm xưa Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn nho cũng không thể tru diệt tư tưởng bách gia, thu giữ làm sao hết được! Trọng tâm của dự trắc học chính là trình tự thời gian, chúng ta chỉ cần đem trật tự trước sau của «Thôi bối đồ» đả loạn, đưa ra các bản «Thôi bối đồ» thứ tự khác nhau là khả dĩ rồi. Vàng thau lẫn lộn, người ta không có cách nào phân biệt phiên bản chân chính. Triệu Khuông Dận đúng là cao minh hơn Tần Thủy Hoàng, bản «Thôi bối đồ» mà chúng ta hiện nay xem được thực ra đều bị Triệu Khuông Dận đảo loạn rồi. Nếu như mất đi công năng dự trắc, thì người bình thường không cách nào biết được tương lai trong «Thôi bối đồ» trước khi sự việc xảy ra, và chỉ sau khi việc xảy ra rồi thì mới minh bạch. Ví dụ đồ hình Tượng 33 «Thôi bối đồ» vẽ một con thuyền chở tám mặt cờ xí và mười người đến từ hướng Đông Bắc, thì chỉ sau khi Mãn Thanh nhập quan, mọi người mới biết nó mang ý nghĩa gì. Lại như năm xưa khi Lý Tự Thành tạo phản, có một người tên Tống Hiến Sách chỉ nhờ nói cho Lý Tự Thành ý nghĩa một bức họa trong «Thôi bối đồ» mà có được chức quân sư. Nhưng cuối cùng quân sư kiểu này nhìn sai một bức họa khác và đưa ra quyết định sai lầm. “Hậu thiên Bát quái” và “Tiên thiên Bát quái”, nhìn thì tựa như chỉ mấy quẻ tượng ấy, nhưng trình tự đã biến đổi rồi. Loại biến đổi trình tự này bản thân nó là đại biểu cho biến hóa thiên tượng của vũ trụ. Kỳ thực cũng không phải đơn giản chỉ là thay đổi trật tự các quẻ, mà là thiên tượng biến hóa dẫn tới Pháp lý biến hóa, đây mới là căn bản. Thiên tượng biến hóa khiến Pháp lý biến hóa, đây là trục chính để tôi đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị” từ “Hậu thiên Bát quái phương vị”, và tôi cũng chắc rằng Văn Vương đã căn cứ tư tưởng này để định nghĩa lại mới Âm-Dương cho các quẻ tượng. Đây là chỗ then chốt trong đột phá lý luận của tôi. Trước tiên mời xem Hình 5, cũng chính là ngụ ý mới của “Hậu thiên Bát quái”. Hình 5: Biểu ý của Hậu thiên Bát quái Căn cứ “Hậu thiên Bát quái” của Văn Vương, chúng ta phát hiện thấy Văn Vương đã định nghĩa lại mới sự vật đại biểu của Bát quái, không lại dùng tám loại vật chất trong giới tự nhiên là Thiên {trời}, Địa {đất}, Thủy {nước}, Hỏa {lửa}, Sơn {núi}, Trạch {đầm}, Phong {gió}, Lôi {sấm} nữa, mà dùng nhân luân để định nghĩa sự vật đối ứng hoặc đại biểu cho Bát quái. Trong Bát quái của Văn Vương, tám quẻ phân biệt đại biểu như sau: Càn là Phụ {cha}, Khôn là Mẫu {mẹ}, Chấn là trưởng nam {con trai cả}, Tốn là trưởng nữ {con gái cả}, Khảm là trung nam {con trai thứ}, Ly là trung nữ {con gái thứ}, Cấn là thiếu nam {con trai út}, Đoài là thiếu nữ {con gái út}. ‘Nhân luân Bái quái’ này chính là bước tiến của tôi trong quá trình đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị” từ “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Loại “Nhân luân Bái quái” này của Văn Vương, tức “Hậu thiên Bát quái”, là khác với “Tự nhiên Bát quái” của vạn vật vũ trụ, tức “Tiên thiên Bát quái” hoặc “Vũ trụ Bát quái”. Đây là điểm cực kỳ trọng yếu. Bậc thầy thuật số Thiệu Ung viết: “Thiệu Tử nói, Bát quái này của Văn Vương là vị trí dùng cho người, tức cái học của hậu thiên.” Câu nói này của Thiệu Tử đã khiến tôi hiểu rõ cơ lý của Bát quái, và là manh mối giúp tôi tìm ra biến hóa nhân lý tương ứng với biến hóa Thiên lý. Tiếp theo, chúng ta phát hiện thấy cùng với việc Văn Vương định nghĩa lại mới ý nghĩa nhân luân cho Bát quái, thì ông còn định nghĩa lại mới Âm-Dương cho mỗi quẻ tượng. Văn Vương không lại dùng phương pháp định nghĩa Âm-Dương bằng vị trí sơ hào của “Tiên thiên Bát quái” nữa, mà lấy nam-nữ của nhân luân để định nghĩa lại mới Âm-Dương. Trưởng nam lấy hào thứ nhất là hào Dương để định nghĩa, trưởng nữ lấy hào thứ nhất là hào Âm để định nghĩa, trung nam lấy hào thứ hai là hào Dương để định nghĩa, trung nữ lấy hào thứ hai là hào Âm để định nghĩa, thiếu nam lấy hào thứ ba là hào Dương để định nghĩa, thiếu nữ lấy hào thứ ba là hào Âm để định nghĩa. Phụ quái {cha} là toàn Dương, Mẫu quái {mẹ} là toàn âm. Nhân luân từ trưởng nam tới thiếu nữ có khác biệt, mà chúng ta sẽ phải nói đến sau. Hàm nghĩa việc chúng ta suy luận “Hậu thiên Bát quái” và “Vị lai Bát quái” là rất có tương quan. Do Văn Dương đã định nghĩa lại mới Âm-Dương cho Bát quái, nên tiếp theo chúng ta phải xem lại quan hệ Âm-Dương giữa “Hậu thiên Bát quái phương vị” và Thái Cực, bởi vì loại quan hệ đối ứng này đã được định nghĩa lại mới rồi. Mời xem Hình 6, đây chính là quan hệ giữa “Hậu thiên Bát quái phương vị” và Thái Cực. Hình 6: Quan hệ giữa Hậu thiên Bát quái phương vị và Thái Cực Nhìn vào đồ hình, chúng ta có thể thấy được điều gì? Chúng ta thấy được một loại kết cấu sắp xếp ‘nữ trên nam dưới’, cũng chính là điều mà Đạo gia gọi là thiên tượng “Âm Dương phản bối”. Như vậy thiên tượng mới này vì sao lại có Âm-Dương đảo ngược? Âm-Dương đảo ngược rốt cuộc có ý nghĩa gì? Có thể rất nhiều độc giả sẽ có thắc mắc này. Chúng ta đã nói ở trước rằng, Dương khí thanh mà nhẹ, thăng lên trên; Âm khí đục mà nặng, hạ xuống dưới. Kết cấu ‘trái Dương phải Âm’ của “Tiên thiên Bát quái phương vị” khiến Âm-Dương chạy theo hai hướng khác nhau, không thể tương giao, không có cơ chế “sinh”, cũng chính là không có cơ chế “Thiên nhân đi xuống”. Còn thể hiện của “Hậu thiên Bát quái phương vị” là một loại hình tượng ‘trên Âm dưới Dương’. Chúng ta biết rằng, Dương nhẹ nên lẽ ra phải ở trên, Âm nặng nên lẽ ra phải ở dưới; ‘trên Dương dưới Âm’ mới là quan hệ sắp đặt đúng nhất của Âm-Dương. Thế nhưng quan hệ Âm-Dương biểu hiện trong “Hậu thiên Bát quái phương vị” lại hoàn toàn tương phản, là ‘trên Âm dưới Dương’; đây chính là hiện tượng ‘Âm Dương phản bối’ được giảng trong Đạo gia. Như vậy vì sao Âm-Dương lại đảo ngược? Vì sao Âm-Dương trong “Hậu thiên Bát quái phương vị” lại đảo ngược? Đây mới là chỗ then chốt. Chẳng phải chúng ta đã từng nói qua rồi sao? “Thiệu Tử nói, Bát quái này của Văn Vương là vị trí dùng cho người, tức cái học của hậu thiên“. Câu nói này đã chỉ rõ ra chỗ mấu chốt. ‘Trên Âm dưới Dương” là vì điều gì? Chỉ có ‘trên Âm dưới Dương’, thì Âm-Dương mới có thể tương giao, bởi vì Âm khí nặng, phải hạ xuống, Dương khí nhẹ, phải thăng lên. Chỉ có ‘trên Âm dưới Dương’ thì giữa Âm hạ xuống và Dương thăng lên mới có thể tương hỗ tương giao. Chúng ta biết rằng, chỉ có nam-nữ tương giao mới có thể sinh dục, mới có thể sinh sôi đời sau, mới có cái gọi là sinh sản không ngừng, sinh sôi nhân loại; do đó chỉ có kết cấu đảo ngược ‘trên Âm dưới Dương’ mới có thể sản sinh xã hội nhân loại, mới có thể sản sinh con người; đây chính là ý nghĩa của con người trong vũ trụ, và mới có cái gọi là ‘nhân luân’. Âm Dương phản bối trong vũ trụ để sản sinh xã hội nhân loại mới là bản chất trong “Hậu thiên Bát quái” của Văn Vương, mới là lý do Văn Vương căn cứ biến đổi thiên tượng của vũ trụ để đưa ra kết cấu Bát quái phương vị mới. Bởi vì không gian vũ trụ cần sản sinh người—đây là một loại ý nghĩa vũ trụ của con người. Vậy thì trước thời Văn Vương chẳng lẽ không có con người? Chẳng phải Trụ Vương của nhà Thương cũng là người ư? Chẳng phải hai triều Hạ, Thương cũng đều có con người đấy sao? Chúng ta đã từng nói qua, người trước thời Văn Vương chỉ là một loại nhục thân của con người, thuộc người trên mặt đất; còn sau thời Văn Vương, bởi vì xã hội nhân loại có liên quan đến Chính Pháp vũ trụ bắt đầu, nên Thiên nhân {người từ trời} đã bắt đầu đi xuống; đây chính là nguyên thần của Thiên nhân bắt đầu nhập vào nhục thân của người trên mặt đất, cũng chính là ngày càng nhiều lớp da người trên mặt đất bắt đầu bị Thiên nhân chiếm hữu rồi. Biểu hiện Âm ở trên hạ xuống trong “Hậu thiên Bát quái” thực tế đã tiết lộ thiên tượng “Thiên nhân đi xuống”. Kỳ thực, điều gọi là ‘Thiên Địa tương giao mà sinh người’ và “Thiên nhân đi xuống” đều nói về cùng một sự việc, chẳng qua là góc độ quan sát khác nhau mà thôi. Lão Tử giảng: “Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật“, chính là giảng một đạo lý. “Tam” chính là người trong tam tài ‘Thiên Địa nhân’, nghĩa là người do Thiên Địa tương giao mà sinh ra. Hiện tượng “Thiên nhân đi xuống” này biểu hiện như thế nào tại nhân gian? Bởi vì “Thiên nhân đi xuống”, nên Thiên nhân cũng mang theo các chủng tư tưởng trên thiên thượng đến thế gian, trên mặt đất biểu hiện là bách gia chư tử tại Trung Quốc. Tư tưởng bách gia {trăm phái} xuất hiện vào cùng một thời gian. Tại Tây phương, tư tưởng bách gia ở vào cùng thời đại với Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ cổ, Socrates, Plato và Aristotle ở Hy Lạp cổ, và sau đó còn có Chúa Jesus. Văn minh nhân loại vì sao phát triển theo phương thức ‘bùng phát’, vì sao “khởi điểm đã là đỉnh điểm”? Chính bởi nguyên nhân “Thiên nhân đi xuống”. Ngoài ra, chúng ta còn có thể thấy rằng, “Hậu thiên Bát quái” đã tiết lộ một trách nhiệm định vị của nhân loại trong vũ trụ, chính là nam-nữ tương giao, sinh sôi không ngừng. Điều này khiến tôi liên tưởng tới các loại quan hệ hôn nhân biến dị trong xã hội nhân loại hiện đại, nào là đồng tính luyến ái, gia đình khắc đinh và kế hoạch hóa gia đình, hết thảy đều trái ngược với ý nguyện của Thần và sứ mệnh được an bài cho xã hội nhân loại. Như vậy vào lúc đại thẩm phán tối hậu tại nhân loại, với những tội ác được Thần chứng kiến ấy, liệu họ có thoát được không?! Vì thế mới nói, “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương đã tiết lộ cảnh tượng “Vũ trụ tương giao mà sinh người, Thiên nhân đi xuống nhập da người”. Văn Vương thực ra chỉ nhìn thấy “Vũ trụ tương giao mà sinh người” chứ không thấy được cảnh tượng bách gia tranh minh {trăm phái tranh luận} và “Thiên nhân đi xuống nhập da người” phát sinh sau đó. Thiệu Tử cũng chưa chắc đã minh bạch hàm nghĩa chân chính của “Thiên nhân đi xuống”. Như vậy Thiên nhân vì sao phải đi xuống? Một số độc giả có thể nghĩ tới vấn đề này. Vấn đề này liên quan tới bí mật cuối cùng của Bát quái, liên quan tới bí mật sự tồn tại và sinh sôi của xã hội nhân loại, liên quan tới đại bí mật của vũ trụ (tương quan mật thiết với vũ trụ đầu tiên và vũ trụ tương lai). Những vấn đề này sẽ được chúng ta giải đáp ở các phần sau. Trong phần này độc giả chỉ cần biết rằng “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương đối ứng với Thái Cực ‘trên Âm dưới Dương’, là một hiện tượng ‘Âm Dương phản bối’, ngoài ra “Hậu thiên Bát quái phương vị” là phân Âm-Dương theo nhân luân nam-nữ. Độc giả trước mắt chỉ cần biết đến như vậy là được rồi. (III) Từ Tiên thiên Bát quái phương vị suy ra Hậu thiên Bát quái phương vị Sau đây tôi phải nói về việc tôi đã suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” của Phục Hy như thế nào. Đây cũng là vấn đề chủ yếu trong loạt bài này, bởi vì nó là cơ sở để đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”; chỉ cần minh bạch cơ lý tương quan, thì đại đa số độc giả có thể tự mình suy luận ra “Vị lai Bát quái”, tôi tin chắc như vậy. Chúng ta biết rằng, ý định ban đầu của «Kinh dịch» chính là khoa học về biến hóa, cũng chính là nghiên cứu về biến hóa, chẳng qua biến hóa có lớn có nhỏ, từ việc nhỏ như cát hung của cá nhân, cho tới việc lớn như hưng suy của triều đại và quốc gia, cũng như biến hóa của xã hội nhân loại và toàn vũ trụ, thậm chí là quy luật biến hóa của thiên thể. Người Trung Quốc thường gọi ‘biến hóa’ là ‘biến quái’, tức là hay thay đổi. Đây là học từ «Kinh dịch» mà ra. Như vậy căn cứ vào Dịch lý, chúng ta coi biến hóa như thế nào? Đây cũng là Lý biến hóa của «Kinh dịch» mà chúng ta phải nghiên cứu. 1. Nhị nguyên tam yếu tố Chúng ta biết rằng, khoa học thực chứng Tây phương chính là giảng thuyết cố định, tư tưởng chủ đạo không giảng biến hóa, không nghiên cứu về biến hóa, còn giảng vật chất và tinh thần là ‘nhị phân’, từ đó mới có tranh luận triết học về vấn đề vật chất là đệ nhất tính hay tinh thần là đệ nhất tính. ‘Nhị phân pháp’ là giả thiết tiền đề của phương pháp luận và nhận thức luận Tây phương. Nhưng văn hóa truyền thống Đông phương chính là giảng ‘hợp nhất pháp’, không phải ‘nhị phân pháp’, ví như tư tưởng truyền thống Trung Quốc giảng “thiên nhân hợp nhất” {hợp nhất giữa Trời và người}, “tri hành hợp nhất” {hợp nhất giữa nhận thức và hành động}. Hệ thống giáo dục Trung Quốc hiện tại chỉ coi văn hóa truyền thống Trung Quốc là một loại tri thức để mà học, chứ không coi là một loại tư tưởng. Tuy nhiên nó thực sự là một hệ tư tưởng, nhưng hoàn toàn khác với hệ tư tưởng Tây phương. Thế nhưng rất nhiều người đã dùng phương pháp luận và tiêu chuẩn phán xét Tây phương để đánh giá hệ tư tưởng Đông phương, hoàn toàn là trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, từ đó xuất hiện rất nhiều cái gọi là “chuyên gia” phủ định Trung y Trung Quốc. Tôi khi làm luận văn Tiến sĩ cũng có suy nghĩ như vậy. Sách giáo khoa Trung Quốc truyền bá cho người ta cái gọi là “vật chất là đệ nhất tính hay tinh thần là đệ nhất tính, đây là vấn đề căn bản của triết học”; loại nhận định này là hoàn toàn sai lầm, câu nói này bản thân nó đã là sự mâu thuẫn triết học và ngụy biện. Tại sao gọi là “vấn đề căn bản”? Như thế nào mới được gọi là “căn bản”? Nếu như trước vấn đề này không có vấn đề hoặc giả thiết nào, vậy thì vấn đề này bản thân nó không thể trở thành “căn bản” nào cả, bởi vì trước lô-gíc còn có vấn đề “căn bản” hơn, còn có tiền đề giả thiết, còn có “căn”. Tôi nói rằng “vật chất là đệ nhất tính hay tinh thần là đệ nhất tính” chính là một giả thiết “nhị nguyên luận”. Nếu như vượt ra khỏi giả thiết “nhị nguyên luận”, thì mệnh đề này sẽ có vấn đề, không còn có ý nghĩa nữa. Tôi thường đưa ra một ví dụ này. Tôi nói nếu như gia đình có hai người con trai, thì chúng ta nghiên cứu ai là anh, ai là em mới có ý nghĩa thực tế. Còn nếu gia đình chỉ có con một, thì anh cũng là anh ta mà em cũng là anh ta, lớn nhỏ đều là anh ta, phân ra nào có ý nghĩa gì đâu? Tình huống ‘con một’ này cũng tương đương với ‘nhất nguyên luận’ và ‘hỗn nguyên luận’ trong triết học. Nếu gia đình này có mười người con trai, thì chúng ta nghiên cứu ai là anh, ai là em cũng không có ý nghĩa nữa. Đưa ra anh trai, em trai xong rồi, vậy thì tám người kia tính sao đây? Họ là do ai quản đây? Đây chính là tình huống ‘đa nguyên luận’ trong triết học. Do đó tôi cho rằng “vật chất là đệ nhất tính hay tinh thần là đệ nhất tính” là một ngụy vấn đề, hoàn hoàn không phải vấn đề căn bản của triết học. Điều này khiến chúng ta phải xem lại giả thiết ‘nhị phân pháp’. Chỉ có dùng ‘nhị phân pháp’ thì vật chất và tinh thần mới có thể phân chia. ‘Nhị phân pháp’ này xem ra rất công chính, nhưng thực ra không phải, bởi vì giả thiết của ‘nhị phân pháp’ là giả thiết khả phân; bản thân nó là một giả thiết ưu tiên vật chất tính, bởi chỉ có vật chất tính mới có tính khả phân và biệt lập. Lấy giả thiết mang tính vật chất để hướng đạo tính chất vật chất, sau đó lại hỏi “vật chất có trước hay tinh thần có trước”, đây chẳng phải sự trùng lặp lô-gíc là gì? Đã chỉ định cái gì có trước, sau đó lại hỏi cái nào có trước, chẳng khác nào tự phong cho mình chức quán quân, rồi sau đó lại hỏi mọi người ai là đệ nhất. Chẳng phải lừa gạt là gì?! Đây hoàn toàn là một loại lô-gíc cưỡng chế rõ ràng. Tiếp theo, trong luận văn tôi nghĩ thế này, trước tiên chúng ta không thể nghiên cứu vấn đề ai là đệ nhất ai là đệ nhị, ‘nhị nguyên’ hoặc ‘nhị phân’ cần phải là ‘tam yếu tố’, chứ không chỉ là hai yếu tố. Cũng là nói rằng giữa ‘nhị nguyên’ {hai nguyên tố} nhất định phải có chủng quan hệ nào đó. Nếu không có quan hệ tương hỗ, thì cách phân chia ‘nhị nguyên’ này còn có ý nghĩa nào nữa? Tựa như một nam một nữ, giữa họ nhất định phải có quan hệ nào đó, mới có thể thành người một nhà. Ví dụ họ là vợ chồng, quan hệ phu thê, thì giữa họ mới có thể tương giao mà sản sinh đời sau. Chúng ta không thể tùy tiện ra phố tìm hai người nam nữ để khiến họ sinh hài tử được. Do đó tôi luôn cho rằng là nhị nguyên tam yếu tố, thì yếu tố thứ ba này chính là quan hệ tương hỗ giữa hai nguyên tố. Từ đó tôi đem “quan hệ tương hỗ” coi như là một yếu tố để nghiên cứu. Loại nhận thức này của tôi đã có thể tìm thấy bằng chứng trong lý luận thông tin hiện đại. Ví dụ trong lý luận thông tin, chúng ta không thể đem biến lượng tương đối cố định ra làm biến lượng được, loại biến lượng này được gọi là “tồn lượng”; ngoài ra, chúng ta còn có dòng lưu chuyển thông tin gọi là “lưu lượng”. “Dòng thông tin” hoặc “lưu lượng” cũng biểu thị một “quan hệ tương hỗ” giữa các yếu tố cố định, là một lượng quan hệ, là biến lượng có thể nghiên cứu hoặc phân tích độc lập. Xin xem Hình 7. Tôi không muốn sử dụng thuật ngữ ‘nhị phân pháp’ về phân chia vật chất và tinh thần nữa, do đó tôi sử dụng hai thuật ngữ là ‘chủ thể’ và ‘khách thể’ để thay thế. Hình 7: Từ nhị nguyên đến tam yếu tố. Giữa 'chủ thể' và 'khách thể' là 'quan hệ tương hỗ'. (III) Từ Tiên thiên Bát quái phương vị suy ra Hậu thiên Bát quái phương vị 2. Từ tam yếu tố đến tam tài Thiên Địa nhân Sau đó tôi đã phát hiện ra rằng loại kết cấu nhị nguyên tam yếu tố này cũng chính là kết cấu tam tài Thiên Địa nhân của văn hóa truyền thống Trung Quốc (xem Hình 8). Nói thực, rất là hổ thẹn, bởi vì vào lúc làm luận văn Tiến sĩ thời ấy, tôi thậm chí còn chưa nghe qua kết cấu tam tài nào cả. Tôi cũng như dân chúng Trung Quốc Đại Lục, đều bị văn hóa đảng làm độc hại; tôi khi ấy biết rất ít về văn hóa truyền thống của tổ tiên. Hình 8: Từ tam yếu tố đến kết cấu tam tài Thiên Địa nhân 3. Từ yếu tố “nhân” trong tam tài triển khai theo chiều ngang thành nhân trục Hình 9: Triển khai yếu tố thứ ba theo chiều ngang Tiếp đó, tôi đem yếu tố thứ ba triển khai theo chiều ngang; khi ấy tôi gọi là “trục quyết sách”, tham khảo Hình 9. Chúng ta không cần phải nghiên cứu tên gọi và ý nghĩa cụ thể của những yếu tố được triển khai này, bởi vì đây không phải ý nghĩa sở tại của bài viết; chúng ta quan trọng là phải sử dụng ý nghĩa của việc triển khai theo chiều ngang. Bởi vì nguyên luận văn là Anh văn, ví dụ từ “lực lượng” nghĩa tiếng Anh là “power”, đã có quyền, lại có thế, còn có ý nghĩa về lực; tuy nhiên “quyền thế” trong tiếng Trung rõ ràng là một từ mang hàm nghĩa xấu, do đó tôi đã sử dụng từ “lực lượng” để thay thế, tuy nhiên không có ý nghĩa về “thế”, không cách nào phản ánh được ý nghĩa từ “power”. Thực ra Trung văn đúng là như vậy, có từ với nội hàm thâm sâu khi phiên dịch thành Anh văn thì có sử dụng mười câu, trăm câu cũng không sao biểu đạt được. Đây chính là khác biệt về tư tưởng văn hóa. Tách khỏi hoàn cảnh văn hóa và ngôn ngữ, chỉ từ ý nghĩa văn tự mà lý giải thì không hiểu được hàm nghĩa thâm sâu. Sau khi liễu giải được kết cấu tam tài Thiên Địa nhân, tôi trở lại vấn đề phương pháp luận của luận văn, thì phát hiện thấy “trục quyết sách” mà tôi xây dựng là đối ứng với triển khai “nhân trục” của kết cấu tam tài, tức là đem yếu tố “nhân” trong tam tài triển khai theo chiều ngang thành “nhân trục”, triển khai thành nhiều yếu tố theo chiều ngang—như yếu tố quyết sách, xem thêm Hình 10. Hình 10: Triển khai 'nhân trục' Hình 11: 'Nhân trục' và 'Thần trục" hình chữ thập Đồng thời với triển khai “nhân trục” theo chiều ngang, tôi đem nguyên trục đứng Thiên Địa nhân gọi là “Thần trục”, xin xem Hình 11. “Thần trục” là hướng dọc, “nhân trục” là hướng ngang. Sau đó tôi dùng “trục chữ thập” này để nghiên cứu sự bất đồng trong tư tưởng và văn hóa giữa Đông và Tây phương. Văn hóa chủ lưu Tây phương, bao gồm truyền thống khoa học thực chứng mấy trăm năm qua, đều ở trên “nhân trục” nằm ngang. Tư tưởng Tây phương chính là nằm ngang, đều ở trên tầng thứ mà nhân loại đang tồn tại. Bởi vì ở trên tầng diện nằm ngang, nên không thể theo đuổi những thứ ở cao tầng, chỉ truy cầu kéo dài hoặc phát triển theo chiều ngang, truy cầu khuếch đại bán kính vật chất và bề ngoài. Nhưng tư tưởng Đông phương là theo chiều dọc, các bậc hiền triết và người tu luyện phương Đông đều truy cầu sự đề cao tầng thứ, đều nằm trên “Thần trục”, do đó văn hóa Đông phương giảng giáo hóa nhân tính, đề cao tâm tính. “Nhân trục” còn gọi là “nhân thế trục”, “Thần trục” còn gọi là “Thần vũ trục”, trước đây tôi còn gọi là “Thiên trục”. Bởi vì “Thiên trục” dễ nhầm với Thiên Địa nhân và quẻ Thiên Càn, nên tôi thấy gọi là “Thần trục” hoặc “Thần vũ trục” thì tốt hơn.
  11. Newton Không Chỉ Là Nhà Khoa Học, Ông Còn Là Một Nhà Thần Học Phi Phàm Nhà nghiên cứu mật mã kinh thánh đã bị sốc trong khi sắp xếp lại những cống hiến văn hóa còn lưu lại của Newton. Ảnh tư liệu (Getty) “Đây là một hệ thống lớn hoàn thiện bao gồm một hệ chiếu ánh nắng mặt trời, hành tinh, sao chổi, và bàn tay duy nhất của thượng đế toàn năng…”- Newton. Khi kiệt tác khoa học “Nguyên lý Triết học Tự nhiên” được xuất bản, Newton đã từng viết văn tự này trong cuốn sách của mình, để thể hiện đức tin của mình đối với sự huyền diệu tinh tế trong thế giới. Việc công bố các tác phẩm thời đại này, đã tạo ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử của ngành khoa học nhân văn. Newton không chỉ được biết đến như một hình tượng mẫu mực trong các nhà khoa học, mà ông còn là một nhà thần học phi phàm. Khi các nhà nghiên cứu sắp xếp lại các hiện vật quý giá do Newton để lại, họ nhận thấy trong toàn bộ cuốn sách vật lý toán học đã được xuất bản, thì chỉ có khoảng 16% là liên quan đến các công trình toán học, trong khi đó số còn lại đến 80%, đều là những tác phẩm có liên quan đến thần học với tổng số chữ vượt quá 1,4 triệu. Mọi người đều cảm thấy rất kinh ngạc khi Newton dành phần lớn thời gian của ông để suy nghĩ về Kinh Thánh, nhiều hơn rất nhiều so với thời gian dành cho nghiên cứu khoa học. Trong một giai đoạn thời gian dài, Newton đã không ngừng dùng các phương pháp khoa học nghiêm ngặt để nghiên cứu tiếng Do Thái cổ, lời tiên tri trong “Kinh Thánh” và những ghi chép trong biên niên sử; tận sức tìm ra mật mã trong Kinh Thánh. Ông tin rằng, lịch sử và vận mệnh của nhân loại và thế giới đều nằm trong “Kinh Thánh”. Trong kinh điển cựu ước “Sách của Daniel” có kết nối với “Khải Huyền” trong Tân Ước, và cũng kết nối với vận mệnh tương lai của nhân loại. Sau gần ba thế kỷ, các nhà khoa học đến từ Mỹ và Israel, đã tận dụng khả năng tìm kiếm hàng triệu lần trong vòng 1 giây của máy tính, và đã chứng thực được sự tồn tại thật sự của “mật mã kinh thánh”. Và họ cũng đã giải mã thành công “mật mã kinh thánh” không chỉ bao gồm một loạt các sự kiện lớn trong lịch sử nhân loại, chẳng hạn như: Chiến tranh thế giới II, sự kiện 11-9… thêm vào đó cũng thành công dự đoán sao chổi Wood hit, sự kiện Rabin bị ám sát và các sự kiện khác xảy ra. Một phát hiện đáng ngạc nhiên khác đó là: Trong Mật mã Kinh thánh “Bible Code”, từ Gravity (vạn vật hấp dẫn) đã được tìm thấy xuất hiện bên cạnh tên của “Newton”, có nghĩa là, ngoài ra bên cạnh từ “Newton” ở phía bên kia, đã hiển thị một cách thần kỳ dòng chữ “Bible Code Newton”, và đây là một nhóm từ mang hàm nghĩa tổ hợp, chính là “Kinh Thánh mật mã Newton”… Năm 2003, tại Bảo tàng Quốc gia của những người Do Thái Jerusalem, cuối cùng họ đã tìm thấy những bản thảo bị cho là đã bị mất trước đó của Newton, trong hàng ngàn trang văn bản được viết dày đặc, các nhà nghiên cứu đã thấy nhà khoa học đại tài này sử dụng các công thức phức tạp để giải mã “Mật mã Kinh Thánh”… Cuối cùng, trong bản thảo của Newton không chỉ nói về dự đoán ngày tận thế sẽ xảy ra ở thế kỷ 21 trong “Kinh Thánh”, mà cũng còn dự đoán thêm: Khi ngày tận thế đến, Trái Đất sẽ một lần nữa xuất hiện một vị Thánh, và ông có thể cũng sẽ trở thành tín đồ của vị Thánh mới này… Trong chương 12 Matthew, Chúa Giêsu đã từng nói với các đồ đệ rằng, trong thời đại phục quốc của Israel “Con Người”, Chúa của các vị chúa sẽ đến từ phương Đông… (lời tiên tri Kinh Thánh Do Thái như là một dấu hiệu trước sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế, tháng 5 năm 1948 nó đã được ứng nghiệm một cách chuẩn xác). Thế kỷ 19, nhà tiên tri nổi tiếng người Mỹ Edgar Cayce đã có một lời tiên tri đáng kinh ngạc hơn “vương quốc của cơ đốc” mới sẽ được sinh tại quốc gia cổ đại phương Đông – Trung Quốc. “Newton – Mật mã kinh thánh” cùng với tất cả các loại biểu hiện của thiên khải, liệu có phải đều muốn nói với chúng ta rằng: “Vị thánh” mới cùng với “Trời mới Đất mới Kỷ Nguyên mới” đều ở gần ngay trước mắt rồi sao?!
  12. Cháu Cảm ơn chú Thiên Sứ rất nhiều. Cháu sẽ liên hệ với Phamhung. Kính Chúc chú và gia đinh An Lạc !
  13. Thực hư chuyện người ngoài hành tinh xuất hiện ở Hà Nội Dư luận đang xôn xao không biết thực hư bức ảnh chụp người ngoài hành tinh xuất hiện ở Hà Nội ra sao khi một số chuyên gia vẫn chưa thể tìm ra những bằng chứng thuyết phục để khẳng định chắc chắn rằng đó là sự thật hay chỉ là trò hư cấu. Thông tin trên rộ lên sau khi một tờ báo ngày 31.7 đăng tải một bài viết về câu chuyện một người thanh niên tên là Trịnh Văn Thùy sinh năm 1978 trú tại Vĩnh Quỳnh (Thanh Trì, Hà Nội) khi đang ngồi uống nước trà trên đường Lương Ngọc, Quyến, Hà Nội, dùng máy tính bảng thì vô tình chụp được bức ảnh một sinh vật lạ có hình giống như người ngoài hành tinh vào ngày 12.7.2014.Theo mô tả của anh Thùy, sinh vật này có chiều cao khoảng 50-60cm, đầu tròn và to, hai mắt to lồi, trán rộng, cổ dài, có bốn cánh tay, 2 chân. Anh Thùy cũng khẳng định, không có bất kỳ sự can thiệp của công nghệ photoshop vào hình ảnh đã chụp được. Tác giả khoe bức ảnh được cho là người ngoài hành tinh ở Hà Nội. Ảnh: Kiến Thức Đánh giá về hình ảnh trên, TS Vũ Thế Khanh Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học ứng dụng (UIA) tuy tỏ ra nghi ngờ nhưng cũng cho rằng, hiện tượng người ngoài hành tinh là một trong những hiện tượng có thể khoa học chưa giải thích được thì cần chờ đợi những kết quả nghiên cứu thỏa đáng. Ông cũng đặt giả thiết có thể bức ảnh người ngoài hành tinh ở Hà Nội có thể bị can thiệp bởi công nghệ. Bức ảnh của anh Trịnh Văn Thùy Một số chuyên gia khác lại cho rằng, bức ảnh có thể là kết quả của một loại ứng dụng chụp ảnh cho phép chèn người ngoài hành tinh, hay đĩa bay… vào bức ảnh, nhằm ăn theo sự kiện “Ngày tận thế” để thu hút đông đảo sự chú ý như trong năm 2012. Trong khi còn có nhiều tranh cãi và cần có những xác minh cụ thể hơn, thì thông tin người ngoài hành tinh xuất hiện ở Hà Nội trong sáng nay đã khiến hàng loạt diễn đàn, fanpage trên mạng xã hội đua nhau chia sẻ lại link bài viết này với nhiều bình luận trái chiều. Theo Danviet
  14. Nguồn Gốc Loài Người Theo Các Văn Tự Sumer cổ Bức tranh khắc mô tả Enki, vị thần của người Sumer và một bản khắc đá của người Sumer (ảnh nền) từ thế kỷ 21 trước Công nguyên, với một bài thánh ca được khắc trên đó. (Wikimedia Commons) Sumer, tức “vùng đất của các vị vua được khai hóa”, từng phát triển mạnh ở vùng Lưỡng Hà, ngày nay là Irắc, vào khoảng những năm 4500 trước Công nguyên. Người Sumer đã sáng tạo ra một nền văn minh tiên tiến với hệ thống phức tạp về ngôn ngữ và chữ viết, kiến ​​trúc và nghệ thuật, thiên văn học và toán học. Hệ thống tôn giáo của họ rất phức tạp với hàng trăm vị thần, nghi lễ và vũ trụ học. Theo các văn tự cổ xưa, mỗi thành phố Sumer đã được bảo vệ bởi một vị thần riêng của mình; trong khi con người và các vị thần sống cùng nhau, và con người là những người phụng sự các vị thần. Huyền thoại về tạo hóa của người Sumer có thể được tìm thấy trên một bản khắc đá tại Nippur, một thành phố cổ đại vùng Lưỡng Hà được thành lập vào khoảng những năm 5000 trước Công nguyên. Theo bản khắc đá của người Sumer, việc kiến tạo trái đất (Enuma Elish) bắt đầu như sau: Từ lúc thiên đường trên cao chưa được đặt tên, Và ở trần gian bên dưới cũng chưa có tên, Apsu nguyên thủy là người đã tạo ra cả hai Cùng với mẹ Tiamut, hiện thân của sự hỗn loạn Nước của họ hòa lẫn vào nhau, Và không có cánh đồng nào được tạo ra, không có đầm lầy nào được nhìn thấy; Khi chỉ có các vị thần mà không hề có sinh vật, Và không có gì có tên, không có vận mệnh nào được định đoạt; Sau đó ở giữa thiên đàng tạo nên những vị thần, Lahmu và Lahamu đã được gọi là sinh vật… Cần lưu ý ở đây rằng không chỉ có một vị thần chịu trách nhiệm về tạo hóa, vì ngay cả các vị thần cũng là một phần của tạo hóa. Thần thoại Sumer khẳng định rằng, vào thuở ban đầu, chủng tộc người ngoài hành tinh có hình dạng giống con người đã cai trị trái đất. Chủng tộc này, hay các vị thần linh, có thể bay lượn trên bầu trời bằng các phương tiện hình tròn hoặc hình tên lửa. Chủng tộc này đã làm việc cật lực trên trái đất nhằm tạo môi trường sinh sống và khai thác khoáng sản. Các văn tự đề cập đến một số thời điểm, các vị thần đã nổi loạn chống lại việc lao động của họ. Khi các vị thần như những người thường Gánh chịu công việc và thuế khóa Sự khó nhọc của các vị thần là to lớn, Công việc nặng nề, nhiều nỗi đau đớn. Anu, thần của các vị thần, đồng ý rằng nỗ lực của họ là quá to lớn. Con trai của ông là Enki, hay Ea, đã đề xuất tạo ra con người để gánh vác công việc này, và vì vậy, với sự giúp đỡ của người chị Ninki, ông đã tạo ra con người. Một vị thần đã phải chết, thân xác và máu của ông được trộn với đất sét. Con người đầu tiên được tạo ra từ nguyên liệu này, với hình dạng giống với các vị thần. Ngài đã sát hại một vị thần Cùng với tính cách của ông Ta đã gỡ bỏ công việc nặng nhọc của ngài Ta đã áp sự khó nhọc của ngài lên con người. … Trong đất sét, thần và người Sẽ ràng buộc với nhau, Để cùng mang lại một sự thống nhất; Để đến cuối thời đại Máu thịt và Linh hồn Những thứ vốn thuộc về một vị thần, đã chín muồi - Linh hồn đó được ràng buộc trong một quan hệ máu thịt. Điều thú vị ở đây là cần lưu ý rằng tinh thần được kết nối với thân thể, cũng như nhiều tôn giáo và thần thoại khác có nhắc đến. Con người đầu tiên được tạo ra tại Eden, một từ tiếng Sumer có nghĩa là “địa hình bằng phẳng”. Trong Sử thi Gilgamesh, Eden được nhắc đến như khu vườn của các vị thần và nằm ở đâu đó trong vùng Lưỡng Hà giữa hai con sông Tigris và Euphrates. Ban đầu con người không thể tự sinh sản, nhưng sau đó họ được thay đổi với sự giúp đỡ của Enki và Ninki. Do đó, Adapa được tạo ra như một con người độc lập với đầy đủ chức năng. Sự “sửa đổi” này đã được thực hiện mà không có sự chấp thuận của người anh em của Enki là Enlil, và một cuộc xung đột giữa các vị thần bắt đầu. Enlil trở thành kẻ thù của con người, bản khắc đá Sumer viết rằng con người phụng sự các vị thần và đã trải qua nhiều khó khăn và đau khổ. Mặc dù câu chuyện về tạo hóa này không chính xác nói đến hai cây ở Eden, song Adapa với sự giúp đỡ của Enki, đã bay tới Anu nơi ông ta không thể trả lời câu hỏi về “bánh và nước trường sinh”. Có các ý kiến ​​khác nhau về những điểm tương đồng giữa hai câu chuyện tạo hóa này, nhưng có một điều rõ ràng: bất tử là dành cho các vị thần, không phải cho con người. Lưu ý: Bản dịch tiếng Sumer cổ đại sang tiếng Anh được lấy từ cuốn sách của William Bramley, The Gods of Eden. Đăng lại với sự cho phép của Ancient Origins. Đọc bản gốc tại đây. Một số câu chuyện về sáng tạo thế giới trình bày bởi Melodicvision: Iznami and Iznagi: A Creation Myth from Japan Watch this video on YouTube. The Descendents of Nun: A Creation Myth From Egypt Watch this video on YouTube.
  15. Có một điều rất thú vị trong lịch sử của Đức Quốc Xã mà chúng ta chưa biết, đó là những nghiên cứu của họ về trái đất rỗng. Không chỉ dừng lại ở nghiên cứu, họ còn lập được những căn cứ bí mật trong lòng trái đất để phục vụ cho những mục đích khác nhau. Trang web của USAHitman đã đăng tải các tài liệu mật lấy được từ NASA, là các bản đồ về Đế chế thứ 3, tiết lộ những địa điểm đi vào trong lòng trái đất rỗng và miêu tả về các đại dương và các lục địa khổng lồ bên trong. Năm 1947, Đô đốc Richard E. Byrd chỉ huy 4.000 lính Mỹ, Anh và Australia thực hiện một cuộc viễn chinh đến Nam Cực trong một sứ mệnh có tên là Chiến dịch Highjump. 4.000 lính liên quân Mỹ, Anh và Australia cùng tham gia cuộc viễn chinh Trong cuộc viễn chinh đến vùng đất lạnh giá này, Byrd và đội quân của ông đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt của các đĩa bay, buộc Byrd phải từ bỏ ý định xâm chiếm lục địa này. Đô đốc Richard E. Byrd. Có một nguồn tin khẳng định rằng, mục tiêu của chiến dịch Highjump là phải xác định vị trí của một căn cứ ngầm rất rộng lớn nằm sâu dưới lòng đất do người Đức xây dựng vào giai đoạn trước, trong và ngay sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, với sự trợ giúp của những sinh vật ngoài hành tinh, được nhắc đến là những “người Aryan” (Đức Quốc Xã tin đây là tổ tiên của họ, một chủng tộc ưu việt). Hitler cùng người ngoài hành tinh Căn cứ này được cho là được xây dựng ở Neuschwabenland, một khu vực thuộc Nam cực mà Đức đã phát hiện ra và tuyên bố chủ quyền trước khi nổ ra Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong thực tế, Đức đã tiến hành một nghiên cứu kỹ lưỡng về Nam cực và nước này đã tiến hành xây dựng một căn cứ ngầm dưới lòng đất trước khi diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai. Một chi tiết đáng chú ý là vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, phe Đồng minh tính toán rằng có khoảng 250.000 người và rất nhiều tàu ngầm khổng lồ cùng những khí tài của Đức không rõ biến đi đâu mất. Số người này với trình độ cao đủ để xây dựng một nền tảng công nghiệp. Có nhiều bằng chứng cho thấy, tại vùng đất quanh năm phủ đầy băng giá này, Đức Quốc Xã đã xây dựng một cơ sở quân sự, có liên quan đến những vật thể bay không xác định (UFO). Và dưới đây là những bằng chứng đó:
  16. Hộp Sọ Người Làm Hoài Nghi Lý Thuyết về Nguồn Gốc Loài NgườiBởi: April Holloway, www.ancient-origins.net Hộp sọ Petralona được phát hiện bởi một người chăn cừu ở hang động Petralona, Hy Lạp. (Wikimedia Commons) Vũ trụ chứa đầy những điều bí ẩn và thách đố tri thức của nhân loại. Bộ sưu tập những câu chuyện “Khoa học Huyền bí” của Đại Kỷ Nguyên về những hiện tượng lạ thường đã kích thích trí tưởng tượng và mở ra những khả năng chưa từng mơ tới. Chúng có thật hay không? Tùy bạn quyết định! Một phát hiện về hộp sọ người có khả năng làm thay đổi hiểu biết về sự tiến hóa của loài người và sự ngăn chặn, giấu giếm thông tin sau khi phát hiện hộp sọ này. Vào năm 1959, tại vùng Chalkidiki thuộc Petralona, phía Bắc Hy Lạp, một người chăn cừu tình cờ phát hiện một hang động lộ ra sau khi tuyết tan. Ông ta huy động dân làng giúp ông phá cửa động. Họ phát hiện ra hang động bao phủ bởi thạch nhũ và măng đá, cùng một hộp sọ người được gắn vào tường (sau này người ta còn phát hiện ra một lượng lớn cổ vật hóa thạch bao gồm các loài động vật trước con người, lông động vật, gỗ, công cụ bằng đá và xương đã hóa thạch). Hộp sọ người đã được Chủ tịch Cộng đồng Petralona chuyển đến cho Trường Đại học Thessaloniki ở Hy Lạp. Cam kết giữa hai bên trong việc chuyển giao này là sau khi hoàn thành việc nghiên cứu, sẽ mở một bảo tàng giới thiệu những cổ vật mới phát hiện từ hang động Petralona này và hộp sọ người sẽ được trưng bày ở trong viện bảo tàng – thế nhưng điều này đã không xảy ra. Hộp sọ người Petralona được trưng bày tại Viện Bảo tàng Khảo cổ học Thessaloniki. (Wikimedia Commons). Giáo sư Aris Poulianos, thành viên của tổ chức IUAES (Hiệp hội Khoa học Quốc tế Về nhân loại học và Dân tộc học) của UNESCO, là nhà sáng lập của Hiệp hội Nhân loại học của Hy Lạp, một chuyên gia nhân loại học, người đã làm việc tại Trường Đại học Moscow vào thời điểm đó, ông đã được Thủ tướng Hy Lạp mời quay trở lại Hy Lạp để giữ vị trí trong Hội đồng Các trường Đại học ở Athens. Lý do là ông đã xuất bản cuốn sách của ông có tên “Nguồn gốc của người Hy Lạp”, trong đó đã cung cấp những thông tin nghiên cứu hữu ích, chỉ ra rằng người Hy Lạp không phải bắt nguồn từ các dân tộc Slavic mà thực sự có nguồn gốc từ đất nước Hy Lạp. Sau khi trở lại Hy Lạp, Giáo sư Poulianos đã chú ý đến hộp sọ người tại Petralona và ngay lập tức bắt đầu nghiên cứu hang động Petralona và hộp sọ người này. ‘Người đàn ông Petralona’ hay được gọi là người cổ đại của vùng Petralona, có độ tuổi là 700.000 năm, trở thành người Châu Âu nhiều tuổi nhất từ trước đến nay. Nghiên cứu của Giáo sư Poulianos cho thấy người đàn ông Petralona là loài người tiến hóa độc lập ở Châu Âu và không phải là tổ tiên của loài người từ Châu Phi. Vào năm 1964, các nhà nghiên cứu độc lập người Đức Breitinger và Sickenberg đã cố gắng bỏ qua các phát hiện của Giáo sư Poulianos, với lý giải là hộp sọ này chỉ khoảng 50.000 năm tuổi và thực chất là tổ tiên đến từ Châu Phi. Tuy nhiên, các nghiên cứu được công bố vào năm 1971 ở Mỹ trên tạp chí Khảo cổ học danh tiếng đã xác nhận lại những phát hiện trước kia, đó là hộp sọ này đúng là 700.000 năm tuổi. Việc này được đưa ra dựa trên một phân tích về địa tầng học và các trầm tích của hang động nơi hộp sọ được gắn vào. Những nghiên cứu sâu hơn trong hang động đã phát hiện ra những chiếc răng rời nhau và hai bộ xương người từ 800.000 năm trước cũng như là các mảnh hóa thạch của nhiều loài khác nhau. Ngày nay, hầu hết các nhà học thuật, những người đã phân tích di vật ở Petralona cho biết ‘Người đàn ông Petralona’ thuộc về loài vượn người cổ khác biệt với loài Homo erectus lẫn loài Neantherthal và loài người với mô hình giải phẫu hiện đại, nhưng lại thể hiện đặc điểm của người Châu Âu. Hộp sọ 700.000 năm tuổi này cũng không thuộc họ Homo sapien hay một nhánh của Homo sapien. Điều này trái ngược với lý thuyết nguồn gốc Châu Phi về sự tiến hóa của loài người. Khai quật thêm các khu vực trong động ở Petralona với sự tham gia của các nhà nghiên cứu quốc tế (46 chuyên gia từ 12 nước khác nhau) đã cung cấp thêm các bằng chứng như Giáo sư Poulianos đã đưa ra, bao gồm một số những phát hiện đặc biệt như các miếng gỗ hóa thạch, lá sồi hóa thạch, lông động vật hóa thạch, phân hóa thạch, những hiện vật này có thể xác định được chính xác năm tuổi cũng như là hầu hết những công cụ bằng đá và bằng xương của thời kỳ tiến hóa của người cổ đại Archanthropus, từ các tầng thấp hơn (750.000 năm) tới tầng cao hơn (550.000 năm) của các trầm tích bên trong động này. Cuộc nghiên cứu này gián đoạn vì chế độ độc tài ở Hy Lạp, và mãi tận năm 1983 mới được tiếp nối. Sau đó chính phủ đã cấm các hoạt động khai quật tại địa điểm này trên tất cả mọi đối tượng, bao gồm nhà khảo cổ học và trong vòng 15 năm, không ai được tiếp cận đến địa điểm này hay tiếp cận tới các cổ vật đã được phát hiện ở vùng này, cho dù chính phủ không đưa ra lý do gì giải thích việc cấm đoán này. Có phải việc cấm cản này nhằm mục đích ngăn chặn phát tán những kết luận khoa học bị che giấu trong những di vật hóa thạch lạ thường ẩn sâu trong các lớp tường đá của các hang động này? Sau khi Tổ chức Cộng đồng Ngành nhân loại học của Hy Lạp đưa sự việc này lên tòa án, 15 năm sau họ đã được cho phép tiếp cận lại hang động. Từ đó trở đi Bộ Văn hóa đang cố gắng bằng mọi cách để chiến thắng quyết định của tòa án và tiếp tục đào sâu nghiên cứu. Những phát hiện của Giáo sư Poulianos trái ngược với cách nhìn nhận thông thường về sự tiến hóa của loài người và nghiên cứu của ông đã bị cấm. Giáo sư Poulianos và vợ ông đã bị tấn công tại nhà và bị thương vào năm 2012, người ta không phát hiện ra thủ phạm của vụ tấn công này. Ông và đồng nghiệp của ông đã bị từ chối, không cho phép tiếp cận vào hang động này để hoàn thành nốt phần nghiên cứu của họ và hiện giờ cũng không ai biết nơi để những họp sọ đó. Hiện nay, các thông tin xung quanh hang động ở Petralona cho thấy hộp sọ được phát hiện có độ tuổi vào khoảng 300.000 năm. Tại trang thông tin Wikipedia ngày nay, bạn có thể tìm thấy những bài viết tham khảo thiếu chứng cứ và cố gắng để xác định tuổi của họp sọ Petralona này chỉ nằm trong giới hạn từ 160.000 đến 240.000 năm tuổi. Gần đây, Giáo sư C.G.Nicholas Mascie Taylor của Trường Đại học Cambridge đã gửi một bức thư tới Bộ Văn hóa của Hy Lạp, nói rằng tuổi chính xác của họp sọ là 700.000 năm tuổi chứ không phải là 300.000 năm tuổi. Ông ấy cũng đặt nghi vấn về việc chính phủ cấm thông tin liên quan đến phát hiện đáng kinh ngạc này. Tái bản với sự cho phép của Ancient Origins. Đọc bài gốc tại đậy.
  17. Tác giả: Đàn Trần [Chanhkien.org] “Tây Du Ký” từ khi ra đời đến nay vẫn luôn nhận được sự yêu mến của mọi người. Người ta không chỉ yêu thích các hình tượng nhân vật trong đó, tình tiết trong đó, mà cả tinh thần lạc quan hướng thiện thể hiện trong tác phẩm. Nhận thức của người Trung Quốc đối với tu luyện, Thần Phật, thế giới thiên quốc, yêu ma quỷ quái, rất nhiều đều có liên quan với “Tây Du Ký”. Về nội hàm và ý nghĩa chính của “Tây Du Ký” luôn có nhiều cách nói khác nhau và phức tạp, khó có thể đưa ra được kết luận. Sau khi tu luyện, tôi đã có một tầng nhận thức tương đối sâu, hôm nay chỉnh lý lại, mong muốn chia sẻ cùng quý độc giả. I. Quá trình tu luyện của Tôn Ngộ Không 1. Bản lai diện mục của Tôn Ngộ Không Mở đầu Tây Du Ký là nói về xuất thân của Tôn Ngộ Không, do một tảng đá tiên hấp thụ linh khí của trời đất và tinh hoa của nhật nguyệt mà sinh ra, theo cách nói của Bồ Đề Lão Tổ thì là “Trời Đất sinh ra”. Mục đích tác giả viết về Thạch Hầu này cũng được nói rất rõ ràng, trong truyện có câu thơ như sau: “Tá noãn hóa hầu hoàn Đại Đạo, Giả tha danh tính phối đan thành.” Lại nói, “Lịch đại nhân nhân giai chúc thử, Xưng thánh xưng vương nhậm tung hoành.” Vậy nên từ góc độ này mà nói, tác giả viết về quá trình Thạch Hầu cầu Đạo và tu luyện, cũng là đang giảng giải về quá trình tu luyện của một người. Mỹ Hầu Vương từ Đông Thắng Thần Châu, đi qua Nam Thiêm Bộ Châu, cuối cùng tìm được Tu Bồ Đề Tổ Sư ở Tây Ngưu Hạ Châu. Con đường xa xôi thế này dù sao cũng chỉ là quá trình một người cầu Đạo trải qua, nhưng cuối cùng tìm được Tổ Sư ở nơi nào? Trong truyện viết là, “Linh Đài Phương Thốn sơn, Tà Nguyệt Tam Tinh động”. Ý hai câu này là nói về một chữ “tâm”, từ xưa người ta thường nói tâm thành “Linh Đài”, còn “Phương Thốn” cũng là để chỉ tâm, “Tà Nguyệt Tam Tinh động” lại càng dễ hiểu hơn, “Tam Tinh” (ba ngôi sao) chính là ba nét chấm của chữ “tâm” (心), “Tà Nguyệt” (vầng trăng khuyết) chính là nét móc nằm ngang. Mỹ Hầu Vương trải qua bao nhiêu gian khổ nguy hiểm, cuối cùng trong tâm của mình đã tìm được “chân Pháp” để tu luyện. Câu nói này rất phù hợp với cách nói của Phật gia, chính là “Phật tại tâm trung”, tức “tâm là Phật”. Nhưng không phải nói rằng trong tâm có ông Phật, mà là nói phải hướng nội mà tu, hướng vào trong tâm của mình mà tu, thì mới tu thành Phật được. Bước đường Mỹ Hầu Vương dù đi qua được bao nhiêu, trải qua bao nhiêu năm tháng, cuối cùng tự trong tâm mình đã ngộ được chân Pháp chân Đạo. Vậy sư phụ Tu Bồ Đề Tổ Sư của Tôn Ngộ không là ai? Ông lẽ nào lại có thể ở trong tim của Mỹ Hầu Vương? Trong truyện viết về Tôn Ngộ Không, có rất nhiều chỗ đều nhắc đến chữ “tâm viên” (tâm viên – ví một người nông nổi, tâm trí bất an như loài khỉ loài vượn luôn chạy nhảy). Hồi thứ 7 “Bát Quái lư trung đào đại thánh, Ngũ Hành sơn hạ định tâm viên” còn một câu tụng nữa: “Viên hầu đạo thể giả nhân tâm, Tâm tức viên hầu ý tứ thâm.” Vậy thì, Tôn Ngộ Không là “tâm viên” của ai? Thực ra Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng, Bạch Long Mã, năm vị này hợp lại chính là một người. Tôn Ngộ Không chính là tượng trưng cho cái tâm của Đường Tăng. Xét về Tôn Ngộ Không không thể xét một cách đơn nhất riêng lẻ, Tôn Ngộ Không là những mảnh ghép tượng trưng cho nhiều hình tượng. Một mặt là thể hiện hình tượng hóa của cái tâm con người, mặt khác lại thể hiện ra một người trong tu luyện với ý chí và thân thể mạnh mẽ (cương dương), trong truyện dùng chữ “kim công” chính là để chỉ về Tôn Ngộ Không. “Kim công” là theo cách nói về ngũ hành đối ứng với ngũ tạng trong thân thể người; thỉnh thoảng còn dùng nó để nói về dục trong “lục dục”, ví dụ như, câu thơ mở đầu hồi thứ 17 viết: “Lục bàn thể tương lục bàn binh, Lục dạng hình hài lục dạng tình; Lục ác lục căn duyên lục dục, Lục môn lục đạo đổ thâu doanh”. Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng, và ba yêu ma khác chính là chỉ lục dục của con người. Khi Bồ Đề Lão Tổ đặt tên cho Tôn Ngộ Không, ông đã nói: “Tử giả, nhi nam dã; hệ giả, anh tế dã. Chính hợp anh nhân chi bổn luận. Giáo nhĩ tính ‘Tôn’ bãi”. Điều này xét từ góc độ khác có thể thấy rằng một người khi tu luyện đến một tầng thứ nhất định nào đó, thì nguyên anh được sinh ra tại đan điền. Đối với Hoa Quả sơn và Thủy Liêm động mà nói, đó chính là tượng trưng cho thân thể và trái tim của Tôn Ngộ Không. Thạch Hầu sau khi nhảy qua tấm màn bằng nước đã vào được trong Thủy Liêm động, Thủy Liêm được nhắc đến trong truyện, chính là, “Kiều hạ chi thủy, xung quán vu thạch khiếu chi gian, đảo quải lưu xuất khứ, già bế liễu kiều môn” (Nước dưới cây cầu, xông qua huyệt giữa núi đá, chảy ngược ra ngoài, che lấp đi cửa lên cầu), đây cũng là miêu tả hình tượng hóa chữ “tâm”. Tôn Ngộ Không sau khi ngộ Đạo và trong cuộc đại chiến với Thiên binh Thiên tướng, đã phong hai con Xích Khào Mã Hầu và hai con Thông Bối Viên Hầu làm kiện tướng, đó cũng là tứ chi của Tôn Ngộ Không. Cho nên trong khi đại chiến với các vị thần, 72 yêu vương đều có thể bị bắt đi, nhưng 4 kiện tướng này bao gồm cả bầy khỉ, không có một con nào bị bắt đi. Nhưng trước khi Tôn Ngộ Không bị bắt giữ, bốn kiện tướng và bầy khỉ đã bị làm cho phân tán rời rạc. Tôn Ngộ Không là “tâm viên” của Đường Tăng, Tu Bồ Đề lại ở trong tâm của Tôn Ngộ Không, vậy rốt cuộc Đường Tăng và Tu Bồ Đề có quan hệ thế nào? Trong “Tây Du Ký” nói rằng Đường Tăng là đồ đệ thứ hai của Phật Thích Ca Mâu Ni – Kim Thiền Tử – chuyển sinh. Nhưng trong mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni lại không có người nào tên Kim Thiền Tử, điều này nói rõ rằng tác giả dùng cái tên “Kim Thiền Tử” không có thật chỉ là để lấy ý trong “Kim Thiền thoát xác”. Mà trong mười đại đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni lại đúng có vị tên là “Tu Bồ Đề”. Tôn Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn khi đó là thời Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán. Từ khi Tôn Ngộ Không sinh ra đến khi sinh tâm học Đạo đã ở trong núi trải qua hơn 500 năm, rồi đến khi cầu Đạo học Đạo lại trải qua mấy chục năm, cứ tính như thế, thì Tôn Ngộ Không chính là sinh ra trong thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni truyền Pháp. Từ một góc độ khác mà xét, Tôn Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn 500 năm, cũng vừa khớp với thời gian Đường Tăng tu hành 9 kiếp trước. Lai lịch nguyên gốc của Tôn Ngộ Không, Đường Tăng, Tu Bồ Đề là cùng một thời đại, thông qua miêu tả như trong truyện, ba vị này cũng có thể xem là một người. Bồ Đề Lão Tổ dùng thước đánh vào đầu Ngộ Không ba cái, Ngộ Không liền ngộ được rằng Tổ Sư muốn bảo mình rằng sau canh ba đi học nghệ. Thực ra chuyện này xuất phát từ điển cố “Lục Tổ đàn kinh”, Lục tổ Huệ Năng từng làm bài kệ, “Bồ Đề bản vô thụ, Minh kính diệc phi đài; Bản lai vô nhất vật, Hà xứ nặc trần ai?” (Bồ Đề vốn chẳng phải cây, Gương sáng cũng chẳng phải đài; Xưa nay không có vật gì, Nơi nào không dính bụi trần?) Sau khi Ngũ tổ thấy được Huệ Năng đã có thể ngộ được bản tính, ông sợ Huệ Năng bị người khác hại, nên đã xóa bài kệ đi. Hôm sau, Ngũ tổ lặng lẽ tìm đến Huệ Năng, thấy Huệ Năng đang giã gạo, Ngũ tổ nói vài lời xong, rồi dùng thiền trượng gõ vào cối đá ba cái, đoạn rời đi. Lúc đó Huệ Năng đã hiểu được ý của Ngũ tổ, nên đến canh ba nửa đêm, ông lặng lẽ đến chỗ của Ngũ tổ; Ngũ tổ dùng áo cà sa che ánh sáng của ngọn đèn trước cửa sổ, và giải thích kinh “Kim Cương” cho Huệ Năng. Huệ Năng cuối cùng đã ngộ được hết vạn pháp, không rời tự tính. “Tự tính” ở đây chính là chỉ bản tính của con người, trong “Kim Cương Kinh”, “tự tính” được gọi là “Bồ Đề”. Tâm Bồ Đề được nói đến trong Phật giáo chính là để chỉ bản tính tiên thiên thuần khiết của con người. Mà “Kim Cương Kinh” chính là ghi lại lời đối thoại của Phật Thích Ca Mâu Ni với tôn giả Tu Bồ Đề. Tu Bồ Đề vốn là đệ tử thứ mười của Phật Thích Ca, được gọi là “Giải không đệ nhất”, Bồ Đề Tổ Sư đặt tên cho Ngộ Không là “Ngộ Không” cũng là điều dễ hiểu. Thực ra từ góc độ khác mà nói, đây cũng là Ngộ Không tự đặt tên cho mình mà thôi. Ngay cả Đường Tăng cũng khen Tôn Ngộ Không, nói rằng “tâm không” mà Tôn Ngộ Không giải được là “vô ngôn ngữ văn tự, nãi thị chân giải” (không có lời nói chữ viết, chính là giải được thật sự). Đương nhiên, Kim Thiền Tử và Tu Bồ Đề có phải là một người hay không, chúng ta không cần phải đưa ra kết luận này. Đúng cũng được mà không đúng cũng được, họ chỉ là có mối quan hệ như vậy, Phật gia giảng chính là một chữ “không”, là cái gọi là “vạn Pháp không tướng”. Kỳ thực tác giả sắp đặt như vậy, còn có dụng ý sâu xa hơn nữa, chúng ta hãy từ từ bàn luận. 2. Sự tu luyện của Tôn Ngộ Không Mấu chốt của tu luyện chính là tu tâm. Khi Bồ Đề Tổ Sư hỏi Ngộ Không tên là gì, Ngộ Không nói: “Ngã vô danh, nhân nhược mạ ngã, ngã dã bất não, nhược đả ngã, ngã dã bất sân, chỉ thị bồi cá lễ nhi tựu bài liễu. Nhất sinh vô tính” (Con không có danh tính. Nếu người khác chửi con, con không thấy phiền não; nếu người khác đánh con, con cũng không tức giận; chỉ là lấy lễ đáp lại là được. Một đời không có tên.) Điều này xem ra giống như vô ý đổi chủ đề, nói về Ngộ Không trong quá trình cầu Đạo cũng đã là đang tu tâm rồi. Chính vì có tâm tính cao như vậy, nên Ngộ Không mới có thể nhanh chóng ngộ Đạo. Bồ Để Lão Tổ truyền thụ cho Ngộ Không “Hiển mật viên thông chân diệu quyết”, từ tên gọi mà nói, chính là gộp mật quyết tu luyện của cả hiển giáo và mật giáo trong Phật giáo làm một. Nhưng nội dung trong đó lại hoàn toàn là nội dung tu luyện của Đạo gia. Trong đó: “Nguyệt tàng ngọc thố nhật tàng ô, tự hữu quy xà tương bàn kết. Tương bàn kết, tính mệnh kiên, tức năng hỏa lý chủng kim liên. Toàn thốc ngũ hành điên đảo dụng, công hoàn tùy tác Phật hòa Tiên.” Ở đây bao hàm các thuật ngữ và quy luật tu luyện của Đạo gia. “Nguyệt tàng ngọc thố, nhật tàng ô” có ý là, khi chu thiên vận hành thì nước ở bể thận dâng lên, khí ở tim giáng xuống, từ đó mà đạt được thủy hỏa hòa hợp, cũng chính là nói thủy hỏa ký tế (ký tế – một quẻ trong Bát Quái). Bởi vì thủy thuộc quẻ Khảm trong Bát Quái, nên dùng chữ “nguyệt” (mặt trăng) để hình dung. Hình quẻ của quẻ Khảm (☵) là một hào dương ở giữa hai hào âm, “ngọc thố” chính là chỉ một hào dương kia. Tim trong ngũ hành thuộc về hỏa, nên dùng “nhật” (mặt trời) để ví, hỏa là quẻ Ly (☲), hình quẻ Ly là một hào âm ở giữa hai hào dương, một hào âm kia cũng chính là “ô” (con quạ). Quy xà tương bàn kết, là chỉ âm dương hòa hợp. “Ngũ hành điên đảo dụng” là chỉ thủy thăng hỏa giáng, mộc chìm xuống, kim nổi lên, mà lại dùng thổ (đất) để điều hòa. Điều này cũng là phù hợp với thuyết “hậu thiên trở về tiên thiên” trong tu luyện của Đạo gia. Kết hợp với điều nói ở phần sau của “Tây Du Ký” là “Linh Quy hấp tận Kim Ô huyết” thì có thể hiểu được ngay: Đạo gia cho rằng, con người trước khi sinh ra, thận tạng đối ứng với quẻ vị là Khôn (☷), tâm tạng đối ứng là Càn (☰), quẻ Khôn là ba hào âm tạo thành, quẻ Càn do ba hào dương tạo thành. Con người khi sinh ra, quẻ Khôn liền biến thành quẻ Khảm, quẻ Càn biến thành quẻ Ly. Từ đó quẻ Khảm lấy dương bổ sung vào trong quẻ Ly, quẻ Ly biến thành quẻ Càn. “Kim Ô huyết” trong cách nói “Linh Quy hấp tận Kim Ô huyết” là chỉ hào âm trong quẻ Ly, đặt trong quẻ Khảm, liền biến thành quẻ Khôn. Đây chính là thuyết hậu thiên quay trở về tiên thiên, cũng chính là ý trật tự ngũ hành thay đổi. Kỳ thực, sau khi Bồ Đề Tổ Sư truyền thụ phương pháp tu luyện cho Tôn Ngộ Không, sư đồ Đường Tăng tu luyện trong khi đi thỉnh kinh, thì trên cơ bản chiểu theo phương pháp tu luyện này mà đi. Bồ Đề Tổ Sư truyền thụ cho Tôn Ngộ Không cách tránh “tam tai” trong “thiên lôi, âm hỏa, bị phong”, trong đó toàn là thuật ngữ tu luyện của Đạo gia. Trong truyện cũng nhiều lần nhắc đến Tôn Ngộ Không tu thành “Thái Ất tản tiên”. Ngộ Không học Đạo trở về, việc làm đầu tiên chính là tiêu diệt “Hỗn thế ma vương”. Giới tu luyện giảng, con người có Phật tính, cũng có ma tính, tu luyện chính là quá trình trừ bỏ ma tính, củng cố Phật tính. Vậy Ngộ Không ngộ được bản tính, đương nhiên cần phải thanh trừ ma tính của chính mình. “Hỗn thế ma vương” này chính là tượng trưng cho ma tính của Ngộ Không. Thực ra từ chính mỗi người mà nói, ai mà không có tư tưởng và đặc trưng của hỗn thế (thế gian hỗn loạn). Trong truyện nói rằng Hỗn thế ma vương trú ở phía Bắc Hoa Quả sơn trong“Tam giới khảm nguyên sơn, Từ dưỡng ngũ hành thủy tạng động” thực ra chính là chỉ về bộ phận thận tạng. Thận tạng của thân thể con người trong ngũ hành là thuộc về tính thủy. Mà “Khảm” (☵) trong tám quẻ của Bát Quái lại là chỉ thủy, phương vị thuộc hướng Bắc. Từ chỗ này chúng ta có thể nhìn ra Hoa Quả sơn chính là tượng trưng cho thân thể của Tôn Ngộ Không. Tên hiệu của Hỗn thế ma vương kia và ma tính trong thân người cũng rất phù hợp với nhau. Cho nên, Ngộ Không tiêu diệt Hỗn thế ma vương cũng là một phương diện trong tu luyện của bản thân. Tiêu đề trong hồi này: “Ngộ triệt Bồ Đề chân diệu lý, Đoạn ma quy bản hợp nguyên thần”, chính là nói rõ về vấn đề này. Quá trình Ngộ Không lấy của Long Vương cây Kim Cô bổng, miêu tả làm cho người ta cảm thấy như thân ở trong cảnh, kỳ thực đó cũng chỉ bất quá là tầng thứ tu luyện của Ngộ Không biểu hiện ra như ý mà thôi. Trong truyện nói Ngộ Không từ Thủy Liêm động dưới cầu Thiết Bản mà trực tiếp xuống đáy biển, dưới đáy biển nhìn thấy cây sắt “Định hải thần châm”, cũng gọi là “Như ý Kim Cô bổng”. Ở đây tác giả dùng một cách nói ẩn dụ, là chỉ về định lực và tầng thứ của Tôn Ngộ Không. Bình thường mà nói, thông thường gọi huyệt hội âm là đáy biển, Tôn Ngộ Không từ Thủy Liêm động nhảy trực tiếp xuống biển, đó là nói lên hình tượng hóa của Tôn Ngộ Không khi nhập định. Lại nói về cây sắt định hải thần châm, nó chính là định sự nông sâu của sông biển, làm binh khí cũng chính là thành gậy sắt như ý. Tôn Ngộ Không được phong làm Bật Mã Ôn cũng là có dụng ý. Trong sách ví Tôn Ngộ Không là “tâm viên”, ví Bạch Long Mã thành “ý mã”, có câu thơ như thế này: “Mã viên hợp tác tâm hòa ý, Khẩn phược thuyên lao mạc ngoại tầm”. Trong câu tiêu đề khái quát nội dung của “Tây Du Ký” có câu, “Ý mã ức tâm viên”, cũng là đạo lý này. Tôn Ngộ Không ở trên trời trông nom thiên mã (ngựa trời), ý nghĩa chính là chỉ tâm của một người cần phải quản chắc cái ý của chính mình, không được để tâm mình suy nghĩ lung tung. Sau khi Tôn Ngộ Không được phong làm Tề Thiên Đại Thánh, trong Tề Thiên Đại Thánh phủ còn thiết lập ra hai ti: một ti gọi là ‘An Tịnh ti’, một gọi là ‘Ninh Thần ti’. An tịnh và ninh thần chính là để cho Ngộ Không an tâm định thần. Từ một góc độ khác mà nói, Tôn Ngộ Không tự phong làm “Tề Thiên Đại Thánh” cũng có đạo lý. Đạo gia tu luyện coi thân thể người là một tiểu vũ trụ, sau khi người ta tu luyện đắc Đạo, chính từ tự thân mà nói, thì thọ mệnh của người đó sánh ngang với trời, hợp nhất với trời, gọi là Tề Thiên Đại Thánh cũng chính là chỉ ý này. Có điều “Tây Du Ký” là một tác phẩm văn học, là lấy hình thức văn nghệ để truyền tải nội dung, cho nên biểu hiện bề mặt viết rất hấp dẫn và phức tạp, thực chất biểu hiện ra lại là có dụng ý khác. Lại nói thêm, việc Tôn Ngộ Không tự đặt biệt hiệu cho mình, cũng là để cho bản tính kiêu ngạo được biểu hiện ra. Tôn Ngộ Không sau khi bị bắt cho vào lò Bát Quái để luyện, đó cũng là biểu hiện của một loại hình thức tu luyện khác, Hỏa nhãn kim tinh (đôi mắt lửa sáng ánh kim), Đồng đầu thiết tý (đầu cứng như đồng, tay dẻo như thiếc), cũng là trải qua quá trình luyện trong lò Bát Quái mà thành. Bảy hồi đầu của “Tây Du Ký” viết về xuất thân và quá trình tu luyện của Tôn Ngộ Không. Xem sự dũng mãnh và uy lực mạnh mẽ của Tôn Ngộ Không khi đại náo Thiên Cung, đó cũng là một hình thức biểu hiện của tu luyện. Trong toàn cuốn sách, phần này là hấp dẫn người đọc nhất, Thần tướng khắp trời mà không làm thế nào bắt được một con khỉ. Xem Tôn Ngộ Không học Đạo tiên, mượn binh khí, ăn đào tiên, uống ngự tửu, trộm tiên đan, đánh bại Na Tra, đại chiến Nhị Lang, trong lò Bát Quái luyện mắt vàng, chơi đùa hung dữ trong tay Phật Tổ, thật làm cho người ta hét lên khoái chí. Trong hình thức biểu hiện nhiều lần lặp lại tình huống, điều ẩn giấu chính là nội hàm của một người tu luyện. Tu luyện Đạo gia coi thân thể người là một tiểu vũ trụ, sự tu luyện của Tôn Ngộ Không là hoàn thành chính trên thân thể mình. Thực ra, sự tu luyện của bất kỳ ai cũng là tu luyện thân và tâm của chính mình. Vậy Thiên Cung mà Tôn Ngộ Không đại náo nằm ở đâu? Đó chính là đầu của Tôn Ngộ Không, sau khi nhảy ra từ lò Bát Quái, Tôn Ngộ Không nói với Phật Như Lai rằng muốn ngồi ở Linh Tiêu Bảo Điện, thay thế Ngọc Hoàng Đại Đế. Linh Tiêu Bảo Điện nằm ở đâu? Chính là Nê Hoàn Cung của con người, chủ nguyên thần của người ta chính là ở đó. Tôn Ngộ Không muốn đuổi Ngọc Hoàng Đại Đế đi, làm sao được cơ chứ? Giống như một người, nếu không có chủ nguyên thần, thì những điều khác chẳng cần bàn tới nữa; chủ nguyên thần làm chủ và điều khiển hết thảy tâm và thân một người, sự ngông cuồng của Tôn Ngộ Không chính là tới mức không biết trời cao đất dày là gì, vậy thì đến lúc bị mắc kẹt dưới núi Ngũ Hành Sơn rồi. 3. Sự kiêu ngạo của Tôn Ngộ Không Sự kiêu ngạo của Tôn Ngộ Không thật đáng để chúng ta bàn luận một chút. Tôn Ngộ Không xuất thân tại nước Ngạo Lai ở Đông Thắng Thần Châu, điều này nói rõ rằng Tôn Ngộ Không vốn sinh ra đã kiêu ngạo. Vào đến Thủy Liêm Động được bầy khỉ bái làm Vương. Bản thân là một con khỉ đá, lại tự xưng là “Mỹ Hầu Vương”. Trên Thiên Đình được phong làm Bật Mã Ôn, kiêm chức quan nhỏ, đại náo Thiên Cung, rồi tự xưng là Tề Thiên Đại Thánh, cuối cùng cuồng vọng đến mức muốn đuổi cả Ngọc Hoàng Đại Đế đi, để ngồi thay vị trí của ông. Trong tay Phật Như Lai nhảy cân đẩu vân, cho rằng đã đến tận cuối trời, để lại ký hiệu cũng ghi là “Tề Thiên Đại Thánh đã đến nơi đây”, cái tâm ngạo mạn đã lộ rõ ra ngoài. Thực ra cái tâm ngạo mạn của Tôn Ngộ Không cũng là ám chỉ và nhắc nhở con người thế gian. Con người sống ở thế gian, theo cách nói của tôn giáo thì đều là có “tội” cả. Nhưng mà, thế gian lại vốn là một không gian mê, con người lại không biết tất cả những gì của bản thân mình đều là do Thần Phật trông nom bảo hộ, một khi có được bản sự rồi, liền bắt đầu cho rằng mình là duy nhất. Đặc biệt trong tu luyện, sự ngạo mạn này chính là bất kính đối với Thần Phật. Với người tu luyện, tất cả mọi thứ của bản thân mình đều là do Thần Phật an bài, diễn hóa, chăm nom bảo hộ, cũng là nói bản thân mình chính là một sinh mệnh mà Thần Phật tạo ra. Một người có cái tâm kiêu ngạo rồi, lại không chỉ là kiêu ngạo đối với một sự việc nào đó thôi, mà là trong tất cả các hành vi của người đó đều thể hiện ra tâm ngạo mạn. Trong “Tây Du Ký” có nói, Đường Tăng là Kim Thiền Tử – đệ tử thứ hai của Phật Thích Ca Mâu Ni, chỉ vì khinh mạn Phật Pháp mà bị đọa xuống hạ giới. Kim Thiền Tử vì sao khinh mạn Phật Pháp, đó chẳng phải là ông có tâm kiêu ngạo mới dẫn đến việc ông dám khinh mạn Phật Pháp hay sao? Kết cục cuối cùng là bị đày xuống hạ giới, tu hành lại từ đầu. Sự cuồng ngạo của Tôn Ngộ Không cũng rơi vào kết cục là bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn trong 500 năm. II. Thỉnh kinh và tu luyện “Tây Du Ký” là truyện kể về thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh, đúng hơn thì đây là một câu chuyện về tu luyện. Khó khăn và sự ma luyện trên đường đi thỉnh kinh, chính là những ma nạn mà một người trong quá trình tu luyện ắt phải trải qua. Tại sao lại nói là ma nạn ắt phải gặp? Ví như thất tình lục dục của một người, đó là điều mà ai ai cũng có, như trong “Tây Du Ký” dùng bảy con nhện tinh (thất tinh) để hình dung về thất tình. Những ma nạn này, bề mặt thì thấy là những nhân tố bên ngoài, nhưng rốt cuộc đều có liên quan đến tự thân, cũng chính là ma nạn của bản thân mỗi người. Trong giới tu luyện gọi việc trừ bỏ ma tính của bản thân là “luyện ma”. Tiêu trừ ma tính, chính là dựa vào Phật tính của chính mình, đây cũng là một trong những nguyên nhân ở bảy hồi đầu lại chú trong về miêu tả Tôn Ngộ Không, Tôn Ngộ Không chính là tượng trưng cho Phật tính của Đường Tăng. 1. Ngũ vị nhất thể, trong đó ẩn chứa nhân tố tu luyện Năm vị, gồm thầy trò Đường Tăng cùng với Bạch Long Mã, có thể coi như là một người, trong truyện cũng nhiều lần ám chỉ về điều này. Đoạn cuối cùng của tác phẩm khi viết đến “Ngũ Thánh thành chân” có một bài thơ nói rõ hơn về vấn đề này, trong đó bốn câu mở đầu là: “Nhất thể chân như chuyển lạc trần, Hợp hòa tứ tướng phục tu thân. Ngũ hành luận sắc không hoàn tịch, Bách quái hư danh tổng mạc luận.” “Nhất thể chân như” chính là chỉ một người; “hợp hòa tứ tướng”, là thuật ngữ trong tu luyện. Trong tu luyện của Đạo gia cổ xưa, thường lấy huyền vũ, chu tước, thanh long, bạch hổ để lần lượt chỉ thận, tim, gan, phổi. Trong ngũ hành chúng lần lượt thuộc thủy, hỏa, mộc, kim. Tương sinh trong ngũ hành, đó là mộc sinh hỏa, kim sinh thủy; trong “Tính Mệnh Khuê Chỉ” nói rằng, long mộc sinh hỏa, thuộc về tâm. Hổ kim sinh thủy, cùng một hệ với thân thể. Tâm không động, thì nguyên khí tụ lại; thân không động, thì tinh khí tụ lại. Tinh ngưng khí tụ, tức là chỉ kim mộc thủy hỏa trộn lẫn với nhau trong thổ (đất). “Hợp hòa tứ tướng” tức là chỉ về điều này. Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng, Bạch Long Mã đối ứng với thuộc tính của ngũ hành lần lượt là thủy, kim, mộc, thổ, hỏa. Trong truyện thường dùng “kim công” để chỉ Tôn Ngộ Không, “mộc mẫu” để chỉ Trư Bát Giới. Đối ứng với “mẫu” và “công” cũng chính là âm và dương. Còn có một hàm ý nữa, bởi vì hỏa sinh kim, nên gọi là “kim chi công”, do đó “kim công” cũng là chỉ về hỏa; bởi vì thủy sinh mộc, nên gọi là “mộc chi mẫu”, cho nên “mộc mẫu” cũng hàm chứa thủy trong đó. Từ thuộc tính âm dương mà nói, mộc và thủy cùng thuộc âm, kim và hỏa lại đều thuộc về dương, âm dương hợp lại tất do thổ tương trợ, thổ tức chỉ Sa Hòa Thượng, còn được gọi là “hoàng bà”. Cho nên quá trình đi thỉnh kinh trong “Tây Du Ký”, đều là do ba vị – Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng – trảm yêu trừ ma. Quá trình trảm yêu trừ ma cũng chính là quá trình tu luyện. Sự đối ứng từ trong nội tạng cho đến thân thể của thầy trò Đường Tăng cũng không chỉ là máy móc như trên. Đường Tăng thuộc thủy, ứng với thận tạng. Nhưng Đường Tăng là chủ nguyên thần của người, nơi trú ngụ của chủ nguyên thần chính là trong Nê Hoàn Cung của con người. Trư Bát Giới làm mộc mẫu, cũng là chỉ về thủy, ở vị trí thận tạng. Trong “Tây Du Ký” có mượn lời của Trư Bát Giới để thuyết minh, nói Trư Bát Giới được “Noãn Nhị Thư” kén làm rể. Vị Noãn Nhị Thư này chính là ví như hai quả thận của người ta vậy. Bộ phận tì tạng (lá lách) chính là đối ứng của Sa Hòa Thượng. Bởi vì tác dụng của tì tạng là vận hóa thủy cốc (chuyển hóa thức ăn), vận chuyển phân bố và vận hành thủy dịch. Do đó nơi ở Lưu Sa Hà của Sa Hòa Thượng mới là “Nga mao phiêu bất khởi, Hồ hoa định để trầm”. Tôn Ngộ Không ở bộ vị tâm tạng thì không cần nói nữa, Bạch Long Mã cũng ứng với chỗ này (tâm), bởi vì mã thuộc về hỏa, đối ứng với nội tạng là tâm tạng, lại nói rằng tâm và ý là cùng một thể. Trong “Tây Du Ký”, Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới luôn tranh đấu, đố kỵ, châm chọc không dứt, đó chính là âm dương giao phối trong quá trình tu luyện. Trong đó Sa Hòa Thượng đóng vai trò điều hòa. Mãi đến cuối cùng, ba vị này mới đạt đến trạng thái điều hòa một cách hài hòa nhất trí. Trong truyện còn có câu thơ như sau: “Ngũ hành tứ phối hợp thiên chân, Nhận đắc tòng tiền cựu chủ nhân. Luyện kỉ lập cơ vi diệu dụng, Biện minh tà chính kiến nguyên nhân. Kim lai quy tính hoàn đồng loại, Bản khứ cầu tình cộng phục luân. Nhị thổ toàn công thành tịch mịch, Điều hòa thủy hỏa một tiêm trần.” Năm trăm năm trước Tôn Ngộ Không đã tu luyện thành Tiên, Đường Tăng cũng là người tu hành mười kiếp, vậy còn Bát Giới và Sa Tăng? Bát Giới từng kể với Ngộ Không về quà trình tu hành đời trước: “Đắc truyền cửu chuyển đại hoàn đan, Công phu trú dạ vô thời xuyết. Thượng chí đỉnh môn Nê Hoàn Cung, Hạ chí cước bản dũng tuyền huyệt. Chu lưu thận thủy nhập hóa trì, Đan điền bổ đắc ôn ôn nhiệt. Anh nhi sá nữ phối âm dương, Duyên hống tương đầu phân nhật nguyệt. Ly long khảm hổ dụng điều hòa, Linh quy hấp tận kim ô huyết. Tam hoa tụ đỉnh đắc quy căn, Ngũ khí chiêu nguyên thông thấu triệt.” Sa Tăng cũng đã từng bộc bạch rằng: “Nhân thử tài đắc ngẫu Chân Nhân, Dẫn khai đạo kim quang lượng. Tiên tương anh nhi sá nữ thụ, Minh đường thận thủy nhập hoa trì. Trọng lâu can hỏa đầu tâm trạng, Tam thiên công mãn bái thiên nham, Chí tâm chiêu lễ minh hòa hướng.” Còn một vấn đề nữa cần phải nói rõ, đó chính là tại sao năm vị này lại bị đọa xuống hạ giới? Đường Tăng, Ngộ Không đều là vì ngạo mạn; Trư Bát Giới vì trêu ghẹo Hằng Nga; Sa Hòa Thượng vì lỡ tay làm vỡ chén lưu ly; Tiểu Bạch Long vì phóng hỏa đốt viên minh châu. Những tội này tại góc độ con người thế gian mà xét, xem ra cũng chưa là gì, nhưng ở một cảnh giới cao hơn mà xét, đó là vì những sinh mệnh này đã trở nên bất thuần. Từ góc độ tu luyện mà xét thì con người cần phải tu luyện đến vô lậu mới có thể viên mãn. Thế nào là vô lậu? Đó chính là không còn có bất kỳ tâm chấp trước nào, từng suy nghĩ đều là thuần chính, thì mới có thể đắc đạo thành Tiên thành Phật được. Tương ứng như vậy, những vị Tiên gia tu luyện thành tựu tại các quả vị khác nhau, tư tưởng cảnh giới của họ cũng đều là thuần chính cả. Chỉ cần có một chút sai sót thì cũng không thể ở tại tầng thứ đó nữa. Tội của Sa Hoà Thượng xem thì giống như một chút tội nhỏ, nhưng mà một chút tội nhỏ này lại là điều căn bản mà tại cảnh giới đó không được xảy ra. Tại sao lại lỡ tay được đây? Đó chẳng phải là thất thần rồi hay sao? Chẳng phải là trong tâm có tạp niệm hay sao? Từ góc độ này mà nhìn về tu luyện, thấy là việc vô cùng nghiêm túc. Quan hệ nội tại của sư đồ Đường Tăng trong truyện cũng có ám chỉ: Đường Tăng là người tu hành mười kiếp; Tôn Ngộ Không là đồ đệ đời thứ mười của Bồ Đề Tổ Sư; ngay cả vòng đeo ở cổ của Sa Tăng cũng là chín cái đầu lâu của người đi thỉnh kinh. Từ khía canh khác mà nói, bốn thầy trò Đường Tăng lần lượt nói rõ chi tiết về những phương diện của người tu luyện. Đường Tăng bề ngoài nhìn thì không có chút năng lực gì, yếu đuối lại còn nhát gan, nhưng có một niềm tin đi thỉnh kinh vững như bàn thạch; Tôn Ngộ Không là tâm viên, hoạt bát, thông minh lanh lợi, không bị bó buộc, có thể phân biệt rõ thật giả, lại có khả năng trảm yêu trừ ma; Bát Giới thì rất giống lợn, hay ăn không hay làm, lại còn háo sắc, thích an nhàn, muốn chiếm phần hơn, đố kỵ với người giỏi hơn mình; Sa Hòa Thượng biểu hiện cần cù, chăm chỉ, biết thân biết phận, làm tròn bổn phận, thanh tịnh mà lại nhân hậu; Bạch Long Mã tuy không miêu tả nhiều, nhưng cũng lại là một hình tượng âm thầm lặng lẽ, chỉ tiến về phía trước, không ngại gian khổ nguy hiểm. 2. Ngũ Hành Sơn, Lưỡng Giới Sơn và sự hạn chế thần thông của Tôn Ngộ Không Tôn Ngộ Không bị Phật Như Lai đè dưới núi Ngũ Hành Sơn còn có một ẩn ý, Tôn Ngộ Không tượng trưng cho sự tu luyện Đại Đạo cũng đã hoàn thành quá trình tu luyện của mình (cùng Bồ Đề Tổ Sư) rồi. Theo Phật gia giảng, thì Tôn Ngộ Không đã “minh tâm kiến tính rồi” (tâm đã sáng tỏ, đã thấy được bản tính thật sự của mình); đương nhiên, sau khi “minh tâm kiến tính” chính là “kiến tính thành Phật” (thấy rõ được bản tính của mình thì thành Phật), nhưng đây lại không chỉ đơn giản giống như hai câu nói này. Sau khi Tôn Ngộ Không ngộ Đạo, trở về Hoa Quả Sơn tại sao cần phải thanh trừ Hỗn thế ma vương? Tại sao lại phải đại náo Thiên Cung? Ở trong lò Bát Quái tại sao lại còn phải tu luyện thêm nữa? Cho nên mới nói, mặc dù quá trình tu Đạo của Tôn Ngộ Không đã hoàn thành, nhưng vẫn cần phải tiếp tục tu luyện, để ma tính của bản thân (ví như tâm tự kiêu) phải hoàn toàn ma luyện cho mất đi, thì mới có thể chính thức tu luyện thành công được. Tôn Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn chính là để cho anh ta trải qua ma nạn. Ngũ hành trong Ngũ Hành Sơn ý nói là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Cũng là nói, trước đây Tôn Ngộ Không tượng trưng cho người tu luyện Đại Đạo, hoàn toàn là là từ góc độ của “tâm viên” mà biểu hiện ra quá trình tu luyện của một người. Mà khi cuồng ngạo rồi bị đè dưới Ngũ Hành Sơn rồi, Tôn Ngộ Không cũng giống như bị chôn vùi nơi trần thế. Đường Tăng cứu Tôn Ngộ Không ra khỏi Ngũ Hành Sơn, nhưng không không phải là Tôn Ngộ Không đã thoát khỏi được nơi trần thế, mà là nói chủ thân thể đã bắt đầu tu luyện, tượng trưng cho cái tâm của Tôn Ngộ Không tự nhiên cũng hợp nhất với chủ nhân mà bắt đầu tu luyện. Trong đó vẫn còn một vấn đề nữa. Rất nhiều người tu Đạo đều hiểu rằng, trước khi một người tu luyện, nói không chừng đời trước của vị ấy, thậm chí đời đời kiếp kiếp vẫn còn đang trong tu luyện, đương nhiên người tu luyện kia, cũng giống với Tôn Ngộ Không ở bảy hồi trước đó, có thể có được những thần thông to lớn. Nhưng một khi người đó chuyển thế, thì ở đoạn thời gian không tu Đạo trước đó, người này giống như đang ngủ, hoàn toàn mê mờ trong người thường. Nếu như bắt đầu tu luyện, phía mặt bản tính của anh ta tỉnh ngộ, thì mới cố thể chân chính tu Đạo. Từ đó quay trở về, có người phải trải qua nhiều lần mới có thể tu luyện viên mãn được. Đường Tăng chính là người tu hành mười đời. Đương nhiên, khi giới thiệu thế này, đã tiết lộ một vấn đề khác, đó là thần thông của Tôn Ngộ Không; tại sao trước khi đi thỉnh kinh cùng Đường Tăng, Thần tướng đầy khắp trời không làm được gì Tôn Ngộ Không, nhưng khi vừa đi cùng Đường Tăng, vì sao lại có nhiều việc không như ý. Đó chính là vì trước khi đi cùng Đường Tăng, biểu hiện của Tôn Ngộ Không hoàn toàn là tâm tính của một người tu luyện, do đó mới để cái tâm tu luyện biểu hiện ra hết, vậy đương nhiên có thể không có bất kỳ sự hạn chế nào trên trời dưới biển. Nhưng khi đi cùng Đường Tăng, cũng bằng như nhiều hơn một nhục thân, do đó thần thông của Tôn Ngộ Không cũng chịu sự hạn chế. Còn một vấn đề nữa, ma nạn trên đường đi thỉnh kinh, bề ngoài thì trông giống như nhắm vào Đường Tăng, nhưng trong tình huống tâm chấp trước của Đường Tăng chưa vứt bỏ, bản sự của Tôn Ngộ Không có lớn đến mấy cũng không thể thi triển ra được. Giống như trận chiến giữa Tôn Ngộ Không và Hồng Hài Nhi, Hồng Hài Nhi là tượng trưng cho tâm hỏa quá vượng của Đường Tăng, cũng có thuộc tính của tâm, thậm chí có thể nói là một bộ phận của tâm. Bởi vì Tôn Ngộ Không tượng trưng cho tâm nên làm sao một gậy có thể đánh chết được Hồng Hài Nhi? Bởi vậy phải đợi mời Bồ Tát đến, sau khi trừ bỏ tâm hỏa, thì tâm mới có thể quy chính được. Ngũ Hành Sơn vì sao lại đổi thành Lưỡng Giới Sơn? Biểu hiện là giới tuyến quốc gia, nhưng thực chất là giới tuyến trước và sau của một người tu luyện. 3. Tám mươi mốt nạn từ đâu đến Lúc đầu Đường Tăng đi thỉnh kinh, trên đường qua chùa Pháp Môn có nói: “Tâm sinh, chủng chủng ma sinh; tâm diệt, chủng chủng ma diệt.” Điều thấy được là tất cả ma nạn đều từ tâm của Đường Tăng mà sinh ra. Cách nói này rất đúng. Chỉ cần có nhân tâm, liền sinh ra ma nạn tương ứng. Ví dụ khi Đường Thái Tông ban cho Đường Tăng hai tùy tùng và ngựa, Đường Tăng rất vui mừng. Điều này lộ rõ một loại tâm ỷ lại, do đó, mãi vẫn loay hoay không ra được biên giới quốc gia, hai người tùy tùng kia liền bị bò tinh, gấu tinh, và hổ tinh ăn thịt. Cần biết rằng, khi qua chùa Pháp Môn ông có nói, “Tâm sinh, chủng chủng ma sinh; tâm diệt, chủng chủng ma diệt”, khi ấy hai người tùy tùng liền cùng đi cùng Đường Tăng. Cũng chính là nói, một người nếu tu luyện sẽ có rất nhiều tâm về căn bản không ý thức được. Tu luyện vốn là việc cá nhân, chỉ có thể hướng nội mà tu cái tâm của bản thân, làm sao có thể ỷ lại vào người khác đây? Bởi vì Đường Tăng bắt đầu tu luyện từ người thường, ông không giống với những đồ đệ của mình, dù cho Ngộ Không có nói với ông là ma đang cản trở, ông cũng không tin. Ma tính của người ta ẩn giấu rất sâu, có một số ma tính khi sinh ra đã có rồi; cũng chính là nói, chỉ cần làm người, trước khi tu luyện đắc Đạo, thì đều có các loại ma tính. Ví dụ, khi Tôn Ngộ Không giết Bạch Cốt Tinh, Bạch Cốt Tinh lần lượt biến thành mỹ nữ, bà lão, ông lão, Đường Tăng làm sao biết được? Tuy nhiên Bạch Cốt Tinh này thì trong mỗi người đều có, gọi là “thây ma”. Đạo gia cho rằng, mỗi người đều có ba cái thây ma, cho nên mới có việc Tôn Ngộ Không ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Trong hồi thứ 50, Tôn Ngộ Không đi xin đồ ăn chay, người ta không cho, Tôn Ngộ Không liền múc trộm một bát cơm. Mà ở bên này, Bát Giới, Sa Tăng trong một nơi người ta bỏ hoang nhìn thấy áo lót bằng bông, hai người lấy mỗi người một cái, kết quả dẫn đến ma nạn, con yêu ma này lại lấy trộm cái Kim Cương Trác của Thái Thượng Lão Quân xuống nhân gian tác quái. Ví dụ tiếp là Ngưu Ma Vương, có vợ có con, có bạn có bè, những yêu ma này từ đâu mà đến? Tôn Ngộ Không nói rất rõ ràng: “Tự đáo Tây phương vô đối đầu, Ngưu Vương bản thị tâm viên biến. Kim phiên chính hảo hội nguyên lưu, Đoạn yếu tương trì tá ngọc phiến.” Ngưu Ma Vương sao lại là do tâm của Ngộ Không biến hóa? Điều này không thể lý giải ở bề mặt được, ý nghĩa là Đường Tăng có tâm chấp trước, trong tâm tự nhiên liền sinh ra một con yêu ma như vậy. Vậy thì, Thiết Phiến công chúa, Hồng Hài Nhi, Như Ý chân tiên chẳng phải là do sự biến hóa của tâm viên sao? Có tâm chấp trước nào thì chiêu mời ma nạn đúng như thế. Đường Tăng làm sư phụ, đây là một cái tâm. Tại nước Ô Kê, Sư Tử lông xanh bị dồn ép đến nỗi rất lo lắng, cũng biến thành một Đường Tăng. Ở huyện Ngọc Hoa nước Thiên Trúc, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng mỗi người nhận một hoàng tử để truyền thụ võ nghệ, kết quả cái tâm thích làm sư phụ của người khác lại dẫn họ đến một hang của Sư Tử. Có những tâm chấp trước ẩn giấu rất sâu, người tu luyện thật không dễ mà phát giác được. Ví dụ, thầy trò Đường Tăng đi đến nước Thiên Trúc, Đường Tăng nghe nói công chúa nước Thiên Trúc đang ném tú cầu kén phò mã, liền nói với Ngộ Không: “Ta nghĩ người mẹ tục gia của ta cũng là nhờ ném tú cầu kén chồng mà gặp được duyên cũ, kết thành vợ chồng.” Điều này giống như một câu nói vô tình nhưng cũng là một chấp trước, kết quả đã chiêu mời ma nạn đến. Đương nhiên những nạn này là tất nhiên phải xảy ra, cũng có thể nói là định sẵn rồi. Phần cuối “Tây Du Ký” viết về ba con tê giác tinh sau khi bắt Đường Tăng đi, Tôn Ngộ Không từng nói với vị hòa thượng, “sư phụ ta phải có những nạn này”. Hồi thứ 97, bốn thầy trò bị hiểu lầm nhốt vào trong ngục, Tôn Ngộ Không nghĩ: “Sư phụ phải có nạn một đêm trong tù này, cho nên lão Tôn không mở miệng tranh biện, không dùng pháp lực, bịt tai này lại không nghe nữa. Nay đã qua hết canh tư, tai nạn sắp hết, ta phải đi chuẩn bị, trời sáng còn ra khỏi nhà lao nữa.” Đường đi Tây Thiên ma nạn trùng trùng, cớ sao thầy trò Đường Tăng không chọn đi con đường khác? Khi gặp Hỏa Diệm Sơn cản đường đi của Đường Tăng, Bát Giới từng oán trách nói muốn quay trở về nhà vợ cho rồi. Nhưng Thổ Địa lại nói: “Dù có chuyển hướng đi, thì cũng phải vào cửa bên cạnh.” Lại nói, “Sư phụ ngài ngồi ngay ở đường chính, nóng lòng mong chờ các ngài thành công trở lại!” Bao gồm cả nạn bổ sung thứ 81, trở về đi qua sông Thông Thiên, lão rùa hỏi Đường Tăng về việc ông nhờ Đường Tăng hỏi Phật Như Lai đến khi nào ông mới đắc được thân người, Đường Tăng “không biết nói thế nào, lại không dám lừa dối, trầm ngâm một hồi không đáp lời”, kết quả bị lão rùa hất rơi xuống nước. Trong nạn này, biểu hiện của Đường Tăng chính là cái tâm hư danh đang nổi lên. Việc này cùng với lời nói của Đường Tăng khi qua sông Thông Thiên năm xưa, “Việc thế gian duy có danh lợi là coi trong nhất. Tựa như một người vì lợi, quên cả sống chết, đệ tử của tôi phụng chỉ toàn trung, cũng chỉ là vì danh, thì có khác gì với người kia chứ!” lại hoàn toàn khớp. Tại sao lại có biết bao nhiêu yêu ma muốn ăn thịt Đường Tăng? Từ đây chúng ta có thể nhìn ra, bản thân sự tồn tại của yêu ma, khi một người không tu luyện, nó nằm ở trong thân thể người đó, sau khi người đó chết đi, nó liền rời khỏi thi thể người đó. Những ma này chính là khởi tác dụng này. Cho nên, “bệnh” cũng là ma, “chết” cũng là ma, ma tính của chính bản thân chính là ma. Tuy nhiên khi người ta muốn tu luyện một cách chân chính, thì cần phải trừ bỏ những ma chướng này, đương nhiên ma sẽ không chịu để nó bị tiêu trừ. Nó cũng biết, con người nếu tu luyện thành Thần Phật, thì thân thể người đó sẽ vĩnh viễn là thân thể bất hoại. Trong quá trình nhục thân của người thường chuyển hóa thành thân thể của Thần Phật thì bản thân ma tính cũng không chịu để yên, cho nên nó liều mạng ngăn cản người ta tu luyện. Khi thân thể con người chuyển hóa như vậy, những yêu ma kia lại không thật sự nghĩ để cho thân thể người chuyển hóa thành thân thể của Thần rồi mới ăn hay sao? Chúng ăn không được, bởi vì sau khi chuyển hóa xong thì đã là thân thể kim cương bất hoại rồi, yêu ma không thể động tới được, đây cũng là nguyên nhân Đường Tăng không bị ăn thịt. Thân thể trước lúc tu luyện chỉ là thân thể người thường, đó cũng là nơi mà yêu ma sống nhờ; thân thể sau khi tu luyện tốt đã được phong kín lại rồi. Đây là hiểu biết thông thường trong giới tu luyện. II. Thỉnh kinh và tu luyện “Tây Du Ký” là truyện kể về thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh, đúng hơn thì đây là một câu chuyện về tu luyện. Khó khăn và sự ma luyện trên đường đi thỉnh kinh, chính là những ma nạn mà một người trong quá trình tu luyện ắt phải trải qua. Tại sao lại nói là ma nạn ắt phải gặp? Ví như thất tình lục dục của một người, đó là điều mà ai ai cũng có, như trong “Tây Du Ký” dùng bảy con nhện tinh (thất tinh) để hình dung về thất tình. Những ma nạn này, bề mặt thì thấy là những nhân tố bên ngoài, nhưng rốt cuộc đều có liên quan đến tự thân, cũng chính là ma nạn của bản thân mỗi người. Trong giới tu luyện gọi việc trừ bỏ ma tính của bản thân là “luyện ma”. Tiêu trừ ma tính, chính là dựa vào Phật tính của chính mình, đây cũng là một trong những nguyên nhân ở bảy hồi đầu lại chú trong về miêu tả Tôn Ngộ Không, Tôn Ngộ Không chính là tượng trưng cho Phật tính của Đường Tăng. 1. Ngũ vị nhất thể, trong đó ẩn chứa nhân tố tu luyện Năm vị, gồm thầy trò Đường Tăng cùng với Bạch Long Mã, có thể coi như là một người, trong truyện cũng nhiều lần ám chỉ về điều này. Đoạn cuối cùng của tác phẩm khi viết đến “Ngũ Thánh thành chân” có một bài thơ nói rõ hơn về vấn đề này, trong đó bốn câu mở đầu là: “Nhất thể chân như chuyển lạc trần, Hợp hòa tứ tướng phục tu thân. Ngũ hành luận sắc không hoàn tịch, Bách quái hư danh tổng mạc luận.” “Nhất thể chân như” chính là chỉ một người; “hợp hòa tứ tướng”, là thuật ngữ trong tu luyện. Trong tu luyện của Đạo gia cổ xưa, thường lấy huyền vũ, chu tước, thanh long, bạch hổ để lần lượt chỉ thận, tim, gan, phổi. Trong ngũ hành chúng lần lượt thuộc thủy, hỏa, mộc, kim. Tương sinh trong ngũ hành, đó là mộc sinh hỏa, kim sinh thủy; trong “Tính Mệnh Khuê Chỉ” nói rằng, long mộc sinh hỏa, thuộc về tâm. Hổ kim sinh thủy, cùng một hệ với thân thể. Tâm không động, thì nguyên khí tụ lại; thân không động, thì tinh khí tụ lại. Tinh ngưng khí tụ, tức là chỉ kim mộc thủy hỏa trộn lẫn với nhau trong thổ (đất). “Hợp hòa tứ tướng” tức là chỉ về điều này. Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng, Bạch Long Mã đối ứng với thuộc tính của ngũ hành lần lượt là thủy, kim, mộc, thổ, hỏa. Trong truyện thường dùng “kim công” để chỉ Tôn Ngộ Không, “mộc mẫu” để chỉ Trư Bát Giới. Đối ứng với “mẫu” và “công” cũng chính là âm và dương. Còn có một hàm ý nữa, bởi vì hỏa sinh kim, nên gọi là “kim chi công”, do đó “kim công” cũng là chỉ về hỏa; bởi vì thủy sinh mộc, nên gọi là “mộc chi mẫu”, cho nên “mộc mẫu” cũng hàm chứa thủy trong đó. Từ thuộc tính âm dương mà nói, mộc và thủy cùng thuộc âm, kim và hỏa lại đều thuộc về dương, âm dương hợp lại tất do thổ tương trợ, thổ tức chỉ Sa Hòa Thượng, còn được gọi là “hoàng bà”. Cho nên quá trình đi thỉnh kinh trong “Tây Du Ký”, đều là do ba vị – Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng – trảm yêu trừ ma. Quá trình trảm yêu trừ ma cũng chính là quá trình tu luyện. Sự đối ứng từ trong nội tạng cho đến thân thể của thầy trò Đường Tăng cũng không chỉ là máy móc như trên. Đường Tăng thuộc thủy, ứng với thận tạng. Nhưng Đường Tăng là chủ nguyên thần của người, nơi trú ngụ của chủ nguyên thần chính là trong Nê Hoàn Cung của con người. Trư Bát Giới làm mộc mẫu, cũng là chỉ về thủy, ở vị trí thận tạng. Trong “Tây Du Ký” có mượn lời của Trư Bát Giới để thuyết minh, nói Trư Bát Giới được “Noãn Nhị Thư” kén làm rể. Vị Noãn Nhị Thư này chính là ví như hai quả thận của người ta vậy. Bộ phận tì tạng (lá lách) chính là đối ứng của Sa Hòa Thượng. Bởi vì tác dụng của tì tạng là vận hóa thủy cốc (chuyển hóa thức ăn), vận chuyển phân bố và vận hành thủy dịch. Do đó nơi ở Lưu Sa Hà của Sa Hòa Thượng mới là “Nga mao phiêu bất khởi, Hồ hoa định để trầm”. Tôn Ngộ Không ở bộ vị tâm tạng thì không cần nói nữa, Bạch Long Mã cũng ứng với chỗ này (tâm), bởi vì mã thuộc về hỏa, đối ứng với nội tạng là tâm tạng, lại nói rằng tâm và ý là cùng một thể. Trong “Tây Du Ký”, Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới luôn tranh đấu, đố kỵ, châm chọc không dứt, đó chính là âm dương giao phối trong quá trình tu luyện. Trong đó Sa Hòa Thượng đóng vai trò điều hòa. Mãi đến cuối cùng, ba vị này mới đạt đến trạng thái điều hòa một cách hài hòa nhất trí. Trong truyện còn có câu thơ như sau: “Ngũ hành tứ phối hợp thiên chân, Nhận đắc tòng tiền cựu chủ nhân. Luyện kỉ lập cơ vi diệu dụng, Biện minh tà chính kiến nguyên nhân. Kim lai quy tính hoàn đồng loại, Bản khứ cầu tình cộng phục luân. Nhị thổ toàn công thành tịch mịch, Điều hòa thủy hỏa một tiêm trần.” Năm trăm năm trước Tôn Ngộ Không đã tu luyện thành Tiên, Đường Tăng cũng là người tu hành mười kiếp, vậy còn Bát Giới và Sa Tăng? Bát Giới từng kể với Ngộ Không về quà trình tu hành đời trước: “Đắc truyền cửu chuyển đại hoàn đan, Công phu trú dạ vô thời xuyết. Thượng chí đỉnh môn Nê Hoàn Cung, Hạ chí cước bản dũng tuyền huyệt. Chu lưu thận thủy nhập hóa trì, Đan điền bổ đắc ôn ôn nhiệt. Anh nhi sá nữ phối âm dương, Duyên hống tương đầu phân nhật nguyệt. Ly long khảm hổ dụng điều hòa, Linh quy hấp tận kim ô huyết. Tam hoa tụ đỉnh đắc quy căn, Ngũ khí chiêu nguyên thông thấu triệt.” Sa Tăng cũng đã từng bộc bạch rằng: “Nhân thử tài đắc ngẫu Chân Nhân, Dẫn khai đạo kim quang lượng. Tiên tương anh nhi sá nữ thụ, Minh đường thận thủy nhập hoa trì. Trọng lâu can hỏa đầu tâm trạng, Tam thiên công mãn bái thiên nham, Chí tâm chiêu lễ minh hòa hướng.” Còn một vấn đề nữa cần phải nói rõ, đó chính là tại sao năm vị này lại bị đọa xuống hạ giới? Đường Tăng, Ngộ Không đều là vì ngạo mạn; Trư Bát Giới vì trêu ghẹo Hằng Nga; Sa Hòa Thượng vì lỡ tay làm vỡ chén lưu ly; Tiểu Bạch Long vì phóng hỏa đốt viên minh châu. Những tội này tại góc độ con người thế gian mà xét, xem ra cũng chưa là gì, nhưng ở một cảnh giới cao hơn mà xét, đó là vì những sinh mệnh này đã trở nên bất thuần. Từ góc độ tu luyện mà xét thì con người cần phải tu luyện đến vô lậu mới có thể viên mãn. Thế nào là vô lậu? Đó chính là không còn có bất kỳ tâm chấp trước nào, từng suy nghĩ đều là thuần chính, thì mới có thể đắc đạo thành Tiên thành Phật được. Tương ứng như vậy, những vị Tiên gia tu luyện thành tựu tại các quả vị khác nhau, tư tưởng cảnh giới của họ cũng đều là thuần chính cả. Chỉ cần có một chút sai sót thì cũng không thể ở tại tầng thứ đó nữa. Tội của Sa Hoà Thượng xem thì giống như một chút tội nhỏ, nhưng mà một chút tội nhỏ này lại là điều căn bản mà tại cảnh giới đó không được xảy ra. Tại sao lại lỡ tay được đây? Đó chẳng phải là thất thần rồi hay sao? Chẳng phải là trong tâm có tạp niệm hay sao? Từ góc độ này mà nhìn về tu luyện, thấy là việc vô cùng nghiêm túc. Quan hệ nội tại của sư đồ Đường Tăng trong truyện cũng có ám chỉ: Đường Tăng là người tu hành mười kiếp; Tôn Ngộ Không là đồ đệ đời thứ mười của Bồ Đề Tổ Sư; ngay cả vòng đeo ở cổ của Sa Tăng cũng là chín cái đầu lâu của người đi thỉnh kinh. Từ khía canh khác mà nói, bốn thầy trò Đường Tăng lần lượt nói rõ chi tiết về những phương diện của người tu luyện. Đường Tăng bề ngoài nhìn thì không có chút năng lực gì, yếu đuối lại còn nhát gan, nhưng có một niềm tin đi thỉnh kinh vững như bàn thạch; Tôn Ngộ Không là tâm viên, hoạt bát, thông minh lanh lợi, không bị bó buộc, có thể phân biệt rõ thật giả, lại có khả năng trảm yêu trừ ma; Bát Giới thì rất giống lợn, hay ăn không hay làm, lại còn háo sắc, thích an nhàn, muốn chiếm phần hơn, đố kỵ với người giỏi hơn mình; Sa Hòa Thượng biểu hiện cần cù, chăm chỉ, biết thân biết phận, làm tròn bổn phận, thanh tịnh mà lại nhân hậu; Bạch Long Mã tuy không miêu tả nhiều, nhưng cũng lại là một hình tượng âm thầm lặng lẽ, chỉ tiến về phía trước, không ngại gian khổ nguy hiểm. 2. Ngũ Hành Sơn, Lưỡng Giới Sơn và sự hạn chế thần thông của Tôn Ngộ Không Tôn Ngộ Không bị Phật Như Lai đè dưới núi Ngũ Hành Sơn còn có một ẩn ý, Tôn Ngộ Không tượng trưng cho sự tu luyện Đại Đạo cũng đã hoàn thành quá trình tu luyện của mình (cùng Bồ Đề Tổ Sư) rồi. Theo Phật gia giảng, thì Tôn Ngộ Không đã “minh tâm kiến tính rồi” (tâm đã sáng tỏ, đã thấy được bản tính thật sự của mình); đương nhiên, sau khi “minh tâm kiến tính” chính là “kiến tính thành Phật” (thấy rõ được bản tính của mình thì thành Phật), nhưng đây lại không chỉ đơn giản giống như hai câu nói này. Sau khi Tôn Ngộ Không ngộ Đạo, trở về Hoa Quả Sơn tại sao cần phải thanh trừ Hỗn thế ma vương? Tại sao lại phải đại náo Thiên Cung? Ở trong lò Bát Quái tại sao lại còn phải tu luyện thêm nữa? Cho nên mới nói, mặc dù quá trình tu Đạo của Tôn Ngộ Không đã hoàn thành, nhưng vẫn cần phải tiếp tục tu luyện, để ma tính của bản thân (ví như tâm tự kiêu) phải hoàn toàn ma luyện cho mất đi, thì mới có thể chính thức tu luyện thành công được. Tôn Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành Sơn chính là để cho anh ta trải qua ma nạn. Ngũ hành trong Ngũ Hành Sơn ý nói là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Cũng là nói, trước đây Tôn Ngộ Không tượng trưng cho người tu luyện Đại Đạo, hoàn toàn là là từ góc độ của “tâm viên” mà biểu hiện ra quá trình tu luyện của một người. Mà khi cuồng ngạo rồi bị đè dưới Ngũ Hành Sơn rồi, Tôn Ngộ Không cũng giống như bị chôn vùi nơi trần thế. Đường Tăng cứu Tôn Ngộ Không ra khỏi Ngũ Hành Sơn, nhưng không không phải là Tôn Ngộ Không đã thoát khỏi được nơi trần thế, mà là nói chủ thân thể đã bắt đầu tu luyện, tượng trưng cho cái tâm của Tôn Ngộ Không tự nhiên cũng hợp nhất với chủ nhân mà bắt đầu tu luyện. Trong đó vẫn còn một vấn đề nữa. Rất nhiều người tu Đạo đều hiểu rằng, trước khi một người tu luyện, nói không chừng đời trước của vị ấy, thậm chí đời đời kiếp kiếp vẫn còn đang trong tu luyện, đương nhiên người tu luyện kia, cũng giống với Tôn Ngộ Không ở bảy hồi trước đó, có thể có được những thần thông to lớn. Nhưng một khi người đó chuyển thế, thì ở đoạn thời gian không tu Đạo trước đó, người này giống như đang ngủ, hoàn toàn mê mờ trong người thường. Nếu như bắt đầu tu luyện, phía mặt bản tính của anh ta tỉnh ngộ, thì mới cố thể chân chính tu Đạo. Từ đó quay trở về, có người phải trải qua nhiều lần mới có thể tu luyện viên mãn được. Đường Tăng chính là người tu hành mười đời. Đương nhiên, khi giới thiệu thế này, đã tiết lộ một vấn đề khác, đó là thần thông của Tôn Ngộ Không; tại sao trước khi đi thỉnh kinh cùng Đường Tăng, Thần tướng đầy khắp trời không làm được gì Tôn Ngộ Không, nhưng khi vừa đi cùng Đường Tăng, vì sao lại có nhiều việc không như ý. Đó chính là vì trước khi đi cùng Đường Tăng, biểu hiện của Tôn Ngộ Không hoàn toàn là tâm tính của một người tu luyện, do đó mới để cái tâm tu luyện biểu hiện ra hết, vậy đương nhiên có thể không có bất kỳ sự hạn chế nào trên trời dưới biển. Nhưng khi đi cùng Đường Tăng, cũng bằng như nhiều hơn một nhục thân, do đó thần thông của Tôn Ngộ Không cũng chịu sự hạn chế. Còn một vấn đề nữa, ma nạn trên đường đi thỉnh kinh, bề ngoài thì trông giống như nhắm vào Đường Tăng, nhưng trong tình huống tâm chấp trước của Đường Tăng chưa vứt bỏ, bản sự của Tôn Ngộ Không có lớn đến mấy cũng không thể thi triển ra được. Giống như trận chiến giữa Tôn Ngộ Không và Hồng Hài Nhi, Hồng Hài Nhi là tượng trưng cho tâm hỏa quá vượng của Đường Tăng, cũng có thuộc tính của tâm, thậm chí có thể nói là một bộ phận của tâm. Bởi vì Tôn Ngộ Không tượng trưng cho tâm nên làm sao một gậy có thể đánh chết được Hồng Hài Nhi? Bởi vậy phải đợi mời Bồ Tát đến, sau khi trừ bỏ tâm hỏa, thì tâm mới có thể quy chính được. Ngũ Hành Sơn vì sao lại đổi thành Lưỡng Giới Sơn? Biểu hiện là giới tuyến quốc gia, nhưng thực chất là giới tuyến trước và sau của một người tu luyện. 3. Tám mươi mốt nạn từ đâu đến Lúc đầu Đường Tăng đi thỉnh kinh, trên đường qua chùa Pháp Môn có nói: “Tâm sinh, chủng chủng ma sinh; tâm diệt, chủng chủng ma diệt.” Điều thấy được là tất cả ma nạn đều từ tâm của Đường Tăng mà sinh ra. Cách nói này rất đúng. Chỉ cần có nhân tâm, liền sinh ra ma nạn tương ứng. Ví dụ khi Đường Thái Tông ban cho Đường Tăng hai tùy tùng và ngựa, Đường Tăng rất vui mừng. Điều này lộ rõ một loại tâm ỷ lại, do đó, mãi vẫn loay hoay không ra được biên giới quốc gia, hai người tùy tùng kia liền bị bò tinh, gấu tinh, và hổ tinh ăn thịt. Cần biết rằng, khi qua chùa Pháp Môn ông có nói, “Tâm sinh, chủng chủng ma sinh; tâm diệt, chủng chủng ma diệt”, khi ấy hai người tùy tùng liền cùng đi cùng Đường Tăng. Cũng chính là nói, một người nếu tu luyện sẽ có rất nhiều tâm về căn bản không ý thức được. Tu luyện vốn là việc cá nhân, chỉ có thể hướng nội mà tu cái tâm của bản thân, làm sao có thể ỷ lại vào người khác đây? Bởi vì Đường Tăng bắt đầu tu luyện từ người thường, ông không giống với những đồ đệ của mình, dù cho Ngộ Không có nói với ông là ma đang cản trở, ông cũng không tin. Ma tính của người ta ẩn giấu rất sâu, có một số ma tính khi sinh ra đã có rồi; cũng chính là nói, chỉ cần làm người, trước khi tu luyện đắc Đạo, thì đều có các loại ma tính. Ví dụ, khi Tôn Ngộ Không giết Bạch Cốt Tinh, Bạch Cốt Tinh lần lượt biến thành mỹ nữ, bà lão, ông lão, Đường Tăng làm sao biết được? Tuy nhiên Bạch Cốt Tinh này thì trong mỗi người đều có, gọi là “thây ma”. Đạo gia cho rằng, mỗi người đều có ba cái thây ma, cho nên mới có việc Tôn Ngộ Không ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Trong hồi thứ 50, Tôn Ngộ Không đi xin đồ ăn chay, người ta không cho, Tôn Ngộ Không liền múc trộm một bát cơm. Mà ở bên này, Bát Giới, Sa Tăng trong một nơi người ta bỏ hoang nhìn thấy áo lót bằng bông, hai người lấy mỗi người một cái, kết quả dẫn đến ma nạn, con yêu ma này lại lấy trộm cái Kim Cương Trác của Thái Thượng Lão Quân xuống nhân gian tác quái. Ví dụ tiếp là Ngưu Ma Vương, có vợ có con, có bạn có bè, những yêu ma này từ đâu mà đến? Tôn Ngộ Không nói rất rõ ràng: “Tự đáo Tây phương vô đối đầu, Ngưu Vương bản thị tâm viên biến. Kim phiên chính hảo hội nguyên lưu, Đoạn yếu tương trì tá ngọc phiến.” Ngưu Ma Vương sao lại là do tâm của Ngộ Không biến hóa? Điều này không thể lý giải ở bề mặt được, ý nghĩa là Đường Tăng có tâm chấp trước, trong tâm tự nhiên liền sinh ra một con yêu ma như vậy. Vậy thì, Thiết Phiến công chúa, Hồng Hài Nhi, Như Ý chân tiên chẳng phải là do sự biến hóa của tâm viên sao? Có tâm chấp trước nào thì chiêu mời ma nạn đúng như thế. Đường Tăng làm sư phụ, đây là một cái tâm. Tại nước Ô Kê, Sư Tử lông xanh bị dồn ép đến nỗi rất lo lắng, cũng biến thành một Đường Tăng. Ở huyện Ngọc Hoa nước Thiên Trúc, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng mỗi người nhận một hoàng tử để truyền thụ võ nghệ, kết quả cái tâm thích làm sư phụ của người khác lại dẫn họ đến một hang của Sư Tử. Có những tâm chấp trước ẩn giấu rất sâu, người tu luyện thật không dễ mà phát giác được. Ví dụ, thầy trò Đường Tăng đi đến nước Thiên Trúc, Đường Tăng nghe nói công chúa nước Thiên Trúc đang ném tú cầu kén phò mã, liền nói với Ngộ Không: “Ta nghĩ người mẹ tục gia của ta cũng là nhờ ném tú cầu kén chồng mà gặp được duyên cũ, kết thành vợ chồng.” Điều này giống như một câu nói vô tình nhưng cũng là một chấp trước, kết quả đã chiêu mời ma nạn đến. Đương nhiên những nạn này là tất nhiên phải xảy ra, cũng có thể nói là định sẵn rồi. Phần cuối “Tây Du Ký” viết về ba con tê giác tinh sau khi bắt Đường Tăng đi, Tôn Ngộ Không từng nói với vị hòa thượng, “sư phụ ta phải có những nạn này”. Hồi thứ 97, bốn thầy trò bị hiểu lầm nhốt vào trong ngục, Tôn Ngộ Không nghĩ: “Sư phụ phải có nạn một đêm trong tù này, cho nên lão Tôn không mở miệng tranh biện, không dùng pháp lực, bịt tai này lại không nghe nữa. Nay đã qua hết canh tư, tai nạn sắp hết, ta phải đi chuẩn bị, trời sáng còn ra khỏi nhà lao nữa.” Đường đi Tây Thiên ma nạn trùng trùng, cớ sao thầy trò Đường Tăng không chọn đi con đường khác? Khi gặp Hỏa Diệm Sơn cản đường đi của Đường Tăng, Bát Giới từng oán trách nói muốn quay trở về nhà vợ cho rồi. Nhưng Thổ Địa lại nói: “Dù có chuyển hướng đi, thì cũng phải vào cửa bên cạnh.” Lại nói, “Sư phụ ngài ngồi ngay ở đường chính, nóng lòng mong chờ các ngài thành công trở lại!” Bao gồm cả nạn bổ sung thứ 81, trở về đi qua sông Thông Thiên, lão rùa hỏi Đường Tăng về việc ông nhờ Đường Tăng hỏi Phật Như Lai đến khi nào ông mới đắc được thân người, Đường Tăng “không biết nói thế nào, lại không dám lừa dối, trầm ngâm một hồi không đáp lời”, kết quả bị lão rùa hất rơi xuống nước. Trong nạn này, biểu hiện của Đường Tăng chính là cái tâm hư danh đang nổi lên. Việc này cùng với lời nói của Đường Tăng khi qua sông Thông Thiên năm xưa, “Việc thế gian duy có danh lợi là coi trong nhất. Tựa như một người vì lợi, quên cả sống chết, đệ tử của tôi phụng chỉ toàn trung, cũng chỉ là vì danh, thì có khác gì với người kia chứ!” lại hoàn toàn khớp. Tại sao lại có biết bao nhiêu yêu ma muốn ăn thịt Đường Tăng? Từ đây chúng ta có thể nhìn ra, bản thân sự tồn tại của yêu ma, khi một người không tu luyện, nó nằm ở trong thân thể người đó, sau khi người đó chết đi, nó liền rời khỏi thi thể người đó. Những ma này chính là khởi tác dụng này. Cho nên, “bệnh” cũng là ma, “chết” cũng là ma, ma tính của chính bản thân chính là ma. Tuy nhiên khi người ta muốn tu luyện một cách chân chính, thì cần phải trừ bỏ những ma chướng này, đương nhiên ma sẽ không chịu để nó bị tiêu trừ. Nó cũng biết, con người nếu tu luyện thành Thần Phật, thì thân thể người đó sẽ vĩnh viễn là thân thể bất hoại. Trong quá trình nhục thân của người thường chuyển hóa thành thân thể của Thần Phật thì bản thân ma tính cũng không chịu để yên, cho nên nó liều mạng ngăn cản người ta tu luyện. Khi thân thể con người chuyển hóa như vậy, những yêu ma kia lại không thật sự nghĩ để cho thân thể người chuyển hóa thành thân thể của Thần rồi mới ăn hay sao? Chúng ăn không được, bởi vì sau khi chuyển hóa xong thì đã là thân thể kim cương bất hoại rồi, yêu ma không thể động tới được, đây cũng là nguyên nhân Đường Tăng không bị ăn thịt. Thân thể trước lúc tu luyện chỉ là thân thể người thường, đó cũng là nơi mà yêu ma sống nhờ; thân thể sau khi tu luyện tốt đã được phong kín lại rồi. Đây là hiểu biết thông thường trong giới tu luyện. (còn tiếp…)
  18. Vậy cũng nói nhận ra được Chân Pháp hay không Phật Gia nhìn nhận rằng là hai chữ "Cơ Duyên " mà.
  19. IV. Ngụ ý và ý nghĩa của “Tây Du Ký” Kết cấu và bố cục của “Tây Du Ký” đồ sộ mà lại nghiêm ngặt. Mở đầu là Bàn Cổ khai thiên lập địa, Tam Hoàng Ngũ Đế trị thế. Được phân làm hai phần: phần đầu là bảy chương tiết đầu lấy Tôn Ngộ Không làm chủ thể; phần hai là lấy thỉnh kinh làm chủ thể. Cuối cùng là năm thầy trò mỗi người đều đắc quả vị, được sự kính trọng và ca tụng của chư Phật và Bồ Tát. Trong “Tây Du Ký” một số từ ngữ có ẩn ý tương đối sâu xa, nhưng chỉ cần đứng tại góc độ người tu luyện mà xét, thì có thể thấy được đầu mối, chỉ là có những điều ẩn giấu quá sâu mà thôi. Ví dụ: Bồ Đề Tổ Sư dạy Ngộ Không phép biến hóa tránh tam tai, trong đó nhắc tới ba lần 500 năm, cũng chính là 1.500 năm, nếu nhân với 72 phép biến hóa của Tôn Ngộ Không, thì chính là 10.800, đó chính là quãng đường mười vạn tám nghìn dặm mà Đường Tăng đi thỉnh kinh. Nếu nhân với số dương lớn nhất là 9, bởi vì vật cực tắc phản, cho nên 9 là con số lớn nhất, thì được 13.500, vừa khớp với trọng lượng Kim cô bổng của Tôn Ngộ Không. Mà con số này lại ngầm hợp với điều nói trong “Hoàng Đế bát thập nhất nạn kinh” là “nhân trú dạ hô hấp nhất vạn tam thiên ngũ bách tức” (trong một ngày đêm người ta hô hấp 13.500 lần). Đường Tăng thỉnh kinh trải qua 80 nạn, đến được Linh Sơn rồi, bởi vì còn thiếu một nạn nữa, nên phải bổ sung thêm. Tổng cộng trải qua 14 năm, theo lịch cũ thì một năm có 360 ngày mà tính, tổng cộng mất 5.040 ngày. Nhưng còn thiếu 8 ngày nữa so với ẩn số, lại vừa khớp với một nạn bổ sung 8 ngày, hợp thành con số 5.048 bí ẩn, con số bí ẩn này lại là con số giống với trọng lượng binh khí của Bát Giới và Sa Tăng. Nói về một nạn bổ sung thêm cho Đường Tăng, trong truyện tác giả đã sớm để lại “phục bút” rồi. Bề ngoài là lão rùa trắng Bạch Ngoan hỏi Đường Tăng là khi nào lão mới thoát xác để đắc được thân người, thực chất biểu hiện ra là Đường Tăng đã thoát khỏi thân người đắc được Phật thể rồi. Ngoài ra, nạn này chính là khi Đường Tăng đã trải qua hơn một nửa con đường mười vạn tám nghìn dặm, cũng chính là tại vị trí huyệt bách hội của con người, mà nơi đây lại chính là nơi sở tại của Nê Hoàn Cung, trong giới tu luyện Nê Hoàn Cung cũng được coi là nơi trú ngụ của chủ nguyên thần. Tại nơi đây họ đã cứu được Trần Quan Bảo và Nhất Xứng Kim. Thực ra ngụ ý trong đó chúng ta cũng dễ dàng có thể thấy được: người trong thôn có cùng họ Trần với Đường Tăng, có thể coi là phản bổn quy chân; năm đó bởi vì đi được nửa đoạn đường, sá nữ và anh nhi đại biểu cho âm dương lúc hòa hợp. Trần Quan Bảo 7 tuổi và Nhất Kim Bình 8 tuổi cộng lại là 15, chính là một nửa của ba mươi cân. Cái tên “Quan Bảo” được đóng lại và được bảo vệ ở bên trong Nê Hoàn. Ai là người bảo vệ đây? Đương nhiên chính là Nhất Xứng Kim. Trong Phật giáo coi ‘Trượng lục kim thân’ là một trong ba thân thể của Phật, là thân thể nhỏ trong thân thể biến hóa của Phật. Trong tu luyện Toàn Chân Đạo có khẩu quyết kim đan như thế này: “Nội hữu kim đan thập lục lưỡng, Tống tại tây nam khôn địa thượng. Thùy tri thử vật thị hoàn đan, Chỉ tại Nê Hoàn Cung lý dưỡng.” Lưỡng và xích ở đây nếu tính là ngang nhau, thì kim đan chính là chỉ kim thân. Nhất Xứng Kim ở đây chính là chỉ kim thân của Đường Tăng sau khi ông tu thành. Lúc trước khi Đường Tăng thỉnh kinh đến sông Thông Thiên, bị yêu ma đóng băng sông Thông Thiên, sau đó Đường Tăng bị bắt đi. Bát Giới nói Đường Tăng, “Đừng gọi là Tam Tạng nữa, mà nên đổi thành Trần Đáo Để” (lối chơi chữ, nghĩa là “Trầm Đáo Để”, chìm đến đáy). Đường Tăng rốt cuộc chìm đến nơi nào? Trong truyện nói là chìm đến “Thủy ngoan chi đệ” (phủ đệ của lão rùa), thực ra đây là Nê Hoàn của con người. Từ huyệt bách hội hướng xuống vào trong đại não, là vị trí sở tại của Nê Hoàn, Nê Hoàn cũng được gọi là ‘Tổ khiếu’, cũng là thể tùng quả mà y học hiện đại nhận thức được. Nó cũng là nơi trú ngụ của chủ nguyên thần của con người. Mà lần này, Bạch Ngoan (lão rùa trắng) muốn hất Đường Tăng xuống nước, thân thể của Đường Tăng đã là thân thể đắc Đạo, cho nên có thể ở trong chân không được và ở dưới nước được. Ngoài ra, từ thọ mệnh của Bạch Ngoan cũng có thể thấy được mối quan hệ giữa Bạch Ngoan và Đường Tăng. Bạch Ngoan nhờ Đường Tăng hỏi Phật Như Lai xem khi nào ông mới thoát xác, ông nói rằng bản thân ông “đã tu hành hơn một ngàn ba trăm năm”. Hơn một ngàn ba trăm năm này, nếu tính theo thời gian trước khi Đường Tăng đi thỉnh kinh, thì chính là thời đại mà Phật Thích Ca Mâu Ni truyền Pháp, đương nhiên cũng là thời đại Tu Bồ Đề hay Kim Thiền Tử còn tại thế. Vậy thì Lão Ngoan này là ai? Đó chẳng qua chỉ là một bộ phận của nhục thân, là vật chất cấu thành từ ngũ hành mà thôi, có thể nói là một tải thể của Kim Thiền Tử tại nhân gian. Trong truyện dùng Lão Ngoan thực chất là nói về bản lai diện mục của Đường Tăng, cũng tức là ý nói “hoàn nguyên” (“ngoan” [鼋] với “nguyên” [元] là đồng âm), đây cũng chính là câu thơ trong truyện: “Bất nhị môn trung Pháp áo huyền, Chư ma chiến thoái thức nhân Thiên. Bản lai diện mục kim phương kiến, Nhất thể nguyên nhân thủy đắc toàn. Bỉnh chứng tam thừa tùy xuất nhập, Đan thành cửu chuyển nhậm chu toàn. Khiêu bao phi trượng thông hưu giảng, Hạnh hỉ hoàn nguyên ngộ Lão Ngoan.” “Ma ha bàn nhược ba la mật đa tâm kinh” gọi tắt là “Tâm kinh”, là kinh sách kinh điển trong Phật giáo. Năm xưa khi Ô Sào Thiền Sư truyền thụ cho Đường Tăng, lại nói là “Đa tâm kinh”, về sau khi Đường Tăng gặp ma nạn hay có chấp trước trong tâm của bản thân, mặc dù nói là niệm “Tâm kinh”, nhưng tác giả lại viết thành “Đa tâm kinh”. Ví dụ trong hồi thứ 20 “Hoàng Phong lĩnh Đường Tăng hữu nạn, Bán sơn trung Bát Giới tranh tiên”, khi Bát Giới và Ngộ Không đại chiến với hổ quái, trong truyện có viết: “Tam Tạng ngồi xuống, sợ đến rét run lập cập, miệng niệm‘Đa tâm kinh’ mà không lên tiếng.” Trong tâm nếu sợ hãi như thế này, đương nhiên là tâm sợ hãi rồi, Đương Tăng niệm cũng chỉ có thể là “Đa tâm kinh” thôi. Mãi đến lúc sau khi đến nước Thiên Trúc, tâm chấp trước của Đường Tăng về cơ bản đã trừ sạch rồi, lúc này tác giả mới viết rằng Đường Tăng niệm chính là “Tâm kinh” . Từ đây có thể thấy, khi sáng tác “Tây Du Ký” là tương đối khắt khe, tuyệt không phải là nghĩ lung tung từ không thành có mà viết ra. Trong việc bố trí tình tiết và dùng từ dùng câu, miêu tả hình tượng nhân vật cũng là như vậy. Hình tượng thầy trò Đường Tăng ai ai cũng thích, và đã đi sâu vào lòng người. Thực ra tác giả đã viết ra tính chất chung của của con người, cũng chính là tâm lý và tính tình thuần khiết của con người; từ hình tượng Tôn Ngộ Không, người ta có thể nhìn thấy được sự thông minh, hoạt bát, cơ trí, tinh nghịch, tâm lý không bị gò bó cho đến sự hướng về của chính mình. Từ hình tượng Trư Bát Giới người ta có thể nhìn ra mặt lười biếng, đố kỵ, tham lam, vụng về mà lại đáng yêu của bản thân; từ hình tượng của Sa Hòa Thượng có thể nhìn thấy mặt nội tâm an định, không oán hận, nhẫn nhượng, sạch sẽ của bản thân; từ hình tượng của Đường Tăng, chúng ta nhìn thấy được sự kiên định vì đi tìm chân lý mà không bao giờ bỏ cuộc của bản thân. Là một bộ trường thiên tiểu thuyết, tuy tác giả miêu tả nhân vật chính không nhiều, nhưng điều viết ra lại là tính chất chung của con người, đạt được sự đồng cảm về tâm lý của mọi người. Đương nhiên, tác giả miêu tả về đặc trưng của các vị thần tiên, cho đến việc miêu tả hình thể dung mạo khác thường của yêu ma quỷ quái cũng đều có những nét độc đáo; miêu tả về sự mỹ hảo, thù thắng tráng lệ của Thiên Cung, cho đến địa phủ và động phủ của yêu ma làm cho độc giả cảm thấy chân thực đáng tin. Những điều này rất khó để miêu tả được, nó mở ra cho con người sự tưởng tượng vô hạn về không gian và cảm thụ, làm cho người ta có sự tưởng tượng thiết thực mà có thể cảm nhận được về không gian và trải nghiệm bản thân đối với thế giới thiên quốc. Đương nhiên, đây cũng là tác giả viết về những thể hiện chân thực tại không gian khác, thì mới có tác dụng như thế. Mỗi một hình tượng trong “Tây Du Ký” đều được đưa vào đó nội hàm tu luyện, cho dù là một tiểu yêu, cũng là thể hiện suy nghĩ của người tu luyện. Khi người ta xem “Tây Du Ký”, bao gồm tác phẩm điện ảnh, phim truyền hình, kịch, sách bình luận văn học, các cố sự, đều không tránh được việc hòa những nhân tố tu luyện vào nơi sâu thẳm trong tư tưởng của bản thân. Cho nên, đối với người Trung Quốc mà nói, nhắc tới tu luyện, Thần Phật, thần thông, Pháp thân, Pháp khí, thiên quốc, long cung, địa phủ, yêu ma, v.v. trong đầu họ đều có những nội hàm tương ứng, mà những điều này đều là chính diện. Không giống như câu chuyện về Pháp Hải hòa thượng trấn áp Bạch Xà, vốn là truyền thuyết mang theo nội hàm tu luyện chính diện, nhưng lại bị người ta diễn dịch thành câu chuyện tình đúng-sai lẫn lộn. Người đời khi hứng thú và chú tâm xem, hoặc nghe, hoặc kể về “Tây Du Ký”, thì nhân tố tu luyện đã dần dần đi vào và thay đổi một cách vô tri vô giác tư tưởng cùng nhận thức của họ. Do đó từ góc độ nhận thức, về phương diện phổ cập văn hóa tu luyện thì “Tây Du Ký” có tác dụng không gì sánh bằng! Vậy điều này có chỗ tốt nào? Người tu luyện chân chính đều biết rằng, con người đến thế gian, không phải vì để làm người, mà là vì để phản bổn quy chân. Đây là điều các tôn giáo trên thế giới đều giảng. Đặc biệt là trong văn hóa truyền thống của Trung Quốc, nhân tố tu luyện có thể nói là không nơi nào không có. Ngôi nhà thật sự của con người không phải là nơi thế gian, mà là ở các thiên quốc khác nhau. Con người đến thế gian này là vì để đắc được Chính Pháp để tu luyện quay trở về, từ đó thoát khỏi sự đau khổ trong luân hồi sinh tử. Về điểm này, trong “Tây Du Ký” cũng có thể hiện. Ví dụ như hồi thứ 64 “Kinh Cức lĩnh Ngộ Năng nỗ lực, Mộc Tiên am Tam Tạng đàm thơ” Đường Tăng nói: “Phu nhân thân nan đắc, Trung Thổ nan sinh, chính Pháp nan ngộ; toàn thử tam giả, hạnh mạc đại yên” (Thân người khó được, Trung Thổ khó sinh, chính Pháp khó gặp; nếu được cả ba điều, thì may mắn lắm thay!) Hồi thứ 91 “Kim Bình phủ nguyên dạ quan đăng, Huyền Anh động Đường Tăng cung trạng”, một vị hòa thượng nghe thấy Đường Tăng đến từ Trung Hoa, liền cúi người xuống bái, chắp tay mà nói: “Tôi đây là người hướng thiện, đọc kinh niệm Phật, cũng chỉ mong tu luyện để được thác sinh đến đất Trung Hoa của ngài.” Trong truyền thuyết lịch sử xa xưa, Đông Thổ là nơi mà thế nhân hướng về, không chỉ là văn minh Trung Hoa cổ xưa thu hút con người trên khắp thế giới, mà có dự ngôn thế này: “Nhân loại thời kỳ mạt kiếp sẽ có Chuyển Luân Thánh Vương lấy hình tượng Phật Di Lặc tại Đông Thổ truyền chính Pháp mà cứu độ thế nhân”. Trong “Tây Du Ký” cũng có ẩn dụ về điều này. Trong truyện, Phật Di Lặc được gọi là “Đông Lai Phật Tổ” (Phật Tổ đến từ phương Đông). Mà khi Phật Di Lặc thu phục Hoàng Mi quái đã nói với Tôn Ngộ Không, bảo bối ‘đáp bao’ (túi đắp) mà yêu tinh sử dụng chính là “nhân chủng đại” (túi đựng giống người). Điểm này ở bài viết trước đã nói rồi. Vậy thì túi “nhân chủng đại” này nói lên điều gì? Bởi vì Phật Di Lặc cần đến nhân gian để độ nhân, nên phải có mối quan hệ thế nào đó với nhân loại. Trong Phật gia mối quan hệ này được gọi là “duyên phận”. Nếu không có duyên phận, đến thời kỳ mạt pháp mạt kiếp thì những người không có duyên sẽ không thể được cứu độ. Người trong giới tu luyện giảng, trong lịch sử Phật Di Lặc tại thế gian, từ mấy lần lịch sử văn minh nhân loại xa xôi lần trước rồi Ngài đã đến rồi. Thời kỳ mới bắt đầu nền văn minh nhân loại lần này, Ngài đã từng đến nhân gian rồi. Sau đó Ngài dùng các phân thân khác nhau chuyển sinh đến các nơi khác nhau tại các thời kỳ khác nhau, cùng người thế gian tạo nên các loại duyên phận. Mục đích chính là đợi đến khi chính Pháp khai truyền, người có duyên phận sẽ đắc được chính Pháp. Ở Trung Quốc, Phật Di Lặc được gọi là “Vị lai Phật” (vị Phật tương lai), chính là vị Phật Tổ trong tương lai sẽ cứu độ nhân loại. Thậm chí trên tượng Phật Di Lặc người ta còn khắc lên đó 18 tiểu hài tử (gọi là “Di Lặc thập bát tử”), dùng để ẩn dụ rằng tương lai Phật Di Lặc đến nhân gian truyền Pháp sẽ lấy họ là họ “Lý” (“thập bát tử” [十八子] ghép lại thành chữ “Lý” [李]). Thực ra rất nhiều người trong các tôn giáo cũng như nhiều người trong giới tu luyện đều biết rằng xã hội nhân loại hiện nay chính là đang trong thời kỳ mạt pháp mạt kiếp. Đạo đức nhân loại hiện nay đã bại hoại đến mức độ xưa nay chưa từng có, nhân tâm đã hoàn toàn bại hoại rồi, hơn nữa ở Trung Quốc lại là đang trong thời kỳ một đảng chính trị theo thuyết vô thần cai trị. Cái đảng này tàn hại thế nhân, bức hại người tu luyện đến mức cực kỳ nghiêm trọng. Cho nên sau khi chính Pháp được truyền xuất, cũng gặp phải sự bức hại của ác đảng này. Đương nhiên, đây đều là sự an bài của lịch sử. Nếu ai đắc được chính Pháp trong thời kỳ lịch sử này, hơn nữa lại bước qua được giai đoạn này, thì người đó thật vô cùng may mắn. Mặc dù điều này không được tiết lộ trong “Tây Du Ký”, nhưng trong ý nghĩa hàm ẩn của nó lại có điều này. Kỳ thực, trong “Tây Du Ký” vẫn còn ẩn chứa một thiên cơ nữa chưa được người ta tiết lộ ra. Khi Tôn Ngộ Không học Đạo, Bồ Đề Tổ Sư vừa giảng về Đạo lại vừa giảng về Thiền, Phật và Đạo này vốn không thể trộn lẫn mà cùng tu luyện. Chính là nói một người, nếu người đó tu Phật thì là tu Phật, tu Đạo thì chính là tu Đạo, tuyệt đối không thể trộn lẫn vào mà tu. Bởi vì tu luyện Phật gia và Đạo gia thì công trên thân thể đều có hình thức tu luyện diễn hóa của bản thân, mà điều này lại đều là do sư phụ giúp đỡ diễn hóa cho. Ví dụ, Đạo gia tu luyện giảng tiểu chu thiên đại chu thiên, là chỉ việc đả thông hai mạch nhâm đốc, ba mạch âm ba mạch dương nơi tay, ba mạch âm ba mạch dương nơi chân. Nhưng mạch trong Phật gia lại chạy theo cách khác. Lấy mạch trong Mật tông mà nói, trong Đạo gia cơ bản không có cách nói này, cũng không tìm được căn cứ về phương diện này, vậy họ luyện như thế nào? Hơn nữa Phật Thích Ca Mâu Ni cơ bản không hề giảng về bộ phận công, mà bảo người tu luyện ngay cả thân thể cũng đều vứt bỏ. Trong lịch sử Trung Quốc quả thực có một số người muốn kết hợp tu luyện Nho giáo, Thích giáo, Đạo giáo; có một số người còn làm cái gì là đội mũ của Đạo sỹ, mặc áo cà sa của Phật giáo, chân đi giầy của Nho sinh, nhưng không đạt được thành tựu gì, cũng không hình thành nổi, càng không cần nói đến có những người như thế này có thể tu thành Phật hoặc thành Đạo. Đây chỉ là biểu hiện của tâm công danh lợi lộc mà thôi. Văn hóa của Nho gia, Phật gia, Đạo gia trong lịch sử phát triển không thể tránh khỏi có một số điều bị dung hợp, nhưng người tu luyện chân chính lại không thể trộn lẫn vào để cùng tu luyện. Vậy làm sao trong “Tây Du Ký” lại có thể dung hợp cả ba nhà lại, đặc biệt là dung hợp Phật và Đạo lại để sáng tác? Đây không chỉ là yêu cầu suy xét đến tình tiết để sắp xếp kết cấu theo trình tự, mà là dự ngôn ở mức độ tương đối lớn, về việc Đại Pháp của vũ trụ truyền ra trong tương lai bao hàm cả Phật gia và Đạo gia. Sau khi tôi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, mới nhận thức được một cách chân chính rằng những câu chuyện tu luyện được kể đến trong “Tây Du Ký” là vì để trải thảm sẵn cho Pháp Luân Đại Pháp. Trong phần đầu của loạt bài viết này chúng ta đã nói về Tu Bồ Đề, Tôn Ngộ Không, Đường Tăng; đó chỉ là cách nói về cùng một người. Bây giờ chúng ta thảo luận về nội dung được ẩn giấu trong truyện, khi Tôn Ngộ Không ‘minh tâm kiến tính’, Tu Bồ Đề (Bồ Đề Tổ Sư) dạy Tôn Ngộ Không là nội dung tu luyện của Đạo gia. Điều này thuyết minh rằng, sau khi Tu Bồ Đề tu luyện Phật Pháp nhưng rốt cuộc lại không vứt bỏ được những thứ của Đạo gia, cho nên mới có sự ngạo mạn khi Phật Thích Ca Mâu Ni giảng Pháp, cũng từ đó mà bị đọa xuống hạ giới, tu luyện lại từ đầu. Vì sao Tu Bồ Đề không cho Ngộ Không nhắc đến ông? Bởi bản thân ông là đệ tử của Phật, nhưng trong tâm lại không vứt bỏ được những thứ của Đạo gia, do đó ông cố hết sức giấu kín việc này. Ở đây lại có một vấn đề đưa ra là, Phật Thích Ca Mâu Ni quản chính là đệ tử chân tu trong Pháp môn của Ngài, người tu Đạo về cơ bản là không thể quản được. Vậy tại sao trong “Tây Du Ký” thầy trò Đường Tăng lại tu thành? Đạo gia giảng âm dương ngũ hành; coi kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là yếu tố cơ bản cấu thành nên vạn sự vạn vật trong vụ trụ; Phật giáo giảng tứ đại: đất, nước, lửa, gió cấu thành nên vạn sự vạn vật. Lý luận tu luyện về cơ bản là khác nhau. Điều này chỉ có thể nói rõ một vấn đề, việc an bài quá trình tu luyện của thầy trò Đường Tăng là do một vị Phật cao hơn Phật Thích Ca Mâu Ni an bài tất cả. Chỉ là trong lịch sử Ngài không tạo ra ảnh hưởng gì, nói ra thì tư tưởng của người ta cũng không tiếp thu được, cho nên mới mượn danh nghĩa là Phật Thích Ca Mâu Ni an bài cho thầy trò Đường Tăng tu luyện. Do đó từ góc độ này mà nói, Bồ Đề Tổ Sư che giấu thân phận tu Đạo của bản thân mình không chỉ là vấn đề ông kiêng kỵ. Ông đang chờ đợi, chờ đợi khi Đại Pháp chân chính của vũ trụ khai truyền sẽ có thể làm cho người ta hiểu được nỗi khổ tâm của ông. Ông biết rằng, Đại Pháp chân chính của vũ trụ sẽ bao hàm cả Phật gia và Đạo gia mà tu luyện. Con đường tu luyện nơi trần thế của ông là để làm bằng chứng cho việc đắc chính Pháp trong tương lai. Đó chính là, tu Đạo cũng vậy mà tu Phật cũng vậy, nếu tu luyện trong Đại Pháp của vũ trụ thì đều có thể giữ lại những thứ vốn có của chính mình, từ đó tiến tới tu luyện trở về bản chất tiên thiên của sinh mệnh bản thân, và có thể đạt được đến tầng thứ cao hơn. Một nạn được bổ sung thêm cho Đường Tăng, có thể nói là Đường Tăng “hạnh hỉ hoàn nguyên ngộ Lão Ngoan” (may mắn trở lại gặp lão rùa), ý nghĩa trong đó là nói Đường Tăng trải qua tu luyện thì vẫn là trở về bản nguyên của chính mình, nhưng “nguyên” trong hoàn nguyên lại là cùng tuổi với Lão Ngoan, chỉ là mới có lịch sử hơn 1.200 năm, cũng chính là bản nguyên của Kim Thiền Tử hạ xuống phàm gian. Bởi vì Đường Tăng đã trở về trạng thái bản tính lúc mới đến nhân gian, đương nhiên cũng là tu luyện viên mãn rồi, cũng là điều mà Phật giáo giảng “kiến tính thành Phật”. Sư phụ Lý Hồng Chí trong “Giảng Pháp tại Pháp hội New York 2007” đã giảng: “Miễn là chư vị đến nơi người đây, ai cũng không lên được thiên thượng; đó là tuyệt đối, chưa có ai từng có thể lên thiên thượng.” “Nói cách khác, ai tiến nhập vào tam giới, ai đã đến [cõi] người nơi đây rồi, thì là đã rớt xuống rồi, chính là không thể lại quay trở về trên nữa, vì nhân loại quá khứ không có chân Pháp có thể khiến con người quay về thiên thượng.” Vậy thì những sinh mênh tầng thứ cao như vậy vì sao lại đến nhân gian? Là họ đang chờ đợi, chờ đợi đến khi Đại Pháp của vũ trụ khai truyền, thì họ sẽ lại đến nhân gian để tu luyện theo Đại Pháp của vũ trụ. Chỉ có như thế này thì họ mới có thể thật sự vượt khỏi tam giới để trở về nơi thế giới của chính mình. Điều này cũng phù hợp với điều Đường Tăng nói: “Thân người khó được, Trung Thổ khó sinh, chính Pháp khó gặp; nếu được cả ba điều, thì may mắn lắm thay!” Đường Tăng đắc được thân người, lại là người Trung Thổ, vậy tại sao ông còn đi Tây Thiên thỉnh kinh? Hiển nhiên là vì chính Pháp của vũ trụ vẫn chưa được truyền xuất. Thế thì thầy trò Đường Tăng giờ ở nơi đâu. Có vị tu luyện có thiên mục khai mở ở tầng thứ rất cao nói rằng, họ hiện giờ đều đang tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Người ta nhất thời không thể nào tiếp thu được cách nói này. Thực ra chỉ cần chúng ta thay đổi góc nhìn thì sẽ minh bạch ngay thôi, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng, tu luyện có tám vạn bốn nghìn pháp môn. Ở Trung Quốc có rất nhiều pháp lớn của Phật gia lưu truyền trong dân gian, đơn truyền qua các thời đại khác nhau, Phật cao hơn Phật Thích Ca Mâu Ni đương nhiên cũng đếm không xuể. Đây là điều ẩn chứa trong “Tây Du Ký” nhưng lại có thể tiết lộ một bí mật khác. “Tây Du Ký” có kết cấu vô cùng đồ sộ, mở đầu là nói về nguồn gốc của trời, đất, con người. Nói “Số của trời đất, là 12 vạn 9 nghìn 6 trăm tuổi làm một nguyên” (một nguyên là 129.600 năm). Sự hình thành và xuất hiện của trời, đất, con người cũng chỉ là theo chu kỳ mấy vạn năm lịch sử. Nhưng trong truyện nói rằng Ngọc Hoàng Đại Đế đã trải qua 1.750 kiếp, mỗi kiếp là 129.600 năm. Hiển nhiên là Ngọc Hoàng Đại Đế tồn tại trước cả trời đất. Trong “Tây Du Ký” nói rằng Bồ Đề Tổ Sư cũng là “Lịch kiếp minh tâm Đại Pháp Sư”. Nhưng không nói ông đã trải qua bao nhiêu kiếp, cũng là trải qua bao lần thành-trụ-hoại-diệt của trời đất và con người, cũng giống như Bồ Đề Tổ Sư đã tồn tại trước cả trời đất. Thực ra nhiều chính giáo trên thế giới đều giảng về lịch sử của Thần Sáng Thế, con người là do Thần tạo ra. Mục đích tạo ra con người là để Thần nơi thượng giới xuống đến phàm gian mà hoàn trả tội nghiệp của họ, đồng thời chờ đợi Đại Pháp của vũ trụ khai truyền ở tầng thấp nhất trong vũ trụ – nhân gian, để có cơ duyên đồng hóa với Chính Pháp, từ đó làm cho chúng sinh nơi thiên thể mà họ đại biểu có thể được đắc cứu trong Chính Pháp của vũ trụ. Con người sinh ra là nhờ cha mẹ, cũng chỉ là một phương thức tồn tại và sinh sôi mà Thần thiết đặt ra cho con người mà thôi. Thần đến thế gian thì cũng chỉ có thể lấy phương thức sinh tồn thế này mà thôi. Tôn Ngộ Không lấy hình thức con khỉ sinh ra từ tảng đá là muốn nói với thế nhân rằng, con người có tiên thiên, có thông linh, bản tính tiên thiên của con người cùng với vũ trụ không có sự khác biệt. Thế còn tiên thiên của con người là gì? Có miêu tả thế nào cũng không thể miêu tả được rõ ràng. Lấy Tu Bồ Đề mà nói, ông là vị Đại Pháp Sư trải qua bao nhiêu kiếp, trước khi đến nhân gian ông đã tồn tại rồi. Nhưng một sinh mệnh cao cấp thế này, khi đến nhân gian cũng phải lấy hình tượng của con người để xuất hiện. Mà khi sáng tác “Tây Du Ký” yêu cầu bản tính tiên thiên của con người phải có hình thức sinh mệnh tồn tại để con người có thể tiếp thu được, lại lấy hình thức sinh ra đến thế gian này mà con người có thể tiếp thu thì mới được, đây chính là nguyên do Tôn Ngộ Không sinh ra từ tảng đá. Nói về con người trên thế giới ngày nay, rất nhiều người họ không biết được rằng đã luân hồi chuyển sinh tại thế gian bao nhiêu lần rồi. Có lẽ nguồn gốc sinh mệnh của người đó đến từ tầng thứ rất cao, ban đầu chỉ có một mục đích duy nhất khi xuống nhân gian này, đó chính là để đắc được Đại Pháp của vũ trụ. Nhưng trải qua sự luân hồi dài đằng đẵng, họ đã bị mê mờ nơi nhân gian rồi. Không để cho nhân loại bị mê mờ đi chính là mục đích mà “Tây Du Ký” được truyền ra cho thế nhân, đó là vì để lưu lại cho con người thế gian một cơ hội khai mở bản tính khi Đại Pháp vũ trụ khai truyền, vì sự hồng truyền của Đại Pháp vụ trụ nơi thế gian mà đặt định nền móng. Trong “Chuyển Pháp Luân” bài giảng thứ chín có giảng: “Người ta nói: ‘Ta đến xã hội người thường, giống như đến khách sạn, tá túc vài ngày, rồi vội rời đi’. Một số người cứ lưu luyến nơi này mãi, quên cả nhà của bản thân mình.” Miêu tả về Bồ Đề Tổ Sư trong “Tây Du Ký” thực ra chính là sự tái hiện bản tính của con người: “Không tịch tự nhiên tùy biến hóa, chân như bản tính nhậm vi chi; Dữ thiên đồng thọ trang nghiêm thể, lịch kiếp minh tâm Đại Pháp Sư.” Người đắc đạo chân chính thì bản tính và thân thể hoàn toàn hợp nhất. Nói đến đây, còn có một vấn đề nữa đã vô cùng rõ ràng, đó chính là mối quan hệ giữa Ngọc Hoàng Đại Đế cùng Tôn Ngộ Không, Bồ Đề Tổ Sư, và Đường Tăng. Từ góc độ tự thân tu luyện mà nói, họ là cùng một thân thể, bởi vì Ngọc Hoàng Đại Đế là chủ tể của thân thể, thì có chỗ nào khác với Đường Tăng? Như vậy thì số kiếp mà Bồ Đề Tổ Sư trải qua cũng chính là 1.750 kiếp mà Ngọc Hoàng Đại Đế trải qua. Đây là chúng ta đứng từ góc độ tu luyện cá nhân mà nói. Đứng ở góc độ toàn nhân loại mà nói, tam giới là có tồn tại, Thiên Cung cũng là có tồn tại, Ngọc Đế tồn tại trong tam giới và Ngọc Đế trong tu luyện của Tôn Ngộ Không là không thể xem như tương đồng. Sự tu luyện cá nhân của Ngọc Đế nói là thật cũng được mà nói là hư cấu cũng được, rất nhiều là hình tượng hóa một cách ví von, trong “Tây Du Ký” có cách xử lý thế này, đó là từ góc độ truyền tải một tư tưởng đạo lý nhất định và sự giáo hóa của tác phẩm nghệ thuật mà suy xét cân nhắc. Tuy nhiên Thiên Cung và Ngọc Hoàng cùng chư Thần trong tam giới nữa, họ lại tồn tại thật sự, trong “Tây Du Ký” là mượn dùng từ góc độ tu luyện cá nhân để miêu tả. Cho nên nếu không nhìn từ góc độ tu luyện cá nhân, thì thắng cảnh nơi thiên quốc, chư Thần, Phật, Bồ Tát, cũng là độc lập không liên quan. Văn hóa Trung Quốc là văn hóa Thần truyền, dường như những an bài trong lịch sử có biết bao ‘Thiên ý’ ở trong đó! Trung Quốc thuộc Nam Thiệm Bộ Châu, mà hướng Nam đối ứng trong ngũ hành thuộc về hỏa. Theo quan hệ tương sinh tương khắc trong ngũ hành, mộc sinh hỏa, gọi là ‘mộc chi tử’, mộc (木) và tử (子) hợp lại chính là một chữ Lý (李), điều này cùng với điều tiết lộ ở phần đầu bài về danh tính của Phật Di Lặc đến thế thế gian truyền chính Pháp vào thời mạt pháp mạt kiếp là hoàn toàn giống nhau. Vào thời Đường, kinh mà Đường Tăng thỉnh là cho người dân triều Đường, danh tính của Đường Thái Tông là Lý Thế Dân đã bao hàm yếu tố này rồi. Con người thế gian tiếp thu “Tây Du Ký” mà không có trở ngại nào. Điều này làm cho tôi nghĩ đến những người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, bề ngoài thì người ở tất cả các tầng lớp đều có, từ những giáo sư đại học, quan viên chính phủ, người giàu có, cho đến công nhân, nông dân, trẻ nhỏ, rồi có những người lớn tuổi không biết chữ, đều có thể tiếp thu những Pháp lý mà Sư phụ Lý Hồng Chí giảng mà không có chút trở ngại nào. Trong Pháp Luân Đại Pháp xác thực là có những điều của Đạo gia như kinh mạch, âm dương, ngũ hành. Pháp Luân Đại Pháp là công pháp lấy Phật gia là chủ đạo, nhưng bề ngoài cơ bản không có liên quan đến ‘tứ đại’ giảng trong Phật giáo, điều này là nhất trí với “Tây Du Ký”. Đoàn Nghệ thuật Thần Vận (Shen Yun Performing Arts) do những người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp thành lập, được mệnh danh là “chương trình đệ nhất thế giới”, liên tiếp mấy năm liền đều lấy những nội dung trong “Tây Du Ký” để diễn. Trong vở múa “Kim Hầu xuất thế” năm 2012, hình tượng vị Phật nắm Tôn Ngộ Không trong lòng bàn tay chính là hình tượng người sáng lập Pháp Luân Đại Pháp – Ngài Lý Hồng Chí. Hàm ý trong đó làm cho người ta phải nghĩ sâu xa hơn. Mở màn chương trình dạ hội Thần Vận năm 2014 càng làm chấn động người ta hơn, tiết lộ một cách sâu xa hơn về bản tính của sinh mệnh. Nơi thiên quốc, Sáng Thế Chủ mở lời ở trên đỉnh của đại khung vũ trụ: “Ai nguyện theo ta hạ thế Chính Pháp?” Mà trải khắp khung thể vũ trụ từ nơi cao nhất cho đến nơi thấp nhất lại là từng tầng từng tầng thiên thê (thang lên trời), tầng tiếp cận gần với thế gian nhất là bốn chữ vàng: ‘địa, thủy, hỏa, phong’. Điều này thuyết minh rằng, Sáng Thế Chủ khi đến nhân gian đã sớm đặt định cơ sở để con người trong tương lai có thể đắc Pháp, tất cả lịch sử đều là vì Sáng Thế Chủ xuống nhân gian và sự trở về của nhân loại tương lai mà làm những chuẩn bị. ‘Đất, nước, lửa, gió’ là những vật chất cơ bản cấu tạo nên thế giới được giảng trong Phật giáo. Phật giáo truyền vào Trung Quốc trong những năm đầu thời Đông Hán. Trên vũ đài của Thần Vận, Thần Phật hạ xuống thế gian chuyển sinh thành người, người ta vừa hát vừa nhảy múa, trên các ngọn cờ tung bay trong gió có một chữ “Hán”, điều này nói rõ chính là triều Hán. Sau khi bài hát “Giá thị chân âm” (Đây là lời chân thật) kết thúc, tiếp theo là vở múa “Hán phong khởi lệ” (Cảnh sắc tươi đẹp triều Hán). Đối chiếu với việc chúng ta giải “Tây Du Ký”, kết hợp với lịch sử Phật giáo truyền nhập vào Trung Quốc, thì có thể nhìn ra, trong mười đời chuyển sinh của Kim Thiền Tử, lần chuyển sinh đầu tiên cũng chính là thời kỳ Phật giáo bắt đầu truyền nhập vào Trung Quốc. Nét đẹp của “Tây Du Ký” không thể diễn tả bằng lời. Chúng sinh của biết bao thế giới thiên quốc đã vì sự hồng truyền của Đại Pháp ngày hôm nay mà đặt định cơ sở từ rất lâu rồi! Chúng ta cùng xem lại ca từ của bài hát “Đây là lời chân thật”: “Tôi không biết bạn là ai, cho dù bạn ở nơi góc phố nào, tôi biết rằng con người thế gian phần lớn là đến từ Thiên thượng, vì để chờ đợi Sáng Thế Chủ, Ngài giúp bạn trừ bỏ tội nghiệp thì bạn mới có thể trở về nơi Thiên Đường. Thần Phật đến thế gian ma quỷ tất sẽ trở nên điên cuồng, chớ có tin những lời dối trá của con ma đỏ, vì nó không cho bạn nối lại Thánh duyên, mau tìm đệ tử Đại Pháp để hiểu rõ sự thật, đó là điều mà bạn chờ đợi hàng nghìn vạn năm, đó là hy vọng cuối cùng của bạn.” Những lời ca của bài hát này chính là đang khai mở Phật tính bị chôn giấu sâu thẳm trong tâm hồn con người. Cuối cùng, tôi tin rằng đoạn Pháp sau đây trong cuốn “Chuyển Pháp Luân” của Sư phụ Lý Hồng Chí có thể giúp bạn phá mê: “Bởi vì công của chúng ta luyện được rất lớn; [điều] luyện được tương đương với cả vũ trụ. Như vậy mọi người thử nghĩ xem, trong vũ trụ này có hai ‘gia’ lớn là Phật gia và Đạo gia, loại trừ đi bất kỳ ‘gia’ nào cũng không cấu thành nên vũ trụ hoàn chỉnh được, không thể nói là vũ trụ hoàn chỉnh được; do đó chúng ta ở đây cũng có những điều trong Đạo gia.”
  20. III. Hiểu “Tây Du Ký” từ nhiều góc độ khác nhau Bài trước phân tích về “Tây Du Ký” là dựa trên cơ sở người tu luyện thuần túy mà tiến hành phá giải. Cũng chính là nói, bề ngoài viết về cuộc chiến giữa thầy trò Đường Tăng và yêu ma quỷ quái, nhưng thực chất lại là đang thanh trừ ma tính của chính bản thân mình. Đây là giải ở góc độ tu nội thuần túy. Phân tích như vậy cũng đủ để vén bức màn bí ẩn về nội hàm của “Tây Du Ký”, đằng sau sự ly kỳ hấp dẫn này chính là quá trình một người tu tâm đoạn dục. Nhưng người tu luyện chân chính vẫn có một góc độ quan sát nữa. Người chân tu biết rằng, nếu muốn chân chính tu luyện mà không có sư phụ chỉ dạy, không có sư phụ dẫn dắt, thì về cơ bản là không tu thành được. Mà vị sư phụ này ắt phải là một Giác Giả có trí huệ và thần thông to lớn. Đương nhiên người tu luyện thông thường, căn cơ không đủ, tâm cầu Đạo không kiên trì, trong khi đọc kinh sách mà tu luyện, thì có hay không có sư phụ cũng không sao cả. Bởi vì tu luyện môn nào thì sư phụ của môn đó liền biết ngay, ông thấy người này cần đề cao tầng thứ rồi, liền ở phía sau giúp đỡ một chút. Người này thật sự có thể tu luyện được, thì ông liền giúp đỡ. Bởi vì Giác Giả độ nhân không nói điều kiện. Nhưng những người như thế này thật sự quá ít, quan niệm của người thường lại quá nhiều quá phức tạp, khi tu luyện hễ gặp khó khăn ma nạn liền dùng nhân tâm mà đối đãi, họ cũng sẽ bị đình trệ ngay ở ma nạn đó. Do đó từ góc độ này mà xét, người chân tu hướng nội tu là một phương diện, cũng là một phương diện chủ yếu, nhưng không tách rời khỏi sự bảo hộ của sư phụ, khi cần thiết thật sự phải có sư phụ đến giúp đỡ. Chân tu ắt phải có sư phụ, đường đời của người chân tu đã được sư phụ an bài và thay đổi rồi, từng nạn đều là nhắm vào chấp trước của người tu luyện mà an bài. Điều này cũng được thể hiện ngay trong “Tây Du Ký”. Ví dụ khi Tôn Ngộ Không thu phục Kim Giác Đại Vương và Ngân Giác Đại Vương, Thái Thượng Lão Quân nói: “Vật này Hải Thượng Bồ Tát đã hỏi mượn ta ba lần, lần này đưa cho ngài ấy hóa thành yêu ma, để thử xem thầy trò ngươi có thật sự muốn đi Tây Thiên thỉnh kinh hay không.” Chúng ta nói các nạn mà Đường Tăng trải qua là nạn của bản thân ông, điều này đương nhiên là đúng. Tuy nhiên an bài có thứ tự, từng bước từng bước lại không phải là ông tự an bài cho mình. Trong truyện nói rõ rằng có những ma nạn là do Phật Thích Ca Mâu Ni an bài; vị Phật Thích Ca Mâu Ni này lại không phải giống như phân tích ở phần trước là chỉ ở trong tâm người ta, mà Ngài ở tại thế giới của Ngài; chỉ cần có người thật sự tu luyện theo kinh mà Ngài truyền, Ngài đương nhiên sẽ biết, và đương nhiên sẽ quản người đó; cách giúp đỡ của Ngài là an bài sẵn con đường để người đó tu luyện. Trên con đường Ngài đã an bài, vào mọi thời khắc Ngài đều đang chăm nom bảo hộ người đó. Đương nhiên người ta trong tu luyện, khi đối chiếu với kinh Phật để hướng nội mà tu, mặt bản tính của chính mình, cũng chính là phía mặt tu thành kia đã biết phải làm thế nào rồi. Nhưng chỉ biết được làm thế nào thì vẫn chưa đủ, đó là quan niệm hậu thiên hình thành, ở không gian khác mà nhìn, đó là những vật chất vô cùng ngoan cố, không có sự giúp đỡ của sư phụ thì về cơ bản không thể nào trừ bỏ đi được. Chúng ta hãy lấy một ví dụ, tại sao một số người xấu muốn học điều tốt lại khó như vậy? Đó là vì họ không vứt bỏ được quan niệm mà họ đã hình thành, quan niệm đó là tự kỷ hậu thiên, nó ngăn cản con đường người ta phản bổn quy chân. Đây cũng là một nguyên nhân chủ yếu mà người hiện đại ngày nay khó có thể tu luyện. Đương nhiên, nếu xét từ góc độ này, kết hợp thêm tại góc độ người tu luyện thuần túy để hiểu “Tây Du Ký”, thì sẽ toàn diện hơn. Sau khi tôi tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, từ trong Pháp Sư phụ Lý Hồng Chí giảng rằng con người có chủ nguyên thần, phó nguyên thần, trong khi đọc “Tây Du Ký”, tôi phát hiện rằng từ góc độ này mà hiểu về thầy trò Đường Tăng thì vô cùng hợp lý. Đường Tăng đương nhiên là chủ nguyên thần; Ngộ Không, Bát Giới, Sa Tăng, Bạch Long Mã chính là các phó nguyên thần. Tu luyện là lấy chủ nguyên thần làm chủ, chủ nguyên thần mê trong nhân thế, nếu muốn tu luyện vượt ra khỏi chốn hồng trần, thì đương nhiên sẽ có nhiều nạn, sẽ có nhiều khổ, nhưng càng như vậy, sẽ tu luyện được càng cao. Phó nguyên thần điều gì cũng biết, đương nhiên sẽ dễ tu hơn một chút. Cho nên, năm vị tuy cùng một thể, nhưng lại đều có thể tu đến quả vị tương ứng của bản thân. Có một vị tu luyện khai mở thiên mục ở tầng thứ rất cao khi chia sẻ đã nói: “Câu chuyện Đường Tăng thỉnh kinh là có thật, hình tượng thầy trò Đường Tăng cũng là sự thật, chẳng qua là ở tại không gian khác mà thôi.” Như vậy từ góc độ này mà nói, “Tây Du Ký” là một câu chuyện tu luyện phát sinh tại không gian khác, trải qua gia công chỉnh lý đã trở thành bộ tác phẩm mà chúng ta thấy như hiện nay. Đương nhiên dùng tư tưởng của người thường thì không lý giải nổi sự an bài của các sinh mệnh cao tầng đối với sự việc này. Đối với những sinh mệnh cao tầng tham dự trong đó mà nói, không phải là họ muốn diễn giải câu chuyện như thế nào thì liền có thể làm như thế. Lấy Trư Bát Giới làm ví dụ, xét từ góc độ người thường, có ai muốn làm Trư Bát Giới? Nhưng nếu từ góc độ lưu lại văn hóa Thần truyền chính thống cho nhân loại và trải thảm cho tu luyện chính Pháp của đời sau mà nói, đó là công lao và thành tích vĩnh viễn bất diệt trong vũ trụ, là điều mà bao vị Thần ngày nay đều ngưỡng mộ. Nói thẳng ra, không phải sinh mệnh nào muốn diễn vai diễn này thì liền được phép diễn. Từ truyện mà xét, các ma nạn thầy trò Đường Tăng trải qua, những người tham dự trong các ma nạn đó rất nhiều đều là có lai lịch, có những nạn là do Phật Như Lai và Bồ Tát trực tiếp an bài. Người tu luyện thông thường cũng không xứng có những ma nạn như thế này. Theo cách nói của Phật Di Lặc thì: “Là do thầy trò ngươi chưa hết nạn, cho nên nhiều loài hạ thế đón đường, khiến các ngươi chịu ma nạn.” (còn tiếp…)
  21. Bí Mật Phong Thủy ( Phần 1 ) : Nói Sơ về Phong Thủy Lời nói đầu Tại các nước châu Á, có rất nhiều rất nhiều người yêu thích Phong Thủy. Bọn họ từ những điều được lưu truyền và các sách cổ đã đạt được một số hiểu biết về lý luận Phong Thủy. Trải qua nhiều năm gian khổ tìm kiếm và kiểm chứng, họ phát hiện Phong Thủy đích thực có những tác dụng nhất định. Các nhà khoa học gia Tây phương cũng đã phát hiện có sự lưu chuyển năng lượng và điện lưu ở các vùng đất lớn và một số hiện tượng khác, những điều đó hoàn toàn trùng hợp với các lý luận trong Phong Thủy. Rất nhiều công ty lớn ở phương Tây và các đại phú hào ở Đông Nam Á thậm chí đã thuê hẳn các thầy Phong Thủy về để tham khảo ý kiến mỗi khi có sự tình xảy ra. Phong Thủy có khởi nguồn từ Trung Quốc, đây là điều đã được công nhận. Tại Trung Quốc trong dân gian có một kiểu nói thế này: Thứ nhất là mệnh, thứ nhì là vận, thứ ba là Phong Thủy, thứ tư là tích âm đức, thứ năm là đọc sách. Ba điều đầu là thiên định, hai điều sau là do con người. Tác dụng của Phong Thủy được liệt vào những thứ do trời định, hoàn toàn siêu xuất khỏi những học thuyết trong sách về cải biến vận mệnh. Trong lịch sử trên dưới 5000 năm của đất nước Trung Hoa, Phong Thủy đã hòa nhập vào cuộc sống của mọi người và trở thành một bộ phận trọng yếu. Từ Hoàng Đế cho đến dân thường, từ Hoàng cung đại điện cho đến những góc phố nhỏ bé, mọi người hầu như đều đã từng biết về Phong Thủy. Không kể là chọn lựa bố cục cho thủ đô, kiến tạo thiết kế cho thành thị, hay là định hướng âm trạch dương trạch, sắp đặt đồ đạc trong nhà v.v… đều cần tìm người để xem Phong Thủy, tính toán xem trình tự vận hành thế nào, sao cho đạt được Thiên Nhân hợp nhất, đón cát tránh hung. Thuận theo quá trình công nghiệp hóa trong 100 năm gần đây, Phong Thủy và văn hóa chính thống của Trung Hoa đã trở nên ngày càng xa lạ đối với chúng ta. Trong tiềm ý thức của mọi người đều cho những danh từ này là “lạc hậu”. Tuy nhiên sự thực có đúng như vậy không ? Xin bạn hãy tiếp tục xem bài viết của chúng tôi, nó nhất định sẽ đem lại cho bạn những cảm thụ và nhận thức hoàn toàn mới ! Thế kỷ 16 thời kỳ văn nghệ phục hưng tại châu Âu, sự huy hoàng của nền văn minh Hy Lạp và Roma cổ đã đưa đến các ngành công nghiệp hiện đại. Từ đó dẫn đến sự phát triển của nền văn minh ngày nay và mang lại cho chúng ta một xã hội hiện đại với khoa học kỹ thuật tương đối phát đạt. Chúng tôi tin rằng, việc phục hồi văn hóa Trung Hoa chính thống cũng sẽ mang lại một tương lai tươi sáng cho con cháu người Hoa. Chúng tôi hy vọng có thể cùng với nhiều người yêu thích Phong Thủy nghiên cứu và thảo luận về văn hóa chính thống Trung Hoa. Từ đó đẩy mạnh sự phục hưng và thịnh vượng của văn hóa Trung Hoa đồng thời mang lại phúc âm cho người dân tại các quốc gia trên thế giới. Phong Thủy thoạt nghe tưởng chừng như mê tín, kỳ thực đó là một trong những sản phẩm trí huệ của người Trung Quốc cổ xưa. (AFP) Những điều trong bài viết này, cũng chỉ là những điều thuộc một phạm vi thiên địa nhất định, bởi vì tầng thứ tu luyện của chúng tôi có hạn, có thể có những chỗ còn thiếu sót hoặc nhầm lẫn, xin các bạn bỏ qua. Nếu có thể giúp đỡ chỉ ra những sai sót đó, chúng tôi vô cùng cảm tạ. Bài viết này đã nhận được rất nhiều ý kiến và trích dẫn của khá nhiều đồng đạo, tại đây, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến các bạn. Chương I: Nói Sơ về Phong Thủy Nhắc đến Phong Thủy, chắc chắn có rất nhiều người đặt ra các câu hỏi, ví dụ như: Phong Thủy rốt cuộc là gì ? Tại sao Phong Thủy có thể khởi tác dụng ? hoặc là Phong Thủy có nguồn gốc từ đâu v.v…. Những vấn đề này nếu như không giảng rõ ràng, sẽ gây ra rất nhiều chướng ngại cho những người muốn nhận thức về Phong Thủy, đặc biệt là một số người ở Trung Quốc Đại Lục, họ thường cho những điều này thuộc về mê tín từ đó bài trừ chúng. Chúng ta hãy bắt đầu từng bước một, xin bắt đầu từ việc liễu giải về nguồn gốc của danh từ Phong Thủy. 1. Nguồn gốc Phong Thủy Danh từ “Phong Thủy” bắt nguồn từ thời Ngụy Tấn, trong “Táng Thư” của Quách Phác, trong sách Quách Phác đã đưa ra định nghĩa về Phong Thủy như sau: “Táng giả, Tạng dã, Thừa sinh khí dã. … khí thừa phong tắc tán, giới thủy tắc chỉ, cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ”. Quách Phác đã đưa ra khái niệm về “khí”, đồng thời đưa ra những phát hiện ngắn gọn về biểu hiện của hai loại nhân tố Phong và Thủy, từ đó nhận thức về sự xuất hiện và kết thúc của “khí”. Do tác giả trong cuốn “Táng Thư” đã lần đầu tiên đưa ra danh từ Phong Thủy, cũng như đặt ra cái khung lý luận cho Phong Thủy, cho nên được coi là ông tổ trong giới Phong Thủy. Kỳ thực nghề Phong Thủy có lịch sử lâu dài hơn nhiều so với lịch sử của “Táng Thư”. Các giới học giả Phong Thủy sau này đều đã nhận thấy rằng trong “Đại Nhã Kinh Thi – Lưu Công” trước đó đã có những miêu tả về sự hoạt động của Phong Thủy Đốc công lưu, ô tư tư nguyên, ký thứ ký phồn … trắc tắc tại hiến, phục giáng tại nguyên Đốc lưu công, thệ bỉ bá tuyền, chiêm bỉ phổ nguyên, nãi trắc nam cương, nãi quan ư kinh. Kinh sư chi lý, ư thời xứ xứ, ư thời lư lữ, ư thời ngôn ngôn, ư thời ngữ ngữ. Đốc lưu công, ký phổ ký trường, ký cảnh nãi cương, tương kỳ âm dương, quan kỳ lưu tuyền … độ kỳ thấp nguyên … độ kỳ tịch dương, u cư doãn hoang. Qua mấy đoạn thơ mang đầy thi tình họa ý trên, chúng ta dường như nhìn thấy cổ nhân là “Tư Vũ”, lúc thì là “Trắc Cương”, lúc thì là “Giáng Nguyên”, lúc thì là “Thệ Thủy”, lúc thì là “Quan Kinh”, quá trình này có sự tương đồng với bốn bộ phận trong Phong Thủy của các học giả sau này là: “Mịch Long”, “Sát Sa”, “Quan Thủy”, “Điểm Huyệt” Trong 《Đại Nhã Miên》 thuộc 《Kinh Thi》 cũng có những miêu tả liên quan như: “Cổ công đản phụ, lai hồ tẩu mã, súy tây thủy hử, chí ư kỳ hạ. Viên cập khương nữ, duật lai tư vũ”. Cổ công đản phụ là phụ thân của Quý Lịch, là tổ tiên của Chu Văn Vương, người đã dẫn đầu cả gia tộc chuyển đến Kỳ Sơn. Trong thơ “Tư Vũ” có nghĩa là xem xét kỹ lưỡng, chi tiết. Những hoạt động Phong Thủy này, được người thời đó gọi là tướng địa hay hình pháp Phong Thủy còn được gọi là Kham Dư, vậy cách nói Kham Dư này có nguồn gốc từ đâu ? Danh từ này đã được xuất hiện rất sớm từ thời Tây Hán Hoài Nam Vương Lưu An trong quyển thứ ba 《Thiên Văn Huấn》 thuộc tác phẩm 《Hoài Nam Tử》, trong đó bao hàm các đạo lý về sự vận hành của trời đất. Phong Thủy còn được gọi là Địa Lý, Địa Lý là từ xuất hiện trong 《Hệ Từ》 của 《Chu Dịch》: “Dịch ư thiên địa chuẩn, cố năng nhị luân thiện địa chi đạo. Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố tri u minh chi cố.” Đến 《Táng Thư》 của Quách Phác viết, kỳ thực là đã đứng trên vai của rất nhiều người, ngoài việc chỉnh lý một vài lý luận Phong Thủy, ông chủ yếu là quyết định chọn từ “Phong Thủy”. Giống như danh từ “Khí Công”, nếu như không tiến hành nghiên cứu, rất khó để có thể nhìn thấy được nội hàm rộng lớn và thiên ý sâu xa từ bề ngoài của từ “Phong Thủy”, Không kể là Khí Công hay Phong Thủy, đều giảng về “Khí”, hiện nay có rất nhiều người lại lý giải thành luồng không khí, kỳ thực không phải. Hiện nay ký tự tiếng hán bị đơn giản hóa quá nhiều, rất nhiều từ đều bị vứt bỏ đi không dùng nữa, từ đó khiến nhiều nghĩa của từ bị lý giải sai lệch. Khí ở đây cần phải được lý giải là “炁” (vô hỏa) thì sẽ chính xác hơn. Từ này được bắt nguồn từ văn hóa của Đạo gia trong xã hội Trung Quốc cổ xưa, nó đại biểu cho năng lượng. Trước giờ, đa phần mọi người lý giải “Phong Thủy” đều theo những lý luận từ khi phổ cập minh thanh phong thủy, tại thế gian tiểu đạo chỉ lưu truyền những điều vỏ ngoài nông cạn, cùng với một số thuật lại khác. Hình thành nên “Huyền Không”, “Lục Hào”, “Lý Khí” … các tông phái khác nhau trong Phong Thủy. Hiện nay các nhà Phong Thủy học nhìn nhận Phong Thủy dưới hai loại hình chủ yếu: một là hình pháp, hai là lý khí. Hình pháp chủ yếu là chỉ: loan đầu, long, huyệt, sa, thủy, tất cả hướng về năm yếu quyết. Về lý khí, nguyên tắc là trên các cơ sở như thế mà thêm vào các lý luận dịch học như cửu cung bát quái, âm dương ngũ hành v.v… Kỳ thực họ chỉ là tổng kết lại một số kinh nghiệm của các nhà phong thủy trong quá khứ, nếu không được chân truyền thì chỉ là dựa vào những kinh nghiệm này mà suy tính. Họ chỉ biết về “Hình” chứ không biết gì về “Thần” cả, họ chỉ lòng vòng nghiên cứu các lý luận về “Hình”, không chỉ vậy lại còn tranh chấp lẫn nhau mà phân chia thành các bè phái. Ví dụ cùng một vị trí, phái “Huyền Không” nói đất ở đây có thể mai táng, “Lý Khí” lai nói là không thể, nhưng sau khi mai táng thì quả thực là có phát. Một trường hợp khác “Lý Khí” nói là được, “Huyền Không” lại nói không được, kết quả sau khi mai táng thì lại có thể phát. Cuối cùng là “Huyền Không” đúng hay là “Lý Khí” đúng đây ? Trong các hoạt động về Phong Thủy, chúng tôi phát hiện, kỳ thực để xem một vị trí có phải là “chân huyệt” hay không, thì phải xem ở huyệt vị đó có thần hay không. Chúng tôi gọi người chấn thủ huyệt vị đó gọi là “Địa Linh Thần”. Đồng thời còn phụ thuộc vào việc thầy Phong Thủy kia có đủ uy đức để câu thông với vị Địa Linh Thần đó không, nó không chỉ đơn giản là việc xem hình thế đất. Có người cho rằng học vấn về Phong Thủy là được hình thành từ một quá trình tích lũy kinh nghiệm khảo sát địa hình lâu năm mà nên. Nếu như thật sự là như vậy, với trình độ khoa học kỹ thuật ngày nay, ai muốn làm hoàng đế, thì khởi động các bộ máy cơ khí để hình thành các địa hình theo tổng kết kinh nghiệm, rồi tạo ra các địa huyệt là xong rồi phải không ? Tại sao lại không thể làm được ? Nguyên nhân là vì con người có thể tạo thành các địa thế theo mô hình phong thủy, nhưng không có cách nào an bài các vị Địa Linh Thần chấn thủ nơi đó được. Phong Thủy được quy về thế gian tiểu đạo trong Đạo Gia, văn hóa Đạo Gia cho rằng sinh mệnh của con người có nguồn gốc từ trên thiên thượng. Mục đích của nhân sinh là thông qua tu luyện mà dần dần tiếp cận và đồng hóa với bản tính tiên thiên của chính mình, trở về nguồn cội. Các thầy Phong Thủy tu Đạo chân chính trong quá trình quay trở về bản tính tiên thiên của mình, họ dần dần có được các năng lực thần diệu, xuất hiện các công năng đặc dị, có thể nhìn thấy “Khí” của địa huyệt, có thể nhìn thấy quang ảnh trên thân các “Địa Linh Thần” đối ứng với các địa huyệt, trên thân họ đều có mang năng lượng. Có một số công năng cao cấp còn có thể trực tiếp nhìn thấy hình tượng của những Địa Linh Thần đó. Địa Linh Thần đối ứng với huyệt vị càng lớn thì huyệt vị ấy càng tốt. Cho nên sở dĩ Phong Thủy có thể khởi tác dụng thực chất là do có tác dụng của “Thần” đằng sau những biểu hiện về hình thế bề ngoài. Văn hóa truyền thống của Trung Hoa là văn hóa sùng bái “Thần”, rất nhiều sách cổ và những truyền kỳ cổ xưa đều có ghi chép và lưu truyền về vùng đất Đại Địa Thần Châu của chúng ta. Ở đó thời xưa đã từng là nơi mà người và thần cùng tồn tại, lúc đó các vị thần tiên thường xuyên xuất hiện ở nhân gian để truyền cho những người dân nguyên thủy các loại văn hóa và kỹ nghệ, con người thời đó cùng không cần bói quẻ, họ có thể trực tiếp trao đổi với thần để hiểu rõ về thiên ý. Tương truyền có một người rất đức hạnh được thần tiên truyền thụ trở thành thầy Phong Thủy. Nhân gian tương truyền về Đại sư Phong Thủy triều Đường Dương Thanh Tùng tại Sơn Đông đã gặp được Cửu Thiên Huyền Nữ, đắc được chân truyền, trở thành người tinh thông Phong Thủy, trở thành Nhất Đại Thái Gia, cho nên những người trong gia tộc họ Dương đắc được chân truyền sau này đều cúng bái Cửu Thiên Huyền Nữ làm tổ sư. Nhưng trong giới Phong Thủy có một cái tên được cho là vị Thầy Phong Thủy đầu tiên: “Thanh Đảo Tử”. Có ghi chép nói rằng thời kỳ hoàng đế đại thần, hồng truyền văn minh phương đông đã thuật lại như vậy, Phong Thủy cũng là bắt đầu từ thời đó. 2. Tại sao Phong Thủy có tác dụng Hiện nay không ít người cho rằng Phong Thủy là mê tín. Ví dụ như qua việc chọn một địa huyệt tốt để chôn cất hài cốt tổ tiên sẽ ảnh hưởng đến họa phúc của con cháu sau này. Mặc dù các sự việc như thế trong lịch sử đã được ghi chép lại, nhưng rất nhiều người hiện đại vẫn cảm thấy khó mà tưởng tượng được, không biết nguyên lý ở chỗ nào ? Họ cảm thấy thật không thể nào có chuyện như vậy. Kỳ thực khoa học vật lý hiện đại đã phát hiện rằng giữa vật chất với nhau có một loại liên đới vượt qua thời gian và không gian, trong vật lý học lượng tử gọi đó là làm nhiễu động lượng tử. Nói ra thì rất dài, bởi sự ra đời của khoa học kỹ thuật tại Tây phương ngày nay là có hình thức bề ngoài đối lập với các tôn giáo của người Tây phương cổ đại, đối lập với triết học và thuật luyện kim, nhưng trong mối liên hệ nội tại thì tuyệt nhiên không thể phân tách được. Trong Thánh Kinh viết Thượng Đế tạo ra vũ trụ, ngày thứ nhất, cần có ánh sáng. Từ đó ánh sáng được tạo ra, dần dần Thượng đế vì con người mà tạo ra vạn sự vạn vật, chuẩn bị cho con người một hoàn cảnh sống đầy đủ, đến ngày thứ sáu thì bắt đầu tạo ra con người. Ngày thứ bảy thượng đế bắt đầu nghỉ ngơi, kỳ thực ông đã tạo ra sự nghỉ ngơi cho con người, cho con người có được phúc khí của sự nghỉ ngơi. Con người đã sống trong môi trường mà Thượng Đế tạo ra để mà tu dưỡng và sinh sôi cho đến tận ngày nay Thuận theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay, con người ngày càng hiểu rõ hơn về vũ trụ, những người được sinh ra vào ngày thứ sáu đang nghiên cứu ánh sáng làm thế nào được sinh ra vào ngày thứ nhất, từ đó xuất hiện một loại vật lý học rất lạ gọi là vật lý lượng tử. Đối với vật lý đương thời, triết học và tôn giáo có một ảnh hưởng cực kỳ lớn. Căn cứ vào giải thích của vật lý lượng tử, ánh sáng là một loại sóng, đồng thời cũng là một loại hạt. Loại đặc tính này gọi là lưỡng tính sóng hạt. Nhưng mà ánh sáng lại là loại vật chất không xác định rõ tính, có nghĩa là bạn có xác định được vị trí của nó thì không thể đo được tốc độ của nó, còn nếu bạn đo được tốc độ của nó thì lại không có cách nào xác định được vị trị của nó. Các khoa học gia từ góc độ vật lý học truyền thống nhìn những thứ lừa chẳng phải lừa, ngựa chẳng phải ngựa này gọi là lượng tử, vì để nghiên cứu nó, các khoa học gia đã tạo ra một môn học vấn mới gọi là vật lý học lượng tử. Giới vật lý học lượng tử xuất hiện rất nhiều cao nhân, những lý luận thần kỳ của họ khiến con người ngày càng không thể phân biệt rõ ai là khoa học gia, ai là triết học gia … ví dụ một nhà khoa học gia người Anh là Penrose đã đề xuất lý luận về “Đa vũ trụ”, ông cho rằng, vũ trụ mà chúng ta đang ở đang không ngừng phân tách, mỗi lần chúng ta “quan sát” (đây là từ trong chủ nghĩa duy tâm) nó thì nó phân tách một lần, tất cả các vũ trụ được phân tách đều tồn tại ở cũng một chỗ, vì tất cả các trường hợp xảy ra cũng đều đồng thời tồn tại. Nhưng chúng ta chỉ sinh sống tại một trong các vũ trụ đó và không thể cảm giác được các vũ trụ khác. Tại các vũ trụ khác, Hitler có thể tạo ra bom nguyên tử trước Mỹ, Kennedy có thể không bị thích sát, cha mẹ của bạn có thể không yêu nhau, có lẽ bạn cũng không tồn tại …. Trong vật lý học lượng tử có một hiện tượng thu hút rất nhiều người quan tâm, gọi là hiện tượng liên đới lượng tử. Các nhà khoa học nói rằng: giữa hai hoặc nhiều lượng tử với nhau có tồn tại một vùng không xác định, có một sự liên hệ rất cường mạnh. Nói trắng ra thì là: bất luận hai lạp tử có khoảng cách bao xa, nếu như một lạp tử xảy ra biến hóa thì lạp tử còn lại cũng bị ảnh hưởng. Hai lạp tử ấy bất luận có cách xa nhau bao nhiêu, đều không chịu ảnh hưởng của không gian và thời gian, nó cũng không cần một sự liên kết nào, chúng vẫn có thể “hiểu được lòng nhau”. Hiện tượng này thật sự là Thiên Phương Địa Đàm, chẳng trách nhà lượng tử học Pauli đã nói: “Vật lý học lượng tử là khoa học thoát thai từ thuật luyện kim, hiện nay so với thuật luyện kim nó càng trở nên thần bí hơn”. Những điều được đề cập ở trên nghe như hoang đường nhưng nó lại là những thành quả kỹ thuật tồn tại một cách thực sự. Không chỉ vậy rất nhiều người đều từ những lý luận kỳ lạ này mà đạt được giải Nobel. Đọc đến đây, bạn chắc hẳn vẫn chưa nhận thức được ý nghĩa của những lí luận đó là gì, nói thẳng ra, nếu như hiện tượng liên đới lượng tử được nghiên cứu thấu triệt, thì con người chúng ta hôm nay có thể thông qua những sự việc ngày nay mà xuyên việt thời không để thay đổi những sự việc trong quá khứ cũng như tương lai … cho nên từ góc độ lý luận lượng tử, những thần tích của các thuật sỹ thần tiên thời cổ đại là không kỳ lạ chút nào. Tại hải ngoại còn có học giả tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm đối với Phong Thủy, giới Phong Thủy cho rằng, con người là do máu huyết của cha mẹ kết tinh mà thành và có mối liên hệ tiềm tại về huyết mạch thể hệ. Căn cứ vào một thực nghiệm như sau: họ lấy tinh trùng của một vài người, sau đó đặt nó tại những nơi cách rất xa những người đó, rồi từ phía sau họ bất ngờ đánh một cái thật mạnh vào một trong những người tham dự thực nghiệm, điều này đã khiến người đó giật mình. Kết quả là tại phòng thí nghiệm đặt ở rất xa, người ta thấy rằng, tinh trùng của người đó cũng có biểu hiện giật mình y như vậy. Thực nghiệm này tại hải ngoại đã được phát sóng trên đài truyền hình chủ lưu, rất nhiều người cũng đã xem nó. Cho nên có thể nói, khoa học nghiên cứu ngày nay cũng đã đột phát được rất nhiều rào cản, vô luận là từ lý luận hay là từ thí nghiệm thực tiễn, từ góc độ khoa học đã có thể chứng minh được tác dụng của Phong Thủy. Văn hóa truyền thống Trung Quốc đã đi theo một con đường khoa học hoàn toàn khác, là trực tiếp nghiên cứu vũ trụ, nhân thể, thời không. Việc đả tọa tu luyện, khai mở tiềm năng nhân thể cũng là một con đường khoa học để phát triển, điều này so với con đường của khoa học chứng thực Tây phương là hoàn toàn không giống nhau. Thực sự là thế, hiện nay dùng những lý luận và kiểm chứng của khoa học thực chứng Tây phương cũng có thể kiểm nghiệm được độ chính xác của văn hóa Trung Quốc. Những nhà hiền triết Trung Quốc đối với sự kỳ diệu của đại tự nhiên và sự huyền ảo của vũ trụ đã đưa ra rất nhiều tinh hoa luận thuật. Ví dụ tại 《Kinh Dịch – Hệ Từ》 đã nói: “Vô hữu viễn cận u thâm, toại tri lai vật. Phi thiên hạ chi chí tinh, kỳ thục năng dự ư thử”, nói về sự ứng nghiệm của chiêm tinh đoán quẻ, bất luận là thời gian địa điểm xa hay gần, đều có thể biết được sự việc trong tương lại. Cho con người biết “tán thán dịch đạo chi chí tinh, tán thán thánh nhân chi đại đạo”. “Dịch vô tưởng dã, vô vi dã, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông thiên hạ chi cố. Phi thiên hạ chi chí thần, kỳ thục năng dự ư thử”. Dịch là vô phương giả. Nếu như hữu tưởng hữu vi, tắc hữu phương hĩ, cũng không phải là dịch. Cảm nghĩa là tâm thông tâm, từ đó mà thông hiểu tâm của thiên địa vạn vật. Vật chi kỉ phân động tĩnh giả dã, chí thần, vị sở phát giai động dĩ tự nhiên dã. Qua đó có thể thấy, hiện nay đỉnh cao của khoa học nghiên cứu vật lý lượng tử đã vô tình trùng khớp với luật thuật trong 《Kinh Dịch》 từ hàng ngàn năm trước của Trung Quốc. Sự vận động và quy luật của lượng tử và quy luật được miêu tả trong 《Kinh Dịch》 là hoàn toàn tương đồng. 3. Phong Thủy có tác dụng gì ? Đạo gia cho rằng vũ này là do âm dương cấu thành, giống như thái cực. Tam giới chỉ là một phạm vi cục bộ của vũ trụ do ngũ hành tạo nên. Vì thế vũ trụ diễn hóa ra Tam giới, âm dương diễn hóa thành ngũ hành. Ngũ hành chỉ phù hợp với tầng thứ thuộc trong Tam giới này, vượt quá phạm vi này thì chỉ sử dụng đạo lý về âm dương chứ không thể dùng đạo lý về ngũ hành làm chỉ đạo nữa. Giống như các sinh mệnh tồn tại trên quả địa cầu là cần có “trọng lực”, nhưng nhận thức này của khoa học chỉ có thể là chân lý nội trong phạm vi quả địa cầu, vượt qua quả địa cầu mà tiến nhập vào phạm vi của thái dương hệ thì nó lại trở thành sai. Con người rơi vào không gian vũ trụ, khi đến các tinh cầu khác thì sẽ bị mất trọng lượng, có thể phiêu đãng bay lên. Phong Thủy học tại Trung Quốc còn được gọi là Âm Dương học, thầy Phong Thủy tại nhân gian còn được gọi là thầy Âm Dương, vậy chúng ta có thể từ đó mà đoán ra được nguồn gốc của Phong Thủy là đến từ tầng rất cao, chẳng phải đạo lý của nó ít nhất cũng có thể dùng được trong phạm vi vũ trụ này sao ? Thích Ca Mâu Ni đã từng nói về “tứ đại”: đất, nước, gió, lửa. Ông cho rằng vạn sự vạn vật trên thế giới này đều được cấu thành từ “tứ đại”. Lấy “con người” làm ví dụ: xương cốt thân thể chính là “địa”, là cơ sở chịu tải trọng của cả sinh mệnh, máu huyết lưu động dưới dạng lỏng được cho là “thủy”, nhiệt độ thân thể được điều hòa một cách tài tình ở 37 độ, tăng thêm 1 độ hoặc giảm đi 1 độ con người đều không chịu nổi, đó chính là “hỏa”, mà con người lại không thể sống được nếu không thở, như thế hô hấp chính là “phong”. Từ nhận thức về biểu hiện của không gian tại thế gian này mà nhìn, Phong Thủy cũng có liên quan đến ba nhân tố phong, thủy, địa trong “tứ đại”. Cho nên từ nhận thức đối với phạm vi vũ trụ của Thích Ca Mâu Ni mà xét thì Phong Thủy cũng là rất cao rồi, ít nhất cũng chiếm được ba yếu tố, cũng là để nói nguồn gốc của Phong Thủy là rất cao, chí ít cũng phù hợp với phạm vi vũ trụ rộng lớn mà Thích Ca Mâu Ni nhận thức được. Bất luận là Đạo gia hay là Thích Ca Mâu Ni, đều có giảng về quan hệ giữa người và vũ trụ. Phong Thủy tại Trung Quốc, bị liệt vào thế gian tiểu đạo của Đạo gia. Đạo gia tu luyện giảng “Chu Thiên”, giảng “Huyệt vị”, ngoài ra còn giảng thân thể người là một tiểu vũ trụ, rất nhiều người dù ít dù nhiều đều biết một chút tri thức về chu thiên và huyệt vị của con người, nhưng các loại chu thiên chân chính tồn tại trong cơ thể người, cùng các kinh mạch và huyệt vị, người thường rất khó để có thể biết được rõ ràng, bởi vì đây là những điều bí mật trong giới tu luyện , họ không muốn công khai nó ra một cách dễ dàng. Trung Quốc cổ đại trực tiếp nghiên cứu các ảo bí về trời và đất, đề ra lý luận về “Thiên địa hợp nhất”, cũng là để nói: Thiên, Địa, Nhân – Tam tài đối ứng. Trong 《Đạo đức kinh》 có viết: “Nhân Pháp Địa, Địa Pháp Thiên …” như thế mọi người thử nghĩ xem, nếu thật sự là như vậy thì có phải là trên trời cũng có chu thiên và huyệt vị không ? Chỉ là lúc này huyệt vị không còn được gọi là huyệt vị nữa mà gọi là thần vị, cũng là điều Đạo gia thường nói về Chu Thiên tư chức thần, cách nói này cho rằng có 365 cái, họ phân biệt ra đối ứng với 365 huyệt vị trên thân người. Hai từ chu thiên có hàm ý chỉ sự tuần hoàn giữa trời và đất, con người có chu thiên, thì thiên địa tự nhiên cũng phải có chu thiên tồn tại. Đồng dạng như vậy, “Địa” có khi nào cũng là một thể hệ, “Địa” liệu có phải là một thể sinh mệnh, “Địa” phải chăng cũng có mạch lạc, chu thiên và huyệt vị ? Kỳ thực nói thẳng ra, tại một góc độ nào đó mà nhận thức, địa cũng là thiên, cũng là nhân. Thiên cũng là địa, cũng là nhân. Nhân cũng đồng thời là địa, cũng là thiên. Ví dụ trong Trung Y, cơ thể người đồng thời có tồn tại ba bộ phận Thiên, Địa, Nhân. Bộ phận phía dưới con người là địa, bộ phận ở giữa chính là nhân, còn bộ phận bên trên là thiên. Nếu như những luận thuật ở trên là đúng, vậy phải chăng chúng ta có thể nói rằng – Phong thủy, là một hoạt động ảo bí để tìm kiếm “địa”. Bất luận gọi là Kham Dư cũng vậy, gọi là Địa Lý, gọi là Hình Pháp hay gọi là Phong Thủy cũng vậy. Mặc dù cách gọi không giống nhau, nhưng đều không cách ly với nguồn gốc, đều là quá trình chiểu theo vị trí sắp xếp của trời đất mà tìm kiếm “địa”. Từ đây mà phát triển lý luận thêm, con người đã biến nó trở thành Phong Thủy học, và quá trình sử dụng các phương pháp cụ thể trong đó được gọi là thuật Phong Thủy. Từ ẩn nghĩa mà xét, quá trình này là hợp nhất với quá trình tu luyện phản bổn quy chân của sinh mệnh. Vì thế đây là một quá trình tu luyện đề cao của sinh mệnh. Trong quá trình tu luyện ấy có thể tu xuất ra được những điều thuộc về thể hệ “địa” cùng các thuật loại có liên quan đến hoạt động phong thủy hay các năng lực đặc biệt được người ta gọi là thuật Phong Thủy. (Còn nữa) Theo Vietdaikynguyen
  22. Bí Mật Phong Thủy (Phần 3) – Địa Huyệt Cấu trúc cơ thể con người mang theo những thông tin của cấu trúc trời đất, có đại tiểu chu thiên, có mạch lạc và huyệt vị, trái đất cũng như vậy, trái đất cũng có mạch lạc, gọi là long mạch, có huyệt vị, gọi là địa huyệt Trong “Đạo Đức Kinh” có nói: “Nhân Pháp Địa, Địa Pháp Thiên” (Người thuận theo đất, đất thuận theo trời), Đạo gia coi cơ thể con người là một tiểu vũ trụ, vậy thì vũ trụ cũng chính là cơ thể con người cỡ lớn, cùng lẽ đó, vậy thì liệu trái đất có phải là một sinh mệnh? Cấu trúc cơ thể con người mang theo những thông tin của cấu trúc trời đất, có đại tiểu chu thiên, có mạch lạc và huyệt vị, trái đất cũng như vậy, trái đất cũng có mạch lạc, gọi là long mạch, có huyệt vị, gọi là địa huyệt. Trên long mạch có thần, trên huyệt vị có thần. Thần căn cứ vào quy luật vận hành của trời đất, vâng theo ý chỉ của trời, lợi dụng huyệt vị của đất, hình thành nên hợp cục “thiên địa nhân”, khai thông con đường trên dưới “thiên địa nhân”, nhờ vậy mà làm cho tam tài thiên địa nhân vận hành một cách nhịp nhàng. Học thuyết “thiên nhân hợp nhất” cũng ra đời từ đó, nói chính xác hơn thì phải là thiên địa nhân hợp nhất. Huyệt vị thượng thặng được gọi là “Phong thủy bảo địa”, về địa hình có những đặc điểm nhất định, nói chung là lấy huyệt vị làm trung tâm, hiển lộ cách cục lưng tựa núi mặt hướng sông, núi quây vào hộ vệ trái phải, thuật ngữ chuyên nghiệp gọi lưng tựa núi là Lai long, cũng tức là Huyền vũ; núi quây vào hộ vệ bên trái là Thanh long; núi quây vào hộ vệ bên phải là Bạch hổ; Đường cục của bản thân huyệt vị gọi là Nội đường cục, bên ngoài huyệt vị là Đại đường cục, trong Đại đường cục cần có con sông uyển chuyển chảy qua, vùng đất phụ cận trước huyệt vị có gò đồi thấp là Án sơn, núi cao ở phương xa là Triều sơn. Huyệt vị thượng thặng được gọi là “Phong thủy bảo địa”, về địa hình có những đặc điểm nhất định, nói chung là lấy huyệt vị làm trung tâm “Thái tổ sơn” là chỉ ngọn núi phát nguyên từ chỗ kết huyệt đi về phía sau theo long mạch, thông thường là ngọn núi cao nhất trong vùng, đi xuống thì còn gọi là “Thiếu tổ sơn” cấp một. “Phụ mẫu sơn” là ngọn núi phía sau núi kết huyệt đi dọc theo điểm xuất phát của long mạch, “Huyệt tinh” nói chung là chỉ núi kết huyệt, chính là ngọn núi có huyệt vị của địa huyệt. “Thanh long sa” là chỉ sườn núi hoặc ngọn núi nằm phía bên trái huyệt vị, “Bạch hổ sa” là chỉ sườn núi hoặc ngọn núi nằm phía bên phải huyệt vị, đương nhiên còn có các cách nói “Thủy khẩu sa”, “Hạ thủ sa”. “Án” là chỉ ngọn núi gần đó phía trước huyệt vị, thông thường có hình dáng cái giá để bút hoặc hình dáng cái yên ngựa, “Triều” chỉ những ngọn núi ở phía trước cách xa huyệt vị, nói chung Triều sơn nằm sau Án sơn. “Cách cục” cũng gọi là “Đường cục” là chỉ những ngọn núi trên hình thành nên một chỉnh thể, nhìn một cách thống nhất sẽ có cục thế của bản thân mỗi “huyệt vị”, cục thế lớn nhỏ, tốt xấu trực tiếp dẫn đến phẩm cấp huyệt vị cao thấp. Một huyệt vị ít nhất cũng phải nhập phẩm thì mới có thể có “cách cục”, cũng giống như người đời sau ít nhất cũng phải có phúc phận giàu có ngang với “thất phẩm huyện quan” thì mới được coi là “nhập cách cục”. Đương nhiên, một cục thế không phải chỉ tạo ra một huyệt vị, có thể sẽ có mấy chỗ kết huyệt. Mỗi “kết huyệt” có thể rộng tới mấy chục dặm, trên trăm dặm hoặc rộng hơn, nhỏ thì có thể chỉ có mấy ngọn núi thậm chí một ngọn núi, và có thể trong cách cục lớn có cách cục nhỏ, trong cách cục nhỏ có cách cục nhỏ hơn. Địa huyệt phân thành đẳng cấp, nhiều người đều biết điều đó. Nó có hai tầng lớn: một là tầng thế gian; hai là tầng xuất thế gian. Việc tu luyện của Đạo gia và Phật gia trong truyền thống Trung Quốc nhắc đến hai khái niệm, tu luyện thế gian pháp và xuất thế gian pháp, nói một cách đơn giản thì một cái là thăng hoa trong cảnh giới tinh thần thế gian, một cái là thăng hoa trong cảnh giới tinh thần vượt ra ngoài phạm vi thế gian, giống như La Hán, Bồ Tát, Phật tổ trong Phật giáo nói đều vượt ra ngoài thế gian nhưng uy đức và mức độ ngộ đạo cũng có khác nhau. Trong Phong thủy cũng tồn tại ranh giới đẳng cấp lớn giữa tầng thế gian và tầng xuất thế gian. Đương nhiên tầng thế gian và tầng xuất thế gian này với khái niệm thế gian pháp và xuất thế gian pháp là không giống nhau. Tầng thế gian na ná như sự phân chia đẳng cấp quan lại thời cổ Trung Quốc, cũng chia thành các đặc điểm văn, võ, trung chính cửu phẩm. Thời cổ Trung Quốc rất nhiều đại thần phụ tá cho Hoàng đế đều là người tu luyện, biết việc trời đất cho nên đã đưa một số hệ thống của trời đất vào dùng trong nhân gian, sự phân chia đẳng cấp quan lại là như vậy. Ở trên nói rằng “thất phẩm” mới gọi là nhập cách cục, bởi vì “thất phẩm huyện lệnh” đã tự xử lý một mặt, độc lập làm chủ, còn bát phẩm, cửu phẩm chưa yêu cầu tự xử lý, chỉ phụ trợ cho thất phẩm, cho nên không có cách cục đơn độc. Địa huyệt ngoài đặc điểm văn võ khác nhau ra, sự phân chia đẳng cấp chủ yếu lấy đạo đức làm tiêu chuẩn cân nhắc. Trung Quốc thời cổ ngoài chế độ khoa cử, việc tuyển chọn quan lại còn một con đường nữa gọi là cử “hiếu liêm”, nghĩa là địa phương nào có người hiếu thuận với cha mẹ, nhân phẩm cũng rất liêm khiết, nhân dân trong vùng đều ca ngợi, quan viên địa phương sẽ tiến cử anh ta, sau khi Hoàng đế cho người đến khảo sát, nếu quả đúng như vậy thì sẽ cất nhắc anh ta làm quan. Hiếu thuận, liêm khiết là cái biểu hiện ra bên ngoài của một người có đạo đức, ngày xưa triều đình lấy cái đó làm tiêu chuẩn cân nhắc để khảo sát quan viên. Phương thức này đã từng là cách tuyển chọn quan viên chủ yếu của vương triều nhà Hán hùng mạnh. Ở tầng xuất thế gian thực ra không thể gọi là Phong thủy nữa, nói chuẩn xác hơn thì không còn là khái niệm Phong thủy mà bách tính dân gian hiểu nữa, hàm nghĩa đó đã không thể bao quát hết nội hàm rộng lớn trong đó. Thậm chí rất nhiều tên không gọi là huyệt nữa, mà gọi là “vị” hoặc “tọa”, Phật tọa, liên đài v.v. là tên gọi của Tiên, Phật, Thánh nhân không liên quan gì đến con người nữa. Giữa tầng thế gian và tầng xuất thế gian còn có một số phẩm cấp đặc biệt. Trên nhất phẩm tột cùng của cửu phẩm là Đế hoàng đại địa, cũng gọi là Thiên tử địa. Đế hoàng đại địa quan hệ tới cách cục thiên hạ, chịu sự sắp đặt nghiêm ngặt của trời, người hoặc gia tộc không lãnh mệnh trời, không chịu mệnh ở trời thì hoàn toàn không thể nào có được nó. Tương truyền rất nhiều vị hoàng đế đều do các thiên thần được an bài xuống hạ giới làm, cho nên hoàng đế ngày xưa gọi thiên tử. Dù là Đế hoàng địa hay Thiên tử địa cũng đều là cách gọi của dân chúng bình thường, kỳ thực danh xưng đích thực không phải gọi như vậy, sinh mệnh cao cấp ở không gian khác gọi chỗ đất có đẳng cấp và loại hình này là “càn khôn địa”. Chỗ đất cho ra đời một hoàng đế hoặc một triều đại thì gọi là “càn khôn địa”. Từ trước đến nay, có thể cho con người cũng chỉ có như vậy. Nước Trung Hoa 5000 năm nay, từ Hạ Thương Chu cho đến triều Thanh, có thể gọi là triều đại thì cũng chỉ lèo tèo khoảng mười dòng họ, giữa chừng lại ở vào tình trạng chia năm xẻ bảy, như Tam quốc, Ngũ đại thập quốc v.v. Chữ “triều (朝)” trong Giáp cốt văn gồm hai cây cỏ nhỏ, mặt trời mặt trăng lặn mọc một cách tự nhiên, thời gian càng lâu chúng vận hành thuận theo ý trời; chữ “đại (代)” gồm nhân(人)+dặc(弋), thời cổ “dặc” chỉ chiếc côn gỗ trên cây giáo (戈), cái lưỡi kim loại không hỏng nhưng chiếc côn gỗ thì phải thay thường xuyên, cho nên “đại” ngụ ý là thay người, còn “triều” thì rất dài, Hoàng đế trong đó thì mỗi đời lại thay đổi người khác; “quốc (國)” nghĩa là trong một vùng đất một người cầm cây giáo giơ lên, chỉ phạm vi lãnh thổ mà người ta dùng vũ lực chinh phục được. Xét về thiên ý và phạm trù đạo đức thì “triều” cao hơn “đại” và “quốc”. Quân chủ của “triều” được gọi là “hoàng (皇)”, còn quân chủ của “quốc” được gọi là “vương (王)”. Trên đất Thần châu cái được gọi là “quốc” thời gian đều không dài. Ở tầng thế gian có những cái tồn tại rất đặc biệt, chúng chẳng kém gì càn khôn địa, đối ứng với thế gian con người, chúng ta có thể biết có rất nhiều gia tộc lớn kéo dài rất lâu, thậm chí vượt qua cả các gia tộc đế hoàng như Lý Đường, Triệu Tống v.v., chẳng hạn gia tộc họ Khổng kéo dài hơn 2000 năm, vì Khổng Tử truyền bá Nho học chấn hưng giáo dục, tích đức rất lớn, nên phúc kéo dài tới con cháu đời sau; lại còn gia tộc Trương Thiên Sư không những kéo dài hơn ngàn năm mà còn có rất nhiều người tu luyện, đó là chuyện rất khác thường. Càn khôn địa lấy “quý” làm đặc điểm chủ yếu để phân biệt và hiển lộ ra. Gia tộc họ Khổng thì lấy “phúc” làm đặc điểm chủ yếu để hiển lộ, còn gia tộc Trương Thiên Sư lại một trường hợp khác, hiển lộ bởi “tu luyện địa”. Cho nên tiêu chuẩn phân biệt lấy “quý” làm đặc điểm chủ yếu không thể gom tất cả lại một cách lộn xộn để đánh giá địa huyệt nào tốt, địa huyệt nào không tốt. Đương nhiên, chúng ta biết rằng, rất nhiều địa huyệt vừa có “quý” vừa có “phúc“, hoặc những đặc điểm khác. Ví dụ một địa huyệt nào đó, đặc điểm nó cho biết là “phú quý linh tiên”, như vậy địa huyệt này rất có thể sẽ cho ra đời bốn chi phái, trong đó một chi phát “phú”, một chi phát “quý”, một chi phát “linh”, nghĩa là khá linh thông, kiểu như trường hợp các thuật sỹ giang hồ, còn một chi sẽ sinh ra những người tu luyện; cũng có thể địa huyệt này sẽ cho ra đời một chi hoặc một người gồm đủ bốn đặc điểm “phú quý linh tiên”. Có người nói, phú quý ư? Có phú thì có quý, có quý thì có phú, hai cái chẳng phải là một đó sao? Thực ra không phải, nếu trời xác định anh gồm cả hai đặc điểm “phú, quý”, thì anh sẽ vừa phú vừa quý; nếu trời xác định anh chỉ có một đặc điểm, ví dụ “quý” chẳng hạn, vậy thì anh đúng là chỉ có quý thôi Chúng ta biết rằng thời xưa Trung Quốc có rất nhiều thanh quan, nhiều người làm quan tới ngôi vị rất cao, thậm chí quan vị tới cực phẩm, nhưng thanh bần nghèo rớt, nhà chỉ bốn bức vách, sử sách ghi chép tới lúc chết không mua nổi một quan tài tôn tốt một chút. Phú cũng vậy, quý cũng vậy, là do trời sắp đặt, mạng anh có thì sẽ có, không thể có sức truy cầu. Là của anh, anh cứ đường đường chính chính, bằng nỗ lực gian khổ, tự nhiên sẽ đạt được. Trong lịch sử thân phận, địa vị của những vị thanh quan kia, nếu họ muốn giàu có chẳng phải là chuyện hết sức dễ dàng sao? Nhưng họ làm việc một cách công tâm, chỉ nhận bổng lộc nhà nước ban cho, cái mà ngày nay chúng ta gọi là “lương”, thu nhập đường hoàng quang minh. Đó là thu nhập chính đáng không có bất cứ vấn đề gì mà họ có được, sau khi đã làm hết chức trách, đã cống hiến một cách cực nhọc cho công việc. Có một số người vừa phú vừa quý vì đã lập công lớn, được Hoàng đế hoặc triều đình đặc biệt tặng thưởng, “phú quý” đó là chính đáng. Những người làm quan mà trong số mạng chỉ có “quý”, nhưng xuất phát từ lòng dạ và dục vọng, lợi dụng chức quyền mưu giành lợi ích riêng tư, bây giờ gọi là thu nhập mờ ám, vì vậy mà trở nên giàu có, đó là những kiếm chác không chính đáng, vậy nên phải dùng phúc đức của mình hoán đổi. Bằng việc tiêu mòn phúc đức của mình để đổi lấy loại thu nhập không chính đáng này, một khi phúc đức đã hao mòn đến một mức độ nhất định thì sẽ có chuyện xẩy ra, hoặc sự việc bại lộ bị bắt, hoặc bị chết thì đời sau phải trả. Hãy xem người ăn mày ngoài phố, đừng thấy bây giờ anh ta thê thảm như thế, rất nhiều đời trước đây đều là quý nhân quan cao chức trọng, sống xa hoa dâm đãng trên ngọc ngà nhung lụa. Cho nên cổ nhân thường nói chuyện hành thiện tích đức để kiếp sau đầu thai có được cuộc sống tốt đẹp là có lý. Nhưng dù lấy đặc điểm nào để phân biệt tầng thứ đẳng cấp, thì tiêu chuẩn đánh giá căn bản nhất vẫn là đạo đức. Tầm mức đạo đức càng cao thì phúc phận càng lớn, thời gian gia tộc hưng thịnh theo đó kéo dài càng lâu. Ở vùng tây nam Trung Quốc có một gia tộc thổ ty, ông tổ là Dương Đoan đời Đường từ Thái Nguyên đến Bá Châu vùng tây nam Trung Quốc. Gia tộc này được trời chỉ định thống trị 600 năm, cho tới thời kỳ đầu nhà Minh, vì gia tộc này nhiều đời nay tích đức hành thiện, phúc trạch phổ nhuận một phương. Cháu 13 đời của Dương Đoan là Dương Xán cũng công lao rạng rỡ, không những có công khai phá mở mang cương thổ mà còn giáo hóa trăm họ. Sử sách chép rằng: “Tính ông hiếu thảo, yêu mến bạn bè, an nhiên kiệm ước, điều hành chính sự khoan hòa đơn giản, làm cho dân chúng được dễ dàng thuận tiện”. Vùng Bá Châu do ông cai quản “phong tục địa phương đã có nhiều thay đổi”, “nghiễm nhiên sánh vai với văn vật vùng trung thổ”. Trời cảm động trước công tích của gia tộc nên đã tưởng thưởng cho gia tộc này kéo dài thêm hơn một trăm năm nữa. Cho tới năm Đại Lịch nhà Minh người nắm quyền hành đời cuối cùng của gia tộc này là Dương Ứng Long làm phản, bị triều đình nhà Minh sai đại tướng Lý Hóa Long mang quân tiêu diệt mới kết thúc, tổng cộng tới hơn 700 năm. Rất nhiều thầy Phong thủy tu luyện đắc đạo thường có thể tiếp xúc với huyệt vị có đẳng cấp cao, địa linh thần sẽ cho biết huyệt vị này có thể chủ quản một triều đại 7 , 8 trăm năm, hơn một ngàn năm, mấy ngàn năm, thậm chí hơn vạn năm. Điều đó thật kỳ lạ, phải biết rằng, trong lịch sử Trung Quốc nhà Chu là triều đại lâu nhất thì cai trị thiên hạ cũng không quá 8 trăm năm, vậy thì những huyệt vị vừa nói kia là thế nào? Chẳng lẽ thời gian huyệt vị chủ quản triều đại càng ngắn thì tầng thứ và năng lực của nó cũng theo đó mà càng thấp sao? Thực ra cũng không chắc. Ở đây còn liên quan đến vấn đề thiên mệnh, ví dụ một địa huyệt chủ quản triều đại nào đó trong lịch sử Trung Hoa, có thể chẳng phải tầng thứ huyệt vị đó không đủ, năng lực không đủ, mà là thiên mệnh an bài chỉ có ngần ấy năm, vậy nên có thể chỉ sử dụng một phần tầng thứ và năng lực đối ứng trong đó để tạo ra tác dụng, phần dư thừa sẽ giữ lại đó mà thôi. Còn một nguyên nhân nữa là xã hội loài người có sự tồn tại những chu kỳ văn hóa khác nhau, giới khoa học chúng ta ngày nay gọi nó là “văn minh tiền sử”. Ngày nay nhiều phát hiện khảo cổ đã chứng minh sự tồn tại của văn minh tiền sử của loài người, hơn nữa không chỉ một lần, nhiều lần sau khi nền văn minh bị hủy diệt, chỉ còn lại một số ít người và lại sáng tạo ra nền văn minh mới. Điều đó nhìn từ góc độ Phong thủy là sự thật, tầng đất này gọi nó là “đại càn khôn địa”, trên “càn khôn địa” chỗ đất thống lãnh một thời kỳ văn minh thì gọi là “đại càn khôn địa”. Có một số nền văn minh tiền sử, có thể thời gian tồn tại rất dài, trong đó có thể có những triều đại tồn tại hơn một ngàn năm, mấy ngàn năm, thậm chí hơn vạn năm. Đại càn khôn địa mà hiện nay người viết bài này biết được là 50 vạn năm. Trung Hoa đến nay có nền văn minh 5000 năm, điều đó có nghĩa là, chỗ đất thống lãnh văn minh Trung Hoa ít nhất cũng có thể cai quản 5000 năm. Người khai sáng ra văn minh Trung Hoa là Hoàng Đế, được gọi là “văn minh sơ tổ”, cũng tức huyệt vị có liên quan đến Hoàng Đế có thể là huyệt vị thống lãnh văn minh Trung Hoa. Nói tới đại càn khôn địa cũng như văn minh tiền sử, chúng tôi xin nói một chút về thời kỳ văn minh lần trước, tức là tình hình thời kỳ văn minh trước đây kế liền với thời kỳ văn minh của chúng ta lần này. Giữa châu Mỹ và châu Âu hiện nay có một khối lục địa gọi là “Atlantis”, đó là nơi văn minh phương Tây phát triển nhất lần trước. Mới đầu họ tín ngưỡng thần cho nên văn minh rất phát triển. Những người đạo đức cao thượng đều có thể bay, không phải bay cao mà là kiểu bay cách mặt đất tương đối gần. Đại khái 9000 năm trước, khoa học của họ phát triển tới trình độ nào mà năng lượng sử dụng là năng lượng chế tạo trong không khí, không ô nhiễm. Về cơ bản họ không dùng nhiên liệu một lần như than đá và dầu lửa. Họ thậm chí còn có kỹ thuật có thể chế tạo mặt trăng (theo các điều tra nghiên cứu khoa học khám phá mặt trăng, giới khoa học dự đoán mặt trăng có thể là rỗng, không phải vệ tinh, mà là khí cụ bay giống như trái đất, chỉ có điều bề mặt phủ một lớp đá rất dày), có thể tạo ra rất nhiều khí cụ bay cỡ lớn, chu du trong một phạm vi nhất định bên ngoài hệ Ngân hà. Vậy ở phương Đông thì sao, cũng tức là trung tâm văn minh lần trước xuất hiện tại vùng đất Trung Hoa ngày nay, cách nay khoảng 2 vạn năm, phạm vi bao phủ bao gồm trung thương lưu Hoàng hà, Trường giang gồm cả Mông cổ, Côn Lôn sơn, Tân cương, Cam túc, Sơn tây, Thiểm tây v.v. Đường hướng nghiên cứu khoa học của văn minh phương Đông lần trước phải nói là đường hướng nghiên cứu khoa học nhân thể, cũng tức là bắt tay trực tiếp từ đạo đức con người, nâng cao nền văn minh của mình lên. Từ kẻ cầm quyền cho đến những người bình thường, đạo đức đều rất cao thượng. Có thể nói, so với tiêu chuẩn Ngụ thường của văn minh lần này thì cao hơn rất nhiều. Do trình độ văn minh của họ rất cao, cho nên mọi người sống tới 3 trăm 5 trăm tuổi chẳng phải là chuyện quá hiếm hoi! Những thứ như “Kinh dịch”, Hà đồ, Lạc thư Hoàng đế nội kinh v.v. chúng ta đều biết trong văn minh lần này mà mọi người tìm tòi chưa tới đâu, thực ra những cái đó chỉ là một chút văn minh lần trước mà thần có ý lưu lại cho con người mà thôi. (Còn tiếp)
  23. Nguyên Nhân Của Khổ Muốn thoát ly bể khổ thì chỉ có phương pháp duy nhất là tu luyện(Ảnh: EET / The Epoch Times) Một ngày, A Na Luật cùng 4 vị đồng tu mới gia nhập ngồi thảo luận với nhau: Cái gì là khổ nhất? Một vị nói: “Con người khổ nhất là lòng tham dục, khi lòng tham dục không được thỏa mãn, thật sự là khổ. Không ngôn ngữ nào diễn tả được”. Một vị nói: “Trong nhân sinh, khổ nhất là không được ăn no, dạ dày cứ kêu réo mãi, thật là khổ khó có gì sánh được”. Một vị nói: “Con người khổ nhất là khi tức giận, oán thù, nộ khí bốc lên, lửa từ mắt phóng ra, khi đó cái tâm thật là quá khổ”. Một vị lại nói: “Con người khổ nhất là sự nhát gan, trước sợ lang sói, sau sợ hùm beo, không có một giây phút nào cảm thấy bình an”. Đúng lúc Phật đi qua nghe thấy bọn họ đàm luận bèn đưa ra lời giáo huấn: “Các con đều chưa nói được cái gốc của khổ, tất cả những điều các con nói đều xuất phát từ những thói quen từ tiền kiếp dưỡng thành, nó khiến cho các con đưa ra những thiên kiến đó. Trong số các con, có người từng là chim bồ câu chuyển thế, vì vậy nên cho rằng dục niệm là khổ; có người kiếp trước là con chim ưng bị đói chuyển thế nên cho rằng đói là khổ, có người là rắn độc chuyển sinh nên nghĩ sân hận là khổ, có người kiếp trước là thỏ nên luôn cảm thấy sợ hãi là khổ. Tất cả những điều khổ nhất trên thế gian này, đều xuất phát từ thân thể”. Bị làm người chính là phải chịu khổ. Vì thế nếu muốn thoát ly bể khổ thì chỉ có phương pháp duy nhất là tu luyện. (Theo “Pháp Cú Kinh”)
  24. Anh hoangnt . Sau khi anh đọc các bài theo đường link này với tâm Thanh Tịnh , anh sẽ thấy cảnh giới của mình thăng tiến và khi nhìn lại anh sẽ thấy những điều mình hiểu biết hôm nay thật là quá tức cười. Tu tức là tu tâm( Tu bỏ cái tâm người thường đi như tâm tật đố, tâm tranh đấu , tâm hiển thị, ngạo mạn , tâm hoan hỉ rất nhiều các tâm xấu xa khác ......... ) khi còn tâm người thường thì chân lý làm sao hiển hiện được. Tôi không có ý gì tôi cũng chưa đọc những gì anh viết thật ra tôi cũng không đọc những bài viết của mọi người trong chủ đề này.
  25. 7. Sự an bài các ma nạn và nguyên do Thầy trò Đường Tăng trải qua 81 nạn mới đến được Tây Thiên. Sự an bài những ma nạn này nhìn bề ngoài là đi qua những nơi nào đó, gặp phải những ma nạn như thế nào đó, nhưng các an bài này lại đều không phải là không có căn cứ, mà là căn cứ vào sự tu luyện của con người và việc tu luyện tâm tính mà an bài. Những nơi đi qua và các ma nạn gặp phải đều có liên quan đến tâm tính của bản thân và nội tạng hoặc huyệt vị của thân thể. Lấy một vài ví dụ từ khi Tôn Ngộ Không quy thuận Đường Tăng trở về sau thì có thể thấy được rất rõ ràng. Ngộ Không thuộc tâm, một khi tâm quy chính, tự nhiên sẽ cần phải thanh trừ lục căn, cho nên mới gọi là “lục căn thanh tịnh”. Lục căn trong Phật giáo là chỉ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Trong truyện lần lượt dùng tên của sáu tên cướp (lục tặc) để hình dung lục căn, đó là: Nhãn Khán Hỷ (Mắt thấy mừng), Nhĩ Thính Nộ (Tai nghe giận), Tỵ Khứu Ái (Mũi ngửi thích), Thiệt Thường Tư (Lưỡi nếm nghĩ), Thân Bổn Ưu (Thân vốn lo), Ý Kiến Dục (Ý thấy muốn). Ngộ Không đánh chết sáu tên cướp này, thực ra là miêu tả hình tượng hóa về cách làm cho lục căn được thanh tịnh. Ngộ Không làm “tâm viên” đương nhiên phải chịu sự quản thúc của chủ nguyên thần là Đường Tăng, cho nên Đường Tăng mới được Bồ Tát truyền thụ cho “Khẩn cô nhi chú” (thần chú xiết chặt), “Khẩn cô nhi chú” này cũng được gọi là “Định tâm chân ngôn”, hiển nhiên là nhắm vào Tôn Ngộ Không. Khóa chắc được tâm viên rồi, tiếp theo là thu phục Bạch Long Mã. Đề mục của hồi này có câu “Ý mã thu cương”. Khóa chắc được tâm thì cũng là nắm được ý rồi, chính là “tỏa tâm viên thuyên ý mã” (khóa tâm vượn, buộc ý ngựa). Ý chịu sự quản thúc của tâm, Tôn Ngộ Không trước kia xuất thân là chức quản mã (Bật Mã Ôn), tâm ý tương hợp, tự nhiên như một. Sau khi tâm ý tương hợp, cả Tôn Ngộ Không và Bạch Long Mã cùng chủ nhân (Đường Tăng) đi Tây Thiên thỉnh kinh, cũng là bắt đầu chân chính tu luyện. Vậy thì lúc này điều phải làm được là cấm dục, đây cũng là dụng ý của việc đeo “Cấm cô chú” (thần chú vòng cấm) cho Hắc Hùng Tinh. Cấm được dục rồi, đương nhiên phải thu phục việc tham luyến mỹ sắc của Trư Bát Giới. Người ta khi chiểu theo giới luật mà tu luyện, thì tâm tính tự nhiên sẽ được nâng cao, khi này Đường Tăng cũng đã đến lúc chiểu theo điều cốt lõi trong kinh điển Phật giáo, tức “Tâm Kinh” mà tu trì bản thân rồi. Phần trước đã nói, tu luyện trên đường đi thỉnh kinh, rất nhiều đều là dựa vào lý luận tu luyện của Đạo gia. Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới đại biểu cho sự hòa hợp của âm dương trong cơ thể, là không rời khỏi tác dụng của tì tạng, Sa Hòa Thượng chính là khởi tác dụng của tì tạng. Bởi vì tì (lá lách) trong ngũ hành thuộc về thổ, màu sắc là màu vàng, thêm nữa Sa Hòa Thượng về thuộc tính lại là nhân hậu và hài hòa, ông còn được gọi là ‘hoàng bà’, tức có ý là ‘người mai mối’. Trước khi thu phục Sa Hòa Thượng, Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới hợp tác cùng đại chiến với Hoàng Phong quái, bởi vì ‘kim công’ và ‘mộc mẫu’ thiếu mất sự điều hòa của ‘hoàng bà’, nên mới có trận đại chiến với Hoàng Phong quái. Yêu quái Hoàng Phong bị thu phục rồi, cũng là đến lúc thu phục Sa Hòa Thượng. Thầy trò Đường Tăng và Bạch Long Mã, năm vị tập hợp đầy đủ rồi, thì bắt đầu quan khảo nghiệm đầu tiên của việc chân chính tu luyện, cũng là khảo nghiệm về tâm sắc dục, đây chính là nguồn gốc của “Tứ thánh thí thiện tâm” (thử thiện tâm của bốn vị thánh tăng). Quan ải này qua rồi, ngũ tạng của thân thể cũng tự nhiên an định yên ổn; đối với người tu luyện mà nói, tại tầng thứ này đã bắt đầu xuất nguyên anh. “Ngũ Trang” trong “Ngũ Trang quán” thực chất là chỉ ngũ tạng trong thân thể người. Quả nhân sâm có hình dáng giống như đứa trẻ, chính là nói về nguyên anh. Bởi vì nguyên anh được sinh ra ở bộ vị đan điền khi người ta tu luyện đến một tầng thứ nhất định, là thứ thuộc về tiên thiên, cho nên nói rằng thuộc tính của nguyên anh và ngũ hành là thuộc tính tương úy (thuật ngữ trong Trung y, chỉ độc tố hoặc tác dụng phụ của một vị thuốc có thể hạ thấp hoặc loại bỏ bởi một vị thuốc khác). Trong Phật gia nguyên anh được gọi là Phật thể, cũng được gọi là thân kim cương bất hoại. Sau khi nguyên anh được sinh ra, tự nhiên cần phải thanh trừ thây ma trên người, đó chính là chương tiết nói về ba lần đánh chết Bạch Cốt Tinh. Ở trên nói về những lý luận trong tu luyện của Phật gia, những lý luận của Đạo gia còn có nhiều hơn. Đạo gia tu luyện giảng về thông chu thiên, chu thiên của Đạo gia cũng được gọi là “hà xa chu thiên” (chạy xe vòng quanh sông), trong “Tây Du Ký” cũng có thể hiện (chẳng hạn đoạn nói về đấu phép tại Xa Trì quốc). Khi Ngộ Không đến Nam Hải mời Bồ Tát đi hàng phục Hồng Hài Nhi, Ô Quy hành lễ với Bồ Tát, Bồ Tát nói không cho Thiện Tài Long Nữ và Ngộ Không cầm bình tịnh thủy đi cùng nhau, bởi vì Long Nữ tướng mạo xinh đẹp, Bồ Tát sợ Ngộ Không khởi tà niệm, Ngộ Không nói: “Từ trước đến nay không làm việc như vậy”. Sau đó Bồ Tát cho Ngộ Không đi trước, Ngộ Không nói: “Đệ tử không dám trổ tài trước mặt Bồ Tát. Nếu lộn cân đầu vân, lộ ra thân thể, sợ Bồ Tát mắng con bất kính.” Những lời này làm cho người đọc không nhịn được cười, nhưng lại ẩn chứa thời gian thông chu thiên, hiện tượng dương khởi khi chân khí đi qua âm bộ. Đồng thời cũng thuyết minh rằng, chỗ Bồ Tát ở chỉ có Thiện Tài Long Nữ, để lại “phục bút” cho việc thu Hồng Hài Nhi làm Thiện Tài Đồng Tử sau này. Tiếp theo là bắt Đà Long tại sông Hắc Thủy, chính là nói về quá trình nguyên khí đi qua mệnh môn. Bởi vì màu sắc đối ứng với thận tạng trong ngũ hành là màu đen, mệnh môn ở giữa hai thận, thầy trò Đường Tăng đi qua sông Hắc Thủy cũng chính là đi qua huyệt mệnh môn. Do mạch đốc thuộc dương, khí hậu được miêu tả trong truyện cũng là “tam dương chuyển vận, mãn thiên minh mị khai đồ họa” (ba mạch dương vận chuyển, khắp trời mở ra đẹp đẽ như tranh vẽ). Tiếp theo là qua quan giáp tích. Vị trí của giáp tích là ở phía lưng hai bên cột sống, từ mỏm gai đốt sống cổ thứ nhất đến mỏm gai đốt sống lưng thứ năm, mỗi mỏm gai đều sang hai bên khoảng một đốt ngón tay. Trong truyện dùng ‘tiểu lộ’ (con đường nhỏ) để ví về huyệt giáp tích, nói rằng tiểu lộ nằm ở giữa hai cửa ải lớn, đường ở dưới ải đều là dốc thẳng đứng, 500 vị hòa thượng không kéo được chiếc xe chở đầy ngói qua. Tôn Ngộ Không dùng thần thông, kéo chiếc xe qua hai cửa ải, xuyên qua huyệt giáp tích. Khi qua quan này, ba con yêu quái Hổ Lực Đại Vương, Lộc Lực Đại Vương và Dương Lực Đại Vương đấu phép thuật cùng Tôn Ngô Không và bị diệt trừ, điều này nói lên ý nghĩa thực sự, đó là: khi chu thiên vận hành qua huyệt giáp tích, không thể dùng ngoại lực, dùng ý quá nhanh, quá mạnh, quá yếu đều không được, mà chỉ căn cứ một niệm của bản tính, tự nhiên sẽ qua. Nếu không sẽ nhập sang bàng môn. Qua được huyệt giáp tích, theo đường đi của chu thiên thì sẽ tiếp tục đi lên, trong truyện miêu tả là đến sông Thông Thiên. Sông Thông Thiên ý nói là huyệt bách hội trên đỉnh đầu, tả về sông Thông Thiên trong truyện có câu thơ “Trường lưu quán bách xuyên” (dòng chảy dài thông suốt trăm con sông), mà huyệt bách hội trên thân thể chính là nơi kinh mạch giao hội, huyệt vị này lại nằm ở ngay trên đỉnh đầu, có thể nói đây là nơi tương thông với trời. Nê Hoàn Cung lại là nơi đối ứng với huyêt bách hội trong đại não, cũng chính là nơi chủ nguyên thần trú ngụ, tên của yêu quái kia là “Linh Cảm Đại Vương” cũng đã nói rõ hơn về điểm này. Đến sông Thông Thiên, thì con đường thỉnh kinh đi được một nửa rồi, tức là đã đi được năm vạn bốn nghìn dặm. Nơi này lại chính là đỉnh đầu của con người, cũng chính là điểm giao hội của hai mạch nhâm và đốc. Bên bờ sông Thông Thiên có Trần Gia trang, có anh em Trần Trừng và Trần Thanh; Trần Trừng có một cô con gái tám tuổi tên Nhất Xứng Kim; Trần Thanh có một cậu con trai bảy tuổi tên là Trần Quan Bảo. Thầy trò Đường Tăng cứu được cũng chính là đôi trai gái này. Đương nhiên, đây cũng là một cách ví von, một nam một nữ này chính là chỉ “anh nhi sá nữ phối âm dương”. Trương Tam Phong từng có câu: “Hoàng bà dẫn khứ anh nhi, thượng nê hoàn, thấu huyền quan, anh nhi sá nữ lưỡng đoàn viên”. Còn có người nói: “Huyệt giáp tích trên thân người, ví như sông Ngân trên trời. Sông Ngân ngăn cách nhưng lại có Linh Thước làm cầu, còn có cách nói là bắc cầu Hỉ Thước. Lưỡi của người cũng gọi là cầu Hỉ Thước. Phàm khi tạo đan, thì lấy hoàng bà dẫn nguyên anh lên nê hoàn, cùng sá nữ giao hội, nên cũng nói là lên cầu Hỉ Thước.” Khi qua quan này, có chương tiết nói về Linh Cảm Đại Vương dùng thần thông làm tuyết rơi đông cứng sông Thông Thiên. Trong “Cửu chuyển kim đan tu luyện pháp”, khi tu luyện đến bước xuất nguyên anh này, trong định sẽ phát hiện vùng nê hoàn cho đến bách hội giống như là khoảng trống hư không, nhưng lại có cảnh tượng nhiều hoa tuyết bay. Trong “Tây Du Ký” nhiều lần nhắc đến tu luyện “Cửu chuyển kim đan thuật”, ví dụ, sau khi Tôn Ngộ Không lấy trộm kim đan của Thái Thượng Lão Quân, Lão Quân nói với Ngọc Đế: “Trong Đạo cung của Thần, luyện được một ít ‘cửu chuyển kim đan’, để Bệ Hạ làm ‘Đan nguyên đại hội’, không ngờ bị kẻ trộm lấy mất.” Ngay cả Trư Bát Giới tự kể lại với Tôn Ngộ Không về kiếp trước của mình cũng nói: “Đắc truyền cửu chuyển đại hoàn đan, Công phu trú dạ vô thời khuyết”; Tôn Ngộ Không còn nói khoác về Kim Cô bổng của mình: “Bổng thị cửu chuyển tấn thiết luyện, Lão Quân thân thủ lư trung đoàn” (gậy sắt là thép tinh luyện qua chín lần, do đích thân Lão Quân luyện trong lò). Cuối cùng một nạn bổ sung thêm cho Đường Tăng cũng là tại sông Thông Thiên, có câu thơ như sau: “Bỉnh chứng tam thừa túy xuất nhập, Đan thành cửu chuyển nhâm chu toàn”. Qua được sông Thông Thiên rồi, Ngộ Không, Bát Giới, Sa Tăng vì tâm trộm cắp nên mới dẫn đến tai họa. Yêu quái là con trâu xanh của Lão Quân đã trộm Kim Cương trác của ông rồi xuống nhân gian tác quái. Kim Cương trác này cũng là vật Thiên Linh Cái năm xưa Lão Quân dùng để đánh Ngộ Không; vật này xuất hiện ở đây, chính là ý nói chu thiên cần phải thông qua đỉnh đầu rồi. Độc giả khi đọc đến đoạn Tôn Ngộ Không đại náo Thiên Cung đều biết, Thần tướng khắp trời nhưng không làm gì được Ngộ Không, đó là biểu hiện hình tượng hóa một người khi tu luyện đến bộ phận đầu, tại vị trí này cần thông khiếu quá quan (thông huyệt vị). Ví dụ “Minh Thiên cổ” (đánh trống trời) trong tu luyện truyền thống, chính là dùng hai tay bịt kín hai tai lại, ngón tay đặt tại huyệt ngọc chẩm gõ nhẹ; mà Lôi phủ trong Thiên Cung chính là chỉ mũi người. Nơi ở “cung Đâu Suất” của Thái Thượng Lão Quân là ở bên trên ba mươi ba tầng trời. Khi xưa Tôn Ngộ Không tại nơi đây đã bị đẩy vào lò Bát Quái, về bản chất là chỉ đỉnh đầu của con người. Tê Giác Đại Vương cản trở thầy trò Đường Tăng là do con Thanh Ngưu (trâu xanh) của Thái Thượng Lão Quân biến hóa thành, nơi ở của nó là động Kim Đâu thuộc núi Kim Đâu, có thể coi là tên gọi khác của cung Đâu Suất. Tôn Ngộ Không mời Thiên Vương, Lôi Công, Hỏa Đức, Thủy Bá, gặp Phật Như Lai, mời thập bát La Hán, giống như năm xưa Ngộ Không đại náo Thiên Cung, thực chất là miêu tả hình tượng hóa khi chu thiên vận hành quá quan thông khiếu. Cuối cùng Lão Quân dùng Kim Cương trác xỏ mũi trâu xanh và chế phục được nó, việc này được ví von như khi chu thiên vận hành đến mũi vậy. Trên đường thỉnh kinh đi qua Tây Lương nữ quốc, bởi vì Đường Tăng và Bát Giới đã uống nước sông Tử Mẫu mà có thai khí, đây là chỉ trong tu luyện đã nhập bàng môn. Đường Tăng và Bát Giới trong ngũ hành đều thuộc tính thủy, thuật ngữ trong tu luyện gọi là ‘hống’ (thủy ngân), Tôn Ngộ Không là “kim công”, thuật ngữ trong tu luyện cũng gọi là ‘diên’ (chì). “Chân diên hợp chân hống” (chì tinh khiết kết hợp với thủy ngân tinh khiết), tự nhiên sẽ sinh ra tiên đan. Nhưng Đường Tăng và Bát Giới lại uống nước, cho nên mới có tà thai. Có tà thai rồi thì làm thế nào? Chính là dùng nước suối Lạc Thai ở động Phá Nhi núi Giải Dương để phá giải. Nước suối này chính là chỉ nước bọt của người, thuật ngữ trong tu luyện gọi là ‘kim tân ngọc dịch’. Động Phá Nhi bị Như Ý chân tiên đổi tên thành Tụ Tiên am. Am là nơi cư trú của ni cô, Như Ý chân tiên là thân nam, cớ sao lại đổi tên như vậy? Bởi vì thủy trong Bát Quái có quẻ tượng đối ứng là Khảm (☵) với một hào dương ở giữa hai hào âm, chính là ý nói trong am có một thân thể nam cư trú. Tôn Ngộ Không vì sao không dùng phân thân để chống lại Như Ý chân tiên, để chân thân đi lấy nước? Bởi vì ‘chân diên chân hống’ bắt buộc phải qua sự điều hòa của thổ mẫu, do đó ắt phải là Sa Hòa Thượng đi lấy nước mới giải được tà thai. Trong “Tây Du Ký” có câu thơ viết: “Chân diên nhược luyện tu chân thủy, Chân thủy điều hòa chân hống can. Chân hống chân diên vô mẫu khí, Linh sa linh dược thị tiên đan. Anh nhi uổng kết thành thai tượng, Thổ mẫu thi công bất phí nan. Thôi đảo bàng môn tông chính giáo, Tâm quân đắc ý tiếu dung hoàn.” Hai nạn theo sau của thầy trò Đường Tăng ở Nữ Nhi quốc xem ra có liên quan đến việc vượt qua quan sắc, đương nhiên đây cũng chỉ là một phương diện, thực chất lại là sự miêu tả hình tượng hóa khi chu thiên vận hành đến bộ vị tâm tạng. Tình tiết câu chuyện Tôn Ngộ Không ba lần mượn quạt Ba Tiêu rất hấp dẫn người đọc, nếu đặt trong kết cấu chỉnh thể của “Tây Du Ký” và sự sự an bài việc tu luyện thân thể người, thì đó chẳng qua chỉ là thông qua điều tức để đạt được sự điều chỉnh của các tạng trong thân thể. Uy lực của quạt Ba Tiêu lớn như thế, miêu tả như vậy kỳ thực cũng là chỉ bộ phận lưỡi của người. Trong tu luyện truyền thống, có một cách hô hấp nạp thải khí gọi là “lục tự ca quyết”, sáu chữ này lần lượt là “hư, ha, hô, xi, suy, hi”, ứng với tạng phủ kinh lạc lần lượt là ‘can, tâm, tì, phế, thận, tam tiêu’. Khi tu luyện yêu cầu mũi hít vào mồm thở ra. Sáu chữ này dường như hoàn toàn tương đồng với khẩu quyết của bà La Sát dùng để biến lớn quạt Ba Tiêu là “xi, hư, a, hấp, hi, suy, hô”. Trong tu luyện đều cần phải “đáp Thước Kiều” (nối cầu Hỉ Thước), chính là lưỡi đặt hàm trên. Lúc thổ nạp hô hấp, khi hít khí vào lưỡi chạm hàm trên, khi thở khí ra bởi vì phải làm khẩu hình tương ứng với âm thanh phát ra, nên đầu lưỡi tự nhiên cũng rời khỏi vị trí hàm trên. Đây cũng là nguyên do dẫn đến việc Tôn Ngộ Không ba lần mượn quạt Ba Tiêu. Mà lưỡi lại là ‘tâm chi miêu’ (gốc của tâm), trong ngũ hành thuộc tâm, thuộc tính hỏa, do đó nói dùng quạt Ba Tiêu quạt tắt ngọn lửa Hỏa Diệm Sơn chính là mượn điều tức để đạt đến ‘bình tức tâm hỏa’ (khiến lửa giận lắng lại). Ngộ Không nói “Ngưu Vương bản thị tâm viên biến” (Ngưu Ma Vương vốn do tâm viên biến thành); con trai Ngưu Ma Vương là Hồng Hài Nhi cũng tượng trưng cho tâm hỏa; vợ của Ngưu Ma Vương là La Sát phu nhân giữ Hỏa Diệm Sơn cũng là chỉ về tâm hỏa. Có thể thấy gia đình nhà Ngưu Ma Vương đều có liên qua đến tâm. Dùng quạt Ba Tiêu để quạt nước mưa dập tắt lửa Hỏa Diêm Sơn, điều này lại vừa phù hợp với câu nói trong tu luyện của Đạo gia là “thủy hỏa ký tế” (nước lửa đã xong). Cho nên khi câu chuyện này kết thúc, trong “Tây Du Ký” có viết rằng: “Bốn thầy trò Đường Tam Tạng đi riêng một con đường, nước lửa đã cứu xong, tiết trời trở nên mát lạnh, mượn được quạt quý thuần âm, quạt hơi lửa nóng để qua núi.” Câu chuyện này còn có ngụ ý khác nữa, đó chính là chu thiên trong khi vận hành đi qua “tam tiêu”. Tam tiêu phân chia thành thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu, dường như bao gồm tất cả lục phủ ngũ tạng của thân thể người. Tam tiêu là một phủ đặc thù, nó là con đường thủy cốc trong thân thể, có đường nước khai thông, có tác dụng vận hành thủy dịch. Tam tiêu trong ngũ hành thuộc về hỏa. Nhưng đối ứng với mật quyết điều tức của bà La Sát cũng không chỉ để chỉ tâm. Trong truyện cũng nhiều lần nhắc đến, nói rằng chỉ có dùng quạt Ba Tiêu quạt tắt ngọn lửa, quạt đến khi có mưa, mới có thể trồng trọt có thu hoạch, từ đó mới có được ngũ cốc để dưỡng sinh. Tác giả rất chú ý đến việc sắp xếp tình tiết câu chuyện, phần trước có nói đến người tu luyện tu đến tầng thứ nhất định sẽ xuất nguyên anh, sau đó mấy phần tiếp đều viết về những gì có liên quan tới nguyên anh hoặc liên quan đến tâm, cho đến khi viết về thông chu thiên. Tiếp về sau, phần cuối lại viết về thất tình. Bởi vì không thỏa mãn được tình, liền sinh ra hận. Rồi lại viết về lục dục. Những điều này đều là có quy luật tuần hoàn. Khi chu thiên vận hành, lúc thầy trò Đường Tăng lần đầu tiên vượt quan về tâm, chính là dùng Hồng Hài Nhi; lần thứ hai là mẹ của Hồng Hài Nhi – Thiết Phiến công chúa; từ đó về sau, khi vượt qua mỗi quan thì trong tiêu đề đều dùng “sá nữ cầu dương”. Từ nam đến nữ, từ già đến trẻ, trong tu luyện thì càng ngày càng trở nên thuần tịnh. Có thể thấy sự sắp xếp tình tiết trong “Tây Du Ký” là vô cùng độc đáo, không chỉ là chu thiên vận hành, mà một số bộ phận đặc thù của thân thể cũng cần phải luyện, ngay cả thân thể cũng cần phải thanh lý. Ví dụ hồi 65 và hồi 66 viết về Hoàng Mi quái, chính là chỉ hệ sinh sản của con người. ‘Đoản nhuyễn lang nha bổng’ (gậy răng sói mềm ngắn) mà Hoàng Mi quái sử dụng chính là chỉ dương vật của nam giới, bảo bối ‘đáp bao’ (túi đắp) mà hắn sử dụng rõ ràng chính là âm nang người. Phật Di Lặc nói đây là “Hậu thiên đại tử, tục danh hoán tố nhân chủng đại” (cái túi của sau này, tục danh gọi là túi đựng giống người). Phật Di Lặc bảo Tôn Ngộ Không dụ Hoàng Mi quái ra, “Ngài viết lên lòng bàn tay của Hành Giả một chữ ‘cấm’, bảo Hành Giả nắm tay lại, nhìn thấy yêu tinh hãy giơ tay trước mặt nó, nó liền đi theo.” Ý nghĩa của chữ ‘cấm’ này, với chữ ‘cấm’ ở phần trước nói về việc đeo ‘Cấm cô chú’ cho Hắc Hùng Tinh là giống nhau. Hồi thứ 67, trong truyện viết về hẻm Hi Thị (con đường nhỏ có nhiều hồng rụng bị thối nát) ở Đà La trang (thôn Đà La), thực ra chính là chỉ ruột người, gọi là ‘Hi Thị’ chẳng qua là đồng âm với ‘hi thỉ’ (phân lỏng). Trong hẻm Hi Thị có Hồng Lân Đại Mãng (con mãng xà lớn có vảy màu đỏ), chính là nói về hồi trùng (giun sán trong ruột người). Đương nhiên cần phải giết chết nó. Qua quan này may là nhờ Bát Giới biến thành cái đầu lợn lớn đi trước ủi để mở đường mới qua được. Đến cuối cùng, tới được Linh Sơn rồi, còn phải qua bến đò Lăng Vân. Khi Ngộ Không đẩy Đường Tăng lên thuyền không đáy, thân thể nơi trần thế (nhục thân) của đường Tăng liền tự nhiên thoát rơi ra, chính là ứng với ý “Kim Thiền thoát xác”. 8. Những câu thơ, hồi mục và ẩn dụ hình tượng hóa tiết lộ nội hàm tu luyện Nhiều người đọc “Tây Du Ký” chỉ chú trọng tình tiết, gặp thơ từ liền bỏ qua, gặp tiêu đề mỗi hồi cũng bỏ qua không chú ý. Thực ra trong đó thật sự tiết lộ mối liên hệ giữa câu chuyện và đạo lý tu luyện. Hồi thứ 14 “Tâm viên quy chính, Lục tặc vô tung” (Lòng vượn theo đường chính, Sáu giặc mất tăm hơi), chỉ Tôn Ngộ Không là tâm đã quay trở về trong tâm của chủ nhân, “lục tặc” là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đã bị đoạn đứt gốc rễ. Hồi thứ 72 “Bàn Tơ động thất tình mê bản, Trạc Cấu tuyền Bát Giới vong hình” (Động Bàn Tơ bảy tình mê gốc, Suối Trạc Cấu Bát Giới mất hình). Trong hồi này viết về bảy con nhện tinh, tác giả dùng bảy con nhện tinh (thất tinh) để ví thất tình của của con người. Câu kết hồi thứ 40 “Vị luyện anh nhi tà hỏa thắng, Tâm viên mộc mẫu cộng phù trì”, ở đây dùng ‘tâm viên’ mà lại không dùng ‘kim công’ để đối ứng với ‘mộc mẫu’, bởi vì mộc khắc kim, Hồng Hài Nhi đại biểu cho tâm hỏa (lửa giận, tâm oán hận), tâm hỏa đang vượng, cho nên không dùng ‘kim công’ mà dùng ‘tâm viên’ để chỉ Tôn Ngộ Không. Câu “cộng phù trì” nói rất hay, nhưng không phải là trừ dứt Hồng Hài Nhi không cần nữa, mà là cần phải giúp đỡ Hồng Hài Nhi quy chính, bởi vì Hồng Hài Nhi cũng là một phần tâm của người tu luyện. Hồi thứ 55 viết về một con bọ cạp độc trêu đùa dâm dục Đường Tăng, bị Tôn Ngộ Không mời Mão Nhật Tinh Quân đến tiêu diệt. Tiếp theo, hồi thứ 56 có bài thơ mở đầu, “Linh Đài vô vật vị chi thanh, Tịch mịch toàn vô nhất niệm sinh. Viên mã lao thu viên phóng đãng, Tinh thần cẩn thận mạc tranh vinh. Trừ lục tặc, ngộ tam thừa, Vạn duyên đô bãi tự phân minh. Sắc tà vĩnh diệt siêu chân giới, Tọa hưởng Tây phương Cực Lạc thành.” Sau khi thầy trò nhận sắc phong của Phật Như Lai có câu thơ thế này: “Nhất thể chân như chuyển lạc trần, Hợp hòa tứ tướng phục tu thân. Ngũ hành luận sắc không hoàn tịch, Bách quái hư danh tổng mạc luận. Chính quả chiên đàn quy Đại Giác, Hoàn thành phẩm chức thoát trầm luân. Kinh truyền thiên hạ ân quang khoát, Ngũ thánh cao cư bất nhị môn.” Tôn Ngộ Không đánh chết mấy tên cướp, Đường Tăng liền đuổi Ngộ Không đi. Dẫn đến cuộc tranh đấu giữa Lục Nhĩ Mi Hầu và Tôn Ngộ Không, thực chất là cuộc tranh đấu giữa chân ngã và giả ngã. Sau khi Lục Nhĩ Mi Hầu bị đánh chết, có câu thơ như thế này: “Trung đạo phân ly loạn ngũ hành, Hàng yêu tụ hội hợp nguyên minh. Thần quy tâm xá thiền phương định, Lục thức khư hàng đan tự thành”. Lời mở đầu hồi tiếp theo là một bài tụng, viết rằng: “Tam Tạng vâng lệnh Bồ Tát, thu nhận Hành Giả, cùng Bát Giới Sa Tăng cắt đứt ‘nhị tâm’, khóa chặt viên mã, đồng tâm hiệp lực, nhanh bước đến Tây Thiên.” Chỗ này người đọc có thể hiểu được, hơn nữa cách nói ‘nhị tâm’ trong câu đề mục ở hồi này “Nhị tâm giảo loạn đại càn khôn, Nhất thể nan tu chân tịch diệt” đã nói rất rõ ràng ‘nhị tâm’ là thế nào. Những điều được ví von trong “Tây Du Ký” có rất nhiều, từ đầu truyện đến cuối truyện đều có. Viết về yêu quái, có rất nhiều là dùng để ví tâm chấp trước của con người, chẳng hạn dùng sợi tơ nhện để ví về sợi tơ tình của con người, dùng Lục Nhĩ Mi Hầu để ví về các quan niệm hậu thiên hình thành nên nhân tâm của con người. Ngay cả nơi ở của yêu tinh phần lớn cũng được dùng để ví von, ví như động Bàn Tơ, thôn Đà La, động Ba Tiêu ở Hỏa Diệm Sơn, động Không Đáy ở núi Hãm Không, động Ba Nguyệt ở núi Uyển Tử, v.v. (còn tiếp…)