• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

VIETHA

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    967
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    4

Everything posted by VIETHA

  1. Sao Thủy không phải là hành tinh chết Trái với nhận định trước đây của giới khoa học khi cho rằng sao Thủy là hành tinh chết, dữ liệu mới được tàu vũ trụ Messenger của Mỹ gửi về trái đất cho thấy các hoạt động bên trong lõi của hành tinh này diễn ra vô cùng sôi nổi. Những bức ảnh được tàu Messenger gửi về trái đất thể hiện so với ngày đầu sao Thủy được hình thành, các hố lõm bên trên bề mặt của hành tinh này đã bị biến dạng dưới tác động của hoạt động địa chất. Sao Thủy là hành tinh gần nhất với mặt trời trong thái dương hệ. Qua nghiên cứu trường hấp dẫn, các nhà khoa học nhận định cấu trúc bên trong của sao Thủy vô cùng kỳ lạ so với những hành tinh khác. Nhà nghiên cứu Maria Zuber tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), Mỹ cho biết: “Nhiều nhà khoa học tin rằng sao Thủy có cấu trúc gần giống với mặt trăng. Trong lịch sử thái dương hệ, sao Thủy ngày càng trở nên lạnh hơn và dần biến thành hành tinh chết qua quá trình tiến hóa”. Tuy nhiên với những bằng chứng thu thập từ tàu Messenger, giới khoa học có thể khẳng định hành tinh này không chết như kết quả nghiên cứu trước đây mà trái lại bên trong hành tinh này ẩn chứa những hoạt động địa chất vô cùng sôi nổi. Hoạt động bên trong lõi tái tạo hình dạng các hố lõm trên bề mặt sao Thủy Bà Zuber và cộng sự đã sử dụng các thiết bị đo laser trên tàu Messenger để xây dựng bản đồ hàng loạt các miệng lõm hình thành do va đập và phát hiện chúng có xu hướng ngày càng bị nghiêng. Điều đó đồng nghĩa với việc các hoạt động địa chất bên trong sao Thủy đã tái tạo địa hình của hành tinh này sau khi các hố lõm được hình thành. Qua quan sát trên khu vực lòng chảo Caloris của sao Thủy, các nhà khoa học cũng nhận thấy tỷ lệ đáy của các hố lõm ở vị trí cao hơn so với vành miệng lõm, đồng nghĩa với việc lực tác động bên trong lõi đã nâng đáy hố lõm cao lên phía trên. Mariner 10 là tàu thăm dò đầu tiên ghé thăm sao Thủy vào những năm 1970. Đường kính của hành tinh là 4.880km, bằng 1/3 kích thước trái đất. Khu vực lòng chảo Caloris là vùng lớn nhất trên sao Thủy với đường kính 1.300km. Trong khi đó, lõi sắt lớn của sao Thủy chiếm hơn 60% tổng trọng lượng hành tinh này. Ngoài ra, thời tiết trên hành tinh này cũng vô cùng khắc nghiệt, với nhiệt độ bề mặt dao động từ 425 độ C xuống -180 độ C. Sao Thủy cũng là hành tinh duy nhất gần kề trái đất có trường trọng lực bao trùm toàn hành tinh. Và Messenger là con tàu vũ trụ đầu tiên đi vào quỹ đạo bay của hành tinh này. Theo các nhà nghiên cứu, vùng trũng gần cực bắc của sao Thủy có thể di chuyển qua quá trình tiến hóa của hành tinh này, dẫn tới sự dịch chuyển địa lý trên bề mặt hành tinh. Theo lý thuyết, sự đối lưu bên trong hành tinh mới có thể tạo nên sự dịch chuyển địa chất trên bề mặt. Tuy nhiên, hiện tượng dịch chuyển địa lý trên sao Thủy là điều bất thường bởi vỏ hành tinh này quá mỏng. Một giải thuyết khác được đề cập tới là việc các đường bao trên bề mặt sao Thủy đã bị biến dạng khi lõi bên trong của hành tinh này ngày càng trở nên lạnh hơn và co lại. Trước đây, các nhà khoa học mới chỉ xác định được rằng sao Thủy có một lõi lớn giàu khoáng chất sắt và lớp vỏ bề mặt lại khá mỏng manh. Tuy nhiên, qua các thiết bị đo trường hấp dẫn của sao Thủy trên tàu Messenger, giới khoa học có thể chắc chắn một phần lõi sắt lớn của hành tinh này chứa chất lỏng. Lõi của sao Thủy chiếm khoảng 85% bán kính của hành tinh này, trong khi lớp vỏ bên ngoài chỉ mỏng bằng 15% vỏ quả cam nhưng lại rất đậm đặc. Để giải thích cho hiện tượng lạ trên, nhà nghiên cứu Dave Smith tại Trung tâm chuyến bay vũ trụ Goddard của NASA cho rằng lõi sao Thủy được bao quanh bởi lớp sắt sunfua rắn – một cấu trúc chưa từng xuất hiện ở bất cứ hành tinh nào. Trong khi đó, lớp vỏ mỏng lại bao bọc lớp sắt sunfua và lớp vỏ hành tinh lại được hình thành từ lớp đá silicat. Tàu thám hiểm sao Thủy Messenger bay vào quỹ đạo của hành tinh này vào tháng 3/2011 và thực hiện 2 vòng bay trong một ngày, chụp lại gần 100.000 bức ảnh và tiến hành 4 triệu phép đo bề mặt của hành tinh này. Nhiệm vụ của tàu Messenger còn nghiên cứu lực tác động từ mặt trời lên thủy triều của trái đất. Nhóm nghiên cứu cũng định kỳ điều chỉnh quỹ đạo của con tàu này cũng như hiệu chỉnh các phép đo của nó để tính toán tác động của mặt trời xuống trái đất. Theo Infonet
  2. PHƯƠNG THUỐC TRỊ CHỨNG ÁP HUYẾT CAO HOA-ÐÀ TIÊN-ÔNG Thời tiết thường thường thay đổi theo bốn mùa, bệnh lý cũng phải phân biệt theo bốn mùa. Sự tuần hoàn của huyết dịch trong cơ thể cũng tùy theo bốn mùa mà chuyển dịch. Cho nên sự trị liệu bệnh tật cũng phải phối hợp với bốn mùa thì mới đạt hiệu quả tốt. 1) PHƯƠNG THUỐC DÙNG VÀO MÙA XUÂN (Từ tiết Lập Xuân cho đến tiết Cốc Vũ, xem lịch ta thì rõ) a) Buổi sáng khoảng 10 giờ, ăn 1 trái khế thoa mật ong. B) Buổi chiều, dùng bài thuốc sau đây: Vỏ quít, 1 cái Mía, 1 khúc dài 3 tấc Xí muội khô, 10 trái Cách dùng: Mía để nguyên vỏ, cắt khúc, mỗi khúc chẻ làm tư. Cho tất cả vào nồi với 2 chén nước nấu lại còn 1 chén là uống được. Uống vào lúc 4 giờ chiều. c) Buổi tối, trước khi đi ngủ, ăn miếng đu đủ. Dùng như vậy liên tục trong 10 ngày mới có hiệu quả. 2) PHƯƠNG THUỐC DÙNG VÀO MÙA HẠ (Từ tiết Cốc Vũ cho đến tiết Xử Thử) a) 10 giờ sáng, ăn 1 trái đào thoa mật ong. B) 4 giờ chiều, ăn 1 trái khế thoa mật ong. c) 10 giờ tối, dùng 3 trái đào xẻ khía rồi cho vào nồi với 3 chén nước, sắc lại còn 1 chén, cho thêm một chút đường dùng được. Ăn uống như vậy trong 10 ngày sẽ thấy kết quả kỳ diệu. Sở dĩ trong một ngày mà phải dùng 3 phương thuốc với thời gian khác nhau chỉ vì căn cứ theo nguyên lý sự tuần hoàn của huyết dịch mà thôi. 3) PHƯƠNG THUỐC DÙNG VÀO MÙA THU (Từ tiết Xử Thử cho đến tiết Hàn Lộ) a) 10 giờ sáng, uống 1 chén trà măng tây. Cách pha chế như sau: Lấy 10 cây măng tây loại trắng cho vào nồi với 2 chén nước, sắc lại còn 1 chén, cho thêm một chút đường là dùng được. B) 4 giờ chiều, uống 1 chén trà táo (Pomme). Cách pha như sau: Lấy 1 quả táo cắt làm tư, cho vào nồi với 1 chén rưởi nước, nấu còn 1 chén, cho thêm một chút đường. c) 10 giờ tối, ăn miếng đu đủ thoa mật ong. Dùng như vậy liên tiếp trong 10 ngày mới thấy công hiệu thần kỳ. 4) PHƯƠNG THUỐC DÙNG VÀO MÙA ÐÔNG (Từ tiết Hàn Lộ cho đến tiết Lập Xuân) a) 10 giờ sáng, ăn nho khô (raisin), 20 hột. B) 4 giờ chiều, uống 1 chén trà cà rốt Cách pha chế như sau: Lấy 3 củ cà rốt rửa sạch, xắt lát cho vào nồi với 2 chén nước nấu còn 1 chén là được, cho thêm một chút muối. c) 10 giờ tối, uống 1 chén trà hột xí muội. Cách pha chế như sau: Lấy 30 trái xí muội đem ngâm nước sôi rồi cắt bỏ vỏ ngoài. Lấy 30 trái xí muội đó cho vào nồi với 1 chén rưởi nước, nấu còn 1 chén, cho thêm một chút đường. Dùng ba phương thuốc trên liên tục trong 10 ngày, công hiệu như thần.
  3. Mùa nào thì bạn nên dùng bài thuốc đó phải dùng ít nhất 10 ngày mới có tác dụng , bây giờ là mùa xuân bạn nên sử dụng bài thuốc của mùa xuân để biết là mùa nào bạn nên xem lịch khí tiết chứ không phải lấy theo ngày âm, bài thuốc trên đây không có gì độc hại cho con người cả bạn thử dùng cho mẹ bạn xem sao nhớ đo huyết áp trước và sau khi dùng xem hiệu quả thế nào, nên dùng thuốc đúng giờ theo chỉ dẫn. Chúc mẹ bạn mau khỏi bệnh
  4. Chỉ có 22h15 là lá số tạm được nhưng với bé gái cũng không được đẹp lắm.
  5. Xôn xao cây nhãn nổi dòng chữ kỳ lạ Tại vườn nhà ông Trịnh Xuân Vân, xóm 4, xã Đà Sơn, huyện Đô Lương (Nghệ An) có một cây nhãn kỳ lạ. cách đây 3 năm, cây nhãn này bỗng dưng nổi hàng chữ dọc trên thân cây, rồi bỗng dưng lại chết khô. Sự việc này gây xôn xao cả vùng quê. Hàng loạt câu chuyện được thêu dệt, người bảo cây thần, người bảo cây của nhà trời. Một đồn mười, hàng trăm người tò mò đã tìm về nhà ông Vân để tận mắt chứng kiến cây thần. Theo lời kể của ông Vân: “Cây nhãn này được ông trồng trong vườn đã được hơn 10 năm tuổi, cách đây 3 năm (vào năm 2009) tình cờ một lần ông ra thăm cây nhãn thì phát hiện ra một hàng chữ nổi trên thân cây. Nhưng ông Vân không thể đọc được đây là chữ gì vì dòng chữ nổi lên có ký tự giống như chữ Hán. Cây nhãn với dòng chữ nổi kỳ lạ Nghĩ chuyện bình thường nên ông không nói với ai vì sợ mọi người lại đồn thổi. Tuy nhiên, cách đây hơn 1 tuần thì cây nhãn này đang xanh tươi lại bỗng dưng chết khô mà không rõ nguyên nhân. Thấy chuyện lạ ông Vân mới kể lại cho mọi người biết, nhiều người kéo đến xem nhưng chưa ai dịch nổi dòng chữ đó viết gì nên đã đồn thổi nhiều câu chuyện xung quanh cây lạ này. Theo quan sát của phóng viên, hàng chữ trên thân cây nhãn này kéo dọc theo thân cây, với 6 ký tự khác nhau giống như chữ Hán, nằm cách mặt đất hơn 1 mét. Các chữ này có màu đen, mặt chữ được đùn cao hơn so với vỏ thân cây nhãn, dùng tay không thể xóa được. Điều kỳ lạ là khu vực cây nhãn được trồng đất màu mỡ, không đọng nước, thân cây không bị va đập tác động từ bên ngoài, trong khi đó các cây cối xung quanh đều xanh tốt. Trao đổi với phóng viên, ông Phạm Ngọc Công - Phó Chủ tịch UBND xã Đà Sơn (Đô Lương, Nghệ An) cho biết: “Việc cây nhãn nổi chữ như lời kể của ông Vân là có thật. Để tránh việc nhiều người kéo đến xem và đồn thổi những nhiều câu chuyện mê tín dị đoạn quanh chuyện lạ nên cán bộ xã đã cử lực lượng an ninh theo dõi tình hình đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã. Tránh những đối tượng xấu lợi dụng để truộc lợi. Hiện tại chưa có kết luận bằng khoa học về dòng chữ trên, cũng chưa có chuyên gia nào đọc dòng chữ đó. Tuy nhiên, cũng ý cho rằng có thể do trước đó, có người đục dòng chữ trên thân cây, quá trình phát triển cây lại mọc vỏ tại những chỗ bị chạm khắc. (Theo An ninh thủ đô)
  6. Ly kỳ về tiền kiếp của vua Minh Thần Tông ở nước Việt Minh Thần Tông (1572-1620) tên thật là Chu Dực Quân, hoàng đế thứ 13 của triều Minh (Trung Quốc). Trong sử sách hiện lưu truyền một câu chuyện kỳ lạ về tiền kiếp của ông tại một ngôi chùa ở làng Bóng, xứ Đông của nước Đại Việt. Thời vua Lê Kính Tông (1599-1619) và chúa Trịnh Tùng (1570-1623), năm ấy, triều đình cử một đoàn sứ bộ sang nước Minh; Nguyễn Tự Cường (1570-?), Tiến sĩ khoa thi Giáp Thìn (1604) được bổ làm Chánh sứ. Khi ở phương Bắc, vị sứ thần nước Việt đã vô cùng kinh ngạc khi được biết một câu chuyện ly kỳ do chính vua Minh Thần Tông kể. Bấy giờ, sau khi thực hiện các nghi thức và công việc ngoại giao, lúc vào cung bái yết Hoàng đế, Minh Thần Tông bỗng hỏi sứ thần Nguyễn Tự Cường rằng: “Người ở nước Nam, vậy có biết chùa Quang Minh của nước Nam ở đâu hay không?”. Nguyễn Tự Cường đáp là không biết, ông băn khoăn tự hỏi không rõ vua Minh muốn biết đến ngôi chùa đó làm gì. Thấy vẻ mặt đăm chiêu của viên Chánh sứ, Minh Thần Tông nhân đó mới nói với Nguyễn Tự Cường rằng: “Lúc mới sinh ra, trên vai ta đã có hàng chữ son, nói rõ kiếp trước của ta chính là vị Thiền sư ở chùa Quang Minh. Nay, ta muốn xóa dòng chữ ấy đi mà chưa biết phải làm như thế nào”. Nguyễn Tự Cường thưa: “Thần nghe nói nhà Phật có nước công đức để tẩy trần. Nếu Bệ hạ là kiếp sau của Thiền sư Trụ trì chùa Quang Minh thì phải lấy nước giếng của chính chùa Quang Minh mới có thể rửa được”. Về nước, Nguyễn Tự Cường đem việc này tâu với triều đình. Triều đình bèn cử người đi tìm ngôi chùa mà Minh Thần Tông đã nói tới. Ngôi chùa đó chính là chùa Bóng tên chữ là Quang Minh Tự, vì xây dựng trên đất làng Bóng nên có tên dân gian như vậy; nơi đây thuộc địa phận xã Hậu Bổng, phủ Hạ Hồng, xứ Hải Dương (huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ngày nay). Theo các thư tịch cổ như Lĩnh Nam chích quái, Công dư tiệp ký, Đại Nam nhất thống chí…, chùa được khởi công xây dựng vào cuối thời Trần. Ban đầu có quy mô nhỏ, nhưng qua nhiều đời được trùng tu, mở rộng và được coi là một trong những ngôi chùa đẹp. Sách Đại Nam nhất thống chí chép rằng: “Chùa Quang Minh ở xã Hậu Bổng, huyện Gia Lộc có ngàn cây xanh biếc, bốn mặt nước trong, xa xa phía trước có đường cái chạy qua và có dòng sông bao bọc, thật xứng đáng là một thắng cảnh của thiền lâm”. Chùa Bóng không chỉ nổi tiếng về vẻ đẹp mà còn được biết đến bởi có nhiều vị cao tăng đạo hạnh, có công lao hoằng dương Phật pháp, trong đó, có Thiền sư Huyền Chân (còn gọi là Thiền sư Bật Sô). Theo Quang Minh tự sự tích cho hay, Thiền sư Huyền Chân người làng Hàm Nghi, xã Danh Hương, trấn Sơn Nam Hạ (nay thuộc huyện Kiến Xương, Thái Bình) thế danh là Đức, sinh và mất năm nào chưa rõ. Tương truyền rằng khi đã về già, một hôm, Thiền sư Huyền Chân nằm mơ thấy Phật A Di Đà (Amitabhâ) đến nói cho biết rằng: “Ngươi dày công với Phật sự đã lâu, lòng từ bi của ngươi đã được Phật Tổ thấu hiểu, vì thế, đến kiếp sau, ngươi sẽ được làm Đại đế ở phương Bắc”. Tỉnh dậy, Thiền sư Huyền Chân liền kể lại giấc mơ với đệ tử của mình và dặn: “Sau này, lúc ta viên tịch, các con hãy lấy son viết lên vai ta mấy chữ sau: An Nam quốc, Quang Minh tự, Sa Việt Tì khưu sau đó mới đem nhục thân của ta đi hỏa thiêu”. Các đệ tử đều lắng nghe, ghi nhớ và về sau làm theo đúng ý của Thiền sư Huyền Chân. Vậy là qua tìm kiếm, triều đình nhà Lê không chỉ biết được ngôi chùa Quang Minh mà còn khám phá ra một câu chuyện lạ về tiền kiếp của ông vua nước láng giềng phương Bắc. Sau đó, nhà Lê cho lấy nước giếng của chùa Quang Minh đem sang biếu Minh Thần Tông. Minh Thần Tông liền dùng nước ấy để rửa thì quả là rất hiệu nghiệm, lấy làm vui mừng vì thế đã sai gửi 300 lạng vàng thưởng cho Nguyễn Tự Cường. Tự Cường liền đem toàn bộ số vàng này cúng cho chùa Quang Minh để lo việc trùng tu. Sau này Nguyễn Tự Cường làm quan đến chức Hữu Thị lang Bộ Lễ, tước Xuân Quận công; khi mất, ông được tặng chức Thượng thư, hàm Thiếu bảo. Theo baodatviet.vn
  7. Cô này đúng là học trò mà chẳng hiểu tâm tư của thày gì cả còn cứ đôi co. Lạ thật
  8. Hà Nội: Đi học thôi miên phí siêu khủng Gần đây cư dân mạng đang xôn xao bàn tán về một lớp học có giá "cắt cổ"- còn khá mới ở Việt Nam: Thôi miên trị liệu. Để tham gia vào khóa học này mỗi học viên phải trả tới hơn 5,3 triệu đồng/ngày và 85 triệu đồng cho khóa học 16 ngày. Các học viên của khoá học này có phải những người phát cuồng với khẩu hiệu "Đánh thức mọi tiềm năng" từ môn tâm lý vẫn còn khá mới này?! Choáng váng với học phí… Tại "Trung tâm nghiên cứu phát triển sức khỏe Thể- Tâm - Trí"- Nhà Văn hóa phường Yên Phụ, số 1/15, ngõ 189 đường An Dương, Tây Hồ, Hà Nội đang diễn ra khóa học thôi miên trị liệu khiến không ít người có ý định tham gia phải bàng hoàng khi nghe giá học phí của nó: 85 triệu đồng cho khóa học 16 ngày. Những khóa học tiếp theo sẽ có giá là... 299 triệu đồng. Khóa học này, chủ yếu học về các kỹ năng ứng dụng, thực hành, những nguyên tắc và kỹ thuật trong thôi miên trị liệu, chứ không học về lý thuyết của ngành thôi miên- Ví dụ như lịch sử của thôi miên, quá trình hình thành và phát triển... Thời gian học liên tục 16 ngày, cả lý thuyết và thực hành. Thời gian học mỗi ngày lên tới 13- 14 tiếng/ngày. Từ ngày thứ 6 của khóa học trở đi, học viên lại phải làm tiếp một bài tập về nhà với thời gian khoảng 2 tiếng đồng hồ. Không chỉ tiến hành đào tạo các chuyên gia thôi miên trị liệu mà tại Trung tâm này cũng tổ chức khá nhiều khóa học với giá cực cao như "Khóa học giàu có và cao thượng" với mức học phí là 49.9 - 59.9 triệu đồng cho 27 giờ học; Khóa "Đàm phán giao tiếp nâng cao" có giá xấp xỉ 20- 25 triệu đồng cho 27 giờ học... Ngay trên trang web www. thetamtri.vn của Trung tâm này cũng khẳng định: "Tất cả những khóa học và các chương trình đào tạo của Trung tâm Nghiên cứu phát triển sức khỏe Thể - Tâm - Trí đều là những khóa học và chương trình đào tạo có chất lượng, giá trị và đắt giá nhất tại Việt Nam". Khi hỏi về mức học phí "cắt cổ" mà Trung tâm đã thu của mỗi học viên, vị đại diện Trung tâm này khẳng định: Đây sẽ là khóa học đào tạo chuyên gia thôi miên trị liệu rẻ nhất của Trung tâm nhân dịp ra mắt (?!), đồng thời để tiến hành lựa chọn thành viên phục vụ cho việc mở rộng phạm vi hoạt động của Trung tâm trên cả nước thì Trung tâm mới quyết định mở một lớp đào tạo tổng hợp cấp tốc với mức giá này. Những khóa học tiếp theo sẽ có giá là... 299 triệu đồng. Cũng theo vị đại diện này: Sau khóa học học viên có thể tự thôi miên để ổn định cơ thể, tinh thần và chữa bệnh cho mình, tự lập trình ngôn ngữ để giúp mình thực hiện mọi nguyện vọng trong cuộc sống; thôi miên được cho người khác; nhận biết được các phép thuật của các thầy phù thủy, thầy bói, thầy cúng, lên đồng, áp vong, bùa, ngải... qua phương pháp thôi miên cổ điển; kỹ thuật thư giãn bản năng; biết chữa tất cả các bệnh bằng ám thị liệu pháp; được học và thực hành phương pháp giảm, cắt các cơn đau và chữa các bệnh đau mãn tính, chữa bệnh mất ngủ... Giá này vẫn còn thấp…(?!) Ông Nguyễn Mạnh Quân, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phát triển sức khỏe Thể - Tâm - Trí cho biết: "Sau "kịch bản" mất vàng tại Quảng Ngãi hồi cuối năm 2011 (chủ tiệm vàng vì nợ nần quá nhiều nên đã tự bịa ra kịch bản "bị trộm thôi miên" lấy hết tài sản nhằm trốn nợ- PV), nhiều người đã hiểu đúng về thôi miên- Nhưng đây không phải là lý do để khóa đào tạo thôi miên của tôi có giá cao như vậy!" Bản thân thôi miên trị liệu là một ngành khoa học trị liệu nghiêm túc với những phương pháp và kỹ thuật tác động vào bộ não để làm ổn định mọi nội tiết tố trong cơ thể. Nó giúp cho người ta thay đổi được cả tính nết và phong cách. Học thôi miên trị liệu lại không phải chỉ tự trị liệu cho bản thân mà còn trị liệu được cho người khác. Vì vậy nó có cái giá nghiêm túc của nó, học viên tham gia khóa học này cũng không cho đây là "giá cắt cổ", thậm chí còn...thấp (?!). Khóa đào tạo này có 114 người đăng ký nhưng chúng tôi cũng chỉ lựa chọn và đào tạo cho 16 người. Đối tượng đều có trình độ thạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư ở cả hai miền Nam, Bắc..."- ông Quân cho biết! Theo đại diện của Trung tâm này: Đối tượng đều có trình độ thạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư ở đủ các miền. Ông Quân còn khẳng định rằng: "Cùng là khóa học này, nhưng sắp tới,mức học phí sẽ là 299.999.000 đồng/khóa chứ không thấp như hiện nay! Nói là 16 ngày đào tạo, nhưng trên thực tế các học viên đã phải học liên tục 240 tiếng không kể thời gian làm bài tập lý thuyết về nhà. Mặc dù phải học nhiều thời gian trên lớp, nhưng các học viên vẫn luôn vui vẻ, khỏe mạnh, thoải mái, vẫn tiếp thu, thực hành tốt”. Cũng theo ông Quân, sau khi kết thúc khóa học, thì tất cả mọi học viên đã trở thành một chuyên gia thôi miên trị liệu thực thụ. Khi làm chủ được phương pháp tự thôi miên, thì chính là họ đã có trong tay một phương pháp hữu hiệu nhất để làm cho chính mình khỏe mạnh, hạnh phúc và thành đạt theo nguyện vọng của họ (lập trình ngôn ngữ tư duy). Bằng những khả năng mà các học viên đã phát huy, làm chủ được- cũng đồng nghĩa với việc "đánh thức mọi tiềm năng của con người", của chính họ và của cả những thân chủ của họ. Tất nhiên, nếu như để học hết trình độ thôi miên trị liệu, các học viên cần phải tham gia một khóa học nữa- Đó chính là trình độ 3 của thôi miên trị liệu. Học phí cao ngất là do lợi ích thôi miên mang lại? Ông Nguyễn Mạnh Quân cho rằng: "Việc xác định mức học phí được căn cứ vào chính những lợi ích mà thôi miên trị liệu mang lại: học viên có khả năng thôi miên để tự chữa bệnh và tự lập trình ngôn ngữ, làm cho chính họ khỏe mạnh, hạnh phúc và thành đạt. Trong khóa học, người tham gia còn được học thêm phương pháp trị liệu EFT- Đây là phương pháp điểm huyệt tâm lý để kết hợp với thôi miên y khoa để chữa bệnh cho mọi người. Thôi miên và EFT liệu pháp không chỉ dùng để chữa bệnh, mà lại còn làm cho tinh thần con người tốt lên. Giá của khóa học này lẽ ra còn cao hơn nhiều, nhưng để đào tạo ra những nhân tố thì chúng tôi cần có những con người có tư duy tích cực, có nguyện vọng lớn ngoài việc làm cho mình thành đạt, thì còn phải có tính cộng đồng và xã hội cao...". Nếu thực tế, hiệu quả đúng như ông Quân nói thì xem ra mức học phí này đã dược xem là "mức khủng" ??? (Theo Giadinh.net Đúng là thằng lừa đảo
  9. Như Thông à,Nếu vật gì đó giá trị chỉ đáng một đồng không kể anh dùng hình thức gì mà anh bán lên rất cao so với giá trị thực của nó ví như đáng giá 1 đồng mà anh bán hàng trăm triệu đó cũng là lừa đảo mà
  10. 1. Thuật ngữ Vọng Khí Ngũ Hành : Mọi thế đất thiên nhiên cao,thấp,vuông,tròn,cong,thẳng,lưỡi nhô,cung ngược,Bạch Hổ quay đầu...đều theo Ngũ Hành mà biến chuyển.Vọng Khí Ngũ Hành là tìm kiếm thế đất có trường khí tuân thủ nguyên tắc tương sinh,tương khắc,tương thừa,tương vũ trong ngũ hành vạn vật,giúp con người xem xét,điều chỉnh môi trường sống sao cho hài hoà và thuận lợi nhất. Ví dụ 1: Hoả địa,thuật ngữ chỉ chỗ thổ trạch mang tính hoả,dễ bị cháy và khó khăn khi chữa cháy,nên tránh trong lựa chọn nhà đất.Các miếng đất hình tam giác,có các góc nhọn,đường đi vào lắt léo khó lường,thắt hẹp và xộc xệch...đều là hoả địa.Các khu nhà nhiều mái nhọn sát nhau,vật liệu dễ cháy như tranh tre gỗ giấy...(thuộc mộc dễ sinh hoả) cũng có nguy cơ cao.Phàm khi chọn thổ trạch,cần tìm nơi có hành thổ làm chủ đạo (bằng phẳng,nằm ngang,vuông vức,không cao quá,không thấp quá) để xây dựng được thuận tiện và ổn định.Nếu gặp hoả địa,cần phá thế bằng cách làm quang đãng ngoại cảch,giảm mật độ xây dựng,tránh dùng vật liệu hành mộc và tạo các lối thoát hiểm phòng khi sự cố. Ví dụ 2 : Mộc địa,thuật ngữ chỉ môi trường,mảnh đất có nhiều cây cối,hoặc nhiếu kiến trúc cao dạng hình trụ,nhà mọc vươn cao và có nhiều cột tròn...đều thuộc mộc địa.Khi tổ chức cảnh quan hay xây dựng nhà cửa nếu dùng các kiến trúc cũng dạng mộc (nhà gỗ,cột tròn,nhà vươn cao) thì sẽ được ổn định.Khi dùng kiến trúc theo dạng hành hoả (mái dốc,nhọn,ngói đỏ) thì được tương sinh mộc hoả,tuy nhiên,nếu xung quanh nhiều cây cối quá thì phải phát quang,vì mộc vượng,sinh hoả vượng,gặp hoả hoạn. Nếu trên mộc địa mà dùng các kiến trúc hành thổ (nhà mái bằng,thấp) thì không phù hợp (mộc khắc thổ) vì dễ tạo ra các vùng lõm giữa môi trường mộc,tích tụ ẩm và gió hút.Về qui hoạch chung,thì qui hoạch đã định vị mảnh đất,chỉ có thể mua miếng đất hợp với mệnh trạch,tuyệt nhiên không thể mua miếng đất nghịch trạch rồi định vị hướng phong thuỷ theo chủ quan. Khuynh hướng chung của các khu dân cư đã ổn định và các khu dân cư mới hoặc đang qui hoạch,căn nhà đều định vị theo dòng chảy của các con đường,có nghĩa làa trước mặt ngôi nhà luôn là con đường,dù lộ lớn hay đường làng,đường mòn hay đường nội bộ. 2. Thuật ngữ Tam Cương,Ngũ Thường : Tam Cương là phép tắc vua - tôi,cha - con,chồng - vợ.Ngũ Thường là: Nhân,Nghĩa, Lễ, Trí,Tín,là qui phạm đạo đức xưa.Còn trong phong thuỷ,khi chọn đất làm Dương Cơ (nhà ở) hay Âm Phần (mồ mả),Tam Cương là 3 yếu tố: Khí Mạch - Minh Đường - Thuỷ Khẩu.Ngũ Thường là 5 thành phần cơ bản của miếng đất: Long - Huyệt - Sa - Thuỷ - Hướng.Xem xét cát - hung của một thổ trạch đều phải dựa trên Tam Cương - Ngũ Thường,không được bỏ qua yếu tố nào.Khí mạch vượng phải có thêm minh đường thoáng đãng (khoảng đất hay mặt nước phía trước) và thuỷ khẩu khúc tắc (quanh co uốn lượn,tránh chảy thẳng tuột hoặc phản cung) thì mới gọi là đắc địa. Tam Cương trạch là chia ba phần đều nhau (mặt cắt ngang và cắt dọc)của miếng đất xây dựng,tính từ mặt tiền nhà,phần tiền được coi là phần quan trọng nhất,gọi là vua tôi,phần giữa được coi là phần quan trọng thứ nhì,gọi là cha con,phần sau được coi là phần quan trọng thứ ba,gọi là vợ chồng.Người chủ đầu tư nên xem xét ý nghĩa quan trọng này mà bố trí các phòng ốc thích hợp.Dù là tam hay tứ đại đồng đường,người chủ đầu tư dù thứ bậc ông,cha,con hay cháu vẫn đứng ở vị trí quan trọng nhất (vua tôi). Nói thêm: Theo quan niệm phong thuỷ truyền thống,chủ dương trạch luôn là người nam được thừa hưởng hoặc tự xây cất căn nhà cư ngụ.Cha mẹ đến ở với con cái là ở nhờ,không coi là chủ dương trạch,vợ và các con,cháu sắp xếp theo trạch chủ.Trường hợp chủ trạch mất,con trai trưởng đã trưởng thành (18 tuổi) sẽ là chủ trạch,chưa trưởng thành (dưới 18 tuổi) người mẹ là chủ trạch.Trường hợp người nữ là độc thân,chồng chết hoặc không có con trai,người nữ là chủ trạch.Chỉ xác định đông hoặc tây tứ theo chủ trạch. 3. Thuật ngữ Tứ Tượng : Quan sát thiên văn trong vũ trụ,các triết gia Đông Phương đã chọn 28 ngôi sao ở gần Hoàng Đạo và Xích Đạo làm chuẩn,từ đó phân ra Đông - Tây - Nam - Bắc,mỗi phương có 7 sao xếp nên các hình tượng Thanh Long,Bạch Hổ,Chu Tước,Huyền Vũ,từ đó xác định yếu tố cơ bản của Phong Thuỷ là phương vị. Thế đất khi lựa chọn cần tuân thủ theo Tứ Tượng nói trên là Long (trái),Hổ (phải),Tước (trước),Vũ (sau).Ấy là quan niệm chọn đất làm nhà hợp với môi trường thiên nhiên: Dựa vào thế cao phía sau nhìn ra khoảng trống sáng sủa phía trước,hai bên trái phải có sông ngòi uốn khúc,đồi núi nhấp nhô. Quan sát Tứ Tượng là quan trọng bậc nhất cho việc định vị thổ trạch và diện tích căn nhà xây dựng. Định vị thổ trạch và diện tích xây dựng là xác định mối tương quan giữa nhà và đất thuận lý với trạch mệnh của người chủ cư ngụ.Nếu căn nhà xây dựng trên 1/2 miếng đất phía trước (phía mặt tiền Chu Tước),phong thuỷ cho rằng căn nhà ấy sẽ lợi ích cho người chủ đầu tư dưới 30 tuổi,cát vượng nhanh chóng,nhưng không bền vững lâu dài.Nếu căn nhà xây dựng trên 1/2miếng đất phía sau (phía mặt hậu Huyền Vũ),phong thuỷ cho rằng căn nhà sẽ lợi ích cho người trên 40 tuổi,cát vượng chậm nhưng chắc chắn,bền vững lâu dài và được sức khoẻ,tuổi trời.Tuy nhiên,xây dựng ngôi nhà giữa trung tâm miếng đất được coi là lý tưởng nhất,vì ngôi nhà được thụ hưởng tứ tượng.Trường hợp này sân vườn tiền tước nên rộng gấp đôi sân vườn hậu vũ,chí ít cũng rộng lớn hơn 54cm,giới thuỷ bên tả Thanh Long nên rộng hơn giới thuỷ bên hữu Bạch Hổ,chí ít cũng 5,4cm. 4. Thuật ngữ Cát - Hung thuỷ : Tướng Sơn (nhìn địa hình),Tướng thuỷ (xem nước) để đánh giá cát - hung của môi trường.Cát thuỷ là nguồn nước dẫn đến thì phải có nơi đón nhận ở phía trước (thuỷ nhập đường).Nếu là sông thì phải quanh co uốn kúc mới cát,còn chảy xiết xối,thẳng là hung.Nếu là suối thì phải êm đềm,lắm thác ghềnh thì dựng nhà sao được.Nếu là hồ,đầm thì mặt nước phải phẳng và trong ấy là cát,còn nếu đục ngầu,xói lở thật là bất lợi.Nói chung,nước trong thiên nhiên cần giữ nguyên trạng để bảo tồn nguyên khí,việc san lấp tuỳ tiện,đào rãnh khơi mương bừa bãi không cân nhắc sẽ ảnh hưởng đến dòng chảy,xâm hại môi trường khiến trường khí dương trạch bị suy tổn. 5. Thuật ngữ Hung Sơn Năm dạng địa mạo xấu cần tránh hoặc khắc phục: Đồng (trụi trọc),Đoạn (đứt khúc),Thạch (trơ đá),Quá (vượt ngoài hình thể,mất cân đối),Độc (lẻ loi,đơn côi).Đồng Sơn và Thạch Sơn cây ối làm sao sống,nước làm sao ngưng tụ.Đoạn Sơn,Độc Sơn,nhà nơi đồng không mông quạnh,không xóm giềng liệu sống được chăng? Còn Quá Sơn thì nhịp sinh học của người cư trú bị tán loãng,khiến suy bại nhiều lắm. Các qui hoạch dân cư mới,chưa xử lý hạ tầng theo hướng tích cực: Đường sá,cấp nước,lưới điện,đã xây dựng khu dân cư,là rất hung xấu. 6. Thuật ngữ Tương Hình Thủ Thắng : Khái niệm chỉ các biện pháp phong thuỷ tạo sự ổn định và thuận lợi cho dương trạch.Tập trung vào sáu chữ: Bối Sơn - Diện Thuỷ - Hướng Dương có nghĩa là dựa lưng vào núi,quay mặt về chỗ có nước,hướng nhà về phía có ánh sáng.Nếu mặt trước hướng Nam đón gió lành,có sông ngòi ao hồ ở chính diện tận dụngđược hơi nước và cảnh quan,có núi non và gò đồi ở hậu diện làm chỗ chắn gió lạnh phương Bắc,ấy là đắc cách.Nhưng thực tế khó lòng tìm kiếm được miếng đất như vậy,nên tương hình thủ thắng chính là nương theo điều kiệnsẵn có,dựa vào thiên nhiên mà điều chỉnh dương trạch của mình cho phù hợp. 7. Thuật ngữ Hình Pháp : Hình và khí luôn tương ứng nhau,đồng thời cũng tương ứng với chất (vật liệu tạo thành) và sắc (màu sắc,khí sắc).Hình nào thì khí ấy,chất ấy,sắc ấy.Xem hình để luận khí,vọng khí để diễn giải hình thể,luôn tương đối không thể tách rời.Cũng có lúc chỉ thấy hình mà khó đoán khí,đó là ngoại hình lấn át nội khí,cần phải đảm bảo tính xác thực,nếu không hình khí sẽ không song hành.Hình - Chất - Sắc tương ứng nhau theo mối quan hệ ngũ hành tương sinh,tương khắc.Từ mối quan hệ này mà chọn chất và sắc tương quan với hình và khí của con người cũng như dương trạch sao cho hài hoà và thuận lý. 8. Thuật ngữ Bát Phong Gío của 8 phương hướng mạnh,nhẹ,chính phụ xoay chuyển xung quanh cuộc đất có vai trò quan trọng đối với trường khí dương trạch.Nhà quay về hướng nào hoặc mở cửa mặt nào cũng là đón gió từ hướng đó nhiều nhất.Do đó phải tìm hiểu Hoa Gió để xếp đặt kiến trúc cho phù hợp.Không phải hướng gió thổi mạnh là tốt.Tránh gió xấu (nóng,lạnh,khô) mà đón được gió lành (mát,dịu,mang theo hơi nước) thì môi trường cư ngụ được hưng vượng. Cần lưu ý gió cục bộ (các mặt nước rộng,hẻm hút gió)để bổ sung dương trạch.Các hướng có gió xấu (Đông Bắc,Tây Bắc) có thể trồng cây ngăn bớt. Khi xem xét cuộc đất,việc nhận định gió và nước phù hợp là rất quan trọng.Không phải cứ có gió,có nước là đạt phong thuỷ.Nếu được phong tàng thuỷ tụ (gió ẩn,nước tập trung) tức là tạo khí tụ thì đảm bảo cân bằng sinh thái,giữ được nguồn gốc sự sống,nhược bằng gặp gió thổi mạnh và phân tán (phong phiêu) cùng với nước chảy mạnh thoát đi tuỳ tiện (thuỷ đãng) thì lại rất kỵ,không thể là cuộc đất dựng nhà cư ngụ tốt được.Thường các vùng Sơn cốc,phong cảnh hùng vĩ,có thác lớn suối sâu,gió lộng bốn bề,thì chỉ là các điểm dừng chân tham quan,nghỉ ngơi trong thời gian ngắn,nếu định cư lâu dài thì chính là chỗ phong phiêu thuỷ đãng,không hợp với nhịp sinh học của con người,không phải là thổ trạch tốt. 9. Thuật ngữ Tân Chủ Phong thuỷ xưa chỉ hình thế hai núi đối diện nhau như khách (tân),chủ phải nghiêm trang cân đối,nếu chủ khách không nhìn nhau sơn mạch lung tung thế đất khó cát tường.Ngược lại,nếu chủ,khách quá gần,không phân biệt trước sau,trên dưới thì cũng làm cho địa mạch bị kìm hẹp,là hung cách.Trong điều kiện đô thị,tân chủ tương đồng là nên làm nhà trong khu qui hoạch ổn định,tương xứng về chiều cao,hình khối,nhà đối diện nhau thì giữ khoảng cách minh đường thông thoáng,không mở toang của dễ bị xoi mói vào nhau,mà cũng không nên xoay xiên vặn lệch nhiều dễ gây tán khí,hư hại trường khí toàn khu. 10. Thuật ngữ Phò Môn Thuật ngữ chỉ sự bảo vệ,giữ gìn cửa nhà,hay cụ thể là giữ gìn phần minh đường phía trước mỗi thổ trạch.Minh đường có thoáng đãng,chu toàn thì mới nghênh đón được cát khí,đồng thời giảm thiều xung sát.Trước mỗi cửa chính,sân hay tiền sảnh cần tránh để các vật lạ như đá tảng,trụ điện hay độc thọ (cây lẻ loi) án ngữ,che khuất tầm nhìn và cản trở đi lại,nhất là khi chúng bị đối tâm môn (nằm giữa tâm cửa).Phò Môn còn là việc cấu tạo mặt ngoài nhà sao cho cửa không bị tác động xấu của thời tiết làm hư hao hoặc mở ra bị vướng.Tốt nhất là đại môn nên có khoảng giới thuỷ,lùi lại để tránh trực xung,đồng thời tạo cho minh đường khoảng lùi cần thiết,không nên nhô ra quá gần đường giao thông. Nói thêm về cô phong độc thọ.Nghĩa gốc là một núi (độc sơn) lẻ loi chầu trước huyệt,một thế đất xấu.Về mặt cảnh quan,nếu trước khu đất hay ngôi nhà bị án ngữ bởi vật thể hay chướng ngại: Trụ điện,miệng cống,cây to...đều gây cản trở tầm nhìn,mất mỹ quan và giảm sinh khí.Nếu có độc thọ thì gây cản trở đi lại,độc đạo thì gây hút gió trực xung.Khắc phục các nhược điểm trên bằng cách trồng rào cây cản gió hoặc xây tường lửng làm bình phong,nếu có trồng cây trước cửa thì nên bố cục hài hoà,trồng cây theo nhóm cao thấp tương quan hoặc đăng đối hai bên,tránh trồng một cây đơn độc chính giữa. 11. Thuật ngữ Thập Nhị Trượng Pháp : Là các giải pháp căn cứ theo quan điểm tổ chức cảnh quan để chọn lựa các cuộc đất hài hòa phong thủy .12 trượng pháp gồm: Thuận,nghịch,xúc (co lại),xuyết (tô điểm),khai, xuyên,ly (rời),một (mất đi),đối,tiết (cắt đứt),phạm và đôn.Trong đó quan trọng hơn cả là thuận trương (nương theo địa hình,tận dụng cảnh quan để chọn cuộc đất).Thuận trượng cũng có thể kèm theo nghịch trượng (tìm kiếm các hạn chế,dùng tương phản để tạo nổi bật).Thuận trượng đúng là đón nhận lai mạch của bản sơn (cuộc đất chủ thể) để sắp xếp không gian cảnh quan,định trung cung và long cục thủy khẩu. Vài ví dụ: + Đôn trượng,thủ pháp chính là đắp thêm nền để tạo sự thay đổi độ cao,bình sàn xây dựng và bài thủy tốt hơn.Đôn trượng phải bắt đầu từ việc xác định cao độ vốn có của thổ trạch và hướng bài thủy thuận (thoát nước). Nguyên tắc truyền thống của phong thủy cao độ phía sau phải cao hơn cao độ phía trước,Minh đường tiền trạch cần thoai thoải thoáng đãng,còn hậu chẩm (phía sau) có thể bả sơn tựa núi là thế chủ toạ vững chắc,phát triển lâu bền về sau.Tại các vùng đất thấp trũng,đôn trượng là thủ pháp rất hữu hiệu để được một thổ trạch ổn định và cao ráo,tránh được ngập trũng,úng thủy cũng như những tác động xấu từ môi trường đem lại. Khai trượng,là giải pháp phức tạp nhất,lấy trọng tâm ở việc tránh trực xung.Quyết yếu là đường khí không được đi thẳng vào trung tâm,phải để cho đường khí chạy theo hai bên mà vào.Trong chọn huyệt vịcho thổ trạch,có long mạch chầu về mà quá gấp,quá thẳng,chĩa vào trung tâm cuộc đất tức là trực xung,bất lợi.Nên chia tách trường khí,chuyển sang hai bên rồi mới vòng lại theo cách khí vận khúc tắc (uốn lượn) thì tất giảm được trực xung mà tàng phong tụ khí được nhiều. 12. Thuật ngừ Trung Cung Mỗi nhà hay căn phòng đều có một khu vực hoặc một điểm trung tâm gọi là trung cung.Từ trung cung (các hệ trục ngang,dọc,chéo) và phương hướng của ngôi nhà cũng như các bố trí xung quanh nó được thiết lập.Tuỳ điều kiện thực tế,có thể định vị Trung Cung của toàn nhà hay từng phòng riêng.Định truing cung toàn nhà để có cái nhìn tổng quát,từ đó phân các khu chức năng: Bếp,phòng khách,ngủ,vệ sinh.Định vị trung cung từng phòng là để tiếp cận chi tiết và đề ra giải pháp cụ thể.Tại trung cung của nhà không nên đặt các khu vệ sinh,kho chứa đồ vì sẽ ảnh hưởng không tốt đến trường khí toàn nhà. Trên Bát Quái hậu thiên,trung cung giữ vị trí số 5. Mồng năm (5) mười bốn (14) hai ba (23),đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn.Câu ca dao này đánh giá vai trò số 5 (1+4=5 và 2+3=5) quan trọng biết là ngần nào.Số 5 nơi trung cung là con số giữ vai trò cân bằng các hệ trục ngang,dọc,chéo của ma trận tam phương (xem chương Bát quái đồ),giữ vai trò chủ đạo trong việc kích hoạt nhập thế và xuất thế cho dương trạch. 13. Thuật ngữ Trần Thiết Dương Trạch : Tướng địa (chọn đất) và trần thiết (trang trí nội thất) là một thể thống nhất của phong thủy.Các nguyên tắc cơ bản của trần thiết dù biến thiên qua thời gian,song vẫn luôn thống nhất.Từ việc đặt bài vị (bàn thờ) không được nhìn vào khu vệ sinh (uế khí xâm phạm) đến cách bố trí cầu thang tránh đi trên chỗ giường ngủ hoặc chỗ làm việc vì gây bụi và va chạm.Phong thủy hướng các chọn lựa an toàn,ổn định và vệ sinh.Những chi tiết nhỏ như: Giường ngủ không được đặt gương soi đối diện vì tránh luồng hung khí phản chiếu,gây ảo giác cho người nằm ngủ hoặc dầm,xà băng ngang đầu người sinh hoạt bên dưới dễ là nơi bám bụi và khó chiếu sáng...Chính là các nguyện tắc cơ bản khá thiết thực khi bố trí nội thất và xếp đặt không gian. 14. Thuật ngữ Thủy Dụng Khái niệm chỉ việc sử dụng nước trong dương trạch sao cho hợp lý ,hài hoà.Những khu vực sử dụng nước nhiều như phòng tắm,sàn nước...phải lưu ý bài thủy thông suốt,lưu ý tới vấn đề thủy luân,tránh tù hãm hoặc nước tĩnh,nước không chảy tức là không tạo được dòng sinh khí,nhưng nước chảy mạnh quá,không tương đồng với nhịp sinh học của người cư ngụ thì cũng gây ra tán khí.Chú ý trong dương trạch phải vừa có tụ diện thủy (nước trên mặt thao kiểu hồ cảnh) vừa đảm bảo duyên chữ thủy (nước sạch dự trữ trong nhà) thì mới đảm bảo vừa có trường khí sinh động bên cạnh nguồn nước dùng cho sinh hoạt lâu dài và ổn định.Ngoài ra,thủy dụng còn bao hàm ý nghĩa xuất thế trong việc Vọng nước cầu Long. 15. Thuật ngữ Khiêm Trạch Ngôi nha 2tuân thủ theo quẻ Khiêm (Địa/Sơn Khiêm) bao hàm ý nghĩa sâu xa về sự cân đối,hài hòa,vừa phải.Công trình càng lớ,càng đổ nhiều tiền của thì càng phải tính sao cho khiêm tốn,dùng tiền đúng chỗ đem lại hiệu quả.Cùng là điều kiện tự nhiên như mưa,nắng,ẩm,gió,song hành với những hoạt động hành ngày của con người như thân nhiệt,hơi thở cho đến phân rác hay các quan hệ xã hội,láng giềng đều có thể trở thành phúc hay họa.Xây nhà cửa mà tận dụng được những yếu tố bên ngoài thì là hợp với đạo khiêm.Khiêm trạch đối lập với phô trương chứ không đồng nghĩa với thấp bé hay thiếu thốn.Không phải cứ mờ nhạt hay khép nép là khiêm,mà khiêm trước hết cái gì lớn thì lớn,cái gì nhỏ thì cần nhỏ,hình thức tương xứng với nội dung,không làm cho cái vẻ bên ngoài nhiều hơn cái thực có bên trong.Cân bằng âm dương,tĩnh động tương sinh ngũ hành chính là hướng tới khiêm trạch vững bền. Trên đây chỉ là 15 trong vô số các thuật ngữ kinh điển của phong thủy truyền thống.Nên coi 15 thuật ngữ này là luận thuyết căn bản để học biết,để kế thừa,vận dụng trường hợp có thể,để thụ hưởng lợi ích cho căn nhà cư ngụ.Dương trạch xây dựng mới hay đã cư ngụ đều có thể ứng dụng.Với xây dựng mới,chỉ sau khi làm quen và xác định được những khái niệm trên mới nên nhờ kiến trúc sư hoặc kỹ sư xây dựng tiến hành thiết kế và xây dựng.Với dương trạch đã ngụ,có thể tu sửa các khiếm khuyết,khắc phục những có thể trong khả năng có thể,điều đó chỉ khiến căn nhà cư ngụ cát vượng hơn. Giải pháp nền đất lập trạch nên thế nào? Quan niệm coi trọng phần xây dựng hơn phần nền đất là sai lầm.Chẳng phải tiền mua đất cao hơn rất nhiều lần tiền làm nhà đó sao? Đất là căn bản của dương trạch không bao giờ được coi rẻ.Thiếu gì những căn nhà lộng lẫy,nguy nga,xanh xanh đỏ đỏ,được xây cất trên bùn ao,đất bạc màu,thậm chí bãi rác xà bần.Căn nhà cư ngụ xây dựng trên nền đất kiệt khí hoặc khí uế tạp khó lòng cát tường. Cần vượt qua quan niệm sai lầm: Mặt sàn tráng xi măng,lát đá hoa hay gỗ có thể che lấp được tất cả những gì vùi lấp dưới nó.Và sai lầm hơn khi cho rằng: Vùi lấp thứ gì xuống nền chẳng được,miễn là không tốn tiền,tiền bạc hào phóng cho việc xây dựng và mua sắm trang thiết bị,đồ đạc hiện đại. Bởi chưa biết: Khí mạch làm sao tốt lành được khi đi qua nền đất xú uế,kiệt,bạc để lên nuôi dưỡng căn nhà. Vì vậy,phong thủy lưu tâm vấn đề nền đất lập trạch cho căn nhà mới xây dựng hoặc căn nhà đã ngụ nay có điều kiện tu bổ sửa chữa.Giải pháp nhập thế và xuất thế đề xuất. Nhập thế: Thay toàn bộ (nhấn mạnh,bỏ tất cả,đừng tiếc,dù là loại thổ gì) phần đất đào sâu xuống để đóng cừ,đào móng hoặc hệ thống móng,bằng loại cát thật sạch.Chiều sâu đào xuống ít nhất là 54cm.Giải pháp này gọi là thay chiếu hay nệm mới cho giường.Dòng khí từ dưới đất được lọc sạch trước khi chảy lên nhà.Giải pháp này vô cùng lợi ích cho căn nhà và sức khỏe chính là tài lộc. Xuất thế: Căn cứ theo Bát Quái đồ và sở nguyện của chủ dương trạch,có thể đặt dưới lớp nền cát này 7 hoặc 9 viên đá (nên đẽo tạc hình con cóc),đặt trên hai lớp 50+45=90 đồng tiền chinh cổ.Viên đá chủ (cóc cái) ngậm 4 đồng chinh nơi miệng và bụng.Cộng là 99 đồng chinh.Đây là giải pháp đặt thổ sinh kim cầu mong điều muốn.Nhập thế thì nên làm,Xuất thế tuỳ tâm.
  11. Không hiểu bị bùa mê hay mắc chứng bệnh gì, cứ một lúc bà Việt lại cởi bỏ quần áo nhảy xuống sông ngâm mình bất kể thời tiết. 50 năm trước bà vốn là người hoàn toàn bình thường, khỏe mạnh theo chồng lên Hà Giang đi xây dựng vùng kinh tế mới năm 1962. Không hiểu bị bùa mê thuốc lú hay mắc căn bệnh lạ gì mà từ đó bà mắc phải chứng bệnh lạ là cứ một lúc lại cởi bỏ quần áo, nhảy xuống sông ngâm mình dưới nước, cho dù là nắng nóng hay những lúc trới đông tháng giá. Cho đến nay đã trải qua 50 năm, thiếu nữ đã trở thành bà già 74 tuổi nhưng bà Phạm Thị Việt (ngụ thôn Đại An, xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, Nam Định) vẫn có những hành động kỳ dị nêu trên. Không giải thích được nguồn cơn căn bệnh lạ, người dân địa phương cho rằng bà bị “yểm bùa” nhưng không biết cách hóa giải nên mới khốn khổ cả đời như thế. “Thúy Kiều bạc phận” Thôn nữ Việt sinh ra trong một gia đình thuần nông, là con út của một gia đinh có 3 anh chị em. Khi còn là thiếu nữ, hai chị em Việt đã nổi tiếng xinh đẹp khắp vùng Hạ của huyện, mà đến giờ những người cùng lứa tuổi nhớ lại câu chuyện vẫn ví “hai chị em đẹp người đẹp nết như hai chị em Thúy Kiều”. Một người bạn cùng trang lứa với bà kể lại, ngày ấy đời sống người dân còn nhiều khó khăn, đến cái ăn còn chưa đủ nói gì đến chuyện quần áo đẹp đẽ như bây giờ. Một người cũng chỉ một, hai bộ, có khi quần áo rách còn vá chồng, vá đụp lên nhau, chất liệu vải chủ yếu là đũi, nái từ cái xấu nhất của kén tằm dùng để dệt may quần áo; thậm chí người ta còn dùng củ nâu hoặc thuốc để nhuộm nhằm giữ độ bền của quần áo. Ảnh minh họa. Tuy là con nhà nghèo nhưng trời phú cho hai chị em làn da trắng hồng, khuôn mặt thanh tú, mái tóc đen dài chấm gót cùng với dáng người dong dỏng cao. Chiếc áo nâu, quần đen mặc trên người tưởng là xấu xí nhưng trái lại, càng tôn thêm vẻ đẹp của hai cô thôn nữ xuân thì. Mỗi lần hai chị em Việt đi làm đồng hay bãi trồng ngô, khoai, không biết bao trai làng phải siêu lòng trước nhan sắc mặn mà của hai nàng và thầm mơ ước đôi lứa. Đến tuổi cập kê của hai cô con gái, gia đình lão nông nghèo lúc nào cũng tấp nập thanh niên các nơi đến chơi, đánh tiếng. Người mẹ già mỗi tối đều tất bật, chúi mũi vào bếp lửa đến đỏ mặt vì liên tục đun nước tiếp khách cho con. Người chị tên Tâm sau đó đã xin bố mẹ cho thoát ly vào làm công nhân sau đó lấy chồng cùng xí nghiệp. Còn cô em gái tên Việt thì vẫn ở nhà làm đồng ruộng cùng bố mẹ. Bà Tâm kể lại, ngày ấy em gái bà được một anh cán bộ phòng thương nghiệp là con của một gia đình có kinh tế khá giả trong huyện đến hỏi khi Việt tròn 20 tuổi. Cuộc sống gia đình thêm hạnh phúc khi Việt sinh hạ được một cậu con trai kháu khỉnh. Những tưởng cuộc đời của cô thôn nữ xinh đẹp sẽ sống cuộc sống hạnh phúc viên mãn. Tuy nhiên, cũng bắt đầu từ thời kỳ những năm 1961 – 1962 này, Nhà nước có chủ trương đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu… Ban đầu là cán bộ chủ chốt cùng những gia đình tự nguyện mới được động viên đi. Tuy chị Việt không thuộc diện, nhưng do người chồng đã đăng ký xin đi cho cả hai vợ chồng và đứa con nhỏ cũng lên đường nên dù không muốn phải xa những người thân trong gia đình, bạn bè hàng xóm, nhưng phận gái “xuất giá tòng phu” nên cô cũng phải chiều theo ý chồng. Nước mắt chia tay bịn rịn giữa kẻ ở, người đi làm cho buổi tiễn đưa càng thêm buồn. Mặc dù cũng chỉ cách nhau vài trăm cây số nhưng mọi người đều hiểu phía trước là nhiều khó khăn chờ đợi khi nơi xây dựng vùng kinh tế mới là nơi “rừng thiêng, nước độc”, điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Bố mẹ chị và người thân trong gia đình cũng chỉ biết an ủi, động viên và cầu mong cho con cháu mình được mạnh khỏe, bình yên. Khi cuộc sống dần trở lại bình thường, những trống vắng trong gia đình cũng đã dần được khỏa lấp với cả kẻ ở, người đi thì đúng hai tháng sau bố mẹ chị nhận được tin sét đánh cô con gái bị chồng “trả về”. Một buổi chiều muộn, vợ chồng cô con gái út quần áo bụi bặm đưa nhau về quê. Ban đầu người làng cho rằng do không chịu được cực khổ nên họ quay về. Thế nhưng ngay tối hôm đó, người con rể đã đưa chị Việt nhà bố mẹ vợ và xin được “gửi” lại ông bà ít ngày để “vợ con chữa bệnh, khi nào khỏi con sẽ về đón cô ấy lên”. Hỏi đến đứa cháu thì anh con rể nói gửi người quen trên đó nên ông bà đã sinh nghi. Anh con rể đi rồi, ông bà mới gặng hỏi cô con gái thì chỉ nhận được sự im lặng và những hành động kỳ dị của con mình. Ban đầu ông bà và mọi người trong gia đình chỉ nghĩ chắc vợ chồng khúc mắc, bất hòa nên con gái mình như vậy, cứ từ từ rồi con mình sẽ bình tâm. Thế nhưng cả gia đình thất kinh khi đến đêm thứ 3, kể từ khi về nhà, chị Việt đêm nào cũng bỏ nhà đi lang thang suốt đêm làm cho mọi người trong gia đình vô cùng lo lắng đến sáng sớm. Lạ một điều là cứ đến sáng là chị lại trở về nguyên vẹn, chỉ có điều lạ là toàn thân ướt sũng nước. Cũng từ hôm đó người dân trong làng xôn xao bàn tán việc hàng đêm trên bến sông ven làng có “con ma thiếu nữ” không mặc quần áo; lúc dật dờ trên bờ, lúc lõm bõm dưới sông. Câu chuyện rợn tóc gáy khiến người cứng bóng vía cũng không dám bén mảng gần bến sông vào buổi tối nữa. Riêng gia đình chị Việt thì biết “con ma” ấy là ai, và cũng lờ mờ hiểu ra rằng cô con gái mình mắc chứng bệnh lạ. 50 năm khốn khổ Mắc bệnh lạ cứ thích ra bến sông ngâm mình suốt đêm, rồi về sau khi bệnh nặng hơn thì cả ban ngày cũng lao xuống nước, cuộc sống của người thiếu phụ này cũng gắn với nhiều tính huống bi hài. Một người trong làng từng là dân quân địa phương năm xưa, có nhiệm vụ hỗ trợ các đơn vị phòng không đóng ở địa phương kể lại, vào những năm 1967- 1968, khi để quốc Mỹ điên cuồng cho máy bay bắn phá Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định thì đơn vị pháo cao xạ của bộ đội ta được tăng cường dọc theo tuyến đê tả sông Đào, con sông chạy qua ngôi làng nơi chị Việt ở để chặn đánh địch, bảo vệ thành phố. Ngày đó dọc theo hai bên bờ sông là cây cối rậm rạp, những khu vực này trở thành trận địa vừa bảo đảm ngụy trang an toàn, vừa bảo đảm yếu tố kịp thời đánh máy bay địch. Ngày ấy trước những lời đồn thổi về “ma lội sông” làm cho anh em trong đơn vị pháo cao xạ cũng e ngại, nhiều người đưa ra giả định đây có thể là âm mưu của địch khi thả biệt kích, gián điệp để chỉ điểm trận địch của ta. Nếu đúng như vậy thì đơn vị xin ý kiến cấp trên phương án di chuyển trận địa đến một vị trí khác, đồng thời cử một nhóm quyết tâm vạch trần “con ma này”. Như thường lệ, buổi tối cuối đông, trên bến sông mưa phùn lất phất hạt, những cơn gió âm u từ mặt sông thổi tới tấp vào mặt những người lính trẻ, có thể cảm nhận cái lạnh tê buốt của mùa đông. Đơn vị lập nhiều phương án tiếp cận “đối tượng”, sau đó mọi người vào vị trí trong tư thế sẵn sàng đợi lệnh. Đồng hồ điểm 21 giờ, từ trên triền đê một bóng người thấp thoáng xuất hiện mỗi lúc một rõ. Khi đến gần bãi sông, người đó chẳng thèm để ý xung quanh trút bỏ quần áo, rồi lặng lẽ bước xuống làn nước giá lạnh. Một tiếng hô nghiêm khắc vang lên: “Ai? Ra bến sông giờ này làm gì?”. Đáp lại câu hỏi, người dưới sông vẫn thản nhiên vẫy vùng, đầm mình trong nước. Cho tới khi các mũi “tập kích” ập đến, “đối tượng tình nghi” được đưa lên bờ, trong ánh sáng mù mờ mọi người nhận ra đó chính là cô Việt người trong làng, nhà cách bãi sông không xa. Ngay lập tức cha mẹ cô được đưa đến, ông bà xác nhận đây chính là cô con gái của mình và “từ lâu em nó đã bị mắc bệnh lạ nhưng vì ngại với mọi người nên chúng tôi không dám nói ra”. Bệnh tình của cô Việt càng ngày càng nặng hơn, nếu như trước đó chỉ phát về đêm thì nay cả ban ngày và bất kể lúc nào cô cũng có những hành động nghịch nước. Có lần do gia đình trông coi kỹ quá không cho cô xuống nước, “phát cuồng” vì nhớ… mặt sông nên lợi dụng sơ hở cô đã bỏ nhà đi lang thang suốt vài tháng trời. Người chị kể lại: “Lần cô ấy bỏ đi lâu nhất là bốn tháng. Sau khi đi tìm khắp các bến sông không thấy đâu, gia đình cũng đành buông xuôi, coi như mất tích. Thế mà chẳng hiểu sao cô ấy lưu lạc sang tận vùng An Lạc, Vũ Thư (tỉnh Thái Bình)”. Thời kỳ này trên cả nước người dân đều đề cao cảnh giác “phòng gian, bảo mật” trước những âm mưu thâm độc của kẻ thù khi chúng thả một loạt biệt kích, chỉ điểm khắp các nơi để chỉ điểm cho máy bay địch ném bom và phá hoại các công trình phúc lợi xã hội, an ninh trật tự của ta. Chẳng thế mà trước sự cảnh giác của quần chúng, nhân dân, quân và dân ta đã bắt và trừng trị nhiều tên gián điệp, biệt kích của địch bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của Nhà nước và nhân dân. Với tinh thần cảnh giác như vậy, thời gian này người dân cùng An Lạc phát hiện một phụ nữ lem luốc, có những hành động bất thường cùng hành tung bí ẩn đặc biệt là “lúc lên bờ, lúc ngâm mình dưới sông”. Mọi người đều cho rằng chị này nếu không là việt gian, phản động thì cũng là phường trộm cắp nên mới lén lút như vậy. Sau đó, chị Việt bị người dân bắt giữ, đưa về đình làng xét hỏi. Người dân đổ xô đến xem rất đông, thấy trước những câu hỏi của dân quân, tự vệ như: “Tên là gì, nhà ở đâu…”, mọi người chỉ nhận được sự im lặng của “đối tượng tình nghi”. Nhiều người không giữ nổi sự bình tĩnh đã yêu cầu dân quân: “Cứ đánh cho nó một trận là nó phải khai ra hết”. Thế nhưng có đánh cũng chẳng khai thác thác thêm được gì. Lúc đó, có người đến xem nói hôm trước có việc sang thành phố Nam Định được biết có gia đình đi tìm tung tích người lạc. Nạn nhân có đặc điểm nhận dạng “có nốt ruồi trên khóe môi và một bên vành tai bị sẹo”, mọi người kiểm tra lại “đối tượng” thì quả đúng là như vậy. Thương hại đã tâm thần lại bị mấy trận đòn đau, người dân địa phương đã quyên góp tiền, gạo và cử người đánh xe bò chở cô về tận gia đình. Thế nhưng xe bò vừa đi đến đầu làng thì cô Việt đã cởi quần áo nhảy ào xuống sông ngâm mình, không còn cách nào khác, người đánh xe bò phải mang quần áo, gạo tiền vào gia đình, kể lại mọi sự tình rồi nhờ người ra bến sông nhận con đưa về. Tuổi già hiu quạnh Sau khi vợ mắc phải bệnh lạ, người chồng cũng từ đó biệt vô âm tín, chẳng thấy thăm non, hỏi han gì vợ. Những người đi xây dựng vùng kinh tế mới về chơi kể lại rằng sau đó anh ta đã chung sống với một người phụ nữ vùng cao. Nhiều người quả quyết rằng bà Việt lên Hà Giang đã bị người vùng cao yểm bùa nhằm mục đích cướp chồng. Loại bùa bị yểm có thể là “bùa vịt”, vì cứ khô người là lại muốn xuống sông, xuống ao ngâm mình như… con vịt. Thương con,cha mẹ thiếu phụ bất hạnh cứ nghe ở đâu có thầy hay, thuốc tốt lặn lội đi nhờ thầy hay mua thuốc cho bằng được. Có lần ông bà còn khăn gói lên tận nơi người con rể ở Hà Giang để nhờ người ta hóa giải bùa chú cho con gái mình. Tuy nhiên, tất cả đều chìm trong tuyệt vọng vì theo người dân vùng cao nói: “Người nào đã bị yểm bùa thì đến khi chết mới có thể hóa giải, gỡ bùa ra được nên người bị yểm bùa cứ sống ngắc ngoải không chết được”. Chán bùa chú, cúng lễ ông bà cũng đã từng đưa con đi bệnh viện tâm thần Châu Quỳ ( Gia Lâm), bệnh viện tâm thần tỉnh Nam Định… nhưng cũng chẳng đem lại kết quả gì. Kinh tế gia đình điêu đứng, gia sản kiệt quệ vì cô con gái, ông bà cũng đành bất lực nhốt con trong nhà ngày ngày thay nhau chăm sóc. Sau nhiều năm đau buồn vì chuyện của con, cả hai ông bà lần lượt qua đời, người anh trai cả cũng chẳng may mất sớm, hoàn cảnh kinh tế gia đình càng thêm khó khăn. Lúc đó, người chị gái đang là công nhân xí nghiệp nhưng trước hoàn cảnh gia đình cũng đành xin về mất sức để trông nom người em bệnh tật, điện dại của mình. “Tôi chẳng biết em tôi bị bệnh gì, chỉ nghe mọi người nói bị yểm bùa vịt. Sao mà người ta ác thế, biến em tôi từ một người hiền lành, khỏe mạnh thành người có hành động kỳ quặc, điên loạn như vậy”, bà Tâm nói trong tiếng nấc uất nghẹn, có lẽ nước mắt bà đã cạn kiệt, không còn sau nhiều đêm khóc thương em. Qua tìm hiểu được biết người chị của thiếu phụ bị “trời đày” cuộc đời cũng truân chuyên. Lớn lên đi làm công nhân, mong thoát ly được nông nghiệp rồi bà lập gia đình với một người cùng xí nghiệp, thế nhưng sau nhiều năm mà hai vợ chồng vẫn không có con, cuối cùng chồng bà đã bỏ bà đi với người khác. Trở về quê, chị em bà được địa phương cấp cho 2 sào ruộng, lúc còn khỏe thì túc tắc làm được, bây giờ già cả ốm yếu nên hai sào ruộng đó phải nhờ bà con xóm giềng cấy hái, thu hoạch giúp. Trong ngôi nhà tạm bợ phía cuối làng, hai bà lão đang sống vật vờ hiu quạnh. Một người hàng xóm cho biết: “Người con trai của bà Việt năm nay có lẽ cũng khoảng 53-54 tuổi, nhưng đã lâu lắm rồi không thấy về thăm mẹ, có lẽ cuộc sống cũng khó khăn nên không có điều kiện về”. Căn nhà nhỏ lúc nào cũng cửa đóng im ỉm, bà Tâm mếu máo nói với chúng tôi: “Đã mấy chục năm nay nuôi người em điên dại, hai người già nương tựa vào nhau”. Cuộc đời khốn khó nhiều khi bà Tâm phải cắn răng chịu đừng chẳng dám kêu ca. Có khi hai người già vật lộn với nhau hàng tiếng đồng hồ, người chị thì cố ngăn em không cho xuống nước, người em điện dại thì tìm mọi cách để đi, có khi còn đánh đập, cào cấu người chị thâm tím cả mặt mày. Bà Tâm đưa cánh tay còn hằn những vết cào cấu còn rướm máu vì bị bà Việt cắn trước lúc chúng tôi vào cho chúng tôi xem. Vì vậy người chị phải thường xuyên cho người em uống thuốc an thần để bà Việt tạm thời “quên đi” sở thích ngâm nước của mình. Trong ngôi nhà nhỏ chẳng có gì đáng giá ngoài hai chiếc giường cũ kỹ cùng mấy bộ quần áo vắt ngang đầu giường. Chứng kiến hoàn cảnh, cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày của bà Việt đã nửa thế kỷ chỉ quanh quẩn trong nhà và bữa cơm đạm bạc hàng ngày của hai chị em bà mới thấy họ khổ sở như thế nào khi phải vật lộn với số phận nghiệt ngã và hiu quạnh lúc tuổi già, xế bóng. Ngay cả khi khách vào nhà trò chuyện, người chị cũng phải khóa trái cửa lại kèm lời thanh minh “cứ sơ xuất là cô ấy lại lao xuống ao, xuống sông thèm nước như người nghiện”. Ông Trần Văn Xe, trưởng thôn Đại An cho biết: “Hoàn cảnh của hai bà Tâm, Việt quả đúng là khổ bậc nhất trong làng. Mọi người trong làng đều cho rằng bà Việt bị yểm bùa nên mới bị điên loạn, lúc nào cũng đòi xuống sông, xuống ao ngâm mình, kể cả trong thời tiết giá lạnh. Địa phương cũng đã kiến nghị với Hội chữ thập đỏ và chính quyền địa phương, nhờ cấp trên hỗ trợ, giúp đỡ cho hoàn cảnh gia đình của hai người già có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn này. Hiện nay bà Việt vẫn được cấp thuốc chữa bệnh hàng tháng, tuy nhiên bệnh tật vẫn chưa thấy dấu hiệu thuyên giảm”. (Theo PLVN
  12. Hà Nội: Đi học thôi miên phí siêu khủng Gần đây cư dân mạng đang xôn xao bàn tán về một lớp học có giá "cắt cổ"- còn khá mới ở Việt Nam: Thôi miên trị liệu. Để tham gia vào khóa học này mỗi học viên phải trả tới hơn 5,3 triệu đồng/ngày và 85 triệu đồng cho khóa học 16 ngày. Các học viên của khoá học này có phải những người phát cuồng với khẩu hiệu "Đánh thức mọi tiềm năng" từ môn tâm lý vẫn còn khá mới này?! Choáng váng với học phí… Tại "Trung tâm nghiên cứu phát triển sức khỏe Thể- Tâm - Trí"- Nhà Văn hóa phường Yên Phụ, số 1/15, ngõ 189 đường An Dương, Tây Hồ, Hà Nội đang diễn ra khóa học thôi miên trị liệu khiến không ít người có ý định tham gia phải bàng hoàng khi nghe giá học phí của nó: 85 triệu đồng cho khóa học 16 ngày. Những khóa học tiếp theo sẽ có giá là... 299 triệu đồng. Khóa học này, chủ yếu học về các kỹ năng ứng dụng, thực hành, những nguyên tắc và kỹ thuật trong thôi miên trị liệu, chứ không học về lý thuyết của ngành thôi miên- Ví dụ như lịch sử của thôi miên, quá trình hình thành và phát triển... Thời gian học liên tục 16 ngày, cả lý thuyết và thực hành. Thời gian học mỗi ngày lên tới 13- 14 tiếng/ngày. Từ ngày thứ 6 của khóa học trở đi, học viên lại phải làm tiếp một bài tập về nhà với thời gian khoảng 2 tiếng đồng hồ. Không chỉ tiến hành đào tạo các chuyên gia thôi miên trị liệu mà tại Trung tâm này cũng tổ chức khá nhiều khóa học với giá cực cao như "Khóa học giàu có và cao thượng" với mức học phí là 49.9 - 59.9 triệu đồng cho 27 giờ học; Khóa "Đàm phán giao tiếp nâng cao" có giá xấp xỉ 20- 25 triệu đồng cho 27 giờ học... Ngay trên trang web www. thetamtri.vn của Trung tâm này cũng khẳng định: "Tất cả những khóa học và các chương trình đào tạo của Trung tâm Nghiên cứu phát triển sức khỏe Thể - Tâm - Trí đều là những khóa học và chương trình đào tạo có chất lượng, giá trị và đắt giá nhất tại Việt Nam". Khi hỏi về mức học phí "cắt cổ" mà Trung tâm đã thu của mỗi học viên, vị đại diện Trung tâm này khẳng định: Đây sẽ là khóa học đào tạo chuyên gia thôi miên trị liệu rẻ nhất của Trung tâm nhân dịp ra mắt (?!), đồng thời để tiến hành lựa chọn thành viên phục vụ cho việc mở rộng phạm vi hoạt động của Trung tâm trên cả nước thì Trung tâm mới quyết định mở một lớp đào tạo tổng hợp cấp tốc với mức giá này. Những khóa học tiếp theo sẽ có giá là... 299 triệu đồng. Cũng theo vị đại diện này: Sau khóa học học viên có thể tự thôi miên để ổn định cơ thể, tinh thần và chữa bệnh cho mình, tự lập trình ngôn ngữ để giúp mình thực hiện mọi nguyện vọng trong cuộc sống; thôi miên được cho người khác; nhận biết được các phép thuật của các thầy phù thủy, thầy bói, thầy cúng, lên đồng, áp vong, bùa, ngải... qua phương pháp thôi miên cổ điển; kỹ thuật thư giãn bản năng; biết chữa tất cả các bệnh bằng ám thị liệu pháp; được học và thực hành phương pháp giảm, cắt các cơn đau và chữa các bệnh đau mãn tính, chữa bệnh mất ngủ... Giá này vẫn còn thấp…(?!) Ông Nguyễn Mạnh Quân, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phát triển sức khỏe Thể - Tâm - Trí cho biết: "Sau "kịch bản" mất vàng tại Quảng Ngãi hồi cuối năm 2011 (chủ tiệm vàng vì nợ nần quá nhiều nên đã tự bịa ra kịch bản "bị trộm thôi miên" lấy hết tài sản nhằm trốn nợ- PV), nhiều người đã hiểu đúng về thôi miên- Nhưng đây không phải là lý do để khóa đào tạo thôi miên của tôi có giá cao như vậy!" Bản thân thôi miên trị liệu là một ngành khoa học trị liệu nghiêm túc với những phương pháp và kỹ thuật tác động vào bộ não để làm ổn định mọi nội tiết tố trong cơ thể. Nó giúp cho người ta thay đổi được cả tính nết và phong cách. Học thôi miên trị liệu lại không phải chỉ tự trị liệu cho bản thân mà còn trị liệu được cho người khác. Vì vậy nó có cái giá nghiêm túc của nó, học viên tham gia khóa học này cũng không cho đây là "giá cắt cổ", thậm chí còn...thấp (?!). Khóa đào tạo này có 114 người đăng ký nhưng chúng tôi cũng chỉ lựa chọn và đào tạo cho 16 người. Đối tượng đều có trình độ thạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư ở cả hai miền Nam, Bắc..."- ông Quân cho biết! Theo đại diện của Trung tâm này: Đối tượng đều có trình độ thạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư ở đủ các miền. Ông Quân còn khẳng định rằng: "Cùng là khóa học này, nhưng sắp tới,mức học phí sẽ là 299.999.000 đồng/khóa chứ không thấp như hiện nay! Nói là 16 ngày đào tạo, nhưng trên thực tế các học viên đã phải học liên tục 240 tiếng không kể thời gian làm bài tập lý thuyết về nhà. Mặc dù phải học nhiều thời gian trên lớp, nhưng các học viên vẫn luôn vui vẻ, khỏe mạnh, thoải mái, vẫn tiếp thu, thực hành tốt”. Cũng theo ông Quân, sau khi kết thúc khóa học, thì tất cả mọi học viên đã trở thành một chuyên gia thôi miên trị liệu thực thụ. Khi làm chủ được phương pháp tự thôi miên, thì chính là họ đã có trong tay một phương pháp hữu hiệu nhất để làm cho chính mình khỏe mạnh, hạnh phúc và thành đạt theo nguyện vọng của họ (lập trình ngôn ngữ tư duy). Bằng những khả năng mà các học viên đã phát huy, làm chủ được- cũng đồng nghĩa với việc "đánh thức mọi tiềm năng của con người", của chính họ và của cả những thân chủ của họ. Tất nhiên, nếu như để học hết trình độ thôi miên trị liệu, các học viên cần phải tham gia một khóa học nữa- Đó chính là trình độ 3 của thôi miên trị liệu. Học phí cao ngất là do lợi ích thôi miên mang lại? Ông Nguyễn Mạnh Quân cho rằng: "Việc xác định mức học phí được căn cứ vào chính những lợi ích mà thôi miên trị liệu mang lại: học viên có khả năng thôi miên để tự chữa bệnh và tự lập trình ngôn ngữ, làm cho chính họ khỏe mạnh, hạnh phúc và thành đạt. Trong khóa học, người tham gia còn được học thêm phương pháp trị liệu EFT- Đây là phương pháp điểm huyệt tâm lý để kết hợp với thôi miên y khoa để chữa bệnh cho mọi người. Thôi miên và EFT liệu pháp không chỉ dùng để chữa bệnh, mà lại còn làm cho tinh thần con người tốt lên. Giá của khóa học này lẽ ra còn cao hơn nhiều, nhưng để đào tạo ra những nhân tố thì chúng tôi cần có những con người có tư duy tích cực, có nguyện vọng lớn ngoài việc làm cho mình thành đạt, thì còn phải có tính cộng đồng và xã hội cao...". Nếu thực tế, hiệu quả đúng như ông Quân nói thì xem ra mức học phí này đã dược xem là "mức khủng" ??? (Theo Giadinh.net Đúng là thằng lừa đảo mong công an sớm vào cuộc điều tra làm roc chuyện
  13. This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 1024x724. Hinh số1 : nhân gia tối phạ Hỏa tà phi ….. Bên hông nhà có dòng nước chảy ngang qua : phía sau dòng nước nhỏ , phía trước nở rộng to, nhà ở giữa khoản nhỏ-lớn này …goi là thế HỎA TÀ PHI ….:sẽ bị suy vi Nhưng nếu dong nước này chi nhỏ ( như suối ,lạch mương) và từ phia tây đến : đó là thế ngoại chiến ( hỏa khắc kim ) …gia chủ phat tài lộc ……còn như đó là dong nước lớn ( kênh,sông) … cũng là xấu :suy bại không phát Hình số 2 : thế ngọc kỷ …cái ghế ngọc…..tốt Hinh 3: cái lưởi nước liếm sau nhà : suy bại , trong nhà hay cãi cọ ,không lợi cho người Mẹ, quan tụng , bại tài Hình 4 : thoát tài …phía trước nhà, bên tay trái (thanh long) co dong nước như mũi thương đâm hướng vào nhà : con chau bi quan hình Hinh 5 : dong nươc chảy thẳng đi : tuy phát nhưng lại có suy bại trong đó . nếu truóc co hình Thủy ( cong khuc khỉu ) rồi biến hinh Mộc /dai thẳng , gia can đủ xài… nếu chỉ môt khoản ngắn thôi (như 1 cai đầu ) , thi chủ trong nhà có yểu vong . Hình 6: thổ tinh nội bao : dong nước hinh vuông vắn (thổ) ,bao vong sau nhà : được phước bữu –tài bữu . Hinh 7: án kiếm thủy hía trước nhà co thế nước này , sẽ thanh đạt trong nghiệp võ Hình 8 : từ phía trước nhà , có dong nươc như vầy ,sẽ phát quan Hinh 9 : thủy mộc giao lưu : thủy hình thi khuc khỷu , mộc hình thi thẳng dài : trong nhà co người thanh công,cũng có người thất bại Hình 10 :thế THỦY TINH THÀNH : NẾU ĐƯOC DONG NƯỚC TỪ PHÍA TÂY CHẢY ĐẾN …..tài lộc quan chức đều được phát . Hinh 11: long xà thôn tỉnh : thế nước hay giao lộ ở trứoc nhà , rồi chạy đi gọi là vo tình : người trong nhà ngày càng ít , không còn ngừoi thân hay Ngừoi giúp việc Hình 12: ở trước nhà co con đường chử thập :mỗi năm dều có chuyện thi phi kiện tung, không an toàn Hình 13 : NHI HỎA KHẮC THÀNH : trong nhà sầu bi khong dứt , lai them hỏa tai .. Hình 14 : GIAO LƯU THỦY : Ở 1 GOC NHÀ co dong nước hay đường lộ giao nhau như trong hình : con cháu rốt cuộc cũng ngheo hèn . Hình 15 : KIM TINH HUNG THỦY : dong nước hay đường lô ,hinh cong hướng ra ngoài : nhà đất đều tiêu bại Hinh 16 : THANH LONG THÔN GIA: Dong nước hay đường lộ đều không tốt : trong nhà con cháu bệnh tật không yên . Hình 17 :VĂN TINH THỦY : Nước trong sang đẹp : co tài van chương cái thế , đổ đạt thanh danh Hình 18 : PHẢN THỦY-LỘ : Chủ con cháu tử vong không tốt .Nếu ở bên phải,thì ngừoi em suy …,nếu ở bên trái thi người anh bại Hình 19 :CHU TƯƠC ĐẦU : ở trước đầu nhà (chu tước ) có đường lộ như vầy là không tốt : tán tài ,hư nhà … Hình 20 : ÁM ĐỊA KIM : trước nhà có đường lộ như vòng thắt cổ ,bao quanh 1 khu đất nhỏ ( vườn hoa,giả sơn …) nhà đất bị tiêu hao dần dần Hình 21: ĐAO THƯƠNG THỦY ….dòng nước hay đường lộ hinh như cây thương …đó là sát khí giết người, rất hung hiểm : con chau nguy , tai biến đến hoài Hình 22: PHẢN CUNG THỦY : (DÒNG NƯƠC có tác động manh hơn đường lộ) : trong nhà sinh người phản phúc , con cháu phản bội gia phong Hình 23: có luồng nước hay dường lộ sau nhà như vầy không tôt : ly hương bại tài Hình 24: TRÙNG KIM THỦY THÀNH : có nhiều lớp (trùng) dong nước/đường lộ hình cong bao vòng sau nhà, cang gần càng tốt :tài lộc nhiều vo kể ….phước quý vô cùng Hình 25: ĐAO THƯƠNG THỦY : Ơ? Sau nhà có ao hồ hình như đao thương không tôt…chủ con cháu bị sát thương ( nếu ở bên Bach hổ là nguy cho con trai, thanh long nguy cho con gái) Hình 26 : TIỀN KHAI PHÂN THỦY : dong nuo+c hay đường lộ đến trước nhà rồi phan chia 2 bên : phiền não đến mỗi ngày : gia trưởng tất bị hại Hình 27: LY ĐÔ THỦY : tam mộc khắc nhất thổ : thổ thành hình vuông , mộc hình dài :ngừoi nhà phải đi xa…hoac bi chết ngày cang ít người . Hình 28 : trước nhà co 2 con đường phan ra hinh chử bát :sinh con ngổ nghich, gia đình phân tán Hinh 29 : trước nhà có đuong lộ quanh quẹo như khúc ruột già Hình 30 : có đường lộ này trước nhà : người nam như ở nhà tù , người nử sinh chuyện tà dâm ..dù chết cũng không từ Hình 31: có con lộ hay đường nước , từ ngay cửa dir a ngoài : tài sản cở nào cũng không giử được … rốt cuộc bỏ xứ mà đi Hinh` 32: LỘ HẬU BAO : lại có cay cỏ bao che ở sau nhà : phước hậu giàu sang Hình 33: phía ngoài trươc nhà có khối đá hình trâu nằm ,tao thanh án sơn che chắn : điền san tăng …nếu lại có thêm dong nước phóng thủy ở phương SỬU thì lục súc ngày cang tăng trưởng Hình 34: MỘC LỘ THỔ THÀNH : đường lộ dài thẳng , tao thành hinh1 vuông bao quanh trước nhà : tốt …. Nhưng nếu trồng nhiều cây sat cạnh nhà thi trơ thanh hung hiểm vì mộc tinh vượng khắc thổ tài Hình 35: MỘC ĐỚI THỔ LỘ : …gia phuc túc kim tài: nhà được phước ,đầy đủ tiền cũa .có đường lộ kiểu này ở thanh long hay bạch hổ đều tốt Hình 36: đưng trước nhà nhìn vào : bên tả thi co cây đá ngan trở ,kê` bên là con đường : nam nhân trong nhà binh phong tay rung …luc súc chậm lớn …tuy làm ra tiền rồi cũng tay không Hình 37: ở trước nhà làm đường đi hình dạng như trứng gà –vịt , hoac như hinh chân gà –vịt : trong nhà khẩu thiệt như gà vịt cáp cáp Hình 38 : trước nhà làm đường đi như tợ chiếc cầu : cha ở Phuong nam, con ở phưong bắc ,gia đinh không đoàn tụ Hình 39: nếu lai lộ ( đường dẫn đến nhà) quanh co như trong hinh,.lại co ao vung nước tư nhiên hay có đa nổi lên : ngừoi nhà nếu không làm quan, thì cũng được dại phước . Hình 40: 2 con đường lộ đất nhỏ đi thẳng đến gần nhà thì tẻ ngang mà đi :… • nhà có hương tây nam : lợi cho ngừoi mạng Khôn • nhà có hướng đông nam: lợi cho ngừoi mang tốn • nhà co hướng chinh bắc : nếu 2 con lộ đất nhỏ này co lạch nước chảy kem theo : 1 lộ đem lợi cho người mang cấn , còn lộ kia đem lợi cho người mang Kiền (dt chú thích : nếu ai biết được bát quái tràng sinh thủy pháp thì hiểu .xin miễn giãi thích) Hình 41: trước nhà co gò đất hình tựa như lưng người , phia tren nhô len vài cuc đá , cỏ lạ từ đó dần dần xuất hiện …..: trong nhà thường bi ưu phiền Hình 42 : nhà nao co đường đi va trông cây cao như vầy …không tốt : ví như nhà co 10 người thì sẽ khong vẹn toan, co người phai chết , nếu sồng thi phai rời xa gia dình không trở lai, có thanh co ‘ bai đa đoan lao tâm tổn sức
  14. Hình 43: LỘ THÀNH ĐINH TỰ ..HẠI NAN ĐÀO : ĐƯỜNG ĐI HÌNH CHỬ ĐINH ..nguy hai không thể tránh được : tư biệt sinh ly , trước nhà co đuong di kiểu này khong có chuyện tôt bao giờ Hình 44 : TIỂN XẠ THỦY :đường lộ hay dong nước như mũi bắn thẳng vao tim …tuyet nhien vô cat lợi Hình 45 : ở phía trước nhà ( hình vẽ ở tư thế đưng/ nhin từ phia sau nhà) ,co mấy luồng nươc hay đường lộ , hinh như mũi thương đâm xĩa vào nhà : nhà này chỉ thấy toàn việc ưu phiền Hình 46 : ĐINH TỰ LAI LỘ BẠI NHÂN ĐINH ,… CHỦ LY ĐÔ DIỆC CHỦ THƯƠNG : NẾU HƯƠNG VỀ TRƯƠC MÀ ĐI, DẦN DẦN THAP XUỐNG : THÌ TUYÊT NHÂN ĐINH ….NÊU CON ĐUONG BẰNG PHẲNG : BI THƯƠNG BẠI RỒI PHAI BỎ XỨ MÀ ĐI (XIN LỖI , 4 hinh kế tiếp quên đanh số khi đưa lên mạng , sẽ trơ lai sau với thứ tự :153,154,155,156) hình 47: HỒ LÔ THẠCH : trước nhà có hòn đá như vậy tốt lắm : ruộng vườn tiền của vô kể hình 48: THỦY NHIỂU THANH LONG THÂN : NGỪOI CON TRAI LON ẮT khoe manh sang trí .Nếu làm quan se được phươc tốt . hình 49 :PHẢN PHI THỦY-: DONG NƯỚC HAY ĐƯỜNG LỘ từ bên bach hổ ( bên phai cũa cai nhà , đứng trong nhà nhin ra trước đường ) chảy qua trước nhà ĐẾN PHÍA TRƯƠC ĐẦU THANH LONG rôi đi luôn : phá gia , người phân ly hình 50: nếu có con lộ từ bên hông đến trước nhà rồi bẻ ngoặc sat gần cửa : ngừoi trong nhà không an toàn, có khi chết ơ nơi xa . nếu lại ôm vao phía bên kia hong nhà , thi cang nguy hại hình 51 :trước nhà có chòm đá kỳ quái, cây cỏ cũng xấu : sanh con hinh dang như quỷ hình 52 : ở trước nhà có gò đất hình dạng như ngừoi ngồi chận cửa :người trong nha thần trí không tự chủ , không tốt . nhưng nếu thấy gò đất này ở ngoài đồng ruộng ,thi gọi la Thổ ấn : được phước lâu dài hinh 53 : huyền vũ thủy từ sau nhà tiến vòng ra trưoc nhà: trong nhà thường gia tăng tiền bạc . nếu dong nước hay dường lộ này tụ lai thanh cai hồ nhỏ : phươc bửu tiến điền tài hình 54: TIỀN BAO THỦY : DONG NƯỚC NHƯ DÂY THẮT LƯNG : cuon vòng bao trước măt. nhà : đại cát hình 55: XUNG PHÂN THỦY,HỬU TỈNH ÁN : tiền xung chi thủy lưỡng phân lưu ,hửu tỉnh ,phước trung dâm bất hưu …:trong nhà có người binh, có người đau mắt .nhà nay tuy được phươc , nhưng nhiều dâm loạn hình 56 : THẤT TỰ KHỨ : TRƯỚC NHÀ THẤY THẤT TỰ LỘ ,ĐÓ LÀ PHONG KIM LỐ : đoán biết nhà này phước bửu đầy đủ, bac tiền nhiều như núi . hình 57 : KHÚC THỦY BAO THÂN: THANH LONG THUY ĐẦU BAO THÂN ( ĐƯNG từ sau nhà nhìn) dong nước bao thân :nghĩa là chảy xuôi theo bên hông thanh long cũa nhà rồi đi ….: nhà nay được phước sẽ có người là bậc quan quý hình 58 : CHÙY ĐẦU THỦY BAO : Nhà này ắt nhiều lien lụy với quant y hình tụng .Không nên làm đường lô hay tao dong nước như vậy …..tuy là được thế THƯY LỘ BAO ĐẦU ….nhưng phải tranh kiểu CHUY ĐẦU .( GIONG NHƯ ĐẦU TRAI CHÙY) Hình 59: TẢ BIÊN THẤT TỰ HÌNH : cần yếu phai đoan chính .đoán là nhà này tiền cao như núi …..nếu như giống dạng con gà chết , thì ngày ngày đều găp sự ưu phiền Hình 60 :THỦY PHÁ MINH ĐƯỜNG : ( ĐÚNG từ sau nhà nhìn) : hình hại gia trưởng , nếu không sua dổi ngay …mang binh vong thân . Hình 61 : HẬU BIÊN PHẢN ĐINH THỦY: đinh thủy bại đinh nhan ….con chau trong nhà không yên …nếu thấy dong nước hay đường lộ này ơ bên goc nha ` đi ra … co thể châm chế . Nhưng nếu dinh thuy xung phá ngay trung tâm truoc nhà …thi cả Me già cung phải kinh hoàng .!!!!! Hình 62: LỘ NHƯ QUYỂN TẤT BẤT PHONG QUANG : đường lộ hình giống cùi cho hay đầu gối cong cong la khong tốt . chỉ nên giống hình cánh tay cong cong 1 chút thôi thi được phươc lành . như có đuong lộ quyển tất này : trong nhà có ngừoi bi tù nguc trận vọng … nhe thi co người bịnh chân tê bai, khong lìa xa giường
  15. Thời tiết thường thường thay đổi theo bốn mùa, bịnh lý cũng phải phân biệt theo bốn mùa. Sự tuần hoàn của huyết dịch trong cơ thể cũng tùy theo bốn mùa mà chuyển dịch. Cho nên sự trị liệu bệnh tật cũng phải phối hợp với bốn mùa thì mới đạt hiệu quả tốt. 1) TRỊ LIỆU BỆNH TIỂU ÐƯỜNG VÀO MÙA XUÂN Bài thuốc: Hột đu đủ, 100 hột Hột long nhãn, 50 hột, giã nát Hột trái vải, 50 hột, giã nát Cách dùng:Cho tất cả vào nồi với 4 chén nước và nấu lên cho sôi trong 10 phút, thêm vào một chút xíu muối. Thời gian uống được qui định: Chiều 5 giờ uống 1 chén. Tối 11 giờ lại uống thêm 1 chén nữa. Uống liên tục trong 10 ngày, đi bệnh viện khám lại xem độ đường trong máu có giảm không? Nếu thấy tốt, ngưng 10 ngày, sau đó lại tiếp tục uống thêm 10 ngày nữa thì khỏi bệnh. 2) TRỊ LIỆU BỆNH TIỂU ÐƯỜNG VÀO MÙA HẠBài thuốc: Hột khế, 30 hột Hột quít, 30 hột Hột trái vải, 30 hột Cách dùng:Ba thứ hột trên đem giã nát rồi cho vào nồi với 4 chén nước và nấu lên cho sôi trong 10 phút, thêm vào một chút muối. Thời gian uống: 4 giờ rưởi chiều uống 1 chén. Tối 10 giờ uống 1 chén. Uống liên tục trong 10 ngày. Ngưng uống, đi khám nghiệm xem có bớt không? Nếu thấy tốt, nghỉ 10 ngày, rồi lại tiếp tục uống thêm 10 ngày nữa. 3) TRỊ LIỆU BỆNH TIỂU ÐƯỜNG VÀO MÙA THUBài thuốc: Vỏ quít, 3 cái Cà rốt, 3 củ Hột long nhãn, 50 hột, giã nát Cách dùng:Cà rốt rửa sạch để nguyên vỏ, xắt lát. Cho tất cả 3 thứ vào nồi với 5 chén nước và nấu sôi lên trong 10 phút, thêm vào một chút muối. Thời gian uống: 5 giờ chiều uống 1 chén. Tối 11 giờ uống 1 chén. Uống liên tục trong 10 ngày. Ngưng uống, đi khám nghiệm lại xem có giảm bệnh không? Nếu thấy tốt, ngưng 10 ngày, rồi lại tiếp tục uống thêm 10 ngày nữa thì khỏi bệnh. 4) TRỊ LIỆU BỆNH TIỂU ÐƯỜNG VÀO MÙA ÐÔNG Bài thuốc: Hột khổ qua, 30 hột Hột quít, 30 hột Hột khế, 30 hột Cách dùng:Ba thứ hột đem giã nát, cho vào nồi với 4 chén nước rồi nấu lên cho sôi lên trong 10 phút, thêm một chút muối. Thời gian uống: 5 giờ chiều uống 1 chén. Tối 11 giờ uống 1 chén. Uống liên tục trong 10 ngày. Ngưng uống, đi khám nghiệm lại xem có giảm bệnh không? Nếu thấy giảm, ngưng 10 ngày, rồi lại tiếp tục uống thêm 10 ngày nữa thì sẽ khỏi bệnh.
  16. 28 điều kiện về huyệt mộ trong phong thủy học “28 yếu” là một trong 10 bí quyết của Cửu Ca. Đó là 28 yêu cầu về long, huyệt, sa, thủy của huyệt mộ bao gồm: 1. Long phải sinh vượng nghĩa là long mạch phải dài, khí đến thì huyệt kết. 2. Long mạch phải nhấp nhô nghĩa là khí đi theo triền núi ở trong đất đến huyệt mộ, nếu không lên xuống sẽ bị đứt mạch khí và không đến được huyệt mộ. 3. Mạch phải nhỏ vì mạch lớn khí sẽ bị tản. 4. Huyệt phải tàng thì mới giữ được khí mạch, tàng phong. 5. Lai long phải gặp huyệt cát có nghĩa là long mạch phải gặp huyệt tàng phong đắc thủy thì huyệt mới kết phát. 6. Đường phải rộng, sáng, phẳng có nghĩa là minh đường phải rộng, sáng, phẳng thì mới giữ được khí, gió, thủy. 7. Sa phải sáng có nghĩa là gò Thanh Long, gò Bạch Hổ phải rõ ràng, sáng sủa. 8. Thủy phải đọng nghĩa là nước phải ngưng đọng, bao bọc huyệt mộ. 9. Sơn phải bao nghĩa là núi bao quanh huyệt mộ. Câu này có ý chỉ triều mộ và gò hướng mộ. 10. Thủy phải ôm là dòng nước chảy phải ôm huyệt mộ. 11. Long phải miên là gò Thanh Long “ngủ”, ý nói gò Thanh Long phải nhu thuận. 12. Hổ phải thấp có nghĩa là gò Bạch Hổ không được cao hơn gò huyệt. 13. Án phải gần có nghĩa Án Sơn phải ở gần huyệt mộ. 14. Thủy phải tĩnh tức là dòng nước phải trong, tĩnh lặng, không được chảy ồ ạt. 15. Tiền có quan ý chỉ trước mộ phải có tinh quan (gò nhỏ). 16. Phòng có thần là chỉ sau mộ phải có quỷ tinh (gò nhỏ). 17. Hậu có chẩm lạc nghĩa là sau mộ phải có gò nhỏ như chiếc gối. 18. Hai bên có giáp chiếu nghĩa là 2 bên mộ phải có gò nhỏ như 2 tai mộ để bảo vệ mộ. 19. Thủy phải giao là chỉ các dòng nước phải giao nhau và bao bọc lấy huyệt mộ. 20. Thủy Khẩu phải có gò che chắn là nói cửa sông phải như cái hom, nước vào không bị tản đi. 21. Huyệt phải tàng phong là chỉ huyệt phải được núi, gò bao bọc và có gió tụ ở bên trên huyệt. 22. Huyệt phải tụ khí là nói huyệt phải có núi, sông, gò bao bọc và có khí tụ. 23. Bát quốc không được khuyết có nghĩa là 8 hướng đều có núi và gò che chắn. 24. La Thành không được tản là chỉ các núi bao bọc như la thành không được tản mát. 25. Núi không được lõm chỉ các núi có long mạch và không được lõm, trũng. 26. Thủy không được phản cung ý chỉ dòng nước không được quay lưng vào huyệt mộ mà phải chảy bao quanh mộ. 27. Đường phải vuông vắn là chỉ minh đường phải vuông vắn, rộng lớn. 28. Núi phải cao là chỉ các núi như Thái Tổ Sơn, Thiếu Tổ Sơn, Phụ Mẫu Sơn, gò mộ, Án Sơn, Triều Sơn, gò Thanh Long, gò Bạch Hổ phải cao. Trong phong thủy, long mạch là yếu tố quan trọng hàng đầu. Long mạch là địa mạch mạnh mẽ, mềm mại, thoắt ẩn thoắt hiện như rồng. Địa mạch lấy hướng núi sông làm tiêu chí. Vì vậy, các nhà phong thủy gọi địa mạch là long mạch, là khí mạch đi theo mạch núi. Nói về long mạch phải phân biệt mạch chính và mạch nhánh. Tìm được mạch chính mà lại đặt huyệt ở mạch nhánh là không cát. Long mạch có quan hệ mật thiết với các núi, gò của huyệt mộ. Nếu chân long (long mạch chính) thì cần có nhiều gò núi bảo vệ. Nếu có nhiều gò núi hộ vệ, chủ về sự phú quý. Nhưng nếu mất khí của long mạch là đại hung. Nhận đúng long mạch sau đó phải quan sát thủy khẩu (gò, núi xung quanh hoặc ở giữa cửa sông), Án Sơn (núi che chắn phía trước huyệt mộ), Triều Sơn (núi ở phía trước nhưng xa huyệt mộ hơn Án Sơn), minh đường (khoảng trống phía trước huyệt mộ), Thanh Long (gò, núi ở bên trái huyệt mộ), Bạch Hổ (gò, núi ở bên phải huyệt mộ). Thế của long mạch lấy mềm mại, linh hoạt làm quý. Long mạch lên xuống trùng trùng, uốn lượn như cá nhảy chim bay gọi là sinh long, là địa huyệt cát. Nếu long mạch thô thiển, ngang, ngược, cồng kềnh, uể oải như cây khô, cá chết là tử long, là địa huyệt hung. Nhà phong thủy chia long mạch thành các loại: cường long, nhược long, phì long, thuận long, nghịch long, tiến long, thoái long, bệnh long, kiếp long, sát long, chân long, giả long, quý long, tiện long… Long mạch được núi vây quanh dày đặc là sự bao bọc, hộ vệ tốt hay còn gọi là có tình - không lệch, không đi ngược. Hình thế long mạch được xem là cát thì phải đoan trang, nho nhã, tú lệ. Nếu chủ (long mạch chính) và khách (long mạch nhánh) không phân biệt được rõ ràng, núi mọc lung tung, đá núi lộn xộn, hình thù kỳ quái là ác hình. Nơi đây an táng rất hung, là đại kỵ. Phân chia long mạch Mạch núi căn cứ vào hướng núi được chia làm 5 loại, tức 5 thế: - Thế chính: long mạch phát ở phương Bắc, hướng tới phương Nam. - Thế nghiêng: long mạch phát ở phương Tây, hướng lên phía Bắc, Bắc có huyệt hướng về Nam. - Thế nghịch: long mạch nghịch thủy hướng lên rồi theo dòng nước đi xuống. - Thế thuận: long mạch theo thủy chảy xuống rồi lại nghịch thủy đi lên. - Thế hồi: long mạch trở về Tổ Sơn (nơi phát nguồn của long mạch bao gồm hàng loạt núi kế tiếp nhau: Thái Tổ Sơn, Thái Tông Sơn, Thiếu Tông Sơn). Dựa vào hướng lượn lượn vòng, có thể chia long mạch làm 2 loại: - Dương long: long mạch từ Thái Tổ Sơn lượn vòng theo hướng chiều kim đồng hồ. - Âm long: long mạch từ Thái Tổ Sơn lượn vòng ngược chiều kim đồng hồ. Một cách chia âm long và dương long khác là căn cứ vào phương hướng của dòng chảy 2 bên mạch núi: - Dòng nước từ 2 bên mạch núi chảy đi, nếu dòng từ bên trái chảy sang bên phải, long mạch là dương long. - Dòng nước từ bên phải mạch núi chảy sang bên trái, long mạch là âm long. Cụ thể hơn, theo hình thái của mạch núi có thể chia long mạch làm 9 loại: - Hồi long: hình thế long mạch quay đầu về Thái Tổ Sơn, như rồng liếm đuôi, hổ quay đầu. - Xuất dương long: hình thế long mạch phát tích ngoằn ngoèo như thú xuất lâm, như thuyển vượt biển. - Giáng long: hình thế long mạch như rồng từ trên trời lao xuống. - Sinh long: hình thế long mạch vòng cung, mạch nhánh nhiều như chân rết, như dây leo. - Phi long: hình thế long mạch tụ tập như nhạn bay ưng lượn, 2 cánh mở rộng như phượng hoàng nhảy múa. - Ngọa long: hình thế long mạch như hổ ngồi, voi đứng, trâu ngủ, thế vững vàng. - Ẩn long: hình thế long mạch không rõ ràng, mạch long kéo dài. - Đằng long: hình thế long mạch cao xa, hiểm yếu, rộng lớn như rồng bay vút lên trời cao. - Lãnh quần long: hình thế long mạch như hội tụ các nhánh, như đàn cá đang bơi, đàn chim đang bay. Phúc họa với hình và thế đất huyệt mộ Cái gọi là “hình” trong phong thủy chính là hình dạng của núi kết huyệt. Hình là điều kiện quan trọng nhất để tụ khí. Khí vận hành (di chuyển) theo thế núi, thế đất vì vậy bị ngưng tụ lại. Nơi ngưng tụ được linh khí như thế gọi là chân huyệt. Cuốn Táng Kinh viết: “Hình ngăn khí tụ, hóa sinh vạn vật là đất thượng đẳng”. Nếu không có hình tốt tức thế đất không ngăn được khí. Khí không tụ lại được thì an táng vô nghĩa. Hình có to nhỏ, cao thấp, sấp ngửa, béo gầy, cân lệch. Các nhà phong thủy chia hình thế đất thành 6 kiểu: tròn, bẹt, thẳng, cong, vuông, lõm. Yêu cầu hình thế đất: Thứ nhất là phải ngăn được khí (khí tụ); thứ 2 là phải tàng (giấu), đất lộ, khí tán theo gió; thứ 3 phải vuông cân, nếu đất nghiêng lệch khí uế sẽ phát sinh; thứ 4 là thế đất phải có hình vòng cung, khí tụ và lưu thông trong huyệt, đất ẩm. Thế đất cát thì huyệt sẽ cát; huyệt cát thì nhân sẽ cát. Thông thường, an táng ở trên thế đất phình, cheo leo, lộ lồi, nham nhở, tản mạn, tàn tạ đều mang lại hung họa khôn lường cho đời sau. Táng Kinh viết rất cụ thể như sau: - Thế đất có bình phong (đằng sau huyệt mộ có đất hoặc núi cao như bức bình phong để dựa, được che chắn) chôn đúng phép, vương hầu nổi lên. - Thế đất như tổ yến (tròn, vuông, cân đối) chôn đúng cách, được chia đất phong. - Thế đất như rìu kép (tròn, vuông, cân đối, phẳng phiu) mộ huyệt có thể giàu có. - Thế đất lởm chởm (đất không có hình thế), bách sự hỗn loạn. - Thế đất như loạn y (quần áo bừa bãi), thê thiếp dâm loạn. - Thế đất như túi rách (chỉ đất, cát, sỏi, phù sa bồi), tai họa liên miên. - Thế đất như thuyền lật, nữ bệnh nam tù. - Thế đất ngang lệch (thế đất xiên xẹo, không ra hình thế), con cháu tuyệt tự. - Thế đất như kiếm nằm (thế đất dài như thanh kiếm), chu di bức hại. - Thế đất như đao ngửa (thế đất dài như thanh đao), hung họa suốt đời. Như vậy, sách xưa khẳng định: “Hình thế rõ ràng thì tìm huyệt dễ, không rõ ràng thì tìm huyệt khó khăn”; “Thế đến, hình ngăn gọi là toàn khí. Đất toàn khí khi an táng thì tụ được khí”. Không những thế, khi chọn đất táng, vai trò của hình và thế cần được coi trọng như nhau. Vì: “Hình và thế thuận là cát, hình và thế nghịch là hung. Thế cát hình hung thì bách phúc không còn, thế hung hình cát thì họa hại vô cùng
  17. Cận cảnh quả chuông có linh hồn, ‘tự lăn xuống biển’ trú ẩn Được coi là quả chuông kỳ lạ nhất trong lịch sử Việt Nam, mỗi khi đất nước có biến động, chuông Vân Bản lại tự mình “tìm đường xuống đáy biển trú ẩn”, đến khi đất nước bình yên lại trở về… Nằm trong một góc khuất của Bảo tàng Lịch sử Quốc Gia (Hà Nội), chuông cổ Vân Bản hàng ngày vẫn im lặng trước cái nhìn của hàng trăm lượt khách tham quan. Có lẽ, đa phần trong số họ chỉ coi đây như một quả chuông cổ bình thường như nhiều hiện vật khác trong bảo tàng. Ít ai biết rằng đây là một quả chuông “có linh hồn” với số phận gắn với những câu chuyện hết sức lạ lùng trong lịch sử. Chuông được tìm thấy năm 1958 tại vùng biển Đồ Sơn, Hải Phòng, sau đó được đưa về lưu giữ tại Bảo tàng cho đến ngày nay. Trên thân chuông không khắc niên đại. Theo nghiên cứu của các nhà sử học, chuông được đúc trong thời Trần (thế kỷ 13), là một trong 3 quả chuông cổ nhất Việt Nam trong thời điểm hiện tại. Trong thời kỳ đầu tiên, chuông được treo tại chùa Vân Bản (Đồ Sơn – Hải Phòng). Tương truyền rằng vào thời Trần, một nhà sư Ấn Độ đã đến Đồ Sơn dựng chùa Hang. Vì chùa nằm sát mép nước, sợ biển đe dọa nên nhân dân dời về chùa Vân Bản và đúc chuông. Bài minh văn trên chuông tuy bị mờ mòn nhiều, nhưng vẫn còn có thể đọc được phần lớn số chữ, trong đó có đoạn mô tả ngôi chùa nằm trên một mỏm núi hướng ra biển. Vị trí gần với biển cũng liên quan trực tiếp tới những âu chuyện nửa hư nửa thực lưu truyền trong dân gian, khiến chuông Vân Bản được coi là quả chuông có số phận kỳ lạ nhất Việt Nam. Chuông Vân Bản được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia từ năm 1958.Theo đó, chuông Vân Bản được cho là một quả chuông “thiêng”, do người dân khu vực Đồ Sơn gìn giữ nhiều đời. Trải qua cuộc bể dâu của đất nước, chuông đã nhiều lần nằm dưới đáy biển sâu. Tuy vậy, như có một thế lực nào xui khiến, đến một thời điểm nào đó chuông lại được “thỉnh về”. Tính ra, thời gian chuông Vân Bản nằm dưới đáy biển nhiều hơn thời gian được treo tại chùa. Tương truyền, sau nhiều thăng trầm lịch sử, chùa Vân Bản bị đổ nát, chuông lăn xuống biển. Ít lâu sau, dân chúng hò nhau trục vớt được quả chuông ở bến đò Họng, rồi rước về chùa Nam gần đó. Trải qua vài trăm năm sau, do một trận bão lớn, chùa bị đổ sập, chuông lại bị lăn xuống biển ở chân núi Tháp. Đến thời Lê, chùa Vân Bản được dân chúng dựng lại ở ven núi. Sau khi chùa mới dựng xong, người dân Đồ Sơn lại tìm được quả chuông, đem về treo ở chùa. Những thế kỷ sau đó, chuông Vân Bản còn nhiều lần tuyệt tích dưới đáy biển. Dân gian cũng đồn đại rằng những lần chuông biến mất đều trùng với thời điểm đất nước có biến loạn. Chuông đã một lần bị thất lạc từ thế kỷ 15 để tránh cuộc hủy hoại văn hóa Đại Việt trên quy mô lớn của giặc Minh. Đầu thế kỷ 19, chuông lại “lặn” xuống biển để tránh việc phá chùa Tháp của Hoàng Cao Khải… Đến khi nào “muốn” trở lại đất liến thì chuông sẽ “tự” cho con người những dấu hiệu để trục vớt. Cũng có ý kiến cho rằng người dân Đồ Sơn đã chủ động giấu chuông Vân Bản xuống đáy biển và dựng lên những câu chuyện kỳ bì để bảo vệ quả chuông này. Và đến khi đất nước bình yên, họ tìm lại quả chuông để đưa về chùa. Chuông được cho là đã tự “lăn” vào lưới của một ngư dân ở Đồ Sơn vào năm 1958 -thời điểm đất nước ta lập lại hòa bình được một thời gian ngắn, khi người này đang buông lưới đánh cá. Thấy lưới nặng, người ngư dân tưởng một con cá lớn mắc lưới nhưng kéo mãi không lên. Người ngư dân này đành nhờ người lặn xuống biển gỡ lưới, không ngờ “con cá” trong lưới chính là một quả chuông lớn. Khi quả chuông được phát hiện, người dân Đồ Sơn đã phỏng đoán đó là chuông Vân Bản vì câu chuyện về chiếc chuông nhiều lần đắm mình xuống đáy biển đã được lưu truyền từ lâu. Điều đặc biệt là chuông bị chìm dưới biển hàng thế kỷ nhưng không hề bị nước mặn ăn mòn, làm hư hỏng. Có người lý giải rằng, chuông bền như vậy vì được đúc với một tỷ lệ vàng rất cao. Một số hình ảnh về chuông Vân Bản: Chuông Vân Bản có kích thước to lớn, cao 125cm, đường kính miệng 80cm. Quai chuông trang trí hai con rồng đấu lưng vào nhau, nơi tiếp giáp ở vị trí cao nhất trang trí hình búp sen vẩy cá chép bao phủ toàn bộ thân rồng. Hình tượng rồngmang nhiều đặc trưng của thời Trấn.Thân chuông có nhiều đường gân ngang dọc tạo thành 8 ô, 4 ô trên hình thang đứng, 4 ô dưới hình chữ nhật. Chuông có 6 núm gõ, xung quanh mỗi núm có 16 núm tròn nhỏ tạo thành hình bông cúc. Phần vành miệng trang trí 52 cánh sen. Trong hai ô trên có hai bài minh văn khắc chìm chữ Hán, 4 ô dưới để trơn. Không chỉ là một quả chuông cổ gắn với các huyền tích của Đồ Sơn, đây còn là một quả chuông có giá trị nghệ thuật rất cao. Chuông bị chìm dưới biển hàng thế kỷ nhưng không hề bị nước mặn ăn mòn, làm hư hỏng. Có người lý giải rằng, chuông bền như vậy vì được đúc với một tỷ lệ vàng rất cao. Theo Datviet
  18. Năm 2012, về cơ bản thị trường BĐS trong Nam sẽ ổn hơn, thậm chí có những nơi ấm dần lên. Ngược lại, những bất ổn hay tình trạng bóng bóng xì hơi dễ xảy ra tại nhiều điểm ở miền Bắc. Chuyên gia phong thủy Phạm Cương (ảnh), Giám đốc Khối phong thủy, CTCP Nhà Xuân nhìn nhận: “Những khó khăn trong năm nay chỉ là tàn dư của những cơn khủng hoảng trong năm Tân Mão. Đà suy thoái vẫn còn ở những tháng đầu năm theo quy luật quán tính, nhưng có lẽ đây sẽ là những nút cuối chu kỳ suy thoái. Năm 2014 tức là năm Giáp Ngọ sẽ là năm kinh tế có sự biến chuyển rõ nét hơn và mang tính tích cực. Năm 2013 sẽ là một năm mang tính thử lửa tiếp theo”. Được biết phong thủy chủ yếu được ứng dụng trong kiến trúc và xây dựng, nhưng nhiều chuyên gia vẫn sử dụng phong thủy để dự báo. Vậy xin hỏi ông, tại sao phong thủy lại có khả năng dự báo? Phong thủy chủ yếu dựa trên nền tảng của học thuyết Âm dương - Ngũ hành. Căn cứ vào những nhận xét và thống kê lâu đời về sự tương tác trong tự nhiên, người xưa đã nhận thấy sự biến hoá không ngừng của sự vật và cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là sự ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau. Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và quy luật của sự biến hoá đó, người xưa đặt ra "thuyết Âm dương - Ngũ hành”. Thuyết Âm dương - Ngũ hành có thể giải thích mọi sự biến hóa và phát triển của sự vật, hiện tượng nên khi ứng dụng vào thực tế nó còn có khả năng dự đoán, tiên tri. Năm 2011 đã chứng kiến sự sụt giảm mạnh của thị trường bất động sản (BĐS), khiến nhiều nhà đầu tư thua lỗ. Theo ông, có tín hiệu vui nào cho các nhà đầu tư BĐS trong năm Nhâm Thìn hay không? Xét tổng cục năm Nhâm Thìn, các cung hành Thổ theo phong thủy, chủ về BĐS hay xây dựng có ba cung thì tới hai cung vừa bị khắc, vừa bị suy hao khí trường, vì vậy, BĐS và xây dựng sẽ chưa có gì thay đổi. Một yếu tố khác nữa là đại cục kinh tế mới chỉ là giai đoạn chặn đứng xu thế suy thoái, mà hành Thổ vượng được là nhờ sự thăng hoa của kinh tế, ứng với hành Hỏa, cho nên BĐS hẳn nhiên chưa thể tốt. Như vậy, các NĐT hãy kiên nhẫn chờ đợi cơ hội ở những năm tiếp theo. Đương nhiên, sẽ có những khác biệt so với với năm Tân Mão, về cơ bản thị trường trong Nam sẽ ổn hơn, thậm chí có những nơi ấm dần lên. Ngược lại, những bất ổn về BĐS hay tình trạng bóng bóng xì hơi năm vừa rồi xảy ra ở miền Nam thì dễ xảy ra những hình thái tương tự tại nhiều điểm ở miền Bắc trong năm 2012. BĐS tình hình chung là khó khăn. Nhưng liệu có những điểm nóng cục bộ nào trong năm 2012 không thưa ông? Tuy BĐS về xu hướng chung khó khăn là vậy, nhưng về lý thuyết sẽ vẫn có những cơ hội đầu tư cho những nhà đầu tư nhạy bén. BĐS sẽ có những biến đổi “nóng” cục bộ ở một vài vị trí. Các vị trí phía Tây, phía Đông Bắc hoặc phía Nam tính theo tâm của các thành phố nhìn chung nên lưu tâm và đáng đầu tư hơn cả. Cụ thể, nếu chỉ để lướt sóng thì phía Tây Hà Nội như Đại lộ Thăng Long vẫn còn những cơ hội và những cơ hội này sẽ xa dần trong các năm tiếp theo. Khu vực Đông Bắc sẽ là khu vực phát triển tốt với yếu có từ nguồn lực bên ngoài, các tổ chức, các quỹ đầu tư nước ngoài sẽ góp phần đẩy giá lên dần, có thể kể tới như khu vực Đông Anh hay Sóc Sơn sẽ cho hiệu quả đầu tư với tầm nhìn ngắn 1 hoặc 2 năm nữa. Còn dài hơi hơn, hãy nhìn về khu vực phía Nam theo địa bàn Thành phố tính từ tâm là hồ Gươm. Theo dự đoán của ông, nhìn một cách tổng thể, bức tranh kinh tế năm Nhâm Thìn sẽ diễn biến như thế nào? Năm Nhâm Thìn là sự kết hợp của địa chi Thìn với thiên can Nhâm. Nhâm thuộc Thủy, còn Thìn là đất mộ địa của hành Thủy, cho nên Thủy khí không thể coi là vượng. Hơn nữa, bản thân nạp âm nghĩa là phần tàng ẩn trong năm Nhâm Thìn (theo quan điểm cá nhân) chứa hành hỏa nên vì thế hành thủy năm nay sẽ không mấy thuận lợi. Tuy vậy, năm Nhâm Thìn có những điểm giống và những điểm khác với năm Tân Mão. Giống nhau ở điểm đó cùng là năm mà yếu tố thiên can và địa chi có sự xung khắc lớn. Nếu năm Tân Mão, thiên can hành Kim khắc địa chi mang hành Mộc khiến cho năm 2011 dự báo sẽ là một năm đầy khó khăn của kinh tế và thậm chí dễ lâm vào khủng hoảng, thì với năm Nhâm Thìn yếu tố thiên can và địa chi có sự nghịch chuyển. Ở đây thiên can Thủy bị địa chi Thổ khắc lại với tượng là “quai đê lấn biển”, Sơn Tinh thắng Thủy Tinh sẽ cho ta dự liệu về một năm mà tình hình kinh tế xã hội tưởng là khó khăn không thể vượt qua, nhưng lại có thể vượt qua được ở những bước cuối cùng. Các quốc gia nằm ở phương Bắc và khu vực phía Đông Nam sẽ là những nơi chịu ảnh hưởng nặng và sẽ khó khăn hơn các quốc gia khác. Việt Nam là một quốc gia nằm ở phương Nam, xét theo tiểu vận năm nay cũng là một năm khá tốt lại đang nằm trong chu kỳ phát triển.
  19. «Thôi Bối Đồ»: Vô “ý” giải được ẩn đố cuối cùng “Tận sở hữu tri, như sở hữu tri” là câu đạo lý của nhân gian, khiến con người dùng tận hết sức học tập trí thức, muốn lấy phương cách “Bảo đọc quần thư ” khiến chính mình trở thành người có học thức, đó là không có vấn đề. Nhưng muốn trở thành kẻ trí tuệ chân chính “Vô hoặc”, thật ra đây là phương pháp sai lầm. Vừa thông minh vừa cố gắng như nhà phát minh Newton, cận đại vật lý khoa học thái đẩu như Einstein, thậm chí nhà khoa học xuất sắc hôm nay nghiên cứu cực hạn khoa học nhân loại lượng tử lực học, kết quả cuộc nghiên cứu cuối cùng của họ đều trở về “lĩnh vực của tôn giáo”. Tuy nhiên không thể tưởng tượng nhưng đó là sự thật. Tại vì họ biết được sự tồn tại của “Thần”. Tất cả giữa nhân loại, sinh mạng, vũ trụ đều rời không khỏi “Thần”. Tuy nhiên có nơi nói không được rõ ràng, nhưng câu trả lời cuối cùng của vấn đề thực tại thì lại ở “Lĩnh vực của Thần.” Con người vì phải tìm hiểu sự huyền bí của sinh mệnh, vũ trụ, thân thể con người, hao tận sức lực cả cuộc đời mà tìm tòi nghiên cứu, hy vọng có thể vì cố gắng mà đạt được một ít trí thức, thật ra muốn biết được trí tuệ cao hơn bản thân nhân loại, dùng phương pháp của con người là vô hiệu quả. Cho dù là tập hợp lại tất cả giảng sư đại học, tiến sĩ của nhân loại hiện giờ, cùng nhau nghiên cứu, hao tận cả cuộc đời của họ thì sự thật câu trả lời sẽ tương đối đơn giản—– “vẫn là không biết rõ”. Đây chính là tại sao rất nhiều người ưa thích nghiên cứu “dự ngôn”, nhưng lại không cách nào hoàn toàn hiểu rõ chân tướng của những “dự ngôn”. Đối với Trung Quốc xa xưa thư dự ngôn “Đồ hình đẩy lưng” («Thôi Bối Đồ»), không có bao nhiêu người có thể thật sự vạch ra lĩnh vực chưa xảy ra. Tại vì đó là không thể cầu. Vô cầu mà tự đắc là tại vì lúc không dùng đến nhân tâm, khi đến lúc cần cho bạn biết thì “Ngài” tự nhiên sẽ khai mở bộ phận trí tuệ ấy. Đột nhiên bạn sẽ hiểu rõ “câu trả lời” của bộ phận ấy. Đương nhiên sự lý giải của tầng thứ khác nhau vẫn còn tồn tại. Nếu như người sáng tác ra “dự ngôn” đến từ tầng thứ rất cao, vậy bài tiên tri ấy sẽ có “hiển hiện” ở tầng thứ khác nhau. Trước khi chưa đưọc cao nhân truyền thụ “Pháp tại cao tầng”, «Thôi Bối Đồ» hoàn toàn đọc không hiểu. Sau khi đắc Pháp, lại trong vô “ý” mà đạt được “bộ phận chân tướng”. Dựa vào sự hiểu biết ghi rõ xuống dưới đây tường tận để cho mọi người tham khảo (thử giải Tượng thứ 40, Tượng thứ 44, Tượng thứ 60). *Tượng thứ 40 Quý Mão Tượng 40 «Thôi Bối Đồ» Sấm viết: Nhất nhị tam tứ Vô thổ hữu chủ Tiểu tiểu Thiên Cang Thùy củng nhi trị Tụng viết: Nhất khẩu đông lai khí thái kiêu Cước hạ vô lữ thủ vô mao Nhược phùng Mộc Tử băng sương hoán Sinh ngã giả hầu tử ngã điêu Tạm dịch: Sấm rằng: Một hai ba bốn Không đất có chủ Tiểu tiểu Thiên Cang Không làm cũng trị Tụng rằng: Một miệng phía chủ khí thật kiêu Chân không có móng đầu không mao Nếu gặp Mộc Tử băng sương hết Tôi sinh là khỉ chết là điêu [Thử giải] Trong đồ hình và lời văn có nhắc đến hai việc lớn, một là sự việc xảy ra, còn một là thời gian xảy ra sự việc. Đây cũng là cách mà «Thôi Bối Đồ» thường dùng nhất để miêu tả phương thức của “vị lai”.[Sự việc chỉ thị] Trong hình là ba tiểu đồng tử đến từ phương hướng khác nhau, biểu hiện ba loại người sẽ hội tụ tại nơi đây (Trung Quốc). Người Trung Quốc có cách nói “truyền nhân của rồng”, cũng là dẫn thuật ra “Long Hoa tam hội” của đại dự ngôn trong nhân gian. Thật ra trong giới tôn giáo chỉ biết đến “tên” mà không biết “thật sự”. “Long Hoa” chẳng phải nói “Long Hoa thụ” mà là nói đến nơi đại Trung Hoa. Tại đây sẽ hội tụ ba đạo anh hùng nhân vật vĩ đại nhất đến từ vũ trụ, mà không phải chỉ có đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, làm chủ sự việc này đưong nhiên là “Phật Di Lạc” mà Phật Thích Ca đã chỉ thị các đệ tử của Ngài chờ đợi tại nhân gian trong kinh thư “Đại dự ngôn cuối cùng” của Ngài. Làm thế nào tìm ra được Giác Giả đã dùng tên người Trung Quốc xuất hiện? Hãy nhìn xem “Luân tử” trong tay ba người tiểu đồng từ thì sẽ biềt rõ. Tại Trung Quốc, học viên “Pháp Luân Công” được gọi là “Luân tử”. Đây cũng là sự an bài trong lịch sử. Nói đến đây xin tạm ngưng. [Thời gian chỉ thị] Chỉ nhìn vào hình đồ thì không biết cách nào biết được vị trí của thời gian biểu, nhưng trong văn lại có miêu tả, tại vì Tượng thứ 39 đã xảy ra, nên mọi người đều biết thời gian trục tại đây phải là cận đại Trung Quốc, cũng là giữa năm Dân Quốc. “Vô thổ hữu chủ; Tiểu tiểu thiên cang; Thùy củng nhi trị”. Đây có thể nói đã di chuyển chính phủ đến chính phủ Quốc Dân Đài Loan. Trên bản đồ phát hành tại Đài Loan đã vẽ ra sự thống trị toàn Trung Quốc của Trung Hoa Dân Quốc, nhưng mà thực lực chính trị khống chế “ thùy củng nhi trị” lại chỉ có một Đài Loan nho nhỏ. Trở về nhìn xem “Nhất nhị tam tứ” Tổng thống của Đài Loan từ Tưởng Giới Thạch, Tưởng Kinh Quốc, Nghiêm Gia Cam đến người thứ tư Lý Đăng Huy. Thời gian đây chính là Lý Đăng Huy đảm nhiệm tổng thống kỳ thứ 8 và thứ 9 của Trung Hoa Dân Quốc (ngày 13-1-1988 — ngày 19-5-2000 ) ở trong thời gian có thể tìm được ngày 13-5-1992, Pháp Luân Công chính thức truyền ra tại Trung Quốc. *Tượng thứ 44 Đinh Mùi Tượng 44 «Thôi Bối Đồ» Sấm viết : Nhật nguyệt lệ thiên Quần âm nhiếp phục Bách linh lai triều Song vũ tứ túc Tụng viết : Trung Quốc nhi kim hữu Thánh nhân Tuy phi hào kiệt dã chu thành Tứ Di trọng dịch xưng Thiên Tử Phủ cực thái lai cửu quốc Xuân Tạm dịch: Sấm rằng : Nhật nguyệt tươi đẹp Quần âm khuất phục Sơn ca về triều Đôi cánh sung túc Tụng rằng: Trung Quốc ngày nay có Thánh nhân Dẫu không hào kiệt cũng chu toàn Tứ Di nhìn lại xưng Thiên Tử Khổ tận cam lai nước mãi Xuân [Thử giải] Ở trong triều đại của Trung Quốc huy hoàng nhất, lại được người Tứ Di xưng là Hoàng đế Thiên Khả Hãn, là Đường Thái Tông Lý Thế Dân của triều đại nhà Đường (598-649).Đây ám chỉ vị Thánh nhân Trung Quốc này, trong quá khứ đã từng chuyển thế trở thành Hoàng đế nhà Đường. Vị Hoàng đế Trung Quốc này từng có danh xưng đẹp đẽ khiến nhân dân “không lượm đồ giữ làm của ngoài đường phố, nhà không cần đóng cửa phòng trộm cướp”, cũng chính là người thúc đẩy sáng tác dự ngôn «Thôi Bối Đồ». Lịch sử lúc nào cũng đầy rẫy sự truyền kỳ, ngàn tơ vạn chỉ lúc nào cũng xoay cuộn lại nhau. Nhớ lại thơ văn “Ức Trường An” (Hồng Ngâm) của người sáng lập Pháp Luân Công, chúng ta có thể nhìn thấy được một vài điểm thị hiện: “Tần xuyên sơn thủy biến, Trường An thổ hạ tồn. Thịnh thế Thiên triều khứ. Chuyển nhãn thiên bách xuân. Hà xứ tầm Thái tôn. Đại Pháp độ Đường nhân.” Đến khi tình thế hoàn toàn thay đổi, người dân toàn thế giới đều sẽ đến Trung Quốc để triều kiến vị “Thánh nhân” Trung Quốc này, bạn và tôi chớ nên để mất đi cơ duyên này! *Tượng thứ 60 Quý Hợi Tượng 60 «Thôi Bối Đồ» Sấm viết: Nhất Âm nhất Dương Vô chung vô thủy Chung giả nhật chung Thủy giả tự thủy Tụng viết: Mang mang thiên số thử trung cầu Thế Đạo hưng suy bất tự do Vạn vạn thiên thiên thuyết bất tận Bất như thôi bối khứ quy hưu Tạm dịch: Sấm rằng: Một Âm một Dương Không cuối không đầu Người cuối ngày cuối Người đầu từ đầu Tụng rằng: Mênh mang số Trời ở trong cầu Thế Đạo thịnh suy chẳng tự do Nói nghìn vạn lần cũng không hết Không bằng đẩy lưng rồi nghỉ ngơi [Thử giải] Thơ dự ngôn ở nhân gian đến Tượng này thì kết luận đều như nhau, là đã kết thúc rồi!Dù sao dự ngôn đố qua đố lại cũng không có chấm dứt. Nếu như thúc mạng luân hồi của nhân loại không có chấm dứt, thì dự ngôn cũng không bao giờ chấm dứt? Tất cả người ngoài vòng quyết không cách nào thật sự hiểu rõ lời hô hào cuối cùng của tượng này. Hai người tu Đạo ấy không thể không biết được “một sự việc lớn nhất của nhân loại” sẽ xảy ra. Thật ra người trong cuộc cũng đều hiểu rõ, hai người họ khẳng định sẽ không bỏ qua mà đầu thai chuyển thế đến tham dự thịnh hội hôm nay. Một tấm hình tuy nhiên đã phát hiện trong “vô ý”, nhưng lại giải ra nghi hoặc lớn nhất của nhân loại cả ngàn năm nay, “sự việc” gì mà «Thôi Bối Đồ» cuối cùng phải nói với các vị, Lý Thuần Phong, Viên Thiên Cang hai người ấy lựa chọn là gì? Hình dưới đây xuất hiện ở mạng lưới vào năm 2000, vào một dịp khi trang trí quầy trưng bày “ở trong vô ý” mà nhìn thấy, thì ra đây chính là “đồ hình đẩy lưng” («Thôi Bối Đồ»).
  20. Việc cha sơ xuất bấm cửa tự động kẹp chết con trai 4 tuổi ngay trước mắt mình đã khiến dư luận rúng động. Mất con là nỗi đau lớn nhất của những người làm cha, làm mẹ. Nhưng mất con do lỗi bất cẩn của cha mẹ thì nỗi đau đó sẽ đi theo họ suốt cả cuộc đời. Sự dằn vặt, nỗi ân hận sẽ làm cho cả phần đời còn lại của họ trở thành địa ngục… Trong cuộc đời, có rất nhiều thành công bắt đầu từ những sai lầm. Tuy nhiên, có những sai lầm không thể nào chấp nhận được, đó là sự bất cẩn dẫn đến cái chết của con trẻ. Đau đớn hơn, đó lại là sự bất cẩn của những ông bố, bà mẹ dẫn đến cái chết của chính đứa con máu thịt của mình… Hôm qua (3/3), vụ việc người cha sơ xuất bấm cửa tự động kẹp chết con trai 4 tuổi ngay trước mắt mình đã khiến dư luận rúng động. Cái chết thương tâm, oan uổng của cháu bé một lần nữa gióng lên hồi chuông báo động về sự bất cẩn của người lơn mà hậu quả là cái chết thương tâm của con trẻ, bởi đây không phải là vụ đầu tiên. Ngay cuối năm 2011, một trường hợp tương tự cũng đã xảy ra ở Lào Cai, khi người bố hạ cửa cuốn tự động rồi bỏ đó để đi mà không biết đứa con bé bỏng của mình bị kẹp chết. Cũng vào cuối năm 2011, hôm 3/12, đã xảy ra cái chết thương tâm của một cháu bé ngay tại Hà Nội. Trong lúc mẹ đưa chị gái đi học, cháu Lê Minh Đức (SN 2008, nhà ở chung cư No21, thuộc khu đô thị Pháp Vân - Tứ Hiệp, Hoàng Mai, Hà Nội) không may bị rơi từ tầng 9 xuống lan can tầng 2. Cháu Đức là con thứ hai của gia đình anh Lê Xuân Thái (SN 1963) và chị Trần Thị Hà (SN 1976). Buổi sáng, khi đưa chị gái của Đức đi học, chị Hà đóng cửa sau (cửa ra lan can) nhưng không khóa lại. Lan can của tòa nhà cao khoảng 1,3m (khu vực lan can dùng để phơi quần áo và rửa bát đĩa). Tại đây cũng có một chiếc ghế nhựa xanh nằm ngay sát thành lan can. Người mẹ này đã vô cùng đau đớn khi bị mất đứa con do rơi từ tầng 9 xuống trong lúc chị đưa con lớn đi học Trường hợp cháu bé tử vong do bố mẹ bất cẩn để con ở nhà một mình không có người trông nom không phải là quá hiếm. Hôm 18/11/2010, một cháu bé 4 tuổi đã bị rơi từ tầng 11 của tòa nhà Artex – 172 Ngọc Khánh (phường Giảng Võ, quận Ba Đình, Hà Nội) xuống ban công tầng hai của tòa nhà này và tử vong trong khi mẹ cháu đang đi chợ. Ngày 1/8/2007, cháu Đặng Xuân Phúc (cũng 4 tuổi), nhà ở khu bán đảo Linh Đàm (phường Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội) đã bị rơi từ lan can tầng 11 xuống đất và tử vong. Nguyên nhân là vì trong lúc hoảng sợ khi tỉnh dậy mà không thấy mẹ, bé đã tìm cách mở cửa sổ kính, trèo ra ngoài và rơi xuống. Không đến nỗi tử vong, nhưng một cháu bé đã bị bỏng đến mức nguy kịch cũng chỉ vì sự bất cẩn của người cha. Ngày 21/1/2010, anh Lê Thanh Hòa (SN 1974, ở tổ 20, KV3, phường Trần Phú, TP Quy Nhơn) đi xe máy chở con ruột là cháu Lê Đại Lợi (3 tuổi). Khi qua cua rẽ vào hẻm được khoảng 30m, anh Hòa đã đâm vào nồi cháo đang nấu trên hè nhà của gia đình anh Lê Văn Hùng (số nhà 249/1 Nguyễn Huệ, thuộc khu vực 3, phường Trần Phú). Cú đâm mạnh làm cháu Lợi ngã xuống, toàn thân cháu bé lọt tỏm vào nồi cháo đang sôi nên bỏng rất nặng. Trẻ em chưa biết cách để tự bảo vệ mình, do vậy luôn phải ở trong tầm mắt của người lớn. Tuy nhiên, không phải cha mẹ nào cũng làm được như vậy. Đặc biệt là ở nông thôn, rất nhiều trẻ em đã chết đuối do không được người lớn trông nom cẩn thận. Ngày 7/1/2012, tại thôn Thanh Thủy Chánh thuộc xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy (tỉnh Thừa Thiên Huế) đã xảy ra vụ tại nạn thương tâm làm em Lê Diên Bảo (sinh năm 2006) bị chết do ngạt nước. Vào sáng ngày 07/01, Bảo đi theo bố là Lê DiênThọ (sinh năm 1971) ra trạm bơm tiêu úng của Hợp tác xã Nông nghiệp Thủy Thanh 2. Vì phải bận thao tác máy, hơn nữa anh Thọ cứ nghĩ Bảo sang nhà bà nội chơi (nhà ông bà nội ở gần trạm bơm) nên cũng không đi tìm. Đến trưa cùng ngày, khi cả gia đình cùng nỗ lực đi tìm thì phát hiện đôi dép của Bảo nằm trên bờ đê. Linh tính thấy việc chẳng lành, anh Thọ liền lặn xuống đáy đơm cá của trạm bơm thì phát hiện Bảo đã chết. Gia đình thường là nơi an toàn nhất của trẻ, và bố mẹ chính là những người bảo vệ tốt nhất của con. Tuy nhiên, nếu nhìn vào những vụ việc trên đây thì có thể thấy, nguyên nhân chủ yếu là do cuộc sống quá bận rộn khiến những ông bố bà mẹ không dành đủ thời gian cho con mình. Và, sự vội vã đó đã phải trả một cái giá quá đắt. Hàng ngày, chúng ta vẫn tiếp tục thấy những người cha chở con phóng quá nhanh trên đường phố; Nhiều bà mẹ để con ngồi vắt vẻo phía trước xe máy mà không có bất cứ thứ gì níu giữ; Nhiều bà mẹ bỏ con nhỏ ở nhà để đi chợ, đón con... trong khi các ông bố có thể đang mải mê kiếm tiền, thậm chí đang uống bia. Còn rất nhiều bậc cha mẹ để con nhỏ tha thẩn chơi một mình gần bờ ao, sông, suối; cạnh đường quốc lộ.. Họ có lẽ không nghĩ rằng, hàng trăm, hàng ngàn nỗi nguy hiểm đang rình rập con mình! Mất con là nỗi đau lớn nhất của những người làm cha, làm mẹ. Nhưng mất con do lỗi bất cẩn của cha mẹ thì nỗi đau đó sẽ đi theo họ suốt cả cuộc đời. Ở Việt Nam, chưa có tòa án nào xét xử những bậc cha mẹ bất cẩn gây nên cái chết của con, nhưng sự dằn vặt, nỗi ân hận sẽ làm cho cả phần đời còn lại của họ trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Hãy dành đủ thời gian cho con bạn khi chưa quá muộn!
  21. có chồng nhưng không giữ được trinh tiết. cô nên cẩn thận trong làm ăn đừng làm gì phi pháp mà bị hình ngục đấy
  22. Phá bỏ ngay cây cột này rất nguy hiểm, khi phá bỏ cây cột thì làm ăn mới được
  23. Đúng như Anh Thiên Đồng nói , Chẳng thấy ai tu thành tiên phật cả , vậy các đạo có còn khả năng độ cho con người nữa không ? chỉ đến lúc chết mới thành này kia thì ai kiểm chứng được. Qua toppic này mới thấy các phái có người tu còn tranh cãi mạt sát lẫn nhau chứng tỏ một điều chẳng có ai tu thành chính quả cả