• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

wildlavender

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    6.007
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    102

Everything posted by wildlavender

  1. Một số cách dán phổ biến Thần Chú Giải Thoát ( ngay trên cửa ra vào) nơi dễ nhìn thấy, nơi quay mặt ra đường ....
  2. Phước và họa Quan niệm, nhận thức của con người về phước (phúc) và họa hay may và rủi, được và mất, lợi và hại rất chủ quan. Bản chất của phước, họa cũng như mọi điều khác trong thế giới sự vật, hiện tượng từ vật chất cho đến tinh thần đều là duyên sinh, không có thực thể, thực tướng.Một người đi trễ chuyến xe, tự cho là mình rủi. Nhưng ngày hôm sau đọc báo, thấy chuyến xe mà mình đi hụt bị rơi xuống vực sâu. Bấy giờ người ấy không còn thấy sự trễ xe hôm trước là rủi nữa, trái lại còn cho đó là may, vì nhờ đi hụt mà còn sống sót. Thấy một người đàn ông cưới được cô vợ vừa đẹp lại vừa giàu sang, ai cũng trầm trồ khen ngợi, ước ao, cho rằng anh ta có phước. Nhưng chẳng bao lâu người đàn ông nọ và vợ dắt nhau ra tòa ly dị vì cô vợ sinh lòng lang chạ và sa đọa trong ăn chơi trụy lạc. Khi ấy người ta lại tặc lưỡi bảo nhau: Anh này thật vô phước! Có người trúng vé số độc đắc được mấy tỷ đồng, ai cũng nghĩ rằng phước phần của anh ta đã đến. Không ngờ chính vì có số tiền quá to ấy mà anh ta sinh tật: đua đòi, hưởng thụ, đam mê cờ bạc rượu chè, đi sớm về khuya, vợ bé vợ mọn; vợ chồng anh ta vì tranh chấp tiền bạc mà bất hòa, vì chuyện anh lăng nhăng bên ngoài mà kéo nhau ra tòa ly dị; con cái ỷ có tiền của mà bỏ bê học hành, chỉ lo ăn chơi phóng túng. Còn nhiều trường hợp khác vì trúng số mà anh em, bạn bè trở mặt nhau; vì trúng số mà bị giết hại do cướp vào nhà, do người tình phản bội… Vậy người đi hụt chuyến xe kia là rủi hay may? Có được người vợ đẹp và giàu như anh chồng kia là họa hay phước? Và trúng số như những người nói trên là nỗi lo hay điều đáng mừng? Tùy theo cái thấy, sự nhìn nhận, tùy theo duyên mà người ta cho đó là phước hay họa, nó luôn biến chuyển, thay đổi không ngừng, phước chuyển thành họa, họa chuyển thành phước, vừa là phước lại vừa là họa. Người xưa thường bảo: “Trong họa có phước, trong phước có họa”, nhưng kỳ thực họa phước do duyên, có nghĩa là do điều kiện, do hoàn cảnh, do sự nhìn nhận nó như thế nào, tùy theo duyên mà nó được xem là phước hay họa. Các bậc cha mẹ có con mắt tinh đời khi thấy con mình ra đời lập nghiệp, tuổi còn trẻ mà thành công quá sớm thì vừa mừng vừa lo. Mừng vì con thành công trong cuộc sống, lo vì con thành công sớm quá sẽ sinh tâm tự phụ, kiêu căng. Tuổi còn trẻ chưa từng trải, chưa có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, chưa hiểu đời nhiều, vì thế nếu thành công quá dễ dàng sẽ sinh tâm chủ quan khinh suất, như thế sẽ dễ mắc phải sai lầm đưa đến sớm thất bại, dù buổi đầu có thành công nhưng không thể thành công lâu dài, sự nghiệp khó bền vững. Hơn nữa vì sớm thành công nên tâm cao khí ngạo, tự phụ kiêu căng, từ đó có thái độ, hành vi coi thường người khác, dễ va chạm và làm mất lòng mọi người, từ đó sẽ có nhiều người bất mãn, chống đối, đó cũng là nguyên nhân thất bại. Có nhiều phụ nữ lấy được chồng đẹp trai lại giàu có, về nhà chồng chỉ việc làm vợ làm mẹ, mọi thứ khỏi cần bận tâm. Bạn bè đồng trang lứa thấy thế cho rằng họ có phước quá, ai cũng ước ao mình được như thế. Nhưng cha mẹ của những cô gái được xem là diễm phúc kia thì có người băn khoăn: “Chồng hào hoa, đẹp trai thì có nhiều người mến mộ. Nếu nó có thêm tánh phong lưu bay bướm, không chung thuỷ thì con gái mình sẽ khổ”, “Ăn ở không, được chồng nuôi chưa hẳn là có phước. Sống lệ thuộc không làm chủ được bản thân chắc chắn sẽ chịu nhiều thiệt thòi. Thà ra ngoài làm việc để có cơ hội khẳng định mình, có khả năng tự lập, có điều kiện rèn luyện, trau giồi bản thân, có thêm kiến thức, kinh nghiệm, có thêm niềm vui trong cuộc sống”. Cách nhìn về phước, họa của mỗi người mỗi khác, tùy thuộc điều kiện, hoàn cảnh, tùy thuộc quan niệm, lối sống, kinh nghiệm, hiểu biết v.v… Một nghệ sĩ nổi tiếng trong làng giải trí nói trên báo Thanh Niên rằng, từ khi ông bán đi mấy chiếc xe hơi thì thấy thanh thản, thoải mái hơn. Bây giờ mỗi khi đi đâu chỉ cần gọi taxi hoặc xe ôm là được. Lúc còn mấy chiếc xe hơi phải thuê người lái, đi đến đâu phải tìm chỗ đậu xe cũng mệt. Thỉnh thoảng bị tài xế làm khó dễ để vòi tiền. Khi gặp bạn bè hay đi tiệc tùng thì lại nghe những lời bàn tán về xe, họ bình luận, so sánh, chê khen, nào là xe này đẹp, xe kia không đẹp; xe này sang, đắt tiền, xe kia thuộc hạng xoàng rẻ tiền; xe này sành điệu, thời thượng, xứng tầm đại gia, xe kia lỗi thời, cổ lỗ v.v… Nghe những chuyện như thế rất mệt. Có người nghe ông nghệ sĩ kia nói thế thì cho rằng ông ta “giả bộ”, nói không thật bụng, có xe sướng quá mà làm bộ than phiền. Đâu phải ai muốn có xe hơi cũng được. Người chưa từng có xe hơi thì nghĩ có xe hơi là “ngon lành” lắm, sung sướng lắm, có phương tiện tốt để đi lại, hãnh diện với bạn bè. Nhưng người có rồi thì cảm thấy có xe cũng thêm nhiều phiền phức, cũng vướng bận thêm vì phải lo có chỗ đậu mỗi khi đến đâu, phải lo giữ gìn, bảo quản, lo chiều lòng tài xế, lo bà con, bạn bè buồn khi hỏi mượn mà mình không cho, mà cho muợn thì không yên tâm lắm (rủi xảy ra tai nạn hoặc hư xe thì cũng khổ)... Đối với vấn đề họa phước, người trí bình thản, an nhiên, không để nó làm dao động tâm mình, chỉ xem nó như mây trôi, gió thoảng. Nhìn mây trôi ngang qua trời, nghe gió thoảng qua bên tai, chỉ thấy thế, chỉ nghe thế, biết thế thôi, không cần bận tâm, không cần nghĩ ngợi, không vui buồn vì nó. Phải tập như thế, phải tu sao cho được như thế (dù là pháp môn nào) thì tâm mới được tự tại, an vui, không buồn không lo, không khổ não. Tâm bình thản, an nhiên, không điều chi có thể làm bận lòng, như thế không phải là người vô tri, không phải là người vô tâm, vì vẫn hay vẫn biết, vẫn thấy, vẫn sống và hành động dưới sự soi sáng của tuệ giác nhưng tùy duyên, không miễn cưỡng, gượng ép, không vướng mắc, không bị buộc ràng, hệ lụy. Đức Phật chưa bao giờ cho rằng việc Đề Bà Đạt Đa lăn đá và xua voi dữ giết hại mình là họa. Đức Phật cũng chưa bao giờ cho rằng việc Ngài được vua Bình Sa cúng cho vườn tre Trúc Lâm, được ông trưởng giả Cấp Cô Độc cúng khu đất để xây tinh xá Kỳ Viên, khu đất mà ông đã mua với số tiền vàng trải đầy trên mặt đất, và được hoàng thân Kỳ Đà cúng cho vườn cây trên mảnh đất này là phước. Tâm Phật không hề dao động trước những điều xảy ra đó, Ngài không mừng khi được cúng dường, tán dương khen ngợi; không lo không buồn khi bị chống đối, hãm hại, Ngài bình thản, an nhiên, tự tại. Cũng như trong âm có dương, trong họa có phúc và ngược lại Người trí có thể chuyển cái mà thế gian cho là họa thành phước, và làm tăng trưởng, phát triển to lớn hơn cái mà thế gian cho là phước đang có. Nhưng người vô trí thì biến cái mà thế gian cho là phước thành họa. Ví dụ Đức Phật đã biến sự chống đối, dã tâm làm hại Ngài của Đề Bà Đạt Đa thành cơ hội khảo nghiệm, thành thử thách giúp Ngài thành tựu đạo hạnh, viên mãn công đức.Một người con có tài trí, có nhân phẩm, đạo đức tốt biết tận dụng tài sản do ông cha để lại (phước) để xây dựng hạnh phúc cho mình, phát triển sự nghiệp bản thân, làm ích nước lợi nhà. Nhưng ngược lại, người con bất tài vô trí, nhân phẩm đạo đức kém sẽ ỷ lại vào gia sản của ông cha để lại mà ăn chơi phóng túng, sa đọa trụy lạc, kết cục anh ta biến cái phước (có nhà cao cửa rộng, có tài sản, sự nghiệp) thành ra cái họa. Người có tài năng, có đức độ, có chí hướng, biết siêng năng cần mẫn, dù sinh ra trong hoàn cảnh cùng khổ, khốn đốn (kém phước), họ vẫn vươn lên và đạt nhiều thành công trong cuộc sống. Đó là vì họ biết tận dụng hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt để rèn luyện mình, nuôi dưỡng chí hướng phấn đấu vươn lên. Họ đã chuyển sự không may (hoàn cảnh kém phước) thành điều hạnh phúc. Cũng như người biết xử lý rác thải có khả năng biến đống rác bỏ thành những vật dụng trong nhà, có thể dùng rác để tái chế ra những sản phẩm mới. Nhưng người vô trí, không biết sử dụng thì có thể biến những sản phẩm mới thành ra đống rác. Họa hay phước là do chúng ta. Bản chất của họa phước vốn không có thực, chúng là pháp duyên sinh, không có thực thể, thực tướng. Cái phước thật sự, lớn nhất là khi làm chủ được tâm mình, không bị những thành bại, được mất, hơn thua làm cho bận lòng, làm cho phiền não. Minh Hạnh Đức (Theo GNO)
  3. Thành thật chia buồn, cầu chúc cho bạn vượt qua nỗi đau để còn lo cho bé!
  4. Nhất thiết duy Tâm tạo 1) Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy: "Nhứt thiết duy tâm tạo". Nghĩa là: Mọi sự mọi việc đều do tâm tạo ra tất cả. Công đức cũng do tâm tạo, nghiệp chướng cũng bởi tại tâm. Đó chính là tâm sanh diệt, lăng xăng lộn xộn, thay đổi luôn luôn, thường do tham sân si chi phối, thúc đẩy, điều khiển, cho nên con người thường tạo nghiệp bất thiện nhiều hơn là nghiệp thiện. Chúng ta đã thấu hiểu lý lẽ chân thật của cuộc đời là: vô thường, không có gì tồn tại vĩnh viễn, không có gì là tự nhiên sanh mà không có nguyên nhân. Luật nhân quả áp dụng trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Sanh sự thì sự sanh. Nhân nào thì quả nấy. Gieo gió thì gặt bảo. Có lửa thì có khói. Cầu nguyện với tâm lăng xăng lộn xộn, chỉ đem lại sự bình an tâm trí tạm thời. Bình an thực sự chỉ có cho người thiện tâm. Thiên đàng, địa ngục, tuy là hai tâm trạng khác nhau, nhưng thực sự, tất cả chỉ là các trạng thái ở trong tâm của chúng ta mà thôi. Bởi vậy cho nên, có bài kệ như sau: "Tội tùng tâm khởi tương tâm sám/ Tâm nhược diệt thời tội diệc vong/ Tội vong tâm diệt lưỡng câu không/ Thị tắc danh vi chân sám hối." Dịch là: Tội từ tâm khởi đem tâm sám/ Tâm đã diệt rồi tội cũng vong/ Tội vong tâm diệt cả hai không/ Đó chính thực là chân sám hối. Nghĩa là: Tất cả những tội lỗi gây ra, đều do tâm chúng ta chủ động, thì phải thành tâm mà sám hối, tự trong thâm tâm. Từ đó, chúng ta phát nguyện không tái phạm, cho nên mỗi khi tâm tham, tâm sân, tâm si khởi lên, chúng ta liền biết ngay, dừng lại, không làm theo sự điều khiển, sai khiến của tham sân si, thì tội lỗi sẽ không còn tái phạm nữa. Khi tội lỗi không còn, tâm sanh diệt cũng lặng mất, con người sống trong trạng thái tịch tịnh, bình yên của tâm trí. Đó mới thực là sự sám hối chân chánh. 2) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy: "Tùy tâm biến hiện". Nghĩa là: Mọi sự mọi việc trên thế gian này như thế nào, tốt hay xấu, lành hay dữ, đúng hay sai, phải hay quấy, được hay không, đều do vọng tâm của chúng ta biến hiện ra cả. Sự cảm thọ tùy theo tâm trạng, tùy theo cá nhân, không ai giống ai, không lúc nào giống với lúc nào, không thời nào giống với thời nào, không nơi nào giống với nơi nào. Trong sách có câu:“Tâm buồn cảnh được vui sao/ Tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an.” Nghĩa là: Cùng một cảnh vật như vậy, nếu có tâm sự buồn phiền áo não, chúng ta không thấy cảnh vui chút nào. Còn nếu chúng ta có tâm trạng hân hoan vui vẻ, dù cây khô trụi lá, cảnh vẫn đẹp vui như thường. Cái tâm hân hoan vui vẻ là chúng ta, hay cái tâm buồn thảm lê thê là chúng ta? Cùng một câu nói như vậy, nếu tâm an ổn, vui vẻ mát mẻ, chúng ta cũng cho là: nói đúng nói phải, nói sao cũng được, nói ngược cũng xong. Trái lại, tâm đang bực bội, ai nói câu nào, chúng ta cũng cho là: nói sai nói bậy, nói xiên nói xỏ, nói bóng nói gió, nói hành nói tỏi, nói quấy nói quá. Vậy, hãy thử nghĩ xem, chúng ta là người: có tâm thực tốt, hay tâm không tốt? Cái tâm sanh diệt, lăng xăng lộn xộn, thay đổi bất thường như vậy, thực không phải là chúng ta. 3) Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy: "Tam giới tâm tận, tức thị niết bàn". Nghĩa là: Khi nào dứt sạch tâm trong ba cõi, lúc đó chúng ta mới thấy được niết bàn. Ba cõi, còn gọi là tam giới, đó là: dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Khi tâm tham nổi lên, chúng ta sống trong dục giới, tức là cảnh giới đắm nhiễm tham dục, cảm thấy đau khổ triền miên vì lòng tham của con người không đáy, không bao giờ thỏa mãn được. Con người sống trong dục giới lúc nào cũng cảm thấy khao khát, thiếu thốn, được bao nhiêu cũng không thấy đủ, cho nên luôn luôn chạy đôn chạy đáo, tìm kiếm ngũ dục: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ. Khi tâm sân nổi lên, ngay lúc đó, chúng ta sống trong sắc giới, tức là cảnh giới chấp chặt sắc tướng, lòng như thiêu đốt, sắc mặt tái xanh, vì sự tức giận, vì sự bất mãn. Dù tâm tham không còn, tâm sân cũng tai hại vô cùng. 4) Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy: "Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai". Nghĩa là: Một khi tâm niệm tức giận, sân hận khởi lên mà chúng ta không tự kềm chế, không tự khắc phục, thì biết bao nhiêu, trăm ngàn vạn chuyện khó khăn, đau khổ, chướng ngại tiếp nối theo sau đó. Khi tâm si nổi lên, chúng ta sống trong vô sắc giới, tức là cảnh giới vô minh, rất dễ lầm đường lạc nẽo, mê tín dị đoan, rất dễ dàng tạo tội tạo nghiệp bằng cách: hãm hại trả thù, lập mưu tính kế, vu khống cáo gian, thưa gửi kiện tụng, không cần biết hậu quả khổ đau đối với các người khác và gia đình họ. Những giây phút ngu si, lầm lẫn thường là nguyên nhân của những sự hối tiếc, đau khổ sau đó, cho mình và cho người khác, có khi kéo dài triền miên suốt cả cuộc đời. Bởi vậy cho nên, phải dẹp trừ tận gốc các tâm tham sân si, trong kinh sách gọi đó là: tam độc, chúng ta thoát ly tam giới gia, cuộc sống mới an lạc và hạnh phúc. 5) Trong Kinh A Di Đà, Đức Phật có dạy: "Người nào giữ được nhất tâm bất loạn, trong một ngày cho đến bảy ngày, khi lâm chung giữ tâm không điên đảo, thì người đó được vãng sanh tây phương". 6) Trong Kinh Đại Tập, Đức Phật có dạy: "Nếu thường xuyên giữ được chánh niệm, tâm không loạn động, dứt trừ được phiền năo, thì chẳng bao lâu đắc thành quả vô thượng bồ đề". Nghĩa là: Người tu tập phải luôn luôn quán sát tâm chính mình, luôn luôn giữ gìn chánh niệm, luôn luôn niệm Phật, khi vọng tâm vọng tưởng vọng thức vọng niệm khởi lên, liền biết, không theo. Nhờ đó tâm được an nhiên tự tại, không loạn động, dứt trừ được phiền não, gọi là: nhất tâm bất loạn. Nhờ công phu tu tập đó, chẳng bao lâu đắc thành quả vô thượng bồ đề. Khi lâm chung giữ được tâm không điên đảo, cho nên được vãng sanh cảnh giới tịnh độ. Muốn làm được điều này, muốn giữ được tâm trí nhứt như không loạn động, con người phải thấu hiểu và thực hành quán tứ niệm xứ, gồm có: thân, thọ, tâm, pháp. 7) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy: "Căn bản của sanh tử luân hồi là: Vọng Tâm". "Căn bản của bồ đề niết bàn là: Chân Tâm". Nghĩa là: Chúng sanh sở dĩ bị trầm luân sanh tử, bởi vì suốt ngày này qua ngày nọ, luôn luôn sống với vọng tâm, tức là tâm lăng xăng lộn xộn, luôn luôn thay đổi, khi vui khi buồn, khi thương khi ghét, khi khen khi chê, khi tán thán khi phê phán. Muốn tâm trí sáng suốt thanh tịnh, an nhiên tự tại, chúng ta cần quán sát tâm chính mình: khi các vọng tâm nổi lên, chúng ta liền biết, không theo, như vậy vọng tâm lắng xuống, diệt mất, chân tâm hiện ra rõ ràng. Muốn làm được điều này, muốn chân tâm hiển hiện, chúng ta cần phải thấu hiểu và tu tập bốn tâm rộng lớn, trong kinh sách gọi là tứ vô lượng tâm, đó chính là: từ, bi, hỷ, xả. Khi có tâm từ và tâm bi, chúng ta sẽ dễ cảm thông với muôn loài, nhứt là với loài người, với những người chung quanh, gần như cha mẹ, vợ chồng, con cháu, xa hơn như bà con, láng giềng, bạn bè. Do đó tâm giận tức, tâm sân hận có thể giảm bớt, nhẹ bớt đi. Khi có tâm hỷ và tâm xả, chúng ta sẽ bớt được các tâm ganh tị, tâm đố kỵ, tâm hơn thua, tâm cố chấp. Cho đến khi nào tứ vô lượng tâm trọn đầy, vọng tâm tan biến, tâm ý trở nên an nhiên tự tại, chân tâm hiển hiện. Đây mới chính là ý nghĩa thiết yếu của việc tu tâm dưỡng tánh theo đạo Phật: Trong tâm khởi niệm, nếu giác kịp thời, liền biết không theo, đó là: chân tâm.Trong tâm khởi niệm, nếu còn mê muội, không giác kịp thời, liền theo niệm đó, trở thành: vọng tâm. Cũng ví như là: Khi có gió thổi, mặt biển nổi sóng, gọi là biển động, ví như tâm lăng xăng lộn xộn. Mặc dù có gió thổi, mặt biển vẫn bình yên, đó là biển thái bình, ví như bản tâm thanh tịnh, hay tâm bình thường. 8) Trong Kinh Tịnh Danh, Đức Phật có dạy: "Mặt trời mặt trăng vẫn thường sáng tỏ, tại sao người mù lại chẳng thấy? Cũng vậy, bởi vì nghiệp thức che đậy, chúng sanh thường biết mà cố phạm, cho nên chẳng thấy thế giới Như Lai thanh tịnh trang nghiêm, chẳng nhận ra bản tâm thanh tịnh thường hằng". "Trong muôn sự, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu ta nói hay làm với tâm vẩn đục thì khổ não sẽ theo ta như bánh xe lăn theo chân con vật kéo." - Kinh Pháp Cú số 1 - 9) Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật có dạy: "Tất cả chúng sinh đều có bản tâm thanh tịnh. Chúng sinh chẳng nhận thấy được, vì bị vô minh che lấp".Nghĩa là: Con người ai ai cũng có bản tâm thanh tịnh, cũng như mặt trời mặt trăng luôn luôn sáng tỏ. Chỉ vì tâm tham lam của cải tiền bạc, hoặc vì tâm sân hận tự ái cao độ, hoặc vì tâm si mê cố chấp, ví như mây đen che lấp mặt trời mặt trăng, cho nên con người mới tạo tội tạo nghiệp, làm cho tâm trí loạn động, thường xuyên bất an, điên đảo loạn cuồng, để rồi trôi lăn vào vòng sanh tử luân hồi, muôn kiếp trước, và sẽ tiếp tục trôi lăn, muôn kiếp về sau, nếu như không chịu dừng nghiệp và chuyển nghiệp. Với số tiền nho nhỏ, quyền lợi không đáng kể, con người còn có thể tỉnh thức, dừng được nghiệp, dẹp tâm tham, không thưa kiện người khác, không gây não loạn cho người, và gia đình của họ. Nhưng khi kiện thưa đòi tiền bồi thường vài triệu đô la, con người thành ma, tối tăm mặt mũi, liều mạng đưa chân, hết biết lẽ phải, nhắm mắt làm càng, tới đâu cũng được. Mãnh lực của đồng đô la quả thực là vạn năng, thượng đế chẳng bằng, đă lôi kéo không biết bao nhiêu chúng sanh u mê, vào vòng tội nghiệp, từ xưa đến nay! Chính vì biết mà cố phạm, nghiệp thức che đậy, vô minh che lấp, con người chẳng thấy được thế giới Như Lai trang nghiêm, bản tâm thanh tịnh. Chúng ta là người tỉnh thức, đang tu học chánh pháp, đang muốn trở về nguồn cội, đang muốn chuyển hóa cuộc đời của mình, đang muốn thoát ly sanh tử luân hồi, càng phải nên hết sức cẩn trọng, cẩn trọng và cẩn trọng! 10) Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy: "Quá khứ tâm bất khả đắc/ Hiện tại tâm bất khả đắc./ Vị lai tâm bất khả đắc". Nghĩa là: Chuyện quá khứ qua rồi đừng luyến tiếc, đừng nhớ nghĩ làm gì cho bận tâm, chỉ gieo thêm nghiệp chướng chứ chẳng ích lợi gì. Muốn làm được điều này, ở trong gia đình hay ngoài xã hội, chúng ta cần phải có tâm vị tha, độ lượng, biết tha thứ, biết cảm thông, nói chung là tâm từ bi. Chuyện hiện tại rồi cũng qua mau, cố níu kéo cũng chẳng được, có lo âu phiền muộn cũng chẳng ích lợi gì. Chuyện tương lai chưa đến, lo lắng, ưu tư, sầu muộn cũng chẳng ích lợi gì. Chi bằng chúng ta giữ gìn tâm trí được như như, bình tĩnh, thản nhiên, có phải khỏe hơn không? Chuyện gì phải tới nó sẽ tới, lo sợ cũng chẳng ngăn cản được đâu. Đó chính là nghiệp quả, nghiệp báo, còn gọi là: quả báo. Hiểu sâu được luật nhân quả, chúng ta sẽ bình tĩnh thản nhiên chấp nhận quả báo xảy đến. Nếu không muốn có quả báo xấu, chúng ta phải chấm dứt gây nghiệp nhân xấu, tức là chấm dứt tâm tham sân si, tức là dừng ba nghiệp thân khẩu ư bất thiện. Trong kinh sách gọi là: dừng nghiệp và chuyển nghiệp. 11) Trong Kinh Tịnh Danh và Kinh Tâm Địa Quán, Đức Phật có dạy: "Tâm tịnh thì độ tịnh. Tâm địa bình thì thế giới bình". Nghĩa là: Khi những vọng tâm vọng tưởng, vọng thức vọng niệm đã dứt sạch, người tu tập không còn tham, không còn sân, không còn si. Đến đây, người tu tập đạt được cảnh giới bất nhị, tức là không còn kẹt hai bên, không còn thị phi, không còn phải quấy, không còn tranh chấp, không còn hơn thua, không còn tạo tội, không còn tạo nghiệp, không còn cố chấp. Trong kinh sách gọi đó là cảnh giới: vô tâm vô niệm, hay là cảnh giới: nhất tâm bất loạn. Lúc đó, tâm tịnh, tâm địa bình, tâm vô quái ngại, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, tức là tâm an nhiên tự tại, không còn điều gì có thể ngăn ngại được, gây lo sợ khủng khiếp được. Do đó, chúng ta xa rời những thứ điên đảo, là bỏ được mộng tuởng, đạt được cứu kính niết bàn. Mọi người chung quanh cảm thấy an ổn, yên tâm, khi sống gần người tu tập có tâm tịnh, tâm địa bình. Thế giới chung quanh thanh bình, quốc độ an ninh, chính là nghĩa như vậy. 12) Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy: "Thắng vạn quân không bằng tự thắng mình. Tự thắng tâm mình là điều cao quí nhứt". Thắng được vạn quân, con người tóm thu được quyền lực, danh vọng, tiền tài, của cải vật chất, đủ mọi thứ trên trần đời. Nhưng tâm người đó vẫn sống trong tam giới: dục giới, sắc giới, và vô sắc giới, cho nên vẫn còn phiền não khổ đau, vẫn còn sanh tử luân hồi. Muốn xuất được tam giới gia, chúng ta phải luôn luôn quán sát tâm chính mình: Khi nào tâm tham, tâm sân, tâm si nổi lên liền biết, không theo. Lúc đó chúng ta đã tự thắng mình: tức là tự kềm chế hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ của chính mình. Người ta công kích, khích bác, vu khống, phỉ báng, phê phán, mạ lỵ, sỉ nhục, mắng nhiếc, người nào phản ứng nhanh, trả đũa nặng nề thì dễ quá, thường quá. Người nào tự thắng tâm mình, nhẫn nhịn được mà không thấy nhục nhằn, nhịn mà không nhục, tâm trí vẫn an nhiên tự tại, mới đáng kính phục, mới là điều cao quí nhứt. 13) Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy: "Tâm khẩu nhất như". Nghĩa là: "Tâm khẩu không khác". Tâm nghĩ sao, miệng nói vậy. Miệng thường nói tốt, tâm nên nghĩ tốt. Như vậy, cuộc sống mới được an lạc. Ngược lại, tâm nghĩ một đàng, miệng nói một nẻo, miệng nói như vậy, tâm không như vậy, nên sách có câu: Miệng thì nói tiếng nam mô. Trong lòng chứa cả một bồ dao găm. Ở trên đời này, đố ai lấy thước để đo lòng người. Trong sách có câu: “Tri nhân tri diện bất tri tâm,” nghĩa là: biết người chỉ biết mặt, không biết được tâm địa. Cho nên chư Tổ có dạy: Phản quan tự kỷ, nghĩa là: hãy quay lại, quán sát tâm chính mình, để giữ tâm khẩu nhứt như. 14) Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật có dạy: "Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện". Nghĩa là: Khi khắc chế được tâm ư, trụ tâm ở một chỗ, bằng cách tụng kinh, niệm Phật, thiền quán, qua sự hiểu biết chánh pháp, tâm trí bình tĩnh thản nhiên, không còn chuyện gì để cãi vã nữa, để tranh chấp nữa, cho nên không có sự việc gì người tu tập không hiểu biết sáng tỏ, rõ ràng, không biện luận được một cách thông suốt. TK. Thích Chân Tuệ
  5. Chúng tôi đã có chuyến vi hành Phật Sự Đầu Năm Cầu Phước Báo đến tất cả ACE Diễn Đàn. Từ Tp HCM đến Huyện Phi Liêng Tỉnh Lâm Đồng 340 km đường bộ dọc qua các đèo núi và bạt ngàn cánh đồng càphê & Trà chập chùng thơm ngát, là điạ phận mà chúng tôi tìm "tịnh thất VIên Thông' Trên chuyến xe 29 chỗ, có 14 ACE tham gia....và khởi hành 21h45 tối mùng 10 tháng giêng năm Tân Mão. Đèo quanh co cho biết chúng tôi đã đến địa phận tỉnh Lâm Đồng. Đã nhìn thấy đồi thông cheo leo vách núi... Có nhiều khúc quanh triền dốc như thế này thật thú vị khi tất cả đều chuyển hướng vặn mình không ngừng nghĩ. Có một lòng hồ thiên nhiên rất đẹp trên đường đến Tỉnh Lâm Hà. Cỏ dại hoang sơ bên cạnh những cột mộc đều đặn cũng tạo nên vẻ thiên nhiên thân thiện với con người Và cũng bị can thiệp "đốt cháy" nếu như cứ vô tổ chức gây cản tầm nhìn. Và đây Ngũ hổ tướng dẫn đường vào Tịnh Thất. (còn tiếp)
  6. Cậu bé có khuôn mặt khôi ngô này đã từng tham gia những chuyến từ thiện cùng Wild cũng như khóa học gieo hạt từ tâm! Nam Mô tinh tấn tri thức Bồ Tát ! Tăng sinh Gieo Hạt Từ Tâm tham gia khóa lễ nhật tụng (còn tiếp)
  7. Thân gửi Sư Phụ và các thành viên Bảo Bình, Công Minh, A Chau, An Thanh, HoangAnh, Đoan Thư, Nhocchantrau,Thu Nga, Ái Hòa, Khanh Hoang,Trung Nhân, Thu hiên1101, Thiên Đồng,Chaule, Ánh Xuân, Tan Phong, đã từng phát tâm cúng dường Tịnh Thất Quan Âm (trước là Viên Thông) vào dịp Tết Tân Mão, Thời gian trôi qua không quá lâu, tôi đã có dịp trở lại nơi này trước là viếng chùa sau Lễ Phật và đồng thời báo ân công đức Ngôi tam bảo đã gia hộ cho Đại Đức Thích Trí Anh khuyến giảng dìu dắt chúng sinh đến với Phật Pháp dù nơi đây là vùng sâu với số dân thưa thớt nghèo nàn mà đa phần người dân tộc, Song song với sự tinh tấn dũng mãnh kiên trì là sự phát triển cơ bản vật chất tôn tạo tu bổ các chư thần Bồ tát tương thành viên mãn. Wild ghi lại vài hình ảnh để các ACE có dịp nhìn lại những đôỉ thay, các Phật tử nơi này cũng nhờ tôi chuyển lời cám ơn đến ACE với lòng cảm niệm sâu xa và lời chúc thân sức khỏe- tâm an lạc. Tượng Quan Thế Âm Bồ Tát được đặt ngoài trời. Chánh Điện Vào khóa lễ (còn tiếp)
  8. Chúc mừng Sinh Nhật Nhi Địa Sinh! Sức Khỏe, Hạnh Phúc , Thành Đạt.
  9. Đau đầu nhà khoa học trước hiện tượng các nhà sư Tây Tạng "biết bay" Khi chứng kiến các nhà sư Tây Tạng bay lơ lửng trong lúc ngồi thiền, người ta thường nghĩ những nhà sư này là "thần thánh hiển linh", hoặc là thánh thần giúp họ làm điều đó. Những nhà sư Tây Tạng đã chống lại được định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, bay lơ lửng mà không cần bất cứ sự trợ giúp nào, đó chính là thuật khinh công. Bí thuật của thầy tu Tây Tạng Tây Tạng, "vùng cực thứ 3 của trái đất" được biết đến như một vương quốc huyền bí của Phật giáo và là cao nguyên cao nhất thế giới thuộc dãy Hymalaya. Nơi đây được coi là trung tâm truyền thống của Phật giáo Tây Tạng, cái nôi truyền giáo của thế giới. Vùng đất bao quanh bởi mây trắng này còn là nơi lưu giữ bí quyết thuật khinh công (Levitation) của các nhà sư Tây Tạng, một bí thuật riêng của các nhà tu hành phương Đông. Nó không phải là huyền thoại như người ta lầm tưởng. Trước đây, khi chứng kiến các nhà sư bay lơ lửng trong lúc ngồi thiền, người ta thường nghĩ những nhà sư này là "thần thánh hiển linh", hoặc là thánh thần giúp họ làm điều đó. Nhà thám hiểm người Anh Alexandra David Neel một ngày nọ đã chứng kiến nhà sư Cnang Tang bay lên khỏi mặt đất trên cao nguyên đầy thông ở Tây Tạng. Neel kể lại rằng, vị tu sĩ nọ bật lên khỏi mặt đất nhiều lần như một quả bóng tennis nảy lên nảy xuống. Không chỉ có lạt-ma Tang có thể bay như một quả bóng mà nhiều nhà sư khác cũng có khả năng tự nhấc mình lên khỏi mặt đất đến 90cm. Họ làm việc này không phải để biểu diễn cho công chúng xem mà chỉ nhằm mục đích phục vụ cho những nghi thức tôn giáo. Neel không khỏi ngạc nhiên với điều kỳ lạ này. Một thời gian dài, Neel sống cùng các lạt-ma, cố gắng tìm hiểu bí mật của họ. Neel nhận ra, các lạt-ma thường xuyên tập yoga và võ thuật. Đặc biệt, họ có khả năng giữ thăng bằng rất tốt, nhanh nhẹn trong từng cử động. Để đạt được trình độ khinh công, các nhà sư phải trải qua tất cả mức khinh hành (đi bộ với tốc độ rất lớn). Các môn đồ của khinh hành có thể đi lại rất nhanh và an toàn ở những nơi núi non hiểm trở, bằng kỹ thuật phi thân (nhảy), thân hành (chạy hàng trăm dặm mà chân không chạm đất), bích hổ du tường (thằn lằn leo tường), thủy thượng phiêu (chạy trên nước). Tất cả những nhà sư này đều có một thể lực phi thường cùng sức chịu đựng tốt với tấm thân "mình đồng da sắt". Neel chỉ có thể rút ra kết luận, khinh công là một môn võ tập luyện cho thân thể được nhẹ nhàng như bướm trên cành, như chim bay lượn, chạy trên cỏ mà cỏ chẳng hề di động, chạy trên tuyết, tuyết chẳng hề in dấu chân, băng qua nước, nước không hề gợn sóng. Thậm chí, Neel cũng cố gắng tập luyện cùng các nhà sư, trải qua những bài tập khắc khổ cùng họ để đạt đến ngưỡng có thể nhấc mình lên khỏi mặt đất. Theo lịch sử ghi lại, tu sĩ Daniel Douglas Hewm, một nhà yoga hàng đầu thuộc thế kỷ 19 là người Tây Tạng đầu tiên thực hiện màn khinh công kỳ bí. Ông được mệnh danh là người nắm giữ nhiều sức mạnh huyền bí đến nỗi có thể đi lại, ăn, ngủ trong khi khinh công lơ lửng giữa không khí. Vào thời gian đó, người ta chưa biết đến thuật khinh công mà chỉ biết tu sĩ Milarepa là một vị thánh sống có nhiều phép lạ. Trên một tờ báo Mỹ, một nhà báo đã miêu tả trạng thái bồng bềnh trong không gian của Hewm như sau: "Bất thình lình, Hewm bắt đầu nhấc mình lên khỏi mặt đất khiến những người trong phòng sửng sốt, ngạc nhiên. Tôi thấy chân của ông ta cách mặt đất khoảng 0,3 mét. Ông ta vọt lên rồi hạ xuống. Đến lần thứ 3 thì ông ta chạm trần nhà...". Tu sĩ Hewm đã biểu diễn năng lực đặc biệt này trước hàng nghìn khán giả, trong đó có cả những người nổi tiếng như William Makepeace Thackeray, Mark Twain, Napoleon III cùng những nhà chính trị, bác sĩ, khoa học gia. Ngày nay, thuật khinh công được nhắc đến nhiều hơn trong võ thuật, không còn được coi là do thần thánh làm nhưng vẫn là điều bí ẩn đối với khoa học. Những tuyệt kỹ khinh công dù thực hiện ở bất cứ đâu đều có một điểm giống nhau, đó là sử dụng một kỹ thuật nào đó để giảm hoặc mất hẳn tác động của lực hút trọng trường. Nói về điều này, cần nhắc đến một khái niệm vật lý là trọng lượng biểu kiến. Nó đặc trưng cho lực nén của vật lên mặt sàn hoặc sức căng của lò xo thể hiện sức nặng của một vật nào đó. Chính trọng lượng biểu kiến tạo cảm giác về sức nặng nhẹ của cơ thể. Khi không có cảm giác về trọng lượng biểu kiến (rơi từ trên cao xuống mà không có sàn đỡ), trạng thái không trọng lượng sẽ xuất hiện. Người ngoại đạo cũng có thể học khinh công Cho đến nay, người ta không thể chứng minh, ít nhất là về mặt lý thuyết, làm thế nào mà một người có thể thoát ra khỏi tác động của lực hút của trái đất trong điều kiện thông thường chỉ bằng cách hít thở, thôi miên để lơ lửng trên không trung. Những người phản bác cho rằng từ xưa đến nay, đó chỉ là trò ảo thuật đánh lừa thị giác của người xem. Nhà thám hiểm Neel đã cố gắng chứng minh, khinh công hoàn toàn là do luyện tập, không phải là một trò lừa đảo hay đánh lừa thị giác như người ta vẫn nói. Thời gian sống cùng các nhà sư Tây Tạng, trải qua quá trình luyện tập khắc khổ, cuối cùng Neel đã có thể bay lơ lửng cách mặt đất 40cm. Neel cho biết: "Tôi luyện tập yoga và các môn võ kết hợp hàng ngày. Cái quan trọng nhất chính là tĩnh tâm và cách hít thở của người tập. Khi đạt đến trạng thái vô thức, tôi thấy thân mình nhẹ bẫng, cảm giác như đang trên mây. Lúc lấy lại được nhận thức, các nhà sư cho tôi biết tôi đã thành công". Việc Neel có thể thắng lại được lực hút của trái đất, nhấc mình lên khỏi mặt đất mà không có sự trợ giúp của bất cứ thiết bị nào đã khiến nhiều người tò mò hơn và muốn tìm ra được bí quyết. Neel vốn là người ngoại đạo mà vẫn có thể học khinh công, chứng tỏ bí mật khinh công của các nhà sư Tây Tạng không phải là điều quá huyền bí với con người. Tuy nhiên, khi được hỏi về cách thức thực hiện, Neel lại giữ im lặng, không trả lời bởi ông muốn giữ lời thề của mình trước khi học khinh công. Các nhà khoa học đã thực hiện một số thử nghiệm khoa học và đã có những tín hiệu đáng mừng. Một vài năm trước, nhà vật lý người Nga Evgeny Podkletnov đã gây chú ý khi ông tuyên bố tạo được ra một hệ thống có thể chiến thắng trọng lực và làm cho các đồ vật bay lên. Podkletnov làm lạnh một chiếc đĩa đặc biệt ở nhiệt độ - 1670C, để lên đó một vật rồi đặt tất cả vào trường điện từ làm quay chiếc đĩa. Khi tốc độ quay đạt đến 3.000 vòng/phút, đồ vật đặt trên đĩa bắt đầu mất trọng lượng và lơ lửng trên không. Còn các nhà khoa học Mỹ lại làm thử nghiệm khác: Khi đặt chất siêu dẫn lơ lửng trong từ trường, họ phát hiện, nếu đặt một vật thể lên trên bề mặt của chất siêu dẫn, trọng lượng của nó sẽ giảm đi 5%. Một số thí nghiệm khác hướng theo mục đích này đã đạt những kết quả nhất định. Các nhà khoa học Hà Lan thậm chí đã làm cho một con ếch bay lên. Họ hy vọng áp dụng những nguyên tắc tương tự, trong một ngày rất gần, chúng ta có thể bay lên lơ lửng trong không gian mà không cần bất cứ sức mạnh cơ học nào. Nhưng tất cả những thí nghiệm này đều được thực hiện trong môi trường đặc biệt, cần sự hỗ trợ của các thiết bị kỹ thuật hiện đại. Khinh công vẫn khiến nhiều nhà khoa học tranh cãi, về tính xác thực của nó dù đã có bằng chứng cụ thể. Một số nhà nghiên cứu nói rằng, đó là sản phẩm của trường sinh học, được tạo ra bởi một dạng năng lượng tinh thần đặc biệt phát ra từ não người. Bác sĩ Alexander Dubrov, chuyên gia về sinh vật học là người ủng hộ giả thuyết này. Ông cho rằng trường sinh học được tạo ra một cách có chủ ý bởi người thực hiện khinh công, bởi vậy họ có thể kiểm soát và thay đổi hướng khi lơ lửng trên không. Theo An Mai - Pravda/Word Pres - NĐT
  10. I-MỞ ĐẦU Nói về cái Chết là một điều không hấp dẫn và không dễ chút nào:-Không hấp dẫn vì ai cũng tránh né vấn đề này,ai cũng dội khi nghe chữ “Chết”.-Không dễ chút nào vì người trình bày đề tài chưa chết rồi trở về kể lại hoặc nếu có chết trong các kiếp trước thì đã phải ăn “cháo lú” nên quên mất rồi. Chính vì những lý do trên,tôi xin phép được sưu tầm những sách hoặc bài liên quan đến cái Chết từ những nhà tu hành,đặc biệt là từ các vị Lạtma Tây Tạng cũng như từ các nhà khoa học rồi sắp xếp lại để quý bạn đỡ mất thời gian nghiên cứu. Chắc chắn phần trình bày này còn thiếu sót,rất mong sự góp ý của các bạn.Vậy chúng ta thử đặt và trả lời một số câu hỏi sau đây: 1/ Ai phải chết? Mọi người đều phải chết,không chừa bất kỳ ai:Dù người giàu có nhất hay người nghèo khổ nhất thế giới,dù người cao sang quyền uy hay người hạ tiện cùng đinh nhất thế gian ,dù người hiền lành nhất hay là người độc ác nhất trên trái đất này… 2/Tại sao phải chết? Vì có sinh thì phải có tử . 3/Khi nào chết? Bất kỳ lúc nào,thường không biết trước được.Ngay khi thai nhi còn trong bụng mẹ hoặc là một cụ già trên 100 tuổi. 4/ Chết thế nào? Nhẹ nhàng hoặc khổ sở,từ từ hoặc đột ngột… 5/ Chết có phải là hết không? Không phải ,vì thân xác như một bộ quần áo sau bao năm sử dụng đã bị hư nát,nay cần được thay bằng một bộ quần áo mới.Chính vì thế mà có câu ngạn ngữ Tây Tạng: “Mọi người đều chết nhưng chẳng ai chết cả”. Tái sinh hay luân hồi đối với người Phật giáo là một sự kiện hiển nhiên. Thật vậy nếu không có tái sinh sẽ không thể nào giải thích được hiện tượng đa dạng của chúng sinh. Nếu không có sự tái sinh chi phối và tác động bởi quy luật nhân quả thì nhất định thế giới này phải là một thế giới bất công và phi lý.Có lẽ câu hỏi “Luân hồi có thật hay không?” đã lỗi thời, và câu hỏi “Trước khi rơi vào vòng xoáy luân hồi, chúng ta là ai? Sau khi ra khỏi vòng xoáy ấy, chúng ta về đâu?” quan trọng và thực tế hơn. Đối với nhân loại đó là một cánh cửa bí ẩn mà chỉ khi chịu khó đi tìm người ta mới có thể mở ra được.Tan-tra thừa dựa vào các phương pháp quan sát, phân tích và nhất là thiền định để tìm hiểu các diễn biến của cả ba quá trình này : quá trình của cái chết, « giai đoạn trung gian » và quá trình của sự sinh , và hướng chúng ta vào việc tu tập. II-ĐẠI CƯƠNGA-ẢO TƯỞNG LỚN (Sogyal Rinpoche) Sau khi thầy tôi chết,tôi được gần gũi thầy Dudjom Rinpoche,một trong những thiền sư,hành giả Mật giáo và Yoga vĩ đại nhất của thời cận đại.Một ngày nọ,khi thầy đang lái xe hơi xuyên nước Pháp cùng với vợ thầy để ngắm cảnh miền quê,họ đi ngang qua một khu nghĩa trang dài vừa mới được sơn quét và trang trí hoa tươi.Bà vợ thầy nói:“Rinpoche,ngài hãy xem mọi thứ ở phương Tây thật ngăn nắp,sạch sẽ làm sao!Ngay tại những nơi người ta để thây chết cũng thật sạch sẽ”.Thầy Dudjom Rinpoche nói:“Ồ,đúng thế,đây quả thật là một xứ văn minh.Họ có những ngôi nhà đẹp đến thế cho những xác chết.Nhưng bà không để ý sao? Họ cũng có những ngôi nhà tuyệt diệu cho những xác sống nữa chứ”. Mỗi khi nhớ lại câu chuyện ấy,tôi không khỏi nghĩ rằng cuộc đời thật trống rỗng,vô vị làm sao,khi nó được căn cứ vào một niềm tin sai lạc về trường cửu và tương tục.Khi sống kiểu ấy,chúng ta vô tình tự biến mình thành những cái xác sống,như thầy Dudjom Rinpoche đã nói. Nhưng đây là kiểu sống của phần đông chúng ta,chúng ta sống theo một kế hoạch đã định.Nhỏ thì được giáo dục,lớn lên kiếm việc làm,rồi gặp một người nào đó,kết hôn và có con.Chúng ta mua một cái nhà,ráng làm ăn phát đạt,rồi mơ ước có một ngôi nhà ở miền quê hoặc thêm một chiếc xe hơi đời mới nhất .Vào dịp nghỉ thì đi du lịch xa cùng với bạn bè. Chúng ta dự định kế hoạch cho lúc về hưu . Những vấn đề trọng đại nhất mà một vài người trong chúng ta từng gặp chẳng phải chỉ là: không biết nên đi chơi đâu vào kỳ nghỉ hè tới hoặc mời ai vào dịp lễ Giáng Sinh.Cuộc đời của ta thật đơn điệu,tầm thường,lặp đi lặp lại.Ta phí một đời để theo đuổi những chuyện nhỏ nhen bởi vì dường như ta không biết có cái gì hơn thế . Nhịp địêu đời sống của chúng ta rộn ràng tới nỗi ta không có thời giờ để nghĩ đến cái chết.Ta ém nhẹm những nỗi sợ hãi thầm kín của ta về Vô thường bằng cách bao vây quanh mình thêm nhiều đồ đạc,của cải,tiện nghi chỉ để tự biến mình thành nô lệ cho chúng. Mọi thời giờ và năng lực của ta đều kiệt quệ chỉ vì phải bảo trì những thứ ấy .Chẳng bao lâu,mục đích duy nhất của ta trên đời hóa ra chỉ là giữ cho mọi thứ ta sở hữu càng được bảo đảm an ninh càng tốt.Khi có biến chuyển gì xảy đến, ta tìm cách đối phó mau lẹ nhất,một giải pháp hữu hiệu tạm thời. Cứ thế, đời ta tiếp tục trôi giạt cho đến khi một cơn bệnh hay một tai nạn nào đó lay ta ra khỏi cơn mê.Cũng không hẳn là ta dành nhiều thời gian suy nghĩ cho cuộc đời này. Hãy nghĩ đến những người đã làm việc bao nhiêu năm rồi phải về hưu , để thấy không biết mình phải làm gì cả vì họ càng ngày càng già và tiến gần đến cái chết.Mặc dù ta luôn luôn hô hào phải thực tế ,thực tế ở phương Tây có nghĩa là thiển cận một cách vô minh và thường ích kỷ. Sự tập trung thiển cận của chúng ta vào đời này và chỉ đời này mà thôi,chính là một ảo tưởng lớn,nguồn gốc của nền duy vật đen tối và phá hoại của thế giới ngày nay.Không ai bàn tới sự chết và đời sau vì người ta có thói tin rằng chuyện ấy chỉ làm đình trệ cái gọi là sự “tiến bộ” của ta trên đời này. Nhưng nếu ước muốn sâu xa nhất của chúng ta quả là sống và tiếp tục sống thì tại sao chúng ta lại quả quyết một cách mù quáng rằng chết là hết chứ ? Ít nhất ta cũng nên thử thám hiểm xem có thể có đời sau hay không đã chứ ! Nếu quả thật chúng ta có óc thực nghiệm như ta từng tuyên bố thì tại sao ta không tự đặt câu hỏi cho mình một cách nghiêm túc:Tương lai thực sự của ta nằm ở đâu?Chung quy,chẳng có mấy ai sống lâu trên trăm tuổi và sau thời gian đó là cả một thời gian vô tận trải dài,không được giải thích . B-CÁI CHẾT TỚI BẤT NGỜ Nhiều người như cố quên về cái chết, cho cái Chết là đáng sợ, không dám nhắc tới. Nhưng cũng có người lại làm ra vẻ thản nhiên bất cần, coi thường sự chết bằng cách biểu lộ qua lời nói: “Ôi! Ai rồi cũng chết cả, vậy thì lo sợ, nghĩ ngợi làm chi cho mệt! Cứ để cho nó tới”. Thật sự thì lời nói đó chỉ là để khỏa lấp về sự chết, chối bỏ sự chết, vì không muốn nghe chữ chết mà thôi .Nhưng khi sự chết đến gần với họ thì sự lo âu khủng khiếp không còn làm họ thản nhiên nữa và khi đó vì không có chuẩn bị trước nên sự ra đi của họ về thế giới bên kia lại chất chứa nhiều đau khổ và sai lầm .Có người còn cho rằng Chết là hết, là không còn gì nữa . Vì thế họ sống vội vã, cố hưởng được những gì họ có trong cuộc đời hiện tại mà họ đang sống chớ không cần nghĩ đến tương lai, hậu quả của đời sau ra sao . Như vậy họ sống chỉ là để hưởng thụ, nặng về vật chất mà coi nhẹ hay không nghĩ đến phần tâm linh .Sự chết quả thật là rất quan trọng, nếu mỗi người tự suy nghĩ về cái giờ phút cuối ấy thì thật sự là không đơn giản. Khi biết được vấn đề này một cách sâu xa tế nhị và quan trọng thì ngoài sự chuẩn bị cái chết cho riêng mình, ta còn nên giúp người khác biết chuẩn bị cho họ được an lành khi cái chết đến với họ .Sống trên thế gian này hầu hết mọi người đều lăn xả vào làm việc để kiếm tiền rồi hưởng thụ và nô lệ cho vật chất trong khi cái chết là cái thực tế đang chờ đợi thì lại không bao giờ để tâm tới. Ðó chính là cái sai lầm ghê gớm mà mọi con người đã và đang phạm phải mà không biết. C- TẠI SAO PHẢI CHUẨN BỊ CÁI CHẾT ? Khi Sống, Con Người lo đủ việc và nhất là hết lòng chuẩn bị mọi thứ: Nào chuẩn bị thi cử, chuẩn bị ra trường, chuẩn bị cưới hỏi, chuẩn bị sinh con, chuẩn bị nhận việc làm, chuẩn bị mua nhà, chuẩn bị đi du lịch, chuẩn bị đi nằm bệnh viện v...v.Nhưng có một việc rất gần gũi, thiết thực và hệ trọng cho mỗi người thì lại không thấy ai chuẩn bị cả. Đó là chuẩn bị lúc lâm chung!Tại sao lại phải chuẩn bị lúc qua đời? Mọi người ai cũng Chết cả, đó là chuyện tự nhiên, có gì mà phải chuẩn bị? Nhiều người sẽ nói như thế khi nhắc tới chữ Chết. Nhưng chính vì mọi người ai cũng phải Chết nên cũng phải chuẩn bị , mà nên chuẩn bị kỷ hơn, vì thật sự Chết không phải là đơn giản như những điều ta chuẩn bị trên đời. Lý do: - Khi Chết, ta ra đi chỉ một mình đơn độc.- Ở ngưỡng cửa Tử Sinh, vì không chuẩn bi trước nên ta sẽ bơ vơ, ngơ ngác, lo sợ, mơ hồ không biết làm gì và tới đâu.- Rời khỏi thế gian rồi, ta sẽ đi vào những Cõi giới khác mà ta không biết xấu tốt ra sao? Tâm thức ta lúc ấy vô cùng bấn loạn, sợ sệt kinh hãi, hoang mang. Vì thế khi sống, ta cần biết rõ khi Chết sẽ ra sao và chuẩn bị trước để lúc lâm chung, tâm thức ta đủ sáng suốt để nhận định đâu là Cửa tới Cõi An lành hầu chuyển đổi một kiếp đời mới khá tốt đẹp hơn. Đức Phật đã nói rằng trong tất cả những mùa khác nhau để cày cấy, mùa thu là mùa tốt nhất, trong tất cả những loại nhiên liệu để đốt, thì phân bò là tốt nhất, và trong tất cả những loại tỉnh giác khác nhau, sự tỉnh giác về sự vô thường và cái chết thì hữu hiệu nhất.Cái chết là điều nhất định, nhưng khi nào nó giáng xuống thì bất định.Nếu chúng ta thực sự đương đầu với sự việc, chúng ta không biết được cái gì sẽ tới trước : ngày mai hay cái chết.Chúng ta không thể hoàn toàn quả quyết rằng người già sẽ chết trước và người trẻ còn ở lại phía sau.Thái độ thực tế nhất mà ta có thể nuôi dưỡng là hy vọng điều tốt đẹp nhất nhưng chuẩn bị điều tồi tệ nhất.Nếu điều xấu nhất không xảy ra thì mọi sự đều tốt đẹp, nhưng nếu nó xảy ra, nó sẽ không tấn công chúng ta một cách bất ngờ.Ðại sư Sogyal Rinpoche đã khuyên mọi người là nên nói một cách tế nhị, khéo léo sự thật về cái chết cho thân nhân sắp qua đời biết khi căn bệnh họ đã tới hồi nguy kịch .Ðiều ấy có lợi vì giúp họ “kịp dọn mình, chuẩn bị tinh thần cho một tình huống phải đến . Nhờ thế mà dần dần họ sẽ cảm thấy yên tâm và cũng từ đó họ bắt đầu sửa đổi thái độ, tâm linh với mọi người, với gia đình, với những ân oán, nợ nần, những gì cần giải quyết v…v… cho tốt đẹp. Né tránh Cái Chết sẽ không giúp giải quyết nó mà thực ra có thể làm vấn đề tệ hại hơn.Một số người nhận xét rằng thực hành Phật giáo dường như nhấn mạnh tới sự đau khổ và tính chất bi quan.Tôi cho rằng điều này thật sai lầm. Thực hành Phật giáo thực sự cố gắng để chúng ta có được một sự an lạc vĩnh cửu là điều không thể suy lường nổi đối với một tâm trí bình thường và tiệt trừ những đau khổ một lần cho mãi mãi. III-CHẾT LÀ GÌ ?A-CHẾT LÂM SÀNG (theo Y Học) Khi mũi hết thở,tim ngưng đập ,mất ý thức,đồng tử không phản xạ với ánh sáng khi chiếu vào. B-CHẾT THẬT SỰ (theo Đạo Phật) Theo Đạo Phật,Chết thật sự là khi thần thức rời bỏ thể xác để vào cõi Trung giới,tức là nơi tạm trú của những vong linh chờ đi tái sinh . 1/Phật giáo Nguyên thủy không chấp nhận sự hiện hữu của thể dạng trung gian (antarabhava). Dòng tiếp nối liên tục của tri thức (continuum of consciousness) trực tiếp chuyển tải nghiệp của một cá thể từ cái chết sang sự sinh (thụ thai) không có sự gián đoạn nào tức không trải qua một thể dạng trung gian nào cả.Sự « chuyển tiếp » giữa thể dạng hiện hữu trước sang thể dạng hiện hữu tiếp theo sau xảy ra rất nhanh chỉ trong khoảnh khắc của « một chớp mắt hay một tia chớp ». Tóm lại Phật giáo Nguyên thủy không quan tâm đến những gì xảy ra giữa cái chết và sự sinh. Có thể đây là một sự thiếu sót, vì khi quan sát và theo dõi diễn tiến của một cái chết bình thường, người ta thấy quá trình đó không xảy ra đột ngột như một « tia chớp », và đối với sự sinh thì các điều kiện thuận lợi giúp tinh trùng, noãn cầu và dòng tiếp nối liên tục của tri thức kết hợp với nhau không xảy ra trong « chớp mắt ». 2/Phật giáo Đại Thừa: Ngài Thế thân (Vasubandu - thế kỷ thứ III-IV) nêu lên khái niệm về thể dạng trung gian xảy ra giữa cái chết và sự sinh. Thể dạng này tượng trưng bởi một sinh linh cấu tạo bằng « khí » và « tri thức » (consciouness), mang hình hài của cá thể mà nó sắp tái sinh và « sống » được bảy ngày. Sinh linh trong thể dạng trung gian ấy có thể nhận biết được các sinh linh cùng một thể loại với nó. Sau bảy ngày thì nguyên nhân của nghiệp bắt đầu « chín », sinh linh ở thể dạng trung gian trên đây sẽ chuyển sang thể dạng tái sinh trong những điều kiện phù hợp với nghiệp của nó.Tóm lại trên một khía cạnh nào đó có thể hiểu A-lại-da thức là dòng tiếp nối liên tục của tri thức (continuum of consciousness) của một cá thể, vận hành xuyên qua thể dạng trung gian. Tan-tra thừa « mô tả » các cơ sở chuyển tải trên đây dưới hình thức các « khí » cực kỳ tinh tế. Thời điểm khi xảy ra sự sinh (thụ thai) đánh dấu sự chấm dứt của thể dạng trung gian và xác định sự thâm nhập của tri thức vào phôi vừa được hình thành. Cũng bắt đầu từ thời điểm trên đây phôi hàm chứa một tri thức mới, tượng trưng cho quả phát sinh từ nghiệp trong các kiếp trước. Thông thường thể dạng trung gian kéo dài 7 ngày, tối đa 49 ngày sau khi chết. Tuy nhiên theo sự tin tưởng của một số tông phái Phật giáo Nhật bản thời gian này có thể lên đến 77 ngày. 3/Theo Phật giáo Tây Tạng) Khái niệm về thể dạng trung gian được Tan-tra thừa và nhất là Tối thượng du-già Tan-tra nghiên cứu, tu tập và quảng bá rộng rãi. Tan-tra thừa sử dụng các phương pháp quan sát, phân tích và thiền định để tìm hiểu các hiện tượng liên quan đến quá trình của cái chết và sự sinh để ứng dụng vào việc tu tập. Cái chết theo Tan-tra thừa là một quá trình tan biến tuần tự của thân xác vật chất và tâm thức, các hiện tượng tan biến này được phân loại thành nhiều cấp bậc từ thô thiển đến tinh tế và cực tinh tế. Cái Chết theo Tử Thư Tây Tạng là khoảng thời gian kéo dài từ lúc một người tắt thở cho đến khi đương sự theo nghiệp để tái sinh vào một trong 6 đường là Trời,người,thần,súc sinh,ngạ quỷ và địa ngục .Hiểu theo nghĩa này,chết thường có các giai đoạn là lâm chung,tứ đại tan rã,pháp tính và tái sinh . 3-1/LÂM CHUNG kéo dài từ lúc một người thân của chúng ta ngưng thở,cho đến khi thần thức người ấy bỏ lại thể xác,vào Trung giới hóa thành vong linh hay hương linh.Theo người Trung Hoa,giai đoạn này thường nằm trong khoảng 8 giờ .Nhưng người Tây Tạng lại nói,nó có thể kéo dài tới 3 ngày rưỡi hay 4 ngày :Khi hơi thở ngưng lại,khí dương từ đỉnh đầu đi xuống và khí âm từ dưới huyệt Đan điền đi lên để hợp thành nguyên khí ở huyệt Gíap Tích,ngang tim .Bấy giờ,người chết thấy một vầng ánh sáng trong ,rực rỡ gọi là tịch quang của Pháp thân .Khi ánh sáng này biến đi,người ấy sẽ rơi vào bóng tối cận tử và nhìn thấy tịch quang của Pháp thân lần thứ 2 ,trước khi thần thức thoát khỏi thể xác .Nếu người chết không lợi dụng cơ hội này để thoát ly sinh tử thì sẽ lạc vào cõi Trung giới,hóa thành hương linh,mang thân Trung ấm .Thân này có khả năng xuyên qua tường và di chuyển đồng bộ với tư tưởng của hương linh .Từ lúc mang thân Trung ấm,hương linh lại bị nghiệp lực chi phối và thường phải trải qua 2 giai đoạn là Trung ấm Pháp tính và Trung ấm Tái sinh . Theo Đại đức Rinpoche thì nếu người sắp qua đời đã nói được những tâm tư nguyện vọng của họ một cách tự nhiên thoải mái thì điều ấy sẽ giúp họ thay đổi được quan niệm sống, thay đổi về cuộc đời mà họ đã từng trải qua để đi vào thế giới khác một cách bình an tốt đẹp . Khi bạn đến thăm người sắp chết, nếu họ nói ra những gì về cá nhân họ, cuộc đời họ, tình cảnh họ, bệnh tình họ... thì đó là những cảm nghĩ riêng tư của họ. Hãy để cho họ thổ lộ những gì mà họ muốn nói, đừng cản lời họ vào lúc đó. Không những là không cản trở mà còn khuyến khích, cảm thông với họ, hòa đồng vào với họ một cách ân cần đầy tình cảm ...khi họ nói ra: Có vậy họ sẽ có được cảm giác là khi ra đi họ không cô đơn. Phần lớn người sắp qua đời đã thường tha thứ những gì mà người khác đã gây hại cho họ, kể cả kẻ thù mà lúc còn sống họ rất căm giận. Ngay cả nợ nầnhọ cũng nhớ và muốn giải quyết dứt khoát.Ở phút lâm chung, con người tự nhiên tốt lành hơn, cởi mở hơn, thánh thiện hơn, tất cả như buông xả nên họ dễ dàng tha thứ. Ngay cả tử tội,trước khi thọ hình cũng thường tỏ ra ăn năn hối cải những lỗi lầm mà mình đã phạm phải. Theo các Lạt Ma Tây Tạng thì dù người sắp lìa đời đã tạo nhiều ác nghiệp, nhưng lúc sắp mất, họ tỏ ra ân hận, hối tiếc, ăn năn sám hối, mong cầu sự tha thứ thì chắc chắn sẽ phần nào chuyển hoá được nghiệp xấu. Điều luôn luôn cần lưu ý là người sắp qua đời sẽ ra đi một mình nên phút tiễn đưa cần có thân nhân bè bạn để lúc qua đời khỏi cảm thấy bơ vơ lạc lỏng.Vì thế sự lẻ loi đơn độc là điều bất hạnh nhất của người sắp mất. Đừng bao giờ thuyết giảng giáo lý của riêng bạn cho người sắp lìa đời, nhất là khi người ấy không cùng tín ngưỡng với bạn. Điều quan trọng cần nói là bạn bè, người thân khi kề cận bên người sắp qua đời thì đừng bịn rịn, khóc lóc, níu kéo người sắp mất. Nếu ta cứ tạo mối thương cảm day dứt thì người sắp qua đời sẽ đau buồn vô cùng khiến họ khó nhắm mắt ; đó chính là điều vô cùng tai hại. Cần nhớ kỹ rằng khi gần tới phút lâm chung, họ cần phải được an ổn tâm hồn, buông xả tất cả, không còn gì vướng bận vào giai đoạn quan trọng đó. 3-2/SỰ TAN RÃ CỦA TỨ ÐẠI Chết chính là sự hủy hoại của cơ thể. Theo các Kinh sách cổ Đông phương thì thân xác và tâm thức hình thành là do sự liên kết của 5 Thể hay 5 Đại - Đó là Đất, Nước, Gió, Lửa và khoảng Không.- Đất tạo nên thịt, xương và cả khứu giác để nhận biết các mùi.- Nước tạo nên máu huyết, chất nhờn, chất lỏng trong cơ thể và luôn cả vị giác để nhận biết cay, chua đắng mặn, ngọt, bùi.- Gió tạo nên hơi thở, hình thể và cả xúc giác để cảm nhận khi tiếp xúc, sờ mó, va chạm. - Lửa tạo nên hơi ấm, màu sắc và thị giác để nhìn ngắm, xác định hình thể sắc màu. - Khoảng Không tạo ra thính giác giúp nghe và phân biệt các âm thanh . Khoảng Không còn tạo ra những xoang bào, những khoảng trống, khoảng hở ở bên trong cơ thể.Khi chết thì những tan rã của các Thể hay các Đại diễn ra rất nhanh và người sắp chết lúc ấy cũng sẽ trải qua những xáo trộn biến chuyển trong cơ thể và cả tinh thần rất nhanh.a/Trước hết thì Thể Đất tan rã nên cơ thể hầu như không còn sức mạnh nữa, khi đó người sắp chết cảm thấy cơ thể nặng nề kỳ lạ và như bị té chúi xuống, không tự mình nhấc người lên được. Da bắt đầu có màu tái xanh, má hóp và trên răng hiện ra những điểm màu đen. Khi đó hai mắt như bị kép sụp xuống, thấy mờ mờ, miệng bắt đầu nói những lời tối nghĩa, mơ hồ, tâm thần suy sụp. b/Tiếp đến Thể Nước bắt đầu tan rã với dấu hiệu nước mắt, nước mũi ,nước miếng chảy ra mà ta không thể cản được.Mắt miệng, cổ họng khô và lưỡi như cứng lại và khát nước vô cùng. Hai lỗ mũi như lún vào trong,tay chân co giật, run rẩy, tâm thần mờ mịt như bồng bềnh. Khi đó từ cơ thể tỏa ra mùi khó chịu , đó là mùi tử khí. Điều này cũng dễ hiểu vì cơ thể con người thật sự là một khối dơ dáy như nhận định của các vị Chân sư quán triệt cái thân ô trọc và thấy rõ “cái cơ thể của con người” là như vậy .Nó tích chứa biết bao cái xấu xa, bất toàn và xú uế nhưng nhờ các cơ phận của cơ thể giữ chúng lại bên trong nên mọi người không thấy , chỉ thỉnh thoảng thấy qua mồ hôi, hơi thở hay phân giải, nước tiểu. Nhưng khi các đại bắt đầu tan rã thì các cơ phận của cơ thể cũng không còn khả năng cầm giữ các thứ đó nữa mà phân rã hay tuôn ra khiến tỏa mùi khó chịu. Những người làm việc ở bệnh viện thường cho biết là họ đã từng cảm nhận những mùi hôi tỏa ra trong phòng người sắp qua đời hay vừa mới qua đời. Ở giai đoạn tan rã của thể Nước thì qua một số người đã có lần chết đi sống lại nhiều khi nhớ và mô tả lúc này họ như bị chìm sâu trong lòng biển lớn hay bị khối nước ào ạt cuốn đi. c/Tiếp theo là giai đoạn Thể Lửa tan rã dần, nên cơ thể lạnh, tái, mắt mũi miệng, cổ khô rát. Hơi thở lạnh. Lúc này không thấy rõ sự vật, tâm trí mờ tối không nhận rõ ra bất cứ ai cũng như không nhớ được ai. Họ thấy những đám khói mờ bốc lên. d/Khi Gió bắt đầu tan rã thì bản thân người sắp mất cảm thấy khó thở, nhiều người vào giai đoạn này thường bảo thân nhân mở các cửa ra vì họ ngộp thở. Vì là gió đang tan rã nên thoát ra từ bên trong cơ thể qua cổ họng khiến ta thở hổn hển. Nhưng không có sức hít vào. Ðôi mắt lúc bấy giờ trợn ngược vì các dây cơ trong mắt không còn tạo thế cân bằng nữa. Cả cơ thể trở nên cứng đờ. Tâm thức lúc ấy mờ mịt tối tăm, không còn khả năng nhận biết những gì xảy ra chung quanh. Khi ấy các ảo giác bắt đầu hiện ra. Tùy theo nghiệp thiện, ác ta gây ra lúc còn sống mà ta sẽ trông thấy những hình như tương ứng, ta cũng thấy lại tất cả quãng đời của ta như một cuốn phim chiếu ngược . Lúc này các hình ảnh và sự kiện như cuồng phong, bão tố vì Thể Gió đang đi giai đoạn tan rã. Đây là lúc máu rút về Tim . Hơi thở cuối cùng hắt ra. Chỉ còn một chút hơi ấm ở tim. Sự sống chấm dứt. Tuy nhiên theo các Lạt Ma Tây Tạng, nhất là những ghi chép trong Tử Thư thì lúc này thật sự vẫn chưa chết vì tâm thức còn có thể nghe, nhận biết những gì về chung quanh . Do đó mới có lời căn dặn rằng, thân nhân người mới chết không nên gây huyên náo, khóc lóc kể lễ hay làm những điều gì có thể gây đau khổ, buồn phiền, thất vọng cho người vừa mới qua đời . Lúc này là lúc mà thân nhân nên thay phiên nhau tụng kinh, đọc kinh cầu nguyện ít nhất là trong vòng 49 ngày. Khi Chết, cái thân xác thì nằm bất động, chỉ có phần như sương khói là Thần thức thoát ra khỏi cơ thể. Theo tài liệu trong Tử thư thì lúc bấy giờ người Chết đang ở trong cõi Trung ấm, chưa nhận thức được là mình đã thực sự chết rồi mà cứ nghĩ là mình đang còn sống bình thường. Giai đoạn này quả thật là phức tạp, khó khăn. Vì cứ nghĩ là mình còn sống tự nhiên nên vẫn đi lại cũng ra vào nhà, cũng tiếp xúc gần gũi với vợ con, bạn, hàng xóm láng giềng. Nhưng có điều là không ai trông thấy họ dù họ làm đủ mọi cách như xô đẩy, cản đường, kêu gọi... họ vẫn không thể làm cho bất cứ ai thấy được họ. Họ cũng thấy gia đình, bà con nói về họ, nhắc nhở họ. Lý do lúc bấy giờ họ không còn cái thân vật chất, vật lý và hoá học như trước đây nữa.Rồi khi họ thấy trong nhà bày biện bàn thờ khói hương nghi ngút, có ảnh của họ phóng lớn đặt lên đó nữa thì họ rất phân vân tưởng như là mơ, nhưng rồi thấy người thân vật vã khóc lóc khiến dần dần họ hiểu ra rằng mình đã chết .Mặc dầu vậy, họ vẫn trong tình trạng mơ hồ phân vân không nhận định hoàn toàn rõ rệt tình huống của họ lúc ấy. Sự phân vân mê mờ của người đã mất không biết rõ tình trạng, hoàn cảnh của mình như vậy rất tai hại vì trong vòng 49 ngày nếu tâm thức họ cứ mơ mơ màng màng không rõ rệt thì họ lại càng khó phản ứng thích hợp thuận lợi với những gì đang chờ đợi họ bên kia của tử. Do đó các vị Đại sư thường căn dặn các đệ tử khi ở cạnh người sắp qua đời hãy tế nhị cho họ biết rõ là họ sẽ phải từ giã cõi thế gian , đó là điều mà bất cứ ai cũng đều phải trải qua không sớm thì muộn . Biết được chắc chắn như thế thì họ sẽ mạnh dạn và dứt khoát ra đi, với ý thức là mình đã thực sự chết rồi. Điều đó sẽ giúp họ đối phó với những tình huống bất ngờ sẽ xuất hiện khi họ ở vào giai đoạn Trung ấm, giai đoạn mà những gì xuất hiện thường sẽ rất lạ lùng, hiếm thấy khi họ còn đang sống như: ánh sáng lạ toả ra chiếu vào họ, và cả âm thanh nữa: Về ánh sáng thì có nhiều loại ánh sáng đủ mọi cấp độ sáng tối và màu sắc khác nhau. Lúc bấy giờ họ nên tránh xa loại ánh sáng nào, nên vào với ánh sáng nào... Chính lúc này là lúc quan trọng, phải biết rõ, âm thanh nào nên tới, ánh sáng nào nên lìa xa..để khỏi đi vào 6 đường lục đạo xấu xa tai hại do tâm thức mơ hồ lầm lạc. 3-3/PHÁP TÍNH(giai đoạn Trung ấm Pháp tính) kéo dài 14 ngày kể từ khi thần thức của người chết vào Trung giới với thân trung ấm.Đây là lúc chư Phật và Thánh Chúng hiện đến tiếp dẫn .Nhưng chỉ những vong linh nào có duyên mới nhận ra các Ngài và được các Ngài cứu độ :a/Từ ngày 1 đến ngày 5,có 5 phương Phật là Đại Nhật,A Súc,Bảo Sinh,Di Đà và Bất Không lần lượt xuất hiện,phóng quang chiếu soi vong linh .b/Trong ngày thứ 6,cả năm vị Phật nói trên đều đồng thời thị hiện phóng quang chiếu soi vong linh .c/Trong ngày thứ 7,có 42 thiện thần (thần ôn hòa)từ trái tim và yết hầu của vong linh xuất ra,phóng quang chiếu soi thân nó .Theo Tử thư Tây Tạng,những vị thần này đều là hóa thân của Trời Đại Hắc (Mahakala).d/Từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 14,có 58 hung thần (thần phẫn nộ)chia thành 7 nhóm từ trong đầu của vong linh tuần tự xuất ra ,phóng quang chiếu soi thân nó. Theo Tử thư Tây Tạng ,những vị thần này đều là hóa thân của vua Diêm Vương (Yamaraja). Cũng theo Tử thư Tây Tạng ,trong lúc chư Phật và Thánh chúng phóng quang chiếu soi,nếu vong linh nào khi sống đã tu tập và thấy Tánh,mới có thể hợp nhất vào Trí quang của Chư Phật hay sắc thân của Thánh Chúng,thì liền thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi . Trên đây là quan niệm của Mật Tông,còn theo những người thanh tu-tịnh nghiệp thì “Chư Phật và Thánh Chúng phóng quang không phải chỉ để chiếu soi mà là để tiếp dẫn thần thức của người niệm Phật”. 3-4/TÁI SINH bắt đầu từ tuần lễ thứ 3,khi Chư Phật và Thánh Chúng đều đã biến đi. Giai đoạn này có thể dài hay ngắn,tùy theo tâm trạng và nghiệp báo của mỗi vong linh .Có những vong linh không qua giai đoạn này vì họ đã vãng sinh hoặc tái sinh trước đó .Có những vong linh chỉ ghé qua vài giờ .Nhưng cũng có những vong linh phải lưu lại tới 49 ngày hay lâu hơn.Thân trung ấm của con người có hình người bằng đứa bé 8 tuổi lành lặn hoàn toàn nhưng nếu người ấy bị đọa vào loài thú thì thân ấy sẽ chuyển thành thân thú trước khi tái sinh . IV-CHẾT RỒI SẼ VỀ ĐÂU ? A-ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÔNG TU Kẻ phàm phu chủ trương không tu hành ,sống hưởng thụ cho bản thân và gia đình nên không màng đến hậu quả.Đến lúc chết,phải theo nghiệp báo mà tái sinh vào một trong 6 đường là:Trời,người,thần,súc sinh,ngạ quỷ và địa ngục .Người ta chia nghiệp ra 4 loại sau đây: 1/Cực trọng nghiệp gồm 5 nghiệp rất nặng là giết cha,giết mẹ,giết Alahán,chia rẽ chư tang và phá hủy tượng Phật .Những nghiệp này có thể thay đổi số mạng người đó khiến họ chết non hay bị đọa vào địa ngục.Những người phạm cực trọng nghiệp mà không sám hối thì sau khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục,đến khi mãn hạn liền bị chuyển kiếp sinh vào ác đạo để trả nợ xưa . 2/Cận tử nghiệp là ý (tư tưởng),khẩu(lời nói),thân (hành động) của một người lúc hấp hối .Nếu thân-khẩu-ý trong sạch thì người đó tái sinh vào 3 đường thiện còn nếu thân-khẩu -ý bất tịnh thì người đó sẽ sinh vào 3 đường ác. 3/Tập quán nghiệp gồm những thói quen và nhất là những đam mê của chúng ta ở trong đời này.a/Trường hợp người chuyển thân làm chó để giữ gia tài mà ông đã chôn dưới gầm giường nhưng chưa kịp nói cho vợ và con trước khi chết . b/Một nhà sư già được người quen tặng cho mấy đọt mía liền đem trồng ngoài vườn .Một thời gian sau,đọt mía ấy mọc thành một cụm mía xum xuê,tươi tốt khiến nhà sư ưa thích nên hàng ngày tưới, bón,ngắm,bỏ bê công việc tu hành .Khi chết đi,nhà sư tái sinh làm con sâu mía . 4/Tích lũy nghiệp là những nghiệp đã tạo từ trước tới nay mà chưa hề sám hối nên vẫn còn tồn trữ trong Tạng tâm dưới dạng chủng tử . Những người không có tâm nguyện hay một thói quen đặc biệt nào thì sẽ theo tích lũy nghiệp để tái sinh .Quy luật chi phối việc tái sinh trong trường hợp này rất phức tạp .Nhưng chúng ta có thể nói một cách tổng quát và ngắn gọn rằng:a/Nếu là người siêng làm việc thiện thì sẽ thăng lên cõi trời .b/Nếu là người nhẫn nại ,hiền lương thì sẽ trở lại nhân gian .c/Nếu là người nóng giận ưa gây gổ thì sẽ lạc vào cõi Thần Atula .d/Nếu là người si mê,trộm cắp,dâm dục thì sẽ bị đọa làm súc sinh .e/Nếu là người tham lam,bỏn sẻn,ích kỷ sẽ biến thành ngạ quỷ .f/Nếu là người ganh tị,độc ác,lừa đảo thì sẽ bị đọa vào địa ngục . B-ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ TU HÀNH 1/Người tu mà chưa đắc Đạo thì vẫn phải theo nghiệp thọ sinh như người phàm phu .Chỉ khác là nghiệp của họ thường là thiện nên phần lớn,họ đều được tái sinh vào cõi Trời hay cõi người . 2/Còn đối với người tu hành đã đắc Đạo,có 2 trường hợp xẩy ra: a/Những người tu hành đã đắc Đạo nhưng phát nguyện trở lại cõi Ta Bà để độ sinh thì sẽ theo nguyện lực tái sinh như trường hợp của các vị Lạtma Tây Tạng . b/Những người tu hành đã đắc Đạo nhưng không muốn trở lại cõi Ta Bà thì sẽ được giải thoát theo pháp môn mình chon.Có rất nhiều pháp môn nhưng tựu chung là 3 pháp môn chính:Thiền,Tịnh và Mật . -b1/Người tu Thiền sẽ nhập vào cõi Niết Bàn . -b2/Người tu Tịnh sẽ sinh vào cõi Cực Lạc . -b3/Người tu Mật Tông,tụng chú sẽ nhập vào tịch quang của Pháp Thân vào lúc lâm chung .Khi người đó tắt thở và trước lúc thần thức rời bỏ xác ,tịch quang này chỉ hiện ra có 2 lần,mỗi lần vài phút nên khó mà nhập được vào .Nếu không được thì phải chuyển hướng,hợp nhất với Bổn tôn hay một trong các vị Thánh hiện đến tiếp dẫn ở giai đoạn Trung âm Pháp Tính .Còn như sợ tự mình không làm được việc đó thì phải nhờ một vị Thầy có thiên nhãn theo dõi và nhắc nhở rằng mình hiện đang đối diện với vị thánh nào và phải xử trí ra sao? V-ĐẠO PHẬT CÓ THỂ GIÚP GÌ CHO NGƯỜI SẮP LÌA ĐỜI ? Để trả lời câu hỏi này,chúng ta phải biết rõ quan niệm sống và chết của Phật giáo . A-QUAN NIÊM SỐNG VÀ CHẾT TRONG ĐẠO PHẬT Tất cả mọi hiện tượng đều tương liên với nhau và biến đổi, không có một sự gián đoạn hay ngưng nghỉ nào, không có gì bớt đi cũng không có gì thêm vào, chỉ có nguyên nhân này sinh ra hậu quả kia, rồi hậu quả kia lại tạo ra nguyên nhân khác. Đó là cái nhìn của Phật giáo đối với tất cả các hiện tượng trong vũ trụ cũng như đối với sự sống và cái chết của từng cá thể.Đạo Phật nhấn mạnh luật nhân quả có thể được phát biểu đại khái như sau:“Tất cả mọi sự,mọi vật đều có nguyên nhân của nó”.Tuy nhiên,một mình nhân không đủ để gây ra quả mà cần phải có nhiều duyên hỗ trợ .Trợ duyên giúp việc gây quả gọi là thuận duyên,ngược lại chướng duyên ngăn việc gây quả gọi là nghịch duyên .Nói một cách khác:Có quả tất có nhân nhưng có nhân chưa chắc sẽ có quả !Vì việc gây quả không phải chỉ tùy thuộc vào nhân mà ngược lại còn phải nhờ thuận duyên nữa.Áp dụng luật nhân quả vào cuộc sống,Đạo Phật đưa ra thuyết Nghiệp báo nghĩa là “Trồng dưa thì được dưa,trồng đậu thì được đậu”hay là “ở hiền thì gặp lành,làm ác thì gặp ác”.Nghiệp không phải chỉ là việc làm không thôi mà nó bao gồm tất cả tư tưởng,lời nói,hành động có ý thức của chúng ta. Những nghiệp này vốn là nhân được lưu trữ ở trong Tạng thức dưới dạng chủng tử hay hạt giống .Chỉ cần có đủ cơ duyên thì những nhân này sẽ thành quả .Qủacủa nghiệp gọi là nghiệp quả hay nghiệp báo . Nghiệp báo có 2 loại:1/Chính báo là thần thức của chúng ta . 2/Y báo là hoàn cảnh sống của chúng ta Quá trình tạo nghiệp và chịu quả báo nói trên thông qua 3 thời là quá khứ,hiện tại,vị lại .Do đó,chết không phải là hết .Khi chết,chỉ có hình hài tan rã,còn Tạng thức (Alạida thức) sẽ theo thần thức tái sinh vào một trong 6 cõi luân hồi tùy theo nghiệp báo . Khác với thuyết Định mệnh theo đó,con người hoàn toàn bất lực trước sự an bài của Tạo Hóa,thuyết nghiệp báo tôn trọng quyền tự do của con người trong việc kiến tạo tương lai của mình .Thực vậy,tuy làm ác nhưng nếu cá nhân đó biết ăn năn,sám hối,làm các việc thiện,phóng sinh,bố thí nghĩa là tạo nghịch duyên ngăn không cho ác nhân kết thành quả khổ hoặc ít ra cũng làm giảm nhẹ nghiệp quả.Nếu người đó mới qua đời,chúng ta có thể thỉnh các tăng ni hoặc ban hộ niệm tụng kinh,niệm phật,trì chú thì người đã quá vãng có thể chuyển hóa phần nào được nghiệp chướng .Đây là quan niệm rất độc đáo của Phật giáo về nhân sinh . B- ĐẠO PHẬT CÓ THỂ GIÚP GÌ CHO NGƯỜI SẮP LÌA ĐỜI ? Theo Đạo Phật,chết không phải là hết như đã trình bày ở phần trên mà chỉ là cơ hội để giải thoát (theo Tử thư Tây Tạng) hoặc làm lại cuộc đời trong một kiếp khác nên Đạo Phật mới khuyên chúng ta sám hối lỗi lầm và tịnh tu 3 nghiệp .Ba nghiệp là nghiệp của Thân,Khẩu,Ý mà quan trọng nhất là Ý vì từ nghiệp của Ý mới kéo theo nghiệp của Khẩu và nghiệp củaThân.Ngoài ra,nghiệp quá khứ không quan trọng bằng nghiệp hiện tại vì nghiệp quá khứ đã xẩy ra rồi,ta không sửa được mà chỉ có thể sám hối,còn nghiệp hiện tại thì ta có thể chủ động được .Do đó,người sắp lìa đời cần phải đặc biệt lưu ý đến những gì mình nghĩ,nhớ,ao ước,nói và làm .Cận tử nghiệp này sẽ ưu tiên quyết định nơi mà người đó sẽ tái sinh .Theo Tử thư Tây Tạng,việc thần thức rời bỏ thể xác được khởi sự vào lúc người đó rơi vào bóng tối cận tử và có cảm giác như đang bay rất nhanh trong một hang tối với tiếng gió rít bên tai.Khi gió ngưng bặt và bóng tối tan đi thì thần thức,giống như con rắn vừa lột xác,có thể quan sát cái thân mà nó bỏ lại,để ra đi.Thần thức lúc đó bay lượn quanh xác mình,rất tỉnh táo và biết hết mọi chuyện xẩy ra mặc dù không còn ngũ quan nữa .Chính lúc này,thân nhân đừng nên than khóc,nhất là để nước mắt rơi trên xác khiến thần thức càng quyến luyến đau khổ hơn .Thần thức thấy được mọi người,nghe rõ ràng họ nói nhưng thân nhân thì không thấy hoặc nghe họ được. Đây là thời gian rất tốt để trợ niệm và thường nằm trong khoảng 8 giờ đầu kể từ khi người đó tắt thở.Người Tây Tạng thường trợ niệm trong 3 ngày rưỡi hay 4 ngày.Trong điều kiện ở Việt Nam,chúng ta nên làm như người Tây Tạng nhưng còn ở ngoại quốc,xác chết phải để trong phòng lạnh của nhà quàn nên chúng ta cố gắng trợ niệm trong 8 giờ trước rồi 3-4 ngày sau,khi làm lễ phát tang và cầu siêu,chúng ta mời quý Thầy,bà con và bạn bè tới trợ niệm và cử hành tang lễ.Khi an táng xong xuôi,chúng ta liền rước vong linh lên chùa để cầu siêu trong 7 tuần liền,mỗi tuần một lần . Trợ niệm và Cầu Siêu rất khác nhau:-Trợ niệm gồm 2 việc chính;Một là nhắc nhở người sắp chết ,đang chết hay mới chết phải lo niệm Phật cầu sinh Cực Lạc và hai là niệm Phật hiệu để hối họ niệm theo .-Cầu siêu là chúng ta có thể hoặc dùng tên mình hoặc thay vong linh,cúng dường,sám hối,tụng kinh,niệm Phật hay trì chú .Rồi đem phúc đức tạo được hồi hướng cầu cho vong linh vãng sinh Cực Lạc,hóa sinh lên Trời hay tái sinh làm người . VI-KHOA HỌC NGHIÊN CỨU VỀ CẬN TỬ. A-KINH NGHIỆM CẬN TỬ (NDE=NEAR DEATH EXPERIENCE)Từ lâu, điều bí ẩn về sự tồn tại mối liên hệ giữa con người và những thế giới khác đã trở thành một đề tài hấp dẫn giới khoa học.Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi có hay không sự tồn tại ranh giới giữa sự sống và cái chết, hay điều gì sẽ xảy ra với ý thức của con người khi chết đi? Các nhà khoa học đã phát hiện ra những câu chuyện thú vị về các trường hợp bệnh nhân từng trải qua hiện tượng có tên gọi khoa học là “cận tử”.Nghiên cứu về các trường hợp cận tử trong nhiều năm qua, các nhà khoa học tại Trường đại học Southampton (Anh) đã tập hợp được nhiều tài liệu giá trị phục vụ việc nghiên cứu khoa học về trạng thái cận tử. Nghiên cứu hơn 1.500 bệnh nhân bị mắc bệnh tim trong vòng 3 năm, mục đích của các nhà khoa học ngoài việc tìm cách điều trị, còn nhằm tìm hiểu về hiện tượng gì sẽ xảy ra khi trong cơ thể con người không còn hoạt động của tim và não. Công trình nghiên cứu này đã thu hút được sự quan tâm của hàng loạt các trung tâm khác nhau tại Mỹ, bao gồm các trung tâm nghiên cứu thuộc các bệnh viện ở Cambridge, Birmingham và Swansea… Tại nơi điều trị cho các bệnh nhân bị bệnh tim trong các trung tâm này, hàng loạt thiết bị máy ghi hình, máy chụp ảnh tự động được lắp đặt nhằm theo dõi những hiện tượng xảy ra đối với bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật. Những bệnh nhân trải qua hiện tượng cận tử sẽ kể lại với các bác sĩ những sự việc mà họ đã nhìn thấy trong khi ý thức rời khỏi cơ thể họ (khi xảy ra những sự việc này, bệnh nhân hoàn toàn ở trong trạng thái hôn mê).Sau đó, những sự việc này được đem so sánh với những hình ảnh đã được ghi lại bằng các thiết bị ghi hình và máy chụp ảnh tự động.Theo TS. Sam Parnia , người đứng đầu chương trình nghiên cứu về ý thức con người của Mỹ, thì việc bố trí một cuộc theo dõi và so sánh nêu trên sẽ giúp loại bỏ giả thuyết cho rằng cái chết chỉ là một hiện tượng đơn lẻ. Ông cho biết: Chết không phải là một khoảnh khắc đặc biệt, thay vào đó, nó là một quá trình bắt đầu từ khi tim ngừng đập, phổi ngừng hoạt động, hoạt động chức năng não dần bị suy giảm và ý thức rời khỏi cơ thể con người. Quá trình này nhìn từ khía cạnh sinh học, thì tương tự như khi người ta rơi vào trạng thái chết lâm sàng. Nó có thể diễn ra và kết thúc trong vòng một vài giây cho tới một giờ hoặc hơn thế. Tuy nhiên, trong khi diễn ra cái chết, dưới sự can thiệp của các thiết bị y tế, quá trình này bị cản trở, nhịp tim được phục hồi lại bình thường và quá trình diễn ra cái chết kết thúc, bệnh nhân sống lại. Trong số hơn 1.500 bệnh nhân được theo dõi nêu trên, các bác sĩ cho biết có 10-20% số bệnh nhân từng trải qua hiện tượng tim bị ngừng đập và chết lâm sàng vẫn duy trì được nhận thức tỉnh táo. Trong khi chết lâm sàng, họ vẫn nhận biết được chi tiết các sự việc đã diễn ra xung quanh nơi giường bệnh của mình.Heather Sloan – một y tá làm việc tại Southampton (Anh) cho biết: Cô từng bị rơi vào trạng thái cận tử bí ẩn khi bị một cơn sốc do chảy máu nội tạng. Điều cuối cùng mà cô nhớ được là việc cô được đưa vào bệnh viện.Sau đó, cô nhận thấy mình đang đứng cạnh giường của một bệnh nhân.Theo thói quen nghề nghiệp, Sloan bắt đầu tiến hành các thao tác kiểm tra nhiệt độ và huyết áp cho bệnh nhân.Song cô bất ngờ nhận ra rằng bệnh nhân đang nằm trên giường bệnh đó lại chính là cơ thể của mình.Cô Heather cũng kể lại rằng: Khi ấy cô có cảm giác như mình đang từ từ bay lên không trung. Phía trên đầu là hàng trăm người đang đứng đợi cô, họ nói cho cô biết rằng cô đã bị mất đứa con nằm trong bụng mình.Y tá Heather bất chợt nhận ra rằng mình đang bị chết.Tuy nhiên, chỉ vài phút sau đó, Heather đột ngột thoát khỏi tình trạng cận tử.Cô dường như quay trở lại với thể xác của chính mình và tỉnh lại. Khi tỉnh lại, các y tá kể lại cho Heather biết là cô vừa bị mất đứa con chưa kịp chào đời, điều mà trên thực tế, cô đã biết trước trong lúc rơi vào trạng thái cận tử. Nghiên cứu của các nhà khoa học đã giúp y tá Heather Sloan hiểu được cảm giác khi ý thức rời khỏi cơ thể cô là một hiện tượng khoa học. Việc người bệnh thường nhìn thấy mình bị rơi vào một đường hầm tối đen và vầng sáng ở cuối đường hầm hay gặp lại những người thân đã quá cố đôi khi chỉ là một ảo giác. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học thì đây vẫn còn là một vấn đề khó lý giải.Trường hợp của Gary Williams – một bệnh nhân người Anh là một ví dụ khác về hiện tượng cận tử xảy ra trong bệnh viện. Gary kể lại rằng anh phải trải qua một ca phẫu thuật nguy hiểm vì mắc bệnh tim. Các bác sĩ đã bơm vào cơ thể anh một loại thuốc kháng sinh mà Gary vốn bị dị ứng với nó. Mặc dù trong suốt quá trình tiến hành phẫu thuật, bản thân Gary đã được gây mê và không biết gì, song ngay sau khi hiện tượng dị ứng với kháng sinh xảy ra, anh bỗng nhận thấy dường như anh đang lơ lửng và đang từ từ bay lên không trung, thoát khỏi cơ thể đang nằm bất động của mình. Bệnh nhân cũng cho biết, khi đó anh nhìn thấy chị gái mình đang ở bên cạnh giường bệnh và cầu xin các bác sĩ điều gì đó.Ngay sau đó Gary nhìn thấy các bác sĩ tiến hành tiêm cho mình.Anh bỗng nhiên có cảm giác như mình bắt đầu hạ thấp xuống và quay trở lại với cơ thể đang nằm yên bất động trên giường bệnh.Ngay sau khi tỉnh lại, Gary đã kể lại toàn bộ câu chuyện của mình cho các bác sĩ trực tiếp phẫu thuật cho anh, và các bác sĩ khẳng định rằng hiện tượng mà anh gặp phải chính là một dạng cận tử.Trong trường hợp của một bệnh nhân khác sống tại Paris (Pháp), một phụ nữ có tên là Mulholland kể lại rằng bà đã từng chết và cảm nhận thấy cái chết của mình khi tim ngừng đập. Bà thấy mình đang rời khỏi thân thể và từ từ bay lên trần nhà. Trong lúc ấy, mặc dù các bác sĩ khẳng định là cơ thể bệnh nhân đã được gây mê và không hề nhận biết được gì, song khi bà Mulholland kể lại cho họ nghe những gì bà đã nhìn thấy trong phòng phẫu thuật của mình và những gì các bác sĩ đã thao tác trong quá trình tiến hành phẫu thuật cho bà, thì họ vô cùng ngạc nhiên. Bà Mulholland cũng cho biết: Khi đang dần bay lên không trung, bà đã ra sức để với xuống, chỉ vì không muốn xa rời chồng và con gái, nên bà đã cố không để mình rời khỏi cơ thể đang nằm bên dưới. Sau ca phẫu thuật, bà Mulholland đã tỉnh dậy và biết rằng mình đã rơi vào trạng thái cận tử.Tuy nhiên, 3 ngày sau đó, bà không thể vượt qua căn bệnh hiểm nghèo và đã chết thực sự.Trong một số trường hợp khác, tác giả của cuộc gặp gỡ và nói chuyện với nhiều trường hợp bệnh nhân từng trải qua hiện tượng cận tử, y tá Shirley Learthart kể lại rằng: Trong suốt 10 năm phục vụ trong các bệnh viện của Anh, bà đã từng tiếp xúc, nói chuyện và nghe rất nhiều câu chuyện từ những bệnh nhân khác nhau bị rơi vào cận tử. Họ không quen biết nhau, song tất cả những câu chuyện mà họ kể về tình trạng họ từng trải qua thì đều có một nội dung khá tương tự nhau. Trong thời gian trải qua cận tử, họ hầu như đều bị rơi vào một đường hầm tối đen với duy nhất một nguồn ánh sáng chói chang ở phía cuối đường hầm. Họ đang tiến về phía ánh sáng ấy, thì bỗng nhiên, như bị kéo trở lại và sau đó thấy mình tỉnh lại.Qua các trường hợp thực tế đã xảy ra, hiện tượng cận tử ít nhiều đã được chứng minh về sự tồn tại của nó.Đó là sự tồn tại của ranh giới giữa sự sống và cái chết. Và theo như nhận xét của nhiều nhà khoa học, điều này cũng minh chứng cho giả thuyết: Chết không có nghĩa là “chấm dứt” tất cả, con người chỉ chuyển đổi sang một dạng trạng thái khác, một trạng thái hữu thức, song vô hình mà khoa học vẫn đang tiếp tục đi tìm lời giải đáp. B-SỰ THAM GIA CỦA KHOA HỌC VÀO CÕI CHẾT Năm 1928, bác sĩ George Ritchie, giáo sư môn tâm thần học tại Đại học Y khoa Virginia, Hoa-kỳ, cho xuất bản cuốn Return from Tomorrow (Trở về từ ngày mai), trong đó, ông kể lại chi tiết những cảnh tượng mà ông đã trải qua trong một cơn chết đi sống lại hồi còn trai trẻ.Bấy giờ, Thế chiến I (1914-1918) đang diễn ra ác liệt ở Âu châu.Ritchie đang thụ huấn quân sự tại Camps Barkeley thuộc Bang Texas. Do nhu cầu quân đội, ông được cử đi học ngành thuốc tại Đại học Virginia. Chuẩn bị nhập trường thì Ritchie bỗng mắc chứng sưng phổi cấp tính. Bấy giờ, thần dược Penicillin chưa ra đời, cơn bệnh diễn tiến nguy kịch, và đêm nọ, y tá trực đã báo cáo với bác sĩ rằng bệnh binh Ritchie đang lên cơn hấp hối. Bác sĩ khám nghiệm thì thấy con bệnh đã chết, liền ra lệnh cho y tá lập thủ tục khai tử để chuyển xuống nhà xác. Khi người y tá lo xong thủ tục và trở lại phòng Ritchie thì chợt nhận ra có dấu hiệu hồi sinh, vì vị trí bàn tay thay đổi so với khi trước, liền vội vã báo cáo. Việc đưa xuống nhà xác tạm đình chỉ, bệnh binh được tiếp tục cứu chữa và theo dõi. Ba ngày sau, Ritchie mới hồi tỉnh rồi dần dần bình phục.Y sĩ trưởng Camps Barkeley, bác sĩ Donald Francis xác nhận đây quả thật là một trường hợp hy hữu trong đời làm thầy thuốc của ông.Đối với Ritchie, cũng hy hữu không kém. Sự việc chết đi sống lại chỉ diễn ra trong vòng 9 phút ,thời gian người y tá trực đi làm thủ tục, nhưng là 9 phút đầy ý nghĩa vì ông đã trải qua một kinh nghiệm hiếm có trên đời: kinh nghiệm về cái chết. Theo ông kể lại, bấy giờ là vào khoảng nửa đêm, ông thấy mình đang ở trong một căn phòng nhỏ. Sực nhớ là phải đón chuyến xe bus để nhập trường cho đúng ngày, bèn vội vã đi tìm quần áo để cho vào túi xách. Tìm mãi chẳng thấy đâu, Ritchie nghĩ rằng có thể quần áo để dưới gầm giường nên đi đến bên giường để tìm, cũng chẳng thấy gì cả, nhưng lại thấy trên giường có một thanh niên tóc nâu hớt ngắn đang nằm, không để ý là ai. Ông bỏ ra ngoài phòng, gặp một người trung sĩ ở hành lang, bèn lên tiếng nhờ chỉ giúp quần áo để đâu. Anh chàng này dường như không nghe câu hỏi mà cũng không trông thấy Ritchie, cứ lẳng lặng xồng xộc tiến đến, suýt nữa đâm sầm vào người, nếu Rithchie không nhanh chân tránh kịp.Ý nghĩ đến trường thôi thúc, ông cảm thấy cần phải lên đường, thế là tự nhiên đã thấy ở ngoài khu vực căn cứ và đang bay về hướng Richmond. Đến một nơi nọ, thấy bên dưới có một con sông rộng, vắt ngang là một cây cầu cao và dài, bên kia cầu là một thành phố lạ. Không biết đây là đâu, Ritchie nghĩ nên dừng chân để hỏi thăm đường.Vừa móng lên ý nghĩ đó thì đã thấy mình ở dưới mặt đất, chỗ có hai con đường chạy song song. Thấy có ánh sáng lấp lánh phát ra từ bảng hiệu của một ngôi nhà lợp ngói đỏ, Ritchie tiến về phía đó. Tới gần, mới biết đó là bảng quảng cáo bia Pabst Blue Ribbon treo ở cửa sổ, còn bảng hiệu thì đề hai chữ Cafe. Thấy có người đang trên đường tiến vào quán, Ritchie tiến đến và lịch sự hỏi "Xin cho biết đây là thành phố nào?".Nhưng, thật là ngạc nhiên, anh ta dường như chẳng nghe mà cũng chẳng thấy Ritchie, cứ lầm lũi mà đi. Tưởng anh ta điếc, ông tiến đến bên cạnh, lấy tay vỗ vào vai và lập lại câu hỏi. Lần này lại càng ngạc nhiên hơn, vì tay như đập vào khoảng không, và hai người gần nhau cho tới nổi ông thấy được cả sợi râu chưa cạo trên má, vậy mà anh ta vẫn tỏ ra không hay biết gì cả!Ritchie bỏ đi hỏi đường ở một người khác, nhưng lần này cuộc đối thoại câm điếc cũng lại tái diễn. Một cảm giác cô đơn chợt đến với Ritchie. Thấy rằng việc đi Richmond có vẻ vô ích quá, vì dường như chẳng có ai biết sự hiện diện của ông cả, nên quyết định hãy trở về chốn cũ, nơi có nhiều người quen. Ông nghĩ rằng mình đã chết và muốn hồi sinh, nhưng giữa đêm tối mịt mùng như thế này, làm sao tìm ra cái xác của mình giữa 5,000 tân binh lúc nhúc trong các phòng? Sực nhớ bàn tay trái có đeo chiếc nhẫn Phi Gamma Delta, Ritchie cứ theo đó mà tìm và quả thật đã nhận ra được. Ông cố gắng lật tấm vải che để nhập xác hồi sinh nhưng không thể nào làm được, bèn ngồi thừ bên giường với tâm trạng buồn bã. Lúc đó, tự nhiên trong phòng sáng rực lên một cách lạ kỳ, như "có cả triệu ngọn đèn hàn cùng bật lên một lúc", dù Ritchie biết chắc rằng trong phòng chỉ có mỗi một ngọn đèn 15 watts. Và rồi có người vào phòng, một người có vẻ lạ lùng, khác thường, như bằng ánh sáng. Ông không thấy rõ mặt, và người đó hẳn là chưa bao giờ quen biết, nhưng tự nhiên ông cảm thấy từ nơi người-ánh-sáng ấy toát ra một năng lực diệu kỳ, đem lại cho ông một cảm giác an lạc, thư thái, như được che chở trong tình thương yêu, đùm bọc. Bằng cách nào đó, người ấy đã cho Ritchie thấy lại toàn bộ cuộc đời đã qua, và hỏi "Con đã làm những gì trong cuộc đời của con?". Rồi người đó dẫn Ritchie đi xem những cảnh giới lạ lùng, gây cho ông một ấn tượng sâu xa, nên khi kể lại, ông đã gọi đó là "một chuyến du lịch học hỏi" (an education tour).. Chẳng hạn, ở một nơi nọ, ông thấy những người đam mê sắc dục đang đau khổ vì thèm muốn nhưng bất lực; những người nghiện rượu không thể nào đưa tay lấy được ly rượu đang để ở trước mặt, đành thèm thuồng đứng nhìn kẻ khác uống rượu ngon lành. Rồi lại thấy cảnh những người tự tử vì tuyệt vọng, nhưng chết rồi mà tuyệt vọng vẫn còn nguyên.
  11. Lời ngỏ Vừa qua ở topic Thần Chú Giải Thoát có 1 số tranh luận nhưng dần đi quá xa và mất định hướng ban đầu dù hết sức tôn trọng tinh thần trao đổi giáo lý của Quí Vị, Wild vẫn cảm nhận được 1 số bài viết mang tính công kích! Hạnh nguyện chuyển tải Thần chú Giải Thoát của Wild hoàn toàn phi lợi nhuận thế mà Giang2 vẫn có lời lẽ bất lợi Ví "Nếu sơ ý nghe theo những lời nói thiếu thận trọng". Người tự cho là hàng thượng căn thì chắc rằng trí huệ đã khai mở. Trí huệ đã khai mở thì phải nhìn thấy rằng căn cơ của chúng sanh trong thời này hạ liệt lắm! Người chân chánh tu hành phải biết "Tùy hỷ công đức", học tính tán thán người phát tâm làm đạo mới tốt, đừng nên nói những lời sơ suất, kém đức hòa kính, vừa tổn hại âm đức của mình vừa gây xáo trộn không ít cho công cuộc cứu người hữu duyên. Nhưng trên tinh thần tự do tín ngưỡng, Wild xin ý kiến Quản Trị Diễn Đàn mang tất cả bài viết đó sang đây nhằm tạo điều kiện cho Quí Vị và không ảnh hưởng nhiều mặt đến các thành viên có tín tâm. Dù sao Topic TCGT vẫn mang lại lợi lạc và chỗ dựa cho chúng sinh hữu tình thì việc phát triển vẫn được ủng hộ và cần được tôn trọng nhất định! Nam Mô sám hối Hội Thượng Phật Bồ Tát!
  12. Ngôi miếu lạ thờ 12 tên cướp ở Lạng Sơn Miếu Xa Vùn được cho là ngôi miếu duy nhất thờ những tên cướp. Quanh miếu có tới 18 cây nghiến cổ thụ có giá trị nhưng không ai dám chặt phá. Mỗi khi đặt chân đến thôn Khưa Cả (xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn), nhiều người khách lại kéo đến thắp hương tại miếu Xa Vùn. Tương truyền, khi những tên cướp chết, người dân nơi đây đã chứng kiến nhiều việc lạ liên tiếp xảy ra. Cho là bị hồn ma của chúng quấy nhiễu, người dân đã tiến hành xây miếu Xa Vùn để thờ tự. Và họ cũng cảnh báo du khách thập phương khi vào miếu thì không được chụp ảnh, nếu không sẽ gặp phải tai họa. Ông Hoàng Văn Dần, thổ nhang miếu Xa Vùn tâm sự: “Miếu Xa Vùn dịch ra tiếng dân tộc chúng tôi (dân tộc Tày) có nghĩa là Núi Củi. Tất cả bô lão trong làng đều nhớ như in sự ra đời của nó”. Theo cụ Hoàng Thế Cường (82 tuổi), tương truyền xưa kia, một ngày nọ bỗng có 12 tên cướp từ đâu kéo đến cướp bóc tài sản và đánh đập dân lành. Không chịu được cảnh lũ cướp hại dân, người dân nơi đây đã bí mật tập hợp nhau, bày mưu đuổi chúng đi. 18 gốc cây nghiến đại thụ to đến nỗi bốn, năm người ôm không xuể, rợp bóng mát che chở cho miếu Xa Vùn Tuy nhiên, những tên cướp hung hãn biết chuyện liền dùng đao, kiếm định giết dân. Đến nước cuối cùng, người dân thôn Khưa Cả đành ra tay giết chúng để trừ họa. Sau khi hạ được lũ cướp táo tợn, họ bỏ xác chúng vào bao rồi ném xuống suối trả về nơi mà chúng đến. Tuy nhiên, khi 12 cái xác này trôi đến ngã ba Phai Lý (xã Trấn Yên) thì bị mắc lại ở những chông đá lởm chởm. Thấy vậy, người dân nơi đây liền chôn bọn cướp ngay chỗ đó. Cứ tưởng từ đây cuộc sống người dân sẽ được yên ổn trở lại. Tuy nhiên, trong những ngày sau đó, vật nuôi trong làng liên tục bị chết không rõ nguyên nhân, mùa màng thất bát. Hơn nữa, tại ngôi mộ chôn lũ cướp bỗng nhiên xuất hiện một tổ ong lớn. Nhiều lần, hàng nghìn con ong trong chiếc tổ “khủng” này bỗng nhiên bay ra đốt chết người đi đường. Theo ông Cường, trong thôn có rất nhiều tổ ong nhưng chưa bao giờ người ta thấy con vật nhỏ bé này lại hung hãn đến như vậy. Nghĩ là có điềm xấu nên dân làng Khưa Cả lập nên một cái miếu thờ 12 tên cướp. Có lẽ, họ lập miếu cũng chỉ để người dân an tâm hơn. Sau khi ngôi miếu được hoàn thành bỗng dưng đúng chỗ đó mọc lên 19 cây nghiến mà theo các cụ cao niên thì độ tuổi tối thiểu của những cây này cũng phải tầm 5 thế kỷ. Ông Hoàng Văn Dần cho biết, thực ra người dân truyền tai nhau về việc nếu ai đi qua đây mà tỏ thái độ không tôn trọng thì sẽ gặp điều không may mắn. Cuối năm 2011, có một người đàn ông tên Thuận đến miếu bắt rắn. Hôm ấy chẳng biết vận mệnh run rủi thế nào anh lại bắt được một con rắn nặng đến 2,5 kg. Vui như bắt được vàng, người đàn ông này mang ra chợ huyện bán. Tuy nhiên, một thời gian sau, anh Thuận bỗng nhiên có dấu hiệu thần kinh không bình thường. Người dân liền nghĩ ngay đến việc anh bị miếu thiêng “hành”. Sau này, khi vỡ lẽ ra là anh đã phạm miếu thiêng, người nhà anh Thuận đã làm lễ đến cúng bái. Sau đó vài ngày, bỗng nhiên bệnh có dấu hiệu thuyên giảm. Theo cụ Hoàng Thế Cường, trước đây rừng nghiến bên miếu Xa Vùn có 19 cây. Nhưng năm 2003, trong một trận đại cuồng phong, một cây nghiến cổ thụ bỗng nhiên bị bật gốc. Tuy nhiên, không ai dám đến chặt gỗ. Họ cứ để thế cho đến cây gỗ này chết khô. Đến năm 2005, ông Hoàng Văn Lùng tiếc của liền về nhà sắm một mâm lễ gồm lợn quay, gà luộc... lên miếu Xa Vùn để cúng xin gỗ. Làm lễ xong, người đàn ông này vác cưa máy đi đốn cây gỗ nghiến. Thế nhưng thật kỳ lạ, cả hai lần đang cưa dở thì lưỡi cưa đều gãy làm đôi. Biết chuyện, nhiều người đã khuyên ông không nên tiếp tục đốn gỗ vì gãy cưa là một điềm báo không tốt. Gạt phắt những lời khuyên can, ông cố chiếm bằng được số gỗ nghiến này. Sau khi chặt thành khúc, ông Lùng mang gỗ đi bán. Những chỉ đúng hai ngày sau, người này có biểu hiện lạ. Hằng ngày ông thường nói chuyện lảm nhảm một mình. Thậm chí, có lúc ông còn vác dao đuổi chém người khiến ai nấy đều hoảng loạn. Đến năm 2009, ông Lùng chết vì trong lúc lên cơn điên ông đã tự dùng dao đâm chính mình. Một gốc nghiến cổ thụ nằm bên miếu Xa Vùn Một câu chuyện kỳ bí nữa về ngôi miếu này xảy ra vào ngày 15 tháng giêng năm ngoái, khi xã đang tổ chức lễ hội hóa trang ở cánh đồng dưới chân rừng nghiến thì có một người thanh niên nhờ ông Dần dẫn lên đỉnh đồi chụp ảnh toàn cảnh lễ hội. Sau đó, người này đã trèo lên một trong số 18 cây nghiến cổ thụ đó để chụp ảnh. Nhưng khi người thanh niên cùng ông xem lại ảnh thì thấy trong ảnh toàn những hình thù kỳ quái, mờ ảo. Mặc dù đó chỉ là những trường hợp ngẫu nhiên, nhưng vì nó xảy ra đều ở miếu Xa Vùn nên nhiều người mê tín đã dựa vào đó và thổi lên những câu chuyện hoang đường, thiếu cơ sở khoa học. Đến Khưa Cả, nhiều người bị cuốn hút bởi lễ hội hóa trang của người dân tộc Tày. Để nhớ về những ngày tháng bị 12 tên cướp cướp phá và xua đuổi ma quái, người dân nơi đây đã tổ chức lễ hội hóa trang. Hóa trang ở đây được hiểu là họ dùng nhọ nồi bôi lên mặt, biến khuôn mặt người thành quỷ dữ. Ông Hoàng Văn Chẩn, Chủ tịch UBND xã Trấn Yên, cho biết: "Lễ hội trên ra đời từ tích 12 tên cướp chết tại mảnh đất này. Theo các cụ cao niên kể lại, người dân tin rằng khi chúng chết đi thì linh hồn đã biến thành ma quái. Chính vì thế, để đối phó lại, họ đã tổ chức lễ cúng mang tên Ná Nhèm. Trong lễ hội, các thanh niên trai tráng được thỏa sức bôi nhọ nồi lên mặt làm sao cho càng kỳ quái càng tốt. Người dân Khưa Cả tin rằng, việc họ hóa trang như vậy hồn ma của những tên cướp sẽ không dám quay lại làm hại họ nữa. Đây chỉ là một tục lệ dân gian của người dân chứ không liên quan đến mê tín dị đoan". Cũng theo ông Chẩn, đã có nhiều nhà nghiên cứu văn hóa về vùng này để tìm hiểu phong tục lạ. Họ chủ yếu đi sâu vào đào xới về tính biểu tượng, ý nghĩa của lễ hội chứ không ai công nhận hay chứng minh được có ma tà quỷ quái ở đây. Những câu chuyện về người dân bị điên khi mạo phạm miếu đều chỉ là tin đồn hoặc sự trùng hợp. Trường hợp của ông Lùng kể trên là do người này uống quá nhiều rượu nên không kiểm soát được hành vi. Hay câu chuyện của anh Thuần bắt rắn bị thần kinh. Sau khi người dân tìm hiểu mới biết, con rắn mà anh ta bắt được chỉ bằng đầu ngón tay cái chứ không phải 2,5 kg như tin đồn. Hơn nữa, anh này không có biểu hiện tâm lý thần kinh như mọi người đồn thổi. Theo ông Cường, sở dĩ người dân lưu truyền những câu chuyện kiểu này là để bảo vệ di tích miếu Xa Vùn và 18 cây nghiến cổ thụ. Hiện tại, gỗ nghiến rất quý, luôn là món mồi béo bở mà bọn lâm tặc nhòm ngó. Tuy nhiên, khi những lời đồn này chưa được giải mã thì bọn chúng vẫn chưa dám động đến những cây gỗ quý ở miếu thiêng. Điều mà người dân trong xã mong muốn là thế hệ con cháu phải học được tính bảo vệ những gì lịch sử và cha ông để lại. Theo Nông Thôn Ngày Nay
  13. Chào Bạn! Rất cân nhắc khi cmt topic này bởi xem đọc những dòng chia sẽ thân tình của Nha Khanh tôi tự thấy mình cần có đôi điều cùng bạn! Có lẽ bạn vừa đi qua biến cố mất mát đau buồn nên dễ bị tổn thương vì những xúc chạm, "sống trong đời sống cần có 1 tấm lòng" Nhạc Sĩ tài hoa T.C.S đã hiến dâng ca từ này cho mọi người cho tất cả trong đó có tôi có bạn và cho những ai còn đang còn phải thở phải yêu thương phải phiền muộn, có thể đâu đó con ng ta còn vụng về với nhau còn chưa tận lực với nhau nhưng khi ngoãnh lại vẫn có người tử tế vẫn còn nhiều trái tim nồng ấm với tha nhân giữa cuộc đời còn bộn bề lo toan này, Người xưa có câu " nơi này hất hủi nơi khác nâng niu" còn đó chân lý học thuyết của Đức Phật chúng ta gặp nhau cần hội đủ 1 chữ Duyên, Còn Duyên như thế nào lại tùy thuộc vào nhân của ta và quả của ta tạo tác ! Và chúng ta cũng cần thông suốt quán Tha Thứ , Xin Tha thứ cho lỗi của mình với người cũng nên tha thứ cho lỗi của người với mình tiếp nữa cho lỗi của mình sai với mình và cho những lỗi vô tình của cuộc đời. May ra đời thanh thản! Chuyện ở lại hay ra đi vẫn là quyền của bạn nhưng nếu có cá nhân gây cho bạn chút hờn dỗi trong giai đoạn bạn mong manh thì cũng có những nhân tố đã từng ở cạnh bạn như Nha Khanh trong Topic này và Topic Thần Chú chúng tôi đã bên cạnh, và cũng đừng chấp ngã khi những góp ý mà bạn cho rẳng "châm biếm" ấy! như đúc kết ngàn xưa "những nơi cay đắng là nơi thật thà ! Chỉ cần thay đổi 1 cách nhìn 1 cách nghĩ để thấy cuộc sống không quá nhiều sứt sẹo ! Chúc bạn thân tâm thường lạc!
  14. Chào Bạn! Xem bài của bạn, tôi cảm nhận được gia đình hay ngôi gia của bạn nhiều phước báu! ngay chính trong căn nhà của mình chưa đủ Duyên để cung thỉnh 1 Bồ Tát về ngự nay lại được nhà đốí diện phụng thờ và ngày ngày mọi người được nhìn thấy Bồ tát há chẳng phải là điều tốt lành và căn đức thâm sâu ư? Nếu muốn hóa giải đồng nghĩa với việc bạn từ chối Ngài Quan Âm Bồ tát độ trì cho chính gia đình mình ư? Ở những nơi xa không có Phật hay nơi nào điều kiện khó khăn không có chùa gần nhà có phải ta cất công tìm chùa lễ Phật? Nay Duyên lành tạo sẵn bạn lại có ý tưởng như câu hỏi trên thì quả thật vạn lần ĐÁNG TIẾC! Thế gian vẫn còn có những người NGHE mà không suy xét ! Như nghe ngày tận thế vào 12 tháng 12 năm 2012 mà đôi khi họ quên cả căn lý ban đầu "ai phát ngôn? cơ sở nào để tin?" Hơn hai ngàn năm nay có ai chứng minh Đức Phật hay Bồ Tát đem đến bất hạnh và sự xấu xa đến cho chúng sinh muôn loài? Hay các Ngài luôn có những hạnh nguyện to lớn nhằm cứu vớt chúng sinh? Tôi trả lời bài viết của bạn với tâm trạng tiếc nuối bởi tôi cũng thuộc hạng Ngu Cơ chưa đủ trình đủ lực để chuyển hóa 1 suy nghĩ của 1 tư tưởng "Đức Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn" lại không tốt lắm! Hàng vạn Phật Tử trên thế giới này vẫn thường niệm Hồng Danh Ngài khi có biến cố khổ đau mà bạn lại khước từ! Vài hàng chia sẽ hy vọng bạn và gia đình bạn sớm nhận được sống được trong ánh quang pháp lành !
  15. Phan Thị Bích Hằng: Mỗi tối, tôi trò chuyện với 4-5 vong hồn Phan Thị Bích Hằng cười chua chát: Tôi sợ thông tin kiểu đồn đại lắm rồi. Chỉ vì những lời đồn kiểu này mà cuộc sống gia đình bị xáo trộn, có thời gian tôi chìm trong stress. “Nhưng sau bao biến cố, cũng đến lúc tôi muốn trải lòng với mọi người. Để mọi người hiểu tâm tình của một con người bình thường nhưng lại “trót” mang nghiệp “siêu nhân” trong một thế giới khác”. Cuối cùng, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đã đồng ý để chúng tôi ghi lại thời khắc chị tưởng như gục ngã trước những lời đồn ác tâm. Và cũng chính nhờ những “linh hồn”- những “người” mà Bích Hằng vẫn trò chuyện hằng đêm đã giúp chị cân bằng cuộc sống vốn đầy rẫy thị phi ! Mỗi tối, tôi trò chuyện với 4- 5 linh hồn Thời gian gần đây, khi nhắc đến chị, mọi người thường nhớ đến hình ảnh một doanh nhân bất động sản, chứ không phải là một nhà ngoại cảm tìm mộ như trước đây? - Mọi người nhìn nhận như vậy bởi lẽ họ thấy tôi đang làm việc cho một Công ty kinh doanh bất động sản. Nhưng trên thực tế, công việc mà tôi đang đảm nhiệm tại đây là mảng từ thiện xã hội. Đây cũng chính là công ty trước đây thường tài trợ giúp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và tôi thực hiện các chương trình hoằng dương Phật pháp, cầu siêu và tìm mộ liệt sĩ. Năm 2009, công ty muốn mở rộng phương án công tác xã hội nên mời tôi về phụ trách mảng này. Ngoài thời gian ở trường đại học, chị còn làm thêm việc công ty, lại còn chăm sóc gia đình nữa. Như vậy chắc hẳn hết thời gian cho việc đọc hồ sơ, “trò chuyện với các linh hồn” để tìm mộ như chị vẫn làm? - Tôi làm việc tại Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (tên cũ là trường ĐH Quản trị Kinh doanh Hà Nội) từ năm 1999 đến nay. Để tạo điều kiện cho tôi làm công tác xã hội, từ thiện, tìm liệt sĩ, nhà trường giao cho tôi công việc bán thời gian. Trường chính là gia đình thứ hai, là cái nôi tinh thần của tôi. Ngoài ra, tôi còn là cán bộ bộ môn cận tâm lý, cộng tác viên nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Những công việc này tôi đều hoàn thành. Còn ở công ty, chỉ khi nào có việc liên quan đến các chương trình từ thiện, hỗ trợ tìm mộ hay các Đại lễ cầu siêu thì tôi mới dành nhiều thời gian thôi. Việc tìm mộ tôi vẫn làm như một thói quen. Cứ vào lúc 11h đêm mỗi ngày, khi xong hết mọi việc nhà, 2 con đi ngủ tôi lại ngồi với các hồ sơ được gửi đến. Trước khi “trò chuyện” với mọi người, tôi thường đọc cho họ nghe một vài đoạn Kinh địa tạng hay những đoạn Kinh trong Lễ Vu Lan báo hiếu. Để làm gì ư? Để giúp những linh hồn này siêu thoát, nhẹ nhàng hơn trong một thế giới khác. Sau đó tôi lần lượt giở những hồ sơ lưu giữ ra làm việc. Có hồ sơ ở trong phòng làm việc này đã hơn 10 năm, có những hồ sơ vừa được gửi đến. Mỗi tối tôi cố gắng “giải quyết” (tức là nói chuyện với các linh hồn- PV) khoảng 5 người. Khi nói chuyện, tôi phải tỉ mỉ ghi chép hết những thông tin họ kể như về địa danh, phương hướng, đặc điểm nhận dạng mộ, đường đi, lối lại… Để thông tin lại cho các gia đình đi tìm kiếm. Vậy ra không như thiên hạ đồn thổi: Chị hoàn toàn “giải nghệ” trong lĩnh vực tìm mộ? - Tôi chưa bao giờ có suy nghĩ “giải nghệ” như người ta nói. Tôi tâm niệm, khả năng “nói chuyện được với các linh hồn” của mình như là một trọng trách mà tôi đã được giao phó. Bao gia đình cả người sống và người đã mất đang cần tôi. Vậy tại sao tôi lại “giải nghệ” cơ chứ? Đúng là có thời điểm, do quá chán nản, mệt mỏi trước những lời đồn độc địa, tôi tạm dừng các buổi “nói chuyện” với người của thế giới bên kia. Nhưng chỉ được 10 ngày, sau đó đầu tôi đau khủng khiếp. Uống thuốc giảm đau cũng không tác dụng. Thật sự lúc đó tôi còn thấy “rất nhớ” các liệt sĩ và người âm nữa, tôi chọn giải pháp: Quay trở lại nghiên cứu hồ sơ được gửi đến. Kỳ lạ, chứng đau đầu tự dưng thuyên giảm. Cũng có thể chỉ là sự trùng hợp, nhưng nó cho thấy: Số phận tôi dường như đã gắn bó với công việc này. Một trọng trách kỳ lạ mà không phải ai cũng có khả năng gánh vác. Công việc này gắn bó với cuộc đời tôi, tuy nhiều khi rất cực khổ nhưng tôi cảm thấy hạnh phúc vì giúp đỡ được nhiều người, nhiều gia đình, góp phần làm dịu bớt nỗi đau chiến tranh, nỗi đau mất người thân! Từng bị dư luận dồn đến chân tường Tôi sắp hoàn thành cuốn sách về “thế giới bên kia”Chuyện âm- dương hay chuyện có hay không một cuộc sống khác là đề tài sẽ được bàn trong cuốn sách tôi sắp hoàn thành. Khi đó, người đọc sẽ tự có câu trả lời! Tôi cũng đang tiến hành viết cuốn “Cảm nhận về cõi âm sau 20 năm tiếp cận”. Cuốn sách là câu chuyện về những lần tôi đi thực tế tìm mộ. Tôi thấy cần phải ghi lại, nếu không sẽ quên. Tôi còn ấp ủ ra mắt cuốn sách “Hành trình 21 năm tìm mộ”. Hy vọng đến khoảng tháng 2/2012 sẽ hoàn thành. Đây cũng là năm đánh dấu tôi bước sang tuổi 40 Theo báo chí đưa tin, hồi tháng 10/2010 chị đã tuyên bố dừng nhận hồ sơ tìm mộ. Nhiều người cho rằng, động tác này chính là cách chị thông báo “giải nghệ” khi có quá nhiều lời“tiên tri”bất thành? - Đúng là tôi đã tuyên bố dừng nhận hồ sơ, nhưng lý do không phải như mọi người nói. Tôi chỉ đi tìm mộ chứ không phải nhà tiên tri nên không bao giờ tiên tri. Trước đó, có một loạt tin đồn: Bích Hằng tiên đoán cầu Bãi Cháy, cầu Long Biên, cầu Thăng Long sẽ sập khiến tôi vô cùng bàng hoàng. Nhưng tôi cũng không lên tiếng đính chính hay nói lại đôi co với các báo về những thông tin mà bản thân tôi không hề phát ngôn. Tôi đã im lặng và thoát khỏi những ngày tháng mệt mỏi bằng cách lên đường cùng Công ty, Bộ đội Biên phòng 2 tỉnh Quảng Bình - Hà Tĩnh, Trường Đại họcY Hà Nội, Đài truyền hình Việt Nam, đi làm từ thiện ở miền trung. Cùng Tổ đình Chùa Vĩnh Nghiêm và các bạn bè Phật tử làm lễ cầu siêu cho các chiến sĩ trận vong và đồng bào tử nạn. Đến khi thấy tin đồn thất thiệt ngày một lan xa, gây hoang mang trong nhân dân nên tôi đã đồng ý trả lời phỏng vấn một số cơ quan chức năng và thông tấn, báo chí: Phủ nhận, phản bác tin đồn để giữ an ninh tư tưởng trong nhân dân và xã hội. Lần đầu tiên, sau vô số sự cố, tôi đã trả lời trên báo Thanh Niên, chương trình truyền hình “Vì an ninh Tổ quốc VTV1”, Truyền hình thông tấn xã Việt Nam... Cũng thời điểm đó, tại nhà tôi còn tồn đọng hơn 7.000 bộ hồ sơ. Việc tồn đọng hồ sơ cũng là một lý do lớn để tôi nghĩ đến việc mình phải tạm dừng để giải quyết cho xong. Và trong một lần phỏng vấn của VTC New tôi tuyên bố dừng nhận hồ sơ. Cũng có nhiều ý kiến nhìn nhận rằng, bản thân chị ngày càng mất đi khả năng “nói chuyện với người cõi âm” nên chị đành phải tuyên bố dừng nhận hồ sơ? - (Cười) Thế à? Nếu hết khả năng để được sống như một người bình thường chẳng phải là đỡ mệt mỏi lắm sao? Nhưng tiếc là khả năng này của tôi không hề bị suy giảm mà có phần được tăng cường hơn bởi kinh nghiệm 21 năm qua. Có những việc mà chỉ những người có khả năng như tôi hay những nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề tâm linh mới thấu hiểu. Tin vào “nhân duyên” âm- dương Những năm 90 người ta thường thấy khu nhà chị ở Kim Liên những ngày cuối tuần thường chật nêm người xếp hàng để được vào nhà chị gửi hồ sơ. Nhưng giờ có vẻ mọi người không còn tín nhiệm hoặc giả chị “mất thiêng” nên không thấy cảnh này ở nhà chị nữa? - Đó là cảnh thường ngày diễn ra ở nhà tôi suốt thời gian từ năm 1996 đến năm 2010. Ngày nào cũng có khách đến nhờ, khách gửi hồ sơ. Đông đến mức, tôi đi làm về nhiều khi không vào nhà được bà con ngồi chật dưới cầu thang, trong nhà, ngoài ngõ. Ngày đó, tôi tiếp nhận có khi hàng trăm hồ sơ một ngày nhưng chỉ giải quyết được 20-30 bộ hồ sơ/ 1 ngày. Có khi chẳng kịp ăn tối. Trước đó, từ năm 1994, tôi công tác tại Binh đoàn 11 và được ở nội trú trong Binh đoàn. Người ta biết tôi, nên tìm đến nhờ tìm mộ đông lắm. Lúc đầu, Binh đoàn còn cho tiếp khách, nhưng sau này thấy đông quá họ đề nghị đóng cửa. Thấy phiền quá, tôi chuyển ra ngoài ở và từ ngày chuyển ra khu Kim Liên, họ lại đi theo và tiếp tục xếp hàng đông trước nhà. Đến năm 1997 tôi lấy chồng, cuộc sống gia đình cũng bị xáo trộn bởi những buổi tiếp nhận hồ sơ như thế. Có khi vừa bầy mâm cơm ra, là lại có khách. Thời gian này, rất ít khi tôi được ăn cùng gia đình. Tiếp khách lúc nào cũng hơn 10 giờ đêm, thậm chí 12 giờ đêm mới xong việc. Cả ngày tôi làm ở cơ quan, trở về nhà lại chẳng được nghỉ ngơi nên rất mệt mỏi. Tháng 3/2010 sau chuyến đi Nghệ An và Đắk Lắk tìm mộ về tôi ốm nặng phải nằm điều trị nhiều ngày ở BV Bạch Mai, khi đó chồng tôi quyết định phải chuyển nhà, giấu địa chỉ với mọi người. Cảnh xếp hàng trước nhà không còn nữa. Nhưng rồi hồ sơ vẫn được chuyển đến, họ không xếp hàng nữa mà nhờ người thân, quen của tôi chuyển hộ. Tức là có trốn, ẩn danh họ cũng vẫn biết cách để gửi hồ sơ. Thời gian gần đây, người ta nói chị chỉ lựa chọn hồ sơ khách VIP, những người có chức có quyền để tìm mộ giúp. Còn với những người dân bình thường, chị dồn hồ sơ để lại hoặc là không tiếp nhận nữa. Chính điều này đã khiến khả năng của chị bị suy giảm? - Đó là một trong những lời cay độc nhưng không đúng sự thật khiến tôi rất bất bình. Trong chuyện này, nhiều khi muốn tìm giúp người này hay người khác sớm nhưng “người âm” không hiện lên cho tôi nói gặp thì làm sao mà tìm được? Có người tôi xin tới mấy chục lần mà vẫn không “gặp” được. Sau khi nghiên cứu kinh Phật tôi mới hiểu điều này rõ ràng phụ thuộc vào “nhân duyên” âm- dương. Hồ sơ mà tôi giải quyết nhiều nhất trong suốt thời gian qua lại chính là do gia đình người dân ở các tỉnh gửi về. Hồi tôi còn ở Binh đoàn 11 hay khu Kim Liên- Hà Nội nhiều người biết tin tôi tìm được mộ, ngày nào cũng có bà, có chị xếp hàng để được vào nhà tôi gửi hồ sơ. Họ thường là người các tỉnh lên, đi lại rất vất vả nhưng vẫn quyết tâm, khao khát tìm cho được mộ người thân nên tôi thường dành nhiều thời gian cho những người này. Còn khách VIP như bạn nói tôi thấy họ có phương tiện đi lại dễ dàng, thuận tiện, lại là những người hiểu và thông cảm với công việc của tôi, rất nhẫn nại chờ đợi nên tôi thường để lại hồ sơ làm sau thành thử có những quan chức, đại gia, kể cả bạn bè thân nhờ đến 5 - 7 năm rồi mà tôi đã giúp được đâu! Thú thật nhiều khi tôi rất áy náy và thấy mình có lỗi với những người này. Các “linh hồn” giúp tìm chìa khóa két Chị nói giờ mỗi ngày chỉ “nói chuyện” được 3-5 linh hồn, thay vì trước đây, khi còn nhiều năng lực thì con số này là hơn 20 bộ hồ sơ? - Vấn đề này không phụ thuộc vào năng lực nhiều hay ít mà phụ thuộc nhiều vào sức khỏe và thời gian. Trước đây, công việc chưa bận rộn nên tôi dành nhiều thời gian hơn cho việc xem hồ sơ. Hồi mới đi làm ở Binh đoàn 11, tôi làm thủ quỹ và đã từng phát nhầm tiền, phải bù tiền vì bị phân tán bởi những lần “nói chuyện” với các linh hồn trong giờ làm việc. “Họ” thường đến lúc tôi đang làm việc, nói rằng nhờ thông báo về địa chỉ này, người kia rằng mộ họ nằm ở chỗ này, chỗ khác. Thế là tôi lại ghi ghi-chép chép. Có lần, tôi làm mất chìa khóa két. Đến mức thủ trưởng cơ quan phải gọi Công an vào lập biên bản để phá khóa két và đề nghị cho tôi thôi việc vì sự thiếu thận trọng. Nhưng ngay lúc đấy, tôi than thở với các liệt sĩ và rồi chẳng hiểu sao tôi lại tìm được chìa khóa két để trong… tủ lạnh! Vì vậy sau đó để tránh những phiền phức trong công việc, tôi đã “xin” các linh hồn không xuất hiện lúc tôi làm việc. Và tôi đã dành thời gian buổi tối để gặp họ. Bây giờ với tình hình sức khỏe và công việc trong thời gian ngắn ngủi từ 11 giờ đêm đến khoảng 2 giờ sáng hàng ngày, tôi cũng chỉ có thể giải quyết được khoảng 3-5 bộ hồ sơ mà thôi. Như hiện nay, tôi vẫn để ở bàn làm việc của công ty hai hộp hồ sơ. Khi nào tôi rảnh, hay khi bỗng dưng “thấy” họ, tôi lại tranh thủ ghi chép những thông tin về địa chỉ mộ rồi thông báo cho gia đình. Giờ chị sống ở nhà đẹp hơn, có lái xe riêng thay vì trước kia sống ở chung cư cũ, đi xe máy. Tức là, chính năng lực khác người này của chị đã giúp cuộc sống chị có đầy đủ tiện nghi hơn? - Nếu nói như thế thì thật ác ý với tôi và phụ công chồng tôi quá! Cuộc sống gia đình tôi cho đến giờ hoàn toàn do chồng tôi lo là chính. Xe và lái xe là của công ty. Còn với việc tìm mộ, mọi người cũng đến cảm ơn khi bằng phong bì, khi thì những sản phẩm quê hương như mớ rau, con gà quê… có Tết cả mấy nhà bạn tôi và nhà tôi ăn gà không hết. Những chiếc phong bì đó tôi xung vào quỹ từ thiện Tâm vàng, tập trung hết trong ngăn kéo bàn làm việc. Khi có việc cần đến tiền đi làm từ thiện, tôi gọi mấy người bạn trong nhóm từ thiện mở ra và nói: “Xin cho cháu/em được sử dụng số tiền trong này để đi làm chương trình từ thiện …”, rồi tôi mới bóc phong bì. Nhiều năm đi tìm mộ tôi thấy nhiều gia đình liệt sĩ hoàn cảnh éo le, nhiều nạn nhân chất độc da cam, thương bệnh binh ... nghèo khổ mà tôi không đủ tiền giúp đỡ nên từ năm 2002 tôi cùng một số bạn bè và chủ yếu là thân nhân các gia đình Liệt sĩ đã lập “Quỹ từ thiện Tâm vàng” để làm từ thiện. Chồng tôi từng ước vợ mất khả năng ngọai cảm Mọi chuyện dường như cũng đã lắng xuống. Chị đã dần lấy lại thăng bằng sau bao sự cố. Liệu chị có cần phải công bố chính thức việc ‘tái xuất giang hồ” với khả năng hiếm có để tiếp tục giúp mọi người? - Tôi chưa bao giờ tuyên bố “giải nghệ” nên cũng chẳng cần phải tuyên bố chính thức quay trở lại với việc tìm mộ. Bởi thời gian qua, tôi vẫn âm thầm nhận hồ sơ và ngày nào cũng xử lý 3-5 bộ vào mỗi đêm. Từ năm 17 tuổi tôi đã gắn bó với khả năng đặc biệt này nên tôi sẽ cố gắng làm việc với khả năng tốt nhất cho tới khi sức khỏe và khả năng còn cho phép. Cũng đã có một thời gian dài gia đình chị có nhiều mâu thuẫn, có lúc tình cảm vợ chồng căng thẳng, mái ấm có nguy cơ tan vỡ vì chính khả năng của chị. Có lúc nào đó chị muốn nguyện mất đi khả năng đó để làm một người bình thường, một người vợ đúng nghĩa của gia đình? - Đúng là tôi bị chi phối quá nhiều vào khả năng của mình. Nhiều khi ở nhà yên được vài hôm rồi cứ như bị thúc giục, tôi lại thu xếp hành lý và lên đường đi tìm mộ. Có tiếng nói ở đâu xa lắm, họ hướng dẫn chỉ bảo và khuyến khích tôi đi. Những lúc như thế, chồng con, gia đình nhất là 2 con bé bỏng của tôi phải chịu thiệt thòi, hy sinh và chồng tôi- chính là người chia sẻ với tôi rất nhiều. Nhưng chồng tôi cũng như bao người đàn ông khác, anh là một người làm kinh doanh, anh đã quá bận rộn, căng thẳng với thương trường, nên anh cũng muốn vợ dành nhiều thời gian cho gia đình, con cái. Giai đoạn gia đình căng thẳng là giai đoạn tôi “nổi tiếng” quá. Nhiều người biết, nhiều người tìm đến nhờ. Bữa cơm gia đình lúc nào cũng dở dang vì tiếp khách. Thời gian đó, có dễ đến hàng năm, tôi không được ăn cơm tối cùng chồng con. Nhiều khi quá mệt mỏi, tôi cũng có những lời nói bực dọc với cả gia đình và mọi người đang nóng lòng chờ tôi tiếp nhận hồ sơ. Nhưng cũng chỉ thoáng qua như thế, tôi lại lao vào công việc như một sự đam mê định mệnh. Tôi không nguyện mất đi khả năng này, vì tôi thấy nhiều người cần giúp quá. Sức lực tôi thì có hạn, nhưng tôi vẫn làm cho đến khi nào họ cần tôi. Nhưng chồng tôi thì có, anh ấy từng ước: “Anh ước, một sáng ngủ dậy, bỗng nhiên em nói: Anh ơi em mất khả năng ngoại cảm rồi”. Đó là một trong hai điều ước của chồng tôi khi đó. Điều còn lại anh ước, người bố nằm liệt ốm bao năm bỗng nhiên đứng dậy đi được. Nhưng cả hai điều ước này chẳng điều nào thành hiện thực! Các con chỉ mong mẹ ở nhà Chắc chồng chị vẫn ước chị mất khả năng? - Không hẳn là như vậy. Sau đợt khủng hoảng gia đình đó, tôi đã biết cách thu xếp cuộc sống khoa học hơn, quan tâm chăm sóc tới gia đình và hai con nhiều hơn. Chồng tôi cũng hiểu thêm về những áp lực công việc của vợ và đã chia sẻ, động viên tôi rất nhiều. Giờ tôi đã sắp xếp được thời gian làm việc ở trường, ở công ty, đi làm từ thiện, tìm mộ và chăm sóc gia đình tốt hơn rồi! Hai con trai của chị có bé nào thừa hưởng khả năng kỳ lạ này của mẹ không? - Cậu em có vẻ có khả năng này. Vì có lần tôi đang nói chuyện với các linh hồn trên phòng làm việc, nó đẩy cửa bước vào và phụng phịu nói: “Con không thích các bạn đến nhiều thế này đâu”. Lúc đó là lúc tôi đang “nói chuyện” với các linh hồn chết trẻ. Tôi toát mồ hôi vì quá bất ngờ và lo sợ! Thật lòng tôi rất sợ con tôi có khả năng như tôi vì hơn ai hết tôi hiểu sự vất vả, cực khổ, đôi khi là cả sự đắng cay của người làm tâm linh và tôi không muốn con tôi phải khổ như tôi. Thằng anh nhiều lúc còn khóc không cho tôi đi tìm mộ hay cứu trợ đồng bào trong vùng lũ. Nó bảo, sợ mẹ... trôi theo nước lũ. Cả hai đứa con đều thích mẹ trong trang phục tóc thả ngang vai, đi giày cao gót và mặc đầm. Với chúng nó, như thế tức là tôi sẽ ở nhà. Chứ cứ thấy tôi đi giày thể thao, tóc cột cao, mặc quần bò áo phông tức là mẹ sẽ đi xa chúng đến cả tuần mất. Từ tháng 10 năm 2010 tôi bắt đầu tập trung thời gian viết lại những công việc mà 21 năm qua tôi đã làm. Cũng nhờ vậy mà tôi có nhiều thời gian hơn bên hai con. Khi gần con hơn tôi mới càng hiểu và thương hai con đến quặn lòng về những tháng năm tôi đã để các con phải chịu thiệt thòi, hy sinh quá nhiều cho công việc của Mẹ. Có những đêm con ốm, cháu ôm chặt tôi nói ‘con ốm mẹ đừng đi xa nữa nhé, con sợ lắm!’. Nhớ lại thời gian trước đây khi con ốm tôi vẫn đi tìm mộ để con ở nhà với bà nội tôi đã khóc ròng tới sáng. Có cảm giác như sau khi chị hoàn thành hết những cuốn sách này là chính thức “rửa dao gác kiếm”? - Tôi nói rồi, cuộc đời tôi như được giao trách nhiệm trong việc tìm mộ. Và tôi sẽ còn thực hiện đến khi nào còn đủ sức khỏe. Hiện tôi không đi được nhiều và xa vì bệnh thoát vị đĩa đệm. Nhưng tôi vẫn tiếp nhận hồ sơ và hàng đêm vẫn “trò chuyện” với các linh hồn để tìm ra địa chỉ mộ cho mọi người. + Cảm ơn chị về cuộc trò chuyện ! >>> Xem thêm >>> Nhà ngoại cảm Bích Hằng và cuộc tìm kiếm 4.000 hài cốt đầy nước mắt Theo Vân Khánh - GĐN
  16. Đừng đào sâu sai lầm của bất cứ ai để thời gian thực hiện chức năng khép lại mọi tổn thất hãy chuyên tâm trí tuệ đem lại những bài viết những đóng góp có ích lợi cho cuộc sống đang trùng trùng thiên tai, chúng sinh đang trùng trùng mê đắm!
  17. Con Người và Nghiệp Quả Nghiệp được phát xuất từ thân khẩu ý, vậy nó ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại và tương lai của chúng ta như thế nào? Tuy thân khẩu ý phát sinh ra nghiệp, nhưng trên thực tế tất cả các nghiệp mà con người tạo ra đều bắt nguồn từ ý tưởng của họ trước nhất. Do đó, miệng chúng ta có nói tốt nói xấu hay thân có làm lành hay dữ thì cũng từ trong ý thức mà ra. Nói chung, tất cả những phân biệt thương ghét, giận hờn, hơn thua, phải quấy đều cấu tạo từ những ý nghĩ của chính mình. Thật vậy, Thân Nghiệp và Khẩu Nghiệp là nguyên nhân tạo nên Quả Báo khổ vui về sau cho chúng ta mà Ý Nghiệp chính là nguyên nhân của Thân Khẩu Nghiệp. Thân Nghiệp và Khẩu Nghiệp có tác dụng trực tiếp với mọi người vì những việc làm hay lời nói tốt xấu, thiện ác đối với kẻ khác sẽ tạo thành những quả báo khổ vui về sau. Một người làm nghề cướp bóc giết người, gây tai họa đau thương cho người khác thì chính Thân Khẩu Nghiệp nầy sẽ quả báo sự nghèo khổ và chết thảm thiết cho hắn ta về sau và kiếp sau. Trái lại, một người về Việt Nam làm từ thiện, giúp các em trong viện mồ côi, giúp kẻ tật nguyền nghèo khổ thì sẽ được quả báo giàu sang, phú quý và trường thọ về sau. Nhưng Tâm có nghĩ thì Miệng mới nói và Tay mới làm, vì thế ý nghĩ của đời nầy tạo thành hành vi và lời nói ở đời sau. Thật vậy, Ý nghiệp là nhân của đời trước và thân khẩu nghiệp là quả cho đời sau. Nếu có người mà thông thái bây giờ là tại vì kiếp trước họ thích đọc sách, suy tư. Hoặc có kẻ nói năng phóng đảng và hành động tà dâm vì tiền kiếp họ luôn suy nghĩ về chuyện tà dâm, dối trá. Nói một cách khác là Ý nghiệp đời trước sẽ chuyển thành nhân cách của họ cho đời nay. Chúng ta thấy có nhiều gia đình rất đạo đức, nhưng con cái của họ thì ngỗ nghịch độc ác, không nghe lời dạy dỗ của cha mẹ. Tại sao vậy? Vì lời nói ngỗ nghịch và hành động độc ác của chúng đời nay chính là quả báo của ý nghiệp hay tư tưởng xấu từ đời trước chuyển đến. Do đó cổ nhân có câu:”sanh tử bất sanh tâm” hay là “Cha mẹ sanh con trời sanh tánh” là vậy. Khi thần thức đi tái sinh vào đời sau thì tất cả những chủng tử của nghiệp thức từ đời trước sẽ chuyển đến cho hài nhi để tiếp nhận những quả báo nầy và nhân cách là kết quả của ý nghiệp đã tạo nên. Vì vậy có những kẻ rất đạo đức và thiện tâm ngay từ trong bụng mẹ còn có người đã độc ác từ khi chưa chào đời. Hoặc có những người đời nầy thiện cũng làm mà ác cũng chẳng tha là vì kiếp trước họ thường hay nghĩ tốt xấu. Nói tóm lại tất cả những nhân cách đó đều do tư tưởng, tức là ý nghiệp, từ đời trước tạo thành và chuyển đến Trong số bạn bè của chúng ta, tại sao ông kia thích làm việc từ thiện? Hay cô nọ chỉ muốn làm ca sĩ? Bởi vì đời trước ông nầy ham thích suy nghĩ về việc giúp người còn cô kia thì dụng tâm suy nghĩ rất nhiều về sự đam mê của âm nhạc. Hoặc tại sao có người muốn đi tu? Vì đời trước họ thích suy tư về Phật pháp và trong tâm ôm ấp tư tưởng cứu độ chúng sanh Vậy nếu muốn có một nhân cách phi thường ở đời sau thì ngay bây giờ chúng ta hãy bồi dưỡng những tư tưởng cao thượng và loại trừ những tư tưởng thấp hèn. Hãy phát huy tâm Bồ-đề để mang niềm vui và tình thương cho mọi người. Loại bỏ tham-sân-si để tâm được yên tịnh vì những cám dỗ, si mê và giận hờn đã làm tâm của chúng ta mê muội để tạo ra Ý nghiệp.Có người nói rằng nếu ai làm việc thiện, nói lời thiện chỉ vì tâm hồn họ suy nghĩ điều thiện. Nếu điều nầy là đúng, tức là ba nghiệp của thân khẩu ý đều thiện thì chắc chắn đời sau họ phải được giàu sang phú quý và có nhân cách khả kính. Nhưng sự thật chưa chắc như vậy bởi vì chúng ta thấy hằng ngày có người rất giàu có, quyền uy, nhưng lại rất ích kỷ và độc ác, còn có người tuy nghèo khổ, bần hàn nhưng rất từ bi và khả kính. Kết quả như vậy là vì thân khẩu nghiệp làm một đường mà ý nghiệp nghĩ một nẽo. Nói một cách khác là kẻ giàu mà ích kỷ là kiếp trước họ tu phước mà không tu huệ, còn kẻ nghèo mà tốt là họ tu huệ mà không tu phước. Phật dạy muốn hạnh phúc viên mãn thì phước huệ phải song tu.Nói như thế thì mặc dầu hiện tại đang sống trong đời nầy, nhưng chính tự tay chúng ta đã kiến tạo cho mình dần dần một cuộc sống ở đời sau. Cứ mỗi nghiệp mà chúng ta tạo tác chính là một vết mực để vẽ cho bức tranh của đời sau, vì vậy không phải sau khi chúng ta chết thì thần thức mới đi lang thang trong cõi Thân Trung Ấm để tìm kiếm cha mẹ mới của mình mà thật ra tất cả những Nghiệp Quả cộng với nhân duyên đã kiến tạo và hoàn tất cho đời sau của chúng ta trước khi chúng ta mạng chung. Đó là tại sao chúng ta thấy trong câu chuyện Luân Hồi có người chết tại Mỹ mà tái sinh ở Miến Điện, hoặc chết là đàn ông mà tái sanh làm đàn bà. Vậy tiến trình nầy xảy ra như thế nào? Trong kinh điển của Phật giáo, khi một người chết thì thân vật lý không còn tồn tại, nhưng thần thức vẫn tiếp tục tồn tại với một sự sống trong thế giới vô hình. Cái ngã nơi Thân Trung Ấm này cũng vẫn là cái Ngã như lúc chúng ta còn sống. Chẳng hạn như trước khi chết chúng ta là ông A thì ở trong Thân Trung Ấm chúng ta vẫn thấy mình là ông A. Cho đến khi duyên đã hết, phải thác sinh về một kiếp khác, Thân Trung Ấm tan biến và sự sống bắt đầu thành hình ở bào thai mới thì lúc đó cái Ngã cũ thật sự chấm dứt hoàn toàn. Cái thời điểm mà Thân Trung Ấm tan biến luôn luôn đồng thời với cái lúc tinh trùng người cha lọt vào noãn bào của mẹ. Giây phút nầy cái Ngã cũ đã hết nên ông A không còn biết mình là ông A nữa, vì thế khi mang một hình hài mới thì tất cả những chuyện về đời trước đã quên hết. Hài nhi từ nay sẽ mang một hình hài mới, tên họ mới, dòng họ mới và dĩ nhiên là một số phận mới. Cuộc sống hằng ngày chúng ta tạo nghiệp thì tất cả những nghiệp quả sẽ sắp xếp rõ ràng cho cuộc đời của kiếp sau. Chúng ta sẽ sinh vào gia đình nào, làm con cái của ai và cuộc sống sẽ như thế nào đã được an bài trước khi chúng ta nhắm mắt. Dựa theo lý luận của khoa học ngày nay thì khi có sự giao hợp, người nam phát sinh khoảng 500 triệu tinh trùng. Nếu có những tinh trùng mang nhiễm sắc thể X kết hợp với tiểu noãn sẽ tạo thành một bào thai gái và những tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y kết hợp với tiểu noãn sẽ tạo thành bào thai trai. Nhưng do nghiệp của người đó tạo tác khi còn sống sẽ là động lực chính quyết định người đó sẽ mang thân nam hay thân nữ khiến cho tinh trùng loại nào sẽ được lọt vào tiểu noãn. Khi tiểu noãn thụ tinh, các nhiễm sắc thể của tinh trùng và của trứng phối hợp thành 46 cái để bắt đầu tạo thành sự sống. Trong số 46 cái thì một nửa là nhiễm thể của cha và một nửa còn lại là của mẹ. Đây chính là nguồn gốc có sự khác biệt giữa những cá thể trong nhân loại. Hài nhi, lúc bấy giờ mặc dù chỉ là một tế bào tí hon, nhưng nghiệp quả tạo thành một định mệnh vô hình đã bao trùm lấy nó vì những nhiễm thể của người cha và mẹ đã định đoạt giới tính, màu tóc, màu mắt, hình tướng cũng như nhân cách và tính thông minh hay ngu đần của nó sau nầy. Khoa học chứng minh cho chúng ta thấy rằng những nhiễm sắc thể nầy có hình thể giống như vòng xoắn chạy dài và có khả năng chứa hàng ngàn phân tử di truyền, hay gọi là gene, được cấu tạo bởi Acid Desoxyribo Nucleic, gọi tắt là ADN. ADN là một chất hóa học chứa đựng tất cả những dữ kiện về sự sống và sự sinh trưởng của con người. Mỗi phân tử di truyền tự hoạt động riêng rẽ hoặc phối hợp với phân tử di truyền khác để ấn định về màu da, màu sắc của mắt và chiều cao của thân thể…Trong số 23 cái nhiễm thể của cha và 23 cái nhiễm thể của mẹ tạo thành 23 cặp thì luật Nghiệp Quả vô hình sẽ định đoạt cặp nhiễm thể nào ở lại còn cặp nhiễm thể nào sẽ bị loại bỏ. Do đó người mẹ có thể truyền lại cho con mình màu mắt, làn da và một số tính di truyền đã thụ hưởng từ ông bà để lại. Đây là một công trình rất tinh vi và phức tạp vì những nhiễm thể và tiểu noãn có thể được phân chia theo tám triệu kiểu khác nhau. Thật vậy, chính nghiệp của đứa bé đã sắp xếp cuộc tạo dựng thật công phu và quan trọng nầy. Đây là điểm đặc thù của triết lý Phật giáo vì nếu không hiểu rõ chúng ta sẽ vội tin có một Thượng Đế sáng tạo ra con người. Vâng! Chúng ta chính là vị Thượng Đế đó bởi vì nghiệp mà chúng ta đã tạo tác sẽ sắp đặt và kiến tạo cho cuộc đời của chúng ta ở kiếp sau. Tại vì sao? Chính nghiệp của đứa bé đã quy định nó sẽ làm con của gia đình nào để có thể nhận lấy tính di truyền về sức khỏe, trí khôn, hình dáng của dòng họ đó. Rồi cũng chính nghiệp tiếp tục chi phối sự phối hợp cũng như phân chia các phân tử di truyền (gene) để cho nó có những tính chất khác hẳn anh chị em của nó. Nếu đời trước nó tạo rất nhiều phước đức, thường hay giúp đở kẻ khốn cùng, che chở người hoạn nạn thì nghiệp sẽ đưa nó vào sinh trưởng trong một gia đình giàu có để hưởng phước lạc từ khi còn bé. Hoặc là trong đời trước nó thường chăm sóc sức khỏe cho mọi người, đem niềm vui và hạnh phúc cho kẻ khác thì nghiệp sẽ chọn những phân tử di truyền (gene) để tạo thành sức khỏe tốt và trường thọ cho nó ở đời sau. Khi tiểu noãn và tinh trùng kết hợp thì năng lực tâm linh kết tụ và lúc đó tâm thức mới thật sự thành hình và phát triển dựa theo tiến trình phát triển của các tế bào não bộ. Sau hai tháng thì sự phát triển của não bộ gần như hoàn tất với khoảng 15 tỷ tế bào. Với cái não bộ mà chúng ta thường gọi là trinh trắng nầy, thật ra đã chất chứa đầy đủ các mầm mống thiện ác phức tạp kết tụ do đời trước để quy định về những cá tính riêng biệt, nhân cách cũng như tính tình cho đời sau. Luật Nghiệp Quả sắp xếp mọi tiến trình biến đổi một cách mầu nhiệm mà không bị ngăn cách bởi không gian. Chẳng hạn như vì có duyên mà anh chị em được kết với nhau nhưng vì mỗi người mang mỗi nghiệp riêng biệt của mình từ vô lượng kiếp trước cho nên mặc dù cùng cha mẹ nhưng anh chị em vẫn có sự khác nhau về tính tình, hình dáng và tài năng…Vì không thông suốt luật Nghiệp Quả nầy mà nhiều người nói là cha mẹ sanh con trời sanh tánh là như vậy. Có người lý luận rằng khi người chết thì tâm thức cũ sẽ được chuyển qua bào thai mới, do đó nếu đời trước người đó thông minh thì đời sau chắc chắn sẽ tiếp tục thông minh tài giỏi, còn kẻ ngu dốt thì đời sau sẽ ngu dốt mãi mãi. Thật ra thì không có tâm thức nào rời thân cũ để nhập qua bào thai mới cả mà chỉ có Nghiệp Quả mới quy định mọi tiến trình nầy mà thôi. Như đã nói tư tưởng tức là Ý Nghiệp từ đời trước sẽ là nhân mà Thân Khẩu Nghiệp nhận lãnh đời nầy chính là quả báo của nó. Nếu đời nầy chúng ta có được nhân cách tốt chỉ vì đời trước chúng ta luôn tâm niệm lành. Một bác học đời trước mà lúc nào cũng có lòng đố kỵ, sợ người khác giỏi hơn mình thì kiếp sau có thể sẽ thành người ngu dốt. Sự hoạt động của Luật Nghiệp Báo Nhân Quả thì thật quá phức tạp, nó phức tạp hơn hàng vạn triệu lần những máy vi tính mà chúng ta thấy hiện nay. Vâng, chính nghiệp lực là động lực vô hình đã kết hợp tất cả những nghiệp báo với nhân duyên để tạo tác và hình thành cuộc đời của chúng ta ở kiếp sau. Phật dạy hễ tạo nghiệp là phải thọ lãnh quả báo. Vậy nếu muốn đời sau gặt hái nhiều tốt đẹp thì ngay bây giờ hãy cố gắng tạo thật nhiều nhân lành và loại bỏ những tư tưởng xấu xa trong tâm tưởng của chúng ta. Nhiều người quan niệm rằng nếu ta mắng chửi hay đánh đập kẻ khác thì mới tạo nghiệp còn mình suy nghĩ tốt xấu thì có ai biết gì đâu mà phải sợ. Thông thường con người có tính đố kỵ, hễ ai giỏi ai giàu hơn mình thì ghét, ai thua ai kém hơn mình thì chê bai, khinh bỉ. Tất cả những sự ghen ghét chê bai được phát sinh từ trong tâm tưởng của chúng ta thì chính mình đã tạo ra Ý Nghiệp rồi cho dù chúng ta chưa nói hoặc chưa có hành động gì đối với ai. Có người nói rằng đâu ai biết mình nghĩ gì thì không sợ bị đóng thuế hay bị phạt vạ. Đây là quan niệm sai lầm vì tư tưởng là Ý Nghiệp mà đã là Ý Nghiệp thì phải chịu quả báo đời sau. Vì thế dẫu người không biết mình đã nghĩ gì, nhưng chính mình đã gieo bao nhiêu cái nghiệp để phải chịu luân hồi cho đời sau. St Lesyminhtung.net
  18. Luân Hồi (Wheel of Life)(Reincarnation) Đã là con người thì ai lại không quan tâm đến chuyện tử sanh. Người giàu sang, quyền quý thì họ muốn được sống thật lâu để tận hưởng những lạc thú trên đời, còn kẻ cùng đinh thì càng từ chối hội ngộ với diêm vương. Nhắc lại chuyện xưa, vua Tần Thủy Hoàng vì muốn kéo dài sự hưởng thụ ngôi cao tột thế của mình, nên sai không biết bao nhiêu người tâm phúc đi tìm thuốc trường sinh bất tử, nhưng ông ta có thoát khỏi bàn tay lông lá của tử thần không? Bởi thế, kể từ khi khai thiên lập địa đến giờ, từ thiên tử đến chí dân, từ giàu sang đến rách rưới, ai ai cũng không qua khỏi cửa tử cả. Vì thế mới có câu:”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử”. Thật vậy, có sanh tất phải có diệt. Nhưng thế nào là chết? Theo dấu hiệu thông thường của cái chết là khi chấm dứt hơi thở và tim ngừng đập. Còn theo Phật giáo thì chỉ gọi là chết khi nào thần thức (linh hồn) chính thức lìa khỏi thân xác mà thôi. Thần thức thì có hai phần: phần thô và phần tinh tế. Khi hơi thở dứt và tim ngừng đập, thì phần thô của thần thức đã tan mất. Tuy nhiên, phần tinh tế của tâm thức vẫn còn lưu lại trong xác thân của người chết trong một thời gian dài hơn. Có những trường hợp nó lưu lại trong thân xác ba, bốn ngày hoặc là cả tuần lễ nữa. Trong thời gian thần thức còn lưu lại trong thân xác thì thi hài không bốc mùi hoặc thối rữa. Nhưng trong kinh điển Phật giáo đều khuyến khích là chúng ta cố gắng đừng đụng tới thi hài tối thiểu là sau 8 tiếng đồng hồ kể từ khi tắt thở để thần thức có cơ hội thoát ra một cách bình yên. Khi người đang hấp hối, thì phải tránh gieo cho họ những trạng thái bi ai, luyến ái, hay giận hờn. Bởi vì nếu họ không an tâm mà nhắm mắt thì ảnh hưởng rất lớn cho việc đầu thai hoặc vãng sanh của họ. Tuyệt đối không nên khóc lóc hay bi lụy mà chỉ nên niệm Phật, hoặc tụng kinh Địa Tạng hay kinh A Di Đà cho họ sớm được siêu thoát. (Xin đọc thêm trong phần Pháp tu Tịnh độ). Khi nói về cái chết, Đức Phật đã nói rằng: - Hễ có hơi thở ra mà không thở vào là chết. Chính Đức Phật đã khẳng định cái chết đến với mọi người thật dễ dàng vì đời người quá ngắn ngủi mong manh. Vì thế cái chết luôn luôn như chực chờ bên ngoài, bên trong cơ thể và ở ngay trong mỗi con người chúng ta từng giây từng phút. Theo Phật giáo thì có ba trường hợp đáng lưu ý về sự chết của con người: 1) Sammattimarana: Đây là sự chết thông thường của con người, đó là tim ngừng đập và sự ngừng thở hoàn toàn. 2) Samucchedamarana: Chết và không còn tái sinh. Khi những bậc tu hành đắc đạo hay niệm Phật đến chỗ tam muội (Nhất tâm bất loạn) thì được vãng sanh vào cõi Thánh hay vào cõi bất sinh bất diệt. 3) Khanakamarana: Chết trong một Sát na (một giây). Đây là cái chết đặc biệt trong tâm tức là sự chấm dứt tư tưởng của dòng tâm thức. Chẳng hạn khi tâm đang suy nghĩ về một vấn đề gì rồi dứt bỏ, chấm dứt, không suy nghĩ đến vấn đề đó nữa thì đây là trạng thái của tâm diệt. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết: 1. Kãlamarana: Khi thọ mạng hết khiến con người sinh bệnh rồi chết. 2. Ãyukhayena: Chết do tuổi thọ đã hết. 3. Kammak-Hayena: Chết vì nghiệp báo ở kiếp nầy đã trả xong. 4. Ãyukammakhayena: Chết do tuổi thọ và nghiệp quả đã hết. 5. Upaccheda-marana: Chết vì nghiệp quả quá nặng tác động vào. 6. Akãlamarana: Chết bất đắc kỳ tử khi đoạn nghiệp của một người phát sinh quá mạnh. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra sau khi chết? hoặc là người chết sẽ đi về đâu? từ những thắc mắc đó mà trong nhân gian đã nẩy sinh ra vô số tôn giáo. Có tôn giáo nói rằng, loài người cũng như loài vật, một lần chết là mất hẳn, cát bụi sẽ trở về với cát bụi, chết là hết. Nhưng có những tôn giáo khác lại không đồng ý với tôn giáo trên và nói rằng: loài người chết đi, nhưng linh hồn vẫn vỉnh viễn còn lại, hoặc lên thiên đàng để mãi mãi hưởng những khoái lạc, an vui, hay xuống địa ngục lãnh án cực hình thê thảm. Vậy ta nên tin theo triết lý nào? Theo giáo lý nhà Phật thì hai triết lý trên không giải thích được cái gì cả bởi vì nó chỉ là những định đề đơn giản, không hợp lý và không thực tế. Tại sao? Nếu quan niệm rằng sau khi chết muốn được lên Thiên Đàng hay bị đọa vào Địa Ngục thì thần thức (linh hồn) phải đổi thay toàn diện. Đó là nếu muốn được lên Thiên Đàng thì thần thức bây giờ sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện như một vị thiên thần. Ngược lại khi chết thần thức mất hết tính tốt để trở nên xấu xa mà biến thành một thứ ma quỷ và bị đẩy vào Địa Ngục. Điều nầy vô lý vì bất cứ sự tiến hóa nào cũng phải diễn biến từ từ chớ không thể nào đột ngột được và một điều chắc chắn là không một ai toàn thiện hay toàn ác trên thế gian nầy cả. Trong mỗi chúng ta đều có đầy đủ chủng tử thiện ác hoặc là do chúng ta tạo ra trong đời nầy hoặc là do những đời trong quá khứ mang đến. Nếu có những người trong đời nầy biết tu tâm dưỡng tánh nên có rất nhiều chủng tử thiện nhưng những chủng tử thiện ác đã tạo ra trong đời quá khứ họ vẫn phải đeo mang. Sự chết chỉ là giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vì thế không có việc quỷ sứ hành hạ tội nhân hoặc thiên thần có cánh bay vèo vèo như những loài chuồn chuồn châu chấu. Phật giáo gọi chữ linh hồn của những tôn giáo khác là thần thức và thần thức thì vốn như hư không và không có hình tướng. Khi còn sống, con người hằng ngày đã tạo nên rất nhiều nghiệp báo. Những nghiệp tốt thì gọi là thiện nghiệp còn nghiệp dử thì gọi là ác nghiệp và những thiện nghiệp cũng ác nghiệp nầy được gọi chung là nghiệp thức. Tất cả những nghiệp thức mà chúng ta tạo ra trong đời nầy sẽ được ghi nhận lại bởi một hệ khác là Mạt-Na thức. Sau đó, tất cả những nghiệp thức được chuyển qua và giữ lại ở A-Lại- Da thức. Những chủng tử (cái mầm) của nghiệp thức một khi đã được dồn chứa trong A-Lại-Da thức, thì chúng sẽ tồn tại từ đời nầy sang đời khác cho đến khi gom góp đủ nhân duyên thì chúng sẽ phát sanh. Đến lúc thân chết, thì thần thức phải đi theo nghiệp báo mà biến hóa đổi đời để mang lấy thân khác. Khi đã sang đời khác lại phải chịu ở trong bào thai, tất nhiên mọi sự thấy biết cũng đều khác hết nên không còn nhớ đến những việc cũ nữa. Nhưng tại sao chúng ta không nhớ đến việc đời trước? Để trả lời Đức Phật dạy rằng: “ Cũng ví như người thợ đúc, khi ông nấu đá quặng để luyện thành sắt, khi thành sắt rồi lại chế thành đồ dùng. Vậy khi đã thành đồ dùng rồi, có thể làm cho nó trở lại thành đá quặng nữa chăng? Thần thức dời chuyển ở trong thân Trung Ấm (khoảng thời gian vừa chết cho đến khi đi đầu thai sang kiếp khác, thường thường thì khoảng 49 ngày) cũng như đá quặng nấu thành sắt, từ Trung Ấm chuyển sang thân khác, cũng như sắt đã chế thành đồ, hình cũ tiêu đi thể chất đổi khác. Vậy cái thần thức lúc đó thay đổi rồi, không còn nhớ những việc trước nữa. Tại sao thế? Bởi vì phải theo với nghiệp thiện ác của mình đã tạo lập như thế nào, thì thần thức sẽ lại theo nó để hưởng thụ lấy quả báo (tội hay phước) biến hóa đổi đời cũng như đá chuyển thành sắt vậy. Vì thế, nếu trong đời này chúng ta làm những việc ác đức, thì lúc chết đi thần thức sẽ phải sa vào làm kiếp súc sanh, hay địa ngục. Nói một cách khác, khi ta chết, không có nghĩa là hết, cũng không có nghĩa là sẽ lên trên hoặc xuống dưới chỉ một lần, mà chúng ta phải quay lộn trong cảnh sanh tử luân hồi. Nên nhớ tất cả những chủng tử của nghiệp thức dồn chứa trong A-Lại-Da thức thì bất biến. Nói một cách một khi chúng ta gây ra một nghiệp nào thì nó sẽ ở mãi trong A-Lại-Da (Tàng thức) từ đời nầy đến đời khác không mất. Khi gặp nhân duyên thì chủng tử sẽ phát sinh để tạo thành quả báo và nó là kết quả của cái vui hay cái buồn của con người trong đời nầy. Chủng tử ví cũng như cái mầm, hột giống. Một khi cái mầm hay hột giống (cái nhân) gặp mưa, gặp đất tốt tức là nhân duyên thì cái mầm sẽ nẩy chồi, sanh rễ rồi thành cây thành quả. Do đó nếu nghiệp mà không có nhân duyên thì nghiệp sẽ không bao giờ thành quả. Vì thế người tu Phật không nên gây ra thêm nhân duyên bất thiện để kết với nghiệp ác trong quá khứ mà thành quả báo dữ làm cho mình đau khổ. Thế nào là luân hồi? Luân là bánh xe, Hồi là xoay tròn. Đức Phật đã dùng hình ảnh bánh xe quay tròn để hình dung sự xoay chuyển, lên xuống, xuất hiện của mọi chúng sanh trong cõi lục đạo. Khi thì đầu thai ở cõi nầy, khi ở cõi khác, luôn luôn tiếp nối sanh tử, tử sanh không ngừng, như bánh xe lăn. Luân hồi chẳng qua là nhân quả liên tục, nhưng vì nó khi biến, khi hiện, khi lên, khi xuống, khi mất, khi còn, khi thay hình đổi dạng, nên chúng ta cứ tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng chi phối lẫn nhau. Sau đây là lục đạo luân hồi mà chúng sinh có thể nhập vào tùy theo nghiệp nhân mà mình tạo: 1) Địa ngục (nơi chịu cảnh khổ): khi sanh tiền chúng ta tạo ra lắm điều sân hận, độc ác thì khi chết phải luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều đau khổ. 2) Ngạ quỷ (quỷ đói): khi sống thì quá tham lam, bỏn sẻn, không biết bố thí, chẳng những không giúp đở người khốn khổ mà còn lập mưu sâu, kế độc để cướp đoạt của người. Khi chết sẽ luân hồi làm ngạ quỷ. 3) Súc sanh: lúc sống thì si mê sa đọa theo thất tình, lục dục, tửu sắc, khi chết luân hồi làm súc sanh. 4) A-tu-la (cõi Thần): những người nầy khi sống gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sai quấy cũng không tránh, vừa cương trực mà cũng vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tánh hung ác vẫn còn, lại thêm tà kiến, si mê, khi chết luân hồi vào cõi A-tu-la. Cõi nầy thì vui sướng cũng có mà đau khổ cũng nhiều. 5) Loài người: chỉ cần giữ ngũ giới: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không dối trá, không rượu chè say sưa, thì đời sau trở lại làm người. 6) Cõi trời: bỏ mười điều ác để tạo mười điều thiện thì sẽ luân hồi vào cõi trời, nhưng cõi trời này vẫn còn ở trong vòng phàm tục có nghĩa là vẫn còn chịu cảnh luân hồi sanh tử về sau. Khi chết thần thức thoát ra khỏi thân xác và chuyển qua một thế giới trung gian (cõi trung giới) trong thời gian từ một đến bảy tuần lễ. Họ trút bỏ thân xác sắc uẩn nặng nề và sự sống tiếp tục bằng cách mang một thân không có xác thịt mà chỉ bằng tư tưởng được gọi là Thân Trung Ấm. Mỗi cảnh giới trong lục đạo được cấu tạo bằng những nguyên tử mà có những tần số rung động (Vibration) khác nhau. Tùy theo nghiệp thức mà nghiệp lực chi phối Thân Trung Ấm có được những rung động tương ứng. Nếu người tạo nhiều nghiệp dữ thì sẽ có tần số rung động thấp, ngược lại người tu hành thanh cao thì có tần rung động rất cao. Sự rung động của Thân Trung Ấm sẽ tương ứng với cảnh giới tần số rung động của một trong sáu cõi luân hồi. Đây chính là “đồng thanh tương ứng” vậy. Thí dụ như trong cõi địa ngục có tần số rung động nặng nề, u ám nhất tương xứng với những vong linh bất hảo, những kẻ sát nhân, người giết hại súc vật, những cặn bả trong xã hội, những kẻ có tư tưởng xấu đầy thú tánh…Ngược lại một người có đời sống trong sạch, tinh khiết sẽ thức tỉnh và tái sinh vào một cảnh giới an lành, tự tại. Cử Chỉ Của Người Sắp Chết Đức Phật dạy rằng thân xác tức là sắc uẩn của con người là do tứ đại kết hợp: v Đất là địa tức là thành phần chính tạo nên xương, thịt, bắp thịt, gân, mô, chất sụn hay mô sụn… v Nước là Thủy chính là thành phần cấu tạo nên chất nhờn như đàm, nước miếng, tinh khí, máu huyết, mồ hôi… v Gió thuộc Phong tạo nên hơi thở, sinh khí. v Lửa là Hỏa là phần tạo nên thân nhiệt, sức nóng của cơ thể và cũng là nguồn năng lượng tiềm tàng phát sinh khi toàn bộ cơ thể hay một phần cơ thể hoạt động. Khi người sắp chết thì tứ đại lần lượt lìa ra khỏi xác thân vì thế thịt, gân, xương trở thành các chất bắt đầu tự hủy hoại từ trong lẫn ngoài. Kế đến là các chất lỏng bắt đầu cô đặc dần dần và máu tụ về một nơi nên lúc đó tim vẫn còn thoi thóp và hơi thở dần dần giảm thiểu rồi dứt hẳn. Quả tim đập một cách yếu ớt và lúc nầy Hỏa vẫn còn lưu chuyển nên ngực còn hơi ấm để rồi tách dần khỏi thể xác khiến cơ thể lạnh dần và da tái mét hay tím ngắt vì đã mất máu và năng lượng nhiệt. Thông thường mỗi người trước khi trút hơi thở cuối cùng có những cử chỉ đặc biệt, nhưng tựu trung cũng nằm trong bốn trạng thái sau đây 1) Hốt hoảng, lo sợ và tiếc nuối làm chân tay run rẩy, chới với và ngơ ngác.. 2) Đau đớn, khổ sở với nét mặt nhăn nhúm, dáng mặt xanh xám nhợt nhạt, mắt trợn trừng, tay chân co quắp, co giật và quằn quại… 3) Thâm trầm, lặng lẽ, buông xuôi… 4) Bình thản với những cử chỉ tự nhiên. Sắp dặt, dặn dò, khuyên nhủ người thân mọi việc như đang chuẩn bị cho chuyến đi xa rồi sau đó mới từ từ nhắm mắt. Dựa theo Phật giáo thì có 10 hiện tượng lành mà người sắp chết sẽ về cõi Thánh hay được vãng sanh về cõi Tây phương Cực lạc. 1. Đối với những người bình tĩnh, sáng suốt, không hốt hoảng hay bấn loạn tinh thần. 2. Biết trước mình sẽ chết nên rất bình thản và tự nhiên chờ đợi. 3. Họ chuẩn bị mọi việc trước khi ra đi và tắm rửa sạch sẻ, thay quần áo mới và căn dặn người thân như không có gì đáng sợ cả. 4. Tự nhiên có mùi thơm của hương, hoa tỏa ra quanh người sắp chết. 5. Tự nhiên như có âm thanh xa vắng mênh mông khác với âm thanh thông thường của thế gian. 6. Tự nhiên có vầng sáng chiếu vào thân thể người sắp chết. 7. Tự nói ra bài thơ, bài kệ, hay lời giáo huấn có tính cách Pháp thoại cho đại chúng. 8. Tự nhiện đọc kinh hay niệm Phật. 9. Ngồi ngay thẳng, xếp bằng, chấp tay trước ngực rồi nhắm mắt và trút hơi thở cuối cùng giống như Lục Tổ Huệ Năng tại chùa Nam Hoa, Quảng Đông. 10. Niệm Phật Tam Muội mong về cõi Tịnh độ Phật A Di Đà. Nếu có chúng sinh nào đạt được phần lớn hay tất cả những điều ở trên thì chắc chắn thoát khỏi sinh tử Luân hồi hay được vãng sanh về cõi Tịnh độ. Nhắc lại khi con người sắp chết thì mỗi người có các hiện tượng khác nhau bởi vì tất cả đều do nghiệp nhân lành hay dữ của họ gây ra từ trước mà cảm nhận được. Cho nên khi sắp lìa đời thì nghiệp nhân ấy phát khởi, sôi nổi trong tâm thức. Nghiệp nào mạnh thì sẽ bị lôi vào cảnh giới tương đương với nó để thọ báo. Thí dụ như nghiệp lành mạnh thì sẽ hiện ra cảnh giới sung sướng. Ngược lại nghiệp hung dữ ác độc thì hiện ra cảnh giới đau khổ xấu xa. Nếu có chúng sinh sắp bị đọa vào địa ngục thì nghiệp duyên sẽ khiến họ có những hiện tượng như sau: § Gặp con cái, bà con họ hàng nhìn kẻ chết bằng cặp mắt hung dữ ghét bỏ. § Người chết đưa hai tay lên mà rờ mò giữa hư không. § Cho dù có bậc Thiện-Tri-Thức chỉ bảo, họ cũng không chịu tùy thuận. § Kẻ chết kêu gào than khóc. § Đi đại tiện và tiểu tiện mà vẫn không hay biết gì. § Nhắm nghiền đôi mắt không mở. § Thường hay che úp mặt mày. § Nằm nghiêng mà ăn uống. § Mình mẩy miệng mồm đều hôi hám. § Gót chân đầu gối luôn luôn run rẩy. § Sống mũi xiên xẹo. § Mắt bên trái hay động đậy tức là máy mắt. § Hai mắt đỏ ngầu. § Úp mặt mà nằm. § Thân hình co rút và tay bên trái chấm xuống đất mà nằm. Nếu có chúng sinh bị lôi vào trong ngạ quỷ thì cũng có những dấu hiệu như sau: ¨ Ưa liếm môi miếng. ¨ Thân nóng như lửa. ¨ Thường lo đói khát và hay nói đến việc ăn uống. ¨ Mắt thường trừng lên mà không chịu nhắm. ¨ Hai mắt khô khan như mắt chim gỗ. ¨ Không có tiểu tiện nhưng đại tiện thì nhiều. ¨ Đầu gối bên phải lạnh trước. ¨ Tay bên phải thường nắm lại tức là biểu hiệu ôm lòng bỏn sẻn. Nếu có chúng sinh bị lôi vào loài súc vật thì cũng có những hiện tượng như sau: · Yêu mếm vợ con, đắm đuối không bỏ. · Ngón tay và ngón chân co quắp. · Khắp trong thân mình toát ra mồ hôi. · Tiếng nói ra khò khè. · Miệng thường ngậm đồ ăn. Nếu có chúng sinh được tái sinh làm người thì trước khi chết có những hiện tượng như sau: o Đến khi chết hay khởi niệm lành tức là lòng dạ dịu dàng, phước đức, vui vẻ và vô tư. o Thân không đau khổ. o Chăm lòng nhớ nghĩ cha mẹ. o Con cái đều đem lòng thương mến và gần gũi. o Tai thường muốn nghe tên họ của anh em, chị em, bè bạn.. o Đối với việc lành hay việc dữ lòng không lầm loạn. o Tâm tính chính trực, không dua nịnh. o Rõ biết bà con bạn bè giúp đỡ cho mình. o Thấy bà con chăm sóc sinh lòng vui mừng. o Di chúc việc nhà, phân chia tiền của. o Sinh lòng tịnh tính, thỉnh Phật, Pháp, Tăng để quy y. Nếu có chúng sinh được sanh lên cõi an lạc cũng có những hiện tượng sau: ¨ Khởi lòng thương mến. ¨ Phát khởi tiện niệm. ¨ Lòng thường vui vẻ. ¨ Chánh niệm được rõ ràng. ¨ Không có những điều hôi hám. ¨ Sống mũi không xiên xẹo. ¨ Lòng không giận dữ. ¨ Lòng không lưu luyến của cải vợ con quyến thuộc. ¨ Mắt được trong sáng. ¨ Ngửa mặt lên mĩm cười mà nghĩ tưởng thiên cung đến rước họ. Không nhất thiết tất cả những điều ghi nhận trên đây nhất nhất phải hiển hiện, nhưng chỉ có những điều kiện quan trọng sẽ được hiển hiện mà thôi. Có thể quan sát các cảm giác trên gương mặt và thân xác của người chết để biết nơi thoát ra của thần thức. 1. Nếu người sắp chết mà chết tự nhiên, bình tĩnh, sáng suốt và căn dặn mọi điều với con cháu hay bình thản giã từ thân nhân thì thần thức sẽ thoát ra từ ngực. 2. Nếu người sắp chết từ từ nhắm mắt lìa đời một cách êm ái nhẹ nhàng như đi vào giấc ngủ bình thường thì thần thức sẽ thoát ra từ trán hay ngực. 3. Nếu trái lại, cơ thể tím ngắt, xạm đen, xanh xám với tiếng rên rỉ, mặt nhăn nhó, quằn quại thân mình thì thần thức chắc chắn sẽ rời khỏi thể xác bằng ngả bàn chân. 4. Khi người sắp chết tỏ vẻ nuối tiếc, nét mặt khổ đau, kêu than đau đớn, kêu khát nước, đòi ăn, vật vã thì lúc đó thần thức đang chuyển xuống bụng hay đầu gối để tách rời khỏi thể xác. Vì thế khi rờ nhẹ trên người của người mới chết thì cũng có thể đoán biết thần thức của người chết sẽ đi về đâu: 1) Nếu người sắp chết mà toàn thân từ từ lạnh ngắt mà đôi mắt vẫn còn nóng thì thần thức sẽ thoát ra nơi đôi mắt và người đó sẽ thọ sanh về cõi Thánh hiền. 2) Nếu người chết mà toàn thân lạnh ngắt chỉ có đỉnh đầu còn nóng thì thần thức sẽ thoát ra ở đỉnh đầu và người nầy chắc chắn sẽ sanh về một trong những cỏi Trời để hưởng phước lạc. 3) Nếu người mới chết mà toàn thân lạnh ngắt nhưng ngực còn nóng thì thần thức sẽ thọ sanh vào làm người trở lại. Nên nhớ khi tái sinh thì nghiệp lực cùng với nhân duyên mới có thể sẽ đưa họ đầu thai vào những giống dân khác với giống dân trước khi họ chết. Thí dụ khi sống thì họ là người Tàu, nhưng lúc tái sinh lại trở thành người Ấn độ. 4) Nếu người chết khắp nơi đều lạnh ngắt mà bụng vẫn còn nóng thì thần thức sẽ sinh vào loài ngạ quỷ. 5) Nếu người mới chết toàn thân đều lạnh ngắt mà chỉ còn hai đầu gối là nóng thì chắc chắn thần thức sẽ sinh vào loài súc sanh. 6) Nếu người mới chết toàn thân lạnh ngắt mà hai bàn chân còn nóng thì thần thức sẽ bị đọa vào địa ngục. Theo Phật giáo thì tùy theo hơi ấm tụ ở nơi đâu mà có thể biết thần thức được chuyển vào cõi tốt lành thanh thoát hay cõi địa ngục tối tăm. Hơi ấm càng đưa xuống phần dưới cơ thể thì càng xấu. Nói chung hơi ấm mà tụ ở bàn chân, ở đầu gối, ở bụng là xấu. Ngược lại, hơi ấm tập trung ở trán và đầu của người sắp chết là tốt. Khi gặp trường hợp trán và đầu của người sắp chết lạnh trước tiên thì thân nhân hay người đang có mặt phải dùng hai bàn tay để chuyển động như cố ý dồn đẩy hơi ấm vào đầu và trán người sắp chết cho đến khi đầu và trán có chút hơi ấm thì thôi.
  19. Nghiệp Sát Hại Trong thế gian nầy thì quan niệm về thưởng phạt của thiện ác thay đổi tùy theo địa phương, hoàn cảnh xã hội, khoảng cách thời gian và giá trị đạo đức…Vì tất cả đều mang tính cách tương đối bởi vì cùng một hành động mà có người cho là đúng còn kẻ khác nói là sai. Những người lãnh đạo chánh quyền luôn luôn cố gắng tìm sự công bằng cho xã hội, nhưng thật ra từ xưa tới nay cái công bình do con người tạo ra bằng những khuôn mẫu pháp luật chỉ đạt được kết quả giới hạn mà thôi. Chẳng hạn như có một bộ lạc bán khai có tục lệ giết một trinh nữ mỗi năm để làm lễ tế thần. Mặc dù cô gái được chọn cũng cảm thấy vinh dự về sự hy sinh của mình và đối với họ hành động nầy là thiện trong khi những dân tộc khác thì cho hành động nầy là man rợ, độc ác. Một ví dụ khác là chúng ta rầy la con cái để chúng siêng năng học tập. Hành động nầy mới thấy thì có vẻ bất thiện, nhưng về sau nếu con của chúng ta trở thành người tốt thì việc làm của chúng ta ngày nay là việc thiện. Có một câu chuyện thần thoại nói về sự phân biệt giữa thiện và ác. Lúc đó có hai ông tiên, một già, một trẻ xuống trần thăm dân cho biết sự tình: Địa điểm đầu tiên mà hai vị đi tới là một dinh thự nguy nga lộng lẫy để xin ngủ qua đêm. Nhà thì rộng mà chủ nhà chỉ cho tá túc ở dưới basement lạnh lẽo. Trên đường xuống nơi tạm nghỉ, vị tiên già thấy một lỗ trống trên tường nên dùng phép để lấp lại. Đêm kế tiếp, hai vị ghé căn nhà của một cặp vợ chồng nghèo sanh sống nhờ vào một con bò và khu vườn nhỏ. Cặp vợ chồng này tiếp đãi hai vị tiên nồng hậu. Hai vị tiên được mời ăn uống và họ nhường cái gường của mình cho hai vị tiên ngủ. Sáng hôm sau, khi mọi người thức giấc thì thấy con bò bị chết. Cặp vợ chồng khóc nức nở nhưng chẳng than Trời oán Phật chi cả. Thế rồi hai vị tiên ghé một sòng bài để giải trí. Trong sòng bạc có một người đang say mê đánh bài. Lúc đó anh ta thắng liên tục với đống tiền rất to trước mặt. Vị tiên già tới gần và vô tình đụng vào ly rượu trên bàn người đánh bài làm ly rượu rớt xuống đất bể tan. Người đánh bài tức giận mắng chửi vị tiên già rồi ôm đống tiền bỏ đi và phàn nàn rằng:”Mình đang thắng mà tới phá phách làm cho người ta xui”. Khi về đến thiên giới, vị tiên trẻ nói với vị tiên già bằng một giọng bực bội rằng:” Tôi chẳng hiểu đầu óc của anh dạo nầy làm sao ấy. Tưởng đi với anh để học được chuyện khôn ngoan, đạo đức nào ngờ thấy toàn là những chuyện trái tai gai mắt không à. Tại sao anh lại giúp tên nhà giàu bần tiện đối xử bạc đãi với anh em mình? Hắn cho anh em mình ngủ dưới hầm lạnh lẽo mà anh lại lấp lỗ tường dùm cho hắn? Còn cặp vợ chồng kia thì họ rất tử tế với mình mà anh không dùng quyền phép cứu con bò để họ làm kế sinh nhai? Còn chuyện người đánh bài đang thắng có đụng chạm gì tới anh đâu mà anh lại hất ly rượu của ông ta xuống đất? Vậy là thế nào? Vị tiên già từ tốn và hiền hòa đáp:”Thấy vậy mà không phải vậy đâu chú ạ”. Sự thật là như thế nầy: Thứ nhất, vì ông nhà giàu mà ích kỷ không biết thương người, không muốn tạo thêm phước đức nên mặc dầu có đống vàng ở trong nhà mà cũng không hưởng được. Bởi vì trong lỗ hổng có giấu vàng mà hắn không tạo phước nên ta lấp lại cho hắn không thấy thì hắn không hưởng được. Như vậy phước đức chính là kho vàng trong nhà của mình đó mà không thấy. Chuyện thứ hai lúc ta đang ngủ trên giường của cặp vợ chồng nghèo khổ kia, ta thấy thần chết tới lấy mạng của người vợ nên ta đã cho thần chết con bò để thế mạng cho người vợ. Còn chuyện người đánh bài, vì cờ bạc mà ông ta vay mượn nhiều người làm cho vợ con đói khổ chẳng có tiền mua thức ăn. Ta thấy anh ta sắp thua trở lại nên làm cho anh ta “xui” để anh ta đem tiền về đưa cho vợ mua thực phẩm cho gia đình và trang trải nợ nần. Tuy con người có quan niệm khác nhau về sự thưởng phạt của thiện ác, nhưng Luật Nghiệp Báo thì lúc nào cũng đại diện cho sự công bình tuyệt đối vì đó là sự thưởng phạt công minh và không bị biến thiên theo hoàn cảnh. Thật vậy, những gì một người làm cho kẻ khác dựa theo luật Nghiệp Báo thì nó sẽ đền bù trở lại cho họ một cách công bình, chắc chắn và hợp lý. Một thí dụ là có một tay buôn bán ma túy số lượng lớn bị bắt và bị kết án chung thân. Nói theo luật pháp thì hắn ta đã nhận lấy hậu quả của tội lỗi mình một cách thích đáng, nhưng còn Luật Nghiệp Báo sẽ đối xử với hắn ta ra sao? Sau khi chết hắn sẽ tái sinh vào một gia đình mà cha mẹ là những kẻ nghiện ngập ma túy nằm trong đường dây buôn lậu của hắn ta từ kiếp trước. Sau đó cha mẹ hắn ta phạm tội rồi bị tống giam và hắn ta bỗng nhiên trở thành kẻ lêu lỏng rồi biến thành người nghiện ma túy. Hắn cần tiền để thỏa mãn tính nghiện ngập nên đi cướp bóc và bị bắn chết. Tuy vậy cái nghiệp ma túy của hắn chưa hoàn toàn chấm dứt, nên nhiều đời sau hắn ta lại tiếp tục tái sinh vào những gia đình có người nghiện ngập. Cái sa đọa đau thương mà hắn đã gieo rắc cho kẻ khác đã trở thành cái màng nhện quấn lấy hắn ta trong nhiều kiếp luân hồi. Thí dụ trên cho thấy cái bản án của luật pháp dành cho kẻ phạm tội không phản ảnh trung thực được cái quả báo của Luật Nghiệp Báo. Rõ ràng Luật Nghiệp Báo chứng tỏ rằng kẻ vào tù chưa phải là đã trả xong nợ cũ bởi vì luật pháp xã hội của con người chỉ là một khía cạnh nhỏ mà Luật Nghiệp Báo mới thật sự biểu hiện một cách khách quan cho ân oán phân minh. Chính Luật Nghiệp Báo rất phù hợp với lương tâm của con người nên không nhất thiết chúng ta là người Phật tử mới thấy nó hợp lý mà ngay cả những người không có khuynh hướng tín ngưỡng cũng chấp nhận sự thật của chân lý nầy. Họ tin rằng có một sự công bình mầu nhiệm chi phối đời sống của con người để người tốt sẽ hưởng được nhiều may mắn và kẻ ác tất nhiên phải gánh chịu nhiều tai vạ. Mặc dầu Phật có dạy đời là biển khổ, nhưng trong nhân gian ai ai cũng cố bám vào sự sống. Có những người nghèo khổ, sống lây lất ở hè phố qua ngày không có mái nhà để che thân, còn kẻ khác thì vướng bệnh hiểm nghèo mà họ vẫn xem sự sống là một cái gì thật vô cùng quý giá. Thế nên hành vi tước đoạt mạng sống của kẻ khác được xem là sa vào một tội ác nghiêm trọng. Nếu một kẻ giết người thì đối với luật pháp xã hội đôi khi có thể chỉ lãnh khoảng mười năm đến hai, ba mươi năm tù, nhưng Luật Nghiệp Báo sẽ quyết định về tương lai của hắn ta một cách công bình và hợp lý. Nếu trong khi bị giết mà nạn nhân khởi niệm căm thù và muốn trả oán thì những tư tưởng đó sẽ biến thành hành động cho đời sau và do đó chắc chắn người nạn nhân nầy sẽ trở thành thủ phạm ở đời sau. Một lần nữa Ý Nghiệp đời nầy sẽ chuyển thành Thân Nghiệp cho đời kế tiếp. Tuy nhiên có những trường hợp mà nạn nhân không có ý niệm trả thù bởi vì lúc đó họ chỉ chú tâm nghĩ đến người thân, tiền tài của cải …hoặc có thể họ đạt được hạnh nhẫn nhục cao độ thì đời sau thủ phạm sẽ bị giết bởi một người khác hoặc có thể họ bị một tai nạn như lật xe, rớt máy bay, bị sét đánh… Nếu có kẻ đã giết người quá nhiều thì quả báo dành cho họ là thường xuyên bị giết hại ở nhiều kiếp về sau. Tệ hại là có thể bị hãm hại khi còn ở trong bụng mẹ nhiều lần. Đây là ứng dụng vào những vụ phá thai. Thêm nữa, khi giết người chồng có nghĩa là người vợ và những đứa con sẽ bơ vơ, côi cút và nghèo khổ do đó cái quả báo dành cho tên sát nhân là đời đời sinh ra bị bỏ rơi, nghèo khổ, lang thang và dốt nát. Đó là chưa kể khi giết một người tức làm đổ vỡ những sự nghiệp của người đó đang cố gắng xây dựng thì quả báo dành cho tên sát nhân là thường xuyên gặp thất bại ở đời sau. Chưa hết, một người bị giết sẽ làm cho nhiều người thân đau khổ thì cái quả báo dành cho tên sát nhân là thường xuyên rơi vào tâm trạng tuyệt vọng đau khổ giống như những kẻ bị bệnh hoang tưởng tâm thần. Tuy nhiên không phải hễ giết người là phải hứng chịu lấy quả báo như nhau. Việc thọ nhận quả báo vẫn còn tùy thuộc rất nhiều tùy theo giá trị và hoàn cảnh của người bị giết. Chẳng hạn như người bị giết là một công dân lương thiện làm được rất nhiều lợi ích cho xã hội hay là một vĩ nhân thánh thiện như thánh Gandhi, người đã từng đem lợi ích lớn lao cho nhân loại thì quả báo mà thủ phạm phải trả là cực kỳ đau khổ. Hắn sẽ bị đày đọa hành hạ ở vô số kiếp, có khi làm súc vật bị đánh đập giết hại và có khi làm người bần tiện khốn cùng bị giết chết. Ngược lại nhân viên cảnh sát trong lúc đang thi hành nhiệm vụ đã bắn chết một tên cướp nhà băng nguy hiểm đang gây án. Tên cướp nầy đã từng giết người cướp của gây kinh hoàng cho mọi người thì tội giết người trong trường hợp nầy không đáng kể. Chẳng những thế khi không còn tên cướp thì xã hội sẽ được bình yên hạnh phúc vì thế anh cảnh sát sẽ hưởng thêm một số phước đức. Đây chính là sự công bình của Luật Nghiệp Quả. Là người Việt Nam thì không ai quên được cuộc chiến kéo dài bao năm trên đất nước khổ đau nầy. Nếu người chiến sĩ chiến đấu ở tuyến đầu để bảo vệ sự an bình cho người dân ở hậu phương thì việc bắn giết là điều không thể tránh. Nhưng cái tội đó có thể được bù đắp bởi công lao đã giữ gìn cho sự yên ổn của rất nhiều lương dân ở sau chiến tuyến. Chỉ khi nào người chiến sĩ nằm trong quân đội đi xâm lăng nước khác thì lúc đó tội của anh ta mới lớn. Sát hại con người thì như thế còn sát hại thú vật thì Luật Nghiệp Quả định đoạt như thế nào? Khi giết một con vật thì nghiễm nhiên chúng ta đã tước đoạt sự sống của nó, do đó chính mình đã tạo nên nghiệp rồi. Nhưng tùy theo giá trị của con vật mà có sự phân biệt nặng nhẹ giữa tội và phước. Khi con người nuôi súc vật để lấy thịt như bò, heo, gà, vịt…thì cái phước nhỏ ở đây là cung cấp thực phẩm cho nhân loại, nhưng cái tội lớn là giết hại biết bao mạng sống của con vật. Thêm nữa, con người càng ăn thịt thì họ sẽ sinh ra nhiều bịnh tật như đau tim, ung thư, nhiễm thú tính…vì thế họ đã gây ra một số tội nghiệp nữa rồi. Một cái phước nhỏ mà phải đổi lấy bao cái tội lớn thì Nghiệp Báo của họ sẽ khủng khiếp về sau.Trong xã hội hiện nay, chúng ta đôi khi nghe có người làm nghề giết thịt như mổ bò, heo, gà, vịt…Đến khi gần chết họ bỗng trở bệnh kêu la rên xiết như heo và thấy ảo ảnh có vô số thú vật đến cắn xé, đòi mạng. Ngay cả con cháu đứng kế bên đâu có thấy gì mà họ cứ gào thét. Thật là bi thảm. Khi mạng chung để chuyển qua kiếp sau thì chắc chắn họ phải đọa làm thú để chịu cảnh đau đớn khi bị mổ giết. Dù chỉ hành nghề trong một đời, mà đã giết hại quá nhiều thú vật nên họ phải đọa làm thú liên tiếp nhiều kiếp về sau để trả cho hết oan trái ngày xưa. Thân người mà phải đọa làm thú thì thật là thê thảm. Vậy còn có những trường hợp nào khác mà con người sẽ bị đọa làm thú vật ở kiếp sau? Thông thường những kẻ nào tạo những nghiệp thấp hèn, đê tiện làm mất nhân phẩm và giá trị sẽ bị đọa làm thân thú vật ở đời sau để gánh chịu sự khinh rẻ, coi thường. Trước hết là phạm vào tà dâm, loạn luân và phá vỡ luân thường đạo lý của xã hội loài người. Nếu con người không thể kìm chế dục vọng của mình, tà dâm không tiết độ thì rõ ràng hạnh nghiệp tương đương với dục vọng của loài thú rồi. Có người đời trước thọ nhận rất nhiều tài vật của người khác một cách bất chính như trộm cướp, giật nợ hoặc tu sĩ nhận cúng dường nhưng không giới hạnh cộng thêm với tư cách ích kỷ hèn kém thì kiếp sau họ sẽ bị đọa làm các loài lao động như trâu, bò, ngựa…để trả nợ. Còn nếu họ chỉ mắc nợ tài vật mà có tư cách tốt thì đời sau vẫn được làm người nhưng phải lao động quần quật để trả nợ. Do đó chỉ những tài sản được tạo nên từ công lao của mình một cách chân chính, dù ít hay nhiều, thì mới thật là thành quả đền bù của cuộc sống và sẽ không lo sợ trả nợ về sau. Đây mới là sự công bình thật sự trong cuộc đời. Có người lòng dạ thật ích kỷ đã biến thành hành vi tranh giành cấu xé đồng loại không thương tiếc thì cũng giống như loài thú. Nhiều người vì quá ích kỷ chỉ nghĩ đến mình, không ngại dùng mọi thủ đoạn hiểm độc để bức hại kẻ khác để thủ lợi cho mình thì tư cách nầy chẳng khác chi loài thú chỉ biết sống theo bản năng ích kỷ, tranh giành. Hành vi giống thú thì quả báo đọa làm thú là điều không tránh khỏi Khi nóng giận, có người hay chửi mắng kẻ khác là trâu, bò, chó, heo…Lời nói ác độc nầy được lập đi lập lại nhiều lần trong suốt cuộc đời sẽ đủ sức kết thành quả báo để đọa họ làm thân thú vật ở đời sau. Do đó ngậm máu phun người dơ miệng mình là như vậy. Chó thì có chó Tây, chó Mỹ và chó Việt. Trong khi phần lớn chó Mỹ được cưng chiều, sung sướng còn chó Ta thì đói khổ mà còn bị con người làm thịt. Tại sao có sự bất bình đẳng nầy? Quả báo nầy có hai nguyên nhân, một là khi còn làm người ở đời trước thì nó có nhiều ân nghĩa với người chủ và đã giúp đở người chủ đắc lực mặc dầu nó đã gây ra một số nghiệp bỉ ổi, mất nhân phẩm. Do nghiệp kém nhân cách, nó phải đọa làm chó, nhưng do ân nghĩa lớn lao với chủ ngày xưa nên nó được cưng chiều như vậy. Có người nói rằng cây cỏ, rau quả cũng có sự sống thì người ăn chay có mang tội sát sanh hay không? Khi cắt một ngon rau tức là chúng ta đã xâm phạm đến đời sống của sinh vật thì việc tạo nghiệp là hiển nhiên có nhưng rất nhỏ. Khoa học ngày nay chứng minh rằng thực vật cũng có phản ứng tâm linh, nhưng những phản ứng về khả năng sinh tồn nầy quá thô thiển và đơn giản cho nên nói chung cây cỏ không có những dấu hiệu đau đớn khi chúng ta cắt cây, tỉa cành hay hái quả. Nếu một người suốt đời ăn chay, tiêu thụ rất nhiều rau quả thì cái cộng nghiệp nầy cũng không phải nhỏ, nhưng việc tu hành khiến họ làm rất nhiều điều phước thiện, giáo hóa để tăng trưởng đạo đức cho kẻ khác thì những cái phước nầy sẽ quá dư để bù lại cái tội kia. Vào năm 1966, ông Backster, nhà bác học đã chế ra bộ máy điện tử để đo lường nói dối, đã làm một cuộc thí nghiệm chứng minh rằng khi sống cạnh nhau, cây cối để ý canh chừng nhau. Khi có một động vật chẳng hạn như con nhện tới gần tạo mối nguy hiểm thì cây cỏ quay sang canh chừng con nhện. Ngoài ra, cây cỏ còn có trí nhớ để nhận biết những chuyện phá hoại chúng và chúng còn biết thương yêu người chăm sóc và biết sung sướng khi người đó trở về Cây càng lớn và lâu năm thì năng lực tâm linh càng mạnh. Ở Việt Nam có những cây đại thọ mọc ở sau đình. Khi có người muốn đốn nó thì phản ứng tâm linh của cây đủ sức làm cho người kia mang bệnh mà chết, nhưng người dân không hiểu thì cho rằng động đến thần linh ở trên cây là tuyệt mạng. Như vậy đốn cây là tạo nghiệp còn việc trồng cây, bảo vệ rừng là một phước lớn. Ánh Đạo Vàng
  20. Cười là bố thí. Thích Hải Tín Đầu xuân lên chùa thấy Đức Di Lặc cười, ta cũng cười. Có mấy ai nghĩ rằng cười được với nhau cũng là một cách bố thí. Vậy cười cũng có thể bố thí sao? Nghĩ kỹ lại thấy rất đúng, cười được với nhau là cho nhau tin yêu, hoan hỷ và cảm thông, đó cũng là bố thí. Nói đến bố thí, chúng ta thường biết có tài thí như bố thí tiền tài, của cải vật thực; pháp thí là đem lời hay lẽ phải, chân lý đúng đắn, những lời dạy quý báu khuyên bảo người khác, giảng kinh thuyết pháp, in ấn kinh sách; và vô úy thí là an ủi, làm cho người khác không sợ hãi, tăng thêm dũng khí, niềm tin… Như vậy trong ba pháp bố thí ấy, nở một nụ cười thuộc loại vô úy thí. Ví dụ như, người đi khám bệnh, sau khi khám xong chỉ cần bác sĩ nở nụ cười sẽ khiến cho trạng thái tâm lý lo sợ hồi hộp của bệnh nhân tan biến ngay. Nếu bác sĩ mỉm cười an ủi khích lệ, chắc chắn hiệu quả trị liệu sẽ hoàn toàn khác. Tâm lý học hiện đại cho rằng, trạng thái tâm lý có thể cảm hóa người khác. Có một câu chuyện như sau: Có một thợ làm tóc đi mua đồ, gặp phải gương mặt lạnh của người bán hàng, cả ngày trạng thái tình cảm của người thợ làm tóc không tốt cho nên ảnh hưởng đến kết quả làm việc cũng không tốt. Cuối ngày người thợ làm tóc làm mặt cho một người khách, do trạng thái tình cảm không tốt nên làm trầy mặt người khách, sau khi tranh cãi, nhìn lại người khách xui xẻo kia lại chính là người bán hàng mặt lạnh lúc sáng. Mỗi người đều có kinh nghiệm như vầy: Dù một câu tranh cãi cũng khiến mình mấy ngày không vui, thậm chí trút giận lên người khác hoặc đồng sự; một nụ cười luôn luôn khiến mình cảm thấy an vui, những người xung quanh cũng cảm thấy thân thiện, hiệu quả công việc cũng từ đó mà được nâng cao. Ðây chính là sức hấp dẫn kỳ lạ của nụ cười, chúng ta không thể xem thường nó. Có một số đệ tử xuất gia của Phật cho rằng phải giữ nét mặt cho nghiêm, làm gì cũng không dám mỉm miệng cười, nếu cười e rằng mất oai nghi, do vậy giữ nét mặt nghiêm đến nỗi gần như lạnh nhạt, khiến mọi người "kính nhi viễn chi", như vậy là người có oai nghi. Mỉm cười là mất oai nghi sao?! Thiền tông có một giai thoại: Một bà lão đã cúng dường một thiền tăng hơn 20 năm rồi, hôm nọ bà lão có ý để một cô gái tuổi thanh xuân xinh đẹp đến thân cận cúng dường, thiền tăng không chút động lòng còn nói “khô mộc ỷ hàn nham, tam đông vô noãn khí” (cây khô bên núi lạnh, ba đông không mảnh tình). Sau khi biết được, bà lão giận dữ nói rằng: “Tôi cúng dường 20 năm chỉ nuôi một tục hán!”. Thế là bà đuổi đi và đốt luôn am cỏ. Thiền là sinh động hoạt bát, tràn đầy sức sống thiền vị, vị thiền tăng kia không hiểu ý này, tuy tu nhiều năm nhưng chưa đạt được thiền vị chân chánh, đành phải cuốn gói ra đi. Có người cho rằng Phật giáo là tôn giáo của niềm vui, tôn giáo của niềm hoan hỷ và đệ tử của Phật là những người hoan hỷ trên thế giới. Đó là một sự thật, pháp hỷ không những tồn tại ở nội tâm mà cũng hiện ra ở bên ngoài, một nụ cười hàm tiếu, một câu nói nhẹ nhàng cũng khiến cho chúng sanh thấm nhuần pháp hỷ thiền duyệt, đây chẳng phải lúc nào cũng thực hành pháp bố thí một cách thiết thực đó sao! Ðức Phật dạy rằng: “Hoan hỷ là nguồn gốc mở mang trí tuệ của những người giác ngộ”. Có người sẽ nói, ôi mỉm miệng cười ai mà không làm được, chuyện nhỏ sao gọi là pháp bố thí? Kỳ thực, cái gọi là “mỉm cười” của đa số mọi người chỉ là sự vận động của bắp thịt trên gương mặt, hoàn toàn không phải phát xuất từ nội tâm, đương nhiên không có sức cảm hóa người khác một cách sâu sắc. Khi có niềm hoan hỷ từ nội tâm thì nụ cười hàm tiếu sẽ hiện ra. Tất cả chúng ta đều có thể nghiệm như vầy, mỗi khi chúng ta có nhân duyên thân cận những vị cao tăng hoặc chư vị thiền giả, điều đầu tiên chúng ta nhận thấy đó là nét mặt từ hòa, nụ cười của những vị ấy sẽ khiến cho chúng ta không thể quên, giống như thắp lên một ngọn đèn sáng trong tâm linh của chúng ta. Khi nụ cười của chúng ta tràn đầy pháp hỷ thiền vị, cũng có thể thắp lên ngọn đèn tâm linh cho những người khác, chắc chắn chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng hạnh phúc, an lạc. Một người dù mọi lúc mọi nơi dùng nụ cười chân thành để đối đãi với mọi người, cảm hóa mọi người, đó cũng chính là sự hiển lộ của Phật tánh, bắt đầu giác ngộ, chính là phát Bồ đề tâm. Ðặc biệt là hàng đệ tử của Phật cần dùng nụ cười hàm tiếu tràn đầy niềm hoan hỷ thiền vị thông qua lời nói và việc làm để ảnh hưởng những người xung quanh, khiến cho mọi người có duyên thân cận với giáo pháp, quy y Tam bảo, dần dần đi vào con đường giải thoát an vui hạnh phúc. Chúng ta kính ngưỡng Bồ tát Di Lặc không chỉ vì gương mặt Ngài lúc nào cũng mang một nụ cười hoan hỷ, đem lại cho mọi người một niềm tin, an lạc. Chúng ta nên học hạnh Bồ tát để nụ cười hoan hỷ phát xuất từ nội tâm của chúng ta tưới ướt ruộng tâm gần như khô cạn của con người trên thế giới. Như vậy cười là một pháp bố thí. Bố thí là một pháp trong Tứ nhiếp pháp, là một pháp trong Lục độ vạn hạnh của Phật giáo. Bất cứ ai cũng có thể thực hành, để đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc, niềm an lạc cho chính mình và tất cả mọi người. ---o0o--- Nguồn: Báo Giác Ngộ
  21. Những kinh nghiệm qua sự việc 'ca sĩ khóa môi nhà sư' Đến hôm nay sự việc hai tăng sĩ tham gia buổi đấu giá từ thiện và có màn "khóa môi" được đánh giá là phản cảm với một ca sĩ nổi tiếng đã khép lại. Sự việc không đơn giản như mọi nghĩ ban đầu. Nó trở thành tâm điểm gây nên cơn bão dư luận khắp các mặt báo mạng và bị các cư dân mạng những Phật tử quá khích ném đá không thương tiếc. Người trong cuộc đã hối lỗi ăn năn, sám hối, viết tâm thư. Người ngoài cuộc cũng cảm thấy có liên quan. Giới showbiz vẫn bình chân như vại, với họ mà nói scandal đã trở thành thói quen, thứ gia vị không thể thiếu trong bữa cơm hằng ngày. Dư luận các bên cũng bắt đầu lắng dịu. Xem ra chỉ có hình ảnh tăng đoàn là bị tổn hại nghiêm trọng, niềm tin nơi Phật giáo suy giảm đi ít nhiều. Sau cơn khủng hoảng truyền thông, đây là lúc thích hợp để nhìn lại mọi việc một cách thấu đáo hơn nhằm rút ra bài học kinh nghiệm xương máu trong công cuộc hoằng pháp lợi sanh sau này của Phật giáo. 1. Về mặt cá nhân người trong cuộc Quý sư phạm lỗi đã có tăng đoàn giáo hội xử phạt theo giới luật. Song về mặt cá nhân tôi nghĩ quý sư cũng không ngờ một phút "bốc đồng" của mình lại để lại di họa khó tưởng tượng như vậy. Điều này xảy ra vì chúng ta đang sống trong một thế giới mở hơn rất nhiều. Internet góp phần phát tán thông tin đi với cấp lũy thừa. Internet không có tội, nó chỉ là phương tiện như bao phương tiện khác. Trong những trường hợp thế này, đối với đương sự, phương án đối phó hay nhất là hãy xin lỗi và im lặng.Mọi phát ngôn dù nhỏ nhất sẽ bị mọi người đem ra mổ xẻ phân tích làm trầm trọng thêm vấn đề vốn rất trầm trọng. 2. Về mặt tăng đoàn giáo hội. Sự lên tiếng của người đại diện tăng đoàn hoặc giáo hội là cần thiết một là thay lời người trong cuộc, hai là để trấn an dư luận, ba là để chủ trì công đạo. Trong sự kiện này tăng đoàn đã xử lý rất tốt. Ngay sau khi có thông tin chư tăng Thiền viện Phước Sơn đã tiến hành lễ Tác pháp Yết Ma, cử tội chung đối với hai vị thì "cơn bão" đã có phần lắng dịu. Tuy nhiên giáo hội cũng cần có người phát ngôn chính thức để tỏ rõ lập trường, thể hiện sự quan tâm của giáo hội đối với tăng chúng và các sự kiện xã hội Đối phó với dư luận truyền thôn, giải trừ những nghi vấn của bà con Phật tử là một lẽ. Nhưng giáo hội cũng cần điều tra sự việc kỹ càng các nguyên nhân và đưa ra các đối sách phòng tránh các sự việc đáng tiếc sau này để tránh bị lợi dụng bởi ngoại đạo và giới truyền thông lá cải. 3. Về mặt truyền thông đại chúng Đương nhiên chúng ta không thể cấm giới truyền thông khai thác các thông tin giật gân nóng hổi. Chúng ta không nên né tránh, cũng không được chỉ trích giới truyền thông. Né tránh sẽ khiến giới truyền thông tiếp tục khai thác, chỉ trích sẽ khiến họ đưa tin cay độc hơn. Cần nhìn thẳng vào sự việc một cách khách quan, nếu có lỗi hãy xin lỗi nếu có hiểu lầm hãy hợp tác với báo giới để đưa ra thông tin chính thức, rõ ràng có độ chính xác từ những người có liên quan. Trong những tình huống như thế này các cơ quan ngôn luận truyền thông Phật giáo giữ vai trò rất lớn. Không phải ngẫu nhiên mà báo chí được xem là quyền lực thứ tư. Truyền thông có thể định hướng dư luận bởi thế người làm báo cần phải có tấm lòng vă sự kiên định. Báo chí cần độc giả, truyền thông cần sự kiện nhưng cách thức truyền tải thông tin đến người nghe cần phải cân nhắc. Thông tin càng nhạy cảm thì người đưa tin càng cần phải cẩn thận. 4. Về mặt Phật tử Có nhiều quý vị Phật tử rất bức xúc và có những bình luận gay gắt. Điều này có thể hiểu được nhưng đứng ở góc độ người học Phật tu Phật thì điều này không có lợi cho cả bản thân nói riêng và Phật giáo nói chung. Trước tiên phải giữ bình tĩnh, tìm hiểu sự việc kỹ càng qua nhiều góc độ. Dư luận nói gì, người trong cuộc nói gì, kẻ liên quan nói gì. Nếu nhận định sai dẫn đến bình luận thiếu suy nghĩ không giúp ích gì được đã đành mà còn đổ dầu thêm lửa. Sự mất tỉnh thức trong trường hợp này rất dễ bị ngoại đạo và giới truyền thông lá cải khai thác lợi dụng. Khi bày tỏ ý kiến bằng các bài viết hoặc bình luận cần xem xét lại tâm mình xem xuất phát điểm từ đâu? Nếu là vì cái chung vì lòng từ bi mà góp ý thì rất nên làm; nếu chỉ vì bức xúc nhất thời, thỏa mãn cơn giận hoặc hùa theo đám đông thì không nên chút nào. Phật tử nói điều cần nói, làm điều cần làm và im lặng khi cần thiết là nói năng như chánh pháp, hành xử như chánh pháp. Hồng Hòa Vi - NAL
  22. Để tiêu trừ tai họa và sống thọ theo nhà Phật Làm thiện tránh ác là biện pháp tốt nhất tiêu trừ tai họa để được sống thọ. Bí quyết tiêu trừ tai họa và sống thọ nằm ở nơi sự thành tâm sám hối và phát nguyện hành thiện của chính mình. Lý luận nhân quả của Phật giáo nói lên sự quân bình của lực lượng tự nhiên. Tai họa xảy ra hay là thành đạt hạnh phúc đều là nhân quả báo ứng. Gieo nhân lành thì được quả lành, được phú quý và sống lâu. Gieo nhân ác thì chịu quả ác, gặp tai nạn và bệnh tật. Do vậy theo quan điểm của Phật pháp, làm thiện tránh ác chính là biện pháp tốt nhất để trừ tai họa và sống trường thọ. Nguyên lý tiêu trừ tai họa, sống thọ là nơi sám hối, phát nguyện. Quả báo đến thì phải chịu, thế nhưng khi phát tâm sám hối và phát nguyện, thì quả báo chưa sinh khởi có thể biến chuyển. Cũng giống như kẻ phạm tội, khi đem ra phán xử, mà biết nhận tội và ăn năn hối lỗi, chịu hợp tác với quan tòa, thì khi luận tội cũng sẽ được hưởng lượng khoan hồng. Ngày xưa có chuyện lập công chuộc tội. Ngày nay có lệ giảm tội mà không bắt giam, không khởi tố hoặc tiến hành hòa giải ngoài phạm vi của tòa án. Đây là những thí dụ tuy có nhân phạm tội, nhưng quả chịu tội được chuyển biến. Người cầu xin được tiêu trừ tai họa, sống thọ, không được một mặt cầu xin, một mặt cứ tiếp tục làm ác, mà phải sám hối, làm các Phật sự như tụng kinh lễ bái, bố thí cúng dường. Tức là dùng Phật pháp mở đường cho các oan gia trước đây của mình được lìa thoát cõi khổ, không còn hạch sách đòi nợ cũ nữa. Lại nhờ sức mạnh của phát nguyện mà nhân ác đã gieo được cải biến. Trái lại nếu cứ tiếp tục làm ác thì sẽ phù hợp với nhân ác đã gieo, tội ác càng chồng chất. Nếu bỏ ác làm lành thì có thể hạn chế những nhân tố ác đã làm và nhờ đó tránh khỏi tai họa. Vì vậy, phát nguyện, học Phật làm điều thiện có thể làm thay đổi vận mệnh tương lai. Đương nhiên, ở đây, còn có sức mạnh bất khả tư nghị của Phật pháp nữa. Trong kinh có nói, người quy y Tam Bảo sẽ được sự gia hộ của 25 vị đại thiện thần. Người làm lễ cầu tiêu tai họa và sống thọ, nếu đã quy y Tam Bảo thì cũng được sự gia hộ như vậy. Từ vô thỉ đến nay, nhân quả thiện ác xoay vòng mãi không thôi, cực kỳ phức tạp, ân oán chằng chịt đan xen. Người nào mắc nợ người nào, chúng sinh nói chung và cả đến bậc A La Hán nữa, cũng đều rất khó làm sáng tỏ vấn đề này. Nhờ sức mạnh Phật pháp và sự gia hộ của các vị thần hộ pháp, có thể tránh được những quả báo đáng lẽ phải chịu. Cũng như người giàu có không đòi những món nợ nhỏ đối với kẻ nghèo khổ. Nỗi oan gia ngày trước, nếu được siêu sinh thoát khổ rồi, thì nỗi oan ức và lòng giận cũng sẽ được giải trừ, không còn lấy oán báo oán nữa. Đó chính là đạo lý của việc tiêu trừ tai họa và cầu trường thọ. HT. Thích Thánh Nghiêm chuaphuclam.vn
  23. Mr Đàm không thể vô tình cùng hôn hai sư thầy "Nếu các thầy mong muốn khoái lạc vật chất thì Giáo hội Phật giáo cũng không cấm các thầy ấy trở lại cuộc đời. Nhưng Giáo hội cấm việc làm ảnh hưởng đến niềm tin của mọi người, ảnh hưởng đến hình ảnh của Giáo hội" - Đại đức Thích Đức Thiện, Ủy viên thư ký Hội đồng trị sự TW GHPGVN cho biết trước sự việc hai nhà sư bị ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng hôn cùng giới. Đàm Vĩnh Hưng không thể hành động cùng lúc với cả hai Theo Đại đức Thích Đức Thiện, Giáo hội Phật giáo cũng mới nhận được thông tin về trường hợp của hai nhà sư Thích Giác Ân (trụ trì chùa Quan Âm, ở xã Long Thuận, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp) và Thích Pháp Định (Thiền viện Phước Sơn, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai). Giáo hội sẽ có ý kiến cho Ban trị sự Phật giáo tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Đồng Nai xem xét việc này, đồng thời có sự gặp gỡ các thầy để tìm hiểu, trao đổi và rút kinh nghiệm. Làm từ thiện là điều rất tốt, nhưng không có nghĩa là làm ảnh hưởng đến hình ảnh của Phật giáo, của Giáo hội. Có nhiều cách để làm từ thiện, để thể hiện tình cảm với nghệ sĩ đang mắc bệnh hiểm nghèo kia, ví dụ như mở một cuộc sáng tác những bài hát về Phật giáo, từ đó quy tụ các nghệ sĩ lại, chứ không phải đi đấu giá một chai rượu rồi có những hành động ôm hôn để tỏ vẻ thân thiết. Còn đối với các Phật tử, có nhiều cách để kêu gọi các thầy ấy giúp đỡ cho trường hợp cụ thể của ca sĩ kia, không việc gì phải đưa các thầy lên để tạo nên một sự khác biệt để rồi gây ồn ào trong xã hội. "Các thầy ấy mua vui hay muốn thể hiện điều gì thì thầy không biết, nhưng dẫu sao để cho dư luận bàn tán như thế cũng là lỗi của các thầy. Mong rằng các thầy sẽ suy nghĩ và sẽ chín chắn hơn", Đại đức nhấn mạnh. Đại đức Thích Đức Thiện cho hay, trong đạo Phật, vấn đề chính là bản chất chứ không phải hình thức nhưng hình thức lại rất quan trọng. Ví dụ, việc tu tập của các thầy chính là ở việc có gìn giữ thân, khẩu, ý có tốt hay không và việc tu hành thế nào. Nhưng đã là hình tướng của người tu hành thì cái đầu, cái tóc cũng rất quan trọng. Đại đức Thích Đức Thiện: "Đây là nỗi buồn của Giáo hội Phật giáo" Trở lại sự việc của hai nhà sư, cho dù bản chất tấm lòng là tốt nhưng những hành động của các thầy, cho dù là vô tình, thì cũng đã để lại ấn tượng không tốt. Có nhiều người âm thầm giúp đỡ các trường hợp khó khăn mà không cần làm rùm beng. Nếu so sánh, thử hỏi các thầy ấy làm từ thiện được bao nhiêu so với các thầy khác để mà dùng mục đích này biện minh cho những hành động kia? Đạo Phật có nói về mối quan hệ giữa ý, tâm và hành động, trong đó tâm và ý là vấn đề quan trọng. Người ta không chỉ phạm vào giới luật khi hành động xảy ra mà phạm luật từ khi khởi tâm ý ở trong con người. Có thể chưa xảy ra hành động dâm dục nhưng ý dâm dục thì người ta đã phạm vào giới luật. Thành thử không thể nói rằng, những hành động kia chỉ là để làm mọi người vui, đặc biệt một vị sư thì không thể mua vui như thế được. Theo Đại đức Thích Đức Thiện, nếu là sự tình cờ thì hành động ôm hôn chỉ xảy ra với một thầy chứ không thể xảy ra với thầy thứ hai. Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng không thể có hành động đó cùng một lúc với cả hai. Chắc chắn phải có khoảng cách thời gian, vì thế thầy Giác Ân không thể biện minh rằng đấy là sự vô tình hay tình cờ. "Vì vậy, cho dù các thầy ấy có làm việc từ thiện đến như thế nào đi chăng nữa thì thầy nghĩ rằng cái mất mát lớn nhất ở đây là các thầy đã đánh mất niềm tin của con người vào một tôn giáo thánh thiện. Đây là nỗi buồn của Giáo hội Phật giáo. Nếu các thầy mong muốn khoái lạc vật chất thì Giáo hội cũng không cấm các thầy ấy trở lại cuộc đời. Nhưng Giáo hội cấm việc làm ảnh hưởng đến niềm tin của mọi người", Đại đức Thích Đức Thiện nói. Biệt chúng Trong một diễn biến khác có liên quan, sáng 7/11, chư Tăng Thiền viện Phước Sơn đã tổ chức lễ tác pháp Yết Ma cử tội chung đối với hai nhà sư Thích Giác Ân và Thích Pháp Định - những người bị ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng hôn trong đêm từ thiện 4/11. Nói về hướng giải quyết vụ việc sau lễ tác pháp Yết Ma, Thượng tọa Thích Bửu Chánh, Phó Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai, trụ trì Thiền viện Phước Sơn cho biết trên báo Kiến thức: “Sau lễ tác pháp Yết Ma, về phía Thiền viện chúng tôi quyết định biệt chúng (ở trong phòng không tiếp xúc với ai - PV) 3 tháng đối với quý thầy phạm lỗi để các thầy ăn năn sám hối. Ngoài ra chúng tôi cũng sẽ gửi một bản tường trình lên Lãnh đạo Hệ phái Phật giáo Nam Tông và Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Đồng Nai để có hướng giải quyết. Khi nào ở trên có quyết định cụ thể thế nào thì các thầy phạm lỗi sẽ theo đó mà thực hiện”. Sáng 7/11, chư Tăng Thiền viện Phước Sơn quyết định phạt hai nhà sư ở trong phòng 3 tháng không tiếp xúc với bên ngoài Thượng tọa Thích Bửu Chánh chia sẻ thêm, trong giới luật nhà Phật nếu người Tăng mà hôn người nữ cũng chỉ mới bị tội Tăng tàn chưa đến mực lột y mà chỉ cấm túc biệt chúng. Còn việc người nam hôn nam thì đến nay vẫn chưa có quy định cụ thể cần phải cần nhắc thêm. Bên cạnh đó, lúc Mr Đàm “khóa môi” thầy Thích Pháp Định, thầy ấy cũng bất ngờ, bị động chứ không phải là cố ý. Tuy nhiên với những hình ảnh đưa lên công luận đã gây ảnh hưởng đến uy tín của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tăng ni, Phật tử trong nước... nên chúng tôi trước mắt quyết định xử các vị này tội biệt chúng để ăn năn sám hối đã là khá nặng đối với các thầy rồi. Theo Thành Luân (ghi) - PNTD
  24. Lợi ích bất ngờ của phương pháp lạy Phật Phương pháp lạy Phật là kết tinh của những kinh nghiệm tu tập sâu sắc từ những truyền thống đạo học Đông phương. Do đó những lợi ích mang lại từ sự hành trì pháp môn này vô cùng lớn lao. Sự lợi ích đó đạt được cả trên hai phương diện thân xác cũng như tinh thần. - Về Thân, phương pháp lạy Phật mang lại những hiệu quả sau: 1. Trước hết, động tác lạy Phật là một phương pháp thể dục tốt. Với những cử động nhẹ nhàng, nhưng tất cả các bắp thịt trên toàn thân đều được vận động tối đa. Khác với lúc tập thể dục, vì thông thường khi thể dục chúng ta không vận động tất cả các bắp thịt đồng đều cùng một lúc. Ví dụ: khi đi bộ, chúng ta vận động nhiều bắp thịt ở chân. Chỉ có bơi lội chúng ta mới cử động toàn thân. Trong lúc lạy Phật, tất cả các bắp thịt trên cơ thể đều hoạt động làm khí huyết toàn thân lưu chuyển giúp chúng ta chữa trị các chứng thấp khớp, cũng như phòng ngừa các chứng bệnh hiểm nghèo khác.. 2. Các huyệt đạo quan trọng trên cơ thể được tác động. Từ huyệt bách hội trên đỉnh đầu xuống đến huyệt đan điền dọc theo xương sống và các huyệt ở tay chân. Chúng ta cảm thấy có một luồng khí nóng chạy đều khắp cơ thể và mồ hôi theo các lỗ chân lông tuôn ra. Theo y học Đông phương, một khi các huyệt đạo trên cơ thể được tác động, khí huyết sẽ lưu chuyển và bệnh tật sẽ tiêu trừ. 3. Sau khi lạy Phật xong, hãy ngồi xuống chừng mười lăm phút, chúng ta sẽ có cảm giác an lạc thư thái ngay vì các huyệt đạo đưọc tác động. Sự an lạc này rất sâu sắc, một kinh nghiệm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ đạt được trong lúc thiền định. Sự an lạc này mang lại cho chúng ta niềm hoan lạc suốt ngày. Từ đó những phiền não, những ưu tư, những đau buồn... cũng nhanh chóng tan biến. 4. Các trọng huyệt này tương ứng với các luân xa trong truyền thống yoga Ấn Độ. Các luân xa này nằm dọc theo xương sống từ đỉnh đầu xuống đến bàn tọa gồm bảy luân xa. Một khi được tác động, các luân xa này giúp chúng ta khai triển được những năng lực mầu nhiệm tiềm tàng trong mỗi người, tạo điều kiện thuận tiện cho việc phát triển tâm linh. - Về Tâm, phương pháp lạy Phật là phương pháp điều tâm để thanh tịnh ba nghiệp: thân, khẩu và ý (tư tưởng, ngôn ngữ và hành động). Phương pháp này giúp ta: 1. Tiêu trừ nghiệp chướng: Trong sự sám hối, thành tâm đảnh lễ mười phương chư Phật bằng cả thân tâm của mình. Quán chiếu sâu xa nguồn gốc tội lỗi, cùng bản tánh của tội lỗi. Quán tưởng hào quang chư Phật mười phương hiển hiện trước mắt, cũng như Phật tánh trong tự tâm tỏa rạng. Nhờ Phật lực hộ trì cùng nỗ lực tự tâm để thanh tịnh ba nghiệp. Với sự sám hối đó các ác nghiệp và chướng duyên đều được chuyển hóa. 2. Thiện căn tăng trưởng: Trong khi lễ lạy, hồi hướng cho kẻ thân người thù đều được lợi lạc, đều được thành tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát. Như thế Bồ Đề Tâm (thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh) được nuôi dưỡng, lòng từ bi được phát triển. Sự lễ bái hàng ngày đem lại cho chúng ta nguồn an lạc vô biên. Sự an lạc này giúp cho phiền não tiêu tan, sự trầm tĩnh trở lại trong tâm hồn và lòng thương cũng phát sinh đối với người ghét. 3. Đức khiêm cung phát sinh: Trong khi hạ mình xuống sát đất để lạy Phật, để thấy những thành đạt của mình chỉ là những giọt nước trong đại dương bao la, để thấy sự thành tựu của mình hôm nay là công ơn tác thành của nhiều người, từ đó tâm khiêm nhường phát sinh. Trong Kinh Đức Phật thường dạy, tâm khiêm nhường là cửa ngõ của trí tuệ và là con đường đưa đến giải thoát. Tóm lại, lạy Phật là một phương pháp rất đơn giản, ai tập cũng được, và tập bất kỳ nơi đâu và không cần phải sắm dụng cụ gì cả. Lạy Phật mang lại những lợi ích rất lớn cho cả thân lẫn tâm. Như thân thể thì cường tráng có thể chữa trị và phòng ngừa các chứng bệnh hiểm nghèo: bệnh tim, áp huyết cao, ung thư... Còn tinh thần thì an lạc thư thái, sống an vui hạnh phúc trong hiện tại, tạo điều kiện thuận tiện khai triển khả năng tâm linh vô biên để tiến tới giải thoát hoàn toàn. Thích Trí Hoằng chuaphuclam.vn
  25. Cô cám ơn về sự đóng góp của Rubi nhé ! Đã đổi tiêu đề vì tính chuẩn xác !