• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6.278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Bài viết posted by Thiên Đồng


  1. @ Cubin184

    Nhờ Bác xem hộ em gái tôi được không năm sinh em bé.

    Vợ sinh năm 1981, chồng sinh năm 1981, con gái đầu lòng sinh năm 2006. Em tôi nên sinh em bé thứ hai vào năm 2012 hay 2013?

    Cám ơn Bác nhiều

    Cả hai năm 2012, 2013 đều tốt. Tùy.

    @ dothanhdungdt,

    Nhờ bác xem hộ cho nhà cháu

    Chồng sinh năm 1980 Canh Thân

    Vợ sinh năm 1983 Quý Hợi

    Con trai sinh năm 2010 Canh Dần

    Cháu nên sinh bé thứ 2 vào năm nào thì tốt nhất ạ?

    Nên sinh đứa 2018.

    @Nhi512,

    Bác Thiên Luân ơi, tư vấn dùm em chút là , em sinh 1984 ( mạng Kim ), chồng sinh 1978 ( mạng Hỏa), vậy nếu muốn sinh con đầu năm 2012 ( mạng Hỏa , khắc mẹ, hợp cha ) thì có sao không bác ? và đến 2016 sinh thêm tập 2 để hợp với mẹ ( ko biết có khắc với cha không) thì có được không hả bác ? mong bác tư vấn giúp. Cảm ơn bác nhiều.

    Cha 1978 mạng Thủy theo Lạc Việt. Nên sinh đứa 2016, 2017. Tùy.

    Thiên Đồng


  2. THIÊN 19: TỨ THỜI KHÍ

    Hồng Đế hỏi Kỳ Bá: “Ơi ! Khí của tứ thời (bốn mùa), mỗi mùa đều cĩ sự biểu hiện khác nhau, sự khởi lên của trăm bệnh đều cĩ sự sinh ra của nĩ, phép cứu châm lấy gì làm chỗ định ?”[1].
    Kỳ Bá đáp : “Khí của bốn mùa đều cĩ nơi ảnh hưởng (trong thân thể chúng ta), phép cứu châm phải đắc được khí huyệt là chỗ định[2]. Cho nên mùa xuân thủ ở kinh tức là nơi phận nhục của huyết mạch, nếu nặng thì châm sâu, nếu nhẹ thì châm cạn[3]. Mùa hạ thủ ở thịnh kinh và tơn lạc, thủ ở phận gian, tuyệt nĩ ngay ở bì phu[4]. Mùa thu thủ huyệt Kinh và Du, khí tà ở tại phủ thì thủ huyệt Hợp[5]. Mùa đơng thủ huyệt Tỉnh, Vinh, và tất phải châm sâu mà lưu kim lâu”[6].
    Bệnh ơn ngược, mồ hơi khơng ra, thuộc về nhĩm 59 vết châm[7].
    Bệnh Phong thủy bì phu bị trướng, thuộc nhĩm 57 vết châm, châm lấy huyết ở bì phu cho đến hết[8].
    Bệnh xơn tiết châm bổ Tam âm chi thượng (tức Tam âm), châm bổ huyệt Âm Lăng Tuyền, tất cả đều lưu kim lâu, khi nào nhiệt khí vận hành mới thơi[9].
    Bệnh chuyển gân (cân) ở Dương thì trị Dương, chuyển gân ở Âm thì trị Âm, tất cả nên dùng phép thiêu châm[10].
    Bệnh đồ thủy, trước hết thủ huyệt dưới Hồn Cốc 3 thốn, dùng phi châm để châm, khi đã châm rồi lại dùng thêm phép đồng châm để châm đi châm lại nhiều lần, nhằm châm cho hết thủy, được vậy thì cơ nhục mới rắn chắc[11]. Khi thủy đến chậm thì lịng phiền muộn, khi thủy đến nhanh thì an tĩnh, cách ngày châm cho đến khi thủy ra hết mới thơi[12]. Nên uống loại thuốc làm thơng cái bế [13]. Trong lúc châm thì chỉ nên uống[14]. Trong lúc uống thì khơng được ăn, trong lúc ăn thì khơng được uống, khơng được ăn cái gì khác (ngồi thủy cốc) trong thời gian 135 ngày (mới bình phục)[15].

    Bệnh Trước Tý làm cho sự hành động khĩ khăn, hàn khí lâu ngày khơng hết, mau mau thủ huyệt Tam Lý[16].
    Cốt cứng rắn như thân cây cứng, (Đại và tiểu) trường đều bất tiện, thủ huyệt Tam Lý, nếu khí thịnh thì châm tả, khí hư thì châm bổ [17].
    Bệnh Lệ phong, tìm châm trên chỗ sưng thủng, dùng kim nhọn châm nơi ấy, dùng tay đè cho ác khí xuất ra, cho đến khi nào sự sưng thũng hết mới thơi, nên ăn những thức ăn đúng phép, khơng ăn những gì ngồi ra, để cĩ thể phát độc[18].
    Bệnh trong bụng thường kêu (sơi), đĩ là khí xung lên trên đến ngực, làm cho suyễn khơng đứng lâu được, đĩ là tà khí đang ở tại Đại trường, châm huyệt Nguyên của hoang, châm huyệt Cự Hư Thượng Liêm và Tam Lý[19].
    Bệnh tiểu phúc (Trường) đau dẫn xuống hịn dái, dẫn đến cột sống, thắt lưng, xung lên đến Tâm, tà ở tại Tiểu trường làm liên hệ đến hịn dái cho đến cột sống, xuyên qua Can, Phế, lạc với Tâm hệ, khi nào khí bị thịnh thì thành chứng Quyết nghịch, xung lên đến trường Vị, hơ nĩng Can, tán ra ở hoang, kết lại ở vùng rớn, vì vậy, nên thủ huyệt Nguyên của hoang để làm tán tà khí, châm kinh Thái âm để đoạt tà khí, châm kinh Quyết âm để hạ tà khí, châm huyệt Cự Hư Hạ Liêm để trừ tà khí, đĩ là xét theo các đường kinh mà tà khí đi qua để điều khí[20].
    Bệnh thường hay nơn, mỗi lần nơn ra nước đắng, hay thở dài ra, thở mạnh ra, trong lịng thấy trống rỗng, sợ cĩ người sắp đến bắt mình; đĩ là tà khí ở tại Đởm, nghịch lên đến Vị, chất dịch của Đởm tiết ra làm cho miệng bị đắng, Vị khí bị nghịch thì ĩi ra chất đắng, cho nên gọi là chứng ẩu Đởm, thủ huyệt Tam Lý nhằm làm cho Vị khí hạ xuống[21]. Khi Vị khí bị nghịch nên châm phần huyết lạc của kinh túc Thiếu dương nhằm làm cho khí đởm nghịch được dừng lại, nhằm điều hịa sự hư thực, đuổi được tà khí[22].

    Bệnh ăn nuốt khơng xuống, hồnh cách bị bế tắc khơng thơng, đĩ là tà khí ở tại Vị hỗn[23]. Nếu tà khí ở tại thượng hỗn thì nên châm để làm cho thượng hỗn đưa khí đi xuống, nếu tà khí ở tại hạ hỗn thì nên châm để làm cho hạ hỗn tán khí (tả)[24].
    Bệnh tiểu phúc, đau và sưng lên, khơng tiểu tiện được, đĩ là tà khí ở tại Tam tiêu, nên thủ huyệt Đại lạc của kinh túc Thái dương bàng quang, cĩ thể luơn cả tiểu lạc và tơn lạc, khi nào trơng thấy những tiểu lạc của (Thái dương) và Quyết âm kết thành huyết lạc, (trong khoảng mu bàn chân cho đến kheo chân), nên châm tả, nếu nĩ sưng lên đến vị hỗn thì thủ huyệt Tam Lý[25}. Nhìn cái sắc, xét cái bệnh do đâu mà ra, biết được bệnh đã tán (hết) hay cịn quay trở lại, xem màu sắc của mắt để biết được bệnh cịn hay hết, nên giữ bình tĩnh để giữ được sự hài hịa giữa hình và thần, lắng nghe sự động tĩnh, nắm giữ mạch Khí khẩu và Nhân nghênh, dựa vào mạch đang cứng và thịnh hoạt, đĩ là bệnh ngày càng tiến thêm, mạch nhuyễn (mềm) đĩ là bệnh đang giảm[26]. Nếu các kinh đang thực thì biết đĩ là trong khoảng 3 ngày bệnh sẽ hết[27]. Mạch Khí khẩu biểu hiện được Âm khí, mạch Nhân nghênh không biểu hiện được dương khí [28].

    THIÊN 20: NGŨ TÀ

    Tà khí ở tại Phế sẽ làm cho bệnh bì phu bị đau, hàn nhiệt, khí lên trên làm cho suyễn, mồ hôi ra, ho động đến vùng vai và lưng [1]. Thủ huyệt du nằm ở phía ngoài của vùng giữa ngực và huyệt nằm ở cạnh của ngũ tạng du ở tiết xương thứ 3, dùng tay đè lên chỗ nào thấy dễ chịu (đó là chân huyệt), nên châm chỗ đó, thủ huyệt giữa Khuyết bồn để xua đuổi (Phế tà) [2].
    Tà khí ở tại Can sẽ làm cho trong khoảng hông sườn bị đau, bị hàn ở trong giữa thân, ác huyết ở trong, khi đi đứng thường hay bị co rút, thường là sưng thũng ở chân [3]. Nên thủ huyệt Hành Gian nhằm dẫn thống khí dưới hông sườn, bổ huyệt Tam lý nhằm làm ôn (ấm) trong Vị, thủ ác huyết ở huyết mạch nhằm làm tán ác huyết, thủ những nơi có mạch mầu xanh nằm trong vùng tai nhằm xua đuổi chứng co rút [4].
    Tà khí ở Tỳ Vị sẽ làm cho bệnh cơ nhục thống, khi Dương khí hữu dư, Âm khí bất túc thì sẽ thành chứng nhiệt trung, dễ đói; khi Dương khí bất túc, Âm khí hữu dư thì sẽ thành chứng hàn trung, ruột kêu (sôi) bụng đau, đó là Âm Dương đều hữu dư, nếu âm dương đều bất túc thì hữu hàn, hữu nhiệt; tất cả đều điều hòa bằng huyệt Tam Lý [5].
    Tà khí ở tại Thận sẽ làm cho bệnh cốt thống, Âm tý - bệnh Âm tý là chứng mà ta dùng tay đè lên không biết được, bụng trướng, thắt lưng đau, đại tiện khó khăn, đau từ vai, lưng, cổ và gáy, thường hay bị choáng váng, nên thủ huyệt Dũng Tuyền và Côn Lôn, khi thấy có huyết ứ nên châm xuất huyết cho hết [6].
    Tà khí ở tại Tâm sẽ làm cho bệnh Tâm thống, thường hay lo buồn, choáng váng té xuống, nên xem hữu dư hoặc bất túc để điều hòa các du huyệt [7].

    THIÊN 21: HÀN NHIỆT BỆNH

    Da bị hàn nhiệt không thể nằm xuống chiếu được, lông tóc khô, mũi khô hết nhờn, không ra mồ hôi, thủ huyệt lạc của kinh Tam dương (túc Thái dương) nhằm bổ thủ Thái âm [1].
    Cơ (nhục) bị hàn nhiệt làm cho phần cơ bị đau, lông tóc bị khô, môi cũng khô mất trơn nhuận, không có mồ hôi, nên thủ huyệt lạc của Tam dương (Thái dương) nhằm đuổi huyết lạc, châm bổ kinh túc Thái âm nhằm làm cho ra mồ hôi [2].
    Cốt bị hàn nhiệt, làm cho người bệnh không lúc nào yên, mồ hôi chảy rót ra không thôi [3]. Nếu răng chưa bị khô thì nên thủ huyệt lạc nơi phía trong đùi kinh Thiếu âm [4]. Nếu răng đã khô thì chết, bất trị [5]. Chứng cốt quyết cũng thế [6].
    Bệnh Cốt tý làm cho toàn thể khớp xương bị bất dụng mà đau nhức, mồ hôi chảy rót ra, Tâm bị phiền, nên thủ huyệt ở kinh Tam dương để bổ [7].
    Thân mình nếu có chỗ bị thương, máu ra nhiều, đến nỗi trúng phải Phong Hàn khí, nếu như có khi bị té xuống đất, tứ chi bị buông lỏng không co lại được, gọi là chứng Thể nọa, nên thủ huyệt nơi Tam kết giao dưới rún - Tam kết giao thuộc kinh Dương minh và Thái âm, huyệt nằm dưới rốn 3 thốn, tức là huyệt Quan Nguyên [8].
    Chứng Quyết tý là chứng mà khí quyết nghịch (của tam dương) lên trên cho đến bụng (mà thôi), nên thủ huyệt lạc của (túc Thái) âm và (túc Dương minh), tuy nhiên người thầy thuốc nên xem chủ bệnh thuộc kinh nào để mà, nếu thuộc kinh dương minh thì tả, nếu kinh thái âm thì bổ [9]. Động mạch bên cạnh của cổ là huyệt Nhân Nghênh, huyệt Nhân Nghênh thuộc kinh Túc Dương minh [10]. Huyệt nằm trước gân cổ và sau gân cổ, thuộc kinh Túc Dương minh, có tên là Phù Đột [11]. Huyệt nằm ở mạch kế bên ngoài thuộc kinh túc Dương minh, có tên là Thiên Dũ [12]. Huyệt nằm ở mạch kết bên ngoài nữa thuộc kinh túc Thái dương có tên là Thiên Trụ [13]. Huyệt nằm dưới nách thuộc kinh thủ Thái âm, gọi tên là Thiên Phủ [14].
    Dương tà nghịch ở Dương kinh làm cho đầu đau, ngực bị đầy không thở nổi, thủ huyệt Nhân Nghênh [15].
    Bị cảm 1 cách nhanh chóng, mạnh bạo, khí nghịch (làm cho cổ họng và lưỡi) bị cứng, thủ huyệt Phù Đột và châm xuất huyết cuống lưỡi [16].
    Bị điếc 1 cách nhanh chóng, mạnh bạo, khí bị che lấp xuống dưới làm tai và mắt mất sáng, thủ huyệt Thiên Dũ [17].
    Bị co quắp, động kinh 1 cách nhanh chóng và mạnh bạo, choáng váng làm cho chân không còn tuân theo thân mình nữa, thủ huyệt Thiên Trụ [18].
    Bị chứng đản 1 cách nhanh chóng và mạnh bạo, bên trong bị nghịch, Can và Phế cùng đánh nhau, huyết tràn lên đến mũi và miệng, thủ huyệt Thiên Phủ [19].
    Trên đây là 5 cánh cửa lớn (Thiên) gọi là Thiên Dũ Ngũ Bộ [20].
    Kinh thủ Dương minh có đi vào vùng xương má và mũi lan tỏa vùng răng, gọi đây là Đại Nghênh [21]. Khi răng dưới bị đau nhức thì thủ huyệt của Tý (Thủ) Dương minh, nếu sợ (uống) lạnh thì châm bổ, nếu không sợ (uống) lạnh thì châm tả [22].
    Kinh túc Thái dương có đi vào vùng xương má và mũi lan tỏa vùng răng (mạch mà nó hợp để đi vào) đó là huyệt Giác Tôn [23]. Khi răng trên bị đau nhức nên thủ các huyệt ở vùng trước xương mũi và má, nếu là lúc đang bệnh thì mạch thịnh, thịnh thì nên châm tả, nếu hư thì châm bổ, còn 1 cách nữa đó là thủ các huyệt nằm ở ngoài mũi [24].
    Kinh túc Dương minh có đường đi áp theo mũi nhập vào mặt, gọi nơi đó là huyệt Huyền Lô, (đường đi xuống) thuộc vào miệng, (đường đi lên) đối lại với miệng để nhập vào mục bản, (dù ở miệng hay là ở mắt) nếu thấy có đi qua (bệnh) thì thủ huyệt châm, châm theo lối tổn hữu dư: tả bớt cái hữu dư và ích bất túc, bổ thêm cho cái bất túc, nếu châm ngược lại thì bệnh càng nặng [25].
    Kinh túc Thái dương có đường thông với cổ gáy nhập vào não, đây chính là thuộc vào gốc của mắt, gọi là Nhân hệ [26]. Khi đầu hay mắt bị đau, thủ huyệt nằm ở giữa 2 đường gân giữa cổ nhập vào não, đây là nơi tương biệt với mạch Âm kiểu và Dương kiểu, là nơi giao hội giữa các đường kinh Âm Dương, là nơi mà mạch Dương (Kiểu) nhập vào Âm, và mạch Âm (Kiểu) xuất ra ở Dương để rồi giao nhau ở khoé mắt ngoài (trong), khi nào Dương khí thịnh thì mắt mở trừng, khi nào Âm khí thịnh thì mắt nhắm lại [27].
    Chứng Nhiệt quyết nên thủ huyệt ở kinh túc Thái âm và Thiếu dương, tất cả đều nên lưu kim lâu [28]. Chứng Hàn quyết nên thủ huyệt ở kinh túc Dương minh và túc Thiếu âm, tất cả đều nên lưu kim lâu [29].
    Lưỡi bị chảy nước dãi xuống, lòng phiền muộn, thủ huyệt ở kinh túc Thiếu âm [30].
    Người bị lạnh run, hai hàm đánh nhau, không ra mồ hôi, bụng bị trướng, lòng phiền muộn, thủ huyệt ở kinh thủ (Thái) âm [31].
    Châm bệnh hư, nên châm lúc nó ra đi, châm bệnh thực nên châm lúc nó đến [32].
    Mùa xuân thủ huyệt ở lạc mạch, mùa hạ thủ ở phận nhục và tấu lý, mùa thu thủ huyệt ở Khí Khẩu, mùa đông thủ huyệt kinh du [33]. Phàm trong tứ thời, mỗi thời phải lấy thống nhất (tề) làm chính: Lạc mạch trị bì phu, phận nhục và tấu lý trị cơ nhục, khí khẩu trị cân mạch, kinh du trị cốt tủy [34].
    Ngũ tạng khí biểu lộ ra thân gồm 5 bộ (vị): vùng huyệt Phục Thố là một, vùng bắp chuối chân là hai, vùng phì tức là bắp chuối chân vậy, vùng lưng là ba, vùng các du huyệt của ngũ tạng là bốn, vùng cổ gáy là năm [35]. Trong 5 bộ trên đây, bộ nào bị ung thư thì chết [36].
    Bệnh bắt đầu ở cánh tay, trước hết nên thủ huyệt ở kinh thủ Dương minh và thủ Thái âm làm cho mồ hôi ra [37]. Bệnh bắt đầu ở trên đầu nên thủ huyệt ở cổ gáy thuộc kinh túc Thái dương làm cho mồ hôi ra [38]. Bệnh bắt đầu ở vùng ống chân (hĩnh), trước hết nên thủ huyệt của kinh túc Dương minh, làm cho mồ hôi ra [39].
    Châm kinh thủ Thái âm có thể làm cho mồ hôi ra, châm kinh túc Dương minh có thể làm cho mồ hôi ra, cho nên khi châm kinh âm mà mồ hôi ra quá nhiều có thể châm dứt mồ hôi bằng kinh Dương, châm kinh Dương mà mồ hôi ra quá nhiều có thể châm kinh Âm để dứt mồ hôi [40]. Cái hại của việc châm, đó là châm trúng khí mà chưa chịu rút kim ra, như vậy sẽ làm cho tinh khí bị tiết ra ngoài, hoặc châm chưa trúng khí mà đã rút kim ra sẽ làm cho khí huyết bị tích trệ [41]. Tinh khí bị tiết thì bệnh sẽ nặng mà suy tàn, khí huyết tích trệ sẽ gây thành bệnh ung và thư [42].

    THIÊN 22: ĐIÊN CUỒNG

    Khoé mắt ngoài rạch ở mặt gọi là khoé mắt nhọn, khoé mắt nằm trong gần mũi gọi là nội tý: khoé mắt trong [1]. Mí mắt trên thuộc ngoại tý, mí mắt dưới thuộc nội tý [2].
    Chứng Điên tật lúc mới bắt đầu sinh ra, trước hết làm cho bệnh nhân không vui, đầu bị nặng và đau nhức, nhìn thấy đỏ, nếu bệnh phát lên đến cực rồi giảm (dứt), sau đó bị phiền Tâm, bệnh bộc lộ ở Thiên đình [3]. Nên thủ các huyệt ở kinh thủ Thái dương, thủ Dương minh, thủ Thái âm, châm xuất huyết cho đến khi nào màu của huyết biến (đỏ) mới thôi [4].
    Bệnh Điên tật khi mới bắt đầu phát, làm cho miệng méo phải rên la, hơi thở suyễn, lo sợ, biểu hiện ở 2 kinh thủ Dương minh và thủ Thái dương [5]. Nếu bên trái bị đau cứng thì công vào bên phải, nếu bên phải bị đau cứng thì công vào bên trái, khi nào màu của huyết biến (đỏ) thì mới thôi [6].
    Bệnh Điên tật khi mới bắt đầu phát, trước hết người bệnh bị vặn ngược cứng đờ, nhân đó bị cứng cột sống, bệnh biểu hiện ở các kinh túc Thái dương, túc Dương minh, túc Thái âm, thủ Thái âm [7]. Châm xuất huyết cho đến khi nào huyết biến đỏ mới thôi [8].
    Phép trị bệnh điên tật, (người thầy thuốc) phải thường ở bên cạnh (người bệnh) để quan sát những nơi cần thủ huyệt để chữa [9]. Nếu bệnh đến, ta nhìn kỹ chỗ có bệnh để châm tả, ta chứa huyệt này vào 1 cái bầu, đợi khi nào bệnh phát thì huyết sẽ động 1 mình [10]. Nếu không động thì cứu cùng cốt 20 tráng, Cùng cốt chính là để cốt: đốt xương sống cùng [11].
    Bệnh Cốt điên tật làm cho bệnh nhân mặt vàng, răng (vùng từ Thái dương đến răng), tất cả phận nhục đó đều bị trướng mãn, tách rời với xương, mồ hôi ra, phiền muốn ói ra nhiều nước có bọt, khí đi xuống dưới và tiết ra ngoài thì không trị được [12].
    Bệnh Cân điên tật làm cho bệnh nhân thân mình bị cuống lại, co giật (mạch đại) [13]. Nên châm huyệt Đại Trữ của đường kinh lớn ở cổ gáy [14]. Nếu ói ra nhiều nước có bọt, khí đi xuống và tiết ra ngoài thì không trị được [15].
    Bệnh Mạch điên tật làm cho bệnh nhân hay té nhào dữ dội, các mạch ở tứ chi đều trướng lên và buông lỏng, mạch bị mãn [16]. Nên châm xuất huyết cho kỳ hết [17]. Nếu mạch không mãn thì cứu các huyệt ở dọc theo cổ gáy của kinh Thái dương, cứu huyệt Đới mạch ở thắt lưng, nằm cách thắt lưng khoảng hơn 3 thốn, các huyệt thuộc bản du của tay chân và trong khoảng phận nhục [18]. Nếu ói ra nhiều nước có bọt, khí đi xuống dưới và tiết ra ngoài thì không trị được [19].
    Bệnh điên tật mà phát ra nhanh như bệnh cuồng thì phải chết, không trị được [20].
    Khi bệnh cuồng bắt đầu sinh ra, trước hết bệnh nhân thấy buồn, thường hay quên, giận dữ, lo sợ, tất cả đều do lo lắng và đói [21]. Phép trị nên thủ các huyệt của các kinh Ttủ Thái âm, Dương minh, chờ khi nào màu của huyết biến đỏ thì mới thôi, tiếp theo thủ các huyệt ở túc Thái âm và Dương minh [22].
    Bệnh cuồng bắt đầu phát ra thì bệnh nhân ít nằm, không đói, tự cho mình là người hiền ở trên cao, tự coi mình là người trí, tự cho mình là tôn qúy, thường hay mạ lị người khác ngày đêm không nghỉ [23]. Phép trị nên thủ các huyệt ở kinh thủ Dương minh, Thái dương, Thái âm, huyệt dưới lưỡi, kinh Thiếu âm [24]. Nếu thấy nơi nào thịnh thì thủ huyệt châm, nếu không thấy thịnh thì không châm [25].
    Bệnh mà cuồng ngôn, kinh sợ, hay cười, thích ca hát, thường hay đi lang thang, đó là do quá khủng khiếp, quá sợ [25]. Phép trị nên thủ các huyệt ở kinh thủ Dương minh, Thái dương, Thái âm [26].
    Bệnh cuồng làm cho bệnh nhân mắt thấy bậy ba, tai nghe bậy bạ, hay la to, đó là do thiểu khí mà ra [27]. Phép trị nên thủ các huyệt ở kinh thủ Thái dương, Thái âm, Dương minh, túc Thái âm, đầu và 2 bên má, hàm [28].
    Người bị cuồng thường hay ăn nhiều và thường hay thấy qủy thần, hay cười mà không phát lộ ra bề ngoài, đó là do quá vui mừng [29]. Phép trị là nên thủ các huyệt ở các kinh túc Thái âm, Thái dương, Dương minh, tiếp theo sau là thủ các huyệt ở các kinh thủ Thái âm, Thái dương, và Dương minh [29].
    Nếu bệnh cuồng mà mới phát lên chưa ứng ra những bệnh chứng như đã nói trên, trước hết nên thủ huyệt Khúc Tuyền ở hai bên động mạch bên trái và phải [30]. Nếu thấy thịnh thì nên châm xuất huyết, bệnh sẽ khỏi trong giây lát, nếu không hết nên dùng phép châm như trên và phép cứu huyệt ở xương cùng 20 tráng [31].
    Bị chứng Phong nghịch, tứ chi bị bạo thũng, thân mình thấy lạnh cầm cập, có lúc lạnh đến cấm khẩu, lúc đói thì lòng phiền, lúc no thì hay biến động không yên [32]. Nên thủ các huyệt ở các kinh thủ Thái âm, cả biểu lẫn lý, và kinh túc Thiếu âm, Dương minh [33]. Nơi nào nhục khí bị lạnh thì thủ huyệt Huỳnh, nơi nào cốt bị lạnh thì thủ huyệt Tỉnh và Kinh [34].
    Chứng Quyết nghịch gây bệnh làm cho chân bị lạnh ghê gớm, lồng ngực như muốn vỡ tung ra, trường (ruột) như đang bị dao cắt, lòng bứt rứt nên không được an, mạch đại tiểu đều sắc [35]. Nếu thân còn ấm thì thủ huyệt ở kinh túc Thiếu âm, nếu thân bị lạnh thì thủ huyệt ở kinh túc Dương minh. (Nói tóm lại), nếu lạnh thì châm bổ, nếu ấm thì châm tả [36].
    Chứng Quyết nghịch làm cho bụng bị trướng, ruột sôi, ngực bị đầy làm cho không thở được [37]. Nên thủ huyệt nằm ở sườn thứ hai bên dưới ngực, nơi mà bệnh nhân ho sẽ động đến đầu ngón tay, đồng thời dùng tay ấn lên huyệt ở bối du thì bệnh sẽ khỏi ngay [38].
    Nếu bệnh nội bế sẽ làm cho bệnh nhân không đi tiểu được, nên châm huyệt của kinh túc Thiếu âm và Thái Dương cùng với huyệt ở xương cùng, dùng kim Trường châm [39].
    Bị bệnh khí nghịch, nên thủ các huyệt ở kinh Thái âm, Dương minh, Quyết âm, nếu nặng thì thủ các kinh Thiếu âm, Dương minh, nên quan sát kinh nào có bệnh để châm [40].
    Nếu bị bệnh khí ngắn, thân mình lạnh cầm cập, tiếng nói kéo dài ra, xương bị đau buốt, thân mình nặng nề, lười biếng không muốn động, châm bổ túc Thiếu âm [41].
    Người bị bệnh khí ngắn, hơi thở ngắn không liên tục, nếu có làm động tác gì thì khí càng bị tiêu, nên châm bổ kinh túc Thiếu âm, châm xuất huyết các nơi huyết lạc [42].

    THIÊN 23: NHIỆT BỆNH

    Chứng bệnh Thiên khô làm cho 1 bên mình không còn hoạt động được và bị đau, lời nói chưa thay đổi, chí chưa loạn, đó là bệnh còn ở nơi phận nhục và tấu lý [1]. Nên dùng kim cự châm để châm [2]. Đó là ích cho (chính khí) đang bất túc, tổn bớt tà khí đang hữu dư, được vậy thì (chính khí) mới có thể hồi phục được [3].
    Phì khí gây nên bệnh làm cho thân thể không đau đớn, tứ chi không còn co duỗi theo ý nữa, trí vẫn chưa loạn nặng lắm, tiếng nói nhỏ, ta biết bằng bệnh đó còn trị được [4]. Nếu bệnh nặng thì không nói được, bệnh này không chữa được [5]. Nếu bệnh trước hết khởi lên ở Dương, về sau lại nhập vào âm, như vậy, trước hết ta phải trị ở phần dương, rồi sau mới trị đến phần âm, làm sao cho ngoại tà theo phần phù biểu ra ngoài [5].
    Nhiệt bệnh trong 3 ngày, nhưng mạch khí khẩu còn tĩnh, còn mạch Nhân nghênh thì táo, nên thủ huyệt ở các đường kinh Dương theo lối ‘ngũ thập cửu’, nhằm tả đi cái nhiệt tà, làm cho xuất mồ hôi, làm thực cho âm, tức là bổ cho âm đang bất túc [6]. Nếu thân mình bị nhiệt nặng, mạch âm dương đều tĩnh, trường hợp này không nên châm [7]. Còn như xét thấy có thể châm được thì nên châm ngay, dù cho không có ra mồ hôi, nhưng tà khí vẫn có thể tiết ra ngoài [8]. Khi nói rằng không nên châm có nghĩa là mạch đang có triệu chứng chết [9].
    Nhiệt bệnh trong 7 ngày, 8 ngày, mạch Mạch khẩu đóng, suyễn và hơi thở ngắn, nên châm ngay, tức thì mồ hôi sẽ tự ra, châm cạn huyệt nằm ở trong khoảng ngón tay cái [10].
    Nhiệt bệnh trong 7 ngày, 8 ngày, mạch vi tiểu, người bệnh tiểu ra máu, trong miệng khô, chết trong 1 ngày rưỡi, nếu mạch đại thì 1 ngày chết [11].
    Nhiệt bệnh có khi đã ra mồ hôi mà mạch vẫn còn táo, suyễn, có khi bị nhiệt trở lại, không nên châm ở phu biểu, nếu như bị suyễn nặng hơn, nhất định phải chết [12].
    Nhiệt bệnh trong 7 ngày, 8 ngày, mạch không táo, hoặc dù táo mà không tán, vả lại còn thêm sác, chờ trong 3 ngày sẽ có mồ hôi ra; nếu như trong 3 ngày mà không có mồ hôi thì ngày thứ 4 sẽ chết [13]. Vả lại, nếu chưa từng ra mồ hôi thì ta cũng châm phần (phu) tấu [14].
    Nhiệt bệnh, trước hết là đau ở phần bì phu, mũi bị nghẹt sưng lên đến mặt, nên thủ huyệt châm ở ở bì, dùng kim số 1 theo phương pháp ‘ngũ thập cửu’ [15]. Nếu mũi bị tình trạng hà chẩn tỵ thì ta nên tìm quan hệ giữa bì và Phế, nếu không kết quả, ta tìm ở Hỏa, Hỏa tức là Tâm vậy [16].
    Nhiệt bệnh, trước hết thân mình trì trệ, nóng, phiền muộn, môi miệng cổ họng đều khô, thủ huyệtở bì, dùng kim số 1 theo phương pháp ‘ngũ thập cửu’ [17]. Nếu bì phu trướng, miệng khô, ra mồ hôi lạnh, nên tìm quan hệ giữa mạch và Tâm, nếu vẫn không kết quả, nên tìm ở thủy, thủy tức là ở Thận vậy [18].
    Nhiệt bệnh, cổ khô, uống nhiều nước, thường hay kinh sợ, nằm xuống không ngồi dậy nổi, thủ huyệt chữa vùng phu nhục, dùng kim số 6 theo phép ‘ngũ thập cửu’ [19]. Nếu như thấy khoé mắt xanh nên tìm quan hệ giữa nhục và Tỳ, nếu vẫn không kết quả, nên tìm ở Mộc, Mộc tức là Can vậy [19].
    Nhiệt bệnh, mặt xanh, não đau, tay chân bồn chồn không yên, thủ huyệt ở vùng cân cốt, dùng kim số 4 theo phép chữa ‘tứ nghịch’ [20]. Nếu bị vặn gân không đi được hoặc bị chảy nước mắt đầm đìa, nên tìm quan hệ giữa cân và Can, nếu không kết quả, nên tìm ở Kim, Kim tức Phế vậy [21].
    Nhiệt bệnh, nhiều lần kinh sợ, cân bị khiết túng và cuồng, thủ huyệt chữa vùng mạch, dùng kim số 4, châm tả phần huyết hữu dư [22]. Nếu bị chứng mạch điên tật làm cho lông và tóc bị rụng, nên tìm quan hệ giữa huyết và Tâm, nếu không kết quả, nên tìm ở thủy, thủy tức là Thận vậy [23].
    Nhiệt bệnh, thân thể nặng nề, xương bị đau, tai điếc, thích ngủ, thủ huyệt chữa vùng cốt, dùng kim số 4 theo phép `ngũ thập cửu’ để châm cốt [24]. Nếu bị bệnh mà không ăn được, cắn răng lại, tai màu xanh, nên tìm quan hệ ở cốt và Thận, nếu không kết quả, tìm ở Thổ, Thổ tức là Tỳ vậy [25].
    Nhiệt bệnh, không biết đau nhức chỗ nào, tai điếc, (tay chân) không hoạt động co duỗi được, miệng khô, Dương nhiệt nặng, có khi Âm khí làm cho hàn, đó là nhiệt ở tại tủy, sẽ chết, không trị được [26].
    Nhiệt bệnh, đầu đau, từ huyệt Não Không xuống đến mắt miệng như đang bị đắng, còn mạch hệ bị đau, thường hay chảy máu mũi, đó là Quyết nhiệt bệnh, dùng kim số 3, nên quan sát sự hữu dư và bất túc để trị, nó gây thành chứng hàn nhiệt trĩ [27].
    Nhiệt bệnh tay chân nặng nề, đó là trường bị nhiệt, dùng kim số 4 châm các du huyệt và các huyệt ở các ngón chân dưới, tìm quan hệ khí ở các lạc của vị (là) nơi đắc khí vậy [28].
    Nhiệt bệnh, vùng rốn đau rất kịch liệt, ngực và hông sườn đau, thủ huyệt Dũng tuyền và Âm Lăng tuyền, dùng kim số 4, châm huyệt trong cổ họng [29].
    Nhiệt bệnh, mồ hôi vẫn ra mà lại mạch thuận, có thể châm cho ra mồ hôi, nên thủ huyệt Ngư Tế, Thái Uyên, Đại Đô, Thái Bạch, châm tả các huyệt này sẽ làm cho nhiệt giảm bớt, châm bổ thì mồ hôi ra [30]. Nếu mồ hôi ra quá nặng, nên thủ huyệt nằm ở mạch giao ngang ở trên mắt cá trong để dứt mồ hôi [31].
    Nhiệt bệnh, đã có mồ hôi, nhưng mạch còn táo thịnh, đó là Âm mạch đang cực, sẽ chết [32]. Khi có mồ hôi mà mạch còn tĩnh, thì sống [33]. Nhiệt bệnh, mạch vẫn táo mà không có mồ hôi, đó là Dương mạch đang cực, sẽ chết [34]. Mạch thịnh táo, có mồ hôi, tĩnh, sẽ sống [35].
    Nhiệt bệnh không thể châm gồm có 9 trường hợp [36]:
    - Một là: Mồ hôi không ra, 2 gò má ửng đỏ, ói, chết [37].
    - Hai là: Tiêu chảy mà bụng bị đầy nặng, chết [38].
    - Ba là: Mắt không còn sáng, nhiệt không giảm, chết [39].
    - Bốn là: Người già, trẻ con khi bị nhiệt mà bụng đầy, chết [40].
    - Năm là: Mồ hôi không ra, ói, tiêu ra huyết, chết [41].
    - Sáu là: Cuống lưỡi bị nhiệt đến như nát lưỡi không dứt, chết [42].
    - Bảy là: Ho mà ra máu mũi, mồ hôi không ra, mồ hôi ra mà không đến chân, chết [43].
    - Tám là: Tủy bị nhiệt, chết [44].
    - Chín là: Nhiệt là giật cong người, chết, thắt lưng gãy, khiết túng, răng cắn chặt [45].
    Phàm 9 trường hợp nói trên, không thể châm [46].
    Điều gọi là ‘Ngũ Thập Cửu thích’ gồm có [47]:
    - Hai bên mép ngoài và trong của 2 tay, mỗi bên gồm 3 huyệt, tất cả có 12 huyệt [48].
    - Trong khoảng 5 ngón tay, mỗi nơi 1 huyệt, gồm có 8 huyệt, ở chân cũng giống như thế [49].
    - Ở trên đầu, phần sâu vào trong mí tóc 1 thốn, bên cạnh 3 phân, mỗi nơi 3 huyệt, tất cả có 6 huyệt [50]. Đi sâu vô trong mí tóc 3 thốn, mỗi bên 5 huyệt, gồm 10 huyệt [51].
    - Ở trước và sau tai, dưới miệng, mỗi nơi 1 huyệt, giữa cổ gáy 1 huyệt, gồm tất cả 6 huyệt [52].
    - Đỉnh đầu 1 huyệt, Tín Hội 1, mí tóc 1, Liêm Tuyền 1, Phong Trì 2, Thiên Trụ 2 [53].
    Khi nào khí bị đầy, giữa ngực phát suyễn, thủ huyệt nằm ở đầu ngón chân cái cách móng chân như lá hẹ, thuộc kinh túc Thái âm, nếu hàn thì lưu kim lâu, nhiệt thì châm nhanh, khi nào khí đi xuống mới thôi [54].
    Bệnh Tâm sán đau dữ dội, thủ các huyệt thuộc kinh túc Thái âm, Quyết âm, châm cho xuất hết huyết lạc [55].
    Bệnh cổ họng bị tý, lưỡi bị cuốn, trong miệng khô, Tâm phiền, Tâm thống, mép trong cánh tay đau, tay không đưa được lên đến đầu, nên thủ huyệt ở ngón tay áp út phía ngón út, cách móng tay như lá hẹ [56].
    Giữa mắt bị đau, đỏ, bắt đầu đau từ khoé mắt trong, nên thủ huyệt Âm kiểu [57].
    Bị chứng Phong kinh làm cho thân mình bị vặn gãy ra sau, trước hết nên thủ huyệt của kinh túc Thái dương ở giữa kheo chân, châm xuất huyết ở huyết lạc [58]. Nếu trung khí có hàn khí, nên thủ huyệt Tam Lý [59]. nếu bị bí tiểu, nên thủ huyệt Âm kiểu và thủ huyệt nằm ở chòm lông Tam mao, xuất huyết lạc [60].
    Con trai bị bệnh cổ độc, con gái như bị tử, thân thể, thắt lưng, cột sống như bị rã rời, không muốn ăn uống, trước hết nên thủ huyệt Dũng Tuyền, châm cho ra máu, nên xem kỹ vùng trên bàn chân, nếu bị thịnh, nên châm cho xuất huyết cho hết mới thôi [61].

    THIÊN 24: QUYẾT BỆNH

    Chứng Quyết đầu thống làm cho mặt như bị sưng lên, khởi lên Tâm phiền, thủ huyệt ở kinh túc Dương minh và Thái âm [1].
    Chứng Quyết đầu thống làm cho mạch ở đầu bị đau, tâm bi, thường hay khóc, nên xem cái động mạch ở đầu, nếu ngược lại bị thịnh, phải châm xuất huyết cho hết, sau đó mới điều bổ kinh túc Quyết âm [2].
    Chứng Quyết đầu thống xảy ra 1 cách vững chắc, đầu nặng mà đau, nên châm tả 5 hàng mạch trên đầu, mỗi hàng 5 huyệt, trước hết thủ huyệt ở kinh thủ Thiếu âm, sau đó thủ ở kinh túc Thiếu âm [3].
    Chứng Quyết đầu thống làm cho ý hay quên, dùng tay đè lên không thấy nơi nào đau, nên châm vào nơi động mạch ở 2 bên phải và trái của đầu và mặt, sau đó mới thủ huyệt ở kinh túc Thiếu âm [4].
    Chứng Quyết đầu thống trước hết làm cho cổ gáy bị đau, ứng với thắt lưng và cột sống, trước hết thủ huyệt Thiên Trụ, sau đó thủ huyệt ở kinh túc Thái dương [5].
    Chứng Quyết đầu thống làm cho đầu bị đau nặng, mạch ở trước và sau tai như dâng vọt lên, phát nhiệt, châm tả, xuất huyết, sau đó thủ huyệt ở kinh túc Thiếu dương [6].
    Chứng Chân đầu thống làm cho đầu bị đau nặng, não bị đau suốt, tay chân bị hàn đến tận các đốt (tiết), trường hợp này chết, không trị được [7].
    Chứng đầu thống (mà) không thủ các huyệt du để chữa, đó là vì người bệnh bị té, bị đánh, ác huyết lưu lại bên trong, phần cơ nhục bị thương, bị đau chưa khỏi, nếu thấy châm được nơi đau thì châm, nếu không được thì không thể thủ du huyệt ở xa [8].
    Chứng đầu thống (mà) không thể châm được, đó là chứng đại tý gây thành ác hoạn (bệnh tật khó khăn), gặp ngày Phong đều xảy ra, chúng ta chỉ có thể làm giảm bớt thôi, không thể hết được [9].
    Chứng đầu thống, hàn 1 bên, trước hết thủ huyệt ở kinh thủ Thiếu dương, Dương minh, sau đó thủ ở kinh túc Thiếu Dương, Dương minh [10].
    Chứng Quyết tâm thống, đau ra đến vùng lưng, hay bị khiết túng, như có cái gì từ ngoài sau đến chạm vào Tâm, làm cho người bệnh bị gù lưng, đó gọi là Thận tâm thống; trước hết thủ huyệt Kinh Cốt, Côn Lôn, nếu như đã phát châm rồi mà bệnh vẫn không khỏi, thủ thêm huyệt Nhiên Cốc [11].
    Chứng Quyết tâm thống làm cho bụng bị trướng, ngực bị đầy, Tâm càng bị đau nhiều hơn, gọi là chứng ‘Vị Tâm thống’, thủ huyệt Đại Đô, Thái Bạch [12].
    Chứng Quyết tâm thống làm cho bệnh nhân đau như như dùng cây chùy đâm vào Tâm, Tâm bị đau nhiều, gọi là chứng ‘Tỳ Tâm thống’, thủ huyệt Nhiên Cốc, Đại Khê [13].
    Chứng Quyết tâm thống làm cho sắc mặt bị xanh, xanh như mầu của người chết, suốt ngày không thở được 1 hơi dài, gọi là chứng ‘Can Tâm thống’, thủ huyệt Hành Gian, Đại Xung [14].
    Chứng Quyết tâm thống, nếu nằm hoặc nhàn rỗi thì Tâm thống được giãn, bớt, khi nào hoạt động thì đau nhiều hơn, không biến sắc mặt, gọi là chứng ‘Phế Tâm thống’, thủ huyệt Ngư Tế, Đại Uyên [15].
    Chứng Chân Tâm thống làm cho tay chân bị xanh cho đến các đốt ngón, Tâm bị đau nhiều, sáng phát chiều chết, chiều phát sáng chết [16].
    Chứng Tâm thống không châm được:
    • Ở trung bộ có cái gì thịnh tụ lại, không thể thủ các du huyệt để châm [17].
    • Trong ruột có trùng hà, và cógiun, tất cả đều không thể châm bằng tiểu châm [18]. Chứng Tâm trường thống làm cho bệnh nhân áo não mà đau đớn, (Những con giun này) tụ lại làm vùng (ngực và bụng) sưng lên, nó đi lên xuống, đau có lúc ngưng nghỉ [19]. Bụng bị nhiệt và hay khát nước, nước dãi chảy ra, đây là bởi con giun gây ra [20]. Dùng tay đè chúng lại, nên kiên trì đừng để đi sai chỗ, dùng kim lớn để châm, nên giữ thật lâu cho đến khi con giun bị bất động rồi mới rút kim ra [21]. Bụng đầy, đau 1 cách áo não (đó là chứng hà tụ) thành hình, từ giữa để đi lên trên [22]. Tai bị điếc không nghe được gì, nên thủ huyệt ở trong tai [23]. Nếu tai bị kêu, thủ huyệt ở động mạch trước tai [24]. Tai đau không châm được, đó là trong tai có mủ như là đang có rái tai khô, tai không nghe được [25]. Tai điếc, thủ huyệt ở ngón tay áp út ở phía ngón tay út, nằm ở chỗ giao nhục với móng tay [26]. Trước hết chọn huyệt ở tay, sau đó chọn huyệt ở chân [27]. Tai kêu, thủ huyệt nằm ở chỗ gần móng tay của ngón tay giữa, đau bên trái chọn huyệt ở bên phải, đau bên phải chọn huyệt ở bên trái, trước hết chọn huyệt ở tay, sau đến huyệt ở chân [28]. Xương đùi không đưa lên được, nên nằm nghiêng một bên để thủ huyệt, huyệt nằm ở chỗ mấu chuyền, châm sâu bằng kim viêm lợi châm, không nên dùng kim đại châm [29]. Bệnh tiêu ra máu, thủ huyệt Khúc Tuyền [30]. Chứng phong tý ngày càng tràn ngập tà khí, bệnh không thể khỏi được, chân như đang đạp trên băng tuyết, có lúc như đi vào nước nóng [31]. Từ đùi đến ống chân đều bị tràn ngập tà khí, Tâm phiền, đầu đau, có khi nôn, có khi bứt rứt, sau khi choáng váng thì mồ hôi ra, để lâu ngày thì mắt hoa, buồn mà hay lo sợ, đoản khí, như vậy sống không quá 3 năm thì phải chết [32].

    THIÊN 25: BỆNH BẢN

    Trước bệnh mà sau nghịch, trị bản [1]. Trước nghịch mà sau bệnh, trị bản [2]. Trước hàn mà sau sinh bệnh, trị hàn [3]. Trước bệnh mà sau sinh hàn, trị bản [4]. Trước nhiệt mà sau sinh bệnh trị bản [5]. Trước bị tiêu chảy mà sau sinh ra các bệnh khác, trị bản [6]. Ắt phải điều hòa (Tỳ vị) rồi sau mới trị các bệnh khác [7]. Trước bệnh mà sau bị mãn ở trung (Tỳ vị), trị tiêu [8]. Trước bệnh mà sau tiêu chảy, trị bản [9]. Trước bị mãn ở trung rồi sau đó mới bị Tâm phiền, trị bản [10].
    Có khi do khách khí, có khi do đồng khí [11]. Đại tiểu tiện bất lợi, trị tiêu [12]. Đại tiểu tiện lợi, trị bản [13].
    Bệnh phát ra (tà khí) hữu dư, đó là bản đến tiêu, trước hết trị bản, sau đến trị tiêu [14]. Bệnh phát ra chính khí bất túc, đó là tiêu đến bản, trước hết trị tiêu, sau đến trị bản [15]. Nên quan sát 1 cách tường tận vấn đề gián và thậm rồi dùng ý để điều hòa, nếu gặp gián thì cùng trị 1 lúc, nếu gặp thậm thì chỉ nên trị riêng [16]. Ví dụ, trước hết đại tiểu tiện bất lợi, rồi sau đó mới sinh ra các chứng bệnh khác, nên trị bản [17].

    THIÊN 26: TẠP BỆNH

    Bệnh quyết nghịch đi áp theo cột sống làm đau lên đến đỉnh đầu, đầu bị trầm trầm, mắt bị hoa hoa, cột sống ở thắt lưng bị cứng, thủ huyệt ở huyết lạc tại kheo chân thuộc kinh túc Thái Dương [1].
    Bệnh quyết nghịch làm cho lồng ngực bị đầy, mặt bị thũng, môi run cầm cập, bật ra tiếng nói rất khó, nếu nặng hơn, sẽ không nói chuyện được, thủ huyệt ở kinh túc Dương Minh [2].
    Bệnh quyết nghịch làm cho khí đi lên đến cổ họng, không nói chuyện được, tay chân lạnh, đại tiện bất lợi, thủ huyệt ở túc Thiếu Âm [3].
    Bệnh quyết nghịch làm cho bụng kêu ồ ồ, khi hàn khí nhiều làm cho trong bụng kêu róc rách, tiêu và tiểu rất khó khăn, thủ kinh túc Thái Âm [4].
    Cổ họng khô (ách), trong miệng nóng như có keo, thủ kinh túc Thiếu Âm [5].
    Trong gối bị đau, thủ huyệt Độc Tỵ, dùng kim viên lợi châm, châm xong rồi chờ cách khoảng thời gian để châm tiếp, dùng kim to như sợi lông đuôi trâu, châm gối đau như thế không còn nghi ngờ gì nữa [6].
    Cổ họng (hầu) bị tý không nói chuyện được, châm kinh túc Dương Minh, nếu còn nói được, châm kinh thủ Dương Minh [7].
    Bệnh ngược (sốt rét) không khát nước, cách ngày phát tác 1 lần, thủ kinh túc Dương Minh, nếu có khát nước và mỗi ngày phát tác, thủ kinh thủ Dương minh [8].
    Răng đau không sợ uống nước lạnh, thủ kinh túc Dương minh, nếu sợ uống nước lạnh, thủ kinh thủ Dương minh [9].
    Bệnh điếc mà không đau nhức, thủ kinh túc Dương minh; điếc mà đau nhức, thủ kinh thủ Dương minh [10].
    Chứng chảy máu mũi không ngừng, có máu bầm chảy ra, thủ kinh túc Thái dương, nếu máu bầm không chảy nữa, thủ kinh Thủ Thái dương; nếu không hết, châm huyệt nằm dưới xương uyển cốt, nếu vẫn không hết châm xuất huyết lạc ở kheo chân [11].
    Chứng lưng đau, trên chỗ đau bị lạnh, thủ kinh túc Thái dương, Dương minh, còn nếu trên chỗ đau bị nóng, thủ kinh túc Quyết âm; nếu không cúi ngửa được, thủ kinh túc Thiếu dương [12].
    Trong ngực bị nhiệt, muốn nôn, thủ huyết lạc ở kheo chân, thuộc kinh úc Thiếu Âm [13].
    Vì vui mừng và giận dữ mà không muốn ăn, tiếng nói ngày càng nhỏ, thủ kinh túc Thái âm [14].
    Vì giận mà nói nhiều, châm kinh túc Thiếu dương [15].
    Hàm bị đau nhức, châm kinh thủ Dương minh, châm xuất huyết chỗ có thịnh mạch ở vùng má và lên đến Thái dương [16].
    Cổ gáy bị đau làm cho không thể cúi ngửa được, châm kinh túc Thái Dương, nếu làm cho không thể ngó ngoái lại phía sau thì châm kinh thủ Thái dương [17].
    Thiếu phúc bị đầy, to, lên trên chạy đến vùng Vị, đến Tâm, thân mình hơi bị dao động, có lúc bị hàn nhiệt, tiểu tiện bất lợi, thủ kinh túc Quyết âm [18].
    Bụng đầy, đại tiện bất lợi, bụng to, khí cũng chạy lên đến ngực và cổ họng, thở suyễn mạnh, cổ khan, thủ kinh túc Thiếu âm [19].
    Bụng đầy, ăn không tiêu, bụngsôi, không đi tiểu được, thủ kinh túc Thái âm [20].
    Chứng Tâm thống đau dẫn đến cột sống thắt lưng, muốn nôn, thủ kinh túc Thiếu âm [21].
    Chứng Tâm thống làm cho bụng bị trướng như có cái gì bị sợ lạnh, đại tiện bất lợi, thủ kinh túc Thái âm [22].
    Chứng Tâm thống đau dẫn đến lưng làm cho không thở được, châm kinh túc Thiếu âm, nếu không hết, châm kinh thủ Thiếu dương [23].
    Chứng Tâm thống kéo theo làm cho bụng dưới đầy, dưới trên không nơi nhất định, đại tiện khó khăn, châm kinh túc Quyết âm [24].
    Chứng Tâm thống chỉ có khí ngắn không đủ để thở mà thôi, châm kinh thủ Thái âm [25].
    Chứng Tâm thống nên chọn huyệt ngay ở (quanh) đốt xương thứ 9 để châm, trước hết dùng tay ấn lên chỗ phải châm, khi rút kim ra lại dùng tay ấn, ấn xong là hết ngay; nếu không hết, nên tìm các huyệt ở trên và ở dưới (huyệt) đã châm, khi nào đắc khí thì khỏi bệnh ngay [26].
    Hàm (má) bị đau, châm kinh túc Dương minh, ngay chỗ xương gãy quay hàm, nơi có động mạch quay quanh, châm xuất huyết xong là khỏi ngay; nếu không khỏi, nên ấn lên huyệt Nhân Nghênh của bản kinh (châm cạn), khỏi ngay [27].
    Chứng khí nghịch lên trên, châm nơi hãm huyết ở vùng ngực, rồi lại châm huyệt có động mạch ở dưới ngực [28].
    Bệnh Nuy quyết, nên trói tay chân người bệnh lại để làm cho họ bị bực bội, bấy giờ mới mở trói ra, Mỗi ngày 2 lần; Nếu có bị bất nhân là không còn cảm giác, nên chữa như vậy trong 10 ngày sẽ kết quả, đừng ngưng lại, đợi khi nào bệnh khỏi mới thôi [29].
    Bệnh Uyết nấc, nên dùng cọng cỏ châm nhẹ vào mũi để cho bị ách xì, xong sẽ khỏi bệnh, hoặc là làm sao để cho ngộp thở, xong ngước mặt lên dẫn khí ra ngoài sẽ khỏi, hoặc làm cho người bệnh bị sợ dữ dội cũng có thể khỏi bệnh [30].

  3. @ Tianang,

    Thưa anh Thiên Đồng:

    Bây giờ là 08 Th09 2011 01:36 PM theo đồng hồ của diễn đàn.

    Tia nắng sinh ngày 30/3/1980 . Chồng sinh ngày 14/6/1976. Hiện đang mang thai, dự kiến sinh cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 2012. Xin nhờ anh tư vấn giúp:

    1. Em vừa mới chuyển sang nghề dạy học, nhưng vẫn thấy rất bế tắc, thấy mình không được trọng dụng. Nghề dạy học có phù hợp với tia nắng không a?

    nghề này phù hợp. có thể học tiến lên cao và nghiên cứu sâu.

    2. Khi nào công việc của tia nắng sẽ đỡ hơn, được tín nhiệm và trọng dụng hơn ạ?

    -1 năm sau sẽ đỡ hơn, 5 năm sau sẽ có danh vị cao

    3. Vợ chồng có ăn đời ở kiếp với nhau vui vẻ hanh phúc đến già không ạ?

    đến đầu bạc răng lung lay

    Xin cảm ơn anh. Xin chúc anh vạn sự vạn an.

    @Songtrang

    Anh Thiên Đồng cho em hỏi với! Em đã ngoài ba mươi mà long đong về tình duyên quá.

    - Tuổi Kỷ Mùi 1979

    - Hỏi vào 08-09-2011(dương lịch) lúc 14:04PM

    Câu 1: Bao giờ thì em sẽ lập gia đình ?

    Nhanh thì tháng 4 năm Nhâm thìn, chậm thì năm Quý tị 2013.

    Câu 2: Người ấy là người như thế nào?

    Người dáng cao, 1.68-1.78. người mực thước, hơi bảo thủ, hay lo xa. Bỏ nhà xa sứ đi làm. Mắt sáng da ngâm đen

    Câu 3: Cuộc sống hôn nhân có ổn thỏa ko ?

    - thương nhau lắm cắn nhau đau.

    Em cảm ơn anh Thiên đồng và chúc quán của anh luôn luôn đông khách.

    @Tuấnn

    Kính chào bác Thiên Đồng, cháu xin mạn phép hỏi:

    Tuổi gì: Giáp Tuất

    Hỏi vào ngày 15 tháng 09 năm 2011 giờ 13h39 dương lịch.

    Câu hỏi 01: Bà nội cháu hiện đang bị bệnh, nằm liệt giường, liệu có sống thêm được vài năm với con cháu không ạ?

    Không đáng lo.

    Câu hỏi 02: Năm sau cháu thi đại học liệu có đỗ vào trường mình mong muốn không ạ?

    Đỗ vô trường không mong muốn.

    Câu hỏi 03: Cháu hiện đang thầm thương trộm nhớ 1 người, liệu có kết quả khả quan không ạ?

    Chủ động tấn tới thì khả quan.

    Cháu xin cảm ơn bác:).

    @Tịnh Tâm

    Up lại trang 11 nhờ chú thiên đồng xem giúp.

    Nam Bính dần (1986)

    Hỏi vào lúc: 19h35' pm, ngày 31/8/2011

    Mong anh Thiên Đồng bớt chút thời gian quý báu xem giúp e, e sốt ruột và lo lắng vô cùng.

    Câu hỏi 1: Em và bạn gái em đã có đứa con trước giờ bạn gái em ở với bố mẹ vợ. Bố mẹ hai gia đình đã gặp nhau và nói chuyện nhiều về chuyện hai đứa tụi em nhưng do hai gia đình ở hai tỉnh khác nhau nên có phong tục khác nhau phía vợ nói gia đình em dù nó đã có con trước nhưng vẫn phải tổ chức cái lễ để cho bà con dòng họ đều biết chứ không không dẫn con gái "tui dề" không được trước khi làm cái lễ đó ba mẹ cháu phải ra nói chuyện trước và phải đem theo trầu câu để thưa chuyện...Phía em thì khác mấy người lớn trong họ cũng như phong tục hễ con gái có con rùi thì ba tháng mười ngày thì dẫn dề thui bởi vì bất đồng ý kiến đến bây giờ hai gia đình vẫn chưa thống nhất phải làm thế nào. Ba mẹ cô ấy nói nếu trong tháng 8 hay 9 âm lcij mà nhà em không ra thưa chuyện thì khỏi luôn, vì vậy làm em rất lo lắng không biết phải làm thế nào cả ? Anh xem thử gia đình em có đem trầu câu ra nhà bạn gái em thưa chuyện không ? Nếu đi thì tháng mấy âm lịch đi ? Cuộc nói chuyện có suông sẻ không và có kết quả tốt không ? hai đứa tụi em có đến được với nhau không?

    Nữ tuổi gì? Không cho biết tuổi thì làm sao tư vấn? Bên nhà trai nên trầu cau qua nói chuyện thì êm xuôi.

    Câu hỏi 2: Nếu thuận lợi thì hai đứa em tháng nào lấy nhau? Khi lấy nhau thì tổ chức thê nào có nhộn nhịp như đám cưới bình thường không hay tổ chức đơn giản ?.

    -sẽ linh đình

    Câu hỏi 3: Nếu hai em lấy nhau cha mẹ hai bên có hổ trợ thêm về mặc tài chính không? hai đứa định lấy nhau xong năm sau sẽ xây nhà và mở cửa hàng buôn bán không biết có như ý không? Em vừa xin được công việc nhà nước không biết có tốt và thuận lợi cho con đường công danh sự nghiệp của em sau này không?

    -Hai đứa tự lo tài chính. bên Nam có cho chút chút thôi.

    @ huyen nhung 1980

    Kính gửi anh Thiên đồng!

    Em tuổi Canh Thân (1980)

    Hỏi lúc 10h25 ngày 16/9/2011.

    1. Hiện tại em đang mong có bầu nhưng đã mấy tháng nay vẫn chưa có tin vui, vậy mong anh xem giúp trong năm này em có thể có bầu được không?

    Chậm nhưng sẽ được.

    Em rất mong sang năm (Nhâm thìn) sinh trong 6 tháng đầu năm theo tư vấn của các anh , các Bác nhưng bây giờ chỉ còn 2 tháng nữa không biết tình hình có được không, nếu có bầu mọi việc có tốt đẹp cả không?

    Nữ tuổi Canh Thân sinh nhâm thìn hay Quý Tị đều tốt.

    2. Hiên nay em đang được đề nghị tăng lương không biết là có được cấp trên duyệt không?

    Chưa duyệt đâu, tháng 12 năm tân mão hay tháng giên năm Nhâm thìn mới được.

    3. Có thể xem được cho chồng em trong năm này có thể có sự thay đổi công việc không?

    Không thay đổi đâu cả.

    Rất mong anh Thiên Đồng giúp đỡ, Cảm ơn anh.

    @Lynktran,

    Chào anh Thiên Đồng ( em xưng hô theo mấy anh chị trước, nếu không đúng anh bỏ qua cho e nhá Posted Image )

    Xem tuổi: Canh Ngọ (1990)

    Hỏi lúc: 21h10, 19/09/2011

    Câu 1: Việc học hành trong năm nay có thuận lợi và đạt kết quả cao như mong muốn hay không? (Nếu không thì có cản trở gì đặc biệt không?)

    Việc học có nhiều trở ngại nên chú trọng sức khỏe tốt để học hành.

    Câu 2: sang năm em tốt nghiệp có được bằng giỏi hay không?

    Tốt khá giỏi chứ chư phải hạng giỏi. Kém nhất 8 điểm.

    Câu 3: dự định tốt nghiệp xin việc gần nhà có thành hay không?

    Xin việc ở xa nhà thì thành.

    Em cảm ơn anh đã giúp!

    @duybaobaby,

    Kính gửi anh Thiên Đồng nhờ anh xem giúp vợ chồng em một quẻ

    Em tuổi: Tân Dậu (sinh 20/01 ÂL, lúc 6h45')

    Chồng em (sinh năm Quý Hợi)

    và con trai sinh 21/07/2007

    1. Anh xem giúp gia đình em : gia đạo hiện tại 3 thành viên có hạp không, hai vợ chồng em đến năm nào thì việc kinh doanh phát triển tốt và vững chắc?

    -Tuổi 3 người trong gia đình tương đối hợp. Tuy vậy con trai sức khỏe kém, khi mẹ sinh xong thì sức khỏe mẹ cũng có vấn đề. Từ năm 2010 nếu kinh tế khá thì từ đầu năm nay đến giờ chuyện nhà có lục đục. Nên sinh đứa Nhâm thìn hay Quý tị thì sự nghiệp phát triển tốt.

    2. Hiện tại em đang có bầu và dự sanh tháng 04/2012 âm lịch. Em sinh đứa bé út này có thì gia đình em có tốt không?

    Vậy quá tốt. Nếu đúng vậy thì sinh bé ra thì rất khá. Tháng 5 năm đó thì rất phát.

    3. Năm nay tụi em định mở thêm cửa hàng kinh doanh nữa thì có tốt không anh? nếu được anh xem dùm em ngày tháng nào khai trương tốt

    Không nên mở, sang năm sau tính lại.

    Mong anh tư vấn cho tụi em sớm để tụi em sắp xếp công việc. Rất cảm ơn anh Thiên Đồng nhiều.

    Không có gì.

    mệt.

    Thiên Đồng

    2 people like this

  4. "Nhiều người quá để tâm đến kinh phí dựng tượng đài"

    "Mọi người đang lạc vào chuyện tranh cãi không nên làm to mà để dành tiền chăm lo cho các mẹ còn sống hay người nghèo, trẻ em... Nhưng việc nào phải đi việc ấy", họa sĩ Lương Xuân Đoàn, Phó vụ trưởng Vụ Văn hóa văn nghệ (Ban Tuyên giáo TƯ) trao đổi với VnExpress.

    - Là thành viên Hội đồng thẩm định nghệ thuật, đồng hành cùng dự án từ khi mới khởi động, ông nói gì trước nhiều ý kiến trái chiều về công trình xây tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng ở Quảng Nam?

    - Tôi cho là dư luận đang quá để tâm vào số tiền mà chưa nhìn thấu đáo ở các khía cạnh. Quảng Nam là vùng đất tiêu biểu cho các mẹ VN anh hùng, có rất nhiều người con hy sinh. Đây là vùng đất thiêng, chọn địa điểm xây tượng ở đây chắc không có gì phải bàn cãi. Quảng Nam cũng là tỉnh nghèo, chưa có không gian văn hóa cộng đồng, chưa có trung tâm sinh hoạt chính trị văn hóa nên đây là điểm nhấn cần thiết cho quy hoạch phát triển tương lai của tỉnh.

    Chúng ta không nên căng thẳng ở vấn đề kinh phí. Mọi người đang lạc vào chuyện tranh cãi không nên làm to như thế mà nên dành tiền chăm lo cho các mẹ còn sống hay người nghèo, trẻ em... Các công trình trường học, y tế vẫn phải làm, việc chăm sóc mẹ cũng thế. Nhưng việc nào phải đi việc ấy. Đền ơn đáp nghĩa luôn là việc phải làm đầy đủ, nhà nước mình chưa làm gì thất lễ với các mẹ. Nhưng xây tượng để có được một địa điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng, tạo điểm nhấn cho đô thị mới như Tam Kỳ cũng là cần thiết.

    Ở ta bao giờ cũng vậy, cứ công trình bất bình thường là đặt vào sự so sánh khập khiễng, không thỏa đáng với ý tưởng nhân văn của dự án. Khi dự án mới triển khai cũng có tiếng nói phản ứng. Tuy nhiên, vấn đề bây giờ không phải là thu nhỏ tượng đài, bớt số tiền 410 tỷ này để làm việc khác. Nếu cứ nghĩ mãi thế thì lúc nào mới có thể làm được công trình thực sự của tương lai, tồn tại vài thập kỷ?

    Hà Nội từng cuống lên làm Bảo tàng Hà Nội tốn 2.000 tỷ đồng mà mới chỉ là vỏ, nội thất chưa xong. Nếu muốn so sánh thì tượng đài này chẳng đáng là bao. Rất nhiều công trình quốc gia có số tiền đầu tư còn lớn hơn nhiều lần nhưng chưa hoàn thiện, xuống cấp, dở dang… Tại sao tượng đài chiến thắng Điện Biên nhanh hỏng? Đơn giản vì quá cấp tập, trong nửa năm hoàn thiện một công trình hàng chục tỷ đồng.

    td2.jpg

    Tượng mẹ VN anh hùng đã xong mô hình xi măng tỷ lệ 1/1. Ảnh: Vũ Huy Thông.

    - Vậy theo ông, công trình có những yếu tố nào thuyết phục để cần bỏ ra số tiền đầu tư lớn đến vậy?

    - Khi khởi động cuộc thi chọn ý tưởng, đến lần hai mới chọn được phác thảo của họa sĩ Đinh Gia Thắng. Tác giả vào cuộc rất muộn nhưng đáp án rất có duyên. Tại nơi quyết định đặt tượng là núi Cấm có 2 quả đồi tự nhiên, thế đất thích hợp để làm dự án này với khoảng 15 ha. Hình tượng người mẹ với vách đá vòng cung hình thành từ nguyên mẫu mẹ Thứ.

    Chủ trương ban đầu nhận được sự ủng hộ rộng rãi, sau được nhà nước quan tâm trở thành công trình quốc gia. Đây là sự quan tâm rất lớn của Chính phủ đối với Quảng Nam và theo nguyện vọng của rất nhiều người về một công trình quốc gia xứng đáng để ghi nhớ, biết ơn mãi mãi sự hy sinh cao quý của mẹ VN trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đến bây giờ, tôi cho là chủ trương này vẫn nhận được sự đồng thuận nhưng thời gian qua có ý kiến trái chiều vì động đến tiền bạc, vấn đề kinh tế rất nhạy cảm.

    Công trình khởi động từ giữa 2006 đến giờ, phải điều chỉnh, bỏ khá nhiều hạng mục vì kinh phí không đủ. Tôi cho là chưa có tượng đài nào có lộ trình dài như vậy. Điều đó cho thấy tính nghiêm túc, cẩn trọng của những người có trách nhiệm khi đặt chất lượng nghệ thuật của công trình lên hàng đầu. Trong quá trình làm, khi kêu gọi hảo tâm của doanh nghiệp, tổ chức thì nguyện vọng của họ là không bỏ hạng mục nào vì như thế sẽ phí.

    Về phía tác giả, nghệ sĩ Đinh Gia Thắng đã bỏ rất nhiều công sức, tiền bạc để theo đuổi công trình. Tác giả thậm chí còn phải đưa gia sản của mình ra thế chấp để làm vì từ lúc khởi động, các công việc đã tiêu tốn rất nhiều. Cách đây 2 năm, khi cơn bão đổ vào đã làm sập nhà xưởng và sập mô hình tượng xi măng, tác giả phải chịu chứ nhà nước không đền bù. Với sự chuẩn bị nghiêm túc, tôi cho rằng việc xây dựng công trình này là hết sức cần thiết và không có gì băn khoăn. Tôi đánh giá cao quyết tâm của tác giả, cố gắng của hội đồng và mong cho công trình hoàn thành để trở thành công trình quốc gia có chất lượng cao.

    - Trong tâm thức của người Việt, hình ảnh mẹ VN anh hùng nhỏ bé gầy gò luôn được coi là biểu tượng có sức lan tỏa lớn chứ không phải công trình đồ sộ, ông nghĩ sao về điều này?

    - Không nên lấy tâm lý quen nhìn hình ảnh người mẹ gầy gò khắc khổ để so sánh trong trường hợp cụ thể này. Trong điều kiện đất Quảng Nam vốn có sẵn trong lòng nó là di sản Hội An, Mỹ Sơn thì không gian dành cho dự án tượng đài mẹ VN cũng là không gian khiêm tốn thôi. Tượng khi đặt vào không gian lớn ở khu vực núi Cấm này cũng là lọt thỏm. Nếu để thực sự tương xứng với chỗ ấy thì còn phải to nữa. Nghe thì hoảng nhưng đặt trong khung cảnh thiên nhiên, tượng đài hài hòa, không chế ngự và xóa bỏ kết cấu cây xanh, đồi tự nhiên.

    Điểm qua các công trình tượng mẹ đã xây dựng như Mẹ Tổ quốc ở nghĩa trang TP HCM thì trong không gian đó chỉ xây dựng như thế là vừa. Hay Mẹ miền Nam ở Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, một số tượng xây trong nhà cũng quy mô nhỏ thì người ta đã quen với hình ảnh này. Còn khi đã có điều kiện để vinh danh hình tượng người mẹ VN như ở Quảng Nam thì cần phải nhìn tổng thể.

    Quảng Nam tuy nghèo về kinh tế nhưng có lợi thế là giàu về di sản. Thực tế, năm 2005, từ trước khi hình thành dự án, đã có ý tưởng xây dựng Bảo tàng nghệ thuật đương đại ở Tam Kỳ, tạo trục tam giác văn hóa Hội An - Mỹ Sơn - Bảo tàng đương đại. Trục này sẽ tạo thế mạnh về văn hóa du lịch cho tỉnh bên cạnh phát triển kinh tế, tạo cho khuôn mặt văn hóa miền Trung có được khởi đầu tốt trong thế kỷ mới. Tới khi thành dự án thì được tỉnh tiếp nhận ngay và thành nghị quyết. Song khi có dự án làm tượng đài mẹ VN anh hùng thì dự án bảo tàng được đẩy lùi lại để tập trung xây tượng đài. Vì thế, bên cạnh tượng đài mẹ trong quy hoạch sẽ dành đất để xây bảo tàng, giờ chỉ cần kêu gọi đầu tư.

    - Thưa ông, làm sao xử lý được vấn đề thẩm mỹ khi với công trình tượng đài, việc lồng ghép quá nhiều công năng thường tạo ấn tượng không tốt?

    - Với công trình này, trục chính là khối tượng ở giữa, trong lòng tượng là bảo tàng mẹ VN. Từ phía trước đi vào là 8 trụ như cột dẫn vào bên trong công viên lớn và bên trong cùng là tượng đài mẹ. Dự án này gắn với quảng trường, không gian rộng. Khi đưa ra phương án, ngoài tác giả phần tượng còn có kiến trúc sư Nguyễn Luận đưa ra ý tưởng thiết kế cho toàn bộ không gian. Các hạng mục như đường trường lang che mưa nắng cho người dân tới chiêm ngưỡng mà không bị mưa nắng hay hồ nước luôn có nước luân chuyển từ cách vách đá xuống... tạo ra sự hài hòa.

    Tôi khẳng định việc lồng ghép các công năng không làm cho cụm công trình tượng đài này bị "loãng" về mặt thẩm mỹ hay ý nghĩa. Một bảo tàng quốc gia về mẹ được đặt trong lòng khối tượng. Việc sưu tầm tư liệu về các mẹ anh hùng, các hiện vật liên quan sẽ được lưu giữ trong bảo tàng. Công trình như một công viên lớn, không gian mang ý nghĩa về mặt tinh thần, cần thiết phải có nhiều hạng mục.

    ong-Doan-1.jpg

    Họa sĩ Lương Xuân Đoàn: "Quảng Nam xứng đáng có công trình văn hóa - lịch sử này, xứng đáng có một khuôn mặt khang trang, đẹp đẽ chứ không chỉ dừng lại ở khuôn mặt cũ trong thế kỷ mới". Ảnh: Nguyễn Hưng.

    - Mô típ làm tượng to, đồ sộ được cho là đang đi ngược lại xu hướng của thế giới, hình thức làm công trình tưởng niệm cũng không nhất thiết phải là tượng đài. Hội đồng nghệ thuật đã cân nhắc như thế nào về điều này?

    - Dự án này đáp ứng được đầu bài, phù hợp với mảnh đất có nhiều quy hoạch trong tổng thể quy hoạch của Tam Kỳ. Khi có một dự án tương ứng với đầu bài này cũng là cần thiết để thay đổi khuôn mặt đô thị này vì không gian văn hóa như thế này gần như trống trải tại miền Trung. Việc này tôi cho là đừng nên bị ảnh hưởng bởi thế giới.

    Ở châu Âu chỉ có tượng đài ở Nga làm to, còn đa số tượng gắn với vườn, theo tỷ lệ kiến trúc để quyết định kích thước của điêu khắc. Tỷ lệ của tượng đài mẹ VN đặt ở không gian này thì thấy vừa với không gian chung. Tức là không gian cho phép thì mới có thể xây tượng đài theo tỷ lệ phù hợp. Ví dụ, ở Hà Nội có tượng đài Lý Thái Tổ, tượng Cảm tử quân không quá to nhưng thực ra không hợp lý bởi Hà Nội là đô thị cũ, cứ ấn bằng được tượng đài vào đã là phiêu lưu mạo hiểm, phá vỡ không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

    - Ông muốn nói gì với những người cho rằng nên ngừng dự án hoặc lùi lại khi đất nước giàu có hơn?

    - Tôi chia sẻ những suy nghĩ của người dân nhưng việc này khiến tôi nhớ lại câu chuyện của TP HCM đầu những năm 1990 khi bỏ ra số tiền hơn 600 triệu, lúc đó tương đương 100.000 USD, để mua lại bức tranh Vườn xuân Trung Nam Bắc của danh họa Nguyễn Gia Trí - tác phẩm mà họa sĩ dày công sáng tạo trong suốt 20 năm.

    Hồi đó, dư luận cũng rất căng thẳng, vì số tiền đó có thể sửa chữa nhiều cây cầu cũ, người dân không phải chịu tai nạn sập cầu; hay nhờ nó rất nhiều người được ăn cơm chứ không còn phải ăn cháo. Tuy nhiên, lúc đó nếu nhà nước không bỏ tiền ra mua thì giờ kiệt tác này chắc chắn không còn ở VN vì người nước ngoài sẵn sàng đã trả giá gấp 10 lần và bây giờ, dù có bỏ ra số tiền thậm chí gấp cả trăm lần cũng không mua lại được.

    Câu chuyện đánh dấu bước đột phá về tư duy quản lý, cũng như hành xử văn hóa cực kỳ đáng trân trọng của nhà nước, anh em nghệ sĩ giờ vẫn còn nhắc lại. Cũng nhờ đó, tác phẩm của anh em nghệ sĩ được nâng giá trị rất nhiều. Qua đây tôi muốn nói rằng, cái gì đáng tiền thì nên làm, nên mua.

    Tỉnh Quảng Nam xứng đáng có công trình văn hóa - lịch sử này, xứng đáng có một khuôn mặt khang trang, đẹp đẽ chứ không chỉ dừng lại ở khuôn mặt cũ trong thế kỷ mới. Như vậy rõ ràng sẽ thiệt thòi cho thế hệ sau, mình nên nghĩ cho những công dân tương lai của người Việt.

    Nguyễn Hưng thực hiện

    ===================

    Câu: "Nhưng việc nào phải đi việc ấy." nghe có vẻ có lý, nhưng nhìn lại thì vẫn là việc vun tiền qua cửa sổ. Dù cho có bóp lại con số 410 tỷ đồng thì cũng chỉ là việc bò ốm bò béo đều qua lổ kim. Có phải chăng chỉ dựa vào một đống xi măng trăm tỉ đồng đó mà trở nên là điểm nhấn văn hóa? mà văn hóa cộng đồng nâng cao và phát triển? và là có thể là điểm nhấn cho phát triển quy hoạch tương lai? Nghe qua có gì đó thơ mộng.


  5. (tiếp theo)

    Posted Image

    Bên trong các toà nhà có kết cấu bằng kính và thép ở Đức, các kiến trúc sư luôn chú ý đến các khoảng cây xanh, nhằm tạo cảm giác thư thái và cố gắng giảm bớt tính “lạnh” của chất liệu kính. Ảnh chụp bên trong tổ hợp Sony Center ở Berlin:

    Posted Image

    Toà nhà bằng kính mang tên Pei-Bau là phần mở rộng của Bảo tàng Lịch sử Đức, được thực hiện theo ý tưởng của kiến trúc sư mang hai dòng máu Mỹ-Trung I.M.Pei, tác giả toà kim tự tháp bằng kính ở bảo tàng Louvre Paris. Công trình có phần cầu thang cuốn trong suốt này là nơi diễn ra các triển lãm đương đại của bảo tàng:

    Posted Image

    Nhà ga chính của Berlin được đưa vào sử dụng toàn bộ hai ngày trước lễ khai mạc World Cup năm 2006. Công trình có dáng vẻ hiện đại với kết cấu kính và thép này cũng là nhà ga đường sắt lớn nhất châu Âu, mỗi ngày đón 1.800 lượt tàu và khoảng 350.000 hành khách. Đây là đồ án đoạt giải nhất trong cuộc thi tìm thiết kế nhà ga của nhóm kiến trúc sư Gerkan, Marg và Partners đến từ Hamburg:

    Posted Image

    Trụ sở của Bộ Nội vụ Liên bang Đức soi bóng xuống dòng sông Spree ở thủ đô Berlin. Công trình có dáng vẻ vững trãi như một pháo đài, nhưng vẫn tạo được sự thanh thoát nhẹ nhàng nhờ ứng dụng chất liệu kính ở bề mặt:

    Posted Image

    Hai toà nhà văn phòng của quốc hội Đức cách nhau bằng dòng Spree. Tòa bên trái mang tên Paul Löbe House dành cho các uỷ ban và Marie Elisabeth Lüders House (bên phải) dành cho thư viện và các hoạt động nghiên cứu. Cả hai đều nằm sát trụ sở quốc hội Reichstag và được nối với nhau bằng những cây cầu mảnh mai để người đi bộ và xe đạp qua lại:

    Posted Image

    Toà nhà Victoria Haus cao 108 m ở thành phố Duesseldorf. Toà nhà văn phòng hình tròn có kết cấu bên ngoài bằng kính và thép này gồm 29 tầng được hoàn thành vào năm 1998 và là toà nhà cao thứ ba tại thành phố công nghiệp Duesseldorf:

    Posted Image

    Khách sạn Park Inn trên quảng trường Alexanderplatz. Công trình cao 125 m này khi khánh thành vào năm 1970 đã trở thành toà nhà cao nhất ở cả hai phần đông và tây Berlin thời điểm đó. Sau khi nước Đức thống nhất, toà nhà này đã được thay đổi chủ và được thiết kế thêm phần ngoại thất bằng kính hiện đại:

    Posted Image

    Phòng đọc của thư viện Anna Amalia ở Weimar, nơi lưu giữ nhiều tài liệu quý của nền văn học và lịch sử Đức với hơn một triệu đầu sách. Sau vụ hoả hoạn nghiêm trọng năm 2004, thư viện được xây dựng lại, trong đó nổi bật là phòng đọc có mái vòm bằng kính, giúp độc giả có thể đọc bằng ánh sáng tự nhiên ngay cả khi ngồi dưới tầng hầm:

    Posted Image

    Tổ hợp World Trade Center ở Dresden rộng 80.000 m2, bao gồm các văn phòng, phòng hội nghị, khu vực triển lãm và cả khách sạn. Đây là một trong những nơi thường diễn ra các hoạt động quan trọng của thành phố cổ Dresden:

    Posted Image

    Hai mảng đối lập về kiến trúc tại thành phố tài chính Frankfurt am Main. Các cao ốc bằng kính và thép của những ngân hàng lớn nhất thế giới nhìn từ phía một con phố tương đối cổ nằm gần nhà ga chính của thành phố (Hauptbahnhof):

    Posted Image

    Tổ hợp văn phòng, trung tâm thương mại và giải trí Neues Kranzlereck ở Berlin do kiến trúc sư Helmut Jahn thiết kế. Công trình có phần ngoài bằng kính này được xây dựng trong hai năm từ 1998 đến 2000:

    Posted Image

    Kính được ứng dụng làm cả tường ngăn (hàng rào) rất ấn tượng. Đây là ý tưởng thiết kế độc đáo thuộc tổ hợp văn phòng của quốc hội Đức Jakob Kaiser Haus, nằm cạnh sông Spree:

    Posted Image

    3. Nhận Xét Của Phong Thủy Lạc Việt Đối Với Những Kiến trúc Bằng Kính.

    Bằng cái nhìn của Lý học Đông Phương và trên quan điểm của Phong Thủy Lạc Việt thừa hưởng những tri thức của Văn hiến 5000 năm của tổ tiên Lạc Việt, dù kiến trúc xây dựng thay đổi đa dạng về hình thức hay phong cách kiến trúc cũng không nằm ngoài phạm vi quán xét của Phong Thủy. Dựa trên hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành, Phong thủy Lạc Việt có thể nhận xét những mặt tích cực và tiêu cực của các công trình kiến trúc từ truyền thống đến hiện đại, miễn sao đó là kiến trúc. Trong một phạm vi nhỏ hẹp, người viết chỉ dùng một phần nhỏ của tri thức Phong Thủy Lạc Việt để nhận xét mô hình Kiến trúc hiện đại bằng kính tại Đức, một trào lưu tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc đương đại.

    Theo học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, cho rằng do sự vận động và tương tác từ khởi nguyên của vũ trụ, tự nhiên phân ra thành hai loại khí Âm và Dương. Hai loại khí này tương tác lẫn nhau tạo nên sự phát triển của vạn vật. Vạn vật lại tương tác và trùng trùng khởi sinh. Phong Thủy Lạc Việt khẳng định rằng sự tương tác của vật chất tạo là Âm động tạo ra Dương khí và sự vận động nội tại của vật chất là Dương tịnh tạo ra Âm khí. Mỗi loại khí đều có mặt tích cực và tiêu cực trong từng trường hợp và trong mục đích cụ thể.

    Quán xét trên cơ sở học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, ánh sáng mặt trời được gọi là Dương quang, thuộc về khí Dương. Kính do tính chất trong suốt và thấu thị, tạo điều kiện cho ánh sáng đi qua, xuyên qua, nghĩa là ánh sáng đi qua một môi trường trong suốt và ít nhiều bị gãy khúc hoặc biến tính tạo một trường năng lượng dương. Cơ sở thực nghiệm khoa học cũng xác nhận rằng ánh tác động lên thấu kính sẽ tạo nên năng lượng dương. Đó là tương tác. Học thuyết thuyết âm dương Ngũ hành xác định sự tương tác của vật chất tạo nên khí Dương. Từ đây có thể nhận thấy rằng các kiến trúc hiện đại bằng kính tại Đức được kiến trúc và xây dựng trên phương tiện vật liệu chủ yếu là kính với khung sường kết cấu bằng sắt thép là những mô hình kiến trúc mang khí dương rất dồi dào và cường thịnh, điển hình cho các kiến trúc cần có khí Dương vượng.

    Mặt khác, cũng theo học thuyết âm dương Ngũ Hành, những khái niệm thuộc về tinh thần là Dương. Do vậy tư duy, ý thức, khả năng sáng tạo, tuy duy logic, ý chí phấn đấu, nhiệt huyết năng động, nói năng diễn thuyết, tư tưởng bay bổng, tinh thần hướng thượng, chủ nghĩa sáng tạo…thuộc Dương. Theo như Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, khái niệm rằng Phong Thủy là sự tương tác, đó là sự tương giữa con người và môi trường, mà sự tương tác trực tiếp nhất, tế vi nhất là Khí, Dương khí và Âm khí. Vì thế với những công trình kiến trúc làm bằng kính, như kiến trúc tại Đức thì đó là môi trường mà khi con người hoạt động và làm việc tại đó, sẽ chịu sự tác động chủ yếu và hầu hết cúa khí Dương. Cũng như đã nói ở trên, do sự tác động của Dương khí lên đối tượng là con người nên con người ở đây trở nên luôn tích cực, năng động, nhạy bén, sáng tạo, hoạt động, hành động, suy tư, tư duy…tóm lại luôn trong trạng thái hoạt động của cả thể chất lẫn tinh thần. Do đó, những công trình kiến trúc làm bằng kính luôn là mô hình lý tưởng cho một môi trường cần sự hoạt động về tinh thần và năng động về thể chất, một môi trường hữu ích cho việc đầu tư, trau dồi khai thác trí tuệ, tìm năng của con người đưa vào phục vụ lợi ích xã hội. Vì thế, mô hình kiến trúc làm bằng kính luôn thích hợp cho làm nơi hoạt động trí tuệ như công nghệ thông tin, văn phòng kinh doanh, văn phòng dịch vụ, những nơi diễn thuyết họp hành, bảo tàng nghệ thuật mỹ thuật, thư viện, triễn lãm…bởi những nơi đây cần có sự hoạt động chủ yếu của tinh thần và cũng bởi do tính chất dương khí của công trình nên nó cũng thích hợp với công năng sử dụng để làm nơi trụ sở công quyền hay là cơ quan hành chánh quốc gia, cho nên, kiến trúc làm bằng kính, có thể nói là mô hình kiến trúc hữu ích trong việc khai thác năng lực và năng lượng của con người , đáng là những kiểu trúc tiêu biểu.

    Tuy vậy, cũng theo học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, khi Dương khí hay Âm khí quá vượng thì bao giờ cũng sinh bất cập. Sự vượng phát thái quá của khí Âm hay khí Dương đều dẫn đến hiện tượng mất cần bằng Âm Dương, lại trở nên tiêu cực. Trong trường hợp cụ thể đối với kiến trúc làm bằng kính này thì do chính bởi cấu trúc vật liệu làm cho công trình tạo nên nhiều dương khí và Dương khí quá dồi dào, do vậy dể dàng đưa đến những thái quá trong hoạt động. Điều này thật dể dàng nhận thấy qua những con người hoạt động và làm việc lâu dài trong những công trình kiến trúc bằng kính này là thường dể bị căng thẳng, mỏi mệt, cáu gắt, uể oải, suy nhược về tinh thần và thể chất. Cũng do tính chất Dương khí thái quá nên môi trường ở những khu kiến trúc làm bằng kính thường có bầu không khí khí làm việc dưới những áp lực căng thẳng vô hình, những áp lực luôn tạo sự năng động cho con người hoạt động và làm việc nơi đây nhưng thường thì thời gian gắn bó của các cá nhân ở nơi đây không được lâu dài và bền vững. Sự thái quá của Dương khí thể hiện sự mất cân bằng cơ bản, xét trên quan điểm Lý học, do đó thông qua những hoạt động sống của con người thì từ cơ sớ lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành có thể đưa đến một nhận xét, cũng như một sự tiên tri rằng đây là một mội trường mà trong đó mọi hoạt động luôn biến đổi trong sự mất cân đối và sự biến đổi đó là do sự tác động trực tiếp bởi Dương khí, cho nên tính bất an hay đột biến được biểu hiện cụ thể qua thực tế hoạt động hay hiệu quả của sự hoạt động là hiển nhiên, phản ánh đúng tính quy luật khách quan của cơ sở Lý Thuyết Âm Dương.

    Mặt khác, do vật liệu chủ yếu là chính nên thường vật liệu kết cấu chính là sắt thép tạo khung sường, vì vậy các kiến trúc làm bằng kính thường có hình thể mà trong phong thủy gọi là “lộ cốt”, có thể là lộ cốt trong hoặc cũng có thể là lộ cốt ngoài. Thêm nữa, các kiến trúc đôi khi có hình thù tổng thể lạ mắt hay kỳ dị, cho nên theo quan điểm xấu – tốt của Hình Lý Khí thì cũng góp phần vào làm tăng thêm tính chất xấu của công trình. Tính tự do sáng tạo trong kiến trúc hiện đại và việc vận dụng đầy sáng tạo vật liệu làm bằng kính để tạo một phong cách đặc thù kiến trúc dể đưa đẩy các mô trình kiến trúc đến những hình thể xấu theo quan điểm Phong thủy Lạc Việt. Hơn nữa, bởi kính là vật liệu chủ yếu thay tường vách bằng bê tông nên ít nhiều cũng tạo những ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của con người hoạt động trong đó, do tính phản quan một phần hay tính thấu thị của kính. Do vậy, chính hiệu ứng giữa ánh sáng và kính dể làm cho con người bị bệnh mất ngủ, căng thẳng, tress, dẫn đến những bệnh về tiêu hóa, bao tử hay tim mạch.

    Có thể nói rằng kiến trúc làm bằng kính là một trong những phong cách kiến trúc đặc thù của trường phái kiến trúc hiện đại (modernisme) với chất liệu chủ yếu là kính và sắt thép tạo nên một phong cách tiêu biểu đặc biệt và ấn tượng. Tuy nhiên, khi quán xét trên quan điểm Phong thủy Lạc Việt thì do chính yếu tố thiết kế kiến trúc bằng kính đã tạo nên những hiệu ứng tốt xấu lên đối tượng là con người hoạt động trong các công trình kiến trúc này. Dù cho sự phát triển, biến đổi về mặt kiến trúc, cũng như kết cấu trong xây dựng thì kiến trúc xây dựng cũng vẫn là đối tượng quán xét của phong thủy và cũng chỉ là một phần trong nhiều yến tố của phong thủy. Kiến trúc xây dựng phát chuyển theo từng thời kỳ cũng chỉ thực hiện và đáp ứng bốn (4) tiêu chí chính là Bền Bỉ - Kinh Tế - Tiện Ích – Thẩm Mỹ, nhưng không thể đáp ứng một tiêu chí có tính tiên quyết là Tốt và chỉ có Phong thủy và chỉ với Phong Thủy Lạc Việt mới đáp ứng thỏa mãn tiêu chí này. Như đã nói trên, phong thủy không phải yếu tố riêng phần đối lập với kiến trúc mà ngược lại kiến trúc là một bộ phận của phong thủy. Vì vậy phong thủy là sự tổng hòa của các yếu tố nhằm mang lại Chân - Thiện - Mỹ phục cho mong muốn an lạc và phát triển của con người, của cộng đồng và xã hội.

    III. Kết Luận:

    Tóm lại, việc xây dựng các công trình trong trào lưu kiến trúc đượng đại thì đa phần hoặc chọn phong cách kiến trúc Hiện Đại hoặc theo phong cách kiến trúc Hậu hiện đại hoặc đôi khi Hitech (Kỹ thuật công nghệ cao) đều lấy tính hình tượng hay chú trọng việc vận dụng vật liệu kết cấu là phương tiện thể hiện ý tưởng hay phong cách, đều không những không ngoài sự quán xét của Phong thủy Lạc Việt mà còn là cơ sở cần xét đến để xác định chiều tương tác tích cực tốt xấu đi đến sự nhận định thành bại hay thịnh suy của một công trình. Xét cho cùng, khi một công trình kiến trúc được dựng nên không chỉ đơn thuần hướng đến sự tồn tại bền bỉ, công năng sử dụng tiện lợi tiện nghi, yếu tố thẩm mỹ thu hút và giá trị hiện kim đáng quan tâm của công trình mà tất cả đều nhắm đến sự phát triển thành hay bại, thịnh hay suy, cho dù đó là sự tâm huyết hay đầu tư hướng đến lợi nhuận hay phi lợi nhuận thì sự phát triển hay không phát triển của một thực thể kiến trúc là mối quan tâm trong tâm khảm và hàng đầu. Phong thủy Lạc Việt với ý nghĩa là sự tổng hòa các mối tương tác, bao hàm yếu tố kiến trúc thì mọi cơ sở quán xét đều đi đến nhận định tốt xấu bảm bảo tính định hướng của sự phát triển của công trình đem lại lợi ích phục vụ xã hội.

    Viết xong, ngày 16 tháng 11 năm 2009

    Thiên Đồng

    ===========================================

    Tham Khảo:

    -Phong thủy trong Bất động sản, tg Jo Incheol, NXB Tổng Hợp Tp HCM.

    -Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2007

    -Phong thủy Lạc việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, lưu hành nội bộ.

    -Kiến trúc hiện đại, tg Tôn Thừa Nguyên, NXB Xây Dựng.

    -Nguyên lý thiết kế nhà dân dụng: Nhà ở và nhà công cộng, tg Gs, Ts, Kts, Nguyễn Đức Thiềm, NXB Khoa học kỹ thuật.

    -www.dothi.net

    -www.google.com

    1 person likes this

  6. (tiếp theo)

    II. CÁI NHÌN PHONG THỦY LẠC VIỆT VỀ KÍNH TRONG KIẾN TRÚC HIỆN ĐẠI CỦA ĐỨC

    1.Trào Lưu Phát Triển và Phong Cách Kiến Trúc Bằng Kính.

    Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trào lưu kiến trúc hiện đại ở các nước Châu Âu được khai sinh và bùng nổ, mở ra một “kỷ nguyên mới” đoạn tuyệt với kiến trúc truyền thống cổ điển với nhiều chi tiết rườm rà với những quy định chặt chẽ về không gian kiến trúc, đưa kiến trúc nhân loại tiến đến một bước phát triển mới. Trào lưu kiến trúc hiện đại có thể được xem là luồng sinh khí mới tạo điệu kiện cho tư duy sáng tạo kiến trúc được bay bổng và tự do hơn về khả năng sáng tạo những giải pháp hữu hiệu về mặt không gian kiến trúc, khai thác tối đa về phương pháp sử dụng vật liệu, biện pháp thi công, đa dạng trong quan điểm thẩm mỹ, khởi sướng một một kỷ nguyên rực rở của kiến trúc hiện đại vào những thập niên đầu của thế kỷ XX.

    Giữa những sự đa dạng về loại hình kiến trúc của trào lưu Kiến trúc hiện đại thì vật liệu kiến trúc cũng được đưa lên thành đối tượng chính quyết định cả về cấu trúc, xây dựng, thẩm mỹ và biểu tượng. Đó là những công trình như Tháp Eiffel do hai kiến trúc sư Koechlin và Nouguier thiết kế, Biệt Thư Gạch Đỏ (The Red House) của Phillip Wedd thiết kế, Cung Thủy Tinh (Crystal Palace) ở Hyde Park, (London, Anh) năm 1851 do Joseph Paxton thiết kế, Trường Bauhaus, Đức do KTS Walter Gropius thiết kế, Biệt thự Savoye ở Poissy, Pháp- Le Corbusier thiết kế, Toà nhà Quốc hội của Brasil do Oscar Niemayer thiết kế…đã tạo nên những ấn tượng đậm nét, đầy tính cách và tạo ảnh hưởng mạnh mẽ trong trào lưu kiến trúc thế giới.

    Posted Image

    Tháp Eiffel xây dựng năm 1889

    Posted Image

    Biệt thự Gạch đỏ (The Red House)

    Posted Image

    Cung Thuỷ Tinh (Crystal Palace)

    Posted Image

    Biệt thự Savoye ở Poissy, Pháp- Le Corbusier

    Posted Image

    Trường Bauhaus, Đức do KTS Walter Gropius thiết kế

    Posted Image

    Toà nhà Quốc hội của Brasil do Oscar Niemayer thiết kế

    Và sự ảnh hưởng lang tỏa đó tạo hứng khởi sáng tạo kiến trúc cho việc vận dụng vật liệu bằng kính trong kiến trúc hiện đại, một phong cách kiến trúc mới tại Đức. Kính được dùng làm vật liệu phổ biến trong phong cách kiến trúc hiện đại tại một quốc gia công nghiệp với những nét vừa lạ lẫm vừa hoàng tráng, xuất hiện rất nhiều cao ốc văn phòng với kết cấu thép và kính gần như trong suốt. Nhìn từ bên ngoài, có thể thấy rõ sự đi lại, hoạt động, của các nhân viên của từng con người trong tòa nhà.

    2. Những kiến trúc tiêu biểu:

    Mái vòm bằng kính của toà nhà quốc hội Đức (Reichstag). Đây là tác phẩm của kiến trúc sư Anh, Norman Foster, có chiều cao 23,5 m, làm từ 800 tấn thép và 3.000 m2 kính. Bên trong mái vòm còn có 360 tấm gương để phản chiếu ánh sáng tự nhiên vào phòng họp chính. Người dân có thể tự do leo lên thăm mái vòm và theo dõi các nghị sĩ họp bên dưới:

    Posted Image Reduced: 98% of original size [ 583 x 843 ] - Click to view full imagePosted Image

    Bahn Tower, trụ sở hiện đại của hãng đường sắt Đức Deutsche Bahn trên Quảng trường Potsdamerplatz ở Berlin. Toà nhà có kết cấu bằng thép và kính cao 94 m với 26 tầng được khánh thành vào năm 2000. Cao ốc văn phòng có hình tam giác trong suốt này là một trong những biểu tượng của Berlin hiện đại:

    Posted Image

    Một góc của quần thể hiện đại Sony Center bao gồm cả tháp Bahn Tower. Tổ hợp do kiến trúc sư Helmut Jahn thiết kế có trị giá xây dựng 800 triệu USD gồm nhiều cửa hiệu, nhà hàng, văn phòng, trung tâm hội nghị, khách sạn, rạp chiếu phim và cả bảo tàng về điện ảnh. Toàn bộ phần bên trong tổ hợp này được hỗ trợ Wi-Fi miễn phí.


  7. (tiếp theo)

    5. Nhận xét theo quan niệm Hình Lý Khí đối với một số kiểu kiến trúc hay công trình:

    5.1 Tòa nhà Royal College of Physicians

    Posted Image

    Tòa nhà Royal College of Physicians thiết kế bởi Denys Lasdun ở Regent Park được cho là công trình Kiến trúc Hậu hiện đại đầu tiên, nếu xét trên cái nhìn Hình Lý Khí thì sẽ được miêu tả như hình tượng miệng một con cá sấu đang hả miệng nhưng lại bị chống bởi ba cây gậy và nếu xét sự vững chãi của tòa nhà theo cảm quan thì công trình tỏ ra bị mất cân đối ngay phần đầu, hai khối kiến trúc trắng phía trên như hai miếng phô mai để chênh venh trên một nền và được chống chỏi bằng ba que tăm bé tí. Một hình tượng đầy khó khăn hay trở ngại.

    5.2 Học viện Nghệ thuật Châu Á Lasalle

    Posted Image

    Posted Image

    Học viện Nghệ thuật Châu Á Lasalle Sia - College of the Arts tại Singapore, được chọn thay mặt cho phong cách kiến trúc Hậu hiện đại. Ý tưởng xây dựng một cộng trình từ hình tượng của sự “tan vỡ” của một tảng băng trôi khổng lồ đã là một hình tượng mang ý nghĩa không tốt trong phong thủy. Nếu theo chiều cảm quan khác trên tổng thể mô hình thì kiến trúc như một khung cảnh của một góc chiến địa với 3 tường chắn và những lổ châu mai, những khe núi để luồn lách ẩn mình và những đường chiến hào dọc ngang phía sau. Hoặc cũng có thể hình dung kiến trúc như một con hổ bị nhốt trong tường đá và bị căng ra tư phía để lột da và cuối cùng là mảnh da căng dưới đất. đi vào phần bên trong của công trình thì kết cấu toàn bằng kính với những khu đà một màu đen của nham thạch, kết cấu xiêu vẹo tạo cảm quan thiếu sự vững chắc, tuy vạm vỡ và được nối kết bởi những cầu nối giữa 6 khối nhà, nhưng cũng thấy vẽ trống trãi và hình tượng “lộ xương” bên trong, hơn nữa cũng vì việc thể hiện bằng sự rộng mở của không gian, không có cổng trường, các lối đi thông suốt tạo nên những cách của sự thoái khí. Xét tổng thể hình tượng và kết cấu thì học viện Lasalle thì công trình này mang hình tượng âm khí nặng nề và dương khí suy thoái. Ý nghĩa và cũng như hình tượng cấu trúc đều dẫn đến nhưng ý nghĩa không tích cực và như vậy xét theo quan niệm Hinh lý Khí trong Phong Thủy lạc Việt thì tất nhiên cũng không thuộc cách tốt.

    5.3Công trình Bảo tàng Milwaukee

    Posted Image

    Công trình Bảo tàng Milwaukee - “Đôi cánh hải âu quyền năng”, nằm kề bên hồ Michigan, được cho rằng đã tạo một bước đột phá trong thiết kế kiểu dáng và công năng và được xem là tác phẩm đỉnh cao của loại hình kiến trúc động ảo, một phong cách Kiến trúc Hậu hiện đại do chính Calatrava khởi xướng từ cuối thế kỷ 20, đem lại thành công lớn và là biểu tương cho tiểu bang Wisconsin. Công trình bằng kiến trúc động ảo với đôi cánh bay lên là một hình tương đẹp mang ý nghĩa đẹp và cũng do sự vận động của đôi cánh nên đây là một công trình duy nhất tự tạo được dương khí chế ngự được phần âm khí và sát khí nặng nề của tổng thể kiến trúc lộ cốt bên trong và hình tượng lối vào như hàm cá mập hả họng nuốt chửng mọi thứ.

    5.4 Sân Vận Động Bắc Kinh.

    Posted Image

    Đây là một công trình điển hình cho hình tượng “lộ cốt” (trơ xương) mà Phong thủy Lạc Việt thường đề cập. Một hình tượng hoàn toàn xấu về mặt hình thể kiến trúc theo quan niêm phong thủy. Có lẽ vì thế báo chí thường đề cập đến sân động tổ chim này thường gọi nôm na là “cái bát trống rỗng”. Nếu nhìn với một cảm quan khác thì công trình như chiếc nón chẳng những thủng ở đỉnh đầu mà còn bị rách bươn hay có đường chỉ vá chằn vá đụp. Công trình này lúc đầu gây được sự chú ý của dư luận và công chúng cả nước, thu hút khách tham quan, nhưng sau đó và cho đến nay lượng khách tham đã không được như mong muốn của nước chủ nhà tưởng tượng và hy vọng như ban đầu.

    “Sân vận động Tổ chim - với chi phí xây dựng 450 triệu USD - giờ cần đến 15 triệu USD bảo trì hàng năm. Tuy nhiên, nguồn thu duy nhất là từ khách du lịch, với 9 USD/người cho mỗi lần vào chụp ảnh chiếc "bát" trống rỗng. Số du khách tới đây đã giảm từ 80.000 người/ngày trong tháng 10/2008 xuống chỉ còn 10.000 vào tuần cuối tháng 3.

    Với tình trạng này, các nhà chức trách ở Bắc Kinh khó có thể đạt được doanh thu 30 triệu USD/năm như mục tiêu đã đề ra đối với sân vận động này.” Trích báo điện tử baomoi.com (11/4/2009)

    5.5 Nhà hát lớn quốc gia tại Bắc Kinh

    Posted Image

    Nhà hát lớn quốc gia tại Bắc Kinh của kiến trúc sư (KTS) Paul Andrieu, chuyên gia hàng đầu người Pháp, được chọn trong một cuộc thi quốc tế, công trình Kiến trúc Hậu hiện đại được thể hiện là khối bán cầu bằng kính vĩ đại đặt trên một mặt nước vuông nằm ở vị trí trung tâm quảng trường Thiên An Môn. Công trình muốn thể hiện ý tưởng “trời tròn đất vuông”, nhưng trên thực tế mô hình kiến trúc lại dẫn đến một cảm quam khác. Toàn bộ phần vuông thể hiện là đất lại được thiết kế thành thủy, phần công trình tròn ở giữa dẫn đến hình tượng như một đĩa bay bị nạn ngập dần trong nước hay bị mắc cạn và người phương Tây thì gọi công trình này tên là “The Egg”, tức là quả trứng chim, nhưng tiếc thay quả trứng này lại bị úng ngập trong nước hay cũng có thể liên tưởng như một trứng trứng khủng long bị úng trong vũng nước tù. Do thiết kế mái vòm trong suốt và nước xung quanh, nên công trình mang nét vượng của dương khí phù hợp với những nơi mang tính chất cộng đồng hay hoạt động văn hóa nghệ thuật, nhưng tổng thể hình tượng lại không thể hiện được ý nghĩa tích cực nên sự phát triển cũng hay mong muốn hiệu quả cho nhiều lợi ích khác chắc hẳn cũng hạn chế hay trì trệ, bởi hình tượng một quả trứng trong nước không dẫn đến sự hình thành một sự sống hay sự phát triển.

    5.6 Sân bay quốc tế Bắc Kinh

    Posted Image

    Posted Image

    “Một biểu tượng mới của Bắc Kinh-Sân bay quốc tế thủ đô với hệ mái vòm không gian lớn được lấy ý tưởng từ hình ảnh Rồng bay…”. Đó là miêu tả của báo giới cho một hình tượng. Phong thủy Hình Lý Khí cũng có cái nhìn tương đồng và sâu sắc hơn, nghĩa là một con rồng với thân bị đoạn thành ba khúc. Nhìn dưới góc độ khác, tổng thể công trình như một bộ xương cá bị đứt đoạn hay một ngọn “thiết hỏa trường thương” bị đứt khúc. Bản thân công trình như thể một cách vô tình tạo ra sát khí cho môi trương xung quanh và chính tính hình tượng của công trình đã tạo nên một trường khí xấu có tác động đến vận mệnh của công trình và sự tồn tại và phát triển của công trình sẽ như thế nào thì còn dựa trên nhiều tiêu chí quán xét khác của Phong thủy Lạc Việt.

    Tuy vậy theo website của tạp chí Forbes cho rằng sân bay quốc tế Bắc Kinh là tồi tệ thứ nhì thế giới, xét về chuyện muộn chuyến.

    Sân bay Bắc Kinh cay mũi vì bị dán nhãn 'dở ẹc'

    Thành phố chủ nhà của Olympic 2008 bực bội phản bác thông tin trên website của tạp chí Forbes cho rằng sân bay quốc tế Bắc Kinh là tồi tệ thứ nhì thế giới, xét về chuyện muộn chuyến.

    Tổng giám đốc sân bay Dong Zhiyi cho biết các số liệu chính thức của họ cho thấy 86,28% số chuyến cất cánh từ đây đúng giờ, cao hơn nhiều so với mức mà Forbes nêu ra là 33%.

    Trên trang web của mình, tạp chí Mỹ viết: "Tại sân bay quốc tế ở thủ đô Bắc Kinh - nơi đang mở rộng để đón Olympic mùa hè tới, chỉ 33% số chuyến bay cất cánh đúng giờ năm 2007. Sân bay này chỉ kém Brasilia một bậc xét về mức độ tồi về chuyện muộn chuyến".

    Forbes đã khảo sát hơn 100 sân bay, lấy số liệu từ FlightStats - một cơ quan chuyên theo dõi thông tin về các chuyến bay. Các sân bay được khảo sát đều thuộc loại có thể phục vụ ít nhất 10 triệu hành khách trong năm 2006 trở lên.

    Ông Dong nói sân bay Bắc Kinh không đáng bị xếp hạng xấu thế. Theo con số mà ông đưa ra, thì sân bay của thành phố này tốt hơn nhiều so với ga hàng không tệ nhất châu Âu - Charles de Gaulle - với 50% số chuyến đúng giờ. Tuy thế, nó vẫn phải ngượng ngùng trước sân bay Osaka Itami của Nhật, với 97% đúng giờ.

    Trung Quốc đang nỗ lực cải thiện hạ tầng các sân bay để chuẩn bị đón lượng khách dự kiến sẽ tăng vọt trong hè này. Tuy thế hành khách vẫn thường phải chờ hàng giờ ở nhà chờ và chỗ lấy hành lý. Nhà chức trách cũng ra một loạt quy định nhằm buộc các hãng hàng không và nhà ga phục vụ hành khách tốt hơn.

    Sân bay Bắc Kinh đã phục vụ hơn 50 triệu khách trong năm ngoái, sẽ mở thêm cổng thứ ba vào cuối tháng hai này.

    T. Huyền (theo Reuters)

    5.7 Trụ sở truyền hình Bắc Kinh, Trung Quốc (CCTV)

    Posted Image

    Ảnh chụp trụ sở mới của CCTV (trái) và tòa nhà khách sạn Mandarin Oriental sau khi bị cháy - Ảnh: AFP

    Công trình được xây dựng theo hình thế hai chữ V ngược nhau. Toàn bộ công trình đều phạm cách “lộ cốt” (trơ xương), nếu liên tưởng đến một cái rọ thì đây là cái rọ bắt cá hình ống vuông. Khối kiến trúc tạo ra cảm giác mất cân bằng như có xu hướng đổ ập về phía trước. Thông thường hình dạng lộ cốt thể hện cho một kết cuộc không mấy tốt đẹp, báo trước sự thất bại và những khó khăn bất ngờ, những biến cố têu cực hay có hại cho công trình đó, nghĩa là những ai tồn tại trong công trình trình đó đều phải chịu sự tương tác có trường khí tiêu cực.

    Và đây là thông tin liên quan đến TTCV:

    Trích từ nguồn: www.baomoi.com

    Một cán bộ đài CCTV bị bắt trong vụ cháy KS Mandarin Oriental

    TTO - Cảnh sát Bắc Kinh ngày 12-2 cho biết đã bắt giữ một nhân viên cấp cao của Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) và 11 người khác do có liên quan đến vụ đốt pháo hoa bất hợp pháp làm cháy khách sạn Mandarin Oriental.

    Trong số những người bị bắt, còn có Xu Wei, 50 tuổi, phụ trách xây dựng trụ sở mới cho CCTV, nằm cách khách sạn Mandarin Oriental khoảng 200m.

    Trong khi đó, dẫn nguồn tin cảnh sát, Tân hoa xã cho hay ba nhân viên khác của CCTV và 8 người nữa cũng đã bị tạm giữ, tuy nhiên không cung cấp thêm thông tin chi tiết.

    Vụ cháy lớn tối 9-2 đã thiêu hủy gần như toàn bộ tòa nhà khách sạn Mandarin Oriental, dự kiến sẽ là một trong những khách sạn hạng sang bậc nhất Bắc Kinh, khiến một nhân viên cứu hỏa thiệt mạng và bảy người khác bị thương.

    Tranh Cãi Về Logo của CCTV

    Nguồn: www.xaluan.com

    Một cuộc tranh cãi đang nổi lên khắp Trung Quốc sau khi một quan chức cấp cao yêu cầu Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) phải thay đổi logo đã được CCTV sử dụng từ 30 năm qua vì nó phá vỡ nhiều nguyên tắc trong bộ luật của nước này.

    Wang Dengfeng, Vụ trưởng Vụ ứng dụng và Quản lý Ngôn ngữ tiếng Trung, cho rằng những logo mà 20 đài truyền hình, trong đó có 12 kênh của CCTV, “đang vi phạm nhiều quy tắc, do đó cần phải được thay đổi”.

    Các logo này hoặc là dùng tiếng Anh viết tắt hoặc là sự hòa trộn của tiếng Anh và tiếng Trung. Luật về Ngôn ngữ viết và nói tiếng Trung được ban hành hồi tháng 1/2001 quy định rõ các logo điện ảnh và truyền hình nhất thiết phải mang ngôn ngữ cơ bản của Trung Quốc, tức là tiếng Quan thoại. "Ngôn ngữ được sử dụng trên các logo truyền hình nên tuân theo luật để quảng bá văn hóa quốc gia", tờ Beijing Times trích đăng lời ông Wang.

    Nhưng một quan chức của CCTV cho rằng, đài truyền hình đang sử dụng logo rất dễ nhận biết và biểu tượng đó đã quen thuộc với khán giả từ hàng chục năm qua, thế nên “sẽ khó khăn nếu thay đổi” và “logo này sẽ chỉ được thay đổi nếu như các nhà chức trách cấp cao hơn thấy cần thiết phải làm như vậy”.

    Ông Jiang Zhipei, nguyên Chánh án của Tòa án Nhân dân Tối cao, cũng nhận thấy logo của CCTV không cần phải thay đổi. “Đài truyền hình Trung ương đã sử dụng nó trong 30 năm và bộ luật được ban hành sau đó rất lâu. Nhiều logo truyền hình, trong đó có cùa CCTV, có những giá trị thị trường nhất định. Nếu không được phép sử dụng thì các logo đó sẽ bị mất đi giá trị mà chúng đã tạo nên”.

    Tuy nhiên, có nhiều người lại ủng hộ việc thay đổi logo. Một cư dân mạng có nickname là Minshanxue viết rằng: “Là một đài truyền hình Quốc gia thì logo nên dùng hoàn toàn tiếng Trung vì nó ảnh hưởng tới hình ảnh quốc gia”.

    Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc được thành lập vào năm 1958 và tên viết tắt tiếng Anh là CCTV được sử dụng từ năm 1978.

    5.8 Tòa nhà REN:

    Posted Image

    Tòa nhà REN được đề xuất làm khách sạn, trung tâm hội nghị và giải trí vào dịp Triển lãm thế giới World Expo tổ chức năm 2010 tại thành phố Thượng Hải. Đây là một công trình tầm cỡ của Trung Quốc. Công trình này cũng được nhà thiết kế cố giải thích theo hình tượng Ngũ Hành trong nguyên lý học thuật cổ đông phương ở mọi góc độ nhìn. Tuy vậy những giải thích hay gợi ý đó không thật sự phù hợp với cai nhìn Hình Lý Khí. Tổng thể công trình như một nửa dưới con người bị dựng thành bia đỡ đạn với hậu quả là trên thân hằng lên những vết lổ chổ của vết tích bị đạn băm và thân thể bị kiệt lực với đôi chân không đứng nỗi, chuẩn bị ngập sâu và chìm dần trong biển nước. Có thể nhìn ở một cảm quan khác thì công trình như một mảnh vải bị xé toạc ra làm đôi. Một mảnh vải cũ rách loan lỗ. vì vậy đậy cũng là một hình tượng mang khí vận không mấy khả quan cho một công trình được trù tính là nơi vui chơi giải trí, trung tâm hội nghị hay khách sạn cao cấp trong tương lai.

    5.9 Khách sạn 5 sao Lotus – Hoa sen của Tập đoàn Riviera (Nhật Bản), tại Mễ Trì.

    Posted Image

    Công trình khách sạn 5 sao Lotus tại Mễ Trì là sự hoài vọng của các chủ đầu tư. Nhưng với một Hình Lý Khí tiêu cực, ngay từ đầu tiến độ đầu tư và hiện quả kinh doanh đã có nhiều trắc trở. Tổng thể công trình được thể hiện theo phong cách Hậu hiện đại, nhưng bằng cái nhìn cảm quan Hình Lý Khí trong Phong thủy Lạc Việt thì đây như hình tượng của một đoàn xa lửa với những toa tàu bị chìm trong biển cả hay có thể liên tưởng đến một hình tượng rỏ hơn, như một cổ quan tài bị chìm trong biển nước. Và dù cho nhìn ở cảm quan nào hay dù là hình tượng đơn giản nhất với mái nhà lượn sóng hình tượng của thủy và khối công trình bên trong vuông dài tượng hình Mộc thì mộc này bị chìm ngập trong nước cũng đã thể hiện tính xấu trong ý nghĩa của Ngũ Hành.

    Và hiệu quả của nó được kiểm chứng qua các thông tin liên quan sau:

    Công ty CP phát triển Đô thị Kinh Bắc sẽ là chủ đầu tư dự án khách sạn Hoa Sen

    Theo Kinh tế đô thị - 23/10/2009

    KTĐT - Chiều ngày 21/10, tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, Tổng công ty CP XNK Xây dựng VN (Vinaconex) và Công ty Sản xuất thương mại và xây dựng Thiên Thanh đã xin rút lui khỏi dự án khách sạn 5 sao Lotus (Hoa Sen).

    Như vậy, chỉ còn lại Công ty CP phát triển Đô thị Kinh Bắc (KBC) là nhà đầu tư duy nhất được Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội lựa chọn để trình UBND Thành phố Hà Nội quyết định.

    Dự án khách sạn Hoa Sen (cạnh Trung tâm Hội nghị Quốc gia, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội) có diện tích khoảng 4,3 ha với thiết kế gồm 550 phòng sang trọng. Vốn đầu tư dự kiến khoảng 500 triệu USD. Đây là dự án khách sạn lớn nhất tại Hà Nội.

    Theo yêu cầu của thành phố Hà Nội, nhà đầu tư cần phải chứng minh được tài chính. Cụ thể, phải nộp bảo lãnh thực hiện dự án bằng 10% tổng mức đầu tư (25 triệu USD) trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được quyết định lựa chọn chủ đầu tư; 30 ngày sau khi nhận giấy chứng nhận đầu tư - chủ đầu tư nộp 5,5 triệu USD tiền ủng hộ không hoàn lại cho ngân sách TP Hà Nội.

    Trước đó, Tổng công ty CP Kinh Bắc đã làm việc với nhà đầu tư Nhật Bản để nhận lại tài liệu thiết kế và các tài liệu liên quan và có nhiều cam kết trong đó có cam kết về nộp ngay tiền bảo lãnh và tiền thuê đất.

    Đây là dự án qui mô đầu tư lớn, thuộc lĩnh vực Thành phố chủ trương khuyến khích kêu gọi đầu tư, thuộc danh mục đăng ký khuyến khích hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, có vị trí thuận lợi, giá trị thương mại cao vào bậc nhất hiện nay tại khu vực cửa ngõ phía Tây vào trung tâm Thủ đô - nếu trì hoãn lâu không triển khai sẽ lãng phí tài nguyên đất đai.

    V.B

    5.10 Tòa nhà Thuận Kiều Plaza.

    Posted Image

    Tọa lạc ngay trung tâm quận 5 Tp HCM, nơi hoạt động kinh tế nặng động và sầm uất nhất Sài Gòn. Vậy mà cho đến hiện nay, các hoạt động nơi đây đều kém hiệu quả. Riêng đa phần các căn hộ của ba tòa nhà đều như bỏ hoang. Tổng thể công trình như hình ảnh con tàu Titanic nổi tiếng với 3 cột khối tàu quá khổ cao vút và con tàu bị cắt đôi bởi con đường băng ngang ngay đoạn giữa thân tàu. Ba ống khói lớn hơn tổng thể thân tàu thể hiện sự mất cân đối, lại thêm con đường cắt ngang thân thể hiện một hình tượng không mấy tốt đẹp. Nếu nhìn bằng một cảm quan khác, ba tòa nhà như ba nén nhang to tướng cắm trên mộ bia. Mặt khác nếu chỉ xét riêng ba tòa nhà thì hình thể cả ba đều thuộc cách xấu, vì không những khuyết góc mà còn bị phạm vẻ góc cạnh xương xẩu. Ba khối công trình lớn ở giữa cân đối với khối công trình nằm ngang có hai đầu nhô tạo cách “ Nhị quỷ đài kiện” (hai con quỷ chửi nhau). Và khi nhìn bên trong tòa nhà thì một lối chi chính ở giữa giao với các lối đi ngang tạo thế “Bại hổ phân thây” ( như con hổ bị căn ra lột da xẻo thịt). Hoặc có thể tưởng tượng được hình ảnh của ba mũi khoan khoan vào một khối bê tông giữa chừng bị đứt đoạn và dính chặt. Tóm lại, đây là một công trình còn có khá nhiều yếu tố khác và nhiều điểm khác thất bại về mặt phong thủy.

    5.11 Dự án cao ốc văn phòng - trung tâm thương mại - căn hộ cao cấp tại 289 Trần Hưng Đạo, Quận 1.

    Posted Image

    Posted Image

    Đây là một công trình dân dụng tư nhân, theo dự án sẽ khởi công vào ngày 1/11/2009. hình thể công trình mang phong cách Hậu hiện đại thể hiện một ý tưởng táo bạo và lạ lẫm trong hình tượng kiến trúc. Hai khối kiến trúc hình tam giác chồng lên nhau thuộc hỏa hình thể hiện một ý chí mạnh mẽ muốn đạt được mọi thành quả trong kinh doanh khi công trình này hoàn tất. Hai khối tam giác chồng lên nhau thành hình ảnh như một cây búa hay lưỡi rìu với đầu rìu bên trên chém về một hướng hể hiện ý chí san bằng mọi thử thách và cản trở trên bước đường kinh doanh, vô hình trung tạo một luồng sát khí đủ lớn và đủ mạnh làm phương hại cho môi trường phong thủy mà hướng lưỡi rìu này chém tới, chứng tỏ một tinh thần độc đoán và ít khi tạo được sự thân thiện với môi trường xung quanh hay những đối tác xung quanh. Hơn nữa, tổng thể khối kiến trúc tạo một cảm quan mất thăng bằng khi phần dưới, tầng trệt, không thể hiện được sự vững chãi với cấu trúc chênh vênh. Và nhìn như thế nào đi chăng nữa thì khối kiến trúc cũng phạm phải cách “lộ cốt” giơ xương trên toàn diện công trình thể hiện những gian truân có thể đưa đến một thất bại nặng nề khi khí vận xấu phát tác. Nếu xét với một cảm quan nhẹ nhàn hơn thì khối công trình như hai phần bánh bông lan hay hai phần phô mai bị chuột gậm được xếp chồng lênh nhau rất chênh vênh. Đây là sự phân tích các yếu tố xấu đối với bản thân công trình, nhưng đều nguy hại không kém là chính hình tượng công trình tạo một trường sát khí lớn ảnh hưởng đến môi trường xung quanh mà khí sát của công trình này hướng tới.

    6. Tạm kết

    Qua những nhận định và phân tích trên theo quan niệm Hình Lý Khí trong Phong Thủy Lạc Việt, cho thấy rằng sự thể hiện bằng hình tượng của công trình kiến trúc mang yếu tố của tính dự báo cho xu hướng tồn tại của thực thể đó trong không thời gian và sự đo lường về mức độ nhanh chậm nặng nhẹ của tương tác còn phải dựa trên những yếu tố khác của phong thủy. Cho dù có sự nghi ngờ về tính xác thực cũng như phương pháp luận của Hình Lý Khí so với các trường phái khoa học thực nghiệm hay thí nghiệm thì tính vận mệnh được quán xét trên đối tượng tương tác theo lý “hình nào khí đó” vẫn tồn tại theo quy luật khách quan. Trong khi kiến trúc Hậu hiện đại xem tính hình tượng chỉ như sự thể hiện ý tưởng trong thiết kế kiến trúc để thỏa mãn tính sáng tạo, thỏa mãn tiêu chí gọi là phong cách và dừng lại ở mục đích này thì quan niệm Hình Lý Khí luôn xét đến ý nghĩa đó có mang lại ý nghĩa tích cực hay không và hình tượng đó có tạo ra khí vận xấu hay không đó là tiêu chí hàng đầu cũng như mục đích cuối cùng khi tư duy hình tượng. Bởi vậy hình khí mang ý nghĩa quan trọng trong kiến trúc, vì đây là một trong những yếu tố tạo nên tiêu chí gọi là Tốt, cát tường trong phong thủy.

    1 person likes this

  8. (tiếp theo)

    2.7 Sân bay quốc tế thủ đô Bắc Kinh sắp hoàn tất do KTS hàng đầu về công nghệ cao thế giới người Anh là Norman Foster thiết kế, mang dáng dấp “rồng bay” (phi long). Ông là người mới đoạt giải kiến trúc Pritzker cao quí (tương đương giải Nobel ngành kiến trúc). Nó trông giống hai chữ Y ghép lại, thể hiện hình tượng hai chữ “nhân” (người). Một đầu là nơi đón đưa của các phương tiện vận chuyển trên mặt đất (xe lửa và xe hơi), còn đầu kia là để đón nhận máy bay đến từ các vùng trời khác nhau trên thế giới.

    Posted Image

    2.8 Trụ sở Truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV, do KTS thời danh người Hà Lan Rem Koolhaas, từng đoạt giải kiến trúc Pritzker năm 2000, thiết kế. Tháp truyền hình cao 230m gồm hai tháp gắn kết nhau ở phần đế dưới cũng như phần trên đỉnh bằng hai cánh hình chữ V sắp ngược nhau. Ông đã chọn giải pháp thực hiện một lớp vỏ bọc bằng kính bên ngoài, sử dụng vừa làm kệ sách vừa che chắn ánh nắng, đồng thời trang trí màu sắc vui tươi.

    Posted Image

    Posted Image

    2.9 Và một công trình mang tầm tham vọng cao hơn: tòa nhà REN.

    Với thiết kế hình chữ "Nhân" (người) đặc biệt, toà nhà REN bao gồm hai toà nhà trong một. Tòa nhà thứ nhất, nhô lên từ mặt nước dành để vận động thân thể và làm một trung tâm văn hóa dưới nước. Tòa nhà thứ hai, mọc lên từ đất liền dành cho hoạt động tinh thần, khai sáng và dùng làm trung tâm hội nghị và bố trí các chỗ họp hành. Lên trên, hai toà nhà gộp lại thành một khách sạn có tới 1.000 phòng và tạo thành hình chữ "nhân" (tiếng Trung Quốc). Được biết REN sẽ có một mái vòm, nơi đó tạo ra một quảng trường để công chúng tụ tập và đây sẽ là khu vực chính của cuộc triển lãm trông ra sông HuangPu. Các kiến trúc sư đã thiết kế quảng trường này không bị mưa ướt nhưng ánh sáng mặt trời vẫn chiếu qua được từ phương Đông vào buổi sáng và từ phương Tây vào buổi chiều.

    Tóm lượt: REN - Peoples Building

    • Địa điểm:Khu vực tổ chức triển lãm thế giới, Thượng Hải, Trung Quốc
    • Thời điểm hoàn thành:2010
    • Giá trị đầu tư ước tính: €1,100m (một tỷ một trăm triệu euro)
    • Quy mô: Tòa nhà REN : 50.000m²
    • Các tòa nhà phụ: 500.000m²
    Tòa nhà REN được đề xuất làm khách sạn, trung tâm hội nghị và giải trí vào dịp Triển lãm thế giới World Expo tổ chức năm 2010 tại thành phố Thượng Hải.

    Posted Image

    Posted Image

    2.10 Vài công trình kiến trúc tại Việt Nam:

    Posted Image

    khách sạn 5 sao Lotus – Hoa sen của Tập đoàn Riviera (Nhật Bản).

    Với diện tích xây dựng khoảng 4,3 ha, ngay cạnh Trung tâm hội nghị Quốc gia ở xã Mễ Trì, dự án khách sạn Lotus có vốn đầu tư khoảng 500 triệu USD, với thiết kế gồm 550 phòng sang trọng và dự tính khi hoàn thành sẽ trở thành khách sạn lớn nhất Hà Nội.

    2.11 Cao ốc Thuân Kiều Plaza.

    Một trong những cao ốc được hình thành sớm nhất của TP HCM, ở một nơi thuộc vị trí thuận lợi và năng động với sức đầu tư lớn.

    Posted Image

    2.12 Và những công trình Kiến trúc Hậu hiện đại khác…

    Posted Image

    Posted Image

    đi vào kiến trúc dân dụng một cách tự nhiên và vui nhộn.

    Posted Image

    Posted Image

    Posted Image

    3. Cái Nhìn Của Phong thủy Lạc Việt Hình Lý Khí:

    Mọi trào lưu nghệ thuật, trào lưu kiến trúc đều dựa trên một lý thuyết, một chủ nghĩa để làm mục đích thể hiện và cái này phủ định cái kia, cái sau phủ nhận cái trước. Riêng Phong thủy Lạc Việt, chỉ dựa trên một lý thuyết duy nhất là Âm Dương Ngũ Hành, lý thuyết thống nhất và bao trùm của người Việt, trường tồn với thời gian, làm kim chỉ Nam đánh giá tính tốt xấu của kiến trúc, xác định sự tương tác tích cực hay tiêu cực của kiến trúc cũng như môi trường lên đối tượng quán xét chủ yếu là con người. Lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành nếu được xem là một triết học định hướng tính sáng tạo và thẩm mỹ cho kiến trúc thì vẫn là một cơ sở lý thuyết định hướng thẩm mỹ có tính bao hàm cao, dĩ nhiên nó không phải là một lý thuyết triết lý nhằm làm phương thức thể hiện tư tưởng phản kháng lại thời cuộc hay môi trường mà nó là một phương thức triệt để nhằm một mục đích duy nhất suy xét sự thịnh suy của công trình kiến trúc, sự thành bại của đối tượng tồn tại và chịu sự tác động trực tiếp của kiến trúc đó, đối tượng đó là nhân sinh. Như vậy lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà phương thức ứng dụng của nó là Phong thủy mang một mục đích duy nhất rỏ ràng là phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của nhân sinh, nhắm thẳng đến tính chất duy nhất, quyết định lên nhân sinh là sự tốt xấu và thịnh suy như một tôn chỉ cho sự thể hiện.

    Nếu Kiến trúc Hiện đại phủ nhận sự gắn bó với môi trường, sẳn sàng tồn tại độc lập với môi trường thì Kiến trúc Hậu hiện đại đi ngược lại chiều hướng ấy, nó mang tính linh hoạt, thích hợp với mọi môi trường sẳn sàng hòa nhập và hài hòa với môi trường chịu sự tương tác của môi trường, đó là môi trường giới hạn địa lý cụ thể và môi trường văn minh văn hóa của một địa lý cụ thể. Phong thủy có phần như vậy, nhưng cũng khác, không khu biệt trong một môi trường mà thể hiện sự bao trùm của tính tương tác của vũ trụ lên vạn vật, vận dụng tính tương tác đó để xác định xu hướng tồn tại của kiến trúc tạo nên tính vững bền cho kiến trúc, vì vậy nó không phân biệt địa lý hay văn hóa, tiếng nói hay màu da và cũng không thể nói là nó hòa nhập hay thích hợp với môi trường trong khi mà chính bản thân Phong thủy đã thể hiện quy luật tương tác. Một cách rỏ ràng hơn rằng Phong Thủy không khu biệt do tính đặc trưng về văn hóa hay quan niệm kiến trúc của một cộng đồng hay một quốc gia, ngược lại chính bởi tính đặc trưng về kiến trúc của từng khu vực cộng đồng lại chứng minh cho sự tương tác trong phong thủy. Ví dụ, so sánh giữa 2 vùng, một ở cao nguyên Hoàng Thổ ở Trung Quốc, sống trong nhà hầm, đào trong lòng đất và một ở Hồ Nam sống trên nhà sàn thì sẽ thấy rỏ sự tương tác của con người với môi trường thiên nhiên rỏ ràng khác nhau. Phương pháp phong thủy chỉ quan tâm mối quan hệ tương tác giữa nhân sinh với kiến trúc và với môi trường xung quanh trải dài đến xa thẩm của vũ trụ để đi đến một hiệu quả của sự quán xét được gọi là vận mệnh.

    Điều nổi bật ở Kiến trúc Hậu hiện đại là tính biểu trưng, biểu tượng trong kiến trúc. Có thể chính bởi tính chất này mà Kiến trúc Hậu hiện đại mang lại sự tự do trong sáng tạo và là nguồn khơi gợi cho sự thể hiện các ý tượng sáng tạo vượt qua mọi rào chắn của những tiêu chuẩn, quy định của Kiến trúc truyền thống hay cổ điển và vượt qua mọi sự khác biệt về quan niệm kiến trúc theo từng văn hóa vùng miền để đi đến sự tự do thể hiện sức mạnh tư duy thông qua những hình tượng kiến trúc. Bởi vậy sự đa dạng đến nỗi phức tạp hay kỳ dị về hình thức trong các mô hình Kiến trú Hậu hiện đại là vô vàng. Chính bởi đặc điểm này mà sự quán xét của Phong thủy Lạc Việt lên các mô hình Kiến trúc Hậu hiện đại được thể hiện một cách linh hoạt, phong phú, ưu việt và giầu tính tưởng tượng phóng khoán để đi đến sự nhận định tốt xấu của công trình kiến trúc. Mỗi một kiểu mô hình kiến trúc được tạo ra đều mang tính hình tượng và ý nghĩa biểu trưng nhằm diễn tả ý tưởng chủ đạo, nội dung nhắm đến theo một hệ tư tưởng sẳn có, được gọi là phong cách và dừng lại ở đó với ý nghĩa biểu trưng được thỏa mãn, công năng sử dụng được giải quyết, yếu tố thẩm mỹ được công nhận theo một phạm trù, thì hơn nữa, chính tính mình tượng và biểu trưng đó lại là cơ sở cho sự suy xét tốt xấu thành bại cho mỗi kiến trúc cụ thể dựa trên một hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngủ Hành mà phương pháp vận dụng của nó là Hình Lý Khí. Có thể nói Hình Lý Khí là phương pháp quán xét hay đánh giá hoàn toàn phù hợp đối với kiến trúc Hậu hiện đại thông qua tính biểu trưng, tính hình tượng của mô hình kiến trúc nhằm tiên lượng sự tốt xấu của công trình trong sự tương quan đa chiều.

    4. Vậy Hình Lý Khí là gì?

    Giả thích cho phạm trù này, nhất thiết phải quay về sự giải thích Khởi nguyên vũ trụ bằng lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành, lý thuyết thống nhất vũ trụ mà chủ nhân đích thực là giống nòi Rồng Tiên Bách Việt với nền văn hiến 5000 năm, một thời rực rỡ dãy phía Nam sông Dương Tử.

    Con người đang tồn tại trong thực tại Hậu Thiên so với thể bản nguyên của vũ trụ gọi là Thái Cực. Một trạng thái vô định của không không gian, không thời gian, không cực lớn cũng không cực nhỏ, nói nhanh cũng không nhanh nói chậm cũng không chậm, không có cái không để nói tới cái có, không sáng không tối, không có sự phân biệt nên không thể dùng mọi danh từ để nói về nó, chẳng có đối đãi, viên mãn trong giây 0 tuyệt đối. Và nếu trạng thái này vẫn giữ nguyên như thế thì không có con người và vạn vật tồn tại trong thế giới như ngày nay, vì vậy Thái Cực viên mãn trong trạng thái tuyệt đối đến một lúc nào đó đã xuất hiện một trạng thái đối đãi tương đối có sau so với nó. Cái đối đãi có sau gọi là Âm – ngay từ khởi nguyên vũ trụ và như vậy cái tuyệt đối – Thái Cực có trước sinh ra cái tương đối có sau thì Thái Cực trở thành Dương. Vậy là hai khí Âm Dương xuất hiện, khí Dương nhẹ trong thì bay lên, khí Âm nặng đục thì rớt xuống tụ lại thành hình. Vạn vật cứ tiếp nối trùng trùng duyên khởi. Phong thủy Lạc Việt Hình Lý Khí vận dụng nguyên lý cho rằng khí tụ thành hình, hình nào khí đó, có hình là có khí để xác định sự thịnh suy, thành bại của vạn vật.

    “Hình nào khí đó” được xác định như một định đề. Khi vật chất tụ thành hình với muôn ngàn hình tượng thì bản thân nó đã có khí. Theo như định nghĩa về Khí trong Phong thủy Lạc Việt của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh thì

    “Khí” là một dạng tồn tại của vật chất, được hình thành bởi sự tương tác của các vật thể và chịu sự chi phối bởi sự tồn tại của các vật thể, đồng thời tác động lên các vật thể ấy.

    Như vậy "khí" ở đây không phải là không khí, ánh sáng, gió, nước…và mọi vật khi có hình thì đã có khí. Cũng như trong Đông Y, khái niệm “khí” không chỉ đến huyết, dịch, hiệu điện thế nhân thể hay năng lượng tỏa ra thành nhiệt lượng cơ thể mà đó là phản ánh một thực tại tương tác tế vi, nếu là Tiểu vũ trụ con người thì ngay trong chính nó, nếu là Đại vũ trụ vô cùng tận thì trong chính sự tương tác của vũ trụ này. Có hình là có khí, không thể tách rời và “Lý” được xem như phát ngôn của chiều tương tác “Hình Khí” đưa đến một sự nhận định tốt xấu. Vì vậy Hình Lý Khí nếu được xem là tiêu chí duy nhất để đi đến sự nhận định mang tính vận mệnh thì chính tiêu chí đó tự phản ánh một quy luật khách quan vượt lên trên những tiêu chí mang tính duy thức hay chủ nghĩa nhất thời mà giá trị nhận định tính nghệ thuật hay tính hình tượng dựa trên kinh nghiệm luôn thay đổi theo chiều vận động của xã hội.


  9. PHONG THỦY LẠC VIỆT VỚI KIẾN TRÚC ĐƯƠNG ĐẠI


    Thiên Đồng - Bùi Anh Tuấn
    Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương.


    Kiến trúc đương đại trên thế giới đã đi từ Kiến trúc Hiện đại sang phong cách Hậu hiện đại và nhờ vào kỷ thuật khoa học tiến bộ thì Phong cách Kỹ thuật công nghệ cao (Hitech) như một xu hướng mới nhưng chưa thật sự phổ biến. Dù thế nào đi nữa thì việc ứng dụng trong xây dựng đa phần hiện nay đều theo nếu không là phong cách Hậu hiện đại thì cũng là phong cách Hiện đại. Dựa trên những cơ sở hay điểm chung của các phong cách mà Phong thủy Lạc Việt nhận định và đánh giá sự tốt xấu hay thành bại của các công trình cụ thể theo phương pháp luận của phong thủy và trên cơ sở khoa học. Bài này chỉ xét trên vài nét đặc trưng của Kiến trúc Hậu hiện đại và Kiến trúc Hiện đại trên quan điểm của Phong thủy Lạc Việt.

    I KIẾN TRÚC HẬU HIỆN ĐẠI VÀ CÁI NHÌN HÌNH LÝ KHÍ

    1.Từ Triết Lý Đến Kiến trúc Hậu Hiện Đại:

    Trong bối cảnh đầy biến động của thế giới vào giữa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa Hậu hiện đại (postmodernisme) xuất hiện như một mảnh lực của một cá nhân bị bó buột và rào chắn bởi những quy cách, định chế, nội quy…vực dậy nói lên tiến nói phá bỏ luật lệ. Những Heiddegger, Derrida, Foucault, Nietzsche .v.v. gióng lên hồi chuông khai tử cho sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Hiện đại và văn hóa Tây phương, đó là hồi chuông chống lại sự đồng nhất về văn hóa, tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, ủng hộ bảo nguyên tính đa dạng của từng nền văn hóa khác nhau, phản ứng lại uy quyền của lý tính, chống lại nền tảng, phê phán sự thống trị của lý tính, đẩy mạnh sự cách tân, phá cách và vượt qua chuẩn mực, vượt qua truyền thống. Từ lý tưởng triết học, chủ nghĩa hậu hiện đại đi vào thơ ca văn chương, hội họa, kiến trúc…như một phương thức hành động, sự bày tỏ thái độ rỏ ràng đối với thời cuộc. Và, nếu coi kiến trúc là một phương tiện thể hiện duy nhất và hữu hiệu cho sự thể hiện của mọi chủ nghĩa trong thời đại của sự phát triển vũ bão của kỷ thuật thế giới thì Kiến trúc Hậu hiện đại là một phương tiện phổ biến và đầy đủ sự đa dạng.

    Bắt đầu những thập niên 1950 cho đến thời hiện tại, tiếp nối trào lưu Kiến trúc hiện đại, Kiến trúc Hậu hiện đại hình thành thành một trào lưu mạnh mẽ và tầm ảnh hưởng lớn trong mọi thời đại kiến trúc. Để mở đầu cho thời kỳ Kiến trúc Hậu hiện đại, tác giả Charkes Jencks đã “khai tử” cho nền Kiến trúc Hiện đại bằng câu nói nổi tiếng như cắm một cây thập tự cáo chung: "Kiến trúc Hiện đại đã chết ở Saint Louis, Missouri ngày 15 tháng 7 năm 1972 vào hồi 15h32". Đó cũng là lời mở đầu cuốn sách "Ngôn ngữ của kiến trúc Hậu hiện đại" của chính ông. Cuốn sách này đã gây tiếng vang lớn trong giới kiến trúc và được tái bản nhiều lần, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nó báo hiệu một trào lưu kiến trúc mới ra đời: Kiến trúc Hậu hiện đại.

    Nếu Kiến trúc Hiện đại chối bỏ những chi tiết trong kiến trúc được cho là rườm rà, phủ nhận truyền thống, không xem xét đến bối cảnh mà có thể đặt công trình ở bất kỳ môi trường nào, bất kỳ nước nào thì Kiến trúc Hậu hiện đại cho xuất hiện lại các chi tiết trang trí, phát triển thêm tính đa nghĩa của biểu tượng trong kiến trúc, chú ý đến mối quan hệ của kiến trúc đến môi trường, phát huy và hài hòa với tính bản địa của kiến trúc để tạo thành phong cách.

    Kiến trúc Hậu hiện đại đề cao tính biểu trưng lịch sử khi hòa trộn những nét thảm mỹ cổ điển với nét thẩm mỹ chủ đạo mang tính quốc tế nhằm đưa đến một cái nhìn chấp nhận và đầy cảm tưởng. Kiến trúc Hậu hiện đại mang tính linh hoạt, thích hợp với mọi môi trường văn hóa, sẳn sàng hòa nhập với tính bản địa để tạo sự hài hòa. Đặt biệt, kiến trúc hậu hiện đại vận dụng tối đa tính ẩn dụ và trừu tượng, đẩy mạnh tính biểu trưng dẫn đến sự tự do thể hiện trong hình thể kiến trúc và nhấn mạnh cách bố trí không gian kiến trúc, đề cao đến trật tự trong kiến trúc, đôi khi đưa đến sự dàn trải không gian, tạo cảm giác một không gian vô hạn, không rõ ràng, thậm chí nhập nhằng với nhau hay chú trọng thể hiện cấu trúc theo hình học sơ cấp và đơn giản nhất mà ở đó người ta dể tìm thấy những khái niệm cổ điển như trục chính hay tâm nhà. Và kiến trúc Hậu hiện đại, luôn khuếch đại tính biểu tượng, biểu trưng, thể hiện chủ nghĩa chiết trung mạnh mẽ và đa dạng một cách triệt để.

    2.Những Kiến Trúc Hậu Hiện Đại Tiêu Biểu:

    2.1 Tòa nhà Royal College of Physicians thiết kế bởi Denys Lasdun ở Regent Park được cho là công trình Kiến trúc Hậu hiện đại đầu tiên.


    Posted Image

    2.2 Được xem như là dấu son tiêu biểu cho Kiến trúc Hậu hiện đại, Học viện Nghệ thuật Châu Á Lasalle Sia - College of the Arts, được chọn thay mặt cho phong cách kiến trúc Hậu hiện đại, đề án này đã được giới thiệu tại triển lãm kiến trúc danh tiếng Biennale tại Venice (Ý) năm 2004 và hiện nay công trình được coi là niềm tự hào của Singapure. Lasalle tọa lạc trên con đường Joseph Menally chỉ có số 1 duy nhất tòa nhà Lasalle để bày tỏ lòng kính trọng vị hiệu trưởng đầu tiên Joseph Menally.

    Nhóm thiết kế học viện Lasalle là sự kết hợp giữa RSP Architects và Huger Dutton Associates (HDA). Tập đoàn Nhật Bản Takenaka phụ trách xây dựng - HDA từng tham gia cố vấn, thiết kế và xây dựng nhiều công trình nổi tiếng thế giới như Kim tự tháp tại Bảo tàng mỹ thuật Louvre - Paris. Với 6 block chính từ ý tưởng “tan vỡ” của một tảng băng trôi khổng lồ - Lasalle chỉ toàn bằng kính kết hợp với màu đen của nham thạch, xiêu vẹo, quặn vỡ nhưng được nối kết tuyệt vời bởi những cầu nối giữa 6 khối nhà. Khái niệm “Kiến trúc thân thiện” cũng được thể hiện bằng sự rộng mở của không gian, không có cổng trường, khách bộ hành có thể băng qua học xá để qua con đường sau lưng hay trước mặt Lasalle.




    Posted Image

    Posted Image

    Posted Image

    Posted Image

    2.3 Bảo tàng Milwaukee - “Đôi cánh hải âu quyền năng”, nằm kề bên hồ Michigan, Bảo tàng nghệ thuật Milwaukee với kiến trúc đặc trưng đã trở thành biểu tượng cho thành phố lớn nhất của tiểu bang Wisconsin. Đây là công trình hoàn chỉnh đầu tiên ở Mỹ và cũng là viện bảo tàng “đầu tay” của kiến trúc sư nổi tiếng người Tây Ban Nha Santiago Calatrava.

    Posted Image

    Posted Image

    Với công trình này, Calatrava đã chứng tỏ được “quyền năng” của kiến trúc, tạo một bước đột phá trong thiết kế kiểu dáng và công năng. Với tổng diện tích toàn bộ là 341.000m2, đây có thể được xem là tác phẩm đỉnh cao của loại hình kiến trúc động ảo, một phong cách Kiến trúc Hậu hiện đại do chính Calatrava khởi xướng từ cuối thế kỷ 20. Bảo tàng từng được tạp chí Condé Nast Traveler đánh giá là một trong những "kỳ quan mới của thế giới Chính thức mở cửa vào tháng 10-2001, trung bình mỗi ngày bảo tàng chào đón hơn 5.000 lượt du khách đến tham quan, cá biệt có những buổi triển lãm lớn, con số này có thể nhảy vọt lên đến 32.000 người ".

    Posted Image

    Posted Image

    Posted Image

    Hàng loạt công trình qui mô lớn mang tính Hậu hiện đại được dựng lên tại thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc thể hiện sự dứt khoát hướng về cái mới của ngày mai. Những công trình này mang một thông điệp của ý chí vượt xa hơn phương Tây, do đó các công trình thường gắn liền với tên tuổi của các nhà thiết kế hàng đầu thế giới hiện nay.

    2.5 Công trình mang dáng dấp của một chiếc tổ chim và thiết kế dựa trên ý tưởng bảo vệ môi trường sinh thái. Sân vận động do hãng Herzog & DeMeuron (Thuỵ Sĩ) từng giành giải thưởng Kiến trúc Pritzker danh tiếng, cộng tác với Arup Sport và nhóm kiến trúc Trung Quốc, thiết kế và thi công. Với kinh phí đầu tư 430 triệu USD, sân vận động có chiều dài 330, rộng 220m, cao 69,2m và được xây dựng trên tổng diện tích là 250.000 m2.

    Posted Image

    2.6 Nhà hát lớn quốc gia tại Bắc Kinh của kiến trúc sư (KTS) Paul Andrieu, chuyên gia hàng đầu người Pháp, được chọn trong một cuộc thi quốc tế, công trình Kiến trúc Hậu hiện đại này xuất hiện giữa một Bắc Kinh cổ kính đã từng gây nhiều tranh luận sôi nổi.

    Được thể hiện là khối bán cầu bằng kính vĩ đại đặt trên một mặt nước vuông nằm ở vị trí trung tâm quảng trường Thiên An Môn. Hình tượng “bầu trời” (thiên) thể hiện qua vòm kính và nền vuông “mặt đất” (địa) là một diện tích mặt nước vuông rộng lớn muốn bật ý niệm “Trời tròn đất vuông” kinh điển. Cái độc đáo của công trình này là lối vào nằm dưới hồ nước, tạo cảm giác toàn khu phức hợp trình diễn nghệ thuật nằm dưới mặt đất. Ba cơ sở chính là nhà hát Kinh kịch trung tâm, phòng hòa nhạc và nhà hát kịch nói được bố trí nằm gọn trong khối “vỏ trứng”, không gian còn lại là nơi giao lưu nghệ thuật.

    Posted Image

  10. TP Lào Cai: Cưỡng bức dân treo cao đèn lồng đỏ?

    Nhân dịp 20 năm tái lập tỉnh Lào Cai, TP Lào Cai khởi động chương trình "đèn lồng đỏ treo cao" tại hàng loạt tuyến phố...

    Nhân dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh Lào Cai (1/10/1991 - 1/10/2011), thành phố Lào Cai đã bắt đầu khởi động chương trình chỉnh trang đô thị, trong đó có việc thắp đèn lồng tại các công sở và nhà dân trên một số tuyến phố.

    Năm phường nội thị là Cốc Lếu, Lào Cai, Phố Mới, Kim Tân, Duyên Hải được chọn làm điểm, mỗi phường có ít nhất 1 tuyến phố thắp đèn lồng từ dịp Quốc khánh 2/9/2011. Tại phường Kim Tân, phố Trần Nhật Duật (từ quảng trường cũ tới đầu đường Trần Hưng Đạo), từ dịp Quốc khánh trở lại đây, vào mỗi tối, người dân lại đồng loạt thắp đèn lồng đỏ trước hiên nhà đã gây sự tò mò của nhiều người.

    Posted Image

    Đèn lồng trên phố Trần Nhật Duật (phường Kim Tân).

    Ngoài đèn lồng, đèn trang trí cũng được thắp trên các rặng cây cảnh quan tại khu vực quảng trường cũ và một số công sở, khiến cảnh quan về đêm thêm lộng lẫy.

    Tại phường Lào Cai, trên phố Nguyễn Huệ từ đầu cầu Cốc Lếu qua khu vực Cửa khẩu Quốc tế đến Đền Thượng, các công sở đồng loạt treo đèn nháy trên cây phía trước trụ sở. Hơn 10 hộ dân giáp chùa Tân Bảo cũng đã thắp đèn lồng đỏ từ dịp Quốc khánh 2/9.

    Posted ImagePosted Image

    Đèn treo trên phố Hoàng Liên (khu vực phường Cốc Lếu) có kích cỡ quá nhỏ

    Theo bà Lưu Thị Nụ, Chủ tịch UBND phường Kim Tân thì từ tối 25/9, tuyến phố Trần Nhật Duật (đoạn từ đầu đường Trần Hưng Đạo đến đường Quy Hoá), các hộ dân sẽ đồng loạt thắp đèn lồng. Bà Nụ cho biết, việc thắp đèn trang trí trên 3 tuyến phố chính thuộc địa bàn phường là việc nên làm trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh để nâng cao mỹ quan đô thị, làm đẹp thêm hình ảnh thành phố biên cương trong mắt người dân và du khách.

    Không được người dân đồng thuận

    Vừa qua, thành phố Lào Cai đã có công văn triển khai tới các phường, từ đó các tổ dân phố, chi bộ tổ chức họp lấy ý kiến nhân dân về việc treo đèn lồng. Tuy vậy, chương trình treo đèn lồng đã không hoàn toàn nhận được sự đồng thuận của người dân.

    Dù sao, thành phố Lào Cai vẫn quyết tâm để chủ trương này được triển khai trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh và từ 25/9/2011 sẽ triển khai đồng loạt trên những tuyến phố chính. Anh Phạm Đình Sơn, tổ 14 phường Kim Tân nói: "Treo đèn lồng trông không phù hợp.

    Là hộ tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ giải trí trên địa bàn nên gia đình rất ủng hộ chủ trương làm đẹp của thành phố. Tuy nhiên, tôi thấy đa số các hộ dân trông tổ không đồng tình với chủ trương đưa đèn lồng vào treo ở một số tuyến đường trên địa bàn.

    Đơn cử, trên tuyến đường Trần Nhật Duật, hầu hều các hộ dân đã treo đèn lồng, nhưng nhiều gia đình do xây dựng không có sự thống nhất về thiết kế (nhà thò ra, nhà thụt vào, nhà cao, nhà thấp...), nên treo đèn lồng trông không phù hợp. Hơn nữa, nhiều nhà không thiết kế hệ thống điện, nên chỉ treo làm vì, trong khi đó đèn lồng phải được thắp sáng mới đẹp. Cũng với giá thành ấy, nên chăng thành phố tiến hành làm một biểu tượng hoặc hình thức khác phù hợp hơn…".

    Posted Image

    Chiếc đèn lồng này có giá gần 200.000 đồng.

    Ông Trần Ngọc Dân, tổ trưởng tổ 14, phường Kim Tân khẳng định: "Hầu hết các hộ dân trong tổ không đồng tình với chủ trương treo đèn lồng.Tổ 14 có 65 hộ dân nằm dọc tuyến đường Lý Công Uẩn. Trong buổi họp tổ (16/9/2011) để lấy ý kiến nhân dân về thực hiện chủ trương của thành phố treo đèn lồng nhân kỷ niệm 20 năm ngày tái lập tỉnh Lào Cai thì hầu hết các hộ dân không đồng tình vì cho rằng treo đèn lồng là không phù với văn hóa người Việt Nam cũng như cảnh quan, không gian, kiến trúc ở tổ dân phố nên dễ gây phản cảm. Với trách nhiệm, tổ cũng chỉ tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia, đối với cán bộ, đảng viên thì phải gương mẫu thực hiện chủ trương của thành phố".

    Theo chị Huệ, số nhà 411, đường Nguyễn Huệ, phường Phố Mới: Tổ dân phố bắt buộc các hộ dân trên địa bàn mua đèn lồng

    Posted Image

    Thông báo về chủ trương treo đèn lồng tại các hộ dân "Tổ dân phố không tổ chức họp dân lấy ý kiến về chủ trương treo đèn lồng mà chỉ gửi giấy thông báo và cho người mang đèn lồng đến yêu cầu các hộ dân phải mua để treo, nên người dân bất bình. Nếu ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn thì treo cờ Tổ quốc là phù hợp nhất, chứ nhà cửa như thế này treo đèn lồng sẽ gây phản cảm và lãng phí.

    Mỗi vỏ chiếc đèn lồng có giá 125 nghìn đồng, nhưng để treo và thắp sáng được, mỗi chiếc phải đầu tư thêm gần 100 nghìn đồng để mua bóng điện, dây, phích cắm, mà không phải gia đình nào cũng có điều kiện cả".

    Chúng tôi sẽ tiếp tục đăng tải các thông tin tiếp theo về việc này.

    Theo B.T

    GDVN

    Lào Cai: Dừng ngay việc treo đèn lồng trên các tuyến phố

    (Dân trí) - Tiếp thu ý kiến của nhân dân và một số cơ quan báo chí, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai vừa có văn bản đề nghị UBND thành phố Lào Cai chỉ đạo dừng ngay việc treo đèn lồng trên các tuyến phố.

    Posted Image

    Việc treo đèn lồng không được lòng dư luận.

    Lý do đưa ra là việc treo đèn lồng như của Trung Quốc là không phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bởi thành phố tỉnh lỵ Lào Cai nằm ở sát biên giới Việt - Trung, có rất nhiều du khách trong và ngoài nước thường xuyên tới tham quan, du lịch.

    Mới đây, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai đã có công văn số 608/SVHTTDL-NVVH gửi UBND thành phố về việc phối hợp triển khai thực hiện chỉnh trang đô thị trên địa bàn nhân kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh và đề nghị UBND thành phố chỉ đạo nhân dân không trang trí, treo đèn lồng Trung Quốc trên các tuyến phố.

    Thanh tra Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai đã kiểm tra thực tế một số tuyến phố treo đèn lồng và nhận thấy đèn đều có chữ Trung Quốc; không đề cao được bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

    Phạm Ngọc Triển

    http://dantri.com.vn...c-tuyen-pho.htm
    1 person likes this

  11. TP Lào Cai bắt dân treo đèn lồng:

    Nô dịch văn hóa hay để làm vui lòng quan khách TQ

    *** TP Lào Cai: Một số tuyến phố khởi động việc thắp đèn lồng

    Nhân dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh Lào Cai (1/10/1991 – 1/10/2011), thành phố Lào Cai đã bắt đầu khởi động chương trình chỉnh trang đô thị, trong đó có việc thắp đèn lồng tại các công sở và nhà dân trên một số tuyến phố.

    Posted Image

    Đèn lồng trên phố Trần Nhật Duật (phường Kim Tân).

    Năm phường nội thị là Cốc Lếu, Lào Cai, Phố Mới, Kim Tân, Duyên Hải được chọn làm điểm, mỗi phường có ít nhất 1 tuyến phố thắp đèn lồng từ dịp Quốc khánh 2/9/2011. Tại phường Kim Tân, phố Trần Nhật Duật (từ quảng trường cũ tới đầu đường Trần Hưng Đạo), từ dịp Quốc khánh trở lại đây, vào mỗi tối, người dân lại đồng loạt thắp đèn lồng đỏ trước hiên nhà đã gây sự tò mò của nhiều người. Ngoài đèn lồng, đèn trang trí cũng được thắp trên các rặng cây cảnh quan tại khu vực quảng trường cũ và một số công sở, khiến cảnh quan về đêm thêm lộng lẫy.

    Tại phường Lào Cai, trên phố Nguyễn Huệ từ đầu cầu Cốc Lếu qua khu vực Cửa khẩu Quốc tế đến Đền Thượng, các công sở đồng loạt treo đèn nháy trên cây cảnh quan phía trước trụ sở. Hơn 10 hộ dân giáp chùa Tân Bảo cũng đã thắp đèn lồng đỏ từ dịp Quốc khánh 2/9.

    Posted Image Posted Image

    Đèn treo trên phố Hoàng Liên (khu vực phường Cốc Lếu) có kích cỡ quá nhỏ.

    Theo bà Lưu Thị Nụ, Chủ tịch UBND phường Kim Tân thì từ tối 25/9, tuyến phố Trần Nhật Duật (đoạn từ đầu đường Trần Hưng Đạo đến đường Quy Hoá), các hộ dân sẽ đồng loạt thắp đèn lồng. Bà Nụ cho biết, việc thắp đèn trang trí trên 3 tuyến phố chính thuộc địa bàn phường là việc nên làm trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh để nâng cao mỹ quan đô thị, làm đẹp thêm hình ảnh thành phố biên cương trong mắt người dân và du khách.

    Vừa qua, thành phố Lào Cai đã có công văn triển khai tới các phường, từ đó các tổ dân phố, chi bộ tổ chức họp lấy ý kiến nhân dân về việc treo đèn lồng. Tuy vậy, chương trình treo đèn lồng đã không hoàn toàn nhận được sự đồng thuận của người dân.

    Posted Image

    Chiếc đèn lồng này có giá gần 200.000 đồng. Dù sao, thành phố Lào Cai vẫn quyết tâm để chủ trương này được triển khai trong dịp kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh và từ 25/9/2011 sẽ triển khai đồng loạt trên những tuyến phố chính.

    Posted Image

    * Anh Phạm Đình Sơn, tổ 14 phường Kim Tân: Treo đèn lồng là không phù với kiến trúc và văn hóa Việt Nam Là hộ tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ giải trí trên địa bàn nên gia đình rất ủng hộ chủ trương làm đẹp của thành phố. Tuy nhiên, tôi không đồng tình với chủ trương đưa đèn lồng vào treo ở một số tuyến đường trên địa bàn, bởi treo đèn lồng không phù hợp với điều kiện kiến trúc của thành phố, phong tục, tập quán, văn hóa của người Việt. Đơn cử, trên tuyến đường Trần Nhật Duật, hầu hều các hộ dân đã treo đèn lồng, nhưng nhiều gia đình do xây dựng không có sự thống nhất về thiết kế (nhà thò ra, nhà thụt vào, nhà cao, nhà thấp…), nên treo đèn lồng trông không phù hợp. Hơn nữa, nhiều nhà không thiết kế hệ thống điện, nên chỉ treo làm vì, trong khi đó đèn lồng phải được thắp sáng mới đẹp. Cũng với giá thành ấy, nên chăng thành phố tiến hành làm một biểu tượng hoặc hình thức khác phù hợp hơn…

    Posted Image

    * Ông Trần Ngọc Dân, tổ trưởng tổ 14, phường Kim Tân:

    Hầu hết các hộ dân trong tổ không đồng tình với chủ trương treo đèn lồng Tổ 14 có 65 hộ dân nằm dọc tuyến đường Lý Công Uẩn. Trong buổi họp tổ (16/9/2011) để lấy ý kiến nhân dân về thực hiện chủ trương của thành phố treo đèn lồng nhân kỷ niệm 20 năm ngày tái lập tỉnh Lào Cai thì hầu hết các hộ dân không đồng tình vì cho rằng treo đèn lồng là không phù với văn hóa người Việt Nam cũng như cảnh quan, không gian, kiến trúc ở tổ dân phố nên dễ gây phản cảm. Với trách nhiệm, tổ cũng chỉ phố tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia, đối với cán bộ, đảng viên thì phải gương mẫu thực hiện chủ trương của thành phố.

    Posted Image

    * Chị Huệ, số nhà 411, đường Nguyễn Huệ, phường Phố Mới:

    Tổ dân phố bắt buộc các hộ dân trên địa bàn mua đèn lồng Tổ dân phố không tổ chức họp dân lấy ý kiến về chủ trương treo đèn lồng mà chỉ gửi giấy thông báo và cho người mang đèn lồng đến yêu cầu các hộ dân phải mua để treo, nên người dân bất bình. Nếu ngày lễ, ngày kỷ niệm lớn thì treo cờ Tổ quốc là phù hợp nhất, chứ nhà cửa như thế này treo đèn lồng sẽ gây phản cảm và lãng phí. Mỗi vỏ chiếc đèn lồng có giá 125 nghìn đồng, nhưng để treo và thắp sáng được, mỗi chiếc phải đầu tư thêm gần 100 nghìn đồng để mua bóng điện, dây, phích cắm, mà không phải gia đình nào cũng có điều kiện cả.

    Posted Image

    Thông báo về chủ trương treo đèn lồng tại các hộ dân.

    Posted Image

    * Ông Hà Văn Hòa, Tổ trưởng tổ 23, phường Phố Mới: Đây là chủ trương của thành phố, người dân phải chấp hành

    Cho dù một số hộ không đồng ý, nhưng đây là chủ trương của thành phố nên bắt buộc các hộ dân trong tổ dân phố phải nghiêm túc chấp hành. Do điều kiện về thời gian nên thay vì phải tổ chức họp dân, tổ dân phố đã gửi thông báo xuống các hộ dân về việc treo đèn lồng, đồng thời hướng dẫn người dân cách thức, quy cách treo đèn. Đến nay, tổ đã phát đèn cho 60/65 hộ dân trong tổ để sẵn sàng treo đồng loạt vào tối ngày 29/9.

    Nhóm PV Thời sự

    http://www.hennhausaigon2015.com

    1 person likes this

  12. Tỳ Sa Môn Thiên Vương,Sóc Thiên Vương & Phù Đổng Thiên Vương trong tôn giáo Việt Nam thời Trung cổ

    Ví dụ, Phật được xem là một trong mười hóa thân (avatara) chính của thần Vishnu. Về phía Phật giáo, các thần Ấn giáo như Brahma (Phạm Thiên), Shakra (Đế Thích) cũng được kết nhập vào thần hệ (pantheon) Phật giáo và được gọi là các Hộ pháp (Dharmapala).

    Thánh Giống - Phù Đổng Thiên Vương

    Khi Phật giáo truyền sang Trung Hoa, thần hệ này cũng được du nhập theo. Dĩ nhiên trong đó có các thần Ấn giáo đã bị "Phật hóa". Khi qua đến Trung Hoa, những thần linh này được kết nhập vào thần hệ tôn giáo Trung Hoa, và lại biến dạng thêm một lần nữa. Khi Phật giáo được truyền từ Ấn Độ và Trung Hoa sang Việt Nam, những thần linh gốc Ấn giáo đã bị Phật và Hoa hóa này, lại một lần nữa bị biến đổi và đồng hóa với những thần linh địa phương, cũng như được giao cho những trách vụ khác, phù hợp với nguyện vọng chính trị và xã hội của người bản xứ. Trong bài viết ngắn này, tôi xin đưa ra vài nhận xét sơ lược về vai trò và sự biến dạng của Vaisravana (Pi Sha Men, Tỳ Sa Môn Thiên Vương) trong tôn giáo Việt Nam thời Trung cổ.

    Giấc mơ của Khuông Việt

    Theo sách Thiền uyển tập anh (TUTA), Khuông Việt (933-1011), tên tục Ngô Chân Lưu, là người truyền thừa đời thứ IV của dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Khuông Việt học và đắc đạo với Vân Phong. Năm ngoài bốn mươi tuổi, Khuông Việt được Đinh Tiên Hoàng (trị vì 968-979) mời vào triều hội kiến. Nhà vua kính trọng ông và phong cho ông chức Tăng thống. Sau đó còn ban cho danh hiệu Khuông Việt Thái sư. Nhà Đinh suy tàn, nhà (Tiền) Lê nối tiếp. Dưới thời Lê Đại Hành (trị vì 980-1005), Khuông Việt vẫn tiếp tục giữ những chức vụ cũ, hơn nữa ông còn được Lê Đại Hành mời tham dự vào tất cả các vấn đề quân sự và triều chính(1).

    TUTA chép(2): "Khuông Việt thường ngao du núi Vệ Linh, quận Bình Lỗ và yêu thích phong cảnh u thắng. Sư định xây am và trụ trì ở đó. Một đêm sư nằm mơ thấy có một thần nhân mặc áo giáp vàng, tay phải cầm thương vàng, tay trái cầm bảo tháp. Đi theo là hơn mười tùy tùng trạng mạo dữ tợn. Thần nhân bước tới nói: "Ta là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, các tùy tùng của ta đều là dạ xoa (yaksa). Thiên đế ra lệnh cho ta đến nước này để bảo vệ biên cương, khiến cho Phật pháp được hưng thịnh. Ta có duyên với ông, cho nên ta đến đây để ủy thác cho ông".

    Khuông Việt kinh hoàng tỉnh giấc, nghe thấy có tiếng gào thét trong núi, trong lòng lấy làm lạ lắm. Sáng ra, Sư đi vào trong núi, thấy có một cội cây lớn cao hơn mười trượng với cành lá xum xuê, lại có một đám mây lành che phủ bên trên. Sư sai thợ đốn cây và tạc thành tượng thần đã thấy trong mơ và lập đền thờ. Vào năm Thiên Phúc thứ nhất (981) quân Tống xâm nhập đánh phá. (Lê Đại Hành) Hoàng đế có nghe câu chuyện kia, sai Khuông Việt đến đền thờ cầu đảo. Quân Tống sợ hãi và bỏ chạy đến Ninh Giang ở Bảo Hựu. Lại thấy gió cuộn, sóng lớn nổi lên, giao long lồng lộn chồm tới. Quân Tống hoàn toàn tan rã".

    Câu chuyện trên đây, nếu đọc trong khuôn khổ thuyên thích (hermeneutic) đúng đắn, khai mở cho chúng ta những dữ kiện quan trọng liên quan tới một số đề tài trong văn hóa sử Việt Nam. Bài viết này, như đã đề cập, chỉ tập trung vào ý nghĩa và sự biến dạng của Tỳ Sa Môn Thiên Vương trong tôn giáo Việt Nam.

    Tỳ Sa Môn Thiên Vương là ai? Tại sao Khuông Việt lại nằm mơ thấy vị thần này? Giấc mơ của Khuông Việt có thể cho chúng ta biết được những gì về tầm quan trọng của vị thần này trong tôn giáo Việt Nam? Một cách khái quát, Tỳ Sa Môn nguyên thủy là một vị thần Ấn Độ nhưng sau đó tục thờ cúng vị thần này được lan truyền sang Khotan, Trung Hoa, Nhật Bản và dần dà cả Việt Nam. Ở những khu vực mới này, Tỳ Sa Môn lại được giao phó cho những vai trò khác nhau(3).

    Tỳ Sa Môn hay Vaisravana là một tên họ (patronymic) khác của Kubera, một vị thần đại chúng, đại diện của Ấn giáo. Kubera được đề cập đến trong các kinh điển Ấn giáo từ Vệ đà cho đến anh hùng ca (epics) qua những mô tả và trong các vai trò khác nhau. Trong các kinh Vệ đà, Kubera được đề cập đến như là vua của các quỷ thần sống trong bóng tối(4). Trong Satapatha Brahmana, Kubera được xem là lãnh chúa của kẻ trộm và tội phạm(5). Trong những lãnh vực khác, Kubera được xem là thần bảo hộ của các thương gia và một trong bốn thần bảo vệ thế gian (lokapala), và một trong tám thần canh giữ các phương hướng (dikpala)(6). Kubera cũng còn được xem là vua của dạ xoa(7). Sau thời kỳ Vệ đà, vai trò chính yếu của Kubera là thần bảo hộ của tiền tài và sự phong phú. Trong Phật giáo, Kubera được biết đến bằng danh xưng Vaisravana và là một trong Tứ Thiên vương nguyện bảo vệ Phật pháp(8). Nói tóm, Kubera có liên hệ chính yếu với sự phì nhiêu thịnh vượng và vương quyền (kingship). Hai đặc tính này, Kubera hay Vaisravana, vẫn nắm giữ trong vai trò của thần như là đối tượng thờ phượng trong tôn giáo bình dân ở các khu vực Á châu ngoài Ấn Độ.

    Tỳ Sa Môn Thiên vương

    Ở Khotan, Kubera được thờ dưới danh xưng Vaisravana như là vị thần bảo hộ hoàng tộc và quốc gia. Vaisravana (Pi Sha Men) đến Trung Hoa từ Khotan và trở thành đối tượng của một nền thờ phượng riêng biệt vào khoảng thế kỷ thứ VII(9). Ở Trung Hoa, hình tượng của Vaisravana được thờ trên tường và cổng của thành phố và tự viện. Vaisravana do đó trở thành thần bảo vệ thành phố và tự viện(10). Vào khoảng cuối đời nhà Tống thì tục thờ phượng Vaisravana đã lan truyền khắp Trung Hoa.

    Nếu như chúng ta hoàn toàn dựa vào đoạn về giấc mơ của Khuông Việt trong tiểu sử của ông thì tục thờ Vaisravana (hay Tỳ Sa Môn Thiên Vương trong tiếng Việt) bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ thứ X. Tuy nhiên, sự kiện Khuông Việt nằm mơ thấy Tỳ Sa Môn khiến chúng ta có thể dự đoán rằng Tỳ Sa Môn hẳn phải là một vị thần đã được biết đến và thờ phượng trong Phật giáo và tôn giáo Việt Nam nói chung rồi. Từ viễn cảnh lịch sử, chúng ta khó mà tin rằng tự dưng Khuông Việt lại nằm mơ thấy Tỳ Sa Môn được.

    Chúng ta biết rằng, Phật giáo được truyền vào Việt Nam qua cả hai ngả Ấn Độ và Trung Hoa. Do đó, Tỳ Sa Môn đã du nhập qua ngả nào không phải là một vấn đề đơn giản. Ví dụ rằng Tỳ Sa Môn nguyên thủy là một thần linh Ấn giáo được Phật hóa trong Phật giáo Ấn Độ, nhưng vào đời nhà Đường, khi Phật giáo đã du nhập Việt Nam qua ngả Trung Hoa từ vài thế kỷ rồi, rất có thể là Tỳ Sa Môn đã qua Việt Nam theo lối này.

    Tuy nhiên, như đã nhận định: Tỳ Sa Môn đảm nhận những vai trò khác nhau ở các quốc gia mà thần được thờ. Không những thế, về mặt hình tượng (iconography), Tỳ Sa Môn cũng thay đổi từ Ấn Độ sang Trung Hoa. Ở đoạn trên, trong tiểu sử Khuông Việt chúng ta đọc thấy rằng Tỳ Sa Môn mặc giáp vàng, tay trái cầm thương, tay phải cầm bảo tháp và có các dạ xoa tùy tùng. Ở Ấn Độ thì Tỳ Sa Môn (dưới danh xưng Kubera) lại được mô tả là cầm một cây thương, một túi tiền và một con chồn(11). Có thể nói là ở Việt Nam, Tỳ Sa Môn tổng hợp các thành tố Ấn Độ và Trung Hoa cũng như Phật giáo và bình dân. Tỳ Sa Môn trở thành thần bảo vệ Phật pháp và quốc gia Việt Nam. Thần còn đáp lại lời cầu đảo của Khuông Việt và giúp Lê Đại Hành đánh tan quân Tống(12)"?

    Tỳ Sa Môn không phải là vị thần Ấn giáo Phật hóa duy nhất được thờ phượng trong Phật giáo Việt Nam. Chúng ta biết rằng, Lý Thánh Tông (trị vì 1054-1072) đã từng cho xây một số chùa để thờ Brahma và Shakra(13). Trường hợp này chúng ta cũng khó khẳng định rằng đây là do ảnh hưởng trực tiếp từ Ấn Độ, từ văn hóa Chàm hay từ Phật giáo Trung Hoa. Cho đến nay, tục thờ phượng các thần linh Ấn giáo trong Phật giáo và tôn giáo bình dân Việt Nam vẫn chưa được thẩm xét kỹ càng. Chúng ta vẫn còn phải chờ đợi các nghiên cứu sâu xa hơn trong tương lai.

    Từ Tỳ Sa Môn Thiên Vương đến Sóc Thiên Vương và Phù Đổng Thiên Vương

    Sách Đại Nam Nhất Thống Chí (ĐNNTC), bộ bách khoa (encyclopedia) về địa lý Việt Nam, một tác phẩm được biên soạn đời Nguyễn, ghi rằng có đền thờ Tỳ Sa Môn Thiên Vương ở làng Ninh Tảo, huyện Từ Liêm (Bắc Việt). Theo sách này thì tên của vị thần là Sóc Thiên Vương và hiệu là Tỳ Sa Môn Thiên Vương. Chúng ta ghi nhận ở đây là trong một số tác phẩm soạn sau TUTA, Tỳ Sa Môn Thiên Vương cũng được đề cập đến dưới danh xưng Sóc Thiên Vương, ĐNNTC thuật lại rằng, Lê Đại Hành sau khi chứng kiến sự hiển linh của Tỳ Sa Môn đã cho xây thêm nhiều đền thờ thần. Cho đến nhà Lý, để thuận tiện việc thờ phượng, lại thêm một đền thờ Tỳ Sa Môn nữa được dựng ở làng Ninh Tảo, gần Tây Hồ. Các vua nhà Lý cũng ban cho thần tước hiệu "Thần tối cao". Các triều đại kế tiếp tiếp tục ban tước hiệu cho thần(14).

    Tỳ Sa Môn Thiên vương trong văn hóa Tây Tạng

    Câu chuyện kể về giấc mơ của Khuông Việt được chép lại trong các dị bản của hai bộ sách quan trọng trong văn hóa sử Việt Nam là Việt điện u linh tập (VĐUL) và Lĩnh Nam chích quái (LNCQ)(15). So sánh những bản này với TUTA, chúng ta thấy có những dị biệt nhỏ. Tuy nhiên, những dị biệt ấy nói lên những biến chuyển rất quan trọng. Hơn nữa, chúng còn hàm chứa một số vấn đề mà chúng ta cần tìm hiểu. Trước hết, chúng ta thử đọc lại những ghi chép về giấc mơ của Khuông Việt trong VĐUL và LNCQ.

    1. Việt điện u linh tập tục trong truyện "Sóc Thiên Vương" chép(16): "Theo Thiền uyển tập anh, vào đời Lê Đại Hành có Khuông Việt Thái Sư, không làm quan, thường nhàn du Vệ Linh Sơn ở quận Bình Lỗ, yêu thích cảnh trí u nhã nên muốn dựng am ở đó. Một hôm sau khi du lãm sơn am, về ngủ (mơ) thấy một thần nhân mặc áo giáp vàng, tay cầm thương vàng, có vài ngàn tùy tùng. Thần nhân tự xưng là Sóc Thiên Vương, (nói rằng: Ta) quán lãnh dạ xoa thần binh, phụng mệnh Thượng đế, đến bảo vệ đất này và gia hộ phương dân. Ta có duyên với ông nên đến gặp! Thái sư giật mình tỉnh giấc, nghe trong núi có tiếng la hét. Cho nên Thái sư đi sâu vào núi, thấy một cội cây lớn xum xuê, khí lành dễ thương. Thái sư mới lập miếu ở chỗ đó, dùng cây lớn kia làm tượng thần giống như đã thấy trong mơ. Vào năm Thiên Phúc, quân Tống xâm nhập đánh phá. Đại Hành hoàng đế có nghe thấy câu chuyện kia, mới ủy thác cho Thái sư ngầm đến miếu cầu đảo. Lúc ấy, quân Tống đang đóng ở thôn Tây Kết, quân hai bên chưa đụng trận, bỗng nhiên thấy một người thân cao hơn một trượng, tóc xõa mắt trợn, từ lòng sông hiện lên, sóng lớn cuồn cuộn. Quân Tống sợ quá thối lui. Tướng Tống là Quách Quỳ đem quân về nước. Để tạ ơn, Đại Hành ra lệnh sửa sang miếu cho rộng rãi hơn".

    Bản này hầu như giống với bản chép trong TUTA, ngoại trừ vài dị biệt như sau: thần nhân có vài ngàn dạ xoa tùy tùng và tự xưng là Sóc Thiên Vương thay vì Tỳ Sa Môn Thiên Vương, tuy thần nhân cũng nói là phụng mệnh Thượng đế đến bảo vệ bờ cõi và dân chúng xứ này. Lưu ý là người biên tập mặc nhiên xem Tỳ Sa Môn là một với Sóc Thiên Vương (vì ông nhận là dựa vào TUTA) song không hề giải thích Sóc Thiên Vương là ai. Phải chăng là một danh xưng khác của Tỳ Sa Môn? Điều đáng chú ý là Sóc Thiên Vương ở đây không cầm bảo tháp (stupa), và chỉ nói là bảo vệ xứ sở và phương dân chứ không hề đề cập đến Phật pháp. Bảo tháp là một biểu tượng quan trọng trong Phật giáo(17). Nói tóm lại, ở đây chúng ta thấy Tỳ Sa Môn Thiên Vương và một số yếu tố Phật giáo rõ ràng đã bị loại bỏ.

    2. Việt điện u linh tập lục toàn biên trong truyện "Sóc Thiên Vương" chép(18): "Theo sách Thiền uyển tập anh, vào đời Lê Đại Hành có Khuông Việt Thái sư họ Ngô, thường nhàn du Vệ Linh Sơn ở quận Bình Lỗ vui ngắm sơn thủy, yêu thích cảnh trí u nhã nên muốn dựng am tự ở đó. Đêm nằm mơ thấy một thần nhân mặc áo giáp vàng, tay trái cầm thương vàng, tay phải nâng bảo tháp, có hơn chục người tùy tùng, trạng mạo cổ quái dễ sợ, bước tới nói, "Ta là Tỳ Sa Môn, tùy tùng của ta đều là dạ xoa. Thiên đế có lệnh đến quốc độ này bảo hộ dân chúng. Ta có duyên với ông, cho nên đến ủy thác! Sư giật mình kinh hoàng, nghe trong núi có tiếng la hét, trong lòng sợ hãi lắm. Sáng ra, Sư vào núi thấy một cội cây lớn cành lá xum xuê, lại có mây lành che phủ ở trên. Sư mới sai thợ đốn cây, quả nhiên phù hợp với những gì đã thấy trong mơ, khắc tượng lập đền. Năm Thiên Phúc thứ nhất, quân Tống xâm nhập đánh phá. ([Đại Hành]) Hoàng đế có nghe thấy câu chuyện kia, mới ủy thác cho Sư đến cầu đảo. Lúc ấy, quân Tống đang đóng ở thôn Tây Kết, quân hai bên chưa đụng trận, quân Tống tự nhiên sợ hãi, lui về trấn giữ Chi Giang, lại gặp sóng lớn nổi lên, giao long lồng lộn, quân Tống tan vỡ. Tướng Tống là Quách Quỳ đem quân về nước. ([Đại Hành]) Hoàng đế xây đền rộng thêm để thờ phụng".

    Bản này tương đối gần với TUTA hơn. Ở đây thần nhân tự xưng là Tỳ Sa Môn Thiên Vương và trên tay trái cũng có cầm bảo tháp. Tuy nhiên không thấy đề cập đến việc bảo vệ Phật pháp. Tiếp theo lại có một đoạn kể thêm một sự tích Phù Đổng Thiên Vương. Lời "tiếm bình" lại xác quyết rằng Sóc Thiên Vương chính là Tỳ Sa Môn Thiên Vương và cũng là một với Phù Đổng Thiên Vương(19). Lời "tiếm bình" ở đây rõ ràng viết sau LNCQ, vì người viết có đề cập đến sách này.

    3. Lĩnh Nam chích quái liệt truyện trong truyện "Sóc Thiên Vương" chép(20): "Theo sách Thiền uyển tập anh, xưa vào đời Lê Đại Hành có Cự Việt đại sư họ Ngô, thường nhàn du Vệ Linh Sơn ở quận Bình Lỗ, yêu thích cảnh trí u thắng, bèn dựng am ở đó. Đêm canh ba nằm mơ thấy một thần nhân mặc áo giáp vàng, tay trái cầm thương, tay phải cầm bảo tháp, có hơn chục người tùy tùng, trạng mạo dễ sợ, đến nói với Cự Việt đại sư: "Ta là Quỷ Sa Môn Thiên Vương, tùy tùng của ta đều là dạ xoa. Thượng đế có truyền lệnh sai ta đến thăm chứng đất Đại Nam quốc, bảo vệ dân chúng. Ta có duyên với ông, cho nên đến ủy thác, và báo cho ông biết". Sư giật mình tỉnh giấc, lát sau nghe trên núi có tiếng la hét, trong lòng sợ hãi lắm. Sáng ra, Sư vào núi thấy một cội cây lớn cành lá xum xuê, lại có khí lành che phủ ở trên. Sư mới sai thợ đốn cây, khắc gỗ làm tượng thần như đã thấy trong mơ, rồi xây đền miếu để thờ thần. Năm Thiên Phúc thứ nhất, quân Tống xâm nhập đánh phá. (Đại Hành) Hoàng đế có nghe thấy câu chuyện kia, mới sai Sư đến đền khẩn cầu. Lúc ấy quân Tống đang đóng ở thôn Tây Kết, quân hai bên chưa đụng trận, quân Tống hốt nhiên thấy một người hiện lên giữa sóng lớn, thân cao hơn mười trượng, tóc dựng ngược, trợn mắt giận dữ nhìn, hiển thánh thần quang! Quân Tống trông thấy kinh hãi, lui về giữ trấn Kỹ Giang, lại gặp sóng lớn nổi lên, giao long rùa ba ra lồng lộn quái đản. Quân Tống thấy thế kinh hoàng tan vỡ. Tướng Tống là Quách Tiến đem quân về nước. (Đại Hành) Hoàng đế khen ngợi anh linh của thần, xây đền rộng thêm để thờ phụng".

    Bản này tựa như phối hợp cả (1) và (2) cộng thêm nhiều chi tiết thêm thắt. Tên Khuông Việt bị viết lầm thành Cự Việt. Điều này cũng không có gì lạ lắm vì chữ "Khuông" và chữ "Cự" hơi tương tự nhau. Tỳ Sa Môn Thiên Vương được chép thành Quỷ Sa Môn Thiên Vương. Tiếp theo cũng có một đoạn ghi nhận rằng có người cho rằng Sóc Thiên Vương hay Quỷ Sa Môn Thiên Vương (sic) là một với Phù Đổng Thiên Vương.

    4. Thiên Nam vân lục trong "Sóc Thiên Vương truyện" chép(21): "Theo sách Thiền Uyển tập lục, xưa vào đời Đinh Tiên Hoàng có người Cự Việt họ Ngô, thường nhàn du Vệ Linh Sơn, yêu thích cảnh trí u thắng, bèn dựng am ở đó. Đêm nằm mơ thấy một thần nhân mặc áo giáp vàng, tay phải cầm bảo tháp, trạng mạo dễ sợ, có hơn ngàn tùy tùng, đến nói với Ngô: ‘Ta là Tỳ Sa Minh Vương, tùy tùng của ta đều là dạ xoa. Thượng đế có lệnh đến, sai ta đến thăm chừng đất đai Bắc quốc, bảo vệ dân chúng. Ta có duyên với ông, cho nên đến báo cho ông biết’. Ngô giật mình tỉnh giấc, lát sau nghe giữa đá núi có tiếng la hét, Ngô vừa nghi vừa sợ. Sáng ra, Ngô vào núi thấy một cội cây lớn cành lá xum xuê lại có mây lành che phủ ở trên. Ngô mới sai thợ đốn cây, khắc gỗ làm tượng thần như đã thấy trong mơ, rồi xây đền để thờ thần. Vào thời Đinh Thiếu Đế, quân Tống xâm nhập phương Nam. (Thiếu) Đế có nghe thấy câu chuyện kia, mới sai Ngô đến đền cầu đảo. Lúc ấy quân Tống hốt nhiên thấy một người hiện lên giữa sóng lớn, duỗi thân cao mấy trượng, tóc dựng ngược, trợn mắt giận dữ nhìn, thần quang long lanh. Quân Tống kinh hãi quá, lui về trấn giữ Giáp Giang, lại gặp sóng gió dạt dào mênh mông, giao long lồng lộn tung hoành. Quân Tống người nào cũng sợ, Quách Quỳ mới nhổ trại lui binh. (Thiếu) Đế tán thán sự anh linh của thần, xây đền rộng thêm để thờ phụng".

    Bản này rõ ràng dựa trên (3). Nhưng ở đây Khuông Việt chỉ được đề cập đến là "ông Ngô", và người biên tập hầu như không biết rằng Khuông Việt là nhà sư, Tỳ Sa Môn Thiên Vương được gọi là Tỳ Sa Minh Vương. Biến cố quân Tống xâm nhập nước ta xảy ra vào đời Đinh chứ không phải đời (Tiền) Lê như những bản trên. Tỳ Sa Minh Vương hay Sóc Thiên Vương cũng được xem là một với Phù Đổng Thiên Vương.

    Chúng ta lưu ý được rằng tất cả những bản này đều mở đầu với câu: "Theo sách Thiền uyển tập anh". Rõ ràng là những tác gia này đã dựa vào những bản đi trước, và bản đầu tiên lại dựa vào TUTA. Điều này cũng không có gì lạ bởi vì TUTA được soạn sớm hơn cả VĐUL lẫn LNCQ. Ngoài những khác biệt liên quan đến các tên riêng, cả người và địa danh, có thể là do lỗi của người ghi chép hay sự mù mờ của những tác giả này đối với huyền thoại Phật giáo Ấn Độ. Đáng chú ý là tất cả các dị bản này đều giống nhau ở chỗ, câu "để cho Phật pháp phát triển", trong lời Tỳ Sa Môn Thiên Vương nói với Khuông Việt theo như bản trong TUTA đều bị loại bỏ.

    Trong phần dưới đây, chúng ta thử giải thích ý nghĩa giấc mơ của Khuông Việt từ viễn cảnh vai trò của Phật giáo trong việc tạo dựng tinh thần quốc gia (nationalism) cũng như sự biến dạng từ Tỳ Sa Môn Thiên Vương sang Sóc Thiên Vương và Phù Đổng Thiên Vương. Hy vọng những nhận định sơ khởi này sẽ là nền tảng cho những thẩm xét sâu xa hơn về vấn đề nguồn gốc của sự tạo dựng tinh thần quốc gia trong lịch sử Việt Nam. Vấn đề nguồn gốc của tinh thần quốc gia là một vấn đề mới và sôi nổi trong ngành xã hội, văn hóa và chính trị học hiện thời. Ở các xứ Á châu, tôn giáo đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong vấn đề này. (Còn tiếp)

    Như Hạnh (*)

    * Giáo sư, phân khoa Triết học và Tôn giáo, Đại học George Mason, Virginia, USA. (1) Về tiểu sử Khuông Việt xem TUTA, microfilm #1267, 8a6-9b4 (2) Ibid, 8b1-9a1. (3) Xem Fredrick W.Bunce, An Encyclopedia of Buddhist Deities, Demigods, Godlings, Saints & Demons, (New Delhi: D.K.Printworld, Ltd, 1994), I:574, Jan Knappert, Indian Mythology (London: The Aquarian press, 1991), 146; Sylvain Lévi, J.Takakusu, Paul Deniéville, eds., Hobogirin (Tokyo: Maison Franco-Japonaise, 1929-1930), I &II: 79-83. (4) Xem Eva Rudy Jansen, The Book of Hindu Imagery: The Gods and Their Symbols (Diever, Holland: Binkey Kok Publications, 1993), 70. (5) Xem Gail Hinich Sutherland, The Disguisese of the Demon: The Development of the Yaksa in Hinduism and Buddhism (Albany: State University of New York Press, 1991), 63. (6) Ibid, 65. (7) Ibid, 61. (8) Về Tứ Thiên Vương trong Phật giáo xem, inter alia, R.E.Emmerick, The Sutra of Golden Light (London: Routledge & Kegan Paul, Ltd.1979), 23-43. Trong vũ trụ luận Phật giáo Tứ Thiên Vương, bốn Thiên Vương cai trị bốn phương: Dhritarashtra - phương Đông, Virudhaka - phương Nam, Virupaksha - phương Tây và Vaisravana - phương Bắc. Xem Jan Knappert, Indian Mythology, 103. Theo Valerie Hansen thì gốc tích phương Bắc của Vaisravana có lẽ xuất phát từ Khotan, bởi vì Khotan Vaisravana là thần bảo vệ quốc gia và Khotan lại ở phương Bắc. Xem Valerie Hansen, "Gods on the Wall: A Case of Indian Influence on Chinese Lay Religion" trong Patricia Buckley Ebrey & Ebrey & Pater N. Gregory, eds., Religion and Society in T’ang and Sung China (Honoluu: University of Hawaii Press 1993), 81. (9) Xem Valerie Hansen, Gods on the Wall, 84. (10) Ibid., 80. (11) Ibid., 87. (12) Điều đáng lưu ý ở đây là Trung Hoa Vaisravana cũng đã từng đóng vai trò tương tự. Trong Tỳ Sa Môn Nghi Quỹ có thuật lại rằng vào năm 742 tỉnh An Tây bị quân của năm nước bao vây Đại Thạch Khang gửi người về kinh đô xin giải cứu. Vua Đường hỏi ý kiến Hồ tăng Đại Quảng Trí (Amoghavajra). Amoghavajra khuyên vua cầu đảo với Bắc phương Thiên Vương gửi thần binh đi cứu. Kết quả là Tỳ Sa Môn gửi thần binh đến giải vây An Tây một cách nhanh chóng. Xem T21.228b6-c1. Xem cả Valerie Hansen, Gods on the Wall, 82-83. (13) Chẳng hạn, năm 1057 Lý Thánh Tông cho xây hai chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ rồi cho đúc tượng Brahma và Shakra bằng vàng để thờ ở đó. Xem Đại Việt Sử Ký toàn thư, bản kỷ, III:242. (14) Xem ĐNNTC, tập 27, mục tỉnh Hà Nội, phần Tự Miếu. Đại cương về sách này, xem số mục 855 trong Trần Nghĩa và Francois Gros, eds., Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu - Catalogue des livres en Han Nom [dshn] (Hà Nội: NXB KHXH, 1993), I: 490-491. (15) Đây là hai bộ sách rất quan trọng trong văn hóa sử Việt Nam. Song cho tới nay vẫn chưa có nghiên cứu đúng đắn nào về hai bộ sách này cả. Trước 1975 đã có bản dịch ra quốc ngữ, đáng tiếc là bản dịch này đầy những lỗi lầm, không thể sử dụng được. Về sách VĐUL xem E’mile Gaspardone, "Bibligraphie annamite" 126-128; Keith Weller Taylor, Authority and Legitimacy in 11th Century Viet Nam, trong David G.Marr & A.C Milne, eds., Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries (Singapore: Institute of Southeast Asia Studies, 1986), 156-169; Notes on the Việt điện u linh tập, Việt Nam Forum 8 (1968): 26-59; The Birth of Việt Nam (Berkeley: University of California Press, 1983), 352-359; DSHN.#4276, 586-588. Về sách LNCQ xem "Bibliographie annamite", 128-130; DSHN, #2012, 206-207. (16) Xem Việt điện u linh tạp lục toàn biên trong Chang Hing-ho, ed., Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San, tập 1 (Paris - Taipei: Publications de l’Eùcolé francaise d’Extrême - Orent & Editions Universitaires de Taipei, 1992), 39. (17) Về ý nghĩa của Tháp (Stupa) trong Phật giáo, xem Giusepe Tucci, Stupa: Art, Architectonies and Symbolism of the Buddhist Stupa (Emeryville: Dharma Publishing, 1976). (18) Xem Việt điện u linh tạp lục toàn biên trong Chang Hing-Ho, 214-215. (19) Ibid.,215. (20) Xem Lĩnh Nam chích quái liệt truyện trong Chan Hing-Ho, II: 115. (21) Xem Thiên Nam vân lục trong Chan Hing-Ho, II:222.

    nguồn: http://giacngo.vn


  13. chuluongtri học qua lớp Phong thủy Lạc Việt thì sẽ hiểu rỏ hơn vấn đề. Phong thủy như Y học, tùy theo cơ địa mà cho thuốc, nghe thì biết vậy thôi chứ chưa chắc đã đúng vậy. Cứ nghe thôi, hay có sách để đọc rồi mà làm theo thì...bệnh ai nấy mang, phúc ai nấy hưởng!

    Vài lời chia sẻ.

    Thiên Đồng


  14. 400 tỷ đồng! Số tiền này đem xây nhà tình thương cho các mẹ còn sống, cho con của các mẹ còn sống, bệnh viện cho các mẹ, trường học cho các cháu của mẹ, thay cầu tre bằng cầu bê tông, tráng đường đất bằng đường nhựa, đưa vào quỹ hổ trợ tiền thuốc, tiền ăn trầu cho các mẹ anh hùng...thì công đức rất lớn, nguyên khí quốc gia tăng cao. Đó là phù hợp với lý thuyết âm dương ngũ hành, cũng phù hợp với đạo lý dân tộc "ăn quả nhớ kẻ trồng cây", "uống nước nhớ nguồn", "ăn cây nào rào cây đó", "một miếng ở đình hơn một mâm ở nhà".

    Ôi! Mơ 400 tỷ đồng làm được chuyện nhỏ nhoi như vậy.

    Thiên Đồng


  15. THIÊN 15: NGŨ THẬP DOANH

    Hoàng Đế hỏi: “Ta mong được nghe thế nào là ngũ thập doanh”[1].
    Kỳ Bá đáp: “Thiên xoay hết 1 chu thì hết nhị thập bát tú, mỗi tú vận hành 36 phân, khí của con người vận hành 1 chu[2]. Trong 1008 phân, nhật hành nhị thập bát tú, kinh mạch của con người vận hành trên dưới, trái phải, trước sau, thế là 28 mạch vận hành chu thân dài 16 trượng 2 xích nhằm ứng với nhị thập bát tú, lậu thủy chảy xuống trăm khắc nhằm phân ra ngày và đêm[3]. Cho nên con người 1 lần hô thì mạch tái động, khí vận hành 3 thốn[4]. Hô hấp định 1 tức, khí vận hành 6 thốn[5]. Khí vận hành trong trong 10 tức được 6 xích, nhật hành nhị phân, 270 tức khí hành 16 trượng 2 xích, khí vận hành giao thông với bên trong 1 chu toàn thân, nước chảy xuống 2 khắc, nhật hành 25 phân, 540 tức khí hành 1 lần nữa chu toàn thân, nước chảy xuống 4 khắc, nhật hành 40 phân, 2700 tức khí vận hành 10 chu toàn thân, nước chảy xuống 20 khắc, nhật hành 5 tú 20 phân, 13.500 tức khí vận hành 50 doanh ở toàn thân nước chảy xuống 100 khắc, nhật hành nhị thập bát tú, nước chảy xuống đã hết, mạch cũng dứt vậy[6]. Cái gọi là giao thông ý nói cùng vận hành với nhau theo đúng với con số. Vì thế con số 50 doanh đã đáp ứng đầy đủ tuổi thọ của Thiên Địa... nghĩa là sự vận hành được 810 trượng vậy[7].
    五十营第十五
    黄帝曰:余愿闻五十营奈何?岐伯答曰:天周二十八宿,宿三十六分,人气行一周,千八分。日行二十八宿,人经脉上下、左右、前后二十八脉,周身十六丈二尺, 以应二十八宿。漏水下百刻,以分昼夜,故人一呼,脉再动,气行三寸,一吸,脉亦再动,气行三寸,呼吸定息,气行六寸。十息,气行六尺,日行二分。二百七十 息,气行十六丈二尺,气行交通于中,一周于身,下水二刻,日行二十五分。五百四十息,气行再周子身,下水四刻,日行四十分。二千七百息,气行十周子身,下 水二十刻,日行五宿二十分O一万三千五百息,气行五十营于身,水下百刻,日行二十八宿,漏水皆尽,脉终矣。所谓交通者,并行一数也,故五十营备,得尽天地 之寿矣,凡行八百一十丈也。

    THIÊN 16: DOANH KHÍ

    Hoàng Đế nói: “Con đường của doanh khí qúy nhất là ở chỗ nạp cốc khí nhập vào Vị, sau đó mới truyền lên cho Phế, tràn ngập ở trong và bố tán ra ngoài, phần tinh chuyên vận hành trong kinh toại, nó doanh hành 1 cách thường không bao giờ ngừng lại, chung rồi lại thỉ, đây chính là kỷ của Thiên Địa[1]. Cho nên, khí bắt đầu xuất ra từ Thái âm rồi chú rót vào kinh thủ Dương minh, vận hành lên trên rót vào kinh túc Dương minh, xuống dưới vận hành cho đến mu bàn chân rồi rót vào trong khoảng ngón cái để hợp với kinh Thái âm, đi lên trên áp vào Tỳ, từ Tỳ rót vào giữa Tâm, lại tuần hành theo kinh Thủ Thiếu âm, xuất ra khỏi nách, xuống dưới theo cẳng tay để rót vào ngón tay út, hợp với kinh Thủ Thái dương, lại vận hành lên trên, cưỡi lên nách, xuất ra ở xương má (dưới mắt) rót vào khoé mắt trong, lên đỉnh đầu, xuống đến cổ gáy để hợp với kinh túc Thái dương, tuần hành theo cột sống xuống dưới xương cùng, rồi lại đi xuống để rót vào đầu ngón út, tuần hành theo giữa lòng bàn chân để rót vào kinh túc Thiếu âm, tuần hành lên trên rót vào Thận, từ Thận lại rót vào ngoài Tâm để rồi tán ra ở giữa lồng ngực, tuần hành theo mạch của kinh Tâm chủ, xuất ra dưới nách, đi xuống cẳng tay, xuất ra ở giữa 2 đường gân, nhập vào lòng bàn tay, xuất ra ở đầu ngón giữa, trở lại rót vào đầu ngón áp út phía ngón út hợp với kinh Thủ Thiếu dương, đi lên trên rót vào Chiên Trung, tán ra ở Tam tiêu, từ Tam tiêu rót vào Đởm, xuất ra ở hông sườn, rót vào kinh túc Thiếu dương, lại đi xuống mu bàn chân, rồi lại từ mu bàn chân rót vào trong chỗ khoảng ngón chân cái để hợp với kinh Túc Quyết âm, vận hành lên trên đến Can, từ Can lên trên rót vào Phế, lên trên đến cổ họng, nhập vào khiếu trong mũi (kháng tảng) dứt ở khiếu cổ họng (súc môn)[2].
    Chi biệt của nó lên trên trán, tuần hành ở đỉnh đầu, xuống dưới cổ gáy, tuần hành theo cột sống nhập vào xương cùng, đó là nơi của Đốc mạch để lạc với Âm khí (bộ sinh dục), lên trên đi qua giữa chòm lông mu, nhập vào giữa rốn, lên trên tuần hành theo bên trong bụng, nhập vào Khuyết bồn, xuống dưới rót vào giữa Phế, rồi lại xuất ra ở kinh Thái âm[3]. Đây chính là con đường vận hành của doanh khí, tạo thành lẽ thường của sự nghịch thuận vậy[4].

    营气第十六
    黄帝曰:营气之道,内谷为宝,谷人于胃,乃传之肺,流溢于中,布散于外,精专者行于经隧,常营无已,终而复始,是谓天地之纪。故气从太阳出,注手阳明,上 行注足阳明,下行至路上,注大指间,与太阳合,上行抵碑,从脾注心中;循手少阴,出腋下臂,注小指,合手太阳,上行乘腋出硕内,注目内毗,上巅下项,合足 太阳,循脊下届,下行注小指之端,循足心注足少阴,上行注肾,从肾注心,外散于胸中;循心主脉出腋下臂,出两筋之间,人掌中,出中指之端,还注小指次指之 端,合手少阳,上行注膻中,散于三焦,从三焦注胆,出胁注足少阳,下行至跑上,复从附注大指间,会足厥阴,上行至肝,从肝上注肺,上循喉咙,八项领之窍, 究于畜门;其支别者,上额循巅下项中,循脊人脱是督脉也,络阴器,上过毛中,入脐中,上循腹里,人缺盆,下注肺中,复出太阴。此营气之所行也,逆顺之常 也。

    THIÊN 17: MẠCH ĐỘ

    Hoàng Đế nói: “Ta mong được nghe về vấn đề mạch độ”[1].
    Kỳ Bá đáp : “Lục dương kinh của Thủ đi từ tay đến đầu, dài 5 xích, 5 lần 6 là 3 trượng[2].
    Lục âm kinh của Thủ đi từ tay đến giữa ngực dài 3 xích 5 thốn. 3 lần 6 là 1 trượng 8 xích, 5 lần 6 là 3 xích, hợp lại là 2 trượng 1 xích[3].
    Lục dương kinh của Túc đi từ chân lên trên đến đầu dài 8 xích, 6 lần 8 là 4 trượng 8 xích[4].
    Lục Âm kinh của Túc đi từ chân lên đến giữa ngực dài 6 xích 5 thốn, 6 lần 6 là 3 trượng 6 xích, 5 lần 6 là 3 xích, hợp lại là 3 trượng 9 xích[5].
    Kiểu mạch đi từ chân lên đến mắt dài 7 xích 5 thốn, 2 lần 7 là 1 trượng 4 xích, 2 lần 5 là 1 xích, hợp lại là 1 trượng 5 xích[6].
    Đốc mạch, Nhậm mạch mỗi mạch dài 4 xích 5 thốn, 2 lần 4 là 8 xích, 2 lần 5 là 1 xích, hợp lại là 9 xích, hợp lại là 9 xích, tất cả hợp lại là 16 trượng 2 xích[7].
    Đây là đại kinh toại của khí[8].
    Kinh mạch thuộc về lý, phần nhánh và lạc ngang là thuộc về lạc[9]. Biệt của lạc là tôn (lạc, tôn lạc) nếu thịnh thì thành huyết, nên mau mau châm trừ bỏ nó đi[10]. Nếu khí thịnh thì dùng phép châm tả, nếu khí hư thì nên cho uống thuốc để bổ nó[11]. Ngũ tạng thường thông với thất khiếu ở trên[12]. Cho nên Phế khí thông với mũi, nếu Phế lợi thì mũi có thể biết được mùi thối hoặc thơm[13]. Tâm khí thông với lưỡi, nếu Tâm hòa thì lưỡi có thể biết được ngũ vị[14]. Can khí thông với mắt, nếu Can hòa thì mắt có thể phân biệt được ngũ sắc[15]. Tỳ khí thông với miệng, nếu Tỳ hòa thì miệng có thể biết được ngũ cốc[16]. Thận khí thông với tai, nếu thận hòa thì thì tai có thể nghe được ngũ âm[17]. Ngũ tạng bất hòa thì thất khiếu bất thông, lục phủ bất hòa thì khí sẽ bị giữ lại và thành chứng ung[18].
    Cho nên, nếu tà khí ở tại phủ thì Dương mạch bất hòa, Dương mạch bất hòa thì khí bị giữ lại, khí bị giữ lại thì Dương khí bị thịnh[19]. Nếu Dương khí quá thịnh thì âm bị bất lợi, Âm mạch bất lợi thì huyết bị giữ lại, huyết bị giữ lại thì Âm khí bị thịnh[20]. Nếu Âm khí quá thịnh thì Dương khí không thể tươi, gọi là quan[21]. Nếu Dương khí quá thịnh thì Âm khí không thể tươi, gọi là cách[22]. Nếu cả Âm Dương đều thịnh không cùng làm vinh cho nhau, gọi là Quan Cách[23]. Khi bị Quan Cách thì sẽ không sống được trọn đời mình mà đã chết rồi vậy[24].
    Hoàng Đế hỏi: “Kiểu mạch khởi lên như thế nào và chấm dứt như thế nào ? Khí nào đã làm vinh nhau ?”[25].
    Kỳ Bá đáp : “Kiểu mạch là 1 biệt mạch của kinh Thiếu Âm, khởi lên ở sau xương Nhiên cốt, lên trên khỏi mắt cá trong lên thẳng tuần hành theo phía trong đùi, nhập vào Âm khí, lên trên tuần hành theo trong ngực, nhập vào Khuyết bồn, lên trên, xuất ra ở trước huyệt Nhân Nghênh, nhập vào phía dưới mắt rồi thuộc vào khoé mắt trong, hợp với kinh Thái dương và mạch Dương kiểu rồi lên trên nữa; (Âm kiểu và Dương kiểu) cùng giao khí với nhau thì sẽ làm trơn ướt cho mắt; Nếu khí này không làm thông (tươi) cho nhau thì mắt sẽ không nhắm lại được”[26].
    Hoàng Đế hỏi:“Khí chỉ độc hành ở ngũ tạng mà không làm vinh ở lục phủ, tại sao thế?”[27].
    Kỳ Bá đáp : “Khí không thể không vận hành, nó ví như nước phải chảy, nhật nguyệt phải vận hành không ngừng[28]. Cho nên Âm mạch làm vinh cho tạng, Dương mạch làm vinh cho phủ, như chiếc vòng ngọc không đầu mối, không biết cái kỷ ở chỗ nào, chung rồi lại thỉ[29]. Khí tràn ngập của nó, bên trong nó tưới ướt tạng phủ, bên ngoài nó làm trơn ướt tấu lý”[30].
    Hoàng Đế hỏi: “Kiểu mạch có Âm, có Dương, vậy mạch nào tính theo con số nào ?”[31]. Kỳ Bá đáp: “Người con trai phải tính vào số Dương, người con gái phải tính vào số Âm, tính tới con số nào thì đó là kinh, con số không tính gọi là lạc”[32].

    脉度第十七
     
    黄帝曰:愿闻脉度。岐伯答日:手之六阳,从手至头,长五尺,五六三丈。手之六阴,从手至胸中,三尺五寸,三六一文八尺,五六三尺,合二立一尺。足之六阳, 从足上至头,八尺,六八四文八尺。足之六阴,从足至胸中,六尺五寸,六六三丈六尺,五六三尺,合三丈九尺。跌脉从足至目,七尺五寸,二七一丈四尺,二五一 尺,合一立五尺。督脉任脉各四尺五寸,二四八尺,二五一尺,合九尺。凡都合一十六文。尺,此气之大经隧也。经脉为里,支而横者为络,络之别者为孙,盛而血 者疾诛之,盛者泻之,虚者饮药以补之。五藏常内阅于上七窍也,故肺气通于鼻,肺和则易能知臭香矣;心气通于舌,心和则舌能知五味矣;肝气通于目,肝和则目 能辨五色矣;脾气通于口,脾和则口能知五谷矣;肾气通于耳,肾和则耳能闻五音矣。五藏不利则七窍不通,六府不和则留为痈。故邪在府则阳脉不和,阳脉不和则 气留之,气留之则阳气盛矣。阳气太盛则阴不利,明脉不利则血留之,血留之则阴气盛矣。阴气太盛,则阳气不能荣也,故日关。阳气太盛,则明气弗能荣也,故日 格。阴阳俱盛,不得相荣,放日关格。关格者,不得尽期而死也。黄帝曰:颁脉安起安止?何气荣水?岐伯答曰:缺脉者,少明之别,起于然骨之后,上内踝之上, 直上循阴股入阴,上循胸里入缺盆,上出人迎之前,入颀,属目内附,合于太阳、阳跃而上行,气并相还则为孺目,气不荣则目不合。.黄帝日:气独行五藏,不荣 六府,何也?岐伯答曰:气之不得无行也,如水之流,如日月之行不休,故阴脉荣其藏,阳脉荣其府,如环之无端,莫知其纪,终而复始。其流溢之气,内溉藏府, 外德胜理。黄帝日:颜脉有阴阳,何脉当其数?岐伯答曰:男子数其阳,女子数其阴,当数者为经,其不当数者为络也。

    THIÊN 18: DOANH VỆ SINH HỘI

    Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá: “Con người thọ khí từ đâu ? Âm Dương hội nhau ở đâu ? Khí gì gọi là Doanh ? Khí gì gọi là Vệ ? Doanh khí sinh ra từ đâu ? Vệ khí hội nhau ở đâu ? Khí của người già và người trai tráng không đồng nhau, Âm Dương ở những chỗ khác nhau, Ta mong được nghe về chỗ hội của chúng”[1].
    Kỳ Bá đáp : “Con người thọ khí ở cốc khí, cốc khí nhập vào Vị để rồi truyền lên đến Phế, ngũ tạng lục phủ đều nhờ vậy mà thọ được khí ấy[2]. Phần thanh của khí ấy thành doanh, phần trọc của nó thành vệ[2]. Doanh ở trong mạch, vệ ở ngoài mạch, doanh hành thành những vòng không ngừng nghỉ, vận hành đủ 50 chu rồi trở lại họp đại hội với nhau[3]. Âm dương cùng quán thông nhau như chiếc vòng ngọc không đầu mối[4]. Vệ khí vận hành ở Âm 25 độ, vận hành ở Dương 25 độ, phân làm ngày và đêm, cho nên khi khí vận hành đến Dương phận thì thức, vận hành đến Âm thì ngủ[5].
    Cho nên mới nói: lúc mặt trời giữa trưa là lúc Dương nở rộng ra gọi là trùng Dương, lúc nửa đêm là lúc Âm nở rộng ra, gọi là trùng âm[6]. Cho nên Thái âm chủ bên trong, Thái dương chủ bên ngoài, mỗi bên vận hành 25 độ, phân làm ngày và đêm[7].
    Giữa đêm là lúc âm nở rộng rất, sau giữa đêm là lúc Âm bị suy, sáng sớm (bình đán) là lúc Âm tận và cũng là lúc Dương thọ (nhận lấy) khí[8].
    Giữa trưa là lúc Dương nở rộng ra, lúc mặt trời về hướng tây là lúc Dương bị suy, mặt trời lặn là lúc Dương tận và cũng là lúc mà Âm nhận lấy khí[9].
    Lúc giữa đêm (khí) họp đại hội, lúc đó vạn dân đều nằm (ngủ) gọi là lúc hợp âm[10]. Lúc sáng mai Âm tận và Dương nhận lấy khí[11]. Cứ như thế không bao giờ ngừng, cùng đồng với (cương) kỷ của Thiên Địa vậy[12].
    Hoàng Đế hỏi: “Người già thì ban đêm không nhắm mắt (để ngủ), khí gì đã khiến nên như thế ? Những người thiếu niên, tráng niên thì ban ngày không nhắm mắt (để ngủ), khí gì đã khiến nên như thế ?”[13].
    Kỳ Bá đáp : “Khí huyết của người tráng thịnh, cơ nhục của họ hoạt, đường khí đạo thông, sự vận hành của khí doanh vệ chưa mất đi lẽ thường của nó, cho nên ban ngày khí được sảng khoái và ban đêm thì mắt nhắm lại được[14]. Người lão thì khí huyết suy, cơ nhục của họ bị khô, đường khí đạo không còn trơn tru, khí của ngũ tạng đánh nhau, doanh khí của họ bị suy thiếu còn vệ khí thì cũng đánh nhau bên trong, cho nên khí của họ ban ngày không sảng khoái còn ban đêm thì mắt không nhắm lại (để ngủ) được”[15].
    Hoàng Đế hỏi: “Ta mong được nghe con đường vận hành của khí doanh vệ, nó từ con đường nào đến ?”[16].
    Kỳ Bá đáp : “Doanh khí xuất ra từ trung tiêu, vệ khí xuất ra từ hạ tiêu”[17].
    Hoàng Đế nói: “Ta mong được nghe chỗ xuất ra của Tam tiêu”[18].
    Kỳ Bá đáp : “Thượng tiêu xuất ra ở Thượng khẩu của Vị, cùng đi dọc theo yết để đi lên, xuyên qua hoành cách để bố tán ở giữa ngực, đi qua nách, tuần hành theo vùng của kinh để đi, quay trở lại đến kinh Dương minh, lên trên đến lưỡi, xuống đến kinh túc Dương minh, thường cùng doanh khí đồng hành ở 25 độ dương, ở 25 độ âm, gọi là 1 chu, cho nên, sau 50 độ, chúng trở lại họp đại hội ở kinh thủ thái âm”[19].
    Hoàng Đế hỏi: “Có người ăn hoặc uống những thức nóng, vừa xuống đến Vị, khí hãy còn chưa định thì mồ hôi đã ra, hoặc ra ở mặt , hoặc ra ở lưng, hoặc ra ở phân nửa thân người, nó không đi theo con đường của vệ khí để đi ra, tại sao thế ?”[20].
    Kỳ Bá đáp : “Đó là vì (người này) bên ngoài bị thương bởi phong, bên trong làm cho tấu lý khai, lông bị chưng, tấu lý bị tiết (mồ hôi), vệ khí theo đó mà chạy ra, cho nên nó không đi theo con đường của mình[21]. Khí này rất hung hãn, nhanh nhẹn, khi thấy có chỗ khai thì chạy theo ra, do đó mà nó không còn đi đúng theo con đường của mình nữa, vì thế nên mới gọi đây là lậu tiết”[22].
    Hoàng Đế nói: “Ta mong được nghe chỗ xuất ra của Trung tiêu”[23].
    Kỳ Bá đáp : “Trung tiêu cũng cùng đi từ vùng Trung hoãn của Vị, xuất ra ở dưới Thượng tiêu[24]. Đây là nơi thọ nhận cốc khí, nó thải ra chất cặn bã, chưng cất tân dịch, hóa cái tinh vi, lên trên rót vào Phế mạch để rồi hóa thành huyết nhằm phục vụ cho sự sống thân thể, thật không có gì qúy hơn nơi đây[25]. Cho nên chỉ có nó là có thể vận hành trong kinh toại, mệnh danh là doanh khí”[26].
    Hoàng Đế hỏi: “Ôi ! Huyết và khí , tuy tên khác nhau, nhưng cùng loại với nhau, nói thế có nghĩa là gì ?”[26].
    Kỳ Bá đáp : “Doanh vệ là tinh khí, Huyết là thần khí, cho nên huyết và khí tuy tên gọi khác nhau, nhưng cùng loại nhau[27]. Cho nên, nếu đoạt huyết thì không nên đoạt hoạt, nếu đoạt hoạt thì không nên đoạt huyết[28]. Cho nên khi con người bị (đoạt) cả hai thì chết, nếu không bị đoạt cả hai (còn có hy vọng) sống”[29].
    Hoàng Đế nói: “Ta mong được nghe về nơi xuất ra của hạ tiêu” [30].
    Kỳ Bá đáp : “Hạ tiêu, sau khi biệt hồi trường, rót vào bàng quang bằng cách thấm dần vào, cho nên thủy cốc thường cùng ở trong Vị, khi thành chất bã thì đều xuống ở Đại trường và thành Hạ tiêu, nó thấm dần xuống, phân biệt thanh trọc, tuần hành theo Hạ tiêu để thấm vào Bàng quang”[31]. Hoàng Đế hỏi: “Con người khi uống rượu vào, rượu cũng nhập vào Vị, cốc của nó chưa kịp nát ra thì tiểu tiện đã riêng chảy xuống dưới rồi, tại sao thế ?”[32]. Kỳ Bá đáp: “Rượu là chất dịch của thực cốc, khí của nó hung hãn mà nhanh nhẹn, cho nên mặc dù nó vào sau thủy cốc mà nó lại thành chất dịch để ra trước thủy cốc”[33].

    营卫生会第十八
    黄帝问于岐伯曰:人焉受气?阴阳焉会?何气为营?何气为卫?营安从生?卫于焉会?老壮不同气,阴阳异位,愿闻其会。岐伯答曰:人受气于谷,谷人于胃,以传 与脑,五成六府,皆以受气,其清者为营,浊者为卫,营在脉中,卫在脉外,营周不休,五十而复大会,阴阳相贯,如环无端。卫气行于明二十五度,行于阳二十五 度,分为昼夜,放气至阳而起,至阴而止。放日:日中而阳陇为重阳,夜半而阻陇为重阴。故太阳主内,太阳主外,各行二十五度,分为昼夜。夜半为阴陇,夜半后 而为阴衰,平旦阴尽而阳受气矣。日中为阳陇,日西而阳衰,日入阳尽而阴受气矣。夜142半而大会,万民皆卧,命回合阻,平旦阴尽而阳受气,如是无已,与天 地同纪。黄帝日:老人之不夜瞑者,何气使然?少壮之人不昼瞑①者,何气使然?岐伯答曰:壮者之气血盛,其肌肉滑,气道通,荣卫之行,不失其常,故昼精而夜 瞑。老者之气血衰,其肌肉枯,气道渡,五藏之气相搏,其营气衰少而卫气内代,故昼不精,夜不瞑。黄帝曰:愿闻营卫之所行,皆何道从来?妨伯答曰:营出于中 焦,卫出于下焦。黄帝日:愿闻三焦之所出。岐伯答曰:上焦出于胃上口,并咽以上贵嗝而布胸中,走腋,循太阴之分而行,还至阳明,上至舌,不足阳明,常与营 惧行于阳二十五度,行于_阴亦二十五度一周也,故五十度而复大会于手太阳矣。黄帝曰:人有热,饮食了胃,其气未定,汗则出,或出于面,或出于背,或出于身 半,其不循卫气之道而出何也?岐伯曰:此外伤于风,内开膀理,毛蒸理泄,卫气走之,固不得循其道,此气除悍滑疾,见开而出,故不得从其道,故命回漏泄。。 黄帝曰:愿闻中焦之所出。岐伯答曰:中焦亦并胃中,出上焦之后,此所受气者,泌糟粕,蒸津液,化其精微,上注于肺脉,乃化而为血,以奉生身,英贵于此,故 独得行于经隧,命日营气。黄帝曰:夫血之与气,异名同类,何谓也?岐伯答曰:营卫者精气也,血者神气也,故血之与气,异名同类焉。故夺血者无汗,夺汗者无 血,故人生有两死而无两生。黄帝曰:愿闻下焦之所出。妨伯答曰:下焦者,别回肠,注于膀忧而渗入焉。放水谷者,常并居于胃中,成糟粕,而俱下于大肠,而成 下焦,渗而俱下,济泌别对,循下焦而渗入膀优焉。黄帝曰:人饮酒,酒办入胃,谷末熟而小便独先下何也?岐伯答曰:酒者熟谷之液也,其气悍以清,故后谷而 入,先谷而液出焉。黄帝日:善。余闻上焦如雾,中焦如沤,下焦如读,此之谓也。
    1 person likes this

  16. Truyện Rùa Vàng

    Vua An Dương Vương nước Âu Lạc là người Ba Thục, họ Thục tên Phán. Tổ tiên ngày trước cầu hôn lấy Mỵ Nương là con gái vua Hùng Vương, nhưng Hùng Vương không gả, nên đem lòng oán giận. Phán muốn hoàn thành chí người trước, cử binh đi đánh Hùng Vương, diệt nước Văn Lang, đổi tên nước thành Âu Lạc, rồi lên làm vua.

    Posted Image
    Di tích thành Cổ Loa

    Xây thành ở đất Việt Thường, nhưng hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy, vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo. Ngày mồng 7 tháng 3, bỗng thấy một cụ già từ phương tây tới trước cửa thành, than rằng: “Xây dựng thành này biết bao giờ mới xong được!”.

    Vua đón vào trong điện, vái và hỏi rằng: “Ta đắp thành này đã nhiều lần nhưng cứ bị sập đổ, tốn nhiều công sức mà không thành, thế là cớ làm sao?”. Cụ già đáp: “Sẽ có sứ Thanh Giang tới, cùng nhà vua xây dựng mới thành công”, nói xong từ biệt ra về (1).

    Hôm sau vua ra cửa đông chờ đợi, chợt thấy một con rùa vàng từ phương đông lại, nổi trên mặt nước, nói được tiếng người, tự xưng là sứ Thanh Giang, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quỷ thần. Vua mừng rỡ nói: “Điều đó chính cụ già đã báo cho ta biết trước”. Bèn rước vào trong thành, mời ngồi trên điện, hỏi việc vì sao xây thành không được. Rùa vàng đáp: “Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước, muốn báo thù cho nước. Lại có con gà trắng sống lâu ngàn năm, hóa thành yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu. Trong núi có ma, đó là hồn người nhạc công triều trước chôn ở đây. Ở bên cạnh, có một quán trọ cho khách vãng lai, chủ quán tên là Ngộ Không, có một người con gái và một con gà trắng, vốn là dư khí của quỉ tinh, phàm có khách qua đường nghỉ đêm ở quán, thì quỉ tinh lại biến hóa muôn hình vạn trạng, làm hại người chết rất nhiều. Nay giết được con gà trống trắng và con gái chủ quán ấy thì trấn áp được quỉ tinh. Quỉ tinh sẽ hóa ra lá thư yêu tinh, cho con chim cú ngậm bay đậu lên trên cây chiên đàn, tâu cùng thượng đế để xin phá thành. Thần sẽ cắn rơi lá thư, nhà vua tức tốc nhặt lấy, thì thành sẽ xây được”.

    Rùa vàng bảo vua giả làm kẻ đi đường, nghỉ ở quán trọ này, và để rùa vàng ở phía trên khung cửa. Ngộ Không nói: “Quán này có yêu tinh, đêm thường giết người. Hôm nay trời chưa tối, xin ngài mau đi chỗ khác, chớ nghỉ lại kẻo rước hoạ vào thân”. Vua cười, nói: “Người sống chết có mạng, ma quỷ làm gì được, ta không sợ”. Bèn cứ nghỉ lại. Đến đêm, quỉ ở ngoài vào, thét lớn: “Kẻ nào ở đây, sao chẳng mau mở cửa?” Rùa vàng hét lớn: “Cứ đóng cửa thì mày làm gì?”. Quỉ phóng hỏa, biến hóa thiên hình vạn trạng, quỷ quái trăm đường để hòng dọa nạt, sau cùng cũng chẳng nổi. Đến lúc gà gáy sáng, quỷ tinh bỏ chạy. Rùa vàng cùng vua đuổi theo, tới núi Thất Diệu, quỉ tinh thu hình biến mất. Vua bèn quay về quán trọ.

    Sáng hôm sau, chủ quán sai người đến định lượm xác khách trọ để chôn, thấy vua vẫn ngồi cười nói như thường (2), bèn chạy tới lạy mà nói rằng: “Ngài vẫn được bình an được như thế này, tất là thánh nhân, vậy xin ban thuốc thần để cứu sinh dân”. Vua nói: “Nhà ngươi giết con gà trắng mà tế thần, quỉ tinh sẽ tan hết”. Ngộ Không y lời, đem gà trắng ra giết, người con gái lập tức quay ra chết. Vua liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Trời gần tối, vua và rùa vàng leo lên núi Việt Thường thấy quỉ tinh đã biến thành con chim cú, ngậm lá thư bay lên cây chiên đàn. Rùa vàng liền biến thành con chuột theo sau, cắn vào chân cú, lá thư rơi xuống đất, vua vội nhặt lấy, lá thư đã bị nhấm rách quá nửa.


    Posted Image


    Từ đó quỉ tinh bị diệt, không thể tác quái được nữa. Thành xây nửa tháng thì xong. Thành đó rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành, còn gọi là Quỉ Long thành, người đời Đường gọi là Sát Quỉ Côn Lôn thành, vì cho rằng thành ấy cao lắm.

    Rùa vàng ở lại ba năm, rồi từ biệt ra về (3). Vua cảm tạ nói: “Nhờ ơn của thần, thành đã xây được. Nay nếu có giặc đến quấy rối thì lấy gì mà chống?”. Rùa vàng đáp: “Vận nước suy thịnh, xã tắc an nguy đều do mệnh trời, vua có thể tu đức mà kéo dài thời vận, nhà vua có lòng mong muốn thì ta có tiếc chi”. Bèn tháo vuốt đưa cho nhà vua nói rằng: “Đem vật này làm nỏ, nhắm quân giặc mà bắn thì sẽ không lo gì nữa”. Dứt lời thì quay trở về biển đông, nhà vua đích thân đưa tiễn. Vua liền sai bề tôi là Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy nỏ, gọi là nỏ thần Linh Quang Kim Quá (Vuốt vàng linh thiêng sáng rực).

    Về sau Triệu Đà cử binh xâm đánh phương Nam, giao chiến với vua. Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Đà thua lớn, chạy về núi Trâu (Trâu Sơn) cầm cự. Đà biết nhà vua có nỏ thần không dám đối chiến, bèn xin hòa. Vua cả mừng, chia phía bắc sông Tiểu Giang cho Triệu Đà cai trị, phía nam thì thuộc nhà vua (nay thuộc sông Nguyệt Đức). Không bao lâu Đà cho con trai là Trọng Thuỷ sang làm quan Túc Vệ và cầu hôn với Mỵ Châu, là con gái của nhà vua. Vua không rõ kế lược gian manh của cha con Triệu Đà nên gả Mị Châu cho Trọng Thủy. Trọng Thủy dụ dỗ Mỵ Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm làm cái lẫy nỏ khác thay vuốt rùa vàng thay vào. Xong rồi Thủy nói dối với Mỵ Châu xin về phương bắc thăm cha. Trước khi đi, Thủy nói rằng: “Tình vợ chồng không thể quên được, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Tôi nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước bất hòa, bắc nam cách biệt, lấy gì làm dấu để tôi tìm được nàng?”. Mỵ Châu nói rằng: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt ly, chắc là khổ đau khôn xiết, thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ nhổ lông ngỗng trên áo rắc xuống ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau”. Trọng Thủy mang lẫy nỏ thần về nước (4). Đà được lẫy nỏ cả mừng, liền đem quân sang đánh. Vua cậy có nỏ thần, không phòng ngừa, vẫn điềm nhiên đánh cờ, cười mà nói rằng: “Đà không sợ nỏ thần hay sao?”. Quân Đà tiến sát, vua cầm lấy nỏ, thấy lẫy thần đã hư, thua chạy. Vua đặt Mỵ Châu ngồi sau ngựa rồi chạy về phương Nam. Trọng Thủy nhận dấu đuổi theo dấu lông ngỗng. Vua chạy tới bờ bể, đường cùng, không có thuyền qua sông, bèn than rằng: “Trời hại ta ư, sứ Thanh Giang đâu, mau mau lại cứu ta”. Rùa vàng hiện lên mặt nước, hét lớn: “Kẻ ngồi sau ngựa chính là giặc đó!, giết đi thì ta mới cứu nhà ngươi”. Vua bèn tuốt kiếm chém chết Mỵ Châu. Mỵ Châu trước khi chết, ngưỡng mặt khấn rằng: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành hạt bụi. Nếu một lòng trung hiếu, bị người lừa dối thì chết đi biến thành châu ngọc để tẩy sạch mối nhục thù”.

    Posted Image
    Đền thờ An Dương Vương

    Mỵ Châu chết ở bên bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển. Đời truyền rằng nơi đó là đất huyện Dạ Sơn, xã Cao Xá, phủ Diễn Châu. Quân Đà kéo tới đấy không thấy bóng vết gì, chỉ còn lại xác Mỵ Châu. Trọng Thủy ôm xác vợ đem về Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Trọng Thủy thương tiếc khôn cùng, khi đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mỵ Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò ngọc ở biển đông lấy nước giếng này mà rửa thì thấy càng trong sáng. Người đời kiêng tên Mỵ Châu nên gọi ngọc minh châu là đại cữu và tiểu cữu (4).

    Chú thích:
    1) Bản A 2914 chép rằng: “Cụ già bỗng bay lên trời”.
    2) Bản A 2914 chép thêm rằng : “Vua nói với chủ quán rằng: Ta là An Dương Vương đến đây để diệt yêu tinh cứu giúp sinh linh”
    3) Bản A 2914 chép: “Rồi trở về hồ Động Đình”
    4) Cữu 玖 là tên 1 loại ngọc
    .

    Bình:
    • Truyện này có hai phần rõ ràng: Phần đầu là thuật bình định một quốc gia vừa chiếm đóng. Phần sau là câu truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy.

    • Ông già đến từ phương Tây vào ngày 7 tháng 3. Ông già là biểu tượng của khôn ngoan thông thái. Phương Tây là phương Phật; đất Phật,Tây Trúc (Ấn Độ), ở phía tây Việt Nam.

    Số 3 là số thiếu dương, mầm sống bắt đầu lên. Số 3 được yêu chuộng trong mọi nền văn minh của con người.

    Số 7 là số khá thông dụng trong kinh sách Phật. (Xin xem Nguồn gốc của Phật thất, của Thích Chân Tinh.)

    • Thần Rùa Vàng (Kim Quy) đóng vai quan trọng trong văn hóa Việt Nam, từ truyện rùa Vàng này đến truyện Hồ Hoàn Hiếm với Lê Lợi.

    Rùa thường là biểu tượng của kiên nhẫn và chắc chắn trong nhiều nền văn hóa trên thế giới. Trong cả văn hóa Việt lẫn văn hóa Trung quốc, rùa là một trong tứ linh: Long, Ly, Quy, Phụng. Nhưng trong nền văn hóa Việt thì Rùa và Rồng là có vẻ trội nhất—Rồng: Long Nữ, Lạc Long Quân, Thăng Long; Rùa: Kim Quy. Đây là hai linh vật có liên hệ đến “nước.” Đây cũng là một nét của “văn hóa nước” mà ta đã nói đến trong truyện Hồng Bàng.

    Rùa Vàng lại có tên là Thanh Giang, tức Dòng Sông Xanh. Tức là đây không phải là rùa từ biển vào. Có vẻ đây là một liên hệ tế nhị đến gốc “nước ngọt” quê cha—Động Đình Hồ, và rùa ở Hồ Hoàn Kiếm sau này.

    Rùa Vàng đến từ phương Đông. Đông là hướng mặt trời mọc, là phương khởi động—một bắt đầu mới. Trong phẩm mở đầu của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa , Phật Thích Ca phóng hào quang từ giữa lông mày đến các cõi ở phương Đông trước khi giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

    • Hùng vương đời thứ 18 là vị vua bị Thục Phán chinh phạt. 18 là 2 lần 9, hai lần con số đơn lớn nhất—số thái dương. Đây là ý nói thời đại Hùng Vương đã phát triển đến hết mức của nó. Bây giờ phải nhường chỗ cho một triều đại mới. Tức là việc xâm lăng của Thục Phán hợp luật trời. Đó là lý‎ do tại sao thần Kim Quy ủng hộ Thục Phán.

    • Thục Phán mới xâm chiếm Văn Lang, lòng dân chưa thuận, còn nhiều chống đối nên xây thành không được.

    • Con vua đời trước (Hùng Vương 18) thành tinh khí trong núi Thất Diệu, muốn báo thù.

    Posted Image
    Giếng Trọng Thủy (Giếng Ngọc)

    Núi Thất Diệu có thể là biểu tượng của Bắc Đẩu Thất Tinh, là chùm sao Đại Hùng Tinh gồm 7 sao tất cả, trong đó sao Bắc Đẩu là sao chính. Đây có lẽ là ‎ý nói Hùng Vương 18 đặt lòng tin vào các vì tinh tú, trong lúc Thục Phán hợp với nhà Phật (Ngộ Không) hơn.

    • Ngộ Không là từ của nhà Phật, có nghĩa là đã ngộ được tánh Không của mọi sự, tức là đã giác ngộ. Đây là biểu tượng cho những người hiểu biết—chủ quán là người đã lớn tuổi (là cha của cô gái), làm ăn thành đạt. Đây là loại người ủng hộ chế độ mới mạnh nhất—có kinh nghiệm đời, có kiến thức, hiểu thời thế, có tài sản và thương mãi.

    • Gà trắng sống lâu ngàn năm là biểu tượng của tầng lớp trí thức sĩ phu chống đối, luôn lên tiếng “gáy” thường xuyên đế hô hào mọi người.

    • Người con gái là thành phần dân chúng đi theo tiếng gọi của đám sĩ phu chống đối này. Con gái là biểu tượng của những người nhiều cảm tính, còn “trẻ người non dạ.”

    Con gà trắng chết là cô con gái chết theo, nghĩa là đám sĩ phu chống đối mà mất thì đám dân nhẹ dạ nghe theo cũng mất.

    • Nhạc khí cổ và hồn nhạc công là biểu tượng cho nền văn học nghệ thuật cũ. Phải diệt văn học nghệ thuật cũ thì mới bình định được đất mới.

    • Chim cú ngậm lá thư bay lên cây chiên đàn để tâu cùng thượng đế xin phá thành là biểu tượng của các nhóm chống đối tìm trợ lực ở nước ngoài. Phải chặn đường tiếp xúc với bên ngoài của họ.

    Một câu hỏi đặt ra ở đây là nếu thượng đế có thể nghe theo lời của chim cú để phá thành Thục Phán đang xây, như vậy không phải là lo sợ Thượng đế không ủng hộ Thục Phán sao? Nếu Thục Phán có chính nghĩa, thì việc gì phải sợ thượng đế nghe lời dèm pha?

    • Xem ra có vẻ như Hùng Vương 18 không tốt, mất chính nghĩa, và lúc đầu Thục Phán có vẻ như được lòng trời và lòng dân để xâm chiếm Văn Lang.

    Nhưng chiếm xong rồi vẫn gặp chống đối. Và thần Rùa Vàng cố vấn cho một kế sách bình định rất sắt máu. Thành công được một tí. Nhưng có phải chính vì cai trị sắt máu thế mà Thục Phán mất chính nghĩa, chỉ làm vua được một thời gian ngắn là mất nước?

    Xem ra thần Rùa Vàng cũng có cái nhìn không được xa?

    • Về móng Rùa Vang làm lẫy nỏ, không biết đây có phải là một ký‎ ức về nỏ liên hoàn không. Nỏ đã được sử dụng ở Trung quốc và các bộ tộc ở Đông Nam Á khoảng thế kỷ thứ 5, thứ 6 trước công nguyên. Khảo cổ cho thấy nỏ liên hoàn , bắn một loạt các mũi tên rất nhanh, xuất hiện tại Hồ Bắc (phía bắc Động Đình Hồ) khoảng thế kỷ thứ 4 trước công nguyên. Thục Phán sống vào thế kỹ thứ 2 trước công nguyên, cho nên rất có thể là Thục Phán có kiến thức về nỏ liên hoàn, và đây là bí quyết chiến thắng của Thục Phán.


    Posted Image


    • Mỵ Châu xem ra là người con duy nhất có mặt trong truyện. Chẳng lẽ Thục Phán chỉ có một người con gái vào thời đại vua có biết bao là cung tần mỹ nữ. Hay đây là ký‎ ức của sức mạnh mẫu hệ–chỉ có một cô công chúa nắm giữ bí mật quốc phòng?

    • Trọng Thủy xem ra rất gian manh, giả làm đám cưới chỉ để hại người. Tội lỗi tầy đình. Thế tại sao dân Việt chẳng bao giờ lên án, lại yêu quý Trọng Thuỷ đến thế?

    Thưa, tại vì Trọng Thủy làm tròn bổn phận làm con, làm dân—trung với quốc gia, hiếu với bố. Gian manh cũng chỉ vì quốc gia của chàng và bố của chàng. Nếu vì bố và tổ quốc mà chống vợ thì cũng là chuyện có thể thông cảm được. Hơn nữa, Trọng Thủy đã trả tội phản bội vợ bằng cách chết chung với vợ–vừa đền tội, vừa trọn tình nghĩa. Rất đúng với tên “Trọng Thủy.” Toàn vẹn mọi bề.

    • Mỵ Châu thực ra là nạn nhân, bị lừa lọc. Nhưng không được thương xót, lại bị chém đầu. Tội không giữ kín bí mật quốc phòng, hại cha, hại nước, không thể dung tha. Ngu và cả tin không phải là lý do để được tha tội.

    Ở đây ta lại thấy một lần nữa, Rùa Vàng có chính sách rất sắt máu, chẳng vị tình. Phải chăng chính quân sư như thế làm Thục Phán mất nước?

    • Lông ngỗng đưa đường. Ngỗng là chim, và chim là vật tổ của dân Việt (như hình khắc trên trông đồng Ngọc Lữ). Chim còn là biểu tượng cho mẹ–Âu Cơ là tiên. Tiên và chim rất gần gũi.

    Lông ngỗng đưa đường là lối đi của mẹ, lối đi của tình cảm và yêu ái, gạt ra ngoài mọi quy luật và phân cách chính trị. Trong cơn bão loạn, thì tìm nhau bằng “đường mẹ,” đường của tình yêu, vượt trên mọi chia cách.

    • Rùa Vàng rất khắt khe với Mỵ Châu, nhưng xem ra trời không đồng ý với Rùa Vàng—cho Mỵ Châu trở thành những viên ngọc trai lóng lánh nghìn đời. Và dân Việt đồng ‎ý với trời, xem Trọng Thủy Mỹ Châu như là thiên tình sử bất tử về tình yêu, đạo vợ chồng, đạo hiếu nghĩa, trung quân, và ái quốc.

    (Trần Đình Hoành bình)
    2 people like this

  17. (tiếp theo)

    2. SỰ HOÀN CHỈNH CỦA HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ

    Trên cơ sở phân tích những bất hợp lý về hai trục Thiên Địa và Quỷ Môn từ đồ hình và tư liệu ghi lại từ cổ thư chữ hán, được dịch ra chữ Quốc ngữ ngày nay, người viết đi tìm một sự hợp lý cho những vấn đề tồn nghi. Và, người viết nhận thấy rằng những bí ấn, nghịch lý và tồn nghi được giải trừ, thay vào đó bằng sự lý giải hoàn toàn hoàn chỉnh trên cơ sở Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ, một nguyên lý được hiệu chỉnh dựa trên các cơ văn hóa phi vật thể thuộc nền văn hiến Việt có bề dày lịch sử 5000 năm huyền vĩ, nguyên lý ấy được giải thích và công bố trong các tác phẩm “ Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”, “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt”, “Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam”(*)…tác giả công trình nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh.

    Với sự phục hồi hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã công bố một nguyên lý lý thuyết được hiệu chỉnh và phục hồi, từ những mật ngữ tồn tại trong văn hóa phi vật thể của Việt tộc, đó là nguyên lý căn để Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ.

    Theo tiêu chí khoa học hiện đại quyết định rằng:

    “Một giả thuyết khoa học được coi là đúng, nếu nó giải thích hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách nhât quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri.”.

    Nguyên lý lý thuyết căn để Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ chứng tỏ tính nhất quán và hợp lý của nó trong việc giải mã những bí ấn và nghịch lý của khái niệm trục Thiên – Địa và trục Quỷ Môn.

    Đầu tiên, hãy xem qua đồ hình Hậu thiên Lạc Việt với sự hoán vị hai vị trí Tốn – Khôn, đã được luận giải và chứng minh trong các tác phẩm đã nêu (*), xin miễn chứng minh, cùng với đồ hình Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ như sau:

    Posted Image

    Hậu thiên Lạc Việt với hoán vị Tốn - Khôn.

    Posted Image

    Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ.

    Từ đồ hình Hậu thiên Lạc Việt do nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh phục hồi, người viết họa lại đồ hình với hai trục khái niệm Thiên – Địa và Quỷ Môn như sau:

    Posted Image

    Một sự phân hơp lý có thể nhân ra rằng phương Cấn – Đông Bắc vẫn là Quỷ môn với định danh là Nam quỷ môn có được sự đồng nhất giữa danh và quái khí là Nam quỷ môn với quái Cấn là tượng thứ nam trong nghĩa về tượng quái của 8 quái dịch, đồng thời đối lập, đối xứng cân bằng trong mối tương quan cân đối Âm dương với phương Tây Nam là quái Tốn, đăng đối với danh vị Nữ quỷ môn, bởi quái Cấn tượng là thiếu nam hợp, con trai út với định danh Nam quỷ môn lại đồng đẳng và đối xứng âm dương với quái khí Tốn tượng là trưởng nữ, con gái cả.

    Posted Image

    CẤN - Nam Quỷ Môn

    Posted Image

    TỐN - Nữ Quỷ Môn

    Tiếp theo, xét cặp khái niệm Thiên Môn - Đại Hộ với căp quái Càn - Khôn trong Hậu thiên Lạc Việt.

    Posted Image

    CÀN - Thiên Môn

    Posted Image

    KHÔN - Địa Hộ

    Giống như thế, phương Càn – Tây Bắc gọi là Thiên Môn nghĩa là cổng trời đồng nhất giữa danh và quái khí là Càn, tượng là trời là cha là lão ông trong nghĩa về tượng quái của 8 quái dịch môn đăng hậu đối với phương Đông Nam chủ quái là Khôn, được hoán vị hoàn toàn tương hợp với danh vị là Địa Hộ. Hai định danh Thiên Môn và Địa Hộ trong mối quan hệ đồng trục với ngôi nhà mới là Hậu thiên Lạc Việt đã cho thấy rỏ ràng tính đối lập, đối xứng, cân bằng âm dương trong mối tương quan trên bát quái thể hiện chặt chẻ tính đồng đẳng tương quan, bởi quái tượng Càn là trời, là cha, là lão ông với định danh Thiên môn đăng đối với quái khí Khôn tượng là đất, là mẹ, là lão bà hoàn toàn xứng hợp với định danh Địa hộ. Vì vậy tính đồng đẳng, tương quan so sánh được thể hiện ngay và hoàn chỉnh hợp lý với phương trục Thiên Địa mà cổ thư chữ không thể hiện được điều này!

    Ở phần chi tiết hơn, tính đối xứng, cân bằng âm dương thể hiện rỏ ràng qua từng hào của quái, ở các hào sơ, hào trung, hào thượng giữa hai quái Càn – Khôn. Bản thân ngay tượng quái Càn và Khôn cũng đã thể hiện đối lập âm dương và cũng hiển nhiên cũng là một cặp phạm trù thể hiện tính âm dương.

    Còn lại, ở hai trục Khảm – Ly, Chấn – Đoài thì không cần phải bàn đến, bởi đã thể hiện đầy đủ tính tương quan cân đối âm dương.

    Với nguyên lý lý thuyết Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ, tính nhất quán còn thể hiện ngay trong quy luật tương phối quái khí thể hiện trong phương pháp Bát trạch Lạc Việt và Phiên tinh Lạc Việt.

    Theo phương pháp Bát trạch Lạc Việt, một phần ứng dụng của khoa Phong thủy Lạc Việt, cũng xác định phi cung mệnh chủ của con người được chia thành hai phe, phe Đông trạch và phe Tây trạch. Nhưng do sự hoán vị Tốn – Khôn nên Đông trạch sẽ gồm bốn phương tốt là Bắc, Nam, Đông và Tây Nam và quái khí không đổi là Khảm, Ly, Chấn, Tốn, ngược lại Tây Bắc, Đông Nam, Đông Bắc và Tây tương ứng với quái khí không đổi là Càn, Khôn, Cấn, Đoài thuộc Tây trạch.

    Posted Image

    Từ đồ hình, vẫn nhận thấy trục Phúc Đức của phe Đông trạch vẫn là trục Khảm – Ly, Bắc – Nam theo phương pháp Bát trạch Lạc Việt và sơn hướng phối quái của phiên tinh Lạc Việt. Chính do sự chuyển đổi Tốn – Khôn, Hậu thiên Lạc Việt cho thấy sự xuất hiện trục Phúc Đức của người Tây trạch, ngay ở trục Thiên – Địa, trục Càn – Khôn, thể hiện một trục đồng tính chất quái khí tốt nhất của người Tây trạch mà Bát quái cổ thư không thể hiện được điều này.

    Một sự hoàn chỉnh hơp lý khác được mở ra khi quán xét hai trục còn lại trên đồ hình Hậu thiên Lạc Việt. Trục Đông Bắc – Tây Nam với hai quái Cấn – Tốn là trục Quỷ môn với định danh Nam quỷ môn và Nữ quỷ môn, khi được xét theo phương pháp Bát trạch Lạc Việt thì mệnh cung Tốn nhà hướng Cấn hay mệnh cung Cấn mà nhà hướng Tốn thì đều được Tuyệt Mạng và theo phương pháp Phiên tinh Lạc Việt, sơn hướng phối quái sơn hậu Cấn phối Tốn hướng hoặc sơn hậu Tốn phối Cấn hướng đều là Tuyệt Mạng, gọi là Tuyệt Mạng trạch và rỏ ràng đây là trục Tuyệt Mạng. Khái niệm trục Quỷ Môn đến lúc này trở nên thật tương xứng với tính chất nội tại của nó là trục Tuyệt Mạng và như vậy giữa danh và tính đã có sự hợp lý hoàn hảo mà Bát quái cổ thư cho đến thời điểm này vẫn không có thể nào tỏ rỏ tính hợp lý như vậy.

    Posted Image

    Cùng một cách như vậy, trục Đông – Tây , Chấn – Đoài vẫn thể hiện là trục Tuyệt Mạng trên Bát quái Hậu thiên Lạc Việt.

    Một cách tổng thể nhận xét Hậu thiên Lạc Việt, lúc này phối với Hà đồ về việc phân bố trạch quái sẽ thấy rằng:

    Với hai trục trung tâm, hay gọi là đường trung tâm thì trục Thủy (Khảm) – Hỏa (Ly) hợp thành trục Phúc Đức vuông góc trục trung tâm Đông – Tây, Chấn – Đoài là trục Tuyệt Mạng thể hiện tính đối lập âm dương giữa một trạch – trục mang tính chất tốt nhất với một trach – trục mang tính chất xấu nhất.

    Posted Image

    Cũng như vậy với trục tứ ngung Thiên – Địa là trục Phúc Đức vuông góc, đối lập với trục trục tứ ngung, là trục Quỷ môn với nội tính là trục Tuyệt Mạng thể hiện sự đối lập âm dương trên tổng thể đồ hình.

    Mặt khác, xét về tương quan quan ngũ hành giữa từng cặp phương đối xứng đồng trục thì tất cả đều tuân thủ theo nguyên lý ngũ hành tương khắc, như Thủy ( Khảm) – Hỏa (Ly), Kim (Đoài) – Mộc (Chấn), Cấn thuộc Mộc tương khắc với Tốn thuộc Kim, theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt và Càn là âm kim đới thủy tương khắc với Khôn là âm hỏa đới thổ vẫn thể hiện lý tương khắc cho một căp hành quái trên nguyên lý bát quái Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ. Và chính ngay khi phối các các quái lên cung vị của Hà đồ thì tính chất tương khác về ngũ hành cung vị Hà đồ vẫn thể hiện được tính đồng nhất và tương hợp với bát quái, một cách tổng quát các quái khí đồng trục đều theo một lý tương khắc hoàn toàn nhất quán và hoàn chỉnh.

    Tính quy luật cân đối âm dương còn thể hiện trên Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ khi cho thấy hai trục, âm Phúc Đức với độ số Hà đồ là 6-2 và dương Phúc Đức với độ số là 1-7 cho phe Đông trạch và Tây trạch, cùng với hai trục âm Tuyệt Mạng với độ số 8-4 và dương Tuyệt Mạng với độ số 3-9 cho hai phe Đông – Tây trạch. Đây là thể hiện tính cân đối âm dương, có cặp có đôi trong nội hàm Phúc Đức và Tuyệt Mạng và cũng thể hiện lý âm dương trong ngay trên cặp phạm trù Phúc Đức và Tuyệt Mạng.

    Như vậy sự hoàn chỉnh tuyệt vời cho việc giải mã bí ẩn, nghịch lý trục Quỷ Môn và trục Thiên Môn – Địa Hộ tồn tại từ trong cổ thư và sư phân bố tổ chức hợp lý các phương quái thì không nguyên lý nào bằng nguyên lý Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ thuộc nền văn hiến Việt 5000 năm huyền vĩ.

    Hơn nữa, xét theo trục từ trường Trái Đất, trục Khảm - Ly trùng với trục từ trường Bắc - Nam của quả đất dành riêng cho phe Đông trạch. Trục Tây Bắc - Đông Nam tương hợp với trục nghiêng của Trái đất cũng thể hiện là một trục chính với chiều tương tác quan trọng đồng chất dành riêng cho phe Tây trạch. Một lần Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ thể hiện tính ưu việt của nó.

    3. LỜI KẾT

    Để hiệu chỉnh một nguyên lý đã có sẳn thì cần phải đi từ một lý thuyết hoàn chỉnh và nếu như thế thì chỉ có chủ nhân đích thực của hệ thống lý thuyết đó mới thực hiện được điều này, với sự phục hồi học thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc nền văn hiến Việt 5000 năm rực rỡ thì việc giải quyết tính bất hợp lý của những khái niệm như trục Thiên – Địa, trục Quỷ Môn cho thấy tính hoàn chỉnh của nguyên lý lý thuyết Hậu thiên Lạc Việc phối Hà đồ, được công bố bởi nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, thể hiện tính nhất quán, tính quy luật và có thể giải thích được nhưng hiện tượng hiên quan đã cho thấy sự hoàn chính và phù hợp với tiêu chí khoa học của nguyên lý lý thuyết ấy.

    19 tháng Dậu năm Tân Mẹo (2011)

    Thiên Đồng

    =================================

    Tham khảo:

    - Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2007

    - Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2003

    - Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam.

    - Phong thủy Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, lưu hành nội bộ.

    - Dịch học ngũ linh, tg Cao Từ Linh, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2006.

    - Nhập môn chu dịch dư đoán học, tg Thiệu Vĩ Hoa, NXB Văn Hóa Thông Tin, 1996.

    - Phong thủy toàn thư, tg Thiệu Vĩ Hoa, NXB Thời Đại, 2009

    1 person likes this

  18. NGHỊCH LÝ TRỤC QUỶ MÔN, BÍ ẨN THIÊN MÔN ĐỊA HỘ

    VÀ SỰ HOÀN CHỈNH CỦA HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ

    Thiên Đồng - Bùi Anh Tuấn

    Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương.

    Tiêu chí khoa học hiện đại quyết định rằng “Một giả thuyết khoa học được coi là đúng, nếu nó giải thích hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách nhât quán, hoàn chỉnh, có tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri.”

    Trong những tri thức liên quan đến phương pháp của học thuật cổ Đông phương, cụ thể là phương pháp Bát trạch trong phong thủy, tồn tại những khái niệm bất biến như Thiên Môn, Địa Hộ, Quỷ Môn, Nhân Môn, Nam Quỷ Môn, Nữ Quỷ Môn…nhưng đi kèm với những định danh này thì không có sự tương hợp, tương xứng cho từng định vị hay sự tương thích trong cùng mối liên hệ để tạo nên sự nhất quán cho một hệ thống lý thuyết mang tính hoàn chỉnh. Do vậy, điều nghịch lý tồn tại hằng ngàn năm được mặc khải như một chân lý cần được giải linh, khơi sáng nỗi tồn nghi.

    1. NGHỊCH LÝ TRỤC QUỶ MÔN VÀ BÍ ẨN THIÊN MÔN - ĐỊA HỘ:

    Sách Phong Thủy Toàn Thư, tác giả Thiệu Vĩ Hoa, nhà xuất bản Thời Đại ấn hành năm 2009, trang 128, hướng dẫn về cách xem tướng nhà và phương vị nhà cửa, có tái hiện phương vị la bàn bằng đồ hình như sau:

    Posted Image

    Posted Image

    Trang 176, sách cùng tựa, có đoạn như sau:

    "Các đường nối Đông và Tây, Nam và Bắc, Đông Nam và Tây Bắc, Đong Bắc và Tây Nam có đường trung tâm.

    Đường nôi giữa 45 độ của Đông và Bắc, Tây và Nam là đường Quỷ môn.

    Mặt khác, đường nối giữa 45 độ của Đông và Nam, Tây và Bắc, Nam và Bắc, Tây và Nam gọi là đường tứ ngung. Trong đó, đường tứ ngung nối 45 độ của Đông và Bắc, Tây và Nam chính là đường Quỷ môn.

    Đơn giản mà nói, tuyến chính giữa là đường trung tâm cùa phương vị sao sinhnhu7 Tý (Bắc), Ngọ (Nam), Mão (Đông), Dậu (Tây), đường tứ ngung vẫn là đường xuyên suốt Cấn (Đông Bắc), Khôn (Tây Nam), Càn ( Tây Bắc), Tốn (Đông Nam)."

    Posted Image

    Cuốn Phong Thủy Toàn thư của Thiệu Vĩ Hoa.

    Nxb Thời Đại 2009.

    Posted Image

    Đây là lời giải thích trong sách của tác giả Thiệu Vĩ Hoa cho việc xác định đường Tứ ngung, đường Trung tâm, đường Quỷ môn.

    Người viết một lần nữa ghi nhận rõ hơn rằng:

    Đường trung tâm, có hai đường, được xác định trên la bàn, là đường kéo dài từ 0 độ qua tâm đến 180 độ và đường kéo dài từ 90 độ qua tâm đến 270 độ. Người viết gọi là Trục trung tâm.

    Đường tứ ngung, nghĩa là đường bốn góc, có hai đường, được xác định trên la bàn, là đường kéo dài từ 45 độ qua tâm đến 225 độ và đường kéo dài từ 315 độ qua tâm đến 135 độ. Người viết gọi là Trục tứ ngung. Trong đó, đường Quỷ môn là đường kéo dài từ 45 độ qua tâm đến 225 độ, người viết gọi là Trục Quỷ môn.

    Xin xem hình sau:

    Posted Image

    Cũng sách Phong Thủy Toàn Thư, tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 33, 34 có đoạn giải nghĩa như sau:

    "…Dưới đây là giải thích của trạch Kinh đối với 24 lộ mênh tọa và cát hung của Dương trạch:

    Càn là Thiên Môn, đứng đầu dương, kiến trúc vật nên bình, ổn, thực, không nên cao rộng, có thể ảnh hưởng không tốt đến cha mẹ.

    Hợi là Chu tước, đầu rồng, chủ mệnh tọa của bố, người phạm phải hại đến mệnh, còn liên lụy đến người khác.

    Nhâm là Đại họa, chủ mẫu mệnh tọa, người phạm phải hại mệnh, còn liên lụy khiến người khác có họa do nói năng.

    Tý là Tử tang, long tả thủ, chủ trưởng tử phụ mệnh tọa, , người phạm phải hại mệnh, liên lụy đến người khác thất hồn, thương mắt, thủy tai, họa do nói năng.

    Quý là Phạt ngục, câu trần, chủ thứ tử phụ mệnh tọa, người phạm phải hại mệnh, làm người khác tai họa do nói năng.

    Sửu là quan ngục, chủ thiếu tử phụ mệnh tọa, người phạm phải hại mệnh, có tai họa của quỷ quái, đạo phỉ, hỏa quang.

    Cấn là Quỷ môn, khí trong phòng, nhà thiếu, mỏng, không khí hoang cát. Người phạm phải không tốt.

    Dần là Thiên hình, long bối, Huyền vũ, chủ dưỡng tử phụ và trưởng nữ mệnh tọa, phạm phải, thai bị thương, tù ngục, bị trộm, vong bại.

    Giáp là Trạch hình, chủ thứ nữ là tôn nam mệnh tọa, người phạm phải hại mệnh, liên lụy đến người nhà bị tai họa vỡ đầu, tổn thương thần kinh.

    Mão là Long hữu thủ hình ngục, chủ thiếu nữ và tôn mệnh tọa, người phạm phải hại mệnh, liên lụy người khác bị tai họa hỏa quang, khí mãn, hình thương, thất hồn.

    Ất là Ức xà, tụng ngục, chủ khách mệnh tọa, người phạm phải hại mệnh, liên lụy người khác có tai họa yêu quái, chết chóc, do nói năng.

    Thìn là Bạch hổ, long hữu túc, chủ nô tì và lục súc mệnh tọa, phạm phải, có tai họa bị thương khủng hoảng, não cấp, chủ nhân cung bị khủng hoảng.

    Tốn là Địa hộ, cũng là Phong môn. Vị trí này nên là ao tròn, hàng rào trúc, không có nhà. Nên bình, phía bên ngoài mỏng, không nên cao lớn, lấp chặt.

    Tỵ là Thiên phúc, cũng gọi là trạch cực, kiến trúc vật nên to chắc.

    Bính là Minh đường, Trạch phúc, vị trí này có thể an môn, làm chuồng trâu nhà kho.

    Ngọ là chỗ đất may mắn, Long túc thủ, kiến trúc vật nên bền chắc, cấm kị phòng khách cao, hình đầu rùa.

    Đinh là Thiên thương, nên xây dựng nhà kho và chuồng nuôi lục súc, kiến trúc vật to bền chác có thể thêm may mắn.

    Mùi là Thiên phủ, nên xây nhà cao, lầu lớn. nếu để nô tì, bò dê sống ở đây thì sẽ sinh sôi. Nếu xây nhà kho, nhà vệ sinh thì cũng thu được lợi.

    Khôn là Nhân môn, ruột rồng, còn có tên là phúc tương, kiến trúc vật nên mở rộng vững chắc, nặng mà khiêm thực đại cát.

    Thân là ngọc đường, chủ bảo bối, kim ngọc, vị trí này nên đặt chuồng trâu, ngựa, ngoài ngọ đường nên làm từ đường và phòng cho lang quân, cháu nhỏ thì sẽ cát. Nhà lấy to chắc để tăng cường cát. Có phòng quan trọng, có cây lớn có thể gọi đến vàng ngọc.

    Canh là Đại Đức, An môn. Vị trí này nên đặt nhà xe, chuồng chim và nhà giã gạo, kiến trúc vật nên mở rộng, liên tiếp to lớn, tinh khiết sẽ có may mắn.

    Dậu là Đại Đức, Long tả trợ, khách mệnh, chỗ này nên đặt nhà chính. Ngoài vị trí trạch đại đứcnên rộng rãi, thường xuyên quét dọn, mới mẻ, yên tĩnh may mắn. vị trí này có thể tổ chức các việc ăn uống, âm nhạc, có thể gặp quý nhân tăng tài phú, là cho đức vọng dài lâu.

    Tân là Kim quỹ, Thiên tỉnh, vị trí này nên đặt cửa, lầu cao phòng lớn. ở vị trí này lý tài và làm bất kỳ việc gì đều có may mắn. ngoài kim quý nên làm nhà kho dự trữ sẽ có may mắn, cũng có thể làm phòng ở cho con cháu, có thể kết thông gia với nhà giàu có, dòng dõi đế vương.

    Tuất là Địa phủ, Thanh long tả thủ, chủ tam nguyên. Vị trí này có thể cho con cháu sống, có thể kết thông gia với nhà giàu có, dòng dõi đế vương, nhưng phải làm cho nó duy trì được thanh tịnh thì mới may mắn. cũng có thể làm nhà kho dự trữ, lầu cao nhà to."

    Từ những chú giải trên, trích từ sách, một tư liệu còn ghi lại từ cổ thư chữ Hán mà chính tác giả Thiệu Vĩ Hoa đã trưng ra và dẫn giải, người viết vẽ lại đồ hình tổng hợp sau:

    Posted Image

    Dễ dàng nhận thấy rằng hai đường trung tâm (Trục trung tâm) vuông góc của bốn phương vuông góc là Nam – Bắc và Đông – Tây, còn lại là hai đường tứ ngung (Trục tứ ngung), nghĩa là đường bốn góc, như cái tên của nó, vuông góc nhau ở bốn phương góc Tây Bắc – Đông Nam và Đông Bắc – Tây Nam.

    Từ đây, đều nghịch lý và những bí ẩn được trưng như từng được chấp nhận như một lẽ đương nhiên trên bát quái Hậu Thiên cổ thư, thường gọi là bát quái Hậu thiên Văn Vương.

    Phương Cấn – Đông Bắc gọi là Quỷ môn với danh cụ thể là Nam quỷ môn chứng tỏ được sự đồng nhất giữa danh và quái khí là Nam quỷ môn với quái Cấn là tượng thứ nam trong nghĩa về tượng quái của 8 quái dịch. Nhưng ngược lại, phương Tây Nam có chủ quái là Khôn lại không đồng danh vị với danh Nữ quỷ môn. Bởi lẽ, hai định danh Nam quỷ môn và Nữ quỷ môn đã thể hiện sự đối lập, đối xứng cân bằng trong mối tương quan đối xứng trên bát quái, nhưng về quái khí thì hoàn toàn không có tính đối xứng, cân bằng âm dương và không mang tính đối lập đồng đẳng. Quái Cấn tượng là thiếu nam, trai út hợp với định danh Nam quỷ môn, nhưng không đồng đẳng hay đối xứng âm dương với quái khí Khôn tượng là mẹ, đàn bà, bà lão, là lão âm và chính quái Khôn cũng không thể tương hợp với định danh Nữ quỷ môn. Lẽ ra phải gọi là Lão quỷ môn thì mới hợp với danh và quái. Nhưng như thế cũng không đồng đẳng với mối tương quan so sánh giữa hai phương Đông Bắc và Tây Nam, tức giữa Cấn và Khôn, tức giữa lão bà và con trai út (con nít!).

    Posted Image

    CẤN - Thiếu Nam

    Posted Image

    KHÔN - Lão Bà

    Vì thế, dĩ nhiên là không có sự đối xứng âm dương, cân bằng âm dương thể hiện qua từng hào của quái, nghĩa là đối lập âm dương giữa các hào sơ, hào trung, hào thượng giữa hai quái Cấn - Khôn hoàn toàn không có thể hiện để tạo sự đối lập, đối xứng nào. Xin xem hình.

    Posted Image

    Cũng như vậy, phương Càn – Tây Bắc gọi là Thiên môn có sự đồng nhất giữa danh và quái khí là Càn, tượng là trời là cha là lão ông trong nghĩa về tượng quái của 8 quái dịch. Nhưng ngược lại, phương Đông Nam có chủ quái là Tốn lại không đồng danh vị với danh Địa hộ. Hai định danh Thiên môn và Địa hộ trong mối quan hệ đồng trục, thể hiện sự đối lập, đối xứng cân bằng trong mối tương quan đối xứng trên bát quái, nhưng về quái khí thì hoàn toàn không có tính đối xứng, cân bằng âm dương và không mang tính đối lập đồng đẳng. Bởi, quái Càn tượng là trời với định danh Thiên môn (cửa trời), nhưng không đồng đẳng hay đối xứng âm dương với quái khí Tốn tượng trưởng nữ, người con gái cả và ngay cả chính quái Tốn cũng không thể tương hợp với định danh Địa hộ.Như thế, có việc không đồng đẳng với mối tương quan so sánh giữa hai phương Tây Bắc và Đông Nam, tức giữa Càn và Tốn, tức giữa lão ông và con gái cả, giữa trời và gió!

    Posted Image

    CÀN - Lão Ông

    Posted Image

    TỐN - Trưởng Nữ

    Do vậy mà cũng không có sự đối xứng âm dương, cân bằng âm dương thể hiện qua từng hào của quái, nghĩa là đối lập âm dương giữa các hào sơ, hào trung, hào thượng giữa hai quái Càn – Tốn hoàn toàn không có thể hiện để tạo sự đối lập, đối xứng nào. Xin xem hình.

    Posted Image

    Tuy vậy, ở hai trục trung tâm thì sự đối lập đối xứng âm dương giữa tượng quái Khảm – Ly, Chấn – Đoài thể hiện một mối tương quan hài hòa cân đối giữa 2 phương đối lập, cùng trục, thể hiện một quy luật rỏ ràng. Tuy nhiên, xét trên tổng thể 8 quái, mối tương quan của từng cặp về quái khí và danh tính của phương vị thì tổng thể bát quái Hậu thiên cổ thư không thể hiện được tính nhất quán trong quy luật, do vậy mà sự bất hợp lý cũng như bí ẩn về hai cặp phạm trù đối lập Thiên môn và Địa hộ, Nam quỷ môn và Nữ quỷ môn vẫn tồn tại một cách khó hiểu.

    Tính thiếu nhất quán còn thể hiện ngay trong quy luật tương phối quái khí thể hiện trong phương pháp Bát trạch và Dương trạch tam yếu về phần Phiên tinh phối quái.

    Phương pháp Bát trạch cổ thư, một phần ứng dụng của khoa Phong thủy, xác định phi cung mệnh chủ của con người được chia thành hai phe, phe Đông trạch và phe Tây trạch. Đông trạch gồm bốn phương tốt là Bắc, Nam, Đông và Đông Nam tương ứng quái khí Khảm, Ly, Chấn, Tốn, ngược lại Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc và Tây tương ứng với quái khí Càn, Khôn, Cấn, Đoài thuộc Tây trạch.

    Theo đó người mệnh cung Ly nhà hướng Khảm hay ngược lại người cung mệnh là Khảm nhà hướng Ly thì đều phương Phúc đức. Cũng tương tự như vậy, theo phương pháp Phiên tinh phối quái thì nhà hướng Ly, sơn hậu là Khảm hay ngược nhà hướng Khảm mà sơn hậu là Ly thì theo nguyên tắc lấy sơn phối hướng đều được Phúc Đức, gọi là Phúc Đức trạch. Như vậy, đều đương nhiên trên bát quái 8 phương tồn tại một trục tốt nhất của phe Đông trạch gọi là trục Phúc Đức. Điều này dễ nhận biết ngay trên bát quái với trục Bắc - Nam, chính trục từ 0 độ đến 180 độ, gọi là trục trung tâm, tức trục Khảm – Ly, tức là Phúc Đức trạch hay gọi là trục Phúc đức, bởi Phúc đức là phương vị tốt nhất đứng đầu trong các phương còn lại là Thiên Y, Sinh Khí, Phục Vị, Ngũ Quỷ, Lục Sát và Tuyệt Mạng, cho nên một trục chính với hai quái tượng đối xứng, đối lập âm dương, tương quan đồng đẳng về hình tượng Trung nam đối Trung nữ, tạo một trục đồng khí Đông trạch, đương nhiên gọi là trục Phúc Đức. Bát quái cổ thư do vậy vẫn thể hiện được một trục Phúc Đức với đường trung tâm, của phe Đông trạch.

    Tuy vậy, ở phe Tây trạch, chính ở tương quan Tây trạch xuất hiện sự bất nhất, bất hợp lý được hiển hiện ngay trên đồ hình tám cung quái.

    Trục Đông Bắc – Tây Nam với hai quái Cấn – Khôn là trục Quỷ môn với định danh nam quỷ môn và Nữ quỷ môn, tuy vậy theo phương pháp Bát trạch của cổ thư, mệnh cung Khôn nhà hướng Cấn hay mệnh cung Cấn mà nhà hướng Khôn thì đều được Sinh Khí. Vẫn như vậy, nếu hướng nhà là Cấn, sơn hậu là Khôn hoặc là nếu hướng nhà là Khôn mà sơn hậu là Cấn thì theo nguyên tắc lấy sơn phối hướng thì đều đước Sinh Khí, gọi là Sinh Khí trạch hay là trục Sinh Khí. Rỏ ràng, có sự không đồng nhất giữa định danh phương trục và tính chất của phương vị, cung quái của hai phương Cấn – Tốn này, bởi gọi là trục Quỷ môn nhưng khi xét tính chất phối quái hai phương đồng trục thì lại được trục Sinh Khí, tính bất nhất là ngay ở điểm này. Đồng một lý như vậy với trục tứ ngung, trục Thiên – Địa, Càn – Tốn; nếu nhà hướng Càn, mệnh cung Tốn hoặc dã, nhà hướng Tốn mà mệnh cung Càn thì đều được phương Họa Hại; cũng như vậy với phối quái phiên tinh, nếu hướng là Càn, sơn hậu là Tốn hay hướng là Tốn mà sơn hậu Càn thì đều được Họa Hại, gọi là trục Họa Hại hay Họa Hại trạch.

    Từ những điểm trên, xét một cách tổng quát về phân bố trạch quái của bát quái Hậu thiên cổ thư dễ thấy rằng:

    Với hai trục trung tâm, hay gọi là đường trung tâm thì tương quan quan ngũ hành giữa hai phương đối xứng đồng trục là tương khắc Thủy (Khảm) – Hỏa (Ly) và Kim (Đoài) – Mộc (Chấn) theo tính chất hành quái, nghĩa là theo lý tương khắc của ngũ hành thuộc hành quái.

    Với trục tứ ngung là Thiên – Địa, Càn – Tốn thì với tính chất hành quái của Càn là kim đới thủy đối xứng với Tốn thuộc hành quái Mộc, theo cổ thư, thì tính chất tương quan đồng trục giữa hai phương Càn – Tốn là tương sinh về ngũ hành. Trong khi đó, với trục Quỷ môn Đông Bắc và Tây Nam, Cấn đối Khôn thì tương quan của ngũ hành là tương hòa với Cấn và Khôn đều thuộc hành thổ theo cổ thư. Như vậy, ở bốn trục cho tám phương thì quan hệ ngũ hành đồng trục về tương khắc biểu hiện hai lần, về ngũ hành tương sinh đồng trục biểu hiện một lần và tương hòa thì biểu hiện một lần, xét một cách tổng thể thì ngay ở điểm này, các trục quái của Hậu thiên cổ thư không thể hiện một tính quy luật và nhất quán trong cách bố trí cung quái và phương trục, bởi tính chất ngũ hành tạp loạn.

    Hơn nữa, với cái nhìn tổng quan, trạch Phục Đức là trạch tốt nhất trong điều kiện Bát trạch và Dương trạch thì theo đồ hình tổng thể trên thấy rằng chỉ có phe Đông trạch mới có Phúc đức trạch hay trục Phúc Đức, ngược lại phe Tây trạch chỉ có Sinh Khí trạch hay trục Sinh Khí. Do vậy đây cũng chính là sự biểu hiện tính không đồng đẳng, tính mất cân xứng và tính bất cân bằng trong quy luật Âm Dương.

    Từ những phân tích trên về hai cặp khái niệm Thiên - Địa, Nam quỷ môn và Nữ quỷ môn với tính chất bất tương hợp và không nhất quán của nó về định danh và quái khí cho thấy một sự nghịch lý hay một bí ẩn trong quy luật sắp xếp của tám quái cần phải được chỉnh lý hay hiệu chỉnh để trở về với một trật tự hoàn hảo và nhất quán của bát quái. Bởi vậy, bát quái Hậu thiên cổ thư không thể là một nguyên lý hoàn chỉnh mà ngược bộc lộ những căn cứ mơ hồ, bất nhất đầy tồn nghi.

    1 person likes this