• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6.278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Bài viết posted by Thiên Đồng


  1. Tư Vấn Phong Thủy Lạc Việt Tại Cần Thơ

    Ngày 3/7/2011, Nhóm tư vấn Phong Thủy Lạc Việt lại trở lại Cần Thơ, sau một năm hợp tác cùng công ty xi măng Holcim. Trong sự kiện tổ chức quảng bá lần này, số lượng đến với tư vấn phong thủy tăng gắp đôi. Thời tiết buổi tư vấn thuận lợi, mặc dù có một ít mưa rào miền tây mát mẻ, tạo không khí trong lành thuận lợi cho sự kiện diễn ra tại vùng đất "gạo trắng nước trong".

    Sau đây là những hình ảnh liên quan

    Nhóm tư vấn Phong thủy Lạc Việt chúng tôi đi xem ô tô riêng, qua cao tốc Trung Lương chúng tôi dừng chân lại quán cóc bên đường ở Tiền Giang.

    Posted Image

    Vừa đến Cần Thơ, nhóm tư vấn ghé quán cafe để tránh cơn mưa sứ "ai không muốn về".

    Posted Image

    Posted Image

    Anh thanhphuc cảm ứng ngoại cảm tư vấn cho một thành viên của diễn đàn lyhocdongphuong.

    Posted Image

    Posted Image
    phán: "nhà nền đất thấp ra sau, có san lấp lại, có ổ mối phía dưới..."

    Posted Image
    Thiên Đồng ngồi nghe và làm dáng

    Posted Image
    Ghé tham quan một chùa Nam Tông

    (Còn tiếp)
    1 person likes this

  2. "Dị nhân đuổi mưa": "Tôi chỉ đâu là động đất ở đấy"

    Thứ năm, 30 Tháng 6 2011 12:32

    (GDVN) - Trao đổi với phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, "dị nhân đuổi mưa" khẳng định đầy tin tưởng: "Có thể nói tôi là người đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam đưa ra dự đoán về động đất".

    “Tôi đã phản bác nhà khoa học nổi tiếng của Hoa kỳ”

    Lần đầu tiên ông dự đoán về động đất là khi nào?

    Lời đầu tiên tôi dự đoán về động đất là vào năm 2004. Tôi dự đoán sẽ có một trận động đất lớn tại Indonesia và Philippines. Đúng đến cuối năm đó thì đã xảy ra một trận động đất, gây sóng thần kinh khủng ở Indonesia thật. Tôi báo trước trận động đất ở Indonesia tận 10 tháng 26 ngày.

    Posted Image

    Tôi đã phản bác nhà khoa học nổi tiếng của Hoa Kỳ Năm 2011, tôi xác định từ đầu là năm nay thiên tai rất nặng so với các năm khác. Những thiên tai liên quan đến động đất, sụt lở nghiêm trọng sẽ xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Trọng điểm là vùng thuộc Nam Á, vùng Châu Phi kế cận và cả Đông Á. Ngoài ra còn ở vùng đất giáp biển phía Tây của châu Mỹ cũng không thoát những thiên tai liên quan. Những quốc gia thường xuyên hứng chịu động đất, năm nay cũng cần đề phòng như Nhật Bản, Phi Luật Tân, Indonesia ....và chuẩn bị trước khi thiên tai xảy ra.

    Đến thời điểm này thì sự tiên tri của tôi đã nghiệm rồi với động đất và sóng thần ở Nhật Bản. Có thể nói rằng tôi là người tiên tri đầu tiên và duy nhất về động đất ở Việt Nam.

    Trên trang Lý học Phương đông, ông dành hẳn một chuyên mục để dự đoán về động đất. Tính chính xác của các lời dự đoán này thế nào?

    Trong topic dự báo động đất của tôi, tôi chỉ đâu là động đất đấy. Tôi đã phản bác lại một nhà khoa học nổi tiếng của Hoa Kỳ dự báo rằng sẽ có một trận động đất lớn xảy ra ở Cali vào ngày 26/3/2011. Tôi xác định là không và khẳng định rằng: Động đất tiếp theo sẽ xảy ra ở Đại lục địa Á Âu. Và đó chính là trận ở Myanma ảnh hưởng tới tận Hà Nội.

    Ngày 4/4/2011, tôi xác định sắp sửa có một trận động đất tiếp theo ở Trung Mỹ - cụ thể ở khúc thắt của bản đồ Châu Mỹ, hoặc xuống dưới phía nam một chút - trên 7 độ richte, thuộc loại nặng. Đúng ngày 7/4, một trận động đất mạnh 6,5 độ richter đã làm rung chuyển một khu vực rộng lớn ở miền nam và trung Mexico. Đấy chỉ là 2 trong nhiều ví dụ về sự chính xác trong những lời dự báo của tôi.

    “Lần đầu tiên dự báo sai”

    Có lần nào ông dự đoán về động đất không chính xác chưa?

    Gần đây tôi đoán sẽ có trận động đất xảy ra giữa Ấn Độ và Trung Quốc thì nó lại xảy ra ở Chi Lê dù vẫn nằm trên đúng trục đó. Đây là lần đầu tiên tôi đoán sai kể từ đầu năm đến nay sau đó tôi ngưng luôn việc dự đoán. Giờ tôi chỉ nói chung chung sẽ có động đất, thiên tai như đầu năm tôi đã nói.

    Ông có tìm hiểu nguyên nhân của lần dự đoán sai này không?

    Thời gian gần đây tình hình biển Đông căng thẳng, tôi bị phân tâm nên đã dự đoán sai và ngưng không đoán nữa. Tôi bị chi phối bởi quá nhiều vấn đề trong cuộc sống chứ tôi sống không chỉ để dự đoán. Hãy cứ tưởng tượng nếu mình đang làm một quẻ bói mà tiền nhà chưa đóng, chiều phải đóng ngay thì không thể dự đoán đúng được. Để đoán những chuyện như vậy thì đòi hỏi phải tập trung tư tưởng rất cao.

    Thời gian gần đây tình hình biển Đông căng thẳng, tôi bị phân tâm nên đã dự đoán sai và ngưng không đoán nữa. Tôi bị chi phối bởi quá nhiều vấn đề trong cuộc sống chứ tôi sống không chỉ để dự đoán. Hãy cứ tưởng tượng nếu mình đang làm một quẻ bói mà tiền nhà chưa đóng, chiều phải đóng ngay thì không thể dự đoán đúng được. Để đoán những chuyện như vậy thì đòi hỏi phải tập trung tư tưởng rất cao.

    Tôi đoán 99 câu sai, 1 câu đúng đã là giá trị rồi. Đây không phải là phép tính xác suất mà đây là một phương pháp dự đoán. Nếu tôi đoán 99 câu sai nhưng 1 câu chính xác đến tuyệt đối thì chúng ta không thể nào vội vàng phủ nhận luôn tôi đoán sai. 1% đúng đó không đơn giản là xác suất tung đồng xèng mà nó là cả một hệ thống phương pháp để dự báo.

    Cái đúng đó cần phải được xem xét một cách nghiêm túc. Nếu là là nhà tiên tri như Vanga hoặc Phan Thị Bích Hằng thì tôi chỉ cần đoán sai 60% là vứt rồi. Vì đó là khả năng tồn tại khách quan. Còn tôi dùng một phương pháp để dự đoán. 99 phần trăm sai do người dự đoán có thể đang đói bụng hoặc bị vợ bỏ, tức là không tập trung được tư tưởng. Có một tỉ nguyên nhân để sai.

    (còn nữa)

    Nguyễn Huệ

    --------------------------------------------------------------

    Trong bài viết này, có chổ văn phong không phải của Sư Phụ Thiên Sứ.

    Thiên Đồng


  3. Bởi lẽ sự phá hủy nhỏ tiến tới phá hủy lớn trong một điều kiện cụ thể phụ thuộc vào vô số các yếu tố địa chất khác nhau và chẳng tuân theo một quy luật phổ biến toàn cầu và chặt chẽ nào cả.

    Câu này không nhất quán ở phần đầu và phần cuối. Mọi hiện tương thấy được hay nhận biết được khi nó đã xuất hiện ở tình trạng hiện tượng thì nó là hệ quả của một quy luật vận động trước đó hay đằng sau đó. Cái quan trọng là tư duy nhận thức thực tại đó đến đâu và một nguyên lý lý thuyết nào làm dẫn đạo để nhận thức tính quy luật của thực tại đó.

    Phương tiện của khoa học để phục vụ cho nhận thức hiện thực hay thực tại không được coi là khoa học mà chỉ là...phương tiện.

    Thiên Đồng


  4. @khanhlinhlkl

    Xin nhờ anh Thiên Đồng xem giúp với.

    Tuổi gì: Canh Thân

    Hỏi vào ngày 18 tháng 06 năm 2011 08 giờ 50 phút sáng ( dương lịch ).

    Câu hỏi 01: Tình hình kinh tế của gia đình bao giờ tốt lên ( bây giờ đang rất tồi tệ)

    tháng 8 âm sẽ khá trở lại.

    Câu hỏi 02: E muốn sinh năm Nhâm Thìn liệu có con được không?

    Nhâm thìn hay quý tị 2013 đều tốt

    Câu hỏi 03: Công việc mới của ông xã e có tốt và lâu dài ko?

    Không tốt và không lâu dài. Nên chuyển việc.

    Cảm ơn anh Thiên Đồng rất nhiều.

    @PMH

    Cháu nhờ bác Thiên Đồng xem giúp

    Tuổi gì: Kỷ tị (nam)

    Hỏi vào ngày 20 .tháng 12 nam 1989 giờ 5:15 phút sáng dương lịch.

    Câu hỏi 01: Liệu năm sau cháu có thể đi du học được và có thật sự tốt không?

    Sẽ đi vào tháng 2 âm lịch của năm sau.

    Câu hỏi 02: Chuyện tình cảm cho đến cuối năm và năm sau như thế nào?

    Hơi bị căng như dây đàn.

    Câu hỏi 03: Con đường phía trước khi nào mới được thông thoáng và thăng tiến? (cháu đang chờ kết quả xem có được ở lại trường làm giảng viên ko, có 1 suất học bổng đi du học có khả năng khá cao để lấy nhưng cháu đã bỏ vì trường đó cháu không thích và muốn làm nhiều thứ chuẩn bị trước khi đi du học nếu có cơ hội==> nên cháu muốn hỏi với lựa chọn con đường thế thì có ổn và dễ thanh tiến ko; mục đích của cháu thật sự là giúp gì đó cho thế hệ sau đồng thời bổ sung kiến thức để sau này kinh doanh gì đó bằng chính đầu óc và kiến thức của mình có được)

    Sau 2 năm nữa hoặc sau 5 năm nữa sẽ rộng thênh thang.

    Cảm ơn bác Thiên Đồng nhiều ạh

    @Chôclat-blanche

    Cháu đọc được topic này mà mừng quá vì cháu đang có mấy điều rất băn khoăn không yên.

    Nhưng trước hết cháu xin báo với chú là hồi đầu năm những gì chú dự đoán về học bổng cao học, việc bảo vệ luận án và tình hình tài chính của cháu đều thành sự thực. Riêng về thời gian nhận học bổng thì nằm trong khoảng từ 5-7 tuần chứ không phải là tháng 5-7 âm lịch, nhưng với cháu đã là quá mong đợi.

    Cháu tuổi Bính Dần (26)

    Những câu hỏi sau đây của cháu đặt vào lúc 11.50 đêm ngày 16/8/2011 dương lịch giờ địa phương.

    Câu hỏi 1:

    Chuyện tình cảm của cháu năm nay ra sao ạ? (cháu đã bế tắc về chuyện này suốt 2 năm qua và cho đến giờ vẫn với một ngưởi cháu không hề có được một kết luận rõ ràng hay quyết định dứt khoát)

    Vẫn ở trong tình trạng nhùng nhằng, nên cải thiện tình thế.

    Câu hỏi 2:

    Cháu rất mong có một chuyến đi xa vào tháng 9 (5-16/9 dương lịch) - dự định này liệu có thành?

    sẽ thành tuy có trục trặc lúc đầu.

    Câu hỏi 3

    Tháng 8 dương lịch này cháu sẽ chuyển đến một nước khác để tiếp tục việc học -- không biết ở nơi mới này cuộc sống của cháu có gì khởi sắc hơn không ạ? (quả thực mấy năm qua cháu vô cùng vất vả

    sẽ học hành vất vả hơn. nên kiên trì.

    Cháu cảm ơn chú rất nhiều và xin rất mong tin chú!!

    @Tâm An

    Tuổi: Đinh Mão

    Hỏi vào lúc 10h06 AM, ngày 20/06/2011 (dương lịch)

    1) Với công việc hiện tại, cháu có cơ hội thăng tiến không ạ? Có thì bao lâu nữa và cấp bậc tối đa tới đâu?

    Yên chí, có người đỡ lưng, 2014 và 2015 là thuận lợi và thăng tiến nhất.

    2) Chuyện tình cảm của cháu cứ nhùng nhằng và ko dứt khoát gần 6 tháng nay. Cháu và người cháu yêu có cơ hội quay lại với nhau ko? Có thì bao giờ và có thể tiến tới hôn nhân không ạ?

    Vẫn nhùng nhằng, còn cơ hội tiến tiếp.

    3) Công việc và sức khỏe của bố mẹ cháu trong thời gian tới có tốt không ạ?

    Xem lại huyết áp hay thận của bà.

    Cháu cảm ơn bác rất nhiều. Kính chúc bác nhiều sức khỏe!

    @ An thư

    Gửi anh Thiên Đồng! An Thư xin nhờ anh độn giúp một quẻ nữa ạ! Do có việc gấp quá nên AT lại làm phiền anh!

    - Tuổi Nhâm Tuất nữ

    - Ngày xin quẻ 21/06/2011 (DL) lúc 16h 53p chiều!

    - Em muốn làm chung với cô bạn sinh năm 1983 công việc là buôn bán tranh nghệ thuật.

    Câu hỏi:

    1. Em và cô bạn này có kết hợp làm ăn có tốt không?

    Không tốt, Mở ra coi chừng lổ lã. Vốn cũng chưa đủ.

    2. Công việc buôn bán này liệu có ổn định, lâu dài và có lãi không?

    Không. Làm chơi cũng lỗ.

    3. Nếu làm được thì nên bắt đầu vào ngày nào ạ?

    Nên tính chuyện khác.

    Em rất mong anh lưu tâm xem giúp, việc rất quan trọng với em!

    Cảm ơn anh nhiều ạ!

    @Collin

    Xin chào anh Thiên Đồng.

    Tôi tuổi Tân Hợi (sinh ngày 08 tháng 03 năm 1971 - DL), hỏi vào lúc 23h58 phút ngày 23/06/2011.

    1. Tôi theo học 1 chương trình của nước ngoài đã 4 năm. Năm nay tốt nghiệp được chưa?

    Được, tháng 9 âm là tốt nghiệp.

    2. Công việc của tôi tại cơ quan hiện nay như thế nào? Có tin vui gì về công danh hay không?

    Cơ quan tuy thiếu nhân sự, nhưng sự bố trí không hợp lý, thiếu cơ hội cho người có khả năng như anh, chưa thấy tín hiệu thăng tiến.

    3. Tình hình tài chính từ giờ đến cuối năm của tôi ra sao?

    thâm hụt tài chính.

    Xin cám ơn nhiều.

    @ Blackcat,

    Kính nhờ anh Thiendong xem giúp em quẻ

    Năm sinh: 1983 ( Quý hợi)

    giờ hỏi: ngày dương lịch 22/06/2011 giờ 9h 11 sáng

    Câu hỏi

    1. Hạn hôn nhân: em sẽ lấy mấy lần chồng ( chỉ 1 lần duy nhât hay 2 ... )

    Ít là 1 lần, nhiều là 6 lần. tùy em chọn.

    2.Em đang muốn chuyển công ty trong năm 2011 này liệu có thành công không ah?? ( càng sớm càng tốt) nếu có thể anh cho thời điểm

    Nhanh thì cuối tháng 6 âm. Chậm thì cuối tháng 8.

    Mong nhận được hồi âm của anh !!!

    Thiên Đồng

    3 people like this

  5. BÍ THUẬT TÂM MẬT TRONG PHONG THỦY TÂY TẠNG

    Bí thuật Tam Mật của trường phái Black sect của các nhà phong thủy Tây Tạng được xem là có tác dụng hữ hiệu nhất mặc dầu cho tới nay chưa ai giải thích rõ tại sao. Trong phép Tam Mật tựu trung là sự hài hào điều Khí cho môi trường và cơ thể - Nếu Khí yếu thì có khả năng giúp tăng cường. Nếu mạnh thì giảm Khí.

    Bí thuật này hồm ba yếu tố chính là cơ thể , bọ óc hay tâm hồn và năng lực siêu nhiên. Vế cơ thể chính thì chúng ta có thể xử dụng đôi bàn tay bắt ấn để vận Khí. Về bộ óc , tâm hồn là làm cho có thể thấy , nhận biết hay gợi lại , tăng cường ý chí quyết tâm đạt điều ước muốn. Riêng phần năng lực siêu nhiên thì sẽ được hỗ trợ bằng cách cầu nguyện , đọc mật chú , dùng Mantra

    Chính vì lẽ đó mà đôi khi ta bắt gặp trong phong thủy có một số phương thức nhuốm màu sắc huyền bí siêu linh. và dĩ nhiên trải qua bao nghìn năm lưu truyền đã có một số bị thất truyền hay lại trở thành tam sao thất bản làm phát sinh những hình thái đấy sai lạc và mê tín khiến phong thủy bị hiểu sai lạc. Vấn đề luyện công , thiền định , tập tỉnh tâm , tập điều khí hay thay đổi vị trí đồ vật , gắn gương soi , treo thủy tinh cầu , troòng cây xanh ở chỗ này , đăt bồn phu nước ở chỗ kia , di chuyển cái giường hay bàn làm việc tới vị trí thích ứng nào đó đều thược vào bí thuật của phép tam mật cả. ta thử lần lượt tìm hiểu sơ lược Bí thuật Tam mật :

    TÁC ĐỘNG TỪ CƠ THỂ BÀN TAY

    DÙNG BÀN TAY VÀ NGÓN TAY XUA TAN ÁC KHÍ

    Giữ tâm bình yên không xao động. Hít Khí vào từ từ , đưa cánh tay ra trước. Ngón Út và Trỏ hướng tới trước trong khi hai ngón giữa và ngón đeo nhẫn co vào tâm lòng bàn tay , để ngón cái áp lên hai ngón đó

    Từ tình trạng trên , hãy búng hai ngón tay co ra. mỗi lần búng như vậy là một lần xua đuổi tà khí , sự tai biến nguy khốn. Nếu thưc hiện với tâm trạng tự tin , tuyệt đối nghĩ tới đấng tối cao Phật hay Chúa hay vị Thàn Linh , vị Giáo chủ tôn giáo nào mà mình tôn sùng và nhận năng lực mạnh mẽ từ người thì không những trục đi những thứ xấu xa trở ngại cũng như Âm Khí mà còn giữ lại được Dương Khí. Những người đã từng luyện công , khi thực hành bí quyết này cón có khả năng thấy thứ ánh sáng siêu đẳng phóng tỏa từ các ngón tay bung ra. Những nhà Phong Thủy trường phái Balack Sect gọi ánh sáng đó là Phật Quang .

    TÁC ĐỘNG CỦA NĂNG LỰC SIÊU NHIÊN

    DÙNG MẬT CHÚ OM MA NI PAT MI HUM

    Đây là một câu mật chú có năng lực vô song khi đọc lên có khả năng làm tiên tán những xấu xa ác nghiệt bất cứ từ đâu tới , tuy rằng ẩn tàng bên trong của câu chú lại là sự Từ Bi vô lượng , nhưng thắng được ác đạo. Đây cũng là một phần trong bí thuật Tam Mật mà phái Black Sect dùng. Mật chú này khi đọc lên sẽ được khỏi động khắp vũ trụ và được hiệu ứng tức thì. Chúng vì sự thần bí kỳ diệu lạ lùng đó mà tại ngôi đền thiêng Odiyan Mandala của Tay Tạng xây dựng tại Hoa kỳ , câu chú này đã được khắc trên 1252 bánh xe bằng đồng đỏ để ngày đêm luân chuyển khắp thế giới cũng như về nước Tây Tạng.

    TÁC ĐỘNG CỦA BỘ NÃO HAY TRÍ ÓC

    Con người là một sinh vật có trí óc phát triển vượt bực - Do đó năng lực của trí óc con người mạnh mẽ vô cùng. Từ bộ óc , sự suy tư tưởng tượng không những mang lại những thành quả kỳ diệu mà còn phát ra những năng lực lạ lùng. Tuy nhiên nhà Phong thủy phái thần bí hay Black Sect của tây Tạng thường đề nghị chúng ta rằng : Cần phải nhớ luôn rằng : Khi ta nghĩ đến , tưởng đến cái gì mà ta nghĩ thôi. Ta cần phải có cảm tưởng những gì ta nghĩ nữa mới mang lại những thành quả. Tôi nghĩ là tôi sẽ đến nơi đó - nhưng ta phải đưa tư tưởng dần vào hiện thực bằng cái " thấy trong tư tưởng" như thật là ta đang đứng ở đó và làm những điều ta định làm." Nói tóm lại ta phải dùng năng lực tư tưởng bằng quyết tâm và trì chí. phải nhớ và tin rằng tâm của con người rất mạnh. Đó là năng lực kỳ bí mà con người có được hơn các loài trên quả đất là nhờ vậy.

    Điều quan trọng không nên quên trong phép Tam Mật , có vô số thủ thuật tuy tầm thường nhỏ nhoi tưởng không quan trọng nhưng phụ lực cho phép Tam Mật thành công lớn lao.

    Ví dụ chiếc gương soi nhỏ tầm thường nhưng có thể làm chuyển đổi vị trí một đồ vật. Cái bếp nằm sai chỗ ví dụ ở hướng Bắc hành Thủy mà bếp Hỏa vẫn gắn tấm gương đồi diện bếp sẽ mang hình ảnh cái bếp vào trong gương - và vì gương đặt đối diện bếp nên bây giờ " cái bếp" đã nằm đúng vị trí hướng Nam hành Hỏa tốt cho bếp. Như vậy trí óc tưởng tượng mở ra lối đi , lối giải quyết hỗ trợ bởi những vật dụng ví dụ như gương soi , cây xanh , thủy tinh cầu , hồ cá cảnh , khối đá , bức bình phong , con đường uốn lượn v.v...( vậy ta hãy xem thêm những phần vừa nhắc khá chi tiết mà ta sẽ gặp trong tập sách này )

    MẦU SẮC TƯƠNG ỨNG CỦA MẬT CHÚ

    OM MA NI PAT MI HUM

    Theo phái phong thủy Tây Tạng Black Sect thì 6 chữ Mật chú Om Ma Ni Pat Mi Hum ( thường gọi là Lục Tự Đại Minh Chơn Ngôn ) tương ứng với 6 mầu sắc như sau :

    OM tương ứng với màu TRẮNG

    MA ----- ----------------- ĐỎ

    NI ----------------------- VÀNG

    PAT ----------------------- XANH LỤC

    MI ----------------------- XANH DA TRỜI

    HUM ---------------------- ĐEN

    Ngày nay nhiều cơ sở làm ăn lớn thường hay làm cột cờ để treo những lá cờ hiệu - Đối với khoa phong thủy thì lá cở phất phới bay sẽ giúp điều hòa Khí và mang năng lượng vũ trụ vào cho cơ sở. Để gia tăng năng lực , người ta trồng 6 cột cờ trước cơ sở và treo 6 lá cờ theo thứ tự 6 mầu của Mật chú Om Ma Ni Pat Mi Hum

    ----------------------------------------

    P/S: Pam lưu ý: "Giữ tâm bình yên không xao động. Hít Khí vào từ từ , đưa cánh tay ra trước. Ngón Út và Trỏ hướng tới trước trong khi hai ngón giữa và ngón đeo nhẫn co vào tâm lòng bàn tay , để ngón cái áp lên hai ngón đó " <-----------ấn này chính là Ngọc Hoàn ấn, trong Mật Tông ấn quyết vô cùng quan trọng, các huynh đệ tỷ muội đọc mà áp dụng nên hết sức cẩn thận, phải thật cần thiết mới dùng vì khi ấn được bung ra, tay bạn như những khẩu súng laze rất dễ gây tổn thương cho các vong linh xung quanh, vì vậy mà các hành giã Mật Tông đều xả ấn lên đãnh đầu, cách hay nhất mà Pam thấy là lấy 1 tô nước để trước mặt, bắt ấn miệng đọc Om MaNi PadMe Hum, cứ đọc 7 biến búng ấn vào tô nước 1 cái..cứ như vậy đọc càng nhiều càng tốt, thì nước ấy thành nước đc gia trì dùng rảy vào các nơi khí xấu có tác dụng thanh tẩy trường khí nơi đó.

    nguồn: omanizen.blogspot.com


  6. Mỹ tái khẳng định có lợi ích ở biển Đông

    SGTT.VN - Hôm qua 23.6, tại Washington, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã bác bỏ yêu cầu của Trung Quốc đề nghị Mỹ tránh xa các tranh chấp ở biển Đông. Bà cũng tái khẳng định Mỹ có lợi ích ở khu vực này.

    Trong cuộc gặp gỡ với ngoại trưởng Philippines, Albert del Rosario tại Washington, bà Clinton nhấn mạnh: “Mỹ không đứng về bên nào trong các tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông, nhưng chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giành được yêu sách của bất cứ bên nào”.

    Bộ trưởng Ngoại giao Philippines đã nêu 9 vụ xâm phạm của Trung Quốc từ 25.2 đến nay vào vùng Philippines có yêu sách ở biển Đông. Bà Clinton phát biểu: “Chúng tôi lo ngại những vụ việc gần đây ở biển Đông sẽ ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định trong khu vực. Chúng tôi thúc giục tất cả các bên kiềm chế, và chúng tôi sẽ tiếp tục tham vấn chặt chẽ với tất cả các nước có liên quan”

    Ngoại trưởng Mỹ cho rằng, cuối cùng các tranh chấp lãnh thổ cần phải được giải quyết bởi các bên liên quan, nhưng Mỹ cũng sẵn sàng ủng hộ một quá trình hợp tác, bằng con đường ngoại giao của ASEAN, nỗ lực tiến tới một bộ Quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC).

    Trước đó, hôm 22.6, Trung Quốc đã thúc giục Mỹ tránh xa các tranh chấp ở biển Đông, cho rằng vấn đề nên được giải quyết thông qua các đàm phán song phương với các nước có liên quan. Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Cui Tiankai cảnh báo sự tham gia của Mỹ vào biển Đông có thể khiến căng thẳng trở nên tồi tệ hơn.

    Tuy nhiên, trước sự phô trương lực lượng hải quân và các tuyên bố cứng rắn từ Trung Quốc trong tuần, ngoại trưởng Mỹ nêu rõ, Mỹ cam kết sẽ ủng hộ Philippines và cung cấp vũ khí cho nước này. Bà Clinton khẳng định, đây là động thái nêu cao tinh thần của hiệp ước quốc phòng song phương với Philippines.

    Bà Clinton cũng nhấn mạnh, vấn đề biển Đông sẽ được thảo luận tại cuộc gặp giữa trợ lý của bà là Kurt Campbell và thứ trưởng Trung Quốc Cui Tiankai tại Hawaii cuối tuần này.

    Hồi năm ngoái, bà Clinton đã tuyên bố Mỹ có lợi ích trong việc đảm bảo các xung đột ở biển Đông được giải quyết cách hòa bình. Điều đó được coi là một thách thức ngoại giao của Trung Quốc.

    Tàu hải quân Mỹ đến Đà Nẵng trong tháng tới

    Tàu khu trục tên lửa Chung Hoon (DDG 93) của hải quân Mỹ tham gia diễn tập tại Singapore trong khuôn khổ cuộc huấn luyện SEA CAT (tháng 6.2011). Ảnh: Flickr

    Người phát ngôn hải quân Mỹ, thiếu tá Mike Morley cho biết, Mỹ và Việt Nam sẽ tổ chức các hoạt động hải quân chung ở biển Đông trong tháng 7.2011, tại TP.Đà Nẵng. Tuy nhiên, hoạt động này không liên quan tới những căng thẳng trong khu vực gần đây, vì đã được lên kế hoạch trước đó. “Việc này chỉ là trùng hợp về thời gian mà thôi”, ông Morley nói.

    Các hoạt động hải quân chung sẽ kéo dài một tuần và không phải là tập trận, không có huấn luyện chiến đấu.

    Ít nhất một tàu khu trục của hải quân Mỹ và một tàu ngầm kiêm cứu hộ sẽ tham gia hoạt động đợt này, nằm trong chương trình giao lưu giữa hải quân hai nước.

    Hai bên sẽ hợp tác về y tế và tìm kiếm cứu hộ trên mặt biển. Năm ngoái, một chương trình hợp tác hải quân tương tự đã diễn ra.

    CA THY (Theo Washingtonpost, FT, AFP)


  7. Sư Phụ,

    Đệ tử mới đọc chưa xong. Cho cho đệ tử thời gian để viết một bài dài. Khi thấy bài này con cũng thấy cái sai từ nguyên lý lý thuyết của tg Hà Hưng Quốc ở đồ hình át quái của ông ấy. Hơn nữa, ông HHQ có trích nguyên lý "Dương tịnh âm động" của Sư Phụ, rồi cũng "khế hợp" luôn cái "dương động âm tịnh" của Tàu thì cái hiểu này...cũng tả pín lù.

    Thiên Đồng


  8. Bát Môn, Lục Nhâm và Lạc Việt Độn Toán
    dưới lăng kính Việt Dịch

    Hà Hưng Quốc


    XÉT VIỆT DỊCH ĐỒ VÀ LẠC VIỆT ĐỘN TOÁNTRONG TƯƠNG QUAN VỚI LỤC NHÂM

    Tương tự như đã làm với Bát Môn, bây giờ chúng ta đem vòng trong của Việt Dịch Đồ phối vào 9 cung chúng ta sẽ có được cái hình Bánh Chưng Lục Nhâm. So hình Bánh Chưng Lục Nhâm với hình ngôi sao Hậu Thiên Bát Quái Lạc Việt [xoay 180 độ], nếu tạm quên quái mà chỉ nhìn vào 6 chữ của Lục Nhâm và vị trí của chúng trên cả hai hình thì có thể nói là không khác nhau. Đem hình Bàn Tay Lục Nhâm Lạc Việt ra so với hình ngôi sao Hậu Thiên Bát Quái Lạc Việt và với hình Bánh Chưng Lục Nhâm thì có một sự khác biệt rất lớn.
    Posted Image

    Trước hết chúng ta hãy xét cấu trúc của hình Bánh Chưng Lục Nhâm theo tinh yếu Việt Dịch và hình ngôi sao HTBQ-LạcViệt. Trong hai hình này có đến 4 cung hoàn toàn giống nhau. Đó là cung Đại An (Càn), cung Vô Vong (Khôn), cung Tốc Hỉ (Ly) và cung Lưu Niên (Khảm). Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì như đã nói trước đây là HTBQ của Lạc Việt và HTBQ của Việt Dịch trùng nhau tới 5 quái. Và 5 quái đó là Càn, Khôn, Khảm, Ly, Cấn. Hai cung còn lại trong số 6 cung của Lục Nhâm, tức là cung Tiểu Cát và cung Xích Khẩu thì chỉ giống nhau về vị trí trên cung bàn nhưng không giống nhau về quái nằm trong cung bàn.
    Trước hết chúng ta hãy xét hai cung không giống nhau này:
    XÍCH KHẨU --Với hình ngôi sao HTBQ-LạcViệt thì quẻ Xích Khẩu an ngay cung của cặp Tốn-Đoài, là cặp quái bất dịch do kết hợp những quái điên đảo dịch theo ngôn ngữ của LVĐT.
    Học giả NVTA đã nói “chỉ có Hậu thiên bát quái Lạc Việt mới có khả năng kết hợp hai cặp quái Điên đảo dịch thành 2 cặp bất dịch và tạo thành 6 cực.” Phát biểu này chỉ chính xác có một nửa. Đúng là chỉ có Lạc Việt Độn Toán mới có hai cặp điên đảo dịch nhưng không phải chỉ có LVĐT mới có khả năng tạo thành 6 cực. Kết hợp hai quái để làm thành một quẻ là một điều không có gì mới mẻ hay lạ lùng. Chu Dịch đã làm điều đó và Việt Dịch cũng có khả năng đó. Việt Dịch không những có khả năng kết hợp hai quái làm thành một quẻ mà còn có khả năng kết hợp tối đa đến 8 quái để làm thành một quẻ. Chính vì khả năng này mà Việt Dịch không cần viết lời cho từng hào.
    Với Việt Dịch Đồ, hai quái Chấn và Đoài được kết hợp làm nên quẻ “Chấn +9 Canh” + “Đoài -4 Tân” nằm ở hướng chánh Tây tới Tây Nam, hành Kim, và là cung an quẻ Xích Khẩu của Lục Nhâm. Chấn là quái gốc [nội quái] còn Đoài là quái ngọn [ngoại quái] tính theo vòng vận hành ngược kim đồng hồ. Như vậy, Việt Dịch Đồ và hình ngôi sao của LVĐT thống nhất về vị trí, phương hướng và ngũ hành của quẻ Xích Khẩu nhưng khác nhau về cặp quái nằm trong cung Xích Khẩu.
    LVĐT diễn giải “Xích Khẩu: tranh chấp, cự cãi, lý luận, xung sát. . . Đây là thuộc tính của hành Kim, vậy liên hệ với Tốn – Đoài.” và “Xích khẩu thuộc Kim. Nghĩa là sự tranh luận, cãi nhau, tiếng ồn ào, tiếng động. Về sự việc là tranh chấp kiện tụng. Về nghề nghiệp là nghề liên quan đến kim khí, máy móc; liên quan đến miệng như: dạy học, luật sư, quảng cáo, thông tin… Về người là người hay nói, lý luận khúc chiết, là người thấp, đầy đặn, nhiều lý trí. Về bệnh tật là bệnh liên quan đến phổi, tai, xương cốt. Về hướng là hướng Tây hoặc Tây Nam. Về màu sắc là màu trắng hoặc xám trắng. Về độ số là 4 và 9.
    Việt Dịch giải thích “Chấn . . . không phải chỉ làm chấn động trong ý nghĩa vật lý mà còn là chấn động trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tai tiếng, là tiếng đồn, là nổ ra những sự kiện ô nhục, là xì-căn-đăng; không phải chỉ là làm cho nổ trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho nổ ra trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tố cáo, là tố giác, là bôi nhọ công khai, là gây ra hiểu lầm; . . . không phải chỉ hoá quang trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho thấy trong ý nghĩa dư luận xã hội, là giải thích, là biện minh, là trưng ra bằng chứng. . .” và “Đoài không những là mềm, là lỏng mà còn là nơi mềm lỏng tụ hội, là ao đầm, là bọc nước chứa thai nhi, là giai đoạn thụ thai, là trứng, là âm hộ, là miệng, là vật ngậm lấy, là người nữ; không những là mềm, là lỏng mà còn trạng thái mềm lỏng hòa vào nhau, là nhuyễn, là sệt, là dễ thẩm thấu, là dễ nắn, là chất bùn, là chất bã, là cream, là lotion, là gel, là paste, là thức ăn nhuyễn, là ruột non, là ruột già. . .” Những giải thích trên cho thấy quá rõ ý nghĩa Chấn là tranh chấp và Đoài là cái miệng.
    Như vậy, sự kết hợp hai quái Chấn-Đoài không phải là quẻ nói về những tranh chấp liên quan đến cái miệng hay sao? Không phải là quẻ Xích Khẩu hay sao? LVĐT cũng xác nhận “Xích Khẩu: tranh chấp, cự cãi, lý luận, xung sát. . . Đây là thuộc tính của hành Kim, vậy liên hệ với Tốn – Đoài.” và “Xích khẩu thuộc Kim. Nghĩa là sự tranh luận, cãi nhau, tiếng ồn ào, tiếng động. Về sự việc là tranh chấp kiện tụng.”
    Vấn đề được đặt ra ở đây là làm sao mà hai bên thống nhất với nhau từ vị trí của Xích Khẩu, cho đến ý nghĩa của quẻ Xích Khẩu, cho đến phương hướng, ngũ hành và độ số của cung Xích Khẩu mà lại có thể hoàn toàn khác nhau về cặp quái nằm trong cung Xích Khẩu???
    Cũng giống như lập luận trước đây trong phần lý giải Bát Môn, có lẽ chúng ta có thể bàn là LVĐT đã dùng âm dương, ngũ hành và độ số chứ không vận dụng những quẻ trong HTBQ-LạcViệt để diễn giải ý nghĩa những chữ của Lục Nhâm, dầu rằng cấu trúc của HTBQ-LạcViệt đã được vận dụng để an vị 6 chữ của Lục Nhâm. Và như vậy thì ý nghĩa của nhóm “độ số-âm dương-ngũ hành” mà LVĐT vận dụng để diễn giải chữ Xích Khẩu của Lục Nhâm khế hợp hoàn toàn với quẻ Chấn-Đoài của Việt Dịch như đã cho thấy trong phần phân tích vừa qua. Điều này không có gì lạ vì tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của Xích Khẩu [điển hình là “Xích Khẩu: tranh chấp, cự cãi, lý luận, xung sát. . . Đây là thuộc tính của hành Kim . . . Về hướng là hướng Tây hoặc Tây Nam. Về màu sắc là màu trắng hoặc xám trắng. Về độ số là 4 và 9. . .] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Xích Khẩu cùng quẻ Chấn-Đoài trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Xích Khẩu thuộc “Chấn +9 Canh” + “Đoài -4 Tân” hành Kim hướng chánh Tây tới TN đóng ở Dậu + Thân vị”]. Mà Việt Dịch thì dùng thuần nội hàm của 8 quái để giải. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+9 Canh, hành Kim, hướng chánh Tây” chính là chỗ đứng của quẻ Chấn và “-4 Tân, hành Kim, hướng TN” chính là chỗ đứng của quái Đoài hay sao? Nếu là như vậy thì chẳng phải luận điểm của Việt Dịch về “tính bất khả ly giữa những phần tử trong một tập hợp “độ số- âm dương-ngũ hành-quái” lại càng thêm khả tín hay sao?
    TIỂU CÁT --Với hình HTBQ-LạcViệt thì quẻ Tiểu Cát an ngay cung của cặp Cấn-Chấn, là một cặp quái điên đảo thứ hai của LVĐT.
    Với hình HTBQ-LạcViệt thì quẻ Tiểu Cát an ngay cung của cặp Cấn-Chấn, là cặp quáiđiên đảo dịch theo ngôn ngữ của LVĐT.
    Với Việt Dịch Đồ, hai quái Tốn và Cấn được kết hợp làm nên quẻ “Tốn +3 Giáp” + “Cấn -8 Ất” nằm ở hướng chánh Đông tới Đông Bắc, hành Mộc và là cung an quẻ Tiểu Cát của Lục Nhâm. Tốn là quái gốc [nội quái] còn Cấn là quái ngọn [ngoại quái] tính theo vòng vận hành ngược kim đồng hồ. Như vậy, Việt Dịch Đồ và LVĐT thống nhất về vị trí, phương hướng và ngũ hành của quẻ Xích Khẩu nhưng khác nhau về cặp quái nằm trong cung Tiểu Cát.
    LVĐT diễn giải “Tiểu cát thuộc Mộc. Nghĩa là niềm vui nhỏ, là tin tức vui, là tình cảm, tình yêu, sự quí mến. Về sự vật là sách vở, là tri thức, học hành, là cây cối. Về người là người giàu tình cảm, là hôn nhân, tình duyên. Về nghề nghiệp là người buôn bán nhỏ, có tiểu lợi, là người làm ăn liên quan đến gỗ cây, sách vở, tri thức… Về hình thể là người yểu điệu, mình dây, duyên dáng; đàn ông cao gầy có tính hiền, ham học hỏi. Về bệnh liên quan đến gan. Về hướng là hướng Đông hoặc Đông Bắc. Về màu sắc là màu xanh lá cây. Về độ số là 3 và 8.” Và “Niềm vui nhỏ, dịu dàng, mềm mỏng, vươn lên….Đây là thuộc tính của hành Mộc.”
    Việt Dịch giải thích “Tốn . . . không những là không khí mà còn là gió, là nhập vào, là len vào, là thâm nhập, là len lén, là nhè nhẹ, là rụt rè, là thập thò, là e lệ, là nhún nhường, là bâng khuâng, là lãng đãng, là dìu dịu, là bềnh bồng, là quấn quít, là ngây ngất, là choáng váng, là vấn vương, là nhớ nhung; không những là không khí, là gió mà còn là hơi thở, là mây trời, là phiêu bồng, là lan tỏa, là bay, là lay động, là mềm mại, là mỏng manh; không những là không khí, là hơi thở, là nhập vào mà còn là hơi thở đầu đời nhập vào dòng sống, là chào đời, là nứt mộng, là đâm chồi, là nhú ra, là lú ra, là giai đoạn sơ sinh, là vô tư, là ngây thơ, là nhân hậu, là nhu hòa, là nguyên tánh [nguyên tánh là gốc của nhu hoà, nhân hậu], là tạng can; không những là âm thanh, là làm phát ra âm thanh mà còn là tiếng nói, là nhạc, là dư luận, là truyền thông, là phát sóng, là truyền tải thông tin, là tuyên truyền; không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy ước muốn, làm cho nghe thấy ý kiến, là đệ đạt nguyện vọng, là đề nghị yêu sách, là trình bày ý kiến, là đưa ra quan điểm, là thố lộ ý nghĩ, là tiết lộ nội tâm, là tâm sự với người khác; không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy sự thật, là bàn bạc, là hội thảo, là nghiên cứu, là điều tra, là tường trình, là báo cáo, là phản hồi tin tức. . .” và “Cấn không những là đặc, là cứng mà còn là thô, là xốp, là vật liệu lấy ra từ quặng mõ, là nguyên liệu, là chưa tinh chế, là chưa mài giũa, là chưa hữu dụng, là chưa thành nhân; không những là cứng mà còn là cứng cáp, là vươn lên, là ngóc lên, là trổ mã, là dậy thì, là đứng sừng sững, là núi đồi, là trụ cột, là tháp, là chầy, là cán, là vật để cắm vào, là dương vật, là người nam; không những là vật chất hữu hình trong ý nghĩa vật lý mà còn là vật chất hữu hình theo qui ước xã hội, là tài sản hữu hình (tangible assets), là bất động sản không những là cứng trong ý nghĩa vật lý [vật chất hữu hình có tính cứng vật lý] mà còn là cứng theo qui ước xã hội [vật chất hữu hình có tính cứng qui ước], là tài sản cứng (hard assets), là công cụ sản xuất, là vật dụng cứng (hardwares).


    Những giải thích trên của Việt Dịch không phải cho thấy nội hàm của quẻ Tốn-Cấn dung nạp ý nghĩa “niềm vui nhỏ, là tin tức vui, là tình cảm, tình yêu, sự quí mến” hoặc “Niềm vui nhỏ, dịu dàng, mềm mỏng, vươn lên” mà LVĐT diễn giải về ý nghĩa của quẻ Tiểu Cát đó hay sao? Không phải những chữ “là tài sản hữu hình (tangible assets), là bất động sản. . . là tài sản cứng, . . là công cụ sản xuất, là vật dụng cứng (hardwares).” phản ảnh“nghề nghiệp. . . buôn bán . . . tiểu lợi . . . làm ăn” mà LVĐT diễn giải đó hay sao?
    Vấn đề được đặt ra là với sự thống nhất với nhau của hai bên từ vị trí của Tiểu Cát, cho đến ý nghĩa của quẻ Tiểu Cát, cho đến phương hướng, ngũ hành và độ số của cung Tiểu Cát nhưng lại hoàn toàn khác nhau về cặp quái nằm trong cung Tiểu Cát thì phải giải thích thế nào đây ???
    Cũng giống như lập luận trước đây trong phần lý giải Bát Môn, có lẽ chúng ta có thể bàn là LVĐT đã dùng âm dương, ngũ hành và độ số chứ không vận dụng những quẻ trong HTBQ-LạcViệt để diễn giải ý nghĩa những chữ của Lục Nhâm, dầu rằng cấu trúc của HTBQ-LạcViệt đã được vận dụng để an vị 6 chữ của Lục Nhâm. Nếu đúng là như vậy thì ý nghĩa của nhóm “độ số-âm dương-ngũ hành” mà LVĐT vận dụng để diễn giải chữ Tiểu Cát của Lục Nhâm khế hợp hoàn toàn với quẻ Tốn-Cấn của Việt Dịch như đã cho thấy trong phần phân tích vừa qua. Điều này không có gì lạ vì tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của Tiểu Cát [điển hình là “Tiểu cát thuộc Mộc . . . về hướng là hướng Đông hoặc Đông Bắc. Về màu sắc là màu xanh lá cây. Về độ số là 3 và 8.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Tiểu Cát cùng quẻ Tốn-Cấn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Tiểu Cát thuộc “Tốn +3 Giáp” + “Cấn -8 Ất” hành Mộc hướng chánh Đông tới ĐB đóng ở Dần + Mão vị”]. Mà Việt Dịch thì dùng thuần 8 quái để giải. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+3 Giáp, hành Mộc, hướng chánh Đông” chính là chỗ đứng của quái Tốn và “-8 Ất, hành Mộc, hướng ĐB” chính là chỗ đứng của quái Cấn hay sao? Và nếu đúng là như vậy thì chẳng phải luận điểm của Việt Dịch về “tính bất khả ly giữa những phần tử trong một tập hợp “độ số- âm dương-ngũ hành-quái” lại càng thêm khả tín hay sao?
    Chưa hết, kết hợp phần luận giải hai quẻ Xích Khẩu và Tiểu Cát với phần luận hai quẻ chữ Sinh và Tử của Bát Môn chúng ta dễ dàng nhận ra là không có một khe hở nhỏ và từ đó mới thấy vị trí của hai quái Tốn và Chấn trong Việt Dịch Đồ quả thật là vô cùng thuyết phục.
    Bây giờ thì chúng ta có thể tuần tự xét đến 4 cung có sự thống nhất giữa ngôi sao 6 cánh của LVĐT và Việt Dịch Đồ: Đại An, Vô Vong, Tốc Hỉ và Lưu Niên. Cũng là sự thống nhất giữa HTBQ-LạcViệt và Việt Dịch Đồ về vị trí của 4 quái Càn, Khôn, Khảm, Ly.
    ĐẠI AN & VÔ VONG –Lạc Việt Độn Toán diễn giải “Đại an thuộc Dương Thổ, nghĩa là bình yên lớn. Tính chất chậm chạp nhưng chắc chắn, thuộc về tài sản là nhà đất lớn, là miếng đất hoặc vùng đất lớn, là nguồn lợi ổn định, chắc chắn. Về người là bậc quân tử chín chắn, nữ hiền hậu tính cách điềm đạm, là người đầy đặn, béo tốt. Về công việc là sự ổn định, là người làm tại nơi trung tâm, có quyền chức địa vị. Về nơi làm việc là cơ quan hoặc bộ phận quan trọng. Về bệnh liên quan đến dạ dày hoặc tỳ. Về phương vị là nơi trung tâm. Về màu sắc là màu vàng thổ. Độ số là 5.” Và “Vô vong thuộc Âm Thổ. Nghĩa là không được việc gì, hoặc không sao cả; là đất bỏ hoang. Về người là người vô tích sự, thất nghiệp. Gặp hạn thì hoá giải. Về màu sắc là màu vàng đất xỉn. Về phương vị là ở cạnh nơi trung tâm, ở phía dưới, là nền nhà. Về độ số là 10.” Giải thích này của LVĐT rõ ràng là qui hai quẻ Đại An và Vô Vong vào vị trí trung ương Mậu Kỷ, xác định bởi cụm chữ “dương thổ . . . độ số 5” và “âm thổ . . . độ số 10.”
    Làm sao LVĐT có thể qui hai quẻ Đại An và Vô Vong vào vị trí trung ương Mậu Kỷ??? Không phải điều này sẽ hoàn toàn phá vở chính cái nền tảng mà LVĐT đã dùng nó để chứng minh sự hợp lý trong việc phối 6 quẻ Lục Nhâm vào ngôi sao 6 cánh [cũng là HTBQ-Lạc Việt] hay sao? Không phải điều này sẽ hoàn toàn phá vở chính cái nền tảng mà LVĐT đã dùng nó để chứng minh sự hợp lý trong việc phối hợp Lục Nhâm với Bát Môn hay sao? Không phải điều này cũng sẽ phá vở luôn cả yếu tính nhất quán cần có trong sự thiết lập lý thuyết mà học giả NVTA đã nói tới hay sao?Trong một đoạn khác khi cứu xét 6 quẻ Lục Nhâm thì LVĐT có giải thích “Lưu Niên: Giữ lại thời gian. Biểu tương cho sự ngăn trở hiểm ác, âm mưu… Đây chính là hành thuỷ, vậy liên hệ với quẻ Khảm. Tốc Hỷ: Niềm vui đến nhanh. Biểu tượng cho sáng sủa, vẻ đẹp…Đây chính là hành Hoả,vậy liên hệ với quẻ Ly. Xích khẩu: Tranh chấp, cự cãi, lý luận, xung sát … Đây là thuộc tính của hành Kim, vậy liên hệ với Tốn – Đoài Tiểu Cát: Niềm vui nhỏ, dịu dàng, mềm mỏng, vươn lên….Đây là thuộc tính của hành Mộc. Vậy liên hệ với Cấn - Chấn. Như vậy tứ hành đã an vị . Còn hai quẻ nữa khởi đầu của vạn sự chính là Càn Khôn…liên hệ với: Càn – Đại An và Khôn – Vô vong.” Không phải đoạn giải thích này xác nhận là Đại An nằm ở Càn và Vô Vong nằm ở Khôn với cụm chữ “Càn - Đại An và Khôn – Vô Vong” hay sao? Mà khi đã xác nhận hai quẻ nằm trên trục Càn-Khôn thì độ số phải là 2 và 6 chứ làm sao có thể là 5 và 10 được? Rõ ràng là ở đây đã có một vướng mắc lớn!!. Và cũng rõ ràng là LVĐT đã chỉ sử dụng lý lẽ ngũ hành để mà phối vị trí của Lục Nhâm. Không có gì sai với việc vận dụng lý thuyết ngũ hành. Tuy nhiên, chỉ vận dụng ngũ hành mà bỏ đi tinh yếu của HTBQ-LạcViệt, theo nhận xét riêng của tác giả, thì đây là một sự việc rất đáng tiếc vì nó chính là lý do gây ra tất cả “lạng quạng” trong phần lập luận cho Lục Nhâm của LVĐT mà tác giả sẽ từ từ chứng minh cho thấy.

    Việt Dịch thì giải thích một cách khác. Đại An và Vô Vong chắc chắn là phải nằm trên trục Càn-Khôn vì tự ý nghĩa của hai chữ Đại An và Vô Vong đã đặt trên cơ sở luận lý “Trời tịnh thì yên [an]; Đất tịnh thì chết [vong]” của Dịch. Đúng như LVĐT đã nói, nó là hai quẻ khởi đầu của vạn sự. Và, đó không phải là lý do tại sao Lục Nhâm lại khởi độn từ vị trí của quẻ Đại An hay sao? Mà quẻ Đại An thì thuộc “Càn -6 Quý.” Trên Việt Dịch Đồ thì “Càn -6 Quý” lại nằm ở Tí vị của vòng ngoại giới, như cho thấy trong hình bên dưới. Tí vị không phải là nơi khởi đầu của vạn sự trong trời đất hay sao? Posted Image

    LVĐT có nói “Xin lưu ý Dương Tịnh - Âm Động là lý thuyết căn bản được phục hồi từ Văn hiến Lạc Việt. Còn sách Hán thì ngược lại Dương Động - Âm Tịnh.” Theo Việt Dịch thì “Dương tịnh là an, Âm động là sống” và ngược lại “Dương động là nguy, Âm tịnh là chết.” Dương ở đây chỉ về trời, tức là ngôi Càn. Âm ở đây là chỉ về mặt đất, tức là ngôi Khôn. Dịch lý này vốn là ở cấp độ đại thể/ tổng thể trỏ vào môi trường tổng quát hay điều kiện vĩ mô. Dương “tịnh” có nghĩa là những hoạt động diễn ra trong “trạng thái bình thường” hay quân bình. Tịnh của ngôi Trời có nghĩa là vận hành trong điều kiện ổn cố, điều độ, hài hoà, an bình chứ không có nghĩa là không có cái gì xê dịch, động đậy. Như vậy, nó là sự tịnh trong ý nghĩa so sánh tương đối chứ không phải là vắng bặt, im lìm. Với Âm tịnh thì nghĩa chữ tịnh hoàn toàn khác với nghĩa chữ tịnh vừa nói. Tịnh của ngôi Đất có nghĩa là vắng bặt những hoạt động thể hiện sự sống, không thấy sự hiện hữu của những hoạt động có tính cách sống. Hay nói một cách khác là ngôi Đất đang vận hành trong điều kiện không hổ trợ cho sự sống, trong trạng thái đã hủy diệt hết sự sống, trong tình trạng đánh mất sự quân bình cần thiết cho sự sống và rớt vào bất ổn cao độ chứ không có nghĩa là không có cái gì xê dịch hay động đậy. Còn khi nói về những tiểu thể/ cá thể nằm bên trong tổng thể đó, tức là lý lẽ ở cấp độ vi mô, và trỏ vào hoạt động của những tiểu thể/ cá thể, tức hiện tượng vi diệu sinh hoá trên mặt đất, thì động là dương còn tịnh là âm. Cả dương và âm tức cả động và tịnh của tiểu thể/ cá thể đều là những biến dịch liên tục bên trong cái âm động và dương tịnh của đại thể/ tổng thể. Sự động tịnh của đại thể/ tổng thể không là cái chết sống của chính đại thể/ tổng thể, không gây ra cái chết sống cho chính đại thể/ tổng thể mà là gây ra cái chết sống của những tiểu thể/ cá thể nằm bên trong đại thể/ tổng thể đó. Và chính là cái Dịch lý trỏ vào đại thể đã được cổ nhân áp vào trục Càn-Khôn cho ra hai quẻ Đại An và Vô Vong. Việt Dịch giải thích “Càn là tượng không gian dương tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘không gian dương tính’ có nghĩa là ‘không gian mở,’ là ‘trống rỗng, thông thoáng,’ là ‘có thể chứa đựng,’ là ‘có thể làm giảm áp suất,’ là ‘có thể che’.” Chỉ cần bao nhiêu đó thôi cũng đủ để thấy là nội hàm của quẻ “Càn -6 Quý” hoàn toàn dung nạp ý nghĩa Đại An của Lục Nhâm. Nói một cách khác, nếu mở rộng diễn giải thì Việt Dịch sẽ giải thích thêm “Càn không những là không gian mở, thông thoáng mà còn là không gian quân bình, ổn cố, điều độ, hài hòa, an bình.”

    Như vậy cũng có nghĩa là quẻ Đại An và ý nghĩa quẻ Đại An của Lục Nhâm có tương quan chặt chẽ với quẻ Hưu và ý nghĩa quẻ Hưu của Bát Môn. Điều này cũng dễ hiểu vì cả hai đều thuộc quẻ “Càn -6 Quý” trên HTBQ của Việt Dịch và được giải thích bởi nội hàm của quẻ Càn. Và quẻ Đại An của Lục Nhâm lẫn quẻ Hưu của Bát Môn đều là quẻ cát tường.
    Việt Dịch cũng giải thích “Khôn là không gian âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘không gian âm tính’ có nghĩa là ‘không gian đóng,’ là ‘khép kín, chắn,’ là ‘đã chiếm dụng, không chứa thêm,’ là ‘có thể nâng đỡ, chở,’ là ‘có thể làm tăng áp suất’.” Chỉ cần bao nhiêu đó thôi cũng đủ để thấy là nội hàm của quẻ “Khôn -2 Đinh” hoàn toàn dung nạp ý nghĩa “Nguy” tức Vô Vong của Lục Nhâm. Nói một cách khác, nếu mở rộng diễn giải thì Việt Dịch sẽ giải thích thêm “không những là không gian đóng, khép kín, không chứa thêm, làm tăng áp suất mà còn là không hổ trợ sự sống, là đánh mất tính cách hài hòa, là rớt vào bất ổn cao độ, là hủy diệt sự sống, là nguy, là không xong, là đưa đường dẫn lối đến cái chết.”
    Quẻ Vô Vong của Lục Nhâm có liên hệ với quẻ Cảnh của Bát Môn vì cả hai đều là “Khôn -2 Đinh” trên HTBQ của Việt Dịch và ý nghĩa của chúng cùng được giải thích bởi nội hàm của quẻ Khôn. Nhưng quẻ Cảnh không phải là một quẻ xấu mà là một quẻ trung tính trong khi đó quẻ Vô Vong lại là một quẻ hoàn toàn xấu. Điều này không có gì là không hợp lý. Vì đối với Việt Dịch, bất cứ quẻ nào của Bát Quái cũng có đủ cả hai mặt tốt và xấu. Nếu không có đủ cả âm dương thì nó đã không là lý của dịch.
    Như vậy, quẻ Đại An của Lục Nhâm và quẻ Hưu của Bát Môn là hai quẻ rớt vào trường hợp vừa “cùng” vừa “đồng.” Còn quẻ Vô Vong của Lục Nhâm và quẻ Cảnh của Bát Môn thì rớt vào trường hợp tuy “cùng” mà “dị.” Hai cặp này lại nằm trên cùng một trục và đối xứng nhau qua trục. Đây cũng là nằm trong lý âm dương của dịch.
    Nếu nhìn sâu thêm một chút nữa thì chúng ta cũng sẽ nhận ra là trục Càn-Khôn trong Lục Nhâm mang đặc tính là một trục thuần tịnh. Vì Càn tịnh nên mới Đại An và vì Khôn tịnh nên mới Vô Vong.
    LƯU NIÊN & TỐC HỈ –Lạc Việt Độn Toán diễn giải “Lưu niên thuộc Thuỷ, nghĩa là giữ lại thời gian. Có tính hiểm độc, lừa dối, âm mưu, là mưu toan, là sự do dự, lo lắng. Thuộc về tài sản là thất thoát, phá sản. Thuộc về sự việc là trì trệ. Là công việc không chính danh, có tính phiêu lưu mạo hiểm, là phi pháp, phi đạo đức. Là chết chóc tai nạn. Về bệnh thì liên quan đến máu huyết hoặc thận. Về phương vị là phương Bắc hoặc Tây Bắc. Về màu là màu đen hoặc xanh dương. Về độ số là 1 và 6.” và “Tốc hỷ thuộc Hoả, nghĩa là sự vui vẻ, may mắn, là nhanh chóng, là tốt đẹp sáng sủa. Về người là quí nhân hay giúp đỡ người khác, là người thông minh, tài cao học rộng. Về công việc là chính danh, về học vấn là sự thành đạt, có học vị cao, là những dịch vụ phục vụ cho vẻ đẹp, cho nhu cầu tinh thần. Về hiện tượng là thuộc về văn hóa, giáo dục. Là người mang những giá trị tinh thần cao quí. Về bệnh liên quan đến tim hoặc tinh thần. Về màu sắc là màu đỏ, về phương vị là hướng Nam hoặc Đông Nam. Về độ số là 2 và 7.” Những giải thích này cho thấy Lưu Niên được quy vào hành Thủy với cả hai độ số 1 và 6 còn Tốc Hỉ thì được quy vào hành Hỏa với cả hai độ số 2 và 7.
    Làm sao LVĐT lại có thể gom cả hai quái Khảm và Càn vào cho Lưu Liên, xác nhận qua cụm “Về phương vị là phương Bắc hoặc Tây Bắc. Về màu là màu đen hoặc xanh dương. Về độ số là 1 và 6” ??? Làm sao LVĐT lại có thể gom cả hai quái Khôn và Ly vào cho Tốc Hỉ, xác nhận qua cụm “Về màu sắc là màu đỏ, về phương vị là hướng Nam hoặc Đông Nam. Về độ số là 2 và 7.” ??? Không phải là sự xác nhập như thế này sẽ phá vở cấu trúc của ngôi sao 6 cánh [cũng là HTBQ-LạcViệt] mà LVĐT đã nhờ vào nó để thiết lập chỗ đứng cho bộ môn độn toán của Lạc Việt hay sao? Hay nói một cách khác là nếu chấp nhận lý giải “có tất cả 2 độ số” cho mỗi quẻ của Lục Nhâm thì cái hình ngôi sao 6 cánh sẽ không còn đúng nữa mà phải đổi qua hình cái thánh giá 4 cánh cho 4 quẻ Xích Khẩu, Tiểu Cát, Lưu Liên, Tốc Hỉ còn trung tâm thì cho hai quẻ Đại An và Vô Vong. Rồi giữa Lục Nhâm và Bát Môn sẽ không còn sự liên hệ khắng khít nữa, mà sự khắng khít đó chỉ có thể thành lập qua HTBQ-LạcViệt. Có thật sự đây là chủ ý của học giả NVTA? Không thể nào! Vì nếu là chủ ý thì tại sao còn đưa ra hình ngôi sao 6 cánh? Như tác giả đã từng nói, lìa bỏ tinh yếu HTBQ của Lạc Việt để rồi chỉ dùng lý thuyết ngũ hành mà phân bố 6 quẻ của Lục Nhâm là một sai lầm. Nếu học giả NVTA không cố ý làm điều đó mà lại tự trói vào điều đó thì quả thật là có một sự “xẩy chân” trong tiến trình thiết lập lý thuyết cho LVĐT. Nó phá mất cái gọi là “khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh, nhất quán . . .”
    Việt Dịch giải thích “Khảm là tượng năng lượng âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘năng lượng âm tính’ có nghĩa là ‘lạnh, trầm xuống, chảy tràn vào chỗ thấp, rung chuyển khi bên ngoài xúc chạm vào, tối tăm, nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ của môi trường, có thể làm giảm nhiệt, có thể hóa hàn, có thể làm đông lạnh, có thể làm tắt.’ . . . không những là thấm xuống, là chảy tràn vào chỗ thấp mà còn là nước, là dòng chảy . . . không những là năng lượng âm tính, là tối tăm mà còn là thâm hiểm, là ưu lự, là toan tính, là bày mưu, là nghĩ kế, là trí, là mưu trí, là làm kế hoạch, là đưa ra quyết sách, là thâm sâu, là cái vực, là uyên, là hiểu biết đến cùng cực, là lãm.” Nếu áp dụng nội hàm của “Khảm + 1 Nhâm” trong Việt Dịch để giải nghĩa chữ Lưu Liên của Bát Môn thì có lẽ nó sẽ được giải thích “Khảm không những là dòng chảy mà còn là trôi dạt, là lưu đày, là lưu nhậm, là đi xa; không những là dòng chảy mà còn là miên man, là liên tục, là miệt mài, là không dứt được, là quyến luyến, là giữ lại không cho đi, là ngăn trở; không những là thấm xuống, là chảy tràn xuống chỗ thấp mà còn là ứ đọng, là đình trệ, là trể nải. Tìm hiểu ý nghĩa của hai chữ Lưu Liên trong từ điển chữ Hán thì thấy Lưu Liên (a) 留連 là quyến luyến; (B) 留 còn lại, đợi dịp, lưu giữ, đình trệ; © 流 trôi dạt, lưu đày, dòng chảy. Còn trong từ
    điển chữ Nôm thì Lưu file:///C:/Users/User/AppData/Local/Temp/msohtml1/01/clip_image007.jpg Liên (a) là miệt mài, mê mết, không dứt được; (B) là dính chặt, không rời được (nói về tình cảm). Những giải thích nàycho thấy là nội hàm của quẻ Khảm trong Việt Dịch dung nạp ý nghĩa của chữ Lưu Niên ở mức độ rất cao.
    Quẻ Lưu Liên của Lục Nhâm và quẻ Khai của Bát Môn có liên hệ khắng khít vì cùng ở vị trí “Khảm +1 Nhâm” và cùng được giải thích bởi nội hàm của quẻ Khảm. Tuy nhiên Khai là quẻ cát tường trong khi Lưu Liên lại là quẻ xấu. Điều này không có gì lạ, vì như đã từng nói, trong Việt Dịch không có một quẻ nào trong Bát Quái có nội hàm hoàn toàn xấu hoặc hoàn toàn tốt. Thêm một lần nữa chúng ta thấy sự thể hiện của cái gọi là “cùng mà không đồng” trong dịch lý.


    KẾT HỢP BÁT MÔN LỤC NHÂM TRÊN CƠ SỞ VIỆT DỊCH ĐỒ
    VÀ CƠ SỞ BÁT QUÁI LẠC VIỆT

    Sự khác biệt căn bản giữa Việt Dịch và LVĐT không nằm ở cấu trúc tổng quát, cũng không nằm ở lý giải ý nghĩa của các cung, mà nằm ở sự khác biệt giữa HTBQ-LạcViệt và HTBQ trong Việt Dịch Đồ của Việt Dịch. Sự khác biệt đó chỉ nằm vỏn vẹn trong 3 quái Tốn, Đoài và Chấn. Đúng sai, sâu cạn đã được phân tích rồi và cần được đánh giá bởi những học giả khác.
    Theo ý kiến riêng của tác giả, khái niệm điên đảo dịch của LVĐT là một khái niệm rất sáng tạo và độc đáo. Nhưng có phải chăng chính sự sáng tạo và độc đáo đó mà nó đã che khuất những bất cập còn ẩn ở bên trong một lý thuyết??
    Khái niệm kết hợp Bát Môn và Lục Nhâm để thành lập phương pháp độn toán Lạc Việt mang tên LVĐT là một khái niệm tuyệt vời và là một khám phá không thể coi thường. Việt Dịch Đồ của Việt Dịch, với hai vòng vận hành ngược chiều nhau, đã chứng minh sự kết hợp như vậy là có cơ sở [quý vị có thể tìm đọc cuốn Việt Dịch của Hà Hưng Quốc để phối kiểm lại giá trị của câu phát biểu này]. Tác giả tuyên dương công lao này của học giả NVTA. Không có LVĐT của ông chưa chắc đã có bài viết này và những khám phá bổ ích ngày hôm nay.
    Và, dưới ánh sáng của những gì đã được phân tích thì chúng ta có thể khẳng định là Việt Dịch Đồ nói riêng và Việt Dịch nói chung có một khả năng dung nạp cao độ đối với Bát Môn và Lục Nhâm.
    Không phải chỉ có vậy mà thôi, qua nghiên cứu này chúng ta còn thấy Việt Dịch Đồ dường như có khả năng giải quyết những bất cập trong nhiều lãnh vực lý học mà từ lâu rồi chưa thể giải quyết được. Chỉ là dường như thôi.
    Nếu đã chấp nhận sự kết hợp của Bát Môn và Lục Nhâm là có cơ sở và được hổ trợ bởi tinh yếu của Việt Dịch thì, trên cơ sở của Việt Dịch Đồ, vòng vận hành của Bát Môn và Lục Nhâm phải tuân thủ quy luật vận hành của Việt Dịch Đồ. Nói một cách khác là 8 cửa của Bát Môn phải được an và bấm độn thứ tự trước sau theo vòng của chiều kim đồng hồ, khởi từ Sinh môn nằm ở Dần vị, còn 6 quẻ của Lục Nhâm phải được an và bấm độn thứ tự trước sau theo chiều ngược kim đồng hồ, khởi từ Đại An nằm ở Tí vị, như đã được trình bày trên Việt Dịch Đồ. Còn tại sao Bát Môn khởi từ Sinh môn và ở Dần vị và tại sao Lục Nhâm khởi từ quẻ Đại An ở Tí vị thì đã được giải thích tường tận ở trên.
    Xin lưu ý một điều là tuy một cái thì theo chiều kim đồng hồ còn một cái theo chiều ngược kim đồng hồ nhưng cả hai đều là thuận hành cả. Hãy thử dùng bàn tay trái để bấm độn Bát Môn. Chỗ khởi đầu là ngay lóng gốc của ngón trỏ [Dần vị] rồi từ đó đi lên lóng giữa của ngón trỏ -> lóng ngọn của ngón trỏ -> qua lóng ngọn của ngón giữa -> qua lóng ngọn của ngón đeo nhẫn -> xuống lóng giữa của ngón đeo nhẫn -> xuống lóng gốc của ngón đeo nhẫn -> rồi qua lóng gốc của ngón giữa, tức là đi vòng theo chiều kim đồng hồ. Thử dùng bàn tay phải để bấm độn Lục Nhâm. Chỗ khởi đầu là ngay lóng gốc của ngón trỏ rồi từ đó đi lên lóng ngọn của ngón trỏ -> qua lóng ngọn của ngón giữa -> qua lóng ngọn của ngón đeo nhẫn -> xuống lóng gốc của ngón đeo nhẫn -> rồi qua lóng gốc của ngón giữa, tức là đi vòng theo chiều ngược kim đồng hồ. Nó không khó để chúng ta nhận ra là cả hai đều là thuận hành phải không?
    Bây giờ hãy đặt bàn tay phải lên trên bàn tay trái và trong đầu hãy “chuyển” những vị trí của Lục Nhâm từ bàn tay phải qua bàn tay trái.
    Rồi thì, thử dùng duy nhất bàn tay trái để bấm độn cho cả hai. Bát Môn thì vẫn y như cũ còn Lục Nhâm thì cần điều chỉnh, có đúng không? Chỗ khởi đầu cho Lục Nhâm là ngay lóng gốc của ngón đeo nhẫn rồi từ đó đi lên lóng ngọn của ngón đeo nhẫn -> qua lóng ngọn của ngón giữa -> qua lóng ngọn của ngón cái ->xuống lóng gốc của ngón cái -> rồi qua lóng gốc của ngón giữa, tức là đi vòng theo chiều ngược kim đồng hồ. Sự điều chỉnh này không khác nào đem bàn tay phải đặt trên bàn tay trái [cả hai đều lật ngửa] để nhập Bát Môn và Lục Nhâm lại trên cùng một bàn tay.
    Như vậy thì Đại An sẽ nằm ở lóng gốc của ngón đeo nhẫn [Tí vị], Xích Khẩu nằm ở lóng ngọn của ngón đeo nhẫn, Tốc Hỉ nằm ở lóng ngọn của ngón giữa, Vô Vong nằm ở lóng ngọn của ngón trỏ, Tiểu Cát nằm ở lóng gốc của ngón trỏ, và Lưu Niên nằm ở lóng gốc của ngón giữa, giống như hình Bàn Tay Lục Nhâm theo Việt Dịch Đồ cho thấy bên dưới.
    Vị trí của 6 quẻ trên hình Bàn Tay Lục Nhâm an theo Việt Dịch Đồ hoàn toàn giống với vị trí của 6 quẻ trên ngôi sao 6 cánh Lục Nhâm của LVĐT. Hay nói một cách khác là Việt Dịch Đồ hoàn toàn dung nạp cách an Lục Nhâm của LVĐT.
    Việt Dịch giải thích “Ly là tượng năng lượng dương tính. . . . không những là năng lượng dương tính mà còn là sinh lực dương tính, là sức sống thể hiện, là giai đoạn thai nhi lớn nhanh trong bụng mẹ, là giai đoạn con gái lớn nhanh trong vòng tay mẹ, là giai đoạn trước khi làm mẹ, là trung nữ, là con gái giữa, là hậu bối bên mẹ, là tánh khí sôi nổi, là sự hưng phấn, là bồng bột, là nhiệt tình, là hăng hái, là chân tình, là hiến dâng, là con tim, là tạng tâm; không những là năng lượng dương tính mà còn là năng lượng thanh nhẹ, là nguyên thần, là lễ nghi [nguyên thần là gốc của của lễ nghi, nhiệt tình]; không những là nóng, là tỏa sáng mà còn là nhan sắc đẹp sáng, là phong cách nóng bỏng, là gợi cảm, là hấp dẫn, là quyến rũ. . .” Nội hàm của chữ Ly trong Việt Dịch mô tả dạng-thể-tính-trạng-hành của “năng lượng dương tính” trong thế giới vi diệu sinh hóa. Nếu áp dụng nội hàm của quẻ Ly để diễn giải chữ Tốc Hỉ của Lục Nhâm thì Việt Dịch cũng sẽ nói “Tốc Hỉ là nhanh chóng, là điều vui, là sự sáng, là quới nhân giúp đỡ, là việc tốt lành.” Những giải thích này cho thấy là nội hàm của quẻ Ly trong Việt Dịch dung nạp ý nghĩa của chữ Tốc Hỉ ở mức độ rất cao. Quẻ Tốc Hỉ của Lục Nhâm và quẻ Đỗ của Bát Môn có liên hệ khắng khít vì cùng ở vị trí “Ly +7 Bính” và cùng được giải thích bởi nội hàm của quẻ Ly. Quẻ Tốc Hỉ của Lục Nhâm lẫn quẻ Đổ của Bát Môn đều là quẻ cát tường.
    Như vậy, quẻ Tốc Hỉ của Lục Nhâm và quẻ Đ của Bát Môn là hai quẻ rớt vào trường hợp vừa “cùng” vừa “đồng.” Còn quẻ Lưu Liên của Lục Nhâm và quẻ Khai của Bát Môn thì rớt vào trường hợp tuy “cùng” mà “không đồng.” Hai cặp này lại nằm trên cùng một trục và đối xứng nhau qua trục. Đây cũng là nằm trong lý âm dương của dịch.
    Tóm lại, qua những phân tích vừa rồi chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy Việt Dịch Đồ sẵn sàng và hoàn toàn dung nạp 6 chữ của Lục Nhâm cũng như dung nạp diễn giải của LVĐT về 6 chữ đó. Cũng không khó để chúng ta nhận thấy Việt Dịch Đồ khế hợp với cấu trúc của Lục Nhâm một cách hoàn hảo, và có thể khẳng định là hoàn hảo hơn Hà Đồ Bát Môn của Lạc Việt.

    Posted Image

    Tuy nhiên có một điều tác giả vẫn không thể hiểu là vì sao mà vị trí của 6 quẻ trên hình Bàn Tay Lục Nhâm theo tinh yếu của LVĐT lại không khế hợp với chính ngôi sao 6 cánh Lục Nhâm [Hậu Thiên Bát Quái Lạc Việt] cũng là tinh yếu của LVĐT. Xem hai hình bên dưới.
    Posted Image
    Có phải chăng vì muốn giữ nguyên cách bấm độn được lưu hành ngoài nhân gian??? Chính học giả NVTA đã xác nhận là đã có nhiều phiên bản lưu hành. Mà khi đã có nhiều phiên bản lưu hành thì độ khả tín của tất cả phiên bản cần được cứu xét thật kỷ để gạn lọc. Lấy gì để cứu xét và gạn lọc, nếu không phải là dựa vào những tinh yếu của LVĐT? Lìa bỏ tinh yếu để chấp nhận một phương pháp bấm độn lưu hành thiếu khả tín mà không có sự giải thích thoả đáng chẳng phải là một sự dễ duôi có thể gây sai lầm nghiêm trọng hay sao?
    Học giả NVTA cũng có nói là “còn một dị bản thứ ba khác là các cung Đại An, Tốc hỷ, Tiểu cát bị lệch sang phải và thay chỗ cho nhau.” Dòng chữ ngắn ngủi này có thể là một đầu mối quan trọng cho thấy cái “lệch sang bên phải” của quẻ Đại An rất có thể là bằng chứng cho thấy cách an quẻ và bấm độn của phiên bản đó là có cơ sở vì nó giống với cách an và bấm độn theo tinh yếu của Việt Dịch Đồ.
    Sự lọng cọng, bất nhất giữa ngôi sao 6 cánh Lục Nhâm của LVĐT và Bàn Tay Lục Nhâm của LVĐT là vấn đề của Lạc Việt Độn Toán. Sự bất cập này của LVĐT chỉ làm suy yếu chính luận thuyết của LVĐT chứ không làm suy yếu những bằng chứng về khả năng dung nạp của Việt Dịch đối với LVĐT.

    KẾT LUẬN

    Với Việt Dịch thì vấn đề truy cứu khả năng dung nạp của nó đối với Bát Môn và Lục Nhâm một cách riêng lẽ hay một cách tổng hợp đã được xác định rất rõ ràng. Đó là, Việt Dịch không những có khả năng dung nạp Bát Môn và Lục Nhâm một cách toàn vẹn mà còn có khả năng kết hợp Bát Môn và Lục Nhâm thành một, một cách khít khao, dựa trên tinh yếu của Việt Dịch Đồ.
    Posted Image

    Và, chỉ có Việt Dịch Đồ mới có thể cho được một sự giải thích thực sự hợp lý vì sao Bát Môn và Lục Nhâm có thể kết hợp với nhau.
    Không những vậy, tinh yếu của Việt Dịch Đồ còn chứng minh cho thấy sự hợp lý trong cách bấm độn Bát Môn và Lục Nhâm. Bát Môn khởi từ Sinh môn, ở Dần vị, và chuyển dịch theo chiều kim đồng hồ. Lục Nhâm khởi từ Đại An, ở Tí vị, và chuyển dịch theo chiều ngược kim đồng hồ.

    Posted Image

    Sau cùng, như bài viết này cho thấy, tinh yếu của Việt Dịch Đồ dường như còn có khả năng giải quyết những bất cập trong nhiều lãnh vực lý học đông phương mà từ lâu rồi chưa thể giải quyết được. Có đúng như vậy hay không thì còn phải chờ xem.
    Hết.



    nguồn: http://vietdich.blog...-toan_7781.html

  9. Bát Môn, Lục Nhâm Và Lạc Việt Độn Toán Dưới Lăng Kính Việt Dịch - Của Hà Hưng Quốc

    VIỆT DỊCH ĐỒ

    Tinh yếu của Việt Dịch nằm ở một đồ hình H1 bên dưới, tạm gọi là Việt Dịch Đồ, trong đó sự kết hợp giữa Hậu Thiên Bát Quái với Hà Đồ cho ra hai phiên bản nằm chồng lên nhau nhưng một nằm ở bên trong với sự vận hành nghịch chiều kim đồng hồ và một nằm ở vòng ngoài với sự vận hành theo chiều kim đồng hồ. Vòng bên ngoài đại diện cho sự thể hiện, hành khí dương, ngoại giới, thiên nhiên, hoặc khách thể. Vòng bên trong đại diện cho sự tiềm ẩn, hành khí âm, nội giới, con người, hoặc chủ thể.

    Posted Image

    H1: Việt Dịch Đồ

    Việt Dịch Đồ thoát thai từ hai hai vế [2 cụm chữ] chứa đựng huyền nghĩa thâm sâu. Vế thứ nhất là “Vô Cực nhi Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh càn khôn vạn vật.” Vế thứ hai là “Thiên Nhất sanh Thủy, Địa Lục thành chi, Địa Nhị sanh Hỏa, Thiên Thất thành chi, Thiên Tam sanh Mộc, Địa Bát thành chi, Địa Tứ sanh Kim, Thiên Cửu thành chi, Thiên Ngũ sanh thổ, Địa Thập thành chi.” Hai vế tổng cộng có tất cả 67 lời. Và sáu mươi bảy lời đó là “tổng trì” của Việt Dịch.

    Nhìn sâu vào Việt Dịch Đồ chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra ba điểm quan trọng:

    • Điểm thứ nhất là Hậu Thiên Bát Quái (HTBQ) trong Việt Dịch Đồ không giống với bất cứ phiên bản nào từ trước đến nay. So với những phiên bản của người Hoa thì khác rất xa. HTBQ của Văn Vương chỉ có được 3 quái Càn, Khảm, Cấn là trùng vị trí với các quái trong Việt Dịch Đồ còn 5 quái kia đều sai chỗ. So với HTBQ của Lạc Việt thì thấy có phần gần nhau. Có đến 5 quái trong HTBQ của Lạc Việt là Càn, Khảm, Cấn, Khôn, Ly trùng vị trí với các quái trong Việt Dịch Đồ còn 3 quái kia thì sai chỗ.
    • Điểm thứ hai là quái, độ số, thiên can, ngũ hành và âm dương trong Việt Dịch Đồ luôn luôn đi chung nhau thành 8 tập hợp, dầu là vận hành thuận chiều kim đồng hồ hay nghịch chiều kim đồng hồ, dầu là phối vào 9 cung bàn hay phối vào 12 cung bàn. Nhìn vào hình Việt Dịch Đồ là chúng ta đã có thể nhận ra “sự kết hợp bất khả ly” giữa những yếu tố này. Và vì vậy, khi đã nhận ra điều này trên Việt Dịch Đồ thì chúng ta cũng sẽ nhận ra là, HTBQ vòng ngoài thật ra không khác HTBQ vòng trong.
    • Điểm thứ ba là Hà Đồ không phối với HTBQ [theo ý nghĩa thông thường phối là kết hợp chúng lại với nhau] mà Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái thực ra là một đôi song sinh [do đó nếu muốn thì có thể tách chúng ra làm hai chứ tự bản thân thì chúng đã được “đẻ ra trong cùng một bọc” không cần phải phối].

    Việt Dịch Đồ là tinh yếu của Việt Dịch. Và như trong sách Việt Dịch đã viết:

    Đồ hình [H1] [tức Việt Dịch Đồ] được cho là ‘một kết hợp trọn vẹn và kỳ ảo’ là vì việc trời, việc đất, việc người đồng thể hiện. Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý của trời, lý của đất, lý của người đồng thể hiện. Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý sự của cá nhân, lý sự của tập thể, lý sự của nhân loại đồng thể hiện. Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý sự vô hình, lý sự hữu hình, lý sự qui ước đồng thể hiện. Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì nó hàm chứa minh triết của Đông Phương. Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì nó vạch ra phạm trù đồng quy và hiệp nhất của các giáo lý Đông-Tây.”

    Kỳ ảo của Việt Dịch Đồ thể hiện tùy theo góc độ của từng vấn đề, khi đưa một số chú giải vào hình, thí dụ như H2 phía dưới.

    Posted Image

    Nhìn vào vòng trong, vòng ngược chiều kim đồng hồ, của Việt Dịch Đồ chúng ta thấy ngay hai vị trí SINH và TỬ. TỬ nằm ở phía Tây, Chấn +9 Canh Kim, còn SINH nằm ở phía Đông, Tốn +3 Giáp Mộc. Nhìn vào vòng ngoài của Việt Dịch Đồ, vòng thuận chiều kim đồng hồ, chúng ta cũng thấy hai vị trí SINH và TỬ. TỬ cũng nằm hướng Tây, Chấn +9 Canh Kim, đóng ở Thân vị. SINH cũng nằm ở hướng Đông, Tốn +3 Giáp Mộc, đóng ở Dần vị.

    Trước hết chúng ta hãy suy nghiệm về cái vòng tròn sinh hoá của con người, vòng tròn chỉ sự chuyển dịch ngược chiều kim đồng hồ trên Việt Dịch Đồ. Với vòng tròn bên trong này của Việt Dịch Đồ này chúng ta thấy chỉ có hai chữ SINH và TỬ ở hai đầu Đông và Tây. Nhưng phải coi chừng vì ẩn trong vòng tròn sinh hóa c ủa con người thực ra có đến hai chu kỳ. Một chu kỳ gồm một nửa là từ TỬ tới SINH và một nửa còn lại là từ SINH tới TỬ [nhìn vào hai đường vẽ màu xanh lá]. SINH ở đây có nghĩa là được ĐẺ RA và TỬ ở đây là lúc HẾT THỞ. Tạm gọi nó là chu kỳ ĐẺ RA – HẾT THỞ. Còn chu kỳ thứ hai là một chu kỳ khác [nhìn vào đường vẽ màu tím], một chu kỳ chỉ về sự hiện hữu của một con người, mà nơi bắt đầu và nơi chấm dứt của sự hiện hữu đó đều nằm ngay chữ TỬ. Chấm dứt một chu kỳ cũ và bắt đầu một chu kỳ mới. Sinh tử liền nhau thành vòng tròn bất tận. Ở chỗ chữ TỬ đó là cái mốc đánh dấu nơi chấm dứt và cũng là nơi bắt đầu của một chu kỳ hiện hữu của con người. Ở chỗ chữ TỬ đó là cái mốc đánh dấu nơi ĐẾN với thế gian và cũng là nơi ĐI khỏi thế gian. Tạm gọi nó là chu kỳ ĐẾN/ĐI để dễ phân biệt. Và cái chu kỳ ĐẾN/ĐI là một vòng tròn bất tận. Như vậy thì đã quá rõ ràng là chỗ chữ SINH không phải là nơi bắt đầu của sự sống, sự hiện hữu, sự có mặt trong thế gian này. SINH chỉ là nơi “ló mặt ra” để “nhập cuộc” vào dòng sinh động của thế gian này mà thôi chứ còn sự sống, sự hiện hữu, sự có mặt trong thế gian này đã bắt đầu từ chỗ của chữ TỬ. Có nhìn thấy rõ được hai vòng tròn này trên Việt Dịch Đồ thì mới thấy hết cái bí ảo và diệu dụng của Việt Dịch Đồ và cái minh triết của Đông Phương. Khái niệm có hai vòng chu kỳ không phải là khó hiểu nhưng rất khó thấy nếu không được chỉ vạch ra và cũng dễ lầm vì cả hai đều được gọi là “chu kỳ sinh tử” của con người.

    Chúng ta hãy suy nghiệm về cái vòng tròn sinh hóa của vạn vật, vòng tròn màu đen bên ngoài vẽ theo khuôn vuông có những mũi tên chỉ hướng chuyển dịch thuận chiều kim đồng hồ, trên Việt Dịch Đồ. Cũng có hai chữ SINH và TỬ nằm trong vòng tròn đó. Chữ SINH nằm ở Dần vị là chỗ “chui ra khỏi đất” của cây cỏ. Chữ TỬ nằm ở Thân vị là chỗ “tàn tạ, héo úa” của cây cỏ. Từ chỗ SINH tới chỗ TỬ là một nửa chu kỳ của vạn vật và một nửa này “bộc lộ ra bên ngoài” sức sống của vạn vật. Từ chỗ TỬ tới chỗ SINH là một nửa còn lại chu kỳ của vạn vật và một nửa này “thu về lại bên trong” sức sống của vạn vật. SINH là chỗ bắt đầu của giai đoạn “bộc lộ ra ngoài” và cũng là chỗ chấm dứt giai đoạn “thu về lại bên trong.” TỬ là chỗ chấm dứt giai đoạn “bộc lộ ra ngoài” và cũng là chỗ bắt đầu của giai đoạn “thu về lại bên trong.” Bên cạnh cái chu kỳ SINH-TỬ vừa mô tả còn có một chu kỳ khác cũng vận hành cùng lúc. Đó là chu kỳ KHAI/BẾ. Trên Việt Dịch Đồ có chữ KHAI ở Tí, chữ TỊCH ở Sữu nằm cạnh chữ SINH ở Dần. Chúng đại diện cho câu nói “Thiên khai ư Tí, Địa tịch ư Sửu, Nhân sinh ư Dần 天開於 子, 地闢於丑, 人生於寅.” Theo cách dịch của người khác thì “Thiên khai ư Tí ” có nghĩa là “Trời khai triển từ Hội Tí.” Ở đây thì chúng ta không đủ khả năng để quyết đoán chuyện khai thiên lập địa cho nên chỉ muốn bàn luận trên cơ sở có thể nắm bắt được và theo đó chúng ta hiểu Thiên là Càn, là Dương và Khai 開 là mới, là bắt đầu, hàm ý chỗ bắt đầu của một chu kỳ mới. “Thiên khai ư Tí” có nghĩa là khí Dương bắt đầu ở Càn Tí. Mà đã là chỗ bắt đầu của một chu kỳ mới thì cũng là chỗ chấm dứt của một chu kỳ cũ trong vòng tròn sinh hoá không ngừng nghĩ. Như vậy thì chỗ KHAI mở ra chu kỳ mới phải được hiểu ngầm cũng là chỗ BẾ 閉 tức đóng lại chu kỳ cũ. Tại cái mốc KHAI/BẾ đó trong chu kỳ vận hành của khí thì đó là điểm cực âm. Mà âm cực thì dương sinh. “Địa tịch ư Sửu được người khác hiểu là “Đất mở từ Hội Sửu.” Ở đây chúng ta hiểu Tịch là lặng lẽ. Và “Địa tịch ư Sửu có nghĩa là Đất lặng lẽ ở Sửu. Tại sao lặng lẽ ở Sửu? Vì thời tiết cực lạnh của mùa Đông. Địa ở đây là Hàn Thổ, là đất nằm ở vị trí Quí Sửu thời điểm mà tiết khí Tiểu Hàn và Đại Hàn bao trùm mặt đất, lúc mà tất cả sinh vật đều đi vào đông miên. Vì không còn thấy được cái sinh động của sự sống nên nói là lặng lẽ. Tịch 寂 ở đây phải là lặng lẽ. Vì nếu Tịch 闢 là mở, là vỡ đất ra làm ruộng thì thử hỏi làm sao làm ruộng ở tiết khí Đại Hàn? Địa ỡ đây không phải là Khôn như có người lầm tưởng để rồi cho rằng Khôn nằm cạnh Càn là hợp lý và dùng đó để triển khai hý luận, điên đảo qui luật căn bản Càn-Khôn. Tuy thể hiện của thiên nhiên lúc này là sự lặng lẽ bao trùm trên mặt đất, nhưng bên dưới sự lặng lẽ đó khí Dương vẫn tiếp tục âm thầm tăng trưởng để rồi đến Dần thì bộc lộ ra bên ngoài thành sự sống tưng bừng. “Nhân sinh ư Dần” được người khác hiểu là “Người sinh ra ở Hội Dần.” “Nhân” cũng là một phần tử của cộng đồng “vạn vật.” Chỉ vì người có tánh linh hơn hết nên được chọn làm đại biểu của vạn vật. Vì thế chúng ta hiểu “Nhân sinh ư Dần” có nghĩa là “người và vạn vật đều sinh ra ở Dần,” tức là tại vị trí Tốn +3 Giáp trên Việt Dịch Đồ. Và tương quan này thể hiện rất rõ ở mốc SINH trong vòng tròn sinh hóa của vạn vật với mốc SINH trong vòng tròn sinh hóa của con người. Tương quan đó được đại diện qua cụm “Tốn +3 Giáp.” Trở lại với chu kỳ KHAI/BẾ, chúng ta đừng quên SINH rất khác với KHAI. SINH là chỗ sự sống của vạn vật bộc lộ ra bên ngoài, là chỗ cây cỏ chui ra khỏi đất, là chỗ con người chui ra khỏi bụng mẹ. KHAI là chỗ khí Dương bắt đầu, là chỗ khí Âm cực thịnh trong chu kỳ chuyển dịch của khí. Chu kỳ KHAI/BẾ của vạn vận cũng giống như chu kỳ ĐẾN/ĐI của con người. Còn chu kỳ SINH-TỬ của vạn vật cũng giống với chu kỳ ĐẺ RA - HẾT THỞ của con người.

    VIỆT DỊCH ĐỒ VÀ BÁT MÔN, LỤC NHÂM
    Với Việt Dịch Đồ thì chúng ta có thể xếp tám chữ của Bát Môn và sáu chữ của Lục Nhâm vào cùng một đồ hình. Tám chữ Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai, Hưu được phối vào HTBQ vòng ngoài với thứ tự trước sau theo chiều kim đồng hồ và chữ Sinh nằm ở “Tốn +3 Giáp.” Lý do tại sao khởi từ chữ Sinh sẽ được giải thích sau. Sáu chữ Đại An, Xích Khẩu, Tốc Hỉ, Vô Vong, Tiểu cát, Lưu Niên được phối vào HTBQ vòng trong với thứ tự trước sau theo chiều nghịch kim đồng hồ và chữ Đại An nằm ở “Càn -6 Quý.” Hai cung “Chấn +9 Canh” và “Đoài -4 tân” kết hợp thành một cung để an Xích Khẩu vào đó. Hai cung “Cấn -8 Ất” và “Tốn +3 Giáp” kết hợp thành một cung để an Tiểu Cát vào đó. Kết quả cho thấy trong đồ hình H3A và H3B bên dưới:Posted Image

    H3A: Phối 8 Chữ Bát Môn và 6 chữ Lục Nhâm lên Việt Dịch Đồ

    Posted Image

    H3B: Phối 8 Chữ Bát Môn và 6 chữ Lục Nhâm lên Việt Dịch Đồ (Bỏ Chú Thích)

    Hai đồ hình H3A và H3B hoàn toàn giống nhau, chỉ là H3B đơn giản hơn vì không còn những chú thích.

    XÉT VIỆT DỊCH ĐỒ VÀ LẠC VIỆT ĐỘN TOÁN

    TRONG TƯƠNG QUAN VỚI BÁT MÔN LỤC NHÂM

    Từ đồ hình trên chúng ta có thể trình bày một cách khác. Đem vòng ngoài của hình H3B phối vào 9 cung chúng ta sẽ được cái Bánh Chưng Bát Môn. So hình Bánh Chưng Bát Môn với hình Bàn Tay Bát Môn của Lạc Việt Độn Toán thì không khác. So hình Bánh Chưng Bát Môn với hình Hà Đồ Bát Môn của LVĐT --nếu tạm quên các quái mà chỉ xét một cách tổng quát các tập hợp của âm dương, độ số và ngũ hành-- thì cũng có thể nói là giống nhau gần như hoàn toàn, ngoại trừ một khác biệt nhỏ.

    Posted Image

    Khác biệt đó là, với hình Hà Đồ Bát Môn, nhìn vào nhóm Khai Hưu hành Thủy, thì “Khai độ số 1” nằm ở cung độ số 6 còn “Hưu độ số 6” lại nằm ở cung độ số 1. Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao đã xác định Khai có độ số 1 Dương Thủy lại nằm ở cung có độ số 6 Âm Thủy và xác định Hưu có có độ số 6 Âm Thủy lại nằm ở cung có độ số 1 Dương Thủy? Với hình cái Bánh Chưng Bát Môn, cũng nhìn vào nhóm Khai Hưu, thì Khai độ số 1 Dương Thủy nằm chính xác ở cung độ số 1 Dương Thủy [cung +1 Nhâm Khảm] và Hưu độ số 6 Âm Thủy nằm chính xác ở cung độ số 6 Âm Thủy [-6 Quý Càn]. Tình trạng này đều thấy ở các hành còn lại, ngoại trừ hành Thổ.

    Như chúng ta đã biết, Bánh Chưng Bát Môn là sản phẩm lấy ra từ Việt Dịch Đồ. Còn Hà Đồ Bát Môn là sản phẩm làm ra từ HTBQ của Lạc Việt. Chỉ dựa trên sự thật này, trên căn bản giải thích sự hợp lý trong việc phân bố độ số và ngũ hành của Bát Môn, liệu chúng ta có dám nói Việt Dịch Đồ đã có phần hợp lý hơn HTBQ-LạcViệt???

    Xét đến ý nghĩa từng cửa của Bát Môn và ý nghĩa của từng quái chúng ta thấy:

    SINH –Lạc Việt Độn Toán giải thích “Sinh nghĩa là Sống, là sự bắt đầu (cho một việc, một cái gì đó), là ý tưởng ban đầu, là mầm cây, là cỏ, là cây nhỏ, là loại cây mềm yếu (cây Liễu chẳng hạn), là mùa xuân, là sự hứa hẹn, là hy vọng… Cung Sinh là Âm Mộc, nhưng nghĩa Sinh thuộc Dương Mộc. Độ số là 3. Về phương vị là chính Đông. Về màu sắc là xanh lá mạ, xanh non.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Sinh hoàn toàn thuộc về “Tốn +3 Giáp” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . . nghĩa Sinh thuộc Dương Mộc. Độ số là 3. Về phương vị là chính Đông. .” và vị trí của chữ Sinh lạị nằm ở “Dần vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “+3 Giáp Tốn” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Tốn +3 Giáp” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng chánh Đông [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Dần của vòng ngoài [vị trí trên 9 cung hoặc 12 cung] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Dần vị mà không nói là ở hướng ĐB. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Sinh. Việt Dịch giải thích “Tốn là tượng vật chất vô hình âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘vật chất vô hình âm tính’ có nghĩa là ‘không khí, từ trường, hoá âm, làm cho phát ra âm thanh, làm cho nghe tiếng.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất vô hình của vũ trụ vật lý. Chúng có khả năng mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất vô hình trong thế giới sống. Do đó, Tốn không những là vật chất vô hình vật lý mà còn là vật chất vô hình theo qui ước xã hội, là tài sản vô hình (intangible asset), là bản quyền (copyright), là thương hiệu (name brand), là giá trị của thương hiệu (goodwill); không những là từ trường mà còn là sức hút của trái đất, là trọng lực, là nam châm, là từ hóa, là làm cho có từ trường, là từ trường của vật thể, không những là từ trường vật lý mà còn là từ trường của con người, là sức thu hút, là sức hấp dẫn [không do nhan sắc như ở ly]; không những là không khí mà còn là gió, là nhập vào, là len vào, là thâm nhập, là len lén, là nhè nhẹ, là rụt rè, là thập thò, là e lệ, là nhún nhường, là bâng khuâng, là lãng đãng, là dìu dịu, là bềnh bồng, là quấn quít, là ngây ngất, là choáng váng, là vấn vương, là nhớ nhung; không những là không khí, là gió mà còn là hơi thở, là mây trời, là phiêu bồng, là lan tỏa, là bay, là lay động, là mềm mại, là mỏng manh; không những là không khí, là hơi thở, là nhập vào mà còn là hơi thở đầu đời nhập vào dòng sống, là chào đời, là nứt mộng, là đâm chồi, là nhú ra, là lú ra, là giai đoạn sơ sinh, là vô tư, là ngây thơ, là nhân hậu, là nhu hòa, là nguyên tánh [nguyên tánh là gốc của nhu hoà, nhân hậu], là tạng can; không những là âm thanh, là làm phát ra âm thanh mà còn là tiếng nói, là nhạc, là dư luận, là truyền thông, là phát sóng, là truyền tải thông tin, là tuyên truyền; không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy ước muốn, làm cho nghe thấy ý kiến, là đệ đạt nguyện vọng, là đề nghị yêu sách, là trình bày ý kiến, là đưa ra quan điểm, là thố lộ ý nghĩ, là tiết lộ nội tâm, là tâm sự với người khác; không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy sự thật, là bàn bạc, là hội thảo, là nghiên cứu, là điều tra, là tường trình, là báo cáo, là phản hồi tin tức; Tốn nằm sau Khôn vừa đối lập với Chấn tức là vừa nằm sau giai đoạn làm mẹ, vừa nằm cạnh mẹ, vừa nằm ở vị trí đối lập với lão nam, trưởng nam nên là lão nữ, là trưởng nữ, là trưởng bối bên mẹ.” (trang 133-136) và “Xét về mặt thiên nhiên sinh hoá, bên trong vòng đai [xanh] của đồ hình mô tả chu kỳ sinh hóa của con người qua tám giai đoạn là (1) thụ thai ở Đoài, (2) thai nhi phát triển nhanh ở Ly, (3) thai nhi chiếm đầy bụng mẹ ở Khôn, (4) hài nhi chào đời ở Tốn, (5) thiếu niên háo ăn mau lớn ở Cấn, (6) thanh xuân sung mãn ở Khảm, (7) lập gia đình ở Càn, (8) già nua và chết ở Chấn.”(trang 138) và “Mở mắt chào đời, nhập vào dòng sống với tất cả trong sạch không tranh không chấp nên nói là hoà nhập, nhún nhường ở Tốn” (trang 139) hoặc “Vạn vật [vòng ngoài] bừng dậy ở xuân-mộc khởi động một nửa chu kỳ sống động của vòng sinh hoá. Cây cỏ mọc mầm, vỡ đất thập thò lú ra ở Giáp [Tốn +3 Giáp], mong manh mềm mại ở Ất [Cấn -8 Ất]. Con người nhú đầu chui ra khỏi bụng mẹ, hít thở không khí lần đầu nhập vào dòng sống sinh động ở Tốn [Tốn +3 Giáp], mong manh tuổi thơ ở Cấn [Cấn -8 1 Ât]” (trang 138). Những giải thích này cho thấy quá rõ là nội hàm của “Tốn +3 Giáp” trong Việt Dịch dung nạp ý nghĩa chữ Sinh của Bát Môn đến mức độ cao nhất.

    Như vậy, chữ Sinh của Bát Môn nằm ở cung “+3 Giáp Tốn” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều vô cùng hợp lý.

    TỬ --Lạc Việt Độn Toán giải thích “Tử nghĩa là: Chết, sự chấm dứt, kết thúc, là cắt đứt, là sát phạt, là tiền bạc tài sản lưu động, là người làm nghề cơ khí, kim khí, là võ nghiệp, nếu là bác sĩ thì liên quan đến mổ xẻ, là nghe… Cung Tử thuộc Âm Kim, nhưng nghĩa của Tử thuộc Dương Kim. Độ số là 9. Về phương vị là chính Tây. Về màu sắc là màu trắng. Tử, cũng còn có nghĩa là con cái.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Tử hoàn toàn thuộc về “Chấn +9 Canh” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . . nghĩa của Tử thuộc Dương Kim. Độ số là 9. Về phương vị là chính Tây. ” và vị trí của chữ Tử lạị nằm ở Thân vị của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “+9 Canh Chấn” trên hình Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Chấn +9 Canh” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng chánh Tây [phương vị trên HTBQ) dầu là có đóng ở vị trí Thân của vòng ngoài [vị trí trên 9 cung hoặc 12 cung] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Thân vị mà không nói là ở hướng TN. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Tử.

    Việt Dịch giải thích “Chấn là tượng vật chất vô hình dương tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘vật chất vô hình dương tính’ có nghĩa là ‘quang khí, ánh chớp, lóe sáng, làm cho hóa quang, làm cho nổ.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất vô hình của vũ trụ vật lý. Chúng có khả năng mô tả cả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất vô hình trong thế giới sống. Do đó, Chấn không phải chỉ là làm cho nổ mà còn là làm cho chấn động, là trạng thái lúc đạt tới tột đỉnh khoái cảm và xuất tinh, là trạng thái của tứ đại phân rã lúc chết, là chết, là rơi rụng, là chấm dứt; không phải chỉ là chấn động mà còn là rung động, là phập phều, là phồng ra thóp vào, là phồng lên xẹp xuống, là mũi, là phổi, là tạng phế, là hóa táo, là ứng vào da; không phải chỉ là chấn động mà còn là phập phồng, là hồi hộp, là run rẩy, là co giật, là nẩy giật, là co thắt của cơ bắp; không phải chỉ làm chấn động trong ý nghĩa vật lý mà còn là chấn động trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tai tiếng, là tiếng đồn, là nổ ra những sự kiện ô nhục, là xì-căn-đăng; không phải chỉ là làm cho nổ trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho nổ ra trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tố cáo, là tố giác, là bôi nhọ công khai, là gây ra hiểu lầm; không phải chỉ là lóe sáng mà còn là sự bừng tỉnh của tâm thức, sự phản tỉnh của thái độ, sự xét lại của tư duy, sự hồi tưởng, sự hoài niệm, là giai đoạn già lão, là tàn phai, là héo úa, là lão hóa; không phải chỉ là hóa quang trong ý nghĩa vật lý mà còn là trải nghiệm lúc hồn phách thoát ra, là trở về cõi sáng, là tiếp điển, là nhận lấy điển quang; không phải chỉ hoá quang trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho thấy trong ý nghĩa dư luận xã hội, là giải thích, là biện minh, là trưng ra bằng chứng; không phải chỉ là ánh chớp mà còn là thần tốc, là tốc độ, là thật nhanh chóng; không phải chỉ là quang khí trong ý nghĩa vật lý mà còn là quang khí trong tánh cách của con người, là uy nghi, là can liệt, là nghĩa khí, là nguyên tình [nguyên tình là gốc của uy nghi, can liệt, nghĩa khí]; nằm ở giai đoạn già lão lại nằm sau giai đoạn làm cha và cạnh cha nên là lão nam, là trưởng nam, là trưởng bối bên cha.” (trang 130-133) và “Xét về mặt thiên nhiên sinh hoá, bên trong vòng đai [xanh] của đồ hình mô tả chu kỳ sinh hóa của con người qua tám giai đoạn là (1) thụ thai ở Đoài, (2) thai nhi phát triển nhanh ở Ly, (3) thai nhi chiếm đầy bụng mẹ ở Khôn, (4) hài nhi chào đời ở Tốn, (5) thiếu niên háo ăn mau lớn ở Cấn, (6) thanh xuân sung mãn ở Khảm, (7) lập gia đình ở Càn, (8) già nua và chết ở Chấn.. . . Từ Tốn tới Chấn [4-8] là một nửa dương của vòng tròn chu kỳ sinh hoá. Một nửa đó mô tả trạng thái sống động của một đời người. Từ Chấn tới Tốn [8-4] là một nửa âm của vòng tròn chu kỳ sinh hóa. Một nửa này mô tả trạng thái tiềm ẩn của một đời người. Chào đời ở Tốn [4] và vĩnh biệt cõi đời ở Chấn [8]. Ra khỏi bụng mẹ [thân mẫu] ở Tốn [4] và trở về bụng mẹ [địa mẫu] ở Chấn [8]. Tử sinh đối đãi. Tử rồi sinh, sinh rồi tử quay tròn không dứt. Chết ở Chấn [8] nên không còn thấy mặt ở Đoài [1] và thụ thai cũng ở Đoài [1]. Một sinh mạng cũ chấm dứt ở Chấn [8], một sinh mạng mới bắt đầu ở Đoài [1], chấm dứt và bắt đầu nằm liền nhau trong vòng tròn sinh hoá. Khởi hiện một sinh mạng mới nơi Đoài [1], vắng mặt một sinh mạng cũ cũng ở Đoài [1]. Nơi khởi hiện và nơi biến mất không hai không khác trong vòng tròn sinh hoá. . .” (trang 138-139). Những giải thích này cho thấy quá rõ là nội hàm của “Chấn +9 Canh” trong Việt Dịch dung nạp ý nghĩa “chết” trong chữ Tử của Bát Môn đến mức độ cao nhất. Giữa LVĐT và Việt Dịch thống nhất nhau trong phần diễn giải “Tử nghĩa là: Chết, sự chấm dứt, kết thúc, là cắt đứt”

    Như vậy, chữ Tử của Bát Môn nằm ở cung “Chấn +9 Canh” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều vô cùng hợp lý. Nghiệm tương quan sinh tử trong câu nói của Việt Dịch “Chào đời ở Tốn [4] và vĩnh biệt cõi đời ở Chấn [8]. Ra khỏi bụng mẹ [thân mẫu] ở Tốn [4] và trở về bụng mẹ [địa mẫu] ở Chấn [8]. Tử sinh đối đãi. Tử rồi sinh, sinh rồi tử quay tròn không dứt.” rồi nhìn vào trục Sinh-Tử trên Bàn Tay Bát Môn, trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn và trên hình Việt Dịch Đồ chúng ta sẽ thấy cả một sự khế hợp kỳ diệu. Từ đó chúng ta có thể nói là hai chữ Sinh và Tử của Bát Môn nằm ở hai cung “Tốn +3 Giáp” và “Chấn +9 Canh” không phải chỉ là “vô cùng hợp lý” mà là “cực kỳ hợp lý.”

    Và trong cách độn Bát Môn thì toàn bộ tiến trình khởi đầu nơi chữ Sinh. Đây không thể nói là một sự ngẫu nhiên mà người ta chọn gốc ngón tay trỏ tức cung Dần để khởi độn. “Hội Dần là nơi khởi đầu của vạn vật” (trích Hải Thượng Lãng Ông). Như vậy mốc Sinh-Dần và chỗ khởi độn nằm chung một chỗ không phải là điều hợp lý lắm sao? Rồi nhìn lại Việt Dịch Đồ vị trí của “Tốn + 3 Giáp” và Sinh môn nằm ở Dần vị trên vòng quay của thiên nhiên và là nơi khởi đầu của vạn vật cũng là nơi khởi đầu của độn toán Bát Môn. Đây không phải là một thể hiện rất thuyết phục hay sao?

    Tuy là Hà Đồ Bát Môn của LVĐT với Việt Dịch Đồ [và Bánh Chưng Bát Môn] của Việt Dịch đồng ý với nhau gần như hoàn toàn về vị trí và ý nghĩa của hai quẻ Sinh và Tử của Bát Môn nhưng có một điều khác biệt rất lớn. Với Hà Đồ Bát Môn của Lạc Việt Độn Toán thì chữ Tử nằm vào quẻ Tốn còn chữ Sinh nằm vào quẻ Cấn. Sinh và Tử là vấn đề hoàn toàn đối lập và cũng là hai quẻ hoàn toàn đối lập trong Bát Môn. Còn Tốn và Cấn thì không phải là hai quái hoàn toàn đối lập dầu là phiên bản HTBQ-LạcViệt cho thấy Tốn-Cấn có đối xứng nhau qua trục. Chỉ đối xứng nhau qua trục thì không có thể nói là “hoàn toàn đối lập” được. Hai quái chỉ hoàn toàn đối lập khi chúng đối lập nhau từng hào một và đối xứng qua trục. Nhìn vào cấu trúc của mỗi quái trên Tiên Thiên Bát Quái (TTBQ) sẽ thấy rõ tiêu chuẩn này. Nhìn vào cấu trúc hào của hai quái Tốn-Cấn sẽ không khó để nhận ra là hai quái đối xứng này chưa đủ tiêu chuẩn để gọi là hoàn toàn đối lập nhau. Còn với Việt Dịch Đồ của Việt Dịch thì chữ Tử nằm ở quẻ Chấn và chữ Sinh lại nằm vào quẻ Tốn. Tốn và Chấn là hai quẻ hoàn toàn đối lập. Nhìn vào cấu trúc hào của mỗi quái sẽ thấy điều này. Vị trí của Tốn-Chấn đối xứng nhau qua trục lại là chỗ xác định mốc then chốt Sinh-Tử của chu kỳ sinh tử trong Việt Dịch. Ý nghĩa của hai quẻ Tốn và Chấn trong Việt Dịch thì đã được tác giả trích giải rất rõ. Chỉ bằng vào những bằng chứng này, không phải là Việt Dịch Đồ đã khế hợp khít khao hơn và giải thích hợp lý hơn hai quẻ Tử và Sinh của Bát Môn? Hay nói một cách khác là liệu chúng ta có dám nói cấu trúc của HTBQ trong Việt Dịch Đồ có phần chính xác hơn là cấu trúc của HTBQ của Lạc Việt?

    Vấn đề được đặt ra ở đây là với sự khác biệt quan trọng như vậy mà làm sau cuối cùng rồi hai bên vẫn đạt đến chỗ đồng thuận gần như hoàn toàn? Có thể nào “Tốn = Tử” và “Sinh = Cấn” như là hình Hậu Thiên Và Bát Môn của LVĐT đã cho thấy?

    Với câu hỏi thứ nhất có lẽ chúng ta có thể tạm giải thích là LVĐT đã dùng âm dương, ngũ hành và độ số chứ không vận dụng những quẻ trong HTBQ-LạcViệt để diễn giải ý nghĩa 8 chữ của Bát Môn, dầu rằng cấu trúc của HTBQ-LạcViệt đã được vận dụng để an vị 8 chữ của Bát Môn. Nếu đúng là như vậy thì ý nghĩa của (a) nhóm “độ số-âm dương-ngũ hành” mà LVĐT vận dụng để diễn giải chữ Sinh của Bát Môn khế hợp hoàn toàn với nội hàm quẻ Tốn của Việt Dịch và (B) nhóm “độ số-âm dương-ngũ hành” mà LVĐT vận dụng để diễn giải chữ Tử của Bát Môn khế hợp hoàn toàn với nội hàm quẻ Chấn của Việt Dịch, như đã cho thấy trong phần phân tích vừa qua. Điều này không có gì lạ vì tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Tử [điển hình là “nghĩa của Tử thuộc Dương Kim. Độ số là 9. Về phương vị là chính Tây”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Tử cùng quẻ Chấn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Tử thuộc Chấn +9 Canh Kim hướng chánh Tây, đóng ở Thân vị”]. Và tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Sinh [điển hình là “nghĩa Sinh thuộc Dương Mộc. Độ số là 3. Về phương vị là chính Đông.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Sinh cùng quẻ Tốn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Sinh thuộc Tốn +3 Giáp Mộc hướng chánh Đông, đóng ở Dần vị”]. Như vậy, chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+9 Canh, hành Kim, hướng chánh Tây” chính là chỗ đứng của quẻ Chấn hay sao? Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+3 Giáp, hành Mộc, hướng chánh Đông” chính là chỗ đứng của quẻ Tốn hay sao? Và như vậy thì, chẳng phải luận điểm của Việt Dịch về “tính bất khả ly giữa những phần tử trong một tập hợp “độ số- âm dương-ngũ hành-quái” lại càng thêm khả tín hay sao?[1]

    Tuy những câu hỏi đã được đặt ra, và tuy là Việt Dịch Đồ đã xác định chỗ đứng và sự nghiêm túc của nó cũng như cuốn sách Việt Dịch đã là xong nhiệm vụ giải thích và chứng minh để cho thấy sự nghiêm túc đó, nhưng tinh thần của những câu hỏi vừa rồi [và tất cả những câu hỏi khác trong bài viết này] không phải là để buộc hoặc để dẫn đến kết luận có lợi cho Việt Dịch mà chỉ là sự gợi ý để mở ra những nghiên cứu sâu hơn cho những người quan tâm dầu là đứng về bên lập trường nào.

    THƯƠNG –Lạc Việt Độn Toán nói, “Thương nghĩa là: Buồn, là thuộc trạng thái tình cảm, là cây lớn, là sự phát triển sung mãn sắp chuyển sang giai đoạn suy vi. Cung Thương là Dương Mộc, nhưng nghĩa của Thương thuộc Âm Mộc. Độ số là 8. Về phương vị là Đông Bắc. Về màu sắc là xanh lá cây sậm.” Cây lớn ở ở đây có nghĩa là “lớn hơn” trong tương quan so sánh giữa dương mộc và âm mộc là đúng. Còn “sự phát triển sung mãn sắp chuyển sang giai đoạn suy vi” thì cần xét lại vì khi đã nói tới chu kỳ thì không thể nào từ chỗ vừa sinh ở Mộc mà đã sắp vào suy vi cũng ở Mộc trong khi còn tới 6 bước nữa trong chu kỳ sinh hóa. Loại trừ cụm chữ này ra thì chúng ta thấy giải thích trên cho thấy nội dung của chữ Thương hoàn toàn thuộc về “Cấn -8 Ất” nằm ở phương vị ĐB của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác định rõ với cụm “. . . nghĩa của Thương thuộc Âm Mộc. Độ số là 8. Về phương vị là Đông Bắc” và vị trí của chữ Thương lại nằm ở Mão vị của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “-8 Ất Cấn” trên hình Bánh Chưng Bát Môn. Cần chú ý một điều là “Cấn -8 Ất” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng ĐB [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Mão của vòng ngoài [vị trí trên 9 cung hoặc 12 cung] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là “ở Mão vị” mà không nói là “ở hướng chánh Đông.” Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Thương.

    Việt Dịch giải thích “Cấn là tượng vật chất hữu hình dương tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘vật chất hữu hình dương tính” có nghĩa là “đặc, cứng, ngưng kết, làm cho vững vàng, làm cho nặng hơn.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất hữu hình của vũ trụ vật lý. Chúng có khả năng mô tả cả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất hữu hình trong thế giới sống. Do đó, Cấn không những là đặc, là cứng mà còn là thô, là xốp, là vật liệu lấy ra từ quặng mõ, là nguyên liệu, là chưa tinh chế, là chưa mài giũa, là chưa hữu dụng, là chưa thành nhân; không những là cứng mà còn là cứng cáp, là vươn lên, là ngóc lên, là trổ mã, là dậy thì, là đứng sừng sững, là núi đồi, là trụ cột, là tháp, là chầy, là cán, là vật để cắm vào, là dương vật, là người nam; không những là vật chất hữu hình trong ý nghĩa vật lý mà còn là vật chất hữu hình theo qui ước xã hội, là tài sản hữu hình (tangible assets), là bất động sản không những là cứng trong ý nghĩa vật lý [vật chất hữu hình có tính cứng vật lý] mà còn là cứng theo qui ước xã hội [vật chất hữu hình có tính cứng qui ước], là tài sản cứng (hard assets), là công cụ sản xuất, là vật dụng cứng (hardwares); không những là cứng trong ý nghĩa vật lý mà còn là cứng trong thái độ hay trong quyết sách, là thẳng tay trừng trị, là đánh trực diện, là không kiêng nể, là nhổ tận gốc, là tiêu diệt, là không nhượng bộ; không những là ngưng kết mà còn là dừng lại, là chựng lại, là khựng lại, là đậu lại, là chựng lại sự hồn nhiên, là không còn vâng lời cha mẹ, là ương ngạnh, là giai đoạn hướng ngoại, là giai đoạn định hình cá tính, là hình thành kiến chấp; không những là ngưng kết của vật chất mà còn là ngưng đọng của vị, là nếm; không những là ngưng, là chựng mà còn là trì trệ, là đình hoãn, là đình chỉ, là bị ngăn trở, là bị chận đứng, là chưa thể tiến hành, là cần giải tỏa, là đình công; không những là làm cho nặng hơn mà còn là làm cho nặng hơn giá trị của bản thân và của sự liên hệ với người khác, là chân tình, là tánh thiện, là mừng [hỉ], là du hồn [du hồn là chủ của mừng]; không những là làm cho nặng hơn mà còn là làm nặng [tăng] áp lực cho xã hội, còn là làm nặng nề hơn tình hình đôi co giữa hai thế lực, là chống đối, là phản kháng, là đấu tranh, là đối đầu, là đối kháng, là chống cự, là biểu tình, là xuống đường; không những là nặng, là làm cho nặng hơn mà còn là làm cho chìm, là làm cho đắm, là làm cho sụp, là làm cho bị chôn vùi, là rớt xuống, là chìm, là suy thoái, là rớt vào khủng hoảng; vừa nằm ở giai đoạn trước khi thành trung nam vừa nằm gần cha cho nên là giai đoạn thiếu niên, là thiếu nam, là con trai út, là tiểu bối bên cha.” (trang 122-126) và “Vạn vật [vòng ngoài] bừng dậy ở xuân-mộc khởi động một nửa chu kỳ sống động của vòng sinh hoá. Cây cỏ mọc mầm, vỡ đất thập thò lú ra ở Giáp [Tốn +3 Giáp], mong manh mềm mại ở Ất [Cấn -8 Ất]. Con người nhú đầu chui ra khỏi bụng mẹ, hít thở không khí lần đầu nhập vào dòng sống sinh động ở Tốn [Tốn +3 Giáp], mong manh tuổi thơ ở Cấn [Cấn -8 Ât]” (trang 138). Với những giải thích này không khó để chúng ta nhận ra là có hàng lố chữ trong đó đều là nguyên ủy gây ra chuyện Buồn, ý nghĩa cốt lõi của chữ Thương. Ngay cả những chữ rất thi vị như “mong manh, mềm mại” cũng vậy vì mong manh, mềm mại cũng có nghĩa là dễ là bị tổn hại hay chết non, tức là những nguyên ủy gây ra chuyện Buồn-Thương. Mà tự điển Hán Nôm cũng có nói Thương là chết non, là tổn hại. Cụm chữ “mong manh, mềm mại” trong Việt Dịch giải thíchvề giai đoạn đầu trong chu kỳ sinh hoá của vạn vật và con người, mà chu kỳ này thì phân bố trên trọn 8 cung, cho nên không thể đem so sánh với “cây lớn” chỉ phân bố trong 2 cung hành Mộc, ở phần giải thích của LVĐT, để kết luận là “chỏi nhau.”

    Như vậy, chữ Thương của Bát Môn nằm ở cung “Cấn -8 Ất” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều hợp lý.

    Cũng giống như lập luận vừa qua trong phần phân tích hai chữ Sinh và Tử, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Thương [điển hình là “nghĩa của Thương thuộc Âm Mộc. Độ số là 8. Về phương vị là Đông Bắc.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Thương cùng quẻ Cấn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Thương thuộc Cấn -8 Ất Mộc hướng ĐB, đóng ở Mão vị”]. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “-8 Ất, hành Mộc, hướng ĐB” chính là chỗ đứng của quẻ Cấn hay sao? Thêm vào đó vị trí của quẻ Cấn trong HTBQ-LạcViệt hoàn toàn trùng lập với vị trí của quẻ Cấn trong Việt Dịch Đồ chẳng phải càng xác quyết thêm tính khả tín của Việt Dịch Đồ đó hay sao?

    ĐỖ --Lạc Việt Độn Toán giải thích “Đỗ nghĩa là: Đạt, là sự thành đạt, là kết quả tốt đẹp, là được việc, là quí nhân phù trợ. Cung Đỗ là Âm Hoả, nhưng nghĩa của Đỗ thuộc Dương Hoả. Độ số là 7. Về Phương vị là chính Nam. Về màu sắc là màu đỏ.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Đỗ hoàn toàn thuộc về “Ly +7 Bính” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . . nghĩa của Đỗ thuộc Dương Hoả. Độ số là 7. Về Phương vị là chính Nam.” và vị trí của chữ Đỗ lại nằm ở “Tỵ vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “+7 Bính Ly” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Ly +7 Bính” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng chánh Nam [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Tỵ của vòng ngoài [vị trí trên 9 cung hoặc 12 cung] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Tỵ vị mà không nói là ở hướng ĐN. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Đỗ.

    Việt Dịch giải thích “Ly là tượng năng lượng dương tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘năng lượng dương tính’ có nghĩa là ‘nóng, tỏa sáng, cháy bùng, nhiệt độ cao hơn nhiệt độ của môi trường, bốc lên, có thể làm tăng nhiệt, có thể hóa nhiệt, có thể đốt cháy.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn năng lượng vật lý. Chúng mô tả năng lượng sống, loại năng lượng tiêu thụ và thể hiện, của thế giới vi diệu sinh hóa. Do đó, Ly không những là năng lượng dương tính mà còn là sinh lực dương tính, là sức sống thể hiện, là giai đoạn thai nhi lớn nhanh trong bụng mẹ, là giai đoạn con gái lớn nhanh trong vòng tay mẹ, là giai đoạn trước khi làm mẹ, là trung nữ, là con gái giữa, là hậu bối bên mẹ, là tánh khí sôi nổi, là sự hưng phấn, là bồng bột, là nhiệt tình, là hăng hái, là chân tình, là hiến dâng, là con tim, là tạng tâm; không những là năng lượng dương tính mà còn là năng lượng thanh nhẹ, là nguyên thần, là lễ nghi [nguyên thần là gốc của của lễ nghi, nhiệt tình]; không những là nóng, là tỏa sáng mà còn là nhan sắc đẹp sáng, là phong cách nóng bỏng, là gợi cảm, là hấp dẫn, là quyến rũ; không những là nóng, là tỏa sáng mà còn là mặt trời, là mắt; không những là nóng mà còn là nóng tính, là cộc cằn; không những là nóng, là có thể hóa nhiệt mà còn là bị bệnh nhiệt, bị bệnh cuồng; không những là năng lượng sống mà còn là năng lượng sát phạt, là tranh đoạt, là tranh dành, là tranh thủ, là chiếm lĩnh, là thu tóm; không những là năng lượng sát phạt mà còn là năng lượng hủy diệt là súng, là đạn, là bom, là đầu đạn nguyên tử, là chiến tranh; không những là năng lượng sát phạt và hủy diệt mà còn là năng lượng tiêu thụ, là tiêu thụ, là mua sắm, là xài, là dùng, là nhu cầu; không những là lửa, là nóng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lửa, là nóng theo qui ước xã hội, là vùng nóng (hot zone), là vùng chiến, và hỏa lực (fire power), là vũ khí (fire-arm)” (trang 116-119). Hai cách diễn giải tuy khác nhau nhưng ý nghĩa của chữ Đỗ trong phần giải thích của LVĐT không khác với nội hàm của chữ Ly trong Việt Dịch mô tả dạng-thể-tính-trạng-hành của “năng lượng dương tính” trong thế giới vi diệu sinh hóa. Hay nói một cách khác, nếu áp dụng nội hàm của quẻ Ly trong Việt Dịch để diễn giải chữ Đỗ của LVĐT thì Việt Dịch cũng sẽ nói “Đỗ là thành, là đạt, là được quới nhân phù trợ, là điều vui, là sự tốt đẹp.”

    Như vậy, chữ Đỗ của Bát Môn nằm ở cung “Ly +7 Bính” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều hợp lý.

    Cũng giống như lập luận vừa qua trong phần phân tích hai chữ Sinh và Tử, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Đỗ [điển hình là “nghĩa của Đỗ thuộc Dương Hoả. Độ số là 7. Về Phương vị là chính Nam.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Đỗ cùng quẻ Ly trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Đỗ thuộc Ly +7 Bính Hỏa hướng chánh Nam, đóng ở Tỵ vị”]. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+7 Bính, hành Hỏa, hướng chánh Nam” chính là chỗ đứng của quẻ Ly hay sao? Thêm vào đó vị trí của quẻ Ly trong HTBQ-LạcViệt hoàn toàn trùng lập với vị trí của quẻ Ly trong Việt Dịch Đồ chẳng phải càng xác quyết thêm tính khả tín của Việt Dịch Đồ đó hay sao?

    CẢNH –Lạc Việt Độn Toán giải thích “Cảnh nghĩa là: Đi chơi ở trong sự nhàn hạ, phong lưu. Là từ xa tới, là du lịch, là đi xa, là vẻ đẹp, là nhà đẹp, cao rộng có vườn cây hoặc nội thất rực rỡ. Cung Cảnh thuộc Dương Hoả, nhưng nghĩa của Cảnh thuộc Âm Hoả. Độ số là 2. Về phương vị là Đông Nam. Về màu sắc là màu đỏ nâu. Cảnh, vì là Âm Hỏa – chính vị Khôn Thổ (Theo Hậu thiên Lạc Việt) – nên còn có ý nghĩa là Âm Thổ: miếng đất đẹp.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Cảnh hoàn toàn thuộc về “Khôn -2 Đinh” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . .nghĩa của Cảnh thuộc Âm Hoả. Độ số là 2. Về phương vị là Đông Nam.” và vị trí của chữ Cảnh lại nằm ở “Ngọ vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “-2 Đinh Khôn” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Khôn -2 Đinh” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng ĐN [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Ngọ của vòng ngoài [vị trí trên 9 cung hoặc 12 cung] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Ngọ vị mà không nói là ở chánh Nam. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Cảnh. Việt Dịch giải thích “Khôn là không gian âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘không gian âm tính’ có nghĩa là ‘không gian đóng,’ là ‘khép kín, chắn,’ là ‘đã chiếm dụng, không chứa thêm,’ là ‘có thể nâng đỡ, chở,’ là ‘có thể làm tăng áp suất.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả thể-dạng-tính-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn không gian vật lý. Chúng còn mô tả cả thể-dạng-tính-trạng-hành của không gian sống, không gian của thế giới vi diệu sinh hóa. Do đó, Khôn không những là không gian đóng, là không gian khép kín mà còn là hệ thống đóng, là hệ thống khép kín, là thể chế độc tài, là chế độ áp bức, là xã hội thiếu tự do, là nhà nước khống trị, là kinh tế trung ương quy hoạch, là cơ chế tập quyền [vì những hệ thống/ cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội quyết định không gian sống của con người]; không những là đóng, là khép kín mà còn là thiếu tự do, là phi dân chủ, là đơn cực, là độc tôn, là áp bức, là độc tài, là khống trị, là tập quyền, là bịt kín thông tin, là che dấu sự thật, là chèn ép dân, là chuyên quyền, là độc đoán; không những là không gian khép kín mà còn có nghĩa là thế giới bên trong, là thế giới gia đình, là thế giới nội tâm, là thế giới âm thầm chịu đựng, thế giới thần bí, thế giới cô độc, thế giới cô đơn; không những là khép kín mà còn là âm thầm, là câm nín, là giấu giếm, là kín đáo, là giữ trong lòng, là sự bảo mật, là cái bụng; không những làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực tâm lý, là nhẫn nhục, là thuận tùng, là chiều lòn, là cam chịu, là làm vợ, là làm dân, là người tiêu thụ, là người cấp dưới; không những làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực sinh lý, là giai đoạn thai to bụng nặng, là lao động quá sức; không những là làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực xã hội là áp chế, là cai trị, là cưỡng bách, là bắt phải làm theo, là bắt phải phục tùng, là đàn áp, là vi phạm nhân quyền, là sách nhiễu; không những là nâng đỡ, là chở mà còn là làm mẹ, là vượt biển [sinh con], là chiếc bè chở con qua bể khổ, là sự hy sinh trọn vẹn cho con và chồng, là tình thương không bến bờ dành cho con, là niềm vui [lạc], là thức thần; không những là nâng đỡ mà còn là nâng đỡ sự sống, là nuôi sống, là thị trường, là nơi giao dịch mua bán, là cơ quan tạo cốc khí nuôi thân, là lá lách, là ứng vào thịt, là hóa thấp; không những là đã chiếm dụng mà còn là giai đoạn thai nhi chiếm đầy bụng mẹ sẵn sàng chào đời; không những là không chỗ để chứa thêm mà còn là tâm hẹp hòi [tâm địa hẹp hòi], là óc bảo thủ, là ngoan cố; không những là chắn mà còn là thành lũy, là ngăn chận hiểm họa, là đón ngừa biến cố, là liệu phòng đói no, là tích lũy tài sản, là lo xa nhưng khi tích lũy mà tới chỗ thái quá thì thành ra là bỏn sẻn, là tham lam và khi lo xa tới chỗ thái quá thì thành ra là ích kỷ, là tiểu nhơn.” (trang 112-116). Nếu áp dụng nội hàm của “Khôn -2 Đinh” trong Việt Dịch để diễn giải thì chữ Cảnh sẽ được giải thích “là cõi, là bờ, là thành, là lũy, là nhà, là đất đai, là cảnh vật, là cảnh giác, là phòng bị.” Và dĩ nhiên là ý nghĩa của nó không phải chỉ nằm trong giới hạn của bao nhiêu chữ đó. Còn một điều chưa có thể giải thích ổn thỏa là cụm chữ “Đi chơi ở trong sự nhàn hạ, phong lưu. Là từ xa tới, là du lịch, là đi xa” trong giải thích của LVĐT. Có lẽ Việt Dịch sẽ khó có thể dung nạp đoạn lý giải này của LVĐT vì tính chất khép kín, phong tỏa và hướng nội của quẻ Khôn, nhưng Việt Dịch có thể chấp nhận được lý giải “ước mơ được du ngoạn, được đi chơi xa, nghĩ về người ở phương xa.” Nếu loại trừ cụm chữ trên của LVĐT, thì tuy là cách diễn giải có khác nhau nhưng ý nghĩa chữ Cảnh của LVĐT không khác với nội hàm của quẻ Khôn trong Việt Dịch mô tả dạng-thể-tính-trạng-hành của “không gian âm tính” trong thế giới vi diệu sinh hóa.

    Như vậy, chữ Cảnh của Bát Môn nằm ở cung “Khôn -2 Đinh” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều hợp lý.

    Cũng giống như lập luận vừa qua trong phần phân tích hai chữ Sinh và Tử, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Cảnh [điển hình là “nghĩa của Cảnh thuộc Âm Hoả. Độ số là 2. Về phương vị là Đông Nam.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Cảnh cùng quẻ Khôn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Cảnh thuộc Khôn -2 Đinh Hỏa hướng ĐN, đóng ở Ngọ vị”]. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “-2 Đinh, hành Hỏa, hướng ĐN” chính là chỗ đứng của quẻ Khôn hay sao? Thêm vào đó vị trí của quẻ Khôn trong HTBQ-LạcViệt hoàn toàn trùng lập với vị trí của quẻ Khôn trong Việt Dịch Đồ chẳng phải càng xác quyết thêm tính khả tín của Việt Dịch Đồ đó hay sao?

    KHAI –Lạc Việt Độn Toán giải thích “Khai nghĩa là dòng nước chảy, là sự khai thông, là trôi đi, là thoát khỏi sự bế tắc, là đi xa thuận lợi, … Cung Khai thuộc Âm Thuỷ, nhưng nghĩa của Khai thuộc Dương Thuỷ. Độ số là 1. Về màu sắc là xanh dương, là đen bóng.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Khai hoàn toàn thuộc về “Khảm +1 Nhâm” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . . nghĩa của Khai thuộc Dương Thuỷ. Độ số là 1.” và vị trí của chữ Khai lạị nằm ở “Hợi vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “+1 Nhâm Khảm” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Khảm +1 Nhâm” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng chánh Bắc [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Hợi của vòng ngoài [vị trí trên cung bàn] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Hợi vị mà không nói là ở TB. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Khai nhưng Việt Dịch Đồ.

    Việt Dịch giải thích “Khảm là tượng năng lượng âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘năng lượng âm tính’ có nghĩa là ‘lạnh, trầm xuống, chảy tràn vào chỗ thấp, rung chuyển khi bên ngoài xúc chạm vào, tối tăm, nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ của môi trường, có thể làm giảm nhiệt, có thể hóa hàn, có thể làm đông lạnh, có thể làm tắt.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn năng lượng vật lý. Chúng mô tả năng lượng sống, loại năng lượng sáng tạo và tiềm phục, của thế giới vi diệu sinh hóa. Do đó, Khảm không những là năng lượng âm tính mà còn là sinh lực âm tính, là sức sống tàng ẩn, là nguyên tinh, là tinh trùng, là mầm trong hạt, là ngòi sống của chu kỳ kế tiếp, là quả thận; không những là năng lượng âm tính, là tính rung chuyển khi có vật ngoài xúc chạm mà còn là động dục, là năng lượng nặng trược, là năng lượng nhục dục, là giai đoạn thanh xuân trước khi lập gia đình, là giai đoạn sung mãn dục tình, là dục tình; không những thấm xuống, là chảy tràn vào chỗ thấp mà còn là nước, là dòng chảy; không những là nhiệt độ thấp, là có thể làm cho tắt lửa nóng mà còn là “sắc đẹp thủy tinh,” là “nhan sắc nõn giá,” là thuần khiết; không những là lạnh mà còn là tánh khí trầm lặng, là lãnh đạm, là hờ hững, là thờ ơ, là phong cách lạnh lùng; không những là lạnh, là có thể hóa hàn mà còn là bị bệnh trầm cảm, là bị bệnh hàn; không những là năng lượng âm tính, là tối tăm mà còn là thâm hiểm, là ưu lự, là toan tính, là bày mưu, là nghĩ kế, là trí, là mưu trí, là làm kế hoạch, là đưa ra quyết sách, là thâm sâu, là cái vực, là uyên, là hiểu biết đến cùng cực, là lãm; không những là năng lượng sống mà còn là năng lượng sáng tạo, là sáng tác, là sáng chế, là tạo ra cái mới, là sản xuất; không những là năng lượng sáng tạo mà còn là năng lượng tái tạo, là phục hồi, là phục sinh, là phục hoạt; không những là năng lượng tái tạo mà còn là năng lượng đáp ứng, là cung, là cung cấp dịch vụ, là phân phối hàng hóa, là bán ra thị trường; Khảm vừa nằm ở giai đoạn trước khi làm cha vừa nằm cạnh vị trí của cha vừa đối lập với vị trí trung nữ cho nên là trung nam, là con trai giữa, là hậu bối bên cha.” (trang 119-122). Những giải thích này cho thấy rõ là nội hàm của quẻ Khảm trong Việt Dịch dung nạp ý nghĩa của chữ Khai ở mức độ rất cao. Nếu áp dụng nội hàm của “Khảm + 1 Nhâm” trong Việt Dịch để giải nghĩa chữ Khai của Bát Môn thì có lẽ nó sẽ được giải thích “Khai là mở ra, là đào ra, là khui ra, là bới ra, là nới rộng ra, là bắt đầu tiến hành, là làm cho thông, là làm cho mới.” Và, dĩ nhiên là nó không bị giới hạn chỉ trong bao nhiêu chữ đó. Nội hàm của quẻ Khảm trong Việt Dịch có thể là một kho thông tin cung cấp ý nghĩa cho chữ Khai của Bát Môn dưới những hoàn cảnh khác nhau chưa kịp nghĩ đến.

    Như vậy, chữ Khai của Bát Môn nằm ở cung “Khảm +1 Nhâm” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều vô cùng hợp lý. Cũng giống như lập luận vừa qua trong phần phân tích hai chữ Sinh và Tử, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Khai [điển hình là “nghĩa của Khai thuộc Dương Thuỷ. Độ số là 1. Về màu sắc là xanh dương, là đen bóng.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Khai cùng quẻ Khảm trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Khai thuộc Khảm +1 Nhâm Thủy hướng chánh Bắc, đóng ở Hợi vị”]. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+1 Nhâm, hành Hỏa, hướng chánh Bắc” chính là chỗ đứng của quẻ Khảm hay sao? Thêm vào đó vị trí của quẻ Khảm trong HTBQ-LạcViệt hoàn toàn trùng lập với vị trí của quẻ Khảm trong Việt Dịch Đồ chẳng phải càng xác quyết thêm tính khả tín của Việt Dịch Đồ đó hay sao?

    HƯU -- Lạc Việt Độn Toán giải thích “Hưu nghĩa là: Nghỉ, sự ngưng trệ, sự nghỉ ngơi do bất lực, kiệt sức, là bế tắc. Cung Hưu thuộc Dương Thuỷ, nhưng nghĩa của Hưu thuộc Âm Thuỷ. Độ số là 6. Về màu là màu đen xỉn, xanh đen.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Hưu hoàn toàn thuộc về “Càn -6 Quý” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . .nghĩa của Hưu thuộc Âm Thủy. Độ số là 6.” và vị trí của chữ Hưu lại nằm ở “Tí vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “-6 Quý Càn” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Càn -6 Quý” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng TB [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Tí của vòng ngoài [vị trí trên cung bàn] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Tí vị mà không nói là ở hướng chánh Bắc. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Hưu. Việt Dịch giải thích “Càn là tượng không gian dương tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘không gian dương tính’ có nghĩa là ‘không gian mở,’ là ‘trống rỗng, thông thoáng,’ là ‘có thể chứa đựng,’ là ‘có thể làm giảm áp suất,’ là ‘có thể che.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả thể-dạng-tính-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn không gian vật lý. Chúng còn mô tả cả thể-dạng-tính-trạng-hành của không gian sống, không gian của thế giới vi diệu sinh hóa. Do đó, Càn không những là không gian mở, là không gian thông thoáng mà còn là thể chế tự do, là chế độ dân chủ, là xã hội đa nguyên, là nhà nước pháp trị, là kinh tế thị trường, là cơ chế phân quyền [vì những hệ thống/ cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội quyết định không gian sống của con người]; không những là mở, là thông thoáng mà còn là tự do, là dân chủ, là đa nguyên, là đa chiều, là pháp trị, là phân quyền, là tản quyền, là minh bạch; không những là mở, là thông thoáng mà còn là thế giới bên ngoài, là ý chí cao xa, là hay lo việc lớn, là bày tỏ, là hiển lộ; không những là rộng, là thông thoáng mà khi rộng và thông thoáng nhưng không thấy rõ thì thành là mông lung, là mất định hướng, là lạc lối, là si, là yêu [ái là bản chất của tánh si]; không những là làm giảm áp suất mà còn là làm giảm áp lực tâm lý, là làm giảm sự ngộp ngạt tù túng tâm lý, là thoát ra bên ngoài, là hướng ngoại, là làm việc bên ngoài; không những là làm giảm áp suất mà còn là làm giảm áp lực sinh lý, là trược tinh tẩu lậu [tinh khí thoát ra ngoài], là lập gia đình; không những là có thể chứa đựng mà còn là bao dung, là mở vòng tay để đón người, là tâm rộng lượng, là lòng quảng đại, là quân tử; không những là che mà còn là hứng lấy áp lực, là tàng cây, là dù, là lộng, là cha, là chồng, là người lãnh đạo, là cái đầu, là người trên, là xếp, là chính quyền.” (trang 110-112) và “Bên ngoài vòng đai đỏ của đồ hình mô tả chu kỳ sinh hoá của thiên nhiên qua 8 giai đoạn là (a) biến mất ở Tân, (B) im lìm ở Nhâm, © ngủ vùi ở Quý, (d) bừng dậy thập thò ở Giáp, (e) mềm mại mong manh ở Ất, (f) vươn ra lớn mạnh ở Bính, (g) vững chắc đầy đủ ở Đinh, (h) tàn lụi rũ chết ở Canh.” (trang 141) và “Vạn vật quy tàng ở đông thủy, im lìm ở Nhâm [b = Nhâm +1 Khảm] ngủ vùi ở Quý [c = Quý -6 Càn] . . . Giai đoạn quy tàng trong chu kỳ sinh hóa của thiên nhiên thì vạn vật đi vào đông miên để tiết kiệm năng lượng.” (trang 144). Những giải thích này cho thấy nội hàm của “Càn -6 Quý” trong Việt Dịch hoàn toàn dung nạp ý nghĩa “Hưu là Nghĩ ngơi” nhưng không chắc sẽ dung nạp ý nghĩa “Hưu là bế tắc hay bất lực” như LVĐT đã diễn giải bởi vì theo Việt Dịch tính chất của Càn là mở ra, là thông thoáng. Thêm vào đó là lý giải truyền bá trong nhân gian cũng cho rằng Hưu là cát môn. Mà đã là cát môn thì khó có thể nói dung nạp cụm chữ “bế tắc hay bất lực.” Suy ra cũng thấy là điều này có sự hữu lý của nó vì đây chỉ mới là Hưu chứ chưa phải là Tù thì làm sau nói là bế tắc. Nếu áp dụng nội hàm của quẻ “Càn +6 Quý Thủy” trong Việt Dịch để giải nghĩa chữ Hưu của Bát Môn thì có lẽ nó sẽ được giải thích “Hưu là nghĩ ngơi, là thôi, là buông bỏ, là thoái ẩn, là có thể hưởng nhàn, là có thể ngao du bên ngoài, là thong dong, là tự do tự tại, là dẹp bỏ hết phiền não động, là an lạc, là bình yên.” Và, dĩ nhiên là nó không bị giới hạn chỉ trong bao nhiêu chữ đó. Nội hàm của quẻ Càn trong Việt Dịch có thể là một kho thông tin cung cấp ý nghĩa cho chữ Hưu của Bát Môn dưới những hoàn cảnh khác nhau.

    Như vậy, chữ Hưu của Bát Môn nằm ở cung “Càn -6 Quý” của Việt Dịch Đồ rõ ràng là có sự hợp lý, dầu rằng những lời giải thích của LVĐT có một nữa không cùng nhịp với giải thích của Việt Dịch.

    Cũng giống như lập luận vừa qua trong phần phân tích hai chữ Sinh và Tử, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Hưu [điển hình là “nghĩa của Hưu thuộc Âm Thuỷ. Độ số là 6.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Hưu cùng quẻ Càn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Hưu thuộc Càn -6 Quý Thủy hướng TB, đóng ở Tí vị”]. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “-6 Quý, hành Thủy, hướng TB” chính là chỗ đứng của quẻ Càn hay sao? Thêm vào đó vị trí của quẻ Càn trong HTBQ-LạcViệt hoàn toàn trùng lập với vị trí của quẻ Càn trong Việt Dịch Đồ chẳng phải càng xác quyết thêm tính khả tín của Việt Dịch Đồ đó hay sao?

    KINH –Lạc Việt Độn Toán giải thích “Kinh nghĩa là: Kinh sợ, đột ngột, sự bất ngờ, là giật gân, là người làm việc táo bạo, mạo hiểm … Cung Kinh thuộc Dương Kim, nhưng nghĩa của Kinh thuộc Âm Kim. Độ số là 4. Về màu sắc là trắng xám.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Kinh hoàn toàn thuộc về “Đoài -4 Tân” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . . nghĩa của Kinh thuộc Âm Kim. Độ số là 4.” và vị trí của chữ Kinh lại nằm ở “Dậu vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “-4 Tân Đoài” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Đoài -4 Tân” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng TN [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Dậu của vòng ngoài [vị trí trên cung bàn] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Dậu vị mà không nói là ở hướng chánh Tây. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Kinh.

    Việt Dịch giải thích “Đoài là tượng vật chất hữu hình âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “vật chất hữu hình âm tính” có nghĩa là “mềm, lỏng, nhỏ, có thể bốc hơi, làm cho nhẹ hơn.” Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất hữu hình của vũ trụ vật lý. Chúng có khả năng mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của cả vật chất hữu hình trong thế giới sống. Do đó, Đoài không những là mềm, là lỏng mà còn là nơi mềm lỏng tụ hội, là ao đầm, là bọc nước chứa thai nhi, là giai đoạn thụ thai, là trứng, là âm hộ, là miệng, là vật ngậm lấy, là người nữ; không những là mềm, là lỏng mà còn trạng thái mềm lỏng hòa vào nhau, là nhuyễn, là sệt, là dễ thẩm thấu, là dễ nắn, là chất bùn, là chất bã, là cream, là lotion, là gel, là paste, là thức ăn nhuyễn, là ruột non, là ruột già; không những là mềm mà còn là dẻo, là dễ cột, là dây, là sợi, là chỉ, là tóc, là trói, là buộc; không những là mềm trong ý nghĩa vật lý [vật chất hữu hình có tính mềm vật lý] mà còn là mềm trong ý nghĩa định tính do qui ước xã hội [vật chất hữu hình có tính mềm qui ước], là phần mềm (software), là tiền tệ (soft power), là chứng khoán, là tài sản mềm (soft assets), là công sức lao động, là kiến thức, là trình độ, là kỹ năng nghề nghiệp, là kinh nghiệm làm việc; không những lỏng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lỏng trong ý nghĩa định tính theo qui ước xã hội, là sự lưu hoạt của tiền tệ (credit liquidity), là sự lưu hoạt của chứng khoán (security liquidity), là có thể biến thành tiền, là biến thành tiền (liquidation); không những là lỏng mà còn là làm cho nổi lên, là làm cho đi lên, là làm cho thoát khỏi suy thoái, là ra khỏi khủng hoảng, là đi lên, là kinh tế phục hồi; không những là lỏng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lỏng lẻo trong quy củ và sự vận hành, là nới lỏng kiểm soát, là bớt siết chặt ngân sách, là bơm thêm dự trữ trong chính sách tiền tệ, là hạ lãi suất, là giảm bớt yêu cầu; không những là nhỏ mà còn là vi tế, là tinh vi, là khéo léo, là biến hóa không chừng, là mầu nhiệm, là diệu, là vi diệu; không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ hơn áp lực tâm lý, là hòa duyệt, là cùng nhịp, là không trái ý nhau, là không thái quá, là không bất cập, là đẹp lòng, là ưa thích; không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ áp lực cho xã hội, là làm cho tình hình giữa hai thế lực đang đôi co bớt căng thẳng, là đàm phán, là điều đình, là thương lượng, là thương thuyết, là hòa giải, là xét xử, là giải quyết, là thông qua, là biểu quyết xong, là có thể tiến hành, là lưu thông, là luân chuyển, là ký kết, là hợp đồng; không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ hơn giá trị của bản thân và của sự liên hệ với người khác, là giận dữ, là phẫn nộ, là tánh hung, là quỷ phách [quỷ phách là chủ của hung, của nộ]; vừa nằm ở giai đoạn trước khi thành trung nữ vừa nằm gần mẹ cho nên là giai đoạn của thiếu nữ, là thiếu nữ, là con gái út, là tiểu bối bên mẹ.” Giải thích này cho thấy nội hàm của quẻ Đoài thoạt nhìn vào dường không dung nạp diễn giải của LVĐT. Nhưng khi Việt Dịch triển khai nội hàm “không những là nhẹ mà còn là nhẹ bóng vía, là hay sợ, hay giật mình, hay hốt hoảng, là dễ bị kinh hãi.” Thì thấy ngay nó hoàn toàn dung nạp diễn giải “Kinh là Sợ” của LVĐT. Hàng lố chữ trong nội hàm của quẻ Đoài cũng cho thấy nó liên quan đến vấn đề thương mãi. Và nếu cho rằng người làm kinh doanh là “người làm việc táo bạo, mạo hiểm” thì sự dung nạp của quẻ Đoài đối với giải thích của LVĐT coi như trọn vẹn. Tìm kiếm ý nghĩa chữ Kinh trong tự điển Hán và Nôm chúng ta thấy “Kinh là (a) 巠 mạch nước; (B) 溼 ướt, thấp ẩm; © 經 经 thường [là đạo đức đã định không thể đổi được], sửa [như kinh lý là sửa trị, kinh doanh là sửa sang hay mở mang việc mua bán], thắt cổ [như tự kinh là tự thắt cổ chết]; (d) 驚 sợ hãi. Và tất cả những định nghĩa này trong tự điển đều có trong nội hàm của quẻ Đoài.

    Như vậy, chữ Kinh của Bát Môn nằm ở cung “Đoài -4 Tân” của Việt Dịch Đồ rõ ràng là rất hợp lý.

    Cũng giống như lập luận trước, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Kinh [điển hình là “nghĩa của Kinh thuộc Âm Kim. Độ số là 4.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Kinh cùng quẻ Đoài trong Việt Dịch Đồ. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận ““Đoài -4 Tân, Âm Kim, hướng TN.” chính là chỗ đứng của quẻ Đoài hay sao?

    Vị trí của quái Đoài trong HTBQ-LạcViệt không trùng lập với vị trí của quái Đoài trong Việt Dịch Đồ. Và đây là một trong 3 quái tạo khoảng cách giữa HTBQ-LạcViệt với HTBQ -ViệtDịchĐồ. Hai quái kia đã được nói đến nhiều trong phần phân tích chữ Sinh và chữ Tử. Và nếu như lập luận Tốn-Chấn trong phần phân tích hai chữ Sinh-Tử có sức thuyết phục và được chấp nhận thì quái Đoài chỉ còn có một chỗ phải nằm vào là ở góc TN. Nói một cách khác, trục Sinh-Tử chính là chỗ để suy nghiệm cho thật thấu đáo nếu muốn “to reconcile” sự khác biệt giữa HTBQ của LạcViệt và HTBQ của Việt Dịch.

    Tóm lại, qua những phân tích vừa rồi chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy Việt Dịch Đồ sẵn sàng và hoàn toàn dung nạp 8 chữ của Bát Môn cũng như dung nạp diễn giải của LVĐT về 8 chữ đó. Cũng không khó để chúng ta nhận thấy Việt Dịch Đồ khế hợp với cấu trúc của Bát Môn một cách hoàn hảo, và có lẽ hoàn hảo hơn là Hà Đồ Bát Môn của Lạc Việt theo chủ quan của tác giả.


  10. Bát Môn, Lục Nhâm và Lạc Việt Độn Toán
    dưới lăng kính Việt Dịch

    Hà Hưng Quốc


    Trong tác phẩm Lạc Việt Độn Toán, học giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã viết “Một phương pháp hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng thì phải có tính hệ thống, tính nhất quán, tính quy luật, tính khách quan và có khả năng tiên tri. [Đây là] Tiêu chí khoa học. Tri thức khoa học hiện đại thừa nhận tiêu chí khoa học này. . . Một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh, nhất quán, thể hiện được tính khách quan, tính qui luật và khả năng tiên tri. . . . Một lý thuyết khoa học mới phải dung nạp được những lý thuyết khoa học trước đó phản ánh những qui luật thực tại đã được thừa nhận.” Tựa trên cơ sở này để xét toàn bộ nội dung của Việt Dịch thì có thể nói rằng rõ ràng là Việt Dịch đã cho thấy khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh, nhất quán, thể hiện được tính khách quan, tính qui luật và khả năng dự đoán. Việt Dịch cũng cho thấy nó có khả năng dung nạp những lý thuyết có trước nó. Thí dụ như thuyết âm dương, bát quái và ngũ hành. Điều này không lạ vì Việt Dịch vốn được cấu thành trên nên tảng tổng hợp của những lý thuyết này. Đi xa hơn một chút, Việt Dịch có thể dung nạp Chu Dịch. Điều này cũng không có chi lạ. Sáu mươi bốn quẻ của Chu Dịch chỉ nằm ở tầng thứ hai của Việt Dịch, còn Việt Dịch là một hệ thống bao hàm từ tầng thứ nhất cho tới tầng thứ tám.[1] Khả năng tiên tri của Chu Dịch được thừa nhận từ nhiều năm. Nhưng, Chu Dịch có phải là một lý thuyết khoa học hay không thì không dám nói. Việt Dịch cũng có khả năng dự đoán rất cao nhưng nó có phải là một lý thuyết khoa học hay không thì không phải là điều tác giả quan tâm. Điều mà tác giả quan tâm là muốn nghiệm chứng sâu rộng hơn khả năng dung nạp của Việt Dịch đối với những môn khác của lý học đông phương, như học giả NVTA đưa ra “khả năng tiên tri của các phương pháp dự báo thuộc Lý học Đông phương cổ phải phản ánh một qui luật nào đó của vũ trụ, tính khái quát càng lớn chứng tỏ tính quy luật càng rất bao trùm.” Chính vì động lực muốn biết về khả năng dung nạp của Việt Dịch cho nên lần này tác giả nhắm vào những bộ môn mà khả năng tiên tri của chúng đã được xác định, ít ra là thỏa đáng theo cách đánh giá của học giả NVTA. Và một bộ môn được nói đến nhiều nhất trong cộng đồng nghiên cứu Lý Học Đông Phương là môn Lạc Việt Độn Toán, một công trình được cho là “phục hồi di sản cổ Việt” của học giả NVTA. Tại sao lại chọn Lạc Việt Độn Toán? Vì nó là con đẻ của học giả NVTA. Thực tình mà nói thì tác giả chọn Lạc Việt Độn Toán làm đối tượng nghiên cứu không ngoài hai lý do. Thứ nhất là vì tác giả thấy có hứng thú với những công trình của vị học giả này cũng như với tất cả những gì liên quan đến nguồn gốc cổ Việt. Và, thứ hai, vì dự cảm là Bát Môn và Lục Nhâm có một sự liên hệ mật thiết với Việt Dịch. Liên hệ thế nào với Việt Dịch là điều mà chúng ta đang hướng tới trong bài viết này. Nhưng trên tiến trình hướng tới sự khám phá đó thì chúng ta cần phải điểm qua một số thông tin về Lạc Việt Độn Toán để rồi từ nền tảng này chúng ta sẽ đặt Việt Dịch cạnh bên để thử xem Việt Dịch có giải thích được Bát Môn, Lục Nhâm, và Lạc Việt Độn Toán. Để tránh những lỗi lầm không cần thiết, tác giả sẽ cố gắng trích nguyên văn của học giả NVTA trong việc cung cấp thông tin về Lạc Việt Độn Toán.[2]



    LẠC VIỆT ĐỘN TOÁN: KHÁI LƯỢC
    Nói về công trình của mình, học giả NVTA đã viết: “Tôi không tự cho mình là người sáng tạo ra môn Lạc Việt độn toán. Mà chỉ là người phục hồi lại môn này và những nguyên lý của nó từ những di sản còn lại lưu truyền trong văn hoá phương Đông. Hay nói cách khác: Nội dung của Lạc Việt độn toán đã tồn tại trên thực tế từ hàng thiên niên kỷ trước. Nó đã bị thất truyền khi nền văn minh Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử. Nay được phục hồi lại nhân danh nền văn hiến Lạc Việt. . . . Sự phục hồi môn Lạc Việt độn toán từ những di sản văn hoá phi vật thể lưu truyền trong dân gian chính là một bằng chứng sắc sảo không chỉ minh chứng cho sự hoàn chỉnh nhất quán và tính khoa học của thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn minh Lạc Việt mà còn là một bằng chứng cho thấy một nền văn minh đã thất truyền vì lịch sử bị vùi lấp. Đó chính là nền văn hiến của người Lạc Việt trải gần 5000 năm, một thời huyền vĩ ở miền nam Dương Tử. . . . Hiện nay, nếu coi hệ thống những luận điểm nhân danh nền văn hiến Việt là đúng thì chúng ta mới chỉ dừng lại ở mối liên hệ hợp lý và nhất quán giữa các vấn đề liên quan trên một nguyên lý nhất quán. Nhưng chưa xác định được định lượng các mối liên hệ thực tại nào làm nên lý thuyết này. Đây sẽ là quá trình lâu dài, gian khổ và tốn nhiều tâm huyết của nhiều thế hệ. Tuy nhiên, căn cứ vào những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết hoặc một phương pháp hay giả thiết khoa học, chúng ta đủ cơ sở để ứng dụng một cách nhất quán nguyên lý được phục hồi để phục chế lại những giá trị văn hoá khoa học cổ đại, mà một trong những giá trị này chính là phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán.”
    Nói về Lạc Việt Độn Toán, học giả NVTA đã viết: “Phương pháp dự báo của Lạc Việt độn toán ứng dụng trên thực tế từ nhiều năm qua trên mọi phương diện do tác giả và những anh chị em nghiên cứu tham khảo thực hiện đã cho thấy khả năng dự báo rất hiệu quả của môn này. . . . [K]hả năng tiên tri của các phương pháp dự báo thuộc Lý học Đông phương cổ phải phản ánh một qui luật nào đó của vũ trụ, tính khái quát càng lớn chứng tỏ tính quy luật càng rất bao trùm. Vấn đề là chúng ta hiểu gì về thực tại vận động của những qui luật đó qua những phương pháp dự đoán thuộc Lý học Đông phương. Lạc Việt độn toán đã thoả mãn yêu cầu đó bởi tính khái quát cao: chỉ có 48 quẻ để dự báo cho tất cả sự vật sự việc từ nhỏ đến lớn so với quẻ Dịch có 64 quẻ và tính chi tiết hoàn hảo cho từng hào. Điều này chứng tỏ Bốc Dịch với 64 quẻ là sản phẩm được hoàn hảo ở một giá trị nhận thức về vũ trụ, trái đất và con người sâu hơn Lạc Việt độn toán. Chúng ta có thể nhận xét rằng Lạc Việt độn toán trên thực tế ra đời trước khi có phương pháp Bốc Dịch. Nói một cách khác: Lạc Việt độn toán có tính khái quát và gần với những nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành, tuy không sâu và chi tiết bằng Bốc Dịch. Nhưng vì tính thất truyền của một nguyên lý lý thuyết phản ánh một thực tại đã tạo dựng ra nó và sự sai lệch do thất truyền nên phương pháp Bốc Dịch trở nên huyền bí và có những sai lệch và đây cũng là tình trạng chung của các phương pháp tiên tri phương Đông . Trên đây cũng chỉ là ý tưởng ban đầu về sự suy luận tính lịch sử thời gian của sự ra đời hai phương pháp Bốc Dịch và Lạc Việt độn toán. Hy vọng đó sẽ là những ý tưởng để sau này có ai nghiên cứu về lịch sử hình thành các phương pháp tiên tri của Lý Học Đông phương sẽ tiếp tục tìm hiểu và tìm ra những lời giải cho các hiện tượng từ hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn năm trước.
    Và làm thế nào nào để phục hồi Bát Môn và Lục Nhâm để từ đó kết hợp chúng thành một trong cái gọi là Lạc Việt Độn Toán, học giả NVTA đã giải thích:
    Lạc Việt độn toán lấy Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt’ làm nguyên lý căn để về nguyên lý lý thuyết. Điều này thể hiện tính nhất quán trong nguyên lý học thuật cổ Đông phương thuộc về văn minh Lạc Việt, có khả năng lý giải một cách hợp lý những vấn đề và hiện tượng liên quan đến nó. Nguyên lý này ứng dụng một cách nhất quán trong việc lý giải mọi phương pháp và hiện tượng liên quan đến Lý học Đông phương từ Tử Vi, bốc Dịch, phong thuỷ..vv... Là cơ sở cho sự hiệu chỉnh và phục hồi những giá trị của học thuyết Âm Dương Ngũ hành đã thất truyền. Tính nhất quán là một trong yếu tố cần chứng tỏ một lý thuyết được coi là khoa học. Bởi vậy sự trùng khớp giữa đồ hình Bát Môn và Hà Đồ một lần nữa chứng tỏ tính hoàn chỉnh và nhất quán của nguyên lý Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt’. So sánh hai hình sau đây, chúng ta sẽ nhận thấy điều này.


    Posted Image


    Posted Image




    Chứng tỏ rõ hơn nguyên lý này, chúng ta nghiệm lý như sau: trên Cửu cung Hà Đồ và Cửu Cung Lạc thư đều có từng cặp Ngũ hành cho tám cung (Bát Môn) - Hà Đồ tính thuận theo chiều kim đồng hồ theo chiều Ngũ hành tương sinh và Lạc Thư tính nghịch theo chiều kim đồng hồ theo chiều Ngũ hành tương khắc. Điều này được minh hoạ bằng hình dưới đây:


    Posted Image



    Posted Image

    So sánh hai đồ hình trên chúng ta thấy hai cụm: Thuỷ (Hiển thị màu xanh Dương) - Càn (Tây Bắc), độ số 6, Khảm (Chính Bắc) độ số 1 và Mộc (Hiển thị màu xanh lá cây) – Cấn (Đông Bắc) độ số 8, Chấn (Chính Đông) độ số 3 có vị trí và phương vị hoàn toàn giống nhau. Nhưng đến hai cụm Hoả và Kim thì có những khác biệt sau đây:
    * Ở Lạc Thư: Phía Đông Nam và chính Nam là độ số của Âm Dương Kim số 4 – 9 phối quái Ly Hoả và quái Tốn Mộc (Theo sách Hán). Ở Hà Đồ: Phía Đông Nam và chính Nam là độ số của Âm Dương Hoả số 2 – 7 phối quái Ly Hoả và quái Khôn Thổ.
    * Ở Lạc Thư: Phía Tây Nam và chính Tây là độ số của Âm Dương Hoả, số 2 – 7 phối quái Khôn Thổ và quái Đoài Kim. Ở Hà Đồ: Phía Tây Nam và chính Tây là độ số của Âm Dương Kim số 4 – 9 phối quái Tốn Âm Kim và quái Đoài Dương Kim.
    Về nguyên tắc (Về lý): Bát môn chỉ có thể hoặc phối Lạc Thư hoặc phối Hà Đồ. Và dù phối với đồ hình nào thì trên Bát môn độn giáp cũng phải có hai cặp cùng hành tương ứng. Đây là tiền đề thứ nhất. Từ đó cho chúng ta một hệ quả là sự nghiệm suy sau:
    Chúng ta nhận thấy rằng:
    * Khai - sự trôi chảy, sự dẫn hướng hành Thuỷ. Như vậy cặp cùng hành với Khai là Hưu trên Bát Môn cũng phải thuộc Thuỷ (Hưu: Thuỷ Tù - sự ngưng trệ). Trong các sách cổ như Thái Ất, Kỳ Môn đều coi Khai Hưu thuộc Thuỷ.
    * Khai Hưu thuộc Thuỷ thì Sinh Thương tiếp theo phải thuộc Mộc dù phối Bát Môn với Lạc Thư hay Hà Đồ (xem hình trên).

    Nếu chúng ta sắp Bát môn với bất cứ Lạc Thư hoặc Hà Đồ thì cũng sẽ có hai hành hợp lý tiếp nối là:
    * Lạc thư: Đỗ Cảnh thuộc Kim, độ số 4 - 9.
    Hà Đồ : Đỗ Cảnh thuộc Hoả, độ số 2 - 7.

    * Lạc thư: Tử Kinh thuộc Hoả, độ số 2 – 7Hà Đồ: Tử Kinh thuộc Kim, độ số 4 - 9.
    Theo suy lý về khái niệm trực tiếp của danh từ thì tôi thấy Đỗ Cảnh : Sự thành đạt, vẻ đẹp thì đây chính là nội dung gần gũi của quẻ Ly thuộc Hoả. Do đó hai cung Đỗ Cảnh hoàn toàn phù hợp với Hà Đồ nằm ở phươngNam tương ứng với quái Ly. Tương tự, sự chứng nghiệm cho thấy hai cung Tử Kinh phù hợp với hành Kim, có tính sát phạt, đồng nghĩa với khái niệm trực tiếp của hai danh từ này. Sự phối Bát môn với Hà Đồ còn cho chúng ta phương vị của Bát Môn cũng chính là phương vị của Hà Đồ. Tính hợp lý của sự phối hợp này còn cho chúng ta sự hợp lý của mọi vần đề liên quan. Bởi vậy: Đồ hình căn bản và là nguyên lý của Bát Môn chính là Hà Đồ.
    Ta cũng dễ dàng nhận thấy: Trong Bát môn độn giáp lưu truyền trong dân gian, các quẻ không có ngũ hành và phương vị từng quẻ riêng biệt chỉ có khái niệm của quẻ đó qua tên quẻ. Đồ hình Lạc thư nếu không phối Hậu Thiên, cũng không thể xác định phương vị qua độ số. Bởi vì, nếu xét riêng Lạc Thư gọi 1 Thuỷ là phương Bắc thì không thể độ số 9 - độ số của - Kim lại ở phương Nam. Nhưng ngược lại, Hà Đồ nếu đứng riêng một mình thì tự nó có phương vị tương ứng với Hậu Thiên qua độ số 1 Chính Bắc hợp với Khảm Thủy, 7 chính Nam hợp với Ly Hoả, 9 chính Tây hợp với Đoài Kim và 3 Mộc chính Đông hợp với Chấn Mộc. Bởi vây: Hậu Thiên phối với Hà Đồ thì phương vị và ngũ hành của Tứ chính (Khảm - Chấn - Lý - Đoài), hoàn toàn phù hợp với phương vị ngũ hành của Hà Đồ và tính chất của các quái thuộc tứ chinh. Do đó: Bát Môn khi phối với Hà Đồ thì tám cung Bát môn sẽ có phương vị của Hà Đồ và đuợc ứng dụng trong Lạc Việt Độn Toán.


    Kết luận:
    Hà Đồ phối Hậu Thiện Lạc Việt chính là nguyên lý căn để của phương pháp ứng dụng Bát Môn độn giáp trong phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán.. . .Tôi đưa các dị bản khác nhau của Lục Nhâm tiểu độn nhằm chứng tỏ những nguyên lý lý thuyết căn bản của các phương pháp độn toán Đông phương (bao gồm cả Tử Vi; Tử Bình....) và sự nhận thức về một thực tại là tiền đề của nó đã bị thất truyền , mà trong trường hợp này đó chính là những dị bản của Lục Nhâm tiểu độn. Phương pháp lưu truyền ở miền Bắc có tính năm, giống cách tính trong bài viết của Thái Tuế bắt đầu năm Tý ở cung Đại An. Phương pháp ở miền Nam toán từ tháng 1 bắt đầu ở cung Đại An và không toán năm. Còn một dị bản thứ ba khác là các cung Đại An , Tốc hỷ, Tiểu cát bị lệch sang phải và thay chỗ cho nhau, dị bản này cũng tính tháng Giêng từ cung Đại an và không tính năm. Về cách gọi thì miền Bắc gọi môn này là Lục Nhâm đại độn, ở miền Nam gọi là Lục Nhâm tiểu độn. Dù với cách gọi nào thì cả ba phương pháp này đều có một nền tảng đồ hình giống nhau và đều không có sự liên hệ với Ngũ Hành. Lục Nhâm đại độn có 6 cung, có sự liên hệ với Lục khí và tương quan thực tại với chu kỳ của sao Thái tuế và chỉ có Hậu thiên bát quái Lạc Việt mới có khả năng kết hợp hai cặp quái Điên đảo dịch thành 2 cặp bất dịch và tạo thành 6 cực như sau:
    Posted Image

    Hậu Thiên Lạc Việt đổi chổ Tốn Khôn mới tạo được cặp bất dịch này. Trên cơ sở này mới tạo thành 6 cực liên hệ với 6 quẻ Lục Nhâm như sau:
    Từ cơ sở này, tính chất của 6 cung Lục Nhâm như sau:
    Lưu Niên: Giữ lại thời gian. Biểu tương cho sự ngăn trở hiểm ác, âm mưu… Đây chính là hành thuỷ, vậy liên hệ với quẻ Khảm.Tốc Hỷ: Niềm vui đến nhanh. Biểu tượng cho sáng sủa, vẻ đẹp…Đây chính là hành Hoả,vậy liên hệ với quẻ Ly.
    Xích khẩu: Tranh chấp, cự cãi, lý luận, xung sát … Đây là thuộc tính của hành Kim, vậy liên hệ với Tốn – Đoài.
    Như vậy tứ hành đã an vị. Còn hai quẻ nữa khởi đầu của vạn sự chính là Càn Khôn…liên hệ với: Càn – Đại An và Khôn – Vô vong. Từ đó ta thấy Lục Nhâm chính là sự sắp xếp theo những cặp đối xứng và xung sát nhau như:
    Khảm Thuỷ - Ly Hoả;Tốn Đoài Kim - Cấn Chấn Mộc;Khôn Âm Hỏa đới Thổ - Càn Âm Kim đới Thủy.
    theo chiều tương khắc của Ngũ Hành. Xin xem sự mô tả dưới đây:
    Khảm------------------Ly------------------Tốn và Đoài
    Thuỷ----------------- Hoả-----------------Kim
    Lưu niên------------Tốc Hỷ--------------Xích Khẩu
    Càn--------------------Khôn---------------Cấn và Chấn
    Dương Thổ----------Âm Thổ-------------Mộc
    Đại an----------------Vô Vong------------Tiểu Cát

    Qua sự phân tích trên, chúng ta thấy có sự liên hệ của Hà Đồ với Bát môn và Hà Đồ - Hậu thiên Lạc Việt với Lục Nhâm. Cả hai, Bát Môn và Lục Nhâm đều có gốc từ Hà Đồ. từ đó suy luận ra chúng phải có liên hệ với nhau. Bát Môn trực tiếp từ Hà Đồ - cái có trước - thuộc Dương sẽ Tĩnh. Lục Nhâm có sau từ Hậu thiên Lạc Việt - hệ quả của hệ quả - thuộc Âm sẽ động. Xin lưu ý Dương Tịnh - Âm Động là lý thuyết căn bản được phục hồi từ Văn hiến Lạc Việt còn sách Hán thì ngược lại Dương Động - Âm Tịnh.
    Đến đây ta đã thấy hai phương pháp độn Lục Nhâm và Bát Môn phải có một sự liên hệ với nhau trong một phương pháp tiên tri hoàn chỉnh. Xét hai phương pháp ta thấy 6 cung trong Lục Nhâm chính là tượng của lục khí tương tác và là một nửa chu kỳ Âm Dương của vòng Thái Tuế. Chu kỳ sao Thái Tuế - Sao Mộc quay quanh mặt trời là 12 năm, phân Âm Dương mỗi chu kỳ là 6 năm. Trong Lạc Thư Hoa Giáp thì 6 năm vừa đúng một vận có tính qui luât. 10 vận vừa đúng một hoa giáp 60 năm; phân Âm Dương thành 2 kỷ, mỗi kỷ 30 năm, khác với Lục thập hoa giáp từ sách Hán, không thể hiện được một vận là 6 năm. Đối chiếu với các hiện tượng liên quan thì việc tính thêm năm vào phương pháp độn Lục Nhâm là hợp lý.
    Phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán là sự kết hợp giữa hai quẻ của Bát Môn và Lục Nhâm trong cùng một thời điểm toán quẻ.
    * Bát môn thuộc Dương – theo nguyên lý Dương trước Âm sau và Dương tịnh Âm Động. Nến quẻ Lạc Việt độn toán lấy Bát Môn làm quẻ ngoại thể hiện hoàn cảnh, điều kiện bên ngoài của sự việc, sự vật cần luận đoán.* Lục Nhâm có sau thuộc Âm. Nến quẻ Lạc Việt độn toán lấy Lục Nhâm thể hiện bản chất sự việc sự vật cần luận đoán.
    Tóm lại Lạc Việt độn toán hoàn toàn dựa trên sự phục hồi của Thuyết Âm Dương Ngũ hành từ văn minh Lạc Việt, trong đó lấy Hà Đồ làm đồ hình là nguyên lý và Lục Nhâm Đại độn và Bát môn độn giáp là những mảnh còn sót lại của một phương pháp độn toán rất kỳ vĩ từ ngàn xưa. Đó là lý do môn độn toán này tồn tại hàng ngàn năm, cùng các phương pháp rất trí tuệ khác mà sự thất truyền không lớn là Thái Ất, Tử vi. Lạc Việt độn toán có tính qui luật, tính minh triết về những giá trị căn bản liên quan đến con người. Hay nói một cách khác: nó mang dấu ấn của một tri thức Hàn lâm. Lạc Việt độn toán là một phương pháp không hề tồn tại trong cổ thư chữ Hán. Do đó nó khẳng định tính nhất quán, tính hệ thống và khả năng tiên tri theo tiếu chí khoa học mình chứng cho nền văn hiến Lạc Việt một thời huyền vĩ ở bớ Nam sông Dương Tử với lịch sử trải gần 5000 năm.
    Kết Luận: Bát Môn độn giáp và Lục Nhâm đại độn là hai nội dung căn bản của phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán. Quẻ Lạc Việt độn toán là sự kết hợp giữa hai quẻ Bát Môn và Lục Nhâm trong cùng một thời điểm toán quẻ.”
    Giải thích về cách độn Bát Môn và Lục Nhâm và ý nghĩa, học giả NVTA viết:

    Posted Image

    Độn Bát Môn Đại Độn dùng 8 đốt ngón tay trên bàn tay [1] Bắt đầu từ cung Sinh ở đốt thứ nhất ngón trỏ là tháng thứ nhất trong năm, tính thuận theo chiều kim đồng hồ - mỗi tháng một cung - đến tháng cần toán. [2] Tiến 1 cung là ngày mùng 1 của tháng đó, tính thuận mỗi ngày một cung - đến ngày cần toán. [3] Tiến 1 cung là giờ Tí của ngày đó, tính thuận - mỗi giờ một cung - đến giờ cần toán trong ngày, dừng tại cung nào ra quẻ tên cung đó. Thí dụ: Giờ Tuất, ngày 19 tháng 5. Bắt đầu từ cung Sinh là tháng 1 đếm thuận chiều kim đồng hồ đến tháng 5, dừng ở cung Tử. Tiến 1 cung là cung Kinh, đếm thuận đến 19 là cung Hưu. Tiến 1 cung là cung Sinh giờ Tí đếm đến giờ Tuất, toán được là cung Đỗ, tức quẻ Đỗ. . . .Sinh nghĩa là: Sống, là sự bắt đầu (cho một việc, một cái gì đó), là ý tưởng ban đầu, là mầm cây, là cỏ, là cây nhỏ, là loại cây mềm yếu (cây Liễu chẳng hạn), là mùa xuân, là sự hứa hẹn, là hy vọng… Cung Sinh là Âm Mộc, nhưng nghĩa Sinh thuộc Dương Mộc. Độ số là 3. Về phương vị là chính Đông. Về màu sắc là xanh lá mạ, xanh non. . . Thương nghĩa là: Buồn, là thuộc trạng thái tình cảm, là cây lớn, là sự phát triền sung mãn sắp chuyển sang giai đoạn suy vi. Cung Thương là Dương Mộc, nhưng nghĩa của Thương thuộc Âm Mộc. Độ số là 8. Về phương vị là Đông Bắc. Về màu sắc là xanh lá cây sậm. . . Đỗ nghĩa là: Đạt, là sự thành đạt, là kết quả tốt đẹp, là được việc, là quí nhân phù trợ. Cung Đỗ là Âm Hoả, nhưng nghĩa của Đỗ thuộc Dương Hoả. Độ số là 7. Về Phương vị là chính Nam. Về màu sắc là màu đỏ. . . Cảnh nghĩa là: Đi chơi ở trong sự nhàn hạ, phong lưu.Là từ xa tới, là du lịch, là đi xa, là vẻ đẹp, là nhà đẹp, cao rộng có vườn cây hoặc nội thất rực rỡ. Cung Cảnh thuộc Dương Hoả, nhưng nghĩa của Cảnh thuộc Âm Hoả. Độ số là 2. Về phương vị là Đông Nam. Về màu sắc là màu đỏ nâu. Cảnh, vì là Âm Hỏa – chính vị Khôn Thổ (Theo Hậu thiên Lạc Việt) – nên còn có ý nghĩa là Âm Thổ: miếng đất đẹp. . . . Tử nghĩa là: Chết, sự chấm dứt, kết thúc, là cắt đứt, là sát phạt, là tiền bạc tài sản lưu động, là người làm nghề cơ khí, kim khí, là võ nghiệp, nếu là bác sĩ thì liên quan đến mổ xẻ, là nghe… Cung Tử thuộc Âm Kim, nhưng nghĩa của Tử thuộc Dương Kim. Độ số là 9. Về phương vị là chính Tây. Về màu sắc là màu trắng. Tử, cũng còn có nghĩa là con cái. . . . Kinh nghĩa là: Kinh sợ, đột ngột, sự bất ngờ, là giật gân, là người làm việc táo bạo, mạo hiểm … Cung Kinh thuộc Dương Kim, nhưng nghĩa của Kinh thuộc Âm Kim. Độ số là 4. Về màu sắc là trắng xám. . . Khai nghĩa là dòng nước chảy, là sự khai thông, là trôi đi, là thoát khỏi sự bế tắc, là đi xa thuận lợi, … Cung Khai thuộc Âm Thuỷ, nhưng nghĩa của Khai thuộc Dương Thuỷ. Độ số là 1. Về màu sắc là xanh dương, là đen bóng. . . Hưu nghĩa là: Nghỉ, sự ngưng trệ, sự nghỉ ngơi do bất lực, kiệt sức, là bế tắc. Cung Hưu thuộc Dương Thuỷ, nhưng nghĩa của Hưu thuộc Âm Thuỷ. Độ số là 6. Về màu là màu đen xỉn, xanh đen.

    Posted Image

    Độn Lục Nhâm dùng 8 đốt ngón tay trên bàn tay. [1] Năm Tí từ cung Đại An, trên đốt thứ nhất ngón trỏ, chiều thuận kim đồng hồ - mỗi năm một cung - đến năm cần toán, dừng ở cung nào là tháng 1 của năm đó. [2] Từ tháng 1 tính thuận - mỗi tháng một cung - đến tháng cần toán, dừng ở cung nào là ngày 1 của tháng đó. [3] Từ ngày 1 tính thuận mỗi ngày một cung – đến ngày cần toán dừng lại ở cung nào là giờ Tí của ngày đó. Từ giờ Tí tính thuận đến giờ cần toán, ta sẽ được quẻ Lục Nhâm cần toán. Thí dụ: Giờ Tuất ngày 19 tháng 5 năm Tỵ. Bắt đầu từ cung Đại an là năm Tí, đếm thuận theo chiều kim đồng hồ đến năm Tỵ là cung Không vong. Từ cung Không vong là tháng 1, đếm thuận đến tháng 5 là cung Xích khẩu. Từ cung Xích khẩu là ngày 1, đếm thuận đến ngày 19 là cung Xích khẩu. Từ cung Xích khẩu là giờ Tí, đếm thuận đến giờ Tuất là cung Lưu niên, toán được cung Lưu Niên. . . Đại an thuộc Dương Thổ, nghĩa là bình yên lớn. Tính chất chậm chạp nhưng chắc chắn, thuộc về tài sản là nhà đất lớn, là miếng đất hoặc vùng đất lớn, là nguồn lợi ổn định, chắc chắn. Về người là bậc quân tử chín chắn, nữ hiền hậu tính cách điềm đạm, là người đầy đặn, béo tốt. Về công việc là sự ổn định, là người làm tại nơi trung tâm, có quyền chức địa vị. Về nơi làm việc là cơ quan hoặc bộ phận quan trọng. Về bệnh liên quan đến dạ dày hoặc tỳ.Về phương vị là nơi trung tâm. Về màu sắc là màu vàng thổ. Độ số là 5. . . Lưu niên thuộc Thuỷ, nghĩa là giữ lại thời gian. Có tính hiểm độc, lừa dối, âm mưu, là mưu toan, là sự do dự, lo lắng. Thuộc về tài sản là thất thoát, phá sản. Thuộc về sự việc là trì trệ. Là công việc không chính danh, có tính phiêu lưu mạo hiểm, là phi pháp, phi đạo đức. Là chết chóc tai nạn. Về bệnh thì liên quan đến máu huyết hoặc thận. Về phương vị là phương Bắc hoặc Tây Bắc. Về màu là màu đen hoặc xanh dương. Về độ số là 1 và 6. . . Tốc hỷ thuộc Hoả, nghĩa là sự vui vẻ, may mắn, là nhanh chóng, là tốt đẹp sáng sủa. Về người là quí nhân hay giúp đỡ người khác, là người thông minh, tài cao học rộng. Về công việc là chính danh, về học vấn là sự thành đạt, có học vị cao, là những dịch vụ phục vụ cho vẻ đẹp, cho nhu cầu tinh thần. Về hiện tượng là thuộc về văn hóa, giáo dục. Là người mang những giá trị tinh thần cao quí. Về bệnh liên quan đến tim hoặc tinh thần. Về màu sắc là màu đỏ, về phương vị là hướng Nam hoặc Đông Nam. Về độ số là 2 và 7. . . Xích khẩu thuộc Kim. Nghĩa là sự tranh luận, cãi nhau, tiếng ồn ào, tiếng động. Về sự việc là tranh chấp kiện tụng. Về nghề nghiệp là nghề liên quan đến kim khí, máy móc; liên quan đến miệng như: dạy học, luật sư, quảng cáo, thông tin… Về người là người hay nói, lý luận khúc chiết, là người thấp, đầy đặn, nhiều lý trí. Về bệnh tật là bệnh liên quan đến phổi, tai, xương cốt. Về hướng là hướng Tây hoặc Tây Nam. Về màu sắc là màu trắng hoặc xám trắng. Về độ số là 4 và 9. . . Tiểu cát thuộc Mộc. Nghĩa là niềm vui nhỏ, là tin tức vui, là tình cảm, tình yêu, sự quí mến. Về sự vật là sách vở, là tri thức, học hành, là cây cối. Về người là người giàu tình cảm, là hôn nhân, tình duyên. Về nghề nghiệp là người buôn bán nhỏ, có tiểu lợi, là người làm ăn liên quan đến gỗ cây, sách vở, tri thức… Về hình thể là người yểu điệu, mình dây, duyên dáng; đàn ông cao gầy có tính hiền, ham học hỏi. Về bệnh liên quan đến gan.Về hướng là hướng Đông hoặc Đông Bắc. Về màu sắc là màu xanh lá cây. Về độ số là 3 và 8. . . Vô vong thuộc Âm Thổ. Nghĩa là không được việc gì, hoặc không sao cả; là đất bỏ hoang. Về người là người vô tích sự, thất nghiệp. Gặp hạn thì hoá giải. Về màu sắc là màu vàng đất xỉn. Về phương vị là ở cạnh nơi trung tâm, ở phía dưới, là nền nhà. Về độ số là 10. . .Quẻ Lạc Việt độn toán là sự kết hợp giữa hai quẻ Lục Nhâm và Bát môn lấy trong cùng một không thời gian toán quẻ. . . . Như vậy, kết hợp hai cung của Bát môn và Lục Nhâm trong cùng đơn vị thời gian luận quẻ trong bài trên là:* 1 – 3: Giờ Tuất ngày 19 tháng 5 - Quẻ Bát Môn = Đỗ.
    * 2 – 3: Giờ Tuất ngày 19 tháng 5 - Quẻ Lục Nhâm = Lưu Niên.
    Ta có quẻ của Lạc Việt độn toán là: Đỗ - Lưu Niên - năm âm

    Quẻ Bát môn trong Lạc Việt độn toán tương ứng hoàn cảnh, điều kiện môi trường của sự vật sự việc, với quẻ Thượng trong bốc Dịch. Quẻ Lục Nhâm trong Lạc Việt độn toán tương ứng với hiện trạng, bản chất sự vật, sự việc, với tương ứng với quẻ Hạ trong Bốc Dịch. . . Bát môn thuộc Dương – theo nguyên lý Dương trước Âm sau và Dương tịnh Âm Động. Nên quẻ Lạc Việt độn toán lấy Bát Môn làm quẻ ngoại thể hiện hoàn cảnh, điều kiện bên ngoài của sự việc, sự vật cần luận đoán. Lục Nhâm có sau thuộc Âm. Nên quẻ Lạc Việt độn toán lấy Lục Nhâm thể hiện bản chất sự việc sự vật cần luận đoán.” Đến đây chúng ta đã có khá đầy đủ thông tin về môn Lạc Việt Độn Toán. Dĩ nhiên những trích đoạn như vậy không thể nào đại diện được cho công trình của học giả NVTA mà chỉ đủ để làm cơ sở cho những điều mà chúng ta muốn cứu xét. Và bây giờ thì đã đến lúc chúng ta có thể đi vào công việc triển khai sự so sánh để thử xem Việt Dịch có thể giải thích được Bát Môn và Lục Nhâm như đã nêu ra.


    Còn tiếp

  11. Nhà này bể cá để vậy là được rồi. Nhưng như vậy cũng chỉ chơi thôi.

    Nhà này có thể có hiên tượng như sau:

    -Người trong nhà dể bực bội cáu gắt.

    -Giấc ngủ không chất lượng.

    -Người nữ trong nhì dễ mắc bệnh liên quan đến máu, huyết áp hoặc tim

    -Kinh tế kém

    Thiên Đồng


  12. Với quần thể kiến trúc đặc sắc của chùa một cột thì việc đặt bàn thờ giữa trời, hai trụ đèn đá và 2 sư tử lớn làm phá hủy đi nét đạc sắc thuần Việt, thể hiện một sự ngay ngô, mù tịt về mỹ thuật hay văn hóa. Nói đúng hơn không gian văn hóa ở đây trở thành sự hổ lốn.

    Để tượng sư tử đá theo phong thủy Tàu, phong cách Tàu. (mà lại để sai nữa chứ!)

    Để thạch trụ đăng là sản phẩm của sứ sở Phù Tang, Nhật Bản.

    Để tương Quan Âm phía trước chẳng rỏ theo nét gì?

    Để thùng phước thiện kế bên thì rỏ ràng là...vì kiếm chác!

    Bạn cảm thấy như thế nào khi bức hình này thêm vài chi tiết chẳng liên quan vào?

    Thêm sưu tử và cột đèn vào, bạn có thấy như mặt mèo có mũi heo không?

    Posted Image

    Cần phải có sự quản lý và sự nhận thức đúng đắn về văn hóa Việt. Nếu không nhận thức một nền văn hiến Việt 5000 năm đáng tự hào thì hiện tượng văn hóa hóa Việt sẽ còn chìm trong mớ hổ lốn, tả pín lù!

    Thiên Đồng


  13. Thiên Đồng thử một quẻ xem bảo đi hướng nào.

    ngày 19/5/ tân mão giờ thân,

    được quẻ Sinh xích khẩu

    Posted Image

    Bão sẽ di chuyển về hướng Tây, bất ngờ chuyển hướng vòng lên Đông Bắc, sức gió mạnh cấp 8 đến 9, giật cấp 13, có lốc xoáy và đường di chuyển bất ổn, có mưa giông. Từ Huế đến mũi Cà Mau chỉ bị ảnh hưởng áp thấp của bão.

    Lưu ý: đây chỉ là chiêm nghiệm quẻ đúng hay sai, không mang tính dự báo.

    Thiên Đồng


  14. Hôm nay bão vào biển Đông

    Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn T.Ư cho biết, chiều qua 19.6, vị trí tâm áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) cách đảo Luzong (Philippines) khoảng 100 km về phía đông.

    so-do-tam-bao_000053.jpg

    Bản đồ dự báo đường đi của …

    Trong 24 giờ tới, ATNĐ di chuyển theo hướng giữa tây tây bắc và tây bắc, mỗi giờ khoảng 15-20 km và có khả năng mạnh lên thành bão. Chiều nay 20.6, tâm bão ở vào khoảng 20,3 độ vĩ bắc; 120,1 độ kinh đông, cách đảo Luzong khoảng 160 km về phía bắc - tây bắc, sau đó di chuyển vào khu vực đông bắc biển Đông. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão cấp 8 (62 - 74 km/giờ), giật cấp 9 - cấp 10. Do ảnh hưởng của ATNĐ, từ sáng nay vùng biển phía đông bắc biển Đông có gió mạnh cấp 6 - cấp 7, biển động mạnh. Ngoài ra, do hoạt động của gió mùa tây nam ở khu vực giữa và nam biển Đông (bao gồm cả vùng biển quần đảo Trường Sa), vùng biển Bình Thuận đến Cà Mau, Cà Mau đến Kiên Giang có gió mạnh cấp 5, có lúc cấp 6, giật cấp 7, có mưa rào và giông rải rác, cần đề phòng có lốc xoáy và gió giật mạnh.

    Hôm qua, Ban chỉ đạo Phòng, chống lụt bão T.Ư có công điện khẩn yêu cầu các địa phương ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang thông báo cho các tàu, thuyền đang hoạt động trên biển biết vị trí và diễn biến của ATNĐ để chủ động phòng, tránh đồng thời duy trì lực lượng, phương tiện cứu hộ, cứu nạn, sẵn sàng ứng cứu khi có sự cố xảy ra.

    Quang Duẩn - Mai Vọng

    nguồn: http://www.thanhnien...-bien-Dong.aspx


  15. Posted Image

    ngửa nghiêng tư vấn

    Posted Image

    Co chân cũng thoải mái tư vấn

    Posted Image

    miệt mài tám vấn

    Posted Image

    Posted Image

    đông đảo tư vấn

    Posted Image

    Nhidiasinh hỏi thăm Hatgaolang: "Vui hong anh?"

    Posted Image

    tác nghi65p ngoài phong thủy!

    Posted Image

    Bên đây nè! Sao không chịu chụp?

    Posted Image

    Em...em xê ra một tí. Nữa nữa...rồi!

    Posted Image

    Vừa chụp vừa...múa võ!

    Posted Image

    Có tư vấn Phong thủy mầm non không chú ơi!?

    Posted Image

    Ăn cơm hộp rồi về nghen!

    Posted Image

    Mệt đờ luôn, làm cái cafe rồi về.

    Posted Image

    Cũng còn ham mê chộp hình!

    Thiên Đồng ghi nhanh


  16. TƯ VẤN PHONG THỦY LẠC VIỆT TẠI VŨNG TÀU

    Ngày 19/6/2011, nhóm tư vấn Phong thủy Lạc Việt đã có mặt tại Nhà văn hóa Thanh Niên thành phố Vũng Tàu, trong chương trình hợp tác với công ty xi măng Holcim Việt Nam tư vấn miễn phí về phong thủy nhà ở cho đồng bào tại địa phương.

    Chương trình "Cùng xây tổ ấm" với dịch vụ tư vấn miễn phí về Phong thủy Lạc Việt đã diễn ra, là một trong những điểm thu hút đặc biệt của chương trình.

    Những hình ảnh của chuyến đi tư vấn.

    Posted Image

    trú mưa chờ xe

    Posted Image

    bị ướt mưa nè

    Posted Image

    lên xe an tọa

    Posted Image

    Posted Image

    chụp một pô nè

    Posted Image

    tạm dừng chân làm vài hơi

    Biết thông tin, anh Nhidiasinh, cựu học viên lớp phong thủy đầu tiên của diễn đàn lyhocdongphuong, ra tiếp đón nồng hậu, gặp gỡ đồng môn sau thời gian vắng bóng.

    Posted Image

    Posted Image

    Posted Image

    Còn tiếp


  17. Ý NGHĨA CỦA THẦN SÁT

    TRẦN MẠNH LINH

    Đại môn là nơi hoạ phúc tiến vào hoặc rađi, là nơi động khí, nơi âm dương ngũ khí gặp nhau mà tạo cát, hung: "Hoạ tòng khẩu xuất, bệnhtòng khẩu nhập" nghĩa là mọi tai hoạ bệnh tật đều do từ miệng mà ra. Có thể nói rằng cát hung, hoạ phúc củadương trạch đa phần có liên quan đến khẩu môn mà điều đó con người có thể tạo ra được thông qua phép khai mônthụ khí. Từ đó có thể cải tạo và quyết định vận mệnh của mình.

    Trong các số nội san chúng tôi đã và đanglần lượt đăng các cách cục của Khai môn- Nghệ thuật điểm thần sát trong đó đã tính sẵn các vị trícủa Âm dương Quý nhân, Thiên lộc, Thiên mã, Thiên hình, Đào hoa, Đại sát, Độc hoả. Để giúp thêm những kiếnthức cần thiết cho độc giả trong quá trình sử dụng và tra cứu, bắt đầu từ số này chúng tôi sẽ tiếp tục cungcấp thêm phần ý nghĩa của Thần sát.

    Thiên Lộc

    Lộc là phương Lâm quan của Tuế can, tínhcủa ngũ hành, Lâm quan tối cát. Lâm quan là thời đương thịnh, đang lên phơiphới là đúng đạo sinh thành gần tới vượng mà là lộc,bởi vượng thì thái quá. Đạo của càn khônlà cái gì cực thịnh tất suy, chỉ có cái gần tới vượng mới là thế đi lên vì vậy mà lấy Giáp lộc ởdần, ất lộc ở mão, Bính Mậu lộc ở tị, Đinh Kỷ lộc ở ngọ, Canh lộc ở thân, Tân lộc ở dậu, Nhâmlộc ở hợi, Quý lộc ở tý, đó chính là lấy Lâm quan làm lộc vậy.Lộc cách là cách có Lộc ra chính môn. Nhàcó cách này là cát khánh, rất tốt. Lộc ra chính môn sẽ đem lại nhiều sự may mắn vềtiền bạc, gia sản tăng tiến, điền trang hưng vượng. Thường sinh người béo tốt, thông minh tuấntú lại khéo léo, tài năng, giỏi kinh doanh, làm ăn tấn phát. Tuy nhiên cũng cần phải ra sinhvượng lộc, tránh không vong tử tuyệt, nếu ngộ không vong tử tuyệt thì khí tán không tụ là vôdụng, có lộc cũng như không, tài sản dù có như núi rồi cũng tiêu tán hết, gọi là tuyệt lộc. Nếugặp thoái khí thì mặc dù vẫn phát đạt, nhưng con trai thì tài hoa mà kiêu ngạo, con gái nhỏ thì khảái nhưng ngỗ nghịch, trong gia đình hay sinh nội loạn,cãi vã, cả ngày ồn ào khiến mọi người bấtyên.

    Lộc cung là cát cung vì vậy ngoài cách đặtcửa chính ra còn có thể đặt cửa phụ, nhà bếp, phòng khách, phòng làm việc, bàn thờ,giường ngủ, tất cả được lộc đều tốt. Tuy nhiên Lộc phải cư đúng cung Tài là Lộc cư Lộc vị mới thậtsự đắc cách, mới thật sự tốt đẹp vậy.

    Thiên Mã

    Mã là ngựa trời, lấy tam hợp cục của địachi gặp xung khắc làm mã. Như Dần Ngọ Tuất tam hợp cục hoá hoả, lấy Thân là vị trí racủa thuỷ cục là hoả thuỷ giao chiến, lại Dần Thân tương xung mà làm mã. Thân Tý Thìn tam hợpcục hoá thuỷ, lấy Dần là vị trí ra của hoả cục là thuỷ hoả giao chiến lại Dần Thân tươngxung mà làm mã. Tị Dậu Sửu tam hợp cục hoá kim, lấy Hợi là vị trí ra của mộc cục là kim mộctương tranh, lại Tị Hợi đối xung mà làm mã. Hợi Mão Mùi tam hợp cục hoá mộc, lấy Tị là vị tríra của kim cục là mộc kim tương khắc, lại Tị Hợi đối xung mà làm mã. Vì vậy mà nói mã chủ trạngthái động, là tượng của sự thay đổi, bôn tẩu.

    Mã ra chính môn thì gia trạch luôn gặp sựmay mắn, tin vui ngất trời, phát tài nhanh chóng, mọi công việc đều trôi trảy thuậnlợi, thường sinh người thông minh, nhanh nhẹn, khôi ngô tuấn tú lại hay xuất ngoại ra ngoài ănra làm lên. Tuy nhiên cũng như Lộc, Mã cần phải gặp sinh vượng, tránh không vong tử tuyệt, gặpsinh vượng thì tốc phát lại sinh người thông minh cao quý, trí lự, thông biến, bình sinhnhiều danh vọng. Gặp không vong tử tuyệt thì giang hồ, bôn tẩu nơi xa để mưu sinh, tha phương cầuthực, công danh thì thăng giáng thất thường, sự nghiệp thì long đong lận đận lại dễ gặptai nạn về chân tay, công việc thì có đầu không có đuôi, thành công ít mà thất bại thì nhiều. Gặpthoái khí lại ra cung đoài trực cùng đào hoa thì âm thịnh dương suy, con gái dễ phát sinh dâm loạn,con trai chơi bời nghiện ngập, tiêu tán tổ nghiệp, bại hoại gia phong.

    Mã cung là cát cung, vì vậy ngoài cách đặtcửa chính ra còn có thể đặt cửa phụ, phòng khách, phòng làm việc, cầu thang, bàn thờđều rất tốt. Chỉ có giường ngủ của nữ lưu không nên đặt tại Mã cung, nữ giới có giường ngủ đặttại mã cung thì tâm bất an, không ở yên một chỗ, là tượng bất lợi vậy.

    Quý Nhân

    Quý nhân Thiên ất là vị thần đứng đầu cátthần, hết sức tĩnh mà có thể chế ngự mọi chỗ động, chí tôn mà có thể trấn được phi phù;Quý nhân một ngày hai mặt âm dương chia nhau trị nội ngoại theo quy luật tương khắc của sựphối hợp can chi. Lấy Sửu mùi là cửa xuất nhập của quý nhân, nên giáp mậu ra tại sửu mùi, sửumùi là thuần thổ nên phải phối Giáp với Mậu là mộc thổ tương khắc. Lấy ất Kỷ ra tại Tý Thân,ất là mộc,Tý là thuỷ, Thân là kim, là kim sinh thuỷ, thuỷ sinh mộc nên phải phối ất với Kỷ làmộc thổ tương khắc. Lấy canh tân ra Ngọ Dần, Lấy Bính Đinh ra Hợi Dậu là hoả kim tươngkhắc. Lấy Nhâm Quý ra Mão Tị là thuỷ hoả gia tranh. Hai vị trí Thìn Tuất là vị trí của Thiênla, Địa võng nên Quý nhân không ra. Lại có thuyết nói rằng âm dương Quý nhânlà căn cứ vào Khôn quái ra vào hậu tiên thiên mà thành. Dương Quý nhân khởi ở Khôn tiênthiên mà đi thuận, Âm Quý nhân khởi ở Khôn hậu thiên mà đi nghịch. Như dương Quý khởi ởkhôn tiên thiên, tức là lấy Giáp ra vào Tý, Giáp hợp với kỷ cho nên Kỷ dùng Tý làm Quý nhânthuận hành, vì thế lấy ất ra Sửu. ất hợp canh cho nên Canh dùng Sửu làm Quý nhân. Sau cứ theothứ tự mà tính. Thìn là Thiên cương, Tuất là Hà khôi Quý nhân không ở; Ngọ với Tý tương xungnhau không dùng. Âm Quý khởi ở Khôn tiên thiên, tức là lấy Giáp gia vào Thân, Giáp hợp vớiKỷ, nên Kỷ dùng Thân làm Quý nhân. Âm quý nghịch hành nên lấy ất ra Mùi. ất hợp Canhnên Canh dùng Mùi làm Quý nhân; sau cứ theo thứ tự nghịch hành mà ra vào. Như gặp Thìn,Tuất, Dần thời vượt qua. Người xưa nói rằng: '' Sửu Mùi là cửa xuất nhập của Thiên ất Quý nhân'' chính là theo quy luật của âm dương để xếp bày đức của thiên can Mùi đủ là Quý thấm sâuđược sự phối hợp hài hoà của âm dương cho nên cực kỳ cát khánh, có thể giải hung ách vậy. Nhà có chính môn ra Quý là đại cát khánh,gia đạo bình an, hoà thuận, hỉ khí đầy nhà, luân gặp may mắn. Quý nhân là sao cứu trợ,là thần giải trừ tai ách nên nhà ra Quý là gặp việc có người giúp, gặp tai ách có người giảicứu, gặp hung hoá cát. Sự nghiệp thì hiển vinh, công danh sớm đạt, dễ thăng quan tiến chức, họchành thi cử nhất nhất đều tốt đẹp. Quý nhân gặp sinh vượng thường sinh người hiếu lễ, khôinguyên, tướng mạo phi phàm, tính tình nhanh nhẹn, lý lẽ phân minh, không thích mẹo vặt,thẳng thắn mà ôn hoà, khôi ngô tuấn tú. Nếu ngộ không vong tử tuyệt thì nguồn phúc giảm đinhiều, hoặc nếu có mắc tai nạn cũng khó tránh bởi nguồn cứu giải kém hiệu lực, người và gia súc bịtổn hại, kiện cáo, thị phi, lại hay sinh người tính tình cố chấp, bảo thủ mà xuất đời vất vả khôngnên người. Quý nhân ra thoái khí nếu lại ngộ đào hoa nữa thì nam nữ tuy thông minh tuấn tú,nhưng nam thì hiếu sắc, nữ thời dâm đãng, ham chơi làm bại hoại gia phong, lại hay mắc bệnhtật và trong nhà dễ có người tự ải đầu hà, hay tự vẫn vì tình.

    Quý nhân là cát khí rất tôn quý nên ra vàocung nào cũng rất tốt. Cửa phụ, phòng khách, phòng làm việc, cầu thang, bàn thờ, buồngngủ đều nên chọn cung ra Quý. Đặc biệt bàn thờ nên đặt cung có âm Quý nhân là đại cát khánh,như thế sẽ luân được âm linh phù trợ. Chỉ lưu ý là phòng tắm, nhà vệ sinh thì tuyệt đối khôngthể đặt nhầm vô cung Quý nhân, nếu không thì hoạ hại liên miên, nữ nhân thiếu máu, độngthai, sinh con dù có xinh đẹp nhưng rồi cũng dấn thân vào con đường ô nhục, làm điếm cuối cùngtự vẫn, tài sản tiêu tán, yêu ma hoành hành, gia đìnhcó người bị cướp bóc, chém giết máu me thảmkhốc, bệnh tật, đau khổ triền miên, tiếng khóc than ai oán. Có thể nói rằng nếu để nhầmnhà vệ sinh vào cung ra âm quý nhân thì sẽ gặp tai hoạ khủng khiếp khó mà lường trước được vậy.

    Thiên Hình

    ''Kim cương, hoả cường đều giữ phương củanó. Mộc rụng quay về cội, thủy chảy hướng tới mùi '' Kim hoả cương cường, thuỷ mộc nhu nhược,vì vậy kim hình phương kim, hoả hình phương hoả, cương cường tất tự sát. Mà kimchẳng cương ở Dậu, hoả chẳng cường ở Ngọ, thì là tự sát ở bản phương mà còn tự sát thân đócũng là nói cương cường thì hình tại vượng. Lấy Tị Dậu Sửu hình Thân Dậu Tuất thì Tị hìnhThân, Sửu hình Tuất, Dậu chuyển ra tự hình. Lấy Dần Ngọ Tuất hình Tị Ngọ Mùi thì Dần hình Tị,Tuất hình Mùi, Ngọ chuyển ra tự hình đều là giữ phương của nó.

    Thuỷ mộc nhu nhược tất bị giết ở nơi sinhra với chỗ sinh ra cũng tức là thuỷ sinh mộcmà hình mộc, mộc sinh ở thuỷ mà hình thuỷ,cửa sinh ra ta là cửa ta chết. Lấy Hợi Mão Mùi hình Hợi Tý Sửu thì Mão hình Tý, Mùi hìnhSửu, Hợi chuyển ra tự hình. Hợi là gốc rễ của mộc, cho nên mộc rụng quay về gốc rễ. Lấy ThânTý Thìn hình Dần Mão Thìn thì Thân hình Dần, Týhình Mão, Thìn chuyển ra tự hình. Thìn làthuỷ khố, cho nên nước chảy hướng về Mùi.

    Chính môn ra Hình thì hại vô cùng vì Hìnhchủ tù ngục, kiện tụng là tượng của sự chém giết, mổ sẻ, châm chích. Hình ra môn thìgia đạo thường xuyên gặp hoạ, tai bay vạ gió từ đâu kéo đến, những người sống trong nhà nàytuổi thọ bị triết giảm, trong người hay phải mang thương tật lại dễ sẩy ra kiện tụng, haynhững việc liên quan đến ngục hình, trai khắc vợ, gái sát chồng. Hình ra môn cũng thường sinh rangười tính khí hung bạo, liều lĩnh, bướng bỉnh, ngang ngạnh và gian trá, lại hay mang tật trongmình, lớn nên ắt phá tán tổ nghiệp, phải xa hương mưu thực

    Có thể nói rằng Thiên Hình ra cung nàocũng hung, nếu nó thất hãm còn đỡ chứ miếu vượng thì vô cùng nguy hiểm. Giường ngủhay bàn học của con trẻ nếu để cung Thiên Hình thì học tài thi phận, học hành dù có giỏigiang, sáng dạ mà thi cử không may, điểm số không cao tương sứng với học lực. Thiên Hình đóng ởcầu thang mà gặp Mã thì là Mã què chủ gặp vướng mắc khó khăn trong công việc, nhất lànhững công việc liên quan đến giấy tờ, thủ tục hành chính. Nếu Hình vượng thì còn chủ hay bịtai nạn giao thông, hay những tai nạn thương tích đếnchân tay. Hình Lộc đi cùng nhau thì chủhay bị mất cắp, hoặc làm ăn đổ bể, thất tài, phá sản, hoặc do làm ăn bất chính mà phải dính dángđến pháp luật. Tóm lại cung ra Tuế hình chỉ nên đặt nhà vệ sinh hay phòng tắm để yểm trấn làtốt nhất khi ấy Thiên Hình không còn hiệu lực pháttác trở thành vô hại.

    Đại Sát

    Đại sát là sát của âm khí, đó là đặc biệtđộc. Thường đóng ở tứ quý. Đất của Tuế sát không thể phạm vào, phạm vào tất thươngtổn. Theo thuyết tam tài thì thiên lấy 1 màtròn, địa lấy 2 mà vuông, nhân lấy 3 mà là góc. Một sinh hai, hai sinh ba, đến chỗ ba màvạn vật sinh thành. Tròn mà vuông ba góc xuất ra ở đó. Như vậy thì trời đất hết sức giản dị lấychỗ cùng cực thì hết sức u thân huyền diệu suy ra đến hết chỗ kín đáo của thiên hạ. Như vậy thì bagóc là tâm của thiên địa, khởi đầu của âm dương, chỗ hội tụ của quỷ thần, tú khí của ngũ hành.Như vậy là tam hợp, chỗ tối trọng của thần sát, tam hợp tất ở ba góc vậy. Trong tam hợp DầnNgọ Tuất thành hoả cục mà Dần la đầu, Sửu đóng ở trên Dần, ấy là dựa vào đỉnh đầu của nó màđè xuống, Dần bị đè nén cho nên lấy Sửu là Tuế sát. Tam hợp Thân Tý Thìn thuỷ cục mà Thân làđầu, Mùi đóng ở trên Thân, ấy là dựa vào đỉnh đầu của nó đè xuống, Thân bị Mùi đè nén nênlấy Mùi là Tuế sát. Tam hợp Tị Dậu Sửu kim cục mà Tị là đầu, Thì đóng ở trên Tị, ấy là dựavào đỉnh đầu của nó mà đè xuống, Tị bị Thìn đè nén nên lấy Thìn làm Tuế sát. Tam hợp Hợi Mão Mùimộc cục mà Hợi là đầu, Tuất đóng ở trên Hợi, ấy cũng là dựa vào đỉnh đầu của nó mà đèxuống, Hợi bị Tuất đè nén nên lấy Tuất làm Tuế sát. Nhà có chính môn ra Sát là vào cách hunghoạ nhất, chủ tai nạn chết chóc, ốm đau bệnh tật, ly tán, cô quả, tai nạn giáng xuốngliên miên, nặng thì mất mạng toàn gia và cái chết đến mộtcách rất thê thảm, khủng khiếp, nhẹ thìcũng quan trường bãi miễn, gia sản lụn bại, bần cùng. Tuế sát ra môn cũng thường sinh ra ngườiyểu tử ( hữu sinh vô dưỡng) hoặc sinh ra người tính tình ương ngạch, hiếu thắng, hung tợn,nham hiểm, bất nhân, nhưng có óc kinh doanh, thủ công, kỹ nghệ. Tuy nhiên vẫn suất đời vấtvả, thường mắc nhiều tai ách và chẳng làm nên côngcán gì. Loại nhà này chẳng thể ở lâu phảimau chóng sửa trị kịp thời. Cũng như Thiên Hình, Đại Sát là một saođại hung hoạ nên ra vào cung nào cũng hung, giường ngủ hay bàn học của con trẻ nếu đểcung Đại Sát ra sinh vượng khí thì học tài thi phận, học hành dù có giỏi giang, sáng dạ mà thicử không may, điểm số không cao tương sứng với học lực. Nếu lại ra tử tuyệt thì lười biếng,ham chơi lại hay nói dối trá và tất nhiên là lực học yếu kém. Đặc biệt tối kỵ đặt bàn thờ vô cungra Đại Sát nếu không sẽ có người điên khùng hoảng loạn. Người điên khùng ở đây có thể do ốmđau, tai nạn mà thành tâm thần, nhưng cũng có thể có triệu trứng như bị ma làm, tức là bệnhtrạng không rõ ràng rất là kỳ lạ. Cũng có thể sinh ra người cờ bạc, nghiện hút, hay đang hiềnlành ngoan ngoãn bỗng trở nên đổ đốn, hư hỏng; hoặc nặng hơn là trong nhà sẽ có người tự vẫn.Cung ra Đại Sát chỉ có thể đặt nhà vệ sinh hay phòng tắm được mà thôi.

    Độc Hoả

    Độc hoả là khí hoả thịnh vượng, là hoả khído sự biến đổi của âm dương tạo ra, nó chính là khí Liêm trinh nên mang nhiều sát khí. Thông thư nói rằng: Như Tý thuộc Khảm, đốicung là Ly, tức là lấy Ly làm quẻ của bản cung, một hào dưới biến là Cấn là Liêmtrinh, vì vậy Tý lấy Cấn làm Độc Hoả. Sửu Dần đều thuộc Cấn đối cung là Khôn, tức là lấyKhôn làm quẻ bản cung, đổi một hào dưới biến thành Chấn, nên Sửu Dần đều lấy Chấn làm ĐộcHoả. Mão thuộc Chấn đối cung là Đoài, Đoài là bản cung của Mão, biến hào sơ thành Khảm, nênMão lấy Khảm làm Độc Hoả. Thìn Tị đều thuộc Tốn đối cung là Càn, tức là lấy Càn làmquẻ bản cung, biến hào sơ thành Tốn, nên đều lấy Tốn làm Độc Hoả. Ngọ thuộc Ly đối cung làKhảm, Khảm là bản cung của Ngọ, biến hào sơ thành Đoài, nên Ngọ lấy Đoài làm Độc Hoả. MùiThân đều thuộc Khôn đối cung là Cấn, tức là lấy Cấn làm quẻ bản cung, biến hào sơ thànhquẻ Ly, nên đều lấy Ly làm Độc Hoả. Dậu thuộc Đoài đối cung là Chấn, Chấn là bản cung củaDậu, biến hào sơ thành Khôn, nên Dậu lấy Khôn làm Độc Hoả. Tuất, Hợi đều thuộc Càn đối cunglà Tốn, tức là lấy Tốn làm quẻ bản cung, biến hào sơ thành quẻ Càn, nên đều lấy Càn làm ĐộcHoả. Tý Ngọ Mão Dậu là tứ chính, Dần Thân TỵHợi là Tứ ngung nên lấy Dần là chính khí của Cấn, Mão là chính khí của Chấn, Tị làchín khí của Tốn, Ngọ là chính khí của Ly, Thân là chính khí của Khôn, Dậu là chính khí củaĐoài, Hợi là chính khí của Càn, Tý là chính khí của Khảm. Độc hoả lâm môn thì hoả khí vượng khiến dễbị hoả tai lại hay bị hoả khí bốc lên đầu mà

    sinh ra bệnh tật, và dẫn dắt những ngườisống trong nhà này sự sự hồ đồ, lỗ mãng. Độc hoả lâm môn lại cũng hay sinh ra những người nóngtính hung bạo, liều lĩnh, thích làm ra những chuyện rồ rại, ngông cuồng. Độc hoả dù ngũ hàn làhành gì thì cũng là đới hoả, khí hoả làm chủ mà hoả khắc kim tiền nên Độc hoả lâm môn cũngđồng nghĩa là thoái tài, nghèo khổ. Độc hoả là hung tinh nên ra vào cung nàocũng không tốt, tuy nhiên Độc hoả là hung tinh nhưng không phải là Đại hung tinh nhưlà Đại sát, Thiên hình nên chỉ có ra cửa hay ra bếp, bàn thờ mới thật sự là hung cần phải kiêngtránh còn những trường hợp khác có thể châm trước. Bàn thờ và nhà bếp là hai cung phát hoảnên không nên đặt bàn thờ và bếp vào cung Độc hoả.

    2 people like this

  18. @ Engineer,

    Cháu chào chú Thiên Đồng ạ.

    Nhờ chú tư vấn giúp cháu với ạ.

    Tuổi : Mậu Thìn (Nam)

    Hỏi vào ngày 24 tháng 06 năm 2012 giờ 15h30 dương lịch.

    Quẻ 16/5/tân mẹo, giờ tị, đỗ xích khẩu,

    Câu hỏi 01: Cháu sẽ tốt nghiệp đại học vào cuối tháng 6, chú tư vấn giúp cháu xem kết quả có khả quan không với ạ?

    - Đậu tốt nghiệp không phải cuối tháng 6 mà là đầu tháng 7. Kết quả thấp là 7 phẩy, cao là 8,7 (8 phẩy 9).

    Câu hỏi 02: Sau khi tốt nghiệp thì bao lâu cháu có thể xin được việc ạ, ( có được làm giảng viên không ạ)

    -Nhanh thì tháng 7 âm chậm thì tháng 12 có việc. Sẽ là công việc giảng viên.

    Câu hỏi 03: Cháu có ý định đi du học trong năm 2012 (từ tháng 6 trở đi), vậy điều này có thực hiện được không ạ?

    -Không được. Nếu có đi thì phải tháng giêng 2013.

    Chúc chú và ban quản trị diễn đàn sức khỏe.

    Thân ái.

    Chúc thành công.

    Thiên Đồng


  19. Sư Phụ đừng lo.

    Khi tư vấn cho khách hàng, các anh em tư vấn đều khẳng định Phong thủy Lạc Việt. Các trường hợp Tây Nam Đông Trạch và Đông Nam Tây trạch đều được giải thích khi khách hàng không hiểu. Các Trường hợp Đoài Ly khi luận giải đều làm khách hàng công nhận đúng, mặc dù chuyên viên tư vấn chưa từng biết cái nhà khách hàng như thế nào mà chỉ qua sơ đồ mặt bằng nhà. Các trường hợp đổi mạng Thủy - Hỏa, ban đầu nêu ra, mọi người đều đinh ninh nhưng sau khi qua các luận giải thì khách hàng đều phải nhận sự hợp lý.

    Mọi trường hợp còn thắc mắc và có nhu cầu tư vấn thì các anh em tư vấn đều cho biết địa chỉ của Trung Tâm.

    Cũng có những trường hợp "thử tay nghề' anh em trong lúc tác nghiệp, những trường hợp này, khi các anh em tư vấn luận giải thì họ đều thừa nhận và nhận ra những kiến thức họ có được là rời rạc và mảng miếng, đầy lúng túng. Như trường hợp anh Hatgaolang gặp phải một khách hàng có học qua Huyền Không.

    Có những khách hàng năm trước gặp, năm nay nghe thông tin liền gặp lại và rủ bạn bè với câu " Đừng đi coi mấy thầy nào cả, tới đây coi. Miễn phí nhưng mà đúng!".

    Có những trường hợp cũng nghe bạn bè giới thiệu vì tính hiệu quả của Phong Thủy Lạc Việt nên mách cho bạn bè biết, vì vậy mà có người tuy nhà ở quận 10, Tp HCM nhưng cũng cất công chạy lên Bình Dương để được tư vấn và tận mục sở thị.

    Có trường hợp khách hàng là anh chị em giang hồ thứ xịn, tỏ ra nghi ngờ phong thủy hay cay cú phong thủy, anh em tư vấn 5, 10 phút thì tự dưng tỏ ra vui vẻ nhiệt tình vì thấy hợp lý và đơn giản như...đang giỡn, chứ không minh minh u u ma ma phật phật như các "thầy" kia phán.

    Có trường hợp vào những ngày đầu tiên của năm trước mới công tác với Holcim tư vấn, Holcim cho nhân viên quản lý cấp cao đến làm thường dân kiểm tra và thử tay nghề, các anh em cứ thế tư vấn tự nhiên và vô tư, chỉ sau 5, 10 phút tư vấn, họ đều nhận thấy tính chuyên nghiệp, nhiệt tình và những luận cứ xác đáng mang tính khoa học và đặc biệt là tất cả anh em chuyên viên tư vấn Phong Thủy Lạc Việt đều là...người phàm cả, không ai giả ma giả thần dọa người hay phán lung tung. Vì vậy sự công tác vẫn được kết nối cho đến ngày nay.

    Sư Phụ cứ yên tâm.

    Thiên Đồng