• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Kim Cương

Hội viên
  • Số nội dung

    407
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    1

Kim Cương last won the day on Tháng 12 29 2010

Kim Cương had the most liked content!

Danh tiếng Cộng đồng

35 Excellent

About Kim Cương

  • Rank
    Hội viên mới
  • Birthday
  1. Mấy cái hình xoáy xoáy mà các học viên PLC tự với lấy rồi trình lên Lý Hồng Chí để làm hình tượng, sự này thì cũng tương đối mà thôi, thực chất PLC chẳng hiểu ý nghĩa của nó là gì. Nói đến Âm Dương Ngũ Hành, Lý Hồng Chí cũng chẳng hiểu gì đâu, học viên PLC càng không hiểu. Cho nên có ai đó phá hay xây, hoặc tranh cướp cái vấn đề Âm Dương Ngũ Hành thì học viên PLC cũng chẳng biết mô tê thế nào, và như vậy thì sao lại phán quyết ai tội lớn, ai tội nhỏ. Sửa chữa học thuyết cổ, đây là vấn đề Không Tưởng, kẻ sửa chắc là có vấn đề không bình thường. Nhưng cái vấn đề anh chàng Rubi nói thì lại khiến nhiều người hướng theo chiều chỉnh lý, nhưng đa phần là qua mặt Rubi. Sự qua mặt Rubi là dễ dàng bởi cái anh chàng Rubi đó hiền lành quá. Nhưng có lẽ, tất cả những người qua mặt sẽ gặp phải ngõ cụt mà thôi. Sự qua mặt này cũng có tác dụng giúp anh chàng Rubi sử dụng nó để hóa giải "sửa chữa học thuyết cổ, đây là vấn đề Không Tưởng, kẻ sửa chắc là có vấn đề không bình thường" khi trình bày vấn đề với những vị khác. Vấn đề về Phật pháp. Kiến giải của Lý Hồng Chí rất là be bét, nói chung Lý Hồng Chí chẳng biết gì về Phật pháp hết. Các học viên PLC cũng không thấm ngộ được Phật pháp nên bị Lý Hồng Chí đầu độc trong sự nhận định về Phật giáo là chuyện dễ thấy. Chân lý, tu hành thì có công đức và sự hồi hướng. Các học viên PLC tu luyện có công đức gì không, hồi hướng cho ai, chết sinh về đâu. Phật thì đủ 10 danh hiệu. Lý Hồng Chí lại xuyên tạc mỗi một danh hiệu là một tầng cao thấp, rồi lại xuyên tạc Phật chưa được thành Phật mà chỉ thành Như Lai, rồi lại xuyên tạc Phật pháp, cho rằng các Thánh tăng chưa đạt đến tầng Như Lai. Vậy chắc Lý Hồng Chí cao hơn Phật rồi, lên cao tới tầng Địa Ngục Tà Kiến.
  2. Các học viên PLC có dám hồi hướng công đức cho hương linh người thân được siêu thoát ? Lý Hồng Chí bày đặt Tầng Như Lai, Tầng Phật, và cho rằng Như Lai thấp hơn Phật. Và tà kiến cho rằng Phật Thích Ca chưa đạt đến tầng Phật mà chỉ đạt đến tầng Như Lai. Cứ theo cái đà biện luận này thì có thêm tầng cao hơn, là Tầng Thế Tôn. Nhái cách phát ngôn của Lý Hồng Chí thì sẽ thấy Tầng Thế Tôn cao hơn Tầng Lý Hồng Chí Phật, Lý Hồng Chí Phật cao hơn Thích Ca Như Lai. Rốt cục toàn là tà kiến lớp lớp tầng tầng chất đầy, vậy mà cũng mở miệng khuyên phá chấp trước, hô to chân thiện nhẫn. Nhẫn nhẫn nhẫn, đọa địa ngục mà vẫn còn nhẫn.
  3. Vài Nét Về Thượng Tọa Trụ Trì Thích Tuệ Giác (Tự Truyện của Thiền Sinh TRÚC LÂM) Sau đây tôi xin ghi lại những cảm ngộ, những chuyển biến quan trọng trong quá trình công phu tu tập, hay nói đúng hơn đó là sự chuyển hóa nội tâm mà đích thân tôi đã thực nghiệm được qua thời gian tu học, và những giai đoạn nhập thất chuyên tu, lúc còn ở Thường Chiếu cũng như khi ở Thiền Viện Trúc Lâm. I_MAI NỞ VƯỜN XƯA Thưa các bạn, nói về mình quả thật là điều không nên, hay đúng ra đó là điều mọi người không thích. Thế nhưng ở đây chúng tôi muốn trình bày một sự thật, mà sự thật đó do chính bản thân tôi đã thực hành và thể nghiệm qua. Một chứng minh đích thực ở nơi tự thân mình, với kết quả tốt đẹp mà chính tôi cũng không ngở rằng mình có thể thực hiện được điều đó. Điều đã đem đến cho tôi một niềm tin vững chãi thanh tịnh, nguồn phúc lạc vô biên trong niềm vui đạo vị. Ôi Phật Pháp nhiệm màu và cao quí lắm thay! Chúng tôi xin chia sẽ với các bạn nguồn vui chân thật ấy. Chúng ta hãy xem đây như là một chứng tích, một sự kiện lịch sử của đời người đã đem lại niềm tin chân xác, để sách tấn cho nhau trên bước đường tu tập. Kể lại sự kiện này cho những ai còn hoài nghi lưỡng lự, còn do dự ngập ngừng hãy mạnh dạn tiến bước. Bảo sở ở trước mặt, Phật Tổ không bao giờ lừa dối chúng ta. Hãy phá tan lớp mây mờ của mọi sự hoài nghi, sợ hãi. Chúng ta phải gan dạ can đảm, một phen buông sạch hết và đừng tiếc nuối hay bám víu một cái gì cả, hãy hoàn toàn vô tác và bản ngã phải được triệt tiêu. Phải một lần chết đi để muôn đời được sống lại. Hãy buông thỏng hai tay và toàn thân nhẹ nhỏm nhảy thẳng vào vực thẳm không đáy. Và kìa! Trước mắt vườn xuân một đóa hoa Linh Sơn pháp hội diễn bày ra Nụ cười thầm lặng rền như sấm Chấn động ngàn sau nhịp sống hòa. II_MỘT THỜI ÁO TRẮNG Tôi sanh ra đời tại vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, thuộc miền tây nam nước Việt Nam , trong một gia đình nông dân nghèo đông con. Ông bà thân sinh (ba má) tôi là người có đạo đức, lại là Phật Tử tại gia, nên sự giáo dục con cái trong gia đình rất nghiêm túc. Thuở còn thơ ấu, chúng tôi đã được cha mẹ dạy dỗ thành người tốt, biết lễ phép, khiêm nhường, sống trên thuận dưới hòa và yêu kính mọi người. Trong nhà có Bà tôi là tu sĩ tại gia, ăn trai trường, tu theo pháp môn Niệm Phật. Bà thân sinh của tôi là người rất mộ đạo, hiền từ. Có lần đi chùa lễ Phật, sám hối vào ngày rằm, bà dắt tôi theo. Trong chùa thờ rất nhiều hình tượng, nhưng không hiểu vì sao tôi chỉ thích lạy duy chỉ có tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi giữa chánh điện. Ở nhà mỗi lần bà thân sinh tôi đọc kinh cho Bà Cố tôi nghe, tôi thường ngồi kế bên. Tuy còn nhỏ không hiểu gì, nhưng tôi rất thích giọng đọc kinh êm dịu của bà. Năm mười hai tuổi, tôi được đọc cuốn sách lịch sử ghi lại cuộc đời của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Tôi rất cảm động và vui sướng đến rơi nước mắt khi biết được đời sống cao thượng, đẹp đẽ và giải thoát của Đức Thế Tôn. Lúc đó tôi phát nguyện trong tâm rằng: “sau này tôi cũng sẽ đi tu, đắc đạo và sống đời sống cao đẹp như đời sống của Đức Phật.” Từ đó, hình ảnh cao thượng của ngài lúc nào cũng ngự trị trong tâm tưởng của tôi. Lớn lên trong đất nước loạn ly, quê hương chìm trong máu lửa. Chiến tranh, súng đạn, chết chóc, sự sanh ly tử biệt và hoàn cảnh khổ chung quanh, đã làm cho tôi sớm ý thức được sự vô thường của cuộc đời. Sau biến cố sôi động năm 1975.... Khi ấy tôi mới học xong lớp tám phổ thông, tôi xin Ông Thân Sinh tôi cho phép tôi được nghỉ học để đi tu nhưng không được người đồng ý. Tuy thế, tâm nguyện, ý chí xuất gia lúc nào cũng thôi thúc và nung nấu trong tôi. Sau khi học xong hết trung học phổ thông, thi tốt nghiệp cấp ba xong, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn sau chiến cuộc năm 1975 kết thúc, cả nước đều lâm vào tình trạng nghèo đói... Hơn nữa tôi đã có ý định đi tu nên không tiếp tục thi đại học. Tôi ở nhà làm việc phụ giúp gia đình một thời gian. Lúc bấy giờ tôi có làm quen được nhóm Cư Sĩ bạn đạo. Chúng tôi thường tới lui thăm viếng, học hỏi và trao đổi kinh sách qua lại để nghiên cứu. Những quyển sách tâm đắc hướng dẫn cho tôi biết được pháp môn tu thiền, đi đúng con đường chánh pháp, và chọn được Minh Sư sau này đó là các quyển kinh: Kim Cang Bát Nhã, Bát Nhã Tâm Kinh, Pháp Bửu Đàn Kinh, và Yếu Chỉ Thiền Tông v.v... Năm 1986, tôi quyết định từ giã những người thân trong gia đình, để thực hiện theo chí nguyện xuất gia của mình đã từ lâu ấp ủ mong đợi, cùng với người em chú bác chung chí nguyện là Tuệ Minh bây giờ. Ông Thân Sinh tôi cũng qua đời trước đó vài năm. Thầy Giác T là thầy Bổn Sư truyền Tam Quy, Ngũ Giới và cũng là người hướng dẫn cho tôi đến Thiền Viện Thường Chiếu. Ở đây làm công quả một năm, đến ngày mồng tám tháng mười hai năm một ngàn chín trăm tám mươi sáu, nhân duyên đầy đủ, chúng tôi được Hòa Thượng Tôn Sư làm lễ Thế Phát Xuất Gia và truyền Sa Di Thập Giới. Sau khi được xuất gia, tôi được phân công làm phụ tá Tri Khách hai năm. Sau đó, tôi xin được vào chúng, để được gần gũi sống chung tu học với quí thầy. Từ khi được vào chúng tôi được thầy Trụ Trì (Thích Nhật Quang) phân công làm chuyên viên ruộng ba năm. Năm 1990, chúng tôi được gởi đi thọ giới Cụ Túc (Tỳ Khưu) và Bồ Tát Giới tại giới đàn chùa Long Thiền, Tỉnh Đồng Nai. Năm 1991, Hòa Thượng Tôn Sư vì sức khỏe kém, nghĩ dạy một thời gian, giao việc lại cho quí thầy lớn có trách nhiệm điều hành mọi sinh hoạt tu học của viện, để Ngài được nghỉ ngơi làm người vô sự. Lúc bấy giờ, mười ngôi thiền thất cũng được dựng lên để trong Tăng Chúng quí thầy thay phiên nhau nhập thất, chuyên thực hành công phu thiền tập sau thời gian học hỏi, hiểu rõ đường lối và nắm vững pháp tu. Đầu năm 1992, tôi xin phép nhập thất ba năm được Hòa Thượng đồng ý. Đến tháng 3 năm 1993, Hòa Thượng dạy xả thất theo Ngài lên cao nguyên Đà Lạt để góp công vào công trình xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm. Lúc đó tôi cũng vừa đang nhập thất một năm. Vì Hòa Thượng có dạy trước khi vào thất rằng: “Mấy chú xin tôi nhập thất ba năm, nhưng tôi bớt đi một năm, chỉ cho nhập hai năm thôi, và tôi cho hay trước là nếu thủ tục giấy tờ xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm được nhà nước chấp thuận, thì chừng đó tôi kêu mấy chú phải ra thất, theo tôi lên Đà Lạt bất cứ lúc nào tôi cần. Bây giờ cứ vào an ổn mà nhập thất.” Sau một năm ráo riết, khẩn trương xây dựng. Bắt đầu làm lễ đặt đá khởi công ngày mồng tám tháng tư năm 1993, cho đến ngày mồng tám tháng hai năm 1994, toàn bộ khu ngoại viên và nội viện Tăng Ni của Thiền Viện Trúc Lâm đã hoàn thành phần căn bản. Lễ khánh thành xong Hòa Thượng bắt đầu cho vào chuyên tu III_SỰ CHUYỂN HÓA NỘI TÂM Sau đây tôi xin ghi lại những cảm ngộ, những chuyển biến quan trọng trong quá trình công phu tu tập, hay nói đúng hơn đó là sự chuyển hóa nội tâm mà đích thân tôi đã thực nghiệm được qua thời gian tu học, và những giai đoạn nhập thất chuyên tu, lúc còn ở Thường Chiếu cũng như khi ở Thiền Viện Trúc Lâm. Thật ra tôi không muốn kể lại làm gì, vì e rằng không khéo nó sẽ trở thành sự khoe khoan lố bịch. Thế nhưng, để làm chứng tích cho bạn đồng hành và những người sau, trên bước đường tu tập, đừng mặc cảm rằng đời mạt pháp tu không kết quả. Vì thế cho nên, tôi xin mạo muội ghi lại đây những dòng chữ này, để làm minh chứng sát thực cho sở hành của thiền giả, trong cuộc hành trình trên đạo lộ hoàn nguyên bổn xứ. Kết quả đó không dành phần riêng cho hạng người nào, dù nam nữ già trẻ, không phân biệt Tăng Ni Đạo Tục hay kẻ trí người ngu, mà cho bất cứ ai. Một khi chúng ta đã vững niềm tin, hiểu đúng đường lối, pháp tu rõ ràng, với sự hướng dẫn cẩn thận của bậc Minh Sư, cộng thêm ý chí nỗ lực và lòng quyết tâm tha thiết, thì lo gì việc tu không thành đạt. Chúng ta cũng đừng quên rằng, cuộc đời tu hành không phải lúc nào cũng xuôi buồm thuận gió, cũng đẹp đẽ vinh quang như ý ta tưởng, mà phải trải qua biết bao chông gai, trắc trở, dù khó khăn gian khổ thế mấy cũng quyết chí vượt qua. Có ý thức được những điều như thế, chúng ta mới không nản lòng chùn bước khi gặp phải nghịch cảnh chướng duyên. Nhìn lại gương sáng của người xưa với ý chí và nghị lực phi thường, xả thân cầu đạo như Tổ Huệ Khả tự chặt đức cánh tay của mình, để thể hiện lòng quyết tâm tha thiết. Như Tổ Huệ Năng vì pháp quên thân, phải đeo đá giã gạo (vì thân gầy ốm không đạp nổi cái chày phải đeo thêm đá), và còn bao nhiêu tấm gương cao thượng khác nữa.... Huống chi chúng ta ngày nay sống trong phương tiện vật chất đầy đủ, chỉ gặp chút ít khó khổ như thân bệnh, hoạc ngồi thiền đau chân, hoặc những thử thách nho nhỏ khác chẳng thắm vào đâu đã vội thối lui bỏ cuộc. Than ôi! Người tu đạo như thế, ngục sanh tử biết chừng nào ra khỏi, biển trầm luân bao kiếp mới thoát thân. Giờ đây, trước khi kể lại những cảm ngộ của mình. Thiền giả xin có đôi lời hoài cảm, tán thán, ca ngợi và tri ân ơn đức của vị Đạo Sư tôn kính, người đã dầy công giáo dưỡng, thắp sáng ngọn đèn chánh pháp và khai mở tuệ nhãn cho tôi. Xưa kia tôi thường mặc cảm và tự nghĩ rằng: Mình là con người tội lỗi, sống trầm luân xa đọa không biết bao đời kiếp, lang thang trong lục đạo luân hồi, đắm mê trong biển khổ sanh tử trầm luân từ vô lượng kiếp, mãi cho đến đời mạt pháp này tưởng chừng như không bao giờ ra khỏi. Nhưng thật phước đức thay, vinh hạnh thay, sung sướng thay cho chúng tôi không đến nỗi phải tuyệt vọng. Từ trong bóng đêm vô minh hắc ám đầy khổ não thê lương, chúng tôi đã bắt gặp được ánh sáng chân lý soi rọi lại. Ánh sáng ngọn đèn chánh pháp của Đấng Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni còn lưu truyền lại từ vị tôn sư kính yêu. Tuy ra đời không gặp Phật, nhưng chắc nhiều đời cũng đã từng gieo căn lành, trồng cội phúc, cho nên gặp được Hòa Thượng là bậc chân sư sáng đạo, một vị thiện tri thức hiếm có và là một vị đạo sư lỗi lạc. Nhờ duyên lành huân tập nhiều đời, tôi được thọ ơn pháp nhủ của Ngài. Người mà tôi nguyện đời đời kiếp kiếp tôn thờ kính trọng không bao giờ quên. Hạnh nguyện và ơn đức của Ngài như non cao biển rộng. Đối với tôi thật không có bút mực, lời lẽ nào có thể ghi tả cho hết được. Ôi ân đức bao la như vũ trụ Như Hy-Ma-Lay-A sừng sững ngất mây mù Như Thái Bình dào dạt dạ từ dung Như nhật nguyệt không trung luôn rạng chiếu. Ân đức ấy sâu dầy khôn xiết tả Xin ghi lòng tạc dạ chẳng hề phôi Xin nguyện cầu lên Tam Bảo ba ngôi Cho người được bình an vui vẽ mãi... Hòa Thượng đã bao năm gian khổ nhọc nhằn mở đường chỉ lối cho chúng tôi ra khỏi rừng mê, đã bao năm nếm trải bao đắng cay thử thách, chịu đựng bao gió dập sóng dồi của ngoại duyên đưa đến, Ngài vẫn vững niềm tin thản nhiên trước mọi biến cố của cuộc đời, khéo léo lèo lái chiếc thuyền từ, hướng dẫn cho chúng tôi ra khỏi biển khổ tìm về bảo sở. Nhờ sự chỉ dạy và dẫn dắt tận tình đó mà chúng tôi không bị sa hầm, sụp hố, hay bị lạc lầm vào những con đường hiểm nạn. Ngài thật từ bi hết lòng chỉ dạy, không nệ tấm thân già yếu, nhọc nhằn, dịch kinh, viết sách, giảng dạy. Lại tạo lập đầy đủ phương tiện cho nhập thất. Bên cạnh đó còn có sự ủng hộ hết lòng, hết sức nhiệt tình của các Phật Tử. Chính những động cơ ấy tạo thành sức mạnh và năng lực chủ động thúc đẩy cho chúng tôi nỗ lực tiến tu. Chúng tôi cũng hằng tự nghĩ rằng: Ngày xưa chư vị Tổ Sư là những bậc đại căn thắng sĩ, khi tu hành, chỉ nghe qua một câu kinh, một lời nói, một hành động liền được khai ngộ. Hoặc có vị tham thiền đắc lực trong một tuần lễ hay hai tuần lễ cũng phát minh đại sự. Ngày nay chúng tôi sinh ra trong đời mạt pháp, phước mõng, nghiệp dầy, căn trí lại ám độn cùn lụt, không thể sánh với các Ngài. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng tôi mặc cảm, vì sau bao năm học hỏi chúng tôi đã hiểu rõ đường lối và nắm vững pháp tu. Hơn nữa, bên cạnh chúng tôi còn có Hòa Thượng Tôn Sư luôn luôn theo dõi, nhắc nhở, chỉ dạy thì còn lo gì nữa mà không quyết tâm hạ thủ công phu. Chúng tôi tự tin rằng, với thời gian dài hai năm nhập thất, nguyện quyết chí đem hết tâm lực vào việc hạ thủ công phu để làm sáng tỏ việc lớn của chính mình, thì ắt có ngày việc lớn thành tựu. Vì Phật Tổ thường dạy: “Kia là trượng phu, ta cũng trượng phu vậy, chớ có tự khi mình.” Tổ Động Sơn Lương Giới cũng dạy: “Thân này chẳng sẵn đời này độ, lại đợi đời nào độ thân này.” Có được như thế mới có thể đền đáp được công ơn sâu dày của Thầy Tổ và nợ cơm áo của tín thí đàn na. Với lời chân thành phát nguyện và lòng quyết tâm tha thiết tu hành. Trong thời gian nhập thất, tôi dồn hết tâm lực vào việc hạ thủ công phu, vì nghĩ rằng, mấy thuở trong đời tu lại có cơ hội thuận tiện được nhập thất với thời gian dài hai năm, tất cả mọi duyên sự bên ngoài đều có quí thầy lo liệu. Trong thời gian độc cư hành thiền đó, tôi ít ăn bớt ngủ, tọa thiền mỗi ngày đêm bốn thời theo thời khóa tự mình qui định, mỗi thời hai giờ làm tiêu chuẩn, có khi nhiều hơn hoặc ít hơn. Ngoài những giờ khác, lúc đi, đứng, nằm, ngồi; khi ăn mặc, giặt giũ, tiểu tiện, đều ở trong trạng thái miên mật tỉnh giác. Mỗi niệm khởi lên đều không lầm lẫn, không để cho vọng tưởng lôi cuốn, luôn giữ chánh niệm và tĩnh giác trong mọi hành động “tri hành hợp nhất”. Chỗ gọi là “nắm chặt đầu dây giữ lập trường”, không để lơi lõng. Cho đến một hôm tôi chợt khởi nghi: “Biết vọng hoài đi đến đâu? Ngoài biết vọng còn có thêm gì nữa không?” Ngay lúc đó tôi chợt nhớ lại lời Phật dạy trong kinh viên giác: “Biết huyễn liền lìa, đâu cần phương pháp. Lìa huyễn tức liền đó giác ngộ giải thoát, cũng đâu có lớp lang tuần tự gì.” Lạ thay! Ngay lúc đó tâm tôi bỗng dưng lắng đọng, dừng bặt, liền khi ấy, tôi biết được đường vào. So lại phương pháp tri vọng mà Hòa Thượng Tôn Sư chỉ dạy, với yếu chỉ tri huyễn trong kinh viên giác không có gì sai khác. Khi xưa chúng tôi hiểu lầm rằng, ngoài cái vọng riêng có cái biết. Nhưng thật ra biết và vọng không có hai, hễ “biết thì không vọng, vọng thì không biết”, vậy thôi. Bởi do bất giác nên cái biết tròn sáng bị phân tán, chuyển thành vọng tưởng lăng xăng, vừa sực tỉnh thì bao nhiêu vọng tưởng liền tan biến trở về với tánh biết tròn sáng, khỏi phải ra sức dẹp trừ. Vọng và không vọng chỉ chuyển đổi trong một niệm nhớ và quên mà thôi. Nhận ra yếu điểm này mới sáng tỏ lời dạy của Lục Tổ Huệ Năng là: “Vọng tưởng tức chân như, phàm phu tức Phật, phiền não tức bồ đề”, và lời dạy của Ngài Huyền Giác trong Chứng Đạo Ca: "Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân, Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân, Vô Minh thật tánh tức Phật tánh, Huyễn hóa không thân tức Pháp thân..." Từ chỗ nhận ra yếu chỉ công phu tu, chúng tôi phát minh bài kệ tri vọng: "Tri thời tịch tĩnh nguyên vô vọng, Đương vọng hà tằng liễu đắc tri, Tri vọng lưỡng đầu phương giả lập, Nhị biên ly tận nhập vô vi." Nghĩa: "Khi tri tĩnh lặng nguyên không vọng, Lúc vọng đâu từng sáng được tri, Tri vọng đôi đường phương giả lập, Hai bên lìa, rõ đạo huyền vi." Thời gian sau đó, do tâm được an định phần nào, tôi bị hôn trầm dữ dội. Cứ mỗi lần tréo chân lên bồ đoàn là hôn trầm kéo đến, không thể cưỡng lại được, chỉ còn có cách là lạy Phật sám hối và đi kinh hành. Có lúc đi kinh hành vẫn lại bị hôn trầm, thật là kỳ lạ! Sau đó tôi dùng phương pháp quán để trị bệnh ngủ gục, tôi tự hỏi: “Hôn trầm từ đâu đến” và tôi chú tâm tĩnh lực truy nguyên coi hôn trầm bắt đầu phát xuất từ đâu, nó đến bằng cách nào? Nhờ sức tĩnh lực kiên cố nên lần lần hôn trầm bị đẫy lùi. Do đó tôi thấy ra rằng, vì ở trong cái lặng lẽ mà thiếu sự chiếu soi, sự tĩnh giác không liên tục nên rơi vào hôn trầm. Khi quán sát thật kỷ, tôi nhận thấy rõ ràng, trong hôn trầm vẫn có vọng tưởng vi tế lăng xăng sanh diệt như một dòng thác đổ liên tục, chỉ vì ở trong trạng thái mù mờ nên vọng tưởng không rõ ràng, không kiểm soát được đó thôi. Và tôi bắt đầu truy nguyên coi vọng tưởng là gì? Khi nhận định thấu đáo, thấy rõ tâm mình không lúc nào dừng nghĩ. Nếu không vọng tưởng về quá khứ, thì cũng vọng hướng về tương lai. Chính những tư tưởng quá khứ vị lai ấy cùng với sự phân biệt hay dỡ, tốt xấu, rồi theo đó khởi yêu ghét, mừng giận, v.v... làm cho con người hiện tại bất an. Như vậy, muốn cho tâm được bình an, phải dừng những vọng tưởng lăng xăng sanh diệt ấy. Thế thì vọng tưởng từ đâu đến? Nếu là quá khứ thì quá khứ ở chổ nào? - Những gì đã qua là thuộc về cái chết, có ai sửa được quá khứ bao giờ. Không ai có thể đi ngược thời gian, trở lùi trong quá khứ để tìm lại ngày hôm qua đã mất. Vậy thì tất cả những gì xa xưa hãy để nó lùi đi trong dĩ vãng, nhường bước cho cái mới đi lên, và hãy để tự nó chết đi trong quên lãng, mắc mớ gì ta phải bận tâm về những tâm niệm lăng xăng vô ích đó. – Còn tương lai là gì? - Tương lai là những cái gì chưa đến hay sẽ đến. Mà nào ai có thể đi đến được tương lai, dù cho đó là ngày mai gần đây nhất hay một lát nữa đây. Như vậy, tại sao ta cứ để cho những tư tưởng viễn vong xa rời thực tế đó lôi kéo mình làm gì chứ. Chính những tâm niệm quá khứ vị lai ấy làm cho chúng ta quên mất đi cái hiện tại. – Mà hiện tại là gì? - Ạ! Thì ra hiện tại cũng không thật có nốt, vì có cái gì cố định và đứng yên một chổ đâu mà gọi là hiện tại. Tất cả đều đang ở trong vòng chuyển biến vận động liên tục không dừng nghĩ, vừa mở miệng nói hai chữ hiện tại thì hiện tại đã là quá khứ. Rõ ràng ba thời không thực có. Chính ngay lúc ấy đã hiện lên trong tâm trí tôi lời dạy của Đức Phật trong kinh Kim Cang Bát Nhã: “Này Tu Bồ Đề! Quá khứ bất khả đắc, hiện tại bất khả đắc, vị lai bất khả đắc.” Và cũng chính trong thời gian ấy, thân tâm tôi bỗng dưng dừng lặng, tư tưởng ngưng đọng lại, một lúc cùng với ngoại cảnh đồng thời bỗng dưng mất hút và tan biến trong khoảng không mênh mông vô tận, và tôi đã trực nhận được thể tánh rỗng lặng bất sanh, bất diệt. Cái chưa từng bị thời gian chi phối và bị hạn cuộc bởi không gian. Một cái thực tại nhất như trong mọi thời điểm, vô thỉ vô chung. Thấy rõ thân này chỉ là một sự nương gá tạm bợ, là vô thường huyễn hóa, duyên hợp, hư dối, không thật có, chẳng phải mình. Thấy rõ những tâm niệm lăng xăng sanh diệt chỉ là những bóng dáng do phân biệt ngoại cảnh mà có, chẳng phải mình. Thấy rõ những cảnh vật sai biệt bên ngoài, tất cả đều là những giả tướng phân biệt không có thật thể, “sắc tức là không”. Qua lần kinh nghiệm đó, đời người đã được chuyển hóa. Tôi có cảm tác bài kệ nói lên chỗ thấy biết đó. Thì ra: "Xưa mê chấp thực pháp cùng nhân, Tham ái thân tâm đắm cảnh trần. Rõ ra tự tánh nguyên không lặng, Ba đời sanh tử quyết dừng ngăn." Từ nguồn an lạc vui sướng trong đạo vị đó, tôi có cảm tác nên bài ca tĩnh thức.... IV_THỜI GIAN CHUYÊN TU TẠI THIỀN VIỆN TRÚC LÂM Sau một năm ráo riết xây dựng khẩn trương. Thiền Viện Trúc Lâm, khu ngoại viện và nội viện Tăng Ni đã hoàn thành phần căn bản. Lễ khánh thành xong Hòa Thượng cho vào chuyên tu. Vì đã trải qua những lần kinh nghiệm trong thời gian nhập thất ở Thiền Viện Thường Chiếu, nên công phu chúng tôi không bị gián đoạn. Mặc dầu đa đoan công việc, trong thời gian xây dựng phải tiếp duyên xúc cảnh nhiều, nhưng việc tu hành không bị trở ngại, ngược lại rất nhẹ nhàng thoải mái. Càng ở trong chổ ồn ào thời càng hiện rõ mình hơn. Không phải dụng công nhiều mà vẫn không bị mất chánh niệm, vì luôn thực hành tâm xả. Từ khi được vào chuyên tu, công phu lại càng đắc lực hơn. Vào một buổi thiền khuya. Khi thân tâm hoàn toàn yên tĩnh, yên tĩnh và trong sáng lạ thường. Giống như vần trăng rằm mùa thu tỏa rạng giữa đêm thanh vắng, trên nền trời quang đãng không một gợn mây. Tất cả đều chìm lặng, chìm lặng, tư tưởng ngưng động lại trong sự tĩnh táo dị thường và ý thức hoàn toàn vắng bóng. Mọi trạng thái diễn biến đều ở trong cái rõ biết cực tịnh, cái yên tĩnh tịch nhiên khó tả. Không biết lúc đó tôi có thở hay không vì không thấy có thân. Lúc đó chỉ có trạng thái tịch mặc tràng đầy sự an lạc. Bỗng dưng như người đang đứng trên đỉnh núi cao chót vót, hốt nhiên hụt chân, chới với rơi vào một vực thẩm sâu không đáy. Lại cũng giống như người lặng dưới đáy hồ sâu ngàn thước, từ từ trồi lên mặt nước. Lúc đó tôi không có phản ứng nào hết, cứ để cho nó tự rơi, tự trồi một cách tự nhiên. Bất chợt, tôi tan biến vào một cảnh giới ngập tràn ánh sáng rực rỡ vô biên. Một thứ ánh sáng mầu nhiệm không có ánh sáng nào có thể so sánh được. Không phải ánh sáng của mặt trời mặt trăng hay các vì sao, nó cũng không giống một thứ ánh sáng nào của các ngọn đèn điện. Một thứ ánh sáng vi diệu mát mẻ tràn đầy an lạc và tôi đã tiêu dung trong ánh sáng đó, hay nói đúng hơn ánh sáng đó chính là tôi. Từ trong vầng ánh sáng vô biên đó, lại ánh ra muôn ngàn chùm ánh sáng chói lọi, mỗi mỗi chùm ánh sáng lại ánh ra vô số những tia sáng, mỗi mỗi tia sáng lại biến hiện ra muôn sự muôn vật, muôn hình tướng thiên sai vạn biệt. Mỗi mỗi hình tướng sai biệt lại tự phóng chiếu ra hằng hà sa số vầng hào quang sáng chói đủ muôn màu sắc. Tất cả đều dung nhiếp lẫn nhau thành một thể bất biến vô phân biệt, vô sai biệt, và vô sanh diệt. Từ trong thể dung nhiếp đó lại đột nhiên phát ra một tiếng nổ lớn, vang động như tiếng sấm và tất cả đều tan loãng, tan loãng theo tiếng rền vang ấy. Đồng thời tôi cũng ra khỏi cơn thiền định, trở về với thực tại với một trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, một sự tĩnh lặng tuyệt vời, với trí tuệ trong sáng tràn đầy sự linh mẫn. Tất cả mọi cảnh vật đều thức dậy dưới ánh triêu dương rực rỡ, chim ca mừng ngày mới, bình minh tỏa chiếu khắp muôn phương. Một hôm trong thời tọa thiền ở thiền đường. Đang lúc ở trạng thái tâm rỗng lặng vô niệm, bỗng dưng vị thầy ngồi kế bên bất chợt kéo mạnh bức màng treo cửa sổ đánh soạt một tiếng, ánh sáng ập vào, trong sát na đó, một sự thể nhập hoàn toàn đến với tôi. Đồng thời tôi thét lên một tiếng làm vang động cả thiền đường làm cho tất cả mọi người phải giựt mình ngơ ngát. Tiếng rống của con mãnh sư vừa thoát khỏi kiếp chồn hoang. Khi ấy, tôi xách bồ đoàn, tọa cụ chạy ra ngoài với tràng cười kinh dị và ngẫu hứng ngâm lên mấy câu kệ: Vẹt màng pháp giới toàn thể hiện Một trời quang đãng sạch mây mù Đêm vắng hồ tuyền soi bóng nguyệt Ngày thanh núi phụng chiếu hình ô. Khi về tăng đường tôi đặt bút lưu xuất tiếp bài kệ: Cả đất trời tan tành sụp đổ Bao mê lầm dứt sạch từ đây Vẹt màng pháp giới hiện bày Chân dung lồ lộ mặt mày xưa nay. Sau khi xã thiền, quí thầy xúm đến hỏi thăm duyên cớ, nhưng chỉ được trả lời bằng nụ cười và sự im lặng. Suốt một tuần lễ sau đó tôi ở trong trạng thái an lạc tuyệt vời vô lượng vô biên. Từ sự trực nhập đột biến chấn động nội tâm đó, tôi như người ngủ mê muôn kiếp được đánh thức dậy, như người lần mò trong hầm tối bắt gặp được ánh sáng mặt trời; Như người lầm lủi trong rừng gai gốc mịt mù tối tâm, bỗng gặp được con đường cái rộng thêng thang. Như chậu úp ngàn năm lật lại dưới ánh mặt trời chói chang. Tất cả những gốc rễ vô minh mê lầm đều được nhổ bật lên, thân tâm tràn ngập nguồn an lạc vô biên. Qua sự đột biến lần thứ ba này, tôi hoàn toàn triệt tiêu hết mọi nghi lầm, trong một sát na hay ra tất cả. Dù trải qua nhiều đời nhiều kiếp nghiên tầm học hỏi cũng không thể so sánh được. Tuy không có hình tướng mà chưa từng che đậy, không có ngôn ngữ mà diễn đạt phân minh, không có văn tự mà trình bày khắp đủ. Qua đó tôi hoàn toàn thông cảm được những thủ thuật khai ngộ kỳ hoặc của các vị tổ sư. Chẳng qua vì lòng từ bi tha thiết của các Ngài, muốn cho chúng ta trực nhận lại con người chân thật, sáng tâm, thấy tánh, cái sẵn có nơi chính mình của mỗi người chúng ta, trong một sát na, phi sát na với một sự chuyển hóa toàn triệt, khỏi phải trải qua nhiều đời khổ công cầu học. Sự thông cảm đó được thể hiện qua bài kệ: Tiếng hét vỡ tan tam giới mộng Phất trần phủi sạch bụi trần ai Quơ gậy vạch mây bày Pháp Nhãn Ba đời Phật Tổ pháp không hai. Từ sự thể nhập qua trạng thái đột biến chấn động nội tâm đó, trí tuệ của thiền giả được phát kiến thật sâu xa... Khi sáng ra được lẽ thực mới thấy được các pháp xưa nay không từng sanh chưa từng diệt, sanh trong cái vô sanh, diệt trong cái chẳng diệt, tất cả những sự sanh sanh diệt diệt đều lồng trong cái bản thể bất sanh bất diệt. Thật ra đây chỉ là một dòng chuyển biến liên tục từ một trạng thái hình thể này sang một trạng thái hình thể khác mà thôi, nhưng bản thể vẫn bình đẳng như như bất động. Vậy thì sự bình an và chân lý ấy đâu cần tìm ở đâu xa, vì nó luôn hiện hữu nơi đây, cứu cánh giải thoát là bây giờ, và chân lý tối hậu là ngay cái thực tại trước mắt. Trực nhận được cái thực tại vô sanh là đạt đến cứu cánh giải thoát. Thôi chớ chạy tìm kiếm quẩn quanh Ngại gì muôn kiếp tử cùng sanh Buông tay thẳng đấy nhà liền đến Chậm bước suy tư mất bảo thành. Và giờ đây chắc các bạn muốn biết tôi đã thấy gì qua tiếng thét ở thiền đường. Chổ này thật khó nói, khó trình bày, vì không có ngôn ngữ để diễn đạt. Thật khó chứng minh cụ thể, vì không có hình tướng để so sánh, nói năng chẳng trúng, suy nghĩ càng lầm. Nhưng nếu…: Bạn muốn biết những gì tôi đã thấy, Vâng! thưa đây lời tha thiết thật thà. "Tôi thấy giữa trời sanh muôn cá lội, Đáy sông khô biển cạn bóng trăng soi, Từng bước chân mộng thế vỡ tan rồi, Và vô vị chân nhân cười rạng rỡ. Thế nào là vô vị chân nhân? Ô kìa! Hãy nhìn xem! Cất bước đạp tan tam giới mộng Dừng chân nắm trọn cả càn khôn Ngồi lại phóng quang trùm pháp giới Nằm dài duỗi cẳng giáp hư không. Nhìn trước mặt, ở sau lưng Xin mời xem lại gót chân. Một vầng vằng vặt giữa trời không Soi khắp mười phương pháp giới đồng Không diệt không sanh qua với lại Chớ bàn thêm bớt có cùng không. Xoay bên hông Rõ ràng trước mắt hỏi gì ông. A ha! cá lội trời xanh kêu tợ sấm Mây trầm biển bích chặng cuồng lưu Gươm lia từng mãnh hư không rớt Dao bầm tan nát mặt hồ bay." Thể dụng như như, gương sáng một vừng, chẳng phiền bước tới, khỏi nhọc đi lùi, cũng chớ đứng lại, nào phải nhọc công ngó tìm quanh quẩn. Vì sao? Bước tới bỏ lại sau, bước lui lại lùi xa, đứng lại bị nhận chìm, ngó quanh bị cướp mất. Thẳng ngay dưới gót chân trực hạ thừa đương, về đến nhà nằm nghỉ ngơi thoải mái. Cơm canh một nồi, tương dưa rau muối nào có thiếu gì, mặc tình thọ dụng. Được gốc rồi, củ, rễ, cành, lá theo nhau, tất cả gôm về một mối. Hương đầy trời, hoa đầy đất, hạt trái tròn đầy, bày lồ lộ chưa từng che đậy. Lục lọi tìm tòi chỉ toi công nhọc sức, nghĩ ngợi suy tư một rừng gai góc mịt mù. Khổ công tham cứu, đường xa muôn dậm ly hương. Dừng lại. Ngay đây nếu nhận được thì cùng với chư vị Tổ Sư nắm tay nhau. Quảy dép đạp cành lau lước sóng, Ngược dòng gió nước thẳng Tây Thiên. Bằng thật ngay đây chưa thấu tỏ Câu rốt sau xin thưa nhỏ anh rằng: “Một con thằng lằng nuốt ba con voi lớn” -Gắp, xét lấy! Và giờ đây mới đích thực là tiếng hót của chim phượng hoàng, mời các bạn thưởng thức. Giải thoát chỉ có đến, Với người trong thực tại, Thực tại muốn chứng biết, Tam tâm tứ tướng lìa. Ba thân cừng bốn trí, Ngay tự thể thừa đương, Mắt huệ trùm pháp giới, Thấu rõ việc xưa nay. Thế nào là việc xưa nay? Tất cả pháp chẳng sanh, Tất cả pháp chẳng diệt, Không tới lui qua lại, Không lớn nhỏ trong ngoài, Nào ngắn dài trên dưới, Chẳng xanh đỏ trắng vàng, Ngoài suy nghĩ luận bàn, Lìa nói năng sanh diệt, Diệt ấy chính là sanh, Sanh ấy chính là diệt, Đương sanh tức không sanh, Đương diệt tức chẳng diệt, Sanh diệt, không sanh diệt, Bản trụ thường tạm nhiên Vô lượng Phật quá khứ, Hằng sa Phật vị lai, Thực tại nhất như này, Thảy thảy đều có mặt, Đồng một thể vô sanh. Hát rằng: Một khắc trừng tâm Tuệ Giác bày, Muôn đời dứt sạch tướng lầm sai. Phá tan sự sản đền ơn Tổ, Đốt sạch kinh thư đáp nghĩa Thầy. Đập chết con trâu lòng cứu khổ, Thằng chăn giết quách dạ ban vui, Thân không tâm trụ vô gia nghiệp, Dậm nát càn khôn bặt dấu hài.
  4. Ông Vũ Thế Khanh cũng là người tu Phật, lại vừa là nhân vật hay được đánh giá những người nổi khác. Tuy nhiên, với lãnh thổ học thuật và trong sự kiện gần gần đây thì Ông Khanh có phần bị người khác lợi dụng, bị "điều" đi làm cái việc bên ngoài mà không biết nội tình bên trong. Một việc làm mà nắm được bên trong và bên ngoài thì dễ không lầm, nhưng một việc mà không nắm được bên trong thì bên ngoài dễ bị điều khiển. Hi vọng là ông Vũ Thế Khanh sẽ hiểu ra sự kiện này, như thế sẽ tốt hơn.
  5. Hai người là có chuyện, cho nên mới bị thương . Ha ha ha.
  6. Cho xin một ly nâu đá, hề hề. Trên diễn đàn có cái hình Trống (trống đồng thì phải), so sánh với diễn đàn khác thì thấy có cái Chuông. Trống và Chuông là hai Pháp khí. Trong trận chiến, tiếng Trống là hiệu lệnh xung phong, tiếng Chuông, tiếng Cồng là hiệu lệnh rút lui. Trong nhà Phật, tiếng Trống là sự sách tấn, trí tuệ giác ngộ, tiếng Chuông là để trị phiền não (street). Trong văn hóa, cũng thấy hai pháp khí này. Và trong phân biệt con người thì có lẽ Trống là ứng với Đại Nhân Anh Hùng Quân Tử, còn Chuông thì ngược lại. Các bác thấy thế nào nhỉ ? Hô Trống thì có câu: ...Đại chúng phải siêng tinh tấn Cứu lửa cháy đầu, chỉ nhớ vô thường, chớ có buông lung. Hô Chuông thì có câu: ...Phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, bồ đề sanh, nguyện thành Phật, độ chúng sanh. Cuối cùng thì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng Vương đang độ chúng sanh ở dưới Địa Ngục.
  7. Chủ đề là lý giải tâm linh nhỉ.Đối thoại trước thì có yếu tố là ranh giới phân biệt thiện ác. Kimcuong đề cập đến Ác là Sát và Đạo bởi vì Sát Đạo Dâm Vọng là 4 chủng tính chúng sinh căn bản. Cư sĩ thì bỏ ác theo thiện, đó là bỏ đi Sát và Đạo, xuất gia thì bỏ nốt cái thiện, đó là bỏ đi Dâm và Vọng. Giải thích theo ngôn ngữ tâm linh thì Sát có Ý sát, Miệng sát, và Thân sát, Đạo có Ý đạo, Miệng đạo, và Thân đạo. Ví dụ một tay giám đốc có ý muốn chửi bới người mà hắn ghét-Tâm chỉ muốn người đó biến mất trên con đường mà hắn đang đi, nhưng nếu hắn dùng miệng chửi thì sợ nhiều người quanh hắn nhìn ra bộ mặt thật nên hắn có ý sai một hai tay chuyên đi chửi bới người hắn ghét, rồi người chửi bới đó tuy không Thân sát nhưng Miệng sát. Nói chung phân biệt cái ác và thiện không dễ mà cũng chẳng khó, vấn đề là cách thức tư duy phân tích sau khi tập hợp các yếu tố. Điểm nhấn là Thân, Miệng, Ý, điểm tiếp theo là tác hại hay tác dụng đối với ngã và tha. Théo cách này có lẽ khá là rễ kết luận một pháp là thiện hay ác.
  8. Học Phật muốn sau 10 hay 20 năm có những thấm thía thì phải xem đến Trung Luận của Long Thọ Bồ Tát.Nhưng mà với người mới tìm hiểu đạo Phật thì thực tế cũng chẳng hiểu Phật là thật hay không có thật. Vượt lên trên thì biết là có Phật, biết đến Sử Phật, biết đến Kinh Phật. Đôi khi biết mà người ta cũng chưa tin lắm. Cao hơn, khi bước vào Trí tuệ Phật giáo (cũng không nên gọi là Triết học, nhưng tạm thời gọi thế thì cũng được, bởi vì khi các Triết gia Hy Lạp đang còn dùng tư duy để suy luận về bản thể thì Phật lại dùng sự thực hành để thực nghiệm bản thể. Cho nên dùng từ Triết là theo các Triết gia, còn dùng từ Trí Huệ là sự thấy biết như thật sau khi chứng ngộ chân lý của Phật), và thấy biết các hiện tượng của những người tu chứng, những xá lợi, những chân thân để lại, những sự tai sinh được ẩn chứng (ví dụ: google: milarepa thời hiện đại) Vấn đề Thiện Ác thì lyhocdongphuong cũng thấy rõ ranh giới rồi. Trí, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm sỉ..., có bộ có khoa theo ngũ hành đường hoàng. Thiện thì vẫn còn Dâm dục và Nói dối. Không ảnh hưởng đến người nhưng ảnh hưởng đến bản thân. Ác thì vẫn còn Sát sinh và Trộm cắp. Ảnh hưởng nặng nề đến người khác nên gọi là nghiệp dữ đa mang.
  9. Vừa nghe trực tiếp giọng Duy Khánh ca:lol:: Trên đời này còn có gì khác nữa ngoài mộng vô biên ! Mờ hôm này là 25.-3
  10. Nhân vật chính không chết vì chiêu, cũng chẳng chết vì thế mà có chết thì là do thời mà chết như mất nước thì nhà tan, còn nước thì còn nhà. Nhưng có có những nhân vật phản diện, cũng có thể xem là nhân vật chính. Phản diện là nhân vật chính thì thường là có tình tiết xây dựng đại nghiệp, khi đại nghiệp sụp đổ thì nhân vật chính cũng hết muốn sống, hoặc trở nên điên cuồng như Hoàng Nhan Hồng Liệt tự sát, như Mộ Dung Phục hóa ngớ ngẩn, như Tây Độc Âu Dương Phong tẩu hỏa nhập ma, như Quốc Sư Thổ Phiên mất hết công lực 30 năm tu luyện...cho đến Lưu Chi Tam Tạng hóa thành quỷ tóc đỏ.
  11. "Cho" là sự chấp, vì không hiểu sự thật đẹp xấu là do duyên đồng thời nó không có bản chất, không hiểu được thì sẽ chấp. Trong quan niệm về cái đẹp mà có sự chấp thì đó là phát sinh cái xấu. Cũng vậy, trong quan niệm về cái thiện mà có sự chấp thì đó là phát sinh cái ác, đó là nhìn vấn đề từ nguyên nhân. Còn ở bình diện thô lậu hiển tướng ra ngoài thì thấy liền biết đó là ác hay là thiện, là đẹp hay là xấu. ps: Tâm Linh: Tâm mà chuyên nhất thì tất sẽ có Linh Khoa Học: Khoa là chuyên ngành, Học là nghiên cứu.
  12. Thiện là Công Tâm, Tâm ngay thẳng để cân bằng Vật. Ác là Vật đè Tâm, ngồi lên Tâm, Tâm đổ, Tâm nghiêng.
  13. Tự nhiên Kimcuong ngộ ngộ cái vấn đề học thuật sinh khắc trong liên quan, liên hệ với khoa học và tâm linh không đối nghịch nhau ạ. Nếu đưa Lý học vào Tâm linh, thì yếu tố khoa học của nó là sự kiện gì đây ạ? Cũng chẳng ngoài sự kiện Ngưu tầm Ngưu, Mã tầm Mã. Con người thì luôn có xu hướng tìm đồng minh, tìm bạn, tìm sự tương hợp tương sinh, và đồng thời tránh đối phương, tránh kẻ thù, tránh sự tương xung tương khắc. Trong đó, khảo sát sẽ thấy hiện tượng, người thiện sẽ tìm và kết giao với người thiện, người ác sẽ tìm và kết giao với người ác. Thiện thần thì Thiện, phân biệt thuận chiều, thiện đúng là thiện, ác đúng là ác; Ác quỉ thì Ác, phân biệt nghịch chiều, thiện cho là ác, ác cho là thiện. Nghiệp thức thiện ác thì lại chiêu cảm các cõi thiện ác tương đồng, nghiệp thiện thì tìm đến cõi thiện, nghiệp ác thì tìm đến cõi ác. Như bây giờ người ác sử dụng lý học, người thiện cũng sử dụng lý học để cầu tài cầu lộc, tuy cùng một nguyên lý nhưng kết quả lại có thể phân biệt phân cực. Người ác thì sẽ hợp với những cái có ác tính nên tài lộc của họ cũng thuộc ác tính, người thiện sẽ hợp với những cái có thiện tính nên tài lộc của họ thuộc thiện tính. Đây có lẽ là sự logic, khách quan, và nó cũng là nền tảng để khẳng định sự chuyển biến nghiệp thức. Người có ác tâm, nhưng có quyền và có thể chuyển ác tâm thành thiện tâm, gọi là sự cải tà qui chính. Người có thiện tâm thì cũng như thế ngược lại. Những điều này đôi khi người ta không ngờ tới và đối diện thực tế thì họ cảm nhận là sự tự nhiên. Nhưng nhìn tổng quan vào những điều được xem là tự nhiên, tình cờ, ngẫu hiên thì nó là có thể phân biệt rất logic như trên.
  14. Cháu xem thêm qua qua, có thể tương đối thế này ạ:Tác giả dùng dấu ";" giữa hai ngữ 'Lạc Thư Hoa Giáp' và 'sự loạn tin trong bói toán', như vậy thì hai ngữ này gần như là hai ý khác nhau trong một đoạn của tác giả, cho nên chú nói "Không có vấn đề" thì cũng có thể là như thế. Cuốn này cũng mang tính hàn lâm toán học, cháu có xem qua qua, cũng thấy có một hai vấn đề hơi để ý. Ngoài ra thì cũng thấy manh nha trong sách có lý giải con số 180 của Tam Nguyên Cung Phi, thì ra 180 năm là một chu kỳ cũng có lý được hiển lộ một chút. Cụ thể là Giáp Tý khởi tại số 1 Lạc thư, thứ tự liên tiếp 60x3=180 ví trí, tiếp theo vị trí 181 thì sự trùng hợp giữa 60 Can Chi với Thập Phân Lạc Thư xảy ra, trong toán học thì có thể người ta gọi là modul giữa Lạc Thư và Can Chi.
  15. Kimcuong xem cái bài này ạ, muốn trực ngộ kiến giải ạ.Trực Ngộ thì Trực là thẳng, ngộ là gặp/hiểu. Chân Như thì Chân là thật là vĩnh cửu, là tuyệt đối, còn Như là giống tức là không khác, không thay đổi/có thể hiểu riêng như vậy. Chân Như thì lại không có hình tướng, nếu mà có hình tướng thì chẳng cần phải nhấn mạnh Trực ngộ Chân như. Vì Chân như không có hình tướng cho nên không thể Tự ngộ, mà phải là Trực ngộ. Vế đối của vấn đề Trực ngộ là Trực chỉ, có người Trực chỉ thì mới có thể có người Trực ngộ. Như vậy, Trực chỉ Chân như dùng để khiến Trực ngộ Chân như. Xin tạm hết ạ. ps: Trực ngộ/Thiên nhãn, cũng tương đồng với Trực nhận/Thiên thủ hoặc là Trực ngộ/Thiên nhãn //Trực chỉ/Thiên thủ