• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Đa Lang

Thành viên diễn đàn
  • Số nội dung

    46
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    3

Everything posted by Đa Lang

  1. Panduranga (पाण्डुराग đúng ra là Pan-đu (पाण्डु) Ra-ga (राग) hay Păn-đu Răg) theo lối khoa đẩu lần ra là Sắc trắng (nhưng trắng vàng). Đó là tên gọi dựa trên hình ảnh thực tế toàn cát với cát là chính của Phan Rang ngày xưa Pan-đu (पाण्डु) là bẳn, ứng với chữ Phấn (坋) lối tượng hình, ý chỉ bụi đất Ranga, mà đúng ra là Ra-ga/rag (राग), ứng với chữ Sắc (色) lối tượng hình, ý chỉ màu sắc sắc thái Tóm lại Ấn - Hán - Nôm như sau: Pandu - Phấn (坋) - Bẳn/bẩn (cáu bẩn) Ranga/raga - Sắc (色) - Rặc/rặt/sặc Tức Panduranga ghi chuẩn ra tượng hình là Phấn Sắc (坋色), âm thuần Việt đúng là Rặt Bẳn btw, không liên quan lắm nhưng thật ghê, nghe xém lộn qua "Nhật Bản" Cái nơi "Nắng như phang, nóng như rang" ấy mà tên âm Hán nghe dễ thương vãi Vữa chưa rõ lắm chữ a viết thẳng như gậy batoong với chữ a như dấu ngã dùng khác nhau thế nào
  2. Tình cờ mình có tìm thấy link này, các bài viết trong đây có vẻ khá liên quan đến văn tự cổ ở Việt Nam: http://asakicorp.com/bachviet18/?tag=chu-viet Vấn đề mình đang thắc mắc: Chữ cái Khoa đẩu mà nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền phát hiện ra là loại văn tự cổ duy nhất của văn minh Việt hay còn .có những chữ dạng văn tự khác? Bởi lẽ, với cả chữ tượng hình mà người Hoa dùng lẫn chữ cái Khoa đẩu thì đều có thể chứng minh nguồn gốc "phương Nam" của chúng. Hơn nữa, vùng ảnh hưởng văn minh Việt cổ rất rộng, từ xa xôi huyền bí như bè mảng vượt Thái Bình Dương đến những nơi lân cận như Timor Leste, bắc thì chạm sông Hoàng Hà, bờ biển thì tứ hải giai huynh đệ, sâu vào đất liền cũng gần chạm đất người Nhung - Địch. Vậy nên chuyện các cư dân phát triển không đồng đều là rất khó tránh, chưa kể người Việt không ác trị thành thử khả năng "thống nhất trong đa dạng" lại càng cao. Phủ nhận công tình chữ khoa đẩu rồi phán chữ Thái cổ gốc Ấn. Thế họ chứng minh được điều đó chưa, hay chỉ mới đoán mò và "suy luận"? Chuyện giáo sư Phan Huy Lê thì mình có thể giải thích ít nhiều khía cạnh "chuyên môn sâu" đó tối thiểu bao gồm: 1.Niên đại các bằng chứng vật thể mà bác Xuyền đưa ra. Thông qua nội dung có thể xác định sơ bộ, như trường hợp học giả Phan Anh Dũng bắt giò chuyện tờ giấy viết thời Khải Định. Nếu nội dung thư tịch chưa đủ xác định thì tiến hành phân tích các đồng vị phóng xạ của vật chứng (nhiều nguyên tố, chứ C14 không thì không đủ độ chính xác cần thiết nhé). Tương tự với trống đồng Lũng Cú có mấy con chữ khoa đẩu. 2.Nghiên cứu về văn hóa,phong tục, kỹ thuật sản xuất cổ. Như luyện kim thì cần có mặt dân ngành vật liệu và ngành cơ khí, từ vựng thì cần những người bên ngữ âm học, văn phạm học, từ nguyên học, về văn tự thì cần những người giải mã,... 3.Năng lực kết hợp liên ngành. Vì khoahọc hiện đại rất hay phạm lỗi này: chỉ tôn trọng tri thức khoa học ngành mình mà bất chấp hết. Nói đi cũng phải nói lại. Ngay chính người Xiêm La bây giờ cũng nghi ngờ và không tin "nguồn gốc Altai" mà các học giả phương Tây gán ghép. Nhìn ngữ pháp của họ rồi đối chiếu với cư dân Altai bản địa đi thì biết.Hơn nữa cũng đâu có bằng chứng nào thuyết phục về chuyện "nguồn gốc Altai"? Và bắt bẻ như thạc sỹ Phạm Văn Ánh thì đâu ra vụ này: bảng chữ cái Latin tiếng Việt đến nay vẫn là bảng chữ cái DUY NHẤT trên thế giới có thể phiên âm Latin hóa hoàn toàn đầy đủ và chính xác tất cả các ngôn ngữ Á Đông và Đông Nam Á đất liền, từ Champa, Khmer, Lào, Thái Lan, Miến Điện,...đến tấtcả các phươngngôn phương ngữ tiếng Trung Quốc?
  3. p/s: trật tự khoa đẩu: chuỗi phụ âm đầu làm chuẩn, như điểm mốc tọa độ. Có 4 chiều bố trí nguyên âm: trên - dưới, trước - sau (trái - phải), riêng chiều "trên - dưới" thì điểm mốc làm chuẩn ở phụ âm cuối cùng của cụm phụ âm đầu, tức phụ âm tận cùng bân phải của cụm phụ âm đầu . Trật tự nguyên âm: trước - trên - dưới - sau, Cái thứ nào ứng với cái thứ ấy (như trước thứ nhất - trên thứ nhất - dưới thứ nhất - sau thứ nhất, rồi tới như trước thứ hai - trên thứ hai - dưới thứ hai - sau thứ hai, cứ vậy). Cụm phụ âm đầu thì không có đặc trưng về trật tự, nên cái cuối cùng (cái tận cùng bên phải của cụm phụ âm đầu) sẽ có quan hệ trực tiếp với nguyên âm. Tương tự với phụ âm cuối, nhưng cái đầu tiên (cái tận cùng bên trái cụm phụ âm cuối) sẽ có quan hệ trực tiếp với nguyên âm. Về vấn đề âm "khoe" hay "kheo" thì khác nhau ở khoảng cách của chữ v thấp (gần như w ở âm đệm và âm cuối). "e_kh_v" là "khoe", còn "e_kh v" là "kheo", còn "khoeo" là "e_kh_v v". Tương tự, "kh_ir(trên chữ kh) v "="khiêu", "kh_v_ir(trên chữ v)"=khuya. Thực tế chỉ chi viết các "văn bản xuyên quốc gia" (tức không biết trước ngữ âm tiếng các bên) thời cổ mới cần tuân thủ nghiêm ngặt, còn văn bản 1 thứ tiếng duy nhất thì lơi chút cũng được. Nhưng đừng lơi quá, để khỏi chệch âm vô ích (hiện tượng chệch âm vô ích rất phổ biến vào giai đoạn văn minh Việt tan rã, mỗi người 1 ngả). Cái này là mình phát hiện từ kinh nghiệm trong quá trình dùng chữ khoa đẩu thôi.
  4. Cập nhật riêng về vấn đề trống Lũng Cú: Nguyên nhân chính mà mình nghi ngờ trong quá trình chuyển tự và rất mong các nhân vật uy tín khác trong đề tài "Chữ Việt cổ" chuyển tự vì không dám tin lắm vào nội dung dòng chữ. Thứ nhất, chữ Thái thống Nhất bây giờ "khập khiễng", gò ép rất nhiều theo tiếng Việt hiện đại nên thiếu rất nhiều chữ. Thứ hai, có font người ta ghi Tai Heritage, "heritage" là hàng kế thừa/ di sản. Xét qua thành phần mẫu tự và tự hình, font này tương đồng với chữ viết cổ hơn cả. Nếu mình nhìn không nhầm thì chuyển tự ra như sau (chưa tính dấu thanh): "Đ_ưa/ươ_ô Ng_aư/ơư C_r_a" (Lưu ý là chữ r khoa đẩu với la tinh viết tay có khác nhau nhé, chữ bên khoa đẩu có uốn lượn mềm mại hơn. Còn Chữ r thường viết tay vẫn thẳng băng gần như chữ pi tiếng hy Lạp vậy). Thêm yếu tố dấu thanh (Khinh âm, tức âm cao, ứng với: ngang, sắc, hỏi; Trọng âm, tức âm thấp, ứng với: ngã, huyền, nặng) thì gần như chỉ có khả năng ra: Đừờồ Ngờừ Crả Đọc chệch ra âm hiện đại: Đồ Người Cả Nghĩa là: vật dụng (đồ) dành cho người đứng đầu (cả). Về mảng chữ tượng hình, "Cả" này ứng với âm "KHA/Ca" (trong ca ca, đại ca) hoặc ứng với tự hình chữ "kỳ" (kỳ tích). Dựa theo nội dung dòng chữ, khả năng rất cao không phải là của người Kinh, do khá ngược tính cách. Người Kinh rất ít khi ghi chữ thẳng thừng như thế lên vật dụng, mà thường để lại các dấu hiệu daặc9 trưng, vừa đảm bảo thẩm mỹ, vừa đảm bảo an ninh cho món đồ. Nhưng rõ ràng "Đồ người cả" là tiếng Kinh chứ không ra được tiếng Mường, Tày Thái, Lô Lô,... nào cả (không tin thì các bạn nào rành ngôn ngữ dân tộc ít người thử tra từng chữ xem, được mấy ngôn ngữ/phương ngôn/phương ngữ ở cả Việt Nam lẫn Trung Quốc, hay thậm chí cả Châu Á - Thái Bình Dương luôn, xem dễ gì gần như trùng âm đến thế). Và nếu điều này đúng, thì chỉ làm mình càng khó nghĩ hơn về gốc gác người Kinh nói riêng cũng như người Việt nói chung thôi. Đại khái rằng: họ vốn không phải là 1 dân tộc (theo nghĩa hẹp về quan hệ huyết thống / di truyền), mà là 1 cộng đồng (tức dân tộc theo nghĩa quốc gia ấy) hoặc khả năng cao hơn là 1 thế giới khác (gần như LHQ gây giờ). Bởi vì dấu hiệu "không Việt" có rất nhiều ở Việt Nam cổ đại, nhưng những dấu hiệu "rất Việt" cũng ở khắp nơi, không dừng lại ở phạm vi phát tích của người Kinh cũng như Bách Việt.
  5. Chào mọi người trong diễn đàn! Có lẽ cũng không được bao lâu tính từ khi mình gửi những bài post, comment đầu tiên vào diễn đàn/ Mình đã từng rất vui và hứng thú tham gia vì nghĩ rằng bản thân đã tìm được đến nơi cần tìm, rằng đây là 1 diễn đàn hướng tới những giá trị khoa học. Cá nhân mình không phủ nhận cộng trình chữ Việt cổ của nhà văn Khánh Hoài - tức nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền. Và mình đoán không ít người trong đây biết đọc chữ Việt cổ Tuy nhiên, mọi việc có vẻ không đơn giản như vậy, quả thật đúng là đáng tiếc. Mình đã xem qua những mong muốn của Thiên Sứ-sensei về việc giáo sư Phan Huy Lê vấn đề "chuyên môn, cơ sở khoa học". MÌnh không khẳng định là trả lời đầy đủ, nhưng tối thiểu chắc chắn có vài điều sau: 1.Niên đại các bằng chứng vật thể mà bác Xuyền đưa ra. Thông qua nội dung có thể xác định sơ bộ, như trường hợp học giả Phan Anh Dũng bắt giò chuyện tờ giấy viết thời Khải Định. Nếu nội dung thư tịch chưa đủ xác định thì tiến hành phân tích các đồng vị phóng xạ của vật chứng (nhiều nguyên tố, chứ C14 không thì không đủ độ chính xác cần thiết nhé). Tương tự với trống đồng Lũng Cú có mấy con chữ khoa đẩu. 2.Nghiên cứu về văn hóa,phong tục, kỹ thuật sản xuất cổ. Như luyện kim thì cần có mặt dân ngành vật liệu và ngành cơ khí, từ vựng thì cần những người bên ngữ âm học, văn phạm học, từ nguyên học, về văn tự thì cần những người giải mã,... 3.Năng lực kết hợp liên ngành. Vì khoa học hiện đại rất hay phạm lỗi này: chỉ tôn trọng tri thức khoa học ngành mình mà bất chấp hết. 4.Sự xác nhận niên đại, ví dụ như hình chụp trống đồng Lũng Cú bên Pháp phải có xác nhận (văn bản và đóng dấu) hình ảnh và thông tin từ bên bảo tàng. Về mấy cuốn sách, phải có giám định niên đại bằng các cơ quan chức năng thông qua các kỹ thuật về đồng vị phóng xạ, nội dung văn bản,... Thiếu những thứ đó thì đều là bằng chứng yếu, chỉ mới dừng lại ở phương pháp nhận dạng là chủ yếu, còn chứng minh thì chỉ mới đảm bảo mảng các điều kiện cần. đây là tình huống khó xử trong khoa học nhưng không thể vì thế mà tránh né nó, kiểu mà được điều kiện cần mà chưa được điều kiện đủ, hay chưa đủ chứng minh nó đúng, nhưng cũng không thể chứng minh nó sai hay điều ngược lại đúng vậy ấy Mình không ít lần trải qua những khó khăn đó và tỏ ý thông cảm, nên đã lướt dần qua mấy cái bắt bẻ tào lao nhưng không thể không có này, chỉ mong rằng từ công trình trên giải ngược lại dòng chữ trên trống Lũng Cú. Do quá quen về khoảng cách ngôn ngữ các thời, nên mình cũng chỉ yêu cầu chuyển tự, không yêu cầu giải nghĩa hay giải mã. Thế mà cuối cùng ai nấy cũng bơ cả. Mình đã thuyết minh ra không ít điều khá quan trọng ở chữ Việt cổ rồi. Và bây giờ,....mình có cảm giác như mình bị giật dây bấy lâu nay vậy. Thậm chí ngay cả hình ảnh này cũng chả thấy ai dịch hay xác định nó có phải chữ Việt cổ hay không: MÌnh có nên viết các bài viết về chữ Việt cổ nữa không nhỉ hay là dừng đi là vừa?
  6. Thế bây giờ trong diễn đàn ai chuyển tự được chữ trên trống Lũng Cú cứ công bố xem nào, mình không rõ có phải đề cập đến vấn đề nhạy cảm hay sao mà mọi người bơ thế. Sẵn cho hỏi luôn: chữ đầu tiên tận cùng bên trái trên trống là chữ gì vậy, nhìn hoài chưa định ra được
  7. Mình có 1 số nguyện vọng: 1.Đích thân nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền hoặc những người liên quan nhất chuyển tự (transiterate) dòng chữ trên trống Lũng Cú (dịch càng tốt). Mình đoán nghĩa nó 1 phần rồi, nhưng đoán là đoán. Lúc này kết quả của nhân vật có uy tín là quan trọng nhất. 2.Tất cả các bằng chứng về vấn đề niên đại thì vẫn ưu tiên hàng đầu chữ trên trống. Cần công bố niên đại chính xác của trống Lũng Cú này, hoặc chí ít là khoảng niên đại của nó (sai lệch tối đa vài thế kỷ). Những bằng chứng khác như văn bản Thái cổ chủ yếu chỉ là điều kiện đủ, vì hầu hết niên đại, ngữ âm và nội dung của chúng đều muộn hơn trống đồng. Còn bãi đá Sa Pa thì có thể xưa hơn trống nhưng đường mờ nhạt và rất khó xác định mức độ liên quan. Các bằng chứng khảo cổ khác như chữ trên lưỡi qua lưỡi cày gì đấy, bên Việt Nam hay Hồ Quảng thì chủ yếu cũng chỉ là dấu tích tượng hình. 3.Công bố toàn bộ tài liệu về cuộc hổi thảo chính thức của bác Xuyền, như video, hình ảnh, âm thanh,... (nếu có sẵn cho mình xin link). Lưu ý rằng các giảng viên, giáo sư, tiến sỹ, học giả, đặc biệt là khối xã hội - rất thích chơi trò bắt bẻ từ ngữ, bất chấp giá trị nội dung vấn đề. Họ bắt bẻ không bằng 1 góc luật sư nhưng lại hay bắt bẻ hơn cả luật sư đấy, chưa kể yếu tố "lưỡi không xương" đấy.
  8. Dấu ấn khoa đẩu trong chữ tượng hình.Người TQ thường có nhiều lý giải sâu xa khó nhớ và rất xa vời về con chữ, thực tế những con chữ đều có nguồn gốc rất mật thiết với hình ảnh biểu thị được (viết, vẽ, ghi,...) của đối tượng. Người ta cách điệu 1 con chữ phức tạp bằng đường nét của những con chữ đơn giản gần gũi nhất về cả âm lẫn hình là cho dễ chiết tự. Chứ 1 thứ chữ có nguồn gốc chủ quan trên tiếng nói, truyện kể riêng của 1 tộc Trung Nguyên hay Bách Việt nào đó thì chúng đã sớm bị tiêu vong theo dân tộc ấy rồi. Link:
  9. Người Việt cổ dùng tối thiểu 2 kỹ thuật xử lý âm: khử "răng cưa" (các dao động nhỏ lởm chởm nằm trên 1 dường dao động lớn hơn). Cách làm đơn giản là lấy bút nét lớn hơn đồ lên. Sau đó là làm mảnh nét bút là ra đường sóng giản hóa. Hiện nay kỹ thuật này là kiểu nén âm lossy, tức có hy sinh chất lượng âm nhưng giảm đáng kể dung lượng, điển hình nhất là chuẩn nén MP3. Sau bước này, chỉ còn những "răng cưa" đủ lớn đáng kể đủ để tai người cảm nhận mới không bị dìm nét. Kỹ thuật thứ 2 là vẽ nét chung. Nối "đỉnh liền đỉnh, đáy liền đáy" của các "răng cưa" trong dải sóng âm sẽ ra vùng giá trị của sóng. Tô màu vùng giá trị đó sẽ ra nét chữ sơ khai. Khảo sát nhiều nét chữ sơ khai như vậy của hàng loạt các âm có tương đồng là có thể tổng hợp ra nét của 1 ký tự mới
  10. Gần như vậy thôi. Thực tế khả năng cao mấy con chữ được chế dựa trên biên dạng chung. Như tha, thi, thu, thanh,.... về điểm chung là th nhóm cao. Như vậy biên dạng sóng âm chắc chắn phải có ít nhiều những nét tương đồng nào đó. Vẽ ra được những nét chung ấy là vẽ ra được chữ th nhóm cao
  11. Link cho những ai không xem được google photo:
  12. Dao động ký là thiết bị vẽ các dao động sóng thành 1 biên dạng lên màn hình. 1 dạng "kém đa năng" hơn của nó chính là địa chấn kế. Dao động ký hiện đại có thể có chức năng như tivi thường, nhưng địa chấn kế thì luôn luôn chỉ vẽ được mấy dao động nhìn như sóng nước mà thôi
  13. Vì mình sử dụng chữ khoa đẩu cận - hiện đại (mà người Thái dùng thời phong kiến, mấy ông Cách mạng lại kế thừa phát triển tiếp mà cứ nghĩ "chữ người" chứ không nghĩ là chữ của cha ông) nên kết cấu mặt chữ, ngữ âm, ngữ pháp, thanh điệu,... có ít nhiều khác người Việt cổ, mong mọi người thông cảm. Chuyện chữ khoa đẩu - biên dạng sóng chỉ mới phát hiện gần đây do lúc chán viết vẽ đại chủ đề nào đó mà thành, chứ chưa có chủ ý nghiên cứu từ đầu. https://lh3.googleusercontent.com/Oic6gsBn_Sf3K_wmnyfUDrp3bEfz1MkmJyXVpY_9Q0imwby3CEC2mGalPe82HRg16a9z4YeLXGGH1jv16eo31H-D0VIkdwSkcsQqsSZuAEv6XXuG-h7lR9u6DTH5CYWmNz-nQh_4RKjT3Wx_nWW51j-QopUKacZ27GEuvvXijOjblbTCcI_hbwL_1ZfZHqZT18rPKaZHrmPK0s2QzbxQ31do1erahm_KpFXPbTwAL71dirvGD8fcGqJDWA-ToDUqu2gxW33ZH-gGVe21MH8nbKZ8V8LhVnnxi4t79gn2e2U3xmHzz6Mw1mVKk3jB_pq01vAZQBRP4Gk5ZXnsE0_Gyrj1mxUCwPWRn49fb8sfugyQ1FSiSyQkttvELGqppBi3623MBmm6ui1DESR4v9-AYBV1CzwD6AbL6yvuKbmL40gOLN6gNCvXAkgq3L4RU5apN-NU8PRjI9DflFvNnaumpvcy-2U--JFS3_2nMGxn0sMEV5EixIkR4Yc6WPHjil2NQpOIvd_MdXQpOvmIh-oK5LyxUDi5pepJjjqO_8n2LVDnyH9frX1ITydtrP_wIKQr41DmptMvBXZTmc_ayd2qdh3g0ZIfRWqOBrJh_Iaex6wn1MT_=w1280-h720-no (Hiện hệ thống chưa cho mình đăng ảnh)
  14. Vì sao lại là bộ đôi Khoa đẩu - Tượng hình văn? Trước đây có nhớ trong 1 đoạn nào đó của kinh Sáng thế, có ghi lời báo của thượng đế về sự phân ly ngôn ngữ của các cư dân. Vì sao? Phàm là tiếng nói của người thì không cái nào không có nguồn gốc. Cũng như cây gươm, gọi là "gươm" vì âm "kiếm/gươm" gần giống tiếng kêu "krưưm" rất đanh khi chúng chém hoặc va chạm;"đồng/cồng" vì tiếng kêu của chúng "krồng/thồng", gọi là "dịch/nước" vì tiếng chảy róc rách của sông suối hay tiếng xào xạc của thác ghềnh,...Chung quy là không có từ nào không bắt nguồn từ âm thanh của 1 sự vật có thật, dù sự liên quan rất nhỏ và xa đi nữa. Trong ngôn ngữ học, có 2 nhóm từ "tượng thanh" và "tượng hình". Nhưng vấn đề là mỗi người 1 kiểu nghe, diễn đạt lại càng khác. Như vậy trong lĩnh vực thông tin âm thanh, nếu không tìm được điểm chung thì sẽ không thể nhớ lâu các ngôn ngữ, dù là do chính mình chế ra. Quy tắc sơ khai nhất, không cần học cụ thể là: nghe đủ thứ loại âm thanh đối tượng có thể phát ra, chọn tiếng kêu nào đặc trưng nhất, dễ liên tưởng lại không/khó/ít đụng hàng nhất sao đó nói ra âm nào gần giống nhất, thì ấy chính là từ đơn (có thể là đơn/đa âm) chỉ đối tượng đó. Đây là nguồn gốc trực tiếp của từ tượng thanh. Đỉnh cao là từ đơn âm và từ láy. Nhưng còn những đối tượng không phát ra âm thanh thì sao? Ví dụ như nắng, mù, mây, khói,...? Đây là bước sơ khai nhất của từ ngữ trừu tượng. Ví dụ như từ tiếng ồng ộc và sức nóng của nước sôi, khiến ta cảm giác như có luồng khí xông qua hơi thở, ấy là chữ nồng. Thêm yếu tố nhệt độ của lò khiến ta như gấp gáp, muốn nhảy nhỏm, thì âm tần cao lên thành nóng. Cái "nóng" ấy rọi xuống dai dẳng nửa ngày chính là "nắng". Tất nhiên đấy chỉ là 1 cách giải thích thôi, nhưng qua ngữ âm thì bộ não con người liên tưởng rất nhanh. Như vậy không đến từ âm thanh liên quan đến sư vật thì không thành tiếng nói. Như vậy là cơ bản có tiếng nói rồi, biết hình ảnh rồi. Thì sẽ có chữ tượng hình. Nhưng chữ tượng hình không chứa chút thông tin gì về âm thanh cả, thê thì những người chưa nghe qua sẽ không đọc hay liên tưởng được. Ngay ngày xưa cũng không dưới 2000 chữ, kiểu học tượng hình văn này quả không mấy căn cơ. Công, sông, trống,... hình ảnh của chúng có gì liên quan nhỉ. Thang đo đơn giản (chỉ 1 trụ với các thanh ngang, nhìn từng đoạn như chữ I trong chữ cái Latin) có hình như viền nối khuôn trống (cùng với đường ranh trên và dưới thân trống ra chữ I Latin), sông Dương Tử đầu bè (nhánh chính và nhánh phụ Hán thủy, cửa biển cũng bè ra,cuối cùng cũng ra chữ I Latin),...Ồ, chúng trùng hợp nhau thế nhỉ! Cũng cái hình 2 đường ngang chắn đoạn dọc ấy, lúc thì thrông/thôông<->thang, lúc thì krống/trống, lúc thì ksôông<->ksông,...Thế là cả 3 chữ ấy được điển chế lại, thành ra chiết tự đều có chữ "công" hết. Kiến <->ngắm, hình con mắt mở có đuôi mi xếch lên, hiến<->hến thì hình con hến đang mở nắp vỏ đưa lưỡi ra dịch chuyển cũng có gì gần giống hình con mắt,...Ồ, lại trùng hợp nữa! Cứ thế dần dà hệ thống văn tự tượng hình chiết tự được hình thành và ngày càng đa dạng. Từ sự linh hoạt trong lời nói và chữ viết tượng hình, 1 loạt các từ đơn mới lạ liên tiếp được lưu dấu. Cũng chỉ là vật chứa bằng gốm/đất nung mà nào những bình, vò, chum, hũ, lọ,... những khái niệm rất gần, nhiều khi tưởng trùng, nhưng vẫn có khác nhau từ khắp mọi cộng đồng, dân tộc lân cận đều được ghi nhận bằng những từ đơn khác nhau. Chữ viết tượng hình dần đạt đến giới hạn về tốc độ phát triển. Ngày trước mỗi năm chỉ có vài trăm chữ mới. Về sau mỗi ngày có cả ức vạn chữ lạ hình thành, không biết đáng lưu hay không, thì chẳng cơ quan hay viện nào làm kịp tay cả. Chưa kể chữ tượng hình không dễ truyền đi xa. Vậy nên phải có hướng giải quyết. mình không nghĩ chữ khoa đẩu có đầu tiên, mà là hình thành trong quá trình nghiên cứu về tiếng nói. Liệu âm thanh có như hình ảnh, cũng có sự tương đồng nào đó vẽ ra được? Không nhất thiết phải chế 1 cái dao động ký tia điện tử "chất lượng cao" phức tạp mới có thể ghi nhận sóng âm. Sóng âm có thể được tạo hình bằng cách nhúng 1 cây kim có phao vào nước tĩnh lặng. Quá trình ghi biên dạng sóng cũng gần như các thí nghiệm do động sóng trong các trường học. Cũng có cách khác là lấy kim tẩm mực gắn vững chắc vào giữa màng loa, và quá trình ghi dao động cũng gần như các thiết bị ghi địa chấn vậy. Mình ít khi tiếp xúc dao động ký, lại không có đầy đủ thiết bị nên từ đây chắc cũng chỉ đoán thôi. Nếu có bạn nào có điều kiện chứng minh thực nghiệm thì mình xin cảm ơn nhiều. Ngay cả lỗ tai người kém chính xac thế cũng nhận ra sự tương đồng của loạt âm: a, ba, ca, da, đa, á, bá, cá, dá, đá, bi, ki, di, đi, bí, kí, dí, đí... như vậy những âm vừa kể ắt biên dạng phải có ít nhiều tương đồng, chí ít là 1 đoạn nào đó trong chu kỳ. Tất nhiên âm thanh thực tế mà, biên dạng răng cưa lởm chởm là không thể tránh khỏi. Và độ méo biên dạng tương đối cũng vậy. Không thẻ nào bắt mọi người phải nhớ đến từng cạnh răng cưa lởm chởm kia được.Vả lại chúng cũng thay đổi mạnh do sự khác biệt giọng nói, hay chỉ là trong những lần nói cách nhau chỉ vài phút của cùng 1 người (cao độ, cường độ, trường độ, âm sắc. Cả 4 thứ này không bao giờ đồng thời trùng giữa các lần với nhau khi không thu - phát kỹ thuật số), nói gì kác cá nhân, phương ngôn phương ngữ,...Vậy nếu lấy bút nét lớn vẽ đồ theo biên dạng thì sao? Tất nhiên các đường răng cưa lúc đó không đáng kể, có thẻ xem như bị khử và ta có 1 biên dạng âm tần đã giản hóa. 1 cách khác là vẽ nối các giá trị cực đại liền kề, tương tự với cực tiểu sẽ ra 2 đường biên. Tô mực trong phạm vi 2 đường biên đó là ra 1 dòng chữ nét cực lớn! Đấy, khả năng cao quá trình "thiết kế chữ cái" là vậy. Giờ có bất kỳ âm thanh, hay 1 tín hiệu nào có thể vẽ biên dạng ra dao động ký đều có thể vẽ thành chữ hết, dù là con người phát âm được hay không! Điều này rõ là hay và căn cơ văn tự rất vững nhưng có thể nói là quá thừa thãi, ngay cả trong nền văn minh hiện đai bây giờ. Có khi nào nơi nước ta ở ngày xưa có rất nhiều giống dân không nhỉ, thậm chí là không đến từ trái đất? Chúng ta hay cứ đòi hỏi mở rộng khảo cổ văn minh Việt ra đến toàn bộ Nam Dương Tử, thậm chí từ Hoàng Hà trở về Nam. Nhưng rõ ràng, bán đảo Đông Dương trong tự nhiên 4 bề đều nước (Bắc giáp Tây Giang xứ Quảng Đông, Đông Bắc giáp Nam Hải, Đông, Đông Nam, Tây Nam và Nam giáp Nam Dương, Tây, Tây Bắc giáp Mê-kông) rõ ràng có 1 giá trị rất riêng, không lẫn vào bất kỳ xứ sở nào lân cận, cho dù là Bách Việt hay Nam Đảo. Giá trị ấy từ lâu đã đạt tầm "thiên hạ", là thống nhất trong đa dạng. Chỉ có những giá trị công bằng trước mọi phương lẫn trời đất thì mới có cửa tồn tại lâu dài Khi luật lệ, quy ước con người đặt ra không đảm bảo đủ độ công bằng cần thiết cho tất cả, hãy tham khảo ở tự nhiên. Quy tụ và kết nối mọi sự tương đồng, dù chỉ là nhỏ nhất. Điều mình không muốn, chớ làm với người. Đó là căn nguyên của tư tưởng "bình thiên hạ", thói quen tôn trọng văn hóa (thậm chí đến từng cá nhân, cá thể), là sức mạnh quân tử mà lúc sinh thời Khổng Tử luôn say đắm học về người phương Nam (Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, Nam phương chi cường dã, quân tử ư chi). Dù ai cũng có thói vị kỷ từ bản năng, nhưng đứng trước bất kỳ vấn đề "không của riêng" nào, người Việt - dù tích cực hay tiêu cực - cũng không bao giờ chỉ nghĩ cho riêng mình. Từ hành xử trong những chuyện nhỏ nhặt như chuyện ASEAN, SEGames, cho đến "hòa bình thế giới" như những người lính mũ nồi Việt qua châu Phi, trời đất thiên hạ đều chứng . Trên bình diện kỹ thuật, đó là tư duy, cũng là động lực chủ yếu nhất để người Việt chế ra "chữ khoa đẩu".
  15. Câu hỏi ngố Có thể nói 1 cách đơn giản rằng trong diễn đàn hiện tại, mình là thuộc nhóm người kém hiểu dịch lý học nhất, mà kỹ thuật cũng dở tệ. Nên có vài câu hỏi rất ngu ngơ song chưa rõ lắm mong mọi người chỉ dẫn. 1./Dương là gì, âm là gì, dựa trê hệ quy chiếu tương đối hay tuyệt đối trong vật chất quan? Chân mình tìm hiểu từ ngữ thấy, "DƯƠNG" là âm Đường, còn "DỰNG" (bộ nhật, KHÁC với chữ "VỰNG" nhật trên quân dưới là VẦNG trong vầng dương, vầng trăng nhé), NẮNG (bộ phụ), GIƯƠNG/DANG (bộ thủ),...là âm Kinh Việt. Còn "ÂM" thì âm Kinh Việt có (mưa) DẦM (bộ phụ), RÂM (chữ bộ phụ có thêm chữ thảo trên đầu,nên là bộ thảo), ÊM (bộ tâm đứng),...Như vậy, sắc thái chung quy là lồi-lõm, mức ngưỡng năng lượng cao - thấp, có - không có năng lượng,... như giới quần chúng hay gọi qua tiếng Anh: positive và negative. Theo cảm nhận chủ qua hạn hẹp của mình, kiểu dịch tiếng Anh trên là chính xác hơn cả, cũng như yes - no vậy. Như vậy, theo mình nghĩ âm dương thực tế cũng như 2 mức giá trị nhị phân hay giá trị 0 và khác 0 trong số tự nhiên vậy, hay môi trường có vật chất với chân không lý tưởng / cận lý tưởng. Tóm lại, 1 đằng là có tồn tại 1 giá trị nào đó thực sự, không dễ thì khó cũng xác định được, 1 cái là hư vô không có cái khác làm chuẩn thì không xác định được. Vậy có gần đúng bản chất vấn đề không nhỉ? 2./"Dương trước, âm sau" là ý về vấn đề gì, hệ quy chiếu / định vị hay là ý chỉ cái nào tồn tại trước, hay là thế nào khác? Mình xưa giờ chỉ biết, xét trên hệ ánh sáng khả kiến, người ta vốn không thấy màu đen, chẳng qua nơi đó không tồn tại giá trị ánh sáng thì là đen, tức nếu không có nguồn sáng hoặc đối tượng nào khác thì không thể xác định được màu đen. Trong khi nếu đó là nguồn sáng màu bất kỳ, dù đơn sắc hay đa sắc thì đều cảm nhận được, bất kể có đối tượng nào đồi chiếu lân cận hay không. Cũng như vật chất ổn định (tức nguyên tử trở lên) thì không cách này cũng cách khác xác định được giá trị. Ngay cả chất lỏng khi không có vật chứa cũngcó xu hướng bo lại hình cầu, chứ không phải vô định. Nhưng chân không mà không có tường thành giới hạn nó như bóng đèn, bình chứa,... thì không sao xác định được. 3./"Dương trên âm dưới" có phải ý chỉ giá trị tuyệt đối của âm dương với nhau? Nếu cách hiểu "âm dương là gì" của mình như trên không sai thì mình thấy thế này: sóng vô tuyến điện, ánh sáng, UV, X, Gamma đều chung bản chất là sóng điện từ, có thể xem như 1 dòng điện AC chỉ khác tần số và mức ngưỡng năng lượng, nhưng mức năng lượng (tần số) càng tăng thì thể hiện tính chất hạt càng rõ. Như vậy, cứ tăng dần giá trị năng lượng đến mức nào đó thì sẽ hình thành 1 giá trị vật chất? Như vậy, năng lượng thấp (theo giá trị tuyệt đối) có đặc tính "hướng âm" và gần giống hư vô hơn. Còn năng lượng cao (theo giá trị tuyệt đối) có đặc tính "hướng dương" và gần giống 1 hạt vật chát hơn. Có phải thế không nhỉ? 4./"Âm thuận tùng dương". Liên hoàn với các ý trên, mình thấy "tính dương" có xu hướng ổn định giá trị hơn, và giá trị của chúng có xu hướng tuyệt đối, ít hoặc không bị biến thên bởi các tác nhân khác. Còn "tính âm", như chân không thì hoàn toàn lệ thuộc giá trị vào đặc tính đối tượng chứa nó hoặc sự thể / thật thể làm mốc. Cần lưu ý rằng khi không có tác nhân gây sôi hoặc tác động cơ học, chất sẽ tự cân bằng thành hình cầu trong không gian vũ trụ, còn chân không thì...mình thua, không biết nó hình gì. 5./"Âm dương chuyển hóa". 1 vấn đề phát sinh khi mình học mô hình nguyên tử Bohr như sau: nếu 1 electron chuyển lớp (K,L,M,N,...) hoặc phân lớp (s,p,d,f) sẽ sinh ra 1 photon tùy thuộc vào viêc nó từ lớp nào chuyển vào lớp nào. Vấn đề là: photon đó đâu ra? Nều nói là truyền năng lượng cho photon xung quanh thì chúng có rất nhiều, đáng lẽ năng lượng phải bi phân tán hết,chứ làm sao truyền được vào số lượng photon xác định để cho ra các photon có giá trị mức ngưỡng năng lượng xác định trên từng hạt? Mà nếu giải thích theo định nghĩa về dòng điện và sóng điện từ như trên thì hóa ra có khác nào photon phát sinh lúc đầu chưa có, sau đó mới có? Theo kiến thức hạn hẹp mình biết, thì năng lượng, nhất là năng lượng tự do thường có xu hướng "âm" do khả năng tồn tại độc lập của nó kém, thường có xu hướng tồn tại trong 1 "vật chất chủ" nào đó dưới dạng tốc độ, tần số dao động, trạng thái thế năng,...Như vậy, trong đặc điểm âm dương chuyển hóa này, âm dương là tương đối? 6./"Trong dương có âm, trong âm có dương". Không hiểu mình nghĩ theo hướng này có đúng bản chất vấn đề không. Chân không thì phải có vật chất làm "tường thành" giới hạn phạm vi của nó hoặc 1 vật chất cụ thể làm mốc. Còn vật chất thì không tồn tại trạng thái đặc tuyệt đối, vì như vậy sẽ vi phạm các nguyên lý, nguyên tắc cơ bản về bộ tứ liên hoàn "vận động - năng lượng - vật chất - thông tin". 7./"Dương tịnh, âm động". Như đã nói ở trên, thì sẽ luôn thấy tính chất "vận động trong giá trị ổn định" của dương và tính chất "biến động bất định" của âm. Hơn nữa, trong quan sát thực tiễn của mình, bất kể năng lượng liên kết (như khối lượng nghỉ của vật chất) hay năng lượng tự do (như động năng, thế năng) khi đạt giá trị càng cao thì càng ít bị các tác nhân ngoại năng, ngoại lực ảnh hưởng đáng kể. Liệu đây có phải là tính chất "hướng tịnh/hướng tĩnh" của giá trị dương? Và mình tìm thấy vài tình tiết này trong bài viết về chân không ở Wikipedia, không biết đúng không: "Một số lý thuyết lượng tử cho biết khái niệm chân không theo nghĩa cổ điển không tồn tại, do vi phạm nguyên lý bất định. Chân không, theo các lý thuyết này, luôn có sự dao động khối lượng (và do đó năng lượng) nhỏ. Điều này nghĩa là, ở một thời điểm nào đó, luôn có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên các hạt có năng lượng dương và một thời điểm khác hạt này biến mất. Các hạt ngẫu nhiên xuất hiện trong chân không tạo ra một áp suất gọi là áp suất lượng tử chân không. Các thí nghiệm đo đạc áp suất này sẽ giúp khẳng định độ chính xác của các lý thuyết lượng tử về chân không." "Ngày nay, lý thuyết lượng tử đã khẳng định rằng: Do sự đúng đắn của nguyên lý bất định mà luôn có sự dao động khối lượng và năng lượng (dù rất nhỏ) trong lòng chân không. Nghĩa là, những hạt mang năng lượng vẫn tồn tại trong chân không. Chúng tạo ra áp suất trong lòng chân không, gọi là áp suất lượng tử chân không." Tạm thời là hỏi về vật chất quan như vậy, vì tư duy vật chất quan là 1 trong các khía cạnh vĩ đại và quan trọng nhất trong hơn 20000 năm tồn tại của cộng đồng Việt - phương Nam, mà đế sau này vẫn còn thể hiện chí ít là trong tư duy kỹ thuật, nhất là kết cấu, vật liệu - năng lượng. Bài viết sau, nếu có dịp, thì mình sẽ hỏi vài thứ về văn hóa Việt cổ
  16. Vấn đề nữa là sự kết thúc của cái cũ có là nguyên nhân/tác nhân sinh ra cái mới hay không. Dùng cái cũ tạo cái mới với chuyển vị trí/trạng thái đơn thuần rất khác nhau. Hơn nữa, vũ trụ là khối lớn, nên khả năng cao là sinh diệt bất đồng. Không biết có khả năng nào vũ trụ mới hinh thành trước khi vũ trụ cũ kịp kết thúc hòn toàn, hay có mối quan hệ "bán bảo toàn" như sinh học không. Vấn đề nữa là khi các vũ trụ với các chặng đường chu trình khác nhau mà gặp nhau thì liệu nó có kết thúc như dự tính? Theo mình đoán thì nếu có sự hội ngộ này xảy ra, vũ trụ nào trẻ nhất có cơ may chứa được các giá trị chưa kịp phân rã của vũ trụ cũ sẽ biến đổi dần thành 1 vũ trụ bền hơn tất cả các vũ trụ trước đó (mặc dù cũng có tuổi thọ). Về bản chất thì không biết các đặc tính của hệ sinh thái vi sinh vật có phải gần giống 1 mô hình "tiểu vũ trụ" hay không p/s: nhầm lẫn giữa "chuyển vị - biến trạng" với "sự diệt vong của cái này sinh ra cái kia" có lẽ sẽ là 1 nhầm lẫn tai hại (mà mình đã từng bị)
  17. Mình không rõ cần những tiêu chí nào để được xét vào diện có thể tham gia chuyên mục "Trao đổi học thuật".Nếu không có vướng mắc, vấn đề gì thì mình rất mong được ban quản trị cho phép tham gia vào chuyên mục này
  18. Cập nhật riêng: sau khi tra tìm chữ viết của hầu hết các giống dân khác có thể xa gần với người Việt về ít nhất 1 mặt nào đó (địa lý, di truyền, văn hóa,...) thì thấy tổng quát như sau: 1./Chữ khoa đẩu là VĂN TỰ CHỮ CÁI DUY NHẤT viết rõ nét và đúng hầu hết nét trên oscilloscope. Trường hợp cuồng thảo như người nhà Đường hay người Nhật không tính vì đó là viết thảo qua chứ không còn bất kỳ sự tương đồng nào với lối viết chính văn. 2./Về mảng chữ tượng hình, chữ Nho Việt là VĂN TỰ TƯỢNG HÌNH DUY NHẤT đồng thời đảm bảo tối thiểu 4~5 quy tắc hình thành nên chữ tượng hình: tượng hình, chỉ sự, hội ý (tức 3 quy tắc vẽ nên chữ - nhóm quy tắc chấp dính) với hài thanh, giữa 1 bức tranh chấp dính và khả năng chiết tự. Ở các chữ ít nét, điều này ít khi hiện rõ, nhưng ở chữ nhiều nét thì hiện rất rõ. Nếu vẽ nên 1 con chữ chấp dính sẽ ra bức hình khá đến rất chính xác về đối tượng, nhưng sự ký họa của người Việt còn hay ở chỗ khi cắt nhỏ bức tranh đồng nhất ấy thì sẽ hiện ra hình ảnh những đối tượng nhỏ hơn nhưng vẫn có liên quan về âm, hình hoặc nghĩa, hay thậm chí là 2 hoặc cả 3mảng liên quan (cắt nhỏ đến bộ chữ hay nét chữ mới thôi). Nguyên lý liên quan phương pháp hình thành văn tự của người Việt cô có lẽ sẽ trình bày ở những bài sau, có lẽ sẽ liên quan đến nguyên lý chế tạo vô hạn văn tự của người Việt cổ
  19. Chữ khoa đẩu và sự thể hiện trên dao động ký (oscilloscope) Hẳn ai đã từng dùng chữ cái khoa đẩu, nhất là viết quen tay trong đời sống (chứ không phải chỉ để làm thư pháp thôi nhé) ắt hẳn đều sẽ ít nhều cảm nhận chung: nó viết rất xuôi tay và rất ít nét bị hướng ngược qua bên trái (cũng là phía trước). Đây cũng là 1 trong số rất hiếm văn tự xưa nay trên thế giới từng biết có đặc điểm này. Điều này gợi đến 1 ưu thế cơ bản: cho phép thể hiện trên oscilloscope (dao động ký). Như mọi người bên giới tự nhiên - kỹ thuật dã biết, dao động ký là thiết bị ghi nhận giá trị biến thiên của 1 đối tượng năng lượng theo thời gian. Mà chí ít là với thế giới bình thường, thời gian không chảy ngược. Điều này cũng có nghĩa là không thể vẽ 1 đường theo trình tự ngược với hướng quét của tia. Xét trên tiêu chí đó, thì chữ khoa đẩu là văn tự DUY NHẤT mình biết có thể đáp ứng đặc điểm này, mặc dù có 1 vài ký tự sẽ bị đổi nét chút ít, như chữ d (âm cao và thấp), chữ f (âm cao), chữ o phụ âm câm, tuy nhiên vẫn rất dễ dàng nhận dạng được. Về mặt chữ viết tay, có lẽ nét chữ trong cuốn "Thanh Hóa quan phong" là thể hện khá rõ đặc điểm này. Có nhiều cách thể hiện biên dạng sóng, miễn sao khi tái hiện trên dao động ký vẫn đọc được hay dễ đọc (tùy người cũng như độ quen mắt). Tuy nhiên cần lưu ý rằng, mật độ chữ càng cao thì càng khó đọc cũng như nhận dạng ký tự khi chưa quen. Nếu vừa muốn tăng mật độ chữ vừa muốn dễ đọc thì giữa các ký tự phải có 1 dao động có biên độ cả phần âm lẫn phần dương (tính từ trục đối xứng là đường trục biểu diễn thời gian) lớn vượt trội so với các ký tự và chu kỳ rất ngắn đến mức trên dao động ký sẽ thể hiện đường dọc dốc đứng gần như 1 đoạn thẳng phân cách các ký tự. Có 1 cách vẽ biên dạng sóng đơn giản là vẽ biên dạng sóng từng chữ rồi đóng gọn trong 1 ô chữ nhật hoặc 1 ô vuông (tất nhiên trên ô có đường kẻ dòng chữ), sau đó xếp các ký tự sao cho đường kẻ dòng của các ô chữ không bị so le. Bước cuiố là nối nét cuối chữ này với nét đầu chữ kia.Đây là cách để 1 sóng âm tần mang mật độ ký tự cao nhất. Nhược điểm duy nhất là cần người đọc quen mắt.
  20. Không biết ngườ Atlantic biết về vật lý hạt nhân thế nào, còn kiến thức phóng xạ thì người Việt cổ rất rành. Họ pha phóng xạ vào hợp kim Cu-Sn ra 1 loại đồng đen đặc biệt thật ra là lời giải cho luyện kim thuật. Cứ lấy stt đồng và thiếc cộng lại là biết họ làm cái gì à
  21. Không ai khơi kơi lấy thứ giá trị đi đốt. Đã là văn minh thì chắc chắn sẽ biết chỉ nên dùng "của để dành" lúc nào. Lấy gần nuôi xa, lấy ngắn nuôi dài. Tương lai sau cạn kiệt đó nằm ở vi sinh vật. Chỉ khi thất thoát ra ngoài vũ trụ thì mới là mất khoáng sản thật, còn năng lượng thì 5 tỷ năm nữa không biết hết chưa Thực tế định luật ây vẫn đúng. Cái mất mát mà bạn thấy chỉ là phân tán mật độ năng lượng. Còn mấy thứ tự sinh tự diệt bạn nói thì chẳng qua là nó đổi sang trạng thái không ghi nhận được. Hơn nữa không có nền văn minh đúng nghĩa nào đi làm liều với thứ "tự sinh tự diệt" đó khi mặt trờ còn ung dung rực cháy Laser cần nguồn năng lượng để đưa mô trường hoạt tính sang trạng thái kích thích (ánh sáng, phóng điện,....)=> <100% Vât chất cần năng lượng rất lớn để bị plasma hóa và cũng cần ngần ấy năng lượng để duy trì trạng thái plasma, không thì nó nguội Cái nhiệt hạch bạn nói cần năng lượng kích hoạt khổng lồ và luôn cấp hydro cho vụ nổ khi nó chưa kịp nguội. Bất kể trường hợp nào có tác nhân gây phân tán năng lượng đều khiến hiệu suất năng lượng <100% Thật ra chỉ cần còn đủ cái tương xứng cúng thần lửa thì không thiếu năng lượng công nghiệp Bẻ cong ánh sáng? Bạn có thể dùng thấu kính. Photon biến mất không có nghĩ là năng lượng nó biến mất. Vậy th2 số năng lượng đó cũng có thể dùng tạo ra photon khác mà 1 photon mạnh nhất mình biết thì cũng <1MeV, trong đó 1 neutron tự do phát sinh trong phản ứng nhiệt hạch đã là >19MeV. Vậy bạn cần bao nhiêu năng lượng để bản thân dịch chuyển túc thời? Chiêm tinh là phương pháp của họ. Trên trời luôn có tối thiểu 1 số sao tương đối đứng yên đối với mắt người.Chưa kể ngủ trưa dậy trễ thì cơ thể người lúc đó rất nhạy cảm với sự chuyển động của trái đất. Tuổi thọ mặt trời là câu trả lời sơ qua. 1 cây cung thường mềm uột với 1cái nỏ đồng nhỏ căng hết cỡ rất khác nhau về giá trị năng lượng. Xưa đốt cây gỗ, sau đốt rơm cỏ, giờ đốt trấu. Xưa xài đồng, sau xài sắt. Xài như ăn cướp, làm kém hiệu quả kiểu người bây giờ không mau cạn kiệt mới lạ Bạn còn nhớ thế điện cực chuẩn của Au so với Cu,Sn,Pb,P,As,.... không vậy. Sắt thiên thạch là loại thép không rỉ tự có trong tự nhiên nha bạn Với lại nếu không quá 1000 năm thì còn đâu trống đồng Đông Sơn, kiếm của Câu Tiễn Kim loại được nói tới này thường là kim loại quý, mềm, nhiệt độ nóng chảy không cao. Thực tế có rất nhiều tác nhân cản hàn: bụi bẩn, oxide,... Ở kim loại cứng như W thì cũng rất khó có khả năng tự hàn trong điều kiện thường (năng lượng, chủ yếu là nhiệt năng, không đủ).
  22. Lưu ý rằng ngay cả bây giờ, hàng hải cũng chỉ thua hàng không về tốc độ và tầm giao thông. Cho nê ngày xưa người Việt rất hay tiếp xúc với các khái niệm mới lạ, đồng thời cũng rất có nhu cầu thông tin xa (tính hiệu), nhanh (chỉ cầ ghi được tiếng nói hoặc dấu hiệu). Không phải tự nhiên mnh chọn chữ khoa đẩu, thậm chí thay hầu hết chữ latin trong ghi chép cá nhân. Dân kỹ thuật như mình nếu chỉ dừng lại ở những danh nghĩa duy tinh thần duy ý chí như "tinh thần dân tộc", "văn hóa cha ông",.... thì còn lâu nhé. Chữ khoa đẩu không dừng lại ở vai trò chữ cái. Đây là số vô cùng hiếm các văn tự trên thế giới có thể vẽ trơn tru lên dao động ký (oscilloscope). Người ta có thể biểu diễn hầu hết chữ cái khoa đẩu, nhất là các phụ âm cao thành 1 sóng analog âm tần. Nét chữ đơn giản (hơn chữ latin), đường nét xuôi thuận không vướng mắc,... khiến cho tốc độ viết chữ khoa đẩu có thể tăng lên rất nhanh, thậm chí viết 1 từ ghép rất dài bằng chữ khoa đẩu ghi đủ vẫn nhanh hơn là ghi tắc bằng chữ cái latin.
  23. Chưa kể nếu nói tất cả các từ đơn thuần Việt có chữ Hán tương ứng âm lẫn nghĩa đồng thời (xét theo âm Hán Việt và âm Đường) là gố Trung Quốc thì đâu ra Uwâl (Malay)=Vân=Mây, Kalăng (Chăm)=Cá Lăng=Cái lăng (tháp chàm có xu hướng kết cấu chiếm không gian kiểu lăng trụ), krông (tây nguyên)=giang=khoỏng (Lào)=Kông (Mê Kông)=Sông, Ngoèn (Lào, Thái)=Ngân (ngân hàng)=Ngần (trắng ngần),...? Nếu như cho đó là trùng hợp ngẫu nhiên như Ciao=Chào, Leaf (lá cây, 1 phiến mỏng)=lép (dẹp lép), deaf=điếc,... thì giải thích thế nào với chuyện có trên dưới 800 trường hợp như vậy? Nếu giải thích "cày" là mượn từ chữ "canh" (canh nông), vun/bón mượn từ "phân",.... thì hóa ra dân du mục với lưu manh (2 thành phần chính trong xã hội Trung Nguyên cổ) vác cày bón phân à? Người TQ tự xưng gốc gác phương Bắc, vậy mấy từ bộ "chu" như chu (Nam di chu, bắc di mã)=chèo, nghỉ=ghé,bạc=bè, kha=ghe, thuyền=xuồng,... và còn ức vạn ví dụ nữa đâu ra? Hay họ cũng không hơn gì Vinashin/Vinalines, với tàu biển gắn cờ Mông Cổ, Lào,...?
  24. Bằng chứng 20000 năm hệ thống thủy lợi tự chảy ở Hòa Bình hồi trước từng được đăng trên các phương tiện truyền thông. sau đó bị dập rồi, tiếc thật Chỉ chắc chắn rằng nếu không có nó thì khi xây đập thủy điện số người chết rất lớn so với những gì đã xảy ra. Vấn đề là nó chỉ có thể hình thành bởi 1 tổ chức hay 1 nhà nước pháp quyền nào đó. Chứ "bầy người" thì bỏ xứ đi, mắc gì phải làm hệ thống như vậy? Haizz, nãy gõ trả lời 1 đống các vấn đề của các post trong này thế mà lâu quá nên phải đăng nhập lại, chưa kịp lưu
  25. 1.Chứ không phải anh Tam Tinh phát ngôn à :lol: 2.Vì họ sản xuất hàng vô tiêu chuẩn mà không đảm bảo siêu sản lượng. Nếu vậy hư thì thay bằng gì? 1.Văn minh kiểu thập tự chinh, phân biệt màu da, đuổi người tị nạn,.... :lol: 2.Và họ đốt chùa Một Cột :D 3.Nhờ phương pháp thánh Gandhi mà từ 1 nước giờ ra Ấn, Pakistan và bangladesh :lol: Bị ai đó hack thì sao :lol: Nên nhớ nơi cuối cùng mà dân TQ luôn tới và cùng dân bản địa tử thủ nghìn đời nay luôn là nước nào nhé :) Ồ không ngờ nó tuyên chủ quyền cả lộ trình mà Lương Viết Lợi và TIm Severin đi thử vượt Thái Bình Dương bằng bè mảng :ph34r: Nói mới để ý, trong khí lo để ý sâu xa thì có bạn nào trong forum liên hệ những gì ghi trong đây với khoa học bình thường chưa