• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Thiên Sứ

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    31.205
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    2.143

Thiên Sứ last won the day on Tháng 5 21

Thiên Sứ had the most liked content!

Danh tiếng Cộng đồng

22.519 Excellent

About Thiên Sứ

  • Rank
    Hội viên ưu tú
  • Birthday

Xem hồ sơ gần đây

30.635 lượt xem hồ sơ
  1. Thưa Quý vị và các bạn. Đây là bài dẫn luận, xác định mục đích của cuộc Hội Thảo "Tìm về cội nguồn Việt sử". Do Trung Tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương và Trung Tâm Minh Triết Việt phối hợp tổ chức vào tháng 9 Tại Hanoi. ---- MỤC ĐÍCH HỘI THẢO TÌM VỀ CỘI NGUỒN VIỆT TỘC. Nguyễn Vũ Tuấn Anh Một dân tộc không có lịch sử, sẽ là một dân tộc mất trí nhớ. Kính thưa Ban tổ chức. Kính thưa quý vị đại biểu. Kính thưa các học giả và các nhà nghiên cứu có mặt ở cuộc Hội thảo “Tìm về cội nguồn Việt tộc”, ngày hôm nay. Lịch sử của các dân tộc Việt Nam, bị khuất lấp trong hơn một 1000 năm Bắc thuộc. Chỉ một kiếp người ngay thế hệ của chúng ta, cũng đủ chứng kiến bao nhiêu sự kiện thăng trầm của lịch sử Việt. Và ngay trong thế hệ của chúng ta, cũng chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử với khoảng cách chỉ vài chục năm, nhưng vẫn còn phải tranh luận về tính chân lý. Vậy với hơn một 1000 năm Bắc thuộc, thời gian quá dài và quá đủ để xóa sổ toàn bộ lịch sử của một dân tộc. Một ngàn năm Bắc thuộc, không phải là một con số vô cảm để chỉ đọc trong một giây. Không một dân tộc nào mất nước, còn có thể giữ lại và tiếp tục lịch sử của mình. Đây là một thực tế chưa hề có ngoại lệ trong lịch sử văn minh nhân loại. Tất nhiên, với hơn 1000 năm Bắc thuộc, dân tộc Việt cũng chịu chung số phận và bị xóa sổ hoàn toàn lịch sử quá khứ. Những gì còn lại của một nhà nước Văn Lang dưới thời trị vì của các vua Hùng, nhà nước đầu tiên của Việt tộc, khởi đầu cho nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm văn hiến, có vẻ như chỉ còn lại trong truyền thuyết và huyền thoại lưu truyền một cách mơ hồ trong văn hóa truyền thống Việt. Việt tộc đã hưng quốc vào thế kỷ thứ X, những người có trách nhiệm với dân tộc đã khôi phục lại Việt sử, trong một điều kiện ngồn ngang của quá khứ với một di sản mù mịt của hơn 1000 năm Bắc Thuộc. Chính vì vậy, ngay trong chính sử, nhà nước Văn Lang, cội nguồn Việt sử của dân tộc, chỉ được chép ở phần Ngoại kỷ với lời nhận xét đầy hoài nghi của Sử gia Ngô Sĩ Liên. Ông viết: “Những việc chép trong Ngoại kỷ là gốc ở dã sử, những việc quá quái đản thì bỏ đi không chép”. Cụ thể hơn, khi bàn về truyện Sơn tinh, Thủy tinh, ông cũng viết: Còn như việc Sơn Tinh, Thủy Tinh thì rất quái đản. Tin sách chẳng bằng không có sách. Hãy tạm thuật truyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi”. Như vậy, chúng ta thấy rằng: Ngay trong bộ chính sử nổi tiếng và chính thức lưu truyền trong Việt sử, thì nhà viết sử cũng đã tỏ ý hoài nghi ngay những gì mà chính ông đã viết ra. Cho đến những thập niên đầu của thế kỷ XX, nền văn minh Tây phương theo đoàn quân viễn chinh Pháp du nhập vào Việt Nam. Những chuẩn mực khoa học của nền văn minh này trở thành ý thức thống trị. Nền tảng tri thức khoa học của văn minh phương Tây ở giai đoạn này, vẫn chủ yếu dựa vào nhận thức thực chứng và thực nghiệm. Trên cơ sở này, những trí thức Tây học đầu tiên của Việt Nam, như: Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim – qua những cuốn sách đã xuất bản - và Ngô Tất Tố – qua các bài viết trên Tạp chí Tao Đàn vào những năm 30 của thế kỷ trước – họ đều tỏ ý nghi ngờ tính huyền thoại và truyền thuyết về cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, với quốc gia đầu tiên của người Việt là Văn Lang, dưới sự trị vì của các vua Hùng. Mặc dù, chính sử đã ghi nhận một cách rất rõ ràng và chính xác thời gian và địa điểm lập quốc của nhà nước đầu tiên của Việt tộc: Nước Văn Lang thành lập vào năm Nhâm Tuất, năm thứ 8, vận VII, Hội Ngọ. Phía Bắc giáp Động Đình Hồ, phía Nam giáp Hồ Tôn, phía Tây giáp Ba Thục, phía Đông giáp Đông Hải. Tính ra đó là năm 2879 trước CN – và đến nay 2019, là 4898 năm lịch sử của Việt tộc từ khi lập quốc – tức gần 5000 năm lịch sử. Đoạn văn trên trong chính sử Việt, rõ ràng không phải là một huyền thoại, hoặc truyền thuyết. Nhưng toàn bộ nội dung lịch sử của nhà nước Văn Lang, trong không gian và thời gian đó, lại được mô tả bằng truyền thuyết và huyền thoại. Đây chính là cơ sở để các học giả Tây học và cả những nhà nghiên cứu Pháp vào thời bấy giờ, hoài nghi cội nguồn Sử Việt. Nhưng họ không phủ nhận, mà chỉ dừng lại ở sự hoài nghi. Cho đến những năm 70 cũng của thế kỷ trước, rộ lên một xu hướng đặt vấn đề phủ nhận cội nguồn Việt sử. Và vào những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ XX, xu hướng này trở nên quan điểm chính thống trong giới Sử học Việt. Nhà Sử học Nguyễn Khắc Thuần viết trong cuốn “Thế thứ các triều đại vua Việt Nam (Nxb Giáo Dục 1997 – trang 15), như sau: “Trái lại với ghi chép của chính sử và các tài liệu dã sử khác, các nhà nghiên cứu cho rằng: Nước Văn Lang của các vua Hùng chỉ tồn tại trong khoảng 300 năm và niên đại tan rã vào khoảng 208 Tr.CN. Với 300 năm, con số 18 đời Hùng Vương là con số dễ chấp nhận. Tuy nhiên, cũng không vì thế mà khẳng định rằng nước Văn Lang thực sự có 18 đời vua Hùng nối tiếp nhau trị vì. Tóm lại, nước Văn Lang là một thực thể có thật của lịch sử. Nhưng nước Văn Lang chỉ tồn tại trước sau 300 năm và con số 18 đời vua Hùng cho đến nay vẫn chỉ là con số của huyền sử”. Cụ thể hơn, trên báo Pháp Luật và xã hội, số ra nhân dịp giỗ Tổ Hùng Vương năm Mậu Dần 1998, tác giả Anh Phó với tựa đề “Trang phục tổ tiên ta như thế nào”, viết: “Nói vua Hùng làm vua nước Văn Lang, nhưng kỳ thực vua Hùng không giống như những vị vua quân chủ phong kiến của các thế hệ sau. Nước Văn Lang cũng chưa đủ các yếu tố cấu thành một quốc gia hoàn chỉnh. Mà lúc ấy nước Văn Lang chỉ mới là một liên minh giữa 15 bộ lạc. Người đứng đầu liên minh là tù trưởng bộ lạc Văn Lang – một bộ lạc hùng mạnh nhất trong số 15 bộ lạc. Vị tù trưởng ấy là vua Hùng”. Cần xác định rằng: Quan điểm phủ nhận cội nguồn Việt sử truyền thống trải gần 5000 năm văn hiến, được khẳng định bởi tính phổ biến của nó, không còn chỉ dừng lại ở sự hoài nghi. Trong tạp chí “Kiến thức ngày nay”, số 256, ra ngày 1. 9. 1997 với tựa đề “Thời điểm lập quốc và quốc hiệu Việt Nam”, tác giả Nguyễn Anh Hùng đã viết: “Các nhà sử học ngày càng thống nhất chung quan điểm cho rằng: Nhà nướcđầu tiên trên đất nước ta, chỉ có thể xuất hiện vào thời văn hóa Đông Sơn – giai đoạn phát triển đỉnh cao của thời đại đồ đồng và giai đoạn đầu của thời kỳ đồ sắt. Quan niệm này được cộng đồng khoa học thế giới thừa nhận”. Thưa quý vị đại biểu. Như vậy, về mặt khách quan, chúng ta thấy rõ hai quan điểm rất khác biệt về cội nguồn Việt sử và mâu thuẫn nhau. Một quan điểm tiếp tục đi tìm cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, theo chính sử và đã được ghi nhận trong Hiến Pháp trước năm 1992. Một quan điểm nhân danh khoa học phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt đang thống trị trên các phương tiện truyền thông và trong cả các chương trình giáo dục. Thưa quý vị đại biểu. Một dân tộc không có lịch sử, thì không khác gì một dân tộc mất trí nhớ. Dân tộc Việt không thể không có cội nguồn Việt sử. Vấn đề đi tìm cội nguồn Việt sử sẽ không thể đơn giản chỉ dừng lại trong giới hạn thuần túy của lịch sử Việt. Mà nó còn giải thích các vấn đề liên quan, như ngôn ngữ Việt từ đâu mà ra? Vấn đề nguồn gốc đích thực của nền văn minh Đông phương vốn huyền bí không giả thích được từ hàng Thiên niên kỷ, đến nay vẫn thách thức toàn bộ tri thức của nền văn minh nhân loại…vv…và …vv. Người Việt cần phải biết rõ cội nguồn Việt sử của mình, để biết rõ quá trình phát triển của nền văn minh Việt, sự hình thành văn hóa Việt và dân tộc Việt. Người Việt phải hiểu rõ cội nguồn Việt sử để biết rõ vị trí của dân tộc Việt trong lịch sử văn minh nhân loại. Nhưng thực chất cội nguồn Việt sử bắt đầu từ bao giờ, khi có hai luồng quan điểm hoàn toàn khác biệt? Đó chính là nguyên nhân để chúng ta có mặt ngày hôm nay, trong cuộc Hội thảo này để tìm về cội nguồn Việt sử, một cách khách quan, nhân danh khoa học và chân lý. Thưa quý vị đại biểu. Chúng ta đang sống ở những năm 20 đầu thế ký XXI. Đây là một thời đại mà những nền tảng tri thức khoa học đã phát triển vượt trội, so với những năm đầu thế kỷ XX. Những lý thuyết khoa học vĩ đại đã được hình thành, như những cột mốc trong lịch sử nhận thức được của nền văn minh nhân loại. Từ đó những chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết, hoặc một kết quả nghiên cứu khoa học cũng đã thay đổi, so với tư duy khoa học cổ điển có trước đó hàng trăm năm. Một trăm năm trước đó và còn đến tận bây giờ, chủ yếu sự thẩm định của tri thức khoa học chỉ là thực chứng, thực nghiệm. Thì ngày nay, nó đã được bổ sung bằng những tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một giả thuyết, hoặc một lý thuyết nhân danh khoa học. Ngay nay, những di vật khảo cổ, không còn là bằng chứng duy nhất chứng minh cho các lý thuyết về khoa học lịch sử. Mà nó còn cần rất nhiều chuẩn mực khác liên quan, như di sản văn hóa phi vật thể, các tiêu chí khoa học cho một giả thuyết khoa học được coi là đúng…vv. Kính thưa quý vị đại biểu. Trên cơ sở sự phát triển chung của nền văn minh hiện đại, mà những nền tảng tri thức đã phát triển vượt trội so với một trăm năm trước – đó chính là điều kiện thuận lợi, để chúng ta có thể soi rọi nhiều hơn, trong việc tìm về cội nguồn Việt sử. Và điều đó chính là nguyên nhân để có cuộc Hội Thảo ngày hôm nay, với chủ đề “Tìm về cội nguồn Việt sử”. Thay mặt Ban Tổ Chức, chúng tôi rất kỳ vọng cuộc Hội Thảo nhân danh tính khách quan khoa học và sự chân thành đi tìm chân lý của các nhà nghiên cứu và các vị học giả có mặt ngày hôm nay, chúng ta sẽ có một kết luận đúng đắn phản ánh đúng sự thật lịch sử về cội nguồn dân tộc Việt. Một lần nữa, thay mặt ban tổ chức, chúng tôi xin chân thành kính chúc quý vị đại biểu, các học giả quan tâm đến cội nguồn dân tộc và kính chúc Ban Tổ chức một cuộc sống hoan hỷ, an lạc và sức khỏe. Xin chúc cuộc Hội thảo “Tìm về cội nguồn Việt sử” thành công tốt đẹp. -------------------------------
  2. THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH & TƯƠNG LAI CỦA KHOA HỌC. Thưa quý vị và các bạn. Thiên Sứ tôi hân hạnh giới thiệu với quý vị và các bạn một bài viết về những vấn nạn của khoa học. Theo tôi đây là một bài viết đặt ra một vấn đề rất thời sự, ở đẳng cấp vĩ mô về một khái niệm đang thống trị nền văn minh của chúng ta hiện nay. Đó là vấn đề "Khoa học". Quý vị và các bạn có thể tham khảo toán bộ bài viết theo đường link dưới đây: http://nghiencuuquocte.org/2019/03/19/mo-neo-cho-khoa-hoc/?fbclid=IwAR2Y0rk9YVqE1oGT3LTq_olxOSD6U5wpw4z6ZljRbHlW5gjvzGZtuCpFP60 Nhưng qua bài viết này, một lần nữa, tôi có thể khẳng định với các bạn: Thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch - ba bộ phận cấu thành của một hệ thống Lý thuyết hoàn hảo, nhân danh nền văn hiến Việt - chính là Lý thuyết thống nhất. Mà nhân loại đang mơ ước. Mặc dù cho đến ngày hôm nay, chúng ta không thể tìm được một văn bản cổ chữ Hán nào - chỉ với hai trang A 4 - mô tả thuyết Âm Dương Ngũ hành bản chất cấu trúc nội hàm của nó như thế nào. Nhưng thực là buồn cười. Từ hàng ngàn năm qua, từ những triết gia khả kinh, như Trinh Di, Trình Hạo đời Hán....; Chu Đôn Di thời Tống...cho đến các nhà nghiên cứu hiện đại; rồi đến các thày bà bói toán, xem tướng số vỉa hè...đều xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành là thuộc về văn minh Hán. Những định kiến, mặc định, sự chây ỳ của tư duy cố chấp, khiến người ta không thể nghĩ khác đi và gần như khó chấp nhận nó thuộc về nền văn hiến Việt. Nhưng thật kỳ diệu! Chính những giá trị văn hóa truyền thống Việt lại là nền tảng tri thức để phục hồi học thuyết này một cách thực sự hoàn hảo. Và chính học thuyết được phục hồi này (Nó đã phục hồi trong tôi, nhưng đang thể hiện bằng sách sắp xuất bản "Thuyết Âm Dương Ngũ hành - Lý thuyết thống nhất), sẽ giải thích những vấn nạn của cả nền văn minh, mà nền tảng tri thức của nó gọi là "KHOA HỌC" này. Thưa quý vị và các bạn. Tôi không biết ở nơi khác thế nào?! Nhưng ở Việt Nam, không ít người luôn nói đến khái niệm "khoa học"; hoặc "cơ sở khoa học"; "khoa học chưa công nhận"....Nhưng bản chất khái niệm khoa học là gì thì đến nay vẫn chưa có một định nghĩa rất ráo. Bài viết này, phần nào mô tả được vấn nạn của "khoa học", mà không ít người coi như một cứu cánh. Thực chất, cả nền văn minh này, cũng chỉ đang trện chặng đường tiến hóa và chưa hoàn chính. Bởi vậy, sự tuyệt đối hóa một cái chưa hoàn chỉnh, thì cũng chẳng khác gì đức tin của các tín đồ tôn giáo. Bạn có thể xem đoạn trích sau đây: Còn tiếp.
  3. CHÀO LÃO XỈN! Lâu wá mới thấy lão Xỉn vào đây "chém gió". Hôm nay, tý xíu nữa thì lão Gàn bỏ qua chủ đề này, nếu nó ko hiện lên trong mục "Các bài viết mới". May quá! Lão vào đây để tìm ngày tốt khai trương cái lớp học kiếm xèng. Nên thấy chủ đề này và lại hẳn lão Xỉn viết mới ghê chứ! Hì. Phải công nhận lão Xỉn viết rất lên tay. Phân tích bình loạn cứ y như một chính khứa thứ thiệt đang đấu tranh kiên quyết cho hòa bình thế giới. Nếu không phải lão Xỉn post thi lão Gàn lại tưởng chính khứa nào. Hi. Tinh xưa, nghĩa cũ, lão cũng xin đáp lại vài lời. Lão Xỉn thân mến! Thực ra mọi việc không đơn giản như lão Xỉn viết - Mặc dù phân tích cũng thuộc dạng xuất sắc. Nhưng có vài chi tiết bị thiếu một số yếu tố tương tác mạnh. Đây cũng là sai lầm của lão Gàn khi đánh gía yếu tố Bắc Kinh quá cao. Nhưng không ngờ nó lại thấp "chủn" như thế. Chắc lão Xỉn và mọi người đều biết: Chính lão Gàn xác quyết trước khi hai bên họp ở Shing, rằng: Cuộc họp Thượng Đỉnh Mỹ Triều, nên và sẽ phải ở Hanoi mới thành công được. Lão cũng tính đến yếu tố Bắc Kinh phá đám. Nhưng lại mắc sai lầm khi cho rằng: Bắc Kinh không thể can thiệp, phá đám khi đang bị sức ép của cuộc chiến thương mại Mỹ Trung. Tuy nhiên, khi ngài Kim đến Hanoi, thấy các hành vi của ngài tỏ ra gượng gạo, lão cũng nghi nghi. Nhưng không nghĩ tới mọi việc có thể đổi chiều nhanh như vậy. Bởi vì, phàm các cuộc họp Thượng Đỉnh kiểu này, chuyên gia hai nước đã bàn thảo cụ thế, các nguyên thủ chỉ ký, hoặc bàn thêm vài chi tiết nảy sinh trong quá trình ....đi đường. Có mấy yếu tố wan trong trong bài viết của lão Xỉn rất hợp lý, mà lão Gàn sẽ phân tích dưới đây: 1/ Ngài Kim Ul muốn thoát Trung và ý đổ thoát Trung này có từ thời ngài Kim Chính Ấn. Hoàn toàn chính xác! Đấy là vấn đề lão Gàn đã phân tích từ lâu, ngay trong topic này. 2/ Sự thoát Trung này mà lão Xỉn phân tich - một trong những yếu tố quan trọng để trao đổi chính là vấn đề hạt nhân. Chính xác luôn! 3/ Đây là vấn đề quan trọng nhất trong bài viết của lão Xỉn. Đó là: Đây là một phân tích rất hay và rất có thế đúng trên thực tế - Mặc dù theo lão Gàn chưa phản ánh một khả năng hóa giải vấn đề này, bởi một chân lý đích thực. Nói nôm là thế này: Có một người rất sợ ma. Đó là một thực tế. Nhưng tại họ không biết rằng chân lý đích thực là không có ma và cần phải hướng họ tới chân lý đích thực, để họ không sợ ma. Cho nến đoạn phân tích xuất sắc của lão Xỉn sẽ đặt ra hai vấn đề: 1/ Xác quyết và chứng minh không nên sợ "Ma". 2/ Ý nghĩ e ngai sự không an toàn của chế độ Bắc Triều Tiên này sinh vào lúc nào? Lão Gàn phân tích vấn đề thứ 1 trước. Trước hết chắc mọi người còn nhớ sự kiện khủng hoảng tện lửa Cu Ba 1962. Nếu chỉ xét trước khi Liên Xô sụp đổ thì vấn đề nước Mỹ không tiến hành chiến tranh vơi Cub Ba có thể giải thích là do Liên Xô hậu thuẫn. Mỹ sợ đụng chạm nên không dán tất công. Nhưng ngay sau khi LX sụp đổ đến nay gần 30 năm. Nước Mỹ vẫn không hể tấn công Cu Ba. Bởi vậy lão Gàn giả thiết rất có "cơ sở khoa học", là Hoa Kỳ đã có thỏa thuận ngầm bằng văn bản với LX - mà nước Nga là chính phủ kế thừa - hoặc với chính Cu Ba về vấn đề LX rút tên lửa khỏi Cu Ba. Lão Gàn không nhớ là ngay trong topic này, hay topic "Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến và vấn đề Biển Đông", lão Gàn xác định rằng: Chơi với Huê Kỳ phải có "ký zdăng bủn". Một ví dụ về việc không có "zdăng bủn" bảo đảm chính là việc Hoa Kỳ rút khỏi cuộc chiến Việt Nam (nên nhớ Hoa Kỳ ko tham gia Hiệp Định Genève 1954 về Việt Nam). Do đó, mặc dù ngài Nixson hứa hen rất nhiều điều, kể cả cam kết miệng về việc tham chiến bên chính quyền Sài Gòn cũ, họ vẫn buông, một cách không thể đơn giản hơn. Sau khi ngài Nixon bị hạ bệ vì vụ Watergate. Việc sợ ma này cũng giống như Tổng Thống Phi Luật tân hiện này. Lão Xỉn có thể xem đoạn trích dưới đây: Nguồn: "Biển Đông: Dưới bóng B52". Trần Khải. Ngài Duterte sợ "Ma'". Thứ nhất: Phi Luật Tân có hiệp ước Phòng thủ chung ký tay bo với Hoa Kỳ. Thứ hai, Theo lão Gàn còn nhớ: sau chiến tranh Việt Nam, quốc hội Hoa Kỳ ra điều luật không phải như trí nhớ của chính phủ ngài Duterte phát biểu trong đoạn trích dẫn trên. Mà điều luật đó chí xác định rằng: "Nếu Tổng Thống Hoa Kỳ phát động chiến tranh. Mà cuộc chiến đó không được sự đồng thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ, thì sẽ phải rút quân sau 60 ngày". Nhưng với chiến tranh hại điện, nếu giằng co chỉ một tháng, thì thắng thua đã rõ ràng. Đợi đến 60 ngày thì không cần phải Quốc Hội Hoa Kỳ quyết định rút quân. BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH.
  4. Địa lý Lạc Việt - Phân tích vẻ đẹp huyền vĩ của tác phẩm văn học vượt thời gian của Truyện tình Trương Chi Địa Lý Lạc Việt - Phân tích tính minh triết tranh dân gian VN: Lý Ngư vọng nguyệt, Ngũ Hổ
  5. Địa lý Lạc Việt - phân tích tính minh triết của Truyện dân gian VN: truyện Tấm Cám Địa lý Lạc Việt - Vì sao không nên mua hoa vào 30 tết? Địa Lý Lạc Việt - Thái tuế, xung Thái tuế, tuế phá, tam tai là gì, cách hóa giải?
  6. Địa Lý Lạc Việt - minh triết trong tranh dân gian VN: Tam Dương Khai Thái, Lưỡng nghi sinh tứ tượng Địa Lý Lạc Việt - phân tích tính minh triết của tranh dân gian VN: Tranh chăn trâu thổi sáo Địa lý Lạc Việt - Cân bằng âm dương
  7. CHƯƠNG VII KẾT LUẬN CỦA CÁC TIỀN ĐỀ. Thưa các bạn đọc. Như vậy, ở các chương trên, người viết đã chứng minh và xác định những luân điểm của mình trong bộ sách ‘Thuyết Âm Dương Ngũ hành – Lý thuyết thống nhất’ về các khái niệm: ‘Vật chất’; ‘Không gian’; ‘Thời gian’ và cuối cùng là khái niệm ‘Điểm’ trong Toán học và cuộc sống con người. Để minh định lại nội hàm các khái niệm được xác định của người viết, từ đó làm tiền đề cho mục đích chứng minh của bộ sách, người viết xin tổng kết như sau: VII. I. Nội hàm khái niệm ‘Điểm’. Người viết xác định rằng: 1.Tiền đề: 2. Hệ quả: Những hệ quả của điểm được mô tả trong Toán học, như: ‘Đường thẳng’; ‘Mặt phẳng’…..đều chỉ là hệ quả của một quy ước dùng trong Toán học và cuộc sống, hoàn toàn không có thật. Đương nhiên, sẽ không có trên thực tế những khái niệm ‘mặt phẳng’ và ‘mặt phẳng cong’, hoặc ‘không gian cong’…Tất cả đều chỉ là những khái niệm thuộc tư duy trừu tượng, nhằm mô tả một thực tại vận đông và tương tác thực của vật chất. VII. II. Nội hàm khái niệm ‘Vật chất’. Người viết xác định rằng: 1.Tiền đề: 2. Hệ quả: 2.1/ Như vậy, với tiền đề này thì tất cả những dạng tồn tại trong vũ trụ này, nếu chứa năng lương và tương tác, đều là ‘Vật chất’ và là đối tượng quán xét, tìm hiểu của con người. Nói rõ hơn một cách hình ảnh theo định nghĩa về ‘vật chất’ của người viết: Thượng Đế cũng thuộc về phạm trù vật chất, nếu Ngài tương tác với vũ trụ này và cõi trần gian. 2.2/ Tất nhiên, một hệ quả tiếp theo sẽ là: Những đối tượng không chứa năng lượng và tương tác thì không thể là đối tượng quán xét thuộc phạm trù ‘Vật chất’. VII. III. Nội hàm khái niệm ‘Thời gian’. Người viết xác định rằng: 1.Tiền đề: 2. Hệ quả: 2.1/ Như vậy, với tiền đề này thì tất cả các phương pháp làm lịch, các phép đo thời gian trong lịch sử nền văn minh, đều chỉ là tính quy ước của con người, hệ quả của nhận thức sự vận động và tương tác của các mối tương quan giữa trái Đất – môi trường sống của con người – với sự vận động của các thiên thể bên ngoài trái Đất. 2.2/ Đương nhiên, một phương pháp làm lịch cao cấp nhất, sẽ là phương pháp đo thời gian, mà trong đó mô tả được hầu hết những sự vận động và tương tác của các thiên thể liên quan đến trái Đất. Trong lịch sử văn minh nhân loại, tính đến ngày hôm nay, phương pháp tính thời gian cao cấp nhất, chính là Âm lịch Đông phương. Đây là loại lịch mà phép đo thời gian mô tả được những quy luật vận đông và tương tác của môi trường không gian quanh trái Đất, một cách chi tiết và có khả năng tiên tri. Trong khi đó, Dương lịch mà một số học giả đề cao và muốn thay thê hoàn toàn Âm lịch Đông phương, chỉ mô tả một các cơ học và đơn giản sự vận động của trái Đất quay quanh mặt Trời với cảm ứng sáng tối của sinh vật nói chung. 2.3/ Độ dài tuổi thọ sinh học khác nhau, sẽ có ‘Cảm ứng sinh học’ về thời gian khác nhau, bởi tương quan cảm ứng tương tác với sự vận động môi trường khác nhau. Ngay trong một kiếp người, mặc dù độ đo thời gian quy ước không thay đổi. Nhưng trong các giai đoạn phát triển của con người từ thơ ấu đến tuổi già, cảm ứng sinh học về thời gian rất khác nhau. Càng về già, cảm giác thời gian đi càng nhanh. Bởi vì cấu trúc sinh học trong một cơ thể về già bị lão hóa và chậm lại. 2.4/ Môi trường khác nhau trong tương quan vận tốc của cấu trúc vật chất, sẽ cho những giá trị cảm ứng sinh học khác nhau về thời gian. Điều nay đã được ngài Enstein chứng minh về nguyên lý chung trong Thuyết Tương Đối rộng, khi học thuyết này xác định: Thời gian phụ thuộc vào tốc độ. Nhưng giới hạn của học thuyết này, chính ở sự xác định giới hạn tốc độ vũ trụ, không vượt quá tốc độ ánh sáng, trong điều kiện cấu trúc hạt của vật chất. Giới hạn tốc độ vũ trụ trong thuyết Tương Đối, chỉ là một chân lý cục bộ và sai trong cái toàn thể. Điều này sẽ được chứng minh ở Phần II, trong Tập I của bộ sách này. VII. IV. Nội hàm khái niệm ‘Không gian’. Người viết xác định rằng: 1.Tiền đề: 2. Hệ quả: 2.2/ “Không gian’ là một từ đã phổ biến trong cuộc sống con người và đi vào cảm xúc và được mặc định trong nhân thức của con người. Cho nên, mặc dù là một khái niệm ảo, khó thay đổi. Nhưng thực tế cho thấy rõ, khái niệm ‘Không gian’ trong cuộc sống luôn có tính từ kèm theo mô tả một thuộc tính thật trên thực tế. Thí dụ: ‘không gian xanh’; không gian tĩnh lặng’; ‘Không gian u tối’…. 2.1/ Như vậy, với tiền đề này thì khái niệm ‘Không gian’ không có thật. Do đó, các khái niệm liên quan đến ‘Không gian’ trong các lý thuyết khoa học, như: ‘Không gian cong’; ‘Không gian dãn nở’; ‘Không gian ba chiều’; ‘Không gian N chiều’…vv..đều không phản ánh đúng thực tế. Tất nhiên, nó phải được phản ánh bằng những khái niệm khác. Thí dụ: ‘Không gian cong’, có thể thay bằng ‘Chuyển động cong’; hoặc “Không gian ba chiều’ thay bằng “Hệ tọa độ ba mặt phẳng quy ước’. VII. V. Hệ quả và sự ứng dụng của các tiền đề. Trước khi đi đến kết luận cuối cùng của Phần I, trong Tập I của bộ sách này, người viết xin được nhắc lại ý tưởng của nhà bác học SW. Hawking và vấn đề đã trình bày, như sau: Lược Sử thời gian. SW Hawking. Kính mới bạn đọc tiếp tục đọc tiếp Phần II của cuốn sách, có tựa là: Do đó, những định nghĩa lại về khái niệm “Vật chất’; sự phủ định khái niệm “Không gian’ và Thời gian” như những thực tại…trong Phần I này, sẽ làm cơ sở cho những luận cứ chứng minh những khiếm khuyết, hoặc sai lầm của những Lý thuyết khoa học hiện đại, như: Thuyết Tương Đối rộng, Lý thuyết Dây, Lý thuyết Higg, Thuyết Big Bang…vv…Và bắt đầu từ những sai lầm, hoặc khiếm khuyết về mặt lý thuyết của các học thuyết này, sẽ lại là tiền đề để xác định một hệ thống lý thuyết bao trùm – tức Lý thuyết thống nhất – được coi là đúng. Và khi những tiền đề đó, trở thành những phần tử trong một tập hợp với cấu trúc hợp lý của hệ thống lý thuyết - thì chính sự tồn tại của những tiền đề trong một cấu trúc hợp lý của hệ thống lý thuyết đó, sẽ chứng minh ngược lại những tiền đề đó, được coi là đúng. Hoặc những tiền đề đó bị coi là sai, nếu nó không tích hợp được một cách hợp lý, trong một hệ luận của một hệ thống lý thuyết, mà nền tảng xuất phát chính từ tiên đề đó đặt ra. Bởi vì, nền văn minh hiện nay, chưa đạt được những nền tảng kiến thức, để mô tả một lý thuyết thống nhất. Cho nên nhất thiết nó phải được xác lập những tiền đề có tính bổ túc cho những khoảng trống tri thức của một nền văn minh, từ đó tổng hợp với những nền tảng tri thức hiện có, để dẫn đến một cấu trúc của lý thuyết thống nhất. Người viết coi đây như một tiêu chí cần thiết và hợp lý, để chứng minh cho một hệ thống lý thuyết thống nhất. SAI LẦM VÀ NHỮNG KHIẾM KHUYẾT CỦA CÁC HỌC THUYẾT KHOA HỌC HIỆN ĐẠI.
  8. CHƯƠNG V THUỘC TÍNH VÀ BẢN THỂ CỦA VẬT CHẤT. Khi lên mạng tìm hiểu về những thuộc tính của vật chất, chúng ta có ngay một loạt sự mô tả liên quan, từ nhận thức mới nhất có tính nền tảng của hệ thống tri thức của nền văn minh hiện nay, chon đến những mô tả cổ điển nhất về thuộc tính của vật chất. Phần dưới đây, được trích dẫn từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: V.I. Sự phát triển của nhận thức những thuộc tình của vật chất: Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. 1/ Vật chất cùng với không gian và thời gian là những vấn đề cơ bản mà tôn giáo, triết học và vật lý học nghiên cứu. Vật lý học và các ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu cấu tạo cũng như những thuộc tính cụ thể của các dạng thực thể vật chất khác nhau trong thế giới tự nhiên. Các thực thể vật chất có thể ở dạng trường (cấu tạo bởi các hạt trường, thường không có khối lượng nghỉ, nhưng vẫn có khối lượng toàn phần), hoặc dạng chất (cấu tạo bởi các hạt chất, thường có khối lượng nghỉ) và chúng đều chiếm không gian. Với định nghĩa trên, các thực thể vật chất được hiểu khá rộng rãi, như một vật vĩ mô mà cũng có thể như bức xạ hoặc những hạt cơ bảncụ thể và ngay cả sự tác động qua lại của chúng. Đôi khi người ta nói đến thuật ngữ phản vật chất trong vật lý. Đó thực ra vẫn là những dạng thức vật chất theo định nghĩa trên, nhưng là một dạng vật chất đặc biệt ít gặp trong tự nhiên. Mọi thực thể vật chất đều tương tác lẫn nhau và những tương tác này cũng lại thông qua những dạng vật chất (cụ thể là những hạt tương tác trong các trường lực, ví dụ hạt photon trong trường điện từ). Các tính chất cơ bản của vật chất Khối lượng Khối lượng là một thuộc tính cơ bản của các thực thể vật chất trong tự nhiên. Quán tính Theo lý thuyết của Isaac Newton mọi vật có khối lượng đều có quán tính (định luật 1 và 2 của Newton, xem thêm trang cơ học cổ điển), do đó cũng có thể nói mọi dạng thực thể của vật chất trong tự nhiên đều có quán tính. Năng lượng Năng lượng là một thuộc tính cơ bản của tất cả các thực thể vật chất trong tự nhiên. Theo lý thuyết của Albert Einstein mọi vật có khối lượng đều có năng lượng (công thức E=mc², xem thêm trang lý thuyết tương đối), do đó cũng có thể nói mọi dạng thực thể của vật chất trong tự nhiên đều có năng lượng. Công thức ΔE=Δmc² không nói rằng khối lượng và năng lượng chuyển hóa lẫn nhau. Năng lượng và khối lượng đều là những thuộc tính của các thực thể vật chất trong tự nhiên. Không có năng lượng chuyển hóa thành khối lượng hay ngược lại. Công thức Einstein chỉ cho thấy rằng nếu một vật có khối lượng là m thì nó có năng lượng tương ứng là E=mc². Trong phản ứng hạt nhân, nếu khối lượng thay đổi một lượng là Δm thì năng lượng cũng thay đổi một lượng tương ứng là ΔE. Phần năng lượng thay đổi ΔE có thể là tỏa ra hay thu vào. Nếu là tỏa ra thì tồn tại dưới dạng năng lượng nhiệt và bức xạ ra các hạt cơ bản. Lưỡng tính sóng - hạt Lưỡng tính sóng hạt là một đặc tính cơ bản của vật chất, thể hiện ở điểm mọi vật chất di chuyển trong không gian đều có tính chất như là sự lan truyền của sóng tương ứng với vật chất đó, đồng thời cũng có tính chất của các hạt chuyển động. Cụ thể, nếu một vật chất chuyển động giống như một hạt với động lượng p thì sự di chuyển của nó cũng giống như sự lan truyền của một sóng với bước sóng λ là: λ = h/p - với: h là hằng số Planck. Các hạt có động lượng càng nhỏ thì tính sóng thể hiện càng mạnh. Ví dụ electron luôn thể hiện tính chất sóng khi nằm trong nguyên tử, và cũng bộc lộ tính chất di chuyển định hướng như các hạt khi nhận năng lượng cao trong máy gia tốc. Ánh sáng có động lượng nhỏ và thể hiện rõ tính sóng như nhiều bức xạ điện từ trong nhiều thí nghiệm, nhưng đôi lúc cũng thể hiện tính chất hạt như trong hiệu ứng quang điện. Tác động lên không thời gian Vật chất, theo thuyết tương đối rộng, có quan hệ hữu cơ - biện chứng với không-thời gian. Cụ thể sự có mặt của vật chất gây ra độ cong của không thời gian và độ cong của không thời gian ảnh hưởng đến chuyển động tự docủa vật chất. Không thời gian cong có những tính chất hình học đặc biệt được nghiên cứu trong hình học phi Euclide. Trong lý thuyết tương đối rộng, lực hấp dẫn được thay bằng hình dáng của không thời gian. Các hiện tượng mà cơ học cổ điển mô tả là tác động của lực hấp dẫn (như chuyển động của các hành tinh quanh Mặt Trời) thì lại được xem xét như là chuyển động theo quán tính trong không thời gian cong. Một Luận thuyết cho rằng Vật chất là do các nguyên tử chịu tác động của sự rung động (vibrations), hay chuyển động (motions), ở tần số hay vận tốc cao sinh từ trường (electro-magnetism) gây kết dính mà thành. Tất cả các dạng chất rắn, chất lỏng, chất khí; hay các dạng năng lượng như âm thanh, ánh sáng; cũng đều được tạo ra bằng các sóng rung động như thế. Albert Einstein đã phát biểu rằng: “Everything in life is vibration” (mọi thứ trên đời đều là rung động). Vật chất tối Hình dung về tỷ lệ thành phần vũ trụ: năng lượng tối 73%, vật chất tối 23%, khí Hidro, Heli tự do, các sao, neutrino, thành phần chất rắn và các phần còn lại 4% Vật chất tối là phần vật chất mà con người chưa thể quan sát, cân đo được mà chỉ biết đến nó thông qua tác động tới những vật thể khác. Có những tính toán cho thấy vật chất tối chiếm phần lớn khối lượng của các thực thể vật chất trong vũ trụ. Phản vật chất Phản vật chất cũng là vật chất, nhưng cấu thành bởi các phản hạt... Năm 1928, trong khi nghên cứu kết hợp thuyết lượng tử vào trong thuyết tương đối rộng của Albert Einstein, Paul Dirac đã phát hiện ra rằng các tính toán không phản đối chuyện tồn tại các hạt cơ bản đặc biệt, có hầu hết mọi đặc tính cơ bản như các hạt cơ bản thông thường, nhưng mang điện tích trái dấu. Từ đó hình thành nên giả thiết tồn tại các hạt phản vật chất. Theo tính toán, nếu một hạt phản vật chất gặp (tương tác) hạt vật chất tương ứng, chúng sẽ nổ tung và tỏa ra 1 năng lượng rất lớn, theo phương trình Einstein. Một trích dẫn khác mô tả các công trình nghiên cứu hiện đại của Vật lý học, cho thấy những thuộc tình mới nhất của vật chất. Đoạn trích dẫn dưới đây trên web https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/sieu_hinh_vat_ly_tinh_than_vat_chat.html 2. Trường vật chất, Trường Thông tin Trong những cuộc bàn thảo “Vũ trụ là gì?”, nhà Vật lý lớn người Mỹ Heinz Pagels, đã nói: Cũng như phần đông các nhà Vật lý, Tôi cho rằng Vũ trụ là một thông điệp được soạn thảo bằng một mật mã - mã Vũ trụ - mà nhiệm vụ của các nhà Khoa học là giải thứ mã ấy. Quá trình tìm kiếm chiếc chìa để mở khóa thứ mã ấy, được triển khai với 3 giai đoạn: Vật chất, Năng lượng và cuối cùng là Thông tin. Làm rõ các giai đoạn đó, ta có thể hiểu như sau: bởi vì một hạt không phải tồn tại tự bản thân nó, mà chỉ là qua những hiệu ứng tương tác do nó đẻ ra. Tập hợp những hiệu ứng ấy được gọi là một “Trường”. Như vậy, những vật thể xung quanh ta chỉ là những tập hợp Trường: Trường điện từ, Trường hấp dẫn, Trường Proton, Trường électron, các Trường bức xạ v. .v.. Nghĩa là, hiện thực chủ yếu là một tập hợp của các Trường tác động lẫn nhau thường xuyên. Chúng dao động, và các hạt cơ bản với bản chất khác nhau được gắn vào. Đó là biểu hiện “chất” của Trường. Dao động làm cho chúng di chuyển trong không gian và đi vào sự tương tác lẫn nhau. Nhưng Trường bao giờ cũng gắn với Sóng. Vật chất, đó cũng là các Sóng ? - Đúng thể, Nhà Vật lý lý thuyết rất nổi tiếng Louis de Broglie đã chứng minh rằng, Vật chất của các vật thể, tự nó cũng bao gồm nhiều cấu hình sóng, do chúng giao thoa với năng lượng. Mà Sóng thì bao giờ cũng mang Thông tin. Đến đây, có vẻ như có một sự mâu thuẫn giữa vật lý cổ điển và vật lý hiện đại, về vấn đề liên quan đến thuộc tính của vật chất. Vật lý cổ điển cho rằng: Năng lượng Năng lượng là một thuộc tính cơ bản của tất cả các thực thể vật chất trong tự nhiên. Nguồn: Thư viện mở Wikipedia. Nhưng Vật lý hiện đại thì có vẻ như năng lượng tách rời thuộc tính của vật chất. Nhà Vật lý lý thuyết rất nổi tiếng Louis de Broglie đã chứng minh rằng, Vật chất của các vật thể, tự nó cũng bao gồm nhiều cấu hình sóng, do chúng giao thoa với năng lượng. Mà sóng thì bao giờ cũng mang Thông tin. Nguồn: chungta.com Đến đây, người viết cần xác định rằng: Năng lượng chính là một thuộc tính căn bản của vật chất. Những định luật của vật lý cổ điển, đến hiện đại đều xác định thuộc tính hàm chứa năng lượng của vật chất. Công thức nổi tiếng của thuyết Tương Đối rộng: E = m.c2 đã xác định điều này. Qua những trích dẫn trên, người viết xác định rằng: Trong quá trình phát triển của nhận thức về vật chất trong lịch sử văn minh nhân loại, con người ngày càng hiểu biết hơn về những thuộc tình của vật chất quan sát được. Do đó, chúng ta thấy rõ khái niệm ‘vật chất’ là một phạm trù mô tả những thuộc tính của nó, mà con người nhận thức được trong quá trình phát triển của nền văn minh. Bởi vậy, nội hàm khái niệm vật chất, cũng thay đổi qua các thời kỳ phát triển. Phần tiếp theo đây, chứng tỏ điều này. V.II. Những định nghĩa về phạm trù vật chất trong lịch sử nền văn minh. Ở đoạn trên, người viết đã chứng tỏ với bạn đọc về sự phát triển nhận thức về những thuộc tính của vật chất trong lịch sử văn minh nhân loại nhận thức được. Do đó, nội hàm khái niệm vật chất cũng thay đổi theo những nhận thức về thuộc tính của nó. Đoạn trích dẫn sau đây, xác định điều này: Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật thời cổ đại là đi tìm một thực thể ban đầu nào đó và coi nó là yếu tố tạo ra tất cả các sự vật, hiện tượng khác nhau của thế giới, tất cả đều bắt nguồn từ đó và cuối cùng đều tan biến trong đó. Tức là họ muốn tìm một thực thể chung, là cơ sở bất biến của toàn bộ tồn tại, là cái được bảo toàn trong sự vật dù trạng thái và thuộc tính của sự vật có biến đổi và được gọi là vật chất (tiếng Latin là materia). Trong lịch sử triết học cổ đại, các nhà triết học duy vật cũng quan niệm vật chất rất khác nhau. Ví dụ Thales (624-547 trước Công nguyên) coi vật chất là nước, Anaximenes (585-524 trước Công nguyên) coi vật chất là không khí, Heraclitus (540-480 trước Công nguyên) coi vật chất là lửa, Democritus (460-370 trước Công nguyên) coi vật chất là các nguyên tử,... Nói chung các nhà triết học cổ đại quan niệm vật chất dưới dạng cảm tính và quy vật chất thành một thực thể cụ thể, cố định. Mặc dù có những hạn chế về mặt lịch sử, song những quan niệm trên lại có ý nghĩa tích cực trong việc đấu tranh chống lại quan niệm duy tâm thời bấy giờ. Đến thời kỳ cận đại, khoa học phát hiện ra sự tồn tại của nguyên tử, cho nên quan niệm của thuyết nguyên tử về cấu tạo của vật chất ngày càng được khẳng định. Quan niệm này tồn tại và được các nhà triết học duy vật cũng như các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng sử dụng cho đến tận cuối thế kỷ 19. Trong giai đoạn thế kỷ 17 - thế kỷ 18, mặc dù đã có những bước phát triển, đã xuất hiện những tư tưởng biện chứng nhất định trong quan niệm về vật chất, song quan niệm đó ở các nhà triết học duy vật thời kỳ này về cơ bản vẫn mang tính chất cơ giới, đó là khuynh hướng đồng nhất vật chất với nguyên tử hoặc với khối lượng. Quan niệm này chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi cơ học cổ điển của Newton, một lĩnh vực của vật lý được coi là phát triển hoàn thiện nhất thời bấy giờ. Cơ học cổ điển coi khối lượng của vật thể là đặc trưng cơ bản và bất biến của vật chất; thế giới bao gồm những vật thể lớn nhỏ khác nhau, cái nhỏ nhất không thể phân chia nhỏ hơn là các nguyên tử; đặc trưng cơ bản của mọi vật thể là khối lượng; tính tất yếu khách quan trong hiện thực là tính tất yếu khách quan được thể hiện qua các định luật cơ học của Newton; vật chất, vận động, không gian và thời gian là những thực thể khác nhau cùng tồn tại chứ không có quan hệ ràng buộc nội tại với nhau. Nguồn Wikipedia. Định nghĩa cuối cùng và phổ biến nhất về vật chất, do V.I Lenin mô tả như sau: "vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác". Định nghĩa này của V.I. Lenin xuất hiện vào đầu thế kỷ XX. Sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật trong hơn 100 năm qua, đã bổ xung thêm những thuộc tính của vật chất, mà người viết đã trình bày ở trên. Những thuộc tính mới của vật chất đã vượt ra ngoài sự thực chứng của cảm giác. Một số nhà bác học đã phải thốt lên: “Phải chăng ‘vật chất’ đã biến mất?!” Do đó, một nhu cầu mới xuất hiện và đặt ra vấn đề cần phải định nghĩa lại bản thể của vật chất. V.III. Bản thể và nội hàm khái niệm vật chất. Sự phát triển của những tri thức nền tảng của nền văn minh hiện đại, cũng đã xác định rằng: “Tương tác là nguyên nhân hình thành tất cả mọi sự vật, sự việc. Bản chất của tương tác như thế nào thì sẽ hình thành sự vật, sự việc như thế đó”. Như vậy, một trong những thuộc tính quan trọng nữa của vật chất, cũng chính là sự tương tác giữa các thực thể vật chất. Trên cơ sở tất cả những vấn đề đã trình bày, người viết tổng hợp và mô tả một định nghĩa về ‘vật chất’, như sau: Khái niệm ‘vật chất’ là sản phẩm của tư duy trừu tượng tổng hợp, mà nội hàm của nó mô tả một phạm trù hàm chứa mọi sự tồn tại có chứa ‘năng lượng’ và ‘tương tác’ thì gọi là ‘vật chất’. Như phần trên, người viết đã trình bày: Nếu như định nghĩa mới nhất về phạm trù ‘vật chất’ của người viết, chưa được sự công nhận rộng rãi của các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học, thì người viết sẽ coi như là một như một ‘tiền đề’, để tiếp tục chứng minh cho chủ đề được đặt ra cho bộ sách này, là: Thuyết Âm Dương Ngũ hành – Lý thuyết thống nhất vũ trụ. Và nếu như những tiền đề được đặt ra từ bộ sách này, tích hợp một cách hợp lý trong hệ thống luận cứ của nó, một cách nhất quán, hoàn chỉnh để xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất, thì tiền đề đó được coi là đúng. Trên cơ sở tiền đề về phạm trù ‘vật chất’ đã được xác định, như một tiền đề, người viết tiếp tục mô tả về bản thế khái niệm ‘Không gian’.
  9. KHAI BÚT ĐẦU NĂM. Xin chia sẻ với các bạn, phần Lời nói đầu của cuốn sách sẽ xuất bản: Thuyết Âm Dương Ngũ hành - Lý thuyết thống nhất. Xin chân thành cảm ơn vì sự quan tâm, chia sẻ. =============================== LỜI NÓI ĐẦU. LỜI NÓI ĐẦU. Cùng các bạn đọc thân mến. Nhà tiên tri Vanga nổi tiếng, người Bulgaria đã có lời phán xét: "Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại". Với những người không quan tâm nhiều đến các lý thuyết khoa học mũi nhọn, có vẻ như không ai quan tâm nhiều lắm đến lời tiên tri này của bà. Vì sao nhân loại lại cần đến một lý thuyết cổ xưa? Nó quay lại để làm gì? Trong khi nhân loại hiện đại với những tiến bộ khoa học kỹ thuật như vũ bão, đang mang lại cho cuộc sống phồn vinh và đầy đủ tiện nghi cho cuộc sống con người. Một nền văn minh cổ xưa với những hệ thống tri thức lạc hậu, từ thời đồ đồng, đồ đá.... làm sao có thể có được một hệ thống lý thuyết, để nhân loại văn minh hiện nay có thể chấp nhận được nó? Nhưng về phía các nhà khoa học tinh hoa,những trí thức đầu bảng của nền văn minh hiện đại, lại đang có tham vọng đi tìm một lý thuyết của cái toàn thể. Một lý thuyết lớn, bao trùm tất cả mọi lý thuyết riêng phần, để có thể giải thích được tất cả mọi thứ, từ sự vận động của những Thiên hà khổng lồ, đến các hạt vật chất nhỏ nhất,giải thích được mọi hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ, cuộc sống cho đến từng hành vi của con người. Họ gọi đó là Lý thuyết thống nhất - Grand Unification Theory. Nhưng đối với những nhà khoa học thì ngay cả Thượng Đế, cũng không phải là đối tượng để quán xét. Do đó, với những nhà khoa học thì những câu chuyện của các nhà tiên tri, như Nostradamus, Vanga, Edgar Cayce.... chỉ là những truyền thuyết, có tính giải trí. Và họ có thể không cần quan tâm lắm đến lời tiên tri của bà Vanga. Hoặc cũng chẳng cần biết đến lời tiên tri này. Tuy nhiên, cuốn sách này: 'Thuyết Âm Dương Ngũ hành - Lý thuyết thống nhất vũ trụ', lại là sự giới thiệu tính chính xác trong lời tiên tri của bà Babar Vanga về một lý thuyết cổ xưa, chính là một hệ thống lý thuyết, mà tất cả những nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh hiện nay đang mơ ước. Cuốn sách này, sẽ chứng minh với các bạn đọc về một sự kết hợp tuyệt vời trước khả năng tiên tri huyền bí và những nhu cầu của tri thức khoa học hiện đại. Bởi vì, thuyết Âm Dương Ngũ hành và ký hiệu siêu công thức của nó là hệ thống Bát quái - nhân danh nền văn hiến Việt, với lịch sử trải gần 5000 năm, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử - là một hệ thống lý thuyết hoàn chính, nhất quán, nhân danh khoa học, dù khái niệm khoa học được hiểu như thế nào. Và nó chính là Lý thuyết thống nhất, mà những tri thức tinh hoa của nhân loại đang mơ ước. Sẽ không bao giờ có hai lý thuyết thống nhất. Cho nên thuyết Âm Dương Ngũ hành và siêu công thức cùa nó là kinh Dịch, là ứng cử viên duy nhất cho lời tiên tri huyền vĩ của bà Vanga và là chân lý cuối cùng với mơ ước của hệ thống tri thức khoa học hiện đại. Tuy nhiên, Stephen Hawking trong cuốn sách Lược sử thời gian nổi tiếng của ông, đã nói về một nền tảng tri thức cần có, để xuất hiện một lý thuyết khoa học, hoặc một phát minh. Ông viết: "Einstein đã để phần lớn những năm cuối đời để đi tìm một lý thuyết thống nhất, nhưng vô vọng. Vì thời điểm chưa chín muồi. Mặc dù, lúc bấy giờ, người ta đã có lý thuyết riêng phần của Lực hấp dẫn; của điện tử, Nhưng người ta còn biết rất ít về lực hạt nhân. Hơn nữa, Einstein lại phủ nhận thực tại của Cơ học lượng tử. Mặc dù, ông đã đóng góp vai trò quan trọng xây dựng nên nó." Như vậy, ông Stephen Hawking đã xác định một chân lý hiển nhiên: Nếu không có một nền tảng tri thức tương ứng đủ hình thành nên một lý thuyết, hoặc một phát minh, thì sẽ không thể có cơ sở để hinh thành nên một lý thuyết vào thời đại xuất hiện nó. Điều này được xác định rõ hơn, bởi tiêu chí khoa học, làm chuẩn mực thẩm định một lý thuyết thuộc về một nền văn minh nào đó, thì nó phải thỏa mãn những điều kiện liên quan đến nó. Tiêu chí này phát biểu như sau: Một nền văn minh được coi là chủ nhân của một lý thuyết, thì nó phải có khả năng phục hồi lại chính lý thuyết đó. Vậy thì, đồng nghĩa với việc một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại, chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch , cũng có nghĩa là phải chứng minh cho sự tồn tại của cả một nền văn minh đã có mặt trên Địa cầu, và có trước lịch sử nền văn minh của chúng ta nhận thức được. Điều đó cũng có nghĩa rằng: Nền văn minh đó phải có một nền tảng tri thức rất siêu việt, so với nền văn minh của chúng ta, mới có thể tạo dựng nên một lý thuyết thống nhất, mà tất cả những tri thức tinh hoa của nhân loại hiện đại mới chỉ đang mơ ước. Trong nhận thức lịch sử nền văn minh hiện nay, chúng ta chỉ thấy một sự phát triển, tiến hóa từ đơn giản, đến phức tạp, trong khoảng vài vạn năm cách ngày nay. Từ thời đồ đá, đồ đồng....Rõ ràng, không thể có một Lý thuyết thống nhất xuất hiện trong vài vạn năm tiến hóa của con người, trong lịch sử nhận thức được của chúng ta. Tất yếu, một lý thuyết thống nhất, được xác định là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, nhân danh nền văn hiến Việt, nó không thể từ trên trời rơi xuống. Vậy nó thuộc về nền văn minh nào trong toàn bộ lịch sử đã nhận thức được của nền văn minh hiện nay? Vậy thì việc xác định một lý thuyết cổ xưa, như thuyết Âm Dương Ngũ hành, là một lý thuyết thống nhất. Đồng nghĩa với việc xác định đây là một hệ thống lý thuyết vượt trội so với nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay, mới chỉ đang mơ ước về nó. Hay nói cách khác: Nó phải xuất hiện từ một nền văn minh đã phát triển hết sức cao cấp, so với nền văn minh của chúng ta ngay nay. Như vậy, trên cơ sở tiêu chí khoa học và luận điểm của ông SW Hawking, đã xác định nền tảng tri thức cần thiết để hình thành nên một học thuyết. Nói rõ hơn, là: Một nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết, thì nó phải thể hiện một nền tảng tri thức để có thể phục hồi lại học thuyết được coi là thuộc về nó. Và đây, cũng mới chỉ là một trong ba tiêu chí, nhằm thẩm định một lý thuyết thuộc về nền văn minh nào đó. Chứ chưa phải tất cả. Vậy thì, đồng nghĩa với việc chứng minh một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại, chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch , cũng có nghĩa là phải chứng minh cho sự tồn tại của cả một nền văn minh đã có mặt trên Địa cầu, và có trước lịch sử nền văn minh của chúng ta nhận thức được. Điều đó cũng có nghĩa rằng: Nền văn minh đó phải có một nến tảng tri thức rất siêu việt, so với nền văn minh của chúng ta, mới có thể tạo dựng nên một lý thuyết thống nhất, mà tất cả những tri thức tinh hoa của nhân loại hiện đại mới chỉ đang mơ ước. Trong nhận thức lịch sử nền văn minh hiện nay, chúng ta chỉ thấy một sự phát triển, tiến hóa từ đơn giản, đến phức tạp, trong khoảng vài vạn năm cách ngày nay. Từ thời đồ đá, đồ đồng....Rõ ràng, không thể có một Lý thuyết thống nhất xuất hiện trong vài vạn năm tiến hóa của con người, trong lịch sử nhận thức được của chúng ta. Tất yếu, một lý thuyết thống nhất, được xác định là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, nhân danh nền văn hiến Việt, nó không thể từ trên trời rơi xuống. Vậy nó thuộc về nền văn minh nào trong toàn bộ lịch sử đã nhận thức được của nền văn minh hiện nay? Vậy thì việc xác định một lý thuyết cổ xưa, như thuyết Âm Dương Ngũ hành, là một lý thuyết thống nhất. Đồng nghĩa với việc xác định đây là một hệ thống lý thuyết vượt trội so với nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay, mới chỉ đang mơ ước về nó. Hay nói cách khác: Nó phải xuất hiện từ một nền văn minh đã phát triển hết sức cao cấp, so với nền văn minh của chúng ta ngay nay. Như vậy, trên cơ sở tiêu chí khoa học và luận điểm của ông SW Hawking, đã xác định nền tảng tri thức cần thiết để hình thành nên một học thuyết. Thì cũng phải chứng minh một nền văn minh siêu việt có trước lịch sử của nền văn minh của chúng ta. Mong các bạn hãy bình tĩnh và xem hết quyển sách này. Và người viết sẽ rất yên tâm, khi bạn đã xem hết quyển sách và sẽ có những nhận xét quý báu. Nhưng Đây là bước khó khăn đầu tiên mà người viết cuốn sách này phải vượt qua, sau khi chứng minh thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất, nhân danh nền văn hiến Việt. Tất nhiên để chứng minh được điều này là một việc cực kỳ khó khăn. Và nếu sự chứng minh được thừa nhân, thì việc đầu tiên là nó sẽ làm đảo lộn mọi nhận thức của chúng ta về lịch sử nhận thức được của nền văn minh hiện nay. Người viết đã khẳng định thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch là hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh và chính là Lý thuyết thống nhất, nhân danh khoa học, dù khoa học định nghĩa như thế nào. Như vậy, về nội dung cuốn sách này, mà người viết chia sẻ và chứng minh với bạn đọc, có mục đích chính là Thuyết Âm Dương Ngũ hành, chính là Lý thuyết thống nhất. Nhưng mọi chuyện lại không hề đơn giản khi hàng loạt những vấn đề được đặt ra sau đó: 1/ Về nền tảng tri thức của nên văn minh tạo ra hệ thống Lý thuyết thống nhất. Tất yếu dẫn đến việc phải chứng minh một nền văn minh toàn cầu siêu việt, đã từng tồn tại trên Địa cầu , có trước nền văn minh của chúng ta. Đây là công việc cực kỳ khó khăn. 2/ Phải hiệu chỉnh và định nghĩa lại rất nhiều khái niệm liên quan đến nhận thức phổ biến của khoa học hiện đại; và cả những nhận thức trở thành lối mòn, được mặc định, như một tiền đề để có thể chứng minh cho một Lý thuyết thống nhất đã tồn tại trên thực tế. Thí dụ, như bản chất khái niệm điểm, không gian ba chiều hay 'n' chiều, tốc độ ánh sáng và hằng số tốc độ vũ trụ, vấn đề vật chất tối, các vần đề liên quan đến Lý thuyết Dây, Hạt Higg, Big bang...vv... Như vậy, như tựa đề của cuốn sách 'Thuyết Âm Dương Ngũ hành - Lý thuyết thống nhất vũ trụ', và cũng là mục đích cuối cùng của nó; người viết sẽ phải giải quyết hàng loạt vấn đề liên quan vô cùng phức tạp và hết sức đồ sộ. Thưa quý bạn đọc. Người viết không quản tài hèn, cũng ráng hết sức minh để chia sẻ với quý bạn đọc những ý tưởng trong cuốn sách này, nhằm chứng minh cho sự tồn tại trên thực tế của một hệ thống lý thuyết thống nhất vũ trụ từ một nền văn minh cổ xưa. Và cũng như tất cả các cuốn sách của người viết đã xuất bản, mục đích cuối cùng vẫn là chứng minh cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử và là cội nguồn đích thực của nền văn minh Đông phương. Xin chia sẻ với các bạn đọc. Sài Gòn. Ngày mùng 1 tháng Giêng Kỷ Hợi Việt lịch. Nhằm ngày 5 - 2 - 2019. Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
  10. CHỌN TUỔI XỐNG ĐẤT: Câu I: Năm Kỷ Hợi tuổi nào xông đất sẽ tốt. Ví dụ với gia chủ sinh năm 1960, 1987, 1979, 1976...thì nên chọn tuổi xông đất ra sao? Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Theo quan niệm của tôi. Chọn tuôi xông đất phải lấy Vận Khí của năm làm căn bản. Thí dụ: 1/ Vận khí năm Kỷ Hợi là Bình Địa Mộc, tượng của cây cỏ, có màu Xanh lá cây. Thì người xông đất phải có mạng là Thủy - màu xanh biển, hoặc Hỏa - màu đỏ, Môc - Màu Xanh lá cây. 2/ Về Thiên Can Kỷ của năm Kỷ Hợi thuộc Thổ, phải chọn người có Thiên Can Giáp (Mộc); Bính (Hỏa); Mậu (Thổ); Kỷ (Âm Thổ), Nhâm (Dương Thủy); Tân (Âm Kim) để phù hợp hoặc không khắc với Thiên Can Kỷ của năm Kỷ Hợi. 3/ Những người mạng Kim, Thổ không nên xông đất. Sau khi quán xét theo tiêu chí trên, mang tính tổng hợp và tương sinh với Thiên Can và vận khí của năm Kỷ Hợi, mới xét đến chi tiết tốt hay xấu với gia chủ. Tuy nhiên, ngay cả khi đã chọn được các tuổi theo tiêu chí trên, thì phải loại những người năm trong Tam tai là Tỵ Dậu Sửu và một số tiêu chí khác phải kiêng, sẽ trình bày tiếp theo dưới đây. Trong câu hỏi cụ thể: Gia chủ 1960, 1987, 1979, 1976... thì chọn người như thế nào? \- Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Sau khì chọn tuổi theo tiêu chí trên, chúng ta có thể chọn tuổi phù hợp với năm, nhưng lại khắc gia chủ. Cụ thể: Nếu chọn Tân Mão xông đất, hoàn toàn phù hợp với tiêu chí của năm Kỷ Hợi. Nhưng Vận khí của mệnh Tân Mão thuộc Mộc, khắc vận khí của mệnh Canh Tý 1960. Thì ta có thể chọn Nhâm Thin làm tuổi xông đất. Những tuổi có tính tương sinh tốt với năm Kỷ Hợi 2019 là: Thiên Can mang chữ Giáp: Dần / Thìn/ Tuất/ Thân. Thiên Can mang chữ Bính: Tý/ Dần/ Ngọ/ Thân. Thiên Can mang chữ Mậu: Tý/ Thìn/ Ngọ/ Tuất. Thiên Can mang chữ Kỷ: Kỷ Mùi. Thiên Can mang chữ Tân: Tân Mão. Thiên Can mang chữ Nhâm: Tuất Tuất, Nhâm Thin. Câu 2: Khi chọn người xông đất có cần phải kiêng kỵ gì hay không để tránh những điều không may trong năm mới? Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Tất nhiên phải chọn người hiền lành tủ tế, gia đình hòa thuận. thông minh, tài trí, phúc hậu. mặt mũi sáng sủa. Kiêng những người sau: Thường gặp vận không may, quá vất vả, gia đình ly tán, có tang hoặc kiện cáo, nợ nần chồng chất. Đặc biệt phụ nữ đang trong thời kỳ kinh kỳ. Những người này, dù hợp tuổi, cũng không thể chọn xông đất. Câu 3: Nhiều người cho rằng trong năm mới trang phục xông đất, mặc đầu năm cũng ảnh hưởng tới năm đó. Theo chuyên gia điều này có đúng và nếu phải thì năm nay có cần phải chú ý tới trang phục không? Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Điều này theo tôi rất quan trọng. Bởi trong Lý học, Âm Dương Ngũ hành phân loại theo màu sắc. Cho nên tính kiêng kỵ theo màu sắc khá quan trọng. Cho nên đặc biệt kiêng kỵ tuyết đối hai màu Đen và Trắng. Bởi tính thuần Dương và tượng cho sao Thái Bạch của màu trắng và thuần Âm, tượng sao Nhị Hắc của màu đen. Nếu y phục comple thuần trắng, hoặc thuần đen đều cực xấu. Bởi ngoài ý nghĩa trên , còn ý nghĩa cô Âm (Thuần đen); hoặc cô Dương (Thuần trắng). Màu trang phục tốt nhất trong năm nay, là: Xanh biển, Đỏ và Xanh lá cây. Câu IV. Xuất hành đầu năm cũng được các gia đình chú trọng. Năm nay hướng xuất hành thế nào cho tốt. Những điều cần lưu ý khi xuất hành? Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Năm nay, khi xét tất cả mọi phương vị, chỉ có hướng Nam là tốt nhất. Dù nhà của mình ở bất cứ hướng nào, hãy chọn một địa điểm đến thích hợp ở hướng Nam so với vị trí của căn nhà. Thí dụ: Quán cafe, đình, đền, khu vui chơi giải trí...Chúng ta đến đó, dừng chân ít phút trong giới hạn thời gian giờ tốt, xong quay về. Trong thời điểm này, nên tập trung tư tưởng nghĩ về những mục đích sẽ thực hiện trong năm và kết quả tốt cho những điều đó. Bạn cũng có thể khấn nguyện theo tín ngưỡng và niềm tin của bạn. Thời điểm xuất hành tốt: Trong ngày mùng 1 tháng Giêng là: Từ 17 đến 19g chiều. Trong ngày mùng 2 tháng Giêng là: 13 đến 17g chiều. Ngày mùng 2 và mùng 8 tháng Giêng, có thể chọn làm ngày khai trương. Câu V: Chuyên gia có thể nói cụ thể với một hai tuổi để chọn hướng xuất hành. Chẳng hạn như năm 76, 87,80... Nguyễn Vũ Tuấn Anh: Như tôi đã trình bày ở trên: Lý học Đông phương, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành, có tính phân loại và tổng hợp rất cao cấp. Cho nên, không có hướng xuất hành cho riêng từng tuổi. Trong năm nay, chỉ có hướng tốt nhất mang tính tổng hợp là hướng Nam. Tất nhiên, tùy từng tuổi cụ thế sẽ hưởng đặc tính tốt của hướng Nam năm nay nhiều hay ít mà thôi. Nó cũng ví như một dòng sông có thể rẽ nhiều nhánh. Có nhánh vực sâu nước xoáy, có nhánh ba ba, thuồng luồng, có nhánh nước êm ả. Là con người thì do tính tổng hợp của nó, cần theo dòng sông êm ả. Chứ không thể có tuổi nào phù hợp với nhánh sông vực sâu nước xoáy, ba ba thuồng luồng mà đi. Việc chọn một hướng tốt cho riêng một tuổi nào đó là quan niệm sai và xa lạ với Lý học đích thực. Điều này các cụ gọi là: Ma đưa lối, quỷ đưa đường. Cớ sao tìm lối đoạn trường mà đi. Vài lời chia sẻ với bạn đọc. Chân thành chúc quý vị và các bạn đọc một năm mới an khang thịnh vượng. Vạn sự tốt lành.
  11. DỰ BÁO NĂM KỶ HỢI VIỆT LỊCH - 2019 Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Kính thưa quý vị. Bài dự báo của tôi trình bày với quý vị hôm nay, trên cơ sở những phương pháp dự báo nhân danh những giá trị thuộc về nền văn minh Đông phương, có cội nguồn từ nền văn hiến Việt. Phương pháp dự báo đầu tiên, mà tôi giới thiệu dưới đây là Huyền không Lạc Việt. Phương pháp này dựa trên những di sản còn lại của nền văn minh Việt bị Hán hóa một cách sai lệch, sau khi nền văn hiến Việt bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Phương pháp Huyền không Lạc Việt trong dự đoán các sự kiện quốc tế, mà tôi hân hạnh trình bày với quý vị sau đây, khác với những di sản ghi nhận trong cổ thư chữ Hán là sự hoán đổi độ số ở vị trí phương Tây/Đoài với phương Nam/Ly. Và độ số giữa Tây Nam/Tốn 4 với Đông Nam/Khôn 2. Sở dĩ phương pháp dự báo mang tính quốc tế của Huyền không Lạc Việt thực hiện được, cũng xuất phát từ sự phục hồi phương pháp Định tâm trong Địa lý phong thủy,với bất cứ hình thể nào, được thể hiện bằng mặt phẳng quy ước. Do đó, sự phân bố các yếu tố tương tác là các vì sao trong Huyền Không có thể mô tả ở cấp độ toàn cầu. Từ đó là cơ sở cho việc dự báo. Sở dĩ phương pháp dự báo mang tính quốc tế của Huyền không Lạc Việt thực hiện được, cũng xuất phát từ sự phục hồi phương pháp Định tâm trong Địa lý phong thủy, nhân danh nền văn hiến Việt. Trên cơ sở phân bố các sao thuộc Huyền không Lạc Việt, quý vị cũng thấy các sao có tính chất xấu có số 5 - 2, phân bố ở các vùng Đông Bắc, Đông Nam. Và đặc biệt ở ngay trung tâm Địa cầu là sao Bát Bạch với độ số 8. Tính chất xấu của hai sao mang độ số 5 Ngũ Hoàng và 2 Nhị Hắc, còn được gia tăng bởi sao Thái Tuế chiếu trục Phúc Đức là Đông Nam/Tây Bắc. Chưa hết, Hai sơn Cấn Dần là phương vị của Hỷ Thần - tượng trưng cho kinh tế lại bị xung Thái Tuế. Xin quý vị xem hình dưới đây (Hình do Thiên Đồng - Bùi Anh Tuấn thực hiện): Nội dung dự báo năm Kỷ Hợi của tôi trình bày với quý vị, có tham khảo hai bài dự báo của Hoàng Triều Hải và sử dụng bản vẽ về các sơn hướng liên quan của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, là hai thành viên nghiên cứu của TTNC Lý học Đông phương. Phương pháp thứ hai mà chúng tôi ứng dụng trong dự báo này là Lạc Việt độn toán. Đây là một phương pháp dự báo được phục hồi, nhân danh nền văn hiến Việt, bằng cách kết hợp giữa hai phương pháp dự báo còn lưu truyền trong dân gian, là: Nhâm cầm độn toán và Lục nhâm đại độn. Quẻ đầu năm Kỷ Hợi, theo Lạc Việt độn toán, vào giờ Tý. ngày mùng Một tháng Giêng là Đỗ Vô Vong. Đây là một quẻ chủ về sự nghiệp bất thành, Mọi cố gắng vô ích, sự ỷ lại và chậm phát triển. Đặc biệt về kinh tế có nhiều biến động. Cơ sở dự báo: - Phân tích bản đồ Huyền Không Lạc Việt. Trên bản đồ Huyền Không Lạc Việt, chúng tôi dùng cả hai phương pháp phi tinh thuận nghịch. Sao Thái Tuế - theo nghiên cứu của chúng tôi chinh là sao Mộc tinh - được ký hiệu độ số 8 - chiếu phương Càn/Hợi và xung Thái Tuế ở Đông Nam - phương Khôn/Tỵ. Đây là lực tương tác mạnh đến hai phương biểu kiến trong Lý học và mang tính chất thuần Dương/Càn và thuần Âm/Khôn. Cho nên, tính chất biểu kiến của hai quái Càn/Khôn là thượng tầng kiến trúc và các mối quan hệ kinh tế đời sống/ Hạ tầng xã hội sẽ bị xáo trộn mạnh. Đặc biệt phương Đông Nam, còn bị sao Ngũ Hoàng Đô Thiên sát tại vị (Huyền không trong bản văn chữ Hán là: Thất Xích/ Thuận và Bát Bạch/ Nghịch). Bởi vậy, kinh tế thế giới năm tới sẽ suy thoái nặng hơn nhiều so với các năm trước. Vài quốc gia bị khủng khoảng nặng và dẫn đến sụp đổ chính phủ. Ngoài ra còn nhiểu yếu tố khác, chúng tôi sẽ mô tả khi dự đoán những sự kiện liên quan. Trên cơ sở của những phương pháp này, tôi trình bày với quý vị về những dự báo về nhiều mặt cho năm Kỷ Hợi 2019 của thế giới, như sau. Về kinh tế thế giới: Có thể nói: Năm Kỷ Hợi 2019, thế giới sẽ chứng kiến một sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng với một tính chất khác. Nếu coi năm 2008, là năm mở đầu cho một cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới, thì năm Kỷ Hợi 2019 là một cuộc suy thoái tiếp tục, do khủng khoảng của hầu hết những nền kinh tế chủ chốt của thế giới. Những biện pháp ổn định kinh tế mang tính cực đoan sẽ xuất hiện ở nhiều quốc gia. Và những biện pháp này lại là nguyên nhân đẩy sâu hơn sự suy thoái, do tính mất cân đối của nền kinh tế toàn cầu. Nhiều ngành nghề với những Cty lớn phá sản, kéo theo những hệ lụy xã hội. Và điều này bổ xung cho hậu quả thêm nặng nề của cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới lần này. Một sự bổ xung cho bức tranh u ám của nền kinh tế toàn cầu trong năm Kỷ Hợi 2019, còn là những biện pháp nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế quốc gia giữa các siêu cường, khiến cho nền kinh tế toàn cầu thêm phần bi đát. Tính chất suy thoái kinh tế thế giới của năm Kỷ Hợi - 2019 tương đồng về định tính với các năm trước trong các dự báo của tôi. Nhưng năm nay, sự khủng khoảng đặc biệt nghiêm trọng, đối với những quốc gia không có một nền tảng kinh tế vững chắc. Một chính sách đúng đắn nhất của những chính phủ thông minh trong lúc này, là cân đối được tương quan kinh tế trong nội bộ quốc gia. Điều này sẽ tránh được những hệ lụy xã hội, do khủng khoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Còn những mơ ước về sự phát triển, nên để khi khác. - Kinh tế Hoa Kỳ. Nhìn lên bản đồ Huyền Không, chúng ta dễ dàng nhận thấy hai sao Tam Bích đều tọa phương Tây là Hoa Kỳ. Đây là hai sao được coi là có tính chất tốt về sự phát triển. Cho nên có thể nói rằng: Nền kinh tế Hoa Kỳ vẫn phát triển tốt và ổn định. Nhưng nó không còn là một đầu tầu kinh tế để kéo theo nền kinh tế thế giới. Nhưng Tam Bích tọa Tây phương là không chính vị. Do đó, trong năm 2019 - Tức Kỷ Hợi Việt lịch, Hoa Kỳ sẽ có những chính sách gây ảnh hưởng lớn đế thế giới về nhiều phương diện. - Về chính trị xã hội và ngoại giao. Những điểm nóng trên thế giới, do tranh chấp lãnh thổ vẫn tiếp tục tăng nặng, và mối đe dọa xung đột lớn rất có khả năng xảy ra. Có thể nói ngay những tháng đầu năm Kỷ Hợi, cả thể giới sẽ có nhiều sự kiện tạo những bước ngoặt về các vấn đề chính trị xã hội được thay thế bằng sự xung đột và mâu thuẫn xã hội ở nhiều quốc gia. Do sao Thái Tuế chiếu đúng cung Càn, Cửu từ bị sinh xuất. Xung Thái Tuế gặp Ngũ Hoàng và Nhất Bạch bị triệt tại Khôn. Càn là quái thuần Dương, biểu tượng cho Thượng tầng kiến trúc. Năm Kỷ Hợi 2019, là năm sẽ chứng kiến nhiều mâu thuẫn chính trị nội bộ ở nhiều quốc gia. Kể cả những quốc gia được coi là phát triển, như: Anh, Pháp, Đức...Mâu thuẫn và xung đột giữa tinh thần tôn giáo cực đoan, - Quan hệ Hoa Kỳ - Trung quốc. Trên bản đồ Huyền Không Lạc Việt, chúng ta thấy rõ trục Đông Tây chính là trục Tuyệt Mạng và gần như bao trọn hai quốc gia là Mỹ Trung. Năm nay hai sao Tam Bích (Gốc phương Đông) và Cửu Tử (Gốc phương Tây) lại chiếm chỗ của nhau (Theo Huyền Không từ cổ thư chữ Hán thì Phương Tây do hai sao Nhất Bạch/ Số 1 và Ngũ Hoàng/ Số 5 quản. Do đó sự phân tích sẽ khác đi). Từ đó, tính sát phạt của mối quan hệ giữa hai siêu cường này, năm nay sẽ rất quyết liệt trên mọi phương diện. Điều mà tôi gọi là "Đấu trường sinh tử" giữa hai siêu cường này, sẽ đi vào hồi kết của cuộc chiến tranh kinh tế vào cuối năm nay. - Về văn hóa xã hội. Nhìn lên bản đồ Huyền không Lạc Việt, chúng ta thấy hai sao Nhất Bạch / Phi thuận và Ngũ Hoàng/ Phi nghịch cùng tọa phương Nam Ly Hỏa. Cung Ly là biểu tượng của văn hóa, tri thức và sự sáng tạo; sao Nhất bạch/ Số 1 - gốc phương Bắc/ Khảm Thủy. Đây là thế Phúc Đức của Khảm/ Ly phối hợp. Bởi vậy, có thể xác định được rằng: Những giá trị tri thức văn hóa xã hội và khoa học nói chung, được phát triển và được tôn trọng (Theo Huyền không từ cổ thư chữ Hán thì phương Nam có hai sao Tam Bích/ số 3 tọa thủ, sự phân tích sẽ khác đi. Vì tính chất sao thay đổi). Những giá trị tri thức đích thực của nền văn minh Đông phương sẽ được sáng tỏ và bắt đầu được chú ý đặc biệt của giới khoa học quốc tế. Trong năm Kỷ Hợi Việt lịch - 2019, thế giới sẽ chứng kiến nhiều thành tựu về văn hóa, lịch sử, giáo dục và những giá trị nhân văn phát triển. Tuy nhiên. do tổng thể thế giới bị hạn chế bởi những sao xấu tọa thủ ở những phương vị quan trọng và ngay tại phương Nam có sao Ngũ Hoàng tọa, cho nên các vấn đề phát triển văn hóa xã hội cũng chưa thể như mong đợi. - Về tệ nạn xã hội. Tính chất tàn bạo của tội phạm giảm dần và ít nghiêm trọng hơn. Những tệ nạn xã hội, như: lừa đảo, trộm cướp....nếu xét về số lượng thì có giảm, tuy không đáng kể. Nhưng cũng không tăng trong một bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái. Tuy nhiên, những vấn đề nổi bật mà xã hội quan tâm, như: Buôn người, ma túy vẫn không có dấu hiệu suy giảm. - Về nhân họa. A/ Tai nạn: Những tai nạn như: Đắm tàu, rơi máy bay, lật tàu hỏa, đâm xe hơi.... tuy giảm về số lượng, nhưng tăng nặng về mức độ nghiêm trọng, do chết nhiều người. Riêng về tai nạn hàng không, năm Kỷ Hợi, tuy không khủng khiếp bằng cách đây vài năm trước, rớt đến 5 máy bay dân sự. Nhưng những vụ rớt máy bay thương tâm cũng sẽ xảy ra tương tự, nhưng ít hơn về số lượng, nếu so với số lượng 5 vụ so với vài năm trước đây. Cụ thể trong năm nay, sẽ có ít nhất một vụ tai nạn máy bay thương tâm, gây chấn động dư luận thế giới. B/ Khủng bố: Các tổ chức khủng bố ngày càng bị bị thu hẹp về quy mô, dẫn đến tan rã. Nhưng hành động khủng bố vẫn diễn ra với những sự kiện thảm khốc. Từ đó dẫn đến tinh thần ứng phó ngày càng cực đoan hơn của chính phủ các nước liên quan. C/ Chiến tranh: Những điểm nóng trên thế giới bùng phát và thay đổi về đối tượng tham gia. Và đó là tiền đề dẫn tới nguy cơ chiến tranh giữa các siêu cường. Nhưng có thể xác định rằng: Mâu thuẫn dẫn đến bế tắc trong quan hệ kinh tế giữa các siêu cường, dẫn đến những nguy cơ chiến tranh căng thẳng vào cuối năm. D/ Dịch bệnh: Cần đề phòng những bệnh liên quan đến thần kinh và hệ tiêu hóa. Dịch bệnh bùng phát và trở thành vấn nạn ở một số quốc gia. Đặc biệt ở thú 4 chân và người. E/ Vệ sinh an toàn thực phẩm: Có nhiều cố gắng mang tính quyết liệt của chỉnh phủ các nước, khiến cho tệ nạn liên quan bị đẩy lùi một cách rất căn bản nhưng không triệt để. - Về Thiên tai. Đặc biệt sẽ có động đất nhiêm trọng xảy ra, mang tính hủy diệt. Tương tự như trận động đất ở Nepan, hoặc Nhật Bản vào năm 2011, hoặc Indo vào năm 2004 trước đây. Sự kiện sẽ xảy ra vào mùa Xuân ở phương Đông, hoặc mùa Thu ở phương Tây. So với năm Mậu Tuất 2018, hạn hán, bão lũ đều tăng nặng và mang tính hủy hoại lớn về tài sản, người và của. - Về khoa học kỹ thuật. A/ Khoa học kỹ thuật quân sự: Năm tới chỉ là sự hoàn thiện những loại vũ khí, khí tài quân sự tiên tiến đã công bố những năm trước đó. Không có phát minh gì nổi bật. B/ Khoa học kỹ thuật dân sự: Có lẽ đây là điểm sáng của năm Kỷ Hợi 2019. Sẽ có nhiều phát minh mang tính đột phá trong các ngành khoa học kỹ thuật, dân sự. Những bệnh về tim mạch có những phát minh mang tính bước ngoặt. Công nghệ thông tin, điện, điện tử cũng rất phát triển về những phát minh mới. Kết luận. Thưa quý vị. Kỷ Hợi Việt lịch 2019, thế giới không có mấy sáng sủa về nhiều phương diện. Ánh sáng lẻ loi của những thành tựu văn hóa, khoa học kỹ thuật, không làm sảng được bức tranh thế giới mờ mịt vào năm 2019. Nhưng truyền thống của người Việt Nam chúng ta luôn hy vọng và tin tưởng vào một năm mới mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Mặc dù thế giới có sự suy thoái nghiêm trong trên đà tiến hóa của nền văn minh. Nhưng nước Việt với tinh hoa của gần 5000 năm lịch sử, hy vọng vẫn đạt những sự tiến bộ về nhiều mặt trong năm Kỷ Hợi Việt lịch. Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý vị. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp, chúc tất cả quý vị có mặt nơi đây cùng gia đình một năm mới an khang thịnh vượng. Xin cảm ơn. ============================ Thưa quý vị và anh chị em. Đúng ra năm nay, phần do già yếu bệnh tật, tôi cũng định sẽ không tham gia các vấn đề dự báo hàng năm. Và nhường cho các anh chị em thuộc hàng cao thủ trong Địa Lý Lạc Việt là Hoàng Triều Hải, Phạm Hùng và Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, thay tôi tiếp tục thực hiện những lời tiên tri. Trên thực tế Hoàng Triều Hải và Thiên Đồng đã thực hiện một cách rất tự tin và có những dự đoán gần giống của tôi. Tuy nhiên, các đồng nghiệp vẫn tín nhiệm và đề nghị có những dự báo của tôi. Nên tôi đã tiếp tục tham gia với bài dự báo - mà tôi đã trình bày ở trên - tại Hội nghị Tổng kết cuối năm của TTNC Văn hóa cổ Đông phương, vào trước Tết Kỷ Hợi, tại Đồng Kỵ Bắc Ninh (Bài dự báo tiên tri của Hoàng Triều Hải cũng được đọc tại Hội nghị này). Đây là bản dự báo chính thức của tôi trong năm Kỷ Hợi Việt lịch. Xin cảm ơn vì sự chia sẻ và quan tâm của quý vị và anh chị em.
  12. CHỮ VẠN - BIỂU TƯỢNG CỦA TƯƠNG TÁC VÀ VẬN ĐỘNG CỦA VŨ TRỤ. Bản chất thật của chữ Vạn là gì? Cho đến ngày hôm nay, khi tôi đang gõ những hàng chữ này, những nhà nghiên cứu vẫn đang đi tìm bản chất của chữ Vạn, vốn xuất hiện trong các nền văn minh cổ đại trên thế giới từ 16. 000 năm qua. Và họ chỉ dừng lại với quan niệm cho rằng: "Chữ Vạn là một biểu tượng mang tính tín ngưỡng". Nhưng từ 16. 000 năm trước - tức là khi mà các dân tộc trên thế giới này chưa hình thành để xuất hiện những tín ngưỡng, thì biểu tượng chữ Vạn có một nội hàm như thế nào? Trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia mô tả chữ Vạn như sau: Trích: Thưa quý vị và các bạn. Từ năm 2001, trong cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch", tôi đã chưng minh chữ Vạn chính là một biểu tượng mô tả sự vận động và tương tác của vũ trụ. Chữ Vạn ngược, chính là biểu tượng chiều vận động của vũ trụ; chữ Vạn xuôi, chính là biểu tượng chiều tương tác của vũ trụ (Chiều ngược lại). Trên trang web của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ - Tòa Thánh Tây Ninh - cũng có bàn về chữ Vạn. Và họ cũng xác định không rõ ràng về biểu tượng Chữ Vạn thế nào là đúng. Cuối cùng, cũng nói chung chung cho rằng "Chữ Vạn tượng trưng điều lành, điều tốt đẹp, vì nó hiện ra trên ngực của Đức Phật, nó là một trong 32 tướng tốt của Phật". Nhưng vấn đề đặt ra: "Chữ Vạn trên ngực Đức Phật là chữ Vạn nào? Khi có đến hai chữ Van với hai chiều khác nhau". Thưa quý vị và các bạn: Tôi xác định rằng: Chữ Vạn theo chiều xuôi kim đồng hồ chính là biểu tượng của chiều tương tác của vũ trụ, Hình dưới bên phải (Chiều tương sinh Ngũ hành của Hà Đồ) . Chữ Vạn ngược chính là chiều vận động của vật chất trong vũ trụ này - Hình dưới bên trái (Chiều tương khắc Ngũ hành của Lạc Thư). Quý vị và các bạn so sánh hình minh họa dưới đây: CHỮ VẠN NGƯỢC CHIỀU KIM ĐỒNG HỒ VÀ SỰ VẬN ĐỘNG TRÊN THỰC TẾ CỦA VŨ TRỤ - SO VỚI ĐỒ HÌNH LẠC THƯ. CHỮ VẠN XUÔI CHIỀU KIM ĐỒNG HỒ - MÔ TẢ CHIỀU TƯƠNG TÁC TRONG VŨ TRỤ - SO SÁNH VỚI ĐỒ HÌNH HÀ ĐỒ. Bây giờ quý vị và các bạn xem lại hình minh họa cho sự vận động của vũ trụ và so sánh biểu tượng chữ Vạn trong hình dưới đây và đối chiếu với hình Âm Dương Lạc Việt: Thưa quý vị và các bạn. Tôi đã chứng minh rằng: Đồ hình Âm Dương Lạc Việt là một biểu tượng phổ biến trong tất cả những di sản của các nền văn minh cổ đại, được phát hiện trên thế giới. Và chúng có nhiều nhất trong những di sản văn hóa truyền thống Việt, chính là biểu tượng của sự vận đông tương tác của vũ trụ. Đó cũng chính là biểu tượng của chữ Vạn. Tất cả mọi sự trùng khớp, mang tính hợp lý lý thuyết, đã minh chứng cho một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ - mà ít nhất có từ 16. 000 năm trước, qua di sản chữ Vạn - đã tồn tại trên trái Đất này. Nền văn minnh này đã thể hiện một tri thức thiên văn siêu việt, qua biểu tượng chữ Vạn, mà phổ biến nhất chính là đồ hình Âm Dương Lạc Việt. Điều này là một bằng chứng sinh động và sắc sảo nữa xác định rằng: Nền văn minh Lạc Việt chính là hậu duệ của nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ đã tồn tại trên trái Đất này. Và chỉ có những di sản huyền vĩ lưu truyền trong những giá trị của văn hóa truyền thống Việt, mới đủ khả năng phục hồi lại thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Đó chính là Lý thuyết thống nhất (Grand Unification Theory) mà nhân loại đang mơ ước.
  13. DI TÍCH KHẢO CỔ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA LÝ CỔ ĐÔNG PHƯƠNG - CÁCH HƠN 6000 NĂM TRƯỚC. Cá nhân tôi - Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh - luôn chỉ coi di vật khảo cổ là một giá trị trực quan, chứng minh một cách sắc sảo cho một hệ thống lý thuyết khoa học liên quan đến nó. Không cần đến sự phát hiện - được mô tả trong bài viết dưới đây - tôi cũng xác quyết về mặt lý thuyết về cội nguồn Địa Lý phong thủy Đông phương nói riêng và toàn bộ hệ thống Lý học của nền văn minh Đông phương - mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành - thuộc về nền văn hiến Việt. Rõ ràng đây là một di sản khảo cổ xác định những giá trị tri thức tinh hoa Đông phương xuất hiện ở Nam Dương tử, có trước cả lịch sử hình thành dân tộc Hán. ===================== PHỤ LỤC. MỘ RỒNG. 徐韶杉:从阴宅风水看仰韶天文 Từ Thiều Sam: Tòng âm trạch khán Ngưỡng Thiều thiên văn 2011-01-07 来源:中国建筑风水文化网 作者:一鸣 Xu Shao Shan: Nhìn Yangshao thiên văn học từ Amityville Horror phong thủy 2011-01-07 Nguồn: Trung Quốc Kiến trúc Văn hóa Phong Thủy Tác giả: Yiming 字号:T|T|T 内容摘要:   1987 年五月在河南省濮阳市西水坡(pha:dốc) 发现了仰韶文化遗址。西水坡位于濮阳县城老城墙的北侧,原是濮阳老城内的一块低洼地,该墓葬是西水坡考古现场发现的第45座古墓,考古命名为西水坡45号墓 Tóm tắt: KHÁM PHÁ THIÊN VĂN HỌC NGƯỠNG THIỀU TỪ NGÔI MỘ CỔ Tác giả: Nhất Minh Vào tháng năm 1987, tại dốc Tây Thủy, trấn Bộc Dương, tỉnh Hà Nam, phát hiện di chỉ văn hóa Ngưỡng Thiều. Dốc Tây Thủy nằm ở phía bắc của bức tường thành phố cũ Bộc Dương, phát hiện ra nghĩa trang với 45 ngôi mộ. Ngôi số 45 được khảo sát đặc biệt. Định tuổi bằng C14, ngôi một có niên đại khoảng 6500 năm (6460+/- 135 năm), thuộc trung kỳ văn hóa Ngưỡng Thiều. Đầu mộ quay về hướng nam, chân phía bắc, phía đông là một con rồng làm bằng vỏ sò, có móng vuốt, sống động như thật; phía tây của nó giống như một con hổ bằng vỏ sò, đầu lặng lẽ, uy nghi; phần bụng con hổ bằng vỏ sò có hình giống hoa mai. Phía bắc là hình tam giác bằng vỏ sò và hai xương chày của con người. Ngôi mộ số 45 có ba người tuẫn táng ở ba hướng Đông, Tây, Bắc, được chôn theo một độ xiên cố ý nào đó. Dưới chân mộ chủ có hình tam giác và hai ống xương chày trẻ em từ ngôi mộ số 31. Hiện tượng và kết luận: 1. Đầu tiên, Mộ Bộc Dương số 45 có hình thanh long bạch hổ và 28 địa điểm đồ hình mộ sơn tương ứng với đồ hình thanh long bạch hổ, (cho thấy) thanh long bạch hổ đồ của mộ Bộc Dương số 45 là tứ tựơng đồ. Theo hình dạng và kích thước của thanh long bạch hổ trong mộ Bộc Dương 45 thấy bảy con số phù hợp vị trí có thể được xác định 28 địa điểm đã được thiết lập tại thời điểm chôn cất. 2. xa nhất về phương nam theo hướng tý ngọ của mộ 45 là mộ số 31. chủ nhân mộ số 31ở phái cực nam là một đồng nữ, là thần hạ chí. Ba nạn nhân hiến tế trong mộ 45 thì một là biểu tượng của thần Xuân phân (phía Đông,đồng nam), thần Thu phân (phía Tây,đồng nữ) và thần Đông chí(Bắc,đồng nam),tại đây chu kỳ mùa được hoàn tất. Người xưa đã có một niềm tin văn hóa rất đầy đủ: Đông, Xuân là dương, được biểu thị bằng đồng nam; Hạ Thu là âm được biểu thị bởi đồng nữ. 3.Thứ ba, trong phần bụng con hổ bằng vỏ sò ở ngôi mộ số 45, có một loạt các vỏ sò nằm rải rác. Đống này nằm trong bụng của con hổ bằng vỏ sò, đồ hinh ngọn lửa trong bụng con hổ chỉ nhằm để khẳng định lẫn nhau. Trong đồ án của ngôi mộ 45 với mô hình đồ án đối chiếu, chúng phản ánh chính xác cùng một nội dung, hình ảnh là một "bản đồ sao." Trong bụng hổ là mặt trời hình hoa mai, theo thông lệ là ngày Xuân phân. Khái quát, ngôi mộ được sắp xếp theo tượng sao lúc hoàng hôn ngày Xuân phân. 4.Đo bằng con số ngôi mộ có sẵn ∠ BP'P = ∠ B'P'P = 24 ° 00 ', Thứ hai, theo những vỏ sò trong bụng con hổ có hình hoa mai là mặt trời, theo tiền lệ đó là quỹ đạo của sao vào ngày Xuân phân. 5. Đêm quan sát sao Bắc Dẩu, ngày dựng tiêu. Dưới chân chủ nhân ngôi mộ số 45 có hình tam giác nhỏ và hai xương chày trẻ em. Xương chày như cán của chòm Bắc Đẩu. Bắc Đẩu được người xưa dùng trong chiêm tinh học,đêm quan sát Bắc Đẩu, ngày dựng tiêu đo bóng. Phương pháp cắm tiêu đo hình cổ nhất là người xưa thông qua bóng trên cơ thể người thay đổi phương hướng mà dần dần học được cách thiết kế, đó là “tiêu.” Do cơ thể con người, cọc tiêu và thời gian có mối quan hệ đặc biệt, vì vậy người xưa gọi là thời gian đo đùi, ý nghĩa của chân đùi con người.Bắc Đẩu đồ trong ngôi mộ Bộc Dương 45, chân, tiêu và thời gian liên kết lại, phản ánh người xưa thông qua dựng tiêu đo bóng và quan trắc Bắc Đẩu để xác định thời điểm. 6 Để xương chày như cán của chòm sao Bắc Đẩu, xác định bốn tượng kiến lập trên quan sát tại Bắc đẩu. 7 Tôn thờ vật tổ của Trung Quốc tồn tại trong 6500 năm trước. Từ tính toán vị trí tứ tượng đồ tinh, người xưa tiến hành tối thiểu 100.000 quan sát chiêm tinh trước khi bắt đầu ghi chép 8 Đây là lần đầu tiên ở Trung Quốc phát hiện bố cục âm trạch phong thủy, quyết định phương hướng phát triển của phong thủy sau này. 9. Ngôi mộ số 45 đầu hình bán nguyệt, chân mộ vuông chứng tỏ quan niệm trời tròn đất vuông đã hình thành 10. Theo 28 địa điểm và chia ra bốn thần cho thấy 6500 trước đã nắm được sự vận hành của năm và sáng tạo các hệ thống thiên văn can chi. 1987 年五月在河南省濮阳市西水坡发现了仰韶文化遗址。西水坡位于濮阳县城老城墙的北侧,原是濮阳老城内的一块低洼地,该墓葬是西水坡考古现场发现的第45座古墓,考古命名为西水坡45号墓。 经碳十四测定,并经树轮较正,此墓大概是6460年(正负135年)以前的,属于新石器时代仰韶文化中期。墓主人头居南、足朝北,其东为一蚌壳塑龙像,张牙舞爪,栩栩如生;其西为蚌壳塑虎像,缓步平视,威风凛凛;虎胃部的蚌成梅花状。其北为蚌壳塑三角形和人的两根胫骨构成的图案。45号墓中3具殉葬人的摆放位置在墓穴中东、西、北三个方向,并特意斜置形成一定的角度。通过骨架鉴定,殉葬人的年龄都在12岁至16岁之间,他们的头部有刀砍的痕迹,都属于非正常死亡。Ngôi mộ số 45 có ba ngườituẫn táng ở ba hướng Đông, Tây, Bắc, được chôn theo một độ xiên cố ý nào đó. 濮阳西水坡45号墓的墓主人脚下小小的三角形和两根小孩儿胫骨来自31号墓中。 濮阳西水坡45号墓实拍图 濮阳西水坡45号墓示意图 濮阳西水坡45号墓分析图 Bộc Dương Tây Thủy pha số 45 mộ tích đồ 濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图和曾侯乙墓漆箱盖28宿青龙白虎图对比 Bộc Dương Xishuipo lăng mộ của các con số Rồng 45 ngôi mộ hổ và sơn bao gồm 28 địa điểm Rồng Bạch Hổ biểu đồ so sánh 濮阳西水坡31号墓 濮阳西水坡45号墓与31号相对位置 现象与结论: 一、濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图和曾侯乙墓漆箱盖28宿青龙白虎图对比,濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图为四象图;根据濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图的形状大小与青龙白虎七星所处位置一致,可以确定28宿在墓葬时已确立。 二、在位于45号墓的子午线最南方有31号墓。位于遗址最南端的31号墓的主人(女童)是司掌夏至的神,而45号墓中的3具殉葬人则分别象征着春分神(东)(男童)、秋分神(西)(女童)和冬至神(北)(男童),四时的演变在这里表现完整。 古人当时已经有了很完整的文化观念:认为春分、秋分、夏至、冬至是由四位天文官分别掌管的,即“分至四神”;冬春为阳以男童表示,夏秋为阴以女童表示。 三、在45号墓蚌壳虎的腹部,有一堆散乱的蚌壳。这堆位于虎腹下的蚌壳,与曾侯乙墓中虎腹下的火形图案正好可以相互印证。将濮阳西水坡45号墓中的图案与曾侯乙墓漆箱盖上图案对照,它们反映的内容完全一致,证实蚌塑图像就是一幅“星图”。虎胃部的蚌成梅花状为太阳,此即春分日躔胃宿。该墓是按春分日落时的星象布置。四、由墓图实测可得∠BP'P=∠B'P'P=24°00',其次根据虎胃部的蚌成梅花状为太阳,此即春分日躔胃宿 (triền vị túc) 。证实六千五百年前的先民早已测得的黄赤交角为24°。并有可能建立24节气。 五、夜观北斗,白天立表。濮阳西水坡45号墓的墓主人脚下小小的三角形和两根小孩儿胫骨。胫骨当作北斗斗柄。北斗是古人来计时的星象,夜观北斗,白天用立表测影。最古老的立表测影的方法是古人通过对人体影子的方向的改变而逐渐学会的,最初的测影工具只是模仿人体来设计,这就是“表”。 正因人体、表与时间具有这种特殊关系,所以古人把计量时间的表叫作髀,而髀的意思是人的腿骨。濮阳西水坡45号墓中的北斗图,把腿骨、表和时间这三个方面联系起来,体现了古人通过立表测影和观测北斗来决定时间这两种方法的结合。 六、以胫骨作北斗斗柄,四象的确定是建立在北斗观察之上的。 七、中国的图腾崇拜在6500年前已存在。从四象图星体位置计算,古人最低下线为10万前就开始对星象观察记录。 八、它是中国最早的阴宅风水布局,对后来的风水发展起到决定性指导方向。 九、45号墓主人头部墓室呈半圆形,腿部墓室呈方形。显示天圆地方盖天学已形成
  14. NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ CỦA ĐỊA LÝ LẠC VIỆT Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh LỜI NÓI ĐẦU Các bạn có thể coi đây là một bài tiểu luận, mô tả toàn bộ quá trình nhận thức của tôi trong nghiên cứu về Địa lý phong thủy. Nếu như các bạn vốn có một quan niệm được in sâu trong tiềm thức, rằng: Những tri thức về phong thủy, cũng như nền tảng tri thức tạo nên nó, là thuyết Âm Dương Ngũ hành, thuộc về nền văn minh Hán. Điều này chắc chắn không phải chỉ riêng các bạn nghĩ như vậy, mà là cả thế giới cũng nghĩ như vậy. Những suy nghĩ từ trong tiềm thức đó của bạn, vì luôn luôn được ủng hộ bởi số đông có cùng suy nghĩ như bạn. Bởi vậy, khi tôi gửi bài tiểu luận này đến với các bạn, nó sẽ thật sự là một cú sốc không hề nhỏ, đối với những nhận thức đã ăn sâu vào tiềm thức của cả một nền văn minh, từ hàng thiên niên kỷ nay. Bởi vì trong tiểu luận này tôi sẽ xác định một điều, rằng: Toàn bộ thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch cũng như hầu hết các ngành ứng dụng của nền văn minh Đông Phương - trong đó có Địa lý phong thủy - đều có nguồn gốc từ nền văn minh Lạc Việt, một thời huyền vĩ ở miền Nam sông Dương Tử với bề dày lịch sử 5000 năm văn hiến. Nhưng tôi hy vọng các bạn đừng vội phản ứng và lấy làm ngạc nhiên, trong vũ trụ này cái gì cũng có thể xảy ra, và các bạn có thể bình tĩnh đọc trọn vẹn tiểu luận này của tôi. Lúc đó các bạn sẽ hiểu được nguyên nhân, tại sao tôi lại đặt danh xưng là Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt. Và đây, cũng chính là đề tài mà tôi muốn trình bày với các bạn trong tiểu luận này. Xin trân trọng giới thiệu với các bạn. PHẦN I: DI SẢN ĐỊA LÝ PHONG THỦY THEO CỔ THƯ CHỮ HÁN. (Hay lịch sử Địa lý phong thủy theo cổ thư chữ Hán). Cho đến tận ngày hôm nay, tất cả những nhà nghiên cứu về văn hóa cổ Đông Phương, đều xác định rằng: Địa Lý phong thủy là di sản của nền văn minh Hán. Người ta đã đào được ở Ân Khư, thủ đô của nhà Ân Thương, những di sản được khắc trên mai rùa, có nội dung như sau: “Ngày Tân Mão, tháng ….. ta xây ấp". Các nhà nghiên cứu đã căn cứ vào di sản này mà cho rằng: Tục coi ngày xây cất nhà cửa đã có từ 1500 năm TCN (niên đại của nhà Ân). Cho đến thế kỷ thứ III TCN, các nhà nghiên cứu xác định rằng một trường phái Địa Lý phong thủy lâu đời nhất đã xuất hiện. Đó là trường phái “Bát Trạch”, người ta cho rằng tác giả của trường phái này là 2 người họ Hoàng và họ Lục. Trường phái này có nội dung chính là phân loại người theo Đông trạch và Tây trạch, dựa vào năm sinh cho cả nam lẫn nữ. Trên cơ sở phân loại này lập mô hình biểu kiến của tám hướng xấu và tốt, ảnh hưởng đến con người trong ngôi gia. Gần 600 năm sau, tức là vào thế kỷ thứ III, sau CN, các nhà nghiên cứu cũng xác định rằng: Quách Phác đời Tấn là ông tổ của ngành Địa lý phong thủy Âm Trạch. Ông đã để lại một tác phẩm nổi tiếng, đó là “Táng Thư”. Trong cuốn này có một câu nổi tiếng, là: “Khí gặp gió thì tán, gặp thủy thì tụ”. Chính vì câu này, mà có danh xưng “Phong thủy” cho ngành địa lý phong thủy ngày nay. Tuy nhiên, đến đây tôi lưu ý các bạn rằng: Khái niệm “Phong Thủy” chỉ mới xuất hiện gần đây. Tổ tiên ta không gọi là phong thủy, mà gọi là “Địa Lý”. Các bạn chắc còn nhớ câu này: “Hòn đất mà biết nói năng. Thì thầy Địa lý hàm răng chẳng còn”. Tức là ngay trong câu ca dao này, đã xác định danh từ "Địa Lý" cho khái niệm "Phong thủy" ngày nay. Và trong các truyền thuyết dân gian về thánh Tả Ao của Việt Nam, đều gọi là “Địa Lý Tả Ao”, mà chưa bao giờ gọi là “Phong Thủy Tả Ao”. Chúng ta tiếp tục với những di sản còn lại về ngành Địa lý phong thủy từ bản văn chữ Hán. Vào thế kỷ thứ 7, xuất hiện trường phái “Loan Đầu” do Ngô Cảnh Loan công bố. Nhưng ông không được coi là ông tổ của trường phái này. Vì các bản văn chữ Hán đã ghi nhận ông ta cùng Dương Quân Tùng, nhân lúc loạn An Lộc Sơn, đã lọt vào Tàng Thư Các, lấy đi rất nhiều sách quý và truyền bá rộng rãi trong dân gian. Trường phái này, mô tả cấu trúc hình thể của cảnh quan môi trường ảnh hưởng đến ngôi gia. Đến khoảng cuối thế kỷ thứ 7, cuối đời Đường đầu đời Tống, xuất hiện trường phái Dương Trạch Tam Yếu. Ông tổ của trường phái này được coi là Triệu Cửu Phong và Dương Quân Tùng. Nội dung của trường phái này mô tả cấu trúc, vị trí các bộ phận chức năng bên trong căn nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người. Trong đó có ba vị trí chủ yếu được xác định, là: Cổng chính – Phòng chính – Bếp. Cho nên được gọi là "Dương Trạch Tam Yếu". Tuy nhiên chính những văn bản cổ thư chữ Hán lại xác định, Triệu Cửu Phong chỉ là người truyền thừa của Ngô Cảnh Loan và Dương Quân Tùng. Do đó cho nên, việc coi Triệu Cửu Phong là ông tổ của trường phái “Dương Trạch Tam Yếu” là điều chưa có cơ sở xác đáng. Xin các bạn lưu ý điều này. Vào cuối thế kỷ 15 - cuối đời Minh đầu đời Thanh - xuất hiện một “trường phái” gọi là “Huyền Không Học”. Ông tổ của trường phái này được coi là Tưởng Kính Hồng. Trường phái này đưa ra một mô hình biểu kiến trên Lạc thư cửu cung với chín ngôi sao được gọi là “Cửu Tinh” và mô tả sự vận động của chín vì sao này, gọi là “Huyền Không Phi Tinh”. Trên cơ sở vị trí của các ngôi sao và tính chất tốt xấu của nó, để xác định sự thành bại thịnh suy của ngôi gia. Tuy nhiên, trường phái này, chỉ được truyền thừa trong nội bộ môn phái. Đến cuối thế kỷ 17, cuối đời Minh đầu đời Thanh, Thẩm Trức Nhưng mới công bố rộng rãi. Trên đây là tóm tắt cơ bản sự hình thành các trường phái phong thủy theo cổ thư chữ Hán. Trong dân gian của các dân tộc thuộc nền văn minh Đông phương - trong đó có Việt Nam - còn lưu truyền rất nhiều phương pháp ứng dụng trong Địa lý phong thủy khác, liên quan hoặc không liên quan với các trường phái được coi là phổ biến nói trên. Tất cả các trường phái này đều mâu thuẫn lẫn nhau, với những khái niệm mơ hồ, mang tính mặc định. Nếu xét về mặt lý luận, thì chúng ta không có cơ sở nào để coi Địa lý phong thủy được lưu truyền từ cổ thư chữ Hán là một môn khoa học cả. Ngay trong từ điển tiếng Trung, người Hán cũng định nghĩa về phong thủy như sau: "Phong thủy là một tín ngưỡng cổ xưa của dân tộc Trung Hoa". Định nghĩa này đã tự phủ nhận ngành Địa Lý phong thủy mang tính khoa học. Hay nói cách khách: Với những bản văn chữ Hán lưu truyền trong nền văn minh Hán, không đủ tư cách để xácđịnh tính khoa học của nó. Nhưng thực tế ứng dụng với tính hiệu quả ở mức độ nhất định, và một phần nào với khả năng tiên tri của các phương pháp ứng dụng trong ngành Địa Lý phong thủy, cho nên nó vẫn được tín nhiệm trong xã hội phương Đông và còn lưu truyền đến ngày nay. Chứng tỏ rằng: Nền tảng cho sự ứng dụng của ngành Địa Lý phong thủy Đông phương phải có một chấn lý là thực tại mà nó phản ánh. Mặc dù cho đến ngày hôm nay khi tôi đang trình bày cùng các bạn, các nhà nghiên cứu đều xác dịnh quá trình diễn biến của sự phát triển trong lịch sử của ngành Địa lý phong thủy như trên. Hay nói cách khác: các nhà nghiên cứu chỉ mô tả lịch sử ngành Địa Lý phong thủy, theo thuận tử thời gian xuất hiện những bản văn chữ Hán liên quan. Chứ không đi sâu vào cấu trúc nội hàm trong nội dung của nó Tuy nhiên, gần đây - có một sự kiện khảo cổ học, khiến chúng ta phải xem xét lại toàn bộ lịch sử của Địa lý phong thủy theo cổ thư chữ Hán. Đó là một di chỉ khảo cổ, được phát hiện gọi là "Mộ Rồng", tại dốc Tây Thủy, trấn Bộc Dương, tỉnh Hà Nam vào năm 1987, nhưng mới được công bố ở Việt Nam gần đây. Ngôi mộ cổ này có niên đại 6000 năm cách ngày nay. Những di vật tìm thấy được trong khu vực ngôi mộ, ghi nhận những dấu ấn của Địa lý phong thủy không thể chối cãi. (Xem bản phụ lục “Mộ Rồng” kèm theo trong tiểu luận này). Sự kiện khảo cổ này, đã làm đảo lộn toàn bộ quan niệm về nguồn gốc Địa lý phong thủy trong lịch sử, qua những bản văn chữ Hán mà tôi đã trình bày với các bạn ở trên. Tất nhiên, sự kiện này đã đặt lại vấn đề: Bản chất hệ thống tri thức Địa Lý phong thủy có từ bao giờ, khi cách ngày nay 6000 năm - tức là trước cả khi nền văn minh Hán hình thành trong lịch sử của nó? Tuy nhiên, tôi cần nhấn mạnh với các bạn rằng: Việc chứng minh Địa lý phong thủy thuộc về nền văn hiến Lạc Việt với danh xưng "Địa Lý Lạc Việt" của tôi, không coi việc phát hiện mộ Rồng là một điều kiện căn bản. Trong tiểu luận này, sự kiện "Mộ Rồng" chỉ là một thực tại thực chứng, trong một mảnh ghép hoàn hảo cho hệ thống luận cứ của tôi, nhằm xác định rằng: "Địa lý phong thủy là một ngành khoa học - dù khái niệm "khoa học" được định nghĩa như thế nào - có cội nguồn văn hiến Việt với lịch sử 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử". Xin mời các bạn tiếp tục theo dõi phần trình bày của tôi để chứng minh điều này. PHẦN II: NGUYÊN LÝ CĂN ĐỂ CỦA LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG NHÂN DANH NỀN VĂN HIẾN VIỆT. Ngay từ năm 1998, với cuốn sách đầu tiên được xuất bản là “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” Nxb Văn Hóa Thông Tin – Tôi đã đặt vấn đề: Toàn bộ hệ thống tri thức của nền Lý học đông phương, mà nền tảng là thuyết Âm Dương ngũ hành và Kinh dịch, thuộc về nền văn hiến Việt. Tiếp theo sau đó, tôi xuất bản cuốn “Thời Hùng Vương và bí ẩn lục thập hoa giáp”. Nxb Thanh Niên 1999. Cho đến năm 2001, điều này đã được khẳng định với cuốn sách “Tìm về cội nguồn kinh Dịch" - Nxb Đại học Quốc Gia, T/p HCM. Cơ sở để tôi xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, thuộc về nền văn hiến Việt, không phải dựa trên những văn bản cổ tìm thấy được. Cũng không phải dựa trên những di chỉ khảo cổ được phát hiện. Mà tôi căn cứ trên tính hợp lý lý thuyết trong diễn biến lịch sử và những mâu thuẫn trong chính nội hàm của học thuyết này, được mô tả trong các bản văn chữ Hán. II. 1. Mâu thuẫn trong lịch sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành trong bản văn chữ Hán. Tôi có thể tóm lược để chứng minh với các bạn về quan điểm của tôi như sau: Theo lịch sử hình thành Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch trong cổ thư chữ Hán được mô tả theo thứ tự thời gian như sau. 1/ 6000 năm cách ngày nay: Vua Phục Hy tìm ra Hà Đồ trên lưng con Long Mã (con vật thần thoại). Dựa trên Hà Đồ, vua Phục Hy làm ra Tiên Thiên Bát Quái. Đây là những ký hiệu dịch đầu tiên. Dưới đây, lần lượt từ trái sang phải và từ trên xuống dươi, là: a/ Hình Hà Đồ điểm, tương truyền do vua Phục Hy phát hiện trên lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà. b/ Hà đồ điểm phối "Tiên Thiên Bát quái". c/ Cửu cung Hà Đồ phối Tiên Thiên bát quái. 2/ Hơn 5000 năm cách ngày nay, Vua Hoàng Đế cùng các triều thần của ngài là Kỳ Bá và Quỷ Du Khu đã cùng viết nên cuốn Hoàn Đế Nội Kinh Tố Vấn. Đây là cuốn sách nổi tiếng về lý luận của đông y. Trong cuốn sách này, những khái niệm về Âm Dương Ngũ hành đều đã được ứng dụng, cả Thiên can, Địa chí và vận khí trong lịch pháp Đông phương - quen gọi Âm lịch. 3/ 4000 năm cách ngày nay, Vua Đại Vũ đi tuần trên sông Lạc Thủy. Ngài nhìn thấy một con rùa thần và những chấm trên mai, đầu, chân và đuôi của nó, căn cứ vào đấy, ngài làm ra Lạc Thư. Từ Lạc Thư ngài làm ra “Hồng Phạm Cửu Trù”. Trong “Hồng Phạm Cửu Trù” nổi tiếng được ghi nhận trong cuốn kinh thư, thì Trù thứ nhất chính là Ngũ Hành. Đồ hình Lạc Thư điểm do vua Đại Vũ phát hiện trên lưng rùa và Hổng phạm cửu trù. 4/ 3000 năm cách ngày nay, theo truyền thuyết vua Chu Văn Vương bị giam ở ngục Dữu Lý, đã căn cứ vào Lạc Thư để làm ra “Hậu Thiên Văn Vương” nổi tiếng. Ngài và con ngài là Chu Công Đán, viết “Soán Từ" và "Hào Từ” để giải thích các ký hiệu Bát Quái trong Chu Dịch. Đồ hình Hậu Thiên bát quái Văn Vương và Lạc Thư phối Hậu Thiên Bát quái. 5/ 2500 năm cách ngày nay, Khổng Tử viết tiếp “Thập Dực” và hoàn chỉnh bộ Kinh Dịch lưu truyền đến bây giờ. Khái niệm Âm Dương lần đầu tiên xuất hiện trong Thập Dực này. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu hiện đại của chính Trung Quốc và quốc tế thì thuyết Âm Dương là sản phẩm của dân tộc Chu và thuyết Ngũ hành của dân tộc Việt, chúng được hòa nhập vào thời Hán. (Theo sách “Chu Dịch và vũ trụ quan” của tác giả GS. Lê Văn Quán – NXB Dân Tộc 1986). Vì họ cho rằng Kinh Dịch ra đời bởi Chu Văn Vương và Chu Công Đán, đồng thời Khổng Tử cũng là một phần tử của nhà Chu. Tuy nhiên cái gọi là thuyết “Âm Dương” đó, chỉ có mỗi một câu: “Nhất Âm, nhất Dương vị chi đạo” trong Thuyết Quái của Khổng Tử viết. Đó cũng là câu duy nhất và cổ nhất nói về Âm Dương trong Kinh Dịch. Câu "Nhất Âm, nhất Dương vị chi đạo” trong thuyết Quái không thể coi là một học thuyết, mà chỉ có thể coi là một khái niệm liên quan đến Âm Dương cổ nhất, thể hiện bằng bản văn. Nhưng đến khi người được coi là Khổng Tử san định Kinh Dịch, thì bộ kinh Dịch được coi là hoàn chỉnh và lưu truyền đến ngày nay. Nhưng, những khái niệm trong Kinh Dịch và Thuyết Âm Dương Ngũ Hành vẫn hết sức mơ hồ. Đến đời Tống, Chu Hy, tức Chu Đôn Di cố gắng giải thích những khái niệm trong Kinh Dịch, Như: Khái niệm "Thái cực", "Âm Dương"; "Ngũ hành"...nhưng không giải quyết được rốt ráo, và Kinh Dịch vẫn là một cuốn kỳ thư hoàn toàn bí ẩn. Vào nửa cuối thế kỷ trước, chính quyền nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đã phối hợp với cơ quan văn hóa Liên Hợp Quốc UNESCO, bốn lần tổ chức đại hội khoa học quốc tế, để đi tìm bản chất của Kinh Dịch (Theo sách “Kinh Dịch - Cấu hình tư tưởng của Trung Quốc” tác giả Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh – NXB Khoa Học Xã Hội năm 1999). Nhưng vẫn không thể khám phá được những bí ẩn của kinh Dịch. Người viết cũng xin lưu ý các bạn rằng: Tất cả những đồ hình liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch mà tôi đã mô tả với các bạn ở trên, là: "Hà Đồ và Tiên Thiên Bát Quái", "Lạc Thư và Hậu Thiên Bát Quái", thực chất chỉ xuất hiện vào đời nhà Tống – tức mới chỉ 1000 năm cách ngày nay. Trong khi đó nó đã được nhắc tới ít nhất là 2500 năm cách ngày nay và xa nhất là 6000 năm cách ngày nay, như tôi đã trình bày. Có lẽ không cần phải chứng minh sự vô lý trong khoảng cách tính bằng Thiên niên kỷ trong một mô hình thể hiện cấu trúc của một học thuyết lại có một khoảng cách xa như vậy. Trên đây, tôi mới chỉ trình bày lịch sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán, đủ để các bạn thấy rõ được sự mâu thuẫn trong quá trình lịch sử hình thành của nó. II. 2. Mâu thuẫn trong nội hàm cấu trúc thuyết Âm Dương Ngũ hành trong bản văn chữ Hán. Một vấn đề nữa tôi cần trình bày với các bạn là: Mâu thuẫn trong nội hàm cấu trúc của chính những đồ hình mang tính nguyên lý căn để được ứng dụng rộng khắp trong tất cả mọi lĩnh vực liên quan đến thuyết ngũ hành trong nền văn minh Đông Phương. Đó là đồ hình “Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát Quái” và “Lạc Thư phối Hậu Thiên Bát Quái”. Lạc Thư phối Hậu Thiên bát quái. --------Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát quái. Trong cuốn “Kinh Dịch - đạo của người quân tử”, nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê đã thốt lên: “Nhất là so sánh hình đó với hình Bát Quái thì dù giàu trí tưởng tượng tới mấy, cũng không thể bảo rằng Bát Quái phỏng theo hai đồ hình đó được”. (Sách đã dẫn NXB Văn Học 1994 – trang 18) Ông còn viết rõ rằng: “Trong thiên nhiên đâu có hình như vậy, phải là do óc sáng tạo của loài người. Rõ ràng là Khổng An Quốc, hay một người nào khác đã bịa ra, để cố giảng vũ trụ bằng những con số, tạo nên môn tượng số học cực kỳ huyền bí. Do đó mà đời sau có người lớn tiếng mắng Khổng An Quốc là kẻ có tội nặng nhất với thánh nhân (Ám chỉ Khổng Tử - cụ tổ 12 đời của Khổng An Quốc) đã làm cho Kinh Dịch mất hết ý nghĩa triết lý sâu xa mà biến nó thành một tác phẩm vô nghĩa lý”. Việc dẫn chứng nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê chỉ là một ví dụ, cho đến ngày hôm nay, kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành, vẫn là một sự bí ẩn. Tính mơ hồ và mâu thuẫn ngay trong nội hàm cấu trúc căn để của Kinh Dịch được thể hiện như sau. Với mô hình “Lạc Thư Cửu Cung phối Hậu Thiên Bát Quái”, các bạn cũng thấy rõ, ngoài quái Khảm và quái Chấn phù hợp với tính chất Ngũ Hành của nó được thể hiện bằng mầu Xanh Biển – thủy và màu xanh lá cây – mộc. Thì, ở quái Ly và Đoài vốn được xác định trong Kinh Dịch là Đoài thuộc Kim, độ số 9 – Ly thuộc Hỏa, độ số 7. Nhưng trên mô hình biểu kiến này, các bạn lại thấy được Đoài – Kim lại nằm độ số 7 của Ly – Hỏa và Ly – Hỏa lại nằm ở độ số 9 của Đoài – Kim. Với đồ hình “Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát Quái” được mô tả trong cổ thư chữ Hán, chúng ta mới thấy sự vô lý khi: Khảm – Thủy, độ số 1, lại nằm ở độ số 9 thuộc Kim và Ly – Hỏa lại nằm ở độ số 3 thuộc Mộc. Càn - được là Kim thì lại nằm ở độ số 7 thuộc Hỏa; Khôn - được coi là Thổ thì năm ở độ số 1 thuộc Thủy?!? II. 3. Sự bí ẩn trải hàng Thiên niên kỷ của thuyết Âm Dương Ngũ hành qua bản văn chữ Hán, xác định nền văn minh Hán không thể là chủ nhân của học thuyết này. Yếu tố thứ 3, một trong những tiêu chí để xác định chủ nhân đích thực của một học thuyết thuộc về một nền văn minh nào đó, thì cái nền tảng tri thức của nền văn minh đó, phải phục hồi được những học thuyết đó. Điều này chắc không cần phải chứng minh. Đã hơn hai thiên niên kỷ nay – kể từ khi nền Văn minh Lạc Việc sụp đổ vào 2300 năm cách ngày nay. Nền văn minh chữ Hán không thể phục hồi được thuyết Âm Dương Ngũ hành. Mặc dù tất cả các phương pháp ứng dụng của nó vẫn đang tồn tại. Trong hầu như tất cả các lĩnh vực của cộc sống: gồm Đông y (Y học), Tử vi, dự báo (Khả năng tiên tri đến từng chi tiết của cuộc sống con người), và Địa lý phong thủy (Kiến trúc, xây dựng)…. Có thể nói, chính vì sự mơ hồ từ trong những nguyên lý căn để của cả một hệ thống lý thuyết ("Hà đồ phối Tiên Thiên bát quái" và "Lạc thư phối Hậu Thiên Văn Vương") với những khái niệm căn bản cấu thành lên học thuyết đó. Cho nên, nó đã kéo theo toàn bộ các phương pháp ứng dụng vào sự huyền bí. Trong đó có Địa Lý phong thủy, là chủ đề chính mà tôi muốn trình bày với các bạn ngày hôm nay. Vì vậy, để phục hồi lại những giá trị đích thực của nền văn minh Đông Phương nhân danh nền văn hiến Việt, chúng tôi đã chứng minh rằng: Nguyên lý căn để của nền Lý Học Đông Phương là: “Hà Đồ Phối Hậu Thiên Lạc Việt”. Các bạn có thể tham khảo các sách đã xuất bản của tôi đã chứng minh nguyên lý căn để này. Đó là sự hợp lý lý thuyết giải thích được mọi vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, tính nhất quán, tính hoàn chỉnh, tính khách quan và khả năng tiên tri. Đây chính là chuẩn mực để thẩm định một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng của tiêu chí khoa học. Chính trên cơ sở này chúng tôi đã phục hồi lại toàn bộ hệ thống Địa Lý Phong Thủy của nền văn minh Đông Phương. Từ cơ sở này chúng tôi tiếp tục trình bày với các bạn về ngành Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt, cũng là chủ đề chính của buổi nói chuyện hôm nay. PHẦN III: ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT. Thưa các bạn. Danh xưng Địa Lý phong thủy Lạc Việt, không phải một trường phái phong thủy, như nhiều người thường hiểu nhầm. Mà là một sự xác định cội nguồn của ngành Địa lý phong thủy Đông Phương thuộc về nền văn hiến Việt và cấu trúc nội hàm hoàn toàn nhân danh khoa học. Cho dù khái niệm khoa học được định nghĩa như thế nào. Trước hết, nó hoàn toàn dựa trên nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt”, được mô tả qua mô hình dưới đây: Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt Đồ hình này là kết quả của việc đổi vị trí hai quái Tốn Khôn của "Hậu Thiên Văn Vương" và phối với Hà Đồ - nhân danh nền văn hiến Việt. Các bạn xem hình dưới đây: Hậu Thiên Văn Vương .................................. &............................ Hậu Thiên Lạc Việt. (Sự khác biệt nằm ở vị trí quái Tốn/ Khôn). Và thay vì "Hậu Thiên bát quái phối Lạc thư" và mâu thuẫn ngay trong nội hàm cấu trúc của nó - mà tôi đã chứng minh - thì ngược lại: nguyên lý căn để nhân danh nền văn hiến Việt "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn/ Khôn), hoàn toàn có một cấu trúc hợp lý nội tại với tất cả những vấn đề liên quan đến nó trong toàn bộ học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nó hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Tiêu chí khoa học này phát biểu rằng: "Một giả thuyết, hay một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, tính nhất quán, hoàn chỉnh, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri". Trên cơ sở nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" - nhân danh nền văn hiến Việt - tôi đã phục hồi những giá trị nền tảng tri thức căn bản của nền văn minh Đông phương và Kinh Dịch. Đồng thời, xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch bản chất là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh. Ký hiệu bát quái chính là những ký hiệu của một mô hình toán học mô tả học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Theo đúng tiêu chí khoa học xác định: "Một lý thuyết được coi là khoa học thì thì phải có một mô hình toán học mô tả được nó". Trên cơ sở nguyên lý căn để: "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", đã hệ thống hóa hoàn toàn ngành Địa Lý phong thủy Đông phương, thành một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, nhất quán và trở thành một hệ thống phương pháp luận ứng dụng, có sự liên kết nội hàm chặt chẽ trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến nó. Nó không hề rời rạc và mâu thuẫn lẫn nhau, như bốn cái gọi là “trường phái” trong lịch sử của nền văn minh Hán. Chúng tôi đã chứng minh rằng tất cả những trường phái này thực chất là bốn yếu tố tương tác. 1. Bát Trạch: Đây chính là sự tương tác từ trường Trái Đất lên ngôi gia. 2. Loan Đầu: Đây chính là sự tương tác của cảnh quan môi trường cụ thể lên ngôi gia. 3. Dương Trạch Tam Yếu: Đây chính là sự tương tác của cấu trúc hình thể của chính ngôi gia lên chính con người sinh sống trong ngôi gia đó. 4. Huyền Không: Đây chính là sự tương tác của môi trường vũ trụ gần gũi trái đất. Tất cả bốn yếu tố tương tác này làm nên hệ thống lý thuyết ứng dụng của Địa lý Lạc Việt. Như tôi đã trình bày, sự xuất hiện của bốn trường phái này trong nền văn minh Trung Hoa mang tính rời rạc và mâu thuẫn lẫn nhau trong nội hàm cấu trúc về mặt lý thuyết, mà chúng còn mâu thuẫn ngay cả trong lịch sử thời gian xuất hiện. Điều này cho thấy những tri thức của nền văn minh Hán liên quan đến Lý học Đông phương và Địa Lý phong thủy, chỉ là những tri thức chắp vá rời rạc, và đó chỉ là những mảnh vụn còn sót lại đầy bí ẩn, sau khi nền văn minh Việt sụp đổ phía Nam sông Dương Tử vào thế kỷ thứ III TCN (năm 258 TCN). Tôi lấy một ví dụ như sau: Trong phái Bát Trạch thì thường xác định tùy theo tuổi nam hay nữ, để xác định trạch mệnh và xác định người theo Đông – Tây trạch. Ví dụ như người sinh năm 1977, nam là cung Khôn 5 thuộc Tây trạch, nữ là cung Khảm 1 thuộc Đông trạch; năm tiếp theo là 1978, thì nam là cung Tốn 4, nữ là cung Khôn 2….. cứ như thế theo chu kỳ 9 năm quay lại một lần. Rõ ràng đây là một hiện tượng mặc định. Nhưng vấn đề được đặt ra: Căn cứ vào nguyên lý nào để có được sự mặc định như trên?! Theo nghiên cứu của chúng tôi, thì đây chính là nguyên lý của Huyền Không Phi Tinh. Bản trạch mệnh của người nam trong Bát Trạch, chính là sao nhập trung phi tinh theo chiều nghịch của Huyền Không năm đó. Bản trạch mệnh của người nữ chính là sao nhập trung phi tinh theo chiều thuận của Huyền Không năm đó. Nhưng rõ ràng trong lịch sử cổ thư chữ Hán, như tôi đã trình bày ở trên, thì trường phái Huyền Không lại ra đời sau trường phái Bát Trạch ngót cả 1000 năm. Rõ ràng đây là một điều hết sức phi lý. Ở trên đây, tôi chỉ dẫn chứng một ví dụ và không phải là duy nhất về sự bất hợp lý trong cấu trúc nội hàm mang tính lý thuyết nền tảng của Địa lý phong thủy trong bản văn chữ Hán. Đó là những vấn đề sau đây: 1. Sự hình thành những trường phái phong thủy trong cổ thư chú Hán hoàn toàn mâu thuẫn lẫn nhau về tiến trình thời gian trong mối liên kết bản chất của nó. 2. Sự mâu thuẫn giữa các trường phái cho thấy là cấu trúc nội hàm trong hệ thống ứng dụng phong thủy của cổ thư chữ Hán rất mơ hồ. 3. Sự ứng dụng của phong thủy có hiệu quả trong thực tế, trải hàng Thiên niên kỷ, khiến nó tồn tại đến ngày nay, đã chứng tỏ có một chân lý và là thực tại đứng đằng sau hệ thống lý thuyết này. Nhưng qua những bản văn chữ Hán thì chúng ta lại không thể nhận ra một thực tại nào đứng đằng sau lý thuyết này. Khiến cho nó vẫn còn là điều mơ hồ huyền bí suốt hàng ngàn năm nay. Điều này chứng tỏ nền văn minh Hán không phải là chủ nhân đích thực của hệ thống Địa lý phong thủy Đông phương, khi hàng ngàn năm nay, nền văn minh này không thể phục hồi và làm sáng tỏ những bí ẩn của nó. Đây cũng là tiêu chí khoa học để thẩm định một nền văn minh có phải là chủ nhân của một lý thuyết hay không. Nội dung các tiêu chí này phát biểu như sau: 1. Một lý thuyết tồn tại trong nền văn minh nào thì lịch sử phát triển của lý thuyết đó phải phù hợp với sự phát triển của nền văn minh đó. 2. Phải có một cấu trúc hợp lý, nhất quán, hoàn chỉnh trong nội hàm của cấu trúc đó. 3. Nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết thì phải có khả năng phục hồi chính học thuyết đó. Xét trong cả 3 tiêu chí này thì nền văn minh Trung Hoa không đáp ứng được bất kỳ tiêu chí nào. Nhưng trên cơ sở xác định nền văn minh Việt, chính là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch - với sự xác định nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", tôi đã phục hồi một cách có tính hệ thống, hoàn chỉnh và toàn diện học thuyết này. Chúng tôi xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch là một hệ thống hoàn chỉnh, chứ không gồm ba bộ phận tách rời như cổ thư chữ Hán vẫn miêu tả trước nay. Các nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh hiện nay, họ đã xác định rằng: “Một lý thuyết khoa học thì phải có một hệ thống toán học mô tả được nó". Chúng tôi cũng chứng minh rằng: "Những ký hiệu Bát Quái trong Kinh Dịch chính là hệ thống toán học mô tả nội hàm của học thuyết này". Thưa các bạn, chúng tôi đã xác định rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch chính là một lý thuyết thống nhất vũ trụ (Grand Unification Theory), mà nhân loại đang tìm Sự phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch - nhân danh nền văn hiến Việt - là sự phục hồi một học thuyết đã tồn tại trên thực tế. Tất nhiên, những hệ quả là các phương pháp ứng dụng phổ biến của học thuyết này, như: Địa Lý phong thủy, Đông Y, Dự báo....cũng không thể thuộc về văn minh Hán. IV. KẾT LUẬN. Thưa các bạn. Danh xưng "Địa Lý Lạc Việt", mang một nội hàm ý nghĩa về cội nguồn đích thực của ngành Địa Lý phong thủy thuộc về nền văn hiến Việt. Đồng thời Địa Lý Lạc Việt, cũng hoàn toàn thỏa mãn những chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết khoa học, qua tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng - mà tôi đã trình bày ở trên. Vào ngày 25/12/2009 tại khách sạn La Thành thành phố Hà Nội, với tư cách là Giám đốc Trung Tâm Nghiên cứu Lý Học Đông Phương, chúng tôi đã tổ chức một buổi hội thảo quy tụ khoảng 400 đại biểu với để tài: “Phong Thủy là khoa học” để chứng minh Địa Lý phong thủy Lạc Việt là một ngành khoa học thực sự. Địa Lý Lạc Việt là sự tập hợp một cách có hệ thống, mô tả một cách nhất quán và hoàn chỉnh tất cả những di sản thuộc về ngành Địa Lý phong thủy học Đông phương. Tất nhiên hệ thống đó và phương pháp ứng dụng của nó, là một sự hiệu chỉnh và phục hồi, trên cơ sở những di sản còn lại của nền văn hiến Việt, đã bị Hán hóa, một cách rời rạc, mơ hồ sai lệch và thiếu tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán và bởi chính sự mâu thuẫn trong nội hàm của nó. Tôi cũng rất mong các bạn lưu ý, rằng: đây không phải là sự phủ nhận hoàn toàn các tri thức cũ. Mà chỉ là sự hiệu chỉnh, phục hồi dựa trên nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” mà tôi đã trình bày với các bạn ở trên. Sự khác biệt và nhân danh nền Văn Hiến Việt, chính là nguyên lý căn để này. Do đó, một Địa Lý phong thủy gia Lạc Việt, khi thực hiện một một ca phong thủy, thì họ đã tập hợp tri thức cả bốn trường phái. Tính khoa học và tính bao trùm của Địa Lý Lạc Việt là nó có thể dung nạp không chỉ tất cả những cái gọi là “trường phái” trong bản văn chữ Hán, mà nó còn dung nạp được tất cả các di sản liên quan đến Địa Lý phong thủy còn lưu truyền trong các dân tộc của nền văn minh Đông Phương. Không những vậy, nó có thể tích hợp toàn bộ các tri thức kiến trúc và xây dựng của nền văn minh hiện đại. Điều này đã xác định rằng, tính khoa học, thực sự trong nội hàm của Địa Lý Lạc Việt và sự bao trùm của chân lý cho tất cả những vấn đề liên quan đến nó. Để kết luận cho tiểu luận này, tôi muốn xác định với các bạn, toàn bộ nội dung các vấn đề đã trình bày, như sau: 1/ Danh xưng Địa Lý Lạc Việt không phải là một trường phái. Mà là một danh xưng xác định cội nguồn của một ngành ứng dụng nổi tiếng đã tồn tại và lưu truyền trong nền văn minh cổ Đông Phương, thuộc về nền văn hiến Việt, trải gần 5000 năm lịch sử một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử, chủ nhân đích thực của nền lý học Đông Phương, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. 2/ Địa Lý Lạc Việt xác định cội nguồn Lạc Việt, dựa trên nguyên lý căn để của Lý Học Đông phương, được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt - là: "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt". 3/ Địa Lý Lạc Việt nhân danh khoa học và là một ngành khoa học ứng dụng liên quan đến kiến trúc và xây dựng cổ Đông phương, dù nội hàm khoa học được định nghĩa như thế nào. Địa Lý Lạc Việt mô tả những yếu tố tương tác, mang tính quy luật khách quan của vũ trụ, thiên nhiên và của cấu trúc hình thể một ngôi gia đến cuộc sống của con người. Hay nói rõ hơn bằng một cách khác: Ngành kiến trúc và xây dựng của nền văn minh hiện nay, nền tảng tri thức cốt lõi chỉ gồm hai yếu tố căn bản, là: Tính thẩm mỹ và là cấu trúc vật lý mang tính cơ học trong kiến trúc và xây dựng - thì ngành Địa Lý Lạc Việt xác định tính quy luật tương tác khách quan của thiên nhiên, vũ trụ, hình thể nhà với con người sống trong một ngôi gia. Nền tảng tri thức của Địa Lý Lạc Việt có thể tích hợp được một cách hoàn hảo toàn bộ tri thức của ngành kiến trúc xây dựng hiện đại. Chứng tỏ nó phải hàm chứa một chân lý bao trùm liên quan đến kiến trúc và xây dựng, khi có sự hội nhập giữa hai nền văn minh. 4/ Địa Lý Lạc Việt được xác định là hệ quả ứng chuyên ngành của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Đồng thời nó cũng xác định rằng: Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch là một hệ thống lý thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh, mô tả toàn bộ lịch sử vũ trụ từ giây /0/ cho đến hôm nay. Nó cũng mô tả toàn bộ những quy luật tương tác và vận động của vũ trụ qua khả năng tiên tri. Kinh Dịch chính là những ký hiệu toán học siêu công thức, mô tả nội hàm của thuyết âm dương ngũ hành. Thưa các bạn. Tất cả những điều tôi trình bày với các bạn hôm nay, trong thời gian giới hạn có thể làm các bạn tin hay không tin vào điều mà chúng tôi đã nghiên cứu và công bố vào nhiều năm nay. Nhưng tôi hy vọng là: những điều mà tôi đã giới thiệu bằng văn bản và sự trình bày trực tiếp của tôi với các bạn ngày hôm nay sẽ tạo ra nguồn cảm hứng, để các bạn tiếp tục có hứng thú khám phá các bí ẩn của nền văn minh Đông Phương và giá trị đích thực của nền văn hiến Việt. Xin cảm ơn Ban tổ chức và các bạn đã quan tâm và tạo điều kiện cho tôi chia sẻ những ý tưởng của tôi về một hệ thống tri thức cổ xưa trong ngành kiến trúc và xây dựng. Xin Ban tổ chức, các bạn nhận lời chúc một cuộc đời hạnh phúc và an lành đến với mọi người có mặt nơi đây. Trân trọng Sài Gòn 19. 11. 2018. Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
  15. Ghi chú! Trong bài này, có một bài rất quan trọng về Khí, Sư Phụ đã xóa và đưa vào lớp DLLVUD1. ACE vào lớp học tham khảo nhé! Trân trọng!