• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Thiên Sứ

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    31.157
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    2.077

Thiên Sứ last won the day on Tháng 1 19

Thiên Sứ had the most liked content!

Danh tiếng Cộng đồng

22.282 Excellent

About Thiên Sứ

  • Rank
    Hội viên ưu tú
  • Birthday

Xem hồ sơ gần đây

28.204 lượt xem hồ sơ
  1. DỰ BÁO NĂM KỶ HỢI VIỆT LỊCH - 2019 Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Kính thưa quý vị. Bài dự báo của tôi trình bày với quý vị hôm nay, trên cơ sở những phương pháp dự báo nhân danh những giá trị thuộc về nền văn minh Đông phương, có cội nguồn từ nền văn hiến Việt. Phương pháp dự báo đầu tiên, mà tôi giới thiệu dưới đây là Huyền không Lạc Việt. Phương pháp này dựa trên những di sản còn lại của nền văn minh Việt bị Hán hóa một cách sai lệch, sau khi nền văn hiến Việt bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Phương pháp Huyền không Lạc Việt trong dự đoán các sự kiện quốc tế, mà tôi hân hạnh trình bày với quý vị sau đây, khác với những di sản ghi nhận trong cổ thư chữ Hán là sự hoán đổi độ số ở vị trí phương Tây/Đoài với phương Nam/Ly. Và độ số giữa Tây Nam/Tốn 4 với Đông Nam/Khôn 2. Sở dĩ phương pháp dự báo mang tính quốc tế của Huyền không Lạc Việt thực hiện được, cũng xuất phát từ sự phục hồi phương pháp Định tâm trong Địa lý phong thủy,với bất cứ hình thể nào, được thể hiện bằng mặt phẳng quy ước. Do đó, sự phân bố các yếu tố tương tác là các vì sao trong Huyền Không có thể mô tả ở cấp độ toàn cầu. Từ đó là cơ sở cho việc dự báo. Sở dĩ phương pháp dự báo mang tính quốc tế của Huyền không Lạc Việt thực hiện được, cũng xuất phát từ sự phục hồi phương pháp Định tâm trong Địa lý phong thủy, nhân danh nền văn hiến Việt. Trên cơ sở phân bố các sao thuộc Huyền không Lạc Việt, quý vị cũng thấy các sao có tính chất xấu có số 5 - 2, phân bố ở các vùng Đông Bắc, Đông Nam. Và đặc biệt ở ngay trung tâm Địa cầu là sao Bát Bạch với độ số 8. Tính chất xấu của hai sao mang độ số 5 Ngũ Hoàng và 2 Nhị Hắc, còn được gia tăng bởi sao Thái Tuế chiếu trục Phúc Đức là Đông Nam/Tây Bắc. Chưa hết, Hai sơn Cấn Dần là phương vị của Hỷ Thần - tượng trưng cho kinh tế lại bị xung Thái Tuế. Xin quý vị xem hình dưới đây (Hình do Thiên Đồng - Bùi Anh Tuấn thực hiện): Nội dung dự báo năm Kỷ Hợi của tôi trình bày với quý vị, có tham khảo hai bài dự báo của Hoàng Triều Hải và sử dụng bản vẽ về các sơn hướng liên quan của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, là hai thành viên nghiên cứu của TTNC Lý học Đông phương. Phương pháp thứ hai mà chúng tôi ứng dụng trong dự báo này là Lạc Việt độn toán. Đây là một phương pháp dự báo được phục hồi, nhân danh nền văn hiến Việt, bằng cách kết hợp giữa hai phương pháp dự báo còn lưu truyền trong dân gian, là: Nhâm cầm độn toán và Lục nhâm đại độn. Quẻ đầu năm Kỷ Hợi, theo Lạc Việt độn toán, vào giờ Tý. ngày mùng Một tháng Giêng là Đỗ Vô Vong. Đây là một quẻ chủ về sự nghiệp bất thành, Mọi cố gắng vô ích, sự ỷ lại và chậm phát triển. Đặc biệt về kinh tế có nhiều biến động. Cơ sở dự báo: - Phân tích bản đồ Huyền Không Lạc Việt. Trên bản đồ Huyền Không Lạc Việt, chúng tôi dùng cả hai phương pháp phi tinh thuận nghịch. Sao Thái Tuế - theo nghiên cứu của chúng tôi chinh là sao Mộc tinh - được ký hiệu độ số 8 - chiếu phương Càn/Hợi và xung Thái Tuế ở Đông Nam - phương Khôn/Tỵ. Đây là lực tương tác mạnh đến hai phương biểu kiến trong Lý học và mang tính chất thuần Dương/Càn và thuần Âm/Khôn. Cho nên, tính chất biểu kiến của hai quái Càn/Khôn là thượng tầng kiến trúc và các mối quan hệ kinh tế đời sống/ Hạ tầng xã hội sẽ bị xáo trộn mạnh. Đặc biệt phương Đông Nam, còn bị sao Ngũ Hoàng Đô Thiên sát tại vị (Huyền không trong bản văn chữ Hán là: Thất Xích/ Thuận và Bát Bạch/ Nghịch). Bởi vậy, kinh tế thế giới năm tới sẽ suy thoái nặng hơn nhiều so với các năm trước. Vài quốc gia bị khủng khoảng nặng và dẫn đến sụp đổ chính phủ. Ngoài ra còn nhiểu yếu tố khác, chúng tôi sẽ mô tả khi dự đoán những sự kiện liên quan. Trên cơ sở của những phương pháp này, tôi trình bày với quý vị về những dự báo về nhiều mặt cho năm Kỷ Hợi 2019 của thế giới, như sau. Về kinh tế thế giới: Có thể nói: Năm Kỷ Hợi 2019, thế giới sẽ chứng kiến một sự suy thoái kinh tế nghiêm trọng với một tính chất khác. Nếu coi năm 2008, là năm mở đầu cho một cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới, thì năm Kỷ Hợi 2019 là một cuộc suy thoái tiếp tục, do khủng khoảng của hầu hết những nền kinh tế chủ chốt của thế giới. Những biện pháp ổn định kinh tế mang tính cực đoan sẽ xuất hiện ở nhiều quốc gia. Và những biện pháp này lại là nguyên nhân đẩy sâu hơn sự suy thoái, do tính mất cân đối của nền kinh tế toàn cầu. Nhiều ngành nghề với những Cty lớn phá sản, kéo theo những hệ lụy xã hội. Và điều này bổ xung cho hậu quả thêm nặng nề của cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới lần này. Một sự bổ xung cho bức tranh u ám của nền kinh tế toàn cầu trong năm Kỷ Hợi 2019, còn là những biện pháp nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế quốc gia giữa các siêu cường, khiến cho nền kinh tế toàn cầu thêm phần bi đát. Tính chất suy thoái kinh tế thế giới của năm Kỷ Hợi - 2019 tương đồng về định tính với các năm trước trong các dự báo của tôi. Nhưng năm nay, sự khủng khoảng đặc biệt nghiêm trọng, đối với những quốc gia không có một nền tảng kinh tế vững chắc. Một chính sách đúng đắn nhất của những chính phủ thông minh trong lúc này, là cân đối được tương quan kinh tế trong nội bộ quốc gia. Điều này sẽ tránh được những hệ lụy xã hội, do khủng khoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Còn những mơ ước về sự phát triển, nên để khi khác. - Kinh tế Hoa Kỳ. Nhìn lên bản đồ Huyền Không, chúng ta dễ dàng nhận thấy hai sao Tam Bích đều tọa phương Tây là Hoa Kỳ. Đây là hai sao được coi là có tính chất tốt về sự phát triển. Cho nên có thể nói rằng: Nền kinh tế Hoa Kỳ vẫn phát triển tốt và ổn định. Nhưng nó không còn là một đầu tầu kinh tế để kéo theo nền kinh tế thế giới. Nhưng Tam Bích tọa Tây phương là không chính vị. Do đó, trong năm 2019 - Tức Kỷ Hợi Việt lịch, Hoa Kỳ sẽ có những chính sách gây ảnh hưởng lớn đế thế giới về nhiều phương diện. - Về chính trị xã hội và ngoại giao. Những điểm nóng trên thế giới, do tranh chấp lãnh thổ vẫn tiếp tục tăng nặng, và mối đe dọa xung đột lớn rất có khả năng xảy ra. Có thể nói ngay những tháng đầu năm Kỷ Hợi, cả thể giới sẽ có nhiều sự kiện tạo những bước ngoặt về các vấn đề chính trị xã hội được thay thế bằng sự xung đột và mâu thuẫn xã hội ở nhiều quốc gia. Do sao Thái Tuế chiếu đúng cung Càn, Cửu từ bị sinh xuất. Xung Thái Tuế gặp Ngũ Hoàng và Nhất Bạch bị triệt tại Khôn. Càn là quái thuần Dương, biểu tượng cho Thượng tầng kiến trúc. Năm Kỷ Hợi 2019, là năm sẽ chứng kiến nhiều mâu thuẫn chính trị nội bộ ở nhiều quốc gia. Kể cả những quốc gia được coi là phát triển, như: Anh, Pháp, Đức...Mâu thuẫn và xung đột giữa tinh thần tôn giáo cực đoan, - Quan hệ Hoa Kỳ - Trung quốc. Trên bản đồ Huyền Không Lạc Việt, chúng ta thấy rõ trục Đông Tây chính là trục Tuyệt Mạng và gần như bao trọn hai quốc gia là Mỹ Trung. Năm nay hai sao Tam Bích (Gốc phương Đông) và Cửu Tử (Gốc phương Tây) lại chiếm chỗ của nhau (Theo Huyền Không từ cổ thư chữ Hán thì Phương Tây do hai sao Nhất Bạch/ Số 1 và Ngũ Hoàng/ Số 5 quản. Do đó sự phân tích sẽ khác đi). Từ đó, tính sát phạt của mối quan hệ giữa hai siêu cường này, năm nay sẽ rất quyết liệt trên mọi phương diện. Điều mà tôi gọi là "Đấu trường sinh tử" giữa hai siêu cường này, sẽ đi vào hồi kết của cuộc chiến tranh kinh tế vào cuối năm nay. - Về văn hóa xã hội. Nhìn lên bản đồ Huyền không Lạc Việt, chúng ta thấy hai sao Nhất Bạch / Phi thuận và Ngũ Hoàng/ Phi nghịch cùng tọa phương Nam Ly Hỏa. Cung Ly là biểu tượng của văn hóa, tri thức và sự sáng tạo; sao Nhất bạch/ Số 1 - gốc phương Bắc/ Khảm Thủy. Đây là thế Phúc Đức của Khảm/ Ly phối hợp. Bởi vậy, có thể xác định được rằng: Những giá trị tri thức văn hóa xã hội và khoa học nói chung, được phát triển và được tôn trọng (Theo Huyền không từ cổ thư chữ Hán thì phương Nam có hai sao Tam Bích/ số 3 tọa thủ, sự phân tích sẽ khác đi. Vì tính chất sao thay đổi). Những giá trị tri thức đích thực của nền văn minh Đông phương sẽ được sáng tỏ và bắt đầu được chú ý đặc biệt của giới khoa học quốc tế. Trong năm Kỷ Hợi Việt lịch - 2019, thế giới sẽ chứng kiến nhiều thành tựu về văn hóa, lịch sử, giáo dục và những giá trị nhân văn phát triển. Tuy nhiên. do tổng thể thế giới bị hạn chế bởi những sao xấu tọa thủ ở những phương vị quan trọng và ngay tại phương Nam có sao Ngũ Hoàng tọa, cho nên các vấn đề phát triển văn hóa xã hội cũng chưa thể như mong đợi. - Về tệ nạn xã hội. Tính chất tàn bạo của tội phạm giảm dần và ít nghiêm trọng hơn. Những tệ nạn xã hội, như: lừa đảo, trộm cướp....nếu xét về số lượng thì có giảm, tuy không đáng kể. Nhưng cũng không tăng trong một bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái. Tuy nhiên, những vấn đề nổi bật mà xã hội quan tâm, như: Buôn người, ma túy vẫn không có dấu hiệu suy giảm. - Về nhân họa. A/ Tai nạn: Những tai nạn như: Đắm tàu, rơi máy bay, lật tàu hỏa, đâm xe hơi.... tuy giảm về số lượng, nhưng tăng nặng về mức độ nghiêm trọng, do chết nhiều người. Riêng về tai nạn hàng không, năm Kỷ Hợi, tuy không khủng khiếp bằng cách đây vài năm trước, rớt đến 5 máy bay dân sự. Nhưng những vụ rớt máy bay thương tâm cũng sẽ xảy ra tương tự, nhưng ít hơn về số lượng, nếu so với số lượng 5 vụ so với vài năm trước đây. Cụ thể trong năm nay, sẽ có ít nhất một vụ tai nạn máy bay thương tâm, gây chấn động dư luận thế giới. B/ Khủng bố: Các tổ chức khủng bố ngày càng bị bị thu hẹp về quy mô, dẫn đến tan rã. Nhưng hành động khủng bố vẫn diễn ra với những sự kiện thảm khốc. Từ đó dẫn đến tinh thần ứng phó ngày càng cực đoan hơn của chính phủ các nước liên quan. C/ Chiến tranh: Những điểm nóng trên thế giới bùng phát và thay đổi về đối tượng tham gia. Và đó là tiền đề dẫn tới nguy cơ chiến tranh giữa các siêu cường. Nhưng có thể xác định rằng: Mâu thuẫn dẫn đến bế tắc trong quan hệ kinh tế giữa các siêu cường, dẫn đến những nguy cơ chiến tranh căng thẳng vào cuối năm. D/ Dịch bệnh: Cần đề phòng những bệnh liên quan đến thần kinh và hệ tiêu hóa. Dịch bệnh bùng phát và trở thành vấn nạn ở một số quốc gia. Đặc biệt ở thú 4 chân và người. E/ Vệ sinh an toàn thực phẩm: Có nhiều cố gắng mang tính quyết liệt của chỉnh phủ các nước, khiến cho tệ nạn liên quan bị đẩy lùi một cách rất căn bản nhưng không triệt để. - Về Thiên tai. Đặc biệt sẽ có động đất nhiêm trọng xảy ra, mang tính hủy diệt. Tương tự như trận động đất ở Nepan, hoặc Nhật Bản vào năm 2011, hoặc Indo vào năm 2004 trước đây. Sự kiện sẽ xảy ra vào mùa Xuân ở phương Đông, hoặc mùa Thu ở phương Tây. So với năm Mậu Tuất 2018, hạn hán, bão lũ đều tăng nặng và mang tính hủy hoại lớn về tài sản, người và của. - Về khoa học kỹ thuật. A/ Khoa học kỹ thuật quân sự: Năm tới chỉ là sự hoàn thiện những loại vũ khí, khí tài quân sự tiên tiến đã công bố những năm trước đó. Không có phát minh gì nổi bật. B/ Khoa học kỹ thuật dân sự: Có lẽ đây là điểm sáng của năm Kỷ Hợi 2019. Sẽ có nhiều phát minh mang tính đột phá trong các ngành khoa học kỹ thuật, dân sự. Những bệnh về tim mạch có những phát minh mang tính bước ngoặt. Công nghệ thông tin, điện, điện tử cũng rất phát triển về những phát minh mới. Kết luận. Thưa quý vị. Kỷ Hợi Việt lịch 2019, thế giới không có mấy sáng sủa về nhiều phương diện. Ánh sáng lẻ loi của những thành tựu văn hóa, khoa học kỹ thuật, không làm sảng được bức tranh thế giới mờ mịt vào năm 2019. Nhưng truyền thống của người Việt Nam chúng ta luôn hy vọng và tin tưởng vào một năm mới mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Mặc dù thế giới có sự suy thoái nghiêm trong trên đà tiến hóa của nền văn minh. Nhưng nước Việt với tinh hoa của gần 5000 năm lịch sử, hy vọng vẫn đạt những sự tiến bộ về nhiều mặt trong năm Kỷ Hợi Việt lịch. Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý vị. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp, chúc tất cả quý vị có mặt nơi đây cùng gia đình một năm mới an khang thịnh vượng. Xin cảm ơn. ============================ Thưa quý vị và anh chị em. Đúng ra năm nay, phần do già yếu bệnh tật, tôi cũng định sẽ không tham gia các vấn đề dự báo hàng năm. Và nhường cho các anh chị em thuộc hàng cao thủ trong Địa Lý Lạc Việt là Hoàng Triều Hải, Phạm Hùng và Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, thay tôi tiếp tục thực hiện những lời tiên tri. Trên thực tế Hoàng Triều Hải và Thiên Đồng đã thực hiện một cách rất tự tin và có những dự đoán gần giống của tôi. Tuy nhiên, các đồng nghiệp vẫn tín nhiệm và đề nghị có những dự báo của tôi. Nên tôi đã tiếp tục tham gia với bài dự báo - mà tôi đã trình bày ở trên - tại Hội nghị Tổng kết cuối năm của TTNC Văn hóa cổ Đông phương, vào trước Tết Kỷ Hợi, tại Đồng Kỵ Bắc Ninh (Bài dự báo tiên tri của Hoàng Triều Hải cũng được đọc tại Hội nghị này). Đây là bản dự báo chính thức của tôi trong năm Kỷ Hợi Việt lịch. Xin cảm ơn vì sự chia sẻ và quan tâm của quý vị và anh chị em.
  2. CHỮ VẠN - BIỂU TƯỢNG CỦA TƯƠNG TÁC VÀ VẬN ĐỘNG CỦA VŨ TRỤ. Bản chất thật của chữ Vạn là gì? Cho đến ngày hôm nay, khi tôi đang gõ những hàng chữ này, những nhà nghiên cứu vẫn đang đi tìm bản chất của chữ Vạn, vốn xuất hiện trong các nền văn minh cổ đại trên thế giới từ 16. 000 năm qua. Và họ chỉ dừng lại với quan niệm cho rằng: "Chữ Vạn là một biểu tượng mang tính tín ngưỡng". Nhưng từ 16. 000 năm trước - tức là khi mà các dân tộc trên thế giới này chưa hình thành để xuất hiện những tín ngưỡng, thì biểu tượng chữ Vạn có một nội hàm như thế nào? Trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia mô tả chữ Vạn như sau: Trích: Thưa quý vị và các bạn. Từ năm 2001, trong cuốn "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch", tôi đã chưng minh chữ Vạn chính là một biểu tượng mô tả sự vận động và tương tác của vũ trụ. Chữ Vạn ngược, chính là biểu tượng chiều vận động của vũ trụ; chữ Vạn xuôi, chính là biểu tượng chiều tương tác của vũ trụ (Chiều ngược lại). Trên trang web của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ - Tòa Thánh Tây Ninh - cũng có bàn về chữ Vạn. Và họ cũng xác định không rõ ràng về biểu tượng Chữ Vạn thế nào là đúng. Cuối cùng, cũng nói chung chung cho rằng "Chữ Vạn tượng trưng điều lành, điều tốt đẹp, vì nó hiện ra trên ngực của Đức Phật, nó là một trong 32 tướng tốt của Phật". Nhưng vấn đề đặt ra: "Chữ Vạn trên ngực Đức Phật là chữ Vạn nào? Khi có đến hai chữ Van với hai chiều khác nhau". Thưa quý vị và các bạn: Tôi xác định rằng: Chữ Vạn theo chiều xuôi kim đồng hồ chính là biểu tượng của chiều tương tác của vũ trụ, Hình dưới bên phải (Chiều tương sinh Ngũ hành của Hà Đồ) . Chữ Vạn ngược chính là chiều vận động của vật chất trong vũ trụ này - Hình dưới bên trái (Chiều tương khắc Ngũ hành của Lạc Thư). Quý vị và các bạn so sánh hình minh họa dưới đây: CHỮ VẠN NGƯỢC CHIỀU KIM ĐỒNG HỒ VÀ SỰ VẬN ĐỘNG TRÊN THỰC TẾ CỦA VŨ TRỤ - SO VỚI ĐỒ HÌNH LẠC THƯ. CHỮ VẠN XUÔI CHIỀU KIM ĐỒNG HỒ - MÔ TẢ CHIỀU TƯƠNG TÁC TRONG VŨ TRỤ - SO SÁNH VỚI ĐỒ HÌNH HÀ ĐỒ. Bây giờ quý vị và các bạn xem lại hình minh họa cho sự vận động của vũ trụ và so sánh biểu tượng chữ Vạn trong hình dưới đây và đối chiếu với hình Âm Dương Lạc Việt: Thưa quý vị và các bạn. Tôi đã chứng minh rằng: Đồ hình Âm Dương Lạc Việt là một biểu tượng phổ biến trong tất cả những di sản của các nền văn minh cổ đại, được phát hiện trên thế giới. Và chúng có nhiều nhất trong những di sản văn hóa truyền thống Việt, chính là biểu tượng của sự vận đông tương tác của vũ trụ. Đó cũng chính là biểu tượng của chữ Vạn. Tất cả mọi sự trùng khớp, mang tính hợp lý lý thuyết, đã minh chứng cho một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ - mà ít nhất có từ 16. 000 năm trước, qua di sản chữ Vạn - đã tồn tại trên trái Đất này. Nền văn minnh này đã thể hiện một tri thức thiên văn siêu việt, qua biểu tượng chữ Vạn, mà phổ biến nhất chính là đồ hình Âm Dương Lạc Việt. Điều này là một bằng chứng sinh động và sắc sảo nữa xác định rằng: Nền văn minh Lạc Việt chính là hậu duệ của nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ đã tồn tại trên trái Đất này. Và chỉ có những di sản huyền vĩ lưu truyền trong những giá trị của văn hóa truyền thống Việt, mới đủ khả năng phục hồi lại thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Đó chính là Lý thuyết thống nhất (Grand Unification Theory) mà nhân loại đang mơ ước.
  3. DI TÍCH KHẢO CỔ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA LÝ CỔ ĐÔNG PHƯƠNG - CÁCH HƠN 6000 NĂM TRƯỚC. Cá nhân tôi - Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh - luôn chỉ coi di vật khảo cổ là một giá trị trực quan, chứng minh một cách sắc sảo cho một hệ thống lý thuyết khoa học liên quan đến nó. Không cần đến sự phát hiện - được mô tả trong bài viết dưới đây - tôi cũng xác quyết về mặt lý thuyết về cội nguồn Địa Lý phong thủy Đông phương nói riêng và toàn bộ hệ thống Lý học của nền văn minh Đông phương - mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành - thuộc về nền văn hiến Việt. Rõ ràng đây là một di sản khảo cổ xác định những giá trị tri thức tinh hoa Đông phương xuất hiện ở Nam Dương tử, có trước cả lịch sử hình thành dân tộc Hán. ===================== PHỤ LỤC. MỘ RỒNG. 徐韶杉:从阴宅风水看仰韶天文 Từ Thiều Sam: Tòng âm trạch khán Ngưỡng Thiều thiên văn 2011-01-07 来源:中国建筑风水文化网 作者:一鸣 Xu Shao Shan: Nhìn Yangshao thiên văn học từ Amityville Horror phong thủy 2011-01-07 Nguồn: Trung Quốc Kiến trúc Văn hóa Phong Thủy Tác giả: Yiming 字号:T|T|T 内容摘要:   1987 年五月在河南省濮阳市西水坡(pha:dốc) 发现了仰韶文化遗址。西水坡位于濮阳县城老城墙的北侧,原是濮阳老城内的一块低洼地,该墓葬是西水坡考古现场发现的第45座古墓,考古命名为西水坡45号墓 Tóm tắt: KHÁM PHÁ THIÊN VĂN HỌC NGƯỠNG THIỀU TỪ NGÔI MỘ CỔ Tác giả: Nhất Minh Vào tháng năm 1987, tại dốc Tây Thủy, trấn Bộc Dương, tỉnh Hà Nam, phát hiện di chỉ văn hóa Ngưỡng Thiều. Dốc Tây Thủy nằm ở phía bắc của bức tường thành phố cũ Bộc Dương, phát hiện ra nghĩa trang với 45 ngôi mộ. Ngôi số 45 được khảo sát đặc biệt. Định tuổi bằng C14, ngôi một có niên đại khoảng 6500 năm (6460+/- 135 năm), thuộc trung kỳ văn hóa Ngưỡng Thiều. Đầu mộ quay về hướng nam, chân phía bắc, phía đông là một con rồng làm bằng vỏ sò, có móng vuốt, sống động như thật; phía tây của nó giống như một con hổ bằng vỏ sò, đầu lặng lẽ, uy nghi; phần bụng con hổ bằng vỏ sò có hình giống hoa mai. Phía bắc là hình tam giác bằng vỏ sò và hai xương chày của con người. Ngôi mộ số 45 có ba người tuẫn táng ở ba hướng Đông, Tây, Bắc, được chôn theo một độ xiên cố ý nào đó. Dưới chân mộ chủ có hình tam giác và hai ống xương chày trẻ em từ ngôi mộ số 31. Hiện tượng và kết luận: 1. Đầu tiên, Mộ Bộc Dương số 45 có hình thanh long bạch hổ và 28 địa điểm đồ hình mộ sơn tương ứng với đồ hình thanh long bạch hổ, (cho thấy) thanh long bạch hổ đồ của mộ Bộc Dương số 45 là tứ tựơng đồ. Theo hình dạng và kích thước của thanh long bạch hổ trong mộ Bộc Dương 45 thấy bảy con số phù hợp vị trí có thể được xác định 28 địa điểm đã được thiết lập tại thời điểm chôn cất. 2. xa nhất về phương nam theo hướng tý ngọ của mộ 45 là mộ số 31. chủ nhân mộ số 31ở phái cực nam là một đồng nữ, là thần hạ chí. Ba nạn nhân hiến tế trong mộ 45 thì một là biểu tượng của thần Xuân phân (phía Đông,đồng nam), thần Thu phân (phía Tây,đồng nữ) và thần Đông chí(Bắc,đồng nam),tại đây chu kỳ mùa được hoàn tất. Người xưa đã có một niềm tin văn hóa rất đầy đủ: Đông, Xuân là dương, được biểu thị bằng đồng nam; Hạ Thu là âm được biểu thị bởi đồng nữ. 3.Thứ ba, trong phần bụng con hổ bằng vỏ sò ở ngôi mộ số 45, có một loạt các vỏ sò nằm rải rác. Đống này nằm trong bụng của con hổ bằng vỏ sò, đồ hinh ngọn lửa trong bụng con hổ chỉ nhằm để khẳng định lẫn nhau. Trong đồ án của ngôi mộ 45 với mô hình đồ án đối chiếu, chúng phản ánh chính xác cùng một nội dung, hình ảnh là một "bản đồ sao." Trong bụng hổ là mặt trời hình hoa mai, theo thông lệ là ngày Xuân phân. Khái quát, ngôi mộ được sắp xếp theo tượng sao lúc hoàng hôn ngày Xuân phân. 4.Đo bằng con số ngôi mộ có sẵn ∠ BP'P = ∠ B'P'P = 24 ° 00 ', Thứ hai, theo những vỏ sò trong bụng con hổ có hình hoa mai là mặt trời, theo tiền lệ đó là quỹ đạo của sao vào ngày Xuân phân. 5. Đêm quan sát sao Bắc Dẩu, ngày dựng tiêu. Dưới chân chủ nhân ngôi mộ số 45 có hình tam giác nhỏ và hai xương chày trẻ em. Xương chày như cán của chòm Bắc Đẩu. Bắc Đẩu được người xưa dùng trong chiêm tinh học,đêm quan sát Bắc Đẩu, ngày dựng tiêu đo bóng. Phương pháp cắm tiêu đo hình cổ nhất là người xưa thông qua bóng trên cơ thể người thay đổi phương hướng mà dần dần học được cách thiết kế, đó là “tiêu.” Do cơ thể con người, cọc tiêu và thời gian có mối quan hệ đặc biệt, vì vậy người xưa gọi là thời gian đo đùi, ý nghĩa của chân đùi con người.Bắc Đẩu đồ trong ngôi mộ Bộc Dương 45, chân, tiêu và thời gian liên kết lại, phản ánh người xưa thông qua dựng tiêu đo bóng và quan trắc Bắc Đẩu để xác định thời điểm. 6 Để xương chày như cán của chòm sao Bắc Đẩu, xác định bốn tượng kiến lập trên quan sát tại Bắc đẩu. 7 Tôn thờ vật tổ của Trung Quốc tồn tại trong 6500 năm trước. Từ tính toán vị trí tứ tượng đồ tinh, người xưa tiến hành tối thiểu 100.000 quan sát chiêm tinh trước khi bắt đầu ghi chép 8 Đây là lần đầu tiên ở Trung Quốc phát hiện bố cục âm trạch phong thủy, quyết định phương hướng phát triển của phong thủy sau này. 9. Ngôi mộ số 45 đầu hình bán nguyệt, chân mộ vuông chứng tỏ quan niệm trời tròn đất vuông đã hình thành 10. Theo 28 địa điểm và chia ra bốn thần cho thấy 6500 trước đã nắm được sự vận hành của năm và sáng tạo các hệ thống thiên văn can chi. 1987 年五月在河南省濮阳市西水坡发现了仰韶文化遗址。西水坡位于濮阳县城老城墙的北侧,原是濮阳老城内的一块低洼地,该墓葬是西水坡考古现场发现的第45座古墓,考古命名为西水坡45号墓。 经碳十四测定,并经树轮较正,此墓大概是6460年(正负135年)以前的,属于新石器时代仰韶文化中期。墓主人头居南、足朝北,其东为一蚌壳塑龙像,张牙舞爪,栩栩如生;其西为蚌壳塑虎像,缓步平视,威风凛凛;虎胃部的蚌成梅花状。其北为蚌壳塑三角形和人的两根胫骨构成的图案。45号墓中3具殉葬人的摆放位置在墓穴中东、西、北三个方向,并特意斜置形成一定的角度。通过骨架鉴定,殉葬人的年龄都在12岁至16岁之间,他们的头部有刀砍的痕迹,都属于非正常死亡。Ngôi mộ số 45 có ba ngườituẫn táng ở ba hướng Đông, Tây, Bắc, được chôn theo một độ xiên cố ý nào đó. 濮阳西水坡45号墓的墓主人脚下小小的三角形和两根小孩儿胫骨来自31号墓中。 濮阳西水坡45号墓实拍图 濮阳西水坡45号墓示意图 濮阳西水坡45号墓分析图 Bộc Dương Tây Thủy pha số 45 mộ tích đồ 濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图和曾侯乙墓漆箱盖28宿青龙白虎图对比 Bộc Dương Xishuipo lăng mộ của các con số Rồng 45 ngôi mộ hổ và sơn bao gồm 28 địa điểm Rồng Bạch Hổ biểu đồ so sánh 濮阳西水坡31号墓 濮阳西水坡45号墓与31号相对位置 现象与结论: 一、濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图和曾侯乙墓漆箱盖28宿青龙白虎图对比,濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图为四象图;根据濮阳西水坡45号墓的青龙白虎图的形状大小与青龙白虎七星所处位置一致,可以确定28宿在墓葬时已确立。 二、在位于45号墓的子午线最南方有31号墓。位于遗址最南端的31号墓的主人(女童)是司掌夏至的神,而45号墓中的3具殉葬人则分别象征着春分神(东)(男童)、秋分神(西)(女童)和冬至神(北)(男童),四时的演变在这里表现完整。 古人当时已经有了很完整的文化观念:认为春分、秋分、夏至、冬至是由四位天文官分别掌管的,即“分至四神”;冬春为阳以男童表示,夏秋为阴以女童表示。 三、在45号墓蚌壳虎的腹部,有一堆散乱的蚌壳。这堆位于虎腹下的蚌壳,与曾侯乙墓中虎腹下的火形图案正好可以相互印证。将濮阳西水坡45号墓中的图案与曾侯乙墓漆箱盖上图案对照,它们反映的内容完全一致,证实蚌塑图像就是一幅“星图”。虎胃部的蚌成梅花状为太阳,此即春分日躔胃宿。该墓是按春分日落时的星象布置。四、由墓图实测可得∠BP'P=∠B'P'P=24°00',其次根据虎胃部的蚌成梅花状为太阳,此即春分日躔胃宿 (triền vị túc) 。证实六千五百年前的先民早已测得的黄赤交角为24°。并有可能建立24节气。 五、夜观北斗,白天立表。濮阳西水坡45号墓的墓主人脚下小小的三角形和两根小孩儿胫骨。胫骨当作北斗斗柄。北斗是古人来计时的星象,夜观北斗,白天用立表测影。最古老的立表测影的方法是古人通过对人体影子的方向的改变而逐渐学会的,最初的测影工具只是模仿人体来设计,这就是“表”。 正因人体、表与时间具有这种特殊关系,所以古人把计量时间的表叫作髀,而髀的意思是人的腿骨。濮阳西水坡45号墓中的北斗图,把腿骨、表和时间这三个方面联系起来,体现了古人通过立表测影和观测北斗来决定时间这两种方法的结合。 六、以胫骨作北斗斗柄,四象的确定是建立在北斗观察之上的。 七、中国的图腾崇拜在6500年前已存在。从四象图星体位置计算,古人最低下线为10万前就开始对星象观察记录。 八、它是中国最早的阴宅风水布局,对后来的风水发展起到决定性指导方向。 九、45号墓主人头部墓室呈半圆形,腿部墓室呈方形。显示天圆地方盖天学已形成
  4. NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ CỦA ĐỊA LÝ LẠC VIỆT Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh LỜI NÓI ĐẦU Các bạn có thể coi đây là một bài tiểu luận, mô tả toàn bộ quá trình nhận thức của tôi trong nghiên cứu về Địa lý phong thủy. Nếu như các bạn vốn có một quan niệm được in sâu trong tiềm thức, rằng: Những tri thức về phong thủy, cũng như nền tảng tri thức tạo nên nó, là thuyết Âm Dương Ngũ hành, thuộc về nền văn minh Hán. Điều này chắc chắn không phải chỉ riêng các bạn nghĩ như vậy, mà là cả thế giới cũng nghĩ như vậy. Những suy nghĩ từ trong tiềm thức đó của bạn, vì luôn luôn được ủng hộ bởi số đông có cùng suy nghĩ như bạn. Bởi vậy, khi tôi gửi bài tiểu luận này đến với các bạn, nó sẽ thật sự là một cú sốc không hề nhỏ, đối với những nhận thức đã ăn sâu vào tiềm thức của cả một nền văn minh, từ hàng thiên niên kỷ nay. Bởi vì trong tiểu luận này tôi sẽ xác định một điều, rằng: Toàn bộ thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch cũng như hầu hết các ngành ứng dụng của nền văn minh Đông Phương - trong đó có Địa lý phong thủy - đều có nguồn gốc từ nền văn minh Lạc Việt, một thời huyền vĩ ở miền Nam sông Dương Tử với bề dày lịch sử 5000 năm văn hiến. Nhưng tôi hy vọng các bạn đừng vội phản ứng và lấy làm ngạc nhiên, trong vũ trụ này cái gì cũng có thể xảy ra, và các bạn có thể bình tĩnh đọc trọn vẹn tiểu luận này của tôi. Lúc đó các bạn sẽ hiểu được nguyên nhân, tại sao tôi lại đặt danh xưng là Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt. Và đây, cũng chính là đề tài mà tôi muốn trình bày với các bạn trong tiểu luận này. Xin trân trọng giới thiệu với các bạn. PHẦN I: DI SẢN ĐỊA LÝ PHONG THỦY THEO CỔ THƯ CHỮ HÁN. (Hay lịch sử Địa lý phong thủy theo cổ thư chữ Hán). Cho đến tận ngày hôm nay, tất cả những nhà nghiên cứu về văn hóa cổ Đông Phương, đều xác định rằng: Địa Lý phong thủy là di sản của nền văn minh Hán. Người ta đã đào được ở Ân Khư, thủ đô của nhà Ân Thương, những di sản được khắc trên mai rùa, có nội dung như sau: “Ngày Tân Mão, tháng ….. ta xây ấp". Các nhà nghiên cứu đã căn cứ vào di sản này mà cho rằng: Tục coi ngày xây cất nhà cửa đã có từ 1500 năm TCN (niên đại của nhà Ân). Cho đến thế kỷ thứ III TCN, các nhà nghiên cứu xác định rằng một trường phái Địa Lý phong thủy lâu đời nhất đã xuất hiện. Đó là trường phái “Bát Trạch”, người ta cho rằng tác giả của trường phái này là 2 người họ Hoàng và họ Lục. Trường phái này có nội dung chính là phân loại người theo Đông trạch và Tây trạch, dựa vào năm sinh cho cả nam lẫn nữ. Trên cơ sở phân loại này lập mô hình biểu kiến của tám hướng xấu và tốt, ảnh hưởng đến con người trong ngôi gia. Gần 600 năm sau, tức là vào thế kỷ thứ III, sau CN, các nhà nghiên cứu cũng xác định rằng: Quách Phác đời Tấn là ông tổ của ngành Địa lý phong thủy Âm Trạch. Ông đã để lại một tác phẩm nổi tiếng, đó là “Táng Thư”. Trong cuốn này có một câu nổi tiếng, là: “Khí gặp gió thì tán, gặp thủy thì tụ”. Chính vì câu này, mà có danh xưng “Phong thủy” cho ngành địa lý phong thủy ngày nay. Tuy nhiên, đến đây tôi lưu ý các bạn rằng: Khái niệm “Phong Thủy” chỉ mới xuất hiện gần đây. Tổ tiên ta không gọi là phong thủy, mà gọi là “Địa Lý”. Các bạn chắc còn nhớ câu này: “Hòn đất mà biết nói năng. Thì thầy Địa lý hàm răng chẳng còn”. Tức là ngay trong câu ca dao này, đã xác định danh từ "Địa Lý" cho khái niệm "Phong thủy" ngày nay. Và trong các truyền thuyết dân gian về thánh Tả Ao của Việt Nam, đều gọi là “Địa Lý Tả Ao”, mà chưa bao giờ gọi là “Phong Thủy Tả Ao”. Chúng ta tiếp tục với những di sản còn lại về ngành Địa lý phong thủy từ bản văn chữ Hán. Vào thế kỷ thứ 7, xuất hiện trường phái “Loan Đầu” do Ngô Cảnh Loan công bố. Nhưng ông không được coi là ông tổ của trường phái này. Vì các bản văn chữ Hán đã ghi nhận ông ta cùng Dương Quân Tùng, nhân lúc loạn An Lộc Sơn, đã lọt vào Tàng Thư Các, lấy đi rất nhiều sách quý và truyền bá rộng rãi trong dân gian. Trường phái này, mô tả cấu trúc hình thể của cảnh quan môi trường ảnh hưởng đến ngôi gia. Đến khoảng cuối thế kỷ thứ 7, cuối đời Đường đầu đời Tống, xuất hiện trường phái Dương Trạch Tam Yếu. Ông tổ của trường phái này được coi là Triệu Cửu Phong và Dương Quân Tùng. Nội dung của trường phái này mô tả cấu trúc, vị trí các bộ phận chức năng bên trong căn nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người. Trong đó có ba vị trí chủ yếu được xác định, là: Cổng chính – Phòng chính – Bếp. Cho nên được gọi là "Dương Trạch Tam Yếu". Tuy nhiên chính những văn bản cổ thư chữ Hán lại xác định, Triệu Cửu Phong chỉ là người truyền thừa của Ngô Cảnh Loan và Dương Quân Tùng. Do đó cho nên, việc coi Triệu Cửu Phong là ông tổ của trường phái “Dương Trạch Tam Yếu” là điều chưa có cơ sở xác đáng. Xin các bạn lưu ý điều này. Vào cuối thế kỷ 15 - cuối đời Minh đầu đời Thanh - xuất hiện một “trường phái” gọi là “Huyền Không Học”. Ông tổ của trường phái này được coi là Tưởng Kính Hồng. Trường phái này đưa ra một mô hình biểu kiến trên Lạc thư cửu cung với chín ngôi sao được gọi là “Cửu Tinh” và mô tả sự vận động của chín vì sao này, gọi là “Huyền Không Phi Tinh”. Trên cơ sở vị trí của các ngôi sao và tính chất tốt xấu của nó, để xác định sự thành bại thịnh suy của ngôi gia. Tuy nhiên, trường phái này, chỉ được truyền thừa trong nội bộ môn phái. Đến cuối thế kỷ 17, cuối đời Minh đầu đời Thanh, Thẩm Trức Nhưng mới công bố rộng rãi. Trên đây là tóm tắt cơ bản sự hình thành các trường phái phong thủy theo cổ thư chữ Hán. Trong dân gian của các dân tộc thuộc nền văn minh Đông phương - trong đó có Việt Nam - còn lưu truyền rất nhiều phương pháp ứng dụng trong Địa lý phong thủy khác, liên quan hoặc không liên quan với các trường phái được coi là phổ biến nói trên. Tất cả các trường phái này đều mâu thuẫn lẫn nhau, với những khái niệm mơ hồ, mang tính mặc định. Nếu xét về mặt lý luận, thì chúng ta không có cơ sở nào để coi Địa lý phong thủy được lưu truyền từ cổ thư chữ Hán là một môn khoa học cả. Ngay trong từ điển tiếng Trung, người Hán cũng định nghĩa về phong thủy như sau: "Phong thủy là một tín ngưỡng cổ xưa của dân tộc Trung Hoa". Định nghĩa này đã tự phủ nhận ngành Địa Lý phong thủy mang tính khoa học. Hay nói cách khách: Với những bản văn chữ Hán lưu truyền trong nền văn minh Hán, không đủ tư cách để xácđịnh tính khoa học của nó. Nhưng thực tế ứng dụng với tính hiệu quả ở mức độ nhất định, và một phần nào với khả năng tiên tri của các phương pháp ứng dụng trong ngành Địa Lý phong thủy, cho nên nó vẫn được tín nhiệm trong xã hội phương Đông và còn lưu truyền đến ngày nay. Chứng tỏ rằng: Nền tảng cho sự ứng dụng của ngành Địa Lý phong thủy Đông phương phải có một chấn lý là thực tại mà nó phản ánh. Mặc dù cho đến ngày hôm nay khi tôi đang trình bày cùng các bạn, các nhà nghiên cứu đều xác dịnh quá trình diễn biến của sự phát triển trong lịch sử của ngành Địa lý phong thủy như trên. Hay nói cách khác: các nhà nghiên cứu chỉ mô tả lịch sử ngành Địa Lý phong thủy, theo thuận tử thời gian xuất hiện những bản văn chữ Hán liên quan. Chứ không đi sâu vào cấu trúc nội hàm trong nội dung của nó Tuy nhiên, gần đây - có một sự kiện khảo cổ học, khiến chúng ta phải xem xét lại toàn bộ lịch sử của Địa lý phong thủy theo cổ thư chữ Hán. Đó là một di chỉ khảo cổ, được phát hiện gọi là "Mộ Rồng", tại dốc Tây Thủy, trấn Bộc Dương, tỉnh Hà Nam vào năm 1987, nhưng mới được công bố ở Việt Nam gần đây. Ngôi mộ cổ này có niên đại 6000 năm cách ngày nay. Những di vật tìm thấy được trong khu vực ngôi mộ, ghi nhận những dấu ấn của Địa lý phong thủy không thể chối cãi. (Xem bản phụ lục “Mộ Rồng” kèm theo trong tiểu luận này). Sự kiện khảo cổ này, đã làm đảo lộn toàn bộ quan niệm về nguồn gốc Địa lý phong thủy trong lịch sử, qua những bản văn chữ Hán mà tôi đã trình bày với các bạn ở trên. Tất nhiên, sự kiện này đã đặt lại vấn đề: Bản chất hệ thống tri thức Địa Lý phong thủy có từ bao giờ, khi cách ngày nay 6000 năm - tức là trước cả khi nền văn minh Hán hình thành trong lịch sử của nó? Tuy nhiên, tôi cần nhấn mạnh với các bạn rằng: Việc chứng minh Địa lý phong thủy thuộc về nền văn hiến Lạc Việt với danh xưng "Địa Lý Lạc Việt" của tôi, không coi việc phát hiện mộ Rồng là một điều kiện căn bản. Trong tiểu luận này, sự kiện "Mộ Rồng" chỉ là một thực tại thực chứng, trong một mảnh ghép hoàn hảo cho hệ thống luận cứ của tôi, nhằm xác định rằng: "Địa lý phong thủy là một ngành khoa học - dù khái niệm "khoa học" được định nghĩa như thế nào - có cội nguồn văn hiến Việt với lịch sử 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử". Xin mời các bạn tiếp tục theo dõi phần trình bày của tôi để chứng minh điều này. PHẦN II: NGUYÊN LÝ CĂN ĐỂ CỦA LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG NHÂN DANH NỀN VĂN HIẾN VIỆT. Ngay từ năm 1998, với cuốn sách đầu tiên được xuất bản là “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại” Nxb Văn Hóa Thông Tin – Tôi đã đặt vấn đề: Toàn bộ hệ thống tri thức của nền Lý học đông phương, mà nền tảng là thuyết Âm Dương ngũ hành và Kinh dịch, thuộc về nền văn hiến Việt. Tiếp theo sau đó, tôi xuất bản cuốn “Thời Hùng Vương và bí ẩn lục thập hoa giáp”. Nxb Thanh Niên 1999. Cho đến năm 2001, điều này đã được khẳng định với cuốn sách “Tìm về cội nguồn kinh Dịch" - Nxb Đại học Quốc Gia, T/p HCM. Cơ sở để tôi xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch, thuộc về nền văn hiến Việt, không phải dựa trên những văn bản cổ tìm thấy được. Cũng không phải dựa trên những di chỉ khảo cổ được phát hiện. Mà tôi căn cứ trên tính hợp lý lý thuyết trong diễn biến lịch sử và những mâu thuẫn trong chính nội hàm của học thuyết này, được mô tả trong các bản văn chữ Hán. II. 1. Mâu thuẫn trong lịch sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành trong bản văn chữ Hán. Tôi có thể tóm lược để chứng minh với các bạn về quan điểm của tôi như sau: Theo lịch sử hình thành Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch trong cổ thư chữ Hán được mô tả theo thứ tự thời gian như sau. 1/ 6000 năm cách ngày nay: Vua Phục Hy tìm ra Hà Đồ trên lưng con Long Mã (con vật thần thoại). Dựa trên Hà Đồ, vua Phục Hy làm ra Tiên Thiên Bát Quái. Đây là những ký hiệu dịch đầu tiên. Dưới đây, lần lượt từ trái sang phải và từ trên xuống dươi, là: a/ Hình Hà Đồ điểm, tương truyền do vua Phục Hy phát hiện trên lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà. b/ Hà đồ điểm phối "Tiên Thiên Bát quái". c/ Cửu cung Hà Đồ phối Tiên Thiên bát quái. 2/ Hơn 5000 năm cách ngày nay, Vua Hoàng Đế cùng các triều thần của ngài là Kỳ Bá và Quỷ Du Khu đã cùng viết nên cuốn Hoàn Đế Nội Kinh Tố Vấn. Đây là cuốn sách nổi tiếng về lý luận của đông y. Trong cuốn sách này, những khái niệm về Âm Dương Ngũ hành đều đã được ứng dụng, cả Thiên can, Địa chí và vận khí trong lịch pháp Đông phương - quen gọi Âm lịch. 3/ 4000 năm cách ngày nay, Vua Đại Vũ đi tuần trên sông Lạc Thủy. Ngài nhìn thấy một con rùa thần và những chấm trên mai, đầu, chân và đuôi của nó, căn cứ vào đấy, ngài làm ra Lạc Thư. Từ Lạc Thư ngài làm ra “Hồng Phạm Cửu Trù”. Trong “Hồng Phạm Cửu Trù” nổi tiếng được ghi nhận trong cuốn kinh thư, thì Trù thứ nhất chính là Ngũ Hành. Đồ hình Lạc Thư điểm do vua Đại Vũ phát hiện trên lưng rùa và Hổng phạm cửu trù. 4/ 3000 năm cách ngày nay, theo truyền thuyết vua Chu Văn Vương bị giam ở ngục Dữu Lý, đã căn cứ vào Lạc Thư để làm ra “Hậu Thiên Văn Vương” nổi tiếng. Ngài và con ngài là Chu Công Đán, viết “Soán Từ" và "Hào Từ” để giải thích các ký hiệu Bát Quái trong Chu Dịch. Đồ hình Hậu Thiên bát quái Văn Vương và Lạc Thư phối Hậu Thiên Bát quái. 5/ 2500 năm cách ngày nay, Khổng Tử viết tiếp “Thập Dực” và hoàn chỉnh bộ Kinh Dịch lưu truyền đến bây giờ. Khái niệm Âm Dương lần đầu tiên xuất hiện trong Thập Dực này. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu hiện đại của chính Trung Quốc và quốc tế thì thuyết Âm Dương là sản phẩm của dân tộc Chu và thuyết Ngũ hành của dân tộc Việt, chúng được hòa nhập vào thời Hán. (Theo sách “Chu Dịch và vũ trụ quan” của tác giả GS. Lê Văn Quán – NXB Dân Tộc 1986). Vì họ cho rằng Kinh Dịch ra đời bởi Chu Văn Vương và Chu Công Đán, đồng thời Khổng Tử cũng là một phần tử của nhà Chu. Tuy nhiên cái gọi là thuyết “Âm Dương” đó, chỉ có mỗi một câu: “Nhất Âm, nhất Dương vị chi đạo” trong Thuyết Quái của Khổng Tử viết. Đó cũng là câu duy nhất và cổ nhất nói về Âm Dương trong Kinh Dịch. Câu "Nhất Âm, nhất Dương vị chi đạo” trong thuyết Quái không thể coi là một học thuyết, mà chỉ có thể coi là một khái niệm liên quan đến Âm Dương cổ nhất, thể hiện bằng bản văn. Nhưng đến khi người được coi là Khổng Tử san định Kinh Dịch, thì bộ kinh Dịch được coi là hoàn chỉnh và lưu truyền đến ngày nay. Nhưng, những khái niệm trong Kinh Dịch và Thuyết Âm Dương Ngũ Hành vẫn hết sức mơ hồ. Đến đời Tống, Chu Hy, tức Chu Đôn Di cố gắng giải thích những khái niệm trong Kinh Dịch, Như: Khái niệm "Thái cực", "Âm Dương"; "Ngũ hành"...nhưng không giải quyết được rốt ráo, và Kinh Dịch vẫn là một cuốn kỳ thư hoàn toàn bí ẩn. Vào nửa cuối thế kỷ trước, chính quyền nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đã phối hợp với cơ quan văn hóa Liên Hợp Quốc UNESCO, bốn lần tổ chức đại hội khoa học quốc tế, để đi tìm bản chất của Kinh Dịch (Theo sách “Kinh Dịch - Cấu hình tư tưởng của Trung Quốc” tác giả Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh – NXB Khoa Học Xã Hội năm 1999). Nhưng vẫn không thể khám phá được những bí ẩn của kinh Dịch. Người viết cũng xin lưu ý các bạn rằng: Tất cả những đồ hình liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Kinh Dịch mà tôi đã mô tả với các bạn ở trên, là: "Hà Đồ và Tiên Thiên Bát Quái", "Lạc Thư và Hậu Thiên Bát Quái", thực chất chỉ xuất hiện vào đời nhà Tống – tức mới chỉ 1000 năm cách ngày nay. Trong khi đó nó đã được nhắc tới ít nhất là 2500 năm cách ngày nay và xa nhất là 6000 năm cách ngày nay, như tôi đã trình bày. Có lẽ không cần phải chứng minh sự vô lý trong khoảng cách tính bằng Thiên niên kỷ trong một mô hình thể hiện cấu trúc của một học thuyết lại có một khoảng cách xa như vậy. Trên đây, tôi mới chỉ trình bày lịch sử hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán, đủ để các bạn thấy rõ được sự mâu thuẫn trong quá trình lịch sử hình thành của nó. II. 2. Mâu thuẫn trong nội hàm cấu trúc thuyết Âm Dương Ngũ hành trong bản văn chữ Hán. Một vấn đề nữa tôi cần trình bày với các bạn là: Mâu thuẫn trong nội hàm cấu trúc của chính những đồ hình mang tính nguyên lý căn để được ứng dụng rộng khắp trong tất cả mọi lĩnh vực liên quan đến thuyết ngũ hành trong nền văn minh Đông Phương. Đó là đồ hình “Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát Quái” và “Lạc Thư phối Hậu Thiên Bát Quái”. Lạc Thư phối Hậu Thiên bát quái. --------Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát quái. Trong cuốn “Kinh Dịch - đạo của người quân tử”, nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê đã thốt lên: “Nhất là so sánh hình đó với hình Bát Quái thì dù giàu trí tưởng tượng tới mấy, cũng không thể bảo rằng Bát Quái phỏng theo hai đồ hình đó được”. (Sách đã dẫn NXB Văn Học 1994 – trang 18) Ông còn viết rõ rằng: “Trong thiên nhiên đâu có hình như vậy, phải là do óc sáng tạo của loài người. Rõ ràng là Khổng An Quốc, hay một người nào khác đã bịa ra, để cố giảng vũ trụ bằng những con số, tạo nên môn tượng số học cực kỳ huyền bí. Do đó mà đời sau có người lớn tiếng mắng Khổng An Quốc là kẻ có tội nặng nhất với thánh nhân (Ám chỉ Khổng Tử - cụ tổ 12 đời của Khổng An Quốc) đã làm cho Kinh Dịch mất hết ý nghĩa triết lý sâu xa mà biến nó thành một tác phẩm vô nghĩa lý”. Việc dẫn chứng nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê chỉ là một ví dụ, cho đến ngày hôm nay, kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành, vẫn là một sự bí ẩn. Tính mơ hồ và mâu thuẫn ngay trong nội hàm cấu trúc căn để của Kinh Dịch được thể hiện như sau. Với mô hình “Lạc Thư Cửu Cung phối Hậu Thiên Bát Quái”, các bạn cũng thấy rõ, ngoài quái Khảm và quái Chấn phù hợp với tính chất Ngũ Hành của nó được thể hiện bằng mầu Xanh Biển – thủy và màu xanh lá cây – mộc. Thì, ở quái Ly và Đoài vốn được xác định trong Kinh Dịch là Đoài thuộc Kim, độ số 9 – Ly thuộc Hỏa, độ số 7. Nhưng trên mô hình biểu kiến này, các bạn lại thấy được Đoài – Kim lại nằm độ số 7 của Ly – Hỏa và Ly – Hỏa lại nằm ở độ số 9 của Đoài – Kim. Với đồ hình “Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát Quái” được mô tả trong cổ thư chữ Hán, chúng ta mới thấy sự vô lý khi: Khảm – Thủy, độ số 1, lại nằm ở độ số 9 thuộc Kim và Ly – Hỏa lại nằm ở độ số 3 thuộc Mộc. Càn - được là Kim thì lại nằm ở độ số 7 thuộc Hỏa; Khôn - được coi là Thổ thì năm ở độ số 1 thuộc Thủy?!? II. 3. Sự bí ẩn trải hàng Thiên niên kỷ của thuyết Âm Dương Ngũ hành qua bản văn chữ Hán, xác định nền văn minh Hán không thể là chủ nhân của học thuyết này. Yếu tố thứ 3, một trong những tiêu chí để xác định chủ nhân đích thực của một học thuyết thuộc về một nền văn minh nào đó, thì cái nền tảng tri thức của nền văn minh đó, phải phục hồi được những học thuyết đó. Điều này chắc không cần phải chứng minh. Đã hơn hai thiên niên kỷ nay – kể từ khi nền Văn minh Lạc Việc sụp đổ vào 2300 năm cách ngày nay. Nền văn minh chữ Hán không thể phục hồi được thuyết Âm Dương Ngũ hành. Mặc dù tất cả các phương pháp ứng dụng của nó vẫn đang tồn tại. Trong hầu như tất cả các lĩnh vực của cộc sống: gồm Đông y (Y học), Tử vi, dự báo (Khả năng tiên tri đến từng chi tiết của cuộc sống con người), và Địa lý phong thủy (Kiến trúc, xây dựng)…. Có thể nói, chính vì sự mơ hồ từ trong những nguyên lý căn để của cả một hệ thống lý thuyết ("Hà đồ phối Tiên Thiên bát quái" và "Lạc thư phối Hậu Thiên Văn Vương") với những khái niệm căn bản cấu thành lên học thuyết đó. Cho nên, nó đã kéo theo toàn bộ các phương pháp ứng dụng vào sự huyền bí. Trong đó có Địa Lý phong thủy, là chủ đề chính mà tôi muốn trình bày với các bạn ngày hôm nay. Vì vậy, để phục hồi lại những giá trị đích thực của nền văn minh Đông Phương nhân danh nền văn hiến Việt, chúng tôi đã chứng minh rằng: Nguyên lý căn để của nền Lý Học Đông Phương là: “Hà Đồ Phối Hậu Thiên Lạc Việt”. Các bạn có thể tham khảo các sách đã xuất bản của tôi đã chứng minh nguyên lý căn để này. Đó là sự hợp lý lý thuyết giải thích được mọi vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, tính nhất quán, tính hoàn chỉnh, tính khách quan và khả năng tiên tri. Đây chính là chuẩn mực để thẩm định một giả thuyết hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng của tiêu chí khoa học. Chính trên cơ sở này chúng tôi đã phục hồi lại toàn bộ hệ thống Địa Lý Phong Thủy của nền văn minh Đông Phương. Từ cơ sở này chúng tôi tiếp tục trình bày với các bạn về ngành Địa Lý Phong Thủy Lạc Việt, cũng là chủ đề chính của buổi nói chuyện hôm nay. PHẦN III: ĐỊA LÝ PHONG THỦY LẠC VIỆT. Thưa các bạn. Danh xưng Địa Lý phong thủy Lạc Việt, không phải một trường phái phong thủy, như nhiều người thường hiểu nhầm. Mà là một sự xác định cội nguồn của ngành Địa lý phong thủy Đông Phương thuộc về nền văn hiến Việt và cấu trúc nội hàm hoàn toàn nhân danh khoa học. Cho dù khái niệm khoa học được định nghĩa như thế nào. Trước hết, nó hoàn toàn dựa trên nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt”, được mô tả qua mô hình dưới đây: Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt Đồ hình này là kết quả của việc đổi vị trí hai quái Tốn Khôn của "Hậu Thiên Văn Vương" và phối với Hà Đồ - nhân danh nền văn hiến Việt. Các bạn xem hình dưới đây: Hậu Thiên Văn Vương .................................. &............................ Hậu Thiên Lạc Việt. (Sự khác biệt nằm ở vị trí quái Tốn/ Khôn). Và thay vì "Hậu Thiên bát quái phối Lạc thư" và mâu thuẫn ngay trong nội hàm cấu trúc của nó - mà tôi đã chứng minh - thì ngược lại: nguyên lý căn để nhân danh nền văn hiến Việt "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn/ Khôn), hoàn toàn có một cấu trúc hợp lý nội tại với tất cả những vấn đề liên quan đến nó trong toàn bộ học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nó hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Tiêu chí khoa học này phát biểu rằng: "Một giả thuyết, hay một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, tính nhất quán, hoàn chỉnh, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri". Trên cơ sở nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt" - nhân danh nền văn hiến Việt - tôi đã phục hồi những giá trị nền tảng tri thức căn bản của nền văn minh Đông phương và Kinh Dịch. Đồng thời, xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch bản chất là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh. Ký hiệu bát quái chính là những ký hiệu của một mô hình toán học mô tả học thuyết Âm Dương Ngũ hành. Theo đúng tiêu chí khoa học xác định: "Một lý thuyết được coi là khoa học thì thì phải có một mô hình toán học mô tả được nó". Trên cơ sở nguyên lý căn để: "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", đã hệ thống hóa hoàn toàn ngành Địa Lý phong thủy Đông phương, thành một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, nhất quán và trở thành một hệ thống phương pháp luận ứng dụng, có sự liên kết nội hàm chặt chẽ trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến nó. Nó không hề rời rạc và mâu thuẫn lẫn nhau, như bốn cái gọi là “trường phái” trong lịch sử của nền văn minh Hán. Chúng tôi đã chứng minh rằng tất cả những trường phái này thực chất là bốn yếu tố tương tác. 1. Bát Trạch: Đây chính là sự tương tác từ trường Trái Đất lên ngôi gia. 2. Loan Đầu: Đây chính là sự tương tác của cảnh quan môi trường cụ thể lên ngôi gia. 3. Dương Trạch Tam Yếu: Đây chính là sự tương tác của cấu trúc hình thể của chính ngôi gia lên chính con người sinh sống trong ngôi gia đó. 4. Huyền Không: Đây chính là sự tương tác của môi trường vũ trụ gần gũi trái đất. Tất cả bốn yếu tố tương tác này làm nên hệ thống lý thuyết ứng dụng của Địa lý Lạc Việt. Như tôi đã trình bày, sự xuất hiện của bốn trường phái này trong nền văn minh Trung Hoa mang tính rời rạc và mâu thuẫn lẫn nhau trong nội hàm cấu trúc về mặt lý thuyết, mà chúng còn mâu thuẫn ngay cả trong lịch sử thời gian xuất hiện. Điều này cho thấy những tri thức của nền văn minh Hán liên quan đến Lý học Đông phương và Địa Lý phong thủy, chỉ là những tri thức chắp vá rời rạc, và đó chỉ là những mảnh vụn còn sót lại đầy bí ẩn, sau khi nền văn minh Việt sụp đổ phía Nam sông Dương Tử vào thế kỷ thứ III TCN (năm 258 TCN). Tôi lấy một ví dụ như sau: Trong phái Bát Trạch thì thường xác định tùy theo tuổi nam hay nữ, để xác định trạch mệnh và xác định người theo Đông – Tây trạch. Ví dụ như người sinh năm 1977, nam là cung Khôn 5 thuộc Tây trạch, nữ là cung Khảm 1 thuộc Đông trạch; năm tiếp theo là 1978, thì nam là cung Tốn 4, nữ là cung Khôn 2….. cứ như thế theo chu kỳ 9 năm quay lại một lần. Rõ ràng đây là một hiện tượng mặc định. Nhưng vấn đề được đặt ra: Căn cứ vào nguyên lý nào để có được sự mặc định như trên?! Theo nghiên cứu của chúng tôi, thì đây chính là nguyên lý của Huyền Không Phi Tinh. Bản trạch mệnh của người nam trong Bát Trạch, chính là sao nhập trung phi tinh theo chiều nghịch của Huyền Không năm đó. Bản trạch mệnh của người nữ chính là sao nhập trung phi tinh theo chiều thuận của Huyền Không năm đó. Nhưng rõ ràng trong lịch sử cổ thư chữ Hán, như tôi đã trình bày ở trên, thì trường phái Huyền Không lại ra đời sau trường phái Bát Trạch ngót cả 1000 năm. Rõ ràng đây là một điều hết sức phi lý. Ở trên đây, tôi chỉ dẫn chứng một ví dụ và không phải là duy nhất về sự bất hợp lý trong cấu trúc nội hàm mang tính lý thuyết nền tảng của Địa lý phong thủy trong bản văn chữ Hán. Đó là những vấn đề sau đây: 1. Sự hình thành những trường phái phong thủy trong cổ thư chú Hán hoàn toàn mâu thuẫn lẫn nhau về tiến trình thời gian trong mối liên kết bản chất của nó. 2. Sự mâu thuẫn giữa các trường phái cho thấy là cấu trúc nội hàm trong hệ thống ứng dụng phong thủy của cổ thư chữ Hán rất mơ hồ. 3. Sự ứng dụng của phong thủy có hiệu quả trong thực tế, trải hàng Thiên niên kỷ, khiến nó tồn tại đến ngày nay, đã chứng tỏ có một chân lý và là thực tại đứng đằng sau hệ thống lý thuyết này. Nhưng qua những bản văn chữ Hán thì chúng ta lại không thể nhận ra một thực tại nào đứng đằng sau lý thuyết này. Khiến cho nó vẫn còn là điều mơ hồ huyền bí suốt hàng ngàn năm nay. Điều này chứng tỏ nền văn minh Hán không phải là chủ nhân đích thực của hệ thống Địa lý phong thủy Đông phương, khi hàng ngàn năm nay, nền văn minh này không thể phục hồi và làm sáng tỏ những bí ẩn của nó. Đây cũng là tiêu chí khoa học để thẩm định một nền văn minh có phải là chủ nhân của một lý thuyết hay không. Nội dung các tiêu chí này phát biểu như sau: 1. Một lý thuyết tồn tại trong nền văn minh nào thì lịch sử phát triển của lý thuyết đó phải phù hợp với sự phát triển của nền văn minh đó. 2. Phải có một cấu trúc hợp lý, nhất quán, hoàn chỉnh trong nội hàm của cấu trúc đó. 3. Nền văn minh được coi là chủ nhân của một học thuyết thì phải có khả năng phục hồi chính học thuyết đó. Xét trong cả 3 tiêu chí này thì nền văn minh Trung Hoa không đáp ứng được bất kỳ tiêu chí nào. Nhưng trên cơ sở xác định nền văn minh Việt, chính là chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch - với sự xác định nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", tôi đã phục hồi một cách có tính hệ thống, hoàn chỉnh và toàn diện học thuyết này. Chúng tôi xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch là một hệ thống hoàn chỉnh, chứ không gồm ba bộ phận tách rời như cổ thư chữ Hán vẫn miêu tả trước nay. Các nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh hiện nay, họ đã xác định rằng: “Một lý thuyết khoa học thì phải có một hệ thống toán học mô tả được nó". Chúng tôi cũng chứng minh rằng: "Những ký hiệu Bát Quái trong Kinh Dịch chính là hệ thống toán học mô tả nội hàm của học thuyết này". Thưa các bạn, chúng tôi đã xác định rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch chính là một lý thuyết thống nhất vũ trụ (Grand Unification Theory), mà nhân loại đang tìm Sự phục hồi thuyết Âm Dương Ngũ hành và Kinh Dịch - nhân danh nền văn hiến Việt - là sự phục hồi một học thuyết đã tồn tại trên thực tế. Tất nhiên, những hệ quả là các phương pháp ứng dụng phổ biến của học thuyết này, như: Địa Lý phong thủy, Đông Y, Dự báo....cũng không thể thuộc về văn minh Hán. IV. KẾT LUẬN. Thưa các bạn. Danh xưng "Địa Lý Lạc Việt", mang một nội hàm ý nghĩa về cội nguồn đích thực của ngành Địa Lý phong thủy thuộc về nền văn hiến Việt. Đồng thời Địa Lý Lạc Việt, cũng hoàn toàn thỏa mãn những chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết khoa học, qua tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng - mà tôi đã trình bày ở trên. Vào ngày 25/12/2009 tại khách sạn La Thành thành phố Hà Nội, với tư cách là Giám đốc Trung Tâm Nghiên cứu Lý Học Đông Phương, chúng tôi đã tổ chức một buổi hội thảo quy tụ khoảng 400 đại biểu với để tài: “Phong Thủy là khoa học” để chứng minh Địa Lý phong thủy Lạc Việt là một ngành khoa học thực sự. Địa Lý Lạc Việt là sự tập hợp một cách có hệ thống, mô tả một cách nhất quán và hoàn chỉnh tất cả những di sản thuộc về ngành Địa Lý phong thủy học Đông phương. Tất nhiên hệ thống đó và phương pháp ứng dụng của nó, là một sự hiệu chỉnh và phục hồi, trên cơ sở những di sản còn lại của nền văn hiến Việt, đã bị Hán hóa, một cách rời rạc, mơ hồ sai lệch và thiếu tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán và bởi chính sự mâu thuẫn trong nội hàm của nó. Tôi cũng rất mong các bạn lưu ý, rằng: đây không phải là sự phủ nhận hoàn toàn các tri thức cũ. Mà chỉ là sự hiệu chỉnh, phục hồi dựa trên nguyên lý căn để “Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” mà tôi đã trình bày với các bạn ở trên. Sự khác biệt và nhân danh nền Văn Hiến Việt, chính là nguyên lý căn để này. Do đó, một Địa Lý phong thủy gia Lạc Việt, khi thực hiện một một ca phong thủy, thì họ đã tập hợp tri thức cả bốn trường phái. Tính khoa học và tính bao trùm của Địa Lý Lạc Việt là nó có thể dung nạp không chỉ tất cả những cái gọi là “trường phái” trong bản văn chữ Hán, mà nó còn dung nạp được tất cả các di sản liên quan đến Địa Lý phong thủy còn lưu truyền trong các dân tộc của nền văn minh Đông Phương. Không những vậy, nó có thể tích hợp toàn bộ các tri thức kiến trúc và xây dựng của nền văn minh hiện đại. Điều này đã xác định rằng, tính khoa học, thực sự trong nội hàm của Địa Lý Lạc Việt và sự bao trùm của chân lý cho tất cả những vấn đề liên quan đến nó. Để kết luận cho tiểu luận này, tôi muốn xác định với các bạn, toàn bộ nội dung các vấn đề đã trình bày, như sau: 1/ Danh xưng Địa Lý Lạc Việt không phải là một trường phái. Mà là một danh xưng xác định cội nguồn của một ngành ứng dụng nổi tiếng đã tồn tại và lưu truyền trong nền văn minh cổ Đông Phương, thuộc về nền văn hiến Việt, trải gần 5000 năm lịch sử một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử, chủ nhân đích thực của nền lý học Đông Phương, mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. 2/ Địa Lý Lạc Việt xác định cội nguồn Lạc Việt, dựa trên nguyên lý căn để của Lý Học Đông phương, được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt - là: "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt". 3/ Địa Lý Lạc Việt nhân danh khoa học và là một ngành khoa học ứng dụng liên quan đến kiến trúc và xây dựng cổ Đông phương, dù nội hàm khoa học được định nghĩa như thế nào. Địa Lý Lạc Việt mô tả những yếu tố tương tác, mang tính quy luật khách quan của vũ trụ, thiên nhiên và của cấu trúc hình thể một ngôi gia đến cuộc sống của con người. Hay nói rõ hơn bằng một cách khác: Ngành kiến trúc và xây dựng của nền văn minh hiện nay, nền tảng tri thức cốt lõi chỉ gồm hai yếu tố căn bản, là: Tính thẩm mỹ và là cấu trúc vật lý mang tính cơ học trong kiến trúc và xây dựng - thì ngành Địa Lý Lạc Việt xác định tính quy luật tương tác khách quan của thiên nhiên, vũ trụ, hình thể nhà với con người sống trong một ngôi gia. Nền tảng tri thức của Địa Lý Lạc Việt có thể tích hợp được một cách hoàn hảo toàn bộ tri thức của ngành kiến trúc xây dựng hiện đại. Chứng tỏ nó phải hàm chứa một chân lý bao trùm liên quan đến kiến trúc và xây dựng, khi có sự hội nhập giữa hai nền văn minh. 4/ Địa Lý Lạc Việt được xác định là hệ quả ứng chuyên ngành của thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. Đồng thời nó cũng xác định rằng: Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch là một hệ thống lý thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh, mô tả toàn bộ lịch sử vũ trụ từ giây /0/ cho đến hôm nay. Nó cũng mô tả toàn bộ những quy luật tương tác và vận động của vũ trụ qua khả năng tiên tri. Kinh Dịch chính là những ký hiệu toán học siêu công thức, mô tả nội hàm của thuyết âm dương ngũ hành. Thưa các bạn. Tất cả những điều tôi trình bày với các bạn hôm nay, trong thời gian giới hạn có thể làm các bạn tin hay không tin vào điều mà chúng tôi đã nghiên cứu và công bố vào nhiều năm nay. Nhưng tôi hy vọng là: những điều mà tôi đã giới thiệu bằng văn bản và sự trình bày trực tiếp của tôi với các bạn ngày hôm nay sẽ tạo ra nguồn cảm hứng, để các bạn tiếp tục có hứng thú khám phá các bí ẩn của nền văn minh Đông Phương và giá trị đích thực của nền văn hiến Việt. Xin cảm ơn Ban tổ chức và các bạn đã quan tâm và tạo điều kiện cho tôi chia sẻ những ý tưởng của tôi về một hệ thống tri thức cổ xưa trong ngành kiến trúc và xây dựng. Xin Ban tổ chức, các bạn nhận lời chúc một cuộc đời hạnh phúc và an lành đến với mọi người có mặt nơi đây. Trân trọng Sài Gòn 19. 11. 2018. Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
  5. Ghi chú! Trong bài này, có một bài rất quan trọng về Khí, Sư Phụ đã xóa và đưa vào lớp DLLVUD1. ACE vào lớp học tham khảo nhé! Trân trọng!
  6. Vì là bài nghiên cứu quan trọng. Tôi comment để cập nhật trên diễn đàn.
  7. TƯ LIỆU THAM KHẢO. Thưa quý vị và các bạn quan tâm. Tôi chỉ coi đây là "Tư Liệu Tham khảo", không coi là nguyên tính trùng tang. Vì đang nghiên cứ, phân tích để xác định. ========================= SƯU TẦM TANG CHẾ Hưng Nguyễn 25 phút · Hà Nội · Tháng 7 nói chuyện Trùng Tang Nhật Trùng tang liên táng vốn là một cụm từ gây " kinh hãi " trong dân gian từ rất lâu rồi. Đó là hiện tượng trong gia đình khi có người nào đó mất đi thì sau đó trong một thời gian ngắn lại mất người tiếp, mà thường hiện tượng này lặp lại theo một chu kỳ nào đó. Có nhiều thuyết - quan điểm khác nhau về hiện tượng này. Đối với những người tin vào các hiện tượng tâm linh thì họ cho rằng Trùng Tang vốn do một vị thần ( hoặc quỷ ) có tên là Thần Trùng chuyên để bắt đi những người mất đi phạm ngày giờ xấu ( ngày giờ Trùng ). Phương pháp để tính toán xem người mất đi có phạm Trùng Tang hay không được biên soạn trong rất nhiều sách vở cũng như dễ dàng tham khảo trên mạng Internet. Tuy nhiên phương pháp này chỉ duy nhất tính toán ra Thời điểm người mất có phạm Trùng Tang hay không. Nhưng trong lịch pháp Trung Quốc và theo quan điểm của học thuật phong thuỷ, người xưa còn trú trọng tuyệt đối đến vấn đề Hạ Táng. Đây là một vấn đề rất quan trọng mà thường hay bị bỏ qua bởi chủ quan. Trong mỗi tháng đều có một số ngày bị coi là ngày Trùng Tang. Nếu hạ táng một người mất ( bất kể là mất vào thời điểm nào ) vào những ngày đó thì cũng bị coi là Táng vào ngày Trùng Tang, và sẽ dẫn đến hiện tượng mất người sau đó. Xin chia sẻ với các bạn những ngày Trùng Tang này để nếu lỡ khi có việc thì cũng tránh cho việc vô tình mà chọn phải. Thà tin là có còn hơn là không. 1. Tháng Dần ( tháng giêng ) : tất cả những ngày có thiên can chữ Canh như Canh Tý - Canh Dần - Canh Mão - Canh Thìn - Canh Ngọ - Canh Thân - Canh Tuất. 2. Tháng Mão ( 2 âm ) : tất cả những ngày thiên can có chữ Tân như Tân Sửu - Tân Mão - Tân Tị - Tân Mùi - Tân Dậu - Tân Hợi. 3. Tháng Thìn ( 3 âm ) : tất cả những ngày thiên can có chữ Mậu như Mậu Tý - Mậu Dần - Mậu Thìn - Mậu Ngọ - Mậu Thân - Mậu Tuất. 4. Tháng Tị ( 4 âm ) : tất cả những ngày có thiên can Bính như Bính Tý - Bính Dần - Bính Thìn - Bính Ngọ - Bính Thân - Bính Tuất. 5. Tháng Ngọ ( 5 âm ) : tất cả những ngày có thiên can Đinh như Đinh Sửu - Đinh Mão - Đinh Tị - Đinh Mùi - Đinh Dậu - Đinh Hợi. 6. Tháng Mùi ( 6 âm ) : tất cả những ngày có thiên can Kỷ như Kỷ Sửu - Kỷ Mão - Kỷ Tị - Kỷ Mùi - Kỷ Dậu - Kỷ Hợi. 7. Tháng Thân ( 7 âm ) : tất cả những ngày có thiên can Giáp như Giáp Tý - Giáp Dần - Giáp Thìn - Giáp Ngọ - Giáp Thân - Giáp Tuất. 8. Tháng Dậu ( 8 âm ) : tất cả những ngày có thiên can Ất như Ất Sửu - Ất Mão - Ất Tị - Ất Mùi - Ất Dậu - Ất Hợi. 9. Tháng Tuất ( 9 âm ) : tất cả những ngày có thiên can Mậu như Mậu Tý - Mậu Dần - Mậu Thìn - Mậu Ngọ - Mậu Thân - Mậu Tuất. 10. Tháng Hợi ( 10 âm ) : tất cả những ngày có thiên can Nhâm như Nhâm Tý - Nhâm Dần - Nhâm Thìn - Nhâm Ngọ - Nhâm Thân - Nhâm Tuất. 11. Tháng Tý ( 11 âm ) : tất cả những ngày có thiên can Quý như Quý Sửu - Quý Mão - Quý Tị - Quý Mùi - Quý Dậu - Quý Hợi. 12. Tháng Sửu ( tháng chạp ) : tất cả những ngày có thiên can Kỷ như Kỷ Sửu - Kỷ Mão - Kỷ Tị
  8. BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH. Thưa quý vị và các bạn. Trong các bài viết trên dd lyhocdongphuong.org.vn và trong các sách đã xuất bản, tôi đã rất nhiều lần nói đến một nền văn minh tồn tại trước lịch sử nhận thức được của nền văn minh hiện đại. Bài viết này sẽ chứng minh với quý vị và các bạn về luận điểm này. Phát hiện chấn động: Tìm thấy 4 kim tự tháp khổng lồ dưới đáy biển "tam giác quỷ" Bermuda Trang Ly | 08/11/2016 07:07 45 Ảnh minh họa. Việc phát hiện 4 kim tự tháp khổng lồ dưới vùng biển "tam giác quỷ" Bermuda chứng minh 1 điều: Loài người có quá ít hiểu biết về đại dương! Xơi tái cả cá mập trắng, đây mới là "quái vật" đáng sợ nhất đại dương Loạt bí ẩn "ma quái" trong lòng đại dương "đánh đố" nhân loại hàng trăm năm Khám phá ra hồ nước dưới lòng đại dương, sinh vật sống bơi vào vùng nước này hầu hết đều bỏ mạng Đau đớn tột cùng và chết sau 20 giây nếu bị "quái vật đại dương" này bơm nọc độc Bao phủ phần lớn diện tích của Trái đất nhưng đại dương lại là một thế giới nằm ngoài tầm hiểu biết của con người chúng ta. Ẩn dưới làn nước sâu xanh thẳm là cuộc sống và những hiện tượng bí ẩn mà chúng ta chưa thể nào khám phá ra. Đại dương còn ẩn chứa rất nhiều bí mật chờ con người khám phá. Ảnh: Daily Mail. Các nhà khoa học đã từng nhận định, áp suất khổng lồ của đại dương tương đương với việc bạn bị 50 chiếc máy bay phản lực Jumbo đè lên ngực! Áp suất khổng lồ, nhiệt độ lạnh lẽo cộng với việc ánh sáng Mặt trời không thể xuyên thấu (ánh sáng Mặt trời chỉ xuyên sâu nhất là 207 mét dưới mặt nước) mới chỉ là 3 trong những điều kiện sống vô cùng khắc nghiệt cản trở sự tìm tòi của con người. Chính vì lẽ đó, vùng nước lớn cách xa đất liền hàng nghìn km là nơi ẩn chứa nhiều bí ẩn mà nếu có phát hiện được, con người vẫn phải tiếp tục giải mã. Sinh vật nào sống sâu nhất đại dương? Tại sao lại xuất hiện những công trình ngầm bí ẩn? Và đâu là vùng biển bí hiểm, tồn tại bất chấp mọi định luật của Vật lý? Mời bạn theo dõi. Thành phố ngầm dưới đáy biển Bermuda Vùng biển "tam giác quỷ" Bermuda vốn nổi tiếng hàng trăm năm nay với những vụ mất tích vô cùng bí hiểm. Rất nhiều lý giải khoa học đã được đưa ra nhằm giải thích cho những điều đáng sợ vẫn luôn "ám ảnh" nhân loại bấy lâu. Khi người ta còn chưa tỏ về Bermuda thì các nhà khoa học thám hiểm lại phát hiện một bí mật ẩn chứa dưới làn nước sâu. Thành phố ngầm dưới đáy biển. Ảnh: Theestle. Tháng 10 năm 2012, giới khoa học thế giới chấn động bởi tuyên bố của nhóm các nhà thám hiểm khi họ phát hiện một thành phố ngầm dưới đáy biển ở vùng "tam giác quỷ" Bermuda. Ở độ sâu gần 200m dưới mực nước biển, các nhà thám hiểm phát hiện một thành phố cổ có niên đại khoảng 10.000 năm tuổi. Chưa hết, ngay tại vùng trung tâm của "tam giác quỷ", người ta còn phát hiện 4 kim tự tháp khổng lồ cùng một số bức tượng nhân sư tưởng chỉ ở Ai Cập mới có. Tiến hành đo đạc và phân tích, các nhà khoa học phát hiện kích thước của 4 kim tự tháp này còn lớn hơn rất nhiều so với hai đại kim tự tháp Giza và Cheops ở Ai Cập. Việc xác định nguồn gốc, kỹ thuật xây dựng các kim tự tháp trên cạn đến nay còn khiến các nhà khoa học "điên đầu" thì với việc phát hiện 4 kim tự tháp khổng lồ dưới đáy biển Bermuda còn khiến họ "mất ăn mất ngủ" hơn rất nhiều. "Vùng biển Quỷ" - Bermuda thứ hai của thế giới Nằm ở vùng biển phía Nam thủ đô Tokyo (Nhật Bản), "Vùng biển Quỷ" (Devil’s Sea) hay "Tam giác Rồng" (Dragon’s Triangle) là một trong những "nghĩa địa biển" khổng lồ của đại dương. "Vùng biển Quỷ" - Bermuda thứ hai của thế giới. Hình minh họa/Internet. Kỳ lạ và bí ẩn tương tự "tam giác quỷ" Bermuda, "Vùng biển Quỷ" gây nên vụ mất tích chấn động trong vòng 2 năm từ 1952 - 1954, khiến 5 chiếc tàu chiến và 700 thủy thủ biến mất không dấu vết. Chưa hết, chỉ trong vòng 9 năm, từ năm 1963 đến 1972, khoảnh 160 tàu thuyền lớn nhỏ khi thực hiện của hải trình qua vùng "Tam giác Rồng". Giống như Bermuda, tàu thuyền và máy bay khi đến gần vùng biển này đều bị nhiễu loạn la bàn hoặc mất liên lạc đột ngột. Cùng với sương mù biển, sóng cồn và lốc xoáy, tàu thuyền và máy bay dễ dàng mất phương hướng và lạc sâu vào "vùng biển chết". Đã có khá nhiều giả thuyết đưa ra nhằm giải thích cho những điều kỳ lạ tại "Tam giác Rồng", như: Dưới đáy biển là cơ sở hoạt động bí mật của người ngoài hành tinh; Hay vùng biển là "tác phẩm" của con người nhằm thực hiện âm mưu bí mật nào đó. Tọa độ 3 khu vực bí ẩn bậc nhất thế giới nằm cùng trên một đường thẳng. Hình: History.com. Điều kỳ lạ là, tọa độ của "Tam giác Rồng", "tam giác quỷ" Bermuda và các kim tự tháp Ai Cập nằm cùng trên một đường thằng. Chỉ riêng điều này thôi cũng khiến các nhà khoa học thấy "điên đầu". Dù cho là cách giải thích như thế nào thì những bí ẩn vẫn là màn sương đặc vây quanh "Tam giác Rồng". Khe "địa ngục" Mariana - Nơi sâu nhất của đại dương? Đồ họa 3D rãnh Mariana (đường đứt đoạn). Toàn bộ rãnh có chiều dài là 2.550 km. Chiều rộng của rãnh lại vô cùng khiêm tốn, chỉ khoảng 69 km. Đồ họa: Livescience. Nằm ở phía Tây Bắc Thái Bình Dương, khe "địa ngục" Mariana thuộc quần đảo cùng tên có độ sâu đo được khoảng gần 11.000 mét. Trong đó, vực thẳm Challenger là điểm sâu nhất của khe Mariana, sâu 10.984 mét. (Độ sâu của Mariana còn lớn hơn đỉnh núi Everest cao nhất thế giới). So sánh chiều sâu khủng khiếp của rãnh Mariana với các chiều cao và chiều sâu khác trên thế giới. Đồ họa: SCMP Theo các nhà khoa học, ở độ sâu khủng khiếp này, điều kiện sống trở nên vô cùng khắc nghiệt: Áp suất đại dương vô cùng lớn, không có ánh sáng Mặt trời và nhiệt độ thì cực kỳ thấp. Tưởng chừng sự sống sẽ không thể tồn tại nơi đây nhưng bằng thiết bị chuyên dụng, các nhà thám hiểm đã phát hiện những âm thanh bí ẩn tại nơi đáng lẽ chỉ có im lặng và hoang lạnh bao trùm. Từ đó, các nhà khoa học đặt ra giả thuyết, nơi đây tồn tại sự sống và rất có thể có loài sinh vật nào đó có khả năng thích ứng với môi trường khủng khiếp này. Giả thuyết thứ hai đặt ra là, rất có thể ở nơi nào đó trên Trái Đất vẫn có điểm sâu nhất mà con người chưa thể đo đạc được do hạn chế về kỹ thuật. Hình minh họa. Đại dương vì thế mà bí ẩn và luôn thúc đẩy sự khao khát tìm tòi của con người. Khám phá điểm sâu nhất, sinh vật tồn tại ở nơi hoang lạnh nhất... vẫn luôn là những câu hỏi chúng ta luôn mong tìm lời giải đáp.
  9. MẤY VẤN ĐỀ VỀ NGUỒN GỐC KINH DỊCH TS. Nguyễn Văn Vịnh Trong hệ thống tri thức dùng cho học tập và thi cử từ hơn 2000 năm trở lại đây đối với các nước thuộc phạm trù văn hóa khổng giáo, Kinh Dịch là bộ đứng đầu ngũ kinh(Thư kinh, Thi kinh,Lễ kinh, Xuân Thu kinh và Dịch Kinh), được gọi là “Quần thủ chi kinh”. Có thể nói, Kinh Dịch là bộ sách độc đáo có một không hai của nhân loại: Độc đáo vì Kinh chỉ dùng hai vạch liền và đứt: là ( - ) và ( -- ), như là hai ký hiệu ở dạng thống nhất nguyên sơ, còn gọi là hai hào Dương và Âm. xếp chồng lên nhau tạo thành các ký hiệu để mô tả các sự vật hiện thực khách quan, từ đó vươn tới lý giải mọi qui luật, mọi hiện tượng diễn ra trong vũ trụ, một cách thấu triệt từ triết, y, lý, số, quân sự, chính trị, văn hóa, bói toán, thiên văn, địa lý, âm nhạc .... Phạm vi của kinh Dịch bao trùm lên các qui luật của khoa học tự nhiên, xã hội và con người. Trong thiên nhiên gọi là “Thiên Đạo” và lãnh vực của khoa học nhân văn gọi là “Nhân Đạo”, ứng dụng cho kiến trúc gọi là thuật phong thuỷ. Phần Thoán Từ và Hào Từ bằng chữ Hán là phần được người đời sau thêm vào, sách vở chép lại cho là Văn Vương và Chu Công đã làm việc này, sau được Khổng Tử chú giải thêm phần Thập dực để giải thích thêm. Từ trước tới nay giới học thuật truyền thống đều cho rằng Kinh Dịch là sách bói toán có nguồn gốc từ Trung Hoa với lập luận đại khái qua những truyền thuyết như: 1.Thuyết thứ nhất:Phục Hy lập ra Bát Quái (tám quẻ đơn), rồi đem Bát Quái chồng lên nhau thành 64 quẻ kép của Kinh Dịch gọi là tượng. 2. Thuyết thứ hai:Kinh Dịch của nhà Chu Sang tới đầu nhà Chu, Chu Văn Vương mới đem những Quẻ của Phục Hy mà đặt từng tên và diễn thêm lời ở dưới mỗi quẻ để nói về sự lành dữ của cả quẻ, như chữ nguyên hanh lợi tẫn mã chi trinh ở quẻ Khôn v.v... Lời đó gọi là Lời Quẻ (quái từ), hay lời thoán (thoán từ). Sau đó Chu Công tức Cơ Đán (con trai thứ Văn Vương), lại theo số vạch của các quẻ mà chia mỗi quẻ ra làm sáu phần, mỗi phần gọi là một Hào, và dưới mỗi hào đều có thêm một hoặc vài câu, để nói về sự lành dữ của từng hào, như câu Sơ Cửu: tiềm long vật dụng hay câu Cửu Nhị: hiện long tại điền trong quẻ Kiền và câu Sơ Lục lý sương kiên băng chí hay câu Lục Tam: Hàm chương khả trinh trong quẻ Khôn... Lời đó gọi là lời hào (Hào từ) vì phần nhiều nó căn cứ vào hình tượng của các hào, cho nên nó còn gọi là (Lời tượng). Tiếp đến Khổng Tử lại soạn ra sáu thứ nữa, là Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái. Thoán truyện có hai thiên: Thượng Thoán và Hạ Thoán; Tượng truyện có hai thiên: Thượng và Hạ Tượng; Hệ từ cũng có hai thiên: Thượng Hệ và Hạ Hệ; tất cả mười thiên, thường gọi là Thập dực (mười cánh). Sáu thứ đó tuy đều tán cho ý nghĩa Kinh Dịch rộng thêm. 3. Thuyết thứ ba: Bát Quái Và Kinh Dịch Từ Hà Lạc Hà Lạc là Hà Đồ và Lạc Thư: Đây là hai hình đồ xuất hiện thời cổ xưa. Theo truyền thuyết này (được viết trong thiên Hệ Từ Thượng Truyện) cho rằng: “Xưa, ở nơi sông Hà hiện ra bức đồ, ở trên sông Lạc hiện ra trang chữ và Thánh Nhân phỏng theo mà sáng tác”. Theo chúng tôi đó chỉ là những giả thuyết thậm chí chỉ là những câu chuyện được sáng tác theo trí tưởng tượng kiểu Trung hoa, nhằm xác nhận chủ nhân Kinh Dịch là người Trung Hoa. Đây là vấn đề khá phức tạp , về nguồn gốc Kinh Dịch cho đến hiện nay tồn tại nhiều thuyết khác nhau, ngay bản thân các nhà nghiên cứu Trung Quốc nghiêm túc cũng không dám khẳng định Kinh Dịch có nguồn gốc từ văn hóa Hán. Vấn đề nguồn gốc Kinh Dịch cho tới nay vẫn là một thách thức cho các nhà nghiên cứu, nhưng nhất định không thể khẳng định Kinh Dịch có nguồn gốc từ văn minh Hoa Hạ. Chúng tôi sẽ trình bày kỹ ở phần tiếp theo. Chúng tôi xin dẫn mấy quan điểm chứng minh Kinh Dịch được phát minh bởi cư dân Bách Việt ( Khái niệm Bách Việt ở đây được sử dụng theo nghĩa rất rộng gồm các tộc người cư trú từ phía Nam sông Hoàng Hà tới vùng Mã Lai đa đảo, vốn là các cư dân nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt, trước khi có sự xâm nhập của Hán tộc vốn là cư dân du mục). Những ý kiến này là của các tác giả Việt Nam: 1. Kinh Diệc tức Kinh Dịch (chỉ phần kinh văn Dịch kinh, không bao gồm Dịch truyện), của Văn Lang truyền sang Trung Quốc, chữ Diệc đồng âm với Dịch nên người Trung Quốc chuyển sang gọi là Kinh Dịch. Diệc là một loại với Chu Dịch lại trùng tên với Tích dịch là con thằn lằn biến sắc nên Trung Hoa lấy hì́nh tượng con vật này để giảng chữ Dịch là biến dịch, bất dịch và giao dịch. Diệc là loài chim nên Diệc Thư còn gọi là Điểu Thư. Điểu Thư người Tráng (ở Vân Nam, Quảng Tây) đọc thành Lạc Thư. Theo lối tam sao thất bản Lạc Đồ (đi cặp với Hà Đồ) biến thành Lạc thư (mặc dầu chỉ là đồ chứ không có thư). Từ đó Hà Đồ và Lạc Thư được nâng lên thành khởi nguồn của Kinh Dịch. Văn Lang tam sao thất bản thành Văn Vương.Trước thời Tần không có sách nào nói chuyện Văn Vương làm Dịch, chỉ đến đời Hán lợi dụng việc Tần Thuỷ Hoàng đốt sách,Tư Mã Thiên, nhà Sử Học lừng danh của Trung Quốc bằng tài năng và uy tín của mình đă phù phép đưa Văn Vương vào thay Văn Lang. Tư Mã Thiên chỉ nói như vậy chứ không có dựa vào tài liệu nào cả, mọi việc ông biết về Dịch đều do cha ông là Tư Mã Đàm truyền lại, suy cho đến cùng thì Tư Mã Đàm là đồ đệ của đồ đệ Khổng Tử, mà Không Tử thì không nói gì về việc Văn Vương làm Dịch. Cơ cấu của Dịch là tượng, các nhà làm Dịch quan sát tượng của quẻ rồi từ quẻ mới đặt lời. 2. Hồ Thích trong "Lịch sử logic học thời tiên Tần" cũng nhận định như vậy: "Học thuyết logic quan trọng nhất trong Kinh Dịch là học thuyết về tượng. Chữ "tượng" này có một lai lịch rất thú vị. Nó vốn là chỉ một con voi. Hàn Phi (chết năm 233 trước công nguyên) từng thuyết minh về sự phát triển của nghĩa chữ này như sau "Người ta ít thấy con voi sống (vì nó chỉ sinh sản ở các nước "Nam Man"),nên theo hình vẽ mà nghĩ tới nó. Cho nên điều mà mọi người lấy ý để nghĩ tới, đều gọi là tượng"(Hàn Phi tử, Giãi Lão). Chữ Dịch gồm chữ nhật ở trên với chữ vật ở dưới, hai chữ này đi với nhau vô nghĩa nên người Trung Hoa giảng lệch đi cho chữ vật là chữ nguyệt để tạo thành cặp hội ý nhật nguyệt, ý nói mặt trời, mặt trăng thay nhau lặn mọc; ngày đêm thay nhau biến dịch.Cho nên trước hết Dịch có nghĩa là biến dịch. Chữ Dịch người Hoa còn đọc là Diệc(Từ điển Khang Hy,Người nước Lỗ thời Khổng Tử đọc Dịch là Diệc. Khi ta nói Kinh Diệc, nhiều người Việt chúng ta nghĩ là ta đọc chệch âm Dịch thành âm Diệc,thực ra âm Dịch là từ âm Diệc mà ra. 3. Học giả Nguyễn Thiếu Dũng, qua nhiều nghiên cứu, ông đã nêu ra một số chứng lý để minh chứng rằng Kinh Dịch là sáng tạo của người Việt Nam với luận cứ: - chứng lý vật thể: Kinh Dịch xuất hiện tại Việt Nam một ngàn năm trước khi có mặt tại Trung Hoa-Tại di chỉ xóm Rền, thuộc nền Văn hoá khảo cổ Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ đã đào được một chiếc nồi bằng đất nung trên có trang trí bốn băng hoa văn, mỗi băng nầy tương đương với một hào trong quẻ Dịch, theo phép đọc Hỗ thể thì đây chính là hình khắc của quẻ Lôi Thủy Giải. Đây có thể xem là chứng tích xưa nhất trên toàn thế giới hiện chúng ta đang có được về Kinh Dịch. Lôi Thủy Giải là mong được giải nạn nước quá tràn ngập (lũ lụt), hay nước quá khô cạn (hạn hán). Niên đại của Văn hóa Phùng Nguyên được Hà Văn Tấn xác định: “Phùng Nguyên và Xóm Rền đều là các di chỉ thuộc giai đoạn giữa của văn hóa Phùng Nguyên”. - Chứng lý ngôn ngữ học: Một số tên quẻ Dịch là tên tiếng Việt không phải tiếng Trung Hoa: Người ta thường gọi Kinh Dịch hay Kinh Diệc và cứ đinh ninh Diệc là do Dịch đọc chệch đi, kỳ thật tổ tiên ta nói Kinh Diệc và người Trung Hoa đã đọc chệch đi thành Dịch. Tiếng Trung Hoa Dịch còn có thể đọc là Diệc(Xem Khang Hy Từ Điển). Diệc là một loài chim nước, có họ với loài cò. Đây là những loài chim quen thuộc với đồng ruộng, với văn minh nông nghiệp, văn minh Văn Lang. Kinh Dịch là kết tinh của văn minh nông nghiệp, các nhà sáng tạo kinh Dịch Việt Nam lấy hình ảnh con diệc, con cò làm tiêu biểu cho hệ thống triết học của mình là hợp lý, nhưng người Trung Hoa muốn làm biến dạng cho khác đi, cho rằng chữ Dịch là hình ảnh con tích dịch - một loại thằn lằn hay biến đổi màu sắc theo thời gian chẳng thân thiết gần gũi gì với người nông dân cả. Điều này đã được thể hiện rất rõ trên trống đồng Đông Sơn- một biểu tượng cho văn minh Việt Nam đã đươc Liên hợp quốc công nhận. 4. Ở bài viết này chúng tôi chia sẻ quan điểm Kinh Dịch là có nguồn gốc từ văn minh Bách Việt, còn cụ thể của tộc nào trong Bách Việt thì lại là chuyện khác, cần nhiều bằng chứng có thuyết phục về mặt khoa học, xin đưa những ý kiên sau để minh chứng cho luận điểm của mình: 4.1. Ngôn ngữ: Theo quan điểm cá nhân chúng tôi tên tám quẻ đơn: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài dứt khoát không phải là tiếng Hoa, nếu là tiếng Hoa được ký âm lại thì tại sao các các học giả thời Cổ đại ở Trung Hoa( từ Phục Hy, Chu Văn Vương tới Khổng Tử), phải chuyển ngữ sang tiếng của họ(?). Các học giả Trung Hoa rất lúng túng khi giải nghĩa nguồn gốc tên những quẻ này vì họ cứ cho đó là tiếng Hoa nên tìm mãi vẫn không lý giải được, vì vậy phải chuyển các khái niệm sang Hoa ngữ để người Hoa có thể hiểu được, sau đây là bảng so sánh để tiện theo dõi: Bát Quái(tám quẻ đơn) Càn Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Khôn Đoài Thiên Thủy Sơn Lôi Phong Hỏa Địa Trạch Tiān Shuǐ Shān Léi Fēng Huǒ Dì Zé Đây là bằng chứng “Sống”, mà ngay phần nhập môn người Hoa đã thể hiện họ không phải là tác giả của Dịch học. Có thể khẳng định tác phẩm Kinh dịch như hiện nay chúng ta thấy được hình thành qua nhiều giai đoạn khác nhau. Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng, thực chất của 8 quẻ đơn nên được hiểu là các ký tự ( chữ viết) được dùng để chỉ các sự vật và hiện tượng tồn tại khách quan trong vũ trụ: Càn( là trời, không gian; Khảm là nước, sông hồ, biển; Cấn là núi non; Chấn là sấm, chớp; Tốn là gió bão; Ly là lửa, Khôn là đất đai đồng bằng; Đoài là ao hồđầm lầy. Mặt khác việc sử dụng hai ký hiệu là hai vạch (- -) (-) đây là dạng nguyên sơ và tối giản nhất khi con người sơ khai có thể dùng để diễn đạt điều gì đó, còn việc tại sao lại dùng cấu trúc 3 để hình thành một ký tự gọi là một khái niệm để chỉ các sự vật hiện tượng khách quan trong vũ trụ sẽ được trình bày ở phần sau. 4.2. Lý thuyết triết học về bản thể: Chúng tôi cho rằng: Kinh Dịch khởi đầu là học thuyết về quá trình hình thành của vũ trụ từ vô hình đến hữu hình, tức là lý thuyết về bản thể luận (ontology), đây là vấn đề có tính quyết định luận cho vũ trụ quan triết học. Như vậy việc coi bản thể vũ trụ khởi nguyên từ khílà lựa chọn rất khoa học và có thể nói phải có một trực giác hết sức cao siêu. điều này phải đến khoảng giữa thế kỷ XX mới được vật lý hiện đại xác nhận qua giả thuyết về Vụ nổ lớn (Big Bang), theo đó sự khởi nguyên của vũ trụ cũng bắt đầu từ dạng khí qua vận động của các cơn lốc vũ trụ, khi nhiệt độ hạ dần xuống, thể khí chuyển sang thể rắn các khối thể rắn này chính là các hành tinh chuyển động theo quỹ đạo khác nhau xung quanh mặt trời. Sau đó một hành tinh là trái đất của chúng ta xuất hiện khí quyển, rồi qua các vận động tạo ra núi, sông, biển, sấm chớp, gió, lửa, châu thổ, cuối cùng là các loài sinh vật xuất hiện. Như vậy Kinh Dịch là một lý thuyết khoa học về sự hình thành và vận động của vũ trụ. Điều quan trọng Kinh Dịch ngay từ đầu đã là một lý thuyết có tầm phổ quát, diễn đạt được qui luật vận động của vũ trụ theo một trình tự rất logic, vì vậy theo thời gian nó được các bộ óc mẫn tiệp triển khai theo hướng bổ xung và diễn dịch thêm cho dễ hiểu hơn mà thôi. Do tính phổ quát rộng lớn nên Kinh Dịch có tầm ứng dụng cho mọi lĩnh vực của tự nhiên và đời sống xã hội. Cho đến nay ai cũng biết rằng, bản thân vũ trụ cũng có thời điểm hình thành và phát triển theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, cụ thể hơn các sinh giới cũng có sự phát triển từ vô cơ đến hữu cơ, từ thực vật đến động vật. từ sinh vật đơn bào đến sinh vật có cấu trúc phức tạp nhất là con người. Quá trình hình và vận động này được tính bằng nhiều triệu năm, bản thân khái niệm “Dịch” cũng là khái niệm dùng để chỉ sự vận động và thay đổi. 4.3. Nguyên lý phát triển nhị phân: Lý thuyết phát triển của Kinh Dịch cho rằng: từ thái cực vận động sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái… điều này được Toán học diễn đạt như sau: 20®21®22®23…chúng tôi khẳng định đây chính là nguyên lý gốc của sự vận động và sinh thành của sinh giới, bằng chứng là: Phương pháp sinh sản của tất cả mọi loại tế bào, là cấu trúc nhỏ nhất, cấu thành các cơ thể sinh học của sinh vật(kể cả tề bào của con người là sinh vật cao cấp nhất) cũng theo nguyên lý nhị phân. như vậy có thể nói một cách khái quát Kinh Dịch đã diễn giải được tất cả các hiện tượng vận động và phát triển của tự nhiên, từ đó suy rộng ra cho những tiến triển xã hội trong quá trình vận động và thay đổi. 4.4. Vấn đề quẻ đơn và quẻ kép của Kinh Dịch Theo chúng tôi thấy nguồn gốc tám quẻ đơn nền tảng tạo ra Kinh Dịch đương nhiên là của nhóm cư dân Bách Việt, việc tổ hợp thành 64 quẻ kép là sản phẩm thời Chu, sau này đến thời nhà Hán nhà Dịch học Tiêu Diên Thị cùng môn đệ là Kinh Phòng, làm ra tác phẩm Dịch Lâm, bằng cách tổ hợp mỗi quẻ kép thành 64 quẻ, mỗi quẻ gồm 12 hào , đưa tổng số quẻ lên 4096 quẻ, mỗi quẻ được giải thích bằng 1 bài thơ bốn câu gồm 16 chữ dùng cho bói toán. Tuy nhiên thuật này ít được phổ biến do quá phức tạp. Trong một thời gian rất dài đa số các nhà nghiên cứu về Kinh Dịch đều thuần túy chỉ coi đây là cuốn sách về bói toán, “ Dịch chủ bốc phệ”. Đặc biệt khi học thuyết Ngũ Hành ra đời- Đây là học thuyết về phương thức vận động của các sự vật hiện tượng theo hai chiều sinh và khắc- các quẻ đơn của Kinh Dịch cũng được sắp xếp theo ngũ hành thì khả năng ứng dụng của Kinh Dịch được mở rộng rất nhiều. Từ Kinh Dịch, người ta đưa ra nhiều cách bói toán khác nhau cho nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, cũng như cho số phận của từng cá nhân, chi tiết hơn là đến các hành vi xã hội cũng được sử dụng Kinh Dịch để dự báo một cách chi tiết. Nói tóm lại nguồn gốc Kinh Dịch là của cư dân Bách Việt, Sau này với sự xâm thực của Hoa tộc Kinh Dịch được phát triển thêm qua nhiều giai đoạn như đã trình bày ở trên./.
  10. MỘT SỐ MỆNH ĐỀ TRONG CHU DỊCH Nguyễn Đức Tôn Chu dịch là bộ sách kinh điển có ảnh hưởng đến văn hóa Đông phương, nội dung rất sâu rộng. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ tìm hiểu một số khái niệm chính như: thời trung, thái hòa, nhất âm nhất dương chi vị đạo, đạo - khí. Dịch quan niệm mọi sự vật trên đời đều có hai mặt, hai mặt này mâu thuẫn nhau nhưng lại cùng nương tựa nhau cùng tồn tại. Chính nhờ sự xô đẩy của những mâu thuẫn này khiến sự vật phát triển tiến lên. Để biểu đạt tư tưởng biến hóa âm dương này, Dịch dùng phù hiệu: vạch liền (—) là dương, vạch đứt (---) tượng trưng âm (phần nói về nhất âm nhất dương chi vị đạo).Để sự vật phát triển thuận lợi, Dịch đưa ra khái niệm “thời trung” để hành động. Thời trung hàm ý là thời cơ thuận lợi nhất.Mục tiêu lý tưởng của Dịch là Thái hòa. Thái hòa là một trạng thái âm dương hài hòa, mọi mâu thuẫn được điều hòa.Dịch quan niệm trời, đất, người cùng chung một quy luật vận hành chi phối. Con người phải hành động theo quy luật “nhất âm nhất dương chi vị đạo”. Lão Tử cũng phỏng theo tự nhiên để đề ra học thuyết của mình nhưng ông không giống Dịch ở chỗ Dịch làm theo quy luật âm dương biến hóa còn Lão Tử lại đề ra thuyết vô vi có nghĩa là con người phải làm theo tự nhiên, không được làm trái tự nhiên, không được làm theo ý riêng. THỜI – THỜI CƠ – THỜI TRUNG Quái (quẻ) là đơn vị cơ bản của Dịch. Mỗi quẻ có một chủ ý tư tưởng. Quái đại biểu cho một sự vật cụ thể. Không cô lập tồn tại mà ở vào một hoàn cảnh, điều kiện, thời gian nhất định. Chữ thời (時)này không phải là đơn vị thời gian đơn thuần mà là trạng thái tồn tại và là phương hướng phát triển của sự vật cụ thể như xu thời chẳng hạn. Đó là phạm trù triết học. Như vậy mỗi quái mỗi hào đại biểu cho một thời, Dịch rất chú trọng chữ thời này. Vương Bật nói: “Phù quái giả thời dã, hào giả thích thời chi biến giả dã” (Quái là thời, hào là sự biến đổi theo thời). Mỗi quẻ có sáu hào thể hiện quá trình biến hóa của sự vật đó trong điều kiện nhất định trong một quái. Hào là chủ thể hành vi chịu sự chi phối của cái thời của quái (khách quan hình thể). Hào biến đổi như vậy gọi là thích thời bằng hai cách gặp thời tốt thì nó vận động thuận theo (thời nghi), gặp thời không tốt nguy hiểm thì nó tùy thời mà chế ước cái bất lợi (thời dụng). Trình Tử nói: “Tùy thời biến dịch dĩ tòng đạo” (biến đổi tùy thời để theo đạo của mình). Chữ “thời” ở Dịch có một hàm ý quan trọng là biến dịch. Hệ từ nói “Biến thông giả xu thời giả dã” hàm ý các hào cương nhu biến thông mục đích để xu thời để làm sao thích hợp nhất với thời thế (thích thời). Đó là thời trung; trung là hợp lý, hợp tình không thái quá không bất cập. Tri cơ tri độ cũng liên quan đến thời trung. Chữ “trung” cũng mỗi thời mỗi khác. Trung phải kết hợp với thời. Hành động phải thuận với thời thì hành động đó mới gọi là đắc trung được; có vậy mới hòa thuận. Trung kết hợp với thời chính là thường và biến. Thường và biến là nguyên tắc cơ bản của đạo đức trong Dịch. Nó thuộc phạm trù thống nhất biện chứng. Trong truyện Kiều cụ Nguyễn Du cũng có câu: Xưa nay trong đạo đàn bà Chữ Trinh kia cũng có ba bảy đường Có khi biến có khi thường Có quyền nào phải một đường chấp kinh. Giống như Thoán truyện quẻ Mông nói “dĩ hanh hành, thời trung dã” ngụ ý hành động hanh thông là vì hành động ấy hợp với thời, đáng làm thì làm, đáng dừng thì dừng, như vậy là hợp với khách quan, hợp tình thế. Như vậy chữ thời này không phải là thời gian mà nó bao gồm rất rộng, gồm thời thế, thời vận, thời cục, thời cơ… Vậy thời là một khái niệm, một phạm trù: Ở một thời gian không gian điều kiện nhất định, quan hệ giữa các yếu tố đã tạo ra một hoàn cảnh, tình cảnh, tình trạng, tình hình, tình thế, thời thế, thời cơ, thời cục… Nó không chỉ hàm chứa tình cảnh hay tình hình chủ khách mà còn hàm chứa đạo lý xử thế. Ghi chú: Chủ: Chủ thể, bản thân ta. Khách: Khách thể, hoàn cảnh khách quan. Giống như chữ thời cơ mà cụ Nguyễn Trãi đã nói “thời cơ, thời cơ thực không nên bỏ lỡ”. Nhân lúc quân Minh ở nước ta suy yếu, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ chỉ huy nghĩa quân quyết định mở cuộc tiến quân ra Bắc. Do biết tranh thủ thời cơ nên quân ta đã giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng. THÁI HÒA Thái hòa là một khái niệm của Dịch truyện. Thoán truyện quẻ Càn nói: “Càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh, bảo hợp thái hòa nãi lợi trinh. Thủ xuất thứ vật, vạn quốc hàm ninh”. Đạo Càn biến hóa, vạn vật nhờ đó mà tính mệnh được đảm bảo đầy đủ, xã hội phát triển yên vui, thiên hạ thái bình. Sáu hào của quẻ Càn đều là dương không có cương nhu pha tạp, không có nhu lấn cương, các hào từ đều không nói xấu. Đó là nói thiên thời tiết khí biến hóa cực kỳ hài hòa, gió mưa thuận lợi, muôn vật được hưởng lợi. Trương Tái và Vương Phu Chi đều giải thích thái hòa là hai khí âm dương hội hợp. “Yên huân chi khí” hai thế lực âm dương kết hợp một cách hoàn mỹ như vậy thái hòa cũng có thể gọi là đạo. Đạo là quá trình khí hóa vạn sự vạn vật trên thế giới đều cùng tồn tại cùng đấu tranh, cùng diệt cùng sinh, tương phản tương thành, luôn luôn vận động biến hóa để đạt sự hòa hài. Như vậy hòa hài trong đối lập. Nho gia cho rằng chỉ có trung không thiên lệch không thái quá không bất cập mới hòa. Trung là điều kiện để hòa. Xử sự phải lấy quy tắc thời trung mới đạt được sự thái hòa. Vương Phu Chi nói: “Thiên địa dĩ hòa thuận vi mệnh, vạn vật dĩ hòa thuận vi tính”. Bản chất của trời đất, vạn vật đều mang đức tính hòa thuận (thái hòa). Sự hài hòa này phải phấn đấu tạo ra. Nó không phải là một vật có sẵn. Do đó Chu Dịch chủ trương “tự cường bất tức”. Khác với đạo gia chủ trương vô vi. Học thuyết âm dương của Chu Dịch đã dựa vào 64 quẻ 384 hào để nghiên cứu diễn tả khái quát trừu tượng về hai loại thế lực đối lập đó. Dựa vào sự phân tích khách quan tình thế ta hiểu được hành vi làm thế nào để chuyển họa thành phúc, biến xung đột thành hài hòa. Tuy nhiên Dịch nhấn mạnh không nên theo một công thức nhất thành bất biến mà phải biết thông quyền đạt biến tùy thời thế. Có thể nói học thuyết âm dương là nói về nguyên lý. 64 quẻ là sự phân tích hình thế mỗi thời, 384 hào tượng trưng hành vi nên làm của con người để ứng dụng. Thái hòa là trật tự tự nhiên của vũ trụ, con người coi đó là lý tưởng. Quan hệ âm dương là quan hệ hữu cơ, hai bên phải kết hợp với nhau như quẻ Thái, âm phải cầu dương, dương phải cầu âm, không nên cô độc tách rời nhau như quẻ Bĩ. Nếu sự kết hợp đạt được sự hoàn hảo thì đó là sự hòa hài lý tưởng. Chu Dịch quan niệm trời đất âm dương, cương nhu, trên dưới v.v… là mối quan hệ hữu cơ mỗi danh phận đều có chức trách nhiệm vụ phải chấp hành, đứng trên vị trí của bản thân để xem xét giải quyết những yêu cầu chính đáng của đối phương. Nếu đảo ngược âm lại muốn làm như dương sẽ loạn, dương ở trên lại lấn át âm ở dưới sẽ không được dưới ủng hộ. Ở quẻ Hằng, quẻ Dự cương nhu hiệp điệu nhất trí nên trên dưới hòa vui. Còn nếu dương cương hay âm nhu một bên phát triển quá mức phá vỡ sự cân bằng sẽ dẫn đến tình trạng bất ổn ví dụ ở quẻ Khốn, Đại quá. Còn đối với vấn đề cách mạng, Dịch không phản đối mà tán thành (nội dung chữ cách mạng ở Dịch có nghĩa là sửa đổi, biến đổi chính sách sao cho hợp lòng dân “thuận thiên ứng nhân” để làm xã hội tiến lên “kỳ hối nãi vong” (làm biến cách đúng sẽ làm hết hối hận) - quẻ Cách. Ngoài ra, Dịch còn chủ trương phải kết hợp giữa lý tưởng và tình hình cụ thể, tránh không tưởng, xử sự sao cho cương nhu phù hợp với thời thế với xu hướng thời đại. Âm dương có giao cảm thì vạn vật mới sinh sinh hóa hóa phát triển không ngừng (quẻ Hàm). Lịch sử chứng minh quyền lực là khái niệm tương đối, quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo chỉ là tương đối, nó luôn luôn chuyển hóa. Nhiều những triều đại xưa giống như Tần Thủy Hoàng đã không dùng chính sách “nhân chính” không biết cư an tư nguy lại dùng chính sách chuyên chế quân chủ, dùng võ trị thay cho văn trị, áp bức nhân dân cuối cùng đã bị diệt. Nhà Trần có chính sách đúng hợp xu thế thời đại khiến vua tôi dân chúng một lòng quyết tâm đứng lên chống giặc ngoại xâm Nguyên Mông, vì thế mặc dầu thế lực giặc mạnh ta yếu nhưng cuối cùng quân địch vẫn đại bại. Hồ Quý Ly không nắm được lòng dân nên thất bại trước sự xâm lược của quân nhà Minh. Đúng như hai câu thơ trong bài thơ “Quan Hải” vịnh hải khẩu Bạch Đằng về trận chiến chống quân Minh thất bại của cha con Hồ Quý Ly Lật thuyền mới biết dân là nước Cậy hiểm sao bằng dựa với dân. Thái - hòa là một mục tiêu quan trọng để phấn đấu. Nhà Nguyễn cũng đặt tên một cung điện ở cung đình Huế là điện Thái Hòa. Chẳng những xưa kia mà ngày nay nhân loại cũng hướng về sự hòa bình ổn định hợp tác hữu nghị, đó chính là sự thái hòa. Việc quốc gia đã vậy việc gia đình cá nhân cũng không phải là ngoại lệ, người ta ai cũng mong muốn có một gia đình êm ấm thuận hòa, có thuận hòa mới có hạnh phúc. Có thể nói thái hòa dựa trên nguyên tắc âm dương biến dịch; nó là tính mệnh của trời đất vạn vật kể cả con người; nó là một trạng thái động luôn luôn phải biến đổi phù hợp mới bền vững. NHẤT ÂM NHẤT DƯƠNG CHI VỊ ĐẠO Một âm một dương cũng có thể nói một bên là âm một bên là dương mới thành một cặp, một hiện tượng. Chỉ một âm hay dương sẽ là thiếu hụt, đó là sự khái quát tính chất và biến hóa của sự vật, là kết quả của tư duy biện chứng. Khái niệm âm dương trong Dịch rất rộng. Nó bao trùm cả thiên đạo, địa đạo, nhân đạo. Dịch dùng phù hiệu (-) đại biểu dương, phù hiệu (--) đại biểu âm để tượng trưng tác dụng và tính chất của mọi hiện tượng cương nhu động tĩnh của sự vật. Âm dương chỉ là nói về thuộc tính của mọi hiện tượng biến hóa và tính chất của sự vật trong vũ trụ. Nó không phải là yếu tố cấu tạo. 1. Nhất âm nhất dương thừa nhận sự vật có hai mặt đối lập nhưng thống nhất Theo Dịch: Trời là dương, đất là âm, nóng là dương, lạnh là âm, đêm là âm, ngày là dương, cương là dương, nhu là âm… Dịch quan niệm từ hiện tượng tự nhiên đến xã hội con người đều tồn tại hiện tượng hai mặt đối lập nhau ấy gọi là đạo. Vũ trụ bao la vạn tượng: Âm dương cương nhu, động và tĩnh, biến đổi và không biến đổi, giản đơn và phức tạp, mâu thuẫn và hài hòa, đối đầu và thống nhất v.v… Đứng về quái vạch mà xét, ngoài hai quẻ cơ bản Càn và Khôn còn lại 62 quẻ trong Dịch đều có hai loại hào âm và dương. Ngay việc sắp xếp 64 quẻ cũng được sắp xếp từng đôi một theo sự đối lập như Càn - Khôn, Truân - Mông, Nhu - Tụng v.v… Như thế cũng là một âm một dương. Tóm lại, nếu tách khỏi sự đối lập thì sẽ không có được 64 quẻ tất nhiên sẽ không có Chu Dịch. 2. Hai mặt này luôn luôn biến đổi tùy vào yếu tố thời gian, không gian, điều kiện… lúc đó Hai mặt âm dương này tuy là đối đầu, tương phản nhưng không phải là không biến đổi, động cực sẽ tĩnh, tĩnh cực sẽ động, trong tĩnh có động, trong động có tĩnh, một sự việc hoặc thành dương cương hoặc thành âm nhu tùy thuộc vào yếu tố thời gian, không gian, hoàn cảnh, điều kiện lúc đó. Ví dụ giữa vợ chồng, chồng là dương vợ là âm, nhưng giữa mẹ và con thì mẹ lại là dương, con là âm. Sự đối lập đó lại thống nhất. Chúng tương phụ tương thành giống như quái hào đều có biến thông cái nọ biến thành cái kia tốt có thể biến thành xấu; hành động có thể tiến hay thoái tùy thời cơ, biến đổi đó cũng nằm trong khái niệm nhất âm nhất dương. 3. Cái gì làm động lực thúc đẩy sự biến hóa đó? Dịch quan niệm không phải do ngoại lực thúc đẩy sự biến hóa mà động lực của sự biến hóa đó chính là sự mâu thuẫn nội tại của sự vật; yếu tố mâu thuẫn tác động lẫn nhau thúc đẩy sự vật tiến lên. Đối với xã hội, chính sự mâu thuẫn trong xã hội đã thúc đẩy xã hội tiến lên. Dịch thể hiện sự biến hóa trong xã hội bằng quẻ Cách. Quẻ Cách thoán truyện nói: “Thiên địa Cách nhi tứ thời thành. Thang Vũ cách mệnh thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân. Cách chi thời đại hĩ tai”. Như vậy, biến hóa mang tính tất yếu quan trọng làm lịch sử phát triển. 4. Khái niệm nhất âm nhất dương cũng thể hiện trong phạm trù “loại tộc biện vật” “trong đồng có dị”, “âm dương biến hóa tiêu trưởng” Dịch chủ trương xem xét sự vật trong cái toàn thể, xét cái riêng trong cái chung, sự vật này tuy mâu thuẫn với sự vật kia nhưng chúng có điểm chung cùng một loài. Như vậy đồng và dị cùng tồn tại như ở quẻ Khuê: hạ Đoài thượng Li. Khuê là nói về sự bài xích, chia lìa nhưng trong sự trái nhau ấy lại có sự tương đồng cùng tồn tại. Ví dụ trời và đất, nam nữ, một nam một nữ là người khác nhau (bài xích nhau) nhưng kết hôn lại trở thành vợ chồng. Quân tử và tiểu nhân, quân và dân, chúng trái ngược nhau nhưng cùng tồn tại, nếu một bên không tồn tại thì bên kia cũng không tồn tại. Quan hệ âm dương là quan hệ dựa vào nhau cùng tồn tại, cương nhu tương tế sẽ thông đạt. Quân (lãnh đạo) và dân thống nhất đoàn kết thì nước sẽ thịnh trị. Cho nên Dịch chủ trương không đấu tranh triệt tiêu một bên mà chỉ đấu tranh cho âm dương hài hòa (Thái hòa). Tóm lại “nhất âm nhất dương” là một mệnh đề rất quan trọng rất cơ bản của Chu Dịch, có thể nói nó bao hàm hầu như toàn bộ nội dung chính của Dịch. Nguyễn Mộng Tuân trong bài phú núi Chí Linh ông viết: Bao nhiêu nghịch bấy nhiêu thuận Khéo tùy cơ lợi dụng thật tột bậc anh hùng. Bài phú ca ngợi tinh thần anh dũng, mưu trí của nghĩa quân Lam Sơn, họ đã biết vận dụng tốt quy luật âm dương mâu thuẫn thống nhất, biết chọn được thời cơ hành động, biết tiến biết thoái nên đã biến cái không thuận lợi thành thuận lợi. CHỮ ĐẠO TRONG ĐẠO ĐỨC KINH Để giúp độc giả dễ phân biệt chữ “đạo” ở Kinh dịch với chữ “đạo” trong Đạo đức kinh, tôi xin nêu tóm tắt một vài mệnh đề nói về “đạo” của Lão Tử. 1. Phản giả đạo chi động, nhược giả đạo chi dụng.Vạn sự vạn vật trong vũ trụ phát sinh phát triển đều do các mâu thuẫn đối lập thống nhất thúc đẩy nhau. Lão Tử quan niệm mâu thuẫn chuyển hóa theo hướng ngược lại tốt xấu, phải trái... Để giúp cho sự việc có kết quả tốt ta phải khiêm tốn, tự coi mình còn yếu hèn, thấp kém; từ đó ta phấn đấu rèn luyện, trưởng thành. Đó là ý nghĩa của câu “nhược giả đạo chi dụng”. Trong Đạo đức kinh, Lão Tử còn nêu rất nhiều những câu nói về đạo lý trên như “tri hùng thủ thư, tri vinh thủ nhục...” (đại ý câu này nói muốn trở thành mạnh thì trước tiên phải tự cho mình thấp hèn). Nói một cách tổng quát, giữa hai thái cực như (mạnh yếu, vinh nhục) của mâu thuẫn, ta nên tự coi bản thân mình đang ở cực đối diện với cực mình mong muốn đạt tới để phấn đấu. Cách làm này khác với nho gia. Nho gia quan niệm giữa hai thái cực người ta chọn đoạn giữa (trung đoạn), tư tưởng này còn gọi là “trung dung”. “Thời trung”, “âm dương hài hòa”, phạm trù “thái hòa” cũng mang tư tưởng này. 2. Đạo pháp tự nhiên: Đạo làm theo tự nhiên Lão Tử nói “nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên”. Đại ý câu này nói vạn vật trời đất vận hành theo tự nhiên, con người cũng phải làm theo tự nhiên. Đạo không có tư ý, cảm tình riêng được ví như con chó rơm (ngày xưa lúc cúng tế người ta dùng chó rơm, cúng xong người ta vứt bỏ chó rơm đi). Từ đây Lão Tử đề ra thuyết “vô vi”, “vô vi” có nghĩa là không làm càn, không can thiệp, không gò ép mà để sự vật phát triển tự nhiên. Ông còn đề ra tư tưởng Đạo không cậy công chiếm ngôi cao: “thánh nhân xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo, vạn vật tác yên nhi bất từ, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị công thành phất cư. Phù bất cư cố bất khứ”. Đại ý câu nói này:Trong vương quốc của thánh nhân mọi vật được tự nhiên phát triển. Thánh nhân không gò ép, ra mệnh lệnh mà chỉ dưỡng dục muôn vật và không coi là của riêng mình, có công lao nhưng không cậy công. Tạo dựng sự nghiệp nhưng không ở vị trí cao. Vì không coi mình là người có thành tích nên không bị phế truất. - “Vô vi chi chính”: Trị lý quốc gia không gò ép, để dân chúng được phát triển tự do. Lão Tử ví cách trị dân không gò ép này như phương pháp đun nấu cá con. Đun nấu cá con nếu ta năng khuấy đảo cá sẽ nát (chương 60 Đạo đức kinh). Như vậy Lão Tử chủ yếu khuyên người ta phải tu thân, rèn luyện, không ngạo mạn, không tham lam vị kỷ. Nếu là nhà cầm quyền thì không cấm đoán gò ép dân mà hết lòng vì dân, coi mệnh vận của dân là mệnh vận của bản thân mình. Về xử thế, ông khuyện dụng “nhu”, “tri hùng thủ thư”, “tri vinh thủ nhục”... Còn Kinh dịch lại đề cao cách tư duy, xử sự sao cho thích hợp, âm dương hài hòa, chú trọng thời trung, “trung đoạn”, “trung dung”. - Có thể nói rằng ở đây tư tưởng của Lão Tử và của Nho gia bổ sung cho nhau sẽ tạo ra một con người lý tưởng, có tư cách, có nhân phẩm, không tham lam, khiêm hư, có trí tuệ xử sự lại biết chọn cách làm thích hợp hài hòa. Dịch lấy tư tưởng “tự cường bất tức” (ý nói con người ta phải luôn luôn tự cường phấn đấu). Còn Lão Tử lấy “nhược giả đạo chi dụng” “tri hùng thủ thư” mới nghe ta tưởng hai cách xử thế khác nhau nhưng thực ra chúng đều mang tính tích cực. Hay ở mệnh đề “vô vi nhi vô bất vi” (chương 48 Đạo đức kinh) đại ý câu này nói nếu ta không làm càn bậy sự việc sẽ thành công. Điều đó có nghĩa là tránh những mâu thuẫn sai trái nổ ra trong vấn đề tiến lên từ đó trở thành chủ động thực hiện tư tưởng “vô bất vi” không có gì là không thực hiện được. Như vậy vô vi có hàm ý không làm gì trái với quy luật để sự vật phát triển theo quy luật, nhờ đó mọi việc sẽ thành công. - Đạo ở Chu dịch có hàm ý là quy luật vận động biến hóa của sự vật, còn ở Đạo đức kinh của Lão Tử lại có hàm ý là căn nguyên là bản thể của vũ trụ. Lão Tử viết “Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh, uyên hề tự vạn vật chi tông” (chương 4 Đạo đức kinh) đại ý câu này nói đại “đạo” không hư nhưng tác dụng của nó lại tỏ ra không giới hạn. Nó uyên thâm tựa như gốc của vạn vật. “Tông” hàm ý là căn nguyên. Đạo tồn tại trước cả trời đất “ngô bất tri thùy chi tử, tượng đế chi tiên”. Còn vấn đề bản chất của “đạo” có nhiều ý kiến khác nhau, chưa có sự thống nhất: người cho “đạo” thuộc bản thể tinh thần, người cho “đạo” có tính vật chất như “nguyên khí” (khí chưa phân âm dương). Có người cho “đạo” là tinh vân lạp tử..., có người cho “đạo” là lý, là quy tắc, quy luật vận hành của vũ trụ, nó ngụ ở “nguyên khí” hay ở mọi sự vật giống như ở Chu dịch nói về “hình nhi thượng, hình nhi hạ” (hình nhi thượng là lý vô hình, hình nhi hạ là vật, là khí). Có lẽ phải đợi sau này các nhà nghiên cứu mới tìm ra được câu giải đáp chính xác). Xem thêm phần đạo – khí sau đây. ĐẠO - KHÍ Phạm trù đạo - khí do Dịch truyện đề ra. Dịch truyện nói: “Hình nhi thượng giả vị chi đạo, hình nhi hạ giả vị chi khí”. Đạo là chỉ những phép tắc, quy luật càn khôn âm dương biến dịch. Phép tắc là vô hình, nên gọi là “hình nhi thượng” (ở trên sự hữu hình); còn khí là chỉ quái hào vạch và những vật tượng hữu hình nên gọi là “hình nhi hạ” (là vật hữu hình ở dưới). Thảo luận quan hệ đạo - khí bắt nguồn từ Hàn Khang Bá thời Tấn. Hàn Khang Bá cho rằng mọi sự vật có hình có tượng đều là khí, cái gì không có hình không có tượng là đạo. Đạo không hình thể, không hình tượng vì thế gọi là “vô” nhưng ông ta lại coi “đạo” là cái căn bản của mọi sự vật hữu hình hữu tượng (âm dương hào tượng hay khí âm dương đều thuộc về lĩnh vực khí) còn “đạo” không hình tượng; âm dương phải dựa vào đạo để thành hình tượng. Không âm không dương mới gọi là đạo. Do đó ông đề ra lý luận huyền học “vô vi bản”. Khổng Dĩnh Đạt phát huy quan điểm của Hàn Khang Bá và cho rằng “đạo” là thể, “khí” là dụng. “Đạo” là không hình thể, Khí là chất hữu hình, coi “hữu” (có) được sinh ra từ “vô” (không), hình phải dựa vào đạo để tồn tại, có “đạo” rồi mới có “khí”, “đạo” có trước hình có sau, nhưng Dĩnh Đạt không giống với Khang Bá ở chỗ ông không coi Đạo là thực thể hư vô mà coi “đạo” là một cái gì vô hình. Phàm mọi thứ nếu chưa có hình chất cụ thể đều gọi là “đạo”. Hai khí âm dương và phép tắc âm dương biến hóa nếu không biểu hiện bằng hai vạch cương nhu để thành hào tượng của bát quái thì vẫn gọi là “đạo”. Dĩnh Đạt không giống Khang Bá, ông bác bỏ quan niệm của Khang Bá coi hư vô là nội dung bản thể và coi “hữu” sinh từ “vô”. Thôi Cảnh quan niệm trời đất vạn vật đều có hình chất; có hình thể, có thể chất là khí, là thể, còn chức năng và tác dụng của hình chất là đạo, là dụng. Ví dụ: Thân cành của cây cối là thể, là khí, còn tính năng sinh trưởng là dụng, là đạo. Đạo là chức năng và tác dụng của thực thể, nó phải dựa vào thực thể khí. Chức năng của thực thể là vô hình gọi là hình nhi thượng. Thể chất của thực thể hữu hình nên gọi là hình nhi hạ. Ông cho rằng không phải đạo hình nhi thượng có trước rồi mới có khí hình nhi hạ. Đạo phải nhờ vào thực thể khí mới thực hiện được chức năng và tác dụng của mình đối với thực thể. Hình nhi thượng “đạo” phải dựa vào hình nhi hạ “khí” để biểu hiện. Ông phản đối học thuyết đạo là thực thể và hữu sinh từ vô của phái huyền học. Thời Tống Minh Thanh: Trương Tái coi khí hóa là “đạo” (sự vận động biến hóa của “khí” là “đạo”). Ông coi “đạo” là vô hình, là quá trình vận động biến hóa của “khí”. Trình Di quan niệm âm dương là “khí”, “khí” là hữu hình, là hình nhi hạ. Khi khí âm dương tác động mới là “đạo” là hình nhi thượng. “Đạo” là cái lý khiến âm dương hoạt động được.Cái lý đó là vô hình, thuộc phạm vi hình nhi thượng đạo. Còn hai khí âm dương thuộc hình nhi hạ khí, nó là cái thể hiện ra cái lý âm dương. Hai cái đó là quan hệ thể dụng. Tuy nói “đạo” không phải là âm dương và cũng không thoát ly được âm dương, nhưng ông lại quan niệm “đạo” là gốc của “khí”, “lý” là gốc của “khí”. Chu Hi kế thừa quan niệm của Trình Di, ông coi cái hữu hình là “khí”, vô hình là “đạo’, nhưng không có “khí” thì “đạo” không biểu hiện được, còn “khí” không có “đạo” thì không dựng lập được. Âm dương là “khí”, nhưng chỉ cái lý khiến âm dương tác động mới là “đạo”. Tiến thêm một bước ông đưa ra học thuyết lý là gốc của “khí trong bản thể luận. Học phái Công Lợi ở thời Nam Tống Tiết Quý Tuyên cho rằng “khí” là thể, “đạo” là dụng, “đạo” là vô hình, thoát khỏi “khí” thì “đạo” không có chỗ để cư trú, “đạo’ thường tồn tại trong hình khí. Ông chủ trương “đạo” ngụ ở hình khí; ông đả kích học thuyết “đạo là gốc, khí là ngọn”. Phái tâm học Dương Giản không tán thành việc phân chia hình nhi thượng và hình nhi hạ mà chủ trương “đạo” - “khí” hợp nhất nhưng không coi hình khí là gốc mà lấy tâm làm gốc. Về sau, thời Nguyên Minh, khí học phái và tượng học phái đều chủ trương đạo khí hợp nhất hay đạo không tách rời khí. Đến Phương Dĩ Trí đưa ra học thuyết “đạo” ngụ ở “khí” có ảnh hưởng lớn đến Vương Phu Chi. Vương Phu Chi kế thừa khí học phái trong vấn đề “đạo” - “khí”. Ông đề ra mệnh đề “không có khí sẽ không có đạo”. Hình nhi thượng không tách khỏi hình nhi hạ, “đạo” và “khí” không rời nhau. Đứng về triết học, ông đề ra “thiên hạ chỉ có khí”, và coi “đạo” là đạo của “khí”, còn với “khí” không thể nói “khí” là đạo của “khí”. Ông chủ trương có “khí” mới có hình, có hình rồi sau mới có hình nhi thượng, thoát ly sự vật cá thể thì không có hình nhi thượng. Đạo thuộc hình nhi thượng phải nhờ vào khí hình nhi hạ để thể hiện. Đạo và khí thống nhất trong một cái hình không thể chia cắt dược. Như thế ông ta phủ định học thuyết thời Tống Minh “đạo bản khí mạt”. Thảo luận vấn đề “đạo” - “khí” là thảo luận vấn đề giữa cá biệt cái riêng và toàn thể cái chung, giữa bản chất và hiện tượng, giữa quy luật và thực thể. Mệnh đề thiên hạ chỉ có khí không những khẳng định vấn đề quy luật, vấn đề chung và nguyên tắc trừu tượng ngụ ở cá biệt sự vật có hình có tượng mà điều quan trọng là nó nói lên không có cá thể thì cũng không có quy luật, không có cá thể thì không có cái chung, không có hiện tượng thì không có bản chất. Như vậy ông đã giải quyết chính xác quan hệ đạo - khí. CÀN NGUYÊN HANH LỢI TRINH Là một mệnh đề rất hay gặp. Xưa kia các cụ dựng nhà cũng hay viết câu “Càn nguyên hanh lợi trinh” ở câu đầu nhà. Vậy ý nghĩa của câu đó là thế nào? Mệnh đề này có nhiều cách giảng, ta có thể chia ra hai cách chính: Cách 1: Theo lời văn bói toán Chu Hi và một số tác giả gần đây cho rằng Kinh Dịch khởi thủy là sách bói toán, nên câu “Nguyên, hanh, lợi, trinh” nên giảng theo ý nghĩa ban đầu của nó và họ giảng là “Đại hanh thông, chiêm vấn có lợi”. Trinh: Chiêm vấn. Lợi trinh: Việc chiêm vấn có lợi (đó là quẻ tốt). Cách 2: Giảng theo nghĩa mở rộng (Dịch truyện, Văn ngôn…) Vì nội dung của Kinh Dịch biến đổi, nó không còn là sách bói toán mà đã trở thành sách triết học nên câu “nguyên hanh lợi trinh” cũng phải giảng khác đi, thậm chí còn tỏ ra khiên cưỡng. Nó là quái từ của quẻ Càn mà Càn và Khôn là 2 quẻ cơ bản của 62 quẻ còn lại của Dịch. Dưới đây, xin nêu nội dung của những cách giảng đó. 1. Nguyên hanh lợi trinh được giải thích thành: Khởi đầu, hanh thông, thích nghi, chính bền. Nguyên: Nguyên thủy, khởi đầu. Hanh: Thông, hanh thông. Lợi: Hòa, hài hòa, thích nghi. Trinh: Chính, chính đạo, bền vững, phù hợp với quy luật quy phạm. Dịch quan niệm mọi sự vật đều có hai mặt đối kháng nhau nhưng lại nương tựa thống nhất nhau trong một thể, một sự vật. Đó là âm dương nhất thể lưỡng diện. Hai mặt âm và dương này thúc đẩy nhau sinh ra sự biến hóa làm sự vật phát triển không ngừng (âm dương thôi di nhi sinh biến hóa). Thuộc tính của Càn dương là yếu tố khởi đầu của quá trình biến hóa đó (nguyên là khởi đầu) còn Khôn âm làm nhiệm vụ vận chuyển giúp cho sự hình thành sự vật. Càn tư thủy, khôn tư sinh (Càn sinh Khôn dưỡng). Cái “hanh” của Càn là làm phẩm vật lưu hình; cái “hanh” của Khôn làm nhiệm vụ vận chuyển giúp cho sự hình thành sự vật, phẩm vật hàm hanh. Đạo trời vận hành theo quy luật tự nhiên nên không có gì là không thông, không chút đơn sai (nguyên hanh). Nếu sự phối hợp âm dương này đạt tới mức hoàn mĩ, không thiên lệch trung chính hài hòa đó là Thái - hòa (lợi trinh). Đó là đạo trời và là quy luật tự nhiên phổ biến tồn tại (chính cố). Cái gì mà đi ngược lại quy luật tự nhiên này sẽ bị diệt vong. 2. Nguyên hanh lợi trinh được giải thích theo quan niệm thiên nhân hợp nhất: Có tác giả còn mở rộng mệnh đề trên để nói về đức của người quân tử (nhân, nghĩa, lễ, tín). Đó là sự hợp nhất giữa đạo trời và đạo người. Dịch học không phải chỉ nghiên cứu tự nhiên đơn thuần mà là “khai vật thành vụ” tìm hiểu quy luật tự nhiên rồi áp dụng vào sự phát triển xã hội, chỉ đạo hành vi của bản thân, xu cát tị hung, chuyển họa thành phúc. “Nhân đạo khán thiên đạo”: Đạo người phải tuân theo đạo trời.. Văn ngôn nói: Nguyên giả thiện chi trưởng dã. Hanh giả, gia chi hội dã. Lợi giả nghĩa chi hòa dã. Trinh giả sự chi cán dã. Quân tử thể nhân túc dĩ trưởng nhân, gia hội túc dĩ hợp lễ, lợi vật túc dĩ hòa nghĩa, trinh cố túc dĩ cán sự. Quân tử hành thử tứ đức giả, cố viết: Càn, nguyên, hanh, lợi, trinh. Dịch: Nguyên giả thiện chi trưởng dã hanh giả gia chi hội dã, lợi giã nghĩa chi hòa dã, trinh giả… Nguyên: Căn nguyên sinh thành vạn vật, là đầu của mọi điều thiện, là nhân. Hanh: Thông, tập hợp mọi điều tốt đẹp mang ý quảng bá lưu hành ý đồ trời sinh vạn vật. Lợi: Thời, tùy thời mà chế nghi cho thích hợp ý nói ý đồ trời sinh vạn vật hoàn thành khiến mọi vật được thích nghi hài hòa. Lợi thể hiện điều nghĩa. Trinh: Chính, kiên trì giữ chính đạo. Cán: Cái căn bản ví như thân cây là chỗ dựa cho cành lá mọc. Người quân tử làm việc nhân việc thiện thì đủ để làm bậc quân trưởng (thủ trưởng), hội hợp điều tốt đẹp sẽ phù hợp với lễ, đem điều lợi cho vạn vật thì đủ để thể hiện điều nghĩa; kiên trì giữ chính đạo giữ nguyên tắc chính xác thì đủ để xử lý tốt sự việc (cán sự, đảm nhiệm trọng trách). Bốn loại mỹ đức của đạo người (nhân, lễ, nghĩa, trí (tín hay cán) phù hợp với: Nguyên hanh lợi trinh” của đạo trời. Nhân:Khởi đầu cho mọi đức tính (nguyên). Lễ: Hanh, là vạn vật trưởng thành (hanh). Nghĩa: Lợi, vạn vật được toại nguyện, phát triển đầy đủ (lợi). Trí:Cán sự, là sự hoàn thành vạn vật (trinh). 3. Giải thích theo quá trình hóa dục vạn vật Đối với đạo trời, đất, người, các nhà Dịch học (Khổng Dĩnh Đạt, Trình Di) quan niệm có bốn giai đoạn phát triển: Sinh dưỡng thành chung: Sinh ra, nuôi dưỡng, trưởng thành, kết thúc. Các tác giả đã đề ra nhiều mệnh đề khác nhau để giải thích “nguyên hanh lợi trinh”. a. Đứng về đạo trời Nguyên: Thời mới sinh. Hanh: Thời nuôi dưỡng. Lợi: Thời thu hái, trưởng thành. Trinh: Thời kết thúc. b. Đứng về đạo người (đã nói ở trên). Bốn giai đoạn đó là: Nhân, nghĩa, lễ, trí (tín, cán) c. Đứng về đạo đất: Cây cỏ biến hóa theo bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân: Cây mọc sinh nở. Mùa hạ: Cây lớn lên. Mùa thu: Hoa quả chín, thu hoạch. Mùa đông: Cất giữ, sử dụng (có người giảng “nguyên hanh lợi trinh” là xuân hạ thu đông). d. Đứng về khí hậu: Họ giảng mệnh đề “nguyên hanh lợi trinh” là ôn lương táo thấp. e. Đứng về bốn phương: Họ giảng là Đông Tây Nam Bắc 4. Trinh hạ khởi nguyên Mệnh đề “nguyên hanh lợi trinh còn mang thông điệp: Trinh hạ khởi nguyên. Dịch quan niệm sự biến hóa của vạn vật là không ngừng, “sinh sinh bất dĩ” “tuần hoàn vãng phục” hết rồi lại quay lại nên các nhà Dịch học đã đề ra thuyết: Sau “trinh” lại tiếp đến “nguyên” (trinh hạ khởi nguyên), biến hóa bắt đầu từ “nguyên” rồi tận cùng ở “trinh” là hết một chu trình biến hóa; Sau đó lại chuyển sang một vòng biến hóa tiếp, cứ như vậy hết vòng này lại đến vòng khác, không bao giờ dứt. Tóm lại: Từ bốn chữ “nguyên, hanh, lợi, trinh” dùng trong bói toán các nhà Dịch học đã biến nó thành một mệnh đề mang tính triết học với nhiều khía cạnh, nhiều tầng lớp, bao gồm: thiên đạo, địa đạo, nhân đạo. Chỉ có bốn chữ mà nói lên hầu hết nội dung chính của Dịch (vạn vật liên tục biến hóa không bao giờ ngừng, âm dương đối lập nhưng thống nhất, đạo người phỏng theo đạo trời, và còn nói lên mục đích cao cả của con người là “thái hòa”. Nhất âm nhất dương là mệnh đề thiên về quy luật nội tại vận hành “nguyên hanh lợi trinh” là quy luật ngoại tại. Vì nội dung quá sâu rộng, cách diễn đạt lại quá ngắn gọn nên khá khó hiểu, khiên cưỡng nhưng cũng rất hay. NÓI VỀ HAI QUẺ CÀN KHÔN Hai quẻ Càn Khôn là hai quẻ quan trọng nhất trong Dịch. Nó là gốc của 62 quẻ còn lại. Hệ từ nói: “Càn Khôn kỳ Dịch chi uẩn da?” phải chăng nội dung của Dịch được hàm chứa ở hai quẻ Càn Khôn? Dịch quan niệm vạn vật liên tục biến hóa. Dịch dùng 64 quẻ để thể hiện sự biến hóa đó nghĩa là không dùng lời nói mà dùng quái hào tượng. Có biến mới thông, không bị tắc, có thông mới bền lâu. Ngay quái từ quẻ Càn: “Càn, nguyên hanh lợi trinh”, hào “dụng cửu” “dụng lục” cũng nói lên điều đó (vạn vật biến hóa không ngừng). Quá trình biến hóa được thể hiện ở 64 quẻ, mỗi quẻ phản ánh một thời (quái giả thời dã) thời có thời Thái, thời Bĩ, thời Truân… Mỗi quẻ có sáu hào (sơ, nhị, tam, tứ, ngũ, thượng). Đến thượng hào vật cùng tắc biến chuyển sang thời khác. Sáu hào thể hiện quá trình biến hóa của quẻ. Cái gì làm động lực cho sự biến hóa đó? Chính là do sự mâu thuẫn giữa hai mặt âm và dương. Sự mâu thuẫn này là sự mâu thuẫn thống nhất cùng tồn tại, cùng dựa vào nhau trong một sự vật, thiếu mặt này thì mặt kia sẽ không tồn tại (nhất thể lưỡng diện - một thể có hai mặt). Hai thế lực này tác động kiềm chế bổ sung nhau đạt đến một trạng thái hòa hợp tốt nhất của sự vật Dịch gọi là thời trung, thái hòa (Càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh, bảo hợp thái hòa, nãi lợi trinh, thủ xuất thứ vật, vạn quốc hàm ninh), làm vạn vật phát triển không ngừng. Hai quẻ Càn Khôn tượng trưng cho hai lực âm dương. Tất cả 62 quẻ khác đều có hai loại hào, hào âm và hào dương này. Càn không chỉ giới hạn dương cương; quẻ Khôn cũng không chỉ giới hạn ở đạo lý âm nhu mà hai quẻ này còn thể hiện đạo lý trong âm nhu có dương cương; nó nói lên Kinh Dịch nhất âm nhất dương, cương nhu, động tĩnh, biến hóa vô cùng. Phần nghiên cứu tự nhiên khách quan như vậy gọi là thiên đạo (đạo trời) nhưng Dịch không dừng ở đây mà Dịch phỏng theo đạo trời đã để ra phần nhân đạo (đạo người); phần này rất quan trọng. Trong thập Dực, Văn ngôn là phần truyện quan trọng nói nhiều về phần nhân sinh quan này. Mỗi quẻ mỗi hào đều đưa ra những lời khuyên nên làm theo hay nên tránh để xu cát tị hung. Kiện hành bất tức nhưng lại phải năng cương năng nhu, tri tiến tri thoái, động tĩnh hành tàng không trái với thời, luôn luôn phải sửa mình; ở ngôi cao nhưng phải khiêm hòa, không nên cố chấp, người đứng đầu mọi người phải như “quần long vô thủ” không sính cường, coi trọng cuộc sống của mọi người, đem lại thái bình cho thiên hạ “thủ xuất thứ vật vạn quốc hàm ninh”. Những điều nói trong hai quẻ Càn Khôn tuy không thể hiện rõ ở các quẻ khác nhưng những lời khuyên trên thực ra vẫn ẩn chứa xuyên suốt trong tất cả các quẻ. Hai từ Càn Khôn xuất hiện phổ biến ở Việt Nam với ý nghĩa trời đất, quy luật phát triển biến hóa của sự vật. Trong bài “Quan hải” vịnh trận chiến ở hải khẩu Bạch Đằng của cha con Hồ Quý Ly chống quân Minh xâm lược có câu: Càn Khôn kim cổ vô cùng ý Khước lại thương lang viễn thụ yên. Ý nói: Quy luật trời đất thời thế biến đổi rất sâu xa, cha con Hồ Quý Ly chưa nắm được lòng dân, chỉ dựa vào quân sự đơn thuần nên thua trận, thật đáng di hận. Trong bài “Bình Ngô đại cáo” có câu: “Càn Khôn bĩ nhi phục thái, nhật nguyệt ký hối nhi phục minh”. Trời đất thế bĩ nay lại chuyển sang thế thái thông, mặt trăng mặt trời bị tối nay lại trở nên sáng. Câu đối ở cổng Tam quan phủ Tây Hồ ca tụng đức độ của chúa Liễu Hạnh cũng dùng hai chữ Càn Khôn để chỉ Trời Đất, đó là câu: “Thiên ảnh đối Càn Khôn cận duyệt viễn lai vạn vật tĩnh quan giai khả kính”. Dịch nghĩa: Cảnh rộng bao la, gần vui xa lại muôn vật êm đềm đều đáng kính.
  11. DỊCH HỌC, TIẾNG NÔM VÀ TRỐNG ĐỒNG Nguyễn Quang Nhật, Nguyễn Đức Tố Lưu Đối với phương Đông, Dịch lý là nền tảng của sự phát triển của xã hội và văn hóa xa xưatừ những trang lịch sử đầu tiên, thể hiện thế giới quan của cộng đồng tộc người đã làm nên Dịch học. Vì thế ngôn ngữ, văn vật và địa lý của cộng đồng này sẽ là mối liên hệ trực tiếp cho phép khám phá các ý nghĩa của Dịch học. Hoa ngữ và địa lý nước Tàu hiện nay không làm được điều này bởi chủ nhân thực sự của Dịch học không nói thứ tiếng đó và không ở chỗ đó. Tiếng Việt, trống đồng của người Việt và mảnh đất Việt Nam ngày nay mới là quê hương chân xác của Dịch lý. Bài viết sau so sánh, đối chiếu các yếu tố văn hóa địa lý Việt với các dịch tượng trong Dịch học để tìm lại nền móng căn bản của Dịch lý, đồng thời góp phần khẳng định chủ nhân tác Dịch chính là người Việt trên mảnh đất Việt ngày nay. Có thể viện dẫn các ví dụ trong Dịch học để chứng tỏ ý nghĩa này: – Quẻ Kiền hay Càn, chỉ sức mạnh hay sự to lớn có gốc từ tiếng Việt là “cồng kềnh” hay “kềnh càng”. – Quẻ Đoài là biến âm của “điều” hay “đào” tức màu đỏ. – Quẻ Ly là biến âm của “lửa”, tượng trưng cho sức nóng, ánh sáng và mặt trời. – Quẻ Chấnlà biến âm của “sấm”, Hoa ngữ là “lôi”. – Quẻ Tốn hay Toán, tức “tính toán “ trong tiếng Việt, chữ cổ còn gọi là “tán”. – Quẻ Khảm còn gọi là Cống, thực ra là “cóng”, tiếng Việt thường dùng từ kép “lạnh cóng”. – Quẻ Cấn còn gọi là Căn, nghĩa tiếng Việt là “cán”, là cái để nắm lấy mà điều khiển như cán dao, cán cuốc v.v. – Quẻ Khôn chỉ sự khôn ngoan nơi con người, chỉ khả năng nhận xét của não bộ, tức khả năng nhìn nhận và phán đoán sự việc. Xem xét kỹ thì không chỉ riêng Bát quái mà Thập can cũng do “Nôm na” mà ra như: – Giáp là“chắc” trong “chắc chắn”. – Ất là“óp” như trong “óp ép”. – Bính là“bấn” trong “bấn loạn”. – Đinh là“đanh” trong “cứng như đanh”. – Mậu là“mẹ”. – Kỷ là“cả”. – Canh là “nước canh”, cánh, cạnh, cành, chỉ trục ngang. – Tân là“tâng”, tưng, tung lên, chỉ trục đứng. – Nhâm là“nhũn”, nhung trong “mềm như nhung”. – Quý hay Khang là khăng, “khăng khăng” không đổi. Thực kỳ lạ, tên các thành tố của Dịch học như Thập can, Bát quái… không mang một ý nghĩa gì trong Hoa ngữ. Nó thuần là các tên để gọi mà thôi. Ngược lại khi “Nôm na” thì ý nghĩa Dịch lý lại nằm ngay chính trong tên gọi của nó. Thậm chí những từ khoá trong nguyên lý cơ bản “sinh sinh chi vị dịch” cũng có gốc từ “Nôm na” mà ra: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái…”. Cực, nghi, tượng, quái v.v. đều là những “đặc từ” chỉ dùng trong Dịch học, phải có công “tu luyện” mới thấu đáo… Khi dùng “nôm na pháp” vào đây ta có:“1 cục, hay cuộc, sinh 2 ngôi, 2 ngôi sinh 4 tạng hay dạng, 4 tạng sinh 8 quả”. Rồi cả 3 tòa, 5 hình, 9 chỗ v.v.Thì ra tất cả là những danh từ thông thường dùng trong cuộc sống hàng ngày người “bình dân” ai gặp cũng hiểu ngay,chẳng phải là “đặc ngữ đặc từ” chi cả. Có thể nói, khi “Nôm na” thì Dịch học rất gần gũi đời sống thường nhật của con người, trái hẳn với Dịch học siêu đẳng của Hoa ngữ, nói toàn chuyện trên mây như chỉ dành cho các bậc thánh triết, mà trên cõi đời này hỏi có được mấy vị? Dựa vào yếu tố ngôn ngữ có thể khẳng định, Kinh Dịch chứa đựng những hiểu biết về sự vận động và biến đổi của mọi vật trong Không và Thời gian là thành tựu trí tuệ của người Nam hay Bách Việt mà chi duy nhất còn lại đại diện cho cả dòng giống là Lạc Việt, tức người Việt Nam ngày nay. Chữ nguyên hình “điểu thú văn” Trên mặt tất cả trống đồng loại 1, tức loại xưa nhất, đều được đúc theo khuôn mẫu: trung tâm là mặt trời, rồi đến các vòng đồng tâm khắc hình chim và nai, sau đó là cảnh sinh hoạt, đánh trống đồng, đo bóng mặt trời, cảnh chiến binh trên thuyền v.v… Mặt trời được người Việt cổ coi là nguồn sáng và nguồn sống cho muôn loài. Với quan niệm cha trời mẹ đất, tổ tiên ta đã hiểu rõ những gì thu hoạch được từ đất như củ, quả… không thể có được nếu không có ánh nắng mặt trời. Điều này thật đời thường nhưng cũng rất khoa học. Lúc đó người ta làm gì biết đến diệp lục tố và sự quang hợp như chúng ta ngày nay. Nhưng bằng sự quan sát và so sánh việc được mùa và không được mùa có liên quan chặt chẽ tới sự chiếu sáng của mặt trời người xưa đã hiểu được có sự phối hợp giữa trời và đất để ban của ăn nuôi sống con người, từ đó hình thành quan niệm lưỡng hợp. Một phía là cái cụ thể có thể nắm bắt là đất, một phía ta biết rõ ràng, có đấy nhưng không thể nắm bắt đó là những gì đến từ trời. Dần dần tổng kết thành các quy luật trời đất có âm, có dương, ý niệm khởi nguồn của Kinh Dịch. Với quan niệm mặt trời là nguồn sáng, cổ nhân coi mặt trời là khởi nguồn của văn minh, của sự sáng suốt, vì không có ánh sáng mặt trời thì bóng tối che phủ, không thể phân biệt được cao thấp, xấu đẹp, không gian trở thành một khối hỗn mang và trong màn đêm đó không biết bao sự rình rập của quỷ dữ, của ác thú, sinh mệnh con người mong manh biết bao nhiêu, và mọi vật chỉ trở nên sống động thực sự khi mặt trời ló dạng, từ đó con người sùng bái mặt trời. Với người Việt sự sùng bái đã gần như một ý thức về tôn giáo: đạo thờ Trời, thờ ông Thiên và hình ảnh biểu tượng là mặt trời. Với vị trí là tâm điểm trên trống đồng, mặt trời là trung tâm của vũ trụ. Điều này chắc mới dừng ở ý niệm siêu hình, nhưng trong đó ta đã thấy thấp thoáng bóng khoa học rồi. Trên trái đất không biết bao nhiêu loài thú, tại sao chim và nai lại được coi trọng ngang hàng với con người, được kết hợp với người để tạo thành thế giới 3 thành phần trên mặt trống, coi như hình ảnh thu nhỏ của vũ trụ? Ta trở lại với Dịch lý. Mọi người đều nhất trí coi Hà và Lạc là một phần của Dịch lý, hoặc là cách diễn đạt Dịch lý thông qua các nút số, một loại diễn đạt khác với Dịch lý vạch quẻ của Bát quái. Vậy Hà là gì và Lạc là gì? Trải qua mấy ngàn năm, các cuộc tranh luận của các bậc trí giả “nhìn xa trông rộng” vẫn còn tiếp tục xảy ra, nào là long mã, nào là thần quy, người thì bảo là thần vật xuất hiện ở Hoàng Hà, rồi Mạnh Hà, rồi Lạc Thủy… Sở dĩ như vậy là tại các vị nhìn một vật ngay trước mắt qua “kính viễn vọng” nên hậu quả là… vẫn còn cãi nhau. Thật ra khi ta nhìn bằng mắt trần thì sự việc trở nên đơn giản: Hà nghĩa là Trời, Lạc là biến âm của Lục, nghĩa là Đất. Hà Lạc là Trời và Đất, rất rõ ràng. Chính xác phải gọi là Hà thư – Lạc đồ, chứ không thể gọi ngược như trước đây được. Hà thư tức Thiên thư. Lạc đồ cũng là Địa đồ. Thông điệp trên mặt trống đồng rất rõ ràng. Mặt trời là trung tâm và ở các vòng đồng tâm kế tiếp nhau là Hạc – Nhân – Lộc, tức trên là trời, giữa là người, dưới là đất nối tiếp “chạy” quanh mặt trời. Ta có: Trời = Hà → Hạc: chim Hạc hay hồng hạc. Đất = Lục → Lộc: con nai. Từ sự việc này gợi ra một ý kiến là: chữ “tượng hình” không phải là loại chữ cổ xưa nhất mà là sự tiếp nối một loại chữ khác có trước, tạm gọi là chữ “nguyên hình”. Ta liên tưởng trong Kinh Dịch phần Thuyết Quái, Khổng Tử viết: “… Ngày xưa họ Bào Hy ngẩng lên xem tượng trời, cúi xuống xem thế đất… quan điểu thú chi văn …” rồi tổng kết lại thành các quy luật Dịch lý. Câu “quan điểu thú chi văn” được hiểu là “nhìn các nét “văn” trên (mình) chim, thú… Nay ta có thể hiểu khác đi là đã có một loại chữ có tên là “điểu thú văn”, tức chữ “nguyên hình”, từ trước khi họ Bào Hy tác Dịch. Lạc đồ đặt nằm ngang và những chữ nguyên hình. Trong bối cảnh văn hóa Á Đông ta có thể tìm thêm 4 chữ “nguyên hình” nữa ngoài các chữ “chim hạc” và “con nai” (=Trời và Đất). 1. Hướng Xích đạo là vùng nhiệt đới được tượng trưng bằng con Hổ. Hổ là biến âm của Hoả, là lửa. Tính của lửa là nóng. 2. Ngược với lửa là nước, nơi vùng nước này có rất nhiều con Sấu. Sấu là biến âm của Xíu, là nước (âm Quảng Đông). Trong truyền thuyết lịch sử Việt Nam nó là con thuồng luồng, một loài thủy quái hại người. Sau này do biến cố khí hậu loài Sấu ở phía Bắc (cứ tạm gọi như tên hiện nay) bị tiêu diệt nên người xưa thay thế bằng con rùa, tức Quy. 3. Hướng Đông là biển nên biểu tượng bằng thần vật có công hút nước làm mưa mà người xưa gọi là Rồng hay Long. Trong văn hóa Việt – Hoa, Rồng được coi là chúa tể cai trị thế giới biển cả. Ai đã từng học Dịch lý đều biết quan điểm hướng Đông là phương động, tượng trưng bởi quẻ Chấn, cũng gọi là quẻ Thìn tức quẻ con rồng. Chính xác phải gọi là hướng động vì Đông là biến âm của động. Theo nguyên lý đối lập của Dịch, phương Tây là tịnh như trong Thuyết Quái của Dịch: cứng mềm cọ sát sinh ra động tịnh.Phương Đông: mềm mà động.Phương Tây: cứng mà tịnh, định. Việt ngữ có từ kép “định đoạt” để chỉ phương Tây. “Định” là chỉ bên không thay đổi. “Đoạt” là tên khác của quẻ Đoài. 4. Phương Tây là phương tịnh và ở đó có rất nhiều voi, nên con voi trở thành chữ “nguyên hình” là Tịnh, con tịnh. Như thế ta có thể coi chữ “nguyên hình” là loại chữ tối cổ. Đó cũng là điểm xuất phát của chữ “tượng hình” sau này. Tổng số ta có được 7 “chữ”: Mặt trời là Trung tâm. Hạc = Trời. Lộc = Đất. Hổ = phương nóng, Xích đạo. Sấu, Quy = phương nước, ngược với phương nóng. Long, Rồng = phương Đông. Tịnh = phương Tây. Xác định như trên ta có thể khẳng định đất nước Trung Hoa hiện nay không thể là quê hương của Dịch lý được vì không thể tìm được vùng đất nào của Trung Hoa mà phương Đông là biển và phương Tây có voi. Chỉ có miền Trung của Việt Nam mới hội đủ tính chất chỉ định của 6 chữ “nguyên hình” hay “điểu thú văn” như phần trên. Loài Hổ Đông Dương ở Trường Sơn và Nam Lào đã nổi tiếng từ lâu rồi. Về hướng Bắc thì đồng bằng Bắc Bộ vài ngàn năm trước là vùng đầm lầy, chắc chắn lý tưởng cho loài Sấu. Về hướng Đông là biển, đúng là quê hương của Rồng và hướng Tây thì chỉ tên nước Lào “Triệu Voi” cũng đủ minh chứng cho sự khẳng định trên. Trong lãnh vực tâm linh, tất cả các đền, miếu của Việt Nam đều có hình Hạc hay Hồng Hạc đứng trên mai Rùa tượng trưng cho Trời và Đất. Như thế đã đủ 6 con vật tượng trưng cho 6 cõi của 1 không gian 3 chiều. Người xưa đã dùng những con vật nổi trội ở một vùng đất như một dạng thức chữ, là chữ “nguyên hình”, để chỉ 4 phương.Còn Trung tâm là nơi sinh tụ của cộng đồng người cổ đã tạo nên Dịch lý. Dịch lý đã là tài sản của cả nhân loại, phát nguyên từ đâu không phải là điều quan trọng đối với thiên hạ. Nhưng đối với người Việt Nam thì khác, nếu không thể làm sáng tỏ về quê hương Dịch lý thì mắc lỗi với tiền nhân. Người xưa đã lao tâm khổ tứ biết bao mới có thể ký thác được những giá trị vĩnh hằng vào trong đấy, làm tài sản cho con cháu vào đời. Quá khứ không phải qua đi là hết. Dòng linh khí từ quá khứ sâu thăm thẳm vẫn liên tục chảy về hiện tại, tạo thành sức mạnh tâm linh vô song cho mỗi người. Dù tiếp nhận trong vô thức, dòng linh khí đó trở thành bản lĩnh sống, thành năng lực bẩm sinh của trí tuệ. Đấy cũng là lý do để ta nỗ lực vượt bực mong tìm được đích xác nguồn gốc dòng giống của mình. Xác định cho được bản quyền dân tộc trên Dịch lý, một siêu phẩm của minh triết và khoa học. Dịch học và đồ đồng Đông Sơn Truyền tích bánh dày bánh chưng kể rằng vua Hùng đã già nghĩ ra cách để tìm người kế vị. Vua ra lệnh cho các hoàng tử (các “lang”) ai dâng lên cho vua được món ăn ngon nhất và ý nghĩa nhất sẽ được vua truyền ngôi.Trong khi các anh em đổ đi khắp nơi để tìm của ngon vật lạ thì hoàng tử Lang Liêu vốn cảnh sống rất thanh bạch và không muốn dành ngôi vua nhưng bản tính hiếu thảo nên vẫn băn khoăn không biết lấy gì dâng cho vua cha. Chợt tối ngủ Lang Liêu được một vị thần hiện ra chỉ dẫn: Lấy gạo nếp tinh tuyền đã nấu chín giã ra làm bánh màu trắng hình tròn, đặt tên là bánh dày. Lấy gạo nếp đổ trên lá, giữa cho nhân đậu xanh và thịt heo gói lại thành hình vuông đem luộc chín gọi là bánh chưng. Khi dâng vua, vua cha cho các món ngon vật lạ của các hoàng tử khác đều là tầm thường. Riêng bánh dày và bánh chưng của Lang Liêu được vua khen ngon và hỏi ý nghĩa thì Lang Liêu tâu: Bánh dày hình tròn, tượng trưng cho trời. Bánh chưng hình vuông, tượng trưng cho đất. Vua khen trời tròn đất vuông là trọn ý nghĩa của đạo trời đất và vua quyết định truyền ngôi cho Lang Liêu. Ta thử giải mã từ “Lang Liêu” trong truyền thuyết trên. Lang là từ Thái ngữ, có nghĩa là thủ lãnh, biến thể sang Hoa và Việt ngữ là Long, nghĩa là con rồng hay Vua. Lang là biến âm của Năm, số 5 trung tâm của Hà thư - Lạc đồ: năm → lăm → lang. Liêu là biế́n âm của Lử̉a chỉ phương nóng, vùng nhiệt đới, hướng Xích đạo, biến âm ra: lửa → ly → la → lê→liêu → lý... Lang Liêu có nghĩa là“vua La” hay vua của người La, Liêu, Lý…“Bánh chưng bánh dày” là biến âm của “bánh trăng bánh giời” hay “bánh trăng bánh trời”. Bánh dày hình tròn, bánh chưng hình vuông biểu thị cho nguyên lý cơ bản của Dịch học. Trời tròn chỉ sự vô hình vô ảnh… Những gì vẫn có đấy nhưng thị giác con người không thể cảm thụ được. Đường tròn biểu thị sự liên tục không đứt đoạn, khi chuyển sang hệ ký hiệu vạch là vạch liền ────. Đất vuông chỉ vậ̣̣t chất hữ̃u hình, hữu hình nên hữu hạn, biểu thị sự hữ̃u hạn là bờ và mốc, tức 4 cạnh và các góc của hình vuông. Trong hệ ký hiệ̣̣u vạch là vạch đứt chỉ sự gián cách ────. Tròn và vuông cũng chỉ là tên gọi khác của Âm và Dương mà thôi. Truyền thuyết nói Trời chỉ dạy cho Lang Liêu làm ra bánh Chưng bánh Dày, đồng nghĩa với sự truyền dạy cho hậu thế rằng: vua La là người đã làm ra Dịch học, người La là chủ của thuyết Lưỡng nghi – Tam tài sinh hóa vạn vật. Lang Liêu là ai và đạo Tròn vuông có liên quan như thế nào với người Việt? Trên mặt tròn của nhiều trống đồng có 4 hình cóc đắp nổi. Đấy chính là biểu tượng của nguyên lý trời tròn đất vuông. 4 con cóc biểu thị cho 4 góc của hình đất vuông trên mặt trống tròn của trời. 4 con cóc là 4 tiếp điểm của hình vuông và hình tròn. Người chế tạo ra trống đồng nói rất rõ: Cóc là biến âm của góc hình vuông, cóc → góc (tương tự như: Kà → gà; Cái → gái). Sự biểu diễn dịch học trên đồ đồng Đông Sơn còn thấy rõ hơn ở mặt thạp đồng Đào Thịnh đã tìm được.Ở nắp thạp đồng tròn 4 con cóc đã được thay bằng 4 cặp nam nữ đang giao hợp, ý chỉ 4 điểm giao của hình vuông và tròn cũng là giao điểm của trời và đất, âm và dương. Trống đồng người Việt xưa gọi là “cối đồng”, Hoa ngữ dịch ra “đồng cửu”, rồi biến âm thành “đồng cổ”. Cửu là cái cối, biến ra “cổ” là cái trống. Tóm lại là có sự liên quan rất rõ ràng giữa Dịch học và trống đồng, hay rộng hơn là đồ đồng Đông Sơn. Sự khẳng định này khiến ta không thể lý giải vì theo chính sử Trung Quốc thì Văn Vương tác Dịch ở tận Thiểm Tây, Bắc Trung Quốc hiện nay và vào thủa ấy người Việt không hề biết Dịch lý là gì, cũng như Văn Vương không hề biết mặt mũi trống đồng, thạp đồng ra sao… Nhưng với những gì đã biết như trên, ta không thể nào kết luận khác hơn là “dân trống đồng”chính là chủ thể đã tác tạo ra Dịch học. Dịch học còn có cặp quẻ Khiêm nhường – Dự phần, gọi tắt là Khiêm và Dự.Sự sáng suốt nơi con người mách bảo vạn vật và xã hội phát triển theo những quy luật.Các quy luật thì trường tồn và bất biến, con người không thể thay đổi một cách chủ quan, tùy tiện. Công thức về sự chủ động phát triển là: Khiêm nhường – Dự phần. Muốn “dự phần” hay tham gia cùng trời và đất trong việc biến đổi vũ trụ con người phải biết tôn trọng và vận dụng các quy luật tự nhiên. Một thành tựu đạt được luôn là sự hợp tác con người – tự nhiên. Con người không thể thay đổi quy luật nhưng có thể tác động ở đầu vào để nhận được kết quả ở đầu ra. Như thế gọi là Khiêm và Dự, Dự chính là dự phần vào việc tái tạo vũ trụ. KHIÊM DỰ Ý nghĩa quẻ Dự = Lôi/Địa: Dự nghĩa là tham gia vào là cùng trời cùng đất tạo thành bộ mặt vũ trụ, tài nhân ngang hàng tài thiên, tài địa trong thế tam tài của Dịch học. Một quan điểm triết lý tôn vinh con người rất tiến bộ so với thời đại ấy. Lời quẻ Dự: Lợi kiến hầu, hành sư. Quẻ Dự tạo thành bằng quẻ Lôi trên quẻ Địa, sấm nổ trên đất chính là tượng của trống đồng. Lợi kiến hầu nghĩa là dùng vào việc phong tước hầu. Hiện nay có những nhà nghiên cứu lịch sử cho trống đồng là một biểu tượng vua ban khi phong tước cho các công hầu. Nó tựa như một loại ấn tín sắc phong vậy. Đặc biệt trong lễ nghi đạo hiếu của Việt Nam thì các bậc vương hầu dùng trống đồng thay mặt người dân của mình để tế tổ tiên của cộng đồng. Chữ “lợi” ở đây có nghĩa là “được dùng để” (ngờ rằng sau chữ “lợi” còn có chữ “dụng” nhưng bị bỏ mất). Lợi kiến hầu nghĩa là dùng trong việc phong tước hầu. Lợi hành sư nghĩa là dùng để hành quân, quân theo tiếng trống mà tiến hoặc lùi hoặc sang phải, sang trái, công hoặc thủ v.v. Trống đồng trở thành một quân khí dùng trong quân sự. Lời tượng của quẻ Dự: Lôi xuất địa phấn, dự, tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi thượng đế, dĩ phối tổ khảo. Dịch nghĩa: Sấm vang trên mặt đất là tượng quẻ Dự, các bậc tiên vương làm ra nhạc đề cao đạo đức, long trọng dâng lên thượng đế cùng với anh linh tiên tổ. Trống đồng còn gọi là trống sấm, là loại trống duy nhất khi đánh để úp xuống đất, nên lời tượng nói: lôi xuất địa phấn. Tiên vương tức tiên đế nhà Chu là Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công… Chữ “tác nhạc” cho thấy rõ ràng trống đồng là một nhạc cụ dùng trong các buổi lễ tế. Nó chính là tổ tiên của văn hóa cồng chiêng ngày nay. Nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn đang đặt câu hỏi: trống đồng dùng để làm gì hay công dụng của nó ra sao? Lời quẻ và lời tượng quẻ Dự đã chỉ rõ 3 công dụng: 1. Trống đồng dùng như một lệnh bài sắc phong tước vị. 2. Dùng làm hiệu lệnh điều quân. 3. Dùng trong âm nhạc ở các buổi tế lễ long trọng. Qua lời quẻ và lời tượng của quẻ Lôi/Địa Dự việc liên hệ giữa Dịch học và trống đồng là điều không thể phủ nhận. Chỉ với những khám phá trên đủ khẳng định: Dân tộc là chủ nhân của trống đồng cũng chính là dân tộc đã sáng tạo Dịch học. Dịch học dứt khoát không phải là sản phẩm của nền văn minh Hán. Dân tộc sống ở lưu vực Hoàng Hà không hề biết trống đồng là gì vào thời những chiếc trống đồng cổ xưa nhất được dùng. Trống đồng, bức thông điệp ngàn năm Trống đồng có nhiều hình dạng, nhiều thời, do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau. Ở đây bàn về thông điệp trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Mặt trống gồm 1 tâm và 3 vòng đồng tâm. Tâm trống và vòng đồng tâm số 1: nhân sinh quan Việt. Tâm trống là mặt trời đang chiếu sáng. Vòng tròn số 1 là cảnh sống, sinh hoạt của con người. Tâm trống đồng luôn luôn là mặt trời, mọi kiểu trống mọi thời đại đều như thế. Điều này cho thấy có sự thống nhất và xuyên suốt nguyên tắc cơ bản trong hệ tư tưởng Việt: Mặt trời là trung tâm vũ trụ cũng chính là hình ảnh đại diện cho “ông trời” siêu hình. Ông Trời là đấng tối cao mà quyền năng chi phối tất cả nhưng lại thân thiết gần gũi như cha mẹ nên người Việt hay gọi: “Trời đất ơi! Cha mẹ ơi!”. Mặt trời phát ra ánh sáng cũng là phát ra sự sống. Trong tiếng Việt “sáng” và “sống” gần như là một âm. Phần hồn, tức anh linh nơi con người chính là một phần của cái khối sáng vĩ đại ấy, đến trái đất nhập vào thân xác vật chất thành ra con người sống động có thần. Thần tính ấy được quẻ Kiền gọi là Long hay con Rồng. 6 hào của quẻ Kiền là hình ảnh tượng trưng của 6 giai đoạn bay lên từ đất tới trời cao. Khi đã đi hết đoạn đường trần thế thì xác trả về cho đất hồn trở về trời. Chính vậy mà mặt trời với người Việt trở thành chốn linh thiêng vì tổ tiên ông bà ngự nơi đấy. Quẻ Lôi/Địa Dự viết: “lôi xuất địa phấn tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức ân tiến chi thượng đế dĩ phối tổ khảo” cũng là lẽ này. “Cầu dâng lên trời mà cũng là để ông bà mình hưởng” đã chỉ ra: anh hồn tổ tiên đang ở chung với ông trời hay đấng tối cao… Cuộc sống miên trường không bao giờ dứt, có chăng chỉ là chuyển đổi dạng thức tồn tại từ dương sang âm mà thôi. Hay nói theo dân gian là chuyển địa chỉ từ dương trần sang âm phủ. Cuộc sống vẫn tiếp nối chỉ chuyển dạng tồn tại mà thôi, đấy là triết lý về sự sống – chết của người Việt đã được Kinh Dịch thể hiện.Hay nói cách khác: tâm và vòng đồng tâm thứ nhất của mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện “nhân sinh quan” của người Việt. Cuộc sống sinh động nhưng hữu hạn vì có sinh, có biến đổi ắt có tử.Duy nhất chỉ nơi tâm vòng tròn là bất biến nên bất tử.“Sinh” là từ cõi Hằng bước sang cõi “Biến”. Qua một thời gian dạo chơi trần thế để biết mùi “đời” rồi “tử”, tức là trở về nơi đã ra đi.Người đời nói “sinh ký tử quy” (sống gửi thác về) nghĩa là vậy. Nhưng ta phải luôn nhớ không phải ra đi làm sao thì trở về làm vậy. Vì qua thời gian ở cõi “biến” ta đã thành người khác. Sáng hơn hay tối hơn là tùy những gì ta đã làm nơi dương trần với tư cách con người có ý thức và chủ động trong hành vi của mình. Với nhân sinh quan như vậy nên người Việt là dân tộc có hiếu nhất thế giới.Chữ Hiếu được nâng hẳn lên thành một tôn giáo, gọi là đạo “Hiếu” hay đạo thờ ông bà. Cao nhất là thờ ông ‘Thiên”, tổ của cả loài người.Với quốc gia thì thờ quốc tổ, làng thì thờ “thành hoàng”, tộc họ thì có nhà thờ họ và trong mỗi nhà đều có bàn thờ “gia tiên”... Trong nhân sinh quan người Việt thì quá khứ -hiện tại – tương lai, sống và chết, là sự biến đổi tiếp nối tuần hoàn không có chấm dứt.Thế nào rồi cũng có ngày phải về gặp các cụ.Lúc đó ăn làm sao, nói làm sao? Chính vì vậy nên phải lo liệu ngay từ bây giờ. Công đức tạo nên không phải chỉ để cho đời này mà là công đức cho mọi đời. Ngoại trừ những tay “siêu bịp” thì ai được kính trọng ở đời này ắt cũng được kính trọng ở đời sau và ngược lại kẻ bị người đời nguyền rủa thì cũng sẽ bị nguyền rủa đời đời. Vòng đồng tâm thứ 2: xướng danh dân tộc. Là người Việt không ai mà không biết huyền tích Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ, con gái Động Đình Quân. Kinh Dương Vương nghĩa là vua phương Nam. Long Nữ hay Long Mẫu, con gái Động Đình Quân - vua phương Đông.Sự hợp huyết 2 dòng phương Nam và phương Đông là sự hoàn tất việc đúc kết tạo nên người Việt.Cũng vì lẽ này người Việt rất đỗi tự hào khi nhận mình là “con Rồng cháu Tiên”. Những thông tin tạo nên truyền thuyết này đều xuất phát từ Hà thư. Trong đồ hình Hà thư số 6 hay 6 nút trắng nằm ở phía Nam, số 8 nằm ở phía Đông.Phương Nam ngoài số 6 còn có số 1 nên phương Nam còn là phương của Đế Tiên hay bà Vũ Tiên.Vì lẽ này người Việt mới nhận mình là “cháu Tiên”. Theo Hậu thiên Bát quái phương Nam, số 6 còn là phương của nước, tức quẻ Khảm.Nước tiếng Việt cổ là nác-lác - Lạc. Đây chính là từ Lạc trong Lạc Long Quân và Lạc Việt. Trong Hậu thiên Bái quái phương Đông, số 8 là quẻ Chấn hay Thìn, tức con Rồng. Hoa ngữ là Long. Tới đây đã rõ câu“con cháu Tiên-Rồng” hay dòng giống Lạc – Long là chỉ sự hợp nhất giữa 2 dòng người ở phương Nam số 6 và phương Đông 8 theo Hà thư vào thời Hùng Việt Vương – Tuấn Lang. Mặt trống đồng Ngọc Lũ đã thể hiện những thông tin lịch sử này ở vòng tròn thứ 2 bởi nửa vòng tròn khắc hình 6 con chim và 10con nai và nửa vòng tròn còn lại là 8 con chim và 10 con nai. Ở đây tiền nhân người Việt đã sử dụng những nút số của Hà thư, đặc biệt số 10 lại không được coi là 10 (số chẵn) mà coi như là 2 số 5, là số lẻ. Các nút trắng – chẵn của Hà thư được thay thế bằng hình Chim và nút đen –lẻ được thay thế bằng con nai. Nhìn lại Hà thư với các nút chẵn: 10 con nai và 6 con chim chỉ người họ Hùng phương Nam, con cháu của Kinh Dương Vương. 10 con nai và 8 con chim chỉ người họ Hùng phương Đông, con cháu của Long Nữ hay Long Mẫu. Ý nghĩa thể hiện ở vòng tròn đồng tâm thứ 2 trên mặt trống đồng chính là sự tự xưng danh tính của chủ nhântrống đồng Ngọc Lũ.Dân tộc ấy chính là dòng giống Tiên – Rồng hay Lạc – Long, Tiên – Long, xác lập bởi các cặp số (6/10) và số (8/10). Nếu không có số 10 chỉ dùng số 6 và số 8 sẽ bị hiểu là: người nước ngoài ở phía Nam và Đông nước ta. Người Việt xưa đã thêm mẫu số 10 để nói rõ đấy là: người họ Hùng, thuộc chi phương Trung- Nam và chi phương Trung - Đông. Vòng đồng tâm thứ 3: ước vọng dân tộc trường tồn. Vòng đồng tâm thứ 3 của mặt trống đồng có tổng cộng 18 cặp chim, mỗi cặp có 1 chim lớn đang tung cánh bay và 1 con chim nhỏ đang tung tăng trên mặt đất. Từng cặp như vậy nói lên sự nối tiếp liên tục, hễ tre già thì măng mọc, cha mẹ già khuất núi thì con cháu lớn lên, cứ như thế mà tiếp nối mãi. Trong Dịch học chim Hạc hay Hồng hạc là chữ của điểu thú văn chỉ Trời cao,chỉ thời gian và những yếu tố văn hóa phi vật thể. Hà → hạc.Con nai Hoa ngữ là Lộc, biến âm của “lục”, là số 6, cũng là Đất, cũng là chữ điểu thú văn dùng chỉĐất, chỉ không gian và những yếu tố văn hóa hữu hình hữu thể. Trong danh sách 18 đời Hùng Vương cóvị vua Hùng Việt Vương hiệu Tuấn Lang, Đây cũng chính là Sơn Tinh hay Tản Viên Sơn Thánh quốc chúa đại vương. ‘Tuấn” là tên chữ ký âm của ‘Tản” tiếng Việt.Sơn Tinh cũng là một vị Kinh Dương Vương (canh= 6, giêng = 1), nghĩa là chúa phương Nam vì trong Tiên thiên Bát quái quẻ Cấn là sơn – núi, chỉ phương Nam. Truyền thuyết nói Kinh Dương Vương kết duyên cùng Long Nữ như đã xác định ở vòng tròn thứ 2 mặt trống đồng Ngọc Lũ, phải chăng là nói về sự thống nhất dòng Tiên và Rồng để tạo ra “dòng giống tiên Rồng” ở triều đại Hùng Việt Vương – Tuấn Lang? Từ “người Việt” bắt đầu có từ đây. Những cặp chim ở vòng tròn thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là loài chim Diệc. Diệc là phát âm của người Nam Bộ.Âm Bắc là Việt. Chính là từ Việt trong đế hiệu Hùng Việt Vương – Tuấn Lang. Số 9 là “cửu”.Cửu cũng có nghĩa là lâu dài. 18 là trùng cửu (9×2), đồng âm với “trường cửu”, nghĩa là mãi mãi bất tận. Điều này xin đừng vội cho là cưỡng ép vô lối vì chính người Hoa cũng hay dùng lối đồng âm gán nghĩa này, như họ kiêng số 4 vì đọc là “tứ”, cận âm với “tử”, là chết.Bạn cũng đừng ngạc nhiên khi họ tặng bạn chiếc quan-tài…vì “quan” ở đây được hiểu là sự thăng quan tiến chức, “tài” hiểu là tấn tài tấn lộc, nghĩa là chúc có thêm tiền. Như thế những hình tượng trên vòng đồng tâm thứ 3 có nghĩa sau: Chim Diệc đang tung cánh bay là chỉ dân tộc Việt trong vòng thời gian. Mỗi cặp chim 1 trưởng thành 1 còn non chỉ sự nối tiếp kế thừa. 18 cặp là trùng cửu (2 lần 9), cũng là trường cửu. Vòng đồng tâm thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ với 18 cặp̣ chim Diệc là bản văn ngắn gọn nhưng rất rõ ràng:“Dân tộc Việt đời sau nối đời trước, cứ như thế tồn tại mãi mãi”. Tới đây thì ta hiểu rõ tại sao vua Đông Hán ra lệnh cho mặt ngựa (Mã Diện hay Viện) tịch thu và phá hủy cho bằng hết trống đồng của người Việt. Ý đồ của chúng là biến người Việt thành đám con hoang không cội nguồn, đồng thời chặt đứt ước nguyện trường tồn của dân tộc này… Nhưng trời xanh có mắt… Việc giải mã được những thông tin chứa trên mặt trống đồng Ngọc Lũ đưa đến hệ quả hết sức quan trọng với người Việt: “Con Rồng cháu Tiên” không còn là truyền thuyết lịch sử mà chính thức trở thành lịch sử, một lịch sử được ghi chép rõ ràng trên sách “đồng” bằng ngôn ngữ Dịch học đã phổ biến lưu truyền 3.000 năm nay. Truyền thuyết lịch sử Việt không phải chỉ có một chuyện “con Rồng cháu Tiên”, mà là cả một hệ thống những truyền thuyết tương đối hoàn chỉnh, chứa đựng những thông tin của một thời gian dài mà ngày nay gọi là thời tiền sử.Chỉ cần minh xác được mộtđoạn trong cái chuỗi thông tin liên hoàn ấy cũng đủ để ta “lượng giá” về tính xác thực của cả hệ thống truyền thuyết lịch sử đang lưu truyền. Lịch sử và văn minh Việt có liên hệ “máu thịt” với Dịch lý từ khi người Hán chưa đặt chân tới mảnh đất này.Những trống đồng cổ nhất có đến 3.000 năm tuổi đã trở thành vật chứng chắc chắn, rõ ràng nhất giúp khẳng định: Dịch lý là thành tựu trí tuệ tuyệt vời của tiền nhân người Việt ngày nay. Dịch học hình tượng Con người chúng ta tư duy bằng 2 hệ thống dấu hiệu chính: hệ thống dấu hiệu âm thanh và hệ thống dấu hiệu hình ảnh.Đơn vị của hệ thống dấu hiệu hình ảnh là Tự hay Chữ. Tự nối kết với nhau thành Văn.Còn đơn vị của hệ thống dấu hiệu âm thanh là tiếng,nối kết nhau thành Điều.Ta hay dùng như một từ kép “điều tiếng”. Gọi là 2 hệ chính vì còn các hệ thống dấu hiệu cá biệt khác như hệ thống chữ nổi của người mù được cảm nhận bằng xúc giác và hệ thống dấu hiệu cử chỉ dành cho người câm. Trước khi có văn tự con người vẫn có tư duy,khám phá và chuyển giao thành quả, tức vẫn có tiến bộ. Dịch học tuần tự có 3 hệ thống: – Dịch lý nút số. – Dịch lý vạch quẻ. – Dịch lý bằng văn tự. Dịch học là tư duy của con người xưa. Vậy khi chưa có Dịch nút số con người suy nghĩ dựa trên cơ sở nào? Trước Dịch học nút số đã có một nền Dịch học khác, đó là Dịch lý “hình tượng”, tức lấy chính các hình ảnh và hiện tượng tự nhiên làm Dịch tượng ̣để tư duy. Khi tìm hiểu về Dịch lý ta thường nói: Càn là trời, Khôn là đất, Ly là lửa… Như thế là đã đi ngược tiến trình của Dịch học.Đúng ra ta phải nói: Trời là Càn, Khôn là Đất… vì từ những hình tượng có thực trong cuộc sống người ta mới nén thông tin vào trong các Dịch tượng tạo thành hệ thống dấu hiệu làm công cụ cho tư duy. Dịch lý thô sơ dựa trên các hình tượng đã hệ thống hóa sau.Dịch học hình tượng lấy Trời và Đất hay bầu trời và quả đất để biểu thị cho không gian.Lấy Mặt trời và Mặt trăng để biểu thị cho ngày và đêm, tức chỉ thời gian.4 quẻ còn lại biểu diễn cho cái không gian hẹp, tức khuôn khổ trong đó con người ta sinh sống. Dịch học nói:tại thiên thành tượng, tại địa thành hình.Hình ảnh biển cả và đất liền được dùng để tượng trưng cho mặt địa cầu là cái nền chở đỡ và dưỡng nuôi loài người. Đất và nước luôn đi đôi trở thành từ kép “đất nước”, đồng nghĩa với tổ quốc của mỗi người. Hiện nay người ta cho là quẻ Đoài là cái hồ, thực ra không phải vậy.Khi nói Đoài là hồ,Cấn là núi là đã giảm tầm cỡ của Dịch lý.Kích cỡ của cái hồ hay quả núi có thấm tháp gì so với sự mênh mông của mặt địa cầu nên không thể nào trở thành một nguyên tố của Dịch học.Chỉ có biển cả hay đại dương, đất liền hay đại lục mới đủ tư cách gánh vác trách nhiệm đại biểu đó. Tại thiên thành tượng.Hai hiện tượng tự nhiên trên bầu trời có ấn tượng sâu sắc trong đầu thánh nhân khi tác Dịch là: sấm sét và bão gió.Trời thì trong suốt đâu có nhìn thấy gì đâu, nhưng qua các hiện tượng chúng ta biết vật chất vẫn tồn tại ở đó.Thứ vật chất mà Dịch học gọi là nhẹ và trong, nhận định có 2 thể loại vật chất, một là chất đục và nặng, có thể nhân biết dễ dàng, còn một thứ trong suốt nên chỉ có thể nhận biết một cách gián tiếp thông qua các hiện tượng.Ở đây Dịch học chọn sấm sét và gió bão, chỉ cái không gian bao la trên đầu con người. Bốn hình tượng: biển- đất và sấm- gió đủ để vẽ nên sinh cảnh của con người lúc ấy. Từ 8 hình tượng của tự nhiên người xưa đã nén thông tin tạo thành 8 quẻ của Dịch học “tự nhiên”, tức Dịch học tiên khởi trước cả Dịch học nút số. Dịch học tự nhiên là tư duy của người Việt cổ hàng chục vạn năm cho tới khi được Dịch học nút số thay thế. Hình tượng của Dịch lý tự nhiên sau đã tạo thành 8 quẻ (Bát quái): – Trời tạo thành quẻ Kiền hay Kiện. – Đất tạo thành quẻ Khôn hay Xuyên. – Mặt trời hay ban ngày tạo thành quẻ Ly hay La. – Mặt trăng hay ban đêm tạo thành quẻ Khảm hay Cống. – Biển cả tạo thành quẻ Đoài hay Đoạt. – Đất liền hay đại lục tạo thành quẻ Cấn hay Căn. – Sấm sét tạo thành quẻ Chấn hay Thìn. – Bão gió tạo thành quẻ Tốn hay Toán. Dịch học hình tượng là Dịch học thô sơ. Sau này khi khối tri thức lớn thêm, đầu óc càng ngày càng mở mang và khi con người đã “chất biến” thì Dịch học cũng đổi thay.Dịch học nút số thay thế Dịch học tự nhiên. Hình tượng trở thành Dịch tượng với các thông tin chứa ở trong sâu xa và trừu tượng hơn. Các hình tượng của Dịch lý tự nhiên đã cho chúng ta các thông tin về sinh cảnh lúc ấy: Nơi sinh sống của cộng đồng người đã phát minh ra Dịch học là vùng ven biển. Nơi đất liền với biển, từ cảnh quan cho đến sự cung ứng thực phẩm hàng ngàyđều đến từ một môi trường kép “biển và đất”, từ đó mới sinh ra lưỡng nghi “Đoài và Cấn”.Quẻ Cấn còn được coi là tượng trưng cho “núi”. Việt ngữ có từ kép “khuất núi” để chỉ sự chết.Ý nghĩa này bắt nguồn từ việc mặt trời lặn ở hướng Tây. Với ý này ta thu được thông tin: người “tác” Dịch sống ở nơi phía Tây là núi và phía Đông là biển. Thực vậy, chỉ có sống ở nơi ven biển mới có thể nhìn thấy đường “chân trời” nơi mút tầm mắt, từ đó nảy ra ý niệm: trời như cái bát úp trên mặt đất, chân trời là nơi cái miệng chén đặt trên mặt đất. Vũ trụ quan đơn sơ này chính là khởi nguyên của “trời tròn đất vuông” là ý niệm cơ bản trong Dịch học. Xét như thế ta khẳng định Dịch học không thể ra đời ở vùng Thiểm Tây-Sơn Tây, cái nôi của Hán tộc, vì đấy là vùng đất nằm sâu trong đất liền. Ở nơi mà chỉ có cát với cỏ thì làm sao có thể tưởng tượng ra cặp lưỡng nghi Đoài và Cấn? Cặp hình tượng “sấm sét” và “gió bão” chỉ ra rằng cộng đồng người đã sản sinh ra Dịch học sống ở nơi mà mưa bão, sấm sét là chu kỳ lặp đi lặp lại hàng năm. 2 “thiên tượng” này phải là một nếp hằn sâu đậm trong đầu óc người cổ thì nó mới có thể được cấp cho “tính đại biểu” của phần không gian hẹp trên đầu con người, tức là 1 lưỡng nghi của Dịch học. Sấm và bão ngoài sự hoành tráng vốn có nó còn là sống còn của cư dân nông nghiệp sau này vì sấm luôn kèm với mưa, mà mưa là yếu tố quyết định của canh tác lúa nước.Người Việt đã tổng kết “nước–phân-cần-giống”đủ biết mưa quan trọng như thế nào trong đời sống.Mưa bão sấm sét là một sự liên hoàn luôn đi với nhau nên thành 1 lưỡng nghi của Dịch học: Chấn và Tốn. Lại thêm một khẳng định: quê hương của Dịch học không thể ở ngoài vùng “Châu Ágió mùa” vì chỉ ở vùng này Chấn và Tốn mới có tính chu kỳ và ảnh hưởng sâu sắc trên cuộc sống con người. Sơn Tây-Thiểm Tây, cái nôi của Hán tộc, rất ít mưa và hầu như không có sấm sét là hiện tượng sinh đôi của mưa bão, thử hỏi làm sao có thể tưởng tượng ra Chấn với Tốn? Tổng kết thông tin trong bài viết này ta có: Dịch học đã ra đời ở Việt Nam.Cụ thể hơn là ở vùng đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, nơi mà phía Đông là biển, phía Tây là núi.Nơi mà hằng năm gánh không biết bao nhiêu là bão gió - sấm sét. Nơi mà bên Đông có rồng, bên Tây có tịnh, hướng Bắc (hướng của Dịch lý, tức hướng Xích đạo) có hổ và hướng Nam (xưa) có đầy thuồng luồng như đã chép trong truyền thuyết và trên trời nhiều hạc, mặt đất đầy hươu nai. Riêng về loài nai thống kê khảo cổ học cho biết ở đất Việt cách nay vài ngàn năm hươu nai là loài thú săn chiếm tới trên 50% trong tổng số thú bắt được.Cá biệt có nơi xương hươu nai chiếm tới trên 75%. Vì điều này chúng ta hiểu được tại sao Dịch học nút số dùng số 6 là lục hay lộc, tức con nai, tượng trưng cho mặt đất nơi mình sinh sống.Ở Thiểm Tây –Sơn Tây có nai hay lộc nhiều như thế hay không? Tớí đây ta có thể tạm kết về Dịch học hình tượng. Dịch học hình tượng là một hệ thống gồm: 8 hình tượng tự nhiên: Trời - đất, mặt trời – mặt trăng, biển cả - đất liền và sấm sét - gió bão. 6 chữ nguyên hình (điểu thú văn): Hạc - lộc - hổ - sấu – long - tịnh. Và các hình tượng đặc biệt: Mặt trời: là nguồn sáng, cũng là nguồn sống được coi như biểu tượng của đấng tối cao và được nhân cách hóa thành ông trời. Con người: là trung tâm của vũ trụ nơi xuất phát mọi giá trị. Biểu tượng bộ phận sinh dục nam, người Viêt gọi là “nõn” hay “lõ”, người Chăm gọi là “Linhga”. Biểu tượng bộ phận sinh dục nữ, gọi là “nường” hay “lường”, người Chăm gọi là “Yoni”. Linhga và Yoni chính là biểu tượng xưa nhất của Âm và Dương, được coi như một biểu tượng tôn giáo trong các nền văn hoá Chăm và Khơme cổ. Người Việt xưa vẫn có tục rước “nõn- nường”.Sử sách Trung Hoa chép: Chu Công đã cấm tục thờ sinh thực khí, tức “nõn-nường” trong ngôn ngữ Việt hiện nay.Linhga và yoni đã được xác định chính là Âm và Dương trong 2 danh từ “âm hộ” và “dương vật”, tức bộ phận sinh dục nữ và nam. Như vậy qua bài viết này ta thấy Dịch học hình tượng là khởi nguyên của Dịch học, nền Dịch học ra đời từ khi con người còn chưa biết đến chữ, dù là loại chữ “kết thằng” cổ xưa, và nó đã đồng hành cùng con người cả trăm ngàn năm.Cùng với tiếng nói hay “điều –tiếng”,Dịch học tự nhiên đã trở thành cái nền của tư duy, khám phá, ứng dụng và truyền thông.Dịch học hình tượng là căn đế của một nền văn minh vô cùng rực rỡ nhưng đang tạm thời bị vùi lấp và cũng đang dần toả sáng
  12. DẤU VẾT DỊCH LÝ TRONG SÁCH CỔ CỦA ĐỒNG BÀO THỦY TỈNH QUÝ CHÂU Hà Văn Thùy Một trong những thắc mắc của người nghiên cứu Dịch lý là, nếu nói người Lạc Việt làm ra Dịch, vậy thì có bộ phận nào của người Lạc Việt ghi được điều này bằng văn tự? Chúng ta đã không tìm được dẫn chứng loại này trên đất Việt bởi lẽ, ngoài quẻ Lôi thủy giải trên đồ gốm thì văn tự trên đất nước ta xuất hiện muộn, lại là chữ Hán nên không thể lấy làm bằng chứng. Tuy một số sắc tộc anh em như Thái, Mường, Chăm… có chữ cổ của mình nhưng đến nay chưa thấy công bố nghiên cứu nào về chủ đề này. Vì vậy không có cơ sở để biện bác. Rất may là ở vùng người Choang thuộc tỉnh Quý Châu tồn tại bộ tộc Thủy. Xưa kia tổ tiên người Thủy là người Lạc Việt, chủ nhân của toàn bộ Trung Hoa. Nhưng tới thời Hán, người Thủy đã lui vào rừng sâu sinh sống. Dần dần biến thành bộ tộc thiểu số, với khoảng 340.000 người. Người Thủy nói tiếng Thủy và may mắn giữ được sách Thủy (Thủy thư) viết bằng chữ Thủy (Thủy tự). Đó là loại mật thư, được truyền lại từ xa xưa, được gọi là “văn tự hóa thạch sống” một tài liệu vô cùng quý giá chứa đựng tinh hoa của một nền văn hóa cổ xưa, trong đó có nói về Dịch lý. Chúng tôi xin giới thiệu bản dịch bài Thủy thư trên trang baike.baidu.com* “ Thủy thư là chữ viết và ngôn ngữ của tộc Thủy, được gọi là “Lặc Tuy,” do tiên nhân của Thủy thư truyền đời này sang đời khác, hình dạng giống Giáp cốt, Kim văn, chủ yếu dùng để ghi lại quan niệm của tộc Thủy về thiên văn, địa lý, tôn giáo, dân tục, luân lý, triết học cùng thông tin về văn hóa. Nghiên cứu khảo cổ mới nhất cho thấy, chữ viết của tộc Thủy và phù hiệu trên gốm đời nhà Hạ ở di chỉ Yển Sư Nhị Lý Đầu, tỉnh Hà Nam có sự tương thông. Các vị tiên sinh của Thủy thư đã đọc được tận nghĩa của sách khiến cho giới khảo cổ học nể trọng. Tháng 3 năm 2002, Thủy thư được đưa vào “Danh mục chữ khắc ván quý của Trung Quốc.” Thủy thư còn được gọi là “Quỷ thư”, ‘Phản thư”, thứ nhất là do kết cấu, tuy có sự phỏng theo Hán tự nhưng lại viết ngược, viết đảo, hay cải biến phép viết tự hình của chữ Hán. Chữ của Thủy thư không giống chữ Hán về hình dạng còn cách viết thì tương phản, nay rất ít người đọc được. Hiện nay, trên thế giới, Thủy thư và Hán tự là loại văn tự duy nhất không bính âm. Thủy thư Có nhiều ý kiến khác nhau về số chữ của Thủy thư. Cuốn “Thủy tộc gian sử” xuất bản năm 1986 nói có 400 chữ. Sách “Trung quốc Thủy tộc văn hóa nghiên cứu” nói khoảng 500 chữ. Các chuyên gia khảo cứu nói có hơn 2000 chữ, phát hiện chữ dị thể chủ yếu tập trung tại 12 Địa chi, Xuân, Hạ, Thu, Đông, Thiên can, cửu tinh cùng chữ đơn, biệt lệ. Trước mắt phát hiện “Dần, Mão” cùng hơn 30 chữ dị thể. Đối với chữ dị thể trong văn tự cổ của tộc Thủy, có ý kiến cho rằng mỗi chữ có ít nhất một biến thể, tổng số chữ Thủy khoảng 1600 chữ. Giới học thuật Trung Quốc cho là có khả năng Giáp cốt văn, Kim văn có “quan hệ nhân duyên” với Thủy tự, trong đó “Giáp cốt văn là cha”. Tiến sĩ Vương Ý Vinh phát hiện Giáp cốt văn vào năm 1898, tới nay mới 105 năm. Thời Minh phát hiện hai tấm bia văn tự Thủy tộc. Trong thời đại Hoàng Trị đều phát hiện Thủy thư mộc khắc bản.Như vậy, không có nghĩa là chỉ sau khi Giáp cốt văn được phát hiện mới tìm thấy Thủy thư. Giới khảo cổ vất vả hơn 40 năm khảo sát 24 phù hiệu trên đồ gốm nhà Hạ, sau đó cơ quan hữu quan tỉnh Hà Nam xem xét báo cáo về Thủy thư của Quý Châu và so sánh các ván khắc, tìm thấy có hơn mười biểu tượng phù hiệu tương ứng. Họ cho rằng: “chữ cổ Thủy tộc và văn hóa phù hiệu còn lại của nhà Hạ có một mối tương quan.” Thủy thư Thủy thư ghi chép lại, phần lớn là các ngày tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy, phương vị, cát hung, triệu tượng đuổi quỷ xua tà do vu sư thi hành công cụ của pháp sư. Do người Thủy tộc rất tin quỷ thần, nên Thủy thư được dùng rất rộng. Thủy thư có công năng đặc biệt, thúc đẩy người Thủy sùng bái quỷ thần. Tại nơi tụ cư của Thủy tộc, người đọc được và biết sử dụng Thủy thư (tất cả là nam giới) được người dân tôn trọng, gọi là “thầy quỷ” (quỷ sư). Trong dân gian, họ có địa vị rất cao, được mọi người sùng bái. Thủy thư cùng với “quỷ sư” được tổ truyền, là bảo vật trân quý, chỉ truyền nam không truyền nữ. Tuyệt đối không truyền cho người ngoài. Thủy thư là cuốn sách giáo khoa, quỷ sư là giáo sư. Quỷ sư và Thủy thư kết hợp là thuộc hệ tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy của Thủy tộc.Mối liên kết của thế giới quỷ thần, là nhân tố vật chất được truyền thừa của văn hóa vu thuật và duy trì lâu dài một thế giới thần bí. Ngoài nội dung tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy, Thủy thư còn chứa rất nhiều thông tin về các thiên tượng, tư liệu lịch pháp cùng văn tự cổ, là di sản văn hóa lịch sử vô giá của Thủy tộc. Một số trong đó là lý thuyết hiện nay như Cửu tinh, Nhị thập bát tú, Bát quái cửu cung, Thiên can địa chi, nhật nguyệt ngũ tinh, Âm Dương ngũ hành, Lục thập giáp tử, tứ thời ngũ phương. Quy chế thất nguyên lịch được đề cập trong Chính nguyệt kiến Tuất của Thủy lịch, cho thấy tổ tiên Thủy tộc đã kết tinh trí tuệ và nghệ thuật cao, bao hàm triết học của khoa học luân lý và biện chứng duy vật sử quan. Trong văn hóa Trung Quốc nó được xem là những trang sáng lạn nhất. Kết cấu của văn tự cổ Thủy tộc đại loại có ba loại hình: thứ nhất là chữ tượng hình, giống như Giáp cốt và Kim văn; thứ nhì là chữ phỏng theo Hán ngữ, tức là cách viết ngược, viết đảo hay cải biến chữ Hán; ba là văn tự tôn giáo, tức các phù hiệu biểu thị mật mã của tôn giáo Thủy tộc cổ truyền. Sách được viết theo hình thức từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, không có dấu chấm câu. Văn tự Thủy tộc có ba hình thức lưu truyền chủ yếu: khẩu truyền, viết trên giấy, thêu, viết lên da, khắc trên ván gỗ, viết trên gốm rồi nung v.v…Thủy thư chủ yếu dựa vào viết tay, truyền khẩu lưu truyền tới nay, vì vậy được các chuyên gia học giả thế giới khen ngợi là văn tự tượng hình “hóa thach sống.” Do là kết cấu tượng hình, chủ yếu chúng mô tả hoa, chim, trùng, cá và những thứ khác trong thế giới tự nhiên, cũng như một số totems như con rồng và bằng văn bản cùng các miêu tả vẫn giữ được nền văn minh cổ xưa của nó.” Bản văn trên cho thấy, Thủy tự, Thủy thư là di sản vô cùng quý giá của người Lạc Việt. Tuy nhiên trong một bài viết, vấn đề chưa được các học giả Trung Quốc nghiên cứu một cách căn để. Trong khi đó, học giả người Việt dường như chưa quan tâm đến sự kiện quan trọng này. Dựa theo văn bản trên, chúng tôi xin lạm bàn đôi điều. Trước hết, ta thấy rằng, tác giả của nó đại diện cho tính chính thống Hán tộc nên có xu hướng kéo cả người Thủy lẫn chữ Thủy vào trong vòng ảnh hưởng của Hán tộc: tất cả đều có xuất xứ từ Trung Nguyên. Người Thủy là một nhánh của Hạ tộc di cư xuống. Trong chữ Thủy có tới 10 ký hiệu xuất hiện trên gốm nhà Hạ! Tuy nhiên, đó là cách ngụy biện do lý giải ngược. Nay ta biết rằng, nhà Hạ là hậu duệ của người Lạc Việt từ Nam Dương Tử đi lên. Còn ký hiệu trên gốm nhà Hạ chưa phải ký tự. Trong khi đó, tại Cảm Tang Quảng Tây cách đó không xa, phù tự là loại chữ dùng cho cúng tế bói toán được khắc trên đá từ 6000 đến 4000 năm trước! Như vậy là, chữ tượng hình do người Lạc Việt sáng tạo mà duy nhất người Thủy giữ được cùng với sách Thủy. Các chuyên gia không cho biết chữ Thủy xuất hiện từ bao giờ. Nhưng dựa vào lịch sử chữ viết Lạc Việt, ta có thể đoán rằng, đó là do một dòng chảy liên tục từ chữ Cám Tang cho tới chữ Thủy. Có nghĩa là, chữ Thủy có lịch sử 6000 năm. Nói rằng, trong chữ Thủy có một số chữ Hán cũng có thể có cơ sở. Đó là do tiên nhân người Thủy đã mượn chữ Hán làm phong phú hơn cho chữ viết của mình. Tuy nhiên, chữ Thủy có đặc trưng riêng. Thế nào là cách viết ngược, viết đảo hay cải biến chữ Hán? Chi tiết này cho thấy chữ Thủy có gốc từ chữ tượng hình Lạc Việt. Trong khi người Trung Quốc thời Tần, Hán cải biến chữ của người Việt để viết theo cách nói Mông Cổ thì người Thủy vẫn giữ cách viết Lạc Việt truyền thống. Do vậy khi nhìn bản văn chữ Thủy, người Hán cho là viết ngược hay viết đảo với chữ Hán, tức là viết theo cú pháp Việt: phụ trước chính sau mà không phải như chữ Hán viết theo kiểu phụ trước chính sau. Người việt nói thịt gà, trong khi người Hán nói gà thịt! Điều này là thêm khẳng định thủy Thư là của người Lạc Việt. Bài viết trên cho ta thông tin giá trị: từ xa xưa, chậm nhất là 4000 năm trước, người Thủy đã biết tới Cửu tinh, Nhị thập bát tú, Bát quái cửu cung, Thiên can địa chi, nhật nguyệt ngũ tinh, Âm Dương ngũ hành, Lục thập giáp tử, tứ thời ngũ phương. Quy chế thất nguyên lịch được đề cập trong Chính nguyệt kiến Tuất của Thủy lịch.Điều này là bằng chứng hùng hồn nói rằng, tên 12 con giáp cho các con giống của hàng Can cũng như 10 số đếm của hàng Chi là do người Việt đặt. Và trùm lên tất cả, ta thấy sự phổ biến của Dịch lý trong sách Thủy. Đó cũng là một bằng chứng cho thấy người Lạc Việt là chủ nhân của Dịch lý. *Dịch từ 水书 http://baike.baidu.com/view/95537.htm
  13. DỊCH LÝ TRONG NGÔI MỘ CỔ Hà Văn Thùy Tháng Năm 1987, các nhà khảo cổ Trung Quốc phát hiện khu mộ cổ tại dốc Tây Thủy, thành phố Bộc Dương tỉnh Hà Nam. Khu mộ có 45 ngôi. Ngôi số 45 được khảo sát đặc biệt. Định tuổi bằng C14, ngôi mộ có niên đại khoảng 6500 năm (6460+/- 135), thuộc trung kỳ văn hóa Ngưỡng Thiều. Đầu mộ quay về hướng Nam, chân phía Bắc, phía Đông là một con rồng ghép bằng vỏ sò, có móng vuốt, sống động như thật; phía Tây của nó giống như một con hổ bằng vỏ sò, đầu lặng lẽ, uy nghi; phần bụng con hổ ghép bằng vỏ sò có hình giống hoa mai. Ngôi mộ số 45 có ba người tuẫn táng ở ba hướng Đông, Tây, Bắc, được chôn theo một độ xiên nhất định. Kiểm tra các bộ xương cho thấy những người tuẫn táng trong độ tuổi từ 12 tới 16, đầu của họ có dấu vết đâm, chứng tỏ là những cái chết không tự nhiên. Dưới chân mộ chủ có hình tam giác và hai ống xương chày trẻ em lấy từ ngôi mộ số 31. Sau khi phát hiện báu vật, Trung Quốc đã xây nhà bảo tàng lớn để trưng bày khu mộ này. Ông Từ Thiều Sam, nhà phong thủy từng nghiên cứu ngôi mộ đưa ra nhận định sau: “1. Mộ Bộc Dương số 45 có hình thanh long, bạch hổ và 28 địa điểm đồ hình tương ứng với đồ hình thanh long, bạch hổ,(cho thấy) thanh long, bạch hổ đồ của mộ Bộc Dương số 45 là tứ tượng đồ. Theo hình dạng và kích thước của thanh long, bạch hổ trong mộ Bộc Dương 45 thấy bảy con số phù hợp vị trí có thể được xác định 28 địa điểm đã được thiết lập tại thời điểm chôn cất. 2. Xa nhất về phương nam theo hướng tý ngọ (Bắc Nam) của mộ 45 là mộ số 31. Chủ nhân mộ số 31 ở phía cực nam là một đồng nữ, là thần Hạ chí. Ba nạn nhân hiến tế trong mộ 45 thì một là biểu tượng của thần Xuân phân (phía Đông, đồng nam), thần Thu phân (phía Tây, đồng nữ) và thần Đông chí (Bắc, đồng nam). Tại đây chu kỳ mùa đượchoàn tất. Người xưa đã có một niềm tin văn hóa rất đầy đủ: Đông, Xuân là dương, được biểu thị bằng đồng nam; Hạ, Thu là âm được biểu thị bởi đồng nữ. Mộ số 45 3.Thứ ba, trong phần bụng con hổ bằng vỏ sò ở ngôi mộ số 45, có một loạt các vỏ sò nằm rải rác. Đống này nằm trong bụng của con hổ bằng vỏ sò, đồ hình ngọn lửa trong bụng con hổ chỉ nhằm để khẳng định lẫn nhau. Trong đồ án của ngôi mộ 45 với mô hình đồ án đối chiếu, chúng phản ánh chính xác cùng một nội dung, hình ảnh là một "bản đồ sao" (tinh đồ). Trong bụng hổ là mặt trời hình hoa mai, theo thông lệ là ngày Xuân phân. Khái quát, ngôi mộ được sắp xếp theo tượng sao lúc hoàng hôn ngày Xuân phân. 4. Đo bằng con số ngôi mộ có sẵn BP'P = B'P'P = 24 ° 00 '. Thứ hai, những vỏ sò trong bụng con hổ có hình hoa mai là mặt trời, theo tiền lệ đó là quỹ đạo của sao vào ngày Xuân phân. hướng mà dần dần học được cách thiết kế, đó là “tiêu.” Do cơ thể con người, cọc tiêu và thời gian có mối quan hệ đặc biệt, vì vậy người xưa gọi là “thời gian đo đùi”, ý nghĩa của chân đùi con người. 5. Đêm quan sát sao Bắc Đẩu, ngày dựng tiêu. Dưới chân chủ nhân ngôi mộ số 45 có hình tam giác nhỏ và hai xương chày trẻ em.Xương chày như cán của chòm Bắc Đẩu. Bắc Đẩu được người xưa dùng trong chiêm tinh học. Đêm quan sát Bắc Đẩu, ngày dựng tiêu đo bóng. Phương pháp cắm tiêu đo hình cổ nhất là người xưa thông qua bóng trên cơ thể người thay đổi phương hướng mà dần dần học được cách thiết kế, đó là “tiêu.” Do cơ thể con người, cọc tiêu và thời gian có mối quan hệ đặc biệt, vì vậy người xưa gọi là “thời gian đo đùi”, ý nghĩa của chân đùi con người.Bắc Đẩu đồ trong ngôi mộ Bộc Dương 45, chân, tiêu và thời gian liên kết lại, phản ánh người xưa thông qua dựng tiêu đo bóng và quan trắc Bắc Đẩu để xác định thời điểm. 6. Để xương chày như cán của chòm sao Bắc Đẩu, xác định bốn tượng kiến lập trên quan sát tại Bắc Đẩu. 7.Tôn thờ vật tổ của Trung Quốc tồn tại trong 6500 năm trước. Từ tính toán vị trí tứ tượng đồ tinh, người xưa tiến hành tối thiểu 100.000 quan sát chiêm tinh trước khi bắt đầu ghi chép. Sơ đồ ngôi mộ số 45 Sơ đồ phân tích mộ 45 Mộ 45: thanh long bạch hổ đồ và 28 điểm tương ứng 8. Đây là lần đầu tiên ở Trung Quốc phát hiện bố cục âm trạch phong thủy, quyết định phương hướng phát triển của phong thủy sau này. 9. Ngôi mộ số 45 đầu hình bán nguyệt, chân mộ vuông chứng tỏ quan niệm trời tròn đất vuông đã hình thành. 10. Theo 28 địa điểm và chia ra bốn thần cho thấy 6500 năm trước đã nắm được sự vận hành của năm và sáng tạo các hệ thống thiên văn can chi.” Ý kiến của chúng tôi: Trước hết phải khẳng định, chủ nhân văn hóa Ngưỡng Thiều 6500 năm trước là người Việt. 40.000 năm cách nay, người Lạc Việt từ Việt Nam đi lên khai phá Trung Hoa, đã để lại những di chỉ: Động Người Tiên, với mảnh gốm đầu tiên trên thế giới 20.000 tuổi cùng hạt lúa trồng sớm nhất 12.400 năm. Tiếp đó là văn hóa Giả Hồ 9000 năm trước, Hà Mẫu Độ 7000 năm trước. Người Việt mang giống kê, giống lúa lên lưu vực Hoàng Hà. Tại vĩ độ 35, do khí hậu quá khô, cây lúa không sống được nên cây kê trở thành cây lương thực chủ yếu. Khoảng 7000 năm trước, tại trung du Hoàng Hà, người Việt tiếp xúc với người sống trên đồng cỏ bờ phía Bắc (sau này Đồng Cỏ được nói trại thành Mồng Cỏ rồi Mông Cổ), sinh ra chủng người mới Mongoloid phương Nam (South Mongoloid). Người Mongoloid phương Nam do người mẹ Việt sinh ra, sống trong dân cư văn hóa Việt, nói tiếng Việt nên là người Việt. Như vậy là, một chủng người Việt mới ra đời. Với thời gian, số lượng người Mongoloid phương Nam tăng lên, trở thành chủ nhân văn hóa trồng kê Ngưỡng Thiều, bao gồm các tỉnh Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc… Mộ Bộc Dương số 45 với 6500 tuổi, được tạo lập gần 2000 năm trước khi Hoàng Đế ra đời (khoảng 2698 TCN) nên hoàn toàn là của người Lạc Việt. Mộ Bộc Dương 45 là cột mốc có ý nghĩa đặc biệt, cho thấy 6500 năm trước người Việt đã có: 1. Kiến thức thiên văn học trưởng thành. Đã hình thành quan niệm trời tròn đất vuông, khám phá sao Bắc Đẩu cùng Nhị thập bát tú trên bầu trời. 2. Đã sáng tạo can, chi, lịch pháp với những ngày tiết trong năm. 3. Từ ngôi mộ, có thể thấy các vị trí: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài được xác định. Điều này chứng tỏ Bát Quái đã được xác lập 4. Đã trưởng thành về thuật phong thủy và áp dụng trong mai táng. Từ những tri thức trên chứng tỏ rằng người Việt lúc này đã nắm được dịch lý. Đây là bằng chứng vững chắc khẳng định Dịch là sáng tạo của tộc Việt. Thời điểm của mộ Bộc Dương cũng trùng với thời gian xuất hiện của tổ người Việt là Phục Hy (năm 4480 TCN), là người được cho là có công “họa quái”- tức làm ra Địch. Phải chăng điều này cho thấy sự gắn bó giữa huyền thoại và thực tế? 22. 7. 2014 Tài liệu tham khảo: 徐韶杉:从阴宅风水看仰韶天文 http://www.chinahexie.org.cn/a/yishupinsheji/gudongshoucang/shoucangshichang/2011/0106/6043.html
  14. CHIẾC GẬY THẦN - DẠNG THỨC NGUYÊN THỦY CỦA HÀO ÂM HÀO DƯƠNG Nguyễn Thiếu Dũng Kinh Dịch được xưng tụng vào hàng kỳ thư của thế giới là do người làm ra Dịch biết vận dụng một cấu trúc độc đáo làm ngôn ngữ diễn đạt. Ngôn ngữ của Dịch chỉ có hai ký tự: một hào âm và một hào dương. Hào dương là một vạch liền (-), hào âm là một vạch đứt (--). Đó là hai ký hiệu biểu trưng cho hai năng lực đối lập trong vũ trụ phối hợp với nhau tạo nên vận động của vũ trụ . Vũ trụ được quan niệm như một thái cực, thái cực có hai năng lượng âm dương (lưỡng nghi) cọ xát nhau, đun đẩy nhau, biến hóa sinh thành tám dạng thức (tám quẻ đơn hay tám kinh quái) Tám dạng thức này có hai đường vận động: Tám quẻ đơn vận động trên vòng tròn tạo thành ba thiên đồ: Tiên Thiên Đồ, Hậu Thiên Đồ và Trung Thiên Đồ. Trung Quốc chỉ lưu hành hai đồ Tiên Thiên và Hậu Thiên. Trung Thiên Đồ không được lưu hành ở Trung Quốc vì Trung Quốc không thế nào tìm được thiên đồ này, lý do là Việt Nam cha đẻ Kinh Dịch đã giấu biệt không cho Trung Quốc biết. (Xin xem Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam - cùng tác giả). Tám quẻ đơn chồng lên nhau từng đôi một, tạo thành 64 quẻ kép (hay 64 biệt quái). Ba Thiên Đồ và 64 quẻ kép bao quát hết mọi qui luật vận động của vũ trụ giúp con người có thể hiểu biết thế giới, cũng như hiểu biết chính mình, qua đó quán chiếu được vận mệnh của mình và của vũ trụ. Hai hào âm dương có công năng đa trị như thế chẳng khác chi chiếc gậy thần có phép biến hóa giúp con người có khả năng quán thông mọi sự, mọi việc. Hai hào âm dương tuy đơn giản nhưng lại là phát minh quan trọng có tính quyết định. Đó là cách hệ thống thuyết âm dương, chuyển thành biểu tượng, nhờ biểu tượng - một phương pháp đặc thù của Kinh Dịch - con người có thể đạt đến minh triết. Có thể nói không có hào âm, hào dương không có Kinh Dịch. Do đâu người xưa sáng tạo được hai hào âm dương thần kỳ như vậy? Đây là thắc mắc mà nhiều người muốn được giải thích. Vương Ngọc Đức tổng kết một số kiến giải của các triết gia Trung Quốc: Dịch. Hệ từ hạ trả lời: "Xưa Bào Hy thị làm vua thiên hạ, ngẩng lên trời quan thiên tượng, cúi xuống đất xem địa pháp, quan sát muông thú và chất đất, gần thì lấy ở thân mình, xa thì lấy ở vật. Vậy là sáng tạo ra bát quái". Người ta không thỏa mãn với lời giải đáp này, vì nó không nói được mối quan hệ giữa các hiện tượng của trời đất với quái hình của bát quái. Khổng Dĩnh Đạt đời Đường trong Chu Dịch chính nghĩa - Tự, giải thích: "Thánh nhân ngày xưa vẽ vạch cương, vạch nhu cho bát quái, tượng trưng cho hai khí. Sắp xếp ba vị trí, tượng trưng cho âm khí và dương khí"... Quách Mạt Nhược trong Trung Quốc cổ đại nghiên cứu chỉ ra rằng, bát quái tượng trưng cho bộ máy sinh dục nam nữ, nguồn gốc của bát quái, ta thấy rất rõ đó là tàn dư của sự sùng bái sinh thực khí thời cổ. Nét - tượng trưng dương vật của nam, chia làm hai -- tượng trưng cho âm hộ của nữ, từ đó mà có quan niệm về nam nữ, cha mẹ, âm dương, cương nhu, trời đất" (1, tr.45). Trên đây là cách giải thích của người Trung Hoa về phương cách lập thành hai hào âm dương. Kiến giải này nặng về tính dục. Để xác định nguồn gốc của biểu tượng hào dương và hào âm, các nhà Dịch học Trung Quốc còn xướng thuyết "Dịch hào khởi nguyên từ phệ số". Có người cho rằng Dịch hào do bói cỏ thi mà ra. Người ta dùng 50 cọng cỏ thi, bỏ 1 còn 49, sau ba lần biến họ được các con số: 36, 32, 28, 24, đem các số này chia cho 4, kết quả sẽ được 4 con số: 9, 8, 7, 6. Số 9 và số 7 là số lẻ thuộc dương tương đồng với hào dương vạch liền (-), số 8 và 6 là số chẳn thuộc âm tương đồng với hào âm vạch đứt (- -). Do đó họ kết luận hào dương hào âm xuất phát từ phệ số cỏ thi. Ta thấy rõ đây là lối giải thích quá khiên cưỡng kiểu thấy người sang bắt quàng làm họ. Số và tượng chỉ mới có mối tương đồng chứ không thể là một, đường ai nấy đi, gặp nhau chỉ là chuyện tình cờ. Số là số, tượng là tượng. Đối với Dịch chỉ có tượng mới qui định số, chứ số không thể chuyển hóa thành tượng nếu không được qui định. Ở đây ta thấy có một sự song hành giữa bói cỏ thi và Dịch. Bói cỏ thi dùng phệ số, được số rồi phải đi tìm lời đoán, phệ số dừng lại ở định mức này không thể tiến xa hơn để phát triển thành triết học. Trong khi đó Dịch khởi nguyên từ tượng, có tượng hào âm hào dương mới có Dịch, không có tượng hào âm hào dương không thể khai sinh ra Dịch. Có tượng rồi mới có số, chỉ có số không thể tạo ra Dịch, thì làm thế nào Dịch lại từ bói cỏ thi mà ra. Bói cỏ thi là môn bói toán thịnh hành thời nhà Chu Trung Quốc. Dịch là của Việt Nam truyền qua. (Lưu ý: Dịch được đề cập ở đây là Kinh Dịch nguyên thủy không kể Dịch Truyện là phần tinh hoa của Trung Quốc do chịu ảnh hưởng của Dịch nguyên thủy phát triển thành. Trung Quốc gộp chung Dịch Kinh và Dịch truyện thành Kinh mà họ gọi là Chu Dịch). Bói cỏ thi đang bế tắc vì không có hào từ qui định gặp được Dịch như cây gặp đất lành, cây lớn rất nhanh, phát triển thành rừng che kín cả đất.Về sau người ăn cây trái chỉ biết có cây, có rừng quên hẳn Đất. Đây cũng là chiến thuật trước ở ngoài sân sau lần vào bếp, mượn của người làm của mình, rồi soán đoạt luôn. Bói cỏ thi dựa vào Dịch, rồi biến Dịch thành công cụ, sau đó đồng hóa sáp nhập. Kẻ đi vay mượn trở thành chủ nhân. Bói cỏ thi được Dịch nuôi dưỡng trở mặt thành cha đẻ của Dịch. Gần đây, Trương Chính Lãng căn cứ vào những chữ số khắc trên những mảnh giáp cốt của đời Thương, đào được ở An Dương cũng khẳng định bát quái bắt nguồn từ phệ số, cho rằng hào dương là do số lẻ biến thành và hào âm là do số 6 (chữ lục) biến thành. Trên giáp cốt văn hay trên kim văn người ta phát hiện có những nhóm chữ số kỳ lạ, gồm có ba chữ số hoặc sáu chữ số tạo thành. Điều này khiến người ta liên tưởng đến các quẻ Dịch cũng do 3 hào hay 6 hào tạo thành. Rõ ràng là mối tương đồng này chỉ mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để kết luận đấy là quẻ Dịch. Trương Chính Lãng cho rằng trong các quẻ phệ số tìm được, chữ số 1 (chữ nhất -) và chữ số 6 (chữ lục, thời cổ đại viết là /\) sau này chữ nhất biến thành hào dương (-) và chữ lục /\ biến thành hào âm (--) do đó mặc dầu các chữ phệ số có nhiều số khác như 5, 7, 8 vẫn tùy theo số chẵn hay lẻ đều có thể đổi thành âm hoặc dương. Đây cũng là cách chặt đầu chặt chân để bỏ cho vừa rọ. Thuyết của Trương Chính Lãng cũng chỉ là thuyết khiên cưỡng như bói cỏ thi. Nhóm Chu Bá Côn đã thẳng thắn bác bỏ thuyết này: "Cách lý giải cho rằng quái tượng và hào tượng do chữ số biến hóa mà thành xem ra rất hợp lý. Song về khía cạnh lôgic, chúng không thể giải quyết được vấn đề kết cấu của "Kinh Dịch". Chúng ta đã biết, bản thân cuốn sách Kinh dịch là do Bát quái và Lục thập tứ quái (64 quẻ) tạo thành, vì thế cho nên sẽ là 8 kinh quái, 64 biệt quái, hơn nữa đơn vị cơ bản cấu thành chúng là sự gắn chặt của (-) và (--). Bởi vì hai loại nét ngang liền và nét ngang đứt đoạn được chồng 3, chỉ có thể có 8 đồ hình khác nhau, xét trên góc độ toán học thì là 2.2.2 = 8. Còn 8 loại đồ hình khác nhau khi được bình phương lên thì cũng chỉ có 64, tức là 8.8 = 64. Song dùng các chữ số trong phép bói cỏ như 1, 5, 6, 7, 8 v.v… không đủ chứng cứ để chứng minh tại sao trong Kinh Dịch lại chỉ có 8 kinh quái và 64 biệt quái"(2, tr.63). Đó là sự cách biệt một trời một vực giữa phệ số và Dịch, không thể đồng hóa phệ số là Dịch, cũng không thể nói số lẻ số chẵn dễ dàng chuyển hóa thành vạch liền vạch đứt được. Trong khi người Trung Hoa còn đang lúng túng về khởi nguyên của dạng hào vạch, thì trên trống đồng Đông Sơn của quê hương Việt Nam hào âm, hào dương và quẻ được khắc rất rõ khắp nơi trên mặt trống, trên tang trống, trên thân trống với nguyên hình, nếu chịu nhìn là nhận ra ngay. Trên đồ đồng Đông Sơn ta thường gặp những hình tượng biểu lộ tín ngưỡng phồn thực nhưng đối với người Văn Lang tính dục không phải là mối bận tâm hàng đầu, vì thế hình tượng sinh thực khí không phải là nguyên mẫu ảnh hưởng đến người sáng tạo ra Dịch. Những họa tiết hoa văn trên trống đồng Đông Sơn cho ta một cách tiếp cận khác, thực tế hơn. Nhìn những chiếc thuyền trên trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ, ta không khỏi tự hỏi: Tại sao trên mạn những chiếc thuyền này có vẽ những hoa văn vạch và chấm? Đó có phải là hình những chiếc nan tre gợi ý thuyền làm bằng tre đan, điều này khó thành hiện thực vì đầu thuyền và đuôi thuyền đều được uốn cong lên và có chạm tỉa hình đầu chim rất tỉ mỉ, chứng tỏ thuyền phải làm bằng gỗ. Có người cho rằng những đường vạch ngắn đó tượng trưng cho việc ghép những mảnh ván gỗ. Kiến giải này khó chấp nhận vì những vạch ngắn ở đây thường nằm đứng mà gỗ ghép thuyền thì phải nằm ngang theo chiều dài của thuyền. Đáng chú ý nhất là những đường vạch chấm chấm có mặt ở đây, không thể nói đây là những hàng đinh đóng. Vậy thì những hàng chấm chấm này biểu trưng cho cái gì? Thuyền trên trống đồng Hoàng Hạ. Nguồn: Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam Một khi ta đã ý thức rằng những họa tiết hoa văn trên trống đồng có liên hệ đến Dịch, ta sẽ nhận ra sự việc hết sức đơn giản rằng đó chỉ là hình tượng những hào âm, hào dương. Hào dương vạch liền, hào âm vạch chấm chấm. Trên thuyền chỗ nào cũng đầy những con mắt Dịch (xin xem "Con mắt Dịch" - cùng tác giả), thì thân thuyền trang trí đầy những hào quẻ không có gì lạ chẳng qua tất cả đều nằm trong một hệ thống. Có sự khác biệt giữa hình dạng hào đang lưu hành và hình dạng hào nguyên thủy. Người Trung Hoa giữ nguyên trạng hào dương một vạch liền nhưng đã cải biến hào âm thay vì vạch nhiều chấm họ đã đổi thành một vạch đứt. Có cách thay đổi này có thể là để vẽ cho nhanh. Không phải đợi đến thời kỳ Đông Sơn hào âm dạng nhiều chấm mới xuất hiện, thật ra hào âm nhiều chấm đã có mặt từ thời văn hóa Phùng Nguyên trước hào âm dạng vạch đứt cả nghìn năm. Khi những triết gia Văn Lang muốn tìm một hình ảnh để biểu tượng cho hào dương họ không phải mất nhiều thời gian, trong tay họ thường ngày vẫn cầm nắm những dụng cụ lao động: ngọn giáo đi săn, cây đâm trống, những dụng cụ này gợi ý cho họ chọn một vạch liền để tượng trưng cho hào dương. Nhưng với hào âm thì có thể phải mất nhiều thời gian suy tư. Triết gia thời cổ đại không ngồi trong phòng giấy để suy tưởng. Minh triết của họ gắn liền với thao tác lao động. Họ làm việc, thâm nhập vào cuộc sống, suy gẫm từ cuộc sống. Một buổi sớm mai trời còn mờ mờ, nhà hiền triết Văn Lang đã cầm ngọn giáo theo đoàn người lên nương, hôm nay họ trồng một loại ngũ cốc. Một người đàn ông đi giật lùi, vừa đi người đàn ông đó vừa cắm mạnh ngọn giáo xuống đất, rồi giựt mạnh ngọn giáo lên, một cái lỗ nho nhỏ hiện ra, một người đàn bà tay ôm bọc đậu bước lần theo, bàn tay kia bốc một hạt đậu khom lưng xuống tra hạt đậu vào lỗ. Cứ thế một người đi lui, một người bước tới, họ tỉa đậu một cách nhịp nhàng. Nhìn những người anh em hăng say canh tác, xa xa có tiếng suối reo vọng về hòa lẫn tiếng chim hót líu lo trong lúc ánh bình minh đang lên, lòng nhà hiền triết dâng lên một một niềm vui rộn rã, khoan khoái, bỗng một tia chớp vụt lóe sáng, nhà hiền triết cảm thấy như đang ngập tràn trong niềm hạnh phúc vô biên. Ngài cắm mạnh ngọn giáo xuống đất, ngắm đi, ngắm lại cái lỗ nhỏ vừa được tạo ra. Ngài sung sướng lẫm bẩm với chính mình: "đây rồi!". Nhà hiền triết như thấy được ngày mai, từ cái lỗ nhỏ những cây đậu mọc ra những lá mầm xanh mơn mởn, chẳng khác gì hình ảnh những bà mẹ hoài thai sinh ra những đứa con xinh xắn. Vạn vật theo dòng năm tháng sinh sôi nảy nở. Nhà hiền triết Văn Lang, cha đẻ của Kinh Dịch, thở phào nhẹ nhõm, ngài đã tìm ra hình ảnh tượng trưng cho hào âm, đấy là những chấm nhỏ nối nhau như những lỗ tra hạt giống. Phát minh của nhà hiền triết Văn Lang được khắc ghi lại trên đồ gốm Phùng Nguyên và hậu duệ của ngài tiếp tục truyền thống đó ghi lại trên trống đồng. Những vạch chấm đó được vẽ trên hình chim, trông mường tượng như lông chim khiến hậu thế hiểu lầm. Với chim thì còn giống, còn dễ lầm nhưng với bò trên trống đồi Ro những hình trang trí đó cũng gọi là lông bò được sao, và cả trên hình thuyền trống Ngọc Lũ, trống Hoàng Hạ, chẵng lẽ là lông thuyền! Quan sát một mẫu thuyền trên trống Miếu Môn ta thấy rất nhiều hào dương vạch liền và hào âm vạch chấm chấm được trang trí trên mạn thuyền. Vì là trang trí nên khó xác định được quẻ, nhưng các nhà thiết kế thường dùng nhiều quẻ Càn 3 vạch liền. Vạch chấm chấm nằm rải rác nên ta có thể đọc được rất nhiều dạng quẻ tùy vị trí của nó như quẻ Đoài có một vạch chấm chấm ở trên và hai vạch liền ở dưới, quẻ Ly có một vạch chấm chấm ở giữa và hai vạch liền hai bên, quẻ Tốn có một vạch chấm chấm ở dưới và hai vạch liền ở trên. Các vạch hào âm dương này cũng được trang trí trên chim đang săn mồi cạnh thuyền. Trên lưng chim còn có hình con mắt một vòng tròn có chấm ở giữa đó là hình dạng quẻ Ly, chấm giữa và vòng tròn bên ngoài là hào dương, vòng trắng ở giữa chính là hào âm. Theo Kinh Dịch quẻ Ly có các biểu tượng là con chim, con bò, lưới săn. Trên đầu những người ngồi trên thuyền có đội mũ hình ba vạch đó là tượng quẻ Càn (trời), không phải là lông chim, đây là loại mũ Dịch dùng để đội khi tế lễ. Tất cả những họa tiết trên trống đồng thường được gọi là lông đều nằm trong một hệ thống. Đấy là những hào âm, hào dương, biểu tượng của Dịch. Những chiếc mũ trên đầu người trên trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ không phải là những chiếc mũ lông chim như vật trang trí của những bộ lạc Di Địch quanh Trung Quốc, mà đấy là biểu tượng của Dịch, một nét đặc thù của người Văn Lang. Nếu là lông chim thì toàn bộ chỉ là những đường sọc kéo xuống sao lại còn có những đường chấm chấm kéo xuống? Đường nhiều chấm là hào âm, đường liền là hào dương. Cho nên ta có thể nói những chiếc mũ đó là những chiếc mũ Dịch thường được dùng để đội mỗi khi hành lễ. Vũ sĩ trên trống đồng Miếu Môn. Nguồn: Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam Trong hình vũ sĩ trên trống Miếu Môn, ta có thể tìm thấy một cách rõ ràng các quẻ Ly trên tấm mộc, quẻ Càn trên mũ vũ sĩ, quẻ Đoài trên áo vũ sĩ, quẻ đoài tượng trưng cho sự hoan lạc. Dải băng trắng và dải băng có chấm chấm là hào âm. Dải băng có hình tam giác và dải băng có hình hai vòng tròn có chấm ở giữa là hào dương. Cứ ba băng làm thành một quẻ đơn ta có thể đọc lần lượt từ trên xuống quẻ. Chấn/Lôi, quẻ Khảm/Thủy, quẻ Cấn/Sơn. Nếu đọc theo quẻ kép ta có hai quẻ: Lôi Thủy Giải và Thủy Sơn Kiển (Quẻ Khảm/Thủy nằm giữa vừa thuộc quẻ trên vừa thuộc quẻ dưới, do yêu cầu trang trí tỉnh lược). Trên thân bò khắc trên trống Đồi Ro hay trống Làng Vạc I có hình những con bò rất đặc biệt, con nào cũng có lông là hình khắc vạch các hào dương vạch liền và hào âm vạch chấm chấm. Những con bò trên trống Đồi Ro. Nguồn: Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam Ta có thể tìm thấy nhiều nhất là hình dạng các quẻ Tốn. Đây có thể là hình những con bò được đem làm lễ tế vì quẻ Tốn, quẻ thứ 41, hào Lục Tứ có câu: điền hoạch tam phẩm. Theo Vương Bậc - Chu Dịch chú: "Tam phẩm là ba loại thịt dùng để tế tự, để đãi tân khách, và để đưa vào nhà bếp". Cái u trên lưng bò có hình con mắt Dịch tức là quẻ Ly - hình vòng tròn có chấm. Ta biết, theo Dịch Ly có tượng là con bò. Bên cạnh con bò còn có quẻ Lôi Thủy Giải và Thủy Sơn Kiển vẽ theo dạng đứng. Giải Kiển tức là Giải nạn, nạn hạn hán hay là lũ lụt. Vậy đây là những con bò dùng trong lễ hiến tế để cầu giải hạn. Trên trống Ngọc Lũ I hay trống Hoàng Hạ có những ngôi nhà sàn mái hình vòng cung vồng lên (sống lồi) hay võng xuống như ở trống Sông Đà (sống võng), mặt trước nhà có trang trí những hình vòng tròn có chấm, có hay không có tiếp tuyến (hình 5). Nguyễn Văn Huyên và Hoàng Vinh cho đó là ngôi nhà có liên quan đến nghi lễ tôn giáo, đề nghị gọi là "nhà cầu mùa" và dẫn thêm ý kiến của những tác giả khác: Pac-măng-chi-ê gọi đó là vật hình vòng cung (arche). (H. Parmentier, 1918, Anciens tambours de bronze,BEFEO T. XVIII, Hà Nội, P.5) Đào Duy Anh tán thành ý kiến của Gô-lu-bép cho đây là cảnh đánh chiêng (Đào Duy Anh, 1957, Văn hóa đồ đồng và trống đồng Lạc Việt, Hà Nội, tr. 34) Văn Hựu xem đó là những tấm phên (Văn Hựu, 1957, Cổ đồng cổ đồ lục, Bắc Kinh). Nguyễn Ngọc Chương cho đó là ngôi nhà để tiến hành nghi lễ có liên quan đến việc cầu mùa (Nguyễn Ngọc Chương, 1971, Tìm hiểu một số hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ, Nghiên cứu Lịch sử, số 141, Hà Nội) (3, tr.2). Rất có thể đây là nhà cầu mùa hay nhà cầu giải hạn, đúng như các tác giả đã nói là ngôi nhà có liên quan đến nghi lễ tôn giáo, theo thiển ý ngôi nhà này có nhiều liên hệ đến Dịch, tư tưởng chủ đạo của thời Hùng Vương chi phối mọi sinh hoạt của cư dân Văn Lang thời ấy. Ngôi nhà bói dịch trên trống đồng Ngọc Lũ. Nguồn Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam Các ngôi nhà trên cả ba trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà đều có điểm chung là dùng các hào dương vạch liền, hào âm vạch chấm chấm và vòng tròn có liên quan đến Dịch để trang trí. Các vòng tròn ở đây không thể quan niệm là những chiếc chiêng có núm được vì trên lưng hai con chim trên nóc nhà trống Hoàng Hạ cũng có vòng tròn có chấm này và tất nhiên chim đó không thể mang chiêng trên mình nó. Lại thêm những vòng tròn có chấm trên trống Sông Đà có tiếp tuyến không thể xem đó là những sợi dây buộc chiêng được. Hai con chim trên nóc nhà trống Hoàng Hạ có thể gọi là hai con chim Dịch, một con lớn và một con nhỏ, như một trống một mái, hai con đang cọ mỏ vào nhau tượng cho âm dương giao hoán theo nghĩa giao dịch của Kinh Dịch. Hai cột trang trí hai bên hông nhà không thể là hai trụ cột vì nó nằm nghiêng và không chấm đất, chỉ có thể là hai cột trang trí, các cột này trên cùng có hình các vòng tròn đồng tâm, vòng tròn có thể xem là biến thái của chấm, tượng trưng cho nguyên lý âm, vòng tròn có chấm ở giữa tượng trưng cho nguyên lý dương. Các vòng tròn nhỏ có chấm giữa là những con mắt Dịch, biểu tượng của Dịch Văn Lang (đã giải rõ hơn trong bài "Con mắt Dịch" - cùng tác giả). Các chấm và các vạch ngang dùng để trang trí gợi nhắc đến hào âm và hào dương. Đường tiếp tuyến chính là hào dương - cây gậy thần nối những con mắt Dịch dẫn đưa trí tuệ của Dịch Văn Lang lan tỏa khắp không gian. Vì những liên hệ đó với Dịch có thể gọi đây là Nhà Bói Dịch hay đúng hơn là Nhà Bói Diệc (Chữ Dịch còn đọc là Diệc, chỉ một loại Cò, xin xem "Đi tìm định nghĩa Dịch trên trống Đông Sơn" cùng tác giả). Cư dân Văn Lang tìm đến những ngôi nhà này để hỏi về cát hung, về cách giải quyết các vấn đề của cuộc sống, các nhà lãnh đạo đến những ngôi nhà này để cầu mùa, cầu giải hạn, giải quyết những vấn đề nhân sinh. Cảnh sinh hoạt được khắc họa trên trống đồng chính là cảnh sinh hoạt của một ngày hội Dịch. Không những con người hân hoan rộn ràng ca múa chào đón ngày Hội, mà cả sinh vật cũng hòa chung niềm vui với con người, từng đàn chim Dịch bay lượn, từng đàn hươu Dịch con âm con dương nối bước nhau diễn quanh trống đồng theo chiều quay của trái đất. Không chỉ vui riêng cho mình, người Văn Lang còn đưa không khí Dịch đến từng sự vật con thuyền, mái chèo, ngọn giáo, đâu đâu cũng trang hoàng ký hiệu của Dịch: những con mắt Dịch, hào Dịch, quẻ Dịch. Người và vật cùng say sưa, ngây ngất trong mùa Hội Dịch hay đúng hơn là Hội Diệc bất tận đi mãi cùng thời gian. Nguyễn Thiếu Dũng Tài liệu tham khảo: 1. Vương Ngọc Đức, 1996, Bí ẩn của Bát Quái, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 2. Chu Bá Côn, 2003, Dịch Học toàn tập, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam, 1975, Những trống đồng Đông Sơn
  15. MƯỜI ĐIỂM CHỨNG TỎ KINH DỊCH LÀ SÁNG TÁC PHẨM CỦA VIỆT NAM Nguyễn Thiếu Dũng Xưa nay KINH DỊCH thường được xem là sáng tác của Trung Hoa. Ngộ nhận này kéo dài hơn 2500 năm, nay phải được thay đổi cách nhìn để phù hợp với sự thực của lịch sử. KINH DỊCH LÀ SÁNG TÁC CỦA VIỆT NAM, TRUNG QUỐC CHỈ CÓ CÔNG QUẢNG DIỄN VÀ PHỔ BIẾN. 1) DIỆC HAY DỊCH Khi tạo tác KINH DỊCH tiền nhân Việt Nam gọi là DIỆC, tên một loài chim nước giống cò, trên trống đồng Đông Sơn ta thấy khắc những con chim nước đang gắp cá có ghi dấu hiệu DỊCH, đó là một cách bói trước khi thuyền ra khơi xem có được mùa hay không. Người xưa khi dong thuyền ra sông ra biển để tế lễ hay để săn cá thường hay quen thuộc với hình ảnh những con cò, con diệc kiếm ăn trên bờ nước. Họ lấy kết quả các loài chim đó bắt được mồi hay không để chiêm nghiệm kết quả công việc mình làm. Chim bắt được cá họ nghĩ mình sẽ thành công, chim không bắt được cá họ liên tưởng mình sẽ thất bại, lâu ngày việc chiêm nghiệm này hình thành cách bói gọi là bói Diệc Người Việt Nam theo truyền thống vẫn gọi kinh Dịch là kinh Diệc, bói Dịch là bói Diệc. Trong Tự Điển của Pigneau de Béhaine thế kỷ XVIII chỉ ghi kinh Diệc chứ không ghi kinh Dịch. Cách gọi này còn thịnh hành cho đến nửa đầu thế kỷ XX. (Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam) Khổng Tử nói "Cho ta sống thêm mấy năm, đến 50 tuổi để học Diệc, có thể không phạm lỗi lầm lớn nữa" (Gia ngã sổ niên, ngũ thập dĩ học Diệc, khả dĩ vô đại quá hỹ) Lỗ Luận Ngữ, Tề Luận Ngữ, Cổ Luận Ngữ, cả ba đều đồng thanh xác nhận đây là lời nói thực của Khổng Tử: "Gia ngã sổ niên, ngũ thập dĩ học Diệc, khả dĩ vô đại quá hỹ". Khổng Tử nói là Diệc chứ không nói là Dịch vì ông là người nước Lỗ nên đọc theo âm nước Lỗ. 2) HÀO ÂM, HÀO DƯƠNG Trên trống đồng Đông Sơn Thanh Hóa Việt Nam, có trước Tả Truyện, hào dương khắc là vạch liền, hào âm là những vành trắng hay nhiều chấm hoặc nhiều vòng tròn nhỏ. Dịch Trung Hoa cải biên hào âm lại với nhau thành vạch đứt do nối các chấm lại với nhau. 3) TÊN CÁC QUẺ ĐƠN Tên các quẻ đơn là thuật ngữ chỉ có thể giải thích bằng tiếng Việt, tiếng Trung lúng túng không giải thích được: Càn, can kết lại; Khôn, khôn ngoan chỉ những lổ biết theo ý người gieo hạt mà nẩy mầm; Khảm, nạm vào, cẩn vào; Ly, âm của lửa; Cấn, cấn cái; Chấn, cái trống; Tốn, khuyết hãm ở dưới; Đoài, ao đầm. 4) TRUNG THIÊN ĐỒ Theo thuyết tam tài đã có Tiên Thiên đồ, Hậu Thiên đồ thì phải có Trung Thiên đồ nhưng Trung Hoa không có mà đồ này lại là cốt tủy của Dịch, nó là la bàn để dựa vào đó viết lời hào. Việt Nam đã tìm ra Trung Thiên đồ xếp theo vị trí Càn Nam, Đoài Đông Nam, Tốn Đông, Khảm Đông Bắc, Ly Bắc, Cấn Tây Bắc, Chấn Tây, Khôn Tây Nam. 5) MÃ HÓA Việt Nam lại tìm ra chứng tích Trung Thiên đồ được mã hóa trong truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ. Càn là Lạc Long Quân, Khôn là Âu Cơ, Lạc Long Quân diệt Hồ tinh quẻ Đoài, Mộc tinh Tốn, Ngư tinh Khảm (Long Quân tính thủy Khảm), Ly Âu Cơ tính hỏa, dẫn 50 lên núi quẻ Cấn, tôn người con trưởng quẻ Chấn làm vua hiệu là Hùng Vương. 6) LUÂN XA Vị trí các quẻ trên Trung Thiên đồ hoàn toàn ứng với vị trí các luân xa trên cơ thể con người nên ta có thể hiểu rằng tổ tiên Việt Nam đã luyện khí công và thiền định mà giao hội với vũ trụ để viết nên Kinh Dịch.Người Hoa không hiểu được tại sao lại gọi quẻ Thiên Hỏa là Đồng Nhân chẳng qua là hai quẻ này nằm trên trục tung của Trung Thiên đồ, Càn ứng với Luân xa Thiên là Thiên môn, Bách hội. Ly Hỏa ứng với huyệt Trường Cường Hỏa Xà, hai Luân xa này hợp nhau thì sẽ hòa đồng với vũ trụ.Tiếp đó họ hiểu sai về quẻ Đại hữu là giàu có vật chất, thực ra đó là thành tựu lớn nhất của hành giả luyện công. Trung Thiên Đồ tương hợp với Luân xa 7) MẠCH VĂN Trong mỗi quẻ lời hào là một khối liên hoàn, nói cùng một chủ đề chứ không rời rạc như Dịch Trung Hoa quan niệm. 8) SAI VỀ NGUỒN GỐC Truyền thuyết Phục Hy vẽ bát quái không có thực, thuyết khởi nguyên Kinh Dịch của Khuất Vạn Lý, Trương Chính Lãng không thuyết phục vì không phù hợp với cơ chế cấu tạo Kinh Dịch. 9) TỬ HUYỆT VĂN VƯƠNG Việc cho Văn Vương vẽ Hậu Thiên đồ và viết quái hào từ Kinh Dịch lại càng chứng tỏ rõ rệt Trung Quốc không thể là người sáng tạo Kinh Dịch vì theo tam tài bao giờ cũng có ba cái đi liền nhau, đã có Tiên Thiên đồ thì phải có Hậu Thiên đồ tiếp đó là Trung Thiên đồ không hề có chuyện Phục Hy làm ra Tiên Thiên đồ từ 4.000 năm trước rồi 2.000 năm sau Văn Vương mới tà tà làm Hậu Thiên đồ thì còn chi là Dịch, là tam tài. 10) THÔNG ĐIỆP: Người Việt Nam phải biết trân quí di sản của tiền nhân, chúng ta phải xóa mặc cảm tự ti, đón nhận KINH DỊCH trở về với dân tộc. Kinh Dịch là ánh dương rực sáng soi rõ thời Sơ Sử của nước ta bấy lâu bị nhận chìm trong cõi huyền sử mờ ảo. Kinh Dịch là văn bản chính thức xác thực khẳng định sự hiện hữu tất yếu của Thời đại Hùng Vương ở những trang đầu của lịch sử mở nước của dân tộc ta. Kinh Dịch xác nhận truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ là trang Quốc phả của Việt Nam với bờ cõi mênh mông tới tận Nam Dương Tử, tồn tại từ hơn 5.000 năm trước. Kinh Dịch giúp ta chấm dứt tiếng than dài phi lý của các nhà viết sử Việt Nam, thời thượng cổ nước ta không có chữ, xóa bỏ án oan cho tiền nhân “HỌC MƯỢN VIẾT NHỜ” mà lẽ ra đó là chuyện của dân Hoa Hán. Vì chữ tượng hình để viết Kinh Dịch đương nhiên là chữ do người Việt sáng tạo. Tác động của Kinh Dịch ảnh hưởng trùm phủ văn minh Đông Phương, xác nhận VĂN MINH ĐÔNG PHƯƠNG xuất phát từ người Lạc Việt. Người Việt Nam có bổn phận đón nhận Kinh Dịch để bảo vệ danh dự của dân tộc và trả lại công bằng cho Tổ Tiên. PHỤ CHÚ: ĐÔI ĐIỀU VỀ TRUNG THIÊN ĐỒ Hiện nay có nhiều Trung Thiên đồ nhiều người không nghiên cứu cứ nghe tên là đánh đồng làm một, vì vậy cần phân biệt. Kinh Dịch hiện đang lưu hành chỉ mới công bố 2 thiên đồ, Tiên Thiên và Hậu Thiên theo thuyết tam tài như vậy còn thiếu đồ thứ ba là Trung Thiên đồ. Ngoài các thiên đồ các nhà Dịch học còn ghép Hà Đồ Lạc Thư vào với Kinh Dịch làm biểu lý cho nhau. Nhưng xét cho cùng thì cấu trúc hai loại này hoàn toàn khác nhau. Hà đồ Lạc Thư khởi đi từ số, Hà đồ lấy số từ 1 đên 10 nên có tổng số 55, Lạc thư lấy số từ 1 đến 9 nên có tổng số là 45. Những số này được chuyển thành điểm tròn, đen là âm, trắng là dương. Trung Thiên Dịch của cụ Trần Cao Vân đi theo loại độ số này, đồ của cụ có 25 điểm đen và 25 điểm trắng tổng số là 50. Do 50 nằm giữa 45 và 55 nên cụ gọi đồ của cụ là Trung Thiên. Cấu trúc thiên đồ khác với Hà Đồ Lạc Thư, khởi đi từ tượng do tượng âm và tượng dương tạo thành, nhưng dịch Trung Hoa chỉ mới biết có Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ, không biết gì về Trung Thiên Đồ. Vì muốn nhận Kinh Dịch là của mình nên Trung Hoa bịa ra Tiên Thiên Đồ của Phục Hy làm ra từ 4.000 năm trước, Hậu Thiên Đồ của Văn Vương làm ra 2.000 năm sau. Đây là chỗ sơ hở của Trung Hoa giấu đầu lòi đuôi, theo tam tài thì phải có ba tài, Thiên, Địa, Nhân, nên quẻ đơn phải có 3 vạch, quẻ kép 6 vạch ghép thành 3 đôi, vậy chẳng có lý nào làm 1 đồ 4.000 năm trước rồi 2.000 năm sau mới làm cái thứ hai và mãi mãi không có cái thứ 3. Quá vô lý. Trung Thiên Đồ của tôi chính là để bổ túc khuyết điểm này, khi làm ra TTĐ tôi nắm được bí quyết và biết ngay Trung Quốc không hiểu vấn đề này. Khi 8 quẻ đơn chạy trên vòng bát quái các vị trí chuyển đổi cho nhau sẽ có 40.320 thiên đồ chứ không phải chỉ có 3 cái. Vậy sao Dịch chỉ dùng 3 cái, bắt buộc phải chứng minh. Ba đồ này là duy nhất, nếu đổi một vị trí sẽ thành đồ khác trong số 40.320 đồ, ai muốn phát huy kinh Dịch cứ chọn một đồ là có thể xưng hùng xưng bá. Về sau tôi phát hiện ra Trung Thiên Đồ ẩn giấu trong truyền thuyết, tôi ngộ ra tổ tiên ta đã viết kinh dịch qua đồ này, nhưng không thể kết luận ngay được mà phải chứng minh sự liên hệ của nó với 2 đồ kia và vai trò của nó trong kinh văn kinh dịch. Nói là di truyền của tổ tiên cũng phải chứng minh chứ có ai truyền lại đâu, phát minh đấy. Dịch học gia gọi là phát kỳ vị phát. Bảo Ba đời Nguyên trong sách Dịch nguyên áo nghĩa có lập Trung Thiên Đồ nhưng đồ này chỉ là biến thể Hậu Thiên đồ theo ý riêng của Bảo Ba chứ không đúng với nguyên bản Trung Thiên Đồ chính gốc của Dịch Hiện nay Trung Hoa còn đưa ra một Trung Thiên Đồ khác gọi là Trung Thiên Đồ Thiên Văn cũng không ăn nhập gì. Không phải cứ cùng mang tên là giống nhau, cùng một công dụng, một vai trò. N.T.D