• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Thiên Sứ

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    31.238
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    2.206

Everything posted by Thiên Sứ

  1. THU PHONG TỪ Thiên Sứ Cảm tác thơ Lý Bạch Gió thu khe khẽ nói Trăng thu vằng vặc soi. Lá thu bay tứ tán Rùng mình quạ lạnh người. * Bao giờ lại gặp người ơi? Trăng thu khắc khoải giữa trời sầu miên. THU PHONG TỪ Lê Nguyễn Lưu dịch Gió thu lành Trăng thu thanh Lá rơi tụ lại tán Quạ lạnh chợt rùng mình Thương nhớ, biết bao giờ mới gặp ? Lúc này đêm ấy ngẩn ngơ tình... THU PHONG TỪ Lý Bạch Thu phong thanh, Thu nguyệt minh. Lạc diệp tụ hoàn tán, Hàn nha thê phục kinh. Tương tư, tương kiến tri hà nhật ? Thử thì thử dạ nan vi tình...
  2. NHỚ LÀM SAO Thiên Sứ Cảm tác thơ Thi Hoàng Bâng khuâng chiều tím biệt chiêu dương. Vườn cũ hoa cười nhớ sắc hương. Sương gió hải hồ tan lối mộng. Duyên xưa hiu hắt cảnh đoạn trường. * Muôn nẻo đường trần vương cát bụi. Cho lòng lữ khách lạnh sầu đông. Trăng xưa đã vỡ màu hoang dại. Đâu nỡ trách chi phận má hồng. NHỚ LÀM SAO THI HOÀNG Cách xa nhau đã mấy trùng duơng Mà nhớ làm sao một chút huơng Trăng mọc bên trời bao giấc mộng Mây bay cuối xóm suốt canh trường. * Mới đó còn nồng ly rượu tiễn Chưa chi mà đã buốt đêm đông. Em ơi trăng của mùa thu ấy Có lạnh gì nhau chút má hồng.
  3. KHÔNG ĐỀ Chiều buồn rơi bơ vơ Sầu buông ngập đường tơ. Nhớ ai bao hẹn ước mong chờ. Nhạc ngày nào dâng ước mơ Khi hẹn nhau dưới trăng mờ. Tình dâng ngập hồn thơ. Nay trách ai hững hờ. Ngàn thu xơ xác gió ngẩn ngơ. Thiên Sứ
  4. Các anh chị em và các bạn thân mến. Thời gian qua chúng tôi đã nhận được rất nhiều yêu cầu đang ký thành viên cũng như thư từ, bài vở cộng tác của các bạn. Diễn đàn của Trung Tâm Lý Học Đông Phương hiện đang trong quá trình xây dựng và phát triển. Hiện tuy vẫn còn nhiều thiếu sót và các lỗi cần khắc phục. Nhưng chúng tôi đã có thể nhận đăng ký thành viên. Theo nội quy diễn đàn quy đinh, để đăng ký tham gia diễn đàn bạn cần có: - Chứng thực địa chỉ email, bằng cách kiểm tra email diễn đàn gửi tới sau khi đăng ký và kích hoạt tài khoản từ email gửi tới. Để được đăng nhập, các bạn hãy gửi thư theo địa chỉ email của ban Quản trị diễn đàn: info@lyhocdongphuong.org.vn Cảm ơn sự tham gia của các bạn. Ban Quản Trị Diễn Đàn
  5. 10 lời nguyền kỳ lạ trong lịch sử (Ảnh: Listverse). (Dân trí) - Có những lời nguyền rất đơn giản nhưng rất nhiều trong số đó khiến người ta phải sởn tóc gáy. Dưới đây là 10 lời nguyền nổi tiếng nhất. 1. Lời nguyền Siêu nhân Nói đến lời nguyền của Siêu nhân người ta thường nhắc tới những tai ương xảy ra với những người có liên quan đến câu chuyện Siêu nhân trong quãng thời gian gần 100 năm qua. Có lẽ George Reeves và Christopher Reeve - diễn viên trong loạt phim truyền hình và điện ảnh Siêu nhân đầu tiên - là 2 người nổi tiếng nhất trong số những người vướng phải lời nguyền. George Reeves tự tử còn Christopher Reeve bị liệt sau khi ngã ngựa. Các nạn nhân khác có Jerry Siegel và họa sĩ Joe Shuster, 2 người đã sáng tạo ra nhân vật nhưng thu được rất ít tiền bởi công ty DC Comics nắm tất cả bản quyền. Một số người nói rằng Jerry và Joe đã áp đặt lời nguyền lên nhân vật viễn tưởng này bởi họ cho rằng mình bị đối xử bất công so với công sức bỏ ra. Thậm chí có lời đồn rằng John F Kennedy là nạn nhân của lời nguyền vì không lâu trước cái chết của ông, nhân viên của tổng thống đã phê chuẩn cho xuất bản một cậu chuyện Siêu nhân (trong đó người hùng “khoe” tham vọng có được thân hình của tổng thống) vào tháng 4/1964. Do khiếp sợ trước lời nguyền này, rất nhiều diễn viên đã từ chối đóng vai Siêu nhân trong những bộ phim phiên bản mới nhất. Paul Walker (nằm trong danh sách 10 diễn viên tồi tệ nhất) là một trong số các diễn viên không hề hấn gì, nhưng Paul đã giết chết nhân vật anh đóng hơn là bị Siêu nhân làm cho điêu đứng. 2. Hòn đá Björketorp Đây là một trong số những hòn đá được tìm thấy tại tỉnh Blekinge, Thụy Điển có từ thế kỷ thứ 6 sau công nguyên. Chúng cao đến 4,2 m. Một số hòn xếp thành vòng tròn, trong khi những hòn khác đứng một mình. Trên hòn đá Björketorp có khắc dòng chữ: “Ta, chủ nhân của những hòn đá che dấu sức mạnh của chúng tại đây. Anh ta sẽ ngập tràn trong tội lỗi xấu xa, phải chịu cái chết âm thầm nếu là người phá vỡ tấm bia mộ này. Ta tiên đoán được sự hủy diệt”. Một câu chuyện được người dân địa phương lưu truyền có liên quan tới lời nguyền này đã từng được kiểm chứng và chứng minh là có thật. Cách đây rất lâu rồi, có một người đàn ông muốn dịch chuyển hòn đá để có thêm đất canh tác. Anh ta chất đống củi xung quanh để đun nóng, sau đó dội nước để làm vỡ hòn đá. Tuy nhiên, không khí lúc đó cực kỳ lặng gió. Anh ta chỉ vừa kịp châm lửa thì một cơn gió đột nhiên xuất hiện chuyển hướng ngọn lửa khiến cho tóc của người đàn ông bốc cháy. Anh ta lăn lộn trên mặt đất để dập tắt lửa, nhưng nó đã lan ra quần áo và người đàn ông tội nghiệp đã chết trong đau đớn tột cùng. 3. Lời nguyền Bambino Lời nguyền Bambino ám chỉ đến chuỗi đen đủi mà đội bóng chày Boston Red Sox phải hứng chịu sau khi chuyển nhượng cầu thủ Babe Ruth cho đội New York Yankees vào năm 1920. Cho đến lúc đó, NY Yankees chưa bao giờ giành được giải World Series, họ hi vọng Ruth sẽ thay đổi vận mệnh cho đội và anh đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Sau khi chuyển nhượng, Boston Red Sox chẳng giành lấy được một danh hiệu World Series nào nữa mãi cho đến năm 2004. Trong thời gian diễn ra trận đấu phá bỏ lời nguyền, hiện tượng nguyệt thực hoàn toàn xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử World Series. Chiến thắng năm 2004 thậm chí còn kịch tính hơn khi đó là cuộc đối đầu giữa Boston Red Sox với New York Yankees. 4. Lời nguyền Tippecanoe Vào năm 1840, William Henry Harrison lên nắm chức tổng thống Mỹ với khẩu hiệu “Tippecanoe và Tyler Too” (ám chỉ việc ông tham gia vào Trận chiến Tippecanoe năm 1811). Một năm sau, W Harrison qua đời. Kể từ đó cho đến khi Ronald Reagan lên nắm quyền năm 1980, mỗi tổng thống được bầu lên đều ra đi khi vẫn đang ở trong nhiệm kỳ của mình. Dưới đây là năm mất và nguyên nhân cái chết của các vị tổng thống: 1840 (W Harrison - chết tự nhiên), 1860 (Lincoln - bị bắn chết), 1880 (Garfield - bị bắn chết), 1900 (McKinley - bị bắn chết), 1920 (Harding - chết tự nhiên), 1940 (F Roosevelt - chết tự nhiên) and 1960 (Kennedy - bị bắn chết). Một điều thú vị là nếu âm mưu ám sát nhắm vào Reagan thành công, thì ông cũng đã chết trước khi kết thúc nhiệm kỳ đầu tiên của mình. 5. Lời nguyền của Dê Billy Lời nguyền áp đặt lên đội bóng chày Chicago Cubs xuất hiện vào năm 1945. Billy Sianis, một người nhập cư gốc Hy Lạp có 2 tấm vé 7,2 USD xem trận Game 4 của World Series giữa Chicago Cubs và Detroit Tigers và ông quyết định đem theo chú dê Murphy yêu quý của mình đi theo. Ông chủ khoác cho Murphy một tấm vải có đề dòng chữ “Chúng tôi có chú dê của Detroit” trên người. Sianis và Murphy được cho phép vào sân vận động Wrigley Field và thậm chí họ đã đi vòng quanh sân trước trận đấu. Tuy vậy, người chỉ chỗ trong sân vận động đã can thiệp và dẫn 2 người đi ra khỏi sân. Sau cuộc tranh cãi nảy lửa, Sianis và chú dê mới được quay trở lại chỗ ngồi. Trước khi trận đấu kết thúc, họ lại bị đuổi ra một lần nữa theo lệnh của ông chủ đội Cubs, Philip Knight Wrigley, do chú dê tỏa ra mùi rất khó chịu. Bởi vì người của đội Cubs đã xúc phạm chú dê nên chủ của nó tức giận và buông ra một tràng nguyền rủa rằng Cubs sẽ không bao giờ giành chức vô địch hoặc được chơi ở một trận ở giải World Series tại sân Wrigley Field nữa. Kết quả là Cubs thua thảm hại trong trận Game 4, trong khi đó Sianis hả hê viết lên sân Wrigley bằng tiếng Hy Lạp “Giờ thì ai bốc mùi nào?”. Năm sau, Cubs về thứ 3 tại giải National League và chỉ lẹt đẹt ở giải hạng 2 quốc gia trong 20 năm liên tiếp. Chuỗi đen đủi cuối cùng chấm dứt vào năm 1967, khi Leo Durocher trở thành quản lý của câu lạc bộ. Đàm Loan Theo Listverse Nguồn Dantri.com
  6. 10 lời nguyền kỳ lạ trong lịch sử Tiếp theo (Ảnh: Listverse). (Dân trí) - Một vài tháng sau khi tiến hành mở ngôi mộ của Tutankhamen, thảm họa cập đến. Huân tước 57 tuổi Carnarvon, người ủng hộ tài chính cho việc nghiên cứu ngôi mộ Tutankhamen, bị ốm và được đưa tới thủ đô Cairo nhưng không qua khỏi vài ngày sau đó. 6. Lời nguyền của Tutankhamen Nguyên nhân chính xác của cái chết không rõ, có giả thuyết cho rằng ông bị nhiễm trùng do côn trùng cắn. Người ta nói rằng khi ông qua đời, Cairo bị mất điện trong chốc lát và tất cả những ngọn lửa đang cháy ở đây đều vụt tắt. Con trai của Carnarvon có ghi chép lại rằng tại biệt thự của ông ở Anh, con chó mà ông Carnarvon yêu quý bỗng nhiên tru lên và lăn ra chết. Còn lạ lùng hơn khi xác ướp của Tutankhamun được mở lớp vải quấn quanh người, người ta phát hiện ra Tutankhamun có một vết thương trên má trái ở vị trí chính xác vết côn trùng cắn Carnarvon dẫn đến cái chết của ông. Năm 1929, 11 người có liên quan tới ngôi mộ đều đột tử vì những nguyên nhân kỳ lạ. Trong đó có 2 người họ hàng của Carnarvon, thư ký riêng của nhà khảo cổ học Howard Carter là Richard Bethell và cha của Bethell, Huân tước Westbury. Westbury chết do nhảy xuống một tòa nhà. Ông để lại một tờ giấy có ghi “Ta thực sự không thể chịu nổi bất kỳ sự hãi hùng nào nữa và gần như không hiểu được sẽ tạo ra điều tốt đẹp gì ở đây, vì vậy ta tự tạo lối thoát cho mình”. 7. Lời nguyền từ chiếc Porsche của James Dean Vào lúc 5h45 phút chiều ngày 30/9/1955, ngôi sao điện ảnh James Dean bỏ mạng trong một tai nạn ô tô khi chiếc xe Porsche Spyder mới (có biệt danh “Kẻ đáng nguyền rủa”) của anh lao đầu vào một chiếc xe khác. Rolf Wutherich, anh bạn thợ cơ khí của Dean khi đó cũng ngồi cùng ngôi sao trên ghế trước, đã bị văng ra khỏi chiếc xe nhưng may mắn sống sót, còn Dean mắc kẹt ở trong và bị gẫy cổ. Donald Turnupseed, người lái chiếc xe ngược chiều chỉ bị thương nhẹ.Sau thảm kịch, một người chuyên mông má xe có tên George Barris mua “con xế” rúm ró về với giá 2.500 USD. Khi vừa về đến ga-ra của Barris, chiếc Porsche trượt ra và rơi xuống một thợ cơ khí khiến anh này gẫy cả 2 chân. Trong khi Barris có những linh cảm không hay về chiếc xe khi mới nhìn thấy nó lần đầu tiên, sự nghi ngờ của ông đã được khẳng định trong cuộc đua tại Hội chợ Pomona vào ngày 24/10/1956. 2 bác sĩ Troy McHenry và William Eschrid, đang đua bằng 2 chiếc xe có các bộ phận lấy từ “Kẻ đáng nguyền rủa” đều gặp xúi quẩy: McHenry chết khi chiếc ô tô bị mất kiểm soát và đâm sầm vào một cái cây, ô tô của Eschrid bị lật úp xuống. Eschrid sống sót dù bị thương nặng, cho biết chiếc xe bỗng nhiên hãm lại khi ông đi vào đoạn đường vòng. Sau đó, chiếc ô tô của Eschrid liên tiếp gặp tai nạn cho đến năm 1960 thì nó biến mất. 8. The 27 Club Lời nguyền của 27 Club (hay 27 Club Mãi Mãi) là tên của một nhóm các ca sĩ nhạc Blue và Rock nổi tiếng và có ảnh hưởng, tất cả đều chết ở tuổi 27, đôi khi trong những trường hợp bí ẩn. Có một số tranh cãi về tiêu chuẩn dùng để tuyển mộ người vào 27 Club. Động lực để thành lập Club là cái chết của một số ca sĩ danh tiếng trong vòng 2 năm. Trong danh sách này có Hendrix, Morrison, Joplin và Brian Jones. Kurt Cobain giờ cũng được cho vào danh sách nhờ ảnh hưởng của anh tới âm nhạc trong những năm gần đây. 9. Lời nguyền của viên kim cương Hy Vọng Có xuất xứ từ năm 1642, đây là viên kim cương nổi tiếng nhờ màu sắc, kích cỡ, độ trong suốt, vẻ đẹp và lịch sử đặc biệt của nó. Hy Vọng có hình trứng, nhiều mặt sáng bóng và màu xanh xẫm rực rỡ, kích cỡ 25,60 x 21,78 x 12 mm và nặng 45,52 cara. Hy Vọng được dùng làm mặt của chuỗi vòng cổ và người ta gắn thêm16 viên kim cương trắng nhỏ khác bao quanh nó. Màu của Hy Vọng là sự kết hợp của màu xanh da trời do nguyên tố Bo tạo ra, có trong tất cả các viên kim cương màu xanh và màu xám. Theo một câu chuyện nói về nguồn gốc của Hy Vọng thì một người đàn ông tên Tavernier đã thực hiện một chuyến đi đến Ấn Độ và ăn trộm viên kim cương xanh lớn từ trán của một bức tượng nữ thần Sita của người Hindu. Vì tội lỗi này mà Tavernier đã bị các con chó hoang cắn xé trong chuyến đi đến Nga sau khi ăn trộm viên kim cương. Vua Louis XVI nằm trong số những người sở hữu nổi tiếng nhất của Hy Vọng - ông bị chặt đầu cùng vợ là nữ hoàng Marie Antoinette. Cuối cùng Hy Vọng được tặng cho Học viện Smithsonian, hiện nó đang nằm tại nơi trưng bày Bộ sưu tập khoáng sản và đá quý ở Bảo tàng Lịch sử tự nhiên quốc gia Mỹ (tại thủ đô Washington). 10. Lời nguyền Kennedy Dù một vài sự việc bất hạnh có thể xảy ra với bất cứ gia đình nào, nhưng một số người cho rằng những tai ương liên tiếp ập đến gia đình Kennedy là do một lời nguyền. Gia đình Kennedy có vài thành viên chết trẻ, nổi tiếng là 2 anh em John F. Kennedy và Robert F. Kennedy bị ám sát khi đang nắm quyền, còn con trai của John F. Kennedy thiệt mạng trong một tai nạn máy bay năm 1999. Chị gái của John F Kennedy, phải vào viện dưỡng lão vì bị phẫu thuật thùy não nhầm. Joseph Kennedy chết trong thế chiến thứ 2, Edward Kennedy Jr phải cắt cụt chân năm 12 tổi, Michael Kennedy chết trong một tai nạn trượt tuyết. Đàm Loan Theo Listverse Nguồn Dân Tri.
  7. "Hồn Trương Ba da hàng thịt" và sự thật thuật "mượn hồn"? ... "Những giấc mơ “Hồn Trương Ba da hàng thịt” thường xuất hiện ở những người có thể chất yếu đuối và không tự tin trong quan hệ tình cảm. Ký ức của họ lộn xộn, không tuân theo các quy tắc nhất định. Họ thường gặp nhiều điều rất quái đản trong giấc mơ và thường xuyên cảm thấy bị xấu hổ khi tỉnh dậy. Do đó, để chữa những giấc mơ ấy, con người cần phải có thể chất tốt và đặc biệt phải sống chân thành, lành mạnh, tự tin với những quan hệ tình cảm của mình..." Những hoán đổi kinh hoàng của bóng tối Những giấc mơ kiểu đó con người thường gặp vào lúc sức khỏe không được tốt, tâm lý căng thẳng. Điều lạ lùng là khác với các giấc mơ thông thường khác, con người hầu như nhớ rất rõ, đến từng chi tiết nhỏ câu chuyện diễn ra trong mơ. Điều này ảnh hưởng nặng nề đến những quyết định của con người đó khi tỉnh dậy. Vua Lue, một vị vua ở miền đất thuộc nước Hy Lạp xưa có một người thiếp yêu vô cùng. Nàng xinh đẹp, dịu dàng và có tài chơi đàn giỏi đến mức mà người đời xưng tụng nàng là chim họa mi của trần gian. Vua Lue ra lệnh rằng, tất cả những người chăn dê trong vùng đất mà ông ta cai quản phải dâng những hũ sữa mà những con dê cái có lần đầu tiên để cho nàng tắm... Một lần đi săn, do mải đuổi theo một con sơn dương nên nhà vua trượt ngã và bị gãy một chân. Sức khỏe nhà vua trở nên tồi tệ và ông liên tục bị những giấc mơ hành hạ. Một lần, ông nằm mơ thấy người thiếp yêu của mình ăn nằm với một vị quan đại thần. Khi tỉnh dậy, nhà vua cố gắng xua những gì diễn ra trong giấc mơ. Ông triệu nàng đến. Người thiếp vẫn dịu dàng, trẻ trung và xinh đẹp. Cô ta không hề biết được con mắt nghi ngờ của nhà vua đang nhìn mình. Đêm hôm sau mọi chuyện lại tiếp tục diễn ra trong giấc mơ y hệt những gì nhà vua đã mơ hôm trước. Khi tỉnh dậy, nhà vua cho là mình đã được thần linh báo mộng hai lần như vậy thì chắc chắn phải có chuyện. Vua Lue ra lệnh cho viên tướng thân cận đi bắt viên đại thần láo xược đó và bắt luôn cả người thiếp yêu. Ông ra lệnh chém đầu hai người đó và mang thủ cấp về trình báo lại. Viên quan đại thần là một người rất có uy tín và được dân chúng kính trọng, còn kẻ địch của đất nước thì kinh sợ. Viên tướng cận thần là một trung thần nên đã không vội vã thực hiện điều nhà vua sai khiến ngay. Thông qua một vị lão thần khác, viên tướng biết được giấc mơ của nhà vua. Ông ta bèn bí mật cho quân lính giám sát ngày đêm vị quan đại thần và người thiếp đó. Nhà vua tiếp tục bị một giấc mơ như vậy hành hạ. Sau khi được biết người thiếp vẫn chưa bị giết, nhà vua tức giận định chém viên tướng, nhưng viên tướng đã tâu lại rằng, ông ta đã cho lính giám sát và không thấy dấu hiệu khả nghi nào hết. Nhà tiên tri trông coi đền Apollo được mời đến để xem xét tính chân thực của giấc mơ. Ông ta sau khi đã làm lễ tế thần Appollo - thần của ánh sáng và tri thức, liền đến cung vua. Ông yêu cầu nhà vua kể lại tỉ mỉ từng chi tiết trong giấc mơ. Nhà vua nhớ lại rằng, trong giấc mơ ông thấy vị quan đại thần ôm ấp một người đàn bà nào đó, nhưng chỉ một lát sau thì người thiếp ấy lại biến thành chính người thiếp yêu của mình. Trong giấc mơ, nhà vua không nghĩ rằng người đó là người thiếp của mình nhưng mắt thì lại nhìn rõ cả bộ xiêm áo mà ông đã ban tặng cho nàng. Nhà tiên tri hỏi lại rằng, nhà vua có nhớ là đã gặp người đàn bà xuất hiện trước chưa và ông đã bao giờ nhìn thấy vị đại thần nọ ôm người đàn bà đó chưa? Nhà vua nhớ ra rằng một lần đi vi hành, ông đã bất ngờ vào thăm nơi ở của vị quan đại thần và tình cờ chứng kiến cảnh vị quan đại thần đó đang ôm vợ. Người đàn bà xuất hiện trước đó chính là vợ của vị quan đại thần. Chuyện này gây ấn tượng rất mạnh với nhà vua. Nghe xong câu chuyện, nhà tiên tri khẳng định rằng giấc mơ ấy là do ma quỷ tạo ra chứ không phải thần Apollo ứng báo gì cả. Nếu như ma quỷ tạo ra thì không đáng tin. Nhà vua có thể kiểm nghiệm điều đó bằng cách cứ tiếp tục giám sát hai người, còn để tránh ma quỷ quấy nhiễu thì nhà vua phải có một sức khỏe tốt. Nhà vua bình tâm trở lại vì lời của Apollo, nói qua miệng người coi đền của mình là điều thiêng liêng. Ông hồi phục sức khỏe. Giấc mơ kỳ quái đó biến mất và sau khi đã giám sát một năm trời, nhà vua mới tin vào sự trong sáng của người thiếp yêu. Không chỉ có chuyện tình cảm “đội lốt” trong giấc mơ mà ngay cả những sự việc, những quan hệ khác cũng nhiều khi bị lệch lạc đi trong giấc mơ. Thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc có rất nhiều chuyện ly kỳ. Có vị quan đại thần nước Vệ âm mưu giết vua để tiếm ngôi. ông ta bàn bạc điều đó với một vị quan khác. Vị quan kia nhận lời và bày ra rất nhiều mưu mẹo để thực hiện mưu đồ ấy. Họ quyết định sẽ dụ vua ra khỏi thành để đi săn. Một người sẽ đi theo vào giết vua trong rừng, người còn lại sẽ dẫn quân vào chiếm lấy thành. Mọi chuyện bàn tính xong chỉ còn chờ tiết trời đẹp để hành động. Vị quan vẫn vào triều và ông ta thấy rằng viên cận thần của nhà vua nhìn mình với ánh mắt ngờ vực. Ngay đêm hôm đó, ông ta nằm mơ thấy viên cận thần đó báo với nhà vua âm mưu của mình. Trong giấc mơ, viên đại thần giật mình sợ hãi vì khi viên cận thần quay mặt lại, ông ta nhận ra đó là gương mặt kẻ mưu đồ tiếm ngôi với mình. Tỉnh dậy, ông ta kể lại giấc mơ cho đám võ tướng thân cận và họ quyết định giết viên đại thần kia. Thế là viên đại thần đó chết chỉ vì một giấc mơ lạ lùng. Macbeth nhìn thấy những bóng ma Con người trong bất kỳ thời đại nào, nền văn hóa nào cũng thỉnh thoảng gặp kiểu giấc mơ quái lạ như vậy. Thiên tài Shakespears đã khai thác tâm lý bí ẩn này rất hay trong vở Mắcbét lừng danh. Trong vở kịch, ba bóng ma đã khiến cho Macbeth tin vào những hình ảnh kỳ diệu và đầy quyền lực đang chập chờn trước mắt. Những hình ảnh đó tiên báo một giấc mơ đế vương và Macbeth đã không hiểu rằng ma quỷ đã trùm những hình ảnh đẹp đẽ ấy lên những ý nghĩ đen tối và sầu thảm khác. Kết cục là Macbeth quyết định tiếm ngôi nhưng không lâu sau đã bị giết chết. Khi “tấm da hàng thịt” bị xé ra Những giấc mơ như trên mặc dù rất bí ẩn đối với chúng ta nhưng lại là những tư liệu vô giá cho các nhà nghiên cứu tâm lý, các nhà phân tâm học. Họ đã tìm được những phương cách giải mã những giấc mơ đặc biệt ấy. John Black là một chàng trai Mỹ yếu ớt. Khi cậu ta bị tai nạn năm lên 5 tuổi và vùng não của cậu bị chấn thương khá nặng. Tuy vậy, John vẫn phát triển như mọi thanh niên khác. Cậu cũng đi học và đến tuổi dậy thì cậu cũng có quan hệ với những cô gái. Chính giai đoạn này các giấc mơ ghê gớm đã hành hạ cậu. Những giấc mơ kỳ lạ, tục tằn và khiến cậu xấu hổ đến mức nhiều khi không muốn gặp lại người bạn gái của mình. Sức khỏe của cậu mỗi ngày một sa sút. Người nhà mời bác sĩ đến nhưng vô hiệu. Cậu cắn răng nhất định không kể bất cứ điều gì về các giấc mơ của mình. Cuối cùng thì John cũng được gửi đến một trung tâm trị bệnh của các bác sĩ tâm lý. Thoáng nhìn khuôn mặt tái xanh, thân hình ốm o của cậu, các bác sĩ biết ngay tâm hồn cậu đang có vấn đề. Dần dần, John bắt đầu kể cho chuyên gia tâm lý nghe về giấc mơ quái đản đó. Trong một giấc mơ, cậu thấy mình cùng bạn gái đang ngồi âu yếm nhau trên quả đồi mà hai người hay đi chơi vào chủ nhật... Nhưng chỉ thoáng chốc, cô bạn của John đột nhiên già đi như một người đàn bà xấu xí, rồi cô ta lại biến thành một người đàn bà khác. Tuy mắt John nhìn thấy rằng, đó là người đàn bà khác nhưng trong đầu anh thì lại khẳng định rằng đó chính là bạn gái của mình... Trong một giấc mơ khác, John thấy cô bạn không những biến thành một cô gái khác mà lại còn biến thành cả cái bàn viết trong phòng của anh... Trong một giấc mơ khác, khi đang mải mê ân ái với bạn gái thì thoáng chốc, John thấy mình đang ân ái với một khúc cây trước cửa nhà mình... Điều đó làm John rất hoảng sợ và xấu hổ. Các chuyên gia tâm lý chắp nối các giấc mơ lại và họ nhận thấy rằng, những người đàn bà khác, những đồ vật mà trong giấc mơ do bạn gái của John biến thành có mối liên hệ mật thiết với John. Những người đàn bà kia một là hàng xóm, một là chị họ của John, còn cái bàn cũng ở trong phòng của John, cả khúc cây nữa cũng ở ngay trước cửa nhà John. Như vậy John có thể đã bị xáo trộn ký ức và do đó những hình ảnh phản chiếu cái ký ức đó sẽ diễn ra rất ngẫu nhiên và lộn xộn. Giấc mơ thường phản ánh những ước muốn, hay ký ức của con người. Khi John nằm mơ, cảnh âu yếm với người bạn gái thường diễn ra vì đó là sự ham thích thường trực của John. Nhưng do ký ức của John bị một chấn động nào đó, nên sự “tái hiện” không tuân theo các quy luật tuần tự của thời gian. Cảnh âu yếm đã tiếp diễn trong mơ sẽ bị một hình ảnh thân thuộc khác thay thế. Có điều trong giấc mơ, hình ảnh ban đầu (tức là hình ảnh của cô bạn gái) biến đi quá nhanh nên cái cảm giác của John vẫn còn. Hình ảnh đến sau (tức là hình ảnh của một người đàn bà, hay một đồ vật khác) không còn mang ý nghĩa của chính nó nữa mà những hình ảnh ấy đã trở thành “cái vỏ” của những cảm giác vẫn còn lưu lại từ trước. Do đó, John đã bị đánh lừa “đôi mắt” trong mơ như vậy. Những giấc mơ hỗn độn ấy cũng có một nguyên tắc là các hình ảnh diễn ra trong mơ thường rất quen thuộc với con người đó. Để chữa bệnh cho John, người ta lần lượt cho cậu gặp lại những người đàn bà mà cậu nằm mơ thấy. Ban đầu John rất sợ hãi và xấu hổ, tránh gặp họ. Nhưng dần dần, cậu cũng tìm lại được sự cân bằng. Những người đàn bà đó lần lượt gặp John và trò chuyện với anh như những cuộc nói chuyện trước đây. Tâm lý của John trở lại bình thường. Các chuyên gia tâm lý kết luận rằng do thể chất John yếu đuối, cộng với tâm lý kém tự tin trong quan hệ luyến ái với bạn gái nên John thường gặp những giấc mơ như vậy. Người ta giúp cho John phục hồi sức khỏe và có những thông tin cơ bản về tình dục. Cuối cùng John cũng thoát khỏi những giấc mơ kỳ dị đó. Như vậy, những giấc mơ “Hồn Trương Ba da hàng thịt” thường xuất hiện ở những người có thể chất yếu đuối và không tự tin trong quan hệ tình cảm. Ký ức của họ lộn xộn, không tuân theo các quy tắc nhất định. Họ thường gặp nhiều điều rất quái đản trong giấc mơ và thường xuyên cảm thấy bị xấu hổ khi tỉnh dậy. Do đó, để chữa những giấc mơ ấy, con người cần phải có thể chất tốt và đặc biệt phải sống chân thành, lành mạnh, tự tin với những quan hệ tình cảm của mình. Cao Luận Cường Vietimes
  8. Thuật phân thân và bí mật của các ảo ảnh Một ngày kỳ quặc. Người ta báo cho Marria biết cách đó hai tiếng chồng cô đã hôn một người đàn bà khác ở khu vườn nhà cô. Thế nhưng cũng vào thời điểm đó, Marria cũng đã chia sẻ với chồng những phút giây kỳ diệu nhất của cuộc sống đôi lứa. Ban đầu, Marria mỉm cười vì coi đó là một trò đùa, nếu không thì cũng là tin đồn nhảm. Nhưng đến khi cô em gái Marria cũng khẳng định chính mắt mình trông thấy điều đó thì một nỗi hoang mang hiện lên trong cô. Lẽ nào chồng cô lại có thuật phân thân, vừa âu yếm vợ lại vừa có thể tư tình với một người đàn bà khác? Đa số chúng ta khi nhắc đến “thuật phân thân” thì đều cười và coi đó là sự bịa đặt của những kẻ mê tín dị đoan. Nhưng các nhà khoa học đã vào cuộc vì họ cho rằng “thuật phân thân” liên quan rất chặt chẽ với các ảo ảnh. Những câu chuyện không... tin nổi Những câu chuyện kỳ dị về thuật phân thân được kể ở khắp nơi trên thế giới từ thế giới cổ đại đến thời hiện đại. Mặc dù đó là những câu chuyện khó tin nhất nhưng dường như nhiều người vẫn muốn tin vào nó. Vào những thiên niên kỷ đầu tiên của thời đại Inca, thuật phân thân là một trong những phép thuật cơ bản của những phù thuỷ trong bộ tộc. Bệnh tật, các hiểm họa rình rập con người ở khắp nơi nên cùng một lúc người ta cần sự có mặt của vị phù thuỷ đó ở nhiều nơi. Yonser, một phù thuỷ tương truyền là giỏi nhất thời ấy có cách phân thân không khác gì Tôn Ngộ Không trong tác phẩm Tây Du Ký. Người ta cho rằng đối với những phù thuỷ đã tu luyện nhiều năm thì trong cơ thể của ông ta tồn tại rất nhiều đời sống khác nhau. Yonser có thể cùng một lúc có mặt ở nhiều nơi, người ta đồn với nhau như vậy. Nhưng không hiểu sao, ông ta chỉ có mặt trong giây lát rồi biến đi ngay. Yonser hiện đến đó, không làm gì hết rồi lại tan biến đi. Có điều lạ lùng là chỉ có những đứa trẻ hay người già mới có thể nhìn thấy điều ấy. Về sau các nhà khoa học đã dễ dàng giải thích hiện tượng này nhưng thời bấy giờ điều đó quả là vượt khỏi tầm tri thức của con người. Một trong những kẻ thù của Yonser, cũng là một phù thuỷ (những kẻ luôn lừa gạt người khác bằng khả năng của mình) không tin vào thuật phân thân của Yonser vì hơn ai hết chính hắn hiểu được "thuật phân thân” là như thế nào. Tiếng tăm của Yonser làm cho hắn ghen tức và quyết định phá vỡ huyền thoại về Yonser bằng cách bắt cóc vợ của Yonser. Người đàn bà bị lột bỏ hết quần áo và cả mảnh đá nhỏ có khắc hình của chồng rồi bị giam ở túp lều nhỏ trên núi cao. Xung quanh lều chất đầy củi. Một ngọn lửa vây kín thành một vòng lớn cách xa túp lều nhưng đủ lớn để không ai có thể vào cứu người đàn bà ấy được. Sau khi ngọn lửa đã rực lên, tin đồn rằng vợ Yonser bị bắt và bị nhốt trên núi cao được lan truyền nhanh chóng. Người ta thì thào rằng, Yonser chỉ cần lắc mình một cái là có mặt ở ngọn núi đó và cứu được vợ ngay. Yonser không thể không đến cứu vợ nhưng nếu ông ta tự mình đến đó thì hoá ra ông ta không hề có thuật phân thân. Kẻ thù của Yonser đang trông mong điều ấy. Hàng ngàn người đổ đến ngọn núi đang bốc cháy rừng rực để xem Yonser phân thân cứu vợ như thế nào... Đúng lúc mọi người đang xì xào bàn tán thì ngọn lửa tự nhiên bị uốn xuống một góc. Tiếng reo hò vang trời nhưng kẻ thù của Yonser đã trấn an mọi người rằng đó chỉ là do một cơn gió lớn thổi qua thôi và nếu Yonser không đến ngay thì có lẽ hơi nóng sẽ hấp chín vợ của anh ta. Đám đông quay đầu lại. Yonser xuất hiện và theo sau là người vợ. Loáng một cái, mọi người chưa kịp định thần thì thấy Yonser vụt đến. Ông ta không thể chạy nhanh thế được. Ông ta chỉ có thể phân thân đến trước mặt kẻ thù của mình và tóm lấy hắn ném mạnh vào đống lửa. Mọi người xô đến hỏi han nhưng người vợ nói rằng đây là hiện thân của chồng nên “ông ta” sẽ không nói gì. Yonser thật ra vẫn đang ở trong thung lũng.... Đây là một trong rất nhiều câu chuyện ly kỳ về thuật phân thân trong các nền văn hoá cổ xưa. Nhưng những câu chuyện đó còn diễn ra ngay cả trong thời hiện đại. Đầu thế kỷ XIX, ở Mỹ diễn ra một vụ án hết sức phức tạp. Kater, một người bị tình nghi là đã giết chết hai người đàn bà và một đứa trẻ, sau đó lấy hết tư trang của họ. Có nhiều nhân chứng nhìn thấy điều đó. Hơn nữa, người ta còn tìm thấy chiếc răng giả mà kẻ đó làm rơi lúc gây án. Chiếc răng đó vừa khít với hàm răng của y... Chừng đó chứng cứ và nhân chứng đủ để kết án kẻ tình nghi. Nhưng có điều lạ là đúng vào thời điểm xảy ra vụ án thì Kater lại đang ngồi uống rượu với chính vị cảnh sát trưởng, vì hai người là hàng xóm của nhau. Ban đầu người ta nghi ngờ vị cảnh sát trưởng che giấu tội lỗi cho Kater. Nhưng ngoài ông ta ra còn rất nhiều nhân chứng khác trong quán rượu. Điều lạ là chính vị cảnh sát trưởng cũng thừa nhận rằng hôm đó ông ta không nhìn thấy chiếc răng giả của Kater. Giải thích về chuyện này, Kater cũng không hiểu nổi tại sao anh ta đang uống rượu thì răng giả lại rơi ra ở một nơi xa thế. Trong cả buổi ngồi uống rượu, Kater không hề đứng dậy một lần nào... Tất cả điều ấy được xác nhận rõ ràng...Vụ án có đầy những chi tiết ly kỳ nên không thể kết án được. Suốt quãng đời còn lại, Kater luôn sống trong sự theo dõi của cảnh sát và những người xung quanh. Nhưng dù đào bới hàng chục lần cả khu vườn rộng nhà Kater, người ta vẫn không tìm được đồ nữ trang đã bị lấy mất. Những người đàn bà quanh vùng xì xào với nhau rằng có lẽ Kater đã học được phép phân thân nên mới có thể vừa uống rượu vừa đi gây án như vậy. Người ta cử các nhà nghiên cứu tâm lý đến. Họ đẩy Kater vào đủ kiểu trạng thái tâm lý để anh ta bị sơ suất mà bộc lộ những ý nghĩ sâu kín của mình. Thất bại hoàn toàn. Trước khi chết, Kater được đưa đến nhà thờ đễ xưng tội lần cuối. Người ta chờ đợi Kater trước khi chết sẽ nói ra tất cả sự thật, rằng ông đã giấu đồ trang sức cướp được ở đâu, ông làm thế nào để có thể vừa ngồi uống rượu vừa phân thân đi cướp. Nhưng ông già Kater vẫn một mực kêu oan. Kater chết và vụ án cũng đóng lại ở đó. Sau này, có một vài người cố lật lại hồ sơ để tìm hung thủ nhưng vẫn vô vọng. Nhưng có điều lạ lùng là vào cuối những năm1970, khi khoa học hình sự đã phát triển. Người ta xác định được rõ ràng dấu vân tay của Kater trên quần áo nạn nhân và cả trên chiếc cốc mà Kater đã uống rượu vào thời điểm đó. Thế là thế nào? Phải chăng Kater thực sự biết đến thuật phân thân. Bí mật của ảo ảnh Con người là một cơ thể sống khép kín cho nên cái gọi là thuật phân thân chẳng qua chỉ là những câu chuyện của trí tưởng tượng. Thực ra thuật phân thân cũng có một nguồn gốc phát sinh thật sự. Con người xưa kia thường tin vào một vị thần có sức mạnh tuyệt đối nào đó. Vị thần này sẽ giúp "từng người” một ở mọi lúc mọi nơi khi người ấy gặp khó khăn. Mà thời điểm nào cũng có rất nhiều người gặp khó khăn cho nên trong tưởng tượng của con người, vị thần đó cần phải phân thân ra để giúp đỡ họ. Những vị phù thuỷ xưa đã nắm lấy niềm tin này để hù dọa người dân và mưu lợi cho mình. Tuy vậy, có một số người vẫn bán tin, bán ngờ về sự tồn tại của thuật phân thân vì vẫn có những điều không thể giải thích nổi hiện ra trước mắt họ. Hiện nay, trên thế giới và cả ở Việt Nam nữa thỉnh thoảng có tin đám trẻ con này, đám phụ nữ kia nhìn thấy sự hiện diện của của các vị thần nào đó. Chúng ta lưu ý rằng trong những tin đồn đó không hề xuất hiện những người đàn ông. ở Ai Cập, một người đàn bà nhìn thấy vị Pharaon xuất hiện trong làn ánh sáng ngay cạnh Kim tự tháp. Vị Pharaon này hiện ra trong giây lát, không nói gì rồi tan biến. Cùng thời điểm đó, ở một vài nơi có hình khắc họa vị Pharaon này, những người đàn bà khác cũng “nhìn thấy" vị Pharaon hiện lên trong làn ánh sáng. Ngay lập tức các nhà nghiên cứu vào cuộc. Người ta nhận ra rằng những người đàn bà “nhìn thấy” vị Pharaon hiện ra đều là những người đàn bà có tâm hồn yếu đuối. Vị trí mà vị Pharaon hiện ra là dòng ánh nắng bên trái Kim Tự Tháp. Một điều nữa cần lưu ý là trên mặt Kim tự tháp liền kề dòng ánh sáng đó được khắc hoạ chính vị Pharaon đó. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng không có vị Pharaon nào hiện hình cả. Những người đàn bà nhìn hình tượng Pharaon khắc họa trên mặt Kim Tự Tháp rồi tâm thần xúc động đưa mắt sang bên cạnh. Dòng ánh nắng ập vào mắt khi mà hình ảnh của Pharaon vẫn còn lưu lại vài giây trong võng mạc. Để chắc chắn hơn, người ta làm lại các thí nghiệm kiểu đó với những người đàn bà ấy. Cuối cùng họ đi đến kết luận rằng đối với những người đàn bà đó, hình ảnh nào gây xúc động cho họ thì sẽ lưu lại trong võng mạc của họ lâu hơn bình thường. Điều đó cũng thể hiện ở những đứa trẻ. Khi lý trí chưa phát triển mạnh, tâm hồn trẻ nhỏ "tẩy đi” những hình ảnh mà chúng thu nhận rất chậm. Do đó khi một hình ảnh lọt vào mắt chúng, nếu hình ảnh đó gây ấn tượng mạnh, thì vẫn lưu giữ trên võng mạc chúng khi một hình ảnh kế tiếp ập tới. Điều đó giải thích rằng tại sao trẻ em hay gặp những chuyện kỳ lạ là vì thế... Ngoài phụ nữ, trẻ em, những người đàn ông yếu đuối, đa cảm cũng hay gặp những ảo ảnh đặc biệt như trên. Nếu hình ảnh đó quá ấn tượng thì nó sẽ đọng lại rất lâu trên vọng mạc anh ta. Thậm chí tâm tưởng anh ta luôn suy nghĩ về nó thì nó có thể vô tình "hiện lên” ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Những ảo ảnh như vậy không hẳn đã là xấu vì nếu là một hình tượng tốt sinh ra các ảo ảnh thì tâm hồn con người sẽ được bồi đắp rất nhiều. Nhưng nếu đó là một hình tượng xấu thì chúng ta phải cảnh giác vì có những người không có thiện tâm sẵn sàng lợi dụng các ảo ảnh của chính chúng ta để mưu cầu lợi ích cá nhân họ. Lê Tất Đắc (Vietimes)
  9. Những kiểu trá hình tinh xảo của động vật Ai có thể ngờ rằng cái lá rách bươm này là một con côn trùng. Vậy mà điều đó là thật. Những trò trá hình hoàn hảo dưới đây có thể khiến bạn kinh ngạc. Côn trùng lá Có tên khoa học là Phylliidae, những con côn trùng lá này giống hệt những chiếc lá dù bạn có hình dung cách nào đi nữa - chỉ để nhằm đánh lừa kẻ thù. Chúng lắc mình về trước - sau khi bước để ra vẻ một cái lá đung đưa trong gió. Một số con thậm chí còn có các vết cắn giả trên hai bên sườn của chúng. Cá bơn Mặc dù cá bơn không đủ bản lĩnh để có thể chiến thắng trong bất kỳ cuộc thi sắc đẹp nào, song cơ thể bất cân xứng kỳ lạ của nó giúp con vật sống sót bằng cách ngụy trang giống với nền đáy biển. Điều này giúp nó bị các kẻ đói ăn bỏ qua. Một số loài cá bơn có thể thay đổi sắc tố trên lưng. Cá đá Loài cá này tình cờ là một trong những sinh vật dưới nước có nọc độc mạnh nhất. Nó chứa các chất độc có thể gây sốc, liệt hoặc thậm chí tử vong. Với những người thích liều với số phận, loài cá này đôi khi vẫn được nuôi làm cảnh hoặc làm món sushi. Mực Cuttlefish Được xem là tắc kè hoa của biển cả, loài mực này có thể nhanh chóng đổi màu da để trở nên vô hình trước mắt kẻ thù. Nếu việc trá hình thất bại, con vật cũng sẽ phun ra mực, giống như với bạch tuộc. Cá đuối Manta Cá đuối Manta là những kẻ kiếm ăn ở tầng đáy, vì thế, một cách tự nhiên nó dễ dàng ngụy trang thân mình trên đáy biển. Nguy cơ lớn nhất đe dọa nó là cá mập và cá kình. Bọ Walking Sticks Một vài động vật sử dụng ngụy trang để ẩn giấu kẻ thù. Nhưng sinh vật ở Ấn Độ này thích làm điều đó để được ở lại một mình. Chúng đều là những con cái và có thể sinh sản mà không cần con đực. Châu chấu katydid Thành viên của họ châu chấu râu dài này dường như không muốn ai thấy mình, nhưng lại chẳng bận tâm có ai điếc tai vì mình không. Katydid thường hát và kêu rộn lên trong đêm để hấp dẫn bạn tình. Rồng biển lá Mặc dù không quá khó để nhận ra chúng như với các sinh vật biển thần thoại khác, nhưng việc nhìn thấy con rồng biển đặc biệt này đang trở nên hiếm hoi hơn. Chúng đang có nguy cơ tuyệt chúng do sự ô nhiễm môi trường và các chất thải công nghiệp. Đây không phải là con vật duy nhất dễ bị nhầm với một nhánh tảo biển trôi nổi. Một loài bà con với nó được gọi là rồng biển cỏ mọc ra các cái vây giống như cỏ biển. Cá bống biển Cá bống biển thích ẩn náu, và tốt hơn là hãy tránh xa chúng ra. Sinh vật này có những cái gai nhọn hoắt và có thể gây ra các vết ngứa ngáy đau nhức. Thuận An (ABC tổng hợp) Nguồn VnExpress
  10. NHÂN VIỆC ÐI TÌM TÁC QUYỀN MỘT BÀI VĂN CUNG ÐÌNH THANH Nguồn anviettoancau Bài văn nói ở đây là bài Ðông quân, một trong chín bài trong Cửu Ca, là một phần trong tập Sở Từ do Khuất Nguyên sáng tác (1). Sở Từ cùng với Kinh Thi được coi là hai bản văn mở đầu cho lịch sử văn học Trung Hoa. Kể từ Tư Mã Thiên giới thiệu Sở Từ trong Sử Ký, lịch sử văn học Trung Hoa không có đời nào là không có tác giả phê bình, giới thiệu Sở Từ, mà phần thường là phê bình bằng những lời tán tụng vô cùng trang trọng, vô cùng khâm phục về văn phong trác tuyệt cũng như về tư cách thanh cao và lòng yêu nước, yêu dân của Khuất Nguyên (2). Ðông Quân nói riêng, và những bài trong Sở Từ nói chung, có một vai trò vô cùng đặc biệt, không những đối với tộc Hoa trong lịch sử văn học Trung quốc, mà đối với tộc Việt, cũng giữ một địa vị sinh tử, tối ư quan trọng. Sự quan trọng của nó đối với tộc Hoa là điều hiển nhiên, bởi hơn hai ngàn năm nay, suốt chiều dài văn học sử Trung quốc, không đời nào không có những học giả hàng đầu phê bình, giới thiệu, đề cao, tô điểm thêm hào quang cho Sở Từ. Nó đã trở thành niềm hãnh diện chung của người Trung Hoa vì là một áng văn cổ bậc nhất trong lịch sử văn học nhân loại, đã có được vẻ hoành tráng, trau chuốt, huy hoàng đến như vậy. Nhưng nói rằng nó còn có vai trò tối ư quan trọng, vì có liên quan đến sự sống còn của tộc Việt thì hình như từ trước đến nay chưa ai nói như vậy. Bởi, muốn nói như thế, phải chứng minh được bài Ðông Quân nói riêng, và Sở Từ, mà trong đó Ly Tao giữ vai trò chính yếu, nói chung, không những chỉ phản ảnh văn hóa Việt, mà còn để cảnh báo sự tiêu vong phải đến với Ðại tộc Bách Việt nếu những người có trách nhiệm không kịp thời thay đổi tư tưởng, lề lối sống, cũng như tư duy điều hành đất nước. Sự cảnh báo đó đã không được nghe theo. Khuất Nguyên, tác giả những bài văn, cũng là những lời cảnh báo nói trên, sau chót, đã phải lấy cái chết của mình bằng cách nhẩy xuống sông Mịch La tự vận như một lời báo động cuối vùng (3)! Và quả như lời cảnh báo của Khuất Nguyên: 55 năm sau cái chết của tác giả Sở Từ (278 năm trc CN), tổ quốc ông, nước Sở, bị Tần diệt (223 năm trc CN) kéo theo sự tiêu vong của các nước tộc Việt khác như Ngô, Ðông Việt, Mân Việt, Nam Việt, Ðại Lý... đến nay chỉ còn lại vài ba nhóm trong Ðại tộc may mắn thoát nạn tiêu vong. Ðiều mà hẳn đã có người nghĩ đến, nhưng chưa ai nói tới ấy chính là mục đích của người viết loạt bài này. Xin cứ coi đây như khúc dạo đầu, nhằm đặt vấn đề chủ quyền của bài Ðông Quân. Từ đó - với những bài kế tiếp sau - xin hãy lần theo dấu chân của lịch sử, và với những bằng chứng rõ ràng, cụ thể, chúng ta sẽ cùng ôn lại bài học tiêu vong của Ðại tộc Việt để cùng nhau chắt chiu những kinh nghiệm, trân quí những chỉ dạy của tổ tiên hầu dùng làm chất liệu để đối phó với mối đe dọa tiêu vong như áng mây đen đang dần dần xuất hiện, có thể nguy hại đến sự sống còn của đất nước chúng ta. Ðể đạt mục đích ấy, ta thử tuần tự bàn về: - Tiểu sử và tâm sự Khuất Nguyên. - Thời đại Khuất Nguyên - Giải mã bài Ðông Quân TIỂU SỬ VÀ TÂM SỰ KHUẤT NGUYÊN Mở đầu mục Khuất Nguyên liệt truyện trong Sử Ký, Tư Mã Thiên đã viết: "Khuất Nguyên tên là Bình, cùng họ với vua nước Sở (họ Mị). Bình làm chức Tả Ðô đời Sở Hoài Vương, học rộng, nhớ lâu, thấy rõ lẽ trị loạn, thạo việc giấy tờ. Vào cung thì cùng vua bàn tính việc nước, ban bố các mệnh lệnh, ra ngoài thì tiếp đãi khách khứa, ứng đối với chư hầu. Nhà vua rất tin dùng"(4). Ông sinh năm 343 trước CN, đời Sở Tuyên Vương thứ 27, mất năm 278 trước CN, đời Sở Uy Vương thứ 66. Như trên đã nói, kể từ Tư Mã Thiên giới thiệu Khuất Nguyên trong Sử Ký, suốt chiều dài lịch sử văn học Trung Hoa từ Vương Dật, Ban Cố, Chu Hy, Lưu Hiệp, Lưu Hướng, Dương Hùng, Hồng Hưng Tổ, Vương Thế Chiêu ... đến Lương Khải Siêu gần đây, đều hết lời khen ngợi văn tài của Khuất Nguyên. Duy tâm sự của tác giả Sở Từ thì ít người, rất ít người hiểu rõ. Thường người ta cho ông vì bị thất sủng, uất ức mà trầm mình tự vẫn. Sự hiểu lầm như vậy có thể do chủ ý của các vương quyền Trung Nguyên, như ta sẽ bàn ở sau; nhưng rõ ràng nhất, có lẽ vì ảnh hưởng nhận xét của những sử gia có uy tín như Tư Mã Thiên (145 năm trc CN): "Mình tin mà bị ngờ vực, mình trung mà bị chỉ trích, làm sao khỏi oán thán! Khuất (Bình ) Nguyên viết Ly Tao là do oán thán mà ra vậy, hay như Ban Cố (tác giả Tiền Hán Thư): "Khuất Nguyên lộ tài khoe mình, tranh giành với bọn thấp kém của nước đang lâm nguy để xa rời bọn sàm tặc. Vì thế đã bao lần cầu xin Hoài Vương, oán ghét Tử Lan, Tử Tiêu, sầu thân khổ tứ cố nói xấu bọn ấy, Quá uất ức giận dỗi, bèn nhẩy xuống sông mà chết (5). Bóng dáng quá lớn của những sử gia này quả đã có những ảnh hưởng quyết định đến sự phẩm bình của các học giả đời sau, không chỉ ở Trung Hoa, mà ở cả trên đất nước Việt Nam chúng ta nữa. Ta sẽ thấy, như sẽ được chứng minh sau này, những lời phẩm bình về các danh nhân Việt Nam từ Hai Bà Trưng, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, đến những người có lòng với đất nước gần đây, đều mang ít nhiều cái não trạng nô lệ vào hai nhà phê bình lớn kể trên. Nhưng đó là chuyện sẽ bàn đến sau. Nhận xét Khuất Nguyên vì bị thất sủng mà trầm mình không những chỉ đưa đến sự hiểu sai lạc ý nghĩa cao đẹp của việc ông quyên sinh mà còn có ý đồ xuyên tạc sự thực lịch sử với hậu ý đánh lạc hướng ý chí nuôi lòng khôi phục sự tự chủ của Ðại tộc Việt. Chúng ta biết ông đã cảnh báo nước Sở đang lâm nguy, có thể bị tiêu vong từ khi ông viết thiên Thiên Vấn trong Ly Tao. Suốt thiên Ly Tao, mà chúng tôi xin được đề cập tới trong bài kế tiếp, Khuất Nguyên dùng đủ mọi lý lẽ để báo động nguy cơ có thể bị tiêu vong này. Nhưng càng cảnh báo, càng hô hào thì càng bị sa lầy: trên vua thêm ghét, dưới các đồng liêu dèm pha, còn dân chúng thì thờ ơ, lãnh đạm. Cuối cùng, khi không còn trông vào hi vọng nào, ông đã viết trong thiên Tổng Kết Ly Tao mang tên "Loạn như sau: "Di hĩ tai! Quốc vô nhân mạc ngã tri hề! Hựu hà hoài cố đô? Kỷ mạc túc dữ vi mỹ chính hề, ngô tương tùng Bình hàm chi sở cư! Câu trên ý nước không còn ai biết đến (nghe lời cảnh báo) mình, câu dưới ý không còn người đủ tài để cùng mình cứu nước, thì còn ở vào đâu, (sống làm gì)? Rồi bình thản, an nhiên tự tìm cái chết dưới dòng nước lạnh. Dịch Quân Tả, tác giả viết văn học sử Trung Hoa có uy tín đời nay, là một trong những học giả rất hiếm hoi hiểu được tâm sự của ông. Có lẽ vì là người cùng quê ở Hồ Nam, có con sông Mịch La nơi Khuất Nguyên đã trầm mình, nên Dịch Quân Tả hiểu được thâm thúy nhất về lý do cái chết của Khuất Nguyên: "Ði cũng không được, ở lại cũng không xong, tâm trạng giằng co mâu thuẫn đó đã dày vò ông, làm cho ông không thể không đi đến chỗ chết (6). Bài học Khuất Nguyên đã cho ta biết những chỉ dấu gì báo hiệu một đất nước sắp tiêu vong? Chỉ dấu của một đất nước suy vong là khi có một trong các hiện tượng như khi người lãnh đạo hoang dâm, u tối (hôn quân vô đạo), khi các cột trụ quốc gia sẵn sàng vì ích riêng mà hi sinh quyền lợi đất nước (mãi quốc cầu vinh), khi dân chúng ươn hèn, bạc nhược, thờ ơ với thế sự. Một khi tại một nơi, trong một thời, quốc gia có đủ cả ba hiện tượng trên, đất nước ấy ắt khó tránh bị tiêu vong. Ðó chính là trường hợp của nước Sở thời Khuất Nguyên: vua Sở Hoài Vương tin nịnh thần (Cận Thượng), sủng ái quí phi (Trịnh Tụ), đã mê gái đẹp lại tham cả đất đai mầu mỡ (công chúa nước Tần - đất Thượng Vi 600 dặm); bọn đại thần sẵn sàng thông đồng với ngoại bang (Cận Thượng nhận hối lộ của Trương Nghi); dân chúng thì thờ ơ, lãnh đạm với việc nước ... Nói cho cùng, cái chết của Khuất Nguyên cũng không phải là hoàn toàn vô ích dù rằng sau cái chết của ông, nước Sở vẫn bị mất, tộc Việt trên đất nay là Trung quốc vẫn bị tiêu vong, nhưng lời cảnh báo cùng với sự hi sinh của ông chưa hẳn là đã hoàn toàn bị rơi vào quên lãng. Bằng cớ là hàng năm, hậu duệ Việt tộc ở khắp mọi nơi vẫn kỷ niệm ngày ông mất bằng ngày Tết Ðoan Ngọ mùng 5 tháng 5, bằng các cuộc đua thuyền như để gợi nhớ ngày dân chúng đua nhau bơi thuyền trên sông Tương đến tận hồ Ðộng Ðình để tìm lại xác ông. Lòng hoài niệm này phải chăng là một đốm lửa âm ỉ nơi thâm sâu của hồn Việt nhớ đến lời cảnh báo đất nước có thể bị tiêu vong của ông? THỜI ÐẠI KHUẤT NGUYÊN (343 - 278 trc CN) Thời đại Khuất Nguyên là thời đại quan trọng bậc nhất, khúc quanh lịch sử của vận mệnh Ðại tộc Bách Việt trên sân khấu chính trị Ðông Á. Sự thất bại của Khuất Nguyên trong việc bảo vệ Sở khỏi Tần thôn tính cũng là sự thất bại trong việc gìn giữ độc lập cho các quốc gia của Ðại tộc Bách Việt khỏi bị tiêu vong trước sự bành trướng của Tần, Hán. Hãy lấy năm Tần Thủy Hoàng tóm thâu Lục quốc, thống nhất Trung nguyên (221 trc CN) làm cái mốc, và tạm gác việc bàn đến sự phân bố các sắc dân ở cổ đại Trung quốc trong chương sau. Ở đây, chỉ xin vắn tắt về những triều đại kế tiếp nhau đầu tiên được coi như đã xuất hiện ở Trung nguyên, cho đến khi nước Sở bị mất. Trước thời Tần, cổ sử Trung Hoa ghi những triều đại chỉ có trong huyền thoại như : - Tam Hoàng : Nữ Oa Phục Hi (2852 - 2737) Thần Nông (2737 - 2695) - Ngũ Ðế : Hoàng Ðế (2695 - 2595) Ðế Cốc (2595 - ) Ðế Chính ( - 2356) Ðế Nghiêu (2356 - 2255) Ðế Thuấn (2255 - 2205) Kể từ Tam Ðại là : Hạ (2205 - 1766), Thương (1766 - 1123), Chu (1123 - 225) mới coi như bắt đầu thời kỳ hữu sử. (Các học giả Tây phương chỉ công nhận có sử từ đời Thương). Tuy nhiên đến đời Chu, cũng chưa có một nước có thể được gọi là Trung Hoa (7). Những triều đại từ Chu trở lên chưa hẳn đã có tổ chức chặt chẽ, có kỷ cương, mà có thể chỉ do đời sau tô vẽ thêm ra. Bằng cớ là đầu đời Tây Chu, Trung Nguyên còn có đến gần một ngàn (1000) nước, mỗi nước có tên riêng, hoàn toàn tự trị, chỉ ràng buộc lỏng lẻo với nhà Chu trên danh nghĩa. Sang thời Xuân Thu (770 - 475 trc CN) chỉ còn hơn 100 nước, có 14 nước tương đối lớn, trong đó mạnh nhất là Tần, Tấn, Tề, Sở. Ðến cuối thế kỷ thứ 7 trước CN, có thêm hai nước là Ngô và Việt nổi lên ở hạ du Trường Giang tham gia vào cuộc tranh bá ở Trung Nguyên. Kế tiếp nhau ta thấy xuất hiện: - Hoàn Công nước Tề làm bá từ 685 đến 643 trước CN - Tương Công nước Tống làm bá từ 643 đến 638 trước CN - Văn Công nước Tấn làm bá từ 638 đến 632 trước CN - Trang Công nước Sở làm bá từ 632 đến 597 trước CN - Mục Công nước Tần làm bá từ 659 đến 631 trước CN - Câu Tiễn nước Việt làm bá từ 473 trước CN (8) Vào đầu thời Chiến Quốc (475 - 221 trc CN) nước Tấn bị chia ba thành Hàn, Triệu, Ngụy, do đó bị suy yếu đi và rút lui dần khỏi cuộc tranh hùng. Ðến cuối thời Chiến Quốc, nghĩa là vào thời đại Khuất Nguyên, chỉ còn ba nước là Tề, Tần và Sở thực sự tham dự vào cuộc tranh chấp làm chúa tể Trung Nguyên. Cái thế chân vạc giằng co này là bối cảnh xã hội thời Khuất Nguyên. Bởi có ba nước là Tề, Tần, Sở sức mạnh ngang nhau nên khó phân thắng bại, lại thêm bốn nước nhỏ là Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, tuy sức yếu hơn, nhưng lúc ngả theo bên này, lúc nghiêng về bên kia, do đó cuộc chiến xẩy ra liên miên, càng ngày càng khốc liệt. Dân Trung nguyên lầm than, khổ ải vì chinh chiến, dường như không có lối thoát. Chính lúc này, thuyết Hợp Tung của Tô Tần ra đời. Với sự vận động bên trong của Khuất Nguyên, Tô Tần (cùng với Khuất Nguyên) đã đưa sáu nước đến Hợp Tung cùng chống nhau với Tần mà Tô Tần là người cầm đầu Hợp Tung kiêm làm Tể Tướng sáu nước. Kết quả, như sự ghi nhận của Tư Mã Thiên trong Sử Ký "Quân Tần không dám ra cửa Hàm Cốc nhòm ngó trong 15 năm (9). Nhưng cái thế cầm chân nhau cũng không thể kéo dài mãi được. Nếu lúc đó Sở Hoài Vương biết nghe theo kế của Khuất Nguyên, liên kết với Tề cùng diệt Tần thì nước Sở của tộc Bách Việt đã có cơ làm chủ Trung nguyên. Tiếc thay! Hoài Vương không có chí lớn, lại u mê, tăm tối, đúng như nhận xét của Tư Mã Thiên: "Hoài Vương vì không biết phân biệt kẻ trung thần cho nên ở trong bị Trịnh Tụ mê hoặc, ở ngoài bị Trương Nghi lừa dối, rút cục ruồng bỏ Khuất Nguyên mà tin Ðại phu Thượng quan, Lệnh doãn Tử Lan. Rút cuộc, quân thua, đất bị cắt mất 6 quận, chết bỏ xác ở Tần làm trò cười cho thiên hạ (10). Và cũng vô phước thay cho tộc Việt, đúng lúc đó Tần có vua giỏi nghe theo kế Trương Nghi áp dụng thế Liên Hoành phá thế Hợp Tung. Tuy nhiên, vua Tần không chỉ có ý muốn phá sự Hợp Tung mà còn muốn thôn tính sáu nước, nên hoành ước cũng bị bãi bỏ. Kết quả Sở bị diệt năm 223 trước CN. Trước đó Hàn (230 trc CN), rồi Triệu (228 trc CN) đã bị Tần thôn tính, và sau đó Yên (222 trc CN) và Tề (221 trc CN) cũng cùng chung số phận. Tần gồm thâu Lục quốc, thống nhất Trung nguyên, lập ra nhà nước quân chủ đầu tiên ở Trung quốc. Vua Tần tự xưng Tần Thủy Hoàng đế, "chia nước làm 36 quận, thống nhất pháp độ, hình thành xích thốn, xe cùng đi một đường, sách cùng chung một lối văn (11). Khi quyền hành đã vào trong tay, nước Tần thuộc nòi Hoa Hán, đã ra sức tiêu diệt tiềm lực của nòi Bách Việt. Vì vậy, dù dân Bách Việt đã mau chóng nổi lên theo Hạng Võ diệt Tần nhưng tinh hoa lãnh đạo sau 15 năm dưới sự cai trị tàn bạo của Tần đã bị hao mòn, nên rốt cuộc lại bị thua về tay Lưu Bang. Sau hơn 400 năm cai trị của nhà Hán, giai cấp lãnh đạo Bách Việt phần bị diệt, phần rút về Nam hòa nhập với nước Văn Lang của nòi Lạc Việt, chờ đợi vận hội mới. Bởi vậy, đến thời Tam Quốc, cư dân Bách Việt vẫn còn nhớ nước cũ, nhưng không có người chỉ huy nên mọi cuộc nổi dậy tuy vẫn đông bạt ngàn nhưng chỉ như đám giặc cỏ, sử Trung quốc gọi là "giặc Khăn Vàng, chẳng còn thể xoay chuyển được thếâ cục. Lịch sử đã sang trang. Phải chờ một vận hội mới. Và đó là chuyện sẽ bàn tới ở phần sau. Qua vài nét phác thảo trên, ta có thể mường tượng thấy cuộc chiến tranh liên miên ở Trung quốc hàng mấy ngàn năm, không phải rối mù như ta thường thấy ghi trong cổ sử Trung Hoa, mà hết sức rõ rệt, ít nhất là vào những năm cuối thời Chiến Quốc. Lúc này, nó hiện ra như sự tranh chấp giữa Tần và Sở để làm chủ Trung nguyên, và qua Tần và Sở, là sự thư hùng giữa hai Ðại tộc Hoa Hán và Bách Việt. Hiểu như vậy, ta mới thấy vai trò của Khuất Nguyên quan trọng đến bực nào đối với sự tồn vong của Ðại tộc Bách Việt. GIẢI MÃ BÀI ÐÔNG QUÂN Việc giải mã những bài văn trong Sở Từ của Khuất Nguyên có thể đánh tan lớp hỏa mù được bủa vây cả mấy ngàn năm, hầu hi vọng có thể tìm được ít nhiều sự thực, nhờ vậy có thể biết được phần nào những chiến đấu cam go của Khuất Nguyên và những tâm sự ông muốn gửi lại cho hậu thế. Sự tìm kiếm này được tiến hành tuần tự qua ba bước sau: - Ngôn ngữ học - Dân tộc học - Khảo cổ học Riêng về di truyền học, xin để dành lại cho các chương kế tiếp. Và trước hết xin lấy bài Ðông Quân làm đối tượng giải mã. Ngôn ngữ học Câu hỏi đầu tiên cần đặt ra là Khuất Nguyên đã viết Ly Tao nói chung và bài Ðông Quân này nói riêng, vào lúc nào? Ở đâu? Và bằng thứ tiếng gì? Xin hãy nghe chính Dịch Quân Tả trình bày như sau: "Quê hương chúng tôi ở huyện Hán Thọ, tỉnh Hồ Nam, tức nằm bên cạnh hồ Ðộng Ðình thuộc vùng sông Nguyên, sông Tương. Ðó là nơi ngày xưa Khuất Nguyên đã phóng lãng hành ngâm. Khuất Nguyên có viết câu: Triệu phát Uổng chử, Tích túc Thần Dương (Sáng đi từ bãøi Uổng, chiều đến Thần Dương). Thần Dương tức tên xưa của huyện Hán Thọ. Uổng chử tức là bãi của sông Uổng, thuộc huyện Thường Ðức ngày nay. Thường Ðức cách Hán Thọ hơn 80 dặm. Vì thế nói sáng khởi hành mà chiều đến nơi trú ẩn. Cách thành Hán Thọ độ 5 dặm có con sông nhỏ gọi là Thương Thủy và một thị trấn tương truyền cũng là di tích của Khuất Nguyên. Ðó chính là nơi Thương lãng thủy mà ông đã ngâm (12). Và: "Khi chúng tôi lấy tư cách người Hồ Nam để bàn về Ly Tao, dùng giọng Hồ Nam để đọc Ly Tao (trong Sở Từ), chúng tôi tự cảm thấy có một sự thích thú lạ lùng (13). Ðến đây, ta đã có thể trả lời được hai câu hỏi: "ở đâu? (huyện Thường Ðức, Hồ Nam) và "vào lúc nào? ((khi bị phóng lãng) Khuất Nguyên sáng tác bài văn này. Nhưng câu hỏi "bằng thứ tiếng gì? mà Dịch Quân tả nói ở trên, (giọng Hồ Nam) thì hình như chưa là câu trả lời thỏa đáng. Thôi thì đành phải mượn ý kiến của Hoàng Bá Tư đời Tống để gợi ý: "Khuất Tống (Nguyên) chư tao đều viết Sở ngữ, tá Sở từ, kỷ Sở địa, danh Sở vật, cho nên gọi là Sở Từ (14). Vấn đề như vậy là đã rõ tuy chưa hết khó. Rõ vì Khuất Nguyên viết văn bằng tiếng nước Sở, dùng thuần Sở ngữ, Sở từ, Sở vật, Sở địa trong bài văn của mình. Bản văn chúng ta có ở trang bên chỉ là dịch lại bài viết bằng tiếng nước Sở của Khuất Nguyên ra tiếng Hán thời nay mà ta thường gọi là chữ Nho và phiên âm bằng tiếng Hán Việt, cũng theo giọng ngày nay chứ không phải bằng chữ Hán hơn 2000 năm trước, càng không phải chữ và giọng Sở hơn 2000 trước! Và cái rõ này cũng là nguyên ủy của cái khó, bởi tìm biết giọng Hồ Nam ngày nay, chúng tôi đã phải mầy mò nhiều tháng với sự giúp đỡ của nhiều bằng hữu (15). Còn nghiên cứu để biết giọng Hồ Nam ngày nay khác với giọng Hồ Nam của nước Sở thời Khuất Nguyên, nhất là để biết chữ nước Sở thời ấy viết như thế nào thì hiện chưa thể có cách gì để tìm biết được. Chỉ biết rằng, theo những nhà ngôn ngữ học có uy tín nhất hiện nay, tiếng Sở cũng thuộc ngữ hệ Nam Á (Austro-Asiatic) như tiếng các dân thuộc Ðại chủng Bách Việt khác, và như tiếng Việt hiện đại của chúng ta ngày nay! (16). Cũng phải nói ngay rằng quan niệm cho đa số các dân tộc không phải là Hoa Hán ở phía Nam Dương Tử Giang đều xử dụng ngữ hệ Nam Á mới chỉ được các nhà ngôn ngữ hàng đầu ngày nay đồng thuận, đặc biệt từ 1976 khi hai học giả Mei Tsulin và J. Norman công bố những khảo cứu của mình về ngôn ngữ thời cổ ở Nam Trung quốc (17). Cùng một quan điểm tương tự, trong một quyển sách mới xuất bản năm 2003 gần đây, quyển Theo dấu các văn hóa cổ, GS Hà Văn Tấn, Viện trưởng Viện Khảo Cổ Hà Nội cũng đã phát biểu: " ... các bộ lạc Phùng Nguyên, cái lõi để hình thành dân tộc Việt, những người Nguyên Lạc Việt, đã nói ngôn ngữ nào? Theo tôi, họ nói một phương ngữ của ngữ hệ Nguyên Nam Á nhưng chịu ảnh hưởng rất lớn của hai ngữ hệ Nguyên Thái và Nguyên Malayô-Pôlynêdi (18). Ðây cũng là quan điểm của E. G. Pulleyblank và ông đã trình bầy một cách rất thuyết phục quan điểm của ông trong hội nghị Berkeley năm 1977 về nguồn gốc văn minh Trung Hoa mà chúng tôi có trích dẫn nhiều đoạn trong bài này (19). Riêng chúng tôi cũng đã nói đến diễn tiến sự tranh luận của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới về vấn đề này tại chương 10 quyển Tìm về Nguồn gốc Văn Minh Việt Nam dưới ánh sáng mới của khoa học nên ở đây xin không nói thêm nữa. Chỉ xin văn tắt kết luận rằng quan điểm cho người nước Sở nói một thứ tiếng cùng ngữ hệ như người Việt Nam hiện nay, ngữ hệ Nam Á (Austro-Asiatic), là quan điểm đã được các nhà ngôn ngữ học hàng đầu ngày nay trong đó có W. Meacham, C. Higham, Johana Nichols, S. Oppenheimer, W. G. Solheim II cùng chia xẻ (19A). Dân tộc học Sở thuộc Bách Việt. Khuất Nguyên là người thuộc một dòng cổ, có thể là Âu cũng có thể là Lạc Việt. Ðiều đó là sự thực, có lẽ không cần bàn cãi thêm. Xin hãy nghe chính lời nói của vua nước Sở là Sở Hùng Cừ: "Ta là man di không cùng hiệu thụy với Trung quốc (20). Xin hãy nghe thêm ý kiến của các sử gia Nhật và Hoa nói về sự liên quan giữa Sở với Việt: "Xét người Việt lập được cơ nghiệp ở bán đảo Trung Ấn là có uyên nguyên chứ không phải việc ngẫu nhiên, bởi vì người Việt Nam là giống cường đại nhất trong Bách Việt [&...] Nước Sở xuất hiện khoảng 10 thế kỷ trước Công Nguyên là do dân tộc Việt Nam kiến lập [...]. Sử Ký chính nghĩa viết: Nam Việt và Âu Lạc đều lập họ. Lại Dẫn thế bản viết: Việt, họ Mị, cùng tổ với Sở. Sách xưa gọi là đồng tính, đồng tổ, tức là cùng một chủng tộc. Vả lại theo lịch sử Việt, người Việt xưa, phía Ðông giáp Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Ðộng Ðình, Nam tiếp với nước Hồ Tôn (Lâm Ấp) thì Sở bỏ đi sao được (21). Bấy nay còn có người bị lấn cấn, nghi ngờ là bởi họ tự đặt mình vào mâu thuẫn không có lối thoát. Ðó là mâu thuẫn giữa một mặt người ta không quên huyền thoại Hồng Bàng mở nước với chuyện Kinh Dương Vương lập nước Xích Quỷ từ năm 2879 trước Công Nguyên (22) mà, cương vực phía Bắc đến tận hồ Ðộng Ðình; mặt khác lại giới hạn lịch sử trong cương vực hiện tại của nước ta, cương giới phía Bắc chỉ giáp đến Quảng Ðông, Quảng Tây của Trung quốc! Bởi thế, các nhà sử học Việt gần đây thường tỏ ra lúng túng: - Có khi phải phủ nhận huyền thoại, cho chuyện Hồng Bàng "không chắc là chuyện xác thực (23). - Có khi phải "cắt bớt lịch sử đi cho vừa với cái "khung làm sẵn phủ nhận truyền thuyết lập quốc 2879 trước Công Nguyên mà chỉ nhận sự ra đời của nhà nước Văn Lang vào khoảng thếâ kỷ thứ 7 trước Công Nguyên, nghĩa là vào khoảng đời Trang Vương nhà Chu (698 - 681 trc CN) (24). Sự hợp tác giữa hai tộc lớn của Ðại chủng Bách Việt là Âu và Lạc để chống sự xâm lấn của bạo Tần cũng bị thu hẹp lại bằng cách phủ nhận vai trò đại diện tộc Âu của Thục Phán và chỉ cho ông đóng vai trò một tù trưởng nào đó trong vùng rừng núi Cao Bằng. Cái mâu thuẫn, "cái vòng kim cô đã tròng lên đầu các sử gia Việt Nam đó nay đã bắt đầu được các nhà khoa học viết sử mới tìm cách tháo gỡ. Bằng cớ là gần đây đã bắt đầu xuất hiện những bài nghiên cứu muốn kéo huyền thoại về với chính sử bằng cách giải thích sử liệu cũ dưới nhãn quan khoa học mới (xin xem Nguyên Nguyên, loạt bài viết về Hùng Vương, có bài giới thiệu trong số này và Lê Văn Ẩn trong Thời Báo số Xuân Ất Dậu 2005 và số 386 ngày 26/04/05). Nếu còn vấn đề phải bàn luận thêm ở đây thì chính là vấn đề mà các sử gia Nhật (Nhân Thôn Thành Doãn) và Hoa (Hứa Văn Tiền) vừa nêu ra ở trên. Và đó là điểm mà ta phải nhờ đến khảo cổ, ở đây là Trống Ðồng, để góp phần giải mã bài Ðông Quân của Khuất Nguyên. Khảo cổ học : Trống Ðồng Ở trên ta đã nói Khuất Nguyên là người Cổ Việt, viết Sở Từ bằng Sở ngữ, một nhánh của ngôn ngữ Nam Á, cũng là ngôn ngữ Việt, với nhiều dẫn chứng của ngôn ngữ học. Và nếu bấy nhiêu vẫn chưa đủ, ở đây xin viện dẫn thêm chứng cớ của khảo cổ học, nói về mối tương quan khắng khít của trống đồng Ngọc Lũ với bài Ðông Quân. Ðể sự kiện bớt rườm rà, rối rắm, chúng tôi xin trình bầy vấn đề thứ tự theo ba bước: - Bước một : Văn Hóa Ðông Sơn, mà Trống Ðồng là biểu trưng, là văn hóa của người Lạc Việt. - Bước hai : Trống đồng Ngọc Lũ là sản phẩm của người Lạc Việt mà con cháu là người Việt nước Việt Nam hiện nay và là tài sản duy nhất chỉ có người Việt mới có. Xin nhấn mạnh: chỉ nói trống Ngọc Lũ. - Bước ba : Người sáng tác ra bài Ðông Quân và người chế tác ra trống đồng Ngọc Lũ có lẽ cùng thuộc một tộc người, có thể cùng một tổ tiên. Bước Một : Khi chiếc trống đồng đầu tiên tìm thấy ở Ðông Sơn (Việt Nam) năm 1924, những người tiếp cận với những chiếc trống đồng hoành tráng này, biểu trưng cho một nền văn hóa cao độ cổ thời, không tin rằng đó là sản phẩm do tổ tiên người Việt chế tác ra. Ðiều này cũng dể hiểu bởi lúc đó Việt Nam bị mất chủ quyền về nước Pháp. Ngay cả cái tên nước Việt Nam cũng không có trên bản đồ thế giới, con dân nước đó đang sống cuộc đời nô lệ, lam lũ, nghèo khổ, nên chẳng lấy làm lạ nếu họ, những học giả kia, không tin tổ tiên những người cùng khổ như thế lại có nền văn minh sớm và cao đến như vậy! Ta không thể trách họ được dù những nhà học giả này không thể tránh được tiếng "ngạo mạn do S. Oppenheimer tặng cho họ (25), cũng không tránh được tiếng đã dùng kiến thức thời "nữ hoàng Victoria và "cũ rích, lỗi thời như nhận xét của W. G. Solheim II (26). Về điểm này chúng tôi đã trình bầy tạm đủ tại chương 7, Trống đồng Ðông Sơn, trong Tìm về Nguồn gốc Văn minh Việt Nam dưới ánh sáng mới của khoa học từ trang 161 đến 194 nên xin không nói lại ở đây. Chỉ xin mượn ý kiến của hai học giả, một của Trung Hoa là La Hương Lâm và một của Việt Nam, Hà Văn Tấn, đương kim Viện trưởng Viện Khảo cổ Hà Nội, coi như tiếng nói có thẩm quyền nhất: - La Hương Lâm: "Ðặc điểm nổi bật của văn hóa các tộc Việt Cổ là nghề đúc trống đồng của họ dùng cho mục đích lễ nghi. Lạc Việt, một nhánh của tộc Việt, đã thuần thục nghề này đến mức trống đồng có khi được coi như trống đồng Lạc Việt (27). - Hà Văn Tấn: "Văn hóa Ðông Sơn là văn hóa của người Lạc Việt mà như ta đã biết, người Lạc Việt là tổ tiên của người Việt hiện đại, cho nên cái kết luận hiển nhiên và chặt chẽ có thể rút ra được là chủ nhân văn hóa Ðông Sơn chính là chủ nhân của người Việt hiện đại (28). Bước hai : Nếu chủ nhân Văn Hóa Ðông Sơn cũng là tổ tiên người Việt hiện đại thì trống đồng Ðông Sơn tiêu biểu cho Văn Hóa Ðông Sơn cũng tiêu biểu cho văn hóa người Việt hiện đại. Trong trống đồng Ðông Sơn, trống Ngọc Lũ là cái tiêu biểu nhất cho Văn Hóa Ðông Sơn, bởi nó cùng với Hoàng Hạ và Sông Ðà là ba cái thuộc nhóm trống đồng sớm nhất cùng tìm thấy trên đất Việt Nam ở vùng châu thổ sông Hồng (29). Ngày nay, không còn ai tranh cãi về chủ quyền trống đồng loại này. Ngay từ những ngày Trung Hoa còn quyết liệt tranh đấu chủ quyền trống đồng với Việt Nam vào các thập niên 70, 80 thế kỷ trước, người ta không bao giờ tranh giành chủ quyền trống Ngọc Lũ mà luôn luôn công nhận, dù mặc nhiên, đó là trống đồng của Việt Nam, có lẽ vì trống đồng này được tìm thấy trên đất Việt Nam, được lưu giữ trong viện bảo tàng Việt Nam. Hồi ấy, lý luận phía Việt Nam cho rằng trống đồng thuộc tác quyền Việt Nam vì ở Việt Nam, người ta tìm thấy những trống đồng lớn nhất, đẹp nhất, cổ nhất mà Ngọc Lũ là cái tiêu biểu nhất. Trái lại, phía Trung Hoa lý luận ngược lại, cho rằng theo lẽ thường, những sản phẩm càng về sau càng tốt hơn, càng đẹp hơn bởi người chế tác lúc đầu vì chưa có kinh nghiệm nên sản phẩm làm ra thường nhỏ bé, xấu xí hơn. Ngọc Lũ cũng như Hoàng Hạ, Sông Ðà tại Việt Nam là những trống lớn và đẹp, theo lập luận phía Hoa, mặc nhiên phải được hiểu đã được chế tạo sau những trống Vạn Gia Bá ở Trung Hoa, nhỏ và xấu hơn. Lý luận như vậy không phải là không hợp lý theo lẽ bình thường. Nhưng họ không biết trống đồng không phải là sản phẩm bình thường. Bởi trống đồng không phải chỉ là một dụng cụ âm nhạc mà còn là một dụng cụ để điều binh khiển tướng trong lúc lâm trận, để ra hiệu lệnh trong thời bình, để thờ ở đền đài làm vật thiêng, làm chứng cho lời thề của quần thần trung thành với vua, với nước vào đầu năm, có thể còn có vai trò một quyền trượng hay một vương miện của triều đình Phong Châu ban cho các triều đình khác trong vùng Ðông Nam Á, như ý kiến của Loofa- Wissowa (xin xem ý kiến của Loofa-Wisscova và chú thích 37 ở dưới). Ðừng quên rằng Phong Châu, kinh đô Lạc Việt vẫn là nơi phát xuất, là đất tổ, là cái nôi của tất cả các tộc Việt trong Ðại tộc Bách Việt. Xin xem lại những phát minh mới đây, kể từ GS Chu về di truyền học. Như đã trình bầy nhiều lần, theo khảo cổ học, theo cổ dân tộc học, cổ ngôn ngữ học hay di truyền học, các dân Bách Việt đã từ đồng bằng Sundaland, từ đồng bằng sông Hồng cổ phân tán đi các nơi. Ðến nay, di truyền học vẫn còn xác minh được sự thực ấy. Và vì vậy, một khi đã chế tạo được trống đồng đủ tiêu chuẩn biểu trưng cho quyền lãnh đạo tối cao như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Ðà thì sự chế tạo những trống khác có lẽ chỉ để biểu trưng cho những quyền lực thấp hơn, cho những nhu cầu khác nhỏ hơn. Do đó không cần hay không được phép chế tạo những trống lớn, đẹp như vậy nữa. Ðây là điểm mà ngay Lăng Thuần Thành cũng không để ý nên có thể đã có sơ sót trong nhận định như được trình bày ở đoạn sau. Nói một cách rõ hơn: chỉ có duy nhất một trống đồng Ngọc Lũ chứ không có cái phó bản. Cũng chỉ có ba trống đồng cùng loại có hoa văn đẹp tương tự là trống Hoàng Hạ, Sông Ðà và Vienne, nhưng hoa văn cũng không hoàn toàn giống như hoa văn trống Ngọc Lũ. Có lẽ vì không rõ điều này nên Lăng Thuần Thành đã đem hoa văn trên trống Ngọc Lũ của văn minh sông Hồng để chú giải bài Ðông Quân và mới ung dung kết luận trống đồng (nói chung chung, không chỉ riêng trống Ngọc Lũ) là của dân Bộc Lão (cũng thuộc chủng Việt) chế tạo mà Cửu Ca (Ðông Quân có trong đó) là nhạc chương của dân Bộc Lão thời xưa. Kể ông cũng đã cách mạng và công bình lắm khi trả chủ quyền bài ca và trống đồng cho dân Bộc Lão, khác các tác giả cổ điển Trung Hoa nhận vơ tất cả đều của Tầu. Tuy nhiên, từ Việt (Bộc Lão) ở Hồ Nam, Hồ Bắc với Việt ở châu thổ sông Hồng cũng có nhiều khác biệt, nhất là cái Việt Bộc Lão ấy, nay đa số đã thành Tầu cả rồi. Phải phân biệt được rạch ròi, sự tương quan giữa nội dung bài ca Ðông Quân với hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ, trống Ngọc Lũ chứ không phải bất cứ trống đồng nào khác như sẽ được phân tích ở bước ba dưới đây, mới thấy được hết mối liên hệ của nước Sở thời Chiến Quốc với gốc gác của Ðại tộc Bách Việt thuộc Văn hóa Hòa Bình ở đồng bằng sông Hồng Cổ như thế nào. Bước Ba : Bước ba muốn nói lên sự tương quan một cách lạ kỳ giữa trồng đồng Ngọc Lũ và bài ca Ðông Quân. Chỉ có thể có một giải thích là tác giả bài Ðông Quân và nghệ nhân chế tác ra trống đồng cùng thuộc một nền văn hóa, hơn thế nữa, có thể cùng một gốc tích, một quê hương, một tổ quốc. Hay cũng có thể nói như Lê Mạnh Thát: "Nếu Cửu Ca quả do Khuất Nguyên ghi lại thì chúng ta có thể nói là có nguồn gốc Việt Nam một cách khả chứng và ngay cả khi chúng không do Khuất Nguyên ghi lại, nguồn gốc ấy cũng có thể chứng thực một cách không chối cãi (30). Và trong hoàn cảnh văn bản hiện có, chỉ xin so sánh bài Ðông Quân đã dịch sang tiếng Hán mà ta có ở trên với hoa văn trống đồng Ngọc Lũ, qua bốn cặp hoa văn nổi bật nhất: Thứ nhất: Hình đập vào mắt ta đầu tiên là hình vòng tròn có những tia sáng tỏa ra xem có vẻ như hình mặt trời nằm giữa tâm trống đồng (xem h.1), đã được Khuất Nguyên diễn tả qua mấy câu mở đầu bài Ðông Quân một cách tuyệt vời: Ðôn (thôn) tương xuất hề Ðông phương Chiếu ngô hạm hề phù tang Phủ dư mã hề an khu Dạ hiệu hiệu (kiểu kiểu) hề ký minh Vừng hồng xuất hiện Ðông phương Tỏa bầu ánh sáng phù tang chói ngời Ngựa thuần dong ruổi một hơi Màn đêm tan biến mặt trời quang minh (31) Chữ Ðông Quân, theo tự điển Bác Nhĩ, có nghĩa là mặt trời. Hình mặt trời không những chỉ có ở giữa mặt trống đồng Ngọc Lũ, mà còn thấy xuất hiện ở hầu hết trống đồng tìm được cho đến ngày nay. Sự hiện hữu của hình mặt trời như vậy hẳn phải có một ý nghĩa đặc biệt nào đó trong đời sống tinh thần của tộc dân làm ra nó. Bài Ðông Quân cho biết đây là một nghi lễ đón thần mặt trời, vậy đã giải thích rõ sự thiêng hóa mặt trời nơi trống đồng. Ðiều này cũng dễ hiểu, bởi mặt trời là gốc của thời tiết: nắng, mưa, bão tố, hạn hán hay lũ lụt ... Dân tộc Việt lấy nghề nông làm gốc, mà kết quả của nghề nông là tùy thuộc vào nguồn nước, tức vào thời tiết, vào mặt trời. Vậy nếu tộc Việt lấy mặt trời làm trọng, thiêng hóa mặt trời, thờ mặt trời (xin nhấn mạnh: chỉ nói dân Cổ Việt) thì cũng là chuyện dĩ nhiên phải có vậy. Trong đoạn này, và cả trong suốt bài Ðông Quân, chỉ có một chữ là chữ mã (con ngựa) không thấy có hình xuất hiện nơi trống đồng. Ðây là điểm ta sẽ bàn kỹ ở phần sau. Thứ hai: Hòa tấu âm nhạc đón thần mặt trời, được Khuất Nguyên diễn tả bằng bốn câu như sau: Căng sắt hề giao cổ Tiêu chung hề dao cư Minh trì hề xuy vu Tư linh bảo hề hiền khoa Bửu Cầm dịch: Chuông khoa trống giục gần kề Dặt dìu đàn sáo đê mê lòng người Lê Mạnh Thát dịch: Ðàn nhanh hề trống đánh Gõ chủy hề nhịp rung Sáo vang hề khèn thổi Nhớ linh bảo hề đẹp hiền (32) Trong bốn câu này ta thấy tất cả có sáu thứ nhạc cụ cặp từng đôi với nhau là: - Sắt (đàn sắt) với cổ (trống) - Chung (chuông) với cừ (cái chày) - Trì (sáo thổi ngang) với vu (cái khèn) Cả sáu nhạc cụ này đều thấy có trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Hoa văn trên trống đồng diễn tả sự hòa tấu này bằng bốn đồ hình đối xứng với nhau. Thứ tự quay theo kim đồng hồ từ trên xuống dưới, ta thấy: đồ hình thứ nhất là một dàn trống đồng, mỗi trống đặt trên một kệ, trên có bốn người đánh trống theo tư thế ngồi, mỗi người cầm một cây dài "nện vào mặt trống. Xin lưu ý lối đánh trống đồng này khác với đánh trống da, hai tay cầm dùi đánh vào mặt trống như ta thường thấy ngày nay. Ðối diện bên kia cũng có một dàn trống bốn cái, nhưng chỉ ba người ngồi còn một người nện trống theo tư thế đứng quay lưng lại. Vậy trống đồng là nhạc cụ thứ nhất (xem h.2 - 2B). Nhạc cụ thứ hai là đàn sắt đi cặp với trống trong câu: Căng sắt hề giao cổ, thấy hiện diện trên đồ hình hai, kề ngay theo dàn trống. Ðó là một hoa văn như hình một căn nhà mái cong. Trên mái nhà có con chim đậu, ở trong có hai người ngồi. Phía đối diện bên kia cũng có căn nhà tương tự tuy trên mái có những hai con chim quay đuôi vào nhau. Chúng tôi có cảm tưởng hình như hai người này đang ngồi tấu một loại nhạc cụ kiểu đàn sắt như ta còn thấy ở người Dayak đảo Bornéo ngày nay (xem h.3 - 3B). This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 527x382 and weights 24KB. Chúng tôi không nhìn ra trong bốn người ngồi đánh trống lại có một người gẩy đàn sắt như giải thích đã được GS Bửu Cầm ghi lại trong Tập san Sử Ðịa số 25 theo giải thích của Lăng Thuần Thành. Kế tiếp là đồ hình thứ ba có vẻ như hai người đang đứng giã gạo theo kiểu chày đứng, rất phổ thông trong cổ thời và đến nay còn được kế thừa ở những tộc dân miền núi như ở các bản Mường. Cái chày này hình dáng như cây cột, Hán tự gọi là cự. Ở bản Mường Việt Nam còn có lối hòa tấu âm nhạc dùng chày và trống gọi là "xử cổ hợp nhạc, vậy cự đây cũng là một loại nhạc cụ. Nhạc cụ này là nhạc cụ thứ ba thấy có hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ cũng được mô tả trong bài Ðông Quân (xem h.4 - 4B). Nhạc cụ thứ tư là cái chuông trong câu: Tiêu chung hề dao cự, được biểu lộ trên mặt trống đồng, bên cạnh cái "cự: cách một người hình như hai tay đang tung một con chim bay lên, là một đồ hình trông như một căn nhà bên trong có người đang dùng một tay hình như để đánh vào một dàn chuông. Phía đối diện cũng có đồ hình một căn nhà tương tự, nhưng hình người lúc này không phải dùng một tay mà dùng cả hai tay đánh hai bên dàn chuông, thoáng trông như một người đang mở cửa (xem h.5 - 5B). This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 508x361 and weights 21KB. Cũng có những giải thích khác nữa, nhưng ở đây chúng ta chấp nhận giải thích đây là cặp hợp tấu thứ nhì giữa chuông và chày cùng phụ hòa với cặp hợp tấu thứ nhất là đàn và trống đã nói ở trên. Hai nhạc cụ sau cùng được diễn tả trong câu: Minh trì (thược) hề xuy vu. Trì là ống tiêu hay sáo và vu là cái khèn. Theo sách Dĩ Nhã (Bửu Cầm gọi là Nhữ Nhã) (33): "ống trì làm bằng tre, dài 1 thước 4 tấc, chu vi 3 tấc, có 1 lỗ ở trên chừng 1 tấc 3 phân, gọi là hoạch xuy lớn, thứ nhỏ dài 1 thước 2 tấc (xem h.6). Còn vu (có tên khác là sinh) làm bằng quả bầu khô và những ống tre hay ống nứa ghép lại, là loại nhạc khí phổ thông của người Cổ Việt (có tên gọi là khèn). Trên mặt trống đồng, kế bên đồ hình đánh chuông là đồ hình những người thổi khèn và sáo như hình ta thấy kế bên (xem h.7). Thứ ba: Nếu cặp hai đã cho ta thấy sự tương đồng khít khao giữa hình họa trên trống đồng và câu thơ trong Ðông Quân thì hoa văn và câu thơ ở cặp ba này không những chỉ nói lên sự thống nhất ở hai thể loại văn hóa khác nhau mà còn nói lên nét độc đáo chỉ thấy ở văn hóa Cổ Việt. Nói một cách khác, theo nhận xét chung của các nhà cổ học Ðông phương, chỗ nào có những hình người mặc áo, đội mũ lông chim vũ như chim bay đúng như câu "Hiên phi hề thúy tằng đã được Vương Dật giải thích: "Những người nhảy (đồng bóng) khéo uốn lượn thân thể mình như đương bay lượn, giống như chim phỉ thúy đang bay lên vậy thì chỗ ấy chịu ảnh hưởng văn hóa Bách Việt, hay chính là Bách Việt. Hoàn (hiên) phi hề thúy tằng Triển thi hề hội vũ Ư¨ng luật hề hợp tiết Linh chi lai hề tế nhật Thanh vân y hề bạch nghê thường (34) Lê Mạnh Thát dịch: Phất phới hề ác thúy Trình thơ hề nhảy cùng Ðúng luật hề hiệp điệu Linh thần đến hề che trời Áo mây xanh hề xiêm ráng trắng Bửu Cầm phỏng dịch: Loan bay phượng liệng chơi vơi Múa theo tiết tấu nhạc hài thi ca Dáng ai thanh nhã hào hoa Xiêm y gợn nét, vân ba dịu dàng Quí vị hãy quan sát thực kỹ đoàn vũ công giữa dàn trống và dàn chuông, một bên 6 người, một bên 7 người. Hình như đứng đầu là một người không đội mũ lông chim Phải chăng là người điều khiển(?). Họ đang vũ với một dáng điệu thanh thoát, không biết có phải muốn nói lên ý nghĩa của chuyện thần thoại "con Rồng cháu Tiên? (xem h.8 - 8B) Thứ tư: Ðề cập đến một chuyện khác đã được Khuất Nguyên diễn tả như sau: Cử trường thỉ hề xạ Thiên Lang Thao dư hồ hề phản luân giáng (hàng) Viễn bắc đẩu hề chước quế tương Soạn dư bí hề cao đà tường Yểu minh minh hề dĩ đông hành Lắp tên quyết bắn Thiên Lang Cầm cung nhắm nẻo tây phương tống thần Vin sao bắc đẩu tần ngần Chước hồ rượu quế là lần tiễn đưa Xe thiêng một thoáng lửng lơ Ðông phương thẳng lối mịt mờ bóng đêm (35) Xin nói ngay rằng đoạn văn trên được phản ảnh không phải trên mặt mà trên tang của trống đồng Ngọc Lũ. Hình người bắn tên đứng ở trên một cái bục cao, mặt quay về hướng tây, hướng mặt trời lặn. Trên dây cung không có mũi tên, chắc cung thủ đã bắn rồi. Bắn cái gì? Khuất Nguyên đã nói rõ: Cử trường thỉ hề xạ Thiên Lang? Vậy Thiên Lang mang ý nghĩa gì? Trước hết, nó là tên sao thuộc phận dã nước Tần, nước đối địch và là tử thù với Sở. Bởi vậy đã có người giải thích xạ Thiên Lang là diệt Tần. Giải thích như vậy cũng có cái lý của nó nhưng không hợp với mục đích bài văn này, một bài văn mang ý nghĩa tôn giáo, cử hành lễ tiễn mặt trời. Theo truyền thuyết, muốn tiễn mặt trời lặn về phương tây được yên ổn thì phải diệt con Thiên Lang còn gọi là Thiên Cẩu (con sói trời) chỉ lăm le nuốt mặt trời, để tảo trừ chướng ngại hầu tiễn Thần (mặt trời) đi được an toàn. Thần ra đi bằng phương tiện gì? Trong hình thuyền trên trống đồng có một con vật bốn chân như chó, nhưng không phải chó vì mắt lồi và hình như có sừng. Ngưới ta giải thích đó là con đà trong câu Soạn dư bí hề cao đà tường. Phải chăng đó là linh vật để thần có thể cưỡi bay về phương đông? (xem h.9) This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 519x380 and weights 27KB. Rõ ràng ta thấy không có gì có thể giải thích bài Ðông Quân rõ và sống động hơn bằng hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ, và ngược lại. Ta không loại trừ hoa văn trên trống đồng còn có thể mang những ý nghĩa khác, nhiều tầng ý nghĩa, nhưng ở đây, ta chỉ nói đến sự tương quan giữa trống Ngọc Lũ và bài Ðông Quân, đến ý nghĩa tế thần, ý nghĩa tôn giáo mà hai loại hình văn hóa tiêu biểu cho Ðại tộc Bách Việt đã cùng biểu lộ. Và tưởng có thể kết luận mà không sợ cho là khiên cưỡng rằng: Ðông Quân và Sở Từ phát xuất từ cùng một nền văn hóa, có cùng một quê hương. Trống Ngọc Lũ của Việt Nam, phản ảnh văn hóa Việt, mà điểm phát xuất là từ đồng bằng sông Hồng có kinh đô tinh thần, kinh đô tín ngưỡng tôn giáo là Phong Châu. Bài Ðông Quân và Khuất Nguyên tưởng không thể không có cùng quê hương đó! Thảng còn có người phản bác: trong bài Ðông Quân có nói đến một con vật không thấy xuất hiện trên trống đồng Ngọc Lũ: con ngựa (mã) ứng với câu: Phủ dư mã hề an khu. Ðiều này Lăng Thuần Thành đã trả lời giúp chúng ta. Ông đã mượn báo cáo trong Việt Tuyệt Thư số 8 tờ 1b 7-9, theo đó Câu Tiễn nói: "Người Việt ... đi nước mà ở núi, lấy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa, đi như gió mạnh, về thì khó theo, quyết đánh không sợ chết, ấy là tánh của người Việt. Vậy trong câu thơ trên, ta có thể giải thích "phủ mã là vẫy nhẹ mái chèo, "an khu là thuyền từ từ rời bến. Thực tế, dân ở vùng sông Nguyên, sông Tương bên hồ Ðộng Ðình, nơi Khuất Nguyên sáng tác bài Ðông Quân, khi xưa, cũng như người Việt ở khắp mọi nơi gần sông nước, từ thời xưa đến nay thường vẫn cử hành nghi lễ tôn giáo bằng thuyền, chứ không bằng ngựa xe. Giải thích của Lăng Thuần Thành tưởng có thể đáp ứng được phản bác trên vậy. Ngoài trống đồng Ngọc Lũ, ta cũng còn có thể có những chứng cớ khác để chứng minh bài Ðông Quân nói riêng, Sở Từ nói chung, và tác giả của nó, Khuất Nguyên, có lẽ thuộc văn học sử Việt Nam. Một trong những chứng cớ đó là chứng minh bài Ðông Quân có sự tương đồng toàn triệt với bài Việt Ca đã được sử Trung hoa công nhận là bài ca bằng chữ viết hoàn chỉnh của người Việt, và đã được Lưu Hướng ghi lại trong Thất Uyển, có lưu trong bí các của Hoàng cung nhà Hán (xem chú thích 30). Chuyện này xin được trình bầy chi tiết hơn trong một dịp khác. Ở những chương sau, chúng tôi sẽ có dịp trình bầy vào chi tiết huyền thoại Kinh Dương Vương để cùng các tác giả khác làm sáng tỏ vấn đề nguồn gốc dựng nước của người Cổ Việt. Ðại tộc Bách Việt, từ miền Nam, bành trướng lên Bắc, chiếm địa bàn đại lục Trung nguyên trước. Nhưng rồi vì lý do này hay lý do khác, mãi đến nay vẫn chưa biết hết, tộc Việt đã bị tộc Hoa đánh bại, bị tiêu vong hay đồng hóa phần lớn và phần còn lại đã rút về Nam. Chỉ xin nói ngay ở đây rằng trước sự thôn tính và áp lực của nòi Hoa Hán, cũng còn nhiều tộc Việt hiện vẫn lang thang, chưa lập được một nước mới như người Dao (Yao), người Mèo (Miao), người Choang, người Lô Lô ... Những tộc may mắn hơn đã có một quốc gia để xây cuộc đời mới là Thái Lan, Lào, Cao Miên, Miến Ðiện, Mã Lai. Riêng trường hợp Việt Nam thì hình như có hơi khác. Việt Nam đã lập quốc từ gần năm ngàn năm trước. Vì vậy vẫn tự hào là nước có trên 4000 năm văn hiến. Cho dù trong thời đại cực thịnh của nòi Việt ở Trung Nguyên, nhiều tinh hoa Việt đã di lên phương Bắc để lập ra các nước gốc Việt hùng cứ một thời như Sở, Ngô, Ba Thục, Ðông Việt, Mân Việt, Nam Chiếu ... Nhưng phần gốc, cốt lõi tinh hoa vẫn ở lại nơi châu thổ sông Hồng có kinh đô Phong Châu cổ kính. Y¨ kiến do Loofs-Wissowa gợi lên, được Hà Văn Tấn diễn lại trong Theo dấu các văn hóa cổ tưởng rất đáng được quan tâm và được nghiên cứu. Y¨ kiến đó như sau: "Trống đồng được coi như là vật tượng trưng cho quyền lực hợp pháp. Loofs-Wissowa cho rằng có quyền uy tôn giáo đã tồn tại nơi nào đó ở phía Bắc bán đảo Ðông Dương mà hợp lý nhất là ở Bắc Việt Nam. Quyền uy tôn giáo đó không nhất thiết có quyền lực chính trị. Ông cho rằng quyền uy đó gần giống với giáo hoàng ở phương Tây. Theo ông có thể tưởng tượng rằng đã có những sứ bộ phái đoàn do các tù trưởng bộ lạc ở nhiều vùng Ðông Nam Á gửi đến miền Bắc Việt Nam để được ban những chiếc trống đồng, mà với chúng, họ có thể làm vua hợp pháp (36). Khảo cổ học những ngày rất gần đây đã tìm thấy ở vùng đất thiêng này dấu vết của sự cư trú lâu đời không dưới 4000 năm trước với đời sống văn minh khá cao. Vấn đề này cần được khai triển và nghiên cứu thêm. (Xin xem phần Phụ chú từ trang 504 trong Tìm về Nguồn gốc Văn minh Việt Nam dưới ánh sáng mới của khoa học). Hơn 4000 năm văn hiến là một sự thực, không chỉ là huyền thoại, càng không phải là một hội chứng. May mắn thay Ðại tộc Bách Việt đã không hoàn toàn bị tiêu vong bởi kẻ thù truyền kiếp. Ở khắp mọi nơi trong thế giới này, không nơi nào không có bóng dáng của hậu duệ nòi Việt. Và chỉ cần ý thức được nhiệm vụ khó khăn nhưng cao cả của dòng giống mình, nhất định tộc Việt sẽ có ngày dựng lại cơ đồ. Nay quay lại thời Chiến Quốc, thời quyết định của Ðại tộc Bách Việt. Trong cuộc tranh chấp với Tần, gốc nòi Hoa Hán, đại diện tộc Bách Việt là Sở, nếu thắng thì có thể đã làm chủ Trung nguyên. Sở là con chim đầu đàn của các nước tộc Việt, không những vì Sở nước rộng, người đông mà còn vì kinh tế của Sở phát triển nhất, quân sự của Sở hùng mạnh nhất (nên được gọi là Cường Sở). Mặt khác, biên giới của Sở tiếp giáp với Tấn ở phía Bắc, Tần ở phía Tây, đều là những nước mạnh và những trung tâm văn hóa đầu não của nòi Hoa Hán. Không may, sau khi đạt đến cao điểm của sự phồn vinh, Sở sớm bị hủ hóa, vua thì xa hoa tửu sắc, các quan chỉ biết nịnh bợ gièm pha, mưu cầu phú quí, còn dân thì bạc nhược, thờ ơ với thế sự. Trong bối cảnh phải tranh giành một sống một chết với nòi Hoa Hán, mà sống như vậy, hậu quả đương nhiên phải đưa Sở đến mất nước. Có điều người ta không thể ngờ rằng con chim đầu đàn của tộc Việt ấy, sau khi nước mất, lại bị đồng hóa với nòi Hoa Hán và bị tiêu vong mau như vậy! Sự đồng hóa triệt để đến nỗi những hậu duệ đồng tính như người Việt ngày nay đa số không còn biết người Sở ngày xưa cũng là tổ tiên mình! Ðiều mà những học giả ngoại quốc như Pulleyblank lại nhận thấy một cách tỏ tường (37). Vài niên đại có ý nghĩa cần lưu ý: Khuất Nguyên mất năm 278 trước Công Nguyên thì ba năm sau (275 trc CN) Sở mất đất Yên Lăng, bốn năm sau (274 trc CN), Sở mất đất Dĩnh là kinh đô của Sở, nên phải dời đô về Thọ Xuân (nay là tỉnh An Huy). 55 năm sau (223 trc CN) Tần diệt Sở và cũng chỉ hai năm sau (221 trc CN) Tần diệt nốt Yên và Tề, thống nhất Trung nguyên, đưa tộc Hoa Hán lên ngôi chủ tể Trung quốc. Trương Quang Trực, sử gia hàng đầu của Trung quốc trong thế giới tiếng Anh đã đưa ra một nhận định hết sức vơ vào nhưng cũng hết sức thông minh không dễ bác khước là: "All local cultures in prehistoric China that, in their entirely or in large part, became part of the historical Chinese civilization. Và: "Before Chin unification, the ancient Chinese were but one of the local peoples of China. After, the Chinese were to become the people of China (38). Có thể hiểu nhận định trước của Trương Quang Trực mang tính cách văn hóa cho rằng mọi nền văn hóa địa phương trong thời tiền sử ở Trung Hoa, hoặc toàn bộ, hay phần lớn, đã trở thành một bộ phận của nền văn minh Trung quốc. Về nhận định thứ hai mang tính dân tộc học, nhưng thực là nhận xét chính trị, rằng "trước khi nhà Tần thống nhất, người cổ ở Trung Hoa gồm nhiều sắc dân ở các địa phương khác nhau, nhưng sau khi Tần thống nhất, người Trung Hoa ngày nay đều trở thành công dân của Trung quốc. Tuy nhiên, trong trường hợp Sở Từ (trong có bài Ðông Quân) nói riêng, và nhiều tài sản văn hóa của Sở nói chung thì hình như có vấn đề. Nước Sở đã mất, người dân Sở ở lại nếu muốn sống thì phải thành dân Trung Hoa như Trương Quang Trực đã nói và những tài sản của Sở nói chung đã trở thành tài sản của Trung quốc. Nhưng nếu trong trường hợp đã có những con dân nước Sở trốn chạy khỏi sự thống trị của Trung quốc, về với những người đồng tộc khác của họ ở quê cũ. Họ đã hợp cùng những người chú bác, anh em tại quê nhà dựng được ngọn cờ độc lập, thành lập được một nước có chủ quyền riêng. Câu hỏi đặt ra là: Vậy ai sẽ là sở hữu chủ của bài văn Ðông Quân, của Sở Từ, của tài sản tinh thần nước Sở cũ đây? Người Sở ở lại nay đã trở thành người Hoa, đã mất quốc tịch Sở, quốc tính Việt, hay người Sở trốn chạy sự xâm lăng của một tộc dân khác, trở về quê cũ cùng bà con anh em nơi quê hương gốc, lập lại nước của mình và vẫn giữ nguyên quốc tính Việt? Câu trả lời xin để nhường cho Quí vị. Lời cuối của bài này tôi muốn nói thêm là khi nghiên cứu về cổ sử nước nhà ta cần phải để ý đến sự thực này: ngày xưa, ngay cả trong thời độc lập tự chủ Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn, sĩ tử nước ta đi thi phải làm một bài luận về Bắc sử tức về sử Tầu, mà không phải thi sử Việt là sử nước mình. Tất nhiên cũng không bắt buộc phải học sử Việt vì học cũng chẳng để làm gì. Tại sao lại có hiện tượng kỳ quặc ấy? Chỉ có thể có một trong hai câu trả lời: bởi người Việt mình kể cả các bậc minh quân, lương tể đều rất khờ dại, hay bởi bị áp lực của Tầu. Quí vị có tin rằng tổ tiên mình khờ dại đến mức đó không? Bởi vậy chúng ta không lấy làm lạ sĩ tử chúng ta càng về sau càng tệ. Tất nhiên tôi nói sĩ tử đây là sĩ tử theo lối học lối thi ngày xưa. Trong hoàn cảnh như vậy mà bảo phải căn cứ vào văn bản, vào những chứng cớ dễ dàng tìm thấy được một cách biểu kiến để bàn về cổ sử, về văn minh cổ nước mình và luận công, tội tiền nhân thì e khó tìm ra sự thực và nhất là cũng không công bằng. Chúng tôi xin phép nói lại điều đã nói nhiều lần: văn minh Cổ Việt là văn minh chìm, chìm vì một phần những tinh hoa của chúng ta đã bị tiếm đoạt, bị xóa nhòa mất rồi, phần khác vì tổ tiên chúng ta đã phải đem giấu kín những gì còn lại như thuốc giấu, võ giấu, binh thư, sách lược càng phải giấu và về mọi mặt khác cũng vậy. Ðến nỗi những của báu đem giấu mãi bị thất thoát phai nhạt dần, chính con cháu bây giờ muốn tìm ra cũng không phải là chuyện dễ. Ðường về văn hóa, về cội nguồn dân tộc quả là đường không đơn giản, đúng như tác giả Nguyên Nguyên, một người đã có học vị tiến sĩ khoa học của Tây phương đã nói "có thể đưa đến tẩu hỏa nhập ma như chơi (xin đọc bài "Truyền thuyết Âu Cơ và dư âm tiếng Việt trong Bách Việt trong số này) hay như GS Trần Ngọc Ninh đã phát biểu trước đây mà Tư Tưởng đã có dịp đăng lại thì: "Trời ơi là xa mà hình như là không có đường nữa! Bởi vậy, trên con đường tìm về cội nguồn, nếu có ai sai sót điều gì thì xin hãy bảo cho nhau biết, để người nọ đỡ người kia, có thêm bạn đồng hành, thêm niềm tin và thêm sức mà đi tới nữa. CUNG ÐÌNH THANH Chú thích của tác giả: 1 - Dịch Quân Tả, Văn học sử Trung quốc, bản dịch Hoàng Minh Ðức, nxb Minh Tâm, Saigon, 1975, trg 156. Cửu Ca: - Ðông hoàng thái miếu - Vân trung quân - Tương quân - Ðại tư mệnh - Thiếu tư mệnh - Ðông quân - Hà bá - Sơn quỷ - Quốc thương - Lễ hồn 2 - Tư Mã Thiên, Sử Ký, bản dịch Nhữ Thành, nxb Văn học, Hà Nội, 1988, in lần thứ 9, trg 543. "Thơ Quốc Phụng mê sắc mà không dâm, thơ Tiểu Nhã oán trách mà không loạn. Như Ly Tao thực là gồm được cả hai [...]. Nó nêu rõ tầm quan trọng của đạo đức, nguyên nhân làm nước nhà trị loạn, không có chuyện gì không nói đến. "Văn ông ngắn gọn, kín đáo, chí ông trong sạch, nết ông thanh cao; tuy nói những điều vụn vặt nhưng ý nghĩa rất rộng, việc nhắc đến tuy gần nhưng nghĩa thì xa. Chí ông trong sạch nên nói đến các hoa thơm. Nết ông cao cho nên dù chết cũng không được dung nạp. Ông thoát khỏi cái thế giới bùn lầy, như con ve bỏ xác ở nơi dơ đục, để cất mình ra khỏi đám bụi trần, chẳng để cho đời làm dơ bẩn. Thật là "ở bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Suy cái chí ấy thì ông có thể sánh với mặt trăng mặt trời vậy. 3 - Dịch Quân Tả, sđd, "Vương Thế Chiêu viết Khuất Nguyên truyện cho rằng yếu chỉ của Thiên Vấn xoay quanh bốn chữ Hưng, Phế, Thành, Bại. Cuối thiên Thiên Vấn, Khuất Nguyên viết "Ngô cáo đồ ngao dĩ bất thường, hà thí thượng tự dư, trung các di chương! (ta bảo cho các bậc hiền thần nước Sở biết rằng nước nhà đang lúc khuynh nguy, sợ khó được trường tồn. Ta nào dám lấy lòng trung với vua để được rạng danh với hậu thế!) 4 - Tư Mã Thiên, sđd, trg 542. 5 - Dịch Quân Tả, sđd, trg 154. 6 - Dịch Quân Tả, sđd, trg 165-166. 7 - Will Durant, Lịch sử Văn minh Trung Hoa, bản dịch Nguyễn Hiến Lê, nxb Văn Hóa Thông Tin, Việt Nam, 2000). 8 - Nhiều tác giả, Lịch sử Việt Nam tập I, nxb Ðại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985, trg 132. 9 - Tư Mã Thiên, sđd, trg 391. 10 - Tư Mã Thiên, sđd, trg 546. 11 - Hồ Thích, Triết học sử Trung quốc, bản dịch Hoàng Minh Ðức, nxb Khai Trí, Saigon, 1969, trg 721. 12 - Dịch Quân Tả, sđd, trg 163. 13 - Dịch Quân Tả, sđd, trg 163. 14 - Dịch Quân Tả, sđd, trg 163. 15 - Ở đây xin cảm ơn Anh Nicolas Nguyễn. 16 - E. G. Pulleyblank, The Chinese and Their Neighbors in Prehistoric and Early Historic Times, Part four, Tribe and State, The Origins of Chinese Civilization, Uiniversity of California Press, Berkeley and Los Angeles, 1983, p. 440. "This kind of linguistic evidence supports the conclusion that the people of ancient Yueh were linguistically related to the people of modern Vietnam and that the extension of the name from one to the other was based on the recognition of genuine identity. Most likely Wu was also Austro-Asiatic. 17 - E. G. Pulleyblank, tlđd, p. 438. "Fortunately, there is some direct linguistic evidence to support the hypothesis that a language of Austro-Asiatic type, like Vietnamese, was spoken in the Yueh regions of coastal China. This has been pointed out by Mei and Norman (1976). 18 - Hà Văn Tấn, Theo dấu các văn hóa cổ, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003, trg 491. 19 - E. G. Pulleyblank, tlđd, p. 411-466. 19A - S. Oppenheimer - Eden in the East, sđd. "The simplest explanation is that Austro-Asiatic. area and the original Austric homeland was long the coast of Vietnam where Austro-Asiatic tongues are still dominant today. It may be even further south on the old sunda continent. As presiously mentioned, the only remaining clue to the identity and language of the first-rice growers in this part of the world (Sakai cave dwellers of Southern Thailand 9260 - 7620 years ago. Surin Pookajorn) come from the present day Austro-Asiatic speaking. The so-called Hoabinhians the Pre-Neolithic inhabitants of Indo-China from at least 10.000 years ago, are usually thought to have been ancestors of Austro Asiatic spakers and are presumed to have learnt their agricultural skills thousands years later by diffusion from Early Neolithic culture, further North in China (trg 68 - 69). "& Austro-Asiatic are spoken by most Vietnamese and Combodians, Laotians, Mons and a Scattered trail of isolated groups round Thailand, Burma, Bangladesh, and through to the Manisaid tribes of central and east India. Where, when and how they came to be split up geographically like this are questions that may hold a key to the Southeast Asian farming revolution (trg 130). "& As previously mentioned, the only remaining clue to the identity and language of the first-rice growvers in the part of the world (represented by the Sakai cave dwellers of Southern Thailand) comes from the present day A.A. speaking (trg 128). 20 - Tư Mã Thiên, sđd, q. 40 - Sử thế gia, tờ 3b. 21 - Hứùa Văn Tiền viết ở bài Dịch giả tự trong bản dịch quyển An Nam thông sử - nguyên tác của sử gia Nhật Bản Nhan Thôn Thành Doãn, do Tân Hoa ấn loát công ty ở Hương Cảng ấn hành, 1957, trg 34, trích theo GS Bửu Cầm, Sử Ðịa tạp chí số 25, nxb Khai Trí, Saigon 1973, trg 73-74. 22 - Ngô Sĩ Liên, Ðại Việt Sử ký Toàn thư, tập I, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1983, phần Ngoại kỷ, từ trg 15. 23 - Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, in lần thứ sáu, nxb Tân Việt, Saigon, 1958, trg 25. 24 - Nhiều tác giả, Lịch sử Việt Nam tập I, sđd, trg 103. 25 - S. Oppenheimer, Eden in the East, Phoenix, London, 1998. 26 - O. Janse, Archaeological Research in Indochina, V&I 1947, Vol III, 1956. B. Karlgren, The Date of the Early Dongson Culture, The Museum of the Easter Antiquitin, No 14, 1942. R. Heine-Geldern W. G. Solheim II, Southeast Asia and the West Science Vol 157, No 3791, 1967, p. 902. 27 - La Hương Lâm, Trống đồng của người Lạc Việt, trong quyển Bách Việt Nguyên lưu dữ Văn hóa, Ðài Loan, Trung Hoa thư cục xuất bản 1955, trg116, 128-136. 28 - Hà Văn Tấn, sđd, trg 472. 29 - Hà Văn Tấn, sđd, trg 687-688. 30 - Lê Mạnh Thát, Lịch sử âm nhạc Việt Nam, Từ thời Hùng Vương đến thời Lý Nam Ðế, nxb Tp Hồ Chí Minh, 2001, trg 71. "Tiếng Việt như vậy không chỉ hiện diện như một ngôn ngữ của giống người Việt, mà còn như một ngôn ngữ có chữ viết hoàn chỉnh để cho Lưu Hướng chép lại nguyên văn cùng bản dịch "tiếng Sở của nó có từ một văn bản nào đó trong bí các của Hoàng cung nhà Hán (Lê Mạnh Thát, sđd, trg 95). Hơn thế nữa, sau khi so sánh kỹ lưỡng bài Ðông Quân và bài Việt Ca, căn cứ vào bản dịch chữ Hán của hai bài ca ấy, tác giả Lịch sử âm nhạc Việt Nam đã nhận thấy có sự giống nhau về cú pháp, về ngôn từ, cũng như về ý tưởng, giống nhau đến nỗi ông đã phải lạc quan kết luận: "Chỉ một bài ca tiếng Việt xưa nhất với 5 câu dịch chữ Hán mà ta đã thành công phần nào trong công việc truy nhận một số những liên lạc giữa bài ca được xác nhận là của người Việt và Cửu Ca như đã thấy (của Khuất Nguyên) (Lê Mạnh Thát, sđd, trg 72). 31 - Bửu Cầm, Tập san Sử Ðịa số 25, thg 1-3/1973, trg 49-80. 32 - Lê Mạnh Thát, sđd. 33 - Hình như từ trước đến nay mới có hai người đem Sở Từ (bài Ðông Quân) đối chiếu với trống đồng, mỗi người do một động lực riêng. Người thứ nhất là Lăng Thuần Thành, GS Ðại học Ðài Loan, lấy trống đồng để chú giải bài Ðông Quân, một điều mà trước nay chưa ai làm, vì người ta chỉ lấy sách giải sách dưới cái tên "Ðồng cổ đồ văn dữ Sở Từ Cửu Ca. GS Bửu Cầm, Trường Ðại học Văn Khoa Saigon đã đem bài trên giới thiệu với độc giả Việt Nam trên Tập san Sử Ðịa số 25 (1973) với sự "góp thêm những ý kiến, những nhận xét và những chú thích của chúng tôi (chữ của GS Bửu Cầm). Ðây là những tài liệu biên khảo nghiêm túc. Học giả họ Lăng đã đúng khi nói trống đồng đã tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới chứ không chỉ tìm thấy ở Việt Nam, nhưng đã sai khi nói nó khởi nguyên ở vùng đất quanh vùng đầm Vân Mộng (hai tỉnh Hồ Bắc - Hồ Nam), càng sai hơn nữa khi ông không để ý trống Ngọc Lũ (cả trống Hoàng Hạ và Sông Ðà) là trống có hoa văn phản ảùnh bài Ðông Quân của Khuất Nguyên và là những trống duy nhất có các hoa văn này, lại chỉ tìm thấy ở châu thổ sông Hồng tại Việt Nam. Người thứ hai là Lê Mạnh Thát, viết trong Lịch sử âm nhạc Việt Nam, sách xuất bản tại Saigon năm 2001, nhưng hình như in lại một ấn bản (hay luận án?) đã có từ 1969, theo lờùi Tựa, ở Madison, Wisconsin, Hoa Kỳ. Khác với Lăng Thuần Thành, ông làm công việc dùng hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ để tìm hiểu cổ nhạc Việt Nam. 34 - Bửu Cầm, Tập san Sử Ðịa số 25, Saigon, 1973, trg 63. 35 - Xem chú thích 35. 36 - H. H. E. Loofs-Wissowa, The distribution of Dongson drums, Some thoughts, Wiesbaden, Steiner, 1983, p.410-417. Hà Văn Tấn, sđd, trg 706. 37 - E. G. Pulleyblank, tlđd, trg 427. "Through Chu became Chinese in language and eventually took its place among the contending Chinese states, there is abundant evidence that originally it was considered and considered itself to be Man origin. 38 - Trương Quang Trực (Kwang Chih Chang), The Atchaeology of Ancient China, New Haven, Com. 1968. [/b]
  11. Ấn Độ sửng sốt trước chú bò biết tự vắt sữa Chú bò "thần kỳ" (Ảnh: Reuters). (Dân trí) - Một con bò sữa ở Ấn Độ đã khiến các nông dân kinh ngạc với "tài lẻ" tự vắt sữa mà không cần bất cứ một sự giúp đỡ nào. Radha quả là một chú bò khéo léo với khả năng tự vắt sữa cho mình. Cho đến nay vẫn chưa ai biết nguyên nhân khoa học của hiện tượng kỳ lạ này. Tất cả những con bò khác ở một trang trại thuộc quận Dahod, Ấn Độ được ăn cùng loại thức ăn, nhưng chỉ riêng Radha mới có thể tiết sữa đầy một chiếc xô mà chẳng cần các công nhân phải đụng tay đụng chân. Radha có thể tiết sữa đầy một chiếc xô mà không cần sự giúp đỡ! Manoj Bhargav, một công nhân làm việc tại trang trại cho biết: “Bất cứ khi nào được cho ăn, nó bắt đầu tuôn sữa. Nó cho ra khoảng 8 lít sữa vào buổi sáng và buổi tối. Đây quả là một điều kỳ diệu, tôi chưa bao giờ được chứng kiến sự việc kỳ lạ như thế này”. Radha được đặt tên theo một vị nữ thần Hindu và chủ nhân của nó là người Hồi giáo. Sở dĩ ông chọn cái tên Radha vì ông muốn nó trở thành biểu tượng cho sự hòa hợp và hy vọng nó sẽ khiến mối quan hệ giữa 2 cộng đồng người Hindu và Hồi giáo trở lên khăng khít hơn. Đàm Loan Theo Reuters Nguồn Dân Trí
  12. TIẾC MẢNH TRĂNG SẦU Laviedt Có còn gì đâu nữaMà tiếc mảnh trăng sầu Lòng đã phụ lòng nhau Để nôn nao nỗi nhớ... TIẾC MẢNH TRĂNG SẦU Cảm tác thơ Laviedt Thiên Sứ Nếu vẫn còn gì nữa.Đâu đành ôm nỗi sầu. Nếu chẳng phụ lòng nhau. Đâu miên man nỗi nhớ. * Hương xưa dậy một hồn thơ. Để cho ai nhớ, ai chờ muôn thu.
  13. BUỒ̀N THÂN THẾ Thiên Sứ Đã lụy văn chương, ắt lụy sầu. Má hồng cũng thế, giống mày râu. Hứng khời mang mang thiên cổ mộng. Hụt hơi nhăn nhó cũng xoa đầu. Túi thơ dăm chữ đâu mặc khách. Bầu rượu tao nhân chốn cao lâu. Ngàn năm thơ thẩn ai mà chẳng. Mần đã rồi quăng chỗ bể dâu. BUỒ̀N THÂN THẾ Laviedt Lụy văn chương , không lụy thêm sầu Thục nữ cũng thể đấng mày râu Gặp may: hớp cháo thiên đường mộng Vô phúc: gạch phang vỡ toác đầu Lều vẹo chơ vơ chờ mặc khách Nẻo rừng lê bước vượt cô lâu Tri âm tri kỷ ai mà chẳng Muôn kiếp phong trần với bể dâu.
  14. THƠ CHUỘT Chị Laviedt có đọc cho tôi một bài thơ của nhà thơ biếm Yên Thao – thành viên Câu lạc bộ thơ biếm Hanoi - về con chuột, nhân năm con chuột. Bài thơ này được đọc vào rằm tháng Giêng tại Văn Miếu Quốc Tử Giám để tao nhân mặc khách tham gia họa thơ. Tác giả Yên Thao đưa điều kiện phải hoạ nguyên vận. Giới thi nhân Hanoi cho rằng bài thơ này thuộc loại khó hoạ, khiến Thiên Sứ tôi tò mò cũng thử hoạ bài thơ này. Bài thơ họa "Vịnh Chuột” của tôi được đọc giới thiệu tại buổi gặp mặt thơ xuân đầu năm trước các bạn thơ của nhà thơ Bích Hoàng. Lúc này tôi đang ở Sài Gòn, nên bà Bích Hoàng ngỏ ý giúp tôi tham gia cuộc thi thơ, tôi đã đồng ý và cảm ơn lòng tốt của bà. Chưa thấy ban giám khảo công bố kết quả, nhưng tôi cũng chẳng quan tâm đến đIều này. Nhưng có điều tôi băn khoan là tôi đã wên không đưa bài thơ này lên blog để trình làng. Sau khi cẩn thận tìm kiếm cả chục trang blog, biết chắc là mình wên, nên mới quyết định đưa lên đây. Bài thơ xuớng có tựa là "Loài Chuột". Nguyên văn như sau: LOÀI CHUỘT Yên Thao. Chẳng phải nòi sang, chẳng giống sang. Nhỏ tày trứng cút, lớn tày gang. Ruộng đồng chính nó đào tan nát. Kho quĩ vì bay khoét rỗng toang. Tai hệt tai dơi tài rúc xó. Mõm như mõm ngoé giỏi luồn hang. Tên nghe thì Tý ăn không tý. Ló mặt nơi nào, lập tức …phang. * VỊNH CHUỘT Bài hoạ của Thiên Sứ Tứ hải giang hồ tớ vẫn sang. Tiếng tuy chút chít, miệng đầy gang *. Sơn hà xã tắc ta đào nát. Kho đụn, thảo điền cũng toác toang. Mặc thế nhân chê toàn rúc xó. Biết đâu đây vẫn giỏi đào hang. Mười hai con Giáp, đầu là Tý. Bốn biển, năm châu tớ nghênh ngang. Hoặc có thể sửa là: Vượt biển, lên tàu, đố dám phang?*) Chú thích: * Lấy ý câu thành ngữ “Miệng người sang có gang, có thép”. * Tàu xuất dương coi chuột bước lên tàu là điềm lành. Sau khi bài thơ này và bài hoạ của tôi xuất hiện trên diễn đàn thì bác Trịnh Phong có ý kiến như sau: Laviedt có cho biết trong mục "Thơ Dịch - Dịch Thơ" là nhà thơ Yên Thao có bài Thơ vịnh loài chuột được đưa ra thách đố người đối trong dịp Tết, thậm chí còn dọa cho phần thưởng người đối hay. Laviedt đã có công đưa bài ra của Yên Thao để chúng ta thưởng thức. Trịnh Phong thấy rằng bài ra của Yên Thao không đạt tiêu chuẩn Đường thi. Thí dụ theo luật Đường thi thì chỉ hai câu phá và thừa phải đủ cho người ta nhận ra là thơ nói về con chuột. Đằng này thơ Yên Thao nếu không xem đề thì đọc đến hết bài mới biết được - do suy qua chữ Tí - là nói về con chuột. Mà suy như vậy cũng không chắc chắn lắm vì làm sao biết thật sự tác giả muốn nói cái gì. Theo Yên Thao thì mõm chuột giống mõm ngóe. Chẳng khác gì khen sao con bà này lại giống ông hàng xóm kia thế! Nhận xét như Yên Thao giữa Chuột và Ngoé có thể xẩy ra án mạng đổ máu chứ chả chơi. Hoặc là chúng sẽ thù Yên Thao suốt đời. Mặt khác hai câu 5, 6 nội dung gần trùng nhau, câu sau không đưa ra được cái gì mới hơn câu trước: luồn hang hay rúc xó cũng là chui luồn mà thôi. Hơn nữa, tai dơi không phải đặc điểm giúp cho rúc xó thuận lợi, mõm ngoé không phải yếu tố giúp đào hang nhanh. Ghép câu như vậy làm ý tứ rời rạc, lỏng lẻo. Trịnh Phong thấy một bài Thơ Đường loại học trò này không đáng làm bài họa nhưng nay bác Thiên Sứ đã vui tay thảo một bài họa nên cũng không câu nệ góp vui với Thiên Sứ một bài, coi như họa thơ Thiên Sứ vậy. CHUỘT ĐÁP LẠI Trịnh Phong Quần đùi không có, dám khoe sang! Chuột chịu thua người: Miệng có gang. Bồ khoai choa chuột nhai chưa thủng, Đất nước con người đã gặm toang. Của đút người nhai, xơ xác núi Cọp beo người gặm, trống trơ hang. Răng cùn mà gặm tài như rứa, Ghen ăn với chuột, lại đòi phang!
  15. Đường đi khó - 2. Thiên Sứ Cảm tác thơ Lý Bạch Đường rộng thang mây. Chen chân trên đó chất đầy lợi danh. Bao người vin quế bẻ cành. Tuổi xanh mơ mộng bên thành Tràng An. Mang mang cung đàn. Đường gươm hồ hải thở than bên trời. Ai biết ai giữa biển đời. Kìa như Hàn Tín luồn trôn. Có bao mắt trắng muôn lời chê bai. Hay Giả Sinh anh tài một thuở. Tiếng dèm pha dậy giữa Hán triều. Tìm đâu thấy Minh quân yêu Quách Ngỗi. Khiêm tốn cầu hiền, mang chổi quét đường mây. Yên Chiêu Vương đâu còn đây! Kịch Tân, Nhạc Nghị cũng tìm thấy đâu? Cho nên đường rộng thang mây. Mà ta vẫn cứ ngất ngây ôm sầu. 行 路 難 其二 大 道 如 青 天 我 猶 不 得 出 羞 逐 長 安 社 中 兒 赤 雞 白 狗 賭 梨 栗 彈 劍 作 歌 奏 苦 聲 曳 裾 王 門 不 稱 情 淮 陰 巿 省 笑 韓 信 漢 朝 公 鄉 忌 賈 生 君 不 見 昔 時 燕 家 重 郭 隗 擁 篲 折 節 無 嫌 猜 劇 辛 樂 毅 感 恩 分 輸 肝 剖 膽 效 英 才 昭 王 白 骨 縈 蔓 草 誰 人 更 掃 黃 金 臺 行 路 難 歸 去 來 Hành lộ nan kỳ 2 Đại đạo như thanh thiên Ngã do bất đắc xuất Tu trục Trường An xã trung nhi Xích kê bạch cẩu đổ lê lật Đàn kiếm tác ca tấu khổ thanh Duệ cứ vương môn bất xứng tình Hoài Âm*1 thị tỉnh tiếu Hàn Tín*2 Hán triều công khanh kỵ Giả Sinh*3 Quân bất kiến : Tích thì Yên gia trọng Quách Ngỗi*4 Ủng trệ chiết tiết vô hiềm sai Kịch Tân*5, Nhạc Nghị*6 cảm ân phân Thâu can phẫu đảm hiệu anh tài Chiêu Vương*7 bạch cốt oanh man thảo Thuỳ nhân cánh tảo Hoàng Kim đài*8? Hành lộ nan ! Quy khứ lai... Đường đi khó kỳ 2Người dịch: khuyết Danh Đường rộng như trời xanh Ta không ra đấy thật Thẹn với Trường An bọn trẻ trung Gà son chó trắng chèn lê lật Múa gươm đàn hát xót cho mình Vén áo sân vua chẳng hợp tình Hoài Âm, kẻ chợ cười Hàn Tín Triều Hán quan cao ghét Giả Sinh Anh chẳng thấy: Thuở trước vua Yên trọng Quách Ngỗi Khom mình nâng chổi, chẳng chê bai Kịch Tân, Nhạc Nghị nhờ ơn chúa Trung can một dạ dốc anh tài Xương trắng Chiêu Vương trong cỏ rối Nào ai lại quét Hoàng Kim đài ? Đường đi khó! Hãy về thôi!
  16. TRẢ LẠI EM Thiên Sứ Cảm tác TRẢ LẠI EM - Laviedt Anh trả lại em cõi mộng mơ.Trong chiều buông nắng liễu xanh mờ. Giọt sầu trinh nữ vương ánh mắt. Thuở mà trăng nước chẳng thành thơ. * Anh trả lại em những đợi chờ. Những đêm thao thức, những bơ vơ. Trả lá me bay vương trên tóc. Trong trời thu gọi gió ngẩn ngơ. * Anh trả lại em những phút giây. Hương yêu ngây ngất vướng trời mây. Trả đoạn đường xưa em đếm bước. Hiu hắt đèn soi nỗi nhớ đầy. * Anh trả cho em những nguyện thề. Một thời nhung nhớ gợi đê mê. Anh trả lại em, anh trả hết. Để lạnh trong anh một cõi về. * Duyên xưa chẳng vẹn ước thể. Một mình một cõi đi về trong tôi. TRẢ LẠI EM LAVIEDT Trả lại em một thuởLiễu xõa tóc bên hồ Thu xưa hồn lãng du Hình ai trong đáy mắt. * Trả lại em ước mơ Trong tim ai mong chờ Gió nhẹ rung cánh lá Đỏ rực trời ngẩn ngơ. * Trả lại em phút giây Vụng về tay trong tay Dịu dàng lời ai ngỏ Say nồng vị đắng cay. * Trả lại em nụ hôn Nhớ dập với thuơng dồn Chẳng của nhau tiền kiếp Hẹn luân hồi sắt son.
  17. BẾN XUÂN Thiên Sứ Cảm tác thơ Song Hoàng Xuân về bao dáng vẻ thanh tao. Lành lạnh hương xuân dạ dạt dào. Ngắm sắc hoa xuân vui nắng dịu. Buồn vương cánh bướm dập dìu chao. Hoa đào năm ngoái cười trong gió. Biền biệt người đi nhớ khát khao. Khắc khoải thu xưa buồn quạnh quẽ. Gió xuân thầm nhắc chuyện hôm nào.... * BẾN XUÂN BÍCH HOÀNG Hẹn hò nhau bảy tuyết năm tao Bến nước sông xuân cứ dạt dào Lau trắng giật mình cơn gió thổi Thuyền nan nổi giận cánh buồm chao ! Niềm yêu năm tháng chưa xao lãng Nỗi nhớ thời gian vẫn khát khao Chín đợi mười trông cung Nguyệt lạnh Ngàn xưa...lại ngỡ chuyện hôm nào. * BẾN XUÂN THI HOÀNG họa Vẻ gì bảy tuyết với ba tao ? Nỗi nhớ từng đêm cứ dạt dào Ngày Tết, tờ thư bên án đợi Mùa xuân con én trước xuân chao Đã hay tình chẳng cầu mong gửi Cứ tưởng thơ như nỗi hận trào Mấy chục năm trời như mới đó Họa thơ lòng bỗng thấy nôn nao.
  18. TIN XUÂN Cảm tác thơ Song Hoàng Thiên Sứ Đâu ngỡ xuân sang gặp gió ngàn. Vương màu hoàng yến nét đài trang. Hoa cười gợi nhớ mùa đông cũ. Bướm lượn cành mai rực ánh vàng. Man mác hương trầm làn khói tỏa. Nghiêng nghiêng bầu rượu khách đưa sang. Dáng ai gợi nhớ người năm ấy. Như cõi thu xưa vẳng tiếng đàn. * TIN XUÂN BÍCH HOÀNG Từ đó tin xuân bặt cuối ngàn Cuộc đời tuần tự tiếp sang trang Nhởn nhơ cánh bướm vờn hoa đỏ Rạo rực bầy ong cợt nắng vàng... Tránh rét trở về chim én liệng Chia vui tìm đến bóng câu sang Vẳng nghe ai đó câu Kiều lẩy Lòng bỗng rung lên một tiếng đàn. * TIN XUÂN THI HOÀNG họa Thơ không gửi được khổ muôn vàn Ta viết trăm trang viết vạn trang Bờ liễu, sông Huơng tình mới lớn Bến đò Thừa Phủ lá bay vàng Vừa lòng cuối hạ còn chưa khép Đã gió mùa thu vội thổi sang Thơ chẳng làm sao mà nức nở Nhà bên vẳng lại mấy cung đàn.
  19. NHỚ LÀM SAO Cảm tác thơ Thi Hoàng Thiên Sứ Bâng khuâng chiều tím biệt chiêu dương. Vườn cũ hoa cười nhớ sắc hương. Sương gió hải hồ tan lối mộng. Duyên xưa hiu hắt cảnh đoạn trường. * Muôn nẻo đường trần vương cát bụi. Cho lòng lữ khách lạnh sầu đông. Trăng xưa đã vỡ màu hoang dại. Đâu nỡ trách chi phận má hồng. * NHỚ LÀM SAO Thi Hoàng Cách xa nhau đã mấy trùng duơng Mà nhớ làm sao một chút huơng Trăng mọc bên trời bao giấc mộng Mây bay cuối xóm suốt canh trường. * Mới đó còn nồng ly rượu tiễn Chưa chi mà đã buốt đêm đông. Em ơi trăng của mùa thu ấy Có lạnh gì nhau chút má hồng.
  20. KHỐI TÌNH CÂM Thiên Sứ Cảm tác thơ Song Hoàng Thiên thu ngọc đá khóc tình câm. Một thuở yêu ai chết lặng thầm. Trăng nước bâng khuâng hòa tiếng sáo. Lầu cao ngơ ngác nhớ tri âm. Trời xui gặp gỡ duyên tình lạnh. Đất dấu yêu thương lặng nguyệt cầm. Giọt lệ thiên thu tan chén ngọc. Ngàn năm trăng nước nhắc tri âm. KHỐI TÌNH CÂM Bích Hoàng Hai ta mang nặng khối tình câm Rất đỗi thuơng nhau vẫn lặng thầm Thư viết run tay, tay cuống quýt Đàn gieo lỗi nhịp, nhịp hòa âm Bao mùa đông giá, đông hiu quạnh Nửa mảnh trăng suông lạnh nguyệt cầm ! Há dễ tan rồi lời hẹn ước Lẽ nào chẳng gặp được tri âm? KHỐI TÌNH CÂM Thi Hoàng họa Có miệng làm sao lại chịu câm Trời ơi! Trăng nước cứ thì thầm Nào người yêu bạn tìm qui luật Ai kẻ vì mình sẽ thẩm âm Bỗng chốc mưa tan cùng gió nén Khi không giá bấc lại mưa cầm Dù chưa nguyện ước chưa gì cả Đã mấy mùa suơng mực ướt đầm.
  21. MƯA XUÂN Bích Hoàng Từng giọt xuân rơi...giọt giọt rơi Lăn tăn giăng mắc tận chân trời Nụ hoa thắm lại cười duyên dáng Ngọn lá xanh dần níu lả lơi... Cánh nhạn tung mây, mây chợt sáng Cành duơng ủ nắng, nắng vàng tưoi Lao xao gió sớm gieo huơng lạ Rạo rực men lòng dậy khắp nơi. MƯA XUÂN Thi Hoàng Từng hạt mưa đêm tí tách rơi Nhìn ra mù mịt bốn phuơng trời Nếu câu thơ cũ còn nguyên đó Sao tấm lòng mình đã dễ lơi ? Tiếng pháo tưng bừng chưa hẳn Tết Cành hoa thắm thiết lại càng tuơi Biết xuân thăm hỏi ? Ai thăm hỏi? Tờ giấy xanh giờ gửi mấy nơi? MƯA XUÂN Thiên Sứ Tặng cô bán hoa chợ chiều Hanoi Mưa bụi giăng mờ lãng đãng rơi. Ai nghiêng nghiêng nón chắn phương trời? Mắt buồn vương mãi nơi xa thẳm. Ngấn lệ xuân tình đã buông lơi. Hiu hắt đào phai trong gió lạnh. Bâng khuâng xuân cũ nhớ mầu tươi. Ngẩn ngơ chợ vắng, ai người hỏi. Hoa ngậm ngùi sao chẳng thấy cười.
  22. GIỄU ÔNG ĐỒ NƯỚC LỖ Cảm tác thơ Lý Bạch. Thiên Sứ Khệnh khạng ông đồ nước Lỗ. Làu thông kinh sử, trong đầu chữ chứa tính hàng bồ. Tứ thư ngũ kinh Thảy đều thông tỏ. Tam giáo, cửu lưu. Sách thánh hiền xưa học thuộc làu làu. Nói chuyện thao thao. Nghiêm cẩn dẫn lời vàng ý ngọc. Quần là áo lượt. Đầu đội khăn “phương sơn”. Chân mang dép “viễn du lý”. Ngạo nghễ nhìn đời. Những tưởng đạp bụi hồng trần, vượt trên vai thiên hạ. Bày đặt chê bai. Khinh người dốt nát. Cầm quạt đuổi ruồi, dăm câu thơ ngâm ngợi. Mượn rượu say sưa, cũng ra điều khí phách. Khi hỏi chuyện kinh bang tế thế. Mắt trợn ngược như người cao khiết, chẳng thiết lợi danh. Lúc bàn việc giúp đời. Lại ra vẻ thanh cao, không nói chuyện thế nhân vớ vẩn. Này ông! Phủ tể tướng nhà Tần không có người áo quần lụng thụng. Nơi sân triều ông cũng chẳng sánh Thúc Tôn Thông. Kinh sách thuộc làu mà chẳng biết gì cũng như không. Thôi đi về với ruộng đồng. Con trâu đang đợi, thấy ông cũng mừng. * TRÀO LỖ NHO Thơ Lý Bạch Lỗ tẩu đàm ngũ kinh Bạch phát tử chương cú Vấn dĩ kinh tế sách Mang nhiên trụy yên vụ Túc trước viễn du lý Thủ đới phương sơn cân Hoãn bộ tòng trực đạo Vị hành tiên khởi trần Tần gia Thừ Tướng phủ Bất trọng bao y nhân Quân phi Thúc Tôn Thông Dữ ngã bản thù luân Thời sự thả vị đạt Quy canh Vấn thủy tân * Dịch thơ Giễu ông đồ nước Lỗ Người dịch: Hoàng Tạo Ông đồ nước Lỗ học ngũ kinh Bạc đầu nhai chết từng chương cú Hỏi ông giúp đời thế nào đây? Mờ mịt như người mây khói phủ! Chân đi đôi giày "viễn du lý" Đầu đội chiếc khăn "phương sơn cân" Khệnh khạng ông bước theo đường thẳng Chưa đi bụi đã như mây vần Này, phủ thừa tướng đời nhà Tần Không trọng những người áo lụng thụng Ông không phải hạng Thúc Tôn Thông Ông so với tôi cũng không giống! Việc đời đã chẳng hiểu chi chi Bến Vấn liệu về cày cho chóng!
  23. Có một bài thơ ở blog của Kiến Như mà các bạn có thể xem ở đây: http://blog.360.yahoo.com/blog-cZa9ZvsibrQbf10ZlW6E_IuQ Kiến Như mời mọi người hoạ. Bài thơ này thật khó hoạ vì xét theo chiều dọc thì mỗi chữ đầu của mỗi câu ghép lại thành hai câu thành ngữ cổ là “Phong hoa tuyết nguyệt” và “Cầm kỳ thi hoạ”. Chữ thứ ba của mỗi câu xem theo chiều dọc là “Nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát”, ngoài ra khi hoạ thơ Đường phải tuân theo đúng luật thơ. Thiên Sứ tôi chẳng quản tài hèn, cũng cố nối điêu theo các bậc tài danh mà hoạ bài này. Hay dở xin miễn chấp. BÀI XƯỚNG Phong sương nhất mực tiết xuân kỳ Hoa thắm nhị nồng quyện bước đi Tuyết rải tam tầng nơi Bắc ải Nguyệt soi tứ phía chốn Nam thùy Cầm ca ngũ khúc luôn bay bổng Kỳ thú lục tuần chằng quỵ quỳ Thi tứ thất ngôn say mộng tưởng Họa tranh bát vị cảm hoài chi? BÀI HOẠ Thiên Sứ Xuân xưa một bóng biệt kinh kỳ. Hạ trắng hai đường rẽ bước đi Thu khóc ba đào đời viễn xứ. Đông buông bốn phía lạnh biên thuỳ. Mai này năm hướng muôn hoa nở. Lan toả sáu phương vạn sắc Quỳ Cúc nhắc bảy mầu say mộng tưởng Trúc tiên tám vị cảm hoài chi?
  24. Tôi xin giới thiệu một tư liệu lịch sử gián tiếp ca ngợi nền văn hiến huyền vĩ Việt ở Nam Dương tử. Đó chính là bài thơ “Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt” của Thi Tiên Lý Bạch. Ông là một danh sĩ tài hoa nổi tiếng thời Đường, có niên đại sau khi nền văn hiến Việt sụp đổ ở bờ nam Dương Tử ngót 800 năm. Nhưng chỉ với những di sản văn hoá Việt còn lại ở đây đã khiến thi Tiên Lý Bạch phải muốn hoá thân vào những giá trị Việt. Tôi nghĩ rằng còn rất nhiều di sản lịch sử trực tiếp và gián tiếp khác tồn tại trong văn hoá Việt ghi dấu ấn cho nền văn hiến Việt, đủ minh chứng hùng hồn cho lịch sử dân tộc Việt trái gần 5000 năm văn hiến một thời huyền vĩ ở Nam sông Dương Tử. MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆTThơ Lý Bạch Hải khách đàm Doanh Châu, Yên đào vi mang tín nan cầu Việt nhân ngữ Thiên Mụ, Vân hà minh diệt hoặc khả đổ. Thiên Mụ liên thiên hướng thiên hoành, Thế bạt Ngũ Nhạc, yểm Xích Thành. Thiên Thai tứ vạn bát thiên trượng, Đối thử dục đảo đông nam khuynh. Ngã dục nhân chi mộng Ngô Việt, Nhất dạ phi đô kính hồ nguyệt. Hồ nguyệt chiếu ngã ảnh, Tống ngã chí Diễm Khê. Tạ công túc xứ kim thượng tại, Lục thuỷ đãng dạng thanh viên đề. Cước trước Tạ công lý Thân đăng thanh vân thê. Bán bích kiến hải nhật Không trung văn thiên kê Thiên nham vạn hác lộ bất định, Mê hoa ỷ thạch hốt dĩ mính, Hùng bào long ngâm âm nham tuyền. Lật thâm lâm hề kinh tằng điên. Vân thanh thanh hề dục vũ, Thuỷ đạm đạm hề sinh yên. Liệt khuyết tích lịch, Khâu loan băng tồi. Động thiên thạch phi, Hoanh nhiên trung khai. Thanh minh hạo đãng bất kiến để, Nhật nguyệt chiếu diệu kim ngân đài. Nghê vi y hề phong vi mã, Vân chi quân hề, phân phân nhi lai hạ. Hổ cổ sắt hề loan hồi xa, Tiên chi nhân hề liệt như ma. Hốt hồn quý dĩ phách động, Hoảng kinh khởi nhi trường ta. Duy giác thì chi chẩm tịch, Thất hướng lai chi yên hà. Thế gian hành lạc diệc như thử. Cổ lai vạn sự đông lưu thuỷ, Biệt quân khứ hề hà thì hoàn ? Thả phóng bạch lộc thanh nhai gian. Tu hành tức kỵ phỏng danh sơn. An năng tồi mi chiết yêu sự quyền quý, Sử ngã bất đắc khai tâm nhan! Dịch nghĩa Mơ đi chơi núi Thiên Mụ, làm thơ để lại lúc từ biệt Khách đi biển kháo nhau về Doanh Châu, Khói sóng mù mịt, tin rằng khó tìm được. Nay người Việt nói về núi Thiên Mụ, Mây ráng khi tỏ khi mờ cũng có thể nhìn thấy. Thiên Mụ liền trời mà vươn chắn ngang trời, Có cái thế vượt Ngũ Nhạc, ép cả Xích Thành. Núi Thiên Thai cao bốn vạn tám nghìn trượng, Trước nó cũng bị áp đảo mà nghiêng về đông nam. Ta muốn nhân đó mơ về Ngô Việt, Một đêm bay qua vầng trăng hồ Kính. Trăng hồ soi bóng ta, Đưa ta đến Diễm Khê. Ở đấy nay vẫn còn nhà của Tạ Linh Vận, Nước biếc rập rờn, vượn kêu lanh lảnh. Chân mang giày Tạ công, Mình đi lên thang mây xanh. Đến lưng chừng vách núi thấy mặt trời ngoài biển, Nghe gà trời gáy vang không trung. Nghìn núi muôn khe, khó xác định đường đi, Say mê ngắm hoa đứng tựa núi đá, bỗng trời sập tối. Gấu thét rồng gào vang dội núi đá, suối khe, Rừng sâu chấn động, núi thẳm kinh hoàng. Mây xanh xanh chừng sắp mưa, Nước mờ mờ như bốc khói. Chớp giật sấm vang, Núi tan gò lở. Động trời cửa đá Rầm rầm mở ra ở giữa. Xanh mờ thăm thẳm không thấy đáy, Mặt trời mặt trăng lấp lánh soi lầu vàng gác bạc. Cầu vồng làm áo, gió làm ngựa, Thần mây bời bời bay xuống. Cọp gảy đàn, loan kéo xe, Người tiên đông như cỏ gai. Bỗng hồn kinh phách động, Tỉnh dậy sợ hãi mà than dài... Chỉ thấy chăn gối lúc đó, Khói ráng vừa qua biến mất. Những cuộc vui trên đời cũng như vậy thôi ! Mọi việc xưa nay trôi qua như nước chảy về đông. Giã từ anh ra đi, biết bao giờ trở lại ? Hãy thả con hươu trắng nơi ghềnh núi xanh. Hễ cần thì cỡi ngay ngựa, thăm núi nổi tiếng, Chứ sao lại cúi mày khom lưng thờ bọn quyền quý, Khiến ta không sao mở lòng mở mặt ! Dịch thơ Khương Hữu Dụng Khách biển đồn Doanh Châu, Khói sóng mịt mù tìm được đâu! Người Việt nói Thiên Mụ, Mây ráng tỏ mờ nay thấy đó. Thiên Mụ liền trời chân trời xanh, Thế lay Ngũ Nhạc, đổ Xích Thành. Thiên Thai một vạn tám nghìn trượng, Đứng trước Thiên Mụ cũng nghiêng mình. Ta muốn nhân đây mộng Ngô Việt, Một đêm nương trăng Kinh Hồ vượt. Trăng hồ rọi bóng ta, Đưa ta đến Diễm Khê. Tạ công chốn cũ nay còn đó, Trong veo tiếng vượn, nước xanh lè. Xỏ chân dép họ Tạ, Cất mình thay mây đi. Vừng đông, nửa vách thấy, Gà trời, giữa lừng nghe. Núi ngàn ngoắt ngoéo đường lắm hướng, Mê hoa tựa đá bỗng tối om. Beo gầm rồng kêu núi khe dồn, Run rừng sâu hề rợn từng non. Mây xanh xanh hề mừa chớm, Nước mờ mờ hề khói un. Sét đánh chớp lòa, Gò nhào cồn tan. Động trời cửa đá, Ầm ầm mở toang. Xanh mờ thăm thẳm chẳng thấy đáy, Ánh trời ánh trăng ngấn bạc vàng. Mặc áo ráng hề cưỡi ngựa gió, Thần trong mây hề bời bời bay xuống đó. Hổ đánh đàn hề loan đẩy xe, Người tiên đông hề đông gớm ghê. Bỗng hồn kinh mà phách động, Hoảng vùng dậy mà than dài. Tan khói mây lúc nãy, Trơ chăn gối mình đây. Cuộc vui trên đời nào khác vậy, Xưa nay muôn việc xuôi nước chảy! Giã người đi hề bao giờ lui? Toan thả hươu trắng núi xanh khơi, Cần đi hẳn cưỡi dạo non chơi. Dễ đâu cúi đầu gãy lưng phụng quyền quý, Khiến ta chẳng được mặt mày tươi. Bản dịch: Khương Hữu Dụng MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT Cảm tác thơ Lý Bạch Nguyễn Vũ Tuấn Anh Khách hải hồ kể mãi xứ Doanh Châu. Cõi huyền thoại nơi chân trời giáp biển. Chuyện thần tiên văn hiến Việt ngàn xưa. Nơi ấy. Lồng lộng trên cao Thiên Mụ chắn ngang trời. Giữa huyền không bời bời. Ngũ nhạc còn bé, Xích thành nhỏ nhoi. Núi Thiên Thai hùng vĩ xuyên mây. Trước Thiên Mụ cũng ngả nghiêng chao đảo. Ta ôm mộng sống trong huyền thoại Việt. Mơ vượt sóng trào hồ Động Đình đất Kính. Xuyên Ngô Việt trong trăng thanh lung linh. Về Diễm Khê thanh bình. Theo bóng trăng đến lều tranh Tạ Linh Vân. Nơi nước biếc soi áng mây thơ thẩn. Hạc kêu, vượn hót Gió giục mây vần. Mượn hài thần Tạ công, ta nhẹ bước thanh vân. Lưng chừng núi chợt thấy mặt trời lồng lộng. Mão Nhật kê tinh gáy gọi hừng Đông Đường đi mênh mông. Mây buông ráng hồng. Chợt trời sập tối. Sầm sập mây trôi. Nghe Kỳ lân gào thét. Tiếng Rồng gầm vang khe. Gió giật chớp loè. Núi tan, non lở. Chợt vỡ toang cửa trời rộng mở. Thăm thẳm huyền vi. Chói loà trời trăng soi lầu vàng, gác bạc. Thiên thần lừng lững bay. Giáp trụ hiên ngang, lấp lánh bẩy sắc cầu vồng. Cưỡi thần mã phi nhanh như gió. Cõi trời huyền thoại Việt. Toàn người đẹp nghiêng thành. Ảo huyền như trăng thanh. Dáng tiên thanh tú . Đông như cỏ manh. Nghe hổ chơi đàn. Hồn Bá Nha chứa chan. Chợt nhìn phượng múa. Vũ khúc Nghê Thường mê man… Giật mình tỉnh giấc mơ vàng. Mang mang như khói hương tàn trôi đi. Ngàn thu qua có nhắc gì? Mơ xưa xứ Việt ngang mi dâng sầu. Đất trời nhắc cuộc bể dâu. Nào mơ danh tướng công hầu mà chi. Thiên Sứ
  25. CON THUYỀN KHÔNG BẾN. Cảm tác nhạc phẩm Con thuyền không bến Đặng Thế Phong "Đêm nay thu sang cùng heo may..." Đìu hiu sương khói chân mây phủ mờ. Thuyền ai trăng nước bơ vơ? Bâng khuâng nỗi nhớ duyên thơ bẽ bàng. Hương thu còn có mơ màng. Mang mang theo gió thông ngàn mê say. Nguyện thề xưa chẳng về đây. Cung thương ai oán muôn dây tơ chùng. Trăng vàng buông nỗi nhớ nhung? Thuyền trôi trong cõi mit mùng khói sương. A đầu sông Tương? Ai cuối sông Tương? Về đâu cho gửi vấn vương u hoài? Ngàn thu xưa lạc gót hài. Bên sông nghe gió thở dài bâng khuâng. Thiên Sứ