• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Thiên Sứ

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    31.003
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    1.953

Everything posted by Thiên Sứ

  1. Hải lưu ý: Nói rõ vấn đề đổi chỗ Tốn / Khôn của Hậu Thiên Lạc Việt. Hình không hiển thị. Gửi hình cho sp, sp đưa lên cho.
  2. Tôi có cảm nhận nghiệp chướng là có thật. Và tính nhân quả là điều không sai. Nhưng có điều tôi không thể coi đây là một lý thuyết mà chỉ là một cảm nhận qua những gì tôi đã nhận thấy trong cuộc đời tối. Tôi kể những câu chuyện này là những gì tôi đã trải qua và chứng nghiệm bằng chính cuộc đời mình. Hy vọng rằng các bạn sẽ chia sẻ.
  3. LÝ HỌC VÀ TRIẾT HỌC HIỆN ĐẠI. Thưa quý vị và các bạn thân mến. Với hệ thống của thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt - thì tính "Nhất nguyên" không phải chỉ là một phạm trù triết học, không phải chỉ là một quan điểm xuất phát từ nhận thức của tư duy; mà là một thực tại ở trạng thái khởi nguyên của vũ trụ: Là giây/O/ của vũ trụ, là "Thái cực", là "Đạo", là "Như lai tạng tính" và là Thượng Đế toàn năng theo cách mô tả của các tôn giáo.
  4. LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG VÀ TRIẾT HỌC HIỆN ĐẠI. Kính thưa quý vị và các bạn. Trên dd Lý Học Đông phương thuộc TTNC LHDP, đã có một chuyên đề: "Lý học và khoa học hiện đại". Chuyên đề cũng được sự chú ý của nhiều quý vị và bạn đọc quan tâm. Nhưng có vẻ như khái niệm "khoa học" bao trùm lên quá nhiều lĩnh vực - ngoại trừ tôn giáo, tín ngưỡng - Do đó, nó có một nội dung quá mênh mông và chủ đề bị loãng, khó theo dõi. Bởi vậy, tôi mạn phép mở thêm một chủ đề này, để phù hợp với một chuyên ngành của tri thức khoa hoc nói chung. Đó là "Lý học Đông phương và triết học hiện đại" với một hy vọng sẽ được sự quan tâm của những nhà khoa học chuyên ngành. Cơ duyên dẫn đến việc mở chuyên mục này trên dd lyhocdongphong, bắt đầu từ nội dung thư mời trên email của tôi về một cuộc tọa đàm có chủ đề: "Triết học phát triển: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn".Tham dự tọa đàm được giới thiệu với nhiều tên tuổi hữu danh trong ngành. Một trong những tham luận chính của buổi tọa đàm được dự kiến, là bài viết tôi sẽ trình bày với quý vị dưới đây. Thưa quý vị và các bạn. Với một quan điểm nhất quán có tính hệ thống và hoàn chỉnh, tôi luôn xác định rằng: Thuyết ADNH và Bát quái - nhân danh nền văn hiến Việt - chính là một hệ thống lý thuyết khoa học hoàn chỉnh và chính là LÝ THUYẾT THỐNG NHẤT, mà các nhà khoa học tinh hoa của nền văn minh hiện nay đang tìm kiếm. Đương nhiên, nhân danh một lý thuyết thống nhất, thì nội hàm của nó phải bao trùm lên tất cả mọi hệ thống tri thức của thế gian này. Trong đó có triết học. Do đó, chủ đề này được thành lập để so sánh đối chiếu tất cả những quan điểm của các hệ thống triết học, trong toàn thể lịch sử nền văn minh nhân loại với hệ thống tri thức của Lý học Đông phương - nhân danh nền văn hiến Việt - Nhằm mục đích chứng minh một chân lý tuyệt đối, bao trùm lên tất cả mọi hệ thống tri thức của toàn bộ nền văn minh, đó là thuyết ADNH, nhân danh nền văn hiến Việt, để làm sáng tỏ chân lý: Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử và là cội nguồn của văn minh Đông phương, với thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là hệ thống lý thuyết thống nhất khoa học, mà những tri thức tinh hoa đang mơ ước. Tôi hy vọng rằng: Việc sáng tỏ chân lý Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương Tử và là cội nguồn của văn minh phương Đông, sẽ đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của nền văn minh chúng ta. Chân thành cảm ơn sự quan tâm và tham gia của quý vị và các bạn cho chủ đề này. Sài Gòn 16. 3. 2018. Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh. ======================= KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC PHÁT TRIỂN TS. Nguyễn Huỳnh Thanh Viện triết học phát triển (IDP) Vũ trụ quan toàn thể là quan niệm hoàn bị về một vũ trụ toàn thể tuần hoàn phát triển. Về cấu tạo, vũ trụ phi vật lý trước “bức tường Planck” (đặt theo tên nhà vật lý Max Planck, chỉ vị trí thời gian của lịch sử vũ trụ, tại đó vũ trụ có độ tuổi là thời gian Planck, bằng 10[-43].giây kể từ vụ nổ lớn), chính là trạng thái “nhất nguyên”; và, hai trạng thái đồng thời của vũ trụ - gồm vũ trụ phi vật lý và vũ trụ vật lý - sau bức tường Planck còn lại, chính là trạng thái “nhị nguyên”; là cặp phạm trù toàn thể quan đã được mô tả trong triết học đông phương cổ đại và tiền cổ đại. Về cấu trúc, vũ trụ toàn thể chứa các mối quan hệ lớn và cơ bản: cặp trạng thái “nhất nguyên” và trạng thái “nhị nguyên” trước và sau “giới hạn” Planck, cặp vũ trụ phi vật lý và vũ trụ phi vật lý trước và sau “giới hạn” Planck, cặp vũ trụ phi vật lý và vũ trụ vật lý trước và sau “giới hạn” Planck, cặp vũ trụ phi vật lý và vũ trụ vật lý trong nội tại giai đoạn sau “giới hạn” Planck,… Về vận hành, trong một vũ trụ tuần hoàn, trạng thái cuối cùng của các lỗ đen chính là trạng thái nguyên khởi của vụ nổ lớn, sự vận động tự thân không ngừng, đi từ nhất nguyên đến nhị nguyên và ngược lại, biến hóa đa chiều, tuần hoàn xoáy ốc, có thì phát động và chiều thuận nghịch, xuyên qua các chu kỳ tiến hóa và thoái hóa, trong vũ trụ toàn thể và cùng vũ trụ toàn thể, của một/mỗi và mọi sự vật hiện tượng, v.v… Đó là điển hình những vấn đề gợi mở đang đặt ra như là những hướng nghiên cứu lớn trong vũ trụ quan toàn thể. Vũ trụ luận toàn thể là phương pháp luận trong tư cách công cụ tư duy để đạt đến quan niệm hoàn bị về vũ trụ nói trên - vũ trụ quan toàn thể. Trong lịch sử nhân loại đến nay, có ít nhất các nền triết học sau - trong tư cách phương pháp luận - là các hình thái vũ trụ luận toàn thể. Về triết học đông phương cổ đại và tiền cổ đại, có Kinh Dịch với luận điểm: “Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng”; Lão Tử với luận thuyết về: “Đạo”; v.v… Về triết học tây phương cổ điển, có Hêghen với luận thuyết về: “Biện chứng pháp”; sau đó trong phân kỳ cận - hiện đại được Các Mác điều chỉnh bổ sung theo hướng duy vật trở thành: “Biện chứng pháp duy vật”; v.v… Trong thời hiện đại và hậu hiện đại cũng như đương đại, theo sự nghiên cứu bước đầu của chúng tôi, có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học và triết học, quốc tế và trong nước, có giá trị nghiên cứu và định hướng to lớn, mang tính phương pháp luận sâu sắc về các hình thái vũ trụ luận toàn thể. Tất cả đã, đang và sẽ tiếp tục tổng - tích hợp, kiến tạo, khai phóng thành những nền tảng phương pháp luận cơ sở, quan trọng và chín muồi để đạt đến vũ trụ quan toàn thể. Tuy nhiên, có một thực tế là, cho đến đầu thế kỷ XXI, nhân loại vẫn chưa có một lý thuyết vũ trụ quan toàn thể, với ý nghĩa là quan niệm hoàn bị thống nhất xuyên suốt về một vũ trụ toàn thể tuần hoàn phát triển. Trong toàn bộ lịch sử cho đến ngày nay, bức tranh về một vũ trụ quan toàn thể như vậy chỉ đang là những “mảnh ghép” thuộc về các triết lý tôn giáo, tri thức khoa học và các kho tàng văn hóa dân gian, theo tiến trình thời gian và bình diện không gian. Chúng ta quan tâm đến vũ trụ quan và vũ trụ quan toàn thể, bởi điều này tạo ra một hệ quả mang tính phương pháp luận cơ bản. Khi phương pháp luận cơ bản này được vượt qua, sẽ đem lại những hiệu ứng thực tiễn quan trọng mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu và cảm nhận từng bước trong các phần sau. Có một hệ quả đồng thời là nguyên nhân, mang tính đầu mối có thể tác động vào được nhằm làm thay đổi tình hình. Trước hết chúng ta thấy, nội hàm và ngoại diên của khái niệm chuyển-hóa trong phạm vi lý luận, và quan trọng hơn, điều đó dẫn đến khái niệm phát-triển trong phạm vi thực tiễn, của tất cả các thời đại này, đã chưa thể đáp ứng yêu cầu thăng-hoa. Nhìn tổng thể, thời gian qua, hai khái niệm chuyển-hóa trong phạm vi lý luận, và phát-triển trong phạm vi thực tiễn, chỉ mới được sử dụng ở chừng mực nội hàm quá độ để miêu tả “sự tích lũy về lượng của khuynh hướng phát triển”, tức sự phát triển theo nghĩa hẹp, được biểu diễn theo trục ngang, chứ chưa phải “thực diễn sự chuyển hóa về chất” để có được sự phát triển theo nghĩa rộng, được biểu diễn theo trục dọc, tức sự thăng-hoa, trong mối liên hệ phổ quát - trong vũ trụ toàn thể và cùng vũ tru toàn thể. Trong các phần trên, về mặt phương pháp luận tổng quát, để đảm bảo tính hệ thống, logic và hình thức luận, chúng ta đã xem xét vũ trụ quan và vũ trụ quan toàn thể trên cơ sở tổng - tích hợp các sản phẩm nhận thức trên bình diện rộng nhất của nhân loại, bao gồm: các triết lý tôn giáo, tri thức khoa học và các kho tàng văn hóa dân gian, theo tiến trình thời gian và bình diện không gian. Đến đây, trong chừng mực cho phép, để việc tiếp tục nghiên cứu được thuận lợi, trong mức độ không làm thay đổi bản chất vấn đề, chúng ta sẽ tiếp tục mạch câu chuyện bằng phương pháp giản lược hóa. Khuôn khổ lại, xét trong từng hình thái triết học cụ thể, trong tiến trình thời gian, vị trí và vai trò của các vũ trụ quan của các giai đoạn này, đã chưa được thể hiện đầy đủ và phát huy đúng yêu cầu về nhiệm vụ phản ánh - trong tính toàn cục và hoàn bị của nó - đối với đối tượng của nhận thức và hành động, là vũ trụ toàn thể. Vũ trụ quan, trước hết, là lý luận. Đồng thời, và quan trọng hơn, đó còn là phương pháp luận. Tùy vào việc ứng xử với vũ trụ quan trong tư cách nào, sẽ dẫn đến các hệ quả lý luận và thực tiễn khác nhau. Việc ứng xử với vũ trụ quan trong tư cách lý luận, chắc chắn trong một thời gian nhất định, sẽ dẫn đến tính ỳ, kéo theo bối cảnh đầy ứ, là trạng thái sẽ dẫn đến tràn nhưng không vượt qua được một cao độ. Còn việc ứng xử với vũ trụ quan trong tư cách phương pháp luận, sẽ dẫn đến một năng lực nội sinh. Đây là năng lực chứa tiềm năng tự vượt qua tính ỳ và trạng thái đầy ứ. Về mặt phương pháp luận, điều này có nghĩa là, khi tình trạng có thể dẫn đến tính ỳ và sự tràn, thì nội tại hệ thống sẽ tự dị biệt hóa theo các cấp độ - điều chỉnh, thay đổi, cách mạng - để bản thân có thể tự vượt qua chính mình và đạt được một cao độ mới, để qua đó tiếp tục kiến tạo và khai phóng các hoành độ và cao độ mới hơn nữa, trong trục thời gian. Thật ra, việc tách bạch rạch ròi như trên giữa lý luận và phương pháp luận, là sự phân biệt ở cấp độ đơn giản, tuy cần thiết ở chừng mực ban đầu. Có thể hiểu rộng ra rằng, việc ứng xử với vũ trụ quan trong tư cách phương pháp luận là sự vận dụng nhuần nhuyễn việc ứng xử với vũ trụ quan trong tư cách lý luận, vào từng bối cảnh cụ thể thông qua tư duy phát triển, trong vũ trụ toàn thể và cùng vũ trụ toàn thể. Về nhận thức luận, vũ trụ toàn thể, trước hết, đó là bình diện rộng và cao nhất của thực tại. Nhưng, đó chỉ mới là vũ trụ tĩnh. Sự tĩnh của vũ trụ chỉ là hình thái biểu kiến khi đối tượng nhận thức được trừu tượng hóa khỏi tính động tự thân nhằm phục vụ yêu cầu nhận thức những trạng thái phức hợp của các đối tượng khi độ phức hợp của nó vượt quá ngưỡng giới hạn “nhân trắc” của năng lực tư duy bộ não người. Ở đây, yêu cầu và quy trình nhận thức luận đúng đắn là: sau khi trừu tượng hóa các trạng thái phức hợp toàn cục chân thực thành trạng thái giản đơn bộ phận biểu kiến của đối tượng nhận thức, để phục vụ đặc thù năng lực nhận thức “nhân trắc” của não người, cần phải nhanh chóng phức hợp hóa đối tượng trở lại như chân thể, để tiếp tục nhận thức các chiều kích bội phương khác của đối tượng. Tuy nhiên, chúng ta, nhân loại, thường quên vế sau này. Đó là hiện tượng lý-luận-hóa-kéo-dài, với biểu hiện là xơ cứng hóa nhận thức. Sự kiềm chế nhận thức trong lý luận vượt quá thời gian tính hữu hạn sẽ làm suy yếu năng lực nhận thức. Kỹ năng ở đây là cần phương pháp luận hóa lý luận. Điều này thể hiện rõ nhất tại các đối tượng nhận thức có các chiều kích rộng và cao nhất của thực tại, như vũ trụ toàn thể. Phương thức phản ánh phức hợp toàn cục chân thực trong tính nguyên lý của đối tượng nhận thức chính là phương thức phản ánh sự vật trong tính toàn thể của nó. Chúng ta sẽ thấy, chính sự kéo dài hoặc kiềm chế yêu cầu phản ánh phức hợp toàn cục chân thực trong tính nguyên lý của đối tượng nhận thức đối với những đối tượng nhận thức có các chiều kích rộng và cao nhất của thực tại như vũ trụ toàn thể, đã làm suy yếu, thậm chí suy kiệt, năng lực thăng hoa của nhân loại. Như vậy, trong mối quan hệ biện chứng giữa lý luận, phương pháp luận và nhận thức luận, thì đầu mối có thể tác động vào để có thể làm thay đổi tình hình nằm ở nhận thức luận. Nguyên liệu để thực hiện sự tác động nhằm có thể làm thay đổi tình hình trong nhận thức luận nói trên, là hệ thống thông-tin phức hợp toàn cục chân thực mang tính nguyên lý của đối tượng nhận thức, trong các chiều kích rộng và cao nhất của thực tại, như vũ trụ toàn thể. Kỹ thuật để thực hiện sự tác động nhằm có thể làm thay đổi tình hình trong nhận thức luận nói trên, thông qua việc đón nhận hệ thống thông-tin phức hợp toàn cục chân thực mang tính nguyên lý của đối tượng nhận thức, trong các chiều kích rộng và cao nhất của thực tại, như vũ trụ toàn thể, có những đòi hỏi đặc thù. Sự đặc thù này có tính khách quan, do cách đón nhận hệ thống thông-tin từ các chiều kích hữu hạn, có sự khác biệt rất lớn, thậm chí trái ngược, với cách đón nhận hệ thống thông-tin từ các chiều kích vô hạn. Kỹ năng đón nhận hệ thống thông-tin phức hợp toàn cục chân thực mang tính nguyên lý của đối tượng nhận thức, trong các chiều kích rộng và cao nhất của thực tại, như vũ trụ toàn thể, sẽ không phải là mở rộng hoăc thay đổi đối tượng nhận thức, mà là mở rộng hoặc thay đổi “hệ-quy-chiếu-nhận-thức”. Vật lý học và vũ trụ học hiện đại và đương đại đã cho thấy năng lượng và thông tin có các bản thể tương ứng là sóng và hạt. Sóng và hạt luôn có mặt ở bất kỳ chiều kích dù rộng và cao nhất nào của vũ trụ. Bởi, đó là “chân thể” của vũ trụ. Trên con đường đi tìm kiếm thông-tin mang hình thái nguyên lý của đối tượng nhận thức, trong tính nguyên liệu, nhằm phục vụ thăng hoa nhóm-hành-trang-tư-tưởng của con người và loài người, bao gồm nhận thức luận, phương pháp luận và lý luận, trong đó nhận thức luận có vai trò đầu mối, chúng ta sẽ cùng nhau tìm đến các nguyên lý sóng - hạt và giải mã hóa các thông tin mang tính bản thể luận của vũ trụ toàn thể. Các công cuộc nỗ lực bứt phá ra đi hết mình của nhân loại cho đến ngày nay nhằm tìm kiếm mẫu số chung nhất quán giữa các cặp thái cực đối lập trong thực tại, lý luận và khoa học như đã nói trên, dường như nhất loạt đều đang vấp phải những bài toán chưa thể vượt qua được với tất cả các phương pháp luận đặc thù. Sự tìm kiếm thực sự đã và đang buộc phải bắt đầu vươn đến các phương pháp luận phổ quát - mà một trong những đặc điểm nội sinh và tất yếu của các phương pháp luận phổ quát là tính phổ dụng. Bên cạnh phương pháp luận của triết học tây phương với bạt ngàn thành lũy lý luận, khoa học và thực tiễn đã nuôi dưỡng và nâng đỡ nhân loại phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay, trong đó đỉnh cao là phép biện chứng; phương pháp luận của triết học đông phương dường như lại ẩn tàng trong nó các mã khóa và bí quyết giải đáp cho những bài toán đang thử thách nhân loại. Sự tìm hiểu, so sánh, đối chiếu, tổng - tích hợp hạt nhân hợp lý của triết học tây phương và triết học đông phương, đang gợi mở cho chúng ta phương thức tìm kiếm mẫu số chung nhất quán giữa các cặp thái cực đối lập như vừa nói trên, thông qua cặp phạm trù có tính chất trừu tượng và khái quát nhất trong toàn bộ hệ thống triết học đông phương, trong đó chủ yếu là triết học đông phương cổ dại và tiền cổ đại, đó là cặp phạm trù: “nhất-nguyên” và “nhị-nguyên”. Chúng ta sẽ thấy trong các phần sau, sự tìm kiếm mã khóa và giải mã thông qua phương pháp luận đông phương cổ đại và tiền cổ đại với phân nhánh triết học “nhị-nguyên” trong sự vận dụng so sánh, đối chiếu, tổng - tích hợp vào hiện thực đời sống nhân loại qua các thời đại, cho thấy “phương thức tiến hóa nhị-nguyên” thật sự đã góp phần quyết dịnh đưa lịch sử nhân loại phát triển đến trang huy hoàng của ngày hôm nay. Thật vậy, việc tìm hiểu phương thức “nhị-nguyên-hóa” từ câu chuyện thời sự nóng hổi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được trình bày trong đoạn dưới đây sẽ giúp chúng ta thấy được tầm quan trọng của phương thức vận động “nhị-nguyên-hóa” này trong thực tại và khoa học. Nhưng, trước hết, cần thấy rằng, từ trên bình diện khoa học - để có thể giải quyết rốt ráo một cách có hệ thống toàn bộ những tồn tại tư biện đang đặt ra, và kể cả trong thực tiễn - để có được sự “phát-triển-thăng-hoa” hạn chế hệ lụy nhị nguyên đối đãi tiêu cực, thì tương lai nhân loại dường như đang cần đến triết học “nhất-nguyên” với tư cách một trong những sự bổ khuyết trong tiến trình từng bước hoàn thiện tư duy triết học, cả về lý luận, và quan trọng hơn, như chúng ta đang rất quan tâm, là về phương pháp luận. Sự kiện khoa học và thực tiễn bao trùm đang thu hút tất cả các quốc gia, nền kinh tế và nhà khoa học trên toàn thế giới hiện nay là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tạo ra một phương thức sản xuất kỳ lạ và dị thường theo nghĩa chưa từng có từ trước đến nay trong lịch sử loài người. Phương thức sản xuất đó dựa trên một nguyên lý nhận thức mới mẻ. Khi “lượng kiến thức” đã đạt đến một “giới hạn” về “chất”, muốn mở rộng nhận thức hoặc thay đổi hiện thực, vấn đề bắt đầu không phải nằm ở chỗ cố gắng, nỗ lực mở rộng hoặc thay đổi đối tượng nhận thức, mà là nhẹ nhàng, từng bước mở rộng hoặc thay đổi “hệ-quy-chiếu-nhận-thức”. Việc mở rộng hoặc thay đổi hệ quy chiếu nhận thức mới sẽ đem lại những hiệu ứng trong nhận thức và hiện thực không thể nào hình dung trước được bằng nền tảng tư duy và lượng kiến thức trong hệ quy chiếu nhận thức cũ. Nó sẽ tạo ra những chiều kích không-thời gian - và chiều kích ngoài không-thời gian - mới lạ, mà bằng nhận thức và tư duy trong hệ quy chiếu nhận thức cũ, chúng ta sẽ cho là “ảo tưởng”. “Ảo cảnh” như việc đi trong sa mạc thấy hồ nước thật ra chính là một hình thái “cảnh giới” phức hợp, là hệ quả của việc hệ quy chiếu nhận thức lành mạnh - của tình trạng tâm-sinh lý khỏe mạnh - đã bị buộc phải nhường chỗ cho hệ quy chiếu nhận thức không lành mạnh. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến xuất hiện một hệ quy chiếu nhận thức không lành mạnh ở đây, thuộc về bộ máy sinh học của sự nhận thức, đó là tình trạng tâm sinh lý, trạng thái khát nước cùng cực của cơ thể và bộ não - trong sự khác biệt về chức năng giữa hai bán cầu đại não phải và trái với nhiều điều chưa giải mã được nhưng thể hiện rất rõ quan hệ đối đãi, thậm chí đối lập trên con đường nhận thức thống nhất thực tại. Trong những chiều không-thời gian đời thường của những người không đang bị sắp chết khát trong sa mạc, là những người ở nhà hay đang xem phim trên truyền hình, tức những người đang ở trong hệ quy chiếu nhận thức “lành mạnh”, rõ ràng khả năng xuất hiện của các hồ nước này là không “thực”. Bởi, đơn giản, trong những tình huống nếu có như vậy, chúng ta đang chỉ là những người-quan-sát-bàng-quan. Sự phân tích trên dẫn đến một nhận thức là: những “người-quan-sát-không-bàng-quan” là những người có thể tự đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh cụ thể, một cách “trừu tượng”. Trong câu chuyện ở đây, đó là những người ở nhà hay đang xem phim trên truyền hình nhưng có thể “trừu tượng hóa” mình vào hoàn cảnh, tâm-sinh lý nhân vật để có thể khóc hoặc “chết” cùng với họ. Trong câu chuyện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ở đoạn dưới đây, chúng ta sẽ thấy những “người-quan-sát-không-bàng-quan” - trên bình diện khoa học - đầu tiên chính là những nhà điện toán. Trong thời kỳ đầu ra đời của điện toán, họ khác những người bên ngoài ngành điện toán ở năng lực toán học để có thể cảm nhận được tính “thực” của những “cảnh giới” toán học, phần mềm điện toán. Mà đối với phần còn lại của nhân loại, việc “điện-toán-hóa” thành những dãy số hoặc sau này là những đám mây số để nhận thức thực tại, dẫu thuyết minh cách nào, thì vẫn có cảm giác là “không-gian-ảo”. Phương thức sản xuất đặc biệt của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã đặt nền tảng trên một nguyên lý nhận thức là: có thể tạo ra sự biến đổi ‘thực tại” vật lý với thao tác buớc qua bước lại một “cảnh giới” toán học khác biệt và tương đối độc lập - do từ những đặc tính cấu tạo nội tại riêng có - được tạo ra bên ngoài “thực tại” vật lý đó. Phương thức sản xuất đó có hạ tầng kỹ thuật đặc thù để tạo ra biện pháp tương tác phi vật lý, tức tạo ra sự biến đổi toán học, để làm thay đổi cấu trúc toán học nội tại của thực thể vật lý đó ở bên ngoài trước, rồi sau đó mới di chuyển cấu trúc toán học đã được thay đổi đó vào thực thể vật lý, nhằm đem lại hệ quả thay đổi tính vật lý cho thực thể vật lý. Chúng ta sẽ cùng nhau mô tả ngắn gọn quá trình vận hành “logistics” của phương thức sản xuất 4.0. Đầu tiên, phương thức sản xuất 4.0 mô phỏng và phản chiếu cấu trúc của tồn tại từ “vương-quốc-thực-tại” sang “vương-quốc-số”. Tiếp theo, phương thức sản xuất 4.0 thực hiện việc sáng tạo toàn bộ và trọn vẹn hiện thực tại tầng cao vương quốc “số”. Cuối cùng, phương thức sản xuất 4.0 phản hồi cấu trúc của hiện thực từ tầng cao vương quốc “số” về vương quốc “thực tại” để qua đó bằng các công cụ máy móc tạo ra sản phẩm vật thể phục vụ thực tiễn cuộc sống. Có thể hiểu điều này cũng giống như cách chúng ta đã biến âm thanh thành tín hiệu viễn thông và sau đó từ tín hiệu viễn thông chuyển trở lại thành âm thanh để nghe thông qua việc sử dụng điện thoại di động. Và, sóng viễn thông, đối với một số người bên ngoài ngành viễn thông, thì vẫn có cái gì đó như là “ảo”, bởi, đơn giản là họ không phải hàng ngày “lao động” cật lực với “hình thái tồn tại” này để duy trì tình trang phủ sóng ổn định cho người tiêu dùng. Điều lớn hơn nhiều - và ở đây có sự liên quan trong phần trình bày của chúng tôi - mà cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm được là cung cấp cho chúng ta nhận thức mới về một “phương-thức-biến-đổi-thực-tại” cho nhân loại. Ý nghĩa triết lý của cách mạng công nghiệp 4.0 là ở chỗ: 1. Nó nhận ra sự tồn tại của một “cảnh giới” khác biệt và tương đối độc lập về mặt cấu trúc vật thể so với bản chất của thực tại vật lý hiện hữu; 2. Nó nhận ra “năng lực biến đổi thực tại” của “cảnh giới” này; 3. Nó nhận ra “khả năng biến đổi thực tại” với thao tác đi về qua lại một “cảnh giới” khác biệt từ bên ngoài; 4. Nó tìm ra được cách biến đổi “cảnh giới” này. Nguyên lý điện toán đã tạo ra khả năng soi chiếu mọi sự tồn tại về một bình diện cao hơn với cấu trúc toán học thông qua hai con số 0 và 1. Những nhà phát minh ra nguyên lý điện toán chính là những nhà “nhị nguyên học” hiện đại của nhân loại. Bởi, nhận thức và hành động bằng cách đưa toàn bộ vũ trụ trong ta và quanh ta về một cấu trúc chỉ có hai thành tố cơ bản (số 0 và số 1), chính là biểu hiện cụ thể dưới dạng số hóa của vũ trụ quan và nhân sinh quan nhị nguyên theo nghĩa mà chúng ta đang sử dụng đối với từ nhị nguyên, với tư cách một trong hai khái niệm phản ánh khái quát nhất của triết học đông phương cổ đại và tiền cổ đại đối với vũ trụ toàn thể. Rõ ràng, phương thức vận động “nhị-nguyên-hóa” hay “phương thức tiến hóa nhị-nguyên” thật sự đã góp phần quyết dịnh đưa lịch sử nhân loại phát triển đến đỉnh cao, với thành quả vĩ đại là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với phương thức sản xuất 4.0 ngày nay. Tuy nhiên, trong vũ-trụ-nhị-nguyên, thì mọi sự tồn tại đều không thể vượt ra ngoài các quy định đối đãi cứng nhắc của nhị nguyên. Sự xuất hiện - ngày càng nhiều, cao, khó - các cặp thái cực đối lập đã, đang và sẽ từng bước hiển lộ ra như chúng ta đều đang cùng thấy ở chiều hướng tăng lên cả về số lượng và chất lượng trong khoa học và đời sống, lý luận và thực tiễn, chính là hệ quả tất yếu của khuôn khổ nhị nguyên. Xét đến cùng, mạch tìm kiếm để có được sự phát triển thăng hoa - tức tiết chế các hệ lụy nhi nguyên đối đãi tiêu cực giữa các cặp thái cực đối lập - sẽ dẫn đến việc nhân loại tất yếu cần đến một nền triết học bổ sung, với tư cách một trong những sự bổ khuyết trong tiến trình từng bước hoàn thiện tư duy triết học. Đó là triết học “nhất nguyên”, với nội hàm cơ bản là sự đối đãi với vũ trụ quan và nhân sinh quan “nhị nguyên” và ngoại diên là sự tiếp giáp lồng ghép với các nền triết học khác. Khái niệm “nhất nguyên” là nội hàm trừu tượng nhất của một “trạng thái tồn tại” theo triết học nói chung và triết học đông phương cổ đại và tiền cổ đại nói riêng, mà chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu đưới đây trên bình diện vật lý. Trước vị trí tương ứng thời điểm 10[-43].giây kể từ vụ nổ lớn, tức thời điểm Planck, là khoảng thời gian được gọi là kỷ nguyên Planck. Chỉ riêng yếu tố nhiệt độ, trên 1,417×1032 độ Kelvin, thì không một hình thái tồn tại vật lý nào có thể ra đời được. Trước hết, tại đây, chúng ta cần nói ngay đến một sự kiện rất quan trọng, mang tính bước ngoặt cả từ vật lý đến triết học. Đó là: chỉ đến tại thời điểm Planck, vũ trụ mới phân lập kết tụ đến liều lượng mức độ nhất định và hình thành môi trường tương thích để có thể làm xuất hiện những hạt cơ bản đầu tiên. Từ đây, dưới giác độ triết học luận và lịch sử luận, chúng ta thấy, vũ trụ mới có thể bắt đầu cố kết tạo ra và “sở hữu” một hình thái tồn tại và phát triển là: “đời-sống-vật-lý”. Phương thức tồn tại theo cấu trúc nhị nguyên, tự nó đã hàm chứa “cơ sở thực tiễn” cho sự ra đời của hai mặt đối đãi và đối lập là “tôi” và “của tôi”, là cơ sở triết học của khái niệm “sở hữu”. Điều này cũng giống như khi sinh con, người phụ nữ đã vượt qua vai trò phụ nữ để dảm nhận vai trò mẹ trong quan hệ đối đãi với vai trò con trong người con của mình. Người phụ nữ “nhất nguyên” trước khi sinh con vẫn còn đó trong vai trò mẹ “nhị nguyên” trong quan hệ đối đãi với vai trò con “nhị nguyên” trong người con của mình sau khi sinh ra người con. Cái của-tôi tồn tại và phát triển do bởi hình thái tồn tại và cấu trúc nhị nguyên đã tạo “cơ sở thực tiễn” để cái-tôi-không-tự-thân-mà-là-cái-tôi-đối-đãi, tồn tại và phát triển. Tương tự, về mặt triết lý, sau khi vượt qua vũ môn Planck, tuy đã làm xuất hiện dạng “đời sống” mà trước đó, trong kỷ nguyên Planck, là chưa hề có, và rất “mới lạ”, mang tính “lịch sử”, là đời sống vật lý, nhưng, vấn đề là ở chỗ, vũ trụ vẫn giữ cho mình và tự hàm chứa “cơ sở thực tiễn” cho sự xuất hiện đủ hai mặt đối đãi và đối lập của trạng thái cấu trúc nhị nguyên. Chúng ta thấy, phương thức mà “đời-sống-phi-vật-lý” trong vũ trụ nhất nguyên trước bức tường Planck đã chuyển hóa thành “đời-sống-phi-vật-lý” trong vũ trụ nhị nguyên sau bức tường Planck, có thể được nhận thức theo hình thức luận triết học như vậy. Tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu thêm về cơ sở hiện thực làm nền tảng cho sự phản ảnh vào hình thức luận triết học như vừa nói trên của sự tồn tại của vũ trụ phi vật lý trong vũ trụ nhị nguyên, bên cạnh vũ trụ vật lý. Để tìm hiểu về cơ sở hiện thực đó, cần thấy rằng có một sự kiện “vật lý” rất quan trọng, tương tự việc vũ trụ đã làm xuất hiện những hạt cơ bản đầu tiên, bắt đầu tại thời điểm Planck. Và chúng ta cần thiết phải nói ngay lập tức và song song - ở đây - về sự kiện này ngay sau khi trong đoạn trên chúng ta vừa nói về thời điểm xuất hiện của những hạt cơ bản đầu tiên. Sự kiện “vật lý” đó như sau: những phản-hạt-cơ-bản đầu tiên của vũ trụ cũng đã được đồng thời xuất hiện, cùng-bắt-đầu-tại-thời-điểm-Planck. Sự trừu tượng hóa và khái quát hóa - đến cùng - sẽ giúp chúng ta thấy được rằng, bản chất “phi vật lý” của vũ trụ - suốt trong giai đoạn sau bức tường Planck -là một bản chất có thể nhận thức được. Bởi, một trong những biểu hiện “biểu kiến” và “khúc xạ” của bản chất “phi vật lý” của vũ trụ - suốt trong giai đoạn sau bức tường Planck - chính là tính chất “phi tuyến tính” và bản chất “bất định” của sự vận động luợng tử. Thật vậy, cũng như “chất” và “lực” là các thành tố của sự tác động vật lý đã tạo nên các vận động tuyến tính, thì - theo nguyên lý tương ứng của vũ trụ - các vận động phi tuyến tính cũng phải được tạo ra từ các thành tố của sự tác động phi vật lý. Rõ ràng, suốt trong giai đoạn sau bức tường Planck, các vận động phi tuyến tính cũng phải được tạo ra từ các thành tố của sự tác động phi vật lý. Về mặt triết học, các hạt cơ bản là cơ sở hiện thực của bản chất “vật lý” của vũ trụ. Các-hình-thái-đối-đãi-và-đối-lập trong thể thống nhất về nguyên lý với các hạt cơ bản, tất yếu cũng phải là cơ sở hiện thực của bản chất “phi vật lý” của vũ trụ. Trong các-hình-thái-đối-đãi-và-đối-lập trong thể thống nhất về nguyên lý với các hạt cơ bản, thì hình thái đầu tiên, đã được chúng ta xem xét đến trong các phần trên, là hình thái: “phản hạt cơ bản”. Ngoài ra, trong các kiến thức cơ bản đến nay của khoa học vật lý thang hạ nguyên tử, còn có các hình-thái-đối-đãi-và-đối-lập-trong-thể-thống-nhất-về-mặt-triết-học-với-hạt-cơ-bản khác, bao gồm: “hạt ảo” và “phản hạt ảo”. Từ góc nhìn triết học duy vật biện chứng, rõ ràng, bản chất phi vật lý của vũ trụ trước bức tường Planck có được là do tại đây chưa hề có mặt các hạt vật lý cơ bản và bản chất phi vật lý của vũ trụ sau bức tường Planck có thể được nhận thức bằng phương thức nhận thức phi tuyến tính. Từ đây, về mặt triết lý, có thể rút ra ba nhận xét ứng chiếu. Một là, có một lát cắt xuyên xuốt về một bản chất phi vật lý của vũ trụ đi theo suốt từ trước đến sau bức tường Planck. Hai là, từ sau bức tường Planck, tức từ khi có không gian và thời gian, thì xuyên qua hệ thống không gian và thời gian này, có một sợi dây liên hệ về một bản chất phi vật lý được duy trì và truyền trao không đứt đoạn. Ba là, kết nối với giai đoạn trước bức tường Planck, sợi dây liên hệ về một bản chất phi vật lý của vũ trụ đã được truyền trao liên tục từ đầu vụ nổ lớn đến nay. “Sợi-dây” vũ trụ mang liên hệ phi vật lý được truyền trao liên tục từ đầu vụ nổ lớn đến nay này chính là một “trạng thái tồn tại” của vũ trụ. Nó không bị biến chất theo thời gian và không gian. Nó không “tồn tại” nhưng không phải không “tồn tại”. Nó “tồn tại” trong trạng thái không “tồn tại”. Nó “tồn tại” trong trạng thái không bị “vật lý hóa”. Nó “tồn tại” không có tính-vật-thể. Nó không thể bị tác động bởi sự chia chẻ vật lý. Nó không thể bị tác động bởi tất cả mọi sự chia chẻ. Nó không thể bị chia đôi hoặc cắt lìa. Dường như trong câu chuyện đến đây, tất cả chúng ta đều đang chia sẻ sự cảm nhận và thức nhận rằng: nhân loại không thể sử dụng tất cả và nguyên nghĩa những khái niệm triết lý của kỷ nguyên vật lý để mô tả về tính “phi vật lý” này. Về nguyên lý, ngôn ngữ là sản phẩm lịch sử của kỷ nguyên vật lý, tức là sau kỷ nguyên Planck; chỉ sau khi có sự ra đời của bộ não người, với cấu trúc gồm hai bán cầu phải và trái. Khái niệm và theo đó là ngôn ngữ không thể có sự tương đồng tuyệt đối trong quá trình phản ảnh vào hệ quy chiếu của vũ trụ phi vật lý, kể cả trước và sau sự kiện quan trọng mang ý nghĩa phân vạch Planck, cả về mặt khoa học, triết học và lý luận. Do vậy, tất cả những “khái-niệm-triết-học-trong-kỷ-nguyên-vật-lý” đã thực sự tỏ ra không đủ năng lực tuyệt đối trong yêu cầu mô tả trạng thái vũ trụ phi vật lý này. Đây là một trong những nguyên nhân cản trở cơ sở đầu tiên, mà cho đến đầu thế kỷ XXI, nhân loại vẫn chưa có được một lý thuyết vũ trụ quan toàn thể như đã nói trong phần trên. Vũ trụ quan tinh khiết là hệ thống quan điểm di qua một lăng kính trong sáng về một-vũ-trụ-toàn-thể. Vũ trụ quan tinh khiết thấy rằng vũ trụ là một vũ trụ vật lý, có tính đến sợi-dây vũ trụ mang tính phi vật lý được truyền trao liên tục từ đầu vụ nổ lớn đến nay và giữa hai trạng thái vũ trụ này có sự liên hệ, tương tác với nhau. Vũ trụ phi vật lý có trước bức tường Planck, rõ ràng, đã là “nguyên liệu” của trang thái vũ trụ vật lý sau bức tường Planck. Đồng thời, trạng thái vũ trụ phi vật lý sau bức tường Planck cũng có vai trò quan trọng đối với trang thái vũ trụ vật lý (sau bức tường Planck), do từ sự phản ảnh về vai trò quan trọng của nguyên lý bất định của vật lý lượng tử trong toàn bộ nền tảng vật lý nói chung. Và một chi tiết nữa là, vũ trụ phi vật lý trước bức tường Planck rõ ràng cũng đã là “nguyên liệu” của trang thái vũ trụ phi vật lý sau bức tường Planck. Sự khái quát dã đưa chúng ta đến một nhận xét: vũ trụ phi vật lý có trước bức tường Planck đã là nền tảng của tất cả mọi trạng thái khác của vũ trụ. Vũ trụ phi vật lý trước bức tường Planck đã quy định hai trạng thái đồng thời của vũ trụ sau bức tường Planck còn lại. Vũ trụ phi vật lý trước bức tường Planck chính là trạng thái “nhất nguyên” và hai trạng thái đồng thời của vũ trụ sau bức tường Planck còn lại chính là trạng thái “nhị nguyên” đã được mô tả trong triết học đông phương cổ đại và tiền cổ đại. Và đây cũng chính là nền tảng sau này của “cây phả hệ” vũ trụ. Cách nhìn này không thể bị che mờ bởi bất kỳ quan niệm chủ quan nào của người-quan-sát. Bởi, chính người quan sát này xét đến cùng cũng chỉ là một thành tố hữu cơ bên trong của vũ-trụ-toàn-thể. Phải giải thoát khỏi vị trí người quan sát bên ngoài để hoàn toàn hóa thân thành người trải nghiệm bên trong thì mới có thể cảm nhận và thức nhận được toàn thể về cái vũ trụ trong đó có và không thể thiếu chính mình - với tư cách là một tiểu vũ trụ biệt phái của vũ trụ đại cuộc thống nhất trong đa dạng và mâu thuẫn. Điều này, cũng tương tự như việc những người-quan-sát-không-bàng-quan đã “hội-nhập” một cách trừu tượng vào hoàn cảnh cụ thể của nhân vật để có thể khóc hoặc “chết” cùng họ trong sa mạc với câu chuyện mà chúng ta vừa ví dụ trong đoạn trên. Vũ trụ quan tinh khiết dưới góc nhìn của triết học nhất nguyên đông phương cổ đại và tiền cổ đại, không chỉ là vấn đề học thuật, dù trước hết, nó phải là một-vấn-đề-học-thuật như chúng ta đang cố gắng sơ nét một cách khó hoàn thiện để miêu tả. Vũ trụ quan tinh khiết còn có những nội hàm chức năng khác quan trọng hơn, theo nghĩa nó có thể tác động vào hiện thực để giúp chúng ta điều chỉnh và thay đổi đời sống. Trong khuôn khổ ở đây, chúng ta trước hết quan tâm đến hai nội hàm chức năng quan trọng, đó là: năng-lực-thực-tiễn và sức-mạnh-thực-tế. Chúng ta sẽ đi sâu vào các nền tảng, cơ sở của năng lực thực tiễn và sức mạnh thực tế của vũ trụ quan tinh khiết. Biển có hai mặt đối lập bộ phận của một chức năng triết lý toàn thể. Hai mặt chức năng triết lý đối lập bộ phận của biển là: 1. chia cắt các châu lục; 2. nối liền các vùng mà nó chia cắt. Chức năng triết lý toàn thể của biển chính là sự thống nhất hữu cơ trong mâu thuẫn của hai mặt chức năng triết lý đối lập bộ phận nói trên. Nhân loại đã thường xuyên và không ngừng chuyển qua rồi chuyển lại từ hai đầu thái cực tâm thức đối lập và bộ phận như đã nói về biển trong hành xử với vũ trụ toàn thể, trên hành trình tồn tại, phát triển và sáng tạo, trong và cùng vũ trụ toàn thể của mình. Họ, có lúc thì làm người quan sát đứng bên ngoài vũ trụ. Có lúc thì làm người trải nghiệm nằm bên trong vũ trụ. Có lúc như thuyết tương đối chỉ nhận thức vũ trụ vật lý. Có lúc như thuyết lượng tử chỉ cảm nhận vũ trụ phi vật lý. Lẽ ra, do vũ trụ thực tại là một-vũ-trụ-toàn-thể bao gồm tất cả các hình thái bộ phận đối lập và mâu thuẫn cụ thể, nên cần phải hành xử theo cách, dù có thể mới nhìn biểu kiến từ bên ngoài thì thấy cơ hồ như đầy mâu thuẩn và hỗn độn, nhưng, thực sự về bản chất bên trong, thì lại chứa chan sự thống nhất và hài hòa, một sự thống nhất mâu thuẫn biện chứng. Vũ trụ quan không chỉ là khát vọng. Đó còn là hình thái hành trang tiền đề. Đây là một loại hành trang đặc thù. Sự khác biệt của nó với tất cả các loại hành trang khác ở chỗ chính tiềm năng kiến tạo và khai phóng dưới hình thái hành trang mà nó hun đúc cho hành trình là loại giá trị có năng lực “tỏa sáng”. Như chúng ta đều biết, bất kể vũ trụ tàng chứa trong nó vô tận những điều mất cân bằng như là chiều nghiêng toàn thân đặc trưng của vận động viên điền kinh trên đường đua, nhưng cuối cùng thì sự lộng lẫy của giải vô dịch đã minh tả rằng chiều nghiêng về phía trước thoạt nhìu có vẻ không cân đối đó chính là sự hài hòa. Cũng vậy, sự xúc cảm quyện chặt hiểu biết về vũ trụ được gọi là vũ trụ quan trong một con người chính là chiều nghiêng về phía trước đặc trưng đó của vận động viên điền kinh. Đó là vẻ đẹp của sự hài hòa trong xu thế phát triển. Bởi, điều đó cũng đơn giản như là, không ai có thể không hiểu chính mình mà có thể sống và phát triển hài hòa được. Rõ ràng, vũ trụ quan và vũ trụ quan toàn thể là những hành trang không thể thiếu của mỗi con người cá thể và nhân loại toàn thể cho một cuộc hành trình hài hòa. Triết học nhất nguyên luận giải trước hết về “vũ trụ quan tinh khiết” và sau đó - là hệ quả tự nhiên, trực tiếp và mạnh mẽ từ điều thứ nhất - về “nguyên lực thôi thúc tiến hóa từ sự giác ngộ về vũ trụ quan tinh khiết” đó. Vũ-trụ-quan-tinh-khiết là cơ sở của cách mạng tâm thức. Nguyên-lực-thôi-thúc-tiến-hóa-từ-sự-giác-ngộ-về-vũ-trụ-quan-tinh-khiết là cơ sở của cách mạng động lực tiến hóa. Cách mạng tâm thức là đêm trước của cách mạng động lực. Như mối quan hệ biện chứng giữa cặp phạm trù lý thuyết và thực tiễn, cách mạng tâm thức là cuộc cách mạng lý thuyết và cách mạng động lực là cuộc cách mạng thực tiễn. Cách mạng tâm thức - cách mạng lý thuyết không có mục dích tự thân. Cách mạng động lực - cách mạng thực tiễn có mục đích nội tại. Cách mạng tâm thức tạo điều kiện và thúc đẩy cách mạng động lực. Cách mạng động lực quyết định giá trị và ý nghĩa của cách mạng tâm thức. Như vậy, từ góc nhìn hành động, và xét đến cùng là điều chúng ta quan tâm nhất, vũ-trụ-quan-tinh-khiết chứa “năng-lực-thực-tiễn” về một vườn ươm mầm cho cuộc cách mạng động lực tiến hóa và ẩn tàng “sức-mạnh-thực-tế” để chỉ ra các kỹ năng sinh sống, hoạt động, rèn luyện thuận nguyên lý vũ trụ cho con người thông qua nguyên-lực-thôi-thúc-tiến-hóa-từ-sự-giác-ngộ-về-vũ-trụ-quan-tinh-khiết. Từ câu chuyện ý nghĩa triết lý của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 về nguyên-lý-sáng-tạo-thông-qua-“trung-giới”, chúng ta như chợt cảm nhận được rằng: cách thức nhân loại sáng tạo thực tiễn từ trước đến nay là “sáng-tạo-thực-tiễn-không-thông-qua-trung-giới”. Điều đó có nghĩa là, cho đến nay, về cơ bản, nhân loại chỉ mới biết đến sáng tạo thực tiễn trong nội-tại-hiện-thực-nhị-nguyên. Kết quả tốt nhất của sáng tạo thực tiễn trong khuôn khổ hiện-thực-nhị-nguyên là các sản phẩm nhị nguyên tốt nhất, bao hàm trong đó các cặp thái cực đối đãi đối lập. Chúng ta sẽ tiếp tục mạch suy luận về “năng-lực-sáng-tạo-thực-tiễn” của triết học nhất nguyên. Như trong phần trên đã nói, trong thực tiễn, để có được sự “phát-triển-thăng-hoa”, tức phát triển nhưng cố gắng tiết chế các hệ lụy nhị nguyên đối đãi tiêu cực, tương lai nhân loại cần đến triết học nhất nguyên, trong ý nghĩa mà chúng ta đang sử dụng của từ nhất nguyên, với tư cách một trong những sự bổ khuyết trong tiến trình từng bước hoàn thiện tư duy triết học. “Phương-thức-sáng-tạo-thực-tiễn” của triết học nhất nguyên này là câu chuyện gần giống cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Trước hết, cần nhận thức rằng có một “cảnh giới” nhất nguyên bên ngoài thực tại nhị nguyên hiện hữu mà chúng ta đang tồn tại với nhu cầu sáng tạo hiện thực. Tiếp theo, bằng các “thao tác tư tưởng”, chúng ta “tương tác” hai chiều với “cảnh giới” nhất nguyên. Tại “cảnh giới” nhất nguyên, chúng ta tạo ra một sự biến đổi về “khuôn mẫu”. Và sau đó, chúng ta di chuyển sự biến đổi về khuôn mẫu đó về thực tại nhị nguyên hiện hữu để sáng tạo hiện thực thông qua việc làm đầy các khuôn mẫu đó bằng chất liệu nhị nguyên. Đó là những nguyên lý tiền đề cơ bản của việc ứng dụng triết học nhất nguyên để sáng tạo hiện thực. Các “thao tác tư tưởng” vừa được trình bày trên có các nguyên lý vật lý - kỹ thuật liên quan. Các “gói thông tin lượng tử” là các hình thái tồn tại của tư tưởng. Xét các gói thông tin lượng tử trong trạng thái hạt. Một đặc điểm cơ bản của hạt là tiềm năng bức xạ. Không phải trong mọi trạng thái, hạt đều có khả năng thực hiện năng lực bức xạ. Hạt chỉ có khả năng thực hiện năng lực bức xạ, khi và chỉ khi, có năng lượng - và qua đó là thông tin - đủ lớn, từ hai loại nguồn: nội lực và tha lực. Cũng như bản chất lưỡng tính “sóng - hạt” của các vi thể cơ bản, các gói thông tin lượng tử có bản thể là các vi thể cơ bản, được xét ở đây trong tư cách hạt, cũng có bản chất lưỡng tính “sóng - hạt”. Trong mỗi trạng thái “sóng” hoặc “hạt”, chúng đều luôn phải tuân thủ các nguyên lý bản thể đối ứng của mình. Tương tự, bức xạ cũng có hai dạng: bức xạ dạng “sóng” và bức xạ dạng “hạt”. Bức xạ “sóng”, trong tư cách là một hình thái - hình thái thứ nhất - của bức xạ, đã trở thành nền tảng vật lý - kỹ thuật của rất nhiều thế hệ công nghệ thực tiễn từ nửa đầu thế kỷ XX, đầu tiên là trong y học, với các máy chụp X-quang. Bức xạ “hạt”, trong tư cách là một hình thái - hình thái thứ hai - của bức xạ, chính là nền tảng vật lý của các “thao tác tư tưởng” đã được mô tả trong phương thức sáng tạo thực tiễn của triết học nhất nguyên mà chúng ta đang đề cập. Khi được kích thích - với nguyên liệu là năng lượng và qua đó là thông tin - đúng phương thức và liều lượng, thông qua các loại nguồn nội lực và tha lực, dưới dạng đơn nguồn hoặc tổ hợp nguồn, “hạt” trong các gói thông tin lượng tử sẽ có thể phóng xạ dưới hình thái bức xạ hạt. Đây là cơ sở vật lý - kỹ thuật của các thao tác tư tưởng trong phương thức sáng tạo thực tiễn của triết học nhất nguyên đã nói trong phần trên. Sự trừu tượng hóa và khái quát hóa tiếp theo với mạch phân tích câu chuyện như trên có thể dẫn đến nhận xét ứng chiếu mang tính phương pháp luận quan trọng về mặt hình thái của hệ-quy-chiếu-nhận-thức. Các “hình thái thực tại vật lý cần biến đổi trong phương thức sáng tạo thực tiễn của công nghiệp 4.0” và “thực tại nhị nguyên hiện hữu mà chúng ta đang tồn tại với nhu cầu sáng tạo hiện thực trong phương thức sáng tạo thực tiễn của triết học nhất nguyên” vừa được trình bày trong các phần trên, chính là các hình thái bên trong “vương quốc của thế giới vĩ mô”, tức là các hình thái của thế giới vật lý. Chúng ta sẽ tiếp tục bằng phương pháp suy luận đối ứng, lồng ghép với các quá trình trừu tượng hóa và khái quát hóa trong tư duy đã dẫn đến nhận xét ứng chiếu mang tính phương pháp luận về mặt hình thái của hệ-quy-chiếu-nhận-thức trong phần trên. “Cấu trúc toán học nội tại của các thực thể vật lý trong phương thức sáng tạo thực tiễn của công nghiệp 4.0” và “các gói thông tin lượng tử là các hình thái tồn tại của tư tưởng bên trong cảnh giới nhất nguyên trong phương thức sáng tạo thực tiễn của triết học nhất nguyên” vừa được trình bày trong các phần trên, chính là các hình thái bên trong “vương quốc của thế giới vi mô”, tức là các hình thái của thế giới phi vật lý. Kết hợp với sự nhận xét về mối quan hệ giữa vũ trụ phi vật lý và vũ trụ vật lý mà trong các đoạn trên đã mô tả, rõ ràng, có thể rút ra một trong những nguyên lý tiền đề quan trọng mà chúng ta đang rất quan tâm trong tính thực tiễn của vũ trụ quan tinh khiết. Đó là: trên bình diện triết lý, không phải thế giới vĩ mô tức tính vật lý đã tạo ra và quyết định thế giới vi mô tức tính phi vật lý; mà, ngược lại, chính thế giới vi mô tức tính phi vật lý đã đã tạo ra và quyết định thế giới vĩ mô tức tính vật lý. Và, trong tinh thần biện chứng của sự vận động tuần hoàn có tính chu kỳ như vậy, đến lượt mình, thế giới vĩ mô tức tính vật lý sẽ tác động và thúc đẩy thế giới vi mô tức tính phi vật lý phát triển. Chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về tính khoa học của điều này. Thật vậy, khoa học đương đại và nhất là vũ trụ quan vi mô đương đại, đã mô tả tường minh cơ sở vật lý của sự chuyển hóa. Điều rất quan trọng đầu tiên cần nhấn mạnh về mặt phương pháp luận thực tiễn cần trình bày ở đây là: mọi sự chuyển hóa cơ bản đều chỉ có thể và bị bắt buộc phải diễn ra ở cấp độ vi mô. Nói cách khác, mọi sự chuyển hóa cơ bản đều không phải và không thể xảy ra ở cấp độ vĩ mô, Điều này có nghĩa là: nếu trong thực tiễn chúng ta muốn có sự chuyển hóa cơ bản thì không thể không chuyển đối tượng cần chuyển hóa từ trạng thái vĩ mô về trạng thái vi mô. Nếu không thông qua trung giới của trạng thái vi mô thì mọi yêu cầu chuyển hóa đều không thể diễn ra hợp quy luật. Các liều lượng được gọi là “chuyển hóa” ngoại lai trong nội bộ thế giới vĩ mô tức khuôn khổ nhị nguyên mà chúng ta đang thực hiện, chỉ là sự “tích lũy” về lượng chứ chưa phải sự thay đổi căn bản về chất, nên chưa phải là sự chuyển hóa cơ bản. Sự chuyển hóa được thực hiện trong thế giới vi mô và cấp độ nhất nguyên là chuyển hóa nội tại. Khái niệm tường minh và phổ biến của vật lý đương đại và vũ trụ quan vi mô đương đại dùng để mô tả môi trường để thực hiện sự chuyển hóa căn bản về chất trong thế giới vi mô, được gọi là “trường-lượng-tử-tương-đối-tính”. Xét trong tính vật lý là “trường-lượng-tử-tương-đối-tính” và xét trong tính triết học là “thế giới vi mô”, tại đây, có rất nhiều hiện tượng tự nhiên khác thường mà trong thế giới vĩ mô hoàn toàn không thể nào có được, do từ đặc thù cấu tạo bản thể của mình. Đối với các hiện tượng tự nhiên khác thường này, bằng lăng kính đơn thuần của vũ trụ quan vĩ mô đương đại, chúng ta sẽ thấy rất khó hiểu, thậm chí sẽ không thể hiểu được. Nhưng, sứ mệnh và thông điệp của các hiện tượng tự nhiên khác thường này - trong trường lượng tử tương đối tính và trong thế giới vi mô - lại vô cùng to lớn và mang tính cách mạng sâu sắc. Hiện tượng hai “hạt” photon có năng lượng đủ lớn gặp nhau biến thành một cặp “hạt - phản hạt” và hiện tượng một cặp “hạt - phản hạt” gặp nhau sẽ biến thành hai “hạt” photon có năng lượng đủ lớn, chính là một cặp đối ứng trong những hiện tượng tự nhiên vô cùng đặc biệt và quan trọng như vậy, chỉ có thể và bị bắt buộc phải diễn ra trong nội tại thế giới vi mô. Cần nói rõ: photon là “hạt” không có khối lượng và cặp hạt - phản hạt (electron - positron) là “hạt” có khối lượng. Ý nghĩa triết học quan trọng thứ nhất của hiện tượng “vật lý” này là ở chỗ: nó chỉ ra cơ sở và phương thức triết lý của sự chuyển hóa. Thông qua cơ sở và bằng phương thức này, vi mô (xét trong hình thái không có khối lượng) đã chuyển hóa thành vĩ mô (xét trong hình thái có khối lượng). Và từ đó, tất cả các cặp thái cực khác liên quan ở đây: tính phi vật lý/tính vật lý, chiều thuận của vũ trụ/chiều nghịch của vũ trụ, tiến hóa/thoái hóa đã chuyển hóa cho nhau. Ý nghĩa triết học quan trọng thứ hai cần dề cập ở đây của hiện tượng “vật lý” này là ở chỗ: nó chỉ ra đối tượng, cơ sở và phương thức triết lý của sự bức xạ dạng “hạt” của vũ trụ. Trong vũ trụ mà chúng ta đang sinh sống, có bốn loại lực cơ bản; lực điện từ, lực hấp dẫn, lực tương tác yếu và lực tương tác mạnh. Hai loại lực đầu hoạt động dựa trên cơ sở cơ bản là sự bảo tồn bản thể nguyên tử. Hai loại lực sau hoạt động không dựa trên cơ sở cơ bản là sự bảo tồn bản thể nguyên tử, do chúng chỉ hoạt động và tác động thông qua kênh tương tác hạ nguyên tử. Như khoa học vật lý đương đại đã mô tả, chúng ta thấy chỉ có trong thang hạ nguyên tử mới tồn tại “các-hình-thái-đối-đãi-và-đối-lập-trong-thể-thống-nhất-về-mặt-triết-học” với các hạt cơ bản. Mà cho đến nay, nhân loại đã bước đầu phát hiện và mô tả được ba hình thái lớn thuộc nhóm “các-hình-thái-đối-đãi-và-đối-lập-trong-thể-thống-nhất-về-mặt-triết-học” với các hạt cơ bản, đó là: “phản hạt”, “hạt ảo” và “phản hạt ảo”. Về nguyên lý, đây chính là các thành tố mang các cơ chế tương tác mang tính “hộp đen” trong nhận thức luận về thực tại “phi vật lý” của vũ trụ toàn thể. Trong ngôn ngữ đương đại của nhân loại, ở chừng mực đại chúng phổ thông, với tính thiếu chuẩn xác và chưa đầy đủ, nhằm mục đích hữu dụng và phổ dụng, chúng ta có thể tạm gọi các lực điện từ và hấp dẫn thuộc nhóm lực của vũ trụ vật lý; và, các lực tương tác yếu và tương tác mạnh thuộc nhóm lực của vũ trụ phi vật lý, với các luận bàn dưới đây. Chỉ có trong thang hạ nguyên tử, mới tồn tại những hạt không có khối lượng. Điều quan trọng cần lưu ý, hai loại lực theo thứ tự đứng sau trong bốn loại lực kể trên của vũ trụ, gồm lực tương tác yếu và lực tương tác mạnh, là nhóm lực tương tác không liên quan đến khối lượng. Chỉ có nhóm lực tương tác không liên quan đến khối lượng mới có hình thái bức xạ hạt. Nói cách khác, bức xạ hạt là dạng bức xạ có thể biến hóa đối tượng tương tác từ “trạng thế” có khôi lượng thành không có khối lượng và ngược lại. Chính vì lý do đó, bức xạ hạt - hình thái bức xạ duy nhất, khác với bức xạ sóng - là cơ sở vật lý và triết học của sự tương tác “liên-xuyên” trong nội tại vũ trụ toàn thể, giữa vũ trụ phi vật lý và vũ trụ vật lý, giữa vũ trụ vi mô và vũ trụ vĩ mô. Thật vậy, nhóm lực điện từ và hấp dẫn là nhóm lực thuộc về vũ trụ vĩ mô và nhóm lực tương tác yếu và tương tác mạnh là nhóm lực thuộc về vũ trụ vi mô. Nhóm lực điện từ và hấp dẫn không thể điều chỉnh vũ trụ vi mô, nhưng nhóm lực tương tác yếu và tương tác mạnh có thể điều chỉnh vũ trụ vĩ mô. Trong phần trên, chúng ta đã nói về bản thể lưỡng tính sóng - hạt của các vi thể cơ bản. Thật ra, đây chỉ mới là cách phát biểu định tính. Để tìm hiểu định luợng về điều này, chúng ta sẽ đí sâu hơn vào các cơ sở của bản thể lưỡng tính này trên bình diện vật lý. Chính yếu tố tần số, hoặc trong một ý nghĩa khác là bước sóng với giá trị tỷ lệ nghịch đảo với tần số, đã tạo ra sự lưỡng tính này. Tuy nhiên, để tìm hiểu định luợng về các trang thế lưỡng tính này, chúng ta cần bắt đầu từ khái niệm “lượng-tần-số”. Thật vậy, các trạng thế lưỡng tính sóng hạt - tức tình trạng các vi thể cơ bản ở trong các “trạng thái tiền tương tác” mang tính vừa là hạt vừa là sóng - thể hiện rõ nhất tại một khoảng không-thời gian, mà ở đó, lượng tần số là không quá nhặt hoặc không quá khoan. Như vật lý lượng tử đã mô tả, khoảng không-thời gian này được xác định là khoảng không-thời gian nằm giữa hai cực tần số (cực quá nhặt hoặc cực quá khoan). Chúng ta sẽ xem xét tình hình ở hai cực tần số quá nhặt hoặc quá khoan. Tại một đầu khi tần số quá nhặt, tính sóng sẽ thể hiện rất rõ, rất mạnh, một cách rất đặc trưng, và chứa đựng lượng năng lượng rất lớn. Và tại đầu còn lại, khi tần số quá khoan, tính hạt sẽ thể hiện rất rõ, rất mạnh, một cách đặc trưng, và trong nguyên lý tương ứng và đối xứng của vũ trụ, sẽ chứa đựng lượng thông tin rất lớn. Điều quan trọng là, ở cả hai khu vực thái cực này, tính lưỡng tính sóng - hạt thể hiện rất yếu. Và, điêu quan trọng cần nói ở đây là, ngay tại các đỉnh đầu của thái cực, các vi thể cơ bản không còn tính lưỡng tính sóng - hạt. Nói cách khác, xét về “kiểu-tương-tác”, trong sự tương tác giữa hai đối tượng tương tác thông qua“lượng-tần-số”, sự cực đại của tần số tương tác sẽ tạo thành hình thái tương tác dạng sóng điển hình, và sự cực tiểu của tần số tương tác sẽ tạo thành hình thái tương tác dạng hạt điển hình. Và, từ trong sự tương tác và cùng với sự tương tác như là phương thức tồn tại, vận động và phát triển của mình, đối tượng tương tác sẽ tự biến hóa mình về mặt bản thể, để trở thành như là sóng hoặc hạt, tùy theo cách mà chúng tương tác với các đối tượng tuơng tác khác. Theo ý nghĩa này, bản thể không phải là một nguyên lý hoặc tính chất tiên nghiệm và cố định của “chất” hoặc “trường” trong tư cách là hai khái niệm cơ sở của cơ học cổ điển. Trong tinh thần biện chứng, rõ ràng, bản thể hình thành và vận động cùng phương thức tương tác, thông qua sự biến thiên của kiểu-tương-tác và xét đến cùng từ lượng-tần-số tương tác. Đến đây, sự khái quát sẽ dẫn đến điều cần rút ra, hình thái tương tác dạng hạt là hình thái tương tác cơ bản và chủ yếu trong vũ trụ phi vật lý, ở cả hai trường nhị nguyên và nhất nguyên. Do đó, chính hình thái bức xạ dạng hạt, mới tiềm chứa năng lực tươmg tác liên-xuyên giữa vũ trụ nhất nguyên và vũ trụ nhị nguyên. Nói cách khác, hình thái bức xạ sóng là hình thái bức xạ quen thuộc với nhân loại, nhưng đây cũng là hình thái bức xạ có giới hạn đỉnh trần. Đỉnh trần giới hạn - về mặt triết lý của triết học nhất nguyên - của hình thái bức xạ sóng là, chúng có và chỉ có năng lực tương tác trong nội tại vũ trụ nhị nguyên và nói cụ thể hơn là trong nội tại bộ phận vũ trụ vật lý của vũ trụ nhị nguyên. Nhóm lực thang nguyên tử, gồm lực điện từ và hấp dẫn, tức các loại lực tồn tại phổ biến và dễ thấy trong vũ trụ vĩ mô, có nguyên liệu cơ sở của lực là năng lượng. Ngược lại, nhóm lực thang hạ nguyên tử, gồm lực tương tác mạnh và lực tương tác yếu, hoạt dộng trong trường lượng tử tương đối tính và thế giới vi mô, không thể cảm nhận được bằng các giác quan thông thường trong vũ trụ vĩ mô, có nguyên liệu cơ sở của lực là thông tin. Bức xạ “hạt” chính là bức xạ “thông tin”. Hạt và các hình thái lực (bức xạ) của nó, chính là hình thái tiềm năng của thông tin. Thật vậy, trong tác phẩm “Lỗ đen: các bài thuyết gỉang trên đài”, Nhà xuất bản Trẻ, 2017, Nguyễn Tuấn Việt dịch, In lần thứ hai, (nguyên bản: “Black holes: The BBC reith lectures”) của Stephen Hawking, trang 31 – 33, đã chỉ rõ: “… thông tin, theo nghĩa vũ trụ học của thông tin: ý tưởng mọi hạt và mọi lực trong vũ trụ đều hàm chứa một câu trả lời cho câu hỏi có-hay-không… Ghi chú: Thông tin, trong bối cảnh này, mang ý nghĩa là tất cả những chi tiết của mọi hạt và mọi lực gắn với một vật…” Nguyên liệu thông tin từ hình thái tiềm năng chỉ có thể biến hóa thành hình thái bản thể khi được diễn dịch thông qua vai trò của nhân tố con người. Bộ não người chính là một trong những hình thái “thiết bị” giải mã thông tin. Thậm chí, để thực hiện chức-năng-tự-thân này, trước, trong và sau đó, bộ não người còn phải thực hiện thêm một chức-năng-mang-tính-phương-tiện khác, đó là “thiết bị” tiếp nhận bức xạ hạt và thực hiện tái bức xạ hạt phái sinh - nhiều bậc tuần hoàn trong tính chu kỳ - từ và đến vũ trụ toàn thể. Cần nói rõ, bộ não này - và từ đó trong ý nghĩa phái sinh nhưng không phải vì thế mà kém phần nghiêm ngặt là chủ nhân ông của nó tức con người cá thể - phải thực hiện chức năng tự thân và chức năng mang tính phương tiện này trong hai yêu cầu tự nhiên - khách quan, có ý nghĩa như là điều kiện “bảo hành” của nhà sản xuất. Điều kiện thứ nhất, phải thực hiện chức năng tự thân và chức năng mang tính phương tiện này trong tư cách thành tố biệt phái hữu cơ nôi tại trong vũ trụ toàn thể và cùng vũ trụ toàn thể. Điều kiện thứ hai, phải thực hiện chức năng tự thân và chức năng mang tính phương tiện này trong tư cách của một thể vận động. Nói nôm na, không được quên nguồn và không được quên thể. Nếu quên nguồn, sẽ rơi vào vũ trụ luận phi toàn thể. Bài học ở đây là biết ta mà không biêt người. Nếu quên thể, sẽ lý luận hóa theo nghĩa đóng băng hóa tuyệt đối mọi “thế năng” và “động năng” phương pháp luận mềm mại uyển chuyển lưu dẫn là hình thái chân thể luôn đang tiềm chứa dâng trào và mãnh liệt trong mọi tri thức nói chung và kiến thức nói riêng. Bài học ở đây là câu nói của Gớt, mọi lý thuyết đều màu xám chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi. Chúng ta thấy, trong thực tiễn, cả hai tình huống nêu trên đều liên quan trực tiếp, và xét đến cùng, gần như là duy nhất, đến và từ bộ não (người). Thật vậy, đến ngày nay, hơn mọi lúc nào hết trong lịch sử vũ trụ và lịch sử loài người, từ việc con người là chủ nhân không thể hoán đổi của bộ não người, nên nhân tố con người ngày càng có một vai trò hữu cơ đặc biệt quan trọng và còn hơn thế nữa trong sự vận động phát triển đi lên không ngừng của họ trong và cùng vũ trụ toàn thể. Đi sâu vào trong cấu trúc nội tại của bộ não người, chúng ta thấy bán cầu não phải đang chứa đựng những mã khóa cơ sở và cơ bản về vị trí và vai trò của nhân tố con người bên cạnh các chức năng nhiệm vụ vô cùng quan trọng khác của bán cầu não trái mà chúng ta đã biết trên hành trình tiến hóa của con người trong và cùng vũ trụ toàn thể. Đây là một trong những nguyên lý quan trọng của vũ trụ quan toàn thể làm tiền đề nhân bản luận để giải quyết các hệ lụy hiển hiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Cặp phạm trù tư tưởng và thông tin, là hai trạng thái hình như đối lập, trong khuôn khổ nhận thức luận truyền thống, với đặc điểm và phương thức nhị phân gần như tuyệt đối giữa chủ thể và khách thể nhận thức. Trong nhận thức toàn thể luận, với đặc điểm và phương thức thông-qua-nhiều-cấp-độ-khác-nhau trong sự hội-nhập giữa chủ thể và khách thể nhận thức, các “thao tác tư tưởng” chính là sự sáng tạo với các “gói thông tin lượng tử”, trong hoạt động bức xạ hạt hai chiều tuần hoàn phát triển, với đối tượng nhận thức. Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là, trong nhận thức toàn thể luận, người quan sát và đối tượng quan sát thực hiện các hoạt động tư tưởng và thông tin trong tư cách hai hình thái của một chỉnh thể mang tính hệ thống, như hai mặt đối lập nhưng thống nhất của một đồng tiền. Thật vậy, sự gia phóng bổ sung bằng thao tác sáng tạo của não người, nhất là thông qua sự phát huy vị trí và vai trò của bán cầu não phải trong mối quan hệ thống nhất hữu cơ với bán cầu não trái, chính là hoạt động tạo ra bối cảnh “thăng hoa” và trạng thái “năng lượng đủ lớn” phái sinh, trong hiện tượng hai hạt photon có năng lượng “đủ lớn” gặp nhau biến thành một cặp hạt - phản hạt và hiện tượng một cặp hạt - phản hạt gặp nhau sẽ biến thành hai hạt photon có năng lượng “đủ lớn”, chỉ có thể và bị bắt buộc phải diễn ra trong nội tại thế giới vi mô, mà chúng ta đã nới đến trong phần trên. Với tiềm năng bức xạ tự thân chứa trong các hạt cơ bản, khi được gia phóng bổ sung bằng thao tác sáng tạo của não người, thông qua hoạt động tương tác qua lại giữa hai bán cầu đại não trong đó có vai trò phát động chuyển hóa của não phải, các gói thông tin lượng tử đã “thăng-hoa-đủ-lớn” sau các thao tác tư tưởng của con người, trong tư cách vũ trụ vi mô hoặc/và vũ trụ nhất nguyên, sẽ tương tác thông qua phương thức bức xạ dạng hạt với vũ trụ vĩ mô hoặc/và vũ trụ nhị nguyên. Quá trình nở loãng của vũ trụ sau vụ nổ lớn là quá trình tiến hóa và quá trình cô đặc từ khi vũ trụ biến thành lỗ đen là quá trình thoái hóa. Chiều vận động thuận của vũ trụ là đi từ tiến hóa đến thoái hóa. Chiều vận động nguyên khởi và căn bản của vũ-trụ-mà-chúng-ta-đang-sinh-sống-và-hoạt-động-thực-tiễn-sau-vụ-nổ-lớn đã được nghiên cứu và xác nhận là chiều nở loãng. Điều đó chứng tỏ rằng: chúng ta - trong tư cách nhân tố con người - đang sống trong một vũ trụ hoặc/và vũ trụ bộ phận đang có chiều vận động tiến hóa. Trong một vũ trụ hoặc/và vũ trụ bộ phận có chiều tiến hóa như vây, chắc chắn sẽ có những quy luật đặc thù khác hơn trong một vũ trụ hoặc/và vũ trụ bộ phận có chiều vận động thoái hóa. Mà những quy luật đặc thù này, chính là những nguyên lý tiền đề mà chúng ta - trong tư cách nhân tố con người - bắt buộc phải tuân thủ. Khái quát lại, triết học nhất nguyên, với nội hàm chúng ta đang đề cập, là lý luận và khoa học phổ quát, nghiên cứu và ứng dụng về chân thể vũ trụ với hệ thống nguyên lý trong hình thái tiềm năng phát triển, là nguyên liệu, môi trường và phương thức của thế giới nhất nguyên, nhằm tạo ra và quyết định tất cả mọi bản thể và chiều kích vận hành đa chiều, mang tính toàn thể và hài hòa trong mâu thuẫn và thống nhất, của vũ trụ, nhân loại, con người, trong thế giới nhị nguyên. Khái niệm “phát triển” được dùng trong định nghĩa triết học nhất nguyên trên đây là theo nghĩa tổng quát nhất của sự phát triển. Khái niệm phát triển đó hàm chứa quá trình “thực diễn sự chuyển hóa về chất” để có được sự phát triển theo nghĩa rộng, được biểu diễn theo trục dọc, tức sự thăng hoa, trong mối liên hệ phổ quát - trong vũ trụ toàn thể và cùng vũ tru toàn thể, đã được trình bày trong phần đầu của tiểu luận này. Việc chuyển đổi từ cách quan sát theo trục ngang - của “sự tích lũy về lượng của khuynh hướng phát triển”, tức sự phát triển theo nghĩa hẹp, sang cách quan sát theo trục dọc - của “thực diễn sự chuyển hóa về chất” để có được sự phát triển theo nghĩa rộng, là một sự kiện nhận thức luận quan trọng. Đó chính là một hình thái và phương thức của việc mở rộng hoặc thay đổi hệ quy chiếu nhận thức, khi muốn mở rộng nhận thức hoặc thay đổi hiện thực, trong bối cảnh, điều kiện “tổng lượng kiến thức” đã đạt đến một “giới hạn” về “chất”. Trong phương thức quan sát theo trục dọc của hệ quy chiếu về sự phát triển, chúng ta sẽ được mục kích những chiều kích khác biệt và hoàn toàn mới lạ của sự phát triển. Con sâu kén bò theo trục ngang trên chiếc lá - lúc đầu là bé nhỏ, về sau trở thành chật hẹp - nay đã thoáng chốc vươn mình, thoát thai thành bướm để bắt đầu chấp chới bay lên trên không gian bao la theo trục dọc của hệ quy chiếu - một hệ quan sát thanh thoát mới. Con sâu chưa trở thành bướm chỉ là một giai đoạn ngắn, trạng thái quá độ, mà sự vận động khuôn khổ riêng có của giai đoạn này được phản ảnh ở chừng mực giới hạn của khái niệm phát triển theo nghĩa hẹp, được biểu diễn theo trục ngang, miêu tả “sự tích lũy về lượng của khuynh hướng phát triển”, đã được trình bày trong phần đầu của tiểu luận này. Với ý nghĩa đó, hệ quan sát theo trục dọc, đó là hướng nhìn theo mối liên hệ phổ quát - trong vũ trụ toàn thể và cùng vũ tru toàn thể. Phát triển - theo nghĩa rộng - là sự vận động tự thân không ngừng, đi từ nhất nguyên đến nhị nguyên và ngược lại, biến hóa đa chiều, tuần hoàn xoáy ốc, có thì phát động và chiều thuận nghịch, xuyên qua các chu kỳ tiến hóa và thoái hóa, trong vũ trụ toàn thể và cùng vũ trụ toàn thể, của một/mỗi và mọi sự vật hiện tượng. Nguyên năng của sự phát triển có bốn cấp độ: quán năng (biểu hiện thành quán tính) duy trì sự vận động, biến năng tăng giảm về xung lực, hóa năng chuyển hóa về chiều hướng và thăng năng phát tiết sự sáng tạo, tàng chứa rời rạc và chỉ có thể tựu thành hợp nhất thành nguyên năng toàn thể tại bình diện vi mô, trong những điều kiện chỉnh thể nhất định. Xét theo mối liên hệ phổ quát - trong và cùng vũ tru toàn thể, và trong mối quan hệ tương ứng với nhân tố con người - của hoạt động thực tiễn (là vấn đề mà chúng ta đang quan tâm), sự phát triển có hai hình thái biểu hiện mang tính nguyên lý và quy luật cơ bản. Thăng hoa, là hình thái thứ nhất của sự phát triển, xét theo tâm thức của người quan sát - chiều kích trục dọc. Với ý nghĩa đó, trong thực tiễn đời sống, có sự cần thiết về điều chỉnh hệ quy chiếu nhận thức từ chiều kích trục ngang sang chiều kích trục dọc. Sáng tạo, là hình thái thứ hai của sự phát triển, xét theo kiểu thức của sự vận động - khi sự phát triển được gia phóng bổ sung bằng nhân tố con người, có công đoạn chủ yếu diễn ra tại bình diện vi mô hoặc/và bình diện nhất nguyên, nhằm hoàn thiện những điều kiện chỉnh thể, để hợp nhất bốn cấp độ của nguyên năng thành nguyên năng toàn thể, phục vụ cho sự phát triển. Với ý nghĩa đó, trong thực tiễn đời sống, mọi sự sáng tạo thông qua con người (phân biệt với trí tuệ nhân tạo), dựa trên cơ sở chiều đi từ tính phi vật lý đến tính vật lý, đều là sự vận động thuận nguyên lý vũ trụ và ngược lại. Triết học về sự phát triển là một ngành lý luận - bao gồm phương pháp luận, nhận thức luận - và khoa học phổ quát, phổ dụng, với nội hàm rộng của khái niệm phát triển. Triết học phát triển bao hàm trong đó các kết quả nghiên cứu và ứng dụng của triết học nhất nguyên - với nội hàm chúng ta đang đề cập của khái niệm nhất nguyên - và tất cả các nền tảng triết học khác, theo tiến trình thời gian và trên bình diện không gian của nhân loại. Sự ra đời và tồn tại của nó là thiết yếu cho chặng đường phát-triển-thăng-hoa đầy kịch tính và thách thức trong giai đoạn hiện nay và sắp tới của mỗi quốc gia dân tộc và toàn nhân loại với tư cách một trong những sự bổ khuyết trong tiến trình từng bước hoàn thiện của nền triết học tổng hòa của nhân loại. Sâu xa hơn, không chỉ được trực tiếp bổ khuyết từ triết học về sự phát triển, nền triết học tổng hòa trong chừng mực trình độ giai đoạn đương đại của nhân loại còn được hợp thành dựa trên cơ sở tổng - tích hợp của các thành tựu khoa học mới nhất của nhân loại - mà chúng ta những người trong thế hệ hôm nay may mắn được là người quan sát tổng hợp. Hệ thống tri thức khoa học mới nhất - đã và đang ảnh hưởng, tác động đến nhóm-hành-trang-tư-tưởng của con người và loài người (bao gồm nhận thức luận, phương pháp luận và lý luận) và qua đó đến bản chất và bản thể của nền triết học tổng hòa trong chừng mực trình độ giai đoạn đương đại của nhân loại - đã và đang được trải rộng trên các lĩnh vực. Theo cảm nhận bước đầu hạn chế của chúng tôi, cần có những nghiên cứu liên - xuyên ngành có mục tiêu, để tiếp tục phát hiện và tổng hợp có hệ thống để vượt qua giai đoạn cảm nhận tiến đến thức nhận các lượng tri thức này, trong các thành tựu khoa học mới nhất của nhân loại, đã ảnh hưởng và tác động đến bản chất và bản thể, nhằm phục vụ chấn hưng nền triêt học tổng hòa trong chừng mực trình độ giai đoạn đương đại của nhân loại. Sự giải mã khoa học tức thao tác hoán chuyển và quy đổi hệ chiếu nhận thức. Phương thức giải mã khoa học sẽ giúp chúng ta phát hiện được các lượng tri thức khoa học đương đại đã, đang và sẽ ảnh hưởng, tác động đến nhóm-hành-trang-tư-tưởng của con người và loài người, và qua đó đến bản chất và bản thể của nền triết học. Thật vậy, các vi thể cơ bản của vũ trụ có bản thể lưỡng tính tự nó và tiềm năng hoán đổi bản thể qua lại trong tính lưỡng thể tự nó. Các hình thái đơn vị của trạng thái cơ sở của năng-lượng phổ quát, mang giá trị hoán đổi, với các hình thái đơn vị của trạng thái cơ sở của thông-tin phổ quát. Năng lượng và thông tin hoán đổi cho nhau, theo các giá trị hoán đổi, sẽ kết thông giữa khoa học và triết học và ngược lại. Sự giải mã thông điệp trong tính khoa học trước hết là sự phối kết các hệ chiếu nhận thức. Thật vậy, quá trình giải mã chính là quá trình tìm kiếm và phát hiện ra các giá trị hoán đổi này giữa năng lượng và thông tin từ phương thức “cùng-đứng-đồng-thời-trên-nhiều-hệ-chiếu-nhận-thức” trong một vũ trụ đa chiều toàn thể. Bởi, chỉ với phương thức cùng-đứng-đồng-thời-trên-nhiều-hệ-chiếu-nhận-thức trong một vũ trụ đa chiều toàn thể, chúng ta mới có thể cảm nhận được mối liên hệ phổ quát tự nhiên tự nó vốn có của vũ trụ đa chiều toàn thể. Sau khi tìm được các “mật mã giá trị hoán đổi” mà trước đó được “ẩn nghĩa”, chúng ta sẽ giải mã được sự ngẫu nhiên. Bởi, theo các truyền thống triết học đương đại, khái niệm ngẫu nhiên được hiểu theo nghĩa là sự vô nghĩa trong các mối liên hệ, thì trên lý thuyết, sẽ không còn vô nghĩa trong các mối liên hệ sau khi được giải mã. Điều này không đồng nghĩa với việc là ngay lập tức chúng ta sẽ tìm ra được tất cả mọi mật mã giá trị hoán đổi giữa các hệ chiếu của mọi mã khóa. Tuy nhiên, về nguyên tắc, điều này khẳng định rằng, trên bình diện triết học, không có khái niệm ngẫu nhiên tuyệt đối. Theo các truyền thống triết học đương đại, khái niệm ngẫu nhiên (theo nghĩa ngẫu nhiên tuyệt đối) đang được sử dụng theo nghĩa là trạng thái vô thứ tự hoặc không gắn kết giữa một vật với các sự vật hiện tượng còn lại trong vũ trụ đa chiều toàn thể. Thật ra, xét theo nghĩa “lượng-ngẫu-nhiên-tương-đối”, đây chỉ là kết quả của một trong những trạng thái, trong không - thời gian tương đối, khi chúng ta chưa tìm ra và qua đó là còn thiếu một hoặc nhiều hệ quy chiếu nhận thức tương ứng nhằm phục vụ cho việc phát hiện ra các giá trị hoán đổi giữa các hệ chiếu nhận thức này trong một vũ trụ đa chiều toàn thể, đối với sự vật hiện tượng đang cần được nhận thức. Nói cách khác, đây là hiện tượng mà các mã khóa bên trong sự vật hiện tượng đang cần được nhận thức chưa được giải mã khoa học. Do vậy, mỗi bước vượt qua được các hình thái “ngẫu nhiên tương đối” nào đó của nhân thức luận, chúng ta sẽ đồng thời thực hiện được hai việc: một là giải thích và hai là dự báo - trong ý nghĩa triết học - từ sự ra đời, tồn tai, vận động và phát triển, của sự vật biện tượng đó. Sự giải mã khoa học sẽ tạo ra hiệu ứng tỏa sáng. Giải mã khoa học sẽ tìm ra cái còn thiếu trong câu chuyện về những “mảnh ghép” trong bức tranh về một vũ trụ quan toàn thể, rằng có những mảnh ghép rất đẹp, thậm chí có thể thấy là hoàn hảo, một mình, trong chừng mực trình độ ngày nay, tuy nhiên hình như vẫn còn thiếu thiếu một cái gì đó từ mối liên hệ giữa những mảnh ghép rất đẹp này vói bức tranh toàn thể. Sự tỏa sáng có đặc điểm là không hề tạo ra cái gì mới, nhưng năng lực tỏa sáng của một mảnh ghép sẽ ánh lên sự toàn thể của bức tranh từ vị trí mảnh ghép đó. Do không hề tạo ra các “sự vật” mới, nên giải mã khoa học không thiết yếu cần đến các “nguyên liệu” trong quy trình “sản xuất” của sự nhận thức, là các sản phẩm trung gian có được thông qua quá trình nhận thức thông thường đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, trong cách nhị phân truyền thống các thành tố nhận thức. Thực chứng và tư biện tạo nên tư duy khoa học, trải nghiệm và chứng nghiệm giúp cho giải mã khoa học. Tư duy khoa học là công cụ không thể thay thế trong vũ trụ vật lý. Giải mã khoa học là sự tìm kiếm trong vũ trụ phi vật lý. Mà vũ trụ toàn thể không chỉ là sự tổng-tích hợp, mà còn là sự tổ hợp hữu cơ, giữa vũ trụ vật lý và vũ trụ phi vật lý. Khoa học và triết học là những hệ thống mở. Trong số những lượng tri thức khoa học đương đại đã và đang ảnh hưởng, tác động đến nhóm-hành-trang-tư-tưởng của con người và loài người, và qua đó đến bản chất và bản thể của nền triết học, trong khuôn khổ cho phép của tiểu luận này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến các liều lượng nội dung mang tính tiền đề có ảnh hưởng trực tiếp, như: cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vai trò của vũ trụ quan vi mô đương đại,… Đó chính là các “lượng tử” lý luận và khoa học trong tính cơ sở bước đầu, đã và đang ảnh hưởng, tác động trực tiếp như “sự bức xạ dạng hạt” vào nền tảng tri thức của nền triết học tổng hòa trong chừng mực trình độ giai đoạn đương đại của nhân loại Nguyên lý cơ bản của nền triết học tổng hòa ấy dựa trên sự vận động tự thân không ngừng, đi từ nhất nguyên đến nhị nguyên và ngược lại, biến hóa đa chiều, tuần hoàn xoáy ốc, có thì phát động và chiều thuận nghịch, xuyên qua các chu kỳ tiến hóa và thoái hóa, trong vũ trụ toàn thể và cùng vũ trụ toàn thể của một/mỗi và mọi sự vật hiện tượng. Phương pháp luận chủ đạo của nền triết học tổng hòa ấy tổng - tích hợp và tổ hợp hữu cơ bao trùm lên tất cả các nền tảng lý luận, phương pháp luận, nhận thức luận của nhân loại, trong đó, quan tâm đến phương pháp biện chứng, phương thức trải nghiệm, cách thức thăng hoa và sáng tạo của nhân tố con người, trong và cùng vũ trụ toàn thể. Từ trên góc nhìn truyền thống của các nền tảng lý luận, phương pháp luận, nhận thức luận đương đại của nhân loại, chúng ta có thể thấy nền triết học tổng hòa ấy sẽ không quy giản về các hình thái triết học nhất nguyên, hoặc/và triết học nhị nguyên, hoặc/và triết học trung luận (chiết trung hay trung đạo), mà như tựa trên một khối tổ hợp hữu cơ tam giác triết học nhất nguyên luận, nhị nguyên luận và trung luận. Trong phần trên, từ những suy nghĩ chủ quan, chúng tôi đã mạnh dạn đề xuất về việc cần có những nghiên cứu liên - xuyên ngành có mục tiêu, để tiếp tục phát hiện và tổng hợp có hệ thống để vượt qua giai đoạn cảm nhận tiến đến thức nhận về bản chất của các lượng tri thức cập nhật mới nhất của nhân loại đang còn trong tình trạng mảnh ghép mang tính bộ phận hóa và rời rạc hóa rất cao, nên chưa thể nào thực hiện được các chức năng tỏa sáng, kiến tạo và khai phóng trong tổng lượng kiến thức đến nay của nhân loại. Thật vậy, chỉ có bằng những cách như vậy, chúng ta mới có thể thực hiện được sự tổ hợp hữu cơ giữa những thái cực nhị nguyên đối lập đang tồn tại trong thực tiễn vận động phát triển của nền văn minh nhân loại cho đến ngày nay như đã nói trong các phần trên. Một trong những nhóm lượng tri thức mới nhất của nhân loại đang còn trong tình trạng bộ phận hóa và rời rạc hóa cao, nên chưa thể nào thực hiện được các chức năng tỏa sáng, kiến tạo và khai phóng trong tổng lượng kiến thức đến nay của nhân loại, nhưng lại đang chứa đựng những mã khóa mang tính thông điệp rất cao và đậm đặc, đó là ngành vật lý thiên thể, với các khái niệm như: “vũ trụ song song”. Chúng ta biết, khối lượng riêng tại một vị trí trong “vật” được tính bằng khối lượng của một thể tích vô cùng nhỏ nằm tại vị trí đó, chia cho thể tích vô cùng nhỏ này. Nếu “chất” đó có thêm đặc tính là đồng chất, thì khối lượng riêng tại mọi vị trí là như nhau và bằng khối lượng riêng trung bình. Chúng ta sẽ tưởng tượng rằng khái niệm cơ bản nêu trên về khôi lượng riêng trong vật lý học truyền thống là một trường hợp riêng của thực tại. Và điều gì sẽ xảy ra khi có các trường hợp khác mang tính tổng hợp và khái quát hơn về trạng thái nguyên lý được phát biểu đơn giản dưới hình thái là khối lượng riêng này? Thật vây, nếu mở rộng ra khỏi hình thái đơn giản là khối lượng, khi chúng ta đã biết rằng thực tại vũ trụ này không chỉ đuợc cấu trúc bằng khối lượng mà còn bằng sự tồn tại phi khối lượng như đã nói trong các phần trên, thì, trong ý nghĩa rộng hơn và trong trường hợp rộng nhất của khái niệm “khối lượng riêng” này, chúng ta sẽ thấy nguyên lý xác suất của vận động lượng tử đang chứa đựng những mã khóa rất quan trọng. Điều này có nghĩa là: trong cơ học lượng tử, khái niệm “khối lượng riêng trung bình” đã bị vượt qua. Bởi, hai lý do đơn giản là: 1. vận động trong thang hạ nguyên tử bao gồm tổng hợp các trường hợp vận động có khối lượng và không có khối lượng; 2. nguyên lý bất định của cơ học lượng tử ngay từ đầu đã từ chối nguyên tắc đồng chất mang tính tiền đề của khái niệm khối lượng riêng trung bình này. Rõ ràng, nguyên lý xác suất về sự xuất hiện trong không gian và thời gian thông qua lăng kính của cơ học lượng tử đối với các vi thể cơ bản vá các hình thái đối lập và đối đãi của nó, sẽ tạo ra các hệ thống mở trong không-thời gian của các trạng thái “tồn-tại-xác-suất”, như một hệ thống “ma trận” về sự tồn tại - trong vũ trụ vi mô. Thật vậy, xét trong vũ trụ vi mô, từ khái niệm về sự “tồn tại xác suất”, chúng ta thấy, các hệ thống không-thời gian này không độc lập nhưng độc lập, không thống nhất nhưng thống nhất, trong một quan hệ đối đãi với nhau. Chính các hệ thống không-thời gian đối đãi này chứa trong nó nguyên lý về các vũ trụ song song, vừa đan xen vừa lồng ghép với nhau. Và điều quan trọng nhất ở đậy là: trong mối quan hệ toàn thể, chúng không thể tồn tại thiếu nhau. Chúng tồn tại vừa “trong nhau” và vừa “ngoài nhau”. Như đã nói, ngôn ngữ của vũ trụ vật lý - trong tính lịch sử của mình - không thể nào diễn tả triệt để và tận cùng được về trạng thái tồn tại vừa “trong nhau” và vừa “ngoài nhau” này của hệ thống các vũ trụ song song trong vũ trụ vi mô. Khái niệm về một cách thức “tổ hợp hữu cơ” là một trong những đề xuất bước đầu đề làm phương tiện trình bày nội dung về cách thức cấu trúc của mối quan hệ này. Và chính kiểu tồn tại này đã gợi ý cho chúng ta về một khái niệm dùng để chỉ phương thức cấu tạo, ở đây tạm gọi là: “tồn tại lượng tử” Như vậy, chính phương thức tồn tại lượng tử và cách thức tổ hợp hữu cơ là nguyên lý cấu tạo và cấu trúc của hệ thống các vũ trụ song song trong vũ trụ vi mô. Chúng ta thấy, chính sự khác biệt về “khối lượng riêng” đuợc tạo ra bởi “tính xác xuất” - trong sự tồn tại lượng tử của các “vũ trụ song song” - đã tạo ra sự “khúc xạ” về bản thể luận khi chúng ta cảm nhận và thức nhận về các vũ trụ song song này trong vũ trụ vi mô. Thật vậy, khi chúng ta đứng trong một hệ quy chiếu để nhìn về một hình ảnh tổng thể của một vật đi xuyên qua hai hoặc nhiều hệ quy chiếu, chúng ta sẽ thấy sự vật bị gãy khúc như khi nhìn chiếc đũa đang được cắm trong một cái ly có chứa một phần nước. Đây là một trong những sự miêu tả hình ảnh giản lược về sự tồn tại của các vũ trụ song song vi mô. Trong thực tế, cần nói rằng, “vũ trụ song song” là một khái niệm cho đến nay được các nhà khoa học vật lý lý thuyết sử dụng để luận giải về các luận đề, trong một số ngành vật lý lý thuyết chuyên sâu, mà một trong những ngành vật lý lý thuyết chuyên sâu mang chức năng cơ sở cho các ngành vật lý lý thuyết chuyên sâu khác, đặc biệt chú trọng khái niệm “vũ trụ song song” này, là ngành vật lý thiên thể. Tuy nhiên, dù vậy, qua các câu chuyện đến đây, rõ ràng, nhân loại chúng ta vẫn đang tồn tại và vận động trong một hệ thống mở các vũ trụ song song lồng ghép tuần hoàn phát triển, không chỉ ở thang vĩ mô mà còn ở cả thang vi mô, không chỉ trong “thể khách quan” mà cả trong “thể chủ quan” của mình theo cách diễn đạt nhận thức luận truyền thống. Chúng ta chỉ có thể thực hiện và thực hành một cách đúng đắn và thành tựu về sự phát triển, khi và chỉ khi - không chỉ từ thang vĩ mô mà cả ở thang vi mô - giải mã được các hình ảnh khúc xạ biểu kiến về các vũ trụ song song hữu cơ lồng ghép trong tính toàn thể, mà mỗi con người chúng ta vừa đang là cái bộ phận trong cái toàn thể, vừa đang chính là cái toàn thể đó trong vai trò tỏa sáng, kiến tạo, khai phóng đối với vũ trụ toàn thể. Chúng ta vừa khảo sát một trường hợp vận dụng các nguyên lý của triết học phát triển để thực hiện những nghiên cứu liên - xuyên ngành có mục tiêu, để tiếp tục phát hiện và tổng hợp có hệ thống để vượt qua giai đoạn cảm nhận tiến đến thức nhận về bản chất của các lượng tri thức cập nhật mới nhất của nhân loại đang còn trong tình trạng bộ phận hóa và rời rạc hóa cao, nên chưa thể nào thực hiện được các chức năng tỏa sáng, kiến tạo và khai phóng trong tổng lượng kiến thức đến nay của nhân loại, vừa được thực hiện trong ngành vật lý thiên thể, với khái niệm vũ trụ song song.. Một trong những hệ quả trực tiếp của trường hợp khảo sát về các vũ trụ song song này ở đây, là nhằm chỉ ra “cơ-sở-thực-tiễn” của những vấn đề lớn đã được trình bày trong tính hình thức luận khái quát và trừu tượng trong các phần trên của tiểu luận này, nhằm mục đích giúp cho các vấn đề trừu tượng có thể được miêu tả đơn giản hơn. Nói cách khác, việc nghiên cứu về sự tồn tại và ý nghĩa của các vũ trụ song song này sẽ giúp chúng ta có cơ sở để cảm nhận được đầy đủ hơn về các vấn đề, như: lý do của tình trạng tổng lượng kiến thức trong một vũ trụ song song bộ phận nào đó hoàn toàn có thể có các giới hạn hữu hạn; sự tồn tại thực tiễn của các hệ chiếu nhận thức đối đãi với nhau trong các vũ trụ song song và sự chuyển đổi cũng như giá trị chuyển đổi giữa chúng; lý do của việc cần thiết thực hiện đồng thời trong tính tổ hợp hữu cơ lồng ghép các kỹ thuật nhận thức như: thực chứng, tư biện, trải nghiệm, chứng nghiệm để nhận thức về vũ trụ toàn thể; yêu cầu “khách quan” của sự cần thiết thực hiện phương thức giải mã khoa học về mọi vấn đề quanh ta trong cuộc sống là do các vấn đề quanh ta cùng với chính ta thực ra chỉ đang tồn tại trong một bong bóng vũ trụ cụ thể trong quan hệ hữu cơ giữa toàn thể những bong bóng vũ trụ khác trong nguyên lý về hệ thống các vũ trụ song song của vũ trụ vi mô, v.v… Việc nghiên cứu về sự tồn tại và ý nghĩa của các vũ trụ song song này cũng sẽ giúp chúng ta có cơ sở để cảm nhận được đầy đủ hơn về các hiện tượng “vật lý”, như: sự chuyển đổi trạng thái của hiện tượng hai “hạt” photon có năng lượng đủ lớn gặp nhau biến thành một cặp “hạt - phản hạt” và hiện tượng một cặp “hạt - phản hạt” gặp nhau sẽ biến thành hai “hạt” photon có năng lượng đủ lớn, đây chính là một trường hợp và cách thức đặc thù của sự chuyển hóa giữa hai vũ trụ vi mô song song; hoặc tính lưỡng tính sóng hạt, các trạng thái của năng lượng và thông tin cũng chính là sự phản ánh đối với sự vật từ nhiều vũ trụ vi mô song song khác nhau; v.v,… Ngoài ra, việc nghiên cứu về sự tồn tại và ý nghĩa của các vũ trụ song song này sẽ còn giúp chúng ta có cơ sở để cảm nhận được đầy đủ hơn về các lý thuyết và các hệ thống lý luận đã được trích dẫn trong các phần trên, như: theo nghĩa vũ trụ học, thì thông tin là ý tưởng mọi hạt và mọi lực trong vũ trụ đều hàm chứa một câu trả lời cho câu hỏi có-hay-không, và thông tin là tất cả những chi tiết của mọi hạt và mọi lực gắn với một vật, thật vậy, bởi, đây chính là sự “phiên dịch” về các đồng bản thể từ các vũ trụ song song vi mô khác nhau nhưng tương ứng nhau về độ rung hay tần số dao động, v.v… Và, trong ý nghĩa khái quát nhất. sư tiến hóa và sự phát triển cũng chính là sự chuyển đổi giữa các vũ trụ song song vi mô với tần số dao động thanh thoát hơn và bước sóng ngày càng dài hơn giữa các không-thời gian hữu hạn của quá khứ với các không-thời gian hữu hạn của hiện tại và tương lai, của tự mỗi bản thể nào đó với chính mình, từ vũ trụ toàn thể, vũ trụ bộ phận, nhân loại toàn thể, đến mỗi con người cá thể. Với ý nghĩa như vậy, cách mạng tâm thức chính là cách mạng tri thức được diễn ra tại một vũ trụ song song vi mô có tần số dao động thanh thoát hơn cách-mạng-tri-thức-hiện-hữu-đang-làm-nền-tảng-cho-cách-mạng-tâm-thức tại một vũ trụ song song khác. Tạo điều kiện và thúc đẩy cách mạng tâm thức phát triển chính là khơi mở và khai phóng không gian khoa học để cách mạng tri thức có một gia tốc mới trên lộ trình phát triển thăng hoa tất yếu - trong vũ trụ song song của mình. Xét trong một ý nghĩa nào đó thì cách mạng tâm thức là cuộc cách mạng hạt nhân bên trong cách mạng tri thức, là cuộc cách mạng của cách mạng. Với mạch ý nghĩa như vậy, khi tác động vào cách mạng tâm thức, chúng ta sẽ có một “năng lượng hạt nhân” khổng lồ bùng nổ để tiếp tục phát triển thăng hoa công cuộc cách mạng tri thức đang diễn ra của mình, trước tầm vóc của những vấn đề thử thách to lớn đang đặt ra buộc chúng ta phải nhận thức và vượt qua. Trong một ý nghĩa khác, từ những ví dụ về mặt phương pháp luận vừa nêu ra, với sự vận dụng khái niệm vũ trụ song song vĩ mô trong vật lý thiên thể vào vũ trụ vi mô để giúp diễn dịch đơn giản hơn các khái niệm và vấn đề trừu tượng trong thực tiễn cuộc sống, chúng ta hoàn toàn có thể tiếp tục triển khai các nội dung tiếp theo và mở rộng để thực hiện những nghiên cứu liên - xuyên ngành có mục tiêu, để tiếp tục phát hiện và tổng hợp có hệ thống về bản chất của các lượng tri thức cập nhật mới nhất của nhân loại đang còn trong tình trạng mảnh ghép mang tính bộ phận hóa và rời rạc hóa cao, nên chưa thể nào thực hiện được các chức năng tỏa sáng, kiến tạo và khai phóng trong tổng lượng kiến thức đến nay của nhân loại. Triết học phát triển, về mặt học thuật, dù được cấu thành như các nền tảng lý luận, phương pháp luận, nhận thức luận truyền thống, tức mang tư cách cơ sở là nhận thức luận và lý luận, tuy nhiên, từ trong nguyên lý hình thành của mình, nó luôn cố gắng uyển chuyển đảm đương vai trò cơ bản là phương pháp luận về sự toàn thể. Với vai trò cơ bản là phương pháp luận về tính toàn thể này, nó sẽ luôn thường xuyên và không ngừng tự quy nạp các hệ thống tri thức có được xung quanh thành những mảnh ghép của bức tranh về sự toàn thể, theo phương thức “mảnh ghép hóa”. Trong tính chu kỳ, tuần hoàn và phát triển theo hình xoáy ốc, và rồi đến lượt mình, nó cũng sẽ tự biến hóa mình thành một mảnh ghép của sự toàn thể mới, trên lộ trình tiến hóa của từng cái bộ phận trong lộ trình tiến hóa của từng cái toàn thể trong các chu kỳ tiến hóa và thoái hóa tuần hoàn phát triển. Mảnh-ghép-bộ-phận-hóa và vũ-trụ-toàn-thể-hóa là các chu kỳ vừa song song vừa nối tiếp, không ngừng biến hóa và hoán đổi chức năng cho nhau, nhằm thực hiện các đại chu trình nhận thức phi toàn thể luận và toàn thể luận tuần hoàn phát triển của vũ trụ toàn thể đối với chính mình. Đó là một trong những nguyên lý cơ sở của phương thức vũ trụ toàn thể tự nhận thức./.
  5. LÝ HỌC VÀ TRIẾT HỌC HIỆN ĐẠI. Thưa quý vị và các bạn thân mến. Lần đầu tiên, tôi được biết đến một buổi tọa đàm liên quan đến nội dung triết học, thông qua hình thức thư mời vô danh (không mời đích danh) qua email của tôi. Kèm thư mời này là bài viết của Tiến sĩ Huỳnh Thanh có tựa là "Khái luận về triết học phát triển". Tôi không hiểu mấy đoạn sau nhà nghiên cứu này nói cái gì, nhưng chí ít đoạn mở đầu mà tôi trích dẫn lại dưới đây, quý vị và các bạn cũng thấy tác giả nói về một khái niệm gọi là "Vũ trụ quan toàn thế". Trong đó, tác giả xác định: "Vũ trụ quan toàn thể là quan niệm hoàn bị về một vũ trụ toàn thể tuần hoàn phát triển". Tác giả cũng nhắc đến các khái niệm về tính "nhất nguyên"; "nhị nguyên", đến trần thời gian - tức “bức tường Planck” vào thời gian trước 10[-43] sau giây O. Quý vị và các bạn có thể xem nguyên văn đoạn trích dẫn dưới đây: Thưa quý vị và các bạn. Như vậy, tất cả đoạn mở đầu của tác giả - Tiến sĩ Nguyễn Huỳnh Thanh - chỉ là sự nhắc lại những vấn đề khởi nguyên của vũ trụ được mô tả nhân danh nền văn hiến Việt, từ hàng chục năm trước trên diễn đàn Lý học Đông phương. Trong đó, chúng tôi đã xác định tính "nhất nguyên" của "Thái cực" trong kinh Dịch, của "Đạo" trong Đạo Đức Kinh. của "Tính thấy" - Như Lai tạng tính - trong minh triết Phật giáo. Chúng tôi cũng rất nhiều lần, nhắc đi nhắc lại rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là Lý thuyết thống nhất, chính là sự nhận thức "một lý thuyết vũ trụ quan toàn thể, với ý nghĩa là quan niệm hoàn bị thống nhất xuyên suốt về một vũ trụ toàn thể tuần hoàn phát triển" mà tác giả nói tới. Chúng tôi cũng rất nhiều lấn nói tới bản chất của tính "nhị nguyên" trong nhận thức của con người, có nguyên nhân thực tế khách quan là "Lưỡng nghi" trong sự mô tả khởi nguyên của vũ trụ. Và tính triết lý "nhị nguyên" trong toàn bộ nhân thức vũ trụ được hính thành bởi một cặp phạm trù là "Âm Dương" - tất nhiên: Nhân danh nền văn hiến Việt. Chúng tôi cũng rất, rất, rất nhiều lần nói đến tính quy luật tương tác trong sự vận động của vũ trụ. được mô tả bằng những mô hình biểu kiến của thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt - đã tạo nên khả năng tiên tri của nó. Bởi vậy, thật là thất vọng, khi đọc những hàng chữ sau đây: Vậy! Cuộc tọa đàm này đang bàn về cái gì? Tôi có một cảm giác về tính "kiêu ngạo học thuật" đang thống trị không gian học thuật. Có vẻ như người ta thích mô tả những gì mình biết và không quan tâm đến cái mình cần biết. SW Hawking khi sinh thời, ông đã để lại một tư tưởng bất hủ, khi phát biểu: Vài lời chia sẻ. Xin cám ơn vì đã quan tâm.
  6. LỜI TIÊN TRI ĐINH DẬU 2017: Đại ý: Năm nay, tuy tai nạn máy bay không nhiều như năm nào (rớt 5 chiếc , chiếc ít người nhất trên 150 người ở Đài Loan). Nhưng không phải không có đủ gây đau lòng.... http://cand.com.vn/the-gioi-24h/giat-minh-nhin-khoanh-khac-may-bay-nga-cung-71-nguoi-no-tung-o-moscow-478626/
  7. Thưa quý vị và anh chị em. Như thường lệ, hàng năm chúng tôi đều có một bài về một số lĩnh vực quan trọng trong cuộc sống và xã hội của thế giới. Năm nay Đinh Dậu Việt lịch 2017 cũng không ngoại lệ. Nhưng từ này đến Tết Đinh Dậu còn xa , nên để mở đầu để mục này, chúng tôi xin giới thiệu những lời tiên tri của một nhà tiên tri nổi danh của nền văn minh của chúng ta. Đó là Nostradamus. Chúng tôi sẽ có lời tiên tri của riêng mình vào những ngày cận Tết Đinh Dậu Việt lịch 2017. Cảm ơn sự quan tâm của quý vị và anh chị em. ==================================== Trái Đất sắp phải hứng chịu thảm họa gì vào năm 2017 theo lời tiên tri của Nostradamus? Trang Ly 20/09/2016 06:33 Hình minh họa. Liệu rằng, cuộc xâm chiếm Trái Đất của người ngoài hành tinh có xảy ra theo lời phán truyền đáng sợ của Nostradamus? Lời phán truyền khủng khiếp của nhà tiên tri Nostradamus về vận mệnh thế giới năm 2017 "TIÊN TRI" đanh thép về "căn bệnh" hơn 1 tỷ người mắc phải của Einstein... đã đúng! Bức họa hơn 500 năm tuổi của Da Vinci ẩn chứa lời tiên tri về "Ngày tận thế" Năm 2017 sắp đến, liệu những biến cố nào sẽ xảy ra trong tổng thể bức tranh xoay quanh tình hình chính trị, xã hội của thế giới khi năm 2016 đang dần kết thúc? Thời điểm cuối năm là lúc người ta ngồi lại đánh giá những gì đã qua trong 1 năm qua và có những dự báo gần nhất cho năm tiếp theo. Đối với nhà tiên tri đại tài người Pháp Michael Nostradamus (1503 - 1566), ông đã có thể "nhìn thấu" nhiều sự kiện đúng đến không thể ngờ trong tương lai cách đó hàng 5.000 năm! Nhà tiên tri đại tài người Pháp Michael Nostradamus (1503 - 1566). Trong bài viết "Rợn tóc gáy với lời tiên tri của Nostradamus về thế giới năm 2017", hàng loạt các sự kiện chính trị, xã hội, kinh tế được nhà tiên tri mà người cùng thời gọi là "Đầy tớ của ma quỷ" (vì những dự đoán đúng một cách không-thể-giải-thích-được của ông) phán truyền. Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả câu chuyện về vận mệnh của thế giới năm 2017. Còn một bí mật nữa mà người ta chưa gọi tên, đó là lời tiên tri về cuộc chiến tranh thế giới thứ 3 và cuộc xâm lược của người ngoài hành tinh đến Trái Đất năm 2017. Cuộc xâm chiếm của người ngoài hành tinh đến Trái Đất năm 2017? Sau hơn một nửa dự đoán đúng trong tổng 1.000 lời tiên tri của Nostradamus mà ông viết trong cuốn sách "Những lời tiên tri - Les Propheties" (1555), các học giả đi từ ngạc nhiên, bối rối đến quyết tâm nghiên cứu cuốn sách được nhà tiên tri người Pháp viết bằng thể thơ tứ tuyệt. Theo một học giả, người cho rằng có thể giải mã những vần thơ tứ tuyệt trong cuốn sách của Nostradamus thì, năm 2017 nhân loại sẽ phải hứng chịu cuộc xâm chiếm khổng lồ của người ngoài hành tinh. Cuốn sách "Những lời tiên tri - Les Propheties" (1555) của Nostradamus. Đoạn thơ cho thấy, người ngoài hành tinh đang chuẩn bị tổng lực để tấn công con người và Trái Đất. Phải chăng, nhân loại và Trái Đất sắp phải đón nhận một sự hủy diệt khủng khiếp? Trên thực tế, người ngoài hành tinh cùng những UFO bí ẩn luôn là những nghiên cứu còn bỏ ngỏ của con người trong nhiều thập niên qua. Câu hỏi, có người ngoài hành tinh hay không đang còn khiến các nhà khoa học điên đầu giải mã. Trong tương lai, liệu "họ" có xâm lược và chiếm lấy Trái Đất hay không? Thực sự là câu hỏi rất khó trả lời trong nay mai. Giải mã các câu thơ, vị học giả này cho biết thêm, Nostradamus dự đoán, trước khi xảy ra cuộc xâm chiếm xuyên hành tinh như vậy của người ngoài hành tinh, thế giới đang hỗn loạn trong cuộc chiến tranh thế giới thứ 3. Trước đó, trong loạt những tiên đoán về vận mệnh thế giới năm 2017, Nostradamus có đề cập đến những cuộc chiến tranh "nóng" xảy ra vì vấn đề nóng lên toàn cầu và thiếu hụt tài nguyên. Như sự đổ vỡ của quân cờ Domino, chiến tranh sẽ kéo theo khủng bố tràn lan cũng các cuộc chiến tranh sinh học hủy diệt. Bức tranh thế giới trong đôi mắt có khả năng "nhìn thấu" của Nostradamus quá ảm đạm. Người ngoài hành tinh sẽ xâm chiếm Trái Đất? Hình minh họa. Có một thực tế chúng ta phải chấp nhận rằng, vấn đề biến đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu đang thực sự trở thành bài toán vô cùng khó cho không chỉ một quốc gia mà hàng loạt nước trên thế giới. Sự gia tăng nồng độ khí nhà kính do chính con người chúng ta gây nên (từ các hoạt động như phá rừng, đốt nhiên liệu hóa thạch...) đã làm cho nhiệt độ Trái Đất ngày càng tăng cao (từ 1 đế 6 độ trong thế kỷ 21). Hệ quả là băng tan làm mực nước biển dâng lên xâm lấm đất liền, sa mạc hóa, và hàng loạt các cơn bão khổng lồ từ đại dương cuốn bay sự sống do hiện tượng El Nino và La Nina gây nên. Cuối cùng, chính con người chúng ta đang phải lãnh hậu quả từ chính những việc làm hàng ngày của chúng ta. Chưa bàn đến cái gọi là cuộc xâm chiếm của người ngoài hành tinh xa lắc, chưa bàn đến những hậu quả khủng khiếp từ cuộc đại chiến thế giới thứ 3 có thể xảy ra theo tiên tri của các "tiền bối", cái mà chúng ta đang phải đối mặt và chịu đựng hàng ngày (ô nhiễm, siêu bão tàn phá...) nó gần hơn bao giờ hết. Con người chúng ta đang trở thành "gánh nặng" của Trái Đất. Hình minh họa. Còn nhớ, bà tiên tri mù người Bulgaria Baba Vanga đã từng tiên tri rằng, chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ xảy ra vào năm 2010 và kết thúc năm 2014. Khởi nguồn cuộc chiến sẽ bắt đầu bằng những xung đột vũ trang giữa Nam Ossetia và thế giới Hồi giáo. Hàng loạt các vụ mưu sát chính trị gia cũng góp phần "châm ngòi nổ" cho cuộc đại chiến thứ 3 này xảy ra. Hệ quả là, chiến tranh hạt nhân và sinh học diễn ra khắp thế giới, khiến cả thế giới khốn đốn. Nhân loại đang sống trong những tháng cuối của năm 2016 và có cơ hội "tận mắt" kiểm nghiệm lời tiên tri của bà Vanga. Và may mắn là sự kiện này không đúng. Rất có thể, vì những lời tiên tri ghi trong sổ sách của bà Vanga bị thất lạc nên người ta không có căn cứ hoặc có những cá nhân mạo danh bà Vanga "tung" nhưng tin đồn nhảm để gây hoảng loạn trong xã hội. Bà tiên tri mù Baba Vanga. Câu hỏi đặt ra là, liệu chiến tranh trong năm 2017 có nổ ra? Những tiên đoán của Nostradamus có trở thành sự thật hay không? Chúng ta cũng không cần ngồi chờ thời gian qua đi để kiểm chứng, cái cần làm ngay có lẽ là việc chấm dứt những việc làm đang gây hại đến môi trường, Trái Đất, ảnh hưởng đến thế hệ tương lai. Thiết nghĩ, đó mới là những việc cần phải chiến đấu thực sự! Đọc tiếp: Màn "xóa sổ sự sống" khủng khiếp của hổ mang mafia dành cho cóc rừng theo Trí Thức Trẻ
  8. Quý vị và ACE thân mến! Trong kiến trúc xây dựng theo Địa lý phong thủy Đông Phương nói chung, có một nguyên tắc ứng dụng, đó là BÁT SÁT - HOÀNG TUYỀN. Nếu bị phạm phải những tiêu chí của Bát sát - Hoàng Tuyền thì hệ thống kiến trúc đó được coi là xấu. Bài viết dưới đây là những di sản còn lại từ cổ thư chữ Hán nói về Bát sát - Hoàng Tuyền, tôi đưa lên đây để quý vị và ACE tham khảo. Sau khi đọc tư liệu này, quý vị và ACE sẽ nhanh chóng nhận ra rằng: Tất cả các di sản từ cổ thư chữ Hán, liên quan đến các phương pháp ứng dụng của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành (ADNH) nói chung, và Địa Lý phong thủy nói riêng - đều mang tính mặc định, không hề có một lời giải thích tại sao lại như vậy, và nó xuất phát từ thực tại nào? Tất cả những nhà nghiên cứu và thực hành phong thủy được gọi là Thầy phong thủy, đều chấp nhận sự mặc định này mà không hiểu đằng sau nó là cái gì?! Bài Bát Sát Hoàng tuyền từ cổ thư được đưa lên đây, một lần nữa chứng minh rằng: Thuyết ADNH và Kinh Dịch không thuộc về nền văn minh Hán. Bởi vì chính nền văn minh Hán không giải thích được bất cứ vấn đề gì liên quan đến học thuyết ADNH và Kinh Dịch, phù hợp với tiêu chí khoa học, để làm sáng tỏ các bí ẩn của nền văn minh Đông Phương, trong cuộc hội nhập toàn cầu của các nền văn minh. Bởi vậy tôi đưa bài viết này lên đây hoàn toàn là di sản của cổ thư Hán liên quan đến nguyên tắc Bát sát, Hoàng Tuyền để quý vị tham khảo. Và đối với ACE Địa Lý Lạc Việt cũng cần tham khảo kỹ bài này. Để so sách với bài giảng của tôi trong giảng đường liên quan đến nội dung Bát sát - Hoàng Tuyền, nhân danh nền Văn Hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử. Để từ đó sẽ thấy được tính ưu việt của nền Văn Hiến Việt, là cội nguồn đích thực của Nền Văn Minh Đông Phương. Nguyên lý Bát sát - Hoàng Tuyền chỉ là một ứng dụng trong rất nhiều ứng dụng tương tác của Địa lý Lạc Việt nói chung. Nhưng một thực tại khách quan nào, hoặc một hệ luận mang tính lý thuyết nào liên hệ với nguyên tắc này, mới là điều mà ACE cần biết rõ. ACE đều biết một tiêu chí khoa học phát biểu rằng: 1/ Một lý thuyết được coi là khoa học, thì những mô hình biểu kiến của nó phải phản ánh một thực tại có thể kiểm chứng được. 2/ Một lý thuyết khoa học được coi là đúng, nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán, có tính quy luật tính khách quan và khả năng tiên tri. Trên cơ sở này, chúng ta xem xét quy luật phương sát trong nguyên lý Hoàng tuyền Bát sát được mô tả dưới đây từ cổ thư chữ Hán và sự hiệu chỉnh nhân danh nền văn hiến Việt.
  9. BÁT SÁT TRONG ĐỊA LÝ LẠC VIỆT. Trên cơ sở giả thuyết ban đầu xuất sắc của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn. Chúng tôi đã thực hiện lại mối liên hệ giữa hướng và phương sát trong Bát sát với vòng Tràng sinh. Nhưng để quý vị và ACE thấy rõ được tính nhất quán và tính hệ thống của một lý thuyết nhân danh khoa học, chúng tôi cần nói rõ hơn về vấn đề Vòng Tràng sinh. I. VÒNG TRÀNG SINH TRONG LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG. Khái niệm "Vòng Tràng Sinh" trong ứng dụng của Lý học Đông phương, mô tả một chu kỳ gồm 12 thành tố. Các thành tố này lần lượt theo quy luật là: 1/Trường sinh. 2/ Mộc Dục. 3/ Quan đới, 4/ Lâm Quan, 5/ Đế Vượng, 6/ Suy. 7/ Bệnh. 8/ Tử. 9/ Mộ. 10/ Tuyệt. 11/ Thai. 12/ Dưỡng.... Vòng Trường sinh mô tả chu kỳ sinh trưởng và suy bại của mọi sự vật, sự việc trong cuộc sống, thiên nhiên, vũ trụ và con người. Cho nên, vòng Trường sinh ở trong nhiều hệ thống của các ngành ứng dụng thuộc Lý học Đông phương. Vòng Trường sinh trong ngành dự báo số phận con người là Tử Vi có chu kỳ trong 12 cung và là thành tố dự đoán của chu kỳ Đại Hạn 10 năm trong Tử Vi - Tức là vòng Tràng sinh chi phối 120 năm (Một trăm hai mươi năm) trong chu kỳ vận hạn của một đời người trong lá số Tử Vi. Trong ứng dụng của khoa Tử Vi, vòng Tràng Sinh Dương tính theo chiều thuận. Vòng Tràng sinh Âm tính theo chiều nghịch. Chu kỳ Âm Dương của vòng Trường Sinh là 24 năm. Đây chính nguyên lý chu kỳ 24 năm Sinh - Vượng - Mộ của một hành trong LẠC THƯ HOA GIÁP được thực hiện trên Hà Đồ - đã được Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh chứng minh nguyên lý lập thành bảng này trên Hà Đồ - với sự thay đổi vị trí hai hành Thủy Hỏa. Vòng Tràng sinh thể hiện sự tiêu trưởng của ngũ hành. Ngũ hành phân Âm Dương cho nên vòng Tràng sinh cũng theo Âm Dương và ứng dụng theo tam hợp cục của Địa chi. Vì Địa chi phân Âm Dương nên sự ứng dụng của Trường sinh cũng theo quy luật Dương thuận, Âm nghịch. Thí dụ: Tam hợp cục Hỏa là Dần - Ngọ - Tuất; Tam hợp cục Mộc là Hợi - Mão - Mùi.... ACE và quý vị lưu ý nguyên lý tam hợp cục của ngũ hành để đối chiếu với tính hợp lý trong việc ứng dụng vòng Tràng sinh trong Địa lý Phong thủy Lạc Việt. Quý vị và ACE xem hình minh họa dưới đây cho hai vòng Tràng sinh Âm Dương thuận nghịch. Vòng Tràng sinh Duong thuận Vòng Tràng sinh Âm nghịch Như vậy tôi đã trình bầy khái quát về những nguyên lý ứng dụng của vòng Tràng sinh trong mọi ngành ứng dụng của Lý học Đông Phương nói chung. Trên cơ sở những tri thức căn bản về vòng Tràng sinh này chúng ta ứng dụng tiêu chi khoa học cho một lý thuyết khoa học phát biểu như sau: Trên cơ sở tiêu chí khoa học này, chúng tôi ứng dụng giả thuyết hướng sát của Bát sát lệ thuộc vào vòng Tràng sinh xem có phù hợp với tiêu chí khoa học trên hay không. Vì vòng Tràng sinh có thể phân loại Âm Dương, cho nên chúng tôi cũng phân loại tám phương Bát quái theo Âm Dương, như sau: A/ Bốn quái tứ chính thuộc Dương, gồm: Khảm / - Chấn / - Ly / - Đoài / B/ Bốn quái tứ di thuộc Âm, gồm: Càn / - Khôn / - Cấn / - Tốn / Trên cơ sở này chúng ta một lần nữa áp dụng vòng Tràng sinh theo đúng như cổ thư chứ Hán mô tả về hướng sát của Bát sát để đối chiếu, so sánh. A/ Bốn quái tứ chính: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Thìn (Khảm Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư).....................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Tỵ (Đoài Xà đẩu) B/ Bốn quái tứ di: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..............................6/ Hướng Khôn ( Tốn theo sách Việt), Bát sát ở Mão (Khôn Thỏ 'mão') 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dần (Cấn Hổ)................................8/ Hướng Tốn (Khôn theo sách Việt). Bát sát ở Dậu (Tốn Kê). Thưa quý vị và ACE thân mến Như vậy qua hình mô tả ở trên, khi chúng ta áp vòng Tràng sinh theo giải thiết ban đầu để quán xét thì chúng ta nhận thấy rằng, ở bốn quái tứ chính (vòng Tràng sinh thuận), chỉ có hai quái Ly và Chấn có phương Bát sát nằm ở Tuyệt. Và ở bốn quái tứ Di (vòng Tràng sinh nghịch) thì chỉ có hai quái Càn và Khôn (Tốn theo sách Việt) có phương Bát sát nằm ở Tuyệt. Như vậy nếu theo giải thuyết ban đầu là đúng thì thể hiện phương sát theo cổ thư chữ Hán chỉ đúng được một nửa?! Chúng tôi cho rằng: Vì mối liên hệ chính xác "một nửa" đó - phương sát phải nằm ở vị trí Tuyệt của vòng Tràng sinh - thì tính hợp lý lý thuyết cho toàn bộ vấn đề, tất cả các phương sát đều phải nằm phương Tuyệt của vòng Tràng sinh - Tùy theo tứ chính hay tứ di mà ứng dụng vòng Tràng sinh thuận nghịch. trên cơ sở này chúng ta áp vòng tràng sinh trên cơ sở "Hậu thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn - Khôn) phối Hà Đồ" . Chúng ta sẽ được một sự hoàn hảo phù hợp với tiêu chí khoa học của phương sát trong Bát sát, như mô hình dưới đây: A/ Bốn quái tứ chính: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Tị (Khảm Xà/ Sách Hán: Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư).....................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Dần (Đoài Hổ đẩu. Sách Hán: Xà) B/ Bốn quái tứ di: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..............................6/ Hướng Khôn Bát sát ở Tý (Khôn 'Tý'. Sách Hán: Tốn Kê) 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dậu (Cấn Kê. Sách Hán: Dần)..........8/ Hướng Tốn Bát sát ở Mão (Tốn Mẹo. Sách Hán: Khôn tuyệt ở Mão). Thưa quý vị và ACE, trên cơ sở giả thuyết ban đầu chúng tôi xác định rằng: Tất cả các phương sát trong Bát sát đều phải nằm ở vị trí Tuyệt của vòng Tràng sinh. Trong đó, tứ chính là Dương, thuộc vòng Tràng sinh thuận; tứ Di là Âm thuộc vòng Tràng sinh nghịch. Và chúng tôi đã minh họa ở hình trên. Trên cơ sở này chúng ta thấy rằng: Hai quái tứ chính là Ly - Chấn hoàn toàn trùng khớp phương sát với Lạc Việt, tức giả thuyết của chúng tôi và hai quái tứ Di là Càn - Khôn (Tốn theo Lạc Việt) là hoàn toàn trùng khớp, còn lại như phần trên đã trình bầy thì phương pháp đặt phương sát của chúng tôi nhân danh nền Văn hiến Việt một thời huy hoàng ở bờ Nam sông Dương tử, hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học về tính quy luật, tính khách quan, tính hệ thống, tính nhất quán và tính hoàn chỉnh. Bây giờ chúng ta đối chiếu tiêu chi khoa học mà chúng tôi đã trình bầy ở trên về tính hợp lý lý thuyết toàn diện nhân danh nền Văn hiến Việt: Tất cả những ai nghiên cứu về Lý học thì đều biết rất rõ thì trong 12 Địa chi thì Tý tuyệt Tị, Mão tuyệt Thân, Ngọ tuyệt Hợi, Dậu tuyệt Dần và ngược lại: Hợi tuyệt Ngọ, Tị tuyệt Tý, Dần tuyệt Hợi, Thân tuyệt Mão. Trên cơ sở này chúng ta quán xét lại toàn bộ những hướng và phương sát - nhân danh nền Văn hiến Việt - hoàn toàn phù hợp với cách Tứ Tuyệt trong Địa chi được mô tả trong Lý học Đông Phương, đồng thời phù hợp với phương Tuyệt của vòng Tràng sinh. Đây chính là tính hợp lý lý thuyết của mọi vấn đề liên quan đến nó phù hợp với tiêu chí khoa học. Đó là phù hợp với phương Tuyệt của vòng Tràng sinh; phù hợp với nguyên lý Tứ tuyệt của địa chi. Đó chính là một phương pháp nghiên cứu của chúng tôi căn cứ theo tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Đây là điều mà trong các cổ thư chữ Hán không mô tả được. Vấn đề không phải chỉ riêng một vấn đề phương sát trong Bát sát trong Địa lý Phong thủy. Mà là tất cả hầu hết các di sản từ cổ thư chữ Hán liên quan đến Thuyết Âm Dương ngũ Hành, thì chúng đều rất mơ hồ, mâu thuẫn và bất hợp lý ngay trong nội hàm cấu trúc của hệ thống này. Tính hợp lý lý thuyết phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, chỉ thể hiện nhân danh nền Văn Hiến Việt một thời Huyền Vĩ ở bờ Nam sông Dương Tử, với nguyên lý căn để Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt. Mới đủ tư cách để xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Bát Quái chính là "Lý thuyết thống nhất vũ trụ" mà nền khoa học hiện đại đang mơ ước! Trên cơ sở này. Rất hy vọng bài viết mà tôi trình bầy trên đây sẽ được quý vị quan tâm. Riêng đối với ACE Địa lý Lạc Việt thì nhân danh một người thầy đang truyền đạt kiến thức và nhân danh nền Văn Hiến Việt, với tinh thần khoa học thực sự, ACE hãy áp dụng phương sát trong Bát sát đã được phục hồi từ nền Văn hiến Việt. Phương pháp ứng dụng nhân danh nền Văn hiến Việt, không chỉ ứng dụng trong Dương trạch để trổ cửa tùy theo hướng nhà, mà còn là ứng dụng trong Loan Đầu để chọn hướng nhà và vấn đề Âm trạch mà ACE sẽ tiếp tục được học tới đây. Xin cảm ơn quý vị và ACE đã đọc và quan tâm đến bài viết này.
  10. BÁT SÁT TRONG CỔ THƯ CHỮ HÁN Thưa quý vị và anh chị em Địa Lý Lạc Việt thân mến. Đáng nhẽ bài này tôi giảng riêng cho anh chị em DLLV. Nhưng xét thấy một lần nữa, nó chứng minh cho luận điểm của tôi xác định rằng: 1/ Địa Lý Phong thủy là một ngành khoa học ứng dụng trong kiến trúc xây dựng, thuộc về nền văn minh Lạc Việt, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử. Những di sản của Lý học Đông phương ghi nhận trong cổ thư chữ Hán, chỉ là những mảnh vụn còn sót lại của nền văn minh Việt, bị Hán hóa một cách rời rạc, đầy mâu thuẫn, sai lạc và không hoàn chỉnh. 2/ Tính khoa học hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành với nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" nhân danh nền văn hiến Việt, thể hiện tính hợp lý hoàn chỉnh và phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết nhân danh khoa học được coi là đúng. Bài viết về Hoàng Tuyền Bát Sát, mà chúng tôi trình bày trên với quý vị và anh chị em - có xuất xứ từ cổ thư chữ Hán - là một ví dụ. Nội dung của nó mà quý vị và anh chị em đã đọc, hoàn toàn mang tính mặc định và không hề có - ít nhất là một cơ sở lý thuyết nào liên hệ với nó. Để chứng minh điều này, tôi mô tả lại qua mô hình được trình bày dưới đây: Để tiện theo dõi, tôi trích lại toàn văn như sau: Trên cơ sở này, chúng tôi sắp xếp theo 4 quái Tứ chính là:Khảm, Chấn, Ly, Đoài và 4 quái Tứ duy là Càn, Khôn, Cấn, Tốn - theo mô hình của "Hậu Thiên Văn Vương" từ cổ thư chữ Hán - như sau: A/ Bốn hướng Tứ chính, là: 1/ Hướng Khảm Bát sát ở Thìn (Khảm Long)......................2/ Hướng Chấn Bát sát ở Thân (Chấn sơn Hầu) 3/ Hướng Ly Bát sát ở Hợi (Ly Trư)......................................4/ Hướng Đoài Bát sát ở Tỵ (Đoài Xà đẩu) B/ Bốn hướng Tứ duy, là: 5/ Hướng Càn Bát sát ở Ngọ (Kiền Mã)..........................................................56/ Hướng Khôn Bát sát ở Mão (Khôn Thỏ 'mão') 7/ Hướng Cấn Bát sát ở Dần (Cấn Hổ)...........................................................57/ Hướng Tốn Bát sát ở Dậu (Tốn Kê). Như vậy, qua các mô hình mô tả cụ thể ở trên, quý vị và anh chị em cũng nhận thấy rất rõ các vấn đề sau đây: 1/ Tính phi quy luật trong bản văn chữ Hán về vị trí Bát sát trong ứng dụng Địa Lý phong thủy. 2/ Tính mặc định áp đặt của các phương pháp ứng dụng trong cổ thư chữ Hán về vị trí Bát sát trong ứng dụng Địa Lý phong thủy. Chúng không hề có một mối liên hệ nào, có tính hệ thống với các hệ luận liên quan trong hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nhân danh nền văn hiến Việt và những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tất cả các vấn đề liên quan đến Lý học Đông phương, trong đó có ngành Địa Lý phong thủy và cụ thể là nguyên lý ứng dụng về Bát sát trong ứng dụng Địa Lý phong thủy. Riêng về hiện tượng Bát sát, tôi trân trọng giới thiệu với quý vị và ACE công lao đầu tiên thuộc về Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn - là một trong những học trò theo tôi đã lâu. Trong thời gian phụ việc và theo học Địa Lý phong thủy Lạc Việt, chính Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn đã đặt giả thuyết ban đầu một cách xuất sắc, về: "Hướng "sát" của Bát sát trong ứng dụng Địa Lý phong thủy liên quan đến vòng Trường sinh". Nhưng do phương pháp diễn đạt ban đầu của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn chưa rõ ràng, nên tôi đã yêu cầu mô tả lại. Sự việc xảy ra cách đây cũng đã nhiều năm. Rồi Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn xuống núi hành nghề và những việc mưu sinh với những lo toan của cuộc sống, khiến công việc nghiên cứu về Bát Sát Hoàng Tuyền dừng lại ở đấy. Tuy nhiên, do hiện nay tôi tiếp tục giảng dạy trong lớp Địa Lý Lạc Việt ứng dụng. Nên một trong những yếu tố tương tác quan trọng, sắp sửa được giảng dạy liên quan đến yếu tố Loan Đầu (Sách Hán gọi là "trường phái"), nên tôi phải phục hồi lại các mô hình liên quan để mô tả yếu tố sát (yếu tố xấu) trong nguyên lý tính Bát sát trong phong thủy. Trước khi bắt đầu vào các bài viết tiếp theo, liên quan đến Bát sát, tôi trân trọng ghi nhận giả thuyết ban đầu xuất sắc của Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, trong việc phục hồi lại bản chất của yếu tố Bát sát trong Địa Lý Lạc Việt. Còn tiếp. Chú thích: 1/ Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn hiện là thành viên nghiên cứu trong Hội Đồng khoa học của Trung Tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương.
  11. Thưa quý vị và anh chị em thân mến. Phần dưới đây là nguyên văn tư liệu có nguồn gốc từ cổ thư chữ Hán và phương pháp hóa giải, để quý vị và anh chị em tham khảo. III. HOÀNG TUYỀN Lập hướng, kỵ thủy lộ, phạm Hoàng Tuyền THƠ CỔ: 1/ Canh Đinh Khôn, thường thị Hoàng Tuyền 2/ Ất Bính tu phòng, Tốn thủy tiêu 3/ Giáp, Quý hướng trung ưu kiến Cấn 4/ Tân Nhâm thủy lộ phụ dương Kiền Theo nghĩa đen của mỗi chữ trong mỗi câu: 1/ Phương Nam là Đinh, thì trên phương Khôn là Hoàng Tuyền. 2/ Phương Ất là Bính, thì nên phòng nước phương Tốn trước hết. 3/ Trong hướng Giáp và hướng Quý thì lo thấp ở phương Cấn 4/ Phương Tân và Nhâm , thì sợ đường nước ở ngay phương Càn 1. NGHĨA LÀ: Giáp, Canh, Nhâm, Bính là tứ Dương can (4 thiên can thuộc Dương), Ất, Tân, Đinh, Quý là tứ can Âm (4 thiên can thuộc Âm), ở về 4 phương chính, mỗi phương có 2 can: một âm, một dương. Càn, Khôn, Cấn, Tốn gọi là tứ Duy, cũng là hàng thiên can ở bốn phương ngung (bốn hướng góc), cộng là tám phương (bát quái) + Giáp, Canh, Nhâm, Bính là 4 dương can hợp với 4 địa chi: Tý, Ngọ, Mão, Dậu, 4 phương chính, theo về lý khí, của vòng trường sinh thì 4 phương này vừa là 4 phương Vượng, vừa là bốn phương Tử của 4 đại cục. + Ất, Tân, Đinh, Quý là 4 âm can hợp với 4 địa chi: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, 4 phương bàng, theo về lý khí, của vòng trường sinh thì 4 phương này vừa là 4 phương Dưỡng, vừa là bốn phương Mộ của 4 đại cục. + Càn, Khôn, Cấn, Tốn là 4 Thiên can hợp với 4 địa chi: Dần, Thân, Tị, Hợi ở 4 phương ngung (tứ duy), theo về lý khí, của vòng trường sinh thì 4 phương này vừa là 4 phương Sinh, vừa là bốn phương Tuyệt của 4 đại cục khác nhau. Ví dụ: Câu: Canh, Đinh, Khôn, thường thị Hoàng Tuyền Như là lập hướng Canh, là hướng Vượng của Kim cục thì Khôn là Lâm Quan, thì thủy ở Khôn phải chảy lại trước huyệt. Nếu chảy đi là thủy phá Lâm Quan, thì bị Hoàng Tuyền. Như lập hướng Đinh, là Dưỡng hướng thủy cục, thì Khôn là Trường sinh, Thủy ở phương Khôn cũng phải chảy lại trước huyệt, nếu chảy đi là thủy phá Trường sinh phương, thì bị Hoàng Tuyền. Nhưng trái lại cũng lập hướng Đinh, nhưng ở Mộc cục, thì Đinh lại đổi là Mộ, Khôn đổi lại Tuyệt, thủy lưu nhập thì bị Hoàng Tuyền. Nếu không biết phép tiêu nạp thủy ở trong 4 phương: Càn, Khôn, Cấn, Tốn này thì phạm Hoàng Tuyền. Vì vậy bảo là Tứ lộ Hoàng Tuyền, Hoàng Tuyền là suối vàng, là nơi vô khí ( tử khí): Nói một cách khác: Dương thế có đường đi của người dương thế. Dưới âm cũng có đường đi của người âm: (Hoàng là Vang, Tuyền là suối) Hoàng Tuyền xuất hiện ở Thiên Can và tứ Duy, không xuất hiện ở Địa chi. Nói tóm lại: - Mặt tiền nhà là Cấn thì Giáp, Quý là Hoàng Tuyền - Mặt tiền rơi vào Giáp, Quý thì Cấn là Hoàng Tuyền - Mặt tiền nhà là Tốn thì Ất, Bính là Hoàng Tuyền - Mặt tiền rơi vào Ất, Bính thì Tốn là Hoàng Tuyền - Mặt tiền nhà là Khôn thì Đinh, Canh là Hoàng Tuyền - Mặt tiền rơi vào Đinh, Canh thì Khôn là Hoàng Tuyền - Mặt tiền nhà là Càn thì Tân, Nhâm là Hoàng Tuyền - Mặt tiền rơi vào Tân, Nhâm thì Càn là Hoàng Tuyền 2. TÁC HẠI CỦA HOÀNG TUYỀN - Nhà phạm Hoàng Tuyền gây cho người mắc các bệnh ác tính như: ung thư, u cục ác tính, rối loại các tuyến nội tiết, rối loạn chức năng các tạng phủ, gây cho người có bệnh cảm giác như giả vờ, lúc có thuốc bệnh cũng không đỡ, không có thuốc bệnh lại khỏi. - Gây cho người thích kiện tụng, thích đấu đá, tù đầy, chết chóc, nóng nảy, điên rồ, hoặc bị những họa không tự mình gây ra (họa vô đơn chí, không biết nguyên nhân) Hoặc mắc bệnh, Đông Tây y không phát hiện ra. 3. NGUYÊN LÝ LẬP BÁT QUÁI TRẤN HOÀNG TUYỀN. HOÀNG TUYỀN LÀ ĐƯỜNG ĐI CỦA NGƯỜI ÂM: Là điểm giữa mặt tiền nha, cửa chính, cửa phụ, cửa sổ và cổng đối diện phải, là đường đi của ma quỷ, Phong thủy dùng bát quái SINH KHÍ TRẤN. - Nếu điểm giữa mặt tiền nhà là Càn: thì Tân, Nhâm rơi vào cổng, cửa chính, phụ, cửa sổ là Hoàng Tuyền thì: 1/ Với Tân: Lấy mã số địa của Đoài đặt trung cung Lạc Thư, phi theo hệ Đoài làm ruột ma phương. 2/ Các sao của 8 cung hệ Đoài phi ra kết hợp với các sao vòng ngoài từng cặp, từng cặp thành sinh khí ra tổng ma phương sinh khí là ma phương phát sinh khí trấn Hoàng tuyền Ngũ quỷ 3/ Ma phương làm xong nạp thần (thông tin) và treo ma phương có số thay số 5 vào trung cung lên trên. Ma phương treo tại vị trí phạm Hoàng Tuyền, đầu ma phương phải có dịch tự quẻ để tăng sức mạnh trấn. Ta lần lượt đi hết 12 vị trí có thể xảy ra Hoàng Tuyền: CUNG CÀN : Mặt tiền nhà là Càn: 1/ Vị trí Tân là Hoàng Tuyền, Tân thuộc Đoài, lấy mã số địa của Đoài là 7 đặt và trung cung Lạc Thư phi theo chiều quỹ đạo của Đoài: Vị trí Tân bị Ngũ Quỷ, ma phương này treo ở vị trí bị Ngũ Quỷ - Hoàng Tuyền Ma phương phát sinh khí trấn Ngũ Quỷ. 2/ Vị trí Nhâm là Hoàng Tuyền, Nhâm thuộc Khảm, lấy mã số địa của Khảm đặt trung cung Lạc Thư phi theo quỹ đạo của Khảm làm ruột ma phương phát Sinh Khí Ma phương treo tại Nhâm. Ma phương phát sinh khí trấn Hoàng Tuyền. 3/ Nếu Tân – Nhâm là mặt tiền, vị trí Càn là Hoàng Tuyền, mã số địa của Càn là (6) Đặt 6 vào trung cung phi theo quỹ đạo Càn Ma phương này treo ở Càn Ma phương phát Sinh Khí CUNG CẤN: Mặt tiền nhà là cấn 1/ Vị trí Quý là Hoàng Tuyền. Quý thuộc Khảm, lấy mã số địa của Khảm đặt vào trung cung Lạc Thư phi theo hệ Khảm (1) Ma phương treo ở Quý Ma phương phát Sinh Khí 2/ Mặt tiền nhà là Cấn: Vị trí Giáp là Hoàng Tuyền. Giáp thuộc Chấn, lấy mã số Địa của Chấn là 3, đặt vào trung cung Lạc Thư, phi theo quỹ đạo Chấn: Ma phương này treo ở Giáp 3/ Quí – Giáp là mặt tiền nhà thì Cấn là Hoàng Tuyền. Mã số địa của Cấn là 8, đặt 8 vào trung cung Lạc Thư phi theo chiều quỹ đọa của Cấn, các số của 8 cung phi ra làm ruột ma phương Sinh Khí, kết hợp với cá số vòng ngoài từng cặp, từng cặp thành ma phương Sinh Khí. Ma phương phát Sinh Khí này treo ở Cấn CUNG TỐN: Mặt tiền nhà là Tốn: Vị trí Ất – Bính là Hoàng Tuyền. 1/ Ất thuộc Chấn; Chấn gồm Giáp - Ất, ma phương hoàn toàn giống ở Giáp, nhưng mặt tiền nhà Tốn thì treo ma phương ở Ất. 2/ Vị trí Bính thuộc Ly, mã số địa của Ly là (9), đặt vào trung cung phi theo quỹ đạo hệ Ly: Ma phương Sinh Khí này treo ở Bính 3/ Ất – Bính là mặt tiền nhà thì Tốn là Hoàng Tuyền Mã số địa của Tốn là 4, đặt 4 vào trung cung Lạc Thư phi theo hệ Tốn Ma phương này treo ở Tốn Ma phương phát Sinh Khí trấn Hoàng Tuyền ở Tốn CUNG KHÔN: Mặt tiền nhà là Khôn: Vị trí Đinh – Canh là Hoàng Tuyền. 1/ Đinh thuộc Ly, Bính thuộc Ly. Ma phương của Đinh giống hoàn toàn như ma phương của Bính. Nhưng mặt tiền nhà là Khôn, thì ma phương này phải treo ở Đinh nơi bị Hoàng Tuyền 2/ Canh thuộc Đoài, Tân cũng thuộc Đoài. Ma phương của Canh giống hoàn toàn ma phương của Tân. Nhưng mặt tiền nhà là Khôn , thì ma phương này phải treo ở Canh nơi bị Hoàng Tuyền. 3/ Đinh – Canh là mặt tiền thì Khôn là Hoàng Tuyền. Mã số địa của Khôn là 2, đặt 2 vào trung cung phi theo quỹ đạo của Khôn Ma phương phát Sinh Khí trấn Hoàng Tuyền ở Khôn (HẾT)
  12. Thưa quý vị và anh chị em thân mến. Phần dưới đây là nguyên văn tư liệu có nguồn gốc từ cổ thư chữ Hán và phương pháp hóa giải, để quý vị và anh chị em tham khảo. BÁT SÁT – HOÀNG TUYỀN I. BÁT SÁT – HUNG KỴ: Lập hướng phải kỵ 8 phương sát khí: CA QUYẾT: 1/ Khảm Long, Khôn Thỏ (mão), Chấn sơn Hầu 2/ Tốn Kê, Kiền Mã, Đoài Xà đẩu 3/ Cấn Hổ, Ly Trư, Vi sát liệu 4/ Phạm chi mộ, trạch nhất tề hư NGHĨA LÀ: 1/ Phương Khảm thì kỵ khắc với Phương Thìn (Thìn thì ứng tinh với con Rồng, nên gọi bí danh là Long). Phương Khôn kỵ khắc với phương Mão (Mão thì ứng linh là con Thỏ). Phương Chấn kỵ khắc với phương Thân (Thân thì ứng tinh với con Khỉ nên gọi bí danh là Hầu) 2/ Phương Tốn kỵ khắc với phương Dậu (Dậu thì ứng tinh là con Gà nên gọi bí danh là Kê). Phương Càn thì kỵ khắc với phương Ngọ (Ngọ thì ứng tin với con Ngựa nên gọi bí danh là Mã). Phương Đoài thì kỵ khắc với phương Tị (Tị là ứng với tinh con Rắn, nên bí danh gọi là xà đẩu) 3/ Phương Cấn kỵ khắc với phương Dần (Dần thì ứng tinh là con Cọp nên gọi bí danh là Hổ). Phương Ly thì kỵ khắc với phương Hợi (Hợi thì ứng tin với con Lợn nên gọi bí danh là Trư). Tám phương nọ khắc với tám phương kia nên là sát diệu (sao sát). 4/ Phạm vào đấy thì mộ phần hay nhà ở đều cũng hỏng. VÍ DỤ: 1/ Khảm Long: Mạch từ phương Tý nhập huyệt thì không nên lập hướng Thìn; Hoặc mạch ở phương Thìn nhập huyệt thì không nên lập hướng Tý. Nếu lập hướng vào đấy là phạm sát, thì bị diệt vong; bởi vì Tý thuộc Thủy, Thìn thuộc Thổ, Thổ khắc Thủy nên bị sát. 2/ Khôn Long: Mạch từ phương Khôn nhập huyệt thì không nên lập hướng Mão; Hoặc mạch ở phương Mão nhập huyệt thì không nên lập hướng Khôn. Nếu lập hướng vào đấy là phạm sát, thì bị họa vong; bởi vì phương Khôn thuộc Thổ, phương Mão thuộc Mộc, Mộc khắc Thổ nên bị sát. 3/ Chấn Long: Mạch từ phương Chấn nhập huyệt thì không nên lập hướng Thân; Hoặc mạch ở phương Thân nhập huyệt thì không nên lập hướng Chấn. Nếu lập hướng vào đấy là phạm sát, thì bị họa vong; bởi vì phương Chấn thuộc Mộc, phương Thân thuộc Kim, Kim khắc Mộc nên bị sát 4/ Tốn Long: Mạch từ phương Tốn nhập huyệt thì không nên lập hướng Dậu; Hoặc mạch ở phương Dậu nhập huyệt thì không nên lập hướng Tốn. Nếu lập hướng vào đấy là phạm sát, thì bị họa vong; bởi vì phương Tốn thuộc Mộc, phương Dậu thuộc Kim, Kim khắc Mộc nên bị sát. 5/ Càn Long: Mạch từ phương Càn nhập huyệt thì không nên lập hướng Ngọ; Hoặc mạch ở phương Ngọ nhập huyệt thì không nên lập hướng Càn. Nếu lập hướng vào đấy là phạm sát, thì bị họa vong; bởi vì phương Càn thuộc Kim, phương Ngọ thuộc Hỏa, Hỏa khắc Kim nên bị sát. 6/ Đoài Long: Mạch từ phương Đoài nhập huyệt thì không nên lập hướng Tị; Hoặc mạch ở phương Tị nhập huyệt thì không nên lập hướng Đoài. Nếu lập hướng vào đấy là phạm sát, thì bị họa vong; bởi vì phương Đoài thuộc Kim, phương Tị thuộc Hỏa, Hỏa khắc Kim nên bị sát. 7/ Cấn Long: Mạch từ phương Cấn nhập huyệt thì không nên lập hướng Dần; Hoặc mạch ở phương Dần nhập huyệt thì không nên lập hướng Cấn. Nếu lập hướng vào đấy là phạm sát, thì bị họa vong; bởi vì phương Cấn thuộc Thổ, phương Dần thuộc Mộc, Mộc khắc Thổ nên bị sát. 8/ Ly Long: Mạch từ phương Ly nhập huyệt thì không nên lập hướng Hợi; Hoặc mạch ở phương Hợi nhập huyệt thì không nên lập hướng Ly. Nếu lập hướng vào đấy là phạm sát, thì bị họa vong; bởi vì phương Ly thuộc Hỏa, phương Hợi thuộc Thủy, Thủy khắc Hỏa nên bị sát. CHÚ Ý: Long mạch nhập huyệt chính là Long nhập thủ. Ở đồng bằng, nhìn long nhập thủ có chỗ khác với miền núi. Nếu thấy long sơn khởi cao hơn hai bên một chút, thắt lại nhỏ hẹp, thì cũng lấy 24 phương định mạch khí, như miền núi ở đồi cao. Nếu long mạch bình thản (thấp và phẳng rông), không nhận đích được long tính, thì lấy phương nào ở gần nước hơn mà định cục, lập hướng, như là phương Nam gần nước thì lấy Khảm cục Long lập hướng Nam…vv Cục cũng kỵ khắc như phương, tức là Khảm cục không nên lập Thìn hướng, Khôn cục không nên lập Mão hướng… vv II. Mặt khác về BÁT SÁT 1. Bát là 8, là 8 cung trong la kinh, trong mỗi cung ấy đều có một sơn vị trong 24 sơn của la kinh,nằm về trái hoặc nằm về phải của mặt hậu ngôi nhà tác hại lại ngôi nhà ấy gọi là Sát (sát kề hậu) VÍ DỤ: Cung càn: , coi mắt tiền là Càn, mặt hậu là Tốn, thì Ngọ là kế trái hậu của Tốn. Có một dòng Thủy hoặc một hình dạng Thủy đi từ Càn đến Ngọ rồi tại Tị (dừng) ở đấy, rồi lại có một nhánh (Thủy hoặc hình Thủy) chảy hoặc đi ngược lại hướng Càn (có thể vào Tuất hoặc Hợi). Nếu lập hướng ở Ngọ, cổng, cửa chính, cửa phụ và kể cả cửa sổ thì Ngọ là sát của hướng Càn. Các hướng khác cũng tương tự như thế. 2. Tác hại của BÁT SÁT 1/ Hướng Bắc: Sơn Thìn là sát: Gây ra nhiều bệnh tật, vợ chồng bất hòa. 2/ Hướng Nam: Sơn Hợi là sát: Gây cho anh em bất hòa, dễ gây sự với hàng xóm, bị người nhỏ nhen nói xấu, khó nuôi gia súc. 3/ Hướng Đông: Sơn Thân là sát: Hay mắc nghiện hút, dễ gặp tai họa, bị kìm kẹp ức chế. 4/ Hướng Tây: Sơn Tị là sát: Không được quý nhân phụ trợ, trên không kính dưới không nhường, con cái dễ mắc nghiện hút. 5/ Phương Tây Nam: Mão sơn là Sát: Dễ bị kẻ xấu quấy phá, trộm cướp mất tiền, tai nạn trọng thương. 6/ Phương Đông Bắc: Sơn Dần là sát: Gia đình bất hòa, Tài lộc eo hẹp 7/ Phương Đông Nam: Sơn Dậu là sát: Quan chức bị kìm kẹp khó ngóc đầu dậy, tổ tiên không phù trì, Thờ tổ tiên mà quỷ hưởng. 8/ Phương Tây Bắc: Sơn Ngọ là sát: Mất tình cảm, Bị đâm chém thương tích, mổ xẻ tang thương. 3. PHÉP TRẤN Cơ sở của phép trấn là: Trước mặt tiền nhà, cổng, cửa chính, cửa phụ có dòng nước chảy tới, có hình tượng nhấp nhô như sóng nước, hoặc có bể chứa nước sạch, bể cá cảnh đều là tượng của Thủy. Ai gây nên bát sát? Những cái vừa nói đến ở trên: Bát sát có tính chất như Họa Hại, do đó phải dùng bản cung của nó chế hóa ra ma phương mà chế nó; ta chế ma phương Diên Niên để hóa giải bát sát theo nguyên tắc sau: 1/ Dùng mã số Địa của bản cung gây ra họa hại đặt vào trung cung của Lạc Thư phi theo quỹ đạo hệ của chính nó ra 8 sao ở 8 cung, được số 5 vào trung cung thay cho số tương ứng của nó. 2/ 8 số này làm ruột của ma phương phát Diên Niên 3/ Phối đơn quẻ ruột từng quẻ với đơn quẻ ngoại thành khí Diên Niên lần lượt cho hết 8 cặp. Ta được bảng số ma phương phát Diên Niên 4/ Vẽ ma phương phát Diên Niên theo bảng số ma phương vừa lập, ma phương phát vẽ thái cực phát nhìn từ trong nhìn ra ngoài theo quẻ dịch 5/ Vị trí số 5 vào trung cung là vị trí treo ma phương lên phía trên 6/ Vẽ dịch tự và đầu từng quẻ kép hoặc vẽ mặt trái ma phương tùy người vẽ ma phương quyết định 7/ Nhớ nạp thần tăng thêm sức mạnh cho ma phương. Ma phương trấn bát sát không ấn định ngày giờ treo 8/ Vị trí treo ma phương trấn bát sát: Sơn vị nào bị thì treo ma phương ở chỗ đó, treo mặt có thái cực ra ngoài: 4. CỤ THỂ: HƯỚNG KHẢM: Mã số địa của Khảm là (1) Chú ý: Mặt tiền thù thường chiếm tới 2 đến 3 cung: Càn – Tý – Cấn, thì sát Dần: Treo ma phương này ở tay phải mặt tiền. HƯỚNG CẤN: Mã số địa của Cấn là (8) Ma phương này treo ở Dần Ma phương Diên Niên trấn sát ở Cấn. HƯỚNG CHẤN: Mã số địa của Chấn là (3) Đặt 3 vào trung cung Lạc Thư rồi phi theo quỹ đạo của quẻ Chấn. Tám sao hệ Chấn mã số 3 phi ra làm ruột ma phương từng cặp sao phối ra Diên Niên Ma phương này treo ở Ất Ma phương phát Diên Niên trấn bát sát ở Chấn. HƯỚNG TỐN: Mã số địa của Tốn là (4) Đặt 4 vào trung cung Lạc Thư rồi phi theo quỹ đạo của quẻ Tốn được tám sao làm ruột ma phương. Tám sao hệ Tốn mã số 4 phi ra làm ruột ma phương pháp từng cặp sao phối ra Diên Niên Ma phương này treo ở Tỵ Ma phương phát Diên Niên trấn bát sát ở Tốn HƯỚNG NGỌ: Mã số địa của Ly là (9) Đặt 9 vào trung cung Lạc Thư rồi phi theo hệ Ly.Số phi ra tam cung làm lõi ma phương. Kết hợp với số vòng ngoài từng cặp, từng cạp ra số Diên Niên là tốt Ma phương này đặt ở chính Ngọ Ma phương phát Diên Niên trấn bát sát ở Ly. HƯỚNG KHÔN: Mã số địa của Khôn là (2) Đặt 2 vào trung cung Lạc Thư rồi phi theo quỹ đạo số 2 của Khôn. Phi ra tám hướng định các sao làm lõi của ma phương. Lõi ma phương phối với vòng ngoài từng cặp ra ma phương Diên Ma phương này treo ở Mùi Ma phương phát Diên Niên trấn bát sát ở Khôn. HƯỚNG ĐOÀI: Mã số địa của Đoài là (7) Đặt 7 vào trung cung Lạc Thư rồi phi theo quỹ đạo của hệ Đoài. Các sao phi được trong tám cung làm ruột ma phương, kết hợp với các sao vòng ngoài từng cặp, từng cặp ra Diên Niên Ma phương này treo ở Canh Ma phương phát Diên Niên trấn bát sát ở Đoài. HƯỚNG CÀN: Mã số địa của Càn là (6) Đặt Càn là 6 vào trung cung Lạc Thư rồi phi theo quỹ đạo của hệ Càn. Các sao phi được trong tám cung làm ruột ma phương, ruột này kết hợp với các sao vòng ngoài từng cặp, từng cặp ra Diên Niên Ma phương này treo ở Hợi Ma phương phát Diên Niên trấn bát sát ở Càn. (Còn tiếp)
  13. LỜI TIÊN TRI 2017. Các đại gia sụp đổ....Ra tòa nhiều wá!. https://baomoi.com/de-nghi-cam-xuat-canh-doi-voi-cha-con-giam-doc-tan-hiep-phat/c/21298435.epi
  14. - Cho ly cà phê đen không đường đi! - ?........... - Sao chẳng có ai trả lời thế nhỉ? Chủ quán đi đâu rồi? Hic! Quán này âm thịnh, dương suy. Phải chi bắt thêm mấy ngọn đèn rồi dùng gương phản chiếu may ra có khách.
  15. DỰ BÁO NĂM MẬU TUẤT VIỆT LỊCH 2018 Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Kính thưa quý vị. Lời đầu tiên tôi xin gửi lời chúc mừng đến Ban tổ chức và quý vị có mặt nơi đây, cùng gia đình, một năm mới vạn sự an lành và tràn đầy hạnh phúc. Kính thưa quý vị. Bài dự báo của tôi trình bày với quý vị hôm nay, trên cơ sở những phương pháp dự báo nhân danh những giá trị thuộc về nền văn minh Đông phương, có cội nguồn từ nền văn hiến Việt. Phương pháp dự báo đầu tiên, mà tôi giới thiệu dưới đây là Huyền không Lạc Việt. Phương pháp này dựa trên sự hiệu chỉnh những di sản còn lại của nền văn minh Việt bị Hán hóa một cách sai lệch, sau khi nền văn hiến Việt bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Phương pháp Huyền không Lạc Việt trong dự đoán các sự kiện quốc tế, mà tôi hân hạnh trình bày với quý vị sau đây, dựa trên nguyên lý căn để "Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", khác với những di sản ghi nhận trong cổ thư chữ Hán, là: sự hoán đổi độ số ở vị trí phương Tây/ Đoài với phương Nam/ Ly. Và độ số giữa Tây Nam/ Tốn 4 với Đông Nam / Khôn 2. Sở dĩ phương pháp dự báo mang tính quốc tế của Huyền không Lạc Việt thực hiện được, cũng xuất phát từ sự phục hồi phương pháp Định tâm trong Địa lý phong thủy Lạc Việt với bất cứ hình thể nào, được thể hiện bằng mặt phẳng quy ước. Do đó, sự phân bố các yếu tố tương tác - là các vì sao trong Huyền Không - có thể mô tả ở cấp độ toàn cầu. Đó là cơ sở cho việc dự báo. Trên cơ sở phân bố các sao thuộc Huyền không Lạc Việt, quý vị cũng thấy các sao có tính chất xấu có số 5 - 2, phân bố ở các phương Bắc và Nam, Tây (Nhị Hắc), Tây Bắc (Ngũ Hoàng). Xin quý vị xem hình dưới đây: Phương pháp thứ hai mà chúng tôi ứng dụng trong dự báo này là Lạc Việt độn toán. Đây là một phương pháp dự báo được phục hồi, nhân danh nền văn hiến Việt, bằng cách kết hợp giữa hai phương pháp dự báo còn lưu truyền trong dân gian, là: Nhâm cầm độn toán và Lục nhâm đại độn. Quẻ đầu năm Mậu Tuất, theo Lạc Việt độn toán, vào giờ Tý. ngày mùng Một tháng Giêng là Đỗ Tiểu Cát. Đây là một quẻ chủ về sự phát triển, văn hóa, tình cảm, sự liên kết. Đặc biệt về kinh tế dấu hiệu phát triển. Vì Tiểu cát thuộc Mộc. Trên cơ sở của những phương pháp này, tôi trình bày với quý vị về những dự báo về nhiều mặt cho năm Mậu Tuất 2018 của thế giới, như sau. Về kinh tế thế giới: Có thể nói: Năm Mậu Tuất, thế giới sẽ chứng kiến một sự khởi sắc về kinh tế nói chung với một tính chất khác, mang tính lệ thuộc lẫn nhau nhiều hơn. Nhưng có phần phát triển hơi chậm so với nhu cầu. Nếu coi năm 2008, là năm mở đầu cho một cuộc khủng khoảng kinh tế thế giới, thì năm Mậu Tuất 2018 là một sự khởi sắc ban đầu sau 10 năm khủng khoảng của những nền kinh tế chủ chốt của thế giới. Những biện pháp ổn định kinh tế bắt đầu có hiệu quả ở nhiều quốc gia. Nhưng đấy chỉ là một cái nhìn toàn cảnh, nói chung. Về chi tiết, một số quốc gia vừa và nhỏ vẫn đang chìm trong sự khủng khoảng. Ở các quốc gia này vẫn tiếp tục có những ngành nghề bị đình trệ với những Cty lớn phá sản, kéo theo những hệ lụy xã hội. Và điều này khiến cho người dân ở những quốc gia này cảm giác thất vọng với cuộc sống của họ. Những biện pháp nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế quốc gia giữa các siêu cường vẫn tiếp tục được áp dụng. Và điều này khiến cho nền kinh tế ở các siêu cường mang tính khởi sắc, nhưng nó cũng làm cho nền kinh tế toàn cầu nói chung chậm tiến độ phát triển trong bức tranh toàn cảnh của nó. Cũng như năm ngoái, tôi vẫn xác định rằng: Một chính sách đúng đắn nhất của những chính phủ thông minh trong lúc này, là cân đối được tương quan kinh tế trong nội bộ quốc gia. Điều này sẽ tránh được những hệ lụy xã hội, do ảnh hưởng của cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Còn những mơ ước về sự phát triển, có thể nói trong năm nay, mọi người có quyền hy vọng so với các năm trước. Nhưng cũng cần xác định rằng: Bóng ma của sự khủng khoảng kinh tế vẫn ám ảnh và chờ cơ hội quay trở lại với nền kinh tế toàn cầu. Về chính trị xã hội và ngoại giao. Năm Mậu Tuất 2018, vẫn tiếp tục là năm chứng kiến nhiều mâu thuẫn chính trị nội bộ ở nhiều quốc gia. Kể cả những quốc gia được coi là phát triển, như: Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp, Đức...Mâu thuẫn và xung đột với tinh thần tôn giáo cực đoan vẫn tồn tại. Đặc biệt là đầu năm và giảm dần cường độ về cuối năm. Mặc dù về phương diện tổ chức của các tổ chức cực đoan, tiếp tục bị tan rã nghiêm trọng. Những điểm nóng trên thế giới - đặc biệt là Trung Đông - do tranh chấp lãnh thổ sẽ tăng nặng, và mối đe dọa xung đột lớn rất có khả năng xảy ra. Nhưng đến nửa cuối năm, mọi việc dần ổn định và sự xuất hiện hy vọng cho một cuốc sống yên bình sẽ xuất hiện ở vùng đất này. Mặc dù chưa được giải quyết rốt ráo những mâu thuẫn xã hội, tôn giáo tiềm ẩn. Tuy nhiên, về ngoại giao, sẽ có những đột phá lớn ở cấp độ quốc tế. Nhiều mâu thuẫn giữa các quốc gia được giải quyết. Đặc biệt hai siêu cường là Nga và Hoa Kỳ sẽ có những mối quan hệ tốt đẹp hơn trong năm nay. Tuy không hoàn toàn như mong đợi, nhưng đây sẽ là sự kiện ngoại giao tạo bước ngoặt làm thay đổi lịch sử phát triển của nền văn minh. Về văn hóa xã hội. Nhìn lên bản đồ Huyền không Lạc Việt, chúng ta thấy hai sao Nhị Hắc và Tứ lục quản phương Nam, Sao Ngũ Hoàng và Nhất Bạch quản phướng Bắc. Bởi vậy, có thể xác định được rằng: Những giá trị tri thức văn hóa xã hội và khoa học nói chung, vẫn được phát triển và được tôn trọng, Nhưng bắt đầu xuất hiện những tư tướng bảo thủ cùng những âm mưu xung đột với chân lý. Những giá trị thật giả về học thuật và khoa học và chân lý lẫn lộn. Khiến cho xuất hiện nhiều cuộc tranh luận xã hội gây xáo trộn sẽ xảy ra. Trong năm Mậu Tuất 2018, thế giới sẽ chứng kiến nhiều thành tựu về văn hóa, lịch sử, giáo dục và những giá trị nhân văn không phát triển như mong muốn. Bởi những sao xấu tọa thủ ở những phương vị quan trọng, cho nên các vấn đề phát triển văn hóa xã hội cũng chưa thể như mong đợi. Về tệ nạn xã hội. Tính chất tàn bạo của tội phạm vẫn tiếp tục nghiêm trọng. Những tệ nạn xã hội, như: lừa đảo, trộm cướp....nếu xét về số lượng thì có giảm, tuy không đáng kể. Nhưng cũng không tăng trong một bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái. Tuy nhiên, về mặt luật pháp sẽ ngày càng hoàn chỉnh ở một số quốc gia và quốc tế trong việc quản lý xã hội. Về nhân họa. A/ Tai nạn: Những tai nạn như: Đắm tàu, rơi máy bay, lật tàu hỏa, đâm xe hơi....tuy giảm về số lượng, nhưng tăng nặng về mức độ nghiêm trọng, do chết nhiều người. Riêng về tai nạn hàng không, năm Đinh Dậu, tuy không khủng khiếp bằng cách đây vài năm trước, rớt đến 5 máy bay dân sự. Nhưng những vụ rớt máy bay thương tâm cũng sẽ xảy ra tương tư , nhưng ít hơn về số lượng, nếu so với số lượng 5 vụ so với vài năm trước đây. B/ Khủng bố: Những tổ chức khủng bố tiếp tục tan rã, bởi sự kiên quyết đối phó giữa các quốc gia. Nhưng những hành vi khủng bố vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt các nước từ Bắc Mỹ đến phần châu Âu nước Nga, rất dễ trở thành những hoạt động của các tổ chức khủng bố. Do các sao Ngũ Hoàng Tây Bắc/ Bắc và Nhị Hắc phương Tây chiếu ở các phương này. Tuy nhiên, thiệt hại là không đáng kể. C/ Chiến tranh: Nguy cơ chiến tranh vẫn tiếp tục đe dọa ở các điểm nóng như vùng Hoa Đông và được bổ xung bằng một địa danh mới là Đài Loan với Hoa Lục. Ở các nơi khác, như Trung Đông, nguy cơ chiến tranh cũ giảm dần, nhưng nổi lên sự mâu thuẫn mới. Tuy nhiên, nó cũng chỉ căng thẳng ở đầu năm. D/ Dịch bệnh: Cần đề phòng những bệnh liên quan đến hệ tiêu hóa. Đặc biệt ở Tây Phi, Bắc Mỹ và phần Châu Âu. E/ Vệ sinh an toàn thực phẩm: Có nhiều cố gắng mang tính quyết liệt của chỉnh phủ các nước, khiến cho tệ nạn liên quan bị đẩy lùi một cách rất căn bản. Nhưng lại xuất hiện các thực phẩm giả, thuốc giả cần phải đề phóng. Về Thiên tai. Hạn hán, bão lũ đều tăng nặng và mang tính hủy hoại lớn về tài sản, người và của. Về khoa học kỹ thuật. A/ Khoa học kỹ thuật quân sự: Năm tới chỉ là sự hoàn thiện những loại vũ khí, khí tài quân sự tiên tiến đã công bố những năm trước đó. Không có phát minh gì nổi bật. Nhưng trong năm Mậu Tuất sẽ xuất hiện một loại vũ khí, hoặc chí ít là sự manh nha về ý tưởng thực nghiệm một loại vũ khí, dựa trên những nguyên lý vật lý hoàn toàn mới. B/ Khoa học kỹ thuật dân sự: Đây tiếp tục là điểm sáng của năm Mậu Tuất 2018. Sẽ có nhiều phát minh mang tính đột phá trong các ngành khoa học kỹ thuật dân sự. Những bệnh về tim mạch có những phát minh mang tình bước ngoặt. Công nghệ thông tin, điện, điện tử cũng rất phát triển về những phát minh mới. Kết luận. Thưa quý vị. Mậu Tuất Việt lịch 2018, thế giới tuy có sáng sủa hơn về nhiều phương diện. Nhưng sự phát triển chậm chạp và với những thành tựu ít ỏi, không xóa đi được những ám ảnh của sự khủng khoảng kinh tế trong những năm qua vẫn còn ghi dấu ấn trong cuộc sống của con người. Nhưng truyền thống của người Việt Nam chúng ta luôn hy vọng và tin tưởng vào một năm mới mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Và nước Việt với tinh hoa của gần 5000 năm lịch sử, hy vọng vẫn đạt những sự tiến bộ về nhiều mặt trong năm Đinh Dậu Việt lịch. Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý vị. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp, chúc tất cả quý vị có mặt nơi đây cùng gia đình một năm mới an khang thịnh vượng. Xin cảm ơn. ============================
  16. HOA KỶ NĂM MẬU TUẤT VIỆT LỊCH. Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh Nền kinh tế đất nước này tiếp tục phát triển và khởi sắc. Nhưng nó vẫn chưa thể kéo toàn bộ nền kinh tế thế giới phát triển theo nó. Tuy nhiên, nó bắt đầu hỗ trợ sự phát triển của các nước Đồng Minh và các đối tác chiến lược quan trọng. Về ngoại giao, đất nước này vẫn tiếp tục chính sách ngoại giáo đặc thù của TT Donal Trumf. Nhưng một trong những thành tựu xuất sắc của nền ngoại giao Hoa Kỳ năm nay là: Cô lập các đối thủ chiến lược bằng sức mạnh kinh tế và quân sự của họ. Và một điều đáng quan tâm là mối quan hệ giữa Nga và Hoa Kỳ cải thiện đáng kể. Tổng Thống Donal Trumf ngày càng khẳng định vị thế và uy tín của mình.
  17. DẤU VẾT DỊCH LÝ TRONG SÁCH CỔ CỦA ĐỒNG BÀO THỦY TỈNH QUÝ CHÂU Hà Văn Thùy Một trong những thắc mắc của người nghiên cứu Dịch lý là, nếu nói người Lạc Việt làm ra Dịch, vậy thì có bộ phận nào của người Lạc Việt ghi được điều này bằng văn tự? Chúng ta đã không tìm được dẫn chứng loại này trên đất Việt bởi lẽ, ngoài quẻ Lôi thủy giải trên đồ gốm thì văn tự trên đất nước ta xuất hiện muộn, lại là chữ Hán nên không thể lấy làm bằng chứng. Tuy một số sắc tộc anh em như Thái, Mường, Chăm… có chữ cổ của mình nhưng đến nay chưa thấy công bố nghiên cứu nào về chủ đề này. Vì vậy không có cơ sở để biện bác. Rất may là ở vùng người Choang thuộc tỉnh Quý Châu tồn tại bộ tộc Thủy. Xưa kia tổ tiên người Thủy là người Lạc Việt, chủ nhân của toàn bộ Trung Hoa. Nhưng tới thời Hán, người Thủy đã lui vào rừng sâu sinh sống. Dần dần biến thành bộ tộc thiểu số, với khoảng 340.000 người. Người Thủy nói tiếng Thủy và may mắn giữ được sách Thủy (Thủy thư) viết bằng chữ Thủy (Thủy tự). Đó là loại mật thư, được truyền lại từ xa xưa, được gọi là “văn tự hóa thạch sống” một tài liệu vô cùng quý giá chứa đựng tinh hoa của một nền văn hóa cổ xưa, trong đó có nói về Dịch lý. Chúng tôi xin giới thiệu bản dịch bài Thủy thư trên trang baike.baidu.com* “ Thủy thư là chữ viết và ngôn ngữ của tộc Thủy, được gọi là “Lặc Tuy,” do tiên nhân của Thủy thư truyền đời này sang đời khác, hình dạng giống Giáp cốt, Kim văn, chủ yếu dùng để ghi lại quan niệm của tộc Thủy về thiên văn, địa lý, tôn giáo, dân tục, luân lý, triết học cùng thông tin về văn hóa. Nghiên cứu khảo cổ mới nhất cho thấy, chữ viết của tộc Thủy và phù hiệu trên gốm đời nhà Hạ ở di chỉ Yển Sư Nhị Lý Đầu, tỉnh Hà Nam có sự tương thông. Các vị tiên sinh của Thủy thư đã đọc được tận nghĩa của sách khiến cho giới khảo cổ học nể trọng. Tháng 3 năm 2002, Thủy thư được đưa vào “Danh mục chữ khắc ván quý của Trung Quốc.” Thủy thư còn được gọi là “Quỷ thư”, ‘Phản thư”, thứ nhất là do kết cấu, tuy có sự phỏng theo Hán tự nhưng lại viết ngược, viết đảo, hay cải biến phép viết tự hình của chữ Hán. Chữ của Thủy thư không giống chữ Hán về hình dạng còn cách viết thì tương phản, nay rất ít người đọc được. Hiện nay, trên thế giới, Thủy thư và Hán tự là loại văn tự duy nhất không bính âm. Thủy thư Có nhiều ý kiến khác nhau về số chữ của Thủy thư. Cuốn “Thủy tộc gian sử” xuất bản năm 1986 nói có 400 chữ. Sách “Trung quốc Thủy tộc văn hóa nghiên cứu” nói khoảng 500 chữ. Các chuyên gia khảo cứu nói có hơn 2000 chữ, phát hiện chữ dị thể chủ yếu tập trung tại 12 Địa chi, Xuân, Hạ, Thu, Đông, Thiên can, cửu tinh cùng chữ đơn, biệt lệ. Trước mắt phát hiện “Dần, Mão” cùng hơn 30 chữ dị thể. Đối với chữ dị thể trong văn tự cổ của tộc Thủy, có ý kiến cho rằng mỗi chữ có ít nhất một biến thể, tổng số chữ Thủy khoảng 1600 chữ. Giới học thuật Trung Quốc cho là có khả năng Giáp cốt văn, Kim văn có “quan hệ nhân duyên” với Thủy tự, trong đó “Giáp cốt văn là cha”. Tiến sĩ Vương Ý Vinh phát hiện Giáp cốt văn vào năm 1898, tới nay mới 105 năm. Thời Minh phát hiện hai tấm bia văn tự Thủy tộc. Trong thời đại Hoàng Trị đều phát hiện Thủy thư mộc khắc bản. Như vậy, không có nghĩa là chỉ sau khi Giáp cốt văn được phát hiện mới tìm thấy Thủy thư. Giới khảo cổ vất vả hơn 40 năm khảo sát 24 phù hiệu trên đồ gốm nhà Hạ, sau đó cơ quan hữu quan tỉnh Hà Nam xem xét báo cáo về Thủy thư của Quý Châu và so sánh các ván khắc, tìm thấy có hơn mười biểu tượng phù hiệu tương ứng. Họ cho rằng: “chữ cổ Thủy tộc và văn hóa phù hiệu còn lại của nhà Hạ có một mối tương quan.” Thủy thư Thủy thư ghi chép lại, phần lớn là các ngày tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy, phương vị, cát hung, triệu tượng đuổi quỷ xua tà do vu sư thi hành công cụ của pháp sư. Do người Thủy tộc rất tin quỷ thần, nên Thủy thư được dùng rất rộng. Thủy thư có công năng đặc biệt, thúc đẩy người Thủy sùng bái quỷ thần. Tại nơi tụ cư của Thủy tộc, người đọc được và biết sử dụng Thủy thư (tất cả là nam giới) được người dân tôn trọng, gọi là “thầy quỷ” (quỷ sư). Trong dân gian, họ có địa vị rất cao, được mọi người sùng bái. Thủy thư cùng với “quỷ sư” được tổ truyền, là bảo vật trân quý, chỉ truyền nam không truyền nữ. Tuyệt đối không truyền cho người ngoài. Thủy thư là cuốn sách giáo khoa, quỷ sư là giáo sư. Quỷ sư và Thủy thư kết hợp là thuộc hệ tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy của Thủy tộc. Mối liên kết của thế giới quỷ thần, là nhân tố vật chất được truyền thừa của văn hóa vu thuật và duy trì lâu dài một thế giới thần bí. Ngoài nội dung tôn giáo tín ngưỡng nguyên thủy, Thủy thư còn chứa rất nhiều thông tin về các thiên tượng, tư liệu lịch pháp cùng văn tự cổ, là di sản văn hóa lịch sử vô giá của Thủy tộc. Một số trong đó là lý thuyết hiện nay như Cửu tinh, Nhị thập bát tú, Bát quái cửu cung, Thiên can địa chi, nhật nguyệt ngũ tinh, Âm Dương ngũ hành, Lục thập giáp tử, tứ thời ngũ phương. Quy chế thất nguyên lịch được đề cập trong Chính nguyệt kiến Tuất của Thủy lịch, cho thấy tổ tiên Thủy tộc đã kết tinh trí tuệ và nghệ thuật cao, bao hàm triết học của khoa học luân lý và biện chứng duy vật sử quan. Trong văn hóa Trung Quốc nó được xem là những trang sáng lạn nhất. Kết cấu của văn tự cổ Thủy tộc đại loại có ba loại hình: thứ nhất là chữ tượng hình, giống như Giáp cốt và Kim văn; thứ nhì là chữ phỏng theo Hán ngữ, tức là cách viết ngược, viết đảo hay cải biến chữ Hán; ba là văn tự tôn giáo, tức các phù hiệu biểu thị mật mã của tôn giáo Thủy tộc cổ truyền. Sách được viết theo hình thức từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, không có dấu chấm câu. Văn tự Thủy tộc có ba hình thức lưu truyền chủ yếu: khẩu truyền, viết trên giấy, thêu, viết lên da, khắc trên ván gỗ, viết trên gốm rồi nung v.v…Thủy thư chủ yếu dựa vào viết tay, truyền khẩu lưu truyền tới nay, vì vậy được các chuyên gia học giả thế giới khen ngợi là văn tự tượng hình “hóa thach sống.” Do là kết cấu tượng hình, chủ yếu chúng mô tả hoa, chim, trùng, cá và những thứ khác trong thế giới tự nhiên, cũng như một số totems như con rồng và bằng văn bản cùng các miêu tả vẫn giữ được nền văn minh cổ xưa của nó.” Bản văn trên cho thấy, Thủy tự, Thủy thư là di sản vô cùng quý giá của người Lạc Việt. Tuy nhiên trong một bài viết, vấn đề chưa được các học giả Trung Quốc nghiên cứu một cách căn để. Trong khi đó, học giả người Việt dường như chưa quan tâm đến sự kiện quan trọng này. Dựa theo văn bản trên, chúng tôi xin lạm bàn đôi điều. Trước hết, ta thấy rằng, tác giả của nó đại diện cho tính chính thống Hán tộc nên có xu hướng kéo cả người Thủy lẫn chữ Thủy vào trong vòng ảnh hưởng của Hán tộc: tất cả đều có xuất xứ từ Trung Nguyên. Người Thủy là một nhánh của Hạ tộc di cư xuống. Trong chữ Thủy có tới 10 ký hiệu xuất hiện trên gốm nhà Hạ! Tuy nhiên, đó là cách ngụy biện do lý giải ngược. Nay ta biết rằng, nhà Hạ là hậu duệ của người Lạc Việt từ Nam Dương Tử đi lên. Còn lý hiệu trên gốm nhà Hạ chưa phải ký tự. Trong khi đó, tại Cảm Tang Quảng Tây cách đó không xa, phù tự là loại chữ dùng cho cúng tế bói toán được khắc trên đá từ 6000 đến 4000 năm trước! Như vậy là, chữ tượng hình do người Lạc Việt sáng tạo mà duy nhất người Thủy giữ được cùng với sách Thủy. Các chuyên gia không cho biết chữ Thủy xuất hiện từ bao giờ. Nhưng dựa vào lịch sử chữ viết Lạc Việt, ta có thể đoán rằng, đo là do một dòng chảy liên tục từ chữ Cám Tang cho tới chữ Thủy. Có nghĩa là, chữ Thủy có lịch sử 6000 năm. Nói rằng, trong chữ Thủy có một số chữ Hán cũng có thể có cơ sở. Đó là do tiên nhân người Thủy đã mượn chữ Hán làm phong phú hơn cho chữ viết của mình. Tuy nhiên, chữ Thủy có đặc trưng riêng của mình. Thế nào là cách viết ngược, viết đảo hay cải biến chữ Hán? Chi tiết này cho thấy chữ Thủy có gốc từ chữ tượng hình Lạc Việt. Trong khi người Trung Quốc thời Tần, Hán cải biến chữ của người Việt để viết theo cách nói Mông Cổ thì người Thủy vẫn giữ cách viết Lạc Việt truyền thống. Do vậy khi nhìn bản văn chữ Thủy, người Hán cho là viết ngược hay viết đảo với chữ Hán, tức là viết theo cú pháp Việt: phụ trước chính sau mà không phải như chữ Hán viết theo kiểu phụ trước chính sau. Người việt nói thịt gà, trong khi người Hán nói gà thịt! Điều này là thêm khẳng định thỷ Thư là của người Lạc Việt. Bài viết trên cho ta thông tin giá trị: từ xa xưa, chậm nhất là 4000 năm trước, người Thủy đã biết tới Cửu tinh, Nhị thập bát tú, Bát quái cửu cung, Thiên can địa chi, nhật nguyệt ngũ tinh, Âm Dương ngũ hành, Lục thập giáp tử, tứ thời ngũ phương. Quy chế thất nguyên lịch được đề cập trong Chính nguyệt kiến Tuất của Thủy lịch. Điều này là bằng chứng hùng hồn nói rằng, 12 con giáp cho các con giống của hàng Can cũng như 10 số đếm của hàng Chi là do người Việt đặt. Và trùm lên tất cả, ta thấy sự phổ biến của Dịch lý trong sách Thủy. Đó cũng là một bằng chứng cho thấy người Lạc Việt là chủ nhân của Dịch lý. *Dịch từ 水书 http://baike.baidu.com/view/95537.htm
  18. LỜI TIÊN TRI 2017. Thiên tai tăng nặng..... https://thanhnien.vn/the-gioi/51-con-du-chan-theo-sau-dong-dat-tai-han-quoc-it-nhat-75-nguoi-bi-thuong-900966.html
  19. Bí quyết trị hôi miệng từ rượu ngâm vôi Hùng Linh | 18/09/2015 21:52 Hơi thở nặng mùi mỗi khi tôi giao tiếp khiến mọi người không thấy thoải mái. Đó là lý do duy nhất khiến tôi phải ngậm ngùi chia tay với người yêu đầu. Điều "kỳ diệu" gì sẽ xảy ra nếu bạn chịu khó ăn rau khoai lang? Nữ y tá dở khóc dở cười vì bệnh nhân nam có "hành động kỳ quặc" Giúp gan giải độc bia rượu cực đơn giản 20 con giòi ngoe nguẩy trong cơ thể người đàn ông Đi viếng đám ma làm cho bệnh ung thư di căn nhanh, tái phát? Tuyệt chiêu trị nám da, trị mụn và hôi miệng từ rau mùi tàu Mẹo trị hôi nách, hôi chân, hôi miệng thật dễ dàng Khi mới yêu nhau, anh động viên, đó chỉ là triệu chứng của hiện tượng hở van dạ dày nên tôi đã tự tin và hi vọng rằng, một ngày nào đó, chứng hôi miệng của mình có thể được chữa khỏi. Nhưng rồi, chứng bệnh ấy đã mang lại cho tôi không ít phiền toái và nặng nề. Gia đình anh cho rằng, chứng bệnh đó khó mà khỏi hẳn, điều đó sẽ khiến tôi không tự tin trong những lần giao tiếp, những buổi tiệc tùng giao lưu cùng chồng (nếu tôi lấy anh) sau này. Bởi những buổi tiệc chiêu đãi sẽ khó mà tránh được khi anh đang ở cương vị giám đốc một công ty lớn. Áp lực từ phía gia đình khiến anh khó xử khi phải đối diện với việc chia tay tôi, nhưng tôi hiểu, phụ huynh cũng có lý của họ. Từ đó, tôi thu mình vào ốc đảo riêng, hạn chế giao tiếp tới mức tối thiểu. Đến chỗ làm, tôi hạn chế giao tiếp với mọi người, khi có việc cần phải trao đổi tôi chỉ dám nói lí nhí, cố gắng giữ yên được khoang miệng sao cho hơi thở không thoát ra ngoài để người khác không cảm thấy khó chịu từ phía mình. Dù thử với bất cứ mẹo vặt nào được mách bảo nhưng tôi không thể đẩy lùi chứng hôi miệng. Tôi khổ sở tới mức cứ ai mách gì là cũng làm theo đó, riết rồi chán nản, nhiều lúc tôi buông xuôi bởi mặc cả tự ti về bản thân mình. Thế rồi, may mắn dường như đến với tôi rất tình cờ khi đến chơi nhà một người bạn. Cùng lúc đó, một người hàng xóm sang nhà bạn tôi xin một chút rượu trắng (rượu nguyên chất nấu từ gạo ra). Tôi hơi ngạc nhiên khi cô ấy rót rượu vào chai thì chai trở lên trắng bạc. Tôi thắc mắc thì được giải thích, trong chai đã được cô ấy cho vào một ít vôi tôi. Tôi tò mò hỏi công hiệu của nó thì được cô cho biết, cô ngâm rượu và vôi để có được dung dịch dùng cho việc chữa hôi miệng và trắng răng. Tôi mừng như bắt được vàng, hỏi kỹ ra mới biết, đó là phương thức cổ truyền cô ấy cũng được một người làm thuốc nam từ lâu đời mách cho. Dùng vôi tôi kỹ, bột vôi trắng mịn với một lượng vừa phải, sau đó rót rượu nguyên chất vào lắc đều để có được dung dịch trắng bạc. Hàng sáng, sau khi thức dậy, sử dụng một lượng vừa phải ngậm và súc miệng trong khoảng 10 đến 15 phút. Chỉ sau một tuần, hơi thở sẽ nhẹ hơn và sẽ dứt hẳn sau tháng đầu tiên. Tôi mừng rỡ và hi vọng mình cũng có kết quả tốt đẹp như người hàng xóm nhà bạn tôi. Ở thành phố, kiếm vôi tôi thật khó, trong khi ra hàng là có thể mua được vôi bột nhưng chỉ mua với số lượng nhỏ nên nhà buôn không muốn bán cho tôi. Thế là tôi lại hì hục dặn người ở quê giúp tôi việc tìm một ít vôi bột trắng tinh. Có được vôi, tôi lại tìm mua thứ rượu mà người ta đề là rượu quê để thực hành. May mắn thật sự đến với tôi khi sau tuần đầu tiên súc miệng bằng thứ dung dịch ấy, hơi thở của tôi nhẹ đi rất nhiều. Tôi thấy được niềm tin trong cuộc sống và tự tin hơn khi giao tiếp và bắt đầu có ý muốn tìm đến những buổi hẹn đi chơi cùng cả nhóm, các đồng nghiệp trong công ty. Biệt danh “ốc sên” của tôi dần dà được đổi thành “thỏ láu” bởi bản chất hoạt ngôn của tôi lâu nay bị vùi lấp vì chứng bệnh khó chịu. Sau một tháng kiên trì thử nghiệm, chứng hôi miệng đã không còn làm phiền tôi nữa. Tôi hoàn toàn tự tin trong giao tiếp và có thể tự do cười nói một cách thoải mái. Giờ, cuộc sống tràn ngập niềm vui và có nhiều điều chờ đón tôi khám phá. Để có thể phòng ngừa chắc chắn triệu chứng hôi miệng, tôi tiếp tục duy trì ngậm và súc miệng bằng rượu ngâm vôi tôi với cường độ thưa dần. Khung trời mới, những niềm vui mới, tình yêu mới đang chờ đón tôi. Và tôi đang tận hưởng cuộc sống thoải mái với niềm tin vào chính bản thân mình. "Tiểu xảo" giúp quý ông uống bia rượu không say theo Khỏe & Đẹp
  20. LỜI TIÊN TRI 2017. Thiên tai tăng nặng..... https://thanhnien.vn/the-gioi/hon-100-nguoi-chet-1000-nguoi-bi-thuong-vi-dong-dat-o-iran-899470.html
  21. THAM LUẬN HỘI THẢO KHOA HỌC *** CỘI NGUỒN KINH DỊCH VÀ CÁC VẤN ĐỀ CỦA TƯƠNG LAI. Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Văn hiến Việt Nam, chìa khóa khám phá chân lý cuối cùng của vũ trụ, cho sự phát triển bền vững. Kính thưa quí vị Hôm nay, chúng ta họp mặt nơi đây, để trao đổi và khám phá bản chất và cội nguồn của kinh Dịch với hệ thống ký hiệu quen gọi là Bát quái. Chúng ta cũng dễ dàng thống nhất ý kiến về tính bí ẩn huyền vĩ của bộ sách gọi là Chu Dịch này, vốn được coi là "tứ đại ký thư" của nền văn minh Đông phương. Vào thế kỷ trước, chính phủ Trung quốc, vốn tự nhận là cội nguồn của văn minh Đông phương, đã phổi hợp với UNESCO cơ quan văn hóa Liên Hiệp Quốc, bốn lần tổ chức hội thảo quốc tế về kinh Dịch, nhưng vẫn chưa thể khám phá được bản chất và cội nguồn của nó. Nhưng để tìm ra bản chất đích thực của sự kiện và vấn đề thì quy mô tổ chức không phải là yếu tố quyết định. Mà nó còn lệ thuộc vào phương pháp tiếp cận, khám phá bản chất hiện tượng.Cho nên, mặc dù với quy mô nhỏ hơn và bất cập về nhiều phương diện, chúng ta vẫn đủ tự tin để tổ chức một cuộc hội thảo về những bí ẩn của nền văn minh Đông phương. Nếu cuộc hội thảo khoa học về kinh Dịch lần này của chúng ta thành công với những kết luận của nó, thì đây chính là một đóng góp quan trọng, vì làm sáng tỏ bản chất của nền văn minh Đông phương kỳ vĩ và đầy huyền bí, đang sừng sững thách đố trí tuệ của toàn thể nhân loại. Ra ngoài khoa học, bà Vanga nhà tiên tri nổi tiếng người Bungari đã nói: "Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại trong tương lai". Lý thuyết cổ xưa đó nằm ở đâu trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại và nó có thật hay không? Phải chăng đó chính là một lý thuyết thống nhất vũ trụ còn tiềm ẩn trong lịch sử văn minh nhân loại, mà con người chưa khám phá ra? Từ những vấn đề được đặt ra, chúng tôi tin tưởng vào ý nghĩa của việc tìm kiếm những bí ẩn của nền văn minh Đông phương huyền vĩ. Mà một trong những bí ẩn lớn nhất chính là "Cội nguồn kinh Dịch", để chúng ta có mặt nơi đây ngày hôm nay. Chúng ta cũng đã biết rằng: mục tiêu của những khoa học gia hàng đầu, vẫn quan sát và tìm kiếm để tạo ra một lý thuyết thống nhất cho con người nắm bắt và làm chủ được cuộc sống của mình. S.W Hawking đã giúp lý giải cho động cơ của các nhà khoa học: “Nếu chúng ta thực sự tìm ra được một lý thuyết tối hậu về vũ trụ, thì điều đó có ý nghĩa như thế nào? Chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn hoàn toàn rằng quả chúng ta đã tìm ra được một lý thuyết hoàn chỉnh. Song nếu lý thuyết chặt chẽ về mặt toán học và luôn đưa ra được những tiên đoán phù hợp với quan sát, thì chúng ta có thể tin một cách hợp lý rằng đó là một lý thuyết đúng đắn. Nó sẽ kết thúc một chương dài và vinh quang trong lịch sử đấu tranh trí tuệ của con người để tìm hiểu vũ trụ. Đồng thời nó cũng cách mạng hóa sự hiểu biết các định luật vũ trụ của con người bình thường". Tuy nhiên, cũng chính Hawking đã viết “Đến thời điểm này, đa số các nhà khoa học quá bận rộn vào việc phát triển những lý thuyết để trả lời câu hỏi như thế nào và chưa bận tâm tới câu hỏi vì sao? Mặt khác, những triết gia là những người mà công việc là đặt ra câu hỏi vì sao, lại không đủ điều kiện để thông tuệ được các lý thuyết hiện đại.” Và để tiếp tục cho những vấn được đặt ra, tôi xin được bắt đầu trình bày với tiêu mục: I.Thế giới tìm hiểu những giá trị của văn minh Đông phương. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu và hội thảo về Kinh Dịch trên khắp thế giới, nhưng kết quả vẫn là sự huyền bí kỳ vĩ của nền văn minh Đông phương, sừng sững thách đố trí tuệ nhân loại, trong sự hội nhập của lịch sử các nền văn minh.. Giáo sư Lê Văn Sửu – một học giả có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa cổ Đông phương của Việt Nam – đã nhận xét trong tác phẩm "Nguyên lý thời sinh học cổ phương Đông" của ông như sau: "Gần đây có rất nhiều nhà khoa học ở đủ mọi ngành và ở nhiều nơi trên thế giới, với các phương tiện hiện đại có nhiều đặc tính ưu việt như: tinh vi, nhanh chóng, chính xác trong tay, họ đã và đang nghiên cứu nền tảng của di sản văn minh phương Đông này. Thế nhưng, sự tiếp cận thực chất của nó còn đang là một khó khăn to lớn". Người ta không thể tìm ra một cái đúng từ một cái sai. Cái sai lớn nhất, chính là con người trong lịch sử nền văn minh đã mặc định kinh Dịch thuộc về nền văn minh Hán. Chính vì sự mặc định này, cho nên hệ quả tất yếu của nó là: Mặc nhiên xác định những yếu tố cấu thành nên nội dung của những giá trị phương Đông là những thành tựu của nền văn minh này và coi là đối tượng nghiên cứu, không cần biết đúng hay sai, ngay trong nội hàm của nó. Hay nói cách khác: Sự hiểu sai về nguồn gốc của nền tảng tri thức, tạo nên một hệ thống tri thức sản phẩm của nó là kinh Dịch, đã tạo ra sự bế tắc - khi không thể hiểu được những phạm trù, thuật ngữ khái niệm... cấu thành nên hệ thống tri thức của kinh Dịch. Tất nhiên, khi ngay cả nội hàm những cấu trúc và câu từ mô tả trong kinh Dịch, còn mờ mịt khó hiểu thì không thể có khả năng hiểu toàn bộ hệ thống. Cái sai thứ hai chính là phương pháp nghiên cứu. Nhận định của Giáo sư Lê Văn Sửu trong cuốn "Nguyên lý thời sinh học cổ phương Đông" của ông, đã cho thấy định hướng một phương pháp nghiên cứu sai. Kinh Dịch là sản phẩm của tư duy tổng hợp trừu tượng, những quy luật tương tác của tự nhiên, vũ trụ, cuộc sống và con người có thể tiên tri. Hay nói rõ hơn: Kinh Dịch là sản phẩm của hệ thống tư duy trừu tượng và là thành tố trong cấu trúc của một hệ thống lý thuyết. Trong khi đó, tất cả các phương tiện kỹ thuật, chỉ hỗ trợ cho sự nhận thức trực quan những trạng thái tồn tại của vật chất của con người. Nói một cách đơn giản hơn: Chúng ta không thể đi tìm bản chất các ký hiệu Bát quái bằng kính hiển vi. Dù đó là kính hiển vi hiện đại nhất. Và đó là nguyên nhân để những phương tiện kỹ thuật hỗ trợ cho nhận thức trực quan của việc khám phá cấu trúc thế giới vật chất, không phải là điều kiện đủ để thẩm định một hệ thống lý thuyết đúng hay sai. Chúng tôi xác định rằng: Bất cứ một học thuyết, một hệ thống lý luận nào, dù nhân danh khoa học hay tôn giáo, đều phải có những điều kiện cho sự hình thành và phát triển của nó. Những tiêu chí xác định một học thuyết, một hệ luận thuộc về nền văn minh nào phải gồm tối thiểu ba yếu tố sau đây: 1/ Lịch sử phát triển và hình thành học thuyết được mô tả một cách hợp lý thuộc về lịch sử của nền văn minh đó. 2/ Tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán và hợp lý nội tại của một học thuyết hình thành trong một nền văn minh. 3/ Nền tảng tri thức của một nền văn minh là cơ sở cho sự hình thành một học thuyết thì nó phải có khả năng phục hồi lại học thuyết đó. Trên cơ sở những tiêu chí này, chúng tôi trình bày lần lượt các vấn đề liên quan để chứng minh quan điểm của chúng tôi và là cơ sở để tìm về cội nguồn kinh Dịch và bản chất của nó. Chúng tôi xin bắt đầu từ tiêu chí thứ 1: I/ 1.Lịch sử phát triển và hình thành học thuyết mô tả một cách hợp lý thuộc về lịch sử của nền văn minh đó. Từ vấn đề này, chúng tôi lần lượt trình bày lịch sử kinh Dịch mô tả qua bản văn chữ Hán và rất phổ biến từ hàng ngàn năm qua, như sau: I. I. 1/ Hà Đồ và Thiên thiên Bát quái. Theo truyền thuyết được ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán: Vua Phục Hy - được coi là xuất hiện vào khoảng 6500 cách ngày nay - đi tuần bên sông Hoàng Hà, thấy con Long mã xuất hiện. Trên lưng Long Mã có những vòng xoáy. Căn cứ vào vòng xoáy trên lưng Long Mã, vua Phục Hy làm ra Hà Đồ và tạo ra Tiên thiên bát quái. Tuy nhiên đồ hình Hà Đồ và Tiên Thiên Bát quái chính thức xuất hiện vào cuối thời Tống - 1000 năm cách ngày nay - do Thiệu Khang Tiết công bố. Tức là nó chỉ chính thức xuất hiện vào 5500 năm sau khi được coi là do vua Phục Hy phát hiện theo truyền thuyết. I.I. 2/ Lạc Thư. Theo truyền thuyết được ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán: Vua Đại Vũ - được coi là 4000 năm cách ngày nay, (tức 2500 năm sau vua Phục Hy phát minh ra Hà Đồ phối Tiên Thiên Bát quái) - đi trị thủy ở sông Lạc Thủy, thấy một con rùa thần, trên lưng , đầu tứ chi và đuôi có những chấm lạ. Dựa trên những chấm này, vua Đại Vũ phát minh ra đồ hình Lạc Thư và làm ra Hồng Phạm cửu trù. Trù thứ nhất chính là sự mô tả Ngũ hành. I. 1. 3/ Hậu Thiên bát quái và bản văn Chu Dịch. Theo truyền thuyết được ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán: A/ Vua Văn Vương - được coi là 3000 năm cách ngày nay , (Tức sau vua Đại Vũ 1000 năm và vua Phục Hy 3500 năm) - bị vua Trụ Vương giam ở ngục Dữu Lý 7 năm (Có sách chép 2 năm). Trong thời gian bị giam giữ, đã căn cứ vào đồ hình Lạc Thư của vua Đại Vũ, phát minh ra Hậu Thiên Bát quái và viết Soán Từ mô tả tính chất 64 quẻ Dịch Hậu Thiên bát quái. B/ Con của Chu Văn Vương là Chu Công Đán soạn ra Hào Từ. C/ Khổng tử - được coi là 2500 năm cách ngày nay , (Tức sau vua Phục Hy 3500 năm; sau vua Đại Vũ 1500 năm và cha con Chu Văn Vương 500 năm - soạn ra Thuyết quái, Thập Dực, Thoán từ thượng hạ truyện. Đến đây cuốn Chu Dịch được coi là hoàn tất theo truyền thuyết được ghi nhận trong các bản văn cổ chữ Hán. I. I. 4/ Một điều rất đáng lưu ý là: Theo những bản văn cổ sưu tầm được thì cả những đồ hình như "Tiên Thiên Bát quái phối Hà Đồ" (Được coi là do vua Phục Hy sáng tạo từ trên lưng Long Mã); "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư" (Được coi là do vua Văn Vương sáng tạo từ Lạc Thư trên con rùa thần), đều chỉ được công bố vào đời Tống do các Đạo gia thực hiện. Tức là khoảng cách thời gian, từ khi ghi nhận sự sáng tạo của Phục Hy và Văn Vương, đến khi những đồ hình này được chính thức công bố vào đời Tống, lần lượt là: A/ Đồ hình Tiên Thiên Bát quái phối Hà Đồ (Do vua Phục Hy sáng tạo), đến thời Tống là hơn 5000 năm (?!). B/ Đồ hình Hậu Thiên Bát quái phối Lạc Thư (Do vua Văn Vương sáng tạo), đến thời Tống là hơn 2500 năm (?!). I. II - Lịch sử hình thành kinh Dịch theo bản văn chữ Hán - Những vấn đề được đặt ra. Như vậy, ở phần 1. I, chúng tôi đã trình bày lịch sử kinh Dịch theo truyền thuyết và các văn bản cổ chữ Hán. Trên cơ sở này chúng tôi ứng dụng tiêu chí thứ nhất để phân tích các vấn đề liên quan Những vấn đề được đặt ra cho lịch sử kinh Dịch mà nền văn minh Hán tự nhận là của họ, có những điều hoàn toàn không thể thuyết phục dưới bất cứ một góc nhìn nào, là: I.II,1/ Nguyên nhân sự phát hiện ra Bát quái - căn nguyên của kinh Dịch, lại bắt nguồn từ hai linh vật thần thoại là con Long Mã trên sông Hoàng Hà và con Thần Quy trên sông Lạc Thủy. I.II,2/ Khoảng cách thời gian lịch sử quá dài cho tính ứng dụng và lưu truyền, là: A/ Từ thời vua Phục Hy đến thời Chu Văn Vương là hơn 3000 năm, đồ hình Tiên thiên Bát quái phối Hà đồ đã dùng để làm gì trong cuộc sống và xã hội, để có điều kiện tồn tại vượt thời gian như vậy? B/ Từ thời kinh Dịch được coi là hoàn chỉnh vào thời Khổng tử, đến khi hai đồ hình 'Hà đồ phối Tiên Thiên Bát quái" và "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư", lại chỉ chính thức xuất hiện vào thời Tống. Tức là cách thời Không Tử đúng 1500 năm. Vậy từ thời Khổng Tử cho đến Tống, người ta dùng kinh Dịch để làm gì, ngoài việc bói toán? C/ Cho đến tận ngày hôm nay, khi tôi đang ở đây trình bày với quý vị với bản tham luận này thì ngay các học giả Trung Hoa và các nhà nghiên cứu trên thế giới, vẫn chưa thể xác định được: "Mục đích ra đời của kinh Dịch". Và một vân đề đau đầu cho các nhà nghiên cứu cổ kim, là: Thuyết Âm Dương Ngũ hành ra đời vào lúc nào trong lịch sử văn minh Hán? Khi mà thuyết Ngũ hành được cho rằng ra đời vào đời vua Đại Vũ - 4000 năm cách ngày nay - thì từ thời Hoàng Đế - hơn 5000 năm cách ngày nay, tức trước cả vua Đại Vũ hơn 1000 năm - thuyết Âm Dương Ngũ hành đã ứng dụng trong cuốn "Hoàng Đế nội kinh tố vấn"- vốn là một cuốn sách lý luận kinh điển của Đông Y?! Hay nói rõ hơn: Sự ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành với hệ Can Chi ra đời trước khi lý thuyết này được phát hiên hàng Thiên Niên kỷ. Kính thưa quý vị. Như vậy, chúng ta có thể xác định ngay rằng: Lịch sử hình thành kinh Dịch theo truyền thuyết và các bản văn chữ Hán, hoàn toàn mơ hồ và không đủ tin cậy. Bây giờ, chúng ta xét đến tiêu chí thứ II: II. Tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán và hợp lý nội tại của một học thuyết hình thành trong một nền văn minh. II.1/ Tính chất Ngũ hành của các quái trong Bát quái Tiên Thiên và Hậu Thiên trong tương quan đồ hình tích hợp với nó là Hà Đồ và Lạc Thư. Để mở đầu cho phần này, chúng tôi xin dẫn lời của nhà nghiên cứu học giả Nguyễn Hiến Lê trong cuốn: "Kinh Dịch - Đạo của ngươi quân tử", trong phần nói về Hà đồ, Lạc thư, đã viết như sau: Nhất là so sánh hai hình đó (Hà Đồ và Lạc Thư) với bát quái, thì dù giàu tưởng tượng tới mấy, cũng không thể bảo rằng bát quái phỏng theo hai đồ hình đó được. Có thể học giả nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê hiểu theo cách của ông. Nhưng tôi xin trình bày với quý vị góc nhìn của tôi như sau: A/ Tất cả những ai đã đọc kinh Dịch, đều thấy rất rõ rằng Bát quái có thuộc tính được mô tả trong Thuyết Quái truyện do Khổng Tử san định như sau: Càn là Trời, Khảm là Thủy, Cấn là Núi,là Thổ, Chấn là Mộc, Khôn là Thổ, Ly là Hỏa, Tốn là Mộc, là gió, Đoài là Kim, là đầm trạch....Nhưng trong kinh Dịch thì không có một chữ nào nói tới Ngũ hành. B/ Cũng theo sách Hán thì chúng được tích hợp trong hai mô hình là Tiên Thiên Bát quái phối Hà Đồ và Hậu Thiên Bát quái Văn Vương phối Lạc Thư. Xin quý vị xem hình dưới đây: TIÊN THIÊN BÁT QUÁI PHỐI HÀ ĐỒ. HẬU THIÊN BÁT QUÁI PHỐI LẠC THƯ - C/ Chúng ta cũng biết rằng theo độ số Ngũ hành trong bài khẩu quyết lưu truyền từ thời Tống trong cổ thư chữ Hán, ghi rõ: Thiên cửu (9) sinh Kim, Địa tứ (4)thành chi Thiên Thất (7) sinh Hỏa, Địa nhi (2)thành chi. Trong Hồng Phạm cửu trù theo bản văn chữ Hán cũng ghi rõ: Trong trù thứ nhất là Ngũ hành, như sau:Thiên nhất sinh thủy, Thiên nhị sinh Hỏa, Thiên Tam sinh Mộc, Thiên tứ sinh Kim. Xin nói rõ hơn: Các bản văn cổ đều xác nhận hành Kim có độ số 4 - 9. hành Hỏa có độ số 2 - 7. Nhưng so sánh nguyên lý căn để sử dụng trong các phương pháp ứng dụng từ cổ thư chữ Hán, là "Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc thư", thì không có tính nhất quan, tính hệ thống của đồ hình này. Đoài Kim theo bản văn kinh Dịch thì lại ở độ số của hành Hỏa 7; ngược lại quái Ly Hỏa lại ở độ số của hành Kim 9. Đây là một thí dụ sắc xảo cho thấy sự bất cập ngay từ cấu trúc nguyên lý căn để liên quan đến Kinh Dịch và Ngũ Hành trong các bản văn chữ Hán. Bây giờ chúng ta xét đến tiêu chi thứ 3: 3/ Nền tảng tri thức của một nền văn minh là cơ sở cho sự hình thành một học thuyết thì nó phải có khả năng phục hồi lại học thuyết đó. Kính thưa quý vị Từ hơn 2000 năm nay, tính từ khi nền văn minh Lạc Việt - theo chính sử Việt ghi nhận - sụp đổ ở miền Nam sông Dương tử, thì nền văn minh Hán vẫn không thể phục hồi được học thuyết Âm Dương Ngũ hành và hiểu được bản chất của kinh Dịch. Có lẽ tôi không cần chứng minh. Vì đó là điều hiển nhiên. Những bí ẩn của nền văn minh Đông phương vẫn sừng sững một cách huyền vĩ thách đố tri thức của toàn nhân loại, cho đến tận ngày hôm nay, khi chúng ta đang ngồi đây để tìm về cội nguồn kinh Dịch.. Sự xác định: nền văn minh Hán không phải chủ nhân đích thực của nền Lý học Đông phương, mà nền tảng của nó là Lý thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. sẽ tiếp tục với nội dung "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch". Chúng tôi cũng căn cứ vào những tiêu chí khoa học đã trình bày, tôi xin được phép tiếp tục chứng minh cho vấn đề này: II. Cội nguồn và nội dung của kinh Dịch. Kính thưa quý vị. Kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành không thể từ trên trời rơi xuống. Đương nhiên phải có một nền văn minh sở hữu hệ thống tri thức huyền vĩ này thuộc về nền văn minh Đông phương. Và chúng tôi cần xác định ngay rằng: Dân tộc Việt chính là chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ hành va kinh Dịch.Căn cứ vào tiêu chí thứ nhất, chúng tôi đã xác định là: II.I/ Lịch sử phát triển và hình thành học thuyết mô tả một cách hợp lý thuộc về lịch sử của nền văn minh đó. Lịch sử dân tộc Việt được ghi nhận trong chính sử Việt, kéo dài từ năm 2879 Trước CN, đến nay trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử. Và dân tộc này đã bị một đêm dài lịch sử thời Bắc thuộc hơn 1000 năm. Đây không phải là một con số vô cảm chỉ đọc trong một giây. Không một dân tộc nào đã mất nước, nhưng vẫn có chính sử ghi nhận cả. Không có một trường hợp ngoại lệ nào trong lịch sử văn minh nhân loại. Do đó, chúng ta không thể dẫn chứng bằng những bản văn lịch sử liên quan để chứng minh cho vấn đề này. Nhưng những dấu ấn còn lại của truyền thống văn hóa Việt lại xác định lịch sử hệ thống tri thưc của nền văn minh Đông phương là thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái thuộc về Việt tộc, như: "áo cài vạt bên trái" Nam tả , nữ hữu"; hoặc những danh từ mô tả Bát quái là những từ phổ biến trong sinh hoạt cuộc sống của người Việt, như: "Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Khôn, Ly, Tốn, Đoài"...Đây là chúng tôi chỉ dẫn chứng những ví dụ. Chúng tôi đã chứng minh trong các sách đã xuất bản, các bài viết liên quan trên các diễn đàn mạng...thì những di sản này vô cùng đồ sộ. Điều này chứng tỏ rằng: Những tri thức huyền vĩ của nền văn minh Đông phương, đã rất phổ biến trong xã hội Việt từ những ngày xa xưa của Việt sử. nên độ dày của nó vẫn tiếp tục thể hiện đến ngày hôm nay. Cho dù dân tộc Việt phải vượt qua những thăng trầm khốc liệt của lịch sử. Và chính những di sản văn hóa truyền thông Việt lại chứng tỏ một khả năng phục hồi lại thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái. Để chứng minh tiếp tục điều này, chúng tôi trình bày tiếp tục tiêu chí thứ hai, là: .II. II/ Tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán và hợp lý nội tại của một học thuyết hình thành trong một nền văn minh. Kính thưa quý vị. Những di sản văn hóa truyền thống của Việt tộc, xác định rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái - tức kinh Dịch - là một hệ thống lý thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh, nhất quán. Chứ không phải là ba bộ phận rời rạc và xuất hiện từng phần trong lịch sử phát triển của nền văn minh Hán, như các bản văn chữ Hán mô tả. Và chọ đến ngày hôm nay, các nhà nghiên cứu lịch sử văn minh Đông phương, kể cả Trung Hoa, cũng không xác định được học thuyết này ra đời vào giai đoạn nào trong lịch sử văn hóa Hán. Mặc dù, những hệ luận của học thuyết này trong tất cả các phương pháp ứng dụng của nền văn minh Đông phương, như Đông Y, Kiến trúc xây dựng (Địa Lý phong thủy), dự báo...vv....đều xác định thuyết Âm Dương Ngũ hành và bát quái là một hệ thống hoàn chỉnh cho những ứng dụng của nó và ra đời trước các hệ thống ừng dụng. Bát quái rõ ràng là những ký hiệu phi ngôn ngữ. Đương nhiên nó chỉ có thể là những ký hiệu Toán học của một nền văn minh xa xưa. Các nhà khoa học hiện đại đã xác định rằng: "Một lý thuyết khoa học thì phải có một mô hình toán học mô tả được nó". Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử văn minh Đông phương và kinh Dịch, cho đến ngày hôm nay, vẫn căn cứ vào các bản văn chữ Hán, để xác định rằng: Bát quái là những phát hiện độc lập và không liên quan gì đến thuyết Âm Dương và Ngũ hành. Vậy thì ký hiệu Bát quái trong Dịch học - khi không phải là ký hiệu mô tả ngôn ngữ - tất yếu nó phải là những ký hiệu toán học mô tả thuyết Âm Dương Ngũ hành và là một bộ phận hữu cơ của học thuyết này. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Và chúng ta có thể xác định ngay rằng: Chình những bản văn cổ chữ Hán, khi mô tả bát quái Hậu Thiên hay Tiên Thiên - một cách hết sức quái dị thì đều phải thừa nhận cơ sở của nó là Lạc thư, hay Hà Đồ. Mà Lạc Thư hay Hà Đồ, đều là mô hình biểu kiến mô tả một nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành, đ6y là điều không cần phải tranh luận. Như vậy, chúng tôi đã xác đinh tính hệ thống, hoàn chỉnh, nhất quán và sự liên hệ mang tính hữu cơ của mô hình bát quái với thuyết Âm dương, Ngũ hành. Đương nhiên nó thuộc về Việt tộc. Và chỉ có những di sản văn hóa truyền thống của Việt tộc, mới có khả năng phục hồi lại học thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái, tức kinh Dịch. Chúng tôi xin tiếp tục trình bày tiêu chí thứ ba. Tiêu chí này phát biểu rằng: III/ Nền tảng tri thức của một nền văn minh là cơ sở cho sự hình thành một học thuyết thì nó phải có khả năng phục hồi lại học thuyết đó. Kính thưa quý vị. Có thể nói đây là tiêu chí quan trọng nhất và là nền tảng chứng minh cho cội nguồn Kinh Dịch, thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về nền văn minh Việt. Chính từ những di sản văn hóa truyền thống Việt với bề dày gần 5000 năm lịch sử. đã hiệu chỉnh, làm rõ những khái niệm và hệ thống hóa toàn bộ thuyết Âm Dương ngũ hành và kinh Dịch. Những di sản văn hóa truyền thống Việt đã xác định rằng: Nguyên lý căn để trong Lý học Đông phương mà nền tảng là thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" (Đổi vị trí Tốn/ Khôn so với Hậu thiên Văn Vương). Chứ không phải là "Lạc Thư phôi Hậu thiên Văn Vương", như cổ thư chữ Hán mô tả. Xin quý vị xem hình dưới đây: HÀ ĐỒ PHỐI HẬU THIÊN LẠC VIỆT Từ sự hiệu chỉnh với nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt", chúng tôi đã hiểu chỉnh tất cả mọi vấn đề liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành, theo đúng tiêu chí khoa học làm chuẩn mực để thẩm định một lý thuyết khoa học, là: Một lý thuyết, hay một giả thuyết khoa học được coi là đúng thì nó phải giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó, có tính hệ thống, nhất quán, hoàn chỉnh, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Trên cơ sở này, chúng tôi đã chứng minh nguyên lý lập thành bảng Lạc thư hoa giáp, thay thế cho sự bí ẩn của bảng Lục Thập hoa giáp lưu truyền trong cổ thư chữ Hán; hệ thống hóa toàn bộ kiến thức Địa Lý Phong thủy, vốn rời rạc, tản mạn và đầy mâu thuẫn trong các bản văn chữ Hán...vv... Xuất phát từ sự phục hồi từ nguyên lý căn để "Hà đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" đã dẫn đến sự phục hồi toàn bộ cấu trúc của học thuyết này. Kính thưa quý vị. Chính sự phục hồi, hiệu chỉnh trên cơ sở văn hóa truyền thống Việt với bề dày lịch sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng bên bờ Nam sông Dương tử, đã chứng minh nền văn hiến Việt là chủ nhân đích thực của nền văn minh Đông phương và là cội nguồn kinh Dịch. Như vậy, chúng ta có thể kết luận hai vấn đề: 1/ Nền văn hiến Việt, một thời huy hoàng bên bờ nam sông Dương tử, chính là cội nguồn của Thuyết Âm Dương Ngũ hành và kinh Dịch. 2/ Bát quái trong kinh Dịch là những siêu công thức toán học mô tả nội hàm của thuyế Âm Dương Ngũ hành về những chu kỳ của sự vận đông vũ trụ. Sự phục hồi lý thuyết Âm Dương Ngũ hành - nhân danh nền văn hiến Việt - thỏa mãn tất cả những tiêu chí khoa học làm chuẩn mực thẩm định một lý thuyết khoa học được coi là đúng. Kính thưa quý vị. Chình từ sự phục hồi nhân danh khoa học và thuộc về nền văn hiến Việt, đã dẫn đến một kết luận của chúng tôi là: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất mà các nhà khoa học tinh hoa đang tìm kiếm. Để thay thế cho phần kết luận, chúng tôi xin trình bày tiếp theo là phần: Kết luận: Thuyết Âm Dương Ngũ hành - lý thuyết thống nhất vũ trụ. Thuyết Âm Dương Ngũ hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, cũng hoàn toàn thỏa mãn những tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất, mà các tri thức tinh hoa của nhân loại đang tìm kiếm. Thuyết Âm Dương Ngũ hành,lý giải từ sự hình thành khởi nguyên của vũ trụ cho đến mọi vấn đề liên quan đến sự vận động của vũ trụ, thiên nhiên, xã hội và cuộc sống với khả năng tiên tri đến từng chi tiết cho hành vi của con người. Trên cơ sở những chuẩn mực của một lý thuyết thống nhất khoa học , mà con người đang tìm kiếm, thì thuyết Âm dương ngũ hành hoàn toàn thỏa mãn những tiêu chí cho một lý thuyết thống nhất. Do đó, tôi có thể kết luận ngay rằng: Thuyết Âm dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang tìm kiếm. SW Hawking đã viết: Nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất thì chính nó sẽ quyết định chúng ta tìm ra nó hay không? Kính thưa quí vị. Cả một nền văn minh hiện đại trong thời đại chúng ta đang sống - và chúng ta cũng đang rất tự hào về sự phát triển của nền văn minh này. Nhưng những trí thức tinh hoa của cả một nền văn minh, còn chưa xác định được có hay không một lý thuyết thống nhất. Vậy thì sự kết luận về một lý thuyết thống nhất không lẽ lại ra đời vào thời kỳ lịch sử mà các nhà khoa học lịch sử hiện đại cho rằng: chỉ xấp sỉ thời Đồ Đá. Điều này có vẻ trái ngược với tiêu chí thứ ba mà tôi đã trình bày ở trên?! Cần phải khẳng định rằng: Nền tảng tri thức của thời đại đồ đá từ 5000 năm trước, không thể tạo ra một lý thuyết thống nhất. Vậy thì một cách giải thích hợp lý nhất và phù hợp với tiêu chí khoa học, chính là một kết luận xác định rằng: Đã có một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ tồn tại trên trái Đất này. Nền văn minh này đã bị hủy diệt vì một nguyên nhân nào đó, thí dụ là một trận Đại Hồng Thủy chẳng hạn - Và dân tộc Việt chính là một bộ phận còn sống sót và gìn giữ được học thuyết này trong xã hội cổ xưa. Những di sản khảo cổ phát hiện được, ngày càng nhiều và củng cố cho sự xác định của chúng tôi về một nền văn minh toàn cầu đã tồn tại trước nền văn minh của chúng ta. Kính thưa quý vị. Như vậy - về lịch sử - , chúng tôi đã trình bày về cội nguồn lịch sử gần gũi của Kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành, thuộc về nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huyền vĩ bên bờ nam sông Dương tử. Chúng tôi cũng xác định rằng: Cội nguồn xa xưa của Kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ đã tồn tại trên trái Đất này. Về nội dung học thuật, chúng tôi cũng xác định rằng: những mô hình Bát quái trong Kinh Dịch, chính là hệ công thức toán học mô tả nội hàm của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Kính thưa quý vị. Trong xu thế thới đại của một cuộc hội nhập quy mô toàn cầu đang diễn ra, việc tìm hiểu bản chất đích thực và làm sáng tỏ giá trị của một hệ thống tri thức của nền văn minh Đông phương vốn huyền bí và kỳ ảo hàng thiên niên kỷ, sẽ là một đóng góp quan trọng trọng của nền văn hiến Việt, cho sự phát triển trong tương lai của toàn bộ nền văn minh của chúng ta. Cho nên, để kết thúc, chúng tôi hy vọng được sự quan tâm, chia sẻ và đóng góp trí tuệ của các bậc trí giả, nhằm mục đích phục hồi một cách hoàn chỉnh những gía trị đích thực của nền văn minh Đông phương, khi mà khả năng cá nhân và nhóm người quả là rất khó khăn khi thực hiện và phục hồi một lý thuyết cổ xưa vô cùng đồ sộ và huyền vĩ. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn sự lắng nghe của quý vị có mặt nơi đây. Xin kính chúc quý vị, ban tổ chức và gia đình một cuộc sống an lành, đầy hạnh phúc. T/ p HCM 20/ 10 2017. Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
  22. ỨNG DỤNG PHONG THỦY TRONG DOANH NGHIỆP NGUYỄN VŨ TUẤN ANH Nguyên Giám đốc trung tâm nghiên cứu lý học Đông Phương Bài viết tham gia tọa đàm: Ứng dụng Phong thủy & Doanh nghiệp. Kính thưa quý vị Tôi rất hân hạnh được ban Tổ chức.... cho phép tôi được trình bày quan điểm của mình về vấn đề “Ứng dụng phong thủy trong doanh nghiệp”. Đây là một trong những đề tài mà hiện nay được rất nhiều người, đủ mọi giới quan tâm. Đặc biệt là những doanh nghiệp sản xuất, hoặc kinh doanh. Kính thưa quý vị Chúng ta đều biết rất rõ rằng: Phong thủy là một hiện tượng đã được ứng dụng trong kiến trúc, xây dựng đã trải qua với thời gian tính bằng thiên niên kỷ trong xã hội Đông Phương. Từ ngàn xưa, người ta đã quan niệm rằng: phong thủy là một phương pháp ứng dụng, mang lại hiệu quả tốt trong cuộc sống và mọi sinh hoạt xã hội. Tất nhiên trong đó có cả vấn đề kinh doanh. Nhưng bản chất của phong thủy là gì? Và tại sao lại có hiệu quả như vậy? Thì cũng có thể nói luôn rằng: đây là một điều hoàn toàn bí ẩn từ hàng ngàn năm qua cho đến tận ngày hôm nay, khi tôi đứng đây trình bày với quý vị. Cho nên vấn đề đầu tiên, tôi xin được phép trình bày quan điểm của cá nhân tôi về phong thủy, để từ đó chúng ta mới xác định được bản chất của phong thủy và tác dụng lớn lao của hệ thống tri thức này trong đời sống xã hôi và con người, trong đó có sự tác động đến thành công hay thất bại của những doanh nghiệp. I. Bản chất của phong thủy: Kính thưa quý vị: Trong từ điển tiếng Trung đã định nghĩa phong thủy như sau: “Phong thủy là một tín ngưỡng cổ xưa trong truyền thống văn hóa của người Trung Hoa”. Như vậy, với định nghĩa này, người Trung Hoa đã xác định phong thủy là một tín ngưỡng. Nhưng rõ ràng, nếu xét những tiêu chí để xác định một tín ngưỡng, thì ngành phong thủy học Đông Phương hoàn toàn không có một dấu ấn phù hợp với tiêu chí cho một tín ngưỡng hoặc một tôn giáo. Ngược lại, với những kiến thức sơ đẳng nhất của những người biết chút ít về phong thủy, cũng nhận thấy rằng nó mang dấu ấn của quy luật vận động, tương tác, tính phân loại và khả năng tiên tri. Tôi lấy ví dụ: phong thủy phân loại người làm Đông Tứ Mệnh và Tây Tứ Mệnh; mỗi loại Mệnh trạch này, lại phân làm bốn trạng thái khác nhau tương ứng với 8 hướng rất cụ thể. Và nó đã chứng nghiệm từ hơn 2000 năm qua trong xã hội Đông Phương mang tính tiên tri. Chính tính quy luật và khả năng tiên tri, đã chứng tỏ phong thủy thể hiện những tri thức phản ánh một thực tại có thể kiểm chứng. Sự tồn tại của phong thủy với những hiệu quả của nó đã xác định một thực tại với kết quả có thể kiểm chứng trong bộ môn này, đã chứng tỏ phong thủy là ngành khoa học phản ánh những quy luật khách quan, những thực tại mà chúng ta chưa biết. Trong những công trình nghiên cứu của chúng tôi, tôi xin được xác định rằng: Bản chất của Phong thủy là một hệ thống tri thức, hoàn toàn có tính nhất quán, tính hoàn chỉnh, tính quy luật , tính khách quan và khả năng tiên tri. Và đó một hệ thống lý thuyết ứng dụng, và là hệ quả của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chúng tôi cũng xác định rằng: phong thủy chính là một hệ thống tri thức tổng hợp tất cả những yếu tố tương tác tốt và xấu của môi trường, cảnh quan và cấu trúc ngôi gia, cũng như những hiện tượng tác động của vũ trụ lên con người sống trong một cơ cấu kiến trúc. Những thực tại mang tính quy luật khách quan, được mô tả trong phong thủy, cũng giống như một thực tại – mà ngày nay chúng ta nhận thấy rằng: trái đất tròn và đang quay quanh mặt trời, cho dù con người chúng ta tin hay không tin điều đó. Tuy nhiên một điều rất đáng tiếc và cũng là một thực tế. Đó là: cho đến ngày hôm nay, mặc dù những phương pháp ứng dụng của phong thủy vô cũng đồ sộ và đã có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn đầu sách viết về phong thủy. Và cũng rất nhiều phong thủy gia đã thực hiện một cách có hiệu quả phong thủy trong đời sống với thời gian tính bằng Thiên niên kỷ; nhưng những phương pháp ứng dụng của phong thủy, vẫn hoàn toàn bí ẩn trong sự hiểu biết của con người. Hầu hết chúng ta đều không hiểu được những mô hình biểu kiến, những nguyên lý và quy ước của phong thủy xuất phát và phản ánh của những thực tại nào? Có thể nói: Hầu hết những phong thủy gia đã ứng dụng có hiệu quả, nhưng chưa hiểu được bản chất của nó. Kính thưa quý vị: Tuy nhiên, như chúng tôi đã trình bày phong thủy chính là một hệ thống lý thuyết phản ánh những quy luật tương tác có tính khách quan, đang hằng ngày ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta, dù chúng ta tin hay không tin. Trong một thời gian bị giới hạn chúng tôi không thể trình bày sâu hơn về những kết luận chúng tôi đã trình bày với quý vị. Bởi vậy, chúng tôi coi kết luận của chúng tôi về Phong thủy, như là một tiền đề thứ nhất, mà chúng tôi muốn trình bày với quý vị về bản chất của phong thủy. Vấn đề thứ 2, tôi xin được phép trình bày với quý vị là: II. Con người và sự giải thích mọi hiện tượng: Kính thưa quý vị Tất cả chúng ta đều có 2 cách giải thích cùng một hiện tượng, hoặc cùng một sự kiện xảy ra trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Đó là: II. 1/Giải thích bằng nhận thức trực quan: Kính thưa quý vị. Trong cuộc sống hằng ngày, có thể nói rằng: hầu hết chúng ta đều giải thích mọi hiện tượng xung quanh chúng ta bằng nhận thức trực quan. Ví dụ, một vụ đụng xe xảy ra thì chúng ta đều có thể giải thích một cách rất cụ thể rằng: do anh A, chị B quẹo, rẽ mà không xinhan, hoặc phóng nhanh, vượt ẩu… nên đã khiến cho xảy ra sự kiện đụng xe. Hoặc một vụ cháy nhà, chúng ta có thể giải thích rằng: do chập điện, hoặc do không cẩn thận củi lửa… Tất cả cách giải thích đó đều đúng. Nhưng đó là cách giải thích bằng nhận thức trực quan. Và khi chúng ta giải thích bằng nhận thức trực quan, cho dù nó đúng thì nó cũng chỉ là việc mô tả đúng một hiện tượng đã xảy ra. Cách giải thích này hoàn toàn không có khả năng tiên tri. Và giả thuyết chúng ta có một khả năng tiên tri bị giới hạn bởi cách giải thích này. Ví dụ một người chuyên phóng nhanh, vượt ẩu, coi thường luật giao thông thì khả năng tiên tri chỉ hạn chế rằng: người đó thế nào cũng bị đụng xe. Nhưng thời điểm nào người đó sẽ bị đụng xe, lại không thể xác định được. Đó chính là tính hạn chế sự tiên tri của nhận thức trực quan. II. 2/ Giải thích bằng một hệ thống lý thuyết: Cách giải thích thứ 2 cho mọi sự kiện và hiện tượng, là giải thích bằng một tri thức tổng hợp thể hiện bằng phương pháp luận của một hệ thống lý thuyết. Với cách giải thích này thì chúng ta phải sử dụng những khái niệm ngôn ngữ tổng hợp mọi sự kiện và hiện tượng, được mô tả như những quy luật được nhận thức và sự tổng hợp những quy luật cho mọi hiện tượng. Do đó, nó có khả năng tiên tri . Thưa quý vị! Tri thức khoa học hiện đại đã xác định rằng: “Không có tính quy luật thì không có khả năng tiên tri”. Thì đây chính là hệ thống phương pháp của các ngành học của nền văn minh Đông phương liên quan đến hệ thống lý thuyết ADNh, mà phong thủy là một ngành thuộc nền văn minh cổ Đông Phương. Chính khả năng tiên tri được kiểm chứng của ngành phong thủy học nói riêng và hầu hết những phương pháp ứng dụng của các ngành ứng dụng thuộc nền văn minh Đông Phương nói chung, trải qua hàng Thiên niên kỷ, như: Đông y, bốc Dịch, Tử vi, … đã là yếu tố rất quan trọng, để bảo đảm sự tồn tại của những phương pháp ứng dụng này, đã vượt thời gian hàng Thiên niên kỷ trong xã hội Đông phương của chúng ta. Có thể khẳng định rằng: nếu không có khả năng tiên tri với những hiệu quả được kiểm chứng thì tất cả những ngành học thuộc về nền văn minh Đông phương như tôi đã trình bày ở trên – trong đó có ngành Phong thủy học - không thể tồn tại được. Kính thưa quý vị. Trên cơ sở hai đề mục đã trình bày với quý vị, tôi xin được tiếp tục trình bày về: III. Tính khoa học và sự cần thiết của phong thủy trong kinh doanh. Đã có nhiều người đặt vấn đề như sau: “Ở những nền văn minh không bị ảnh hưởng của văn minh Đông phương, như: văn minh Âu Mỹ, Trung Đông…vv…. không hề tồn tại ngành Phong thủy học. Nhưng họ vẫn có đầy đủ những yếu tố mà mục đích ngành phong thủy học đạt tới. Như ở những nền văn minh đó, cũng có người giàu, người có quyền lực. Họ cũng có những đại gia và những người khốn khổ..vv… Vậy phong thủy có thực sự cần thiết trong cuộc sống hay không?! Kính thưa quý vị. Để giải thích vấn đề này - như tôi đã trình bày ở phần trên - chúng ta có 2 cách giải thích hiện tượng: Một là giải thích trực quan; hai là giải thích trên cơ sở lý thuyết. Và sự hình hành hệ thống lý thuyết để giải thích mọi hiện tượng với khả năng tiên tri, chính là biểu hiện của một nền văn minh rất phát triển. Còn nếu chỉ giải thích hiện tượng bằng nhận thức trực quan thì chúng ta không cần bất cứ một lý thuyết nào trong nền văn minh. Kính thưa quý vị Nếu như ngay bây giờ, chúng ta coi trái đất vuông và đứng yên, với mặt Trời, mặt Trăng và những vì tinh tú đang hằng ngày chạy qua bầu trời trái Đất, thì có lẽ cũng chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống của chúng ta cả. Tôi xin phép được chen lấn một chút vào lịch sử của nền văn minh hiện đại và so sánh với lịch sử của chính nó cách đây vài trăm năm trước. Chúng ta cũng nhận thấy rằng: không cần có những lý thuyết vật lý hiện đại, như học thuyết Lượng tử, lý thuyết Dây, lý thuyết Tương đối....Và cũng không cần cả những Bổ đề toán học….Và những xã hội của con người cách đây hàng trăm năm trong lịch sử của nền văn minh hiện đại, cũng có người giàu, người nghèo và cũng có tất cả những thứ quan hệ xã hội chủ yếu như hiện nay. Đây chính là câu trả lời của tôi cho vấn đề Phong thủy có cần thiết hay không?! Bởi vì, Phong thủy là một hệ thống lý thuyết nó tổng hợp tất cả mọi quy luật khách quan đang tác động đến cuộc sống của con người. Chính hệ thống lý thuyết Phong thủy, đã thể hiện một trình độ văn minh rất phát triển thuộc về nền văn minh cổ xưa. Và nền văn minh này đã giải thích cái thế giới cuộc sống con người trên trái đất này, bằng những quy luật tương tác được tổng hợp và mô tả trong hệ thống lý thuyết ứng dụng của ngành Phong thủy học Đông Phương. Nó cũng như sự phát triển của nền văn minh hiện đại của chúng ta, cần có những lý thuyết khoa học hiện đại để giải thích lại thế giới quan và nhân sinh quan. Chính vì tính quy luật được phản ánh đó, mà nó có thể xác định được sự thành công và thất bại của một đời người với khả năng tiên tri. Ngành Phong thủy học Đông phương, đã giải thích cuộc sống của con người và xã hội, bằng một hệ thống lý thuyết có khả năng tiên tri. Một phong thủy gia giỏi chỉ cần nhìn cấu trúc bên ngoài tòa nhà, hoặc kỹ hơn là xem xét cấu trúc bên trong tòa nhà - thì họ có thể xác định mang tính tiên tri cho những con người trong tòa nhà đó sẽ đi về đâu. Cho nên, tôi đã trình bày với quý vị rằng: cho dù chúng ta tin, hay không tin phong thủy; cũng như ta tin hoặc không tin vào trái đất tròn hay vuông thì thực tại khách quan đó vẫn đang ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta. Và Phong thủy, chính là sự phát triển nhận thức của con người trong một nền văn minh. Và nó giải thích cuộc sống của con người qua hệ thống phương pháp luận của hệ thống lý thuyết đó. Đó là điều mà tại sao chúng ta cần đến sự hỗ trợ của phong thủy trong cuộc sống chúng ta. Tất nhiên đối với doanh nghiệp thì phong thủy lại là một tri thức rất cần thiết, để hổ trợ cho sự kinh doanh của chúng ta thành công hy thất bại. Trong phong thủy có những yếu tố và quy luật tương tác tốt và xấu có khả năng tiên tri. Do đó, một tri thức phong thủy hổ trợ khả năng kinh doanh là: khống chế những yếu tố xấu và phát huy những yếu tố tốt. Trong dân gian, tiền nhân thường gọi là: “Gần lành tránh dữ”, hoặc cụ thể hơn, các cụ vẫn nói: ”Có kiêng, có lành”. Đi vào sâu chi tiết và cụ thể một chút về những quy luật phong thủy, tôi có thể lấy ví dụ sau: Đó là một cách xấu trong cấu trúc hình thể nhà, mà trong Phong thủy học gọi là “Thiên Trảm Sát”. Thiên Trảm sát là danh từ mô tả những tổ hợp kiến trúc có từ 2 hoặc nhiều log nhà nhô cao lên, và có những hệ thống kiến trúc thấp hơn, làm bệ đỡ cho những log nhà nhô cao này. Cụ thể như: khu tổ hợp kiến trúc KoengNam, khu tổ hợp kiến trúc Gran Plaza (Hà Nội)…Hoặc Thuận Kiều Plaza (Sài Gòn)… Chúng ta thấy ngay rằng: hầu hết những cấu trúc kiến trúc này đều thất bại trong kinh doanh. Và đây là điều đã được tiên tri, bởi những tri thức của phong thủy. Vậy thì, nếu như những chủ doanh nghiệp nói trên có kiến thức về phong thủy, chắc chắn nó đã không mang lại hậu quả xấu được tiên tri như chúng ta thấy trên thực tế qua ví dụ về "Thiên Trảm sát". IV. Kết luận Kính thưa quý vị Trong một bài tham luận ngắn, chúng tôi không thể trình bày hết và chuyên sâu một cách có hệ thống của ngành Phong thủy học Đông Phương. Tuy nhiên với những ví dụ ở trên thì chúng ta đã thấy rất rõ rằng: phong thủy chính là một hệ thống lý thuyết ứng dụng, tổng hợp tất cả những quy luật tương tác của thiên nhiên, vũ trụ, môi trường sống và chính cấu trúc ngôi gia ảnh hưởng đến cuộc sống của con người. Phong thủy giải thích tất cả các hiện tượng trong cuộc sống của chúng ta bằng hệ thống lý thuyết với phương pháp luận của nó với một khả năng tiên tri. Bởi vậy, đối với các doanh nghiệp kinh doanh không thể không cần đến kiến thức phong thủy. Và – nếu - khi chúng ta thiếu những tri thức về phong thủy, thì mọi sự thành công, hay thất bại của chúng ta sẽ chỉ được giải thích bằng nhận thức trực quan. Trong trường hợp với cách giải thích trực quan đó, chúng ta chỉ có thể tổng kết sự thành công hay thất bại trong kinh doanh để….rút kinh nghiệm. Còn khi chúng ta có những hỗ trợ bơi những tri thức phong thủy, thì điều này sẽ loại trừ được những yếu tố xấu và phát huy những yếu tố tốt trong những quy luật tương tác khách quan đến cuộc sống và sự nghiệp kinh doanh của chúng ta. Tất nhiên, chúng ta cũng cần phải xác định rằng: để thành công trong sự nghiệp kinh doanh, cũng còn nhiều yếu tố tương tác khác ngoài Phong thủy. Nhưng tôi có thể khẳng định rằng: Phong thủy là một trong những yếu tố không thể thiếu - nói theo ngôn ngữ khoa học – thì Phong thủy là một yếu tố cần, để góp phần thành công của các doanh nghiệp. Trong thực tế ứng dụng phong thủy của tôi, đã góp phần thành công cho các doanh nghiệp lớn, kể cả những doanh nghiệp đã bên bờ vực phá sản - thì tôi có thể khẳng định rằng: thiếu sự hiểu biết về phong thủy thì tương lai các doanh nghiệp đã hàm chứa yếu tố thất bại. Kính thưa quý vị. Trên đây tôi đã trình bày những biểu biết của tôi về bản chất của Phong thủy học Đông phương và giá trị của nó trong thực tế ứng dụng vào cuộc sống của con người và sự nghiệp của các doanh nghiệp. Tất nhiên, khi ứng dụng cụ thể thì nó lại còn phụ thuộc vào kiến thức cụ thể của những Phong thủy gia. Và cũng cần phải xác định rằng: Những thiếu hiểu biết về chuyên môn sâu, không phải là bằng chứng phủ nhận hệ thống lý thuyết của ngành Phong thủy học Đông phương. Cuối bài, xin quý vị nhận ở nới tôi lời chúc chân thành về sức khỏe của các vị đại biểu có mặt nơi đây. Và cũng chân thành chúc tất cả những doanh nghiệp nơi đây sẽ tìm được những phong thủy gia đích thực để hổ trợ cho kinh doanh và sự nghiệp lâu dài của quý vị. Xin cảm ơn quý vị đã quan tâm. Sài Gòn ngày 19 tháng 11 năm 2016. Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
  23. Nobel Vật Lý 2017: Đang mở ra những thế giới chưa từng thấy! Posted on Tháng Mười 6, 2017 by Blog của 5xu Năm 1916 nhà bác học Albert Einstein nói ông tin vào sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Năm nay, 101 năm sau phát biểu của Einstein, giải Nobel Vật Lý được trao cho Rainer Weiss, Barry C. Barish và Kip S. Thorne vì đã phát hiện ra được sự tồn tại của sóng hấp dẫn. Trong thông báo về giải thưởng, Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy điển nói về giải Nobel Vật lý 2017 năm nay: “Đây là một thứ hoàn toàn mới và khác biệt, đang mở ra những thế giới chưa từng thấy.” (Bài trích từ sách Bầu trời chiều ẩn giấu, bài trích này cũng đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số tuần này, tức tuần công bố giải Nobel 2017). Link download sách, bản ebook định dạng pdf ở đây, và bản để in ở đây). * Năm 1916, một nhà vật lý người đức, lúc này đang sĩ quan pháo binh trên mặt trận Nga, tên là Karl Schwarzschild, đã giải các phương trình tensor của Einstein và tìm ra một nghiệm kỳ lạ. Theo nghiệm này, xung các ngôi sao có khối lượng cực lớn có một không quyển kỳ ảo (magical sphere). Tất cả mọi thứ, kể cả ánh sáng, khi đi vào không quyển này sẽ bị hút vào ngôi sao khổng lồ và không có cách nào thoát ra được. Schwarzschild còn tính toán được bán kính của không quyển kỳ ảo này. Bán kính này được gọi là bán kính Schwarzschild hoặc bán kính hấp dẫn (gravitational radius). Schwarzschild qua đời trên mặt trận Nga và không biết rằng mình đã tìm ra một thứ, về sau được John Wheeler đặt tên: Hố Đen (Black Hole). Không quyển ma quái mà Schwarzschild tìm ra, ngày nay được gọi là Chân trời sự kiện (event hoziron), hàm ý đấy là nơi xa nhất mà tầm mắt của người quan sát có thể với tới (sau chân trời là hố đen, nơi mà ánh sáng nếu vươn tới sẽ bị nuốt vào và không bao giờ trở lại). Cũng năm 1916, Einstein đề xuất sự tồn tại của một sóng gọi là sóng hẫp dẫn, một loại sóng mang lực hấp dẫn lan truyền trong không gian với vận tốc bằng vận tốc ánh sáng. Einstein đã tìm thấy sóng trên lý thuyết bằng cách giải các phương trình của mình, cũng như dự báo các ngôi sao đôi quay quanh một trục chung sẽ dần sát lại với nhau để rồi lao vào nhau do năng lượng mất dần do bị bức xạ vào không gian dưới dạng sóng hấp dẫn. Để biết chi tiết hơn, xem bài Tiếng vọng từ sáng thế. Năm 1936, Einstein và học trò là Nathan Rosen đăng một bài báo khoa học trên tạp chí Physical Review. Bằng cách sử dụng nghiệm của một hố đen tiêu chuẩn hình bình cổ dài có cổ bình bị cắt ngang và sáp nhập (merge) với một hố đen giống như thế nhưng đã bị xoay ngược lại. Ý tưởng này của Einstein và Rosen ngày nay được các nhà vũ trụ học hình dung như một cổng để kết nối hai vũ trụ khác nhau. Ý tưởng này có tên gọi Cầu Einstein-Rosen. Hay còn được biết với tên lỗ sâu đục (wormhole). Tuy nhiên, theo Einstein, các lỗ sâu đục có thể tồn tại, nhưng các sinh vật lọt vào miệng hố đen sẽ chết ngay lập tức vì bị xé xác bởi lực hấp dẫn. Năm 1963, nhà toán học Roy Kerr tìm được nghiệm chính xác của phương trình Einstein: một ngôi sao chết, suy sụp vào bên trong do lực hấp dẫn của chính nó, do định luật bảo toàn động lượng sẽ quay nhanh hơn, và tạo thành một lỗ đen quay. Nghiệm của Roy Kerr cho thấy việc đào thoát tới một không gian khác thông qua lỗ sâu đục là khả thi về lý thuyết: lực ly tâm (hướng ra ngoài) do sự quay của hố đen sẽ cân bằng và triệt tiêu lực hấp dẫn (hút vào), và các sinh vật rơi vào miệng hố đen sẽ không bị xé tan xác nữa. Lỗ đen là vô hình bởi nó hút tất cả ánh sáng vượt qua không quyển kỳ ảo quanh nó (hay còn gọi là chân trời sự kiện). Các nhà thiên văn phải tìm hố đen bằng cách xác định các đĩa bồi tích (accretion disk) tạo thành do các khí bồi đắp dần xung quanh hố đen. Trước năm 1990, hố đen chỉ tồn tại trên lý thuyết cho đến năm 1994 kính viễn vọng Hubble tìm thấy bằng chứng rõ ràng về các hố đen siêu nặng “ẩn nấp” giữa các thiên hà. Các nhà thiên văn tin rằng, hầu hết các thiên hà, kể cả Ngân Hà của chúng ta, đều có hố đen ở trung tâm. Các hố đen đã được phát hiện, ngày nay đã tới hàng trăm. Tất cả các hố đen đều tự quay rất nhanh quanh chính mình. Năm 1988, một học trò của John Wheeler, nhà vũ trụ học và vật lý hấp dẫn Kip Thorne đề xuất một ý tưởng xây dựng máy du hành thời gian. Ý tưởng này được Thorne tư vấn để Christopher Nolan xây dựng bộ phim giả tưởng rất thành công Interstellar. Trong bộ phim này, người cha sau khi vượt qua chân trời sự kiện của hố đen vẫn tiếp tục sống và tìm được cách gửi thông điệp về cho con gái của mình bằng cách sử dụng sóng hấp dẫn. Năm 1962, hai nhà khoa học là Gertsenshtein và Pustovoit xuất bản một bài báo đề xuất các nguyên tắc dò tìm sóng hấp dẫn bước sóng dài bằng giao thoa kế. Năm 1973, Kip Thorne ở học viện Caltech bắt đầu hành trình săn lùng sóng hấp dẫn của mình. Năm 1984, Kip Thorne, Ronald Drever và Rainer Weiss thành lập ủy ban lâm thời để xây dựng dự án LIGO. Năm 2002, LIGO bắt đầu dò tìm sóng hấp dẫn. Năm 2015, phiên bản hiện đại hơn với tên gọi Advanced LIGO, đi vào hoạt động. LIGO (Laser Interferometer Gravitational Wave Observatory – Trạm quan trắc sóng hấp dẫn giao thoa kế laser) là một thiết bị khổng lồ gồm hai đường ống dài khoảng 4km, nối với nhau hình chữ L. Trong mỗi ống có một chùm tia laser được chiếu liên tục. Hai chùm tia gặp nhau ở góc chữ L. Các sóng laser được tính toán sao cho chúng triệt tiêu nhau và tạo nên vân giao thoa. Do hiện tượng phân cực, hai ống vuông góc với nhau nên chỉ có một ống sẽ bị sóng hấp dẫn đập vào. Khi sóng hấp dẫn đập vào một trong hai ống , chiều dài ống này sẽ bị co giãn khác với ống kia, gây ra nhiễu loạn phá vỡ cân bằng của hai chùm laser, và làm mất các vân giao thoa Theo tính toán, để phát hiện sự va chạm của hai hố đen cách trái đất 300 triệu năm ánh sáng, LIGO có thể phải chờ đợi từ 1 đến 1000 năm. Cuối cùng, Advance LIGO phát hiện được sự va chạm của hai hố đen cách trái đất 1.3 tỷ năm, chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi được sửa chữa nâng cấp. Giống các loại sóng khác, như sóng hấp dẫn có biên độ, tần số, bước sóng và tốc độ. Tốc độ của sóng hấp dẫn bằng tốc độ ánh sáng. Tần số của sóng hấp dẫn rất thấp (thấp tần) nên bước sóng của chúng rất dài, truyền tải năng lượng rất bé. Đây là lý do rất khó bắt được sóng hấp dẫn. 1.3 tỷ năm trước, ở một thiên hà rất xa xôi, có hai hố đen bị dính vào một quỹ đạo xoắn ốc, rồi ở khoảnh khắc cuối cùng chúng đâm sập vào nhau với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng. Vụ va chạm đã tạo ra một hố đen mới nặng bằng 62 lần khối lượng mặt trời, đồng thời phát ra một nguồn năng lượng khổng lồ và tinh khiết. Toàn bộ năng lượng ấy bức xạ vào vũ trụ chỉ trong trong chỉ khoảng 1 phần 10 giây. Năng lượng ấy làm biến dạng không gian và thời gian xung quanh vụ va chạm trong chớp mắt. Bởi vụ va chạm là của hai lỗ đen, nên năng lượng phát ra không phải là sóng ánh sáng, mà là sóng hấp dẫn. Sóng hấp dẫn này truyền đi và làm co giãn không gian khi nó đi qua. Đó chính là không gian – thời gian trong vũ của Einstein. Ngày 11 tháng 2 năm 2016, các nhà khoa học của LIGO công bố họ đã dò tìm được sóng hấp dẫn của một vụ sáp nhập hố đen cách chúng ta 1.3 tỷ năm ánh sáng (và cũng có nghĩa là sóng từ một vụ sáp nhập cách ngày nay 1.3 tỷ năm). Ngày 15 tháng 6 năm 2016, LIGO công bố lần thứ hai dò được sóng hấp dẫn từ một vụ sáp nhập hố đen cách trái đất 1.4 tỷ năm ánh sáng. Một nửa giải Nobel Vật Lý năm nay được trao cho Rainer Weiss, giáo sư tại đại học MIT và là một trong ba nhà vật lý sáng lập LIGO. Nửa giải còn lại được trao cho Kip Thorne và Barry C. Barish. Kip Thorne là giáo sư tại đại học Caltech (California Institute of Technology) và cũng là thành viên sáng lập LIGO. Barry C. Barish, giáo sư đại học Caltech, là giám đốc thứ hai của LIGO và là người nỗ lực xây dựng thành công và đưa LIGO vào hoạt động. Rainer Weiss sinh ở Đức năm 1932. Năm 1939, gia đình ông đào thoát khỏi ách Phát Xít và đến nước Mỹ. Vài phút sau khi giải Nobel Vật lý được công bố, ông trả lời các phóng viên qua điện thoại: “Thật là tuyệt. Tôi thấy rất ổn. Thậm chí tôi còn mặc quần áo sẵn sàng rồi đây.” Ông nói giải thưởng này là kết quả lao động của 1000 con người tham gia vào dự án LIGO, là dự án đã quan sát được sóng hấp dẫn, qua đó chứng minh được lý thuyết có tuổi đời một thế kỷ của Einstein. Ronald Drever, giáo sư đại học Caltech, một trong ba sáng lập viên của LIGO mới qua đời tháng ba năm nay. Nếu giải Nobel được trao sớm thêm một năm có lẽ ông cũng là người được nhận giải. Trong khoa học hiện đại, đóng góp của nhóm các nhà nghiên cứu cho thành tựu khoa học có tác động lớn hơn các đóng góp cá nhân. Gần đây có nhiều ý kiến chỉ trích cách giải Nobel được trao. Các nhà khoa học cho rằng giải Nobel Vật lý chỉ trao tối đa cho ba nhà khoa học như hiện nay không còn hợp lý nữa. Tất nhiên những người được giải vẫn xứng đáng, nhưng trên thực tế họ không làm việc đơn độc. Phát biểu sau khi biết mình được trao giải Nobel, Kip Thorne nói: “Tôi đã hy vọng giải được trao cho cả nhóm LIGO, nhưng thay vì thế giải được trao cho ba chúng tôi.” Phát hiện sóng hấp dẫn của LIGO còn chứng minh Einstein tiếp tục đúng ở một khía cạnh khác, khía cạnh lực hấp dẫn trong Thuyết tương đối rộng của ông. Lần đầu tiên sóng hấp dẫn được chứng minh với bằng chứng thực nghiệm của một hiện tượng xảy ra bên ngoài hệ mặt trời. Phát hiện sóng hấp dẫn của LIGO lần đầu tiên giúp khoa học chứng minh trực tiếp bằng thực nghiệm được sự tồn tại của một cặp hố đen, vốn chỉ tồn tại trên lý thuyết. Dữ liệu đo được còn giúp các nhà khoa học biết về hai hố đen đã tạo ra sóng: khối lượng của hố đen, vận tốc quỹ đạo, và thời điểm chúng đâm vào nhau. Có thể, dữ liệu ấy còn giúp giải thích các hố đen siêu nặng đã hình thành như thế nào ở tâm các thiên hà. Người Hy Lạp cổ và người Do Thái cổ cùng tin rằng vũ trụ trật tự (cosmos) được sinh ra từ hỗn mang không có hình dạng. Thánh Augustine, một nhà thần học xuất sắc của Hội Thánh ở thế kỷ thứ 4, có những chiêm nghiệm rất độc đáo về thời gian và không gian. Theo chiêm nghiệm của Thánh Augustine, Thượng Đế tồn tại bên ngoài thời gian mà con người nhận thức được. Thượng đế ở bên ngoài vũ trụ do chính ngài tạo ra, và ở bên ngoài thời gian của cái vũ trụ ấy. Thời gian của Thượng Đế là một cái gì đó vừa hiện tại vừa vĩnh hằng. Quan điểm của Thánh Augustine đã đặt không gian với thời gian của vũ trụ vào chung trong một khái niệm, rất gần với một vũ trụ được dệt lưới (fabric) bằng không-thời gian của Einstein. Và ý tưởng của Thánh Augustine về một thượng đế đứng hoàn toàn bên ngoài không gian và thời gian của vũ trụ do chính ngài tạo ra cũng là một ý tưởng độc đáo và cấp tiến. Sau khi Einstein đặt những viên gạch đầu tiên cho ngành vũ trụ học hiện đại, ý tưởng ấy quay lại bằng sự màu nhiệm của khoa học. * Năm 1915, Einstein đưa ra lý thuyết mới về lực hấp dẫn, còn gọi là thuyết tương đối rộng: một vũ trụ “mới” hình thành. Trong vũ trụ ấy, khi con người quan sát ánh sáng của một ngôi sao cách trái đất một tỷ năm ánh sáng, thì đồng thời cũng là quan sát ánh sáng được phát đi từ một tỷ năm trước. Trong vũ trụ ấy, không gian và thời gian đã dệt vào nhau thành lưới không-thời gian (spacetime). Năm 1921,nhà vật lý gốc Nga Alexander Friedmann khi giải các phương trình gốc của Einstein đã tìm ra nghiệm mà ngày nay được gọi là nghiệm Big Bang. Vũ trụ xuất hiện đột ngột và mạnh mẽ kinh khủng từ một trạng thái có độ nén vô hạn và năng lượng cực lớn. Tác động của vụ nổ Big Bang lan ra khắp vũ trụ theo không gian và thời gian, và tác động của nó còn tồn tại đến ngày nay. Vũ trụ bao la được tuôn trào từ một điểm sau một vụ nổ là một ý tưởng rất khó hiểu với nhận thức thông thường. Hơn thế, khác với các vụ nổ bình thường, phải xảy ra ở đâu đó với thời gian và vị trí cụ thể trong không gian, vụ nổ Big Bang xảy ở một điểm hoàn toàn chưa có không gian và thời gian. Vị trí của vụ nổ ấy ở hiện tại chính là tất cả các điểm trong vũ trụ. Toàn bộ vũ trụ rộng lớn ngày nay, ngày xưa đã ở cùng một chỗ. Ở thời điểm Planck, 10-43 giây sau Big Bang, vũ trụ là là một mớ hỗn mang cực kỳ nóng, cỡ 1032 độ Kelvin. Đó là một khối plasma đồng chất, nóng bỏng, và có thể có nhiều hơn 3 chiều không gian. Chừng một phần trăm giây sau, vũ trụ mới nguội đi, còn khoảng 10 ngàn tỷ độ K, các hạt quark bắt đầu cụm lại để tạo ra proton và neutron. Một phần trăm giây sau nữa hạt nhân các nguyên tố nhẹ hình thành. Giai đoạn tổng hợp hạt nhân kéo dài vài trăm ngàn năm, rất dài với đời người nhưng chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi của vũ trụ. Vũ trụ đầy plasma của các hạt tích điện khiến các photon bị khuếch tán không thoát ra được. Khi nhiệt độ vũ trụ giảm xuống còn vài ngàn độ, các electron chuyển động chậm dần và lúc này nguyên tử mới bắt đầu hình thành. Sau Big Bang khoảng 370 ngàn năm, nhiệt độ vũ trụ hạ xuống còn 3000 độ Kelvin, các electron và hạt nhân chuyển động đủ chậm để hình thành nguyên tử: electron bị trói vào quỹ đạo nguyên tử và hòa điện với các proton. Các photon nguyên thủy của Big Bang, không còn bị các hạt tích điện ngăn trở nữa, bắt đầu tràn ra và lấp đầy vũ trụ. Do vũ trụ giãn nở, mọi thứ giảm mật độ và nguội dần. Do photon luôn chuyển động với tốc độ ánh sáng nên khi nguội đi, tần số của nó cũng giảm dần. Ánh sáng của của vũ trụ nguyên thủy chuyển dần màu sắc, từ tím chuyển dần sang xang, vàng, đỏ, hồng ngoại và cuối cùng trở thành sóng vô tuyến. Nhờ vào vệ tinh COBE và vệ tinh WMAP đã chụp được bức xạ nền sóng vô tuyến của vũ trụ, con người đã có thể nhìn xa được vào không gian, tới tận quá khứ, khi vũ trụ sơ sinh mới 370 ngàn năm tuổi. Để nhìn xa hơn về thời điểm gần Big Bang hơn nữa, các nhà khoa học kỳ vọng những thiết bị dò sóng hấp dẫn như LIGO, có thể dò được nhưng sóng hấp dẫn nguyên thủy có từ thời điểm Big Bang. Và có vẻ như với LIGO, họ đang tiến tới thành công.
  24. Phát triển công nghệ photon tương tự gươm ánh sáng trong Star Wars Khoahoc.com.vn Cập nhật lúc 06h10' ngày 29/11/2013 Mới đây, các nhà khoa học tại đại học Havard và MIT đã chứng minh rằng trong một số điều kiện nhất định, photon có thể tương tác với nhau và hình thành các phân tử. Theo họ, những nhóm photon được gọi là Photonic molecules có thể hình thành một dạng vật chất mới hoàn toàn - điều mà trước đây vẫn là giả thuyết. Kết hợp các đặc tính của ánh sáng và vật chất rắn, theo khía cạnh vật lý thì dạng vật chất mới này khá là giống với lightsaber - một loại vật liệu giả tưởng được dùng làm những thanh kiếm ánh sáng trong bộ phim Star Wars. Giáo sư vật lý Mikhail Lukin đến từ Havard - lãnh đạo nhóm nghiêm cứu tại trung tâm hạt nhân siêu lạnh Harvard-MIT Center và người đồng nghiệp đến từ MIT - Vladan Vuletic cho biết: “Khi những photon này tương tác với nhau, chúng đẩy lùi và làm lệch hướng lẫn nhau. Hiện tượng vật lý xảy ra giữa các phân tử photon tương tự với những gì chúng ta thấy trong bộ phim Star War". Photon không có khối lượng - điều này vẫn đúng tính đến thời điểm hiện tại nhưng nếu nói photon không tương tác với nhau thì đây là một thử thách đối với các nhà khoa học. Họ đã chứng minh được rằng trong một môi trường trung gian được chuẩn bị đặc biệt, photon có thể hoạt động bằng cách tương tác với các photon lân cận, gián tiếp thông qua các nguyên tử. Ảnh: myparklist.com Vậy cần có những điều kiện gì? Đầu tiên nhóm khoa học bơm các nguyên tử rubidium (Rb) vào một buồng chân không và làm lạnh chúng với các tia laser xuống đến nhiệt độ gần 0. Sau đó, họ bắn từng photon đơn lẻ vào đám mây nguyên tử Rb này. Trong môi trường nguyên tử Rb, hoạt động của các photon tương tự như hiện tượng khúc xạ ánh sáng trong một cái ly đầy nước. Khi photon xâm nhập đám mây nguyên tử, chúng giải phóng một phần năng lượng vào môi trường. Các photon bắt đầu kích thích các nguyên tử trên đường di chuyển và kết quả là vận tốc của photon ngay lập tức bị chậm lại. Tuy nhiên, sự trao đổi năng lượng giữa photon và nguyên tử bị chi phối bởi một hiệu ứng có tên gọi hiệu ứng chắn Rydberg. Theo đó trong một khối nhất định, không có 2 nguyên tử bị kích thích theo cùng một hướng. Tức là khi một photon đã kích thích một nguyên tử, nó phải di chuyển về phía trước trước khi một photon khác có thể thực hiện điều tương tự. Các photon bắt đầu đẩy và kéo lẫn nhau trong môi trường và hoạt động rất giống các phân tử. Khi rời khỏi môi trường, photon trở lại trạng thái năng lượng ban đầu (năng lượng được truyền trở lại từ nguyên tử vào photon) nhưng chúng kết hợp với nhau tạo thành phân tử thay vì photon đơn lẻ. Dĩ nhiên một loại vật liệu tương tự như lightsaber vẫn chưa thể xuất hiện trong tương lai gần nhưng phát hiện của Havard và MIT có thể mang lại nhiều ứng dụng quan trọng trên thực tế. Một lĩnh vực có thể khai thác lợi ích từ nghiên cứu trên là điện toán lượng tử. Hoạt động giống phân tử của các photon tiềm năng sẽ giúp các nhà khoa học tiến thêm một bước gần hơn trong việc chế tạo các cổng logic lượng tử. Ngoài ra, giáo sư Lukin cũng chỉ ra rằng với khả năng ràng buộc trạng thái photon theo ý muốn, họ có thể tạo ra những cấu trúc ánh sáng 3 chiều phức tạp và thậm chí là tiến gần đến công nghệ vũ khí sử dụng ánh sáng năng lượng cao như lightsaber. Theo Tinh Tế ============== Lý học Đông phương - theo cách hiểu của tôi - cho rằng: Tiền vật chất tạo ra các dạng vật chất có khối lượng chính là các dạng khí trong quá khứ của lịch sử hình thành vũ trụ. Những dạng khí này được phân loại và không phải là duy nhất - Đó cũng là lý do để không thể có "Hạt của Chúa" hiểu theo nghĩa một nguyên nhân duy nhất tạo ra vật chất có khối lượng. Xin lưu ý rằng: Lý học cũng thừa nhận một sự bùng nổ ở thời điểm khởi nguyên của vũ trụ, tương tự thời điểm Big bang của khoa học hiện đại.. Tất nhiên các hạt proton cũng là hệ quả của một dạng khí hình thành trong sự tương tác của các dạng khí nói trên, được hình thành sau vụ nổ lớn. Do đó khi các hạt proton tương tác với các nguyên tử vật chất khác ở nhiệt độ lạnh - tức là ở điều kiện không, thời gian sau bùng nổ thì sự tương tác tiếp tục nên xuất hiện hình thành một dạng vật chất mới. Căn cứ vào nguyên lý này, Lý học dự đoán rằng: 1/ Sự tương tác của proton với bất cứ một loại nguyên tử nào đồng đẳng với Rb trong điều kiện tương tự, đều tạo ra những dạng cấu trúc mới nào đó, như thí nghiệm này. 2/ Với bất cứ một dạng vật chất phi khối lượng nào như proton tương tác trong một điều kiện tương tự đều cho ra một kết quả tương tự. 3/ Trong tương lai không xa, khoa học hiện đại sẽ xác định được bản chất của "Khí" của Lý học Đông phương. Những ứng dụng của tương lai sẽ liên quan đến vật chất phi khối lượng ,mà Lý học gọi là "Khí".
  25. LỜI TIÊN TRI 2017. Nhiều đại gia Việt phá sản hoặc lao đao..... http://dantri.com.vn/su-kien/cach-chuc-tong-giam-doc-tap-doan-den-ngay-tan-dai-gia-mat-nghiep-20170924071605699.htm