• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

tongdung

Thành viên diễn đàn
  • Số nội dung

    18
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Danh tiếng Cộng đồng

0 Neutral

About tongdung

  • Rank
    Mới gia nhập
  • Birthday
  1. Thời kỳ ủ bệnh Thời gian ủ bệnh là 10 đến 90 ngày, trung bình 3 tuần trước khi bắt đầu tổn thương nguyên phát. Thời gian càng ngắn thì nhiễm trùng càng cao. Khoảng thời gian giữa nhiễm trùng và khởi phát bệnh giang mai thứ phát là 6 tuần (4 đến 8 tuần sau tổn thương nguyên phát) đến 6 đến 12 tháng. Thời kỳ phát triển bệnh giang mai cấp ba là từ 2 đến 30 năm sau khi nhiễm bệnh (Egglestone 2000, Fennema 1999, Holmes 2008, Kohl 1999). Triệu chứng bệnh Bệnh giang mai lâm sàng được phân loại như sau: giang mai nguyên phát (giang mai I): có triệu chứng, tổn thương nguyên phát; giang mai thứ phát (giang mai II): có triệu chứng, tổng quát; giang mai tiềm ẩn: thời gian trễ không triệu chứng giữa giang mai thứ phát và thứ ba: - giang mai tiềm ẩn sớm: theo hầu hết các hướng dẫn, bao gồm cả CDC , nhiễm trùng ngắn hơn 1 năm trước ( WHO nói về bệnh giang mai muộn hơn 2 năm trước); - giang mai tiềm ẩn hoặc giang mai muộn latens tarda: nhiễm trùng hơn 1 năm trước (theo nhiễm trùng WHO hơn 2 năm trước); - giang mai tiềm ẩn trong thời gian không xác định: lâm sàng được coi là giang mai latens tarda; giang mai cấp ba: có triệu chứng, bao gồm giang mai tim mạch, bệnh giang mai thần kinh và giang mai nội tạng (nhưng bệnh giang mai thần kinh có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào của bệnh giang mai). Xem thêm thồng tin: bệnh giang mai Bệnh giang mai nguyên phát Tổn thương cổ điển của bệnh giang mai nguyên phát là vết loét đơn độc, không đau, sạch có hoặc không có co giật hoại tử tại vị trí tiêm, thường là bộ phận sinh dục, nhưng đôi khi cũng có thể gây tê hoặc ở miệng. Ngay cả trên ngón tay và những nơi khác trên da, tổn thương có thể xảy ra, tùy thuộc vào sự giới thiệu chính của xoắn khuẩn. Các tổn thương có chứa xoắn khuẩn và dễ lây lan. Trong 80% các trường hợp cũng có sưng hạch vùng không đau. Một tổn thương đơn độc là cổ điển, nhưng nhiều tổn thương cũng xảy ra. Ngay cả khi không được điều trị, vết loét sẽ biến mất sau 3 đến 6 tuần (Holmes 2008, Singh 1999). Bệnh giang mai thứ cấp Trong vòng vài giờ sau khi bị nhiễm giang mai, vi khuẩn lây lan khắp cơ thể. Khoảng 3 đến 6 tuần sau khi xuất hiện tổn thương nguyên phát, đôi khi vẫn còn, 60-90% bệnh nhân không được điều trị phát triển hội chứng giang mai thứ phát với các triệu chứng như bất thường ở da và / hoặc niêm mạc. Nổi bật nhất là một exanthema maculopapular, không ngứa trên thân và tứ chi, bao gồm lòng bàn tay và lòng bàn chân. Tổn thương tăng cường màu xám ngọc trai đôi khi xuất hiện trên hậu môn hoặc bộ phận sinh dục: cái gọi là condylomata lata. Chúng chứa rất nhiều xoắn khuẩn và cực kỳ dễ lây lan. Niêm mạc cũng có thể hiển thị các tổn thương. Cái gọi là rụng tóc ăn thịt của da đầu cũng rất nổi bật. Tất cả các tổn thương có chứa xoắn khuẩn và theo lý thuyết là truyền nhiễm. Tuy nhiên, với làn da nguyên vẹn, không có sự lây truyền nào xảy ra trong giao thông hàng ngày. Thường có sốt, khó chịu, đau cơ và đau xương do viêm màng ngoài tim và viêm khớp có thể xảy ra. Trong bối cảnh của bệnh giang mai thứ phát, các triệu chứng thần kinh như suy nhược thần kinh não do viêm màng não giang mai cũng có thể xảy ra. Suy giảm thị lực đột ngột do viêm võng mạc, khiếm thính hoặc liệt một bên mặt có thể xảy ra. Bệnh giang mai thứ phát cũng có thể liên quan đến suy gan và thận. Thậm chí hiếm hơn là giang mai maligna, đặc trưng bởi nhiều bất thường loét lan tỏa, mỗi giống như một ảnh hưởng chính (Holmes 2008, Singh 1999). Bệnh giang mai tiềm ẩn Sau thời kỳ lây nhiễm với bệnh giang mai I và II, một khoảng thời gian trễ mà không có triệu chứng lâm sàng nào xảy ra ( CDC 2010). Bệnh giang mai cấp ba 2 đến 4 năm sau khi bị nhiễm trùng, bệnh giang mai cơ quan cấp ba có thể phát triển với đặc điểm là bất thường ở hạch hoặc loét ở da, màng nhầy, xương và hầu như bất kỳ cơ quan nội tạng nào, được gọi là gummata. Chúng là các quá trình viêm tăng sinh mạn tính (tương tự như u hạt). Các triệu chứng phụ thuộc vào các cơ quan bị ảnh hưởng. Sử dụng kháng sinh đã làm cho bệnh giang mai cấp ba trở nên hiếm hoi trong thế giới phương Tây. Vô số các hội chứng lâm sàng có thể được phân loại thành bệnh thần kinh, giang mai tim mạch và giang mai lành tính muộn (Sparling 2008). Neurosyphilis có thể tự thể hiện theo năm cách khác nhau: bệnh thần kinh không triệu chứng (có bất thường về rượu mà không có dấu hiệu lâm sàng); viêm màng não cấp tính; bệnh giang mai mạch máu (viêm mạch với viêm màng não dẫn đến nhồi máu não); giang mai nhu mô sau 5 đến 25 năm, với: - tabes dorsalis (tủy sống) và - mất trí nhớ paralytica (sparenchym não: với một khóa học mất trí nhớ tiến triển); gummata não (nguồn nhiễm trùng u hạt lớn có thể hoạt động như một quá trình tiêu tốn không gian). Bệnh giang mai tim mạch là một dạng giang mai cấp ba rất muộn, các triệu chứng xảy ra sau 20 đến 30 năm sau khi bị nhiễm trùng. Hiện tượng chính là chứng phình động mạch chủ tăng dần của động mạch chủ do viêm nội mạc tử cung của ống dẫn tinh và phá hủy van động mạch chủ (Holmes 2008, Singh 1999). ▶ Gấp lại Mang thai Bệnh giang mai bẩm sinh Miễn dịch tự nhiên Nhiễm trùng với T. pallidum dẫn đến một mức độ miễn dịch nhất định, nhưng việc bảo vệ chống lại nhiễm trùng vẫn chưa hoàn tất. Nhiễm trùng đầu tiên càng kéo dài, khả năng miễn dịch càng mạnh. Cả miễn dịch tế bào và thể dịch đều đóng một vai trò trong việc này. Ví dụ, hơn hai mươi kháng thể khác nhau (cả T. pallidum- đặc hiệu và không đặc hiệu) được tạo ra để chống lại một loạt các kháng nguyên. Một lượng nhỏ kháng thể IgG có thể tiếp tục tồn tại ngay cả sau khi điều trị, nhưng sau đó lại bị nhiễm trùng (Egglestone 2000). Hồ chứa T. pallidum ssp. pallidum là mầm bệnh bắt buộc ở người, không có vật chủ trung gian (Holmes 2008). Do đó, bệnh nhân truyền nhiễm là hồ chứa duy nhất. Con đường ô nhiễm Truyền bệnh giang mai diễn ra hầu như chỉ thông qua lây truyền qua đường tình dục ở người lớn, tức là bộ phận sinh dục, hậu môn hoặc miệng, theo đó tiếp xúc trực tiếp với các tổn thương hoạt động (ẩm) là bắt buộc. Tổn thương miệng có thể phát triển trong quan hệ tình dục orogenital. Người ta ước tính rằng tiêm một số lượng nhỏ treponidia là đủ để phát triển một tổn thương nguyên phát (Magnuson 1956). Truyền bệnh giang mai bằng cách truyền máu với máu từ người hiến tặng cũng đã được mô tả, nhưng người hiến sau đó phải ở trong giai đoạn truyền nhiễm. Chuyển qua kim tiêm dùng chung cho người sử dụng ma túy hoặc qua hình xăm là rất hiếm. Truyền cho nhân viên điều dưỡng sau khi chạm trực tiếp vào tổn thương bằng tay trần đã được mô tả tình cờ. (Edwards 1998, Holmes 2008, Singh 1999). Lây truyền từ mẹ sang con rất hiếm khi xảy ra ở Hà Lan do sàng lọc trước sinh (xem kịch bản sàng lọc trước sinh đối với các bệnh truyền nhiễm và tiêm chủng hồng cầu ). Xem thêm Phụ lục 1 cho điều này . Thời kỳ truyền nhiễm Thời kỳ lây nhiễm để lây truyền qua đường tình dục (theo chiều ngang) phụ thuộc vào sự hiện diện của các tổn thương bề ngoài. Các tổn thương bề ngoài nguyên phát và sau đó là condylomata lata rất dễ lây cho đến khi chúng được chữa khỏi. Sau đó, sự lây nhiễm từ máu từ thời điểm nhiễm trùng kéo dài khoảng một năm đến 2 năm. Trong giai đoạn đánh giá giang mai nguyên phát và thứ phát và giang mai latens, bệnh nhân là bệnh truyền nhiễm. Giang mai latens tarda và giang mai cấp ba không truyền nhiễm qua quan hệ tình dục; tuy nhiên, lây truyền từ mẹ sang con cũng có thể diễn ra ở các giai đoạn này. Nguồn: lci.rivm.nl/richtlijnen/syfilis
  2. Tác nhân gây bệnh Tác nhân gây bệnh giang mai - xoắn khuẩn nhạt - có tên do nhuộm màu kém của thuốc nhuộm chính được sử dụng trong nghiên cứu. Vi khuẩn này được phát hiện lần đầu tiên bởi Hoffmann và Shaoudin vào năm 1905. Vi sinh vật này có thể phát triển độc quyền trong không gian không có không khí và nhanh chóng chết mà không có sinh vật chủ. Khi trời lạnh, chúng có thể sống lâu hơn một chút so với trong môi trường ấm áp. Y học hiện đại được biết đến với ba loại xoắn khuẩn: tác nhân gây bệnh giang mai cổ điển là treponema pallidum; tác nhân gây bệnh giang mai đặc hữu là treponema pallidum đặc hữu; tác nhân gây bệnh u hạt nhiệt đới là treponema pallidum pertenue. Có thể phát hiện xoắn khuẩn bằng cách kiểm tra trong phòng thí nghiệm vật liệu lấy từ bệnh nhân. Dễ dàng nhất để tiêu diệt xoắn khuẩn trên bề mặt với bất kỳ chất khử trùng. Trong cơ thể bệnh nhân, vi khuẩn bị tiêu diệt với sự trợ giúp của thuốc kháng sinh. Bệnh giang mai lây truyền như thế nào Có một số cách truyền bệnh này, nhưng trong số đó có cả hai cách chẩn đoán thường gặp nhất và rất hiếm: tình dục - nhiễm trùng xảy ra thông qua quan hệ tình dục không được bảo vệ; hộ gia đình - nhiễm trùng thông qua các vật dụng gia đình thông thường với bệnh nhân; transplacental - nhiễm trùng xảy ra thông qua hệ thống tuần hoàn. Bệnh lây truyền từ người phụ nữ mang thai sang thai nhi. Phần lớn các trường hợp nhiễm trùng với tác nhân gây bệnh giang mai xảy ra trong quan hệ tình dục. Nhiễm trùng thông qua các vật dụng gia đình thông thường không được loại trừ, tuy nhiên, những trường hợp như vậy là cực kỳ hiếm và nhiều trong số đó là những liên hệ chưa được chứng minh. Cơ hội mắc bệnh giang mai hộ gia đình là rất nhỏ vì tác nhân gây bệnh của nó, xoắn khuẩn nhạt, không tồn tại bên ngoài cơ thể và chết rất nhanh trên bất kỳ bề mặt nào. Đôi khi nhiễm trùng transplacental của thai nhi xảy ra ở một phụ nữ mang thai mắc bệnh giang mai. Thông thường, điều này trở thành nguyên nhân của bệnh giang mai bẩm sinh ở trẻ, nếu nó đã được hình thành hoặc dẫn đến cái chết của thai nhi trong thai kỳ sớm. Xem thêm: chữa giang mai hết bao nhiêu tiền Các loại giang mai Tổng cộng có hai nhóm lớn mà các loại bệnh giang mai có thể được tính - bẩm sinh và mắc phải. Đổi lại, các nhóm này được chia thành các loại, bao gồm các loại bệnh giang mai trong các giai đoạn. Danh sách sau đây tóm tắt phân loại hiện tại của các biểu hiện khác nhau của bệnh: silyphus nguyên phát; giang mai thứ phát: dạng tiềm ẩn sớm; giang mai tái phát thứ phát; hình thức ẩn muộn; giang mai cấp ba; giang mai thai nhi; sily đốm bẩm sinh sớm; sily đốm bẩm sinh muộn; giang mai bẩm sinh tiềm ẩn; bệnh lý thần kinh. Bệnh giang mai xảy ra như thế nào? Những dấu hiệu đầu tiên của bệnh giang mai rất khó nhận thấy. Hình ảnh lâm sàng của ông, như một quy luật, chỉ được hình thành đến giai đoạn thứ hai của bệnh, trong đó khó chữa hơn nhiều so với lúc đầu. Các triệu chứng của bệnh giang mai khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn, trạng thái của hệ thống miễn dịch và phương pháp lây nhiễm. Thời gian ủ bệnh của bệnh dao động từ hai tuần đến hai tháng. Để phân tích chi tiết bức tranh triệu chứng của bệnh và các dấu hiệu của bệnh giang mai, người ta nên tự làm quen với mô tả của từng giai đoạn phát triển của nó. Bệnh giang mai nguyên phát Đặc trưng bởi sự xâm nhập của mầm bệnh vào cơ thể và đưa nó vào các hạch bạch huyết, nằm gần vị trí nhiễm trùng nhất. Thời kỳ chính kéo dài 6-7 tuần. Tại nơi giới thiệu bệnh giang mai, một đốm đỏ được hình thành, sau đó biến thành một vết loét nhỏ, hình tròn. Điều này thường xảy ra 4 tuần sau khi nhiễm trùng. Ở giai đoạn này, bằng cách phân tích chất lỏng thoát ra từ chỗ, có thể phát hiện vi khuẩn xoắn khuẩn bằng phương pháp phòng thí nghiệm. Vết bẩn, được gọi là chancroid, trong y học, là lý do để điều trị ngay lập tức cho phòng khám để kiểm tra, vì ở giai đoạn này việc điều trị bệnh giang mai vẫn còn tương đối nhanh chóng và đơn giản. Tuy nhiên, đôi khi vết bẩn không ở trên bề mặt da, mà trên màng nhầy, nơi khó nhận thấy hơn nhiều. Sau khi tác nhân gây bệnh đến các hạch bạch huyết, viêm hạch bạch huyết bắt đầu phát triển, một dấu hiệu của bệnh giang mai trong trường hợp này sẽ là đau ở các hạch bạch huyết khi bạn nhấp vào chúng, sưng mô, tăng hạch. Sau một hoặc hai tháng sau khi xuất hiện chancre lành, sau đó có thể có một vết sẹo nhỏ. Điều này có nghĩa là sự chuyển đổi của giai đoạn chính dưới dạng giang mai tiềm ẩn. Sau khi kết thúc thời gian tiềm ẩn của bệnh nhân bắt đầu cảm thấy yếu, đau đầu và đau cơ. Bệnh chuyển sang giai đoạn tiếp theo. Bệnh giang mai thứ cấp Tổng quát hóa nhiễm trùng bắt đầu khoảng 3 tháng sau khi nhiễm trùng và có thể kéo dài 3-5 năm. Thời kỳ này được đặc trưng bởi một hình ảnh rất đa dạng về các dấu hiệu của bệnh giang mai, trong số đó có thể là: phát ban trên các vùng da khác nhau; triệu chứng bệnh của các cơ quan bị ảnh hưởng bởi xoắn khuẩn; triệu chứng prodromal - tương tự như hình ảnh của cảm lạnh (sốt, đau cơ, khó chịu, vv); sự xuất hiện của các đốm đỏ riêng biệt - sifilom. Sự xen kẽ của các giai đoạn biểu hiện tích cực của các triệu chứng và quá trình tiềm ẩn của bệnh xảy ra trong vài năm. Phát ban giang mai đỏ không đau và không ngứa, nó có thể tồn tại trên da trong 2 - 5 tuần, sau đó nó biến mất. Trong toàn bộ biểu hiện của bệnh giang mai, họ không làm phiền người bệnh, điều này trở nên rất nguy hiểm, vì bệnh giang mai không được điều trị tiếp tục phát triển không kiểm soát được. Sau giai đoạn tiềm ẩn của bệnh, phát ban sẩn xuất hiện. Theo quy định, các sẩn nằm ở những khu vực đổ mồ hôi quá nhiều và ở những nơi chúng bị ẩn và dễ bị ma sát. Trong thời kỳ này, rụng tóc cũng là đặc trưng của bệnh nhân - rụng tóc trên một khu vực nhỏ của đầu. Nhiễm trùng thứ phát có liên quan đến bệnh giang mai ở giai đoạn này, vì phát ban có sự xuất hiện của các vết loét. Bệnh giang mai thứ phát ảnh hưởng đến tất cả các hệ cơ quan và toàn bộ cơ thể. Bệnh nhân rất dễ lây, bệnh có thể lây truyền qua những nụ hôn và những tiếp xúc trực tiếp khác với bệnh nhân nội dịch. Bệnh giang mai cấp ba Với việc điều trị sai hoặc vắng mặt, bệnh giang mai thứ phát trở thành đại học, hoặc nội tạng. Giai đoạn này bắt đầu 3-8 năm sau khi nhiễm bệnh. Trong giai đoạn này, da, niêm mạc và xương bị ảnh hưởng. Gummas xuất hiện - củ trên xương và các cơ quan nội tạng, dễ bị sâu răng và sẹo. Sự xuất hiện của kẹo cao su dẫn đến sự phát triển của các quá trình thoái hóa nghiêm trọng trong mô xương và các cơ quan nội tạng. Tùy thuộc vào hệ thống nào bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi bệnh giang mai, các triệu chứng có thể như sau: với sự thất bại của hệ thống thần kinh trung ương xảy ra sự thoái hóa nhân cách của bệnh nhân; với tổn thương xương và khớp, bệnh nhân bị viêm khớp và các bệnh khác của các mô này; khi các hạch bạch huyết trong ổ bụng bị ảnh hưởng, viêm mesaden bắt đầu với một hội chứng đau mạnh; với tổn thương tủy sống, não có thể bị tê liệt tiến triển . Ở giai đoạn này, bệnh nhân ít lây bệnh hơn ở giai đoạn trước. Quá trình của bệnh ở dạng này không giới hạn, nó kéo dài rất lâu. Nhưng trong trường hợp không điều trị, bệnh giang mai cấp ba có thể gây tử vong. Bệnh giang mai bẩm sinh Bệnh giang mai bẩm sinh xảy ra khi thai nhi bị nhiễm trùng qua đường xuyên sọ. Nó có thể phát triển từ tháng thứ ba của thai kỳ, khi các mạch máu đã được hình thành đầy đủ. Thông thường, trong quá trình nhiễm trùng tử cung, thai nhi chết, nhưng trong một số trường hợp, trẻ em sinh ra bị khuyết tật về thể chất và tinh thần. Từ 1 đến 2 năm tuổi, bệnh giang mai được biểu hiện dưới dạng phát ban sẩn trên da. Trẻ em bị đau, có bệnh lý ở các hệ cơ quan khác nhau, bị tụt lại phía sau trong quá trình phát triển và hầu như luôn có những thay đổi không thể đảo ngược ở gan, tim và hệ tim mạch. Có hai giai đoạn chính của bệnh bẩm sinh: giang mai bẩm sinh sớm - phát ban sẩn ở mông, tổn thương niêm mạc, tràn dịch não, chậm phát triển tâm thần và thể chất; giang mai bẩm sinh muộn - đặc điểm chính là sự hiện diện của bộ ba Getchinson: bệnh lý của răng, biểu hiện ở răng cửa trên trung tâm hình thùng, tổn thương giác mạc và điếc mê cung. Tự điều trị bệnh giang mai bẩm sinh là không thể chấp nhận được. Khi nó được phát hiện ở người mẹ, một quyết định được đưa ra là chấm dứt thai kỳ hoặc bắt đầu điều trị bằng kháng sinh nếu thấy phù hợp. Các phân tích lâm sàng được tiến hành, cho thấy mức độ thiệt hại đối với thai nhi và sự phát triển của nó. Tùy thuộc vào các yếu tố được liệt kê ở trên và các giai đoạn phát triển, giang mai có thể có các triệu chứng và biểu hiện khác nhau. Nhưng đối với mỗi giai đoạn có những dấu hiệu đặc trưng mà nó có thể được nhận ra và điều trị thích hợp được quy định. Đối với các giai đoạn khác nhau, danh sách ngắn của họ trông như thế này. Triệu chứng của bệnh giang mai nguyên phát sự xuất hiện của chancre cứng là một vết loét nhỏ không đau hoặc ngứa. Nó thường xuất hiện trên niêm mạc của bộ phận sinh dục, môi, miệng; Hạch bạch huyết sưng một đến hai tuần sau khi bắt đầu loét; sự biến mất của vết loét từ ba đến sáu tuần sau khi xuất hiện; Triệu chứng của bệnh giang mai thứ phát Các triệu chứng tiếp theo phát triển bốn đến sáu tuần sau khi xuất hiện vết loét: sự xuất hiện của một phát ban đối xứng nhợt nhạt trên khắp cơ thể; đau đầu; khó chịu nói chung; tăng nhiệt độ; sưng hạch bạch huyết khắp cơ thể; mất một lượng đáng kể tóc trên đầu; sự xuất hiện của mụn cóc sinh dục rộng ; triệu chứng của bệnh giang mai cấp ba Sự phát triển của bệnh xảy ra vài năm sau khi các triệu chứng được mô tả ở trên: tổn thương hệ thần kinh; tổn thương xương; bệnh lý của tim và gan. Nếu bạn nhận thấy một hoặc nhiều triệu chứng của bệnh giang mai nguyên phát, bạn nên liên hệ với phòng khám càng sớm càng tốt. Điều trị sớm có thể ngăn ngừa sự phát triển tiếp theo của bệnh và hậu quả nghiêm trọng liên quan đến cơ thể. Trích nguồn: illness.docdoc.ru/sifilis
  3. Bệnh giang mai là một bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) có thể chữa được do vi khuẩn Treponema pallidum gây ra. Bệnh giang mai có thời gian dưới hai năm có thể có dấu hiệu và triệu chứng (đây được gọi là giang mai nguyên phát hoặc thứ phát) hoặc không có dấu hiệu và triệu chứng (đây được gọi là giang mai tiềm ẩn sớm). Bệnh giang mai có thời gian hơn hai năm được gọi là giang mai tiềm ẩn muộn và thường không có triệu chứng. Tất cả các giai đoạn này là truyền nhiễm và bệnh giang mai có thể được truyền cho bạn tình trong tối đa hai năm nếu người đó không được điều trị. Không phải tất cả những người mắc bệnh giang mai đều có dấu hiệu nhiễm trùng, vì vậy một người có thể mắc bệnh này và truyền lại mà không biết. Dấu hiệu và triệu chứng: Bệnh giang mai nguyên phát Bệnh giang mai ban đầu có thể gây ra vết loét hoặc loét quanh vùng sinh dục, miệng hoặc cổ họng 10 Wap90 ngày (trung bình 21 ngày) sau khi bị nhiễm trùng. Những vết loét này, được gọi là chancres, có thể là bất kỳ kích thước hoặc hình dạng. Chúng thường không đau, không chảy máu và có thể cảm thấy như một nút cứng trên da. Đôi khi những vết loét này có thể là nội bộ và không được chú ý. Đây được gọi là giai đoạn chính của bệnh giang mai. Nếu không được điều trị, vết loét thường lành và biến mất sau một vài tuần, tuy nhiên, nhiễm trùng giang mai vẫn còn trong cơ thể và người vẫn còn bị nhiễm trùng. Xem thêm: chi phí điều trị bệnh giang mai Bệnh giang mai thứ cấp Hai đến sáu tháng sau khi bị nhiễm bệnh, giai đoạn thứ phát của bệnh giang mai xảy ra. Các triệu chứng có thể bao gồm một bệnh giống như cúm, phát ban ở thân, lòng bàn tay và lòng bàn chân, các tuyến bị sưng, mụn cóc như cục u quanh các khu vực ẩm ướt của cơ thể và rụng tóc. Một số người cũng bị đau đầu, mệt mỏi và đau ở xương, cơ và khớp. Khi những triệu chứng này đi người vẫn còn truyền nhiễm. Bệnh giang mai tiềm ẩn sớm Điều này có nghĩa là người đó không có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào nhưng là bệnh truyền nhiễm. Cách duy nhất họ biết họ mắc bệnh giang mai là xét nghiệm máu. Giang mai muộn Điều này có nghĩa là người không bị nhiễm trùng. Cách duy nhất để người bệnh biết họ mắc bệnh giang mai là xét nghiệm máu. Điều gì xảy ra nếu bệnh giang mai không được điều trị? Nếu nhiễm trùng không được điều trị, các dấu hiệu và triệu chứng sẽ biến mất, mặc dù một số trong số chúng có thể đến và đi đến một năm. Tuy nhiên, nhiễm trùng giang mai vẫn còn trong cơ thể và mọi người có thể truyền bệnh giang mai lên bạn tình trong thời gian này tới hai năm. Nếu một phụ nữ mang thai mắc bệnh giang mai không được điều trị, nhiễm trùng có thể truyền qua nhau thai cho thai nhi. Điều này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến em bé. Nhiễm trùng có thể truyền từ mẹ sang con trong một thời gian dài hơn nhiều so với bạn tình. Nó được cho là có nguy cơ cho bất kỳ thai kỳ nào trong vòng tám năm sau khi bị nhiễm trùng ban đầu nếu nhiễm trùng đó không được điều trị. Nếu bệnh giang mai tiềm ẩn muộn không được điều trị, theo thời gian (có thể là nhiều năm), nhiễm trùng giang mai có thể ảnh hưởng đến các bộ phận khác nhau của cơ thể. Nó có thể gây ra vấn đề với dây thần kinh, não và các mạch lớn gần tim. Điều trị: Một xét nghiệm máu đơn giản thường được sử dụng để chẩn đoán bệnh giang mai. Nếu một người bị loét hoặc đau, điều này cũng có thể được kiểm tra bệnh giang mai bằng tăm bông để xét nghiệm PCR. Có một thời gian ngắn sau khi tiếp xúc với bệnh giang mai khi các xét nghiệm có thể không nhận được các giai đoạn đầu của nhiễm trùng và các xét nghiệm lặp lại có thể là cần thiết. Nếu một người mắc bệnh giang mai, họ sẽ xét nghiệm dương tính bằng xét nghiệm máu ba tháng sau khi nhiễm bệnh, và thường sớm hơn nhiều. Đôi khi những người mắc bệnh giang mai có các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Nó được coi là thực hành tốt nhất để kiểm tra các STI khác cùng lúc với xét nghiệm giang mai. Bệnh giang mai thường được xử trí bằng cách tiêm penicillin benzathine để điều trị nhiễm trùng trong bảy ngày. Đối với các trường hợp được xác nhận bệnh giang mai truyền nhiễm có thời gian dưới hai năm, cần sử dụng một liều thuốc benzathine penicillin bằng cách tiêm trong cơ bắp. Đối với các trường hợp có thể mắc bệnh giang mai hoặc giang mai truyền nhiễm có thể kéo dài hơn hai năm hoặc thời gian không xác định, cần sử dụng ba liều thuốc benzathine penicillin bằng cách tiêm trong cơ bắp, cách nhau 7 ngày, Một người mắc bệnh giang mai nên kiêng hoạt động tình dục trong bảy ngày sau khi hoàn thành quá trình điều trị và tất cả các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh giang mai đã được loại bỏ. Đối tác tình dục của bạn cũng nên được điều trị bệnh giang mai và kiêng hoạt động tình dục trong bảy ngày sau khi hoàn thành điều trị. Điều quan trọng là phải xét nghiệm máu ở ba, sáu và mười hai tháng sau khi điều trị bệnh giang mai để kiểm tra xem việc điều trị có hiệu quả hay không. Ngay cả sau khi điều trị, một số xét nghiệm máu sẽ vẫn dương tính với bệnh giang mai. Điều này không có nghĩa là người đó vẫn bị nhiễm bệnh. Nó chỉ cho thấy rằng họ đã mắc bệnh giang mai trong quá khứ. Điều quan trọng là tất cả các đối tác tình dục được điều trị để ngăn chặn tái nhiễm và để ngăn ngừa nhiễm trùng lây lan trong cộng đồng. Một người mắc bệnh giang mai có thể giúp đỡ bằng cách khuyên các đối tác tình dục đi xét nghiệm và điều trị bệnh giang mai. Điều này có thể được thực hiện bằng cách nói chuyện với các đối tác hoặc yêu cầu bác sĩ, y tá hoặc nhân viên y tế thông báo cho các đối tác. Đây là một quy trình bí mật và tên sẽ không được đề cập. Một số người sử dụng trang web thông báo trực tuyến như Truyền tải: Bệnh giang mai lây lan qua quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn và miệng không được bảo vệ. Một người cũng có thể bị nhiễm bệnh qua da thân mật khi tiếp xúc với da với người bị nhiễm bệnh khi quan hệ tình dục. Bệnh giang mai cũng có thể làm tăng nguy cơ lây truyền HIV. Một phụ nữ mang thai với bệnh giang mai không được điều trị hoặc điều trị không đầy đủ có thể truyền bệnh giang mai cho em bé chưa sinh của mình qua nhau thai trong khi mang thai. Ai có nguy cơ? Có một sự bùng phát liên tục của bệnh giang mai truyền nhiễm xảy ra chủ yếu ở những người thổ dân trẻ tuổi và người dân đảo Torres St Eo ở độ tuổi 15 sống29 ở Bắc Úc, bao gồm cả ở phía bắc Queensland. Vụ dịch hiện đang ảnh hưởng đến Queensland, Lãnh thổ phía Bắc, Tây Úc và Nam Úc. Tiếp tục có nhiều thông báo về bệnh giang mai truyền nhiễm ở đông nam Queensland xảy ra ở những người có quan hệ tình dục với nam giới. Cũng có sự gia tăng các thông báo giang mai truyền nhiễm trên toàn tiểu bang giữa những người đàn ông lưỡng tính, những người đàn ông và phụ nữ không phải là người bản địa, và những người chuyển giới. Ở Úc, các nhóm có nguy cơ mắc bệnh giang mai bao gồm: Đồng tính nam Đàn ông có quan hệ tình dục với đàn ông Đối tác tình dục nữ của những người đàn ông có quan hệ tình dục với nam giới Thổ dân và dân đảo Torres St Eo (đặc biệt là những người) sống trong khu vực bị tuyên bố bùng phát Người chuyển giới Những người có quan hệ tình dục ở những nước có tỷ lệ giang mai cao Em bé của những bà mẹ chưa được chăm sóc tiền sản đầy đủ, bao gồm xét nghiệm và điều trị giang mai trong thai kỳ. Ở Úc, nguy cơ mắc bệnh giang mai từ một phụ nữ tham gia hoạt động mại dâm là rất thấp. Phòng ngừa: Các cách an toàn nhất để bảo vệ chống lại bệnh giang mai là: Luôn luôn sử dụng bao cao su và chất bôi trơn dựa trên nước. Bao cao su là cách tốt nhất để bảo vệ chống lại bệnh giang mai và các STI khác. Tránh quan hệ tình dục với người bị loét hoặc đau ở bộ phận sinh dục và / hoặc miệng. Có một mối quan hệ mà không đối tác có đối tác tình dục khác. Có ít bạn tình hơn. Thường xuyên kiểm tra STI, đặc biệt nếu đối tác thay đổi. Bạn có thể tổ chức để có lời nhắc về việc kiểm tra STI được gửi cho bạn qua SMS hoặc email tại: Kịch xuống Tốt hơn để biết Nếu được chẩn đoán mắc STI, hãy hoàn thành quá trình điều trị được đề nghị. Tất cả phụ nữ nên làm xét nghiệm giang mai trong 12 tuần đầu của thai kỳ hoặc ở lần khám thai đầu tiên. Bệnh giang mai sớm được điều trị trong thai kỳ, nguy cơ em bé bị ảnh hưởng bởi bệnh giang mai càng thấp. Không có vắc-xin cho bệnh giang mai. Nhiễm trùng trước đó và điều trị trước đó không bảo vệ một người khỏi bệnh giang mai một lần nữa. Các nguồn lực khác: Liên lạc với bác sĩ gia đình, phòng khám sức khỏe cộng đồng, phòng khám sức khỏe tình dục hoặc nhân viên y tế Thổ dân và / hoặc Torres St Eo Islander. Thông tin sức khỏe tình dục - Chính phủ Queensland. Thông tin tình dục an toàn Nội dung liên quan Tờ thông tin tình dục an toàn . Trợ giúp và giúp đỡ: Nhận tư vấn sức khỏe đủ điều kiện 24/7 cho chi phí của một cuộc gọi địa phương. 13 SỨC KHỎE (13 43 25 84) Một bác sĩ, y tá, nhân viên y tế hoặc phòng khám sức khỏe tình dục chịu trách nhiệm: Cung cấp các xét nghiệm, điều trị và thông tin thích hợp về cách phòng ngừa STI. Giúp mọi người đảm bảo rằng bạn tình của họ được kiểm tra và điều trị. Nguồn: conditions.health.qld.gov.au/HealthCondition/condition/21/188/136/syphilis
  4. Hồ sơ tiêm chủng 1 Papillomaviruses là phổ biến trong vương quốc động vật, nhưng mỗi loại virus chỉ có thể lây nhiễm cho một loài duy nhất. Virus papilloma ở người (hpv) có thể gây ra một loạt các tình trạng y tế. Nhiều loại vi-rút lây truyền qua đường tình dục, và bài viết này sẽ chỉ thảo luận về các vi-rút lây truyền qua đường tình dục. Triệu chứng và tác nhân gây bệnh Hpv là những virus dna không có vỏ bọc lây nhiễm vào các tế bào của da và niêm mạc. Hầu hết những người nhiễm virus papilloma ở người (hpv) không có triệu chứng và họ nhanh chóng loại bỏ virus khỏi cơ thể. Tuy nhiên, ở những người khác, một số loại hpv nguy cơ thấp gây ra mụn cóc ở bộ phận sinh dục. Các loại hpv khác là nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung và có liên quan đến ung thư hậu môn, dương vật, miệng và cổ họng. Chúng được gọi là các loại vi-rút có nguy cơ cao. Hpv chủ yếu được biết đến với vai trò gây ung thư cổ tử cung. Hai chủng virus - chủng 16 và 18 - được ước tính chịu trách nhiệm cho 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung, dẫn đến khoảng 500.000 trường hợp mới và 270.000 ca tử vong trên toàn thế giới mỗi năm. Có khoảng một chục chủng hpv nguy cơ cao khác chiếm chung 30% các bệnh ung thư cổ tử cung khác. Hpv rất phổ biến: một nghiên cứu cho thấy gần 27% phụ nữ ở độ tuổi 14-59 được xét nghiệm dương tính với một hoặc nhiều chủng hpv. Tỷ lệ cho nam giới có khả năng là tương tự. Hơn 80% phụ nữ sẽ bị nhiễm vi-rút sinh dục vào thời điểm họ đến 50 tuổi. Xem thêm: bệnh sùi mào gà chữa hết bao nhiêu tiền Truyền tải Hpv được truyền qua đường tình dục qua tiếp xúc da kề da. Quan hệ tình dục qua đường hậu môn, miệng và âm đạo, cũng như tiếp xúc bộ phận sinh dục với bộ phận sinh dục, tất cả đều phục vụ như là phương tiện con người có thể truyền virut. Bao cao su, vì chúng không bao gồm tất cả các khu vực có khả năng bị nhiễm hoặc có khả năng lây nhiễm, không đáng tin cậy ngăn chặn sự lây lan của hpv, nhưng rõ ràng chúng cung cấp một số mức độ bảo vệ chống lại hpv cũng như hầu hết các sti khác. Một người bị nhiễm vi-rút có thể truyền vi-rút ngay cả khi người đó không có dấu hiệu nhiễm trùng. Điều trị và chăm sóc Hầu hết các trường hợp nhiễm hpv đều tự khỏi và không cần điều trị. Khi mụn cóc phát triển, các bác sĩ thường có thể loại bỏ chúng bằng các phương pháp điều trị y tế hoặc bằng các kỹ thuật phẫu thuật. Đôi khi mụn cóc tái phát và có thể trở nên dai dẳng. Các biến chứng liên quan đến ung thư từ hpv và điều trị các biến chứng sẽ được thảo luận trong phần tiếp theo. Tuy nhiên, sàng lọc ung thư cổ tử cung thường xuyên cho phụ nữ là một công cụ hiệu quả trong việc làm gián đoạn những thay đổi cổ tử cung có thể dẫn đến ung thư. Theo lực lượng đặc nhiệm dịch vụ phòng ngừa hoa kỳ: Uspstf khuyến nghị sàng lọc ung thư cổ tử cung ở phụ nữ từ 21 đến 65 tuổi bằng tế bào học (pap smear) cứ sau 3 năm hoặc, đối với phụ nữ từ 30 đến 65 tuổi muốn kéo dài khoảng thời gian sàng lọc, sàng lọc bằng sự kết hợp giữa tế bào học và papillomavirus ở người (hpv) xét nghiệm cứ sau 5 năm. Biến chứng Nhiễm trùng hpv nguy cơ cao có thể gây ra những thay đổi trong các tế bào của cổ tử cung và các khu vực khác có thể dẫn đến ung thư. Được tìm thấy sớm, các mô bị ảnh hưởng có thể được loại bỏ thông qua phẫu thuật lạnh (đóng băng các tổn thương) hoặc các kỹ thuật phẫu thuật khác. Nếu chúng không được phát hiện và loại bỏ, ung thư có thể phát triển. Các phương pháp điều trị phổ biến cho ung thư cổ tử cung là loại bỏ một số hoặc tất cả cổ tử cung, loại bỏ bất kỳ khu vực bị ảnh hưởng nào khác như tử cung và các hạch bạch huyết xung quanh, và hóa trị và / hoặc xạ trị. Can thiệp phẫu thuật ở bất kỳ giai đoạn điều trị nào có thể dẫn đến các biến chứng khi mang thai và sinh nở. Ung thư âm hộ, hậu môn và cổ họng có thể được điều trị bằng phẫu thuật và / hoặc bằng hóa trị và xạ trị. Hàng năm (dữ liệu mới nhất từ năm 2012) khoảng 12.000 trường hợp ung thư cổ tử cung mới xảy ra ở phụ nữ hoa kỳ. Con số này không bao gồm các trường hợp phụ nữ được chẩn đoán và điều trị các tình trạng tiền ung thư liên quan đến hpv. Khoảng 4000 trường hợp tử vong xảy ra hàng năm tại hoa kỳ do ung thư cổ tử cung. Khoảng 9000 trường hợp ung thư hậu môn và cổ họng liên quan đến hpv ở phụ nữ được báo cáo hàng năm. Ở nam giới, khoảng 12.000 trường hợp ung thư liên quan đến hpv xảy ra mỗi năm. Một biến chứng hiếm gặp của hpv liên quan đến việc truyền virut từ mẹ sang con: trong khi sinh, trẻ sơ sinh có thể bị phơi nhiễm với virut và phát triển một tình trạng gọi là nhiễm trùng hô hấp tái phát. Mụn cóc có thể phát triển ở cổ họng và đường thở của trẻ, dẫn đến khó thở, khàn giọng và khó nuốt. Vắc xin và chiến dịch tiêm chủng có sẵn Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm hoa kỳ đã phê duyệt gardasil (hpv4), một loại vắc-xin merck cho bốn loại vi-rút, vào năm 2006. Fda đã phê duyệt một loại vắc-xin khác là cervarix (hpv2) từ glaxosmithkline, bảo vệ chống lại hai loại vi-rút có nguy cơ cao, vào năm 2009 một loại vắc-xin chín hóa trị (hpv9, gardasil 9) đã được phê duyệt vào năm 2014. Tất cả các loại vắc-xin hpv chỉ sử dụng một loại protein từ vỏ của một số loại hpv: chúng không chứa rna hoặc dna của virus và do đó không thể gây bệnh. Các vắc-xin hpv đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc ngăn ngừa thay đổi cổ tử cung tiền ung thư và thay đổi hậu môn tiền ung thư ở phụ nữ và nam giới gây ra bởi các chủng hpv gây ung thư nguy cơ cao. Ngoài ra, hpv4 và hpv9 còn cung cấp sự bảo vệ khỏi một số loại hpv gây nguy cơ thấp, gây mụn cóc. Các khuyến nghị và hướng dẫn hiện tại của hoa kỳ từ ủy ban tư vấn về thực hành chủng ngừa tiêm vắc-xin hpv cho nữ và nam dưới đây: Độ tuổi được khuyến nghị tiêm vắc-xin hpv cho nữ là 11-12 tuổi. Các loạt vắc-xin có thể được quản lý khi trẻ 9 tuổi. Nên tiêm vắc-xin bắt kịp cho nữ từ 13-26 tuổi chưa được tiêm phòng trước đó. Acip khuyến cáo nên tiêm phòng định kỳ cho nam giới ở độ tuổi 11 hoặc 12 tuổi bằng hpv4 hoặc hpv9. Loạt tiêm chủng có thể được bắt đầu từ 9 tuổi. Nên tiêm vắc-xin bằng hpv4 hoặc hpv9 cho nam từ 13-21 tuổi chưa được tiêm phòng trước đó hoặc chưa hoàn thành loạt bài này. Nam giới từ 22-26 tuổi có thể được tiêm phòng. Nguồn: historyofvaccines.org/content/articles/human-papillomavirus-infection
  5. Bệnh lậu Tại Illinois, tỷ lệ mắc bệnh lậu đã giảm đáng kể kể từ năm 1975, khi 59.000 trường hợp được báo cáo. Tuy nhiên, gần 17.000 trường hợp mắc bệnh đã được báo cáo tại tiểu bang vào năm 2011. Ước tính có gần 17.000 trường hợp khác, chủ yếu là ở thanh thiếu niên và thanh niên, không được báo cáo mỗi năm. Chi phí xấp xỉ hàng năm của bệnh lậu và các biến chứng của nó ở Illinois là hơn 3 triệu đô la. Các Trung tâm DC của Hoa Kỳ ước tính rằng, hàng năm, hơn 700.000 người ở Hoa Kỳ bị nhiễm bệnh lậu mới và chưa đến một nửa số ca nhiễm này được báo cáo cho CDC. Trong năm 2010, gần 322.000 trường hợp mắc bệnh lậu đã được báo cáo cho CDC. Bệnh lậu là gì? Bệnh lậu là một bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) do vi khuẩn Neisseria gonorrhoeae (gonococcus) gây ra, phát triển và nhân lên ở những khu vực ẩm ướt, ấm áp của đường sinh sản, bao gồm cả cổ tử cung (tử cung), tử cung (tử cung) và tử cung ống dẫn trứng (kênh trứng) ở phụ nữ và trong niệu đạo (ống nước tiểu) ở phụ nữ và nam giới. Vi khuẩn có thể phát triển trong miệng, cổ họng, mắt và hậu môn. Ở phụ nữ, cổ tử cung là nơi nhiễm trùng phổ biến nhất. Tuy nhiên, bệnh có thể lan sang tử cung và ống dẫn trứng, dẫn đến bệnh viêm vùng chậu. Điều này, đến lượt nó, có thể gây vô sinh và mang thai ngoài tử cung. Bệnh lậu phổ biến như thế nào? Bệnh lậu là một bệnh truyền nhiễm rất phổ biến. CDC ước tính, hàng năm, hơn 700.000 người ở Hoa Kỳ bị nhiễm bệnh lậu mới và chưa đến một nửa số ca nhiễm này được báo cáo cho CDC. Năm 2011, đã có 321.849 trường hợp mắc bệnh lậu được báo cáo cho CDC. Xem thêm: chi phí điều trị bệnh lậu Bệnh lậu lây lan như thế nào? Người mắc bệnh lậu bằng cách quan hệ tình dục (hậu môn, âm đạo hoặc miệng) với người mắc bệnh. Bệnh lậu vẫn có thể lây truyền qua chất lỏng ngay cả khi người đàn ông không xuất tinh. Bệnh lậu có thể lây từ người mẹ không được điều trị sang đứa con trong khi sinh. Những người đã mắc bệnh lậu và đã được điều trị có thể bị nhiễm lại nếu họ có quan hệ tình dục với một người bị nhiễm bệnh lậu. Khi nhiễm trùng xảy ra ở trẻ em, phổ biến nhất là do lạm dụng trẻ em. Ai có nguy cơ mắc bệnh lậu? Bất kỳ người hoạt động tình dục nào cũng có thể bị nhiễm bệnh lậu. Đây là một STD rất phổ biến. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ nhiễm bệnh được báo cáo cao nhất là ở thanh thiếu niên hoạt động tình dục, thanh niên và người Mỹ gốc Phi. Các triệu chứng của bệnh lậu là gì? Một số nam giới mắc bệnh lậu có thể không có triệu chứng nào cả. Tuy nhiên, các triệu chứng phổ biến ở nam giới bao gồm cảm giác nóng rát khi đi tiểu, hoặc xuất tiết màu trắng, vàng hoặc xanh từ dương vật thường xuất hiện từ một đến 14 ngày sau khi bị nhiễm trùng. Đôi khi nam giới mắc bệnh lậu bị đau hoặc sưng tinh hoàn. Hầu hết phụ nữ mắc bệnh lậu không có bất kỳ triệu chứng nào. Ngay cả khi một phụ nữ có triệu chứng, họ thường nhẹ và có thể bị nhầm lẫn với nhiễm trùng bàng quang hoặc âm đạo. Các triệu chứng ban đầu ở phụ nữ có thể bao gồm cảm giác đau hoặc nóng rát khi đi tiểu, tăng tiết dịch âm đạo hoặc chảy máu âm đạo giữa các thời kỳ. Các triệu chứng tiến triển hơn, cho thấy sự tiến triển của bệnh viêm vùng chậu, bao gồm đau bụng, nôn hoặc sốt. Phụ nữ mắc bệnh lậu có nguy cơ bị biến chứng nghiêm trọng do nhiễm trùng, ngay cả khi các triệu chứng không có hoặc nhẹ. Các triệu chứng nhiễm trùng trực tràng ở cả nam và nữ có thể bao gồm xuất tiết, ngứa hậu môn, đau nhức, chảy máu hoặc đau ruột. Nhiễm trùng trực tràng có thể không gây ra triệu chứng. Nhiễm trùng trong cổ họng có thể gây đau họng, nhưng thường không gây ra triệu chứng. Các biến chứng của bệnh lậu là gì? Bệnh lậu không được điều trị có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và vĩnh viễn ở cả phụ nữ và nam giới. Ở phụ nữ, bệnh lậu có thể lan vào tử cung (tử cung) hoặc ống dẫn trứng (ống dẫn trứng) và gây ra bệnh viêm vùng chậu (PID). Các triệu chứng có thể nhẹ hoặc có thể rất nghiêm trọng và có thể bao gồm đau bụng và sốt. Viêm phổi có thể dẫn đến áp xe bên trong (túi chứa mủ khó chữa) và đau vùng chậu mãn tính (kéo dài). PID có thể làm hỏng ống dẫn trứng đủ để người phụ nữ không thể có con. Nó cũng có thể làm tăng nguy cơ mang thai ngoài tử cung. Mang thai ngoài tử cung là một tình trạng đe dọa tính mạng, trong đó trứng được thụ tinh phát triển bên ngoài tử cung, thường là trong ống dẫn trứng. Ở nam giới, bệnh lậu có thể gây ra một tình trạng đau đớn gọi là viêm mào tinh hoàn trong các ống gắn vào tinh hoàn. Trong những trường hợp hiếm hoi, điều này có thể ngăn cản một người đàn ông có thể làm cha. Nếu không được điều trị, bệnh lậu có thể lan đến máu hoặc khớp. Tình trạng này có thể đe dọa tính mạng. Bệnh lậu ảnh hưởng đến phụ nữ mang thai và em bé như thế nào? Nếu một phụ nữ mang thai mắc bệnh lậu, cô ấy có thể truyền bệnh cho em bé khi em bé đi qua kênh sinh trong khi sinh. Điều này có thể gây ra vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho em bé. Điều trị bệnh lậu ngay khi phát hiện ở phụ nữ mang thai sẽ làm cho những kết quả sức khỏe này ít xảy ra hơn. Phụ nữ mang thai nên tham khảo ý kiến của một nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe để kiểm tra, xét nghiệm và điều trị thích hợp, khi cần thiết. Còn bệnh lậu và HIV thì sao? Bệnh lậu không được điều trị có thể làm tăng nguy cơ mắc phải hoặc lây truyền vi-rút HIV gây ra bệnh AIDS. Ai nên xét nghiệm bệnh lậu? Bất kỳ người hoạt động tình dục nào cũng có thể bị nhiễm bệnh lậu. Bất cứ ai có các triệu chứng sinh dục như tiết dịch, nóng rát khi đi tiểu, lở loét bất thường hoặc phát ban nên ngừng quan hệ tình dục và gặp bác sĩ chăm sóc sức khỏe ngay lập tức. Ngoài ra, bất cứ ai có bạn tình bằng miệng, hậu môn hoặc âm đạo gần đây được chẩn đoán mắc STD nên đến gặp nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe để đánh giá. Một số người nên được kiểm tra bệnh lậu ngay cả khi họ không có triệu chứng hoặc biết bạn tình mắc bệnh lậu. Bất cứ ai có hoạt động tình dục nên thảo luận về các yếu tố nguy cơ của mình với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và hỏi liệu người đó có nên được xét nghiệm bệnh lậu hoặc STDs khác hay không. Những người mắc bệnh lậu nên được xét nghiệm STDs khác. Chẩn đoán bệnh lậu như thế nào? Hầu hết thời gian, xét nghiệm nước tiểu có thể được sử dụng để kiểm tra bệnh lậu. Tuy nhiên, nếu một người đã quan hệ tình dục bằng miệng và / hoặc hậu môn, gạc có thể được sử dụng để lấy mẫu từ cổ họng và / hoặc trực tràng. Trong một số trường hợp, một miếng gạc có thể được sử dụng để lấy mẫu từ niệu đạo của người đàn ông (ống nước tiểu) hoặc cổ tử cung của phụ nữ (mở vào tử cung). Bệnh lậu được điều trị như thế nào? Bệnh lậu có thể được chữa khỏi bằng phương pháp điều trị đúng. CDC hiện khuyến nghị điều trị kép (tức là sử dụng hai loại thuốc) để điều trị bệnh lậu. Điều quan trọng là phải dùng tất cả các loại thuốc theo quy định để chữa bệnh lậu. Thuốc trị bệnh lậu không nên dùng chung với bất cứ ai. Mặc dù thuốc sẽ ngăn chặn sự lây nhiễm, nhưng nó sẽ không sửa chữa bất kỳ thiệt hại vĩnh viễn nào do bệnh gây ra. Kháng kháng sinh trong bệnh lậu đang ngày càng được quan tâm và việc điều trị thành công bệnh lậu đang trở nên khó khăn hơn. Nếu các triệu chứng của một người tiếp tục trong hơn một vài ngày sau khi được điều trị, anh ta hoặc cô ta nên quay lại nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe để được đánh giá lại. Còn đối tác thì sao? Nếu một người đã được chẩn đoán và điều trị bệnh lậu, anh ta hoặc cô ta nên nói với tất cả các đối tác tình dục hậu môn, âm đạo hoặc miệng gần đây (tất cả các đối tác tình dục trong vòng 60 ngày trước khi xuất hiện các triệu chứng hoặc chẩn đoán) để họ có thể gặp một nhà cung cấp y tế và được điều trị . Điều này sẽ làm giảm nguy cơ các đối tác tình dục sẽ phát triển các biến chứng nghiêm trọng do bệnh lậu và sẽ giảm nguy cơ bị tái nhiễm. Một người mắc bệnh lậu và tất cả bạn tình của mình phải tránh quan hệ tình dục cho đến khi họ hoàn thành việc điều trị bệnh lậu và cho đến khi họ không còn triệu chứng nữa. Để biết mẹo về cách nói chuyện với các đối tác về thử nghiệm tình dục và STD, hãy truy cập Làm thế nào để phòng chống bệnh lậu? Không quan hệ tình dục là cách bảo vệ tốt nhất chống lại bệnh lậu và các STD khác. Quan hệ tình dục với chỉ một đối tác không bị nhiễm bệnh chỉ quan hệ tình dục với bạn cũng an toàn. Bao cao su nam latex, khi được sử dụng một cách nhất quán và chính xác, có thể làm giảm nguy cơ mắc hoặc mắc bệnh lậu. Cách chắc chắn nhất để tránh bệnh lậu là kiêng quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn và miệng hoặc trong mối quan hệ một vợ một chồng lâu dài với một đối tác đã được thử nghiệm và được biết là không bị nhiễm bệnh. Nguồn: idph.state.il.us/public/hb/hbgon.htm
  6. Bệnh giang mai là gì? Bệnh giang mai là một bệnh lây truyền qua đường tình dục ( std ) do nhiễm vi khuẩn treponema pallidum . Giống như các std khác , bệnh giang mai có thể lây lan qua bất kỳ loại quan hệ tình dục nào. Bệnh giang mai cũng có thể lây từ người mẹ bị nhiễm sang thai nhi trong khi mang thai hoặc đến em bé khi sinh. Bệnh giang mai đã được mô tả trong nhiều thế kỷ. Nó có thể gây ra thiệt hại lâu dài cho các cơ quan khác nhau nếu không được điều trị đúng cách. Nguyên nhân gây bệnh giang mai? Các vi khuẩn gây bệnh giang mai, treponema pallidum , được gọi là xoắn khuẩn do hình dạng xoắn ốc của chúng. Các sinh vật xâm nhập vào niêm mạc miệng hoặc khu vực sinh dục. Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh giang mai là gì? độc giả bình luận 2 chia sẻ câu chuyện của bạn Nhiễm giang mai, khi không được điều trị, tiến triển qua các giai đoạn lâm sàng khác nhau với các dấu hiệu và triệu chứng đặc trưng. Sau lần nhiễm trùng đầu tiên, các triệu chứng thường xuất hiện vào khoảng 21 ngày sau khi bị nhiễm trùng, nhưng chúng có thể xuất hiện ở bất cứ đâu từ 10 đến 90 ngày sau khi bị nhiễm trùng. Xem thêm: chi phí điều trị bệnh giang mai Bệnh giang mai nguyên phát Giai đoạn đầu tiên, hoặc nguyên phát của bệnh giang mai được đặc trưng bởi sự hình thành của một vết loét không đau được gọi là chancre . Vết loét này phát triển tại vị trí nhiễm trùng và thường đơn độc. Một chancre thường chắc và tròn. Đôi khi, nhiều chancres có thể có mặt. Chancre chứa các vi khuẩn truyền nhiễm và trong khi có vết loét, tình trạng này rất dễ lây lan . Bất kỳ tiếp xúc với chancre có thể lây nhiễm. Nếu chancre nằm trong miệng, ví dụ, ngay cả hôn cũng có thể truyền bệnh. Chancre tồn tại trong khoảng 3 đến 6 tuần và sau đó sẽ tự biến mất. Việc sử dụng bao cao su cũng có thể không ngăn ngừa được sự lây lan của bệnh nếu chancre nằm trên một khu vực của cơ thể không được bao phủ bởi bao cao su. Bệnh giang mai thứ cấp Nếu bệnh giang mai nguyên phát không được điều trị, bệnh giang mai thứ phát có thể phát triển. Giai đoạn này của bệnh thường xảy ra vài tuần đến vài tháng sau giai đoạn chính. Bệnh giang mai thứ phát được đặc trưng bởi phát ban da thường không ngứa và có thể dễ bị nhầm lẫn với phát ban do các bệnh khác. Nó có thể xuất hiện trên hầu hết mọi bộ phận của cơ thể, bao gồm vết loét bên trong miệng, âm đạo hoặc hậu môn. Các phát ban của bệnh giang mai thứ phát thường được tìm thấy trên lòng bàn tay và lòng bàn chân , đó là không bình thường đối với hầu hết phát ban. Ở một số người, phát ban có thể nhẹ và không được chú ý. Các mảng da màu xám hoặc trắng nổi lên, được gọi là condyloma lata, cũng có thể phát triển, đặc biệt là ở các khu vực ấm và ẩm ướt của cơ thể như nách, miệng hoặc háng. Trong giang mai thứ phát, nhiễm trùng đã lan rộng khắp cơ thể, vì vậy các triệu chứng khác có thể liên quan đến các biểu hiện ngoài da. Sốt , nổi hạch , mệt mỏi , sụt cân , rụng tóc , đau đầu và đau cơ đều đã được báo cáo trong giai đoạn thứ phát của bệnh giang mai. Những triệu chứng này cuối cùng sẽ giảm dần, nhưng nếu giai đoạn thứ phát này của nhiễm trùng không được điều trị, nhiễm trùng có thể tiến triển thành giang mai cấp ba. Bệnh giang mai cấp ba Sau khi các triệu chứng của bệnh giang mai thứ phát biến mất, nhiễm trùng vẫn tiềm ẩn trong cơ thể nếu không được điều trị. Khoảng 15% những người bị nhiễm và không được điều trị sẽ tiếp tục phát triển giai đoạn thứ ba của bệnh giang mai, có thể xảy ra sau 10 đến 20 năm sau khi bị nhiễm bệnh ban đầu. Bệnh giang mai cấp ba được đặc trưng bởi thiệt hại cho bất kỳ số lượng các hệ thống cơ quan và thậm chí có thể gây tử vong. Bệnh giang mai cấp ba có thể gây tổn thương não, dây thần kinh, mắt, tim, mạch máu, gan , xương và khớp. Các triệu chứng có thể xảy ra từ giai đoạn cuối của bệnh giang mai bao gồm các vấn đề về vận động, mất dần thị lực, mất trí nhớ , tê liệt và tê liệt. Neurosyphilis là thuật ngữ được sử dụng để chỉ sự liên quan của hệ thống thần kinh trung ương và sự thay đổi trong chức năng thần kinh. Bệnh giang mai sơ sinh hoặc bẩm sinh Bệnh giang mai không được điều trị ở phụ nữ mang thai dẫn đến cái chết của thai nhi lên đến 40% phụ nữ mang thai bị nhiễm bệnh (thai chết lưu hoặc tử vong ngay sau khi sinh), vì vậy tất cả phụ nữ mang thai nên được xét nghiệm bệnh giang mai trong lần khám thai đầu tiên . Các xét nghiệm sàng lọc thường được lặp lại trong ba tháng thứ ba của thai kỳ. Nếu những đứa trẻ bị nhiễm được sinh ra và sống sót, chúng có nguy cơ gặp phải những vấn đề nghiêm trọng bao gồm co giật và chậm phát triển. May mắn thay, bệnh giang mai trong thai kỳ có thể điều trị được. Bệnh giang mai Một bệnh lây truyền qua đường tình dục do treponema pallidum, một sinh vật cực nhỏ gọi là xoắn khuẩn. Sinh vật hình xoắn ốc giống như giun này lây nhiễm cho con người bằng cách chui vào màng nhầy ẩm của miệng hoặc bộ phận sinh dục. Từ đó, xoắn khuẩn tạo ra một vết loét không đau được gọi là chancre. Nhấn vào đây để xem hình ảnh của bệnh giang mai » Những xét nghiệm nào được sử dụng để chẩn đoán bệnh giang mai? độc giả bình luận 1 chia sẻ câu chuyện của bạn Có hai loại xét nghiệm được sử dụng để chẩn đoán bệnh giang mai: xét nghiệm treponemal (xác định kháng thể đối với sinh vật gây bệnh) và xét nghiệm không nhiễm trùng treponemal (xác định phản ứng của cơ thể với nhiễm trùng nhưng không phải với chính sinh vật). Các xét nghiệm máu được sử dụng để sàng lọc bệnh giang mai được gọi là phòng thí nghiệm nghiên cứu bệnh hoa liễu (vdrl) và xét nghiệm thuốc thử plasminogen nhanh (rpr). Những xét nghiệm này phát hiện phản ứng của cơ thể với nhiễm trùng, nhưng không phải với sinh vật treponema thực tế. Mặc dù đây là những xét nghiệm sàng lọc tốt, nhưng chúng không đủ cụ thể để xác định chẩn đoán. Các xét nghiệm này có thể cho kết quả dương tính giả, do đó xét nghiệm sàng lọc vdrl hoặc rpr dương tính phải được theo dõi bằng xét nghiệm ba mũi để phát hiện sinh vật. Một số xét nghiệm khác nhau có sẵn để phát hiện kháng thể đối với vi khuẩn treponema pallidum . Các ví dụ bao gồm xét nghiệm microhemagglutination cho t. Pallidum (mha-tp) và xét nghiệm hấp thụ kháng thể ba loại huỳnh quang (fta- abs ). Các xét nghiệm này có thể xác nhận chẩn đoán bệnh giang mai nếu xét nghiệm không nhiễm trùng như vdrl hoặc rpr dương tính. Nguồn: medicinenet.com/syphilis_in_women_overview/article.htm#what_are_the_signs_and_symptoms_of_syphilis
  7. Chi phí điều trị mụn rộp sinh dục hết bao nhiêu là vấn đề nan giải của không ít bệnh nhân đang đối mặt với căn bệnh này. Chính vì quá lo lắng về chi phí nên nhiều người bệnh đã bỏ lỡ mất thời điểm tốt nhất để điều trị. Bạn hãy tham khảo những thông tin trong bài viết dưới đây để nắm rõ được chi phí điều trị mụn rộp sinh dục. Qua đó, chủ động nhận biết và chữa trị bệnh kịp thời. Chi phí điều trị mụn rộp sinh dục có tốn kém không Các chuyên gia bệnh xã hội cho biết đối với mỗi trường hợp thì chi phí điều trị mụn rộp sinh dục không giống nhau. Chi phí chữa bệnh mụn rộp sinh dục phụ thuộc vào các yếu tố sau đây: Chi phí thăm khám ban đầu Khi bạn có biểu hiện bất thường trên cơ thể hay nghi ngờ nhiễm virus herpes simplex, hãy đến các cơ sở chữa bệnh xã hội để được bác sĩ trực tiếp thăm khám. Từ đó các bác sĩ sẽ chẩn đoán sơ bộ bệnh lý và đưa ra hướng giải quyết kịp thời. Chi phí thăm khám kiểm tra là khoản phí đầu tiên và cần thiết mà bệnh nhân phải chi trả. Cơ sở người bệnh lựa chọn Cơ sở y tế uy tín, có đội ngũ y bác sĩ giỏi và trang thiết bị máy móc hiện đại giúp hỗ trợ quy trình xét nghiệm nhanh chóng và điều trị hiệu quả. Vì thế chi phí điều trị mụn rộp sinh dục ở đây cao hơn những cơ sở kém chất lượng. Chữa bệnh ở những cơ sở uy tín đảm bảo điều trị thành công, an toàn và giảm nguy cơ tái phát. Tình trạng bệnh lý Tình trạng bệnh lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí chữa trị mụn rộp sinh dục. Cụ thể, những bệnh nhân phát hiện bệnh sớm, khi vừa có những biểu hiện đầu tiên và tiến hành chữa trị ngay thì quá trình chữa bệnh sẽ dễ dàng hơn. Ngược lại, khi bệnh có nhiều biến chứng nguy hiểm mới đi thăm khám. Việc này đồng nghĩa quá trình điều trị gặp nhiều khó khăn. Đồng thời thời gian đề hồi phục sẽ kéo dài nên chi phí điều trị sẽ tốn kém hơn. Phương pháp chữa bệnh Một thực tế là có nhiều bệnh nhân cùng mắc bệnh nhưng khoản chi trả cho phòng khám lại khác nhau hoàn toàn. Lý do nằm ở việc lựa chọn phương pháp điều trị. Phương pháp điều trị đơn giản như sử dụng thuốc kháng sinh thường có chi phí thấp hơn. Tuy nhiên phương pháp thường được áp dụng cho những bệnh nhân bị mụn rộp sinh dục cấp tính. Đối với bệnh đã chuyển qua mãn tính, bác sĩ buộc phải chỉ định can thiệp bằng thiết bị ngoại khoa nên có mức phí sẽ cao hơn. Nên áp dụng biện pháp nào để điều trị bệnh cần làm theo lời khuyên của bác sĩ. Sau khi thăm khám, bác sĩ sẽ có những hướng dẫn cụ thể và lựa chọn biện pháp điều trị thích hợp. Phí tái khám Chi phí chữa trị bệnh mụn rộp sinh dục còn bao gồm phần phí thăm khám định kỳ. Phần chi trả này góp phần quan trọng giúp bác sĩ theo dõi được tiến triển bệnh cũng như xác nhận hiệu quả chữa bệnh. Để biết được cụ thể chi phí điều trị mụn rộp sinh dục hết bao nhiêu?. Người bệnh cần trực tiếp tới cơ sở y tế để các bác sĩ tiến hành chẩn trị. Bạn không nên quá đề cao vấn đề chi phí có tốn kém không. Bởi quan trọng hơn hết vẫn là sức khỏe, phải làm sao để trị bệnh dứt điểm. Đừng nên hám rẻ mà tới các cơ sở kém chất lượng khiến bệnh tình nặng hơn. Nên đến đâu chữa mụn rộp sinh dục để đảm bảo chi phí hợp lý Phòng khám bệnh xã hội kinh đô là một trong những địa chỉ điều trị bệnh xã hội uy tín trong việc khám và chữa các bệnh như mụn rộp sinh dục, sùi mào gà… địa chỉ này nhận được nhiều sự tin tưởng như vậy là vì lý do sau: Môi trường an toàn, đạt chất lượng Kinh đô là địa chỉ điều trị mụn rộp sinh dục được nhiều người tin tưởng. Phòng khám xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế với cơ sở hạ tầng hiện đại, thoáng mát, sạch sẽ. Môi trường và dụng cụ y khoa được vô trùng, diệt khuẩn tuyệt đối. Đội ngũ bác sĩ giỏi Sở hữu đội ngũ chuyên gia có thâm niên điều trị với trình độ chuyên môn cao. Các bác sĩ luôn tận tình tư vấn cho người bệnh về nguyên nhân, tình trạng, phương pháp điều trị,… đặc biệt các bác sĩ luôn tôn trọng quyền lựa chọn của bệnh nhân. Trang thiết bị y tế hiện đại Các trang thiết bị y tế, máy móc luôn được nhập khẩu từ các nước có nền y học phát triển. Nhờ đó giúp quá trình điều trị bệnh diễn ra nhanh chóng, mang lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó để điều trị mụn rộp sinh dục hiệu quả, phòng khám đã sử dụng liệu pháp tăng cường hệ miễn dịch nuốt gen. Phương pháp này mang đến hiệu quả cao và không gây ảnh hưởng đến những mô lành bệnh. Người bệnh hoàn toàn có thể yên tâm khi chữa bệnh theo biện pháp hiện đại này. Chi phí điều trị mụn rộp sinh dục phù hợp Đến kinh đô, người bệnh sẽ được thông báo chi phí điều trị trước khi tiến hành điều trị. Đảm bảo đúng người, đúng bệnh và không có tình trạng thu quá mức phí đã thông báo. Để chi phí điều trị ít tốn kém thì việc tiến hành thăm khám và điều trị sớm khi mới phát hiện các dấu hiệu đầu tiên của bệnh là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng. Người bệnh đừng vì vấn đề chi phí mà giấu bệnh sẽ khiến cho bệnh chuyển biến khó lường. Bởi khi đó xuất hiện hại khuẩn kháng thuốc và gây tái phát nhiều lần. Nếu còn thắc mắc về chi phí điều trị mụn rộp sinh dục. Hãy liên hệ tới phòng khám kinh đô bằng cách nhấp vào khung chat “gặp bác sĩ tư vấn” dưới đây. Hoặc gọi điện tới số 18006953/ 0388 036 248 để nhận được sự trợ giúp tận tình từ các chuyên gia của chúng tôi. Người bệnh có thể sắp xếp thời gian phù hợp để trực tiếp tới kinh đô 79 nguyễn thị minh khai – bắc giang. Nguồn: http://chuabenhxahoibacgiang.com/chi-phi-dieu-tri-mun-rop-sinh-duc/
  8. Bệnh lậu (lậu) là một bệnh truyền nhiễm do hệ vi khuẩn (Neisseria gonorrhoeae) gây ra , ảnh hưởng chủ yếu đến bộ phận sinh dục. Nó lây truyền gần như độc quyền qua quan hệ tình dục, nhưng trong một số trường hợp, nhiễm trùng không tình dục có thể xảy ra thông qua đồ lót, bọt biển, khăn, trên đó bảo quản mủ khô. Nhiễm trùng trẻ sơ sinh có thể xảy ra trong quá trình sinh nở trong quá trình thai nhi đi qua kênh sinh của người mẹ và được biểu hiện bằng viêm kết mạc và viêm giác mạc. Triệu chứng viêm niệu đạo nặng: chảy mủ từ niệu đạo, sưng và đỏ của bọt biển và đi tiểu đau Niêm mạc của niệu đạo bị ảnh hưởng (viêm niệu đạo - xem ảnh), âm đạo, trực tràng, khoang miệng, mũi, thanh quản. Quá trình này có thể được mở rộng đến tuyến tiền liệt, tinh hoàn và mào tinh hoàn, ống dẫn tinh, và cho phụ nữ - trong tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng, dẫn đến biến chứng: Ở nam giới: viêm tuyến tiền liệt, viêm mào tinh hoàn, periorhit, viêm tinh hoàn, túi, vv .. Phụ nữ : Viêm nội mạc tử cung, viêm tuyến ngoại tiết, viêm vùng chậu, vv Xem thêm : chi phi chua benh lau Khi lây lan qua đường máu, nhiễm trùng có thể gây nhiễm trùng lậu cầu và ảnh hưởng đến các cơ quan khác nhau. Ví dụ, có các tổn thương của khớp, mắt, màng phổi, nội tâm mạc, cơ, xương và các mô thần kinh. Các số liệu sau đây cho thấy trình tự thâm nhập và lây lan của nhiễm trùng đến các cơ quan của hệ thống sinh dục. Giải phẫu hệ thống sinh dục nam - niệu đạo - trực tràng - tuyến tiền liệt - túi tinh - ống dẫn tinh - tinh hoàn - mào tinh hoàn Chẩn đoán lâm sàng ở nam giới: Các triệu chứng và dấu hiệu của viêm niệu đạo, đặc trưng bởi sự tiết ra từ niệu đạo và nóng rát khi đi tiểu Dấu hiệu của nhiễm trùng trực tràng - xuất tiết từ hậu môn và đau ở khu vực quanh hậu môn Hiện tượng viêm mào tinh hoàn cấp và viêm màng ngoài tim (viêm màng cứng) - đau, cứng và mở rộng bìu, thường thấy ở nam giới dưới 40 tuổi. Xác suất nhiễm trùng không có triệu chứng là có tổn thương niệu đạo <10%, trực tràng> 85%, hầu họng> 90% trường hợp. Nhiễm trùng lan tỏa gây sốt, xuất huyết (xuất huyết mạch máu) hoặc nổi mẩn da (mụn mủ), đau khớp không đối xứng (đau khớp), viêm khớp nhiễm trùng (viêm khớp nhiễm trùng), viêm gân viêm màng não hoặc viêm nội tâm mạc xảy ra Cấu tạo của hệ thống sinh dục nữ - môi âm - niệu đạo - trực tràng - cổ tử cung - bàng quang - tử cung - ống dẫn trứng Chẩn đoán lâm sàng ở phụ nữ: Những thay đổi về bản chất của dịch tiết âm đạo và dấu hiệu viêm cổ tử cung (quá trình viêm của ống cổ tử cung được đặc trưng bởi dịch nhầy, ánh sáng, phát sinh từ chảy máu nhỏ, chảy máu). Đau cấp tính ở bụng dưới và đau khi sờ nắn. Xác suất nhiễm trùng không có triệu chứng là có tổn thương cổ tử cung> 50%, trực tràng> 85%, hầu họng> 90% trường hợp. nhiễm trùng lan tỏa gây sốt, ban xuất huyết (xuất huyết mạch máu) hoặc mụn mủ (mụn mủ), phát ban da, đau khớp không đối xứng (đau khớp), viêm khớp nhiễm khuẩn (viêm nhiễm các khớp), viêm bao gân (viêm gân và vỏ của nó), hiếm khi quan sát thấy bệnh viêm màng não hoặc viêm nội tâm mạc. Viêm kết mạc có mủ ở trẻ sơ sinh. Chỉ định khám: Triệu chứng hoặc dấu hiệu xuất tiết từ niệu đạo. Đối tác tình dục bị nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) hoặc một bệnh viêm của các cơ quan vùng chậu (VZMT). Theo yêu cầu của bệnh nhân (sàng lọc STI), hoặc với sự xuất hiện gần đây của một đối tác tình dục mới. Dịch âm đạo với các yếu tố nguy cơ mắc STI (tuổi dưới 25 tuổi, một đối tác tình dục mới vừa xuất hiện). Viêm lan cấp tính ở nam giới dưới 40 tuổi. Bệnh viêm cấp tính của các cơ quan vùng chậu Viêm kết mạc có mủ ở trẻ sơ sinh. Chỉ định điều trị: phát hiện kính hiển vi của vi khuẩn gram âm nội bào trong phết tế bào từ dịch tiết niệu sinh dục; một kết quả dương tính của việc gieo hạt hoặc xét nghiệm khuếch đại kháng nguyên N. gonorrhoeae cho bất kỳ khu vực tổn thương nào; trên cơ sở sự hiện diện của dịch tiết ra từ niệu đạo ở nam giới hoặc viêm cổ tử cung ở phụ nữ, nếu các xét nghiệm chẩn đoán nhanh là không thể; Điều trị chỉ nên bắt đầu sau khi thu thập tài liệu cho nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Trong những trường hợp như vậy, việc điều trị kết hợp nhiễm khuẩn lậu cầu và chlamydia được chỉ định. Đối tác tình dục nên được điều trị bệnh lậu và nhiễm chlamydia, tốt nhất là sau khi kiểm tra STI. Trong trường hợp xét nghiệm âm tính, điều trị được quy định: tất cả các đối tác tình dục (bệnh nhân lậu) với các triệu chứng lâm sàng của bệnh lậu; tất cả bạn tình trong 14 ngày qua hoặc bạn tình cuối cùng, nếu khoảng thời gian sau lần quan hệ tình dục cuối cùng là hơn 14 ngày; trong các trường hợp không có triệu chứng của bệnh lậu của bệnh nhân - cho tất cả các đối tác tình dục trong 90 ngày trước đó. Nguồn: gokvd.grodno.by/veneralogio.php?page=gonoreya
  9. Virus herpes simplex (HSV) có thể gây phồng rộp và lở loét ở hầu hết mọi nơi trên da. Những vết loét này thường xảy ra hoặc xung quanh miệng và mũi, hoặc trên bộ phận sinh dục và mông. Nhiễm HSV có thể rất khó chịu vì chúng có thể xuất hiện lại định kỳ. Các vết loét có thể đau và khó coi. Đối với những người mắc bệnh mãn tính và trẻ sơ sinh, nhiễm virus có thể nghiêm trọng, nhưng hiếm khi gây tử vong. Có hai loại HSV - Loại 1 và Loại 2 Virus loại 1 gây ra vết loét lạnh. Hầu hết mọi người bị nhiễm trùng loại 1 trong thời thơ ấu hoặc thời thơ ấu. Họ thường bắt nó từ sự tiếp xúc gần gũi với các thành viên gia đình hoặc bạn bè mang virus. Nó có thể lây truyền qua hôn, dùng chung dụng cụ ăn uống hoặc dùng chung khăn. Các vết loét phổ biến nhất ảnh hưởng đến môi, miệng, mũi, cằm hoặc má và xảy ra ngay sau khi tiếp xúc. Bệnh nhân có thể hầu như không nhận thấy bất kỳ triệu chứng hoặc cần chăm sóc y tế để giảm đau. Virus loại 2 gây ra vết loét ở bộ phận sinh dục. Hầu hết mọi người bị nhiễm trùng Loại 2 sau khi tiếp xúc tình dục với người bị nhiễm bệnh. Virus ảnh hưởng đến bất cứ nơi nào từ 5 đến 20 triệu người, hoặc tới 20 phần trăm của tất cả những người trưởng thành có hoạt động tình dục ở Hoa Kỳ. Với một trong hai loại herpes đơn giản, bạn có thể lây lan các tổn thương bằng cách chạm vào một phần không bị ảnh hưởng của cơ thể sau khi làm tổn thương herpes. xem thêm: chi phí điều trị mụn rộp sinh dục Herpes là gì? Herpes là tên khoa học được sử dụng cho tám loại virus A liên quan đến người. Herpes simplex có liên quan đến các loại virus gây bệnh bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng (Epstein-Barr Virus), thủy đậu và bệnh zona (virus varicella zoster). Herpes Simplex Virus loại 1 Thường được gọi là mụn nước sốt hoặc vết loét lạnh, nhiễm trùng HSV Type 1 là những mụn nước nhỏ, trong, chứa đầy chất lỏng thường xảy ra trên mặt. Ít gặp hơn, nhiễm trùng loại 1 xảy ra ở vùng sinh dục. Loại 1 cũng có thể phát triển trong các vết thương trên da. Các y tá, bác sĩ, nha sĩ và các nhân viên chăm sóc sức khỏe khác hiếm khi bị đau do Herpetic sau khi HSV bị đứt da. Có hai loại nhiễm trùng - nguyên phát và tái phát. Mặc dù hầu hết mọi người khi tiếp xúc với vi-rút bị nhiễm bệnh, chỉ có 10% thực sự sẽ phát triển vết loét hoặc mụn nước lạnh khi nhiễm trùng này xảy ra. Các vết loét của nhiễm trùng tiên phát xuất hiện hai đến hai mươi ngày sau khi tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh và có thể kéo dài từ bảy đến mười ngày. Số lượng mụn nước thay đổi từ một đến một nhóm mụn nước. Trước khi các mụn nước xuất hiện, da có thể bị ngứa hoặc trở nên rất nhạy cảm. Các mụn nước có thể vỡ do hậu quả của vết thương nhỏ, cho phép chất lỏng bên trong mụn nước rỉ ra và lớp vỏ. Cuối cùng, lớp vỏ rơi ra, để lại làn da hơi đỏ. Các vết loét từ nhiễm trùng tiên phát lành hoàn toàn và hiếm khi để lại sẹo. Tuy nhiên, virus gây nhiễm trùng vẫn còn trong cơ thể. Nó di chuyển đến các tế bào thần kinh, nơi nó vẫn ở trạng thái nghỉ ngơi. Nhiều người sẽ không bị tái phát. Những người khác sẽ tái phát ở cùng một vị trí với nhiễm trùng đầu tiên hoặc ở một địa điểm gần đó. Nhiễm trùng có thể tái phát vài tuần một lần hoặc ít thường xuyên hơn. Nhiễm trùng tái phát có xu hướng nhẹ hơn nhiễm trùng tiên phát. Chúng có thể được đặt ra bởi nhiều yếu tố bao gồm sốt, phơi nắng và kinh nguyệt. Tuy nhiên, đối với nhiều người, sự tái phát là không thể đoán trước và không có nguyên nhân dễ nhận biết. Herpes Simplex Virus 2 Nhiễm vi-rút herpes simplex Loại 2 thường dẫn đến lở loét ở mông, dương vật, âm đạo hoặc cổ tử cung, hai đến hai mươi ngày sau khi tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh. Quan hệ tình dục là phương tiện thường xuyên nhất bị nhiễm trùng. Cả hai cuộc tấn công chính và lặp lại có thể gây ra vấn đề bao gồm; phát ban nhẹ hoặc ngứa, lở loét, sốt, đau cơ và cảm giác nóng rát khi đi tiểu. HSV Type 2 cũng có thể xảy ra ở những vị trí khác ngoài vùng sinh dục, nhưng thường được tìm thấy bên dưới thắt lưng. Như với Loại 1, các trang web và tần suất của các lần lặp lại khác nhau. Tập ban đầu có thể nhẹ đến mức một người không nhận ra rằng mình bị nhiễm trùng. Nhiều năm sau, khi HSV tái phát, nó có thể bị nhầm lẫn với một cuộc tấn công ban đầu, dẫn đến những cáo buộc không công bằng về nguồn lây nhiễm. Sau cuộc tấn công ban đầu, virus di chuyển đến các tế bào thần kinh còn lại ở đó cho đến khi bắt đầu lại bởi một kỳ kinh nguyệt, sốt, tiếp xúc vật lý, căng thẳng, hoặc một cái gì khác. Đau hoặc đau bất thường của da có thể bắt đầu từ một đến vài ngày trước khi cả nhiễm trùng tiên phát và tái phát phát triển. Điều này được gọi là một prodrom. Nhiễm HSV được chẩn đoán như thế nào? Sự xuất hiện của HSV thường rất điển hình đến nỗi không cần xét nghiệm thêm để xác nhận nhiễm HSV. Tuy nhiên, nếu chẩn đoán không chắc chắn, vì nó có thể ở khu vực bộ phận sinh dục hoặc cổ tử cung, một miếng gạc từ da bị nhiễm bệnh (nuôi cấy) có thể được lấy và gửi đến phòng thí nghiệm để phân tích. Các xét nghiệm khác trong phòng thí nghiệm có sẵn để chẩn đoán bao gồm các vết trầy được xử lý đặc biệt được kiểm tra dưới kính hiển vi và xét nghiệm máu để tìm kháng thể. Một số xét nghiệm chỉ có giá trị trong giai đoạn đầu và nhiều hơn một trong những xét nghiệm này có thể được yêu cầu để xác nhận sự hiện diện của herpes. Mụn rộp sinh dục có thể bị nhầm lẫn với các bệnh khác, bao gồm cả bệnh giang mai. Một số ít phụ nữ bị mụn rộp sinh dục không biết họ mắc bệnh vì nó xảy ra ở cổ tử cung không nhạy cảm với cơn đau. Nhiễm Herpes được điều trị như thế nào? Không có vắc-xin ngăn ngừa bệnh này xảy ra. Thuốc chống vi rút đường uống như acyclovir, famciclovir hoặc valacyclovir đã được phát triển để điều trị hiệu quả nhiễm trùng herpes. Những loại thuốc này có thể được sử dụng để điều trị ổ dịch hoặc có thể được sử dụng để ngăn chặn sự tái phát herpes. Liều thấp hơn có thể hữu ích trong việc giảm số lần tấn công herpes ở những người thường xuyên bùng phát. Làm thế nào để bạn ngăn chặn truyền? Từ 200.000 đến 500.000 người "bắt" mụn rộp sinh dục mỗi năm và số ca nhiễm loại 1 cao gấp nhiều lần. Phòng ngừa bệnh này, bệnh truyền nhiễm trước và trong khi bùng phát, là rất quan trọng. Nếu ngứa ran, nóng rát, ngứa hoặc đau (dấu hiệu tái phát) xảy ra ở một khu vực của cơ thể nơi bạn bị nhiễm herpes, thì khu vực đó không nên tiếp xúc với người khác. Với mụn rộp miệng, người ta nên tránh hôn và dùng chung cốc hoặc son dưỡng môi. Đối với những người bị mụn rộp sinh dục, điều này có nghĩa là tránh quan hệ tình dục, bao gồm cả tiếp xúc bằng miệng / bộ phận sinh dục trong thời gian có triệu chứng hoặc tổn thương hoạt động. Bao cao su có thể giúp ngăn ngừa lây truyền mụn rộp sinh dục cho bạn tình. Herpes có thể lây lan nếu không có vết loét rõ ràng? Herpes không chỉ có thể lây lan nếu không có vết loét, herpes MOST được truyền đi trong trường hợp không có tổn thương! Hiện tại người ta ước tính rằng hơn 80% tất cả các mụn rộp sinh dục được truyền khi không có bất cứ thứ gì trên da và không có triệu chứng. Bệnh nhân đã nhận thức được trong nhiều năm rằng nếu họ hôn ai đó trong khi bị sốt rộp hoặc quan hệ tình dục với bạn tình trong khi bùng phát mụn rộp sinh dục thì họ có khả năng truyền virut. Mặc dù hiểu biết này, tuy nhiên, sự gia tăng 30% tỷ lệ nhiễm HSV 2 đã được ghi nhận vào những năm 1980 và 1990. Sự gia tăng này rất có thể là do sự hiện diện của HSV trên da bộ phận sinh dục trong trường hợp không có tổn thương hoặc triệu chứng. Hiện tượng này được gọi là "rụng virus không triệu chứng" và đã được chứng minh trong các nghiên cứu lâm sàng được kiểm soát tốt. Gần đây nhất, những người không bao giờ nhớ lại đã có một đợt bùng phát herpes sinh dục, nhưng những người đã có xét nghiệm máu dương tính với kháng thể đối với herpes, cũng đã được chứng minh là "loại bỏ" virus đôi khi từ môi hoặc da bộ phận sinh dục. Nó đã được chứng minh rằng những người dùng acyclovir hàng ngày đã giảm lượng virus trong trường hợp không có triệu chứng hoặc tổn thương. Điều tương tự cũng có thể đúng với các loại thuốc mới hơn, famciclovir và valacyclovir. Điều hợp lý là uống một trong ba loại thuốc này mỗi ngày sẽ làm giảm cơ hội truyền virut cho đối tác chưa bị nhiễm bệnh, nhưng điều này vẫn chưa được chứng minh. Nó đã được chứng minh rằng những người dùng acyclovir hàng ngày đã giảm lượng virus trong trường hợp không có triệu chứng hoặc tổn thương. Điều tương tự cũng có thể đúng với các loại thuốc mới hơn, famciclovir và valacyclovir. Điều hợp lý là uống một trong ba loại thuốc này mỗi ngày sẽ làm giảm cơ hội truyền virut cho đối tác chưa bị nhiễm bệnh, nhưng điều này vẫn chưa được chứng minh. Nó đã được chứng minh rằng những người dùng acyclovir hàng ngày đã giảm lượng virus trong trường hợp không có triệu chứng hoặc tổn thương. Điều tương tự cũng có thể đúng với các loại thuốc mới hơn, famciclovir và valacyclovir. Điều hợp lý là uống một trong ba loại thuốc này mỗi ngày sẽ làm giảm cơ hội truyền virut cho đối tác chưa bị nhiễm bệnh, nhưng điều này vẫn chưa được chứng minh. Ý nghĩa nghiêm trọng khác của HSV Nhiễm trùng mắt - HSV có thể nhiễm trùng mắt và dẫn đến một tình trạng gọi là viêm giác mạc herpes. Có đau và nhạy cảm ánh sáng, tiết dịch và cảm giác khó chịu trong mắt. Nếu không điều trị kịp thời, sẹo mắt có thể dẫn đến. May mắn thay, có những loại thuốc có sẵn khá hiệu quả trong việc loại bỏ nhiễm trùng và ngăn ngừa sẹo nghiêm trọng ở giác mạc. Bất kỳ bệnh nhân bị nghi ngờ nhiễm trùng mắt do herpes nên được bác sĩ nhãn khoa nhìn thấy ngay lập tức. Nhiễm trùng trong thai kỳ - Một phụ nữ mang thai bị mụn rộp sinh dục tại thời điểm sinh con có thể truyền virut cho em bé khi nó đi qua kênh sinh. Nếu việc sinh nở xảy ra trong giai đoạn đầu của người mẹ bị mụn rộp sinh dục, em bé có thể bị tổn thương nghiêm trọng. Phụ nữ biết rằng họ đã bị mụn rộp sinh dục hoặc nghĩ rằng họ có thể mắc bệnh trong khi mang thai nên nói với bác sĩ của họ để em bé có thể được bảo vệ. Phụ nữ mang thai nên tránh tiếp xúc tình dục với bạn tình có mụn rộp sinh dục hoạt động, (đặc biệt là vào cuối thai kỳ). Nên sử dụng bao cao su cho những người không kiêng. Trẻ sơ sinh cũng có thể bị nhiễm do tiếp xúc với virus từ các tổn thương không phải bộ phận sinh dục. Nếu mẹ hoặc một người làm việc trong nhà trẻ có mụn nước hoạt động trên môi hoặc tay, em bé có thể bị nhiễm trùng. Các thành viên gia đình và bạn bè với HSV tích cực không nên xử lý trẻ sơ sinh. Không có biện pháp phòng ngừa đặc biệt cần được thực hiện bởi người phụ nữ có herpes không hoạt động (bộ phận sinh dục hoặc không sinh dục) tại thời điểm sinh nở. Vì nhiễm trùng của người mẹ không hoạt động, trẻ sơ sinh không có nguy cơ. HSV và Bệnh nghiêm trọng - HSV có thể đe dọa tính mạng đối với người bị ung thư, người đã ghép tạng hoặc bất kỳ ai mắc một số bệnh nghiêm trọng khác, vì khả năng miễn dịch đối với các bệnh nhiễm trùng đã bị giảm. Herpes có thể được chữa khỏi? Mặc dù không có phương pháp điều trị herpes nào được biết đến, các nghiên cứu lâm sàng hiện đang tiếp tục cố gắng giảm hoặc có thể loại bỏ các ổ dịch. Tuy nhiên, những liệu pháp thử nghiệm này không có khả năng loại bỏ virus khỏi dây thần kinh bị ảnh hưởng. Do đó, các cuộc điều tra này cũng đang cố gắng xác định xem liệu tỷ lệ "rụng virus không triệu chứng" Nguồn: dermconsultants.com/general-dermatology/herpes-simplex
  10. Herpes sinh dục là một tình trạng phổ biến ảnh hưởng đến khoảng 45 triệu người ở Hoa Kỳ Các loại virus herpes chịu trách nhiệm về herpes sinh dục (virus herpes simplex type 2, hoặc HSV-2; và ít phổ biến hơn là virus herpes simplex type 1 hoặc HSV-1) thông qua tiếp xúc cá nhân gần gũi như tiếp xúc tình dục. Các triệu chứng của mụn rộp sinh dục khác nhau giữa mọi người. Hầu hết những người bị nhiễm HSV không có triệu chứng hoặc chỉ có triệu chứng nhẹ, nhưng một số người phát triển các triệu chứng nghiêm trọng. Khi các triệu chứng xảy ra, người nhiễm bệnh thường xuất hiện một hoặc nhiều mụn nước đau ở vùng hậu môn hoặc bộ phận sinh dục cuối cùng gây loét và lành trong khoảng thời gian vài tuần. xem thêm: chi phí điều trị mụn rộp sinh dục Các triệu chứng ban đầu của mụn rộp sinh dục là gì? Khi một người lần đầu tiên bị nhiễm virus herpes, nếu các triệu chứng xảy ra, những bệnh này thường phát triển trong vòng hai tuần đầu sau khi bị nhiễm bệnh. Những triệu chứng của nhiễm trùng ban đầu có thể bao gồm: Sốt và triệu chứng giống cúm Ngứa sinh dục , nóng rát hoặc khó chịu Dịch âm đạo ở phụ nữ Hạch bạch huyết sưng Một cảm giác áp lực trong bụng Những triệu chứng sớm này có thể xuất hiện trước khi bất kỳ tổn thương da nào phát triển. Các tổn thương da sau đó phát triển trong vòng một vài ngày của các triệu chứng ban đầu và được đặc trưng bởi các vết sưng hoặc nổi mụn đỏ, đau ở vị trí nhiễm virus (thường ở dương vật hoặc âm đạo). Các tổn thương cũng có thể xuất hiện trên cổ tử cung ở phụ nữ hoặc trong đường tiết niệu ở nam giới. Cùng với những tổn thương da này, người nhiễm bệnh có thể gặp phải: sốt , sưng hạch bạch huyết , ngứa , dịch âm đạo , đau cơ , đau khi đi tiểu, và đau hoặc rát ở vùng sinh dục, mông hoặc đùi. Có cách chữa mụn rộp sinh dục không? Các triệu chứng herpes sinh dục cuối cùng sẽ biến mất, nhưng virus chịu trách nhiệm cho các triệu chứng vẫn còn trong các tế bào thần kinh trong cơ thể trong suốt cuộc đời. Sự bùng phát của mụn rộp sinh dục có thể xảy ra bất cứ lúc nào sau khi bị nhiễm trùng ban đầu và những vết thương này tạo ra những tổn thương da tương tự như đã thấy trong nhiễm trùng ban đầu. Trong khi tần suất bùng phát của mụn rộp sinh dục có xu hướng giảm trong một khoảng thời gian nhiều năm sau khi bị nhiễm trùng, một số người vẫn có nhiều đợt bùng phát mỗi năm. Các bác sĩ không hiểu chính xác lý do tại sao các vụ dịch xảy ra, nhưng nhiều người báo cáo các vụ dịch vào thời điểm bị bệnh hoặc căng thẳng tâm lý . Không có cách chữa trị mụn rộp sinh dục, mặc dù thuốc kháng vi-rút theo toa có sẵn có thể rút ngắn hoặc thậm chí ngăn chặn sự bùng phát và giúp ngăn chặn sự lây truyền vi-rút sang người khác. Nguồn: medicinenet.com/genital_herpes_symptoms/views.htm
  11. Bệnh sùi mào gà Các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của bệnh lậu có thể khó phát hiện. Khả năng phát triển các triệu chứng một phần phụ thuộc vào giới tính của bạn. Đàn ông bị nhiễm bệnh có nhiều khả năng gặp phải các triệu chứng hơn phụ nữ. Các triệu chứng bệnh lậu rất giống với các triệu chứng gây ra bởi các STI khác (ví dụ như xuất viện và cảm giác nóng rát khi đi tiểu). Phần lớn phụ nữ bị nhiễm bệnh sẽ không bị bất kỳ triệu chứng nào nhưng nhiễm trùng có thể gây ra thiệt hại lớn cho hệ thống sinh sản và dẫn đến vô sinh, sảy thai và thai chết lưu. Nếu bạn nghĩ rằng bạn đã bị nhiễm bệnh, bạn có thể đặt mua một bộ xét nghiệm bệnh lậu từ dịch vụ bác sĩ trực tuyến của chúng tôi. Nếu bạn hoặc đối tác của bạn đã được chẩn đoán, bạn có thể yêu cầu điều trị bệnh lậu từ chúng tôi. Một số chủng nhiễm lậu đã trở nên kháng một số loại kháng sinh. Do đó, phương pháp điều trị tốt nhất cho bệnh lậu là do tiêm kháng sinh tại phòng khám GUM (sức khỏe tình dục) tại địa phương của bạn. Xem thêm: chi phi dieu tri benh lau Các triệu chứng ban đầu của bệnh lậu là gì? Bệnh lậulà một bệnh lây truyền qua đường tình dục có khả năng ảnh hưởng đến bất kỳ màng nào trên cơ thể bạn - từ bộ phận sinh dục đến trực tràng và mắt. Nhiễm trùng lây truyền trong quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn và miệng, nhưng các bà mẹ bị nhiễm bệnh cũng có thể truyền bệnh cho con trong khi sinh. STI phổ biến nhất ở những người trong độ tuổi từ 15-30, những người hoạt động tình dục và có nhiều hơn một đối tác một năm. Hãy chắc chắn rằng bạn sử dụng bao cao su mỗi khi quan hệ tình dục để tránh những rủi ro không cần thiết. Nếu bạn đang trong một mối quan hệ một vợ một chồng, bạn nên đảm bảo rằng cả hai bạn đã được kiểm tra STI trước khi quan hệ tình dục không được bảo vệ. Một liệu trình kháng sinh ngắn có thể loại bỏ nhiễm trùng rất nhanh, vì vậy đừng ngần ngại thử nghiệm và điều trị để tránh các biến chứng (như vô sinh và nhiễm trùng lan sang các bộ phận khác của cơ thể) trong tương lai. Nhiều bộ dụng cụ kiểm tra STI có sẵn Xem bộ dụng cụ kiểm tra Dấu hiệu sớm của bệnh lậu ở phụ nữ Giống như nhiều STI khác, bệnh lậu thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào, đặc biệt là ở phụ nữ. Có thể khó nhận ra nhiễm trùng, vì một số triệu chứng có thể dễ dàng không được chú ý. Một nửa số phụ nữ phát triển các triệu chứng bệnh lậu (khoảng 30% đến 50% bệnh nhân) có dịch tiết âm đạo bất thường và một phần tư gặp phải đau ở vùng bụng dưới. Các triệu chứng ít gặp hơn của bệnh lậu bao gồm đau khi đi tiểu, thời gian nặng hơn hoặc đốm. Dịch tiết âm đạo cũng có thể có hình dạng khác thường, nó có thể chảy nước hoặc kem, trông giống như máu hoặc thậm chí hơi xanh. Những triệu chứng này ở phụ nữ có thể không được chú ý hoặc bị nhầm lẫn với một loại nhiễm trùng khác - chẳng hạn như nhiễm trùng nấm men thông thường, có thể được điều trị bằng thuốc không kê đơn. Tuy nhiên, dịch tiết âm đạo bất thường có thể là dấu hiệu của một loạt các tình trạng và nhiễm trùng (bao gồm cả STI khác), vì vậy điều quan trọng là tìm kiếm sự trợ giúp y tế và xác định nguyên nhân. Dấu hiệu sớm của bệnh lậu ở nam giới Khoảng 90% nam giới mắc bệnh lậu có triệu chứng, giúp xác định nhiễm trùng dễ dàng hơn. Các triệu chứng đầu tiên có thể xuất hiện khoảng một tuần sau khi truyền bệnh và thường liên quan đến nhiễm trùng niệu đạo, gây đau khi đi tiểu (hoặc cảm giác nóng rát khi đi tiểu). Các triệu chứng khác có thể bao gồm dịch tiết ra màu trắng hoặc đục từ dương vật, kích thích bên trong dương vật và muốn đi tiểu thường xuyên hơn bình thường. Mặc dù các triệu chứng bệnh lậu có thể biến mất sau một vài tuần, nhiễm trùng vẫn còn trong hệ thống của bạn và có thể gây tổn thương thêm cho niệu đạo hoặc các bộ phận khác của cơ thể. Các triệu chứng ít gặp hơn của bệnh lậu ở nam giới bao gồm đau ở tinh hoàn và có thể đau hậu môn hoặc khó chịu nếu nhiễm trùng lan sang trực tràng (áp dụng tương tự cho bệnh nhân nữ). Triệu chứng không phổ biến của bệnh lậu Trong những trường hợp rất hiếm, nhiễm trùng có thể lan đến khớp và gân của bạn (viêm khớp), gây đau và khó cử động - đặc biệt nếu đầu gối bị nhiễm trùng. Nếu nhiễm trùng tiếp tục lan rộng, nó có thể gây phát ban da (trên ngực, lòng bàn tay, chân tay) cũng như các triệu chứng giống như cúm (như sốt và ớn lạnh). Mặc dù các triệu chứng đầu tiên thường xuất hiện trong hai tuần đầu sau nhiễm trùng, chúng cũng có thể xuất hiện nhiều tháng sau đó. Trong trường hợp nhiễm trùng đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể, có thể mất vài năm trước khi bệnh nhân nhận thấy các triệu chứng đầu tiên. Nguồn: zavamed.com/uk/symptoms-of-gonorrhoea.html
  12. Bởi Joseph Bennington-FidelĐược đánh giá y tế bởi Sanjai Sinha, MD Các loại HPV khác nhau có thể gây ra mụn cóc da thông thường, mụn cóc sinh dục hoặc ung thư. Nhiều loại HPV gây ra mụn cóc trên da thông thường, có thể gây khó chịu nhưng thường vô hại.những hình ảnh đẹp Cho dù họ có biết hay không, hầu hết mọi người sẽ bị nhiễm một hoặc nhiều loại papillomavirus ở người - hoặc một số loại virus trong cuộc sống của họ. HPV là một nhóm gồm hơn 150 loại vi-rút liên quan và các triệu chứng do nhiễm vi-rút HPV phụ thuộc một phần vào loại vi-rút mà một người mắc phải. Khoảng ba phần tư các loại HPV có thể gây ra mụn cóc trên da phổ biến (tăng trưởng không ung thư). Mụn cóc thông thường thường xuất hiện trên tay hoặc chân, nhưng chúng có thể xuất hiện ở bất cứ đâu trên cơ thể. ( 1 ) Xem thêm: mọc mụn ở dương vật 25 phần trăm các loại vi-rút khác nhiễm vào bề mặt niêm mạc của cơ thể - chẳng hạn như âm đạo, hậu môn và mũi trong, miệng và cổ họng. Một số loại HPV này có thể gây ra mụn cóc ở bộ phận sinh dục , và một số có thể gây ra những thay đổi tế bào, được gọi là loạn sản, có thể tiến triển thành ung thư. Tuy nhiên, chỉ vì một loại vi-rút có thể gây ra mụn cóc hoặc loạn sản không có nghĩa là nó sẽ xảy ra. Trong nhiều trường hợp, nhiễm vi-rút gây ra không có triệu chứng và không được chú ý. Trên thực tế, hầu hết các trường hợp nhiễm HPV ở bộ phận sinh dục là tạm thời và tự khỏi. ( 2 ) Đây là những gì cần tìm - hoặc những xét nghiệm sàng lọc nào cần xem xét - để biết bạn đã bị nhiễm vi-rút. Các loại mụn cóc da thông thường (Nongenital) HPV xâm nhập vào lớp trên cùng của da thông qua các vết cắt hoặc vết trầy xước nhỏ, và khi có, mụn cóc có thể phát triển do đó. Có một vài loại mụn cóc da khác nhau: Mụn cóc thông thường Mụn cóc thông thường xuất hiện nhiều nhất trên ngón tay, quanh móng tay và trên mu bàn tay. Sự tăng trưởng có thể cảm thấy như những vết sưng sần sùi và có thể có những chấm đen nhỏ trong đó. Các chấm đen là những mạch máu nhỏ xíu đã bị làm mờ vết bẩn bởi lớp da chết tích tụ trên mụn cóc. Mụn cóc Plantar mọc ở lòng bàn chân được gọi là mụn cóc Plantar. Chúng đôi khi mọc thành cụm, trong trường hợp chúng được gọi là mụn cóc khảm. Thông thường cứng và sần sùi, mụn cóc plantar có thể bằng phẳng hoặc có thể phát triển bên trong. Họ có thể đau đớn khi đi bộ. Mụn cóc phẳng Như tên gọi của nó, mụn cóc phẳng thường có đầu phẳng và thường nhỏ hơn và mịn hơn các loại mụn cóc khác. Chúng thường mọc với số lượng lớn (20 đến 100 cùng một lúc) và có thể xảy ra ở bất cứ đâu nhưng thường xảy ra trên mặt ở trẻ em, vùng râu ở nam giới và chân ở phụ nữ. Mụn cóc Filiform Những mụn cóc này giống như những hình chiếu giống như ngón tay hoặc những sợi dài. Chúng thường xuất hiện trên mặt và thường phát triển nhanh chóng. Mụn cóc Periungual Mụn cóc Periungual hình thành trong các cụm xung quanh móng tay hoặc móng chân và cũng có thể kéo dài dưới móng tay. Chúng xuất hiện dưới dạng da dày giống như súp lơ và có thể bị nứt, viêm hoặc mềm. Mụn cóc quanh răng là phổ biến nhất ở những người cắn móng tay và những người nhặt tại lớp biểu bì của họ. Chúng rất khó điều trị và có tỷ lệ tái phát cao. Mụn cóc sinh dục không giới hạn ở bộ phận sinh dục Mụn cóc phát triển ở vùng sinh dục và hậu môn là do một nhóm các loại HPV khác với các loại gây ra mụn cóc trên da. Cái gọi là mụn cóc sinh dục cũng có thể hình thành bên trong mũi, miệng và cổ họng; trong khí quản và phế quản (khí quản và đường dẫn khí nhỏ hơn dẫn đến phổi); và trên mí mắt trong. Các loại vi-rút gây ra mụn cóc sinh dục thường, nhưng không phải luôn luôn, lây truyền trong khi quan hệ tình dục thân mật. Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC), khoảng 90 phần trăm mụn cóc sinh dục là do HPV loại 6 và 11 gây ra. ( 3 ) Những mụn cóc này, đôi khi quá nhỏ để nhìn thấy, có thể là: Bằng phẳng hoặc lớn lên Được nhóm lại thành cụm, giống như súp lơ Màu hồng hoặc màu thịt Mềm mại khi chạm vào Đau hoặc ngứa Chúng thường phát triển: Bên trong hoặc xung quanh hậu môn Trên đùi trên Ở vùng háng Trên bìu và dương vật, bao gồm cả dưới bao quy đầu và trong lỗ niệu đạo Bên trong âm đạo , trên cổ tử cung (đầu dưới của tử cung) hoặc xung quanh âm hộ (mở âm đạo) Biến chứng tiềm ẩn của nhiễm trùng HPV Mụn cóc sinh dục không được điều trị cuối cùng có thể gây ra dòng nước tiểu bất thường ở nam giới (nếu mụn cóc có trong niệu đạo); chảy máu từ niệu đạo, âm đạo hoặc hậu môn; hoặc tiết dịch âm đạo. Các loại HPV gây ra mụn cóc ở bộ phận sinh dục không liên quan đến ung thư, nhưng một số loại HPV khác cũng gây nhiễm trùng niêm mạc. Mặc dù hầu hết các trường hợp nhiễm HPV không bao giờ gây ra bất kỳ triệu chứng nào, một số nguyên nhân gây ra những thay đổi trong các tế bào cuối cùng có thể dẫn đến ung thư. Các loại HPV nguy cơ cao có thể gây ra: Ung thư cổ tử cung Ung thư âm hộ Ung thư âm đạo Ung thư dương vật Ung thư hậu môn Ung thư cổ họng Xét nghiệm Pap và xét nghiệm HPV có thể phát hiện những thay đổi ở cổ tử cung ở giai đoạn đầu, do đó, có thể tránh được ung thư cổ tử cung, trong hầu hết các trường hợp. Không có xét nghiệm sàng lọc các loại ung thư khác do HPV gây ra, vì vậy điều quan trọng là phải nhận thấy bất kỳ thay đổi nào về ngoại hình, cục u, thay đổi da, đau, chảy máu bất thường hoặc bất kỳ bất thường nào khác trong các khu vực có khả năng bị nhiễm vi-rút. Chẩn đoán: Khám, Sinh thiết, Soi cổ tử cung và Xét nghiệm HPV Mụn cóc ở da và mụn cóc sinh dục thường có thể được chẩn đoán bằng mắt khi khám thực thể, nhưng bác sĩ cũng có thể giới thiệu bạn đến bác sĩ da liễu để sinh thiết (loại bỏ mô để kiểm tra dưới kính hiển vi) để chắc chắn rằng tình trạng da của bạn là mụn cóc. Nếu bạn là phụ nữ bị mụn cóc sinh dục có thể phát hiện, bác sĩ cũng có thể thực hiện soi cổ tử cung - một thủ thuật sử dụng kính hiển vi ánh sáng và năng lượng thấp - để tìm thấy mụn cóc sinh dục trên cổ tử cung quá nhỏ để có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Xét nghiệm HPV có thể phát hiện các loại HPV 16 và 18 và cung cấp kết quả rộng cho 12 loại HPV nguy cơ cao (gây ung thư) khác trong mô cổ tử cung. Phụ nữ có xét nghiệm Pap bất thường hoặc xét nghiệm HPV dương tính nên tìm lời khuyên từ bác sĩ về cách theo dõi tốt nhất để ngăn ngừa ung thư cổ tử cung. Xét nghiệm HPV dương tính nói chung sẽ được theo dõi bằng soi cổ tử cung nếu tìm thấy loại HPV 16 hoặc 18, xét nghiệm Pap nếu không được thực hiện cùng lúc với xét nghiệm HPV hoặc xét nghiệm lại trong 12 tháng nếu các loại HPV khác hơn 16 hoặc 18 được tìm thấy nhưng kết quả xét nghiệm Pap là bình thường. ( 4 ) Ung thư ở các khu vực khác ngoài cổ tử cung được chẩn đoán bằng cách lấy sinh thiết các khu vực xuất hiện bất thường và kiểm tra mô dưới kính hiển vi. Nguồn: everydayhealth.com/hpv/guide/symptoms/
  13. Nó là cái gì Đây là một nhóm vi-rút có thể lây nhiễm vào da và niêm mạc của vùng bụng và cơ quan sinh dục của nam và nữ và gây ra các tổn thương do mụn cóc . Thỉnh thoảng chúng cũng xảy ra trên niêm mạc miệng và dây thanh âm. Những tổn thương này có thể là lành tính , nhưng cũng thoái hóa ở giai đoạn đầu của ung thư cổ tử cung. Ô nhiễm với virus xảy ra thông qua quan hệ tình dục. Có hơn 100 loài khác nhau, nhưng chỉ một số ít gây ung thư. Làm thế nào thường xảy ra? Nhiễm trùng do papillomavirus ở người (hpv) là phổ biến. Ba trong bốn người bị nhiễm bệnh trong suốt cuộc đời của họ. Nhiễm trùng là phổ biến nhất trong độ tuổi từ 20 đến 25. Hầu hết các bệnh nhiễm trùng tự lành. Sự lây truyền phổ biến hơn ở những người có hệ thống miễn dịch giảm như trong trường hợp nhiễm hiv , hóa trị liệu, thuốc làm giảm hệ miễn dịch và ở người già. Có 350 trường hợp ung thư cổ tử cung mới mỗi năm. Đó là 1,9% của tất cả các bệnh ung thư ở phụ nữ. Ung thư này nằm ở vị trí thứ 10 trong số các bệnh ung thư phổ biến nhất. Làm thế nào bạn có thể nhận ra nó? Hầu hết các bệnh nhiễm trùng không gây ra khiếu nại và tự lành. Virus có thể tồn tại trong nhiều năm mà không gây ra khiếu nại. Điển hình nhất là các tổn thương phẳng, giống như mụn cóc trên dương vật, môi âm hộ và xung quanh hậu môn (condylomata). Khi chúng phát triển trong niệu đạo, đi tiểu có thể bị đau, và đôi khi có một chút máu trong nước tiểu. Tổn thương âm đạo của ung thư có thể phát triển trên màng nhầy của âm đạo và trên cổ tử cung. Những điều đáng tiếc là không thể nhìn thấy ở bên ngoài. Làm thế nào để bác sĩ chẩn đoán tình trạng? Bác sĩ có thể dễ dàng nhìn thấy các tổn thương chiến tranh bằng mắt thường. Để xác định xem có giai đoạn tiền ung thư hay không, cần phải làm phết tế bào. Nếu có vẻ như các tế bào sai lệch có mặt, một vết bẩn thứ hai được thực hiện. Nếu kết quả vẫn còn nghi ngờ, bác sĩ sẽ lấy một mảnh mô (sinh thiết) để kiểm tra bằng kính hiển vi. Bằng cách bọc cổ tử cung bằng axit axetic, một số vết thương trở nên nhạt màu hơn. Điều này có thể giúp xác định các trang web sinh thiết. Sinh thiết cũng được lấy từ mụn cóc không lành sau khi điều trị và từ các vết bẩn bị đổi màu tối. Bạn có thể tự làm gì? Nếu bạn nhận thấy bản thân hoặc bạn tình của mình bị tổn thương ở bộ phận sinh dục, xung quanh hậu môn hoặc trong miệng, hãy đến bác sĩ. Đừng ở lại với nó. Chúng trở nên lớn hơn và có thể tiến hóa thành các tổn thương độc hại. Vắc xin tồn tại chống lại các loại hpv nguy hiểm nhất. Bởi vì nhiễm trùng có thể diễn ra rất sớm, tốt nhất là các cô gái được tiêm vắc-xin cho lần quan hệ tình dục đầu tiên của họ. Tại bỉ, vắc-xin hpv được đưa vào chương trình tiêm chủng quốc gia cho các bé gái từ 11-12 tuổi. Từ năm học 2019-2020, nam sinh cũng sẽ được tiêm phòng miễn phí. Vắc-xin không lành. Do đó, chấn thương hiện tại là không tốt hơn. Nó cũng không bảo vệ phụ nữ bị nhiễm khỏi sự phát triển của bệnh ung thư. Cô gái được tiêm 3 liều vắc-xin. Việc bảo vệ kéo dài ít nhất 7 năm. Vắc-xin được hoàn trả bởi quỹ bảo hiểm y tế. Tất cả phụ nữ trong độ tuổi từ 25 đến 64 có thể làm xét nghiệm phết tế bào để phát hiện tế bào ung thư hoặc tiền thân của họ miễn phí. Điều này xảy ra tốt nhất cứ sau 3 đến 5 năm. Bạn có thể đi đến bác sĩ của bạn cho điều này. Nghiên cứu hàng năm không hữu ích. Ngay cả khi bạn đã được tiêm phòng, một vết bẩn vẫn hoàn toàn cần thiết. Rốt cuộc, ô nhiễm không thể được ngăn chặn hoàn toàn. Xét nghiệm hpv cũng có thể được thực hiện ngoài xét nghiệm phết tế bào. Bằng cách này, virus được phát hiện trực tiếp trong cổ tử cung. Ưu điểm lớn của thử nghiệm này là nó chỉ cần được thực hiện sau mỗi năm năm và phụ nữ có thể tự làm điều đó. Tuy nhiên, tại bỉ, xét nghiệm hpv vẫn chưa được hoàn trả. Sử dụng bao cao su không cung cấp sự bảo vệ hoàn toàn chống lại hpv, nhưng nó làm giảm 70% nguy cơ nhiễm bẩn, và do đó chắc chắn là hữu ích. Ngoài ra, nó cung cấp bảo vệ chống lại các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác (stis). Bác sĩ của bạn có thể làm gì? Các tổn thương mụn cóc (condylomata) thường được điều trị tại chỗ bằng kem, laser hoặc đông lạnh. Mụn cóc lớn hơn cũng có thể được loại bỏ bằng phẫu thuật. Vì mụn cóc chỉ ra nhiễm trùng hpv và để phát hiện vết thương ở cổ tử cung, nên một vết bẩn xuất hiện (nếu bạn không bị nhiễm trùng trong 1 đến 2 năm qua). Nếu không tìm thấy tế bào ác tính, bạn sẽ không được điều trị, vì nhiễm trùng thường tự lành. Tuy nhiên, nếu bác sĩ tìm thấy các tế bào không điển hình hoặc nghi ngờ, bạn được chuyển đến bác sĩ phụ khoa để kiểm tra trực quan cổ tử cung và sinh thiết vết thương. Trong trường hợp các tế bào ác tính, một sự co thắt của cổ tử cung được thực hiện. Trong thủ tục này, một khu vực hình nón được cắt ra khỏi cổ tử cung bằng cách sử dụng vòng laser hoặc điện. Sau đó kiểm soát vết bẩn theo sau. Nguồn: gezondheidenwetenschap.be/richtlijnen/humaan-papillomavirus-hpv Xem thêm tại: phongkhamkinhdo.vn/chua-benh-sui-mao-ga-co-ton-kem-khong/
  14. Bệnh lậu là một trong những căn bệnh xã hội nguy hiểm, lây lan chủ yếu qua đường tình dục không an toàn hoặc dùng chung đồ dùng cá nhân với người bị bệnh. Bệnh nếu không được chữa trị sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe của người bệnh. Đã có rất nhiều người bệnh gửi thắc mắc về phòng khám kinh đô với nội dung “bệnh lậu có tự khỏi không?” Để biết câu trả lời chính xác, bạn hãy tham khảo ngay những chia sẻ dưới đây. Bệnh lậu có tự khỏi không Để trả lời câu hỏi bệnh lậu có tự khỏi không? Các chuyên bệnh xã hội cho biết bất kỳ bệnh nào cũng cần phải chữa trị thì mới có thể khỏi được, bệnh lậu cũng vậy. Bệnh lậu dù ở giai đoạn cấp tính hay mãn tính đều không thể tự khỏi nếu không được điều trị bằng phương pháp hiện đại cũng như đúng cách. Bệnh lậu sau một thời gian ủ bệnh sẽ chuyển biến sang thời kỳ mãn tính. Nếu không được chữa trị kịp thời bằng phương pháp phù hợp, bệnh gây ra tình trạng viêm nhiễm kèm theo những biến chứng nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tâm lý và khả năng sinh sản của người bệnh. Do đó, khi nghi ngờ biểu hiện của bệnh lậu, bạn nên đi khám ngay tại các cơ sở y tế uy tín để có giải pháp khắc phục tốt nhất. Yếu tố giúp quá trình điều trị bệnh lậu được chữa khỏi Với sự phát triển của ngành y khoa hiện nay, bệnh lậu có thể chữa khỏi với tỷ lệ thành công cao nếu đảm bảo các yếu tố sau: Phát hiện và điều trị sớm Bệnh mới phát tán, các lậu cầu khuẩn chưa có điều kiện phát tán rộng, do đó sẽ dễ dàng ngăn chặn và tiêu diệt chúng. Việc phát hiện bệnh sớm còn giúp người bệnh hạn chế khả năng lây lan cho người xung quanh. Thực hiện theo đúng phác đồ của bác sĩ Vi khuẩn lậu biến chuyển rất nhanh, khó kiểm soát. Vì vậy, người bệnh dù thực hiện chữa trị theo phương pháp nội khoa hay ngoại khoa thì cũng phải tuân thủ đúng phác đồ điều trị của bác sĩ. Tránh bỏ dở giữa chừng hoặc tự ý điều trị tại nhà. Điều trị tại cơ sở y tế uy tín Việc lựa chọn đúng địa chỉ y tế uy tín, đảm bảo về chuyên môn, điều kiện thiết bị và phương pháp điều trị hiện đại sẽ là yếu tố quyết định đầu tiên đảm bảo chữa khỏi bệnh lậu. Giữ tinh thần thoải mái Trong suốt quá trình điều tri, bạn hãy dành thời gian nghỉ ngơi, giải trí lành mạnh, giữ thái độ lạc quan, vui vẻ. Điều này sẽ làm tăng hiệu quả trong quá trình điều trị. Kiêng trong và sau thời gian trị bệnh Việc thực hiện đúng chỉ dẫn kiêng cữ của bác sĩ trước và sau khi chữa bệnh giúp hiệu quả điều trị đạt tỷ lệ thành công cao và ngăn chặn bệnh tái phát. Địa chỉ khám chữa bệnh lậu hiệu quả ở đâu Phòng khám đa khoa kinh đô là địa chỉ chữa bệnh lậu ở bắc giang được cấp giấy phép hoạt động của cơ quan chức năng và hiện đang điều trị các bệnh xã hội, nam khoa, phụ khoa được đông đảo người bệnh tin tưởng, gửi gắm sức khỏe của bản thân. Phòng khám mang trong mình những ưu điểm vượt trội như sau: Phòng khám quy tụ đội ngũ bác sĩ ưu tú, giỏi chuyên môn, có kinh nghiệm nhiều năm trong khám chữa bệnh lậu. Trang thiết hiện hiện đại, máy học tiên tiến được cập nhật liên tục giúp cho kết quả nhanh chóng, chính xác, không gây tổn thương trong quá trình khám chữa. Quy trình thăm khám được thực hiện chuyên nghiệp, nhanh chóng mà vẫn đảm bảo hiệu quả. Tất cả các khoản phí khám chữa bệnh đều được cơ quan chức năng kiểm duyệt và thông qua. Hơn nữa, phòng khám luôn thông báo rõ ràng với người bệnh trước khi điều trị. Thông tin cá nhân được cam kết bảo mật tuyệt đối. Phương pháp điều trị bệnh lậu nhanh chóng, hiệu quả Để điều trị bệnh lậu hiệu quả kinh đô đã áp dụng kỹ thuật phục hồi gen dha. Đây là kỹ thuật sử dụng kiểm tra gene hiện đại, chẩn đoán đa phương diện bệnh lậu giúp tìm chính xác vi khuẩn gây bệnh và phát hiện nhanh biến chủng mới. Qua đó tiến hành phá hủy nguyên thể dna của vi khuẩn, ức chế trao đổi gene và tiêu diệt bệnh toàn diện. Đặc điểm của kỹ thuật phục hồi gen dha: Chuẩn đoán, điều trị an toàn, khoa học. Kiểm tra chuyên nghiệp đặc tính vi khuẩn mới. Ức chế trao đổi chuỗi gene của tế bào lậu cầu khuẩn, ngăn chặn tái phát. Điều trị tổng thể, giảm thiểu các biến chứng. Chi tiết: chữa bệnh lậu bằng phương pháp dha thế nào? Hiệu quả sau khi điều trị bệnh lậu tại kinh đô Sau khi điều trị tại phòng khám đa khoa kinh đô, ở nam giới không còn chảy mủ dương vật, lỗ sáo sưng tấy đổ, tiểu buốt hay đau ở dương vật. Ở nữ giới, “cô bé” không còn ra nhiều khí hư có mùi hôi, sưng môi bé, đau khi quan hệ,… Khi đến tái khám bạn được xét nghiệm nuôi cấy âm tính 2 lần và không thấy vi khuẩn lậu còn trong cơ thể. Ngoài ra, bác sĩ làm nghiệm pháp tái kích thích và lấy mẫu dịch niệu đạo ở nam hoặc soi huyết trắng ở nữ để kiểm ra và kết quả xét nghiệm âm tính. Điều này cho biết bệnh đã khỏi. Với những chia sẻ trên đây, hy vọng người bệnh có thể biết được bệnh lậu có tự khỏi không? Nếu bạn còn điều gì thắc mắc hãy liên hệ tới đa khoa kinh đô qua hotline 1800 6953/ 0388 036 248. Hoặc click vào khung chat “gặp bác sĩ tư vấn” để được trò chuyện trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa. Nguồn: http://phongkhamkinhdo.vn/benh-lau-co-tu-khoi-khong/
  15. Bệnh lậu (còn gọi là bệnh lậu) là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do nhiễm vi khuẩn (Gonococcus) gây ra. Bệnh lậu điển hình là tình trạng viêm của bộ phận sinh dục và các cơ quan đường tiết niệu với dịch tiết ra từ niệu đạo. Nhưng các bộ phận khác của cơ thể có thể ảnh hưởng đến bệnh lậu. Sử dụng bao cao su có thể làm giảm đáng kể khả năng nhiễm bệnh lậu. Đọc tất cả các thông tin quan trọng về bệnh lậu ở đây. Mã ICD cho bệnh: Mã ICC là mã chẩn đoán y tế được chẩn đoán quốc tế. Chúng được tìm thấy, ví dụ, trong thư của bác sĩ hoặc giấy chứng nhận ốm đau. A54 · Tổng quan về sản phẩm · bệnh lậu · mô tả · triệu chứng · Nguyên nhân và yếu tố rủi ro · Khám và chẩn đoán · điều trị Khóa học và tiên lượng của bệnh Tripper: mô tả Gonorea là một bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD). Bệnh lậu là do Neisseria gonorrhoeae (Gonococcus), được phát hiện vào năm 1879 bởi bác sĩ da liễu Albert Neisser. Trong bệnh lậu, nó gây viêm bộ phận sinh dục và đường tiết niệu. Bệnh lậu điển hình ở nam giới là dịch nhầy từ niệu đạo. Ở phụ nữ, các triệu chứng thường yếu hơn nhiều, vì vậy phụ nữ thường không nhận thấy bệnh lậu. Nếu không được điều trị, gonococci có thể lây lan khắp cơ thể. Gonococcus lây truyền qua quan hệ tình dục không được bảo vệ với người bị nhiễm bệnh. Có thể bị nhiễm khi sinh. Trước đây, dạng bệnh lậu này là bệnh mù lòa phổ biến nhất trong thế giới phương Tây ("blennorrhoea sơ sinh"). Để tránh điều này, một phần trăm dung dịch bạc nitrat là một đứa trẻ sơ sinh sau đó rơi vào mắt (phòng ngừa Crede). Ngày nay, thuốc nhỏ mắt kháng sinh hoặc thuốc mỡ có thể được sử dụng cho mục đích này. Sự xuất hiện và tần suất của bệnh lậu Tripper là phổ biến trên toàn thế giới. Chỉ những người phát triển bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD). Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh lậu với khoảng 106 triệu ca mắc mới mỗi năm, bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến thứ ba (STD) là. Số lượng bệnh lậu giảm trong vài năm. Kể từ giữa những năm 1990, bệnh lậu đã gia tăng ở Đức. Trước hết, người trẻ tuổi mắc bệnh lậu, vì vậy cả phụ nữ và nam giới đều có thể mắc bệnh. Độ tuổi trung bình khoảng 30 tuổi. Cho đến năm 2000 Bệnh lậu đã được báo cáo là một bệnh. Tuy nhiên, hầu hết bệnh lậu không được báo cáo, vì vậy họ đã từ chối đăng ký tại Đức. Vì lý do này, hầu như không có dữ liệu hợp lệ và đáng tin cậy về tần suất bệnh lậu ở Đức. Một số chủng lậu cầu kháng kháng sinh Tripper có thể trong những năm tới loài người Những vấn đề chính được tính toán bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Lý do cho mối quan tâm là quan sát rằng khi Gonokokkenstamme đã trở nên kháng với bệnh lậu điều trị bằng kháng sinh thông thường. (Kháng kháng sinh). Thậm chí ngày nay, bệnh lậu được điều trị bằng sự kết hợp của hai loại kháng sinh vì một sản phẩm không cung cấp đủ an toàn. Ngày càng có nhiều chủng gonococcal kháng thuốc được tìm thấy trên khắp thế giới, đặc biệt là ở châu Á. Tripper: Triệu chứng Tất cả mọi thứ quan trọng đối với các triệu chứng bệnh lậu điển hình đều có thể được đọc sau các triệu chứng của bệnh lậu. Xem thêm: http://phongkhamkinhdo.vn/chi-phi-chua-benh-lau/ Tripper: Nguyên nhân và yếu tố rủi ro Bệnh lậu (lậu) là do nhiễm Neisseria gonorrhoeae (Gonococcus). Bệnh lậu trước tiên lây truyền qua quan hệ tình dục không an toàn với người nhiễm bệnh. Tại đây, vi khuẩn chứa chất dịch cơ thể tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc (như niệu đạo, cổ tử cung, trực tràng, cổ họng, kết mạc). Các gonococcus đằng sau cơ thể con người rất nhanh, do đó việc chuyển giao diễn ra hầu như chỉ thông qua quan hệ tình dục qua đường âm đạo, miệng và hậu môn không an toàn. Ban đầu, vi khuẩn nhân lên tại vị trí nhiễm trùng cục bộ, gây viêm. Điều này có thể tiếp tục lây lan không được điều trị. Ngay cả phụ nữ mang thai mắc bệnh lậu cũng có thể lây nhiễm cho em bé của họ trong khi sinh. Điều này có thể dẫn đến nhiễm trùng mắt nghiêm trọng ("bellenor sơ sinh"). Nhiễm trùng có thể được ngăn ngừa bằng cách điều trị dự phòng (dự phòng) bằng thuốc nhỏ mắt kháng sinh hoặc thuốc mỡ. Các triệu chứng bệnh lậu thường rất nhỏ và khó nhận biết đối với phụ nữ. Điều này có thể dễ dàng lây lan bệnh. Hầu hết những người mắc bệnh lậu là những người cung cấp hoặc sử dụng các dịch vụ tình dục, cũng như mọi người, thường thay đổi bạn tình. Sử dụng bao cao su có thể làm giảm đáng kể nguy cơ nhiễm bệnh lậu. Du ngoạn và chẩn đoán Một chuyên gia về bệnh da và hoa liễu là liên hệ đúng cho nghi ngờ bệnh lậu. Những bác sĩ này cũng được gọi là "bác sĩ chuyên khoa". Venereology là một nghiên cứu về các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Ngay cả bác sĩ gia đình hoặc bác sĩ phụ khoa cũng có thể là điểm dừng đầu tiên của bệnh lậu nghi ngờ. Các bác sĩ là Bí mật: Do đó, đừng lo lắng về các triệu chứng có thể phù hợp với bệnh lậu, hãy đi khám bác sĩ , Xuất tiết sâu từ niệu đạo hoặc âm đạo, dù sao đi khám cũng có ý nghĩa. Đối tác của tất cả các cá nhân hoặc cá nhân bị nhiễm bệnh đau bụng mơ hồ cũng nên kiểm soát bệnh lậu. Đối với nam giới trên 40 tuổi bị viêm tinh hoàn hoặc viêm mào tinh hoàn, điều quan trọng là phải kiểm tra bệnh lậu trong nhiễm trùng. Gonococci (gonococci) phải được xác định để phát hiện bệnh lậu. Các gonococcus được phát hiện bằng kính hiển vi thông qua niệu đạo, tử cung, cổ họng, ổ cắm hoặc kết mạc. Ngoài ra, phải cung cấp bằng chứng văn hóa để chẩn đoán bệnh lậu. Điều này có nghĩa là gonococci nhân lên từ phết tế bào trên môi trường dinh dưỡng thích hợp và sau đó có thể được phát hiện một cách an toàn. Để điều trị bệnh lậu hiệu quả, nhiều loại kháng sinh khác nhau cũng được thử nghiệm về hiệu quả của chúng trong nuôi cấy vi khuẩn (một kháng sinh đồ). Vì vậy, bạn có thể thấy loại kháng sinh nào đặc biệt nhạy cảm với gonococci và loại thuốc nào không hiệu quả. Trong vài năm qua, vi khuẩn đã được tìm thấy có khả năng kháng kháng sinh thông thường. (Kháng kháng sinh). Ngoài bệnh lậu bị nhiễm khó chịu (không có triệu chứng), còn có các phương pháp xét nghiệm dựa trên sự nhân lên trong phòng thí nghiệm của bộ gen vi khuẩn (PCR, phản ứng chuỗi polymerase), hơn cả nuôi cấy vi khuẩn. Ngay cả khi không có khiếu nại, người khác có thể bị nhiễm bệnh. Tripper: Điều trị Thuốc kháng sinh thích hợp để điều trị bệnh lậu. Trước đây, penicillin chủ yếu được sử dụng cho bệnh lậu. Trong những năm gần đây, các tế bào gốc gonococcal kháng penicillin từ châu Á và châu Phi là phổ biến nhất. Do đó, các loại kháng sinh khác hiện đang có sẵn (đặc biệt là các thuốc ức chế cephalosporin và gyrase) để điều trị bệnh lậu được khuyến cáo. Ít nhất hai loại kháng sinh khác nhau được sử dụng cùng nhau. Trong hầu hết các trường hợp, tử vong do lậu cầu lậu xảy ra trước một liều kháng sinh và không còn nữa. Tuy nhiên, không nên dừng điều trị bệnh lậu quá sớm: Điều này thúc đẩy sự phát triển của sức đề kháng - và vi khuẩn kháng thuốc rất khó điều trị. Đối tác tình dục của các cá nhân bị nhiễm bệnh lậu cũng phải được điều tra và điều trị khi cần thiết. Điều này áp dụng cho các quan hệ tình dục trong vòng hai tuần trước khi xuất hiện các triệu chứng. Nếu bạn vô tình tìm thấy một người phụ nữ không có triệu chứng, tất cả các đối tác tình dục nên được điều trị bệnh lậu trong 90 ngày qua. Trước khi kết thúc trị liệu, điều quan trọng là tất cả các nạn nhân đều kiêng quan hệ tình dục không được bảo vệ. Vắc xin một liều cho viêm kết mạc phổi ở trẻ sơ sinh bằng kháng sinh lậu để sử dụng tiêm bắp (tiêm bắp) hoặc tiêm tĩnh mạch (tiêm tĩnh mạch). Ngoài ra, mắt và các hợp chất nên được rửa thường xuyên bằng dung dịch muối. Tripper: Tỷ lệ và dự báo bệnh Dự đoán về bệnh lậu (lậu) là tốt nhất: nếu bệnh lậu được điều trị kịp thời, bạn phải mong đợi không có hậu quả lâu dài. Nếu gonocle không được điều trị, nó có thể gây hậu quả nghiêm trọng lâu dài. Những ảnh hưởng lâu dài như vậy của bệnh lậu là tình trạng viêm mạn tính của các cơ quan sinh dục bên trong với những cơn đau dai dẳng, viêm da hoặc ống dẫn tinh trùng và do đó vô sinh. Do đó trị liệu rất quan trọng. Ngoài việc điều trị bệnh lậu, rất hiếm khi dẫn đến sự lây lan của bệnh lậu qua máu trên toàn cơ thể. Các bác sĩ nói về nhiễm trùng lậu cầu phân tán (DGI). Hậu quả là khớp và gân, phát ban da đặc trưng với mụn mủ đỏ hoặc xuất huyết nhỏ (petechiae), sốt và ớn lạnh. Nguồn: lt.the-health-site.com/tripper-3313 Xem thêm tại đây: http://phongkhamkinhdo.vn/