Bảo Ngọc

Những Bài Tham Luận Trong Hội Thảo Phong Thủy 2007.

20 bài viết trong chủ đề này


NHỮNG BÀI THAM LUẬN TRONG HỘI THẢO KHOA HỌC
Tính khoa học của Phong Thủy trong Kiến trúc và quy hoạch xây dựng

Do Hội Kiến Trúc sư Việt Nam thực hiện năm 2007.

Kính thưa quí vị quan tâm.
Trước ngày Hội thảo khoa học do Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông phương tổ chức với tiêu đề: Tính Khoa học của Phong thủy trong kiến trúc và xây dựng", chúng tôi đưa lên đây những bài tham luận đã được ghi nhận trong kỷ yếu của cuộc Hội Thảo 2007 do Hội Kiến Trúc sư Việt Nam thực hiện với tiêu đề: "Tính khoa học của Phong Thủy trong Kiến trúc và quy hoạch xây dựng" như là những tư liệu để tham khảo, nhằm tạo điều kiện chuẩn bị tốt hơn cho nội dung cuộc Hội thảo với chủ đề tương tự do Trung Tâm nghiên cứu Lý Học Đông phương tổ chức vào ngày 15 - 12 - 2009.

Cảm ơn sự quan tâm của quí vị.

*

NHÌN NHẬN PHONG THỦY TRONG KIẾN TRÚC
VÀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG

TRÊN CƠ SỞ NHẬN THỨC XÃ HỘI VỀ MỐI QUAN HỆ LOGIC
GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE CON NGƯỜI

GS.TS.GVCC. Đặng Đức Phú – Hà Nội




Cái nắng nực khi những cơn bão thế kỷ thổi vào nước Mỹ xa xôi đầu tháng 9 đã đẩy Ma Văn Kháng khỏi gian nhà gác đúc bê tông để lăn kềnh trên nền gạch tiếp đất và nhớ lại tuổi thơ trên vùng rừng núi mênh mông “khổ thì có khổ, nhưng mà nó thiên nhiên lắm”. Có lẽ cùng với Tết trung thu 1992 sắp đến đã làm cho nhà văn càng “thưong con mình, thương trẻ con thành phố.. không có thiên nhiên thì còn gì là trẻ con nữa”. Trẻ con đã phải tuân thủ hoàn cảnh, răn đe của cha mẹ, không cờ bạc, nghiện hút, thậm chí học khá, thi là đỗ mà lòng dạ vẫn phấp lỏng. Bởi lẽ nhiều lúc “chúng ngồi ngẫn tò te ở góc nhà, ngoan một cách ù lì, phảng phất đôi chút nhẫn nhục, nom chúng như những ông già, bà già ít tuổi vậy…” mất cân bằng vui chơi với thiên nhiên ở cái tuổi ngây thơ liệu tâm tình chúng có sự khủng hỏang rồi sẽ xì “ra những dở chứng gì trong tương lai”.

Sự lo nghĩ của Ma Văn Kháng, Kim Lân và Trần Hiền Minh qua bài viết “Thiên nhiên và gia đình” trên báo Văn nghệ số 37 (1705) ngày 12 tháng 9 năm 1992” cái sự phát triển sao cho nó thiên nhiên, nó tự nhiên như con người vốn phải thế” cũng là mối bận tâm của cha mẹ, của loài người tự hàng ngàn năm nay. Nào có phải chỉ đến ngày nay, thông qua định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, người ta mới biết được 3 chiều của sức khỏe: thể lực – tâm thần – hòa nhập xã hội.

Hipocrate, người sáng lập ra nền Y học, trong luận văn “Bàn về không khí, nứơc và đất” đã mô tả lần đầu tiên một cách có hệ thống những điều kiện môi trường và ảnh hưởng của nó tới sức khỏe con người. Theo ông, môi trường luôn có những yếu tố thuận lợi cho sức khỏe - yếu tố sức khỏe, và cũng có những yếu tố không thuận lợi cho sức khỏe, làm nãy sinh bệnh tật, yếu tố bệnh tật. Theo Hipocrate “bệnh cần chữa theo căn nguyên. Nếu là viêm nhiễm cần ngănchặn nguồn gốc gây viêm nghiệm, nếu là nguồn gốc khác, phải trừ khử căn nguyên nguy hại”. Ông tin rằng bệnh tật có nguồn góc của nó và đã liệt kê trước hết các yếu tố địa lý, khí hậu và khí tượng. Ông đã chỉ dẫn cho học trò khi khám bệnh cho người từ một đô thị tới cần hỏi xem nơi đó nhìn về hướng nào. Nếu nhìn về hướng nam sẽ khác với hướng bắc, hướng mặt trời mọc sẽ khác với hướng mặt trời lặn. Nứơc uống lấy từ nguồn nào, nếu nguồn khác nhau chất lượng khác nhau. Đất ở nơi khô trọc hay có rừng và giàu nước. Tính cách con người, theo Hiocrate, cũng bị ảnh hưởng của nơi ở. Người ở vùng núi, cao nguyên tràn gió, đủ nước sẽ khác người sống ở vùng khô cằn. Về cách sống nếu kém vận động sẽ dễ mắc bệnh và kém phát triển, già trước tuổi. Thiên nhiên là người thầy thuốc chữa các bệnh tật thông qua sự giúp đỡ cơ thể tự tái lập lại tình trạng sức khỏe.

Sau Hipocrate, Aristot, các nhà y sinh học qua các thời đại đã kế thừa và phát triển luận giải về sức khỏe con người trong sự thống nhất của cơ thể sống (con người, sinh vật) với môi trường thiên nhiên.

Điều này cũng phù hợp với tổng kết của phong thủy Trung Quốc khi cho rằng chất lựơng của gia đình quyết định bởi hoàn cảnh địa lý, ở nơi gia đình trú ngụ và kết cấu nhà ở của gia đình, rằng kết cấu nhà ở đến lượt nó phải hợp với hoàn cảnh địa lý nơi nó được xây dựng. Nhà ở cũng giống như một cơ thể con người, nó cũng có thể khỏe mạnh hay ốm yếu trong mối quan hệ với địa khí, chất lượng địa khí, môi trường thiên nhiên.

Nhưng hôm nay, khi những đô thị hợp khối đã không còn cho phép người ta không chỉ không thể lựa chọn những ngôi nhà trong mối quan hệ với hoàn cảnh địa lý mà còn không thể chủ động lựa chọn kết cấu nhà ở trong mối quan hệ với địa khí, chất lượng địa khí. Trong hoàn cảnh như vậy liệu phong thủy gia trạch sẽ bị cáo chung? Thực tế khác hẳn! Ngày nay, sự kết hợp giữa nghệ thuật kiến trúc với các bí quyết có từ hàng ngàn năm nay của nhân hoại hình như phòng thủy gia trạch đang mang lại nội dung mới cho phong thủy địa lợi trong cả nghiên cứu và thực hành nhằm tới một sức khỏe tốt nhất, thiên nhiên nhất trong phạm vi có thể, cho con người. Phải chăng do vậy mà ngay từ những năm 60 thế kỹ trước Kevin Lynch đã viết “Đây là một môn học có tiền đồ rộng mở vô cùng mà các chuyên gia đang mong muốn phát triển.

Share this post


Link to post
Share on other sites

SỰ THẬT VỀ THUẬT PHONG THỦY

Đỗ Hòang Giang – Hà Nội

Khổ lắm, nói mãi, nhàm tai... nhưng có vẻ như chẳng mấy ai biết rõ cái bí mật này, mà có biết vẫn... dị đoan mới lạ!

Ví dụ ngay ông bạn thân tôi vốn sùng tín, để xây một căn nhà 4 tầng đã chạy đôn đáo lựa thợ, chọn vật liệu, nhờ người giám sát quá trình thi công và đương nhiên không. thể thiếu một thầy địa siêu đẳng cúng vái thổ thần quản lý khu vực, chọn ngày giờ khởi móng, đổ trần xong lại còn hàn cả long mạch và yểm bùa chú bốn phương trừ tà...

Tưởng rằng cẩn trọng đến thế không chút sơ sảy nào, nhưng nhà chưa hoàn thành thì bố mát, năm tiếp theo phải vướng kiện tụng liên miên, năm tiếp nữa con thi trượt Đại học, rồi đến sức khỏe bệnh tật mọc ra ầm ầm chẳng biết kêu ai vì đã xem phong thủy địa lý kỹ lắm rồi kia mà? Bà chị tôi cải tạo, lên tầng hai lợp tôn mỗi căn nhà cấp 4 cơ quan chia cho, cũng tất tả ngược xuôi từ Diễn sang Hà Đông nhờ thầy kén ngày giờ tốt, xem tuổi cả mẹ lẫn con, vậy mà mái chưa lợp xong đã thấy đơn hàng xóm gửi đến tận cơ quan khiếu nại chỉ vì lấn chiếm khoảng không tập thể! Cô bạn tôi thì khác, mua được mảnh đất ở Định Công bèn tức tốc xây ngay, khốn nỗi xem nhiều thầy quá mỗi người nói một phách, không biết tin theo ai, bèn chọn bừa một ngày dương và ngày âm có tống số đẹp nhất đào móng, xây ào ào thế mà mọi việc cũng ổn cả, chẳng làm sao? Chuyện cậu tôi lại càng vô thưởng vô phạt khánh thành ngôi biệt thự kiểu Pháp tại khu xóm Chùa xong, chỉ được hưởng thụ mỗi hai tuần đã phải ngậm ngùi khăn gói quay lại căn hộ lắp ghép cũ, vì có ông Tây thuê dài hạn nhà mới mất rồi, chẳng kịp biết ở tốt hay xấu nữa. Hình như đã thành thông lệ, hễ cứ chọn đất xây nhà xong tốt đẹp thì không sao, còn gặp biến cố trục trặc, mất mát thua thiệt gì là người ta đổ riệt tại phong thủy rồi ân hận vì không nhờ thầy địa lý giúp đến nơi đến chốn hoặc hậu đãi thầy chưa cẩn thận...

Kể qua vài câu chuyện mới thấy địa lý phong thủy vốn là một vấn đề tạo nên tâm lý và tác động rất lớn đến đời sống của con người từ xưa tới nay.

Nội dung gốc gác của phong thủy là một loại tri thức người ta dùng để lựa chọn và xử lý hoàn cảnh ăn ở của phần dương trạch (nhà ở cung điện, chùa chiền, bếp...) và phần âm trạch (lăng, mộ, huyệt táng...) nhằm mục đích thỏa mãn tâm lý và sinh lý của con người tránh cái xấu, lấy cái lành. Nếu nhìn trên khía cạnh khoa học, thì phong thủy chính là quan hệ tự nhiên vốn có giữa từ trường trái đất, địa tầng và sức khỏe sinh lý con người. Từ xưa phong thủy có hai trường phái Hình (dựa vào thế đất) và Khí (dùng âm dương bát quái suy ra lành dữ) cho nên hạt nhân cơ bản của phong thủy là nguồn sinh khí một khái niệm vô cùng rối rắm phức tạp bao gồm những quy định về long mạch, huyệt vị, dòng chảy, phương hướng... vì vậy phong thủy là quan niệm duy lý lưu truyền hàng ngàn năm, ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống hiện tại, trở thành một tín ngưỡng vô hình và là tục lệ ám ảnh xã hội mà không sao giải thích rõ ràng được. Cũng cần nói thêm, không chỉ ở riêng nước ta, các dân tộc trên bán đảo Ban Căng cũng từng đề cao yếu tố gió - nước tác động đến con người qua những nghiên cứu của Hipocrát Olimpia, Acrantit... rồi người Ai Cập cổ đại đã xây Kim tự tháp bằng đá theo hướng từ trường để nạp điện, hấp thụ các tia vũ trụ bảo quản xác ướp và hầu hết các nước Đông Á khác đều thịnh hành thuật phong thủy nhu Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Myanmar...

Thông qua rất nhiều điều nghiên xã hội sâu rộng, người ta có thể xác định được nguyên nhân phát sinh quan niệm phong thủy chính là vì con người nhận thấy sự nhỏ bé bất lực của mình trước thiên nhiên bao la bí ẩn, trở nên sùng bái thiên nhiên, tìm mọi cách để tương thích. hòa thuần cùng môi trường sống. Bởi vậy, người ta tôn sùng Trời (nơi quy định số phận sống chết sướng khổ của con người), Đất (nơi người ta phải sống phụ thuộc cả cuộc đời no đói lành dữ), Núi (nơi được coi là chỗ trú ngu của thần thánh). Gió (được coi là sự biểu hiện tính khí hơi thở của Trời), Nước (là nguồn gốc thủy tổ của mọi sinh vật có thể đem lại hạnh phúc hay tai họa khôn lường), Rồng (là linh vật giỏi biến hóa có thể tạo ra mây mưa, quản lý nước gồm chín loại rồng: quay đầu rồng biển, rồng sa, rồng động, rồng bay, rồng nằm, rồng ẩn, rồng lên mây, rồng tự bầy) và nơi tập trung khi mạch tốt nhất của đất được gọi là long huyệt), cuối cùng con người ta tôn thờ linh hồn của người đã chết, coi linh hồn bất diệt và chi phối đến người sống cho nên phải chọn đất lành cho người chết ngụ cư và phù hộ người sống.

Vậy xét cho cùng, bản chất của phong thủy là gì? Đó chính là khái niệm xoay quanh gió và nước. Về khí, các triết gia cổ đại cho rằng khí tồn tại ở mọi nơi, cấu tạo nên vạn vật và khí không ngừng vận động biên hóa quyết định đến họa phúc của con người cho nên khí là gốc của vạn vật có đất là có khí người ta sinh ra từ khí và trở về khí, người sống do khí ngưng tụ lại, người chết phải cần nơi tụ khí vì thế rất nên coi trọng phần mộ tốt để nuôi khí, sinh khí.

Gió cũng được chia làm 8 loại (bát phong), mỗi loại gió cách nhau chừng hai, ba tháng: gió đông bắc nóng, gió đông ào ào, gió đông nam hun đốt, gió nam rất to gió tây nam rét buốt, gió tây heo may, gió tây bắc rất độc, gió bắc lạnh lẽo. Thông qua cách xem gió (phong giác), từng loại gió gắn với hậu quả: nghèo túng, khốn khổ, tan vỡ, tuyệt diệt chết yểu, không con...

Về nước, quan trọng nhất là nguồn mạch, còn gọi là thảy khẩu, nơi nước đổ vào, chảy ra. Nơi nước chảy đi là địa hộ (cửa đất) bởi thế nước sinh ra của cải, bảo tồn đời sống. Cần phải phân biệt được hai loại nước lành (nguồn nước phải vươn xa, quanh co uốn khúc, quay vòng lại. chứa mạch ngầm) và nước xấu (réo ào ào xông tới ầm ầm hoặc có mùi thối). Có tám thần nước (chia ra làm nhiệm vụ theo các dòng sông, biển lớn): thần Lạc thủy là Mật Phi, thần Trường giang là Giang Phi, thần Tương giang là Tương Quân, thần Đống hải là Ngụ Hổ, thần Nam hải là Hồ Dư, thần Tây hải là Yêm Từ, thần Bắc hải là Huyền Minh và thần cai quản các hồ, suối, ao, giếng... nhìn chung là rất phức tạp phiền toái...

Rõ ràng là quan điểm gió - nước của người xưa nặng về mê tín dị đoan, xây dựng theo trí tưởng tượng để tự an ủi về những hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt và tai hại mà tri thức thời ấy không thể giải thích nổi.

Giờ đây, nếu nhìn nhận và phân tích thuật phong thủy theo quan điểm khoa học hiện đại, thì đúng là trên mặt đất có những vùng từ trường và địa trường phân bố hoàn toàn khác nhau. Mới đây nhất là cách giải thích những tác động, ảnh hưởng của tia đất ở những khu vực đang được quy hoạch, thi công xây dựng và một vài điểm nóng về tai nạn giao thông ví dụ như Pháp Vân - Cầu Giẽ như một số phóng sự báo chí đã đưa tin. Trên cơ sở nhận thức duy vật biện chứng, con người ta hoàn toàn có thế làm chủ phương pháp áp dụng phong thủy vào việc chọn đất, xây nhà ở.

Ngày trước, theo đúng nghiêm luật ra, một công trình kiến trúc hoàn thiện phải hài hòa với thiên nhiên để "nhận khí thiêng của sông núi, tinh hoa của nhật nguyệt", nhằm rèn luyện tinh thần, ý chí, tình cảm dưỡng khí của đất trời và bồi bổ tố chất cho cơ thể (vì lý do hồi ấy chưa điều chế được các loại vitamin tổng hợp)... tất nhiên phải tuân thủ vô số các điều kiện phiền nhiễu như chuẩn bị văn khấn, đồng hồ mặt trời, la bàn, thước đo và phải thuộc lòng ngũ hành, tam hợp, tứ cục, sinh khắc... để chọn cho được long mạch - vấn đề quyết định sự thành bại của thuật tướng địa. Nhưng cuối cùng, sự tài giỏi chính xác của thầy vẫn lại phụ thuộc vào ngộ tính thiên bẩm và các loại bùa chú treo, dán, chôn, yểm... tóm lại xem được chỗ đất làm nhà rất phức tạp, vã mồ hôi trôi tiền của, vô phúc gặp phải thầy địa rởm, dốt thì tai họa càng nặng nề. Tuy nhiên, một số điều kiêng kỵ của phong thủy xem ra cũng khoa học như: Nhà ở không được làm ở cửa ngõ ra vào trên sườn núi hoặc thung lũng tránh lũ quét và sét đánh. Nhà ở không được làm trên giếng cũ vì đất dễ lún gây đổ nhà hoặc rỉ nước mạch mang khí chất độc hay ẩm ướt dễ bị phong thấp. Nhà ở tránh con đường đâm thẳng vào mặt tiền để tránh các phương tiện tốc độ cao hoặc đêm tối lao vào gây tai nạn. Nhà ở không làm nơi ngõ cụt vì ra vào không thuận tiện, hỏa hoạn khó thoát thân. Nhà ở cạnh đền miếu xét về tâm lý cũng không ổn vì vắng vẻ quá tạo hình ảnh cô liêu xa cách cộng đồng, đông đúc quá thì không lúc nào được yên tĩnh...

Cây cối quanh nhà cũng có ảnh hưởng nhất định ví dụ cây to tuy cho bóng mát nhưng mùa mưa sẽ dẫn sét, điện vào nhà và rễ cây sẽ làm móng nhà yếu đi. Trong kết cấu nhà ở cái cửa có vai trò rất quan trọng vì nó là bộ mặt, yết hầu, khẩu khí (đường dẫn khí) của toàn thể kiến trúc. Về yếu tố Thủy tất nhiên nơi ở phải có nguồn nước trong sạch và dồi dào để phục vụ các nhu cầu đời sống khác như chăn nuôi, trồng trọt tưới tiêu. Về yếu tố Phong, nếu nhà chật hẹp, không khí lưu thông kém sẽ sinh ra ẩm thấp, bệnh tật vì sâu bọ, vi trùng, nhưng nếu gió lồng lộng suốt ngày tứ phía thì dễ cảm mạo, phong hàn, tai biến não. Người đang sống đã vậy, người đã chết cũng phải tham khảo một số địa thế đất xấu không được mai táng như nơi có đá tảng lổn nhổn, nước xiết đầu ghềnh, nơi đất cụt vô cảm, núi trọc cô đơn, miếu chùa hoang, vùng đất tù đọng núi đồi tản mạn, phong thủy buồn thảm, đất bẩn hẹp và nước ứ tù hãm... chưa biết lợi hại thế nào nhưng trước hết để tạo thuận tiện cho người thân thăm viếng mộ, tỏ lòng thành kính, tình cảm tốt đẹp với tiền nhân đã khuất điều này không có gì sai trái và đã thành phong tục của các dân tộc phương Đông từ bao đời nay.

Dẫu sao, đã là một tồn tại xã hội thì vẫn có những đặc trưng lạc hậu nhất định, càng ngày phong thủy càng không phù hợp với đời sống công nghiệp và trở thành công cụ trong tay những thầy địa lý ỡm ờ chuyên đi lừa bịp thiên hạ kiếm tiền. Nào là xoay tại vị trí xalông, giường ngủ cho hợp chủ mệnh giá 1 triệu, chặt bỏ những tác động ám địa, hãm chủ như cành cây chĩa vào nhà giá 2 triệu, chỉnh lại hướng bàn thờ để phát tài giá 3 triệu, đặt mộ đúng hướng, chọn đất tốt để phát số thì giá 5 triệu và hơn nữa... Nhưng tại sao các gia chủ và cả các thầy địa không tự đặt ra một câu hỏi đơn giản rồi tự tìm giải đáp xem: Tại sao các thầy siêu giỏi thế mà không tự đặt, chỉnh, sửa cho mình trở thành tỷ phú, vương giả để khỏi hành nghề này, kiếm tiền vất vả lại còn mang tiếng? Thực tế phát triển khách quan còn đang đẩy nhanh thuật phong thủy địa lý vào chân tường ví như chuyện xây nhà ở cho hàng ngàn hộ dân trong một chung cư cao mấy chục tầng thì đương nhiên vấn đề khảo sát địa tầng, chống lún tránh động đất, phòng cháy vô cùng quan trọng và các kỹ sư thiết kế trên máy đồ họa ba chiều cùng các nhà thăm đò địa tầng có thể giải quyết ổn thỏa mà không cần nhờ đến thầy nào cả. Ngoài ra, các nghĩa trang đều có quy hoạch hàng lối, đài hóa thân trở nên phổ biến và vệ sinh môi trường hơn, vì vậy thủ tục chọn hướng mộ tốt xấu, thế đất phát vượng... trở thành khái niệm phù phiếm của những ai lắm tiền, nhiều đất vì phú quý sinh lễ nghĩa mà thôi.

Khái quát lại thuật phong thủy là một hiện tượng văn hóa xã hội tồn tại khá dai dẳng, nếu phân tích kỹ gạt bỏ những thủ pháp, nghi lễ, hình thức mê tín bảo thủ câu nệ thì vẫn còn những kinh nghiệm dân gian đáng học hỏi phục vụ cho việc xây dựng nhà ở thuần túy. Tuy nhiên, với trình độ của khoa học kỹ thuật hiện đại thì thuật phong thủy cũng đáng xếp vào kho lưu trữ để ghi nhớ công sức tìm tòi sáng tạo của các bậc tiền nhân suốt quãng dài lịch sử nhằm phục vụ cuộc sống tốt đẹp yên lành hơn cho con người. Và tất nhiên, phong thủy không phải và không thể là một bộ môn bí hiểm thần kỳ, càng không phải là loại tri thức cao siêu chỉ được chân truyền riêng cho các thầy địa lý như họ đã và đang khuếch khoác bịp bợm để kiếm sống, đó chỉ đơn giản là phương cách để chúng ta tự quyết định lựa chọn ngôi nhà ấm cúng của mình an toàn hơn, tốt hơn và hạnh phúc hơn.

Bất cứ một nền văn hóa nào cũng tìm được chỗ đứng thích hợp trong quá trình phát triển của xã hội. Những tri thức cổ do người xưa để lại không chỉ bắt nguồn và tồn tại ở trong phạm vi vùng miền, khu vực mà còn tạo ảnh hưởng nhất định, lan truyền tương tác, du nhập mở rộng đến phạm vi châu lục. Phương Đông chúng ta giáp với một số nước nằm trên ngưỡng cửa lục địa Á - Âu nên cũng có đôi nét tương đồng về quan niệm phong thủy. Ví dụ Hy Lạp cổ đại có cuốn sách Bàn về gió, nước và hoàn cảnh cuốn sách này đưa ra một số quy định về quan hệ, tác động lẫn nhau giữa con người, xã hội và hoàn cảnh sống như: bệnh tật của cư dân thành thị thường liên quan tới vị trí nhà ở và hướng gió, nguồn nước và chất lượng nước quyết định tới sức khỏe con người, cư dân ở vùng nóng bức ẩm thấp sẽ sinh lười nhác không thích những hoạt động mạnh mẽ, cư dân ở vùng mưa nhiều khí hậu biến đổi thì cần cù, dũng cảm, nóng nảy, cư dân vùng khô cằn hình thể gày yếu, tính tình cố chấp. Một cuốn sách nữa thời Hy Lạp cổ có tên là Hồng Hải lại trình bày và phân tích mối quan hệ giữa con người và các dòng sông, nhưng tất cả các cuốn sách này đều có chung một đặc điểm là hoàn toàn không mang màu sắc mê tín, chỉ thuần chất khoa học. Cũng như vậy, người Ai Cập cổ đại cũng nghiên cứu một loạt những kỹ thuật đặc biệt khi xây dựng Kim tự tháp: tất cả các tháp đều nằm theo hướng từ trường Bắc - Nam của trái đất, tháp xây bằng đá hoa cương, có tính năng nạp điện, hấp thụ và bảo tồn tia vũ trụ, vỏ ngoài tháp xây bằng đá vôi có khả năng ngăn sự khuếch tán các tia năng lượng từ trong lòng tháp vì vậy nó bảo tồn các xác ướp được lâu dài. Những thí nghiệm hiện đại cho thấy: hoa quả để trong Kim tự tháp sau nửa tháng vẫn tươi nguyên, những người bị bệnh ngoài da hay thần kinh suy nhược đều điều trị rất hiệu quả trong tháp. Còn ở Châu Á, các nhà khoa học cho rằng các nước gần nhau về địa lý nên chịu ảnh hưởng và tiếp thu thuật phong thủy của nhau gồm có nhóm nước Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên. Tại Nhật, sau thời đại cải cách đã có cuốn Tác đình ký, đây là cuốn sách chỉ dẫn con người ta cách điều chỉnh dòng nước chảy sao cho mang lợi cho cư dân sống quanh đó nhất, đồng thời cũng giới thiệu cách trồng cây và loại cây giúp tránh bệnh tật ốm đau. Ngoài ra cũng có cuốn Cổ sự ký nói về cách bày biện, bố trí nội thất trong nhà và giữ thần trông bếp. Tại Trung Quốc, thuật phong thủy thịnh hành lâu đời nhất và có ảnh hưởng quyết định đến những trường phái địa lý, phong thuỷ khác ở các nước láng giềng, trong đó có nước ta, thông qua những bộ sách kinh điển đồ sộ như: Thất lược, Văn hiến thông khảo, Sùng văn tổng mục, Bạn thư ngẫu ký, Tứ khố toàn thư tổng mục, Bát trạch... Có thể nói, phong thủy liên quan chặt chẽ đến Nho giáo. Các sách phong thủy đều dẫn luận điểm của các bậc tổ sư đạo Nho như Khổng Tử, Chu Hy, Trình Di và đưa ra nguyên lý tam tài: Thiên - Địa - Nhân trong đó Địa là quan trọng nhất vì như cuốn Phong thủy khuyết danh viết: Trong ba đạo thì đạo đất là quan trọng hơn cả. Những gì đẹp đẽ ở trời đều do bởi đất. Phàm những gì phụ thuộc vào trời đều có gốc rễ ở đất. Thuật phong thủy Trung Hoa còn coi trọng Tam cương (khí mạch, minh đường, thủy khẩu) và Ngũ thường (long, huyệt, sa, thủy, hưởng): Đặc biệt là phong thủy rất tôn trọng trật tự đẳng cấp giống như ở triều đình phong kiến.

Phong thủy chỉ phát huy được tác đụng nhờ vào thầy phong thủy. Đặc trưng của các thầy phong thủy chính là những người không may mắn trên khoa trường vì gần như tất cả những thầy địa đều là những kẻ thi trượt, thất chí lấy phong thủy làm nghề nghiệp kiếm sống và quảng bá tài năng của bản thân trên một khía cạnh khác của kiến thức. Nước ta cũng chịu ảnh hưởng Nho giáo từ ngàn năm trước, nên những lý thuyết về địa lý phong thủy chủ yếu do du nhập vào rồi phát triển thêm dựa trên thuật phong thủy Trung Hoa, điều này rất dễ nhận thấy qua chuyện dã sử về thầy địa lý Cao Biền. Dân ta cũng được biết đến những nhân vật tinh thông địa lý thuần Việt nhất là Tả Ao, người gốc Hà Tĩnh, mà những kiến thức của ông đã được tập hợp thành bộ sách cùng tên rất nổi tiếng trong dân gian. Vậy rút cuộc phong thủy là tôn giáo hay mê tín? Hãy xét những đặc điểm chính của phong thủy rồi ta có thể đưa ra kết luận. Đó là:

Tính chất phổ biến rộng rãi. Kể từ hơn 2500 năm trước cho đến thế kỷ XXI phong thủy không những vẫn tồn tại cùng xã hội mà còn lan rộng tới mọi vùng miền và các tầng lớp xã hội, thậm chí nó còn hòa trộn vào tập tục địa phương một số nơi để hóa thân thành phong tục văn hóa cổ truyền.

Tính chất thần bí, nửa công khai: Không chỉ vì lý thuyết rối rắm phức tạp, mờ ảo của nó mà các thầy địa lý còn thêu dệt nhiều tích ly kỳ, lồng vào các nhân vật lịch sử hoặc dã sử rồi ra sức thổi phồng lên thành truyền thuyết về linh thiêng liêng, định mệnh của thuật phong thủy.

Tính chất vòng vo, rắc rối: Người ta vẫn đồn câu: ba năm tướng địa, mười năm điểm huyệt, như thế phải mất 13 năm mới xác định được nơi đất phát, còn tiếp theo có phát không phải đợi số! Hơn nữa, lý luận phong thủy không có hệ thống chặt chẽ và không thống nhất nữa các trường phái, tiêu chuẩn chính xác là do mồm các thầy phán xét.

Tính chất lừa bịp: Đã là thầy địa thì phải tán tụng phong thủy lên mây xanh mới có cửa kiếm ăn. Nhưng nếu tính ý ra thì hiểu ngay chẳng qua là thủ đoạn bán mộc - bán giáo của các thầy thôi: mộc tết không gì đâm thủng và giáo sắc đâm đâu cũng thủng, vậy mộc ấy bị giáo ấy đâm thì sao? Can cớ gì thầy không tự cứu lấy mình trước?

Tính chất bảo thủ giả hiệu: Các thầy địa thường khắng định mình nắm giữ những kiến thức, kinh nghiệm bí truyền, gia truyền không thể tiết lộ cho ai, chỉ mình hành sự để giữ thiên cơ! (thực ra thầy sợ nói ra mất bản quyền kiếm ăn). Nhưng sau lại thu nạp đệ tử để truyền lại mong sao có người nối nghiệp rồi tôn vinh tên tuổi mình?

Tính chất thực dụng: Thầy phong thủy tự đánh giá mình khi hành nghề cũng giống như thầy giáo hay thầy lang đều bán kiến thức để kiếm sống. Nhưng xét về bản chất thì không hề giống nhau bởi không gì có thể so sánh với tri thức và tính mạng con người, trong khi đó thầy phong thủy chỉ cốt sao cho thỏa mãn cái muốn của gia chủ về tài lộc, địa vị, tương lai nhằm kiếm khoản hậu tạ. Các thầy địa trong xã hội bây giờ hầu hết căn cứ vào tiền thù lao để định tướng địa, tiền càng nhiều thì xem càng kỹ, còn kết quả cụ thể thì đương nhiên phải đợi số rồi!

Từ xưa đến giờ, nhiều thầy phong thủy luôn tự vỗ ngực rằng chỉ giúp dân cầu phúc, nhưng khi vào cuộc rồi vẫn căn cứ vào nhu cầu ý muốn của gia chủ để tính giá cao thấp. Nói đúng ra thì họ coi đó là một nghề kiếm cơm, làm giàu bằng phương pháp thôi miên hóa những khổ chủ cả tin, ít hiểu biết thông qua những kiến thức cổ mù mờ, khẩu ngữ bí ẩn, dụng cụ thô sơ nội dung nhuốm màu hoang đường. Thuật phong thủy tuân theo một số nguyên tắc chính yếu cùng những nhu cầu kiên thức không giản đơn chút nào. Một số người cho rằng chỉ cần quen biết vài thầy phong thủy chuyện trò dăm cuộc, ghi chép đôi điều cốt lõi coi như đã hiểu về tướng địa! Nhưng đó chỉ là những thầy thấp tay, lòe bịp kiểu chợ búa thôi chứ muốn khẳng định mình là thấy địa trứ danh, có mác hiệu xịn cần phải đọc nhiều loại sách, kể cả sách quý hiếm, tư liệu, lịch sử, truyền thuyết kinh điển. Như cuốn cẩm nang Phong thủy giảng nghĩa giới thiệu: Bước đầu học địa lý, phải phân biệt âm dương, tam hợp, song sơn, ngũ hành, sinh vượng, tứ tuyệt rồi sau đến bát quái, long mạch, núi, địa hình... rồi tất cả những điều ấy đem ra thực hành cho cả người sống và người chết. Sau khi nhập môn xong, các thầy địa thực tập lại phải hiểu được những khái niệm thông thường nhất của nghề như Khí (một loại vật chất trìu tượng phát sinh từ tinh thần, tồn tại ở mọi nơi và không ngừng vận động biến hóa mà thuật phong thủy coi đó là yếu tố gốc của vạn vật), Tứ tượng (gồm Thái dương, Thái âm, Thiếu dương. Thiếu âm vận dụng vào địa hình xem tốt xấu, lành dữ), Bát quái (sinh ra từ thuyết âm dương, quy định ứng vào các vùng đất khác nhau để xác định phương vị), Hình thế đất (chủ yếu dùng để quan sát núi gồm có 5 thế rồng của 5 hướng, rồi lại căn cứ vào hình đáng, tư thế chia thành 9 rồng như rồng quay đầu, rồng bay, rồng nằm...).

Các thầy địa từ xưa khi hành nghề có rất nhiều dụng cụ đầu tiên phải nói đến la bàn, trên đó có đủ các thông tin cần thiết để phán. Tiếp theo là những biện pháp cứu vãn những điểm hung họa sắp hoặc đang xảy ra để biến hung thành cát như: Dùng mai thạch trân trạch thần - dùng gương soi trấn sơn binh. Các thầy còn sử dụng bùa chú yểm, vẽ lên cây, đeo vào người, treo trước nhà hoặc chôn xuống đất gọi là bùa Ngũ nhạc, bùa trấn tứ phương, bùa tam giáo cứu trạch... những bùa này vẽ bằng màu son lên miếng gỗ có kích thước quy định và treo theo ngày giờ. Các thầy cũng viết chữ lên tảng đá hoặc chôn yểm hình nhân, súc vật bằng gỗ, đất hay chiếu gương soi để trấn hưng (giờ đây nhiều nhà thành thị cũng đua nhau treo miếng gương bát giác lên cửa ra vào để trừ tà)! Thật ra tất cả những vật dụng này chỉ mang tính an ủi tâm lý chứ không thể ngăn chặn được điều gì. Ví như chỉ một chữ thiện hoặc phúc viết lên miếng gỗ mà có thể trừ được tà ma, đuổi bệnh tật, mang lại phúc lành thì tại sao mỗi chúng ta và cả thầy phong thủy nữa cứ đeo dăm bảy cái bùa trong người hoặc treo yểm từ trong buồng, giữa nhà ra vườn để mãi mãi được yên ổn giống như tiêm vac-xin phòng bệnh vậy? Nếu như hiểu rằng càng đeo nhiều bùa chú càng tết thì tội gì không đeo thay đồng hồ, dây chuyền, nhét vào ví để tiền lúc nào cũng vào như nước, mọi bệnh tật kể cả cúm gà, HIV, ung thư đều phải chào thua? Liệu có thầy địa nào dám chắc là dùng bùa chú đảm bảo không bị đạo chích đào tường phá két sắt không bị chập điện, hỏa hoạn và thậm chí động đất thì nhà chúng ta vẫn trơ trơ cùng tuế nguyệt? Và nếu thế những thầy phong thủy phải chung sức mở hắn nhiều tổ hợp sản xuất bùa cho toàn dân thì mới đủ đáp ứng nhu cầu! Có lẽ tập đoàn những thầy địa cũng đang có ý định ấy chăng?

Ngoài bùa chú ra, các thầy phong thủy dùng một số đồ nghề khác nữa như Thổ khuê (gậy căn cứ vào bóng nắng xác định phương hướng), Thổ quy (dụng cụ đo bóng nắng để phân định bốn mùa), những dụng cụ này ít nhiều mang tính khoa học ứng dụng. Bên cạnh đó, còn có Kim chỉ nam (một dụng cụ giống như cái môi múc canh xoay tròn tự do trên mặt bàn tròn, cán môi chỉ hướng nam trên mặt bàn khắc thiên chi, bàn đồng tâm chồng lên nhau: bàn tròn gọi là thiên bàn tượng trưng cho trời, bàn vuông gọi là địa bàn tượng trưng cho đất. Giữa thiên bàn vẽ chùm sao Bắc Đẩu, ngoài cùng có 28 sao và 12 chữ số. Địa bàn có ba tầng vẽ thập can và thập nhị chi cùng 28 sao). Khi hành sự trên thực địa, các thầy còn dùng cả thước đo đó là một dụng cụ bằng kim loại dài khoảng 1m, chỗ tay cầm giống như hai tai kéo khi gập lại còn khi mở ra sẽ xoay thành góc 90 độ, thực chất đó cũng là thanh sắt từ hoạt động theo nguyên tắc kim chỉ nam.

Mỗi thầy phong thủy đều có một bí quyết riêng không ai giống ai để khẳng định mình giỏi hơn hết thảy, chính vì vậy trên cùng một dụng cụ nhưng các thầy có thể phán hoàn toàn khác nhau và ai cũng cho là mình đúng còn các thầy khác sai tuốt! Nhưng dù sai hay đúng cũng không thể còn đất dụng võ nữa. Lấy ví dụ như cách tìm long mạch chẳng hạn. Long mạch trong thuật phong thủy vốn là một phạm trù hết sức phức tạp về lý thuyết và càng mông lung trên thực tế. Muốn tìm được long mạch phải xác đính được vị trí núi tổ. vì tổ sơn là căn nguyên của cát hung. Tìm được tổ sơn rồi lại phải phân định long mạch xấu hay tốt. Phân tích xong cuối cùng phải tính đếm xem có dùng được không bởi có những long mạch dài xa trên ngàn dặm, loại tương đối cũng vài ba dặm! Ngày xưa chuyện đơn giản vì đất quê ta mênh mông. dân cư thưa thớt chọn chỗ nào cũng ổn, nhưng bây giờ thì khác, nếu long mạch ở giữa đường cao tốc hay trong khu công nghiệp hoặc trúng vào khu vườn cây xuất khấu thì đố thầy địa nào dám cuốc đất lên mà yểm long mạch? Hơn nữa, cách xem cát địa còn phải phụ thuộc vào ngộ tính trời cho từng thầy, tức là mắt phải thấu thị xuyên qua mấy mét đất thì mới chọn đúng chỗ, mà muốn có đôi mắt thần kỳ ấy ngoài khả năng thiên bẩm ra thì không hiểu phải mất bao lâu thầy địa mới luyện được tuyệt chiêu ấy? Thời buổi bây giờ thị lực ai cũng suy giảm vì thiết bị điện tử, chắc là các thầy phong thủy dù muốn cũng không thể trông chờ vào những dược phẩm thông thường như Tobicom hay Rhoto để có ngộ tính cao siêu được!

Tất cả sách vở, kiến thức phương pháp, bí quyết về phong thủy của các thầy địa tóm lại chỉ nhằm đến một mục đích cuối cùng là chọn đất, nhà ở cho người sống (dương trạch) và chọn đất mộ huyệt cho người chết (âm trạch). Nhưng cơ sở của việc chọn lựa này có thể tin được không?

Trước hết, thuật phong thủy cho rằng có hai loại khí ảnh hưởng đến nhà ở là nạp khí và sắc khí Nạp khí là những loại khí dẫn đến nhà ở từ các phương hướng khác nhau. Sắc khí là loại khí tự bốc lên mang tính lành dữ từ nhà đất ở cả hai loại khí này đều được xác định trên cơ sở vô hình và không rõ ràng vì chẳng ai nhìn thấy, mọi tốt xấu đều do ý thầy địa phán quyết. Các thầy còn nói rằng trên nóc nhà thường có khí nhiều màu sắc với ý nghĩa khác nhau, nào là: tía phát tài, trắng mất của, đen phạm pháp, xanh cờ bạc. Dù thế đi nữa mà bây giờ mời thầy địa cao tay nhất đến xem trên nóc nhà chung cư 23 tầng có khí màu gì và ý nghĩa với ai thì chắc hẳn các thầy phải treo ấn chào thua!

Từ xưa đến nay trong lĩnh vực xây dựng, tất cả mọi người đều mong muốn tìm được miếng đất đẹp đẽ vừa đảm bảo kiến trúc bền vững vừa có thể sống tốt. Về nguyên tắc chung thì các triết gia cổ đều chung ý kiến là nhà ở phải hòa hợp với thiên nhiên, kề núi sông, đất đai màu mỡ và móng nhà không lún. Những điều này đều thực tế' có lý và thuật phong thủy cũng nêu ra những kiêng kị về khí, mạch của tướng địa như: không làm nhà trên sườn núi hoặc dưới thung lũng (tránh lũ quét hoặc sét đánh), nhà không được làm trên giếng cũ (để phòng ẩm thấp và khí độc), nhà không làm ở ngã ba đường (có thể nguy hiểm vì phương tiện giao thông)... Thuật phong thủy cũng có một số nhận định về cây trồng có lợi cho sức khỏe và sản xuất của cư dân nhưng lại kèm theo một loạt điểm báo vô căn cứ: cây cối bao quanh nhà thanh nhàn hạnh phúc, cây thùy dương trước cửa chết treo xà nhà, độc thụ chặn cổng mẹ góa con côi. trúc mộc quấn quýt đủ ăn nhiều lộc, cây hòe trước cửa vinh hoa phú quý... Nguồn nước quanh nhà cũng chia làm 6 loại cát hung và đều có ảnh hưởng đến gia chủ như: nước chảy uốn khúc đẹp gia cảnh phát đạt, nước hướng thẳng vào nhà mất người, ao to trước cửa không thọ, ao to sau nhà chết yểu... những điếu này không thể giải thích được nhưng thực tế thì lạc hậu vì thời nay ao cũng đang biến mất dần, đến cống rãnh cũng bị lấp đi xây nhà cho thuê thì ảnh hưởng của nước chỉ phụ thuộc vào mỗi nhà máy nước sạch và cùng lắm là thùng lọc gia đình mà thôi.

Về vấn đề nhà ở thì người xưa xây nhà rất hoành tráng (nếu so sánh với hiện nay): sân có tường rào, trong cổng có đình, tiếp đến sảnh lớn, bên trái là hiên, sau là buồng ngủ, bên phải là nhà học. Phòng ở còn chia làm 5 hình dáng theo tính chất ngũ hành, rồi kích thước nhà ở có quy định để tránh điềm dữ... những điều này cũng không ai lý giải được tại sao, có lẽ chỉ dựa vào kinh nghiệm phỏng đoán. Còn thời buổi bây giờ đất ở nông thôn cũng không nhiều để xây nhà thoải mái như vậy vì người đẻ đất không đẻ, thậm chí tại thành phố nơi tấc đất tấc vàng, sân chung tập thể cũng bị lấn chiếm làm của riêng thì ai dại gì bỏ phí từng cm2? phong thủy cũng cho rằng nhà ở tết nhất hình vuông, tường bao tết nhất hình tròn và cửa rất được coi trọng vì nó là khí khẩu (đường dẫn khí ra vào), cửa nên mở theo hướng dân gian ca tụng là Nam hoặc Đông - Nam thì rất thoáng mát nhưng dân mình còn sáng tạo cả nhà hình ống, nhà mỏng dính, nhà hình thang có cần gì đến phong thủy đâu? Nội thất trong nhà và các đồ dùng như giường, bếp, tủ đều phải đặt hướng tốt nhất nói vậy những gia đình ngũ đại đồng đường đến chỗ ngủ trên sàn còn thiếu nói gì đến xoay thường chọn hướng! Chỉ những nhà riêng 5 - 6 tầng diện tích mênh mông mới có điều kiện thực hành và bày đặt nội thất theo phong thủy và như vậy phong thủy chỉ có ý nghĩa với người giàu.

Qua phần đương trạch, thử bàn đến âm trạch. Người xưa cho rằng dương sao âm vậy nên nơi an táng tổ tiên ông bà cha mẹ cũng phải đàng hoàng, đẹp đẽ trước hết là chứng minh chữ hiếu, sau rồi ước muốn các cụ phù hộ cho hậu bối ăn nên làm ra, công thành danh toại. Chính vì tính thiêng liêng và tác dụng dài lâu này nên thuật phong thủy coi trọng âm trạch hơn đương trạch. Quan niệm chôn cất cũng là biểu hiện của nghi lễ nên mộ còn nhiều tên gọi khác nhau và thường do các pháp sư hay táng sư chủ trì nghi lễ. Gọi là phần mộ vì nó liên quan cả đến địa điểm chôn cất nữa. Phần mộ nguy nga và chuẩn mực nhất thuộc về các đế vương với những đặc điểm: diện tích rộng, trang trí bằng các hình điêu khắc đá như các động vật thiêng, binh lính hầu. Chỗ xây cất tốn kém nhất là tẩm, đây chính là nơi sinh hoạt của người chết ở ngay trong mộ. Trong khu mộ trồng cả cây, dựng bia đá, khắc tiểu sử công lao của người mất. Cứ như thế theo định chế cao thấp mà các đối tượng thấp hơn sẽ có mộ nhỏ hơn, những đồ tuỳ táng ít và không qúy, cuộc sống dưới âm nếu có cũng bình thường, còn đối với dân thì càng xoàng xĩnh và chỉ có các thầy phong thủy địa phương đứng ra chịu trách nhiệm tìm đất, chọn ngày giờ làm lễ, hướng dẫn gia chủ cách chôn cất sao cho có lợi nhất. Nhưng nếu áp dụng những hủ tục này vào xã hội bây giờ hẳn ta sẽ phát hiện nhiều điểm không ổn.

Thời trước còn chế độ phong kiến nên hình thức gia trưởng thống trị trong tư tưởng từng gia đình, khi đặt hướng mộ chỉ chủ yếu có lợi cho người đứng đầu gia đình hoặc trưởng tộc, chủ đất. Ngày nay mọi quan hệ đều bình đẳng, dân chủ và ai cũng muốn phấn đấu vươn lên trong xã hội, vậy nếu chỉ chọn hướng có lợi cho một người chủ hộ khẩu thì liệu có ích kỷ quá không? Còn muốn đặt hướng tốt cho cả nhà thì có khi phải xoay mộ theo cả 8 hướng mới đáp ứng cho tất cả mọi người được!

Điều kiện sống và thực lực vốn có của gia chủ sẽ quyết định việc đặt mộ theo hướng. Ví như ở nông thôn còn nghĩa địa làng hoặc nhà nào có đất riêng thì có thể đặt mộ theo hướng mình thích được (thậm chí các cụ còn cẩn thận lo trước cho mình cỗ áo gỗ tốt và xây trước sinh phần theo tuổi), còn ở những nghĩa trang quy hoạch thống nhất thì sao tự xoay mộ theo hướng vô nguyên tắc được? Hơn nữa, hiện nay phương pháp điện táng đang được đánh giá là văn minh và vệ sinh môi trường thì sau khi áp dụng phương thức này cần gì đến hướng đặt bình tro, chỉ cần một chỗ trên chùa là đủ.

Ngày xưa lạc hậu, sự sống chết do tự nhiên (vẫn gọi là số phận), còn ngày nay người ta chọn giờ mổ đẻ ra con quý tử và thậm chí chọn ngày giờ đẹp để rút ống thở ra cho cụ quy tiên! Vậy còn đâu là tính tự nhiên nữa, hoàn toàn do ý muốn chủ quan của con người chi phối kết quả. Nếu thế, tại sao ta không chọn giải pháp tôn trọng ý muốn của mình hơn là tung hô trí tưởng tượng của thầy phong thủy để đỡ phải tốn tiền oan?

Phong thủy là học thuyết cổ xưa nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến đời sống hoạ phúc của con người. Người xưa quan niệm số mệnh của một con người không chỉ phụ thuộc vào bản thân người đó (giờ, ngày sinh) mà còn chịu ảnh hưởng của âm phần và dương phần.

Phong thủy cũng từ đó chia làm hai lĩnh vực:

- Dương trạch: Là cuộc đất được dùng vào mục đích làm nhà cửa, đình, chùa, miếu mạo, thôn xóm, làng mạc, thị trấn, thành phố. Dương trạch phải hài hòa với thiên nhiên, có môi trường tốt đẹp, làm cho con người thấy vui tươi, mạnh khỏe, hạnh phúc. Dương trạch tốt tức là môi trường tốt.

- Âm trạch: Là cuộc đất dùng để chôn người chết, còn gọi là mồ mả. Phong thủy cho rằng, nếu người chết được chôn vào một cuộc đất tốt về phong thủy thì sẽ truyền được phúc đức cho con cháu đời sau.

Phong thủy không phải là yếu tố đơn lẻ mà là tổng hợp hàng loạt yếu tố về địa hình địa thế xung quanh nhà ở, thôn xóm, thành phố hoặc mồ mả, hướng gió, dòng nước cùng tọa hướng, hình dạng, bố cục mặt bằng không gian xây dựng. Phong thủy liên quan đến cát hung, họa phúc, thọ yểu, sự cùng thông của nhân sự. Cát ắt là phong thủy hợp, hung ắt là phong thủy không hợp.

Phong thủy có vai trò rất to lớn, tuy nhiên nó chỉ hỗ trợ, có tác dụng cải biến chứ không thể làm thay đổi hoàn toàn mệnh vận. Nó là nhân tố quyết định sự thành bại. Nếu phong thủy tốt sẽ giúp giảm thiểu được tai hoạ khi vào vận xấu, giúp gia tăng sự thành công và may mắn khi vào vận tốt.

Share this post


Link to post
Share on other sites

TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG THUẬT PHONG THỦY TRONG QUY HOẠCH XÂY DỰNG VÀ KIẾN TRÚC

PGS.TS Trần Trọng Hanh

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

I. Ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề

1.1. Thuật và thuyết phong thủy có mục đích và tôn chỉ “vị nhân sinh”: Bố trí chỗ ở tốt cho người sống, đặt mồ mả ở nơi đất tốt cho người chết nhằm mang lại “tài lợi” cho cuộc sống hiện tại và phúc lộc cho các thế hệ con cháu mai sau.

1.2. “Phong thủy” đã có quá trình lịch sử từ lâu (từ hơn 4 thế kỷ trước công nguyên), nó đã là một hình thức tôn giáo, văn hóa cổ xưa của các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam

1.3. Áp dụng Phong thủy đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho con người trong các lĩnh vực đời sống dân cư, đặc biệt là trong kiến trúc, quy hoạch xây dựng nơi cư trú, cho người sống và chôn cất cho người chết.

1.4. Phong thủy được hình thành và phát triển, trở thành thuyết và được nhiều nhà nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn.

1.4.1. Ở Việt Nam, thời Lê có ông Nguyễn Hữu Huyên, người làng Tả Ao, Hà Tĩnh, nổi tiếng về thuật Phong thủy, thường gọi là thẩy Tả Ao.

1.4.2. Ở các nước, đặc biệt là ở Trung Quốc, Phong thủy đã được nghiên cứu sâu sắc và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực từ hàng nghìn năm nay.

1.5. Chủ trương xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng và Nhà nước là tiền đề quan trọng cho việc nghiên cứu thuật Phong thủy trong kiến trúc, quy hoạch xây dựng, nhằm góp phần phát triền, nền kiến trúc Việt Nam tiến tiến, giàu bản sắc dân tộc.

1.6. Việc hiểu và nắm vững cơ sở lý luận về phong thủy giúp chúng ta phân biệt được đúng và sai, tà và chính và có hành động đúng trong việc áp dụng thuật phong thủy.

II. Cơ sở lý luận

2.1. Khái niệm

2.1.1. Định nghĩa:

Phong thủy là sự kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học, nhằm lựa chọn địa điểm xây dựng, bố trí sắp đặt cơ cấu quy hoạch xây dựng các điểm dân cư, các tòa nhà phòng ốc và đồ đạc một cách có lợi nhất, để đạt được sự hài hòa với môi trường xung quanh, nhờ đó mà có được sự phát triển bền vững.

Tuy nhiên, phong thủy không phải là thần dược. Người Trung Quốc quan niệm: “Nhất phúc, nhì mệnh, tam Phong thủy”. Mặt khác, Phong thủy không phải là “pháp thuật”. nó là sản phẩm của lịch sử và phục vụ cho cuộc sống con người.

2.1.2. Mục đích, tôn chỉ:

- Tìm đất, sắp đặt nơi cư trú cho người sống (dương trạch); tìm đất để chôn người chết (âm trạch);

- Tôn chỉ của Phong thủy là tăng phong (giữ gió); đắc thủy (được nước) và tụ khí (hội tụ sinh khí). Tôn chỉ này chi phối mọi quan hệ và giải pháp thiết kế theo phong thủy.

2.2. Các trường phái

2.2.1. Các trường phái cổ

Gill Hale trong tác phẩm “Nghệ thuật bài trí nhà cửa theo khoa học phương Đông” đã chỉ ra ba trườn phái có phương pháp tiếp cận khác nhau để giao tiếp với năm lượng hoặc cảm giác về một nơi chốn và thay đổi chi tiết để mang lại hiệu quả cho người sử dụng. Các trường phái gồm:

- Trường phái môi sinh: Sử dụng hiệu quả các điều kiện tự nhiên, trường phái này còn gọi là hình thể hay địa hình

- Trường phái la bàn: Xem xét thiên văn, đoán vận mệnh trên cơ sở dùng la bàn để chọn địa điểm thích hợp xây dựng chỗ ở cho con người. Trường phái này dựa trên kinh dịch, nhằm liên kết các dòng chảy năng lượng tự nhiên của vũ trụ.

- Trường phái trực giác: Mô phỏng và đặt tên cho các thế đất mang tính ẩn dụ như long hầu, hổ phục...Trong “Thủy Long kinh”, người xưa đã thể hiện chi tiết về những “cuộc đất tốt nhất để xây dựng nhà và cất mồ mả”.

2.2.2 Các nghiên cứu hiện đại

Giáo sư Du Khổng Kiên (Trung Quốc) trong tác phẩm “Phong thủy cảnh quan sống lý tưởng” đã chỉ rõ “Sách địa lý bắt đầu có từ Hoàng Thạc (cuối Tần, đầu Hán) được kế tục sang đời Tấn và thịnh hành ở đời Đường.

Trước 1950, các sách Phong thủy được thịnh hành ở đại lục Trung Quốc, sau bị cấm đoán, nhưng lại thịnh hành ở Đài Loan, Hồng Công và một số nươc Đông Nam Á.

Tuy nhiên, nhiều GS Trung Quốc đã luôn chuyên tâm nghiên cứu, phát triển thuyết phong thủy lên một tầm cao. GS Du Khổng Kiên nêu 3 đặc điểm tiến hóa của Phong thủy, trước hết là sự tìm kiếm mô hình vùng đất định cư như ý của người nguyên thủy; tiếp đó là tổng kết được kinh nghiệm của các mô hình Phong thủy ở những vùng đất trũng trong văn hóa nông nghiệp và cuối cùng là suy xét theo quan điểm triết học đối với thuyết phong thủy và dò tìm những hàm ý sâu sa của phong thủy.

Ở các nước phương Tây, sự quan tâm nghiên cứu phong thủy bắt đầu từ Yates (1868). Các giáo sĩ truyền đạo cơ đốc trong thời kỳ đầu đều cho rằng phong thủy là phép phù thủy (black art), mê tín và thuật lừa bịp. Chính phủ của nhiều nước cũng chống lại phong thủy để đảm bảo tiến bộ các công trình không bị các nhà phong thủy cản trở; vì vậy một số lượng lớn các sách phong thủy có giá trị đã bị đốt trụi.

Tuy nhiên, đến thế kỷ XX, thuyết Phong thủy đã thu hút được nhiều học giả phương Tây và địa vị của nó ngày càng cao. Năm 1973, Michell đã tuyên bố thời kỳ thay đổi quan niệm giá trị truyền thống của phương Tây. Bernett (1978) gọi Phong thủy là một loại sinh thái học vũ trụ (Astro- ecology). Ông cho rằng, Phong thủy lấy quan hệ giữa người và đất, người và vũ trụ làm nền tảng. Nhiều tác giả Skimer (1982), Su (1990), Rosspach (1903) đã tiếp tục phát triển thuyết phong thủy. Các học giả khác của phương Tây đã coi phong thủy phát triển ngang hàng với sinh thái và môi trường, từ đó hình thành tư tưởng thiết kế tôn trọng tự nhiên (Design with nature), được các nhà quy hoạch phương Tây lấy làm tiêu chuẩn cao nhất. Đến nay, nhiều người phương Tây đã cho rằng “Nếu đem mô hình phong thủy kết hợp với mô hình của phương Tây thì có thể cho chúng ta một nhận thức toàn diện hơn về thế giới, đặc biệt hơn là thế giới cuộc sống của chúng ta.”

2.3. Các nguyên lý của phong thủy

Các yếu tố chủ yếu của Phong thủy là gió và nước. Phong thủy là nghệ thuật kết hợp để ghép con người và định mệnh với môi trường xung quanh (tự nhiên hoặc nhân tạo), có tính tổng quát hoặc cục bộ. Phong thủy là sự pha trộn giữa Đạo giáo, Phật giáo, lý thuyết âm dương về sự cân bằng và hợp nhất với tự nhiên. Do đó, nguyên lý của Phong thủy được dựa trên 5 nhân tố: Đạo, Âm dương, Khí, Ngũ hành và Kinh dịch (bát quái).

2.3.1. Đạo

Là quá trình và nguyên lý để liên kết con người với vũ trụ “vạn vật đồng nhất đạo”, vì thế Đạo có tính bất biến. Nhờ đạo, con người có thể tìm kiếm được sự cân bằng và sự hoài hòa với hoàn cảnh.

2.3.2. Âm và dương

Là một cặp phạm trù vừa đối nghịch, vừa thống nhất nhau. Triết lý về các cặp phạm trù đã được các nhà triết học như Hegen, C.Mark...lý giải. Trong thiết kế, phong thủy tìm kiếm sự cân bằng và sự hài hòa cho một ngôi nhà và đem lại cho người cư ngụ sức khỏe và sự cân bằng cảm xúc.

2.3.3. Khí

Là hơi thở hoặc năng lượng. Năng lượng được hiểu là Long mạch, nuôi dưỡng khí đề làm giàu cuộc sống và khí của những người cư ngụ. Phong thủy ảnh hưởng đến khí của con người. Do đó, có thể dùng phong thủy để giúp gỡ rối được các “nút” ngăn chặn hạnh phúc, mục đích và hi vọng của con người.

Điều tiết và lưu thông các dòng khí là mục đích tiểm ẩn của phong thủy. Các dòng chuyển động: giao thông, thông gió, ánh sáng...phải hài hòa thông suốt “Thông bất thống và thống bất thông” là nguyên tắc của y học và cũng là của phong thủy. Trong điều hành công việc, hòa khí tạo ra sức mạnh và động lực (hòa khí sinh tài).

2.3.4. Ngũ hành

Là sự hài hòa khí của con người với ngôi nhà: Khí gồm :Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.

Ngũ hành kết hợp với màu sắc, thời gian, mùa màng, phương hướng, các tinh tú, phủ tạng... để điều chỉnh khí của người.

Ngũ hành có 2 chu kỳ: chu kỳ hình thành và chu kỳ hủy diệt.

2.3.5. Bát quái

Trong Phong thủy, một không gian có 8 góc và 8 cặp tam quái gọi là bát quái, được dùng để chuẩn đoán các sự bất cân xứng trong môi trường và đời sống, từ đó cải thiện sức khỏe, hạnh phúc và thịnh vượng. Khi thiết kế, phải xem xét những góc không bình thường của một ngôi nhà để có giải phá xử lý thoát đáng nhằm tạo sự cân bằng và hài hòa giữa chủ nhân và ngôi nhà.

3.1. Phạm vi áp dụng

Các nguyên lý của Phong thủy được áp dụng trong thiết kế mới, quy hoạch xây dựng hoặc cải tạo một vùng, đô thị, điểm dân cư nông thôn và thiết kế kiến trúc một công trình hoặc tổ hợp công trình được xây dựng trên một lô đất hoặc một thửa đất.

Nội dung áp dụng của phong thủy gồm:

- Lựa chọn địa điểm xây dựng một khu dân cư, khu công nghiệp hoặc một công trình có quy mô đủ lớn mà trong quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết chưa xác định.

- Quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết tổng mặt bằng một khu dân cư, khu kinh tế, khu công nghiệp và các khu chức năng khác.

- Thiết kế đô thị

- Thiết kế mặt bằng tổng thể một lô đất xây dựng công trình

- Nghệ thuật tạo hình trong thiết kế hình dáng công trình và trang trí các mặt chính của ngôi nhà

- Thiết kế trang trí nội, ngoại thất.

- Xử lý các “cản trở” trong quá trình khai thác và sử dụng ngôi nhà, mua bán kinh doanh bất động sản.

3. Một số áp dụng thuật phong thủy

Phương pháp phân bố nông nghiệp, lựa chọn địa điểm một khu công nghiệp (hoặc nhà máy), khu dân cư, các trung tâm, dịch vụ.... được trình bày kỹ trong lý thuyết kinh tế không gian (Weber, Lochs, W. Christaltier, V. Thuren....) và trong các nguyên lý quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị. Các phương pháp này đều dựa trên các yêu tố: Nội dung và quy mô đầu tư công trình, các điều kiện môi trường địa lý tự nhiên; mô hình lý tưởng... đề tìm địa điểm tối ưu, nơi hội tụ được nhiều điều kiện thuận lợi nhất, với chi phí giá thành thấp, nhưng hiệu quả kinh tế cao trong quá trình khai thác, sử dụng.

Thuyết phong thủy cũng dựa trên những yếu tố đó, nhưng mô hình phong thủy lý tưởng lại khác với các mô hình tổ chức không gian lý tưởng do các nhà quy hoạch nghiên cứu đề xuất: Ví dụ đối với một đô thị thường áp dụng những mô hình cơ cấu tĩnh, mô hình cơ cấu quá độ và mô hình cơ cấu mở (cơ cấu tuyến, song song...). Mô hình phong thủy lý tưởng là “Tả thanh long, hữu bạch hổ”, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ”. Trạng thái lý tưởng của mô hình này là Rùa thụt đầu, Phượng hoàng bay lượn, rồng xanh uốn mình và Hổ trắng phủ phục .

- Phương pháp tiếp cận như sau:

+ Xác định dữ liệu về công trình và các yêu cầu về địa điểm

+ Tìm chọn những phương án địa điểm có khả năng đáp ứng

+ Đối chiếu với mô hình phong thủy lý tưởng, so sánh chọn phương án địa điểm tối ưu.

3.2.2. Thiết kế, quy hoạch mặt bằng, phương pháp tiếp cận theo quan niệm Phong thủy: Tuân thủ các nguyên tắc của mô hình phong thủy lý tưởng và áp dụng các tiêu chuẩn, quy phạm hoặc các chỉ định về cát hung trong việc bố trí các khu chức năng phù hợp với 5 nguyên lý trong phong thủy.

- Các nguyên tắc chủ yếu trong thiết kế, quy hoạch, tổng hợp mặt bằng là:

+ Phân tích cảnh quan thiên nhiên, xác định bộ khung thiên nhiên và các yêu tố nhân tạo cần được tồn tại bảo vệ

+ Khoanh định các vùng đất có khả năng phát triển: vị trí, kích thước, hình dáng vùng đất.

+ Chọn hướng và trục hoàng đạo. Ví dụ một khu dân cư, hướng tốt được xác định theo nguyên tắc tựa sơn, đạp thủy và trục hoàng đạo (đường mong muốn) gắn với chu trình tiến hóa hoặc lộ trình phát triển mà không khai thông được các luồng gió lành (Nam, Đông Nam).

+ Xây dựng mô hình cấu trúc hợp với mô hình phong thủy lý tưởng trên cơ sở đó thiết kế các phương án bố cục tổng mặt bằng. So sánh lựa chọn phương án tối ưu theo quan niệm phong thủy. Người Trung Quốc thường lấy cái mô hình núi Côn Lôn, mô hình Bồng Lai, mô hình Hồ thiên và mô hình Đào Uyên Minh làm ví dụ. Theo GS Du Khổng Kiên, các mô hình trên đã đá ứng được các nguyên tắc của mo hình phong thủy lý tưởng, đó là:

Bao bọc và che chắn

Kề biển và nương sơn

Cách ly và thai tức (sinh sôi nảy nở)

Chỗ trống và hành lang (Minh đường được thông với thế giới bên ngoài)...

3.2.3. Thiết kế kiến trúc công trình

Theo phương pháp tiếp cận phong thủy, việc thiết kế kiến trúc công trình phù hợp với 5 nguyên lý của thuật phong thủy và được tiến hành theo trình tự sau:

a, Vị trí và hình dáng lô đất

Vị trí thuận lợi của chỗ ở tốt theo thuyết phong thủy là:

+ Có điều kiện tự nhiên tốt: Đất lành, chim đậu. Lý thuyết kiến trúc cũng khẳng định 3 yếu tố chủ đạo của tự nhiên là : đất đai, phong cảnh và khí hậu. Khi quan trắc vị trí có thể nhận ra khí của đất thông qua cỏ và thực vật trong vườn nếu có màu xanh, khi sẽ tốt lành và mạnh khỏe. Bãi cỏ trong vườn đây thảo mộc, cỏ hoa là dấu hiện của khí xung mãn. Động vật hoang dã hoặc thú, gia cầm khỏe mạnh, thể hiện sự sung mãn của khí đất (chim cá, vượn hót).

+ Những người láng giêng nếu nổi tiếng sung túc và thành đạt và thân thiện thì khí tốt.

+ Ngược lại, cần phải xét các đểm báo khí xấu: đèn bị cháy khi bật, kẹt khóa, chim chết trên sàn nhà...

+ Hình dáng lô đất: Các mảnh đất có hình vuông hay hỉnh chữ nhật là tốt nhất.

b, Môi trường xungquanh

Phân tích cảnh quan thiên nhiên: Núi và sông hồ là cảnh quan nhân tạo; nhà cửa, đường xá, xe cộ, người đi lại nhộn nhịp. Ngoài ra có thể khảo sát giá đất để xác định sự tốt, xấu của vị trí lô đất.

c, Chọn hướng và lối đi

- Hướng nhà: Hướng lãnh ( theo trạch mệnh tương phối) và gắn bó tốt với môi trường xunh quanh theo các nguyên tắc như phân tích ở phần 4.2.1.

- Lối đi: mở cửa chính tạo ra sự quan hệ hợp lý giữa trong và ngoài theo nguyên tắc: sông cái đổ vào biển, sông con đổ vào sông cái, còn kênh, mương thì đổ vào sông con...

- Tránh các tác động xấu từ bên ngoài dội trực tiếp vào cổng: phía trước như nhà tang lễ, vườn thú... đường cái đâm thẳng vào nhà như mũi tên, góc, đao đình...(ví dụ Dinh Độc lập, thành Tây đô (nhà Hồ). Tháo dỡ các rào cản làm vướng víu lối đi.

d, Bố trí sân, vườn, cây cối

Cây cối bố trí trong sân vườn phải tạ ra sự che chắn cái xấu, tạo sự cân bằng miếng đất, cải thiện điều kiện tự nhiên và tạo ra vẻ đẹp cho ngôi nhà. Nguyên tắc bố trí theo tiêu chuẩn quy phạm và chỉ định về cát hung được trình bày trong các sách về Phong thủy ứng dụng.

-Ao, hồ: Kích thước, vị trí của ao, hồ phải cân bằng với mảnh đất và phù hợp với mô hình phong thủy (tả thanh long)

e, Định vị ngôi nhà

Ngôi nhà được đặt ở trọng tâm lô đất là tốt nhất, sao cho tạo ra sự cân bằng được khoảng lùi phía trước và phần hậu của ngôi nhà. Đối với một thửa đất bố trí nhiều ngôi nhà, thì bố cục chiều cao cũng phải tạo ra được sự thăng bằng không gian.

g, Thiết kết mặt bằng

Mặt bằng ngôi nhà được thiết kết theo nguyên lý kiến trúc, phù hợp với các nguyên lý phong thủy, đồng thời tôn trọng các chỉ định của Phong thủy tạo ra môi trường sống tiện nghi nhất cho con người. Khi thiết kết mặt bằng ngôi nhà cần dựa vào các yếu tố sau:

+Trạch mệnh tương phối: được xác định theo tuổi của chủ nhà và người cư trú.

+ Bát quái

+ Các chỉ định cát, hung đối với từng căn phòng và bộ phận cấu thành. Đối với nhà ở các phòng ngủ, các phòng vệ sinh, bếp, phòng thờ là các bộ phận nhậy cảm cần phải được phân tích kỹ trước khi bố trí tầng mặt bằng.

+ Áp dụng các phép hóa giải: Giái sư LinYun đã đưa ra được 9 giải pháp hóa giải. Ông Tống Thiếu Quan cũng đưa ra nhiều phép hóa giải khác.

h, Bố trí các đồ đạc và trang trí nội thất

- Các đồ đạc trong phòng được bố trí theo nguyên tắc

+ Tiện lợi sử dụng (giải pháp công năng theo thiết kế kiến trúc)

+ Mệnh, trạch của chủ nhân

+ Bát quái

+ Các chỉ định cát, hung của phong thủy và thước lỗ ban

- Các giải pháp trangtrí: ánh sáng, vật liệu, màu sắc và các giải pháp hóa giải phù hợp khác.

- Tạo dáng ngôi nhà và trang trí mặt đứng được dựa vào các nguyên lý của nghệ thuật tạo hình và các nguyên lý của phong thủy.

3.2.4. Xử lý các rào cản, trắc trở trong quá trình sử dụng:

- Khi chủ nhân và gia đình có trục trặc, khó khăn, cần phải bình tĩnh tìm hiểu các nguyên nhân. Nếu nguyên nhân do ngôi nhà gây ra thì phải chuản đoán bệnh và hóa giải những gì xảy ra trong ngôi nhà được phản ánh trong đời sống và cơ thể của người cư ngụ. Ví dụ cánh cửa sổ bị vỡ thì mặt và tai người cư ngụ có thể có vấn đề....

- Các giải pháp hóa giải các cản trở của người cư ngụ trong quá trình sử dụng thường có tính huyền bí. Các giải pháp thường dùng gồm: Tăng cường tam nghiệp (thân hoặc nguyện, ngôn và ý định); bát quái; theo vết cửu tinh; bát môn luận; trị nội (ban phép bên trong), trị ngoại, bánh xe luân hồi và lịch sử ngôi nhà.

- Các giải pháp hóa giải trên là của Mật tông hắc phái, có thể tham khảo áp dụng thử nghiệm như một khảo cứu về phong thủy trong thiết kế kiến trúc và thiết kế đô thị.

III, Kết luận

1. Phong thủy là sự kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học, đã được tồn tại và phát triển từ nhiều năm nay. Lợi ích của phong thủy đã được khẳng định trong quá trình áp dụng, nhưng Phong thủy không phải là thần dược và cũng không phải là một sự mê tín dị đoan. Chỉ có quan niệm và sử dụng đúng thuật phong thủy thì mới mang lại hiệu quả và lợi ích thiết thực.

2. Nguyên lý của phong thủy là đạo; âm và dương;khí, ngũ hành và bát quái

Việc áp dụng cácnguyên lý của phong thủy trong quy hoach xây dựng và thiết kế kiến trúc không thể thay cho các khoa học thiết kế quy hoach xây dựng và thiết kế kiến trúc, mà nó chỉ bổ sung, hoàn thiện hơn ngành thiết kế này, nhằm phục vụ tốt hơn cho đời sống dân cư.

3. Hội KTS Việt Nam cần có các đề tài nghiên cứu sâu về Phong thủy để chuẩn bị điều kiện đưa và chương trình đào tạo cũng như hành nghề KTS phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam.

Share this post


Link to post
Share on other sites

TOÉT MẮT LÀ TẠI HƯỚNG ĐÌNH...

TS. Nguyễn Tiến Đông - Viện Khảo cổ học

Toét mắt là tại hướng đình.

Cả làng mắt toét riêng mình em đâu....?

Là cách giải thích về phong thủy của người nông dân hay nhất mà tôi được biết từ trước tới giờ.

Thực chất của cái sự toét mắt chắc chắn không phải tại cái hướng đình mà theo các nhà y tế là do ăn ở mất vệ sinh thôi, nhưng các cô thôn nữ vốn xinh đẹp, nay bị mắt toét lại đổ trách nhiệm cho việc chọn hướng đình của các cụ Tiên chỉ theo kiểu ấy thì thật to gan mà cũng quá tài tình, hơn nữa qua đó người ta mới thấy tầm quan trọng của thuật phong thủy trong kiến trúc, nhất là các công trình kiến trúc công cộng cỡ như cái đình làng.

Xưa, trong trường không có sách giáo khoa nào dạy cho chúng tôi về thuật phong thủy cả, vì lúc đó đụng vào lĩnh vực này là bị coi như mê tín dị đoan, mà các nhà khoa học thì không được tin vào những chuyện ấy.

Tuy nhiên, vì làm nghề khảo cổ, lại là học trò của các đại giáo sư như Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn... nên ngay từ lúc sinh viên chúng tôi cũng mon men học hỏi tý chút về lĩnh vực này qua việc các thầy bày cho dân cách chọn hướng nhà, cất mộ... và trực tiếp chỉ bảo sinh viên về chuyện hướng đình, chùa. Thời gian qua đi, tôi cũng vỡ ra được một điều là chuyện phong thủy, đặc biệt trong kiến trúc không phải chuyện mê tín dị đoan.

Trước đây tôi có đọc ở đâu đó và cũng được nghe một số người giải thích đình làng là phải quay về hướng Nam nhưng thực tế lại không phải như vậy. Có thể kể ra đây một lô những ngôi đình không quay về hướng Nam mà nó chỉ quay về hướng có con sông thôi và đúng theo thuyết phong thủy thì trước mặt của kiến trúc là trường lưu thủy và chắc chắn các cụ sẽ chọn thế đất để cất đình là bên tả có Thanh Long, bên hữu có Bạch Hổ, phía sau là Hắc Quy, trước có án (Châu Tước).

Như vậy là khi xây cất đình làng, vấn đề không phải là hướng mà là thế đất có hợp phong thủy không, có hội đủ các yếu tố về phong thủy đã nêu không? Theo giáo sư Hà Văn Tấn thì: “Nhiều người cho rằng đình là ở trung tâm của làng. Sự thật không phải bao giờ cũng như vậy. Vị trí của đình tùy theo đất dựng đình. Mà đất dựng đình thì được chọn theo quan niệm phong thủy trong tín ngưỡng truyền thống” (Hà Văn Tấn - Đến với lịch sử Văn hóa Việt Nam; tr 334). Sẽ có người hỏi rằng làng tôi không có sông chảy qua, không có núi lấy đâu ra trường lưu thủy Thanh Long, Bạch Hổ...

Xin thưa, Thanh Long, Bạch Hổ, Hắc Quy đâu chỉ là chuyện núi non mà là thế đất, mạch đất ở đâu cũng có và chỉ các nhà địa lý mới chỉ ra được (tất nhiên là các thầy địa lý này phải thực sự có kiến thức, hay nói đúng hơn là cao tay), còn trường lưu thủy thì tôi mượn ngay một câu trong bài hát của nhạc sỹ Hoàng Hiệp để trả lời “Quê tôi ai cũng có một dòng sông quê nhà”. Quả vậy, trên dải đất hình chữ S này đâu đâu cũng có một con sông, dòng suối, có thể nó không chảy trên đất làng của anh thì cũng làng bên, chuyện phong thủy đâu chỉ ở làng mà cần phải nhìn xa hơn, rộng hơn.

Cũng chính lý thuyết ấy có thể nói về các ngôi chùa, không phải chùa nào cũng quay về phía Tây, hướng quê Đức Phật đâu, các ngôi chùa Việt cũng cần một vị trí, một thế đất hợp phong thủy để xây cất chứ không nệ vào chuyện hướng Tây. Ta có thể thấy rõ cách chọn đất làm chùa theo quan niệm phong thủy qua một đoạn sách An tượng tam muội tập, bản in thời Nguyễn cất giữ ở chùa Xiển Pháp, thôn An Trạch, ở bên phải Văn Miếu: “Xây dựng chùa, chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt.

Đất tốt là nơi bên trái trống không, hoặc có sông ngòi, hồ ao ôm bọc. Núi hổ (hay tay hổ) ở bên phải, phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa sen, tràng phướn, lọng báu, hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà chầu bái. Đó là đất dương cơ ái hổ (nền dương có tay hổ) vậy. Cũng lại nên cưỡi đảo lại (đảo kỵ), như là người cưỡi ngựa thì đầu ở phía trước. Nước thì nên chảy quanh sang trái.

Nếu đảo kỵ, thì mạch nước lại vào ở phía trước. Trước mặt có minh đường hay không có minh đường đều được cả. Phía sau không nên có núi áp kề, thế là đất tốt. Còn để chọn ngày tốt, giờ tốt thì nên dùng các sách Ngọc Hạp, Tu Cát xem cho kỹ lưỡng. Nếu được như thế mới có thể hưng hiển được đạo pháp, người trụ trì nảy sinh trí tuệ, người thí chủ có công đức lớn, phúc ấm đến con cháu.

Nếu không làm như thế về sau tất đổ nát, không có công đức gì. Cho nên hãy cẩn thận!” (Dẫn lại Hà Văn Tấn. Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, tr 177). Chỉ vài dòng như vậy thôi thiển nghĩ cũng đã là đủ để thấy được tầm quan trọng của quan niệm phong thủy trong việc xây cất chùa chiền.

Đối với người Việt Nam, các kiến trúc cộng đồng như chùa, đình thực sự rất quan trọng, và đương nhiên, người dân khi xây cất những công trình đó phải hết sức thận trọng, trân trọng và kỹ lưỡng trong việc chọn không gian, thời gian để tiến hành công việc vì nó liên quan đến cuộc sống của cả một cộng đồng. Vậy còn cuộc sống riêng của từng con người, từng gia đình thì sao đây?

Các công trình nhà ở có cần đến thuật phong thủy không? Câu trả lời chắc chắn là có chứ, thậm chí còn cực kỳ quan trọng, nhất là trong thời buổi hiện nay. Thầy tôi, cố giáo sư Trần Quốc Vượng, mỗi lần có ai hỏi về chuyện làm nhà, dựng vợ gả chồng cho con cái thường hay trả lời bằng một câu trong dân gian: “Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam”.

Và rằng: Lấy vợ hiền hòa thì là lý tưởng rồi nhưng có phải ai cũng có may mắn vậy đâu, thôi cứ đổ tại duyên số. Nhưng làm nhà hướng Nam thì sao đây? Và ông cho rằng đó chính là cách sống, cách ở tuyệt vời nhất của người Việt Nam. Thích nghi với điều kiện thời tiết Việt Nam: nóng - ẩm - mưa nhiều - gió mùa nhiệt đới (Trần Quốc Vượng - Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm; tr 606). Như chúng ta biết, ở nông thôn miền Bắc các ngôi nhà chủ yếu quay hướng Nam để đón gió mùa hè mát mẻ đến từ hướng Đông Nam vào mùa hè và quay lưng tránh gió mùa Đông Bắc của mùa đông rét mướt.

Tất nhiên trong một không gian rộng rãi của vùng thôn quê ngày xưa, người ta có thể chọn và xây cất nhà theo ý chủ nhân. Còn hiện nay, trong thời buổi kinh tế thị trường, đất cát ở nông thôn cũng đã hiếm lắm, nhất là vùng châu thổ Bắc bộ, đất chật người quá đông, có được mảnh đất dựng nhà cũng là quý lắm rồi, hướng nọ hướng kia tính sau. Và vấn đề phong thủy tính sao đây?

Theo tôi hiểu thì sự việc được giải quyết rất đơn giản: Hướng nhà không được như ý thì quay hướng bàn thờ theo tuổi của chủ nhân cho hợp. Khi làm nhà phải xem tuổi tác của ông chủ hoặc mượn tuổi của ai đó trong dòng họ nếu chủ nhân còn quá trẻ.

Theo đúng nguyên tắc làm nhà xem tuổi đàn ông. Nếu miếng đất không được đẹp lắm như có con đường chạy thẳng hướng nhà, hay nóc nhà hàng xóm chĩa thẳng vào cửa nhà mình thì đành trồng cây hay xây một cái án trấn trước cửa, dán gương hoặc hình bát quái lên phía trên cửa giữa nhà mình để trừ tà ma, vận hạn...

Và vấn đề phong thủy ở các thành thị cũng được giải quyết như vậy bởi chúng ta quá biết ở các đô thị kiểu như Hà Nội và TP.HCM, Đà Nẵng... có nhà mà ở là tốt lắm rồi. Không được hướng nhà thì phải được hướng bàn thờ. Không có cách nào khác là phải thích nghi với điều kiện sống và giải quyết những vấn đề tâm linh theo kiểu khác.

Vừa qua tôi có được vinh dự tham gia khai quật và nghiên cứu Hoàng thành Thăng Long, tôi cũng đã vỡ ra được nhiều điều về việc kiến trúc phải thích nghi với điều kiện tự nhiên như thế nào. Việc chọn Thăng Long làm kinh đô của nước Đại Việt vào thế kỷ XI là một quyết định tuyệt vời của nhà vua Lý Công Uẩn, quyết định ấy thể hiện tinh thần độc lập dân tộc của vua tôi nhà Lý đồng thời cũng cho thấy sự tinh thông về phong thủy của tiền nhân.

Dời đô từ nơi chật hẹp là Hoa Lư về nơi có thế đất cao mà rộng... có rồng cuộn, hổ ngồi... đúng thật là nơi thượng đô cho muôn đời như tinh thần của Chiếu dời đô. Có được một kinh đô phù hợp với phong thủy như vậy, đất nước ta, dân tộc ta đã thực sự đi lên và chắc chắn sẽ thịnh vượng. Ngay ở Thăng Long, với điều kiện của một vùng đất lắm sông nhiều hồ, cha ông ta trải từ Lý - Trần - Lê đã xây dựng một kinh đô phù hợp với điều kiện tự nhiên.

Các dấu tích kiến trúc của Hoàng thành Thăng Long đều cho thấy một bố cục hài hòa với điều kiện sông nước, nhiều cung điện, đền đài quay hướng ra sông hoặc nằm ven những hồ nước, tạo nên một hệ thống kiến trúc với các con đường nước kết hợp với đường đi lối lại xây gạch rất hợp lý, thuận tiện cho việc di chuyển trong kinh thành.

Ngoài sự hợp lý của các công trình kiến trúc lớn nhỏ còn có một hệ thống thoát nước độc đáo bởi những con đường cống nằm ngay dưới hoặc bên cạnh các kiến trúc đổ nước thải ra những dòng chảy tự nhiên trong kinh đô. ở đây còn có một hệ thống giếng nước rất tốt để cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của cả hoàng cung. Hệ thống giếng nước này cho thấy kiến thức về tìm mạch nước của tiền nhân thật tuyệt vời. Đó chính là những bài học lớn cho chúng ta trong việc xây dựng Thủ đô hiện đại.

Bài học về nước của Hà Nội. Một thực tế là hiện nay các đường nước tự nhiên (sông nhỏ), các hồ nước của Hà Nội đã bị lấp gần hết và hậu quả là Hà Nội trở thành “Hà lội” mỗi khi có một trận mưa vừa phải chứ chưa nói đến mưa lớn. Và nếu cứ tiếp tục lấp đi những mạch nguồn thiên nhiên tức là đã tự cắt đi mạch nguồn tâm linh rất quan trọng của Thủ đô, của đất nước, mà hậu quả của nó thì thật khôn lường...

Tôi vốn là người không mê tín dị đoan, tôi không thích chuyện buôn thần bán thánh và vì vậy tôi không báng bổ thánh thần. Tôi chỉ là người tôn trọng và trân trọng quá khứ, lịch sử, tôn trọng những tinh hoa của văn minh nhân loại và trong đó có những kiến thức phong thủy.

Hiện nay, gần như tất cả mọi người từ quan chức đến người dân thường đều rất coi trọng phong thủy, đặc biệt là khi phải làm những việc lớn như xây dựng nhà cửa, xây cất mồ mả, khởi công các công trình lớn...

Cần phải thừa nhận sự thật ấy và cần phải có những công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc về phong thủy để có những hướng dẫn tốt cho cộng đồng tránh việc sa đà vào những chuyện mê tín dị đoan, trục lợi của một số người xấu về phong thủy để làm những việc không hay dẫn đến hậu quả không tốt cho xã hội.

TS. Nguyễn Tiến Đông - Viện Khảo cổ học

Share this post


Link to post
Share on other sites

NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT KHOA HỌC CỦA THUẬT PHONG THỦY

TS. Nguyễn Văn Vịnh

Viện nghiên cứu xã hội và phát triển- Đại học Hà Nội

Những năm gần đây, trong lĩnh vực kiến trúc và xây dựng ở Việt Nam vấn đề phong thủy, thuật phong thủy đã được tham khảo như một hạng mục cần thiết, nhưng không được thừa nhận một cách công khai vì khi nói đến vấn đề này nhiều người vẫn coi đây là lĩnh vực tâm linh, mang tính mê tín và dị đoan, có tình hình trên là do hơn nửa thế kỷ vừa qua chúng ta chỉ thừa nhận một hệ thống thế giới quan và phương pháp luận duy nhất Macxít – Leninnít. Vì vậy, các công trình xây dựng công cộng hay tư nhân nếu có tham khảo thuật phong thủy cũng chỉ là tự phát, tùy tiện và dựa cách ngẫu nhiên vào lòng tin của chủ công trình cới một thầy phong thủy nào đó mà không qua bất cứ hội đồng kiểm nghiệm, đánh giá nào, cho nên xuất hiện tình trạng “lắm thầy nhiều ma”, mỗi thầy một cách. Có một thực tế nữa là vào bất cứ nhà sách nào chúng ta cũng vẫn có thể tìm thấy hàng loạt các cuốn sách viết về xây dựng và kiến trúc, sắp xếp nội thất và ngoại thất theo thuật phong thủy..., đến mức những người ít kinh nghiệm chẳng biết mua sách nào cho phù hợp mục didchs sử dụng, đúng như tình trạng lạc vào rừng rậm. Việc các nhà sách có thể in và bán hàng loạt sách về phong thủy chứng tỏ hai vấn đề: Thứ nhất, thuật phong thủy đã được thừa nhận là cần thiết và có giá trị ứng dụng, thứ hai là xã hội thật sự có nhu cầu hiểu biết và ứng dụng thuật phong thủy.

Ở bài viết này chúng tôi không đề cập cụ thể về chi tiết kỹ thuật của thuật phong thủy mà chỉ đề cập đến những cơ sở khoa học và triết học của bộ môn này. Điều quan trọng có tính tiền đề phương pháp luận ở đây là chúng ta cần thừa nhận có ít nhất hơn một hệ thống thế giới quan đã và đang tồn tại trong lĩnh vực khoa học của nhân loại.

1.KHÁI NIỆM PHONG THỦY VÀ THUẬT PHONG THỦY

Cần nói ngay đây là các khái niệm khác nhau, phong thủy là mộtkhái niệm chung chung dùng để chỉ địa hình,phong cảnh, là sự tồn tại khách quan của các yếu tố tự nhiên nói chung. Còn thuật phong thủy là hoạt độngchủ quan của con người đối với tồn tại khách quan.Thuật phong thủy chúng tôi đề cập ở đây là một môn học trong hệ thống học thuật Trung Hoa mà chúng ta tiếp thu qua quá trình giao lưu và tích hợp văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa.

Từ điển “Từ Hải” định nghĩa: “Phong thủy cũng là kham dư, một loạimê tín của Trung Quốc cũ, cho rằng đất đai, nơi ở hay chung quanh nơi mồ mả, các thứ hình thể như hướng gió, dòng nước chảy và có thể gây nên họa phúc cho cả nhà người ở hay cả nhà người táng nơi đó...cũng chỉ là cách dựng nhà, lập mộ”.

Từ điển “Từ Nguyên” định nghĩa: “thuật phong thủy là chỉ địa thế,phương hướng...của đất hay mồ mả. Thời xưa mê tín cho rằng có thể gây nên phúc họa may rủi cho con người”.

Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới định nghĩa: “Từ Geomancie- Khoa bói toán dựa vào đất hoàn toàn không sát hợp để chỉ một môn khoa học cổ truyền có giá trị vũ trụ luận đích thực, mà việc nghiên cứu hiện nay về các bí mật của gió và nước (Phong thủy) chỉ là phần sót lại...Khoa học biểu trưng này được ứng dụng đầu tiên ở Trung Quốc gọi là “hình phả”- nghệ thuật về các hình thế và địa thế. Đây là sự xác định những ảnh hưởng giúp con người sống hài hòa với khung cảnh tự nhiên và như vậy hài hòa với trời đất. Thuật phong thủy dùng để xác định sơ đồ mặt bằng của thành phố, các pháo đài. Phong thủy còn được dùng đề xác định vị trí và phương hướng của nhà cửa và mồ mả và thậm chí cả những quy tắc chiến thuật chiến lược. Sự hòa hợp thỏa đáng của các ảnh hưởng mà ta cần tận dụng nó là sự hòa hợp của Âm và Dương; nó được biểu thị bằng những dòng nước và dòng khí ít hơn là bằng những dòng năng lượng sống mà người ta phát hiện ra ở dưới mặt đất nhờ những la bàn bói đất. Những dòng này mang tên hiệu đối kháng như Thanh Long, Bạch Hổ. Cũng thể các địa thế địa hình còn cần phải xác đingj sao cho hài hòa với vị trí các tinh tú trên trời, và sự thành công của phép tính toán còn lại phụ thuộc cả vào phẩm chất cá nhân của người tính toán.Tính thẩm mỹ của cảnh quan được sắp xếp là hệ quả đồng thời của sự hài hòa của vũ trụ và phẩm chất con người có khả năng nắm vững và thể hiện sự hài hòa ấy.”

Chúng tôi dẫn ra đây vài định nghĩa có tính khái quát những quan niệm về thuật phong thủy đã và đang tồn tại hiện nay. Nhân đây chúng tôi cũng đưa ra quan niệm riêng của mình để sử dụng cho công việc: Thuật phong thủy là phương pháp chọn lựa những điều kiện tối ưu cho các loại công trình xây dựng và kiến trúc nhằm đạt được sự hài hòa giữa con người và môi trường xung quanh. Ở đây, chúng tôi coi thuật phong thủy là một phương pháp để tham chiếu,bên cạnh các phương pháp đang ứng dụng. Nếu loại bỏ những yếu tố huyền bí thì thuật phong thủy là một khâu rất quan trọng của các công trình xây dựng. Nó có mặt trái mặt ngay từ giai đoạn khảo sát, thiết kế, đến thi công trong khoa kiến trúc và xây dựng của các quốc gia nằm trong phạm trù văn hóa Trung Hoa.

2.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THUẬT PHONG THỦY

Cơ sở lý thuyết khoa học của thuật phong thủy chủ yếu dựa vào những học thuyết về sự hình thành của vũ trụ và các quy luật vận hành của vũ trụ. Đó là học thuyết Âm Dương, học thuyết Ngũ Hành, và ngành thiên văn học cổ, trong đó hai khái niệm cơ bản là khí và đạo là hai khái niệm chủ đạo được dùng phổ biến theo nhiều cấp độ và các văn cảnh khác nhau. Cho đến ngày hôm nay những đánh giá về mặt khoa học và những ứng dụng trong đời sống xã hội đối với các học thuyết có tầm vũ trụ quan của Trung Quốc vẫn là các vấn đề đang còn để ngỏ. Sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu qua các học thuyết này để tiện theo dõi.

2.1. Học thuyết Âm- Dương vốn là học thuyết về nguồn gốc phương thức vận động của vũ trụ được thể hiện đầy đủ và hoàn thiện trong tác phầm kinh Dịch (một tác phẩm đứng đầu trong hệ thống tri thức và học thuật Trung Hoa, một cuốn sách chủ yếu dùng vào việc bói toán), theo đó: Khởi thủy vũ trụ tồn tại ở thể khí trong trạng thái tĩnh lặng chưa có vận động gọi là Thái cực (còn gọi là thái hư, thái huyền), khi có vận động Thái cực chia làm hai loại khí: khí tĩnh là Âm và khí động là Dương. Âm có tính chất tĩnh tại, nặng, đục, tối. Dương có tính chất động, nhẹ, trong sáng...Hai khí Âm và Dương liên tục vận động sinh ra bốn khí, bốn khí sinh ra tám khí... (thái cực sinh lướng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái). Người ta dùng một vạch liền (-) để ký hiệu khái niệm dương và vạch đứt (--) thể hiện khái niệm âm- tương truyền do Phục Hy đặt ra. Sự tương tác và kết hợp giữa Âm và Dương tạo ra những yếu tố mới trong vũ trụ, song các yếu tố này tuân theo một logic nhất định ởhai cấp. Cấp thé nhất ba vạch âm-dương kết hợp ngẫu nhiên tạo ra 8 yếu tố (còn gọi là 8 quẻ đơn) cụ thể trong vũ trụ (chỉ là ba vạch vì theo sự quan sát trực cảm, thế giới được cấu tạo từ trên xuống dưới gồm trời- người-đất) gồm: càn (trời), khảm (nước), cấn(núi), chấn (sấm), tốn (gió), ly (lửa), khôn (đất), đoài (ao, hồ, đầm lầy). Tám quẻ đơn được sắp xếp trong hình vuông chia thành 9 ô gọi là cửu cung, một cung được quy ước với một con số trong hệ đếm từ 1 đến 9. Thứ tự như sau: quẻ khảm ứng với số 1 ở phương chính Bắc, quẻ Cấn ứng với số 8 ở phương Đông Bắc, quẻ Chấn ứng với số 3 ở phương chính Đông, quẻ Tốn ứng với số 4 ở phương Đông Nam, quỷ Ly ứng với số 9 ở phương chính Nam, quẻ Khôn ứng với số 2 ở phương Tây Nam, quẻ Đoài ứng với số 7 ở phương chính Tây, quẻ Càn ứng với số 6 ở phương Tây Bắc, ô ở giữa ứng với số 5 gọi là cung trung. Hình vuông 9 ô này còn gọi là hình ma phương có đặc điểm là kết quả của 3 ô cộng theo chiều bất kỳ nào cũng là 15 (hình ma phương này trong nhiều nền văn hóa khác còn được dùng để làm những lá bùa hộ mệnh). Tám quẻ (bát quái) xếp vào cửu cung là cơ sở hết sức quan trọng cho tất cả các thuật chiêm bố nói chung và thuật phong thủy nói riêng. Cấp thứ hai tám yếu tố này khi kết hợp với nhau tạo ra 64 yếu tốhay 64 sự kiện (còn gọi là 64 quẻ kép) tượng trưng cho quá trình vận hành của vũ trụ ở các giai đoạn khác nhau. Học thuyết này không thực sự phức tạp như mọi người vẫn quan niệm song đủ phong phú để diễn đạt các quá trình vận động của vũ trụ. Nhìn dưới góc độ của khoa học hiện đại, học thuyết Âm- Dương dựa trên hai nguyên tắc lớn :Thứ nhất, vũ trụ khi mới hình thành tồn tại ở thể khí ( giả thuyết về vụ nổ lớn trong vật lý vũ trụ hiện đại đã khẳng định điều này); thứ hai, sự vận động của thế giới là theo nguyên tắc Nhị phân (1 thành 1, 2 thành 4) đây cũng là nguyên lý sinh thành của thế giới hữu sinh- ngay những phần tử nhỏ nhất là những tế bào cấu tạo nên những cơ thể sinh vật phức tạp nhất cũng phát triển theo nguyên lý này- hơn nữa, nguyên lý nhị phân này còn là cơ sở nền tảng của ngành tin học hiện nay. Nói tóm lại, học thuyết âm dương là học thuyết duy vật về sự hình thành và vận động của vũ trụ. Mặt khác nó còn thể hiện tính chất biện chứng rất cao trong quan niệm về sự tồn tại của Âm-Dương (trong Âm có dương, trong dương có âm) và quá trình chuyển đổi từ âm sang dương và ngược lại (âm cực thì dương sinh, dương cực thì âm sinh) theo nguyên tắc sự chuyển đổi các mặt đối lập. Tất cả sự tồn tại của sự vật và hiện tượng trong thế giới đều là sự kết hợp giữa Âm và Dương (nhất âm nhất dương chi vị đạo- một âm một dương là đạo), trong đó Âm là yếu tố sinh thành còn Dương là yếu tố phát triển (âm sinh dương trưởng)

2.2. Học thuyết Ngũ hành: Đây là học thuyết về năm yếu tố cấu thành vũ trụ. Theo học giả Phùng Hữu Lan: “ngũ hành thường được quan niệm là 5 yếu tố tĩnh mà nên coi là 5 thứ lực động có ảnh hưởng đến nhau. Từ “hành” có nghĩa là làm, hoạt động, cho nên từ ngũ hành theo nghĩa đen có nghĩa là 5 hoạt động hay 5 tác nhân. Người ta cũng gọi là “ngũ đức” có nghĩa là 5 thế lực”. Sự đề cập đầu tiên đến ngũ hành là ở tác phẩm “Kinh thư” – một bộ sử cổ nhất của nhân loại- trong phần về cửu trù hồng phạm, theo đó Ngũ hành là :thủy, mộc, thổ,hỏa, kim. Trong đó, thủy là ướt và xuống, mộc là cong và thẳng, hỏa là cháy và lên, thổ là để gieo mạ làm mùa, kim là theo và đổi. Phải đến thế kỷ thứ 3 TCN học thuyết ngũ hành mới được hoàn thiện bởi nhà triết học Trâu Diễn. Năm yếu tố ngũ hành được tổ chức theo hai chiều ngược nhau gọi là tương sinh và tương khắc: chiều tương sinh là: thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy (đây là một vòng tròn khép kín). Chiều tương khắc là : thủy khắc hỏa, hoản khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổ và thổ khắc thủy (đây cũng là một vòng tròn khép kín). Có một vấn đề cần nói thêm ở đây là trong lịch sử triết học cổ đại, các nền triết học lớn của loài người (Hy Lạp, Ấn Độ) khi đi tìm bản thể của thế giới đều cho rằng thế giới được cấu thành từ đất, nước, lửa và không khí, song cũng chỉ dừng ở đó. Chỉ có ở Trung Quốc, các yếu tố cấu tạo nên thế giới được xác định là 5 và hơn nữa còn được tổ chức quan hệ với nhau theo hai chiều như đã nói ở trên. Học thuyết này ra đời trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm, những quan sát có tính trực quan, và do đó, nó có tính ứng dụng thực tiễn rất cao trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội- người ta dùng Ngũ hành để chia tất cả các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội (ngũ âm, ngũ sắc, ngũ vị, ngũ nhạc, ngũ giác quan, ngũ đức, ngũ luân, ngũ thường...) Trong thuật phong thủy, các hình thể, kể cả phương hướng, đất đai, sông núi đều được phân chia theo ngũ hành, sau đó căn cứ sự sinh hay khắc của ngũ hành để quyết định cát hung.

Học thuyết ngũ hành sau khi ra đời và hoàn thiện kết hợp với học thuyết âm dương trên cơ sở ngũ hành hóa tám quẻ đơn nên thường được gọi chung là học thuyết Âm dương-ngũ hành.

2.3.Khí- Đạo: Hai khái niệm quan trọng trong thuật Phong thủy: đây là hai khái niệm mà tất cả các phái triết học, ngành y học, thiên văn học, lịch số, chiêm bốc...đều sử dụng một cách phổ biến và rộng rãi, có nội hàm rất rộng, qua các thời đại khác nhau chúng liên tục được bổ xung và rất đa nghĩa.

Trước hết khái niệm Đạo: Đây là khái niệm trung tâm trong truyền thống triết học Trung Quốc, đạo trước hết là con đường, đẩy lên một bậc nữa nó là quy luật tất yếu của thế giới, là nguyên tắc cấu trúc và biến hóa của sự vật, hơn nữa nó còn là bản thể của thế giới (Đạo là mẹ của muôn vật), Đạo là siêu thời gian, siêu không gian. Để nhận thức được Đạo người ta phải vận dụng tư duy lý tính siêu việt, người nhận thức hết được Đạo là thánh nhân, với nguyên tắc “vạn vật nhất thể” và thế giới cấu trúc theo ba tầng (Thiên- Địa- Nhân) thì sẽ có Thiên đạo, Địa đạo và Nhân đạo, trong đó Thiên đạo là Âm- Dương, là sự vận hành của các thiên hà, thiên hệ, tinh tú chu lưu trong khoảng không bao la theo một trình tự nhất định: Địa đạo là thủy-hỏa-phong chu lưu khắp mặt đất làm nên sự sinh hóa và nuôi dưỡng vạn vật; nhân đạo là tinh túy của thiên địa, là luân thường đạo lý của con người, hướng con người tới Chân-Thiện-Mỹ.

Khí là khái niệm hết sức phức tạp, trước hết, đó không phải là không khí nói chung, mà là nguồn năng lượng vũ trụ có khắp mọi nơi, ở tất cả vật thể, đất, nước, con người, cây cỏ, tóm lại khí tồn tại cả ở thế giới vô hình và thế giới hữu hình. Tất cả mọi sự vật sinh ra hay mất đi đều là sự tụ lại hay tan đi của khí, khí là bản thể cao nhất tồn tại ở hai dạng: Khí âm và khí dương. Trong lý luận cơ bản của thuật phong thủy Khí là yếu tố hết sức quan trọng nó tồn tại dưới các tên gọi: Thừa khí, tụ khí, đắc khí, ngoại khí, nội khí, cát khí, hung khí, thực khí, hư khí...và quan trọng nhất là sinh khí (một trong những ông tổ của phong thủy học là Quách Phác trong tác phẩm “Táng thư” đã đề xuất “thuyết sinh khí” là lý luận căn bản nhất của các học thuyết phong thủy sau này). Theo Phong thủy học, âm khí bốc lên gọi là mây, Dương khí giáng xuống gọi là mưa, khí tiềm ẩn dưới lòng đất gọi là Sinh khí. Sinh khí vận hành tùy theo lòng đất, đất là mẹ của khí, có đất tất có khí”Đất có khí tốt, đất tùy khí mà nên, hình thành ở bên ngoài” – Táng kinh dực. Biểu hiện của Sinh khí có thể là các ngọn núi, mạch đất nhô cao, gặp nước thì dừng lại, gặp gió thì tản mác ra bốn phía. Vì vậy, điều quan trọng nhất của thuật phong thủy là tìm được nơi tụ sinh khí, có sơn thủy bao quanh để sinh khí phát tán nuôi dưỡng vạn vật. Sự sống của con người là kết quả của hội tụ sinh khí, sinh khí ngưng kết thành cốt cách của con người, khi chết da thịt tan đi nhưng xương cốt vẫn còn, vì vấy nếu đem thi thể của tổ tiên, cha mẹ táng vào nơi sinh khí hội tụ, thì con cháu sẽ được phúc-thọ-khanh-ninh-phú-quý...Đó là cơ sở lý luận của Âm trạch Phong thủy. Đối với Dương trạch phong thủy thì có khác, sinh mệnh con người đã do sinh khí tạo nên, nếu tìm được mảnh đất sinh khí nuôi dưỡng từ lòng đất đương nhiên là tốt nhưng công hiệu chậm, vấn đề ở chỗ con người còn luôn luôn thở hít khí trời, đây là nguồn năng lượng trực tiếp nuôi dưỡng cơ thể, vì vậy đối với dương trạch phong thủy vấn đề chọn hướng mở cổng, cửa, sắp xếp bố cục cho nội ngoại thất phù hợp với gia chủ là điều hết sức quan trọng, để tiếp nhận vượng khí, loại trừ tà khí.

1.1. Vấn đề thiên văn học và lịch số với thuật phong thủy

Ngay từ thời cổ xưa cách đây hơn 4000 năm, người Trung Hoa đã có những quan sát tính toán về mặt thiên văn học. Nền thiên văn học cổ Trung Quốc ngoài trái đất, mặt trăng, mặt trời còn xác định được 4 chòm định tinh trong hệ thống các tinh tú của thái dương hệ. 4 chòm gồm 28 sao đó là : Phía Đông có 7 Sao gồm Giác (Sao Mai), Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ; Phía Bắc 7 sao gồm: Đẩu (sao Bắc Đẩu cho đến hiện nay ngành thiên văn vẫn lấy để định vị phương Bắc), Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích; phía Tây 7 sao gồm Khuê (sao Hôm), Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm; phía Nam gồm 7 sao Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau hệ thống 28 Tinh Tú này còn được Âm Dương Ngũ Hành hóa, mặt khác các khu vực địa lý khác nhau trên trái đất cũng được chia theo vị trí thiên văn ucủa các định tinh này. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà phong thủy tham khảo và xử lý kỹ thuật cho các công trình xây dựng, kiến trúc. Ngành Phong thủy học ngoài việc dựa vào các học thuyết vũ trụ quan trong hệ thống tri thức khoa học Trung Hoa cổ còn dựa vào các học thuyết vũ trụ quan trong hệ thống tri thức khoa học Trung Hoa cổ còn dựa vào ngành lịch số để đưa ra những phương án xử lý cụ thể. Lịch số là hệ thống đếm các khoảng thời gian như: Giờ, Ngày, Tháng, Mùa, Năm, Thế, Vận, Hội...Theo một quy luật nào đó. Thường là dựa vào các chu kỳ trong tự nhiên, đặc biệt là sự chuyển động biểu kiến của mặt trời, mặt trăng mà người ta quan sát được từ Trái Đất. Đối với các nền văn minh Nông nghiệp lấy trồng trọt làm chính (Khác với việc Chăn nuôi làm chính) thì việc xác định các quy luật vận động của thời tiết để định ra mùa vụ gieo trồng là rất quan trọng. Lịch xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc cổ đại dựa trên sự quan trắc, chuyển động của Trái đất, Mặt trăng, Mặt trời. Người ta nhận thấy một vòng chuyển động của Mặt trăng quanh Trái đất là 29,5 ngày còn gọi là 1 tháng,và 12 lần như vậy thì các chu trình lặp lại gọi là 1 năm. Như vậy 1 năm sẽ là 354 ngày (12 tháng), tháng thiếu là 29 ngày, tháng đủ là 30 ngày. Lịch này gọi là Âm lịch, trên thế giới có nhiều dân tộc dùng loại Âm lịch thuần túy này. Sự ảnh hưởng của thời tiết lên trái đất không chỉ phụ thuộc vào mặt trăng mà còn phụ thuộc vào Mặt Trời, trong đó Trái Đất chuyển động theo quỹ đạo của Mặt trời hết 365, 25 ngày, vì vậy người Trung Hoa cổ từ rất sớm đã nghĩ ra cách điều chỉnh sự chênh lệch giữa lịch Mặt Trăng và Mặt Trời bằng cách đặt ra các tháng nhuận theo 1 quy định gọi là Lịch Tiết Khí (Lấy 4 thời điểm Lập Xuân, Hạ chí, Lập Thu, Đông chí làm chuẩn). Lịch tiết khí của người Trung Quốc chia 1 năm thành 24 tiết khí, ngoài ra còn được cụ thể hóa bằng hệ thống thiên can và địa chi, vì vậy người ta còn gọi lịch này là lịch Can Chi. Mười Thiên Can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mười hai Địa chi là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. 10 &12 chi cũng được Âm- Dương, Ngũ hành hóa. Hơn nữa, sự kết hợp Can và Chi còn tạo nên một đơn vị đo thời gian gọi là Lục thập hoa giáp, dùng để định danh, phân chia theo Ngũ hành cho giờ (một ngày đêm được chia thành 12 giờ), Ngày, Tháng, Năm. Như vậy, hệ thống lịch của người Trung Quốc mà chúng ta tiếp thu để chia thời gian thực tế là Âm- Dương lịch chứ không phải là Âm lịch như mọi người vẫn quan niệm. Hệ thống lịch pháp này có tầm ứng dụng phổ biến cho đời sống xã hội, từ việc định mùa vụ cho các hoạt động nông nghiệp còn ứng dụng trong việc cưới gả, ma chay, chữa bệnh, khởi công động thổ các công trình Âm trạch, Dương trạch, khai trương việc buôn bán, xuất hành, cúng tế...vì sự phức tạp như vậy của hệ thống lịch số Trung Hoa nên trong các triều đình luôn tồn tại một cơ quan chuyên nghiệp để theo dõi, chỉnh sửa và sản xuất lịch, việc ban hành lịch và sự kiện quan trọng trong quốc gia. Việc sử dụng lịch cũng đòi hỏi người sử dụng có một hệ thống tri thức và học thuật nhất định chứ không phải ai cũng sử dụng được.

1. SƠ LƯỢC VỀ THUẬT PHONG THỦY

Thuật phong thủy ra đời rất sớm ở Trung Quốc cổ đại, trải qua nhiều giai đoạn phát triển trong lịch sử đã hình thành một hệ thống các khái niệm, kinh sách và các trường phái khác nhau. Có lẽ do tính quan trọng thực tiễn của thuật phong thủy nên có rất nhiều học giả nghiên cứu và do đó số lượng kinh sách về môn học này rất nhiều và phức tạp. Song có 4 yếu tố của thuật phong thủy mà mọi trường phái đều sử dụng là : Hình-lý-khí-số. Trong đó hình là hình thế đất đai, dòng nước, cấu trúc của các công trình xây dựng kể cả Âm trạch lẫn Dương trạch; Lý là quy luật vận động của Thủy- Họa-Phong; Khí là năng lượng của vũ trụ ẩn tàng trong các vật thể, đất, nước, con người...Còn số là 9 con số của Kinh Dịch quy ra các quẻ. Điều kiện quan trọng để nhận thức được hình- lý- khí-số đòi hỏi con người phải có một năng lực trí tuệ và đạo đức nhất định gọi là tâm. Tâm là cái cốt lõi của sự cảm ứng của con người với trời đất. Về đại thế, thuật phong thủy cho đến nay gồm 4 trường phái lớn: Bát trạch minh cảnh, Huyền không học, huyền thuật phong thủy, cổ dịch huyền không học. Ngoài ra hiện nay còn có thêm trường phái cảm xạ phong thủy. Đây là trường phái tích hợp nhiều xu hướng nghiên cứu Phong thủy khác nhau. Về cơ bản, các trường phái là đại đồng tiểu dị, tùy theo các quan niệm mà nhấn mạnh một trong bốn yếu tố hình-lý-khí-số.

Tổng quan lại thuật Phong thủy nói chung đều dựa vào hệ thống các học thuyết về bản thể vũ trụ, các học thuyết về các quy luật vận hành của vũ trụ, như học thuyết Âm dương- Ngũ hành, thiên văn học, lịch số để đưa ra các phương án tối ưu cho các công trình xây dựng và kiến trúc, nhằm đạt được sự hài hòa của con người với vũ trụ. Không chỉ thuật phong thủy mà tất cả các phương pháp dự đoán và chiêm bốc (Nhâm, Cầm, Độn toán, Tử vi, Tướng số...) đều lấy học thuyết Âm dương- Ngũ hành và hệ thống thiên văn, lịch số làm sơ sở nền tảng. Đặc biệt trong Y học truyền thống, các học thuyết về vũ trụ quan còn là nguyên tắc cho quá trình chẩn trị bách bệnh (con người trong quan niệm của Trung Hoa là một tiểu vũ trụ). Tính ứng dụng đa năng của các học thuyết vụ trụ quan của nền học vấn Trung Hoa dựa trên nguyên tắc có tính phổ quát: Tất cả các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ kể cả Không gian và thời gian đều thống nhất với nhau ở tính vật chất, vì vậy giữa chúng có thể quy đổi lẫn nhau theo hai chiều xuôi và ngược thông qua các học thuyết về bản thể và vận hành vũ trụ (học thuyết Âm dương- Ngũ hành). Độ dung sai trong quá trình ứng dụng thực tiễn của các học thuyết này dã được kiểm nghiệm qua nhiều nghìn năm lịch sử, và có lẽ trong một tương lai gần, việc chứng minh tính tương đồng giữa các học thuyết về vụ trụ quan Trung Hoa với khoa học hiện đại là một hiện thực. Theo chúng tôi, việc ứng dụng và đánh giá về các ứng dụng trong đời sống xã hội nói chung và trong thuật phong thủy nói riêng của các lý thuyết khoa học vũ trụ quan Trung Hoa trên quan điểm thực chứng khoa học của Phương Tây cần phải dựa trên cảm quan khoa học mới và nhiều tính khách quan hơn.

Share this post


Link to post
Share on other sites

SỰ SINH TỒN THUẬT PHONG THUỶ

ĐỊA LÝ HUYỀN THOẠI VÀ CHÚNG TA

PGS.TS.KTS Trương Quang Thao

Hội kiến trúc sư TPHCM

“Hãy về với mẹ ta thôi

Một mai chết xuống mồ côi dưới mồ”

(Thơ Đồng Đức Bốn)

Chúng tôi không có ý định bằng bài viết ngắn này cho hội thảo, trình bày một cách có hệ thống về phong thuỷ như một trong các sản phẩm văn hoá bí ẩn của phương Đông. Và cũng do tri thức của chúng tôi về phong thuỷ theo cách của các thầy địa lý từng làm ngày xưa hầu như là con số không tròn trĩnh, nên cũng sẽ không có chuyện chúng tôi sẽ góp phần tán thưởng, bình phầm hay mách nước về các thủ thuật kiếm tiền trên sự nhẹ dạ và cả tin của những kẻ còn mê muội.

Song chúng ta cũng không thể làm ngơ trước hiện tượng là hiện nay sách báo về phong thuỷ đang tràn ngập: dịch từ tiếng Hoa và các ngôn ngữ phương Tây có, đạo từ các sách cổ của cụ Tả Ao có, từ các tác giả Singapore, Đài Loan, Tây Tạng...rồi xào xáo lại để đưa bán trong các hiệu sách chính quy và các quầy vỉa hè. Nghĩa là ta đang ra sức dung tục hoá một phương thuật, đúng hơn là một thực hành xã hội (social praxis) từ thời thượng cổ và hằn sâu vào vô thức tập thể (the collective unconscious) của các dân tộc nằm trong vùng ảnh hưởng của nền văn minh Hán hoá.

Chúng tôi đặt mục tiêu vào các điều khiêm tốn sau:

1. Tìm hiểu, hay đúng hơn là chúng tôi đã hiểu thế nào về phong thuỷ, các cơ sở làm chỗ dựa cho phương thuật ấy; hai trường phái của phong thuỷ và lý phái và hình phái cùng các công cụ của các phái ấy.

2. Dựa vàp những thông tin và tri thức chúng ta học hỏi được về văn hoá nguyên thuỷ, về lịch sử tín ngưỡng và tôn giáo về huyền thoại học, về biểu tượng học và về địa lý học... để nhìn nhận phong thuỷ như một thứ điạ lý (học) huyền thoại.

3. Vài ý kiếm sơ bộ về sự sinh tồn của giống người với Trái Đất, vốn là người Mẹ sinh ra và nuôi dưỡng chúng ta.



VÀI NÉT VỀ PHONG THUỶ

Trước hết cẩn phân biệt phong thuỷ với “thuật phong thuỷ”. Phong là gió, thuỷ là nước. Phong thuỷ thường dùng để chỉ các vùng đất có địa hình tốt hoặc có phong cảnh đẹp. Nhưng Phong thuỷ mà người Trung Hoa gọi là feng-sui, còn là “thuật phong thuỷ”, tức là lý luận và thực hành phong thuỷ. Từ đó suy ra phong thuỷ là sự tồn tại khách quan của cảnh vật tự nhiên còn thuật phong thuỷ là tác động chủ quan của con người lên sự tồn tại tự nhiên ấy vì lợi ích của chính con người trên trái đất: vì sự sinh tồn của họ. Thế nhưng, đã thành thói quen cả hai cách hiểu ấy từ lâu nhập chung từ ngữ phong thuỷ nên hiểu nó theo cách nào trong hai cách trên đều được. Ở nghĩa thứ nhất, người Việt ta còn hay dùng từ sơn thuỷ trong “sơn thuỷ hữu tình” và từ đó cũng đã sáng tác ra huyền thoại “sơn tinh, thuỷ tinh” và mọi người đều biết tới ý nghĩa của thông điệp nó truyền đi. Hơn thế, “sơn thuỷ” còn là “núi, non” và “nước”. Hai yếu tố chính tạo nên địa dạng, cho nên từ đó chúng ta có một từ ngữ hoàn toàn Việt Nam và có hồn để chỉ khái niệm “tổ quốc”” non nước, nước non, non sông, đất nước, đề từ đó nhà thơ Tản Đà làm nên tuyệt tác “thề non nước”.

Tên gọi cổ nhất của phong thuỷ là “Kham dư”, có nghĩa là trời, đất (Kham là trời, Dư là đất). Hứa Thuận nói “Kham là thiên đạo (đạo trời). Dư là địa đạo (đạo đất). Kham còn có nghĩa là khám xét, xem xét. Dư có nghĩa là địa hình, vì thế kham dư là xem xét địa mạo, điều tra đất đai.

Phong thuỷ còn có tên là “thanh nang”, do nhà tướng thuật ngày xưa hay mang túi đựng tư liệu màu xanh, cho nên sau này người ta mượn từ ngữ ấy để chì nhà tướng thuật, và sách nói về thuật xem tướng địa gọi là thanh nang kinh. Một tên gọi khác của phong thuỷ là “Thanh ô thuật” và “Thanh điểu thuật”nữa.

Tuy nhiên tên gọi sát nhất của thuật Phong thuỷ là tướng trạch hay tướng địa. Tướng là diện mạo, hình dáng bên ngoài, và sau này ta sẽ biết là phong thuỷ sẽ cóp hai phái là hình phái và lý phái. Và phái hình dựa vào xem xét tướng địa, trạch là thổ cư, nơi ở cho cả người sống (dương trạch) lẫn nơi ở cho người chết (âm trạch) và từ đó ta thấy rằng mục tiêu của phong thuỷ là xem xét, lựa chọn đất ở cho người sống lẫn người chết. Do vậy, phong thuỷ còn gọi là bốc trạch (bói đất).

Tướng địa là xem xét hình thể, dáng dấp của đất mà người xưa gọi là địa lý, vì thế các chuyên gia xem phong thuỷ thường được gọi là thầy địa lý (địa lý sư). Từ đó mà thuật phong thuỷ còn có tên là địa lý thuật.

Rất nhiều tư liệu cho thấy rằng phong thuỷ xuất phát trừ hai nguồn chính.

Một là xu hướng vạn vật hữu linh (animism) theo đó con người cổ đại nhìn thấy ở mọi vật thể quanh ta bao giờ cũng có hai phần thể xác và tâm hồn, khi chết đi thì phần thể xác biến thành lạc phách, nhập vào trong đất mà làm quỷ, còn tâm hồn thì biến thành tâm hồn và quy về cõi thiêng.

Từ đó con người sinh ra sùng bái siêu nhiên (trời) và tự nhiên (đất) và linh hồn người đã mất.

Siêu nhiên: Trời, mặt trời, Mặt trăng, các vì tinh tú, linh hồn ông bà, các người có công với cộng đồng.

Tự nhiên: cây cối, đất đá, núi, sông, biển, tất cả các con vật làm thành vật tổ (tô tem) hoặc những con vật to lớn và hung dữ.

Thần: Tất cả những “linh hồn” của các vật thể, giống loài có trong tự nhiên cũng như các hiện tượng thời tiết: đêm, ngày, mây, mưa, sấm, chớp, gió bấc...

- Vậy ta định nghĩa thế nào là phong thuỷ ? Tốt nhất hãy xem người Trung Hoa nói:

- Từ Hải: “Phong thuỷ còn gọi là kham dư. Một loại mê tín ở nước Trung Hoa cũ. Cho rằng hình thế, hướng gió, dòng chảy chung quanh nhà ở hay mồ mả có thể đem tới hoạ phúc cho người ở, người chôn. Nó cũng chỉ ra cách xem nhà ở và phần mộ”

- Từ Nguyên: “Phong thuỷ chỉ địa thế, phương hướng của đất nhả ở hoặc đất phần mộ. Thời xưa, mê tín căn cứ vào đó để xem lành, dữ, tốt xấu về nhân sự”

- Học viện Dân tộc trung ương Trung Hoa:

Trong vốn kiến thức lâu đời của Trung Hoa có môn học Kham Dư, thông thường gọi là Phong thuỷ. Đó là khoa học về mối quan hệ giữa từ trường trái đất và con người.

- Roskowski (nhà khoa học người New Zealand): Phong thuỷ là một hệ thống đánh giá cảnh phong nhằm tìn địa điểm tốt lành cho công trình kiến trúc. Nó là nghệ thuật lựa chọn địa điểm và bố cục địa lý của Trung Hoa cổ đại. Không thể căn cứ vào khái niệm của Phương Tây mà nói một cách đơn giản rằng đó là mê tín hay khoa học.

- Vương Ngọc Đức : Phong thuỷ là một hiện tượng văn hoá, một loại thuật số chọn lành tránh dữ, một dân tục (phong tục dân gian) lưu truyền rộng rãi trong xã hội, một loại học vấn về hoàn cảnh và liên quan đến con người, một tổng hợp về lý luận và thực tiễn. Phong thuỷ có thể chia thành hai phần lớn: âm trạch và dương trạch. Dương trạch là nơi người sống hoạt động, âm trạch là mộ huyệt của người chết”

- Encyclopedia Sinica:

Đó là nghệ thuật làm cho nhà ở của người sống và huyệt mộ của người chết hài hoà và hợp tác với các dòng khí vũ trụ (âm và dương)

- Vậy là, không thể đơn giản để coi phong thuỷ là một mê tín, bởi vì văn hoá của người xưa chủ yếu là tín ngưỡng, từ tín ngưỡng mà dần dà con người phát hiện ra mọi thứ, từ khoa học đến nghệ thuật, từ kỹ thuật đến các ứng xử xã hội. Chúng ta không thể chỉ bằng một cái khoác tay để sổ toẹt tất cả. Con đường đi của nhân loại từ mê muội tới văn minh đã trải qua những chằng đường quanh co, khúc khuỷu đầy gian khổ, nhưng rõ ràng mọi tri giác luôn đi từ cảm nhận sang thức nhận và khi mà sự nhận thức thay đổi thì con người lại chuyển hướng ứng xử của mình. Cứ như vậy, con người luôn điều chỉnh ứng xử của mình theo đà tri giác.

Cho nên đối với một lĩnh vực hoạt động có “lịch sử” lâu đời như phong thuỷ thì tốt nhất nên dựa vào những gì đã từng xảy ra trên thực tế để lần mò ra sự hình thành của nó thông qua những khái niệm nằm ở cơ sở của phương thuật ấy. Rồi sau đó là các nguyên lý của sự hình thành đó.

Phong thuỷ có hai trường phái tiếp cận: hình thếlý khí. Từ rất sớm, người ta đã biết chọn địa hình, địa thế và điều kiện môi trường làm điểm xuất phát xây dựng nên hệ thống học vấn của mình. Phái lý khí xuất phát từ quan hệ của khí, số, lý mong muốn tìm được quy luật và mối liên hệ nào đó giữa người và thiên lý nhằm đạt tới sự thông đạt của khí và lý giữa con người và môi trường, từ đó mà có được môi trường lý tưởng có lợi cho sự sinh tồn của con người. Nhìn chung, xét về chiều sâu của lập luận, phái lý khí cao hơn phái hình thể, vì vậy hệ thống các thao tác của phái lý khí cao hơn phái hình thể. Trước đời Đường, Tống, phái lý, khí chủ yếu lấy thuyết khí của ngũ hành làm hạt nhân, đến thời Tùy Đường thì thuyết ngũ hành tướng trạch” có lẫn vào một số lượng lớn những yếu tố mang màu sắc huyền bí nên gặp nhiều khó khăn. Cho nên, sau Đường, Tống, phái Lí, Khí dùng thuyết âm dương, thuyết bát quái được nói rất nhiều trong Chu Dịch.

Do chính vì phong thuỷ của lý phái quá nhấn mạng mối quan hệ giữa lý và số nên lý luận nó phức tạp, người thường không dễ nắm được, hậu quả do đó có hai, một là trở lên thần bí, huyền ảo và hai là điều đó ảnh hưởng đến sự truyền bá. Còn hình phái nghiêng về hình thế của “Loan đầu” (tức núi non) là những thứ rất thực tế có thể nhìn thấy, có thể sờ mó được, vì vậy được truyền bá rộng rãi trong dân gian)

Thực ra thì ranh giới giửa phái lý khí và phái hình thể không rõ ràng, hai phái trên thực chất đều có những chỗ chung, bởi cả hai phái đầy chú trọng tới “khí” và “sinh khí”. Phái “lý, khí” nhấn mạnh tới phương vị lý khí còn phái hình thế nhấn mạnh tới sinh khí của đất. Phái lý khí cho rằng hình là cái bên ngoài của khí còn khí là cấu thành nội tại của hình. Khí cát, tức là khí tốt thì hình tất phải đẹp, đoan trang, tròn trịa. Khí hung tức là khí xấu thì hình tất phải nghiêng ngả, thô kệch, vạn nát.

Tiếp theo đây chúng ta sẽ thử tìm hiểu cả hai phương thức tiếp cận địa hình, một là tầm long, tức là tìm rồng thuộc hình phái và hai là lý luận, tức luận bàn về khí thuộc lý phái để cuối cùng đi tới cái đích mà cả hai phái đều nhắm tới là xác định nơi tụ khí tức huyệt hay kết huyệt.

TƯƠNG TỰ HOÁ ẨN DỤ

Hình phái trong phong thuỷ dùng phương thức đồng đẳng hoá (homology) hay tương tự hoá (malogy) để nhận dạng địa hình. Đó là phương thức tri giác chủ yếu giúp người nguyên thuỷ và trong dân gian vẫn còn phổ cập, giống như người ta gọi hai ngôi nhà nằm trên bờ hồ Hoàn Kiếm là nhà “cá mập”, nhà “máy chém”.

Do hình thù của núi non và cả sông suối uốn lượn như rồng cho nên có sơn long và thuỷ long. Nhà phong thuỷ không xem xét tất cả các núi mà chỉ quan sát và nhận dạng những cái nào đảm bảo cho sự liên tục trong truyền dẫn khí, đó chính là rồng, tức long. Và quan sát núi non để tìm rồng được gọi là phương pháp tầm long. Nhà địa lý cùng các phụ tá, quan sát, ghi chép, đánh giá và thể hiện toàn bộ các quan sát ấy lên các trang giấy để qua đó mà xác định các long mạch khả năng chuyển tải khí để từ đó mà xác định ra huyệt vị, tức là nơi tụ khí thích hợp cho việc bố trí dương trạch hoặc âm trạch.

Đối với các nhà phong thuỷ, bố trí dương trạch hay âm trạch có nghĩa là mối ghép mới mang năng lượng vũ trụ mà họ gọi là khí. Qua đó mà tuân thủ theo sự vận động của vũ trụ. Trong địa lý đó là các đường cong hình sin của các dãy núi, chúng minh chứng cho sự lan toả của năng lượng ấy, còn các đỉnh núi được xem như là những con rồng. Ngày xưa, Trung Quốc xem mình đứng ở giữa, ở trung tâm trái đất nên học coi núi Côn Lôn Sơn ở vùng biên cương Tây Bắc Trung Quốc là Thái Tổ sơn của họ, và từ đó có 3 mạch lớn tạo thành ba con rồng chính (Bắc Long, Trung Long và Nam Long) cách nhau bởi hai con sông lớn là Hoàng Hà và Dương Tử (xin mở ngoặc để nói rằng mỗi nước đều có Thái tổ sơn của mình, nước ta là núi Tản Viên, với tên dân dã là núi Ba Vì, cho nên “tầm long” là tìm cả một phả hệ núi từ Thái tổ sơn, qua tổ sơn, thiếu tổ sơn, chủ sơn (hay là phụ mẫu sơn) cho đến huyệt vị. Phả hệ sơn mạch ấy nhắc ta nhớ đến phả hệ gia tộc. Ẩn dụ đó nói lên tính chất được dọi là hướng nhân (anthropocentric) và hướng tộc (ethnocentric) của long mạch.

Địa điểm lý tưởng cho lâu đài, thành quách lại còn có điều kiện cần đáp ứng. Từ tổ sơn phải có hai núi tách ra làm thành ngoại thanh long và ngoại bạch hổ. Còn phụ mẫu sơn (hay chủ sơn cũng phải có hai nhánh tách ra làm thành nội thanh long và nội bạch hổ. Phía trước minh đường phải có án sơn và triều sơn. Mô hình lý tường này thực ra là sự phản chiếu của bộ mặt bầu trời bao gồm 28 chòm sao nhị thập bát tú với bốn vùng trời tương ứng với bối phương vị Đông Tây Bắc Nam, mỗi vùng có 7 chòm sao tạo thành các con vật huyền thoại tương ứng là rồng xanh (thanh long), cọp trắng (bạch hổ), rùa đen (huyền vũ) và chim đỏ (chu điểu). Mà đó chính là tứ tượng :Thái dương, thái âm, thiếu dương, thiếu âm.



KHÍ, NƠI TỤ KHÍ KHÍ HUYỆT VÀ HÌNH TƯỢNG NÕN NƯỜNG



Chúng tôi cho rằng không có thuyết âm dương thì không thể sản sinh ra phong thuỷ và địa lý. Từ thuyết âm dương, chúng ta có thể đi ngược về nguồn đến với Kinh dịch. Bản thân kinh dịch chưa đề cập đến những khái niệm âm và dương nhưng đã đưa ra hai ký hiệu, hai “hào” -- (âm) và – (dương) để chỉ hai phạm trù bất kỳ đối lập nhau, được gọi là âm hào và dương hào. Kinh dịch cho rằng âm dương là nguồn gốc chung nhất của trời đất, vạn vật, giới tự nhiên và loài người, tất cả đều là sản phẩm của hai tính âm dương, hai tính nam nữ giao hoà mà sinh ra con cái, hai tính đực- cái của động vật giao hoà mà sinh ra hậu duệ. Từ xa xưa, thuyết âm dương đã biết lấy sự gia giảm của vạn vật để khái quát hoá các thông tin về âm dương, lấy đó làm phạm trù để giải thích các thuộc tính cơ bản của vạn vật trong trời đất, và tất nhiên có tác dụng hướng dẫn về phương pháp luận đối với nhận thức có liên quan tới phong thuỷ.

Sách “Hoàng đế Trạch kinh” viết “Âm giả, sinh hoá vật tình chi mẫu, dương giả, sinh hoá vật tình chi phụ dã, tác thiên địa chi tổ” (âm là mẹ của mọi vật, dương là cha của mọi vật, là tổ tiên của trời đất, là sự tôn kính với sự sinh nở). Sách “Ngũ tinh tróc mạch chính biến tinh đồ” lại viết: “Thái cực ký định, cứ hựu phân kỳ âm dương. Vận gian áo hãm giả vị âm dương, nơi lõm xuống là âm huyệt, nơi lồi lên là dương huyệt” (Thái cực đã định, thứ đến chia thành âm dương, nơi lõm xuống là âm huyệt, nơi lồi lên là dương huyệt). Sách “Thiên bảo kinh” lấy âm dương để luận bàn về phương pháp an táng cho rằng: “bất thức âm dương, mạc loạn mai táng” (không hiểu âm dương thì đừng có chôn cất lung tung).

Thời Xuân Thu ở Trung Quốc phát sinh thuyết “Lục khí-ngũ hành” là mệnh đề chủ đạo, là “Thiên hữu lục khí, giáng sinh ngũ hành” (Trời có 6 khí, giáng xuống đất sinh ra Ngũ hành. Sáu khí đó là : âm, dương, gió, mưa, tối, sáng, còn Ngũ hành là kim loại (kim), gỗ (mộc), nước (thuỷ), lửa (hoả), đất (thổ). Quẻ Thái trong Kinh dịch được tượng trưng là : Quẻ trên là khôn là đất, càn là trời, hình tượng của quẻ Thái chính là trời đất giao hoà. Cho nên Lý Đỉnh Tộ dẫn Tuân Sảng viết : “Khôn khí thượng thăng, dĩ thành thiên đạo, còn khí hạ giang dĩ thành địa đạo” (khí đất dâng lên làm nên đạo trời, khí trời giáng xuống làm nên đạo đất). Và khi hai khí giao hoà sẽ sinh ra vạn vật. Vì thế Trang Tử trong “Điền tử phương” đã viết : “âm dương nhị khí tương cảm nhị sinh thành vạn vật “ (hai khí âm dương tương cảm sinh ra vạn vật).

Trong sách “Dịch truyền- thuyết quái truyền” người ta ví trời đất như cha mẹ và cho rằng đất là mẹ: “Càn vi thiên..vi phụ; khôn vi địa..vi mẫu” (Càn là trời...là cha, khôn là đất..là mẹ). Với trích dẫn nói trên, chúng ta hãy quay về hình vẽ số 2. Ở trên chúng ta dừng lại ở “phụ mẫu sơn”. Tiếp theo đó là thai, tức, dựng, dục nghĩa là bố mẹ sau khi giao hoà để trao đổi âm dương khí thì người mang thai (embryo) tiếp đến là thai nghén (gestation), rồi bào thai (foetus) và sau cùng là sinh nở (birth). Cho nên nếu so sánh, quá trình sinh nở của bà mẹ với quá trình tụ khí thì “kết huyệt của núi là thai, có mạch khí là tức, khí tụ là dựng, khi sinh động là dục, giống như người phụ nữ mang thai nghén, thành bào thai rồi sinh nở. Nơi sinh nở chính là huyệt.

“Huyệt tụ ở trên như đầu của hài nhi, hài nhi mới sinh, thông môn chưa đầy, hơi có hình oa (tổ) tức huyệt ở đỉnh núi; huyệt tập trung ở giữa như rốn của người, hai tay là long hổ, huyệt tậm trung ở dưới như âm nang của người, hai chânlà long hổ”. Theo “tuyết tâm phú chính giải” của Mạnh Hạo đời Thanh có tới bốn loại huyệt phong thuỷ: Oa huyệt, Nhũ huyệt, Kiềm huyệt, Đột huyệt. Thế nhưng “huyệt” cũng còn là nơi chôn cất nữa. Ở hình 8 chúng tôi trích dẫn ra hai hình vẽ của huyệt vị sơn thể và hình 9 là hai mộ hình của trinh nữ và của mẫu tính mà người Nhật đã làm. Và, dù là sinh huyệt hay tử huyệt, tất cả đều giống huyệt đạo. Ở phụ nữ, ở người Mẹ. Đó là một biểu tượng linh thiêng bởi đó là nơi mỗi người trong chúng ta đều bước ra chào đời từ đây, và bất cứ ai trong chúng ta rồi cũng sẽ trở về nơi ấy, đó là Đất Mẹ. Lưu Bá Lâm gọi biểu tượng ấy là nữ âm, nhà điêu khắc Lê Công Thành gọi là bống, còn chúng tôi muốn gọi biểu tượng ấy là nỗ nường theo cách gọi của người dân tỉnh Phú Thọ, cái nôi của dân tộc Việt thường gọi vì ở đó có tín ngưỡng thờ nõn nường.



Trong vũ trụ bí ẩn, trái đất là cội nguồn. Nó là nguồn gốc của sự sống, nơi từ đó con người bước ra, và cũng giống như hàng triệu sinh linh khác, con người luôn giữ mối quan hệ và nghĩa vụ làm con...Vì trái đất là mẹ của tất cả sự sống nên một sợi dây thân thuộc kết nối con người với tất cả những gì ở quanh ta, với cây cỏ, với thú nuôi, với đất đá nữa. Núi non, rừng rú, thung lũng không chỉ đơn giản là quang cảnh, ngoại cảnh. CHÚNG ĐỀU LÀ NGƯỜI CẢ...Chúng ta đang gìn giữ sự sinh tồn của con người...Cái chết rồi sẽ đưa con người trở lại với nhà mình, về trong lòng mẹ và cứ như thế cho mỗi thế hệ. Cho nên, theo một quan niệm mang tính trải nghiệm hơn là khái niệm, thì quan hệ với mẹ đất không chỉ là của quá vãng uyên nguyên mà là quan hệ luôn mang tính thời sự của religio, của tín ngưỡng, của sự tôn kính đối với cía thiêng mà sự thờ cúng buộc chúng ta pải tiến hành hằng ngày.

Phong thuỷ chính là thứ địa lý của trải nghiệm và của tín ngưỡng đối với Mẹ Đất và Đất Mẹ. Và Lê Công Thành đã ứng xử đúng như vậy.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHONG THUỶ, CHUYỆN NGƯỜI XƯA CHỌN ĐẤT LÀM NHÀ

PGS.TS Lê Kiều

Trường Đại học kiến trúc Hà Nội

Phong thuỷ tồn tại trên hai chục năm và cực thịnh là thời các triều nhà Minh, nhà Thanh bên Tàu, vào khoảng năm 1369 đến đầu thế kỷ này

Hai khái niệm mà nhiều người hoà trộn thành một hoặc là vô tình hay hữu ý không phân biệt đó là phong thủy và thuật phong thuỷ. Phong thuỷ là địa thế, địa hình, là đất, là nước quanh ta. Thuật phong thuỷ là những luật lý, những suy nghĩ của con người và cách thích ứng cuộc sống của con người khi nằm trong cái phong thuỷ ấy. Như vậy, phong thuỷ là tồn tại khách quan còn thuật phong thuỷ là sản phẩm của ý thức liên quan đến phong thuỷ.

Phong thuỷ còn có nghĩa rộng là những hoạt động nghiên cứu về thiên căn, về sao trời, vũ trụ, về trái đất, về khí tượng, về địa thế làm nhà, đặt mồ mả cho nên phong thuỷ vừa gần với con người lại vừa xa con người. Lý luận cơ bản của phong thuỷ (kinh dịch, âm dương ngũ hành) thì rất trừu tượng, thuật ngữ sử dụng thì khác lạ với ngôn từ hàng ngày tạo ra cho phong thuỷ một dạng vẻ bí hiểm. Đọc phong thuỷ và nghe về phong thuỷ thấy một không khí sống, chết đan xen, đất trời hoà nhập, rõ không ra rõ, mờ không ra mờ làm cho quần chúng tin thì có thể tin, có thể không tin thì cũng sợ. Thầy phong thuỷ lại thêu dệt bao chuyện ly kỳ, gán một số quan niệm phong thuỷ vào các sự kiện lịch sử, tô vẽ cho phong thuỷ có bộ mặt thần bí.

Lý luận và thực tiễn của phong thuỷ vô cùng phức tạp để xem một thế đất đặt mả, phần lớn thày địa lý phải ở nhà gia chủ cả năm trời, sáng cơm rượu rồi đi ngắm nghía đất trời rong ruổi ngoài đồng. Chiều về đọc sách (chẳng hiểu sách gì), khểnh duỗi tư duy để rồi nhập nhoạng tối lại cơm rượu. Năm nay người chết, xem đất một năm chờ năm sau cải táng đặt vào nơi đất chọn. Thành kính và đợi chờ đất phát. Chờ mãi không thấy phát lại ngẫm ngó, tòng suy hay là tại mình tâm chưa thành, lòng chưa kính hay thậm chí hối vì đãi thày chưa hậu.

Ngay vài năm gần đây trong câu chuyện làm nhà ở ta, chức không ít người cạy thày phong thuỷ. Vào những năm 1991-1993 nhà đất trở lên thịnh vượng thì nhiều người làm nên ăn ra tưởng đâu như vì nhờ thày mà phát. Nhưng sang năm 1995-1996 nhà vay tiền làm, những mong tây thuê để thi hồi vốn nhưng biển treo “house for rent” cả thời gian dài chằng ai ngó hỏi. Nợ nần chồng chất, lãi mẹ đẻ lãi con chắc chẳng ai trách thày phong thuỷ. Thày phong thuỷ nào chẳng nói như tép nhảy, lại đệm những từ như minh đường, huyền vũ, bạch hổ, thanh long, chủ nhà chỉ còn cách gật đầu lia lịa, xuýt xoa khen thày và tự hào mình đã được đặt ngang mình cùng thày đạo cao đức trọng.

Nước Trung Hoa từ sau 1949 thuật phong thuỷ bị đả kích nặng nề, không dám công khai lộ diện nhưng nó lại được Hồng Công, Đài Loan nâng đỡ. Nó cứ dai dẳng tồn tại, có lúc rõ hình, có lúc lu mờ, kín đáo. Mấy năm gần đây, trong không khí cải cách chung về kinh tế ở Trung Quốc, người ta lại nghiên cứu và bàn luận về phong thuỷ trên sách vở.

Điều khẳng định là nó tồn tại dai dẳng. Vậy cái lý của nó tồn tại là gì. Có người xếp phong thuỷ như một hiện tượng văn hoá, vì nó sống trong phần hồn của con người.

Trong phong thuỷ và thuật phong thuỷ có cái lý giải được theo khoa học là địa hình, địa thế làm nhà chịu ảnh hưởng của địa chất công trình, địa chất thuỷ văn, vi khí hậu. Xem thế đất làm nhà chính là chọn cho ngôi nhà theo các điều kiện thuận lợi về phương vị, khí hậu, địa chất công trình tốt, địa chất thuỷ văn phù hợp. Đây chính là khâu điều tra cơ bản để chọn địa điểm xây dựng. Từ môi trường khí hậu tốt mà chủ nhà có sức khoẻ tốt, tâm lý tốt, làm nên ăn ra. Đấy là những nhân tố tích cực.

Làm cho phong thuỷ thần bí, võ đoán như thế đất này thì đau mắt, thế đất kia con gái lại goá chồng là điều chưa hẳn đồ dễ tin.

Đọc phong thuỷ, tìm hiều phong thuỷ để tìm ra yếu tố để nó tồn tại như hiện tượng văn hoá, dùng nhãn quan khoa học để khen cái được, chê cái bịa đặt là điều cần làm, đối chiếu những điều đã có trong phong thuỷ và thuật phong thuỷ, gạn đục khơi trong với phong thuỷ là điều có thể làm được.

Phong thuỷ gắn liền với đất đai, với phương vị. Tri thức về phong thuỷ không thể tách dời với những khái niệm cơ bản về phương vị hiểu theo cách của người Tàu cổ.

Để xác định phương vị khi đi khảo sát đất đai, nghề phong thuỷ dùng dụng cụ gọi là la bàn. La bản lớn gọi là La kinh, la bàn nhỏ gọi là trốc long. Trên La bàn, La kinh hay trốc long vẽ nhiều vòng tròn và các vạch chuyên tâm chia phương vị:

Đời Minh có Từ chi Mạc soạn: “La kinh đỉnh môn trâm” có 2 quyển chỉ nam trâm. Sách này cho rằng la kinh lúc đó có 24 hướng, bỏ quên 12 chi của tiên thiên, nên thêm 12 chi, chia làm 33 tẩng, trình bày bằng chữ và hình vẽ. Ngoài ra, sách còn một phụ lục do Chu Chi Tương vẽ.

Thẩm Thăng đời Minh cũng soạn “La kinh tiêu nạp chính tông” bàn về tiêu nạp khí trong 72 long mạch.

Chính giữa la bàn gắn một kim nam châm có trụ quay. Phần dưới kim là các vòng tròn đồng tâm và những tia đi qua trục kim nam châm ghi phương vị. Trong các vòng tròn (thường là ba vòng) thì vòng trong cùng là vòng địa bàn, vòng giữalà vòng nhân bàn và vòng ngoài là vòng thiên bàn. La kinh có thể có tới 13 vòng.

Nếu chỉ có ba vòng thì vòng thiên bàn dùng xem hướng nước tụ, nước chảy. Vòng địa bàn để ấn định long mạch. Vòng nhân bàn để luận sự tốt xầu của các gò đống (mà phong thủy gọi là các sa). Vòng tròn được chia thành 24 ô, mỗi ô ứng với 15 độ (toàn vòng 360 độ).

Nếu lấy vòng địa bàn làm gốc thì vòng thiên bàn lệch về phải nửa ô và vòng địa bàn lệch về phải nửa ô và vòng nhân bàn lệch về trái nửa ô.

Tại tâm thường làm một vòngnhỏ, chia thành hình âm, dương. Nhận thức là Thái cực sinh lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng. Tứ tượng là Thái dương, Thái âm, Thiếu dương, thiếu âm. Đó chính là bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Cách xác định phương vị trước thời Tần chép: Khi đi, trước mặt là chu tước, thì sau lưng là huyền vũ, còn bên tả là thanh long thì bên hữu, bạch hổ, điều này có nghĩa là, trước mặt là nam thì sau lưng là bắc, bên trái là đông thì bên phải là tây.

Chính Bắc ghi chữ Tý, chính Nam ghi chữ Ngọ, chính đông ghi chữ Mão, chính Tây ghi chữ Dậu. Kể theo chiều kim đồng hồ thì lần lượt 24 ô như sau: Mão...., Thìn, Tốn, Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn, Thân, Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi, Nhâm, Tý, Quý, Sửu, Cấn, Dần, Giáp.

Chuyện lưu truyền, khi Quản Lộ (đời Tam quốc) đi về phía Tây gặp mộ Vô Hữu Kiệm thì than thở, không vui mà nhận xét: Cây cối tuy nhiều mà từ lâu không có bóng, bia mộ lời ghi hoa mỹ nhưng không có hậu để giữ gìn, huyền vũ khuất mất đầu, thanh long không có chân, bạch hổ đang ngậm xác chết, chu tước đang rền rĩ, mối nguy đã khắc phục khắp bốn bề, họa diệt tộc ắt là sắp đến, không quá hai năm sẽ ứng nghiệm.

Quách Phác trong “Táng kinh” dặn rằng Thanh long bên trái, bạch hổ bên phải, chu tước đằng trước, huyền vũ đằng sau. Muốn được mồ yên mả đẹp thì huyền vũ phải cúi đầu, chu tước dang cánh, thanh long uốn khúc, bạch hổ quy thuận. Khi nhìn thế đất đồng thời phải nhìn màu đất. Nếu ta thăm đàn tế xã tắc ở công viên Trung Sơn Bắc Kinh thì thất phương đông, thanh long, đất màu xanh cây cỏ, phương Tây bạch hổ màu đất trắng bạc, phương Nam chu tước đất đỏ màu hồng, phương Bắc huyền vũ đất có mày đen. Giữa đàn cúng, đất màu vàng tượng trưng cho Người.

Tứ tượng sinh Bát quái, ngoài tứ tượng đã có lặp lại trong bát quái còn thêm bốn hướng của bát quái là: Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Đó chính là các hướng Tây Bắc, Tây Nam, Đông Nam, Đông Bắc.

Như thế, phương Đông có Giáp, Mão, Thìn...đông Nam thì có Thìn, Tốn, Tỵ. Nam có Bính, Ngọ, Đinh. Tây Nam có Mùi, Khôn, Thân.Tây có Canh, Dậu, Tân. Tây Bắc có Tuất, Càn, Hợi, Bắc có Nhâm, Tý, Quý. Đông Bắc có Sửu, Cấn, Dần.

Các hướng thuộc địa chí là :Tý, Sửu, Dần, Mão,Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi (12 hướng địa chi). Tám hướng thuộc thập can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm Quý (bỏ Mậu, Kỷ trong thập Can).

Các hướng xếp đối xứng gọi là bát sơn đối tiện gồm: Càn-Tốn, Khảm-Ly, Cấn-Khôn, Chấn-Đoài. Bắc thuộc Khảm, đông thuộc Chấn, Nam thuộc Ly, Tây thuộc Đoài.

Phân vị theo Ngũ hành thì chính giữa là hành Thổ, Bắc thuộc hành thủy, Đông thuộc hành Mộc, Nam hành Hỏa, Tây hành Kim. Còn cách gọi khác: Thủy là nhuận Hạ, Hỏa là Viên thượng, Mộc là Khúc trực, Kim là Tòng cách, Thổ là Gia tường.

Trên đây ta chỉ xét đến Chính ngũ hành dùng phổ biến trong phong thủy. Ngoài ra còn Bát quái ngũ hành và Hồng phạm ngũ hành cũng là loại ngũ hành thường dùng. Còn Tứ kinh ngũ hành, Tam hợp ngũ hành, Tứ sinh ngũ hành, Song sơn ngũ hành, Huyền không ngũ hành, Hướng thượng ngũ hành, Nạp âm ngũ hành...không thể kể hết được.

Cụ thể của phong thủy thì thế đất tròn là Kim, thế dài là Mộc, thế nhọn là Hỏa, thế vuông là Thổ, thế như sóng gợn là Thủy.

Khi chọn đất phải dựa vào Ngũ hành tương ngộ thì Thủy giao thủy, nam nữ tất dâm. Phương Bắc thuộc Thủy. Nếu có nước thấm nhập từ phương Bắc vào khu đất ta ở hay mộ phần thì con cái không ổn thỏa. Nếu dựng nhà quay mặt hướng Nam thì sau nhà là Huyền vũ. Huyền vũ phải là thế đất nhô cao, có gò thoải mới thuận, mới đẹp. Gò thoải là thế huyền vũ cúi đầu. Nếu sau nhà lại là đầm nước hoặc vách núi dựng thì có khách gì huyền vũ mất đầu mà Quản lộ chê bai ở trên.

Phương Nam là Hỏa mà thế đất lại nhọn khác nào như lửa gặp lửa, theo phong thủy thì ở đất ấy hay gặp điều kiện tụng. Phương Tây của miếng đất bói tượng xem xét là Kim mà có thế tròn (Kim) thì gia chủ sẽ giàu có, thịnh vượng. Phía đông nhà là hướng Mộc lại có thế đất dài là mộc thì mộc mộc tương sinh, trai gái trong nhà giàu sang, phú quý.

Ngoài ra quan hệ giữa Thiên, địa, nhân còn có quy ước:Tý là Nhân huyệt, Cấn là Quỷ môn, Tốn là địa hộ, Bính là địa huyệt, Khôn là Nhân môn, Canh là Thiên huyệt, Càn là Thiên môn.

Trong quá trình xem xét phương vị thì tiên thiên bát quái của Phục hi để phối hợp Âm dương. Hậu thiên bát quái của Văn vương để xếp các Hào Tượng.

Ra đến địa hình cụ thể thì khu đất có thể bằng phẳng là dương thì gò đống nổi cao lại là âm. Đất sơn cước nhiều gò cao, núi lớn là âm thì thung lũng bãi bằng trong khung cảnh đồi núi lại là dương. Chọn thế đất làm nhà hay đặt mộ trước tiên phải trọng khâu cân bằng âm dương. Đất sơn cước cường dũng nên chọn làm nhà, đặt mộ ở nơi có mạch nhỏ (long gầy). Đất bình dương bằng phẳng nên chọn vị trí hơn cao để tọa lạc (khởi đột). Khu đất đẹp bên trái có thanh long (mạch nước), bên phải có bạch hổ (đường dài), thế đất đằng trước có ao đầm tỏa rộng (chu tước), đằng sau có gò tròn tựa lưng (huyền vũ). Long là dương, hổ là âm. Long hổ tương nhượng thì gia đình hòa thuận, trai gái xum vầy.

Núi chủ tĩnh (đứng yên) là âm thì nước chảy (chủ động) là dương. Thế đất đẹp là thế đất có núi chủ tĩnh quay đều như động. Nước chủ động lững lờ nở rộng như chảy, như không, lưu luyến dùng dằng. Núi và nước hiền hòa bên nhau, cặp kè với nhau, bảo vệ nhau, nuôi dưỡng nhau là thế đất đẹp. Kiểu luận lý như thế là dựa vào cơ sở trong dương có âm, trong âm có dương. Điều hòa âm dương là điều quan trọng. Luật âm dương rồi toán ngũ hành sao cho mọi suy tính không trùng điều xấu.

Chọn các thế đất, cách chọn hướng, suy cho cùng sau khi loại bỏ những điều thần bí và mê tín thì cúng là chọn địa điểm hợp với điều kiện địa hình, địa chất công trình, địa chất thủy văn, vi khí hậu cho môi trường sống được thỏa đáng.

Thuật phong thủy nghiên cứu những vận động tự nhiên của môi trường sống của con người để mưu cầu sự tiện nghi cho cuộc sống gắn liền với thiên nhiên. Bây giờ đất chật, người đông lấy đâu ra đất rộng để tìm thanh long, bạch hổ. Gặp hướng nghịch thì dùng giải pháp che nắng, chắn gió. Nóng bức quá thì bật điều hòa nhiệt độ.

Phong thủy ghi lại dấu ấn của một hiện tượng văn hóa xưa. Đời nay biết mà xem người xưa mưu cầu tiện nghi cuộc sống ra sao. Thực ra thì người xưa chế tác ra thuật phong thủy cũng chỉ là tìm hiểu thiên nhiên và sự vận động của thiên nhiên rồi tìm cách hạn chế tác động tiêu cực của thiên nhiên để cuộc chung sống với môi trường sao cho có lợi cho con người. Nếu loại những điều mê tín và sự lợi dụng phong thủy lòe bịp thiên hạ để kiếm cơm thì phong thủy đâu có chỉ là dị đoan.

Share this post


Link to post
Share on other sites

KIẾN TRÚC HIỆN ĐẠI VÀ VĂN HOÁ PHONG THUỶ

PGS.KTS Đặng Thái Hoàng

Trường Đại học xây dựng

Một nhà học giả Italya từng nói: “Nếu trước đây, thế giới thường hường tầm nhìn của mình về kiến trúc phương Tây, thì hiện nay, thế giới đang hướng về kiến trúc phương Đông” (Giáo sư Luigi Gazzola, Trường Đại học tổng hợp Roma, trích báo cáo đề dẫn tại Hội thảo quốc tế Văn hoá Kiến trúc ở Nam Kinh, Trung Quốc, tháng 11-2004). Thế giới phương Tây gần đây đang nhấn mạnh sự nguy cơ toàn cầu mà họ gọi là 3P (Poverty: sự nghèo đói, sự cạn kiệt tài nguyên, pollution: ô nhiễm môi trường, Population: Sự bùng nổ dân số).

Nền kiến trúc hiện đại phương Tây, và tất nhiên cả phương Đông, đang “toàn cầu hoá” về sử dụng văn hoá phong thuỷ, một số khu vực, nếu trước đây có “vô tình” thì nay đã “hữu ý” và sự “vô thức” đang biến thành sự “nhận tri”.

Có nhiều vấn đề đặt ra ở đây, vấn đề khẳng định Phong thuỷ là một phạm trù văn hoá, vấn đề sự liên quan giữa phong thuỷ với các ngành khoa học, kỹ thuật, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, vấn đề mối liên hệ tương giao giữa kiến trúc cận hiện đại và phong thuỷ.

Nguy cơ 3P mà chúng tôi đề cập đến ở trên liên quan đến sinh thái học, môi trường học, đến kiến trúc và môi trường bền vững, mà lạ thay, phong thuỷ lại gắn bó với những bộ môn này và giải quyết được một số vấn đề đang tồn tại của quá trình phát triển của xã hội.

Trong cuốn “văn hoá phong thuỷ Trung Quốc” của tác giả Cao Hữu Khiêm, do nhà xuất bản Đoàn kết, Trung Quốc, xuất bản năm 2004, người Việt, khi định nghĩa Phong thuỷ, đã nhắc lại một buổi phỏng vấn Ông của Đài phát thanh Bắc Kinh ngày 22-10-1993 như sau:

- Người hỏi: Thưa Cao tiên sinh, xin ngày giải thích cho hàm nghĩa của hai chữ “phong thuỷ”.

- Trả lời: Về nguồn gốc của hai chữ “Phong - thuỷ”, chúng ta không thể không nói đến ký hiệu của hai chữ đó, về mặt văn hoá chúng có những ý nghĩa tượng trưng, chỉ xét riêng về mặt công năng, trong Phong thuỷ học có “Lý luận tàng phong” và “Lý luận đắc thuỷ”, hai lý luận này yêu cầu nơi ở phải ở vào vị trí tránh được gió, lại phải ở gần nguồn nước. Chữ “phong thuỷ” đến từ hai cái đó. Tất nhiên, để thoả mãn công năng “tàng phong”, “đắc thuỷ”, nói chung phong thuỷ học yêu cầu nơi đặt nhà về mặt cấu trúc nên “ bối sơn y thuỷ”. Như vậy, không những mỹ quan đẹp đẽ mà cuộc sống cũng rất tiện lợi”.

Tác giả cũng cho rằng nói đến phong thuỷ có nhiều nguồn liên hệ ngay đến sự mê tín, nhưng đi sâu nghiên cứu sẽ thấy hai khái niệm này "không cùng đẳng cấp".

Thật ra, phong thuỷ mang nội hàm văn hóa và tư tưởng triết học phương đông, nó ra đời căn cứ trên sự đặc sắc của tư duy văn hoá truyền thống Trung Hoa là “Thiên nhân hợp nhất”. Nếu mổ xẻ kỹ hơn, ta nên thấy được cái kiềng ba chân: “Thiên- Địa- Nhân” mà vững vàng, mà hoà hợp thì cuộc sống của con người sẽ dễ chịu hơn.

Các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho rằng: “Khoa học cho rằng, nếu ánh nắng, thông gió không tốt sẽ ảnh hưởng đến cơ năng thân thể sẽ không khoẻ, nhưng không thể chỉ bằng việc giải thích như vậy mà làm cho con người tin phục, thực ra, vẫn còn có sự tồn tại của một loại lực thần bí lớn lao, đó là sự cho phối của “khí” là cái mà chúng ta thường coi nhẹ.

“Khí” ở đây có tính chất và quy luật của nó (tức là “lý” của nó) được gọi là “đạo”. Một nhà học giả phương Tây viết: “Phong thuỷ là một khoa học chuẩn” của Cổ đại Trung Quốc, là kiến trúc học cảnh quan cổ đại Trung Quốc (Joseph).

Có những cái mà ta chưa biết nhưng không có nghĩa là nó không tồn tại.

Thời hiện đại, vì sự phát triển mạnh mẽ của nó, ngay khi có những lý luận mới về thông tin học, hệ thống lý luận, kiến thức sinh thái học, kiến trúc môi trường học...thì sự hỗn dung của luận thuyết của các bộ môn này cũng không giải quyết được nhiều vấn đề nếu không có sự “trở về”.

Và vì vậy, đã có nghiên cứu đi đến kết luận rằng: Phong thuỷ thực tế là một môn khoa học tự nhiên tổng hợp giữa Địa lý học, Khí tượng học, Sinh thái học, Cảnh quan học, Đô thị học và Kiến trúc học”.

Chatlay trong cuốn “Khoa học và Văn minh Trung Hoa” cũng viết “Phong thuỷ là nghệ thuật hoà hợp đạt được từ địa khí có xuất xứ từ khí quyển vũ trụ- nơi chốn trong không gian ở giữa thế giới người sống và người chết”

Khái niệm “địa lý”, khái niệm “Trường” ở đây rất rộng: Địa lý học nhân văn, Địa lý học nhân sinh, Địa lý học ngành vi tâm lý học môi trường, Trường tâm lý và địa lý học y khoa. Và Địa lý học cũng chỉ là một trong ba khoa học giường cột của Phong thuỷ học, hai khoa học chủ chốt khác là Thiên văn học và Khoa học nhân thể.

Có một nhà kiến trúc sư tiền phong, đó là kiến trúc sư lớn nhất thế kỷ XX, Le corbusier, mà người ta đã hiểu lầm và lên án quan điểm của ông “Nhà là cái máy để ở”, thật ra có thể ông không nghiên cứu Phong thuỷ nhưng ý niệm của ông đã “lướt qua bên sườn” môn Phong thuỷ học.

Đào Uyên Minh treo ấn từ quan trở về với “điền viên” và “sơn thuỷ” rõ ràng là một sự “trở về” sớm nhất.

William Morris và các nhà trí thức, kiến trúc sư Anh tiến bộ thời cận đại. Với tâm trạng nhớ tiếc phong cảnh trữ tình thời Trung thế kỷ, cũng như là một sự “trở về với thiên nhiên” nhưng đã không làm được gì nhiều.

Thật ra, không ít kiến trúc sư lớn phương Tây đã bị mê hoặc bởi thiên nhiên và lối sống phương Đông, ta nên ghi nhận là Frank Loyd Wright đã thiết kế Toà biệt thự trên thác (Falling Water) ở Bear Run, Mỹ sau khi thực hiện khách sạn Hoàng Gia ở Tokyo Nhật Bản.

Toà nhà Viện nghiên cứu năng lượng mặt trời thuộc trường Đại học Stuttgart Đức (Hysolar Research Institute, University of Stuttgart, 1987, Benish và Partner thiết kế), mô hình phương án kiến trúc đỉnh núi Hồng Công (1983) và một số tác phẩm kiến trúc Trạm cứu hoả của Đức (1983), Thuỵ Sĩ (1985) và toà nhà Information Pavillon ở Landesgartenschau (1999) của Zaha Hadid, đều là những Tuyến đa nghĩa (polyline) lượng sóng hoặc có hình dáng khí động học. Frank .O. Gehry cũng từng chịu ảnh hưởng của “những nét chữ cuồng thảo của thư pháp Trung Hoa” hay “vẻ đẹp đậm nhạt của tranh phong cảnh Hàn Quốc”.

Dấu ấn của tư tưởng “sùng bái tự nhiên”, cách phân tích Mỹ học, Khoa học, Nhân học, Tinh thần học và Triết học theo quan điểm “trời đất, phong cảnh hài hoà với con người” có thể dễ dàng nhận ra trong bút pháp và tác phẩm của các kiến trúc sư nổi tiếng phương Tây, từ Modelnism (Trào lưu hiện đại) đến Neo-Modennism (Hiện đại mới), từ High-tech (Công nghệ cao) đến Deconstruction (Kiến trúc giải toả kết cấu), đặc biệt ta thấy những đường nét của các Kiến trúc sư như Deconstructivist đầy sức mạnh của “khí vận”.

Song song với sự “trở về với thiên nhiên” là sự “trở về với sự thật”, và việc tiến tới “sự hài hoà âm dương”.

Werner Blasser trong cuốn “Nhà ở Tứ hợp Viện Trung Quốc” đã viết : “Âm dương chính là một hệ thống liên kết ký hiệu, nó cần sự lý giải trật tự và tỷ lệ văn hoá”.

Âm dương ở đây chính là mối quan hệ hình nền và sự thay đổi cho nhau vai trò của hình và nền.

Rõ ràng, quan niệm cơ bản và tư tưởng văn hoá truyền thống phương Tây, trong cách nhận định tự nhiên, thế giới quan và nhân sinh quan đang có sự chuyển dịch, và những biến đổi này là tất yếu, và về một khía cạnh nào đó thì thang máy, điều hoà ánh sáng điện...chỉ giải quyết được một số vấn đề về cuộc sống vật chất. Nhất là hiện nay “mưa thuận gió hoà”, đang mâu thuẫn với “thiên tai, bão lụt”, và còn cả “động đất, sóng thần” nữa.

Chặng đường nghiên cứu Phong thuỷ học, trước mắt chúng ta, còn là một chặng đường dài. Tất nhiên là còn phải bài trừ mê tín, nhưng vẻ đẹp của các vẻ Triết học, Toán học, Khoa học và Nghệ thuật của phong thuỷ sẽ lộ ra nếu biết phát hiện.

Share this post


Link to post
Share on other sites

MỘT SỐ GIÁ TRỊ CỦA PHONG THUỶ ĐỐI VỚI QUY HOẠCH XÂY DỰNG HIỆN NAY


TS.KTS Doãn Quốc Khoa

Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị

Trong quá trình giao lưu văn hoá với Trung Hoa, Việt Nam đã tiếp thu thuật phong thuỷ và vận dụng trong kiến trúc nói chung và quy hoạch xây dựng (QHXD) đô thị nói riêng. Trong “Bản sắc văn hoá Việt Nam”, GS Phan Ngọc đã đề cập đến thực tế này: “Học thuyết này (Phong thuỷ) du nhập voà Việt Nam rất sớm... ảnh hưởng của phong thuỷ thấy rất rõ trong việc định đô, tức chọn đất thích hợp để dựng kinh đô...Trong thư mục Hán Nôm của Viện Hán Nôm có đến 70 quyển về phong thuỷ chứng tỏ người Việt Nam tin Phong thuỷ” (13,356), ảnh hưởng của Phong thủy đối với kiến trúc truyền thống Việt Nam cũng được các nhà nghiên cứu về kiến trúc khẳng định như GS Ngô Huy Quỳnh trong sách “Tìm hiểu lịch sử Kiến trúc Việt Nam”, Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thượng trong sách “Mỹ thuật của người Việt”, Chu Quang Chứ trong “Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam”, Nguyễn Khắc Đạm trong “Thành cổ Việt Nam”, Nguyễn Bá Lăng trong sách “Kiến trúc Phật giáo Việt Nam”...Như vậy, đặc điểm lý luận của QHXD đô thị truyền thống Việt Nam chính là việc vận dụng nguyên lý phong thuỷ Trung Hoa trong điều kiện xây dựng cụ thể ở Việt Nam.



MỘT SỐ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA PHONG THUỶ VÀ LÝ LUẬN QHXD HIỆN ĐẠI

Trước hết, cần đối chiếu các mục tiêu, khái niệm, phương pháp của phong thuỷ với mục tiêu, khái niệm, phương pháp của QHXD.

Theo Lụât xây dựng : “Quy hoạch xây dựng là việc tổ chức không gian đô thị và điểm dân cư nông thôn, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân tại các vùng lãnh thổ, bảo đảm kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng an ninh và bảo vệ môi trường”.

Như vậy giữu QHXD và Thuật phong thuỷ có chung một mục đích, đó là tạo lập môi trường sống bền vững tốt đẹp cho con người (ngoài mục tiêu như QHXD, Phong thủy còn hướng đến tiêu chí siêu vật chất và tinh thần hơn, nhưng điều này nằm ngoài phạm vi bài viết).

Đối tượng của QHXD là toàn bộ các thành tố không gian vật chất vật thể bao gồm các yếu tố cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo do con người tạo ra. Các thành tố đó cũng tương đồng với các đối tượng của phong thuỷ, chỉ có thuật ngữ được sử dụng theo cách khác, đó là các khái niệm:

- Khái niệm “khí” trong phong thuỷ không chỉ biểu thị các yếu tố khí hậu (gió, mưa, nắng, độ ẩm...) mà còn biểu hiện thành phần vật chất không cmả nhận được mà theo triết học cổ Trung Hoa chính là bản nguyên của thế giới vạn vật, theo khoa học hiện đại là trường hạt mịn siêu nhỏ, cấy tạo nên vật chất.

- Khái niệm “sơn long” và “sa”: Theo Phong thuỷ, Sơn Long là mạch lạc của núi (khái niệm “Mạch” là nguồn gốc), đất là thịt của long, đá là xương, thảo mộc là râu tóc của Long. Sa là các núi nhỏ (tiểu sơn), tuỳ theo mức độ xa gần, lớn nhỏ có tên gọi như án sơn (là núi nhỏ che phía trước), Triều sơn là núi phía trước khu đất xây dựng nhưng to lớn và xa hơn án sơn...Như vậy, thực chất các khái niệm này biểu hiện các yếu tố địa hình, địa chất, đất và thực vật của cảnh quan tự nhiên.

- Khái niệm thuỷ long và thuỷ khẩu: theo Phong thuỷ, Thuỷ long là hệ thống lưu vực sông ngòi, thuỷ khẩu là dòng nước chảy vào và ra tại khu vực. Như vậy, khái niệm thuỷ chính là biểu hiện yếu tố mặt nước của cảnh quan tự nhiên.

- Khái niệm huyệt: theo Phong thuỷ, Huyệt là nơi tụ “khí”, tức là vị trí, là nơi mà “khí” có tác dụng tốt nhất đối với con người. Theo quan niệm hiện đại thì là nơi có môi trường khí hậu và hệ sinh thái tốt cho sức khoả vật chất- tinh thần đối với con người.

- Khái niệm Hướng: theo phong thuỷ có các hượng mộc, hoả, kim, thuỷ hoặc càn, khảm, cấn chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Thực chất đây là các hướng Đông (mộc, chấn)- Tây (kim, đoài)-Nam (hoả, ly)- Bắc (thuỷ, khảm) và Đông Nam (tốn), Tây Nam (khôn), Đông Bắc (cấn), Tây Bắc (càn) đối với vị trí người quan sát.

Trình tự của đồ án QHXD gồm nhiều bước nhưng có thể quy thành 3 bước chính : đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên- hiện trạng, luận chứng các cơ sở quy hoạch và giải pháp quy hoạch (giải pháp tổ chức không gian, giải pháp quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và giải pháp tổ chức thực hiện).

Về phương pháp tổ chức không gian, Phong thuỷ có 2 trường phái chính là Hình pháp và Lý pháp. Hình pháp là quan sát kết cấu đất và nước xung quanh công trình kiến trúc để làm cơ sở bố cục kiến trúc. Lý pháp là dự vào 2 phương diện thời gian và không gian để khảo sát quan hệ giữa con người và môi trường. Về Hình pháp, có là 5 nội dung chính : mịch long, sát sa, quan thuỷ, điểm huyệt, lập hướng.

- Mịch long là tìm tổ tông cha mẹ, xét khí mạch và phân biệt sinh khí âm dương. Tổ tông của núi là nơi xuất xứ của sơn mạch, là nơi khởi nguyên của dãy núi. Cha mẹ là phần đầu của sơn mạch. Xét khí mạch là xem sơn mạch liền hay đứt quãng....như vậy mịch long chính là đánh giá đặc điểm các yếu tố địa hình- địa chất, đất, thực động vật để phục vụ tổ chức, không gian kiến trúc.

- Sát sa: quan sát vị trí, hình thái các núi, đồi tại khu vực quy hoạch.

- Quan thuỷ: là quan sát hìn thái dòng nước (thẳng/cong, rộng/hẹp, trong/đục, nông/sâu, vuông/méo...) làm cơ sở đánh giá chất lượng yếu tố nước.

- Điểm huyệt: là từ các đặc điểm của các yếu tố tự nhiên (Long, Sa, Thuỷ) mà tìm ra vị trí thích hợp cho việc xây dựng công trình, nơi có môi trường khí hậu tốt nhất cho cuộc sống con người (sinh khí).

- Lập hướng là chọn hướng cho công trình xây dựng sao cho tạo được môi trường khí hậu có lợi nhất đối với con người.

Như vậy, hoạt động Mịch long, sát sa, Quan thuỷ tương đồng với nội dung đánh giá tổng hợp các điền kiện tự nhiên- hiện trạng trong QHXD. Hoạt động điểm huyệt tương đồng với việc lựa chọn xây dựng 1 đô thị, 1 khu đô thị hoặc 1 công trình. Hoạt động lập hướng tương đồng với nội dung lựa chọn hướng trục không gian cho không chỉ một ngôi nhà mà cả 1 đô thị,, 1 khu chức năng. Đối với tổ chức không gian công trình kiến trúc hiện nay, dù được ứng dụng nhiều tiến bộ về vật liệu, trong thiết bị nhưng vấn đề hướng nhà vẫn được quan tâm hàng đầu. Đặt hướng nhà phù hợp sẽ tạo được về khí hậu tốt cho ngôi nhà: thông thoáng chiếu sáng tự nhiên, hạn chế bức xạ...



MỘT SỐ GIÁ TRỊ CỦA PHONG THỦY ĐỐI VỚI KIẾN TRÚC- QHXD HIỆN NAY

Trong bối cảnh hiện nay, do có sự thay đổi căn bản về khoa học- công nghệ, về kinh tế xã hội nên không thể áp dụng nguyên những lý luận của phong thuỷ vào tổ chức không gian kiến trúc- quy hoạch. Theo quan điểm cá nhân, ngoài những giá trị về lịch sử, văn hoá nói chung, những giá trị của phong thuỷ có thẻ học tập, kế thừc trong QHXD có lẽ chủ yếu ở khía cạnh nhận thức và phương pháp.

a, Phương pháp tư duy tổng hợp

Trong Phong thuỷ, các yếu tố của không gian xây dựng được nhận thức thông quan các khái niệm “khí”, “long”, “sa” và “thuỷ khẩu”.

- Khái niệm “Khí” : Trong cảnh quan đô thị truyền thống, Km khí không chỉ biểu hiện các yếu tố có thể nhận thức được qua giác quan (như yếu tố khí hậu mà con người nhận thức được qua cảm giác nóng, lạnh, khô, ẩm) mà cả thành phần chỉ cảm nhận được bằng trực giác mà phong thuỷ chia thành “thiên khí” và “địa khí”. Thiên khí là các bức xạ vũ trụ, gồm sóng cực ngắn (vi ba) và bức xạ điện từ của các thiên thể trong vũ trụ (bức xạ ánh sáng mà con người nhận thức được chỉ là phần rất nhỏ trong đó). Hiện tượng bão từ do hoạt động của mặt trời (đi đôi với các khoảng tối và các vụ nổ lớn trong vũ trụ) và những ảnh hưởng của nó đối với hoạt động con người theo các chu kỳ nhất định. Địa khí bao gồm các loại sóng từ địa cực (từ trường), bức xạ cua nham thạch, của hoá chất...hình thành do quá trình vận động trong lòng trái đất và các hoạt động kiến tạo địa chất.

Như vậy, khái niệm về khí trong phong thuỷ cũng trùng với khái niệm về môi trường vật lý trong kiến trúc và QHXD hiện đại nhưng có ưu điểm là tổng hợp, ngoài các thành phần con người cảm giác được còn bao quát cả các thành phần không cảm giảm giác được trực tiếp mà phải có phương tiện kỹ thuật cao như các loại sóng, hạt tạo nên trường khí tồn tại trong vũ trụ và bao bọc xung quanh trái đất, xung quanh từng vật thể và sinh vật (trong đó có cả con người).

- Khái niệm “Long sơn” và “sa” biểu thị tất cả các đặc điểm của yếu tố địa hình- địa chất- thuỷ văn- thổ nhưỡng và thực vật. Khái niệm này của Phong thuỷ có tính tổng hợp bởi đây là 3 đặc điểm của cùng một yếu tố: yếu tố “Đất”.

- Khái niệm “thuỷ” biểu hiện tất cả những đặc điểm liên quan đến yếu tố mặt nước, từ lưu vực, chế độ thuỷ văn đến hình thái dòng chảy (trong, đục, mạnh, yếu, thẳng, cong, ngoằn ngèo....

Tóm lại, các yếu tố tự nhiên trong phong thuỷ cũng chính là các yếu tố tự nhiên trong QHXD hiện đại, tuy nhiên, trong khi QHXD phân tách thành nhiều yếu tố thì phong thuỷ chỉ cần 3 yếu tố chính là “đất”, “nước” và “khí”. Chính vì vậy, giá trị của Phong thuỷ là tính tổng hợp trong nhận thức về các yếu tố của môi trường xây dựng.

b, Tính biện chứng trong nhận thức về cấu trúc của không gian xây dựng

Giữa các thành phần không gian xây dựng có mối liên hệ chặt chẽ. Trong khi QHXD thường tập trung đánh giá lại khu vực quy hoạch thì trong phong thuỷ, phạm vi nghiên cứu rộng hơn rất nhiều, đến tận ngọn nguồn của từng yếu tố, đó là việc kết hợp xem xét long sơn, long thuỷ luôn kèm theo tổ long, cán long và bàng long...

Giữa các yếu tố môi trường xây dựng như khí- đất và nước được nhận thức có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ: yếu tố khí là yếu tố quyết định đặc điểm, chất lượng phần đất và nước và toàn bộ cảnh quan: “Khí biến hoá vô cùng, có thể biến thành nước, tích tụ nước thành sông ngòi (Hà lưu) hoặc thành núi (Sơn mạch), vì vậy có thể qua hình thế đường đi của nước, của núi mà đoán định được đường đi của “khí” hoặc “Sinh khí là cái nguyên tố đem lại sức sống cho muôn vật, làm cho muôn vật nảy nở sinh trưởng. Sinh khí luôn tồn tại và vận hành trong lòng đất, trên không trung tuỳ theo hình thể luồng lạch cao thấo của đất mà vận động, khi di chuyển khí tụ lại”. Giữa sơn và thuỷ cũng gắn bó mật thiết với nhau : “Thuỷ long bắt nguồn từ các tổ sơn, chảy theo các sơn long”, yếu tố đất và cây cối được coi là thành phần của long (râu tóc của long). Điều này tương đồng với nhận thức về cấu trúc của cảnh quan theo quan niệm hiện đại.

Như vậy, tính biện chứng trong cấu trúc của môi trường xây dựng (bao gồm cả yếu tố tự nhiên và nhân tạo) là một trong những giá trị của phong thuỷ mà người làm QHXD hiện nay cần học tập.

c- Giá trị nhận thức về mối quan hệ tác động con người- môi trường xây dựng.

Về tác động của môi trường xây dựng đối với con người, phong thuỷ cho rằng thông qua tác động của “khí”, đặc điểm môi trường, đặc biệt là các yếu tố thiên nhiên có vai trò quyết định chất lượng cuộc sống con người, sức khoả, sự thông minh, thành đạt... Đây thực sự là bài học cho các nhà quản lý, thiết kế khi phải đối mặt với các vấn đề về mất cân bằng và huỷ diệt hệ sinh thái, ô nhiễm môi trường, về sa mạc hoá, về biến đổi khí hậu...của nhiều khu chức năng và toàn đô thị.

Về tác động con người đối với môi trường xây dựng, lý luận phong thuỷ chỉ ra nguyên tắc tạo môi trường sống không chỉ thụ động là chọn vị trí xây dựng, chọn hướng nhà mà con người có thể chủ động cải biến môi trường cho tốt lên như: đào ao, hồ, trồng cây, đắp núi, xây bình phong.... Đây cũng là một giá trị về vai trò chủ động của con người của phong thuỷ trong việc khắc phục những điểm yếu của môi trường xây dựng, tạo cho môi trường tốt đẹp hơn.

d- Giá trị về vận dụng triết lý cổ Phương Đông trong tổ chức không gian.

Phong thuỷ sử dụng các quy luật nguyên lý âm dương- ngũ hành làm cơ sở cho đánh giá và xác định giải pháp tổ chức không gian. Tuỳ theo tính chất, hình thể, màu sắc, tương quan vị trí...của cácc thành phần tự nhiên mà quy thuộc thành các yếu tố âm dương và ngũ hành. Các nguyên lý về mối quan hệ âm dương, quan hệ tương sinh tương khắc theo ngũ hành được sử dụng làm cơ sở để đánh giá chất lượng môi trường tự nhiên tại từng khu vực cụ thể cũng như làm cơ sở để chọn địa điẻm xây dựng đô thị (điểm huyệt) hay chọn hướng (lập hướng) cũng như bố cục các thnàh phần không gian.

Như đánh giá của các nhà triết học thì triết lý âm dương- ngũ hành chính là tư duy biện chứng triết học (sự thống nhất của hai mặt đối lập). Mặc dù việc sử dụng nguyên lý âm dương và ngũ hành không còn phù hợp với trình độ phát triển khoa học hiện nay nhưng tư tưởng thống nhất trong sự đối nghịch và hài hoà âm dương vẫn có giá trị giúp người thiết kế QH nhận thức một cách khái quát về mối tương quan giữa các yếu tố- thành phần trong một không gian xây dựng, khả năng tạo lập sự cân bằng hay mất cân bằng của chúng.

e- Giá trị về tính linh hoạt, không giáo điều trong vận dụng các nguyên tắc tổ chức không gian.

Các nguyên tắc phong thuỷ được cho ông chúng ta vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế. Có thể ví dụ quy hoạch khu kinh đô Phú Xuân: Trục “thần đạo” của kinh đô Phú Xuân không theo hướng chính Bắc- Nam như nguyên tắc PHong thuỷ “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ (Vua quay mặt về phương Nam để nghe thiên hạ tâu bày) mà là hướng Tây Bắc- Đông Nam, là hướng phù hợp nhất với điều kiện địa hình - mặt nước là núi Ngự Bình (tiền án) và sông Hương (Minh đường- Thuỷ khẩu), công Hến, Dã Viên (Thanh Long - Bạch Hổ). Đồng thời đây là hướng tạo được môi trường khí hậu tốt hơn cả cho bố trí các công trình kiến trúc. Nhiều công trình kiến trúc cổ được xây dựng theo lý luận phong thuỷ cũng thể hiện được giá trị này như mô hình “dựa núi” của kinh thành Thăng Long chỉ là tượng trưng bởi đây là vùng cảnh quan đồng bằng thấp, các dãy núi gần nhất là Ba Vì, Tam Đảo cách xa hơn 30 km đường chim bay. Các công trình như Lam Kinh đời nhà Lê, lăng mộ các vua nhà Nguyễn...là sự phối hợp tài tình giữa nguyên tắc Phong thuỷ với thực tế địa hình- mặt nước tại khu vực xây dựng.

g- Giá trị về tính hài hoà cân bằng

Các công trình cổ xây dựng theo lý luận phong thuỷ thường có tỷ lệ không gian vừa phải so với tầm vóc và cảm giác của con người. Con người khi tiếp nhận hoặc đứng trong không gian xây dựng không bị áp chế mà cảm thấy gần gũi, quen thuộc. Các thành phần cảnh quan tự nhiên và công trình kiến trúc được gắn kết thành 1 tổng thể hài hoà, có hướng- trục, chính-phụ rõ ràng... Điển hình là kinh đô Phú Xuân theo đánh giá của Uỷ ban Di sản thế giới năm 1993: “Quần thể di tích Huế... được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX trong sự kết hợp các triết lý phương Đông và truyền thống Việt Nam. Sự hoà quyện vào môi trường thiên nhiên, vẻ đẹp của kiến trúc, đặt biệt là trang trí ở các toà nhà là một phản ánh độc đáo của nền đế chế Việt Nam xưa vào thời cao điểm của nó”. Có thể nói, với thực trạng xây dựng lộn xộn tại các đô thị hiện nay, các nhà quản lý, thiết kế cần học tập thấu đáo bài học về việc tạo lập một môi trường hài hoà, cân bằng giữa con người- môi trường xây dựng, giữa công trình xây dựng và cảnh quan tự nhiên của phong thuỷ.

h- Giá trị về kiến trúc- QHXD nhiệt đới Việt Nam.

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới và một cách hiển nhiên, kiến trúc Việt Nam phải là kiến trúc nhiệt đới. Tuy nhiên, quan thực tế kiến trcú- QHXD thời gian gần đây, chúng ta thấy các loại kiến trúc- QH không phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới tồn tại khá nhiều. Tình trạng nóng bức, bí gió hoặc gió lùa, không thông thoáng, ẩm thấp, ánh sáng tối hoặc chói, ngập úng, thấm dột khi mưa...là căn bệnh kinh niên của khá nhiều công trình. Công trình kiến trúc- đô thị không phù hợp, thích ứng với điều kiện khí hậu không chỉ giảm độ bền, tiện nghi sử dụng, tốn kém tiền của trong sử dụng sửa chữa mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm sinh lý và tinh thần của con người. Viện Kiến trúc nhiệt đới thuộc trường Đại học Kiến trúc được thành lập để nghiên cứu vấn đề này. Mặc dù đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học và 3 hội thảo khoa học về kiến trúc nhiệt đới nhưng thực thế vẫn còn nhiều tồn tại về nhận thức, về lý luận và ứng dụng lý luận vào thực tiễn. Các nguyên tắc, giải pháp nhiệt đới hoá kiến trúc vẫn đứng trước sự thời ở của các nhà quản lý, thiết kế, xây dựng và sản xuất vật liệu. Qua thực tế này, càng thấy rõ hơn giá trị và bài học của Phong thuỷ ở khía cạnh tạo môi trường xây dựng thích ứng với cảnh quan thiên nhiên nói chúng và đặc điểm khí hậu của khu vực nói riêng.

KẾT LUẬN

1- Trong bối cảnh phát triển hiện nay, đã đến lúc không thể kéo dài tình trạng mập mờ giữa thật giả, đúng sai...trong cách hiểu, cách vận dụng phong thuỷ. Cần loại bỏ những nội dung, giải pháp lạc hậu, không phù hợp với cuộc sống hiện đại. Cần hệ thống, đưa vào thực nghiệm những mô hình, nguyên tắc giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn của Phong thuỷ. Những kiến thức có chọn lọc của Phong thuỷ cần bổ xung và lý luận kiến trúc- QHXD hiện đại và trang bị cho những người làm công tác tư vấn thiết kế kiến trúc- QHXD công tác quản lý đầu tư và xây dựng và đến người dân, các chủ đầu tư xây dựng. Cụ thể hơn, những lý luận có tính tích cực của phong thuỷ sẽ rất bổ ích trong việc:

- Công tác quản lý, thiết kế, tôn tạo bảo tồn các di tích kiến trúc nghệ thuật và thằng cảnh, từ công trình đơn lẻ đến tổ hợp công trình- cảnh quan thiên nhiên, cho đến cả một đô thị hoặc khu dân cư nông thôn.

- Công tác thiết kế, quản lý các không gian xây dựng mới nhằm nâng cao hơn tính hòi hoà giữa nhân tạo- tự nhiên, lồng ghép tính triết lý, giáo dục và thông tin của các thành phần không gian, hướng tới sự bền vững, hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc.

2- Đánh giá đầy đủ bản chất của phong thuỷm tìm ra được những giá trị của phong thuỷ và khai thác kế thừa trong kiến trúc- QHXD là một mảng nghiên cứu- ứng dụng thực tiễn rất rộng lớn. Để giải quyết thấu đáo vấn đề này phải có sự tham gia phối hợp của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều cơ quan chuyên môn trong việc:

- Xây dựng một chương trình nghiên cứu và ứng dụng phong thuỷ trong xây dựng mang tầm cỡ quốc gia để huy động được nhân lực, vật lực trên toàn quốc với nhiều nhánh đề tài khảo sát, điều tra- nghiên cứu thực nghiệm và triển khai.

- Tham khảo, tiếp thu thành quả nghiên cứu về Phong thuỷ của một số nước đi trước.

- Tổ chức các cuộc hội thảo khoa học chuyên sâu về các khía cạnh của Phong thuỷ

- Tăng cường hoạt động thông tin những nghiên cứu về phong thuỷ thông qua các sách chuyên khảo cũng như phương tiện thông tin hiện đại.

- Đưa Phong thuỷ (đã được tinh lọc) thành một môn học trong chương trình đào tạo KTS, KTS cảnh quan, Quản lý đô thị ở cả bậc đại học và trên đại học.

Để có thể thực hiện được chương trình nêu trên, có lẽ việc hình thành một tổ chức nghề nghiệp như Hội hoặc Hiệp hội “Nghiên cứu Phong thuỷ” là cần thiết để có thể tập hợp các nhà nghiên cứu- ứng dụng phong thuỷ hiện đang tản mát ở nhiều cơ quan, trong xã hội, cả các nhà nghiên cứu chuyên sâu và nghiệp dư cũng như sự tham gia của các cơ quan, đơn vị về tư vấn thiết kế, về đầu tư xây dựng...mới có thể có điều kiện tổ chức thực nghiệm và triển khai các nghiên cứu trong thực tiễn.

3- Với thực tế phát triển đô thị hoá hiện nay, rất nhiều di sản có liên quan đến Phong thuỷ đứng trước nguy cơ bị huỷ hoại, ví dụ như việc xây dựng khách sạn trên Đồi Vọng Cảnh (TT Huế), việc lấn chiếm xây dựng tại khu di tích Cổ Loa, Hà Nội...cũng như nhiều thành tố thiên nhiên như sông, hồ, núi, đồi, cây cối ở nhiều danh lam thắng cảnh khác. Những chương trình đầu tư, tôn tạo bảo tồn của Nhà nước, nếu không được bổ xung thêm những nghiên cứu theo góc độ phong thuỷ, có khả năng sẽ vô tình phá bỏ hoặc làm biến dạng những không gian phong thuỷ có giá trị văn hoá, lịch sử và môi trường mà sau này, dù có nhiều tiền của cũng không thể phục hồi lại được. Để giảm thiểu nguy cơ trên, việc trược mắt cần làm là phải nhanh chóng đưa ra tiêu chí phân loại, đánh giá và các khuyến cáo về góc độ phong thuỷ đối với công tác quản lý- thiết kế- xây dựng hệ thống các di tích kiến trúc- văn hoá- lịch sử ở tầm rộng hơn, những đô thị có bề dày lịch sử, được xây dựng liên quan đến nguyên lý phong thuỷ (ví dụ như thành phố Hà Nội, thành phố Huế) cũng cần thực hiện ngay những nghiên cứu chuyên ngành về phong thuỷ để các cơ quan quản lý, tư vấn tham khảo như 1 cơ sở cho lập đồ án QHXD và quản lý xây dựng. Trong QHXD, một trong những vấn đề quan trọng và nan giải đó là câu hỏi: Khu vực nào cần bảo tồn, phạm vi bảo tồn và hạn chế xây dựng đến đâu, mức độ phối hợp giữa công trình kiến trúc, cảnh quan cũ- mới như thế nào....Nếu chỉ tuân theo các nguyên lý QHXD thông thường thì đồ án quy hoạch đó khó có thể đạt được yêu cầu về phát triển bền vững (nghĩa rộng bao gồm bền vững về môi trường thiên nhiên, bền vững về văn hoá- xã hội...) yêu cầu về tạo lập bản sắc địa phương và văn hoá truyền thống.

Trên đây là một số ý kiến của cá nhân nhằm xới xáo vấn đề tìm lại và phát huy các giá trị truyền thống trong kiến trúc – QHXD. Hy vọng rằng việc nghiên cứu về Phong thuỷ sẽ được quan tâm nhiều hơn để kế thừa các giá trị của Phong thuỷ, góp phần xây dựng nền kiến trúc- QHXD hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.

Share this post


Link to post
Share on other sites

THUẬT PHONG THỦY VỚI TIẾN TRÌNH

LỊCH SỬ KIẾN TRÚC VIỆT NAM

GS.TSKTS. NGUYỄN BÁ ĐANG

Viên Nghiên cứu Kiến trúc - Bộ Xây Dựng

I. Thuật Phong Thủy và Nguồn góc xuất xứ

Phong thủy là gió và nước. Phong thủy là thuật bố trí công trình xây dựng, sân vườn và các đồ đạc trong nhà sao cho phù hợp với thiên nhiên, tạo nên cuộc sống hài hòa, làm ăn thuận lợi, tránh tai họa, gìn giữ được sức khỏe cho người ở. Thuật phong thủy cũng áp dụng cho việc xây dựng mồ mả để huyệt kết phát, sinh khí vượng phát cho con cháu.

Thuật phong thủy có nguồn góc xuất xứ từ đời nhà Tần (Tần Thủy Hòang) Trung Hoa. Mới đầu chỉ là những kinh nghiệm lưu truyền trong dân gian về việc chọn đất để xây dựng nhà ở và mồ mả, sau dần dần được nâng lên thành hệ thống lý luận, in thành sách truyền ba trong nước. Đời nhà Tấn có sách phong thủy “Táng thư” của ông Quách Phác - Thủy tổ Thuật phong thủy Trung Hoa. Thời Tam Quốc nổi tiếng về phong thủy có ông Quản Lộ. Thuật phong thủy ở Trung Hoa có nhiều trường phái. Lý thuyết về phong thủy đồ sộ, phức tạp, mang nhiều nét thần bí, trên cơ sở tiếp thu kinh dịch, lão giáo và các tôn giáo dân gian ..v..v.. Từ thời cổ đại, trung đại thuật phong thủy đã lan sang phương Tây cùng với phong trào tập yoga, thái cực quyền, thiền .. Một số nứơc đã thành lập Hội phong thủy, đã tổ chức nhiều buổi thuyết trình về phong thủy.

II. Thuật Phong thủy với kiến trúc Việt Nam.

2.1 - Từ thế kỹ XIX trở về trước: Thuật phong thủy truyền bá sang Việt Nam từ thời nghìn năm Bắc thuộc. Với trên 2000 năm lịch sự của nền kiến trúc Việt Nam, các loại hình kiến trúc truyền thống như các đô thị cổ (Thăng Long Hà Nội, Huế ..v..v) các làng cổ (Đường Lâm – Sơn Tây, Phước Tích - Thừa Thiên Huế .v..v. ) Các Thành cổ, các cung điện, dinh thự, các công trình tôn giáo tín ngưỡng: chùa, đền, miếu, nhà thờ, các công trình công cộng như: Đình làng, các nhà ở dân gianl tất cả đều được xây dựng trên cơ sở của thuật phong thủy. Người nổi tiếng nghiên cứu về phong thủy có ông Lý Bá Truyền, ông đã cùng 72 học giả soạn thảo “Hồng vũ cấm thư” trên cơ sở của thuật phong thủy Trung Hoa. Tiếp theo là cụ Tả Ao soạn thảo “Địa đạo diễn ca” với nhiều điển hình về thế đất. Các học giả Việt Nam như Lê Quý Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan đã xây dựng nên thuật phong thủy Việt Nam trên cơ sở kết hợp lý thuyết phong thủy Trung Hoa với đặc trưng khí hậu và thiên nhiên Việt Nam (hướng gió, độ ẩm, mức nước ngầm ..). Luật phong thủy là nguyên tắc cơ bản xây dựng các công trình kiến trúc truyền thống Việt Nam.

2.2- Cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX. Kiến trúc Việt Nam bước vào thời kỳ hiện đại, ngả theo văn hóa phương Tây, Thuật Phong Thủy không còn được xem là cơ sở nền tảng trong xây dựng các công trình đô thị, thay vào đó là những lý thuyết, nguyên lý thiết kế, vật lý xây dựng khoa học kỹ thuật từ phương tây truyền sang (chuyên gia Pháp, Mỹ, Nga ..) Song các nguyên tác của thuật phong thủy vẫn tồn tại, lưu truyền không công khai trong xây dựng dân gian. Như xem tướng đất, xem hướng nhà, cổng ngõ tốt hay xấu (Bát Cẩm Trạch) cùng những tục lệ trong việc xây cất nhà cửa như xem ngày động thổ, đào móng hay cất nóc v..v.. ở các trường đào tạo kiến trúc sư, thuật phong thủy thường được đề cập một cách khái quát, trong nhân tố văn hóa có ảnh hưởng đến sự hình thành bản sắc của kiến trúc truyền thống (Môn Lịch sử Kiến trúc Việt Nam). Thiếu nghiên cứu, thiếu tư liệu, phong thủy đã được xem như một lĩnh vực huyền bí, siêu thực.

2.3- Bước vào thế kỷ XXI: Thế kỷ được coi nhưsự nổi trội của văn hóa phương Đông của thế giới Tâm linh. Thuật Phong thủy được giới khoa học cả phương Đông của thế giới Tâm linh. Thuật phong thủy được giới khoa học cả Đông lẫn Tây Âu coi trọng. Một số các kiến trúc sư Tây Âu thừa nhận những điều “nên” và “không nên” trong thuật phong thủy cũng là những quy tắc hợp lý thuộc lĩnh vực “Vệ sinh đời sống” và môi trường: “là một hệ thống đánh giá cảnh quan nhằm tìm một địa điểm tốt lành cho công trình kiến trúc, nó là nghệ thuật lựa chọn địa điểm và bố cục địa lý ..”

Trong các vấn đề phong thủy của văn hóa Phương đông đến các khía cạnh của văn minh phương Tây đang quan tâm như sau:

Văn hóa Phương Đông quan niệm người với trời đất là một thể thống nhất. Con người là “một tiểu vụ trụ”: thiên nhiên là “một đại vũ trụ” do đó đời sống sinh mệnh của con người gắn với sự chuyển dịch của vũ trụ và thiên nhiên. Sự chuyển dịch của vũ trụ, năng lượng hoặc hơi thở của vũ trụ đó được gọi là khí. Sự vận dụng được khí đó để tạo ra môi trường có lợi cho hoạt động con người là điều cần thiết. Con người sống hài hoà với thiên nhiên (thiên, địa, nhân) chính là tạo sự phát triển bền vững, ổn định và theo quy luật khách quan.

Thuật phong thủy đề cập đến 2 yếu tố: yếu tố tự nhiên và yếu tố tâm lý tác động đến con người.

Yếu tố tự nhiên bao gồm: Khí hậu (gió, nhiệt độ, ánh nắng, độ ẩm) nước ngầm, nước mặt và một số yếu tố đặc biệt: dòng địa điện, biến đổi từ trường, lực do trái đất quay (khoa học kỹ thuật có thể đo đựơc).

Yếu tố tâm lý: Tâm lý con người muốn sống khỏe, sống lâu hạnh phúc, làm ăn phát đạt .. Cấu trúc nhà cửa có liên quan đến hệ số đo, chia khỏang, nâng bậc cầu thang, số cột .. để tạo tâm lý tốt cho người sử dụng. Hiện nay ở nước ta có bán nhiều sách phong thủy chủ yếu dịch từ sách Trung Hoa, một số dịch từ sách của các học giả Tây phương nghiên cứu phong thủy Trung Hoa. Đó là những tư liệu cần thiết cho nghiên cứu phong thủy Việt Nam, phù hợp với các yếu tố tự nhiên của đất nước Việt Nam với cái tâm lý của người Việt Nam, của 54 dân tộc sống trong 7 vùng sinh thái của đất nước.

Kết luận:

Phong thủy là một môn khoa học cần được nghiên cứu sâu, có hệ thống từ lý thuyết đến thực hành, để có thể vận dụng vào xây dựng trên cơ sở khoa học, tránh sự huyền bí mê tín, phong thủy sẽ mãi mãi gắn bó với kiến trúc Việt Nam trên sự kết hợp văn hóa á Đông và văn minh Phương Tây.

ĐỔI MỚI NHẬN THỨC VÀ ỨNG DỤNG

PHONG THỦY TRONG KIẾN TRÚC

ĐỒNG NGHĨA VỚI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG TRONG MÔI TRƯỜNG NHIỆT ĐỚI ẨM VIỆT NAM

PGS.TS.KTS. NGUYỄN MINH SƠN

VIỆN NGHIÊN CỨU NHIỆT ĐỚI – ĐH KIẾN TRÚC HN

Với mong muốn xã hội nhận thức đúng tính xác thực và vai trò của thuật phong thủy ứng dụng vào thiết kế kiến trúc và quy hoạch xây dựng, sẽ mang lại hiệu qua to lớn về kinh tế - xã hội, môi trường sống và nếu thực sự tiến hành được những thí nghiệm có kiếm chứng thì sẽ ngăn chặn và loại bỏ được hiện tượng mê tín dị đoan mang tính lừa gạt.

Thuật phong thủy đã được người Trung Hoa nghiên cứu từ lâu và đã được nhiều nước ứng dụng trong những lĩnh vực khác nhau phục vụ đời sống xã hội, đặc biệt ở các nước Châu Á… Ngày nay ở một số nước thuộc các châu lục khác nhau trên thế giới cũng đã đầu tư những nghiên cứu và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau theo thuật phong thủy rất bài bản.

Vài nét về thuật phong thủy

Trong cách ứng xử truyền thống, khi lựa chọn địa điểm xây dựng các khu dân cư, hoặc sắp đặt vị trí các thành phần ngôi nhà, người ta thường “nhờ cậy” đến người gọi là “thầy địa lý” với mong muốn đơn giản là sự lựa chọn và sắp đặt ấy phù hợp với điều kiện địa hình, sinh khí và đồng thuận với chủ sở hữu công trình đó. Đây là hiện tượng thường thấy và được hiểu là hiện tượng dị thường của tiềm năng con người. Hiện nay, ở đâu đó, trong một thời điểm nào đó, một số nhà quy hoạch và thiết kế kiến trúc có những ứng dụng thuật phong thủy đã mang lại những kết quả khả quan. Tuy nhiên, trong thực tế xã hội thuật phong thủy vẫn được hiểu như một vấn đề huyền bí, khó hiểu. Một số cá nhân đã lợi dụng thuật phong thủy để mê hoặc, kiếm lợi. Ngoài ra, không ít sách được in ấn bày bán đã thể hiện thuật phong thủy dưới dạng kỳ bí, thậm chí sai lệch với nguyên lý thuật phong thủy. Mặt khác, giới khoa học nói chung chưa thừa nhận hiện tượng dị thường của con người do thiếu các thí nghiệm cần thiết có kiểm soát thì những kết luận được đưa ra sẽ thiếu thuyết phục và “hiện tượng dị thường đòi hỏi bằng chứng dị thường”. Khoa học cũng chưa đưa ra được minh chứng bác bỏ nào theo các tiêu chí khoa học. Về những hiện tượng dị thường, trong đó có việc quy hoạch, lựa chọn hướng nhà, sắp đặt các thành phần ngôi nhà cũng không ngoài những quy luật mà chúng ta thường gọi là thuật phong thủy.

Tuy nhiên, hiện nay về khoa học cơ bản thì thuật phong thủy là một vấn đề chưa được khám phá và nằm ngoài giới hạn của khoa học hiện hành, vượt xa mức tưởng tượng của bất kỳ ai khi loài người sẽ thay đổi hoàn toàn cách đánh giá về vũ trụ và bản chất sự sống vì phong thủy nói lên tiềm năng, năng lượng của thiên nhiên, trời đất, vũ trụ, môi trường và con người… những tiềm năng này là khái niệm chính để khảo sát thế giới cuộc sống.

Về khoa học ứng dụng, nếu bản chất của thuật phong thủy được nhận thức đúng, được hiểu trên cơ sở khoa học và được ứng dụng thì sẽ tạo ra một cuộc cách mạng vô cùng to lớn trong quy hoạch đô thị, phát triển kiến trúc và những lợi ích khác như khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, an toàn về môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả… đó cũng chính là phát triển bền vững mà toàn nhân loại đang hướng tới.

Sự thật về thuật phong thủy

Thuật phong thủy là vấn đề hết sức nhạy cảm và mang tính xã hội rất cao, ứng dụng nó không chỉ phụ thuộc vào lý thuyết mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự giác ngộ tâm linh. Nội dung cơ bản của phong thủy là một loại tri thức người ta dùng để lựa chọn và xử lý hoàn cảnh sống của phần dương trạch (quy hoạch, kiến trúc…) và phần âm trạch (lăng mộ, huyệt táng…) nhằm mục đích thỏa mãn tâm sinh lý của con người, tránh cái dữ, cái rủi ro, lấy cái lành, cái may mắn.

“Phong thủy” có nghĩa là “gió và nước”, là hai đại lượng trong ngũ đại Dục giới (đất, nước, gió, lửa, thần thức). Hai đại lượng này rất linh hoạt, luôn chuyển hóa khi tương tác với các đại lượng khác. Mặt khác, nếu nhìn trên khía cạnh khoa học thì phong thủy là quan hệ tự nhiên vốn có giữa từ trường trái đất, địa tầng và sức khỏe, sinh lý con người. Từ xa xưa, phong thủy có hai trường phái: Hình (dựa vào thế đất) và khí (dùng âm dương bát quái suy ra lành, dữ). Do vậy, thuật phong thủy không thuần túy do “gió và nước” mà còn là siêu tương tác của Ngũ đại Dục giới. Địa lý phong thủy là môn nghiên cứu sự cảm ứng của dòng năng lượng khi đi qua các dạng địa hình, địa vật. Sự cảm ứng này là hàm số biến thiên bởi khí năng, thủy năng và tâm năng. Sự biến thiên đó phụ thuộc vào các yếu tố: khí tượng thủy văn; vị trí địa lý, địa hình, địa chất, con người. Các tác nhân này chính là thiên - địa - nhân.

Trải qua lịch sử phát triển của loài người, giai đoạn nào cũng có những học giả tài ba kế tục và phát triển. Bên cạnh đó cũng xuất hiện nhiều các học phái khác nhau, thậm chí có nhiều khi đối lập nhau và cho đến nay có nhiều luận điểm chưa rõ ràng. Tựu chung lại, thuật phong thủy nghe có vẻ huyền bí nhưng thực ra lại rất thực tế và gần gũi với đời sống. Người ta có thể xác định được nguyên nhân phát sinh quan niệm phong thủy chính là vì con người nhận thấy sự nhỏ bé, bất lực của mình trước thiên nhiên bao la đầy bí ẩn, trở nên sùng bái thiên nhiên, tìm mọi cách để thích ứng, hòa thuận cùng thiên nhiên.

Bản chất của phong thủy là học thuyết cổ xưa nghiên cứu sự ảnh hưởng của Gió (hướng gió, khí…), của Nước (mạch nước, nguồn nước…) đến đời sống, họa phúc của con người. Cũng từ đó phong thủy được chia làm hai lĩnh vực:

- Dương trạch: là cuộc đất được dùng làm nơi cư trú của người đang sống như làng mạc, thành phố, nhà cửa, đình chùa, miếu mạo…

Dương trạch cần phải hài hòa với thiên nhiên, có môi trường sạch đẹp, làm cho con người luôn cảm thấy vui vẻ, khỏe mạnh, thành đạt, hạnh phúc. Dương trạch tốt tức là môi trường tốt.

- Âm trạch: là cuộc đất dành cho nghĩa địa, mồ mả… thuật phong thủy cho rằng nếu người chết được an táng vào cuộc đất tốt về phong thủy thì sẽ truyền được phúc đức cho con cháu đời sau.

Dương và âm trạch theo quan niệm của con người có quan hệ hữu cơ với trời đất cả khi sống và sau khi chết.

Về thiên: Chấp nhận có sinh khí giáng xuống (gọi là Dương giáng) trên các đỉnh núi cao. Thừa nhận của các vì sao ảnh hưởng đến con người. Sự tương tác của các lực vũ trụ ảnh hưởng theo thời gian đến con người khác nhau. Ảnh hưởng theo chu kỳ của 9 hành tinh trong hệ mặt trời, được đại diện bởi Cửu tinh đồ xoay chuyển theo Quỹ đạo của Hà Đồ (không như quan niệm của cổ văn chữ Hán từ trước đến nay là theo quỹ đạo Lạc Thư). Phải chăng 9 Sao và Hạn (La Hầu, Thổ Tú, Thủy Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Vân Hán, Kế Đô, Thái Âm, Mộc Đức và Tam Kheo, Ngũ Hộ, Thiên Tinh, Toán Tận, Thiên La, Địa Võng, Diêm Vương, Hoàng Tuyền) ảnh hưởng tuần hoàn theo chu kỳ sinh học của con người là đại lượng đo lường ảnh hưởng sự tương tác của 9 hành tinh trong hệ mặt trời đối với con người. Còn Cửu tinh đồ là đại lượng đặc trưng của sự tương tác các hành tinh trong hệ mặt trời với từng cuộc đất.

Ngoài ra còn ảnh hưởng của hệ Nhị Thập Bát Tú tới từng cuộc đất.

Về địa: Chấp nhận có sinh khí (còn gọi là Long) chảy theo các mạch nước, tụ lại và Thăng lên (bởi lẽ âm thăng, dương giáng).

Cho tới tận giờ phút này, khi chúng ta đang ngồi trên máy tính, người ta vẫn dùng các thủ thuật châm cứu, điện châm, xoa bóp, bấm huyệt.. để chữa cho người bệnh. Các thủ thuật đó của Đông y học đều dựa trên lý thuyết về hệ thống kinh mạch, huyệt lạc trong cơ thể người. Y học cổ truyền đã xác định được vô số huyệt đạo trong cơ thể người. Tùy theo từng bệnh khi châm cứu, người ta dùng kim tam lăng để châm vào các huyệt khác nhau, với thời gian và độ nông sâu khác nhau. Trong dân gian còn lưu truyền các bệnh pháp bấm, điểm huyệt có thể làm cho một bộ phận nào của cơ thể khi bị bệnh có thể trở lại hoạt động bình thường hoặc ngược lại, đang bình thường làm cho không còn khả năng cử động, thậm chí là bộ phận đó không còn sử dụng được. Ta vẫn biết rằng Thiên - Địa - Nhân là hợp nhất. Mọi vật thể dù là to hay nhỏ đều phải tuân theo những quy luật chung của sự tương tác vũ trụ, như vậy có thể tạm nhận định rằng trên trái đất này cũng có những đường kinh mạch, huyệt, lạc như cơ thể con người. Trái đất là một cơ thể sống chứ không bất động như nhiều người nghĩ, thế thì tại một thời điểm nào đó, người ta có thể dùng một thủ thuật nào đó có thể ngăn, bế chặn, giải thoát đường đi của một long mạch như các lương y làm trên cơ thể con người.

Như vậy về mặt lý thuyết thuật phong thủy vô cùng phức tạp và có lúc mang tính trừu tượng cao. Phong thủy có vai trò rất quan trọng, tuy nhiên nó chỉ hỗ trợ có tác dụng cải biến chứ không thể làm thay đổi hoàn toàn mệnh vận. Nếu phong thủy tốt sẽ giúp giảm thiểu được tai họa khi vào vận xấu, giúp gia tăng sự thành công, may mắn khi vào vận tốt.

Vai trò của phong thủy dưới góc nhìn khoa học hiện đại

Nếu nhìn nhận và phân tích thuật phong thủy theo quan điểm khoa học hiện đại thì rõ ràng là trên mặt đất có những vùng từ trường và điện trường (có cách gọi khác là tia đất) phân bố hoàn toàn khác nhau. Thời gian qua một số nước nghiên cứu rất kỹ những việc làm kỳ quái của các thầy địa lý và họ đã tìm ra khá nhiều điều thú vị. Bác sĩ Hager thuộc Hội khoa học Y tế Đức cùng đồng nghiệp Ba Lan tiến hành khảo sát trên 5.000 người chết vì bệnh ung thư ở thành phố Stettin - Ba Lan, kết quả bất ngờ là đa số các bệnh nhân ung thư do từng sống ở những nơi có tia đất mạnh. Kết quả đó cũng đã thức tỉnh các quốc gia quan tâm hơn đến vấn đề này, thậm chí người Đức coi trọng những phát hiện ấy đến mức họ thực hiện bổ sung luật về vấn đề mua bán nhà đất, xây dựng cơ bản, theo đó người bán đất hay công trình đã xây dựng trên đất, khi làm thủ tục chuyển nhượng phải kèm theo giấy chứng nhận đất ấy lành (môi trường tốt) không có tia độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.

Ở Việt Nam, gần đây cũng có nhiều hiện tượng được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng những vấn đề có liên quan đến phong thủy. Mới đây, nhất là cách giải thích những tác động, ảnh hưởng của tia đất ở những khu vực đang được quy hoạch xây dựng và một vài điểm nóng về tai nạn giao thông, ví như kỹ sư Vũ Văn Bằng đã tìm ra tia đất bất thường ở đường Pháp Vân – Cầu Giẽ, hoặc đầu năm 2007, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VACC) đã tổ chức nghiệm thu công trình hồ treo rộng 6.500m2, dung tích 30.000m3 nước trên trên núi đá xã Tà Lủng, Mèo Vạc tỉnh Hà Giang cũng do anh tìm thấy mỏ nước ngầm chơi vơi trên núi cao. Kết quả tốt đẹp đó đã “hóa kiếp ngàn năn khát nước” cho đồng bào, bằng phương pháp kỹ thuật phát hiện gọi là tia đất. Rõ ràng đây là một hiện tượng nhà khoa học bình thường có đóng góp “không bình thường” cho lợi ích xã hội. Cũng như vậy, một hiện tượng gây xôn xao dư luận ở Hà Nội và trong nước về những kỳ bí xảy ra trên công trình cải tạo sông Tô Lịch. Để giải thích hiện tượng này, nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi trên khía cạnh học thuật đã được tiến hành, tuy rằng các nhà khoa học cũng đã có những đánh giá sơ bộ, song cho đến nay vẫn chưa có kết luận nào để có thể lý giải và khắc phục các sự việc trấn yểm đã được nêu ra. Sự thực đây là một vấn đề rất phức tạp trong địa lý phong thủy bí truyền. Vấn đề này liên quan đến phần Tý Ngọ lưu trù, linh quy bát pháp và thủ thuật trấn yểm đất. Nói đơn giản là mỗi một huyệt vị có thời gian đóng mở riêng của nó, tức là thời gian ứng nghiệm. Khi muốn tác động vào một huyệt vị nào đó phải đúng thời gian đóng hoặc mở của nó mới có tác dụng. Khi dùng thủ thuật trấn (đè lên), yểm (chôn xuống) cho thay đổi cả một vùng đất để có thể xây dựng cả một kinh thành thì sự hiểu biết phải vô cùng chính xác. Tiếc rằng kinh nghiệm này không được phổ biến rộng rãi nên đã thất truyền. Mà đó cũng là một điều mong muốn của nhân loại vì nếu ai cũng làm được thì trái đất này của chúng ta sẽ đi đến đâu? Tuy nhiên trong lịch sử cũng chỉ ra rằng có rất nhiều người tài ba, có khả năng đó.

Khái quát lại, thuật phong thủy là một hiện tượng xã hội tồn tại khá lâu bền, nếu phân tích kỹ, gạt bỏ những thủ pháp, nghi lễ, hình thức mê tín, bảo thủ, biết chắt lọc những kinh nghiệm dân gian đáng học hỏi để phục vụ cho việc nâng cao nhận thức và ứng dụng thuật phong thủy trong kiến trúc và quy hoạch xây dựng. Tuy nhiên, với trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại thì chúng ta phải ứng dụng nó dựa theo một hệ thống cơ sở khoa học biện chứng trên nền tảng những tìm tòi sáng tạo, kinh nghiệm tổng kết quy luật của bậc tiền nhân trong một quãng dài lịch sử phát triển nhằm phục vụ lợi ích của con người và tất nhiên không phải và không thể là bộ môn bí hiểm thần kỳ, càng không phải là loại tri thức cao siêu thần bí từ các thầy địa lý nói ra. Chỉ đơn giản là phương cách để chúng ta lựa chọn sắp đặt ngôi nhà của mình cho an toàn và tốt đẹp hơn.

Phong thủy - Dương trạch

Khi nói đến phong thủy, thường người ta chỉ nghĩ đến Âm Trạch, tức phần mộ táng của người quá cố mà không mấy khi để ý đến phần Dương Trạch, tức là nơi cư trú của con người. Nắm vững lý luận phong thủy về Dương Trạch sẽ giúp chúng ta tìm thấy những vùng đất an lành để tổ chức cuộc sống đô thị, mang lại môi trường sống an toàn cho các khu dân cư, sẽ giúp cho các kiến trúc sư khi sáng tạo tác phẩm kiến trúc của mình đạt được mục đích chính là tạo ra sự tiện dụng cho con người, mà vẫn đảm bảo dự hòa hợp cần thiết với môi trường xung quanh.

Khi nghiên cứu về kiến trúc nhiệt đới, chúng tôi được tiếp xúc với không tin các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này, đặc biệt với các chuyên gia nước ngoài. Họ bày tỏ sự quan tâm rất lớn đối với lý luận của các bậc tiên tri phương Đông và khẳng định rằng vật kiến trúc cần phải hài hòa với môi trường tự nhiên. Khi nghe kể về truyền thuyết Thăng Long - Hà Nội - kinh đô bậc nhất của các triều đại đế vương, họ khẳng định Lý Thái Tổ - người có quyết định rời đô từ Hoa Lư - Ninh Bình về Thăng Long cách đây gần nghìn năm thực sự là một nhà phong thủy, nhà kiến trúc môi trường đại tài. “Thăng Long phi chiến địa”, càng ngẫm lại càng thấy đúng, thật kính trọng tài năng của các bậc tiền nhân.

Xuất phát từ định hướng phái triển nền kiến trúc Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, việc nghiên cứu ứng dụng thuật phong thủy trong lĩnh vực kiến trúc và quy hoạch xây dựng phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam hiện nay là vô cùng cần thiết trên cả 3 phương diện: Nhận thức, cơ sở lý luận, thực tiễn và vận dụng sáng tạo vào từng điều kiện cụ thể của mỗi vùng miền nước ta.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHONG THỦY

CÁC NHÀ DOANH NGHIỆP NÊN BIẾT

Nguyễn Xuân Đài

Hội Kiến trúc sư Phú Thọ

Chúng ta đang sống trong thời đại, xu thế “toàn cầu hóa kinh tế, quốc tế hóa văn hóa”. Các nhà doanh nghiệp (DN) Việt Nam, không những làm ăn ở trong nước mà còn ở nước ngoài, nhất là các nước trong khu vực như: Thái Lan, Hàn Quốc, Singapo, Đài Loan .. Trong quá trình làm giàu, cầu vận may, không một Doanh nghiệp nào không được nghe hoặc là đọc về sách Phong thủy. Phong thủy có lịch sự hàng mấy ngàn năm, nay vận “ngấm ngầm” lưu truyền trong dân gian, đặc biệt là ở các nước như: Đài Loan, Singapo, Hồng Kông, vẫn có các nhà phong thủy hành nghề. Riêng Hồng Kông có nhiều chuyện kỳ lạ, vốn từ tinh thần phong thủy.

Phong thủy là một loại học vấn của con người trong lựa chọn và xử lý về hoàn cảnh nơi ở và làm việc của mình, nợi thực hành tín ngưỡng tôn giáo, xóm làng, thành thị .. ảnh hưởng của phong thủy chủ yếu từ 3 mặt sau:

- Chọn địa điểm để thỏa mãn được về phương diện sinh lý, tâm lý.

- Lợi dụng và cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên, sắp xếp các nhân tố nơi ở như phương hướng, vị trí cao thấp, to nhỏ lối ra vào, đường đi lối lại, nguồn nước tới và nước đi …

- Dựa vào những điều nói trên bổ sung các yếu tố nghệ thuật khác như: tạo hình, hội họa, logo, tạo nên tâm lý tốt, tránh rủi gặp may.

Đối với Việt Nam nghề phong thủy đã có từ lâu ít nhất cũng từ thời Lý, thịnh ở thời Lê, kéo dài đến thời Nguyễn các cố đô Thăng Long, Huế, Sài Gòn đều do ông ta xây dựng từ thời phong thủy. Đặc biệt Cố đô Huế là một tuyệt tác về phong thủy đã được thế giới công nhận là di sản văn hóa nhân loại. Trong bài “Chiếu Dời Đô” của Lý Công Uẩn viết “… Huống gì Thành Đại La, kinh Đô cua Cao Vương ở trung tâm trái đất, được các thế RỒng chầu, Hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam, Bắc, Đông Tây lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thóang, dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi .. THật là chống hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là kinh đô bậc nhất của Đế vương muôn đời …” (lời dịch của Nguyễn Đức Vân). Trong sách “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của PGS-TS Trần Ngọc Thêm đã đề cập đến nghề chọn đất làm nhà, đặt mộ của văn hóa truyền thống phương Nam. Việt Nam thuộc phương Nam nên nghề phong thủy cũng có truyền thống, thật vậy ở thời Lê có thầy phong thủy nổi tiếng là Nguyễn Đức Huyên (ở Nghi Xuân 0 Nghệ An), tục gọi là cụ Tả Ao để sách dạy nghề này.

Vậy bản chất của phong thủy là gì? “Khí” đã được các nhà hiền triết xưa nói đến như: Trong truyền thuyết tôn giáo: ấn độ cổ lưu truyền suốt 500 năm qua, đã nói đến một lực vạn năng gọi là “Phổ thụy ma” lực này coi như cơ bản tạo ra mọi nguồn gốc sự sống. Ở Trung Quốc khỏang trứơc công nguyên từ 3000-2000 năm đã nhận biệt đựoc sựt ồn tại dạng năng lượng không thể không có để duy trì sự sống gọi là “khí”. Từ thế kỷ XIX đến nay các nước phương Tây đã chú ý đến lực này và cũng công bố nhiều kết quả. Mãi đến năm 1978 hai nhà thiên văn học người Mỹ tên là Rensiat và Uynson đã được giải thưởng Nobel về vật lý vì họ đã phát hiện ra sóng viba có tính chất gần như “khí” là “con cháu của Khí”. Thế là cả Đông và Tây đã gần nhau về “khí” có điều phưong Đông qua thiền mà họ nhận được bằng cảm giác, còn phương Tây thì dùng máy móc để đo. Chắc chắn đến thời gian nào đó họ sẽ chế tạo được máy mọc hiện đại tinh vi đo trực tiếp được dạng năng lượng “khí” này là bức màn thần bí phong thủy sẽ được lần lượt mở trình làng.

Thuật phong thủy thuyật để điều hứa thu được nhiều vượng khí gọi là thuyật phong thủy.

Người xưa quan sát rất kỹ các thế núi, thế sông, dòng sông, cây cối cái đẹp của địa hình mà mô tả cô đọng nhưng nổi bật, mang tính văn học làm rung động lòng người.

Địa hình mang vẻ đẹp riêng cho từng kiến trúc có mấy loại sau:

1. Địa hình “Thanh tú - Nhập thế”: thế đất khóang đạt tao nhã, đất nhiều đá ít, có nhiều cư dân – dùng cho kiến trúc nhà ở, trừơng học, đền thờ các bậc thánh hiền.

2. Địa hình “thanh kỳ - xuất thế”: nơi có núi non tĩnh lặng xa nơi dân cư ở, đá nhiều đất ít, cảnh thanh lỳ (tao nhã nhưng kỳ lạ hiếm có), dùng cho kiến trúc Am chùa, tu thiên, niệm Phật.

3. Địa hình “Long triều - Hổ phục”: đất có núi non trái phải như Rồng chầu, hổ phục (tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ) dùng để kiến trúc lăng tẩm của Đế Vương, hay nơi cư trú của danh gia vọng tộc.

4. Địa hình “Tú thủy - Triều môn”: nơi mà trước Minh Đường có dòng sông suối chảy qua tạo nên cảnh sắc tao nhã.

5. Địa hình “La thành – Viên cục”: có nhiều đồi núi vây quanh 3 mặt, còn 1 mặt hở không có núi che chắn có thể phóng tầm mắt nhìn xa.

6. Địa hình “Triều sơn - Hướng Thủy”: vùng đất có đồi núi sông suối quy vào huyệt vị tạo nên cảnh sắc thiên nhiên quy tụ hùng tráng oai nghiêm.

7. Địa hình “Bình nguyên – Sơn thủy”: Địa hình có núi đằng sau, có sông đằng trước, núi sông kề cận Sơn - Thủy (dương – âm) hài hoài tạo nên cảnh sắc ngoạn mục tao nhã.

Địa hình không nên làm nhà:

- Địa hình tù hãm ẩm thấp.

- Địa hình nhỏ hẹp, thủy khẩn bế tắc (nước không lưu thông)

- Địa hình gió thốc sau lưng

- Địa hình đồi núi tản mạn, rời rạng, phân tán, đỉnh nhọn đơn côi.

- Địa hình nơi rãnh cụt, cảnh huyệt hay ngõ cụt.

- Nơi nước chảy xiết, thủy phá chính giữa.

- Địa hình có đừơng đâm thẳng vào trước nhà, hay huyệt vị khu đất.

- Địa hình có nước chảy xiên, nước chảy ngựơc lại hoặc nước chảy thẳng vào trước nhà.

Biết được nơi địa hình đẹp để nghiên cứu lợi dụng xây dựng các kiến trúc phù hợp, biết nơi xấu để tránh, nếu không tránh được thì phải cải tạo hoàn cảnh biến nơi xấu thành nơi thích hợp. Theo giáo sư LinSun có hai cách giải quyết: “Nhập thế và Xuất thế”.

Nhập thế: Vận dụng kinh nghiệm cổ truyền với kiến thức khoa học hiện đại để phù hợp với hoàn cảnh.

Xuất thế: Không thể hiểu được bằng lý luận thông thường và rất bí mật. (Phạm Ngọc Hoàn) – “trang trí nội ngoại thành theo thẩm mỹ và phong thủy phương Đông”).

Kiến thức về phong thủy sâu rộng, thần bí bởi khoa học ngày nay chưa chế tạo được các thiết bị để khám phá đầy đủ - tin rằng con người thời đại sẽ giải quyết được. Nhưng phong thủy có cơ sở là “khí” ngày nay cả Đông lẫn Tây đều cố gắng nắm bắt ứng dụng.

“Thuật Phong thủy và các nhà Doanh nghiệp Hồng Kông”, “với sự kết hợp độc đáo của 150 năm ảnh hưởng thuộc địa, 5000 năm truyền thống văn hiến dân tộc Trung Hoa, con người Hồng Kông có một đức tin chi phối bởi sự tiềm ẩn của học thuyết âm dương ngũ hành, dịch học và thuyật phong thủy”. (TS Cung Khắc Lược – 2004 -82 - Tạp chí Công nghiệp Việt Nam).

1. Phái Bát quái – Phong thủy: 9 vị trí sơ đồ 1.

2. Phái Bát quái – Phong thủy: 5 vị trí sơ đồ 2.

Sơ đồ 1: Mang dấu ấn phong thủy truyền thống có thể bố trí cho căn phòng làm việc riêng hoặc nhà ở riêng.

Sơ đồ 2: Có thể phù hợp với giám đốc Doanh nghiệp trong mối quan hệ với những người cộng sự thông hiểu mục tiêu chung với chức trách nhiệm vụ khác nhau.

Theo sơ đồ 2:

- Vị trí 1: đây là bức tường quyền lực “để đặt bàn làm việc của giám đốc. Sự cảm nhận thông thường cũng thấy trong gian phòng từ vị trí này có thể nể trọng hơn hẳn vị trí ngay cửa ra vào. Kiến trúc đền, xưa thường vị trí này đặt bàn thờ hậu cung.

- Vị trí 2: ở bên phải nhìn từ ngoài vào thích hợp chi vị trí liên kết. Kiến trúc cung đình vuông ngồi giữa còn quan văn bên tay trái vua, quan võ bên tay phải vua (quan văn xưa quan trọng hơn quan võ).

- Vị trí 3: đó là vị trí cửa ra vào là nơi nhạy cảm nhất (còn gọi là bức tường năng động) ở đó những gì cảm thấy dễ chịu cho người khách, hoặc người trong cơ quan. Có thể là bức tranh thủy mặc ánh sáng êm dịu.

- Vị trí 4: Vị trí thách thức - sự lo lắng nhất của con là sự thách thức – không gian vị trí này có một năng lượng cảm ứng lạ giúp cho não và nhịp tim dám đối mặt với các thách thức gay go, và cũng ở vị trí này con người hay nghĩ ra được giải pháp tốt để ứng phó hiệu quả.

- Vị trí 5: Vị trí cực kỳ quan trọng cho công tác về tài chính còn lại gọi là vị trí tài chính. Thông thường vị trí này đặt một bàn làm việc của người chủ trì trên mặt bàn có thể đặt hồ sơ trọng yếu và có hoa tươi và thơm. Các chuyên gia phong thủy nhận định – trung tâm văn phòng thuộc về cái đẹp – cái đẹp và hương thơm không bao giờ tách khỏi sự giàu sang bền vững.

Giới thiệu với các nhà Doanh nghiệp các sơ đồ trên để tham khảo, khi bố trí cụ thể cần tim tài liệu nghiên cứu, và tìm thấy phong thủy hướng dẫn.

Bản thân người viết bài này còn rất non nớt về phong thủy, nhưng lại mong muốn các Doanh nghiệp thành đạt trên con đường kinh doanh để làm giàu cho mình và đất nước và mạnh dạn đề cập đến 2 sơ đồ trên, hy vọng qua đó tìm được bạn bè tâm huyết lĩnh vực này để trao đổi và học hỏi.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHONG THUỶ VÀ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG

Nguyễn Cảnh Mùi

Bộ Xây dựng

Phong thuỷ theo cách nhìn cổ đại thì phong nghĩa là gió, nghĩa rộng là khí hậu, thời tiết. Thuỷ nghĩa là dòng nước. Phong thuỷ là môn khoa học nghiên cứu các nguyên lý, các quy luật của khí hậu, thời tiết và dòng nước ảnh hưởng tốt hoặc các công trình xây dựng (dương trạch) và phần mộ (âm trạch) để chọn lành (cát), tránh dữ (hung), cầu phúc, trừ hoạ cho gia đình, thân thuộc.

Người xưa coi trọng phần mộ theo quan niệm “sinh Ký, tử quy tức là sống gửi tạm thời, thác về lâu dài”, trên cơ sở học thuyết âm dương, ngũ hành bát quái (kinh dịch), chiêm tinh học, học thuyết thiên can, địa chi...

Người xưa quan niệm: “Cư nghịnh vượng khí, táng thừa sinh khí tức là người sống cư trú, làm việc để đón năng lượng sinh tồn của trời đất), theo luận thuyết “thiên nhân hợp nhất, tương phản trưởng thành”, nhằm hài hoà sự sống của con người với tồn tại của vũ trụ vì “nhân thân nhất tiểu thiên địa” trong cấu trúc tam tài “thiên địa nhân”.

Theo cách nhìn ngày nay, phong thuỷ là môn học nghiên cứu cảnh quan nhằm phục vụ lý tưởng cho cuộc sống, nơilàm việc, tìm kiếm mô hình vùng đất định cư, nơi làm việc tìm kiếm mô hình vùng đất định cư, nơi làm việc theo mong muốn cho người đang sống và cả người đã mất. Xét cho cùng chính là nhằm phục vụ lợi ích trước mắt và lâu dài của người sống.

Căn cứ lý luận của phong thuỷ học là dịch kinh. Vạn vật trong vũ trụ tạo thành tử khí. Thái cực là khí, âm dương là khí, linh vật là khí. Tám phương có khí thời vận là khí chuyển. Sự đối lập, thống nhất của khí là quy luật của vạn vật tồn tại và phát triển. Mong muốn tối cao của kinh dịch là dẫn dắt người ta thuận theo đạo lý đó của trời đất.

Phong thuỷ theo cách nhìn của kiến trúc hiện đại là phải đáp ứng trước những nguyên tắc sau đây.

1.Có cảnh quan tự nhiên đẹp, hài hoà địa thế phải cao ráo, kết cấu vững chắc (địa chất), ánh sáng đầy đủ, không khí trong lành, nguồn nước sạch sẽ, không có tiếng động, ồn ào, giao thông thuận lợi.

2. Cảnh quan, nhân văn thuận theo đạo lý tự nhiên. Kinh dịch có thập thiên can thuôc vương nghiên cứu kết cấu tổng quát bên ngoài của kiến trúc (địa thế, địa chấ, công trình...). Thập nhị địa chi thuộc âm nghiên cứu kết cấu bên trong của kiến trúc.

Tổng hợp ý kiến của một số nhà nghiên cứu Phong thuỷ nổi tiếng hiện nay đã cho thấy cơ sở lý luận của phong thuỷ học trong kiến trúc hiện đại là toán học, vật lý, sinh vật học...”Phonh” là đại biểu cho dòng khí (năng lượng do quang năng vũ trụ sinh ra. “Thuỷ” có nghĩa đơn giản là dòng chảy nhưng xét theo nghĩa rộng còn đại biểu cho sức hút từ trường trong vũ trụ. Cơ thể con người có sự thay đổi về truyền dẫn và điện thế của dòng điện bất cứ lúc nào, luôn luôn cảm ứng qua lại với từ trường mà quả đất, phát sinh ảnh hưởng tốt hay xấu đến con người.

Phương vị của mỗi yếu tố trong một ngôi nhà đều có ảnh hưởng riêng của nó tới người ở. Ví dụ trong một ngôi nhà

1. Hướng cửa ra vào: Cửa sinh ra cảm ứng của đại từ với từ trường con người, quyết định sức hoạt động tăng hay giảm của con người. Đây là cửa ra vào của chủ nhà, không phải là cửa nhà có quan, công trình cộng...

2. Hướng lò bếp: Khi lửa trong lò bếp cháy phóng ra sóng năng lượng, ảnh hưởng đến biến đổi trong cơ thể con người, sức phán đoán hoặc tâm tình của con người.

3. Vị trí đặt các đồ điện, gia dụng như ti vi, lò vi sóng, điều hoà nhiệt độ...khi sử dụng đều phóng ra bức xạ, hoặc sóng điện từ làm nhiễu từ trường, thường trong nhà, ảnh hưởng đến luồng suy nghĩ, thị lực con người, ở vị trí khác nhau có mức độ sai lệch tốt, xấu khác nhau.

4. Vị trí cửa ra vào: ảnh hưởng đến sức phản ứng và quan hệ giao tiếp của con người.

5. Vị trí lò bếp: ảnh hưởng đến sức phán đoán và cơ năng sinh lý của con người.

6. Vị trí nhà vệ sinh: bể phốt, các chất loại bỏ trong cơ thể con người: Nhà vệ sinh chỉ có thể đặt tại vị trí xấu, tránh ảnh hưởng đến sức khoẻ, môi trường xung quanh.

7. Vị trí giường nằm: Vị trí tốt hay xấu ảnh hưởng đến thể lực, tâm linh, tình cảm vợ chồng.

8. Vị trí kê bàn làm việc, đọc sách: quan hệ đến sức suy nghĩ, quyết sách của con người. Người xưa đặt địa vị con người ngang bằng với trái đất. Con người là một trong ba yếu tố cơ bản tạo nên vũ trụ (học thuyết tam tài thiên, địa, nhân)

Con người là thành phần tôn quý nhất trong vạn vật (nhân linh vu vạn linh). Nhưng con người muốn cầu được phúc (phúc đức, hạnh phúc) phải sống, tuân theo các quy luật khách quan của thiên nhiên (nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiêp pháp đạo, đạo pháp tự nhiên). Đạo là hợp lý, là quy luật khách quan của tự nhiên.

Điều cần chú ý của phương vị liên quan tới cát hung là nó không trực tiếp đem lại tiền tài, địa vị, sự thành công mà nó chỉ ảnh hưởng tới sức phán đoán và năng lực hoạt động của mỗi người. Phong thuỷ có công dụng xúc tác, còn mấu chốt của thành bại là nỗ lực chủ quan của con người.

Như vậy, với kiến trúc hiện đại thì phong thuỷ giúp ta lựa chọn và xử lý môi trường cư trú bao gồm: nhà ở lâu dài, nhà máy, chùa tháp, lăng mộ, thôn xóm, thành thị...Nói một cách khác thì phong thuỷ là quan hệ giữa bức xạ vũ trụ, từ trường trái đất và con người trong lĩnh vực kiến trúc học. Nội dung phong thuỷ chủ yếu bao gồnm 2 phần:

- Phong thuỷ chú ý đến hình thế, núi non (hình thế phái)

- Phong thuỷ chú ý đến hướng vị, khí cảm tưởng ứng (lý khí phái).

I. PHONG THUỶ HÌNH THẾ

Chứng minh rằng phong thuỷ thì âm dương là cốt lõi. Huyệt là nơi tích tụ của hai dòng khí âm dương.

Khí dương kết huyệt dạng lõm xuống. Khí âm kết huyệt dạng lồi lên. Vùng núi âm khí nhiều thì tìm huyệt xem chỗ lồi lên.

Đạo lý của âm dương quan can mạch là dựa vào núi và sông.

Long mạch là mạch của núi, đi kẹp, giữa các dòng nước. Dòng nước để nuôi long mạch. Can long là mạch đất gốc, từ đó sinh ra chân long và vây long, giống như một cái cây có cành lá, cành lá can nhỏ, thân là can lớn. Khảo sát địa hình ở miền Bắc nước ta có hai đại can long, đó là long tàn từ hướng Tây Bắc và long khảm từ hướng Bắc xuống. Thủ đô Hà Nội có phía Ba Vì và Tam đảo. Ta bảo tay long, tay hổ là thế.

Thi long chính vì như con đẻ của can long. Một dãy núi đẹp đẽ, cao lớn kéo dài bao giờ cũng xuất hiện một vùng thung lũng bao la hoặc vùng bán sơn địa hay vùng đồng bằng, ta gọi là chi long chính.

Chi long chính có chi long bàng và chi long phụ, tức là trong thung lũng xuất hiện các vùng đột khởi cao hơn xung quanh nơi xây dựng làng mạc, xã, huyện, tỉnh lỵ. Chân long chính là độ cao thấp của các vùng xây dựng đó.

Do vị trí, địa thế, địa hình từng vùng, độ cao thấp khác nhau, thậm chí địa chất, thuỷ văn, thành phần cầu tạo cùng với độ chua, vị ngọt, vị mặn...của nguồn nước trong từng vùng khác nhau đã dẫn đến khả năng hấp thụ năng lượng vũ trụ khác nhau trong các vùng, đó là nguyên nhân sự phát triển kinh tế, văn hoá nhanh chậm khác nhau. Xây dựng một vùng xác định đó là long mạch quý hiếm khác nhau thì đó thườnglà dân cư đông đúc, đời sống và sinh hoạt phát triển và người tài xuất chúng cũng xuất hiện.

Xét long quý hiển cho một huyệt vị cụ thể, phái phong thuỷ hình thể thường dựa theo lý luận ví dụ như lý luận của môn La kinh thấu giải đó là:

- Khi xét về long phải kỹ chỗ xuất mạch

- Khi xét về huyệt phải nhận kỹ chỗ động khí

- Khi xét vềư thuỷ phải xem thuỷ lai và thuỷ khẩu, lập cách cục và phá cục.

Xét về long là phải xem chỗ long nhập huyệt xem về hướng là chú trọng nước. Xét thuỷ đến là phải xem chỗ nước chảy vào minh đường.

Nếu không rõ hình thế mà đặt là tính cẩu thả thì tai hại sẽ khôn lường. Ngay cả khi đã tìm được lòng tốt mà đặt hướng sai phạm vào các phương khắc sát tức là sẽ làm giảm phần tốt của lòng và tăng phần xấu. Tai hoạ cũng khó tránh khỏi.

La Kinh thấu giải không những giúp ta thấu hiểu được lòng xuyên lớn mà phải biết long thấu địa. Thấu địa lòng mới thừa được sinh khí. Bản đồ phong thuỷ chỉ ra những phương nào của huyệt vị có lộc, mà quý nhân, tài quan ấm...giúp ta có thêm suy nghĩ trước khi quyết định nên phá bỏ những vùng gì đất, đồi núi, xét ra có ảnh hưởng đến sự vượng suy của long mạch hoặc xây thêm những công trình mới ở xung quanh nhằm bảo vệ môi trường vì bảo quản những vùng đất, đồi gò đẹp cũng chính là gìn giữ những giá trị của thiên nhiên do tạo hoá để lại.

II. DUY KHÍ LUẬN TRONG PHONG THUỶ CỔ ĐẠI.

Lý luận chung của các nhà nghiên cứu phong thuỷ bao giờ cũng coi trọng khí. Vậy khí là gì ?

Theo cách giải thích của Phong thuỷ cổ đại thì khí là năng lượng, là lực khởi nguồn của vạn vật và mọi hiện tượng. Trong trời đất cơ khí âm, khí dương. Hai khí âm dương vận động thăng bằng, hài hoà thì cỏ cây tươi tốt, người ta khoẻ mạnh sống lâu. Hai khí âm dương mất cân bằng thì hạn hán, lụt lội, bệnh tật phát sinh.

Quả đất có một từ trường hình thành từ Bắc đến Nam. Có thể dùng thiết bị vật lý đo năng lượng khí địa từ và dòng địa điện của quả đất trong phong thuỷ ở huyệt vị của long châu bảo mà dùng thiết bị khoa học kiểm nghiệm sẽ cho ta biết dòng địa điện của nó cao hơn nhiều so với vùng xung quanh. Lý luận của phong thuỷ là khí tạo ra hình thế, hình thế lại dẫn khí chảy theo. Khi tìm huyệt, sách phong thuỷ đã viết là phải xem : “Phong tàng, thuỷ tụ” “Sơn hoàn, thuỷ bão” “sơn chỉ, thuỷ giáo”, “Thủy nghịch triều đường” đó là một số nguyên tắc để xem xét sinh khí nhiều hay ít của huyệt vị.

Xem xét quan hệ giữa hướng nhà (hướng 16n) và toạ nhà (toạ 16n) với một mệnh chủ là để đánh giá sinh khí của hướng nhà hay phần mộ đối với chủ nhân tốt hay xấu. Địa lý phong thuỷ chính là môn học tính toán, là thuật, vận dụng năng lượng trái đất hay vụ trụ để tiếp thu được nhiều sinh khí, để sống hài hoà với trời đất.

Do khí có tầm quan trọng bậc nhất trong phong thuỷ, cho nên hình thành “Duy khí luận” trong giới nghiên cứu và thực hành phong thuỷ. Phong thuỷ là một bộ môn ở giữa khoa học và nghệ thuật. Bên cạnh sự sắp xếp nơi ở để tạo sự thoải mái tối đa cho cơ thể và tinh thần, phong thuỷ có thể bao gồm cả khía cạnh thiếu văn. Ngoài việc xét và việc xác định huyệt vị, các chuyên gia phong thuỷ còn phải xem xét phương hướng, hình thế các vị trí kề nhau. Khi dạy học trò, nhà nghiên cứu phong thuỷ Nguyên Xuân Quang thường trích lời nói của tiến sĩ Lâm Vân, chuyên gia phong thuỷ hàng đầu ở Hồng Công là : Tôi điều chỉnh cho ngôi nhà hài hoà với khí. Hình dáng và việc chiếc giường, hình dáng và chiều cao của ngôi nhà hướng của con đường và góc đến, ảnh hưởng tới số phận một con người”

Tác giả Hồ Kinh Quốc trong cuốn Tìm hiểu cố địa Huyền KHông Học còn viết “ “Khí” tuy nhìn không thấy, sờ không được, nhưng tồn tại một cách khách quan. Hình và khí liên quan chặt chẽ với nhau, chuyển hoá lẫn nhau. “Tụ” thì thành hình, “tán” thì thành khí. Tụ hình tất có khí, vạn vật đều do khí tạo thành. Khí mà người xưa quan niệm là trạng thái vật chất thứ 5 khác với trạng thái rắn, trạng thái lỏng, trạng thái khí và trạng thái ion.

Luận về khí từ nhận thức đến thực hành đều nhằm tiếp thu được khí tốt cho chủ nhân ngôi nhà, đảm bảo sự hài hoà giữa khí của con người và khí của cảnh quan.

Quan niệm thời gian trong phong thuỷ: Phong thủy học chia thời gian thành những chu kỳ 180 năm gọi là chính nguyên. Mỗi chính nguyên có 3 đơn nguyên, mỗi đơn nguyên là 60 năm. Mỗi đơn nguyên gồm 3 vận, mỗi vận là là 20 năm. Ta hiện nay đang ở vận 8 từ năm 2004 đến hết 2023 thuộc hạ nguyên. Thuyết Tam nguyên- cửu vận rất quan trọng trong việc xác định, phi tinh phong thuỷ để phân tính cát, hung của một toà nhà, trong một tổng thể công trình kiến trúc.

Quan niệm không gian trong Phong thuỷ: Lý thuyết không gian trong Phong thủy xuất phát từ bản đồ Lạc thư với khẩu quyết:

Đời của ly nhất

Tả tam hữu thất

Như tứ vi kiên

Lục bát vị túc

Ngũ cư trung cung

Bản đồ này thường được vẽ dưới hình thức ma phương, hướng trên la bàn. Ma phương của cung này, cũng gọi là Lạc thư , làm nền tảng cho học thuyết tam nguyên cửu vận.

Sự đối lập, thống nhất của khí biểu hiện thành số. Khí mỗi số đại diện cho một số quẻ Kinh dịch thì ý nghĩa hàm chứa trong quẻ đó, là ý nghĩa của số tương ứng.

Sự xắp xếp các dố Lạc thư là tổng số của mỗi hàng (hàng dọc, hàng ngang, hàng chéo) luôn bằng 15.

Lạc thư được đại diện bởi bản đồ cửa cung, thay đổi theo thời gian, theo vận. Các số trong cửu cung luôn di chuyển theo lộ trình đã định, tuỳ theo thời gian ở vận 1, vận 2 hay vận 3....

Bản đồ cửu cung trong mỗi vận là cơ sở để tìm ra tác động vật lý lên công trình kiến trúc. Khi đưa ra niên đại của một số công trình (toà nhà) kiến trúc cùng với phương hướng của nó là ta có thể lập nên bản đồ cửu cung thể hiện các lực vô hình tác động đến nó theo các phương hướng, các vị thế. Bản đồ đó gọi là phong thuỷ bàn hay phi tinh bàn của mỗi công trình cụ thể, giúp ta đánh giá về vận số của mỗi ngôi nhà và dự đoán những gì sẽ xảy ra trong công trình đó.

Khi đánh giá cát, hung cho công trình các chuyên gia phong thuỷ còn phân tách mối quan hệ giữa thiên bàn và địa bàn. Thiên bàn thì Động, đại bàn là bàn tĩnh. Thiên bàn biểu thị sự vận chuyển của khí, trường trên mặt đất; địa bàn biểu thị phương vị cố định của khí nguyên thuỷ trên mặt đất.

Mối quan hệ giữa thiên bàn và địa bàn về cơ bản là quan hệ ngũ hành sinh khắc, biểu hiện thnàh 3 dạng :tương sinh, tương khắc và ngang hoà.

La bàn phong thuỷ: Thường dùng loại La bàn 24 sơn, có một kim nam châm để xác định phương hướng. Xem xét dương trạch, nhà của người sống, bước đầu chỉ cần làm quen với vòng tròn 24 sơn. Đây là đường tròn 360 độ, chia thành 24 phần, mỗi phần 15 độ.

Cần có thêm một quyển lịch âm dương, dùng để chuyển từ dương lịch sang âm lịch. Trường dùng một loại thước dây tính theo mét và trước lỗ ban để lập bản đồ kiến trúc.

Sơn (toạ) và hướng của ngôi nhà: Bước đầu phải xác định những vật thể xung quanh nhà và hướng nhà.

Xác định sơn và hướng của những công trình hiện đại đòi hỏi phải có cơ sở lý thuyết phong thuỷ vững chắc và qua nhiều lần thực hành. Những vật kim loại có thể ảnh hưởng đến kim nam châm của La bàn.

Hiện tại có rất nhiều người nói là ngày càng có nhiều công ty kinh doanh tìm thuê các chuyên gia phong thuỷ để cố vấn cho họ trong việc lựa chọn và đặt vị trí văn phòng của Công ty.

Ở nước ta, khi đàm đạo về quá trình xây dựng kinh đô Huế, cũng có nhiều thuyết minh đã đề cập đến việc xây dựng kinh thành Huế có vận dụng theo lý thuyết Phong thuỷ.

Như vậy thì sau khi có nhiệm vụ thiết kế, cùng với những đạo luật, quy tắc về xây dựng và thiết kế, nhiều nhà xây dựng còn coi trọng những nguyên tắc tinh thần bất thành văn hản, được gọi là phong thuỷ

Việc sử dụng một chiếc la bàn với những ký hiệu cổ, biểu thị tự nhiên và các yếu tố của nó : bầu trời, nước (thuỷ) đồi núi và trái đất, không những chỉ ra vị trí tốt lành nhất của công trình mà còn cả những chi tiết như cửa chính (cổng, đại môn), cửa sổ, bàn làm việc và nhiều thứ khác...

Tác giả Trần Văn Hải trong cuốn “Địa lý toàn thơ tân biên” đã nói thêm : Tại Hồng Công, không một công trình nào được xây dựng mà không thông qua các chuyên gia phong thuỷ, theo họ thì tài mệnh con người phụ thuộc vào sự cân bằng hết sức tinh tế, giữa một bên là “khí” tức là năng lượng vũ trụ và một bên là 5 thành tố cơ bản “ Kim, mộc thuỷ, hoả, thổ (ngũ hành)

Điều đó còn chứng minh thêm giá trị của Phong thuỷ với Kiến trúc và xây dựng (xin suy nghĩ một số khía cạnh về thuỷ pháp qua một trạch dự án cụ thể).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Chọn hướng nhà hướng đất theo quan niệm cố Địa lý- Chính tôn (Tôn Nhan, Nguyễn Nguyên Quân- NXB Thanh niên).

- Địa lý toàn thư tân biên (Trần Văn Hải, NXB Văn hoá thông tin)

- Huyền không học (Hồ Kinh Quốc, NXB ĐHQGTPHCM)

- La kinh thấu giải (Định An Vương Đạo Hành, NXB VH)

- Hiệp kỷ biện phương thư (Mai Cốc Thành, NXB Mũi Cà Mau)

- Chu dịch và dự toán học (Thiệu Vĩ Hoa, NXB VH)

- Huyền không tập I,II,III của Vũ Xuân Quang (tài liệu học tập)

Share this post


Link to post
Share on other sites

VAI TRÒ CHỦ THỂ KIẾN TRÚC

Lê Xuân Phương – Hà Nội



Một công trình kiến trúc dựa trên rất nhiều yếu tố ngoài đất, đá, cát, sỏi, sắt, thép ra nó còn phải gắn với rất nhiều sự chi phối như khí hậu, hình thế, dáng dấp, vị trí .. Và mục đích sử dụng của công trình.

Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài kiến trúc và những yếu tố nói trên gắn bó với nhau rất mật thiết. Kiến trúc thì dựa trên cái sẵn có để có thể sáng tác và tạo ra cái đẹp – bàn tính các giải pháp kết cấu, thi công, tuy nhiên sự quan tâm đến công năng ẩn tầng thì phải phụ thuộc vào sự sáng tạo của các kiến trúc sư mà ở mặt này thì kiến trúc sư sử dụng hiệu quả nhất, đạt đựơc sức sống bền lâu mà trứơc hết phải đem lại sự tốt đẹp, hài hòa cho người sử dụng thì kiến trúc sư còn hạn chế.
Kiến trúc luôn quan tâm các khối, các mảng, tính liên thông giữa nhà và đường, nhà và cảnh quan, nhà với nhà và sự liên hệ của chúng với nhau. Cụ thể: kiến trúc quan tâm đến những yếu tố mang lại cho chủ nhà những giá trị cốt lõi được thể hiện ở:

Trong nhà thì độ cao mái – Mái luôn đi theo với khí hậu của từng vùng để có:

- Độ nghiêng của mái nhà phù hợp với mưa, nắng.

- Cửa, của sổ có vai trò là nơi thu nhập tất cả muốn vào nhà hoặc muốn vào nhà đều phải thông qua cửa. Cửa có vai trò nghênh đón khách vào, mang điều tốt lành, ngăn không cho điều xấu, điều dữ vào nhà.

- Vệ sinh là nơi đầu ra của căn nhà không thể thiếu được, bởi có vào thì phải có ra.

- Cầu thang là nơi khai thác không gia, diện tích các tầng.

- Giường là nơi sống, ngủ, nghỉ của con người, là chốn riêng tư.

- Đồ dùng là những vật dụng tiêu dùng (tiêu sản) hay tài sản.

- Mầu tường tùy vào độ chật hẹp, cao thấp của nhà để có màu tường phù hợp.

- Mảng mái nơi che nắng, che mưa, có thể nhọn, tròn, bằng, nghiêng …

Quan hệ các phòng với nhau để tách biệt với ăn, ngủ, nghỉ, vệ sinh, tiếp khách, đọc sách, làm việc thì có phòng đơn, đôi hoặc chỉ có một vai trò cụ thể nào đó, hoặc cũng có thể là ghép một phòng nhiều chức năng nhưng phải hài hòa.

Thế của nhà phụ thuộc vào nơi xây cất trên núi cao hay đồng bằng, ven sông, gần đồi núi, đê điều, gò đống.

Tường của nhà tùy thuộc vào mục đích sử dụng để phẳng phiu trong nơi ở, uốn lượn trong kinh doanh, sần sùi, hang động nơi ca nhạc …

Bếp đun là nơi chuyển hóa thực phẩm từ sống sang chín, nơi cung cấp dinh dưỡng cho người sống. Bếp đun và phòng ăn luôn phải ấm áp không khí gia đình, là nơi giữ lửa, giữ sự sống của ngôi nhà.

Thờ cúng là nơi tưởng nhớ tổ tiên.

Kho là nơi chứa đựng của để dành và đồ dùng theo mùa là nơi để công cụ lao động, sản xuất, vật dụng, tài sản.

Bàn làm việc là nơi phải yên tĩnh, đủ sáng đựơc tập trung cao độ để ra quyết sách đúng, phải đặt vào nơi xấu hứơng mặt về nơi tốt bởi nơi làm việc là chỗ mưu đồ việc lớn, giải quyết các công việc quan trọng trong đời.

Phòng khách phải cởi mở, sẵn sàng tin tưởng nhau, tạo ra thế chủ động cho chủ nhà, nơi chào đón ấm áp và tin cậy, thỏai mái nhưng thư giãn.

Phòng đọc phải yên tĩnh, thóang đãng ít bị chi phối.

Cửa sổ là song môn, nơi thông thóang nhìn ra bên ngoài thể hiện niềm tin, mơ ước, chuyển tải sự bay bổng….

Những yếu tố này đã rất nhiều thế hệ sống và trải nghiệm do đó con người đã tìm và phát hiện ra nhiều điều lý thú - để mô phỏng lại tự nhiên và tìm tòi các hiện tượng để quy nó về bản chất hay là hiện tựơng hoặc là quy luật.

Bởi các nghành khoa học phát hiện đã vén phần nào tấm màn bí ẩn của phong thủy. Bởi sự liên hệ tương tác giữa các vật là trực tiếp, hoàn lưu không khí và bức xạ.

Nhà cửa đa dạng về hình thức, phong phú về kiểu dáng, phức tạp về cấu tạo bên trong, từ đó nó tạo ra rất mới căn phòng có những vi khí hậu khách nhau do đó nó còn có các giá trị sử dụng khác nhau cho gia chủ.

Nhiều điều tốt đẹp phi thường đến bệnh tật, hay sự éo le cũng cực kỳ. Đồ vật trong nhà kỳ quái cũng dẫn đến việc con người ở đó kỳ quái như điên dại, cáu giận thất thường.

Ví dụ: Những vấn đề liên quan đến cuộc sống con người có nhiều vấn đề đặt ra là ở cùng một căn nhà có năm tốt, năm xấu, có phòng tốt, phòng xấu.

Để cân bằng những vấn để này người ta ví chúng như kim loại là dẫn điện thì các loại dẫn điện tốt nhất dần đến loại không dẫn điện, từ vàng bạc, đồng nhôm và đến loại không thể dẫn được điện – thì dựa trên điều này mà người ta dùng loại không dẫn điện để bọc loại dẫn điện để tìm sự an toàn, còn không biết thì thực là nguy hiểm như dùng giẻ ướt bọc dây điện có điện áp lớn đi qua.

Chính vì những vấn đề này mà con người không ngừng tìm tòi và luôn hoàn thiện cuộc sống, tìm ra các quy luật của vạn vật để phục vụ mình. Giải thích, vận dụng mô phỏng theo vạn vật từ sự mô phòng và vận dụng đúng để áp dụng cân bằng chúng và chế tạo chúng, từ đó người ta phân loại ra các loại không gia sống, đồ vật nào là chủ thể, nó ở vị trí nào của trung tâm nhà, trung tâm hoặc là chủ thể thì vật đó sẽ có tính quyết định cho căn nhà ví như cửa phải biểu đạt cái gì nó được ví như nơi nhập xuất – nhà như một cơ thể cường tráng với một cái miệng đựơc ăn ngon thì cơ thể đó khỏe mạnh, béo tốt, thích nghi với mọi hoàn cảnh thay đổi bất thường của thời tiết nhưng cơ thể đó với một cái miệng bị bệnh tật, bị hóc xương, có vấn đề, lưỡi môi đều có vấn đề thì có cơ hội ăn cũng không nuốt được. Bởi cơ hội thì luôn có tha hồ mà lựa chọn, nhưng đi đến quyết định thì có thể đúng có thể sai. Miệng phải được cấu tạo theo tỷ lệ vàng của quy luật thước lỗ ban đó là cung, kích thước dài ngắn, cao thấp theo một trật tự nhất định không quá hẹp và không quá rộng .. rất hài hòa.

Sau miệng nhà là đến Bếp - một căn nhà có hoàn thiện hay không nó còn phụ thuộc rất nhiều vào bếp bởi bếp là cái dạ dày biến thức ăn sống thành thức ăn chín, đó là sự chuyển hóa mà sự chuyển hóa này sai cách với quy luật tự nhiên thì chắc chắn nó sẽ không đồng hóa dị hóa được thức ăn để đem nuôi cơ thể mà nó sẽ làm cho cơ thể đẩy thức ăn đó ra gọi là nôn thốc nôn tháo thức ăn hay nói theo cách người ta thường nói đó là có thu nhưng không đọng lại gọi là sự hao tán tiền của. Chit iết của bếp là hướng vị trí, màu sắc, độ lớn, cao, dài, rộng, sự kín đáo của bếp.

Nhà còn phải quan tâm đến nơi ngủ, sự thành công của một ngôi nhà là nơi nghỉ ngơi, người xưa gọi là yên sàng – nó phải nằm ở nơi thóang mát, yên tĩnh, dễ ngủ nhưng phải hợp với gia chủ nếu không thì cũng bất an trằn trọc - dẫn đến nghề nghiệp bất ổn luôn biến động, vấn đề này không kém phần quan trọng.

Đồ vật và màu sắc của nhà -đồ vật cho ta màu sắc và tường nhà, nền nhà đều phải có màu sắc. Bất kỳ ngôi nhà nào cũng không thể khước từ được đồ đạc, đồ đạc phải chung sống tồn tại, không phải cái đắt tiền loại bỏ cái rẻ tiền. Sự quan hệ của đồ vật nó quyết định chất lượng cuộc sống của gia chủ và hiệu quả hay sự hao tài, tốn của, ốm đau, bệnh tật, bất hạnh, sự xấu tốt, hiệu qua luôn được các thế hệ tiền nhân đi trước kiểm chứng. Như ở Việt Nam có trong dân gian thường nói đồ 5 cha 3 mẹ, đồ sân rêu nhà mốc, đồ cọc cạch sứt mẻ thể hiện sự thiếu thốn, gắng gượng. Màu sắc của đồ đạc không có dộ sáng làm cho nhà âm u tối tăm lạnh lẽo, hưu quạnh dẫn đến gia chủ tình cảm không đằm thắm đậm đà, góa bụa sống bạc bẽo. Vì thế nhà cửa, đồ đạc phải sáng sủa, tươi vui như người xưa đúc kết “Thứ nhất đom đóm vào nhà, thứ nhì chuột rúc, thứ ba hoa đèn”.

Những điềm báo này là cơ hội tốt mang sáng vào nhà là đom đóm. Mà nhà bật hết đèn mà không sáng gọi là đèn mờ thì có một cái gì đó không ổn, thiếu sự minh bạch, chuột súc là có cái ăn, hoa đèn là một tin vui có một điều tốt lành sắp mang lại.
Cầu thang để khai thác hết diện tích khiêm nhường khi diện tích ở quá chật chột thì cầu thang phải đặt ra, khó mà khước từ cầu thang. Người ta thấy được cầu thang phải đi từ xấu lên tốt với gia chủ, gia chủ phải bố trí cầu thang sao cho hợp lý với diện tích ở và phải đảm bảo được với tuổi tác của mình vì cầu thang thể hiện họa phúc rất rõ nếu không thì phải chế hóa chúng.

Giếng trời - nhiệm vụ của giếng trời khi nhà cửa phát triển hướng đô thị hóa thì họ rất cần không khí và ánh sáng, vì thế phải bố trí giếng trời vào những nơi mà được quy định là tốt với gia chũ thì rất đắc dụng.

Khu vệ sinh và bể phốt hay đường nước thoát ra là đầu ra của căn nhà, nếu vấn đề này mà không quan tâm đúng mức nó sẽ dẫn đến bệnh tật hiểm nghèo, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cho gia chủ mà đại họa mang đến cũng rất khó lường cần phải lưu ý rất kỹ để dùng đồ vật chế hóa.

Mái nhà ảnh hưởng không nhỏ đến gia chủ do độ nghiêng của mái, cấu tạo mái tròn, dốc, bằng, nhiều mái, ít mái, đua ra, co vào ảnh hưởng không nhỏ nhọn quá, chọc trời rất bất lợi cho cuộc sống, nhiều mái thì rất tình cảm nhưng bị phân tán, dốc quá thì rất nguy hiểm, bằng quá nhiều gian khổ.

Thờ cúng là nơi được mọi người quan tâm và trân trọng bởi văn hóa Việt được hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không phải chết đi là hết mà sự chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác vậy muốn liên lạc được với phúc phần tổ tiên thì phải liên hệ bằng thờ cúng. Thờ cúng được coi là: Vi tử giả bất khả vong kỳ ân – cây có gốc nước có nguồn, con người đựơc sinh ra là phải nhờ có tổ tiên, nếu không có tổ tiên thì mình từ đâu ra. Vậy có được cuộc sống tốt đẹp ngày hôm nay thì phải liên tục nhớ các ngài đường truye niệm kỳ công đức của các ngài mà phụng tư chi tức là thờ cúng tổ tiên, thần linh để liên lạc với các ngài mong các ngài che chở, dáng phúc. Sự thờ cúng tổ tiên thần linh chẳng khác gì quay ăng ten vô tuyến đúng tần số, đúng kênh, đúng hướng thì bắt được cả tiếng lẫn hình.

Vị trí này người xưa và người nay rất quan tâm và họ đều chiêm nghiệm thấy người kinh thường buôn bán rất quan tâm chiêm nghiệm ứng nghiệm.

Kho – là nơi chứa đựng đồ dự trữ vì thế nó phải nằm ở vị trí xấu của tuổi gia chủ.

Két bạc là nơi chứa tiền hay gọi là quỹ phải đặt vào nơi xấu hướng cửa két về nơi tốt thì hút rất hiệu quả. Xe cũng vậy, phải đặt chúng ở nơi xấu thì xe đi sẽ an toàn và hiệu quả.

Bàn làm việc phải đặt ở nơi xấu và hứơng mặt người làm việc về nơi tốt thì đầu óc sẽ tập trung và công việc sẽ hiệu quả, mọi quyết sách đều sáng suốt.

Tranh ảnh, câu đối, đồ chơi là những vật dụng rất gần gũi với chúng ta nhưng chúng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của gia chủ bởi tính linh hồn của đồ vật được xác định sự liên hệ của chúng là truyền trực tiếp, gián tiếp là hoàn lưu trong không khí và bức xạ nhiệt. Vì một số loại sóng vượt qua được vật cản mà khoa học vật lý ngày nay đã đo được.

Sự sắp xếp đồ vật trong nhà người ta quan tâm đến công năng sử dụng và ý nghĩa vật đó mang lại bởi các vật đều có hồn thường bởi chúng được cấu tạo ra sao và bằng chất liệu gì, màu sắc gì cũng như một mảnh vải màu vàng và đỏ thì chỉ là một mảnh vải có màu rực rỡ. Nhưng chuyển thành sao vàng torng nền đỏ nó trở thành quốc kỳ và nó là hồn thiêng của dân tộc. Tượng thần phật cũng vậy, tuy là mình có thể tạo ra nhưng chính mình cũng không thể tùy tiện phá đi hay bất kính với tranh tượng thánh thần vì thế phải để chúng ở đâu cho trang nghiêm, trân trọng khỏi mang lỗi bất kính.

Tường nhà, trần nhà hay được các kiến trúc sư làm cho cách điệu như: làm âm tường, xà thật xà giả, đắp phào thạch cao các hình ghê rợn, nhiều đường tròn, dẫn đến sự quá tải trong cuộc sống do cuộc sống phải gồng mình với công việc, bệnh tật, cơ hồ đánh mất vai trò của gia chủ gọi là vợ lấn sân chồng “lấy kèo làm cột”.

Tủ sách, tủ tài liệu để có được hiệu quả thì phải để chúng vào chỗ xấu hướng mặt chúng về chỗ tốt.

Tất cả những sự xấu và tốt của kiến trúc thì chỉ có người khai thác sử dụng mới gánh chịu hậu quả còn các kiến trúc sư thì quan tâm thể hiện đến kiểu cách và tiện nghi hay công năng sử dụng còn linh hồn của tòa nhà và tổ chức đồ vật trong không gian sống ở trong và ngoài nhà ít được đề cập.

Sự hiệu quả của căn nhà từ móng đến mái và màu sắc đồ vật, cây cối, đường xá làm cho người ở được tốt lên hoặc bị xấu đi thì vấn đề này luôn được bàn cãi.

Để hiểu những vấn đề này con người đã dẫn tìm ra quy luật của tự nhiên đó là quy luật đực, cái, ngày đêm và âm dương – ngũ hành để giải thích vạn vật cũng như vận dụng để áp dụng chúng vào cuộc sống và mô phỏng vạn vật trong môi trường sống để tìm ra nguyên nhân để giải quyết cuộc sống có lúc là tình thế, có lúc là giải pháp.

Từ sự chế hóa như đất đắp đê, nước dập lửa, lửa nung chảy kim loại, dao búa chặt cây cối, cây với hút chất trong đất … quy luật tương hợp, tương sinh, tương khắc của chúng, màu sắc cũng có quy luật, âm thanh của các nốt nhạc cũng có quy luật sắp xếp chúng thì có những bản nhạc buồn, vui nhộn nhịp. Chữ viết cũng vậy nó mang ý nghĩa rất lớn, chỉ 24 chữ cái mà chúng ta sắp xếp để đọc các chữ - các chữ cho nghĩa được vào, được ra – vui buồn, thông tin các chiều của chữ - tùy người đón nhận vì vậy một công trình kiến trúc được hoàn hảo để cho người sống ở đó được tốt lành như nhà ở thì phải tiện lợi, mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát, có ánh sáng từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn, hết nắng là hết nóng. Những điều kiện lý tưởng như vậy quả là rất khó vậy những nhà thiết kế kiến trúc phải vận dụng cái hay, cái mới, cái có sẵn để thêm bớt vào tác phẩm của mình và thêm vào đó là linh hồn của gia chủ như cái sim điện thoại, dù chuyển sang thân máy nào thì linh hồn của sim vẫn giữ số liên lạc không đổi. Vậy phải xác định được vai trò chủ thể, nghề nghiệp, yêu cầu rồi khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm của từng bộ phận, của công trình mà điều chỉnh chúng. Thời gian tạo tác cũng rất quan trọng, các trạng thái của thời gian nó thể hiện tuổi thọ của công trình, thời gian thi công có sự bắt đầu sẽ có kết thúc. Nhiều công trình tìm được thời gian khởi công tốt đẹp hoàn thành mỹ mãn và huy hoàng trong một quá trình dài. Còn một số công trình không được chào đời tốt đẹp, nó bị tàn phát, hoặc xây xong hoang phế, có những công trình còn là nơi mang họa lớn cho loài người. Trạch thời là điều mọi người khó thờ ơ vì thế người xưa thường lấy người già để đứng động thổ, khởi công hoặc những ngày khởi công đưa về cuối năm để nếu có xảy ra xấu nó xấu vào mấy ngày để sang năm khác.

Bởi thời tiết nào, khí hậu nào thì cho sẵn vật đấy, con người cũng vậy mỗi người có một năng khiếu hay thiên hướng bẩm sinh riêng rất tốt ở lĩnh vực này mà chưa tốt ở lĩnh vực kia. Vậy kiến trúc là phải tìm hiểu, khảo sát nhiều vùng miền rồi đi sâu vào chi tiết thì sản phẩm kiến trúc sẽ trọn vẹn cho người sử dụng.

Ở ngôi nhà này thì phát đạt, chuyển sang ngôi nhà kia thì lại xấu tiêu tan sự nghiệp, quan hệ tầm thường, học hành u tối, kiện tụng, ốm đau, bệnh tật triền miên. Gia đình chung sống có duyên thì ngày càng vui tươi, còn vô duyên thìcàng sống càng mang nợ luôn hành hạ nhau cho đến hết đời. Thất vọng, chán chường, bạc nhược trong những hoàn cảnh cần có lý trí vươn lên, nghị lực sống, vui vẻ trong mọi hoàn cảnh. Thì chúng ta phải kế thừa lịch sử áp dụng nhiều kiến thức khoa học và tinh hoa cổ truyền vào cuộc sống, cho cuộc sống ngày một hoàn thiện vì sự tồn tại linh hồn của đồ vật là sự có lý, mà có lý nó mới tồn tại.

Share this post


Link to post
Share on other sites

KINH ĐÔ TRIỀU NGUYỄN - MỘT KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ HOÀN CHỈNH

VÀ CÓ GIÁ TRỊ BỀN VỮNG CỦA VIỆT NAM VÀ CỦA THẾ GIỚI

Phan Thuận An

Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế

Mặc dù đất làng Phú Xuân bên bờ bắc sông Hương đã được lựa chọn lần thứ nhất vào năm 1687 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Thái (1687-1691) và lần thứ hai vào năm 1738 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) để xây dựng Thủ phủ Đàng Trong, rồi trung tâm chính trị này lại được doanh kiến và nâng cấp lên thành Đô thành Phú Xuân vào năm 1754, nhưng phải đợi đến những thập niên đầu thế kỷ XIX dưới hai thời vua Gia Long (1802-1819) và Minh Mạng (1820-1840), diện mạo đô thị Phú Xuân-Huế mới được định hình một cách chính thức và có giá trị bền vững về nghệ thuật kiến trúc như đã và đang được mọi người cảm nhận.

Hiện nay, ở nước ta có 572 đô thị lớn nhỏ khác nhau. Trong khi bức tranh chung của phần lớn các đô thị ấy đang nhuốm những màu sắc ảm đạm về cả qui hoạch lẫn kiến trúc thì Cố đô Huế lại được nhân loại đánh giá cao là "một kiệt tác về thơ kiến trúc đô thị" (a masteriece of urban poetry) và được công nhận là di sản văn hoá thế giới đầu tiên của Việt Nam. Khi thẩm định giá trị và ghi tên Quần thể Di tích Huế vào Danh mục Di sản Thế giới vào năm 1993, UNESCO đã nhận xét rằng Quần thể kiến trúc này là một sự kết hợp giữa triết lý phương Đông, truyền thống Việt Nam và môi trường thiên nhiên tại chỗ: một phản ánh độc đáo của nền đế chế trong nước vào thời cực thịnh của nó trong thế kỷ XIX.

Nền đế chế ấy đã kéo dài 143 năm, trải qua 13 đời vua từ Gia Long đến Bảo Đại: 1802-1945. Nhưng, thời gian xây dựng Kinh đô Huế chủ yếu diễn ra dưới thời các vua đầu tiên của triều Nguyễn, đặc biệt là thời Gia Long và Minh Mạng.

Ngay từ đầu tháng 4-1802, tức là 2 tháng trước khi Nguyễn Ánh xưng đế hiệu Gia Long, nhà vua đã hành đi khảo sát hình thế núi sông xứ Huế để qui hoạch mặt bằng Kinh đô.

Trong "đại bố cục" của tổng thể kiến trúc sắp xây dựng, các thực thể địa lý tự nhiên có sẵn tại vùng đất này đã chi phối và cuốn hút mạnh mẽ tâm trí vua Gia Long và các triều thần tham gia qui hoạch. Họ đã lợi dụng một cách khéo léo và thích hợp những hình sông thế núi tại chỗ bằng cách gắn vào cho chúng các chức năng tâm linh mà triết lý kiến trúc phương Đông cũng như truyền thống kiến trúc lâu đời của dân tộc bắt buộc phải tuân thủ.

Cho đến bây giờ, tư tưởng chủ đạo trong qui hoạch và kiến trúc vẫn là Dịch lý và thuật Phong thuỷ.

Dịch lý cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều do hai yếu tố Âm- Dương tương tác mà sinh trưởng. Trong vạn vật, hai thành phần trọng yếu là thiên nhiên và con người. Nhưng thiên là đại vũ trụ, con người chỉ là tiểu vũ trụ. Cho nên, con người không nên tách biệt và đối nghịch với thiên nhiên, mà phải sống theo triết lý "Thiên nhân hợp nhất" và "Nhân dữ thiên địa tương tham" (Người cùng trời đất chen dự vào nhau).

Thuyết Ngũ hành đã kết hợp với thuyết Âm dương để lý giải quy luật tương sinh và tương khắc của vạn vật trong vũ trụ.

Ra đời muộn hơn, thuật Phong thuỷ đã cụ thể hoá các khái niệm ấy để ứng dụng vào xây dựng và kiến trúc. Đây là một khoa học huyền bí nói về cách chọn địa cuộc để thiết lập đô thị, xây dựng thành quách, cung điện, nhà cửa, lăng mộ,.... Thầy địa phải chọn nơi nào có được mạch đất, phương hướng, chiều gió, dòng nước thích hợp để đem lại điều lành, tránh khỏi điều dữ cho người sống và kẻ chết được chôn. Cuộc đất tốt là chỗ "tàng phong tụ khí", là nơi hội đủ một số địa lý tự nhiên như núi đồi, cồn đảo, ao hồ, sông suối. Chúng được hình tượng hoá và siêu nhiên hoá để trở thành các yếu tố mà Phong thuỷ gọi là long mạch, bình phong (tiền án), hậu chẩm, tả long, hữu hổ, não thuỷ, minh đường.

Khi xây dựng Kinh đô của mình, các triều đại trong lịch sử nước ta đều đã tuân thủ những nguyên tắc Dịch lý và Phong thuỷ như thế. Chẳng hạn như năm 1010, trong "Chiếu dời đô", Lý Công Uẩn đã nói về hình thế địa lý của thành Đại La mà sau đó đổi tên thành Thăng Long như sau: "Thành Đại La,... ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước.... Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thật là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương đúng là thượng đô kinh sư mãi mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định đô..."

Share this post


Link to post
Share on other sites

ĐÔI ĐIỀU VỀ PHONG THUỶ TRONG KIẾN TRÚC XÂY DỰNG

KTS Phạm Vũ Hội

Xưởng kiến trúc tạo hình Hải Phòng

Gần đây, chúng ta bàn nhiều về phong thuỷ-một phạm trù khoa học thuộc Đông Phương học truyền thống đầy tính triết học nhân sinh. Tiếp cận với đề tài này ta có thể hiểu được rằng nhiều mặt trong cuộc sống, trực tiếp là xây dựng nhà cửa, kiến trúc, quy hoạch đều liên quan đến phong thuỷ; nó tác động trực tiếp đến người và hoạt động của con người. Phong thuỷ trước kia đã được ông cha ta ứng dụng rộng rãi trong xây dựng nhà cửa, cung điện, chùa chiền, đền miếu, lăng tẩm....Không ít nơi có kinh nghiệm thực hành, cả cho xây dựng dương phần và âm phần.

- Phong thuỷ học lấy con người làm trung tâm của sự mưu cầu: mưu cầu sự hanh thái - tốt đẹp của trời đất cho con người sao cho hiệu quả nhất; lấy lý trí sức mạnh trời đất để nuôi dưỡng lý trí sức mạnh con người bằng các yếu tố, các điều kiện môi sinh mà con người nhìn thất và cả những gì không thể nhìn thấy. Phần không thể nhìn thấy được người ta gọi là khai thác lý trí, đem đến vượng khí để sinh tồn.

- Phong thuỷ vừa là “khoa học” vừa là “thuật pháp” của các bậc tiền bối hành nghề địa lý kiến trúc, tương lai chắc chắn nó sẽ là một chuyên môn không thể thiếu của các kiến trúc sư. Bởi các kiến trúc sư nắm vững phong thuỷ thì việc xây dựng sẽ hiển đạt hơn nhiều.

- Việc lãnh hội thi hành phong thuỷ phải nói là khó, cho nên lây nay hình như ta chỉ nhìn nhận phong thuỷ qua khía cạnh “thuật pháp” rồi bây giờ mới nhận ra các mặt tích cực của thuật pháp này lại chính là khoa học. Tuy nhiên tính hai mặt của phong thuỷ như đã nói sẽ không bao giờ thay đổi, sức hút nghiên cứu, bàn luận và ứng dụng rộng rãi của nó ngày càng rộng rãi trong thực tiễn.

- Phong thuỷ dựa trên nền tảng của Dịch học và Địa lý, khai thác sự cân bằng âm dương về địa lý tự nhiên, sự hoà hợp tương sinh phục vụ cuộc sống- cho một cá thể con người trong một ngôi nhà hay một tập thể nhiều người kiểu quần cư trong một đô thị- một vùng rộng lớn. Bởi vậy các tiếp diện của phong thuỷ học rất rộng và tuỳ theo các yêu cầu đặt ra với tư cách là đối tượng chủ thể làm tâm dịch quy chiếu để xác định tìm ra các điều kiện giải pháp phong thuỷ có lợi nhất. Vậy là sự việc tìm kiếm môi trường ở phong thuỷ còn gồm các điều kiện duy linh sinh học mà bấy lâu bị lăng qua, quên mất sự kế thừa nghiên cứu và hệ thống.

- Tuy nhiên làm rõ bản tướng phong thuỷ ta mới thấy tầm quan trọng của nó. Tổng hợp các sách bàn về phong thuỷ đều cho ta thấy phong thuỷ tác động lên môi trường sinh mang tính hai mặt : thứ nhất xác định các điều kiện phong thuỷ, có giải pháp khai thác tốt sẽ tạp ra các thuận lợi mưu sinh an bình cho sự tiến bộ, thông thuận của con người- thân chủ tức là được vưọng khí; ngược lại thì là tác động xấu, từ sự triết giảm sự mất hoàn toàn các sợi khí sinh học tự nhiên. Theo nguyên lý dịch học “âm dương bất trắc chi vị thần- âm dương không tương thích sinh ra đảo quấy- nghịch khí”. Cho nên khai thác phong thuỷ phải dựa trên nguyên tắc khai thác đồng thuận các yếu tố lý khí tượng khí tự nhiên. Cũng có trường hợp đã có sự nghiên cứu sưqr lý tốt, mà thời gian biến động cùng với thay đổi dịch tượng khiến nó làm mất đi sự cân bằng sinh khí ban đầu, tạo ra biến cố mới, đòi hỏi có sự thay đổi tương tác...Làm rõ điều này ta cần nhớ tới cây chuyện về “bia văn” mà Đức Trạng Trình để lại đối với một thầy phong thuỷ hậu sinh :bát thập niên tiền khí chung vu tả (80 năm đầu khí mạch nằm bên trái); bát thập nên hậi khí nhập ư trung (80 năm sau khí mạch vào giữa); hà vị bái tiên sinh vô mục\ ? (sao lại bảo ta không có mắt). Chuyện kể về một thày Tàu; nghe tiếng Trạng giỏi tiên tri và phong thuỷ, đến Đền thờ ngài thắp hương ngưỡng vọng; nhân đi thăm khu mộ tổ thấy ngôi mộ của tiền nhân đặt chưa hợp cách có ý chê ngài; người nhà nhớ lời dặn của Trạng mời bằng được Thày trổ tài đặt lại, xin thày làm phúc; không ngờ khi đào đã phát hiện lời văn trên đã khắc vào tấm bia đá đặt trên tấm thiên; quả đúng sự biến dịch của khí mạch; bấy giờ thày Tàu được mở mang, thế đất của thân chủ cần định hướng lại từ mặt tiền tới vị trí tương quan thì việc xem xét các yếu tố phong thuỷ từ tổng thể tới các công trình phụ trợ cũng theo đó mà điều chỉnh.

- Duy danh định nghĩa hai chữ phong và thuỷ, ta thấy khi nói đến Địa lý phong thuỷ ta đưqợc tượng của nó nằng trong hàm ý một quẻ thuộc “kinh dịch” gọi là quẻ Hoán- Phong thuỷ Hoán dịch dạy : Nó là quẻ tốn trên khảm dưới gió đi trên nước, nước gặp gió tan, cho nên là “Hoán”. Lời kinh dạy: Hoán hanh vương cách hữu miếu, lợi thiệp đại xuyên, lợi trinh quẻ Hoán hanh, vua đến có miếu, lợi sanh sông lớn, lợi về chính bền. Nghĩa của nó là Phong thuỷ vốn tốt đẹp thông thuận là nhở ở người khai thác lập nên, quy tụ nên- ấy là vua đến có miếu; lợi ở sự vượt được khó khăn dù lớn tới đâu; và còn cái lợi ở sự ổn định của khí vận do người- thân chủ, biết bảo toàn các điều kiện sinh khí lây dài. Lại biết rằng Tốn- phong thuộc tượng mộc, Khảm-thuỷ là nước; ở đây Tốn trên Khảm, gỗ trên nước như là thuyền lướt trên nước, ấy là lợi sang sông lớn. Cho nên làm nhà cửa, dựng kinh thành khai thác được lý khí phong thuỷ âm dương cân bằng, mạnh ở vượng khí thì lợi ở sự vượt những khó khăn dù lớn, do vậy các khó khăn nhỏ đều vượt dễ dàng, coi như không có lại theo dịch : Vua đến có miếu - Tức là thân chủ tụ khí- tốt; còn tốt hay không ngầm hiểu là có dụ khí hay không là do thuật phong thuỷ. Ở phong thuỷ còn có tượng của tương sinh, thuỷ sinh mộc cũng có nghĩa là khai thác tốt phong thuỷ là khai thác những điều tốt lành làm cho sinh trưởng, phát triểưn trong “Hoán” - Tốn trên Khảm dưới, quẻ hạ sinh quẻ thượng tức hạ tầng sinh thượng tầng, theo đó mà âm dẫn sinh dương khí, cũng là đề cập nguyên tắc phong thuỷ thuận thì tốt vậy. Lại phải biết thêm rằng ở quẻ hoán – phong thuỷ- phần thượng quẻ và hạ quẻ hào dương- khí dương đều đắc trung; sự ứng dương toàn quẻ đều nhờ vào các hào âm- khí âm; là tốt cũng là bản chất của phong thuỷ. Như ta vẫn xác định âm phù dương trợ mọi việc hanh thông. Tuy nhiên, mọi sự vật phép suy biến đều có mặt trái, phong – gió, có xu hướng đi khắp bay lên bay xa, thuỷ - nước, theo song hành mới là phong thuỷ, mới sinh khí, vậy khi phong – gió đi khắp, mà có chỗ, khoảng không có thuỷ -nước theo cùng, không song hành, phong thuỷ rời xa nhau, hiệu ứng tương sinh bị triệt tiêu, làm cho hãm khí, trệ khí, tất nhiên không thể là tốt. Phép suy biến để hiểu về vận khí vậy. Một ngôi nhà, một chủ thể kiến trúc xây dựng có đủ các tiền đề sinh học tự nhiên tốt, phong thuỷ sinh khí vượng, phát triển, cũng có vận trì trệ theo biến dịch, có điều phong thuỷ giúp ta vượt lên và có “thuật” vượt qua.

- Vậy tìm đến phong thuỷ học là tìm đến phạm trù lý khí sinh vượng khí chi bất kỳ đối tượng- sinh vượng khí; thành thạo vượt xa tới mức điêu luyện hạn chế sự bất trắc thì thành thuận.

Share this post


Link to post
Share on other sites

QUAN NIỆM PHONG THỦY

TRONG KIẾN TRÚC XÂY DỰNG

CỦA NGƯỜI TÀY, NÙNG VIỆT NAM

Mã Đình Hoàn

Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Yên Bái

I. Đặc trưng văn hóa của cộng đồng người Tày, Nùng Việt Nam

Người Tày và người Nùng là hai tộc người có nét tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ sử dụng thuộc ngữ hệ Tày Thái.

Trước đây chữ viết là chữ Nôm Tày, Nôm Nùng. Trang y phục được dệt từ sợi bông nhuộm chàm ít hoa văn, hoạt tiết. Có phong tục tập quán riêng và dựng nên một nền văn nghệ cổ truyền phong phú đủ các thể loại thơ, ca, múa, nhạc, tục ngữ, ca dao …

Địa bàn cư trú chủ yếu ở các tỉnh Việt Bắc, một số vùng lãnh thổ thuộc Đông bắc và Tây Bắc nước ta.

Người Tày có dân số khỏang 1,2 triệu người, người Nùng có khỏang trên 70 vạn người.

Kinh tế chính của người Tày, Nùng là nông nghiệp cấy lúa nước và làm nương rẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầm, đào ao, thả cá …

Đặc điểm cư trú ven các thung lũng, triền núi thấp, dọc thượng lưu của các dòng sông. Người Tày, Nùng có cuộc sống hồn hậu, hòa nhã, tinh thần lạc quan vui vẻ, bản lĩnh, ý trí vững vàng, đang vững bước cùng các tộc người khác trong cộng đồng các dân tộc Việt hăng hái thi đua yêu nước, xây dựng quê hương đất nước đẹp giàu.

Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ điểm qua những nét chính về quan niệm phong thủy trong kiến trúc xây dựng.

2. Ảnh hưởng của tín ngữơng dân gian và tôn giáo.

Trong quan niệm vũ trụ quan của cộng đồng người Tày, Nùng bị chi phối khá rõ về tín ngưỡng dân gian về tục thờ thần núi, thần sông, mặt trăng, mặt trời.

Tôn giáo chịu ảnh hưởng của Tam giáo đồng nguyên là phật giáo, đạo giáo, nho giáo và chịu ảnh hưởng của văn hóa hai tộc người lớn là người Kinh và người Hán, ngoài ra còn chịu sự chi phối bởi yếu tố khu vực sinh sống.

3. Hướng kiến trúc xây dựng

Người Tày, Nùng chọn hướng kiến trúc xây dựng theo quan niệm Ngũ Hành. Tuy nhiên do địa bàn cư trú và chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian và phật giáo nên chia 5 hướng chính: Đông, Đông Nam, Đông Bắc, Bắc, Nam theo quan niệm:

  • Hướng Đông là hứơng sinh khí.
  • Hướng Đông Nam là hướng thiên y, trời cho thuốc, hướng hành mộc.
  • Hướng chính Bắc là hướng Phúc Đức.
  • Hướng Tây Bắc là hướng Phục vị, làm ăn bình thường.
  • Hướng Tây là hướng Lục sát, Thiên hỏa, Họa hại, Ngũ quỷ. Hướng này người Tày, Nùng kiêng dựng nhà ở vì cho rằng không yên bề gia thất, bệnh tật, tán của, chăn nuôi kém, đi xa không tốt, bị kẻ xấu đưa họa đến, học hành dốt nát ..

4. Các quy chuẩn phong thủy trong kiến trúc xây dựng.

Người Tày, Nùng chọn những khu đất để xây dựng nhà ở, công trình phục vụ tín ngưỡng, tôn giáo theo các nguyên tắc sau:

Tiền án, mặt nước (sông nước, ruộng phải thấp)

Hậu chẩm, phía sau (phải có thế dựa vào núi, đồi)

Thế núi sông phải thuận, núi phải hướng chung Tây Bắc, Đông Nam, núi quần thụ theo dải. Dựng nhà, dựng đình, miếu thế đẹp nhất la Tiền Tam Sơn, Hậu ngũ nhạc (phía trước là ba ngọn núi, phía sau vừa có rặng núi với năm khe suối) long mạch phải chạy dài chiều thuận từ phía sau ra phía trước, nghĩa là thấp dần ra khỏang rộng.

Trục thần đạo (là đường thẳng định vị hướng của công trình, từ tiền án đến hậu chẩm) phải đi vào giữa công trình dựng. Núi, đồi hai bên phải có thế tay ngai vững trãi.

Cửa vào, tam quan phải lệch trục thần đạo. Nếu được chọn chính diện phải được tạo tường chẵn hoặc ao sen để đường đi tỏa sang hai bên tránh vào giữa công trình.

Công trình xây dựng phải tránh có đường đi phía sau nhà và công trình, tránh các nơi có vị trí vòng cung núi, đồi quẩn khí, có hại cho sức khỏe của người, tránh xây dựng các công trình ở bãi đất trống giữa cánh đồng, khu vực có mỏ quặng sắt hay bị sét đánh, tránh “đạo xuyên, thủy khốc”.

Các công trình xây dựng chủ yếu dựa vào địa thế, lệ thuộc vào không gian. Nơi làm nhà, xây dựng các công trình tâm linh là điểm giao hòa của trời đất, khí lành. Ví dụ một trong những công trình xây dựng tiêu biểu của người Tày, Nùng được xây dựng ở xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang là đến Hồng Thái, là di tích lịch sử cách mạng. Có phong thủy điển hình, Đình được xây dựng trên một khu đất hình mâm xôi, theo hướng Tây Nam, Tiền án (phía trước) nhìn ra cánh đồng Đình, được bao bộc bởi sông Phó Đáy chạy theo hứơng Bắc Nam. Hậu chẩm (phía sau) được dựa vào thế đồi Chùa, phía hai bên được hai dải núi bao bọc thế tay ngai.

Từ những quan niệm truyền thống nên các bản người Tày, Nùng được xây dựng dựa lưng vào núi, nhìn ra cánh đồng ruộng lúa, sông ngòi, góp phần tạo nên một bức tranh đẹp cho văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Share this post


Link to post
Share on other sites

VÀI NÉT PHONG THỦY CỦA KIẾN TRÚC HÀ NỘI

Băng Sơn

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Việt Nam cũng như các quốc gia, dân tộc Phương Đông khác rất coi trọng thuyết phong thủy, nhất là trng kiến trúc, xây dựng. Đây là lý thuyết nghiêng nhiều về tâm linh, có những yếu tố “ảo” nhưng lại rất thực tế trong đời sống. Thí dụ “Tả thanh long, hữu bạch hổ” đây là quy ước phân định không gian đa được linh vật hóa. Một nọn núi cao, có khi chỉ là một cái gò nhỏ trên cánh đồng, một dòng sông bao la cuồn cuộn, có khi chỉ là con mương nhỏ bé, cũng là yếu tố cần thiết dựa vào đấy cho thế đất thành thiêng liêng trong ý niệm người xem, người chọn đất mà ta gọi là thầy phong thủy. Nếu nói theo kiểu hiện đại ngày nay, đó chính là cảnh quan, môi trường sinh thái, nó sẽ tạo ra nhiều điều tiện lợi cho con người sinh sống trong môi trường đó cả về tâm linh, đời sống cụ thể, tinh thần và vật chất, tức là yếu tố thiên nhiên tạo ra những tốt đẹp cho con người.

Hà Nội – Thăng Long - được coi là mảnh đất thiêng từ nghìn xưa. Theo “Chiếu dời đô” của nhà vua Lý Thái Tổ thì thăng Long từ thời đó đã có đầy đủ những thuận lợi về phong thủy để xây dựng “một đô thành vào bậc nhất” nước ta, vì nó “ở trung tâm cõi bờ đất nước, có cái thế rồng cuốn hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc, tiện hình thế núi sông sau trước ..”. Chảy quanh Thăng Long có sông Hồng (còn tên cũ là Sông Lô) và sông Tô Lịch, có thể làm nơi giao thương với cả nước, đó phải chăng là con rồng (Thanh Long), còn phía xa kia, Tây và Tây Bắc có núi Ba Vì Tam Đảo che chắn phía sau, làm chỗ tựa cho kinh thành là bạch hổ đó chăng?

Giáo sư Phạm Huy Thông từng phát biểu ý kiến về bài Chiếu dời đô đó trong 4 chữ: Đồ Đai (mưu toan việc lớn) và Chính trung (ở nơi chính giữa). Thời đó nước ta còn chưa có châu Hoan, châu ái, châu Ô, châu Lý thì trung tâm châu thổ Sông Hồng chính là trung tâm đất nước vậy. Hẳn trước khi Lý Thái Tổ quyết định rời đô, ông phải suy xét kỹ càng (hoặc được triều đình tham mưu). Về thế đất thành Đại La này theo thuyết phong thủy cẩn trọng.

Tổng thể Hà Nội là cái nền đó.

Đi vào từng công trình cụ thể nằm trên đất Thăng Long Hà Nội, ta cũng thấy rất rõ những điều tương tự. Thuyết Phong thủy đã được đề cao, coi trọng, suy xét kỹ càng.

Đền Đồng Cổ có từ thời đó, nơi mùng 4 tết hằng năm nhà vua cùng triều đình đến đó ăn thề thì phong thủy để xây dựng không thể bỏ qua. Ta thấy còn phảng phất lu mờ hình ảnh núi Voi (nay nằm trên đất Hữu Tiệp – nhà máy bia) là chỗ dựa sau lưng, còn trước mặt là con sông Tô Lịch rộng dài, bề thế, xanh trong bốn mùa tha hồ cho mây trời soi bóng, mà mây trời cũng là khí thiêng của đất trời hội tụ.

Nếu sau này kinh thành Huế (Phú Xuân) có núi Ngự Bình và Hương Giang là hổ phục, rồng cuộn mà ta còn quen gọi là thành phố “Sông Hương, núi Ngự” thì Thăng Long có núi Nùng và sông Nhị nên Hà Nội còn được gọi là đất Nhị Hùng, rất tiếc là Pháp đã bạt đi ngọn núi Nùng thiêng liêng ấy, nó đã từng có mặtt rong khu vực vườn Bách Thảo ngày nay – còn ngọn đồi đang còn nơi đó không phải là núi Nùng mà núi Xưa (Xư sơn) nơi có trồng nhiều cây hoa xứ, hoa trắng vào mùa xuân. Và sông Nhĩ (Nhĩ Hà) chảy từ nhĩ Hồ (hồ lớn hình cái tai) trên cao nguyên Vân Quí – Trung Quốc xúông.

Nói riêng, Hà Nội còn một linh hồn, một lẵng hoa, đó là Hồ Hoàn Kiếm, thường gọi tắt là Hồ Gươm thì yếu tố thiên nhiên yếu tố tự nhiên đã bắt người xưa phải suy nghĩ, nếu có thì dựa vào, còn nếu không có thì phải tạo nó ra. Hồ Thủy Quân, Hồ Lục Thủy có gương nước mênh mông, bốn mùa đầy mây soi bóng, nhưng núi thì không có, dù chỉ là một cái gò nhỏ nhô lên. Người xưa công phu đắp một hòn giả sơn, hòn núi đá tuy nhỏ nhưng cũng được gọi là núi. Đó là núi Đảo Tao, nơi dựng Tháp Bút, viết lên trời xanh tâm tư nguyện vọng của người sĩ phu bao thuở đất kinh kỳ. Lối vào đảo Ngọc nơi có đền Ngọc sơn ngự tọa, đi từ hứơng Đông nơi tràn đầy ánh sáng ban mai, vì thế mới có tên con cầu Đón ánh sáng ban mai “Thê Húc” sơn đỏ màu mặt trời, cho đến cách đây khoảng 40 năm, lối vào ấy được xây hai bờ tường cao khoảng hơn ba mét, ngụ ý ngay giữa đô thành nhộn nhịp, khi vào đây mọi người cũng phải rửa lòng trần tục, phải có thời gian để hòa mình vào một không khí thiêng liêng, tao nhã, thanh lịch. Thời ông Nguyễn Bắc làm Giám đốc Sở Văn Hóa, Ông đã cho phá dỡ những bức tường ây đi chỉ trong một đêm và cấp tập xây dựng bức tường khác, thấp như ngày nay chúng ta đang thấy.

Chùa Trấn Quốc có từ thời Tiền Lý, đây là địa điểm lý tưởng để xây dựng một công trình trở thành danh lam nhìn đời. Theo hướng Tây, nơi đất nhà Phật, quê hương của Phật Thích Ca, Trấn Quốc cũng thế, nhưng của ra vào vẫn là hướng Đông. Với phong cảnh u tịch, thanh vắng, chùa Trấn Quốc đã tận dụng được thế phong thủy mà nay ta gọi là môi trường, sinh thái, có mây trời, gió thổi, có nước xanh lồng bóng (theo nhiều sử sách, nhiều vua chúa đã ngự giá đến đây, riêng chúa Trịnh Sâm đã lợi dụng địa thế này và cảnh hồ để tổ chức những cuộc vui chơi giải trí tưng bừng, đáng có và không đáng có chính trong nơi danh lam này).

Ngay gần chùa Trấn Quốc, chỗ đầu đường đê Cố ngự có Quán Thánh, một trong vài ba quán thờ theo Đạo Lão, cũng hướng cửa về phương Nam, thông ra mặt hồ Tây quý giá, không có núi non làm chổ dựa, người xưa đã trồng hàng loạt cây muỗm, loài cây thọ lâu dài nay đã thành cổ thụ, ước đến 4-500 năm tuổi, nó tạo ra phong cảnh nghiêm trang và tĩnh lặng, gọi lên niềm sùng kính, trầm tư đối với những ai vãn cảnh. Nói thêm một chút ở đây, trong sân đền, dưới vài bóng mát của hàng muỗm, có một pho tượng đá xanh, quần áo xuềnh xòang, ngồi xếp chân bằng tròn. Ông Trùm Trọng là tác giả bức tượng đồng trong đền nặng hơn 4 tấn. Ông Trùm Trọng là tác giả bức tượng đồng trong đền nặng hơn 4 tấn. Ông Trùm Trọng là thợ cả, người thợ đúc tài hoa, để ghi công ông, người xưa đã tạc tượng này, nhưng để lộ thiên ngoài sân. Không hiểu vì sao, hay tại quá tôn sùng mà lâu nay, pho tượng đá này được đem vào trong đền, khoác lên pho tượng là vải lụa rất thật, đủ màu sắc, lại còn tô vẽ thêm các màu sơn lên dầy lên vai ông. Các nhà kiến trúc điêu khắc có nên tham gia ý kiến để sửa sai việc này không và việc này đúng như câu nói dân gian “kính chẳng bỏ phiền”, đã trải mấy chục năm rồi.

Một công trình khác tuy không nguy nga nhưng khá hoành tráng, được quy tụ thường xuyên nên giá trị của nó ngày càng được tôn trọng, đó là khu Văn Miếu và thêm Quốc Tử Giám phía sau lưng. Cả công trình là một cụm nhiều kiến trúc, theo trục hoành đạo Bắc Nam với con đường thẳng xuyên từ cổng vào tới điểm cuối cùng. Người xưa đã tạo ra một khuôn giếng trời để đón ánh sáng, để tạo ra cảm giác hài hòa trời đất và con người. ĐÓ là khu giếng hình vông có tên Thiên Quang Tỉnh, giếng đó đón ánh sáng mặt trời, để si tử trước khi vào cửa thánh, vào thăm nơi đây phải soi gương mà sửa sang trang phục. Đây cũng là một nét đầy chất văn hóa người xưa để lại, còn ngụ ý răn dạy những người sau.

Trước cửa Văn Miếu, phía ngoài hướng chính Nam, còn được đào một con hồ, tuy nhỏ thôi nhưng cũng có cây có đảo. Đây là nét tự tạo để theo thuyết phong thủy, là minh đường vì có sơn thủy hữu tình, làm nơi đi dạo cho sĩ phu, thầy trò sau những giờ sôi kinh nấu sử.

Tiếc sao lâu nay hồ Văn đó không được quan tâm, thành phố bỏ ra nhiều tiền của mà vẫn chưa khôi phục được con hồ nhỏ bé.

Cách đây khoảng một vài năm, người ta còn quy định xây một nhà vệ sinh nói thẳng ra là một hố xí để thuận tiện cho người Tây đến chơi. May thay báo chí đã đồng thanh lên tiếng nên việc này bị đình lại. Thiết nghĩ xây một nhà vệ sinh cũng là cần thiết, nhưng xây ngay đường hòang đạo đi vào của Thánh là việc quá xúc phạm. Với một nhà nước, một thành phố như Hà Nội, có thể bỏ ra vài ba tỷ đồng Việt Nam mua lại hẳn một căn nhà dịch sang bên cạnh gần đó mà xây một căn nhà vệ sinh chuyên dùng, số tiền tuy to nhưng với thành phố ta, nó không đáng bao nhiêu mà lại rất văn hóa. Đây không thuộc về vấn đề phong thủy mà thuộc về ý thức văn hóa vậy.

Cũng nói thêm một điều khá cần thiết và quen thuộc khác. Đó là việc một kinh thành, và nay là một thành phố khá rộng lớn và đang trên đường phát triển, thì nhiều khi công trình kiến trúc khó mà chọn được thế đất có phong thủy thuận lợi theo ý muốn nhà kiến trúc châm trước điều kiện để xây dựng công trình.

Hà Nội có Tứ trấn. Đó là 4 công trình ở bốn hướng Đông Tây Nam Bắc thờ 4 vị thần bảo hộ thành phố, có từ rất xa xưa. Đó là Quán Thánh ở phía Bắc, Bạch Mã ở phía Đông, Thủ Lệ còn gọi là đến Voi Phục ở phía Tây và Kim Liên thờ thần Cao Sơn ở phía Nam. Những địa điểm này không phải nơi nào cũng đầy đủ phong cảnh hay sông nước, cũng có rồng châu hổ phục, tỷ như Đền Bạch Mã ngay giữa phố phường ồn ã, từng là cửa sông Tô Lịch, chỗ này cũng đã bị lấp đi hoàn toàn. Đền Voi Phục mấy chục năm trước còn đôi ba ngọn gò có trồng nứa, mỗi làn gió động là âm thanh lao xao xạc xào. Người ta phải đào thông mấy con hồ to nhỏ ngắn dài tạo ra phong cảnh thần tiên, bát ngát. Đình Cao Sơn giữa làng Kim Liên nằm ngay trong xóm làng, khó mà đạt yêu cầu về phong thủy.

Một số công trình khác nằm ngay trong lòng kinh thành, phải bỏ ra nhiều yếu tố phong thủy, phải chấp nhận theo các quẻ trong Bát quái, tức là theo các hướng chính: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Như các cổng thành mở ra bốn hướng, các cạnh của kỳ đài cũng theo chính hướng Đông Tây Nam Bắc, cổng Ô Quan Chưởng mở ra hướng chính Đông, nơi có sông Hồng chảy qua.v..v.

Trên đây là ý kiến sơ lưọc của ngừơi Việt, người không phải nhà kiến trúc cũng không phải là nhà nghiên cứu, mà chỉ đọc thấy qua sách vở và quen thuộc trong đời sống.

Nếu đi sâu theo các nhà kiến trúc thì hẳn còn phát hiện nhiều điều phong phú khác nữa. Chẳng hạn theo quan niệm dân gian không một ngôi nhà nào lại xây dựng mà để đầu đao ngôi đình hay đầu đao ngôi nhà lớn khác đâm thẳng vào nhà mình. Người dân thành phố nhiều khi mua nhà, mua đất xây nhà cũng không thể thỏa mãn các điều kiện vì thành phố chật chội, luôn vướng các công trình khác của nhiều người, nhưng trước hết không ai muốn mua một mảnh đất khuyết tật, tức là thót đuôi chuột vì như thế làm ăn sẽ không phát đạt .v.v..

Mạo muội, đánh trống qua cửa nhà sấm, hoặc nói cách khác là múa rìu qua mắt thợ, nếu có sai sót gì xin được lựơng thứ.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHONG THỦY TRONG QUY HOẠCH ĐÔ THỊ HUẾ

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ

THS.KTS. Phan Thanh Hải

Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế

1. Một cái nhìn lịch sử

2. Phong thủy trong quy hoạch đô thị Huế thời chúa Nguyễn (1636-1775)

3. Phong thủy trong quy hoạch đô thị Huế thời Nguyễn (1802-1945)

3.1. Kinh thành

3.2. Hệ thống đàn miếu, chùa quán.

3.3. Hệ thống lăng tẩm3.4. Hệ thống phố thị, chợ búa.

4. Kết luận sơ bộ.

BẢN ĐỒ CÁC ĐIỂM DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ

Posted Image

Khu vực quần thể di tích Kiến trúc Cung đình Huế

Posted Image

“Kinh sư là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đúng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân chặn ngăn: sông lớn giăng phía trước; núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thế vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thựơng đô của nhà vua”.

1. Một cái nhìn lịch sử:

Khi bàn về địa thế phong thủy của xứ Huế, kiến trúc sư Lý Thái Sơn có một nhận xét thật thú vị: “Phong thủy của Huế là “Kỳ lân hí cầu”. Theo ông, có như vậy thì các vùng địa linh của Việt Nam mới có đủ hình “tứ tượng” - Rồng (Thăng Long thành) – Quy (thành Gia Định thời Gia Long) - Phụng (thành Gia Định thời Minh Mạng) và LÂN (kinh thành HUế (1). Đây là một ý kiến thật đáng để suy ngẫm.

Posted Image

Nhưng thực ra từ xưa đến nay đã có không ít nhà phong thủy học đã có những nhận xét, luận bàn về phong thủy của vùng đất đã từng là kinh đô cuối cùng của nước ta.

Theo thiển ý, người đầu tiên nhận ra vai trò đặc biệt của Huế hẳn là vị anh hùng Trần Nhân Tông, tổ của Thiền phái Trúc lâm Yên Tử. Sau khi cùng bắt tay phối hợp cùng vương quốc Champa để đánh tan quân Nguyên Mông, ông đã có chuyến du ngoạn vào xứ sở “non xanh nước biếc như tranh họa đồ” để rồi sau đó mới nảy ra ý tửơng gả công chúa Huyền Trân cho vua Champa để đổi lấy vùng đất đặc biệt này. Ý tưởng của ông đã được vua Trần Anh Tông thực hiện trọn vẹn vào năm 1306. Đáng tiếc là sử sách không ghi lại nhận xét nào của vua Trần Nhân Tông về vùng đất Thuận Hóa. Nếu có, hẳn sẽ rất thú vị….

Người thứ hai đã có đánh giá rất cao về vùng đất HUế (lúc đó đang gọi là Thuận Hóa) cũng là một nhân vật lịch sử rất vĩ đại thời Lê Sơ – nhà văn hóa văn võ kiêm tài Nguyễn Trãi. Trong Dư địa chí, Ông cho rằng, Thuận Hóa là phên dậu, là lá chắn của tổ quốc ở phương Nam. Bức lá chắn này (được hiểu như bức bình phong) phải được bảo vệ chắc chắn vững vàng để đảm bảo sự yên ổn cho đất nước.

Hơn trăm năm sau, địa cục đã có sự thay đổi cơ bản: đất Thuận Hóa không còn là bức lá chắn nữa mà đã trở thành vùng đất thiêng hội tụ đủ điều kiện để anh hùng lập nghiệp lớn. Vị thánh sống của Việt Nam đương thời - Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thấy rõ điều ấy và “mách” cho Tiên chúa Nguyễn Hòang để từ đó dãy Hòanh Sơn (Đèo Ngang) trở vào, họ Nguyễn đã tìm ra đất để “vạn đại dung thân”. Thuận Hóa - Huế đã trở thành căn cứ địa để họ Nguyễn xây dựng vương nghiệp và kiến tạo nên một vương quốc Đàng Trong hùng mạnh. Là người đầu tiên nhận sứ mệnh vào Thuận Hóa, Tiên chú Nguyễn Hòang cũng chính là người hơn ái hết nhận thấy rõ địa cuộc đặc biệt của xứ Huế - Trung tâm của miền đất Thuận Quảng do ông cai quản. Trước khi nhắm mắt ông đã nhắn nhủ lại người con kế vị:

“Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Ngang (Hoành Sơn) và sông Gianh (linh Giang) hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn) bền vững .. thật là đất dụng võ của người anh hùng”.

Nhiều nhà nghiên cứu trước đây thường dẫn di huấn này của Tiên chúa để đánh giá ông là một thiên tài về chính trị, quân sự. Nhưng có lẽ cũng cần nhìn nhận ông như một nhà phong thủy đại tài. Trên thực tế, cuộc đời Nguyễn Hòang- kể từ khi vào Thuận Hóa luôn gắn với những câu chuyện phong thủy kỳ bí. Khi mới vòa trần nhiệm đất Thuận Hóa năm 1558, Tiên Chúa đã chọn vùng đất Ái Tử ở hạ lưu sông Thạch Hãn để xây dựng căn cứ đầu tiên chứ chưa vào vùng hạ lưu sông Hương ngay. Nhưng để chuẩn bị cơ nghiệp lâu dài cho con cháu, ông đã cho lấp đoạn hào phía sau đồi Hà Khê vốn bị thầy phù thủy người Tàu Cao Biền cho đào để yếm phá long mạch xứ Huế. Rồi trên đồi Hà Khê, chúa cho dựng chùa Thiên Mụ để bồi tụ linh khí; phía thượng nguồn, điện HÒn Chén cũng được khôi phục để trấn yên dòng nước. Nhờ những tác động này, linh khí núi sông xứ huế dần dần được phục hồi, và đúng 36 năm sau (tức qua 3 chu kỳ Thiên Can- Địa Chi hay 3 con giáp quay vòng), người cháu nội của Tiên Chúa (tức cũng qua 3 đời: Ông-cha-cháu) đã chính thức chọn vùng đất dưới chân núi Thiên Mụ để xây dựng thủ phủ. Bởi vậy, tôi vẫn cho rằng, sự kiện chúa Nguyễn Phước Lan xây dựng thủ phủ Kim Long năm 1636 phải được xem là mốc chính thức thành lập đô thị Huế. Rất mừng này ý kiến này hiện nay được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và ủng hộ.

Posted Image

Nhưng người đầu tiên có sự đánh giá vừa tổng quan vừa cụ thể về phong thủy của vùng đất Huế lại là Lê Quý Đôn, vị bác học lừng danh của nước ta hồi thế kỷ XVIII. Khi viết sách Phu biên tạp lục ông đã nhận xét rất tường tận về địa cuộc xứ Huế. Ở tầm vĩ mô, ông đánh gia Đô thành Phú Xuân của Chúa Nguyễn được đặtt rên một vùng “đất rộng bằng như bàn tay, độ hơn 10 dặm, ở trong là Chính dinh, đất cao, bốn bề đều thấp, tức là chỗ nổi bật ở giữa đất bằng ngồi vị càn) tây bắc, trông hướng tốn (đông-nam), dựa ngang sống đất, trông xuống bến sông; đằng trước là quần sơn, chầu về la liệt, toàn thu nước ở bên hữu, vật lực thịnh giàu”.

Còn ở trên tầm vĩ mô, địa cuộc xứ Huế hiện ra qua cách đánh giá của Lê Quý Đôn thật hoành tráng và độc đáo.

“Dinh Phú Xuân có năm lần hổ thủy (nước về phía hữu) ôm đằng trước: một là nguồn Hữu-trạch chảy xuống là sông Phú-xuân, hai là sông nhỏ An-nông, ba là nguồn Hưng-bình chảy vào đầm Hà-trung, bốn là nguồn Phúc-âu chảy qua Cao-đôi mà vào phá Hà-trung, năm là nước tự đèo Mệt-mỏi chảy xuống đèo Cảnh-dương. Có ba lần long sa (cát ở bên tả) ngăn bên tả: một là phố Thanh-hà ở bên tả sông cầu Lạc-nô, hai là các xã Thuận-phước Thuận-hòa ở bên tả thượng lưu sông con ngã ba Sềnh, ba là các xã Bình-trị Thai-dương ở bên tả hạ lưu phá Tam-giang thẳng đến cửa Eo”.

Sau Lê Quý Đôn hiển nhiên là các vua triều Nguyễn, những người đã tiếp tục lựa chọn Huế làm kinh đô của cả nước Việt Nam thống nhất. Tư tưởng của cả triều đại được thể hiện thật cô đọng trong nhưng lời đầu tiên của Quốc Sử Quán trong sách Đại Nam nhất thống chí.

Việc tìm hiểu nghiên cứu về thành tựu trong ứng dụng phong thủy vào thiết kế quy hoạch đô thị của các nhà khoa học cận đại và đương đại có thể lấy mốc từ đầu thế kỷ XX, với vai trò tiên phong của một số nhà nghiên cứu người Pháp, mà tiêu biểu nhất là linh mục L.Cadìere. Nhà “Huế học” này là người đặc biệt chú ý đến khía cạnh phong thủy của HUế và đã có một số bài viết khá hay đăng trên tập san của Hội Đô Thành Hiếu Cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue’-BAVH). Từ sau 1945 đến nay, bàn về phong thủy của Huế có khá nhiều tác giả, tiêu biểu là Phan Thuận An, Vĩnh Cao. Mai Khắc Ứng, Trần Đức Anh Sơn, Phan Thanh Hải, Lý Thái Sơn… Mỗi tác giả có một cách tiếp cận và đánh giá khác nhau về sự ứng dụng thuật phong thủy trong quy hoạch và xây dựng kinh đô Huế, dù nhìn trong quy hoạch và xây dựng kinh đô Huế, dù nhìn trên tổng thể hay chỉ đối với từng công trình, cụm công trình đơn lẻ, nhưng nhìn chung đều là những đóng góp tốt cho việc nghiên cứu về Huế. Tuy nhiên, hầu như vẫn còn thiếu một sự nghiên cứu mang tính tổng thể và xuyên suốt theo chiều lịch sử, gắn liền với sự hình thành và phát triển của đô thị Huế. Đó có lẽ là hạn chế lớn nhất mà các nhà nghiên cứu sau này phải khắc phục, còn bản tham luận này chỉ là một phác họa về vấn đề trên.

2. Phong thủy trong quy hoạch đô thị Huế thời Chúa Nguyễn (1636-1775)

Đây là một vấn đề rất quan trọng nhưng chưa được tìm hiểu nghiên cứu nhiều. Những nghiên cứu trước đây chủ yếu đề cập đến thời kỳ Phú Xuân) bắt đầu từ năm 1687), chứ ít chú ý đến thời kỳ trước đó, khi thủ phủ chúa Nguyễn còn đặt ở Kim Long, hay trước đó nữa, khi phủ chúa còn chưa về bên sông Hương.

Trong quá trình “đi tìm ra Huế”, thủ phủ của các chúa Nguyễn đã trải qua đến 8 lần dời dựng thay đổi, nhưng có thể nói, quan trọng nhất là 3 thời kỳ gắn liền với hệ sông Hương: Thời kỳ Kim Long (1636 – 1687), thời kỳ Phú Xuân lần 1 (1687 – 1712) và thời kỳ Phú Xuân lần 2 (1738-1775).

Như đã đề cập ở trên, sau khi vào trấn thủ ở đất Thuận Hóa, và sau đó kiêm cả Quảng Nam, chính chúa Nguyễn Hòang là người đầu tiên nhận ra vị trí quan trọng của cuộc đất bên cạnh con sông Hương xinh đẹp. Ông cho lập chùa Thiên Mụ để củng cố long mạch ở phía Tây, tái lập chùa Sùng Hóa (1602) để giữ bền thế đất phía đông. Vì thế 36 năm sau, dải đất dọc sông Hương đã trở thành một vùng đất trù phú, hội tụ của khí thiêng. Chúa Nguyễn Phước Lan chọn vùng đất Kim Long dưới chân chùa Thiên Mụ để xây dựng thủ phủ xứ Đàng Trong hẳn là sự kế thừa sáng suốt nhũng suy tính và chuẩn bị chu đáo của ông nội ông. Theo sự khảo sát của chúng tôi, thủ phủ Kim Long cũng “tọa Càn hứơng Tốn” (ngồi phía tây bắc nhìn về đông nam), được vây bọc giữa bốn bề là sông nước: Phía Nam trước mặt là sông Hương, bên đông và Đông Nam là sông Kim Long, sau lưng là sông Bạch Yến; xa xa có núi non Trường Sơn chạy vòng che chắn suốt từ mặt bắc qua mặt tây và mặt nam; cuộc đất nói chung rất đẹp.

Posted Image

Đáng chú ý là, cũng đồng thời với việc xây dựng thủ phủ, chúa Nguyễn Phước Lan cũng cho mở cảng khẩu quốc tế Thanh Hà ở phía đông, đoạn hạ lưu sông Hương, cách phủ chính khoảng 7km. “Tây miếu, đông thị” cũng là nguyên tắc cơ bản của phong thủy học phương Đông khi trước mặt cuộc đất có dòng nước lớn chảy vòng qua: Chùa miếu ở phía tây nhằm trấn yên dòng nước, chợ búa buôn bán ở phía đông là hướng lợi về “kim”, dễ giàu có sầm uất. Thực tế đã chứng minh, suốt 51 năm (1636-1687) đóng ở Kim Long, Đàng Trong của họ Nguyễn đã không ngừng lớn mạnh đồng thời ngăn chặn được tất cả các cuộc tấn công của họ Trịnh ở Đàng Ngoài dù họ mạnh hơn rất nhiều.

Năm 1687, thủ phủ Đàng Trong được chúa Nguyễn Phước Thái chuyển về đất Phú Xuân, cách phủ cũ khỏang 3km về phía hạ lưu sông Hương. Nguyên nhân chính của sự dịch chuyển này vẫn là do phong thủy. Sau hơn 50 năm bồi tụ, đất Phú Xuân dần nhô cao hỏi bãi bùn lầy và lộ diện những ưu thế của vùng đất mới. Hơn thế, chúa đã phát hiện ra ngọn Mạc Sơn (Hay Bằng Sơn) có thể dùng làm một lá chắn hữu hiệu ở mặt nam; hai hòn đảo nổi trên sông Hương ở hai phía (sau này thường gọi là Cồn Hến và Cồn Dã Viên) chầu vào tạo nên thế tay ngai rất đẹp. Chuyển về Phú Xuân sẽ lợi dụng được những yếu tố trên. Và hơn thế, chuyển về Phú Xuân, chúa còn có mục đích rút ngắn khỏang cách với cảng thị Thanh Hà, bởi lúc này chuyến tranh với họ Trịnh đã chấm dứt, chúa muốn “cận kim” hơn để phát triển buôn bán, làm giàu đất nước.

Posted Image

Tuy nhiên, chúa Nguyễn Phước Thái đã không thành công với sự lựa chọn trên do không lường hết được sức mạnh ghê gớm của con sông Kim Long chảy thúc vào thủ phủ phía Tây. Ngay trong năm 1687, để hạn chế bớt sức mạnh của con sông này, chúa đã “..sai xây tháp ở bờ sông để trân áp”, tuy nhiên, phương pháp này đạt không mấy hiệu quả. Trong 25 năm đóng tại đây, phủ chúa đã gặp không biết bao nhiêu tai ương. Năm 1692, chúa Nguyễn Phước Thái băng hà, chúa Nguyễn Phước Chu kế vị dù hết sức khắc phục nhưng cuối cùng ông đành chuyển thủ phủ về cạnh sông Bồ trên đất làng Bác Vọng huyện Quảng Điền.

26 năm sau, năm 1738, chúa Nguyễn Phứơc Khóat ngay sau khi kế vị đã chuyển thủ phủ về lại đất Phú Xuân và sau đó tái quy hoạch lại toàn bộ thủ phủ của mình, nâng cấp nó lên Đô Thành. Vị trí của phủ chính được đưa đến khu vực cao nhất trên vương đảo (vùng đất kẹp giữa sông Hương và sông Kim Long) và tránh khá xa vị trí “chảy xói vào bên hữu” của sông Kim Long. Có lẽ từ thời điểm này sông Kim Long đã bắt đầu bị khống chế, bị nắn lại và lấp bớt nhằm giảm bớt tác động bất lợi đến kinh đô của họ Nguyễn. Những bản đồ cổ được vẽ trong giai đoạn này đều thể hiện khá rõ những đặc điểm trên. Nhưng quan trọng hơn cả là đến thời kỳ này, việc quy hoạch đô thành Phú Xuân đã trở nên khá hoàn chỉnh. Về cấu trúc của đô thị thì ta hãy nghe Lê Quý Đôn mô tả:

“..Ở trên thì các phủ thờ ở Kim Long giữa thì cung phủ hành lang, dưới thì nhà cửa ở phủ ao, Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu, đổi tên, đề biển, có hai điện Kim Hoa, Quang Hoa, Trung Hòa, Di Nhiên, đài Sướng Xuân, các Dao Trì, các Triêu Dương, các Quang Thiên, đình Thụy Vân, hiên Đồng Lạc, am Nội Viện, đình Giáng Hương, công đường, trường học và trường súng. Ở thượng lưu về phía nam có phủ Dương Xuân và phủ Cam. Ở trên nữa có phủ Tập Tượng, lại dựng điện Trường Lạc, hiên Duyệt Võ, mái lớn nguy nga, đài cao rực rỡ, mà giải võ, tường bao quanh, cửa bốn bề, chạm khắc vẽ vời, khéo đẹp cùng cực .. Ở thượng lưu và hạ lưu Chính dinh đều là quân bày hàng như bàn cờ. Những nhà của thủy quân lại ở đối ngạn. Xưởng thuyền và kho thóc thì các xã Hà Khê, Thọ Khang trên thượng lưu còn nhà vườn của các công hầu quyền quí thì chia bày ở hai bờ thượng lưu sông Phú Xuân, cùng hai bờ sông con bên hữu Phủ Cam. Ở thượng lưu, hạ lưu phía trước chính dinh thì chợ phố liền nhau, đường cái đi ở giữa, nhà cửa chia khỏang tiếp nhau, đều là mái ngói. Cây to bóng mát, tả hữu thành hàng. Thuyền buôn bán, đò dọc ngang đi lại như mắc cửi”.

Posted Image

Thật là một bức tranh hoành tráng về đô thành Phú Xuân. Nhưng chúng ta cần lưu ý rằng, khi ấy lăng tẩm dành cho chúa Nguyễn đã được quy hoạch ở phía Tây, ở hai bên bờ sông thượng nguồn sông Hương. Xem bản đồ Giáp Ngọ niên Bình nam đồ của Bùi Thế đạt (1774), chúng ta đã thấy lăng mộ của chúa Nguyễn Hòang, Nguyễn Phúc Nguyên nằm đúng trên vị trí hiện tại. Triều Nguyễn về sau đã kế thừa trọn vẹn ý tưởng quy hoạch này.

Share this post


Link to post
Share on other sites

PHONG THỦY TRONG QUY HOẠCH ĐÔ THỊ HUẾ

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ

(Tiếp)

3. Phong thủy trong quy hoạch đô thị Huế thời Nguyễn (1802-1945)

Posted Image

Đầu thế kỷ XIX, sau khi thống nhất đất nước, Nguyễn Phước Ánh lên ngôi, lấy niên hiệu Gia Long, định đô tại Phú Xuân. Công cuộc quy hoạch và kiến thiết kinh đô kéo dài hàng chcụ năm dưới hai thời vùa Gia Long và Minh Mạng. Về cơ bản, quy hoạch của kinh đô Huế đã kế thừa những thành tựu từ thời các chúa Nguyễn, nhưng có sự mở rộng và phát triển này, những đặc trưng của một đô thị phong thủy càng trở nên nổi bật đối với Huế.

3.1. Quy hoạch kinh thành:

Kinh thành Huế nằm sát bờ bắc sông Hương, trên chính nền cũ của đô thành Phú Xuân được mở rộng về 4 phía và vẫn trên trục “tọa Càn, hướng Tốn”, lấy Ngự Bình làm tiền án, hai hòn đảo Cồn Hến (Bộc Thanh) và Dã Viên là thế tay ngai “tả long hữu hổ”. Ngoài hướng chính là tây bắc – đông nam, kinh thành còn có một hướng nữa - hướng chính nam để liên kết giữa kinh thành và đàn Nam giao, đàn tế quan trọng nhất của vương triều nằm cách Kỳ Đài 3km về phía nam. Sông Hương ngoài vai trò là “hoành thủy” (dòng nước chảy ngang trước mặt) còn là trục liên kết mềm giữa kinh thành với các hệ lăng tẩm, đền miếu ở phía tây và tây nam và các cảng thị, chợ búa ở phía đông.

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Hệ thủy đạo của kinh thành cũng được điều chỉnh, tạo cho cuộc địa Kinh thành cái thế “Tứ thủy triều quy”-bốn mặt đều là nước vây bọc. Sông Kim Long bị lấp hẳn ở phần phía tây để triệt tiêu cái họa ‘tà lưu thủy’ gây bất an cho chủ nhân kinh thành. Một phần dòng sông chảy bên trong đất kinh thành thì được cải tạo lại thành các ao hồ và một đoạn của Ngự hà. Từ năm 1825, do nhu cầu giao thông và cấp thoát nước, vua Minh Mạng cho đào thêm đoạn Ngự Hà ở phía Tây, nối thông ra bên ngoài (Qua Tây Thành Thủy Quan). Dẫu đã cố gắng tránh xa Hòang thành như đây vẫn là một điều bất lợi về phong thủy. Mùa nước lũ, Ngự Hà lại chảy xiết, xói thẳng vào phía lưng Kinh thành, tạo thế “Trực thủy xung môn” thường gây ra những biến động bất lợi (chủ nhà bất an, gia tộc li tán …) nhất là trong những năm Thân, Dậu (tức những năm vượng về Kim.

Posted Image

Posted Image

Posted ImagePosted Image

Posted Image

Share this post


Link to post
Share on other sites

3.2. Hệ thống đàn miếu, chùa quán:

Posted Image

Posted Image

Theo đúng nguyên tắc Ngũ hành, hệ thống đàn miếu, chùa quán chủ yếu được bố trí ở phía tây kinh thành, cả ở bên trong và bên ngoài. Ở bên ngoài thì bên trên có điện Hoàn Chén, dứoi nữa là Khải Thánh Từ (thờ thân phụ Khổng Tử), Văn Miếu, Võ Miếu, chùa Thiên Mụ, miếu Trung Hưng công thần… Bên trong kinh thành, ở phía Tây là đàn Xã Tắc, miếu Đô Thành Hòang, đàn Âm Hồn (?).

Chính hệ thống đàn miếu này là yếu tố giữ giữ yên mặt tây của kinh thành và nối kết giữa phần dương cơ (kinh thành và các kiến trúc dành cho người đang sống) với thế giới âm phần (miền lăng tẩm) ở phía tây.

3.3. Hệ thống lăng tẩm:

Tức thế giới âm tồn tại song song với thế giới của những người đang sống. Đối với các kinh đô của Trung Quốc và Việt Nam trong lịch sử, việc quy hoạch khu vực lăng tẩm dành cho vua chúa luôn là vấn đề cực quan trọng. Vua Gia Long đã dành rất nhiều thời gian công sức cho việc lựa chọn khu lăng tẩm cho ông và gia đình. Người tìm ra cuộc đất này lại chính là Lê Quý Thanh, con trai nhà bác học Lê Quý Đôn. Theo tôi, Thiên Thọ lăng là khu vực mà vị hòang đế đầu triều đã chuẩn bị cho cả dòng họ ông, một vùng rộng đến 2.800ha, có đầy đủ các yếu tố của một cuộc đất “vạn niên cát địa”. Từ tên gọi đến cách thức bố trí, khu lăng Thiên Thọ có khá nhiều điểm tương đồng với khu Thạp Tam Lăng thời Minh ở Bắc Kinh, Trung Quốc.

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Posted Image

Vua Minh Mạng lại muốn thay đổi. Để tìm được một cuộc đất ưng ý ông đã mất đến 14 năm ròng rã (1826-1840). Và quan trọng hơn ông đã mở ra một hướng quy hoạch mới cho các lăng tẩm của vua chúa đời sau. Vua Tự Đức đã chọn lựa khu đất cho phụ thân ông (lăng Thiệu trị - Xương lăng) và bản thân ông (Khiêm Lăng) cũng theo cách nhìn của vua Minh Mạng.

3.4. Hệ thống phố thị và chợ búa

Vẫn tuân theo nguyên tắc quy hoạch có từ thời chúa Nguyễn: Bố trí khu buôn bán, chợ búa ở phía Đông, trong đó trung tâm là khu Bao Vinh – Gia Hội - Chợ Dinh - chợ Đông Ba. Toàn bộ khu này chiếm trọn các khu đất dọc theo sông Đông Ba, sông Hương từ phía đông bắc đến đông nam. Về cuối triều Nguyễn, phố thị xâm chiếm cả vào bên trong kinh thành, nhưng vẫn nằm ở phía đông (đường Mai Thúc Loan hiện nay).

4. Kết luận sơ bộ

4.1. Việc ứng dụng phong thủy vào công tác quy hoạch thiết kế đô thị Huế là một quá trình lịch sử có sự kế thừa nối tiếp trong suốt mấy trăm năm, kể từ khi đô thị này được hình thành bên bờ sông Hương vào năm 1636 đến hết thời Nguyễn, trong đó về cơ bản có thể chia thành 2 thời kỳ chính: thời chúa Nguyễn (1636-1775) và thời các vua Nguyễn (1802-1945). Ngay từ thời chúa Nguyễn, phong thủy đối với đô thị Huế đã là một nhân tố vô cùng quan trọng và góp phần quyết định trong việc định hình bộ khung đô thị. Ý tưởng quy hoạch về đô thị dựa trên các nguyên tắc của phong thủy thời kỳ này đã được triều Nguyễn sau đó kế thừ trọn vẹn và nâng lên ở một tầm cao mới.

4.2. Tại Huế, các thành tố kiến trúc cấu thành nên kinh đô Triều Nguyễn, bao gồm cả kiến trúc dương cơ và âm phần đều được đặt trong một không gian mang tính thống nhất trong tính đa dạng, giới hạn từ núi về biển, lấy sông Hương làm trục liên kết tự nhiên rất hoàn hảo. Nguyên tổng giám đốc UNESCO, ngày M’Bow đã từng ngợi ca:

“Những người đầu tiên xây dựng HUế đã có dụng ý đóng khung Huế trong phong cảnh kỳ diệu từ núi Ngự Bình đến đồi Vọng Cảnh, đến phá Tam Giang và Cầu Hai. Và chính nhờ thế, họ đã sáng tạo ra một kiến trúc tinh vi, trong đó mỗi nhân tố bắt nguồn từ cảm hứng thiên nhiên gần gũi. Thành phố Huế, chính là nghệ thuật được vẻ đẹp của thiên nhiên bổ sung, tô điểm thêm”.

Tuy vậy, khi nghiên cứu về phong thủy đối với Đô thị Huế sẽ rất cần thiết cho việc giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa Huế. Chính những khuyến cáo mới nhất của UNESCO đối với HUế cũng chủ yếu nhằm vào vấn đề này. Bởi vậy, rất cần có một quan điểm đúng đắn cùng một sự đầu tư thích đáng cho công tác nghiên cứu và ứng dụng phong thủy trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản Huế.

Share this post


Link to post
Share on other sites