• Thông báo

    • Administrator

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

      NỘI QUY DIỄN ĐÀN NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Ngày 15/ 4 - 2008 LỜI NÓI ĐẦU Diễn đàn thuộc trang thông tin mạng của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, được thành lập theo quyết định sô 31 - TT của giám đốc Trung tâm có mục đích trao đổi học thuật, nghiên cứu lý học Đông phương, nhằm mục đích khám phá và phục hồi những giá trị của nền văn hoá Đông phương theo tiêu chí khoa học hiện đại. Trang thông tin (website) chính thức của trung tâm là: http://www.lyhocdongphuong.org.vn http://www.vanhienlacviet.org.vn và tên miền đã được đăng ký là: lyhocdongphuong.org.vn vanhienlacviet.org.vn Trung tâm nghiên cưu Lý học Đông phương là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động hợp pháp theo quyết định của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam – Asian với giấy phép chấp thuận hoạt động của Bộ Khoa học và Công nghê. Là một diễn đàn có nội dung văn hoá và những lĩnh vực học thuật thuộc lý học Đông phương, hoạt động trong điều lệ của Hội nghiên cứu khoa học Việt Nam - ASIAN, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương và Ban Quản trị diễn đàn mong mỏi được sự đóng góp tri thức và trao đổi học thuật của các quí vị quan tâm. Xuất phát từ mục đích của dIễn đàn, căn cứ vào điều lệ thành lập và giấy phép hoạt động, chúng tôi trân trọng thông báo nội quy của diễn đàn Lý học Đông phương. NỘI QUY DIỄN ĐÀN Là một diễn đàn nối mạng toàn cầu, không biên giới, nên hội viên tham gia diễn đàn sẽ gồm nhiều sắc tộc, thành phần xã hội và mọi trình độ tri thức với quan niệm sống và tư tưởng chính trị khác nhau thuộc nhiều quốc gia. Căn cứ thực tế này, nội qui diễn đàn qui định như sau: I – QUI ĐỊNH VỀ NỘI DUNG BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN. 1 – 1: Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn Lý học Đông phương những vấn đề chính trị, xúc phạm đến những giá trị đạo đức, văn hoá truyền thống, đả kích chia rẽ tôn giáo, sắc tộc và vi phạm pháp luật. 1 – 2: Tuyệt đối không được kỳ thị hoặc khinh miệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác, hoặc sự hiểu biết của người khác. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 1. Tuyệt đối không được dùng những danh từ khiếm nhã, thô tục hoặc có tính cách chỉ trích cá nhân hoặc những nhóm người, phản đối học thuật không có cơ sở. Mọi sự tranh luận, phản bác, trao đổi tìm hiểu học hỏi phải dựa trên sự hiểu biết của hội viên và trên tinh thần học thuật. * Vi phạm đều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Tái phạm lấn thứ ba sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 2. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những hình ảnh, bài vở có tính cách khiêu dâm dưới mọi thể loại không phù hợp với mục đích trao đổi, nghiên cứu học thuật tôn chỉ phát huy văn hoá của diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài cảnh cáo. Vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 2 – 3. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn bất cứ bài viết nào có nội dung lừa đảo, thô tục, thiếu văn hoá ; vu khống, khiêu khích, đe doạ người khác ; liên quan đến các vấn đề tình dục hay bất cứ nội dung nào vi phạm luật pháp của quốc gia mà bạn đang sống, luật pháp của quốc gia nơi đặt máy chủ cho website “Lý Học Đông Phương” hay luật pháp quốc tế. 2 – 4. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, vào thực tế tồn tại của văn hoá truyền thống cổ Đông phương như: Cúng bái, đồng cốt, bùa chú, các hiện tượng đặc biệt trong khả năng con người và thiên nhiên … chưa được giải thích và chứng minh theo tiêu chí khoa học, những hiện tượng này tuỳ theo chức năng được qui định theo pháp luật và điều lệ của Trung tâm sẽ được coi là đối tượng, hoặc đề tài nghiên cứu. Tuyệt đối không được phổ biến mọi luận điểm, cách giải thích những hiện tượng nêu trên đang tồn tại trong văn hoá truyền thống Đông phương theo chiều hướng mê tín dị đoan. * Vi phạm đều này sẽ bị sửa bài, xoá bài. Vi phạm từ ba lần trở lên sẽ bị cảnh cáo và treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 1. Tuyệt đối không được đưa lên diễn đàn những tin tức, bài vở hoặc hình ảnh trái với mục tiêu nghiên cứu, trao đổi học thuật, văn hoá của diễn đàn và trái với phạm vi chủ đề qui dịnh trên diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài và nhắc nhở. Vi phạm lần thứ ba sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên năm lần sẽ bị treo nick hoặc xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 3 – 2: Tránh việc đưa lên những bài viết không liên quan tới chủ đề và không phù hợp với đề tài, nội dung bài viết của các hội viên khác. * Vị phạm điều này bài viết sẽ được di chuyển đến các đề tài thích hợp và nhắc nhở. Vi phạm ba lần sẽ bị cảnh cáo. Vi phạm trên ba lần thì tuỳ theo tính chất vi phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 4 - 1. Tuyệt đối không được quảng cáo dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của Ban điều Hành diễn đàn. * Vi phạm điều này sẽ bị xoá bài quảng cáo và nhắc nhở. Vi phạm đến lần thứ ba sẽ bị treo nick. Vi phạm trên ba lần sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn dàn. 5. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính của diễn đàn Lý học đông phương và đại đa số hội viên của diễn đàn là người Việt. Trên thực tế diễn đàn thực hiện trên mạng toàn cầu và khả năng tham gia của các hội viên ngoại quốc, không biết ngôn ngữ và chữ Việt. Căn cứ vào thực tế này. Qui định như sau: 5 – 1 . Tất cả mọi bài viết phải dùng tiếng Việt với đầy đủ dấu. Trong bài viết có thể sử dụng từ chuyên môn không phải tiếng Việt. Nhưng tiếng Việt phải là cấu trúc chính của nội dung bài viết. * Vi phạm điều này sẽ được nhắc nhở và Quản trị viên có quyền sửa chữa bài viết, có trách nhiệm hướng dẫn kỹ thuật để viết bài bằng tiếng Việt có dấu. Nhưng vi phạm từ năm lần liên tiếp sẽ bị treo nick, hoặc cảnh cáo. Tiếp tục tái phạm sẽ bị xoá bỏ mọi quyền lợi trên diễn đàn. 5 – 2. Những hội viên là người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt có quyền gửi bài bằng tiếng Anh, Hoa, Pháp. Nhưng không được trực tiếp đưa bài lên diễn đàn và phải thông qua ban quản trị diễn đàn. Ban quản trị diễn đàn có quyền quyết dịnh dịch tiếng Việt, hoặc đưa trực tiếp trên diễn đàn kèm bản dịch tóm tắt nội dung, hoặc không đưa lên diễn đàn. 6 – 1. Ban điều hành diễn đàn hoàn toàn không chịu trách nhiệm, trực tiếp hoặc gián tiếp, về bản quyền bài vở, sách và hình ảnh do hội viên đăng trên diễn đàn. Tác giả của những bài viết này, phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền tác giả có trong nội dung bài viết. 6 – 2. Tất cả những bài viết được sao chép đưa lên diễn đàn đều phải ghi rõ xuất xứ nguồn và tác giả bài viết phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn hoặc bản quyền của những bài viết được sao chép. Khi thiếu sót điều này, hội viên đưa bài phải có trách nhiệm bổ sung khi được nhắc nhở, hoặc phải thông tin cho ban điều hành diễn đàn biết xuất xứ nguồn của bài sao chép. 6 – 3. Những đoạn trích dẫn có bản quyền trong bài viết, hoặc trong các công trình nghiên cứu của hội viên đưa lên diễn đàn đều cần ghi rõ xuất xứ nguồn trích dẫn. Bài viết sẽ không phải ghi rõ nguồn khi thuộc về tri thức phổ biến và hội viên tác giả bài viết sẽ phải chịu trách nhiệm về nội dung trích dẫn. * Vi phạm điều này bài viết sẽ bị xoá khỏi diễn đàn. Vi phạm trên ba lần sẽ bị cảnh cáo, hoặc xoá mọi quyền lợi trên diễn đàn, khi ban quản trị xét thấy sự vi phạm là có chủ ý. 7 – 1. Diễn đàn là một bộ phận của website nên ban quản trị được quyền biên tập và giới thiệu trên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương những bài viết có tính nghiên cứu về Lý học Đông phương đăng trên diễn đàn có giá trị học thuật mà không phải chờ xác nhận của hội viên tác giả bài viết. Hội viên tác giả bài viết có quyền từ chối tham gia phản biện hoặc đồng ý tham gia phản biện học thuật về nội dung bài viết của mình. 7 – 2. Những bài viết không cần biên tập sẽ được đưa thẳng lên trang chủ của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Hội viên tác giả có quyền yêu cầu Ban quản trị diễn dàn sửa chữa nội dung. Nếu hội viên tác giả có yêu cầu bổ sung, thể hiện lại nội dung bài viết thì bài cũ sẽ được thay thế bằng bài viết mới nhất do hội viên tác giả chuyển đên. 7 – 3. Những quản trị viên của diễn đàn đều có quyền đưa bài viết có giá trị lên trang chủ và chịu trách nhiệm về việc này. Bài viết chỉ bị tháo gỡ khi đa số các quản trị viên không đồng ý, hoặc do quyết định của ban giám đốc Trung Tâm. Những quản trị viên, hoặc giám đốc Trung tâm quyết định tháo gỡ sẽ có trách nhiệm thông báo với hội viên tác giả về việc tháo gỡ bài khỏi trang chủ của Trung Tâm. 8 - 1. KHÔNG đăng nhiều bài viết có cùng nội dung tại nhiều thời điểm (hoặc cùng thời điểm) trên diễn đàn. 8 - 2. KHÔNG dùng hình thức "SPAM" để đầy bài viết của mình lên đầu. (Dùng các câu quá ngắn, không mang nghĩa truyền tải thông tin) * Vi phạm: Xóa bài viết vi phạm, khóa chủ đề hoặc khóa tài khoản vi phạm. QUI ĐINH ĐĂNG KÝ GIA NHẬP DIỄN ĐÀN Diễn đàn nghiên cứu học thuật và văn hoá cổ Lý học Đông phương hoan nghênh sự tham gia của các bạn và các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm đén Lý học Đông phương. 1. Các bạn sẽ được đăng ký trực tiếp tham gia diễn đàn trong các điều kiện tối thiểu sau: - Gửi thư điện tử (Email) qua hộp thư điện tử của diễn đàn đề nghị được đăng nhập theo địa chỉ hộp thư <info@lyhocdongphuong.org.vn> và cung cấp đầy đủ thông tin xác định danh tính cá nhân. - Được sự giới thiệu của một quản trị viên diễn đàn, hoặc thành viên Trung Tâm nghiên cứu lý học Đông phương. - Được sự giới thiệu của hội viên hoạt động thường xuyên và có uy tín trên diễn đàn. - Việc đăng ký này hoàn toàn tự nguyện.và miễn phí. 1 - 1. Mỗi một hội viên chỉ được đăng ký một ký danh (nick name) duy nhất. Ngoài ký danh đã đăng ký, hội viên có quyền đăng ký thêm bút danh ngoài tên hiệu, hoặc tên thật của mình. * Vi phạm điều này khi bị ban Quản trị phát hiện, sẽ bị nhắc nhở hoặc cảnh cáo và xoá các ký danh ngoài quy định, chỉ giữ lại ký danh đầu tiên. Trường hợp vi phạm lần thứ hai sẽ bị xoá mọi quyền lợi liên quan đến diễn dàn. 1 - 2. Tuyệt đối không sử dụng ký danh (nick mame) phản cảm, gây ấn tượng xấu với cách nhìn nhân danh những giá trị đạo lý truyền thống và xã hội. * Vi phạm trường hợp này sẽ được nhắc nhở hoặc từ chối đăng nhập. 1 – 3. Khi ghi danh để trở thành hội viên diễn đàn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, bạn phải cung cấp một hay nhiều địa chỉ điện thư (email address) của bạn đang hoạt động. 2. Trong trường hợp vi phạm nội quy bị kỷ luật mà hội viên vi phạm dùng ký danh (nickname) khác để đang nhập, nội quy vẫn được áp dụng như với một người duy nhất. III - QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI VIÊN. 1. Hội viên có quyền tham gia gửi bài đóng góp và thảo luận trên các mục trong diễn đàn trong phạm vi nội qui diễn dàn. 2. Hội viên có quyền từ chối cung cấp thông tin cá nhân ngoài phần qui định ở trên. 3. Hội viên cần lưu giữ mật mã tài khoản của mình 4 . Hội viên có trách nhiệm thông báo với Ban Điều Hành về những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm nội của quy diễn đàn và đề nghị can thiệp khi quyền lợi bị xâm phạm. 5 – 1 . Những hội viện có khả năng chuyên môn về các ngành học của Lý học Đông Phương như Tử Vi, Tử Bình, v.v. đều có thể đề nghị với ban Quan trị thành lập một mục riêng để thể hiện các công trình nghiên cứu của mình. Ngoại trừ quản trị viên thi hành trách nhiệm, các hội viên khác không có quyền tham gia bài viết trong chuyên mục riêng. 5 – 2. Các hội viên có thắc mắc, phản biện bài viết trong chuyên mục riêng ở trên, có quyền mở thư mục (topic) khác liên quan dể thắc mắc và phản biện. Tác giả bài viết có quyền tham gia hoặc từ chối tham gia trả lời hoặc phản biện. 6. Hội viên có quyền đề nghị tư vấn dư báo về tương lai cá nhân hoặc các vấn đề cần quan tâm. Việc tư vấn sẽ do các nhà nghiên cứu trả lời và không phải điều kiện bắt buộc. 7 – 1 Hội viên có quyền tham gia tham khảo các bài viết trong các thư mục của diễn đàn và được quyền vào thư viện của Trung Tâm dể tham khảo các sách có trong thư viện. 7 – 2. Hội viên có quyền giới thiệu sách, bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá sử cổ và lý học Đông phương. Ban quản trị diễn đàn và Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương không chịu trách nhiệm về sự giới thiệu này. 7 -3. Tuyệt đối không được phép giới thiệu những bài viết, trang web, blog, sách bị coi là vi phạm nội quy. IV. CÁC NỘI DUNG KHÁC 1 . Nội quy của diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương có thể được thay đổi để thích hợp với hoạt động thực tế của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương và diễn dàn. Sự thay đổi này có thể từ đề nghị của hội viên và hoặc do quyết định của ban Quản trị với sự chấp thuận của ban Giám đốc Trung Tâm. 2. Quản Trị Diễn đàn có quyền xóa bài viết, cảnh cáo thành viên, khóa tài khoản của thành viên đối với các vi phạm, tùy thuộc vào mức độ vi phạm của bài viết/nội dung bài viết/thành viên đó mà không cần báo trước. Nội quy này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 04 năm 2008. Tức 10 tháng 3 năm Mậu Tý. Trân trọng cảm ơn. Ban Quản Trị Trang thông tin mạng và diễn đàn Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
    • Bá Kiến®

      Nội quy Lý Học Plaza

      Nội quy này là bản mở rộng Nội Quy - Quy định của Diễn đàn. Khi tham gia mua bán, các thành viên phải tuân theo những quy định sau: Tiêu đề bài viết: Bao gồm: Chỉ dẫn địa lý, Loại hình Mua/Bán, Thông tin mua bán.
      Chỉ dẫn địa lý: Tỉnh/thành nơi mua bán. Hoặc sử dụng định nghĩa có sẵn: TQ: Toàn quốc
      HCM: TP Hồ Chí Minh
      HN: Hà Nội
      [*]Ví dụ: HCM - Bán Vòng tay Hổ Phách ​Nội dung bài viết: Mô tả chi tiết sản phẩm mua/bán
      Bắt buộc phải có thông tin liên lạc, giá Mua/Bán
      Bài mới đăng chỉ được phép up sau 03 ngày.
      Thời gian up bài cho phép: 01 ngày 01 lần.
      Các hành vi vi phạm nội quy này sẽ bị xóa bài hoặc khóa tài khoản mà không cần báo trước.

Bảo Ngọc

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    972
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    25

Everything posted by Bảo Ngọc

  1. Chào anh/chị, Vì nội dung chuyển tiền của anh/chị không rõ ràng về nội dung chuyển tiền, do đó để xác minh anh/chị vui lòng gửi tin nhắn cho Bảo Ngọc số tài khoản chuyển tiền. Thông báo.
  2. Gửi các anh chị, Khi chuyển tiền ở ngân hàng, các anh chị vui lòng ghi rõ ở nội dung chuyển tiền theo cú pháp: [Tên người gửi] đóng học phí lớp Phong Thủy Lạc Việt. Ví dụ: Trần Bảo Ngọc đóng học phí lớp PTLV Hiện tại BQL lớp nhận được rất nhiều thông báo chuyển tiền, nhưng không ghi rõ tên người gửi. Hoặc đơn giản chỉ ghi "Đóng học phí lớp PTLV". Việc này gây khó khăn cho việc xác minh cá nhân gửi tiền. Rất mong các anh chị lưu ý về việc này. Kính báo.
  3. DANH SÁCH CÁC HỌC VIÊN ĐÃ ĐÓNG HỌC PHÍ - aygia - MAX - quyngoc83 - augustini2507 - Vi Tiểu Bảo - Nguyễn Tiến Công - Trong Canhq - babonbon - vuive - nobitanha - vanle - longphibaccai - Nguyễn Ngọc Hoàng - kien_long - Le ton - Xuất Thế - Tai Nguyen - luanduc88 - Hoàng Định - Hải Trung Kim - chen99 - HOÀNG KIM - Phan Lưu Mục Bản Dongngan Vudung chamcuutaigia MinhMQ cachua2008 Thiên_Địa_Nhân nhatd Phamngocthach TrangPhan Hoa Nguyen Đỗ Đăng Thịnh Người Tầm Đạo Anhnguyen91 cachetuta A.T.N Tranchauque Tdcn
  4. Chuyện nguồn gốc Kinh Dịch, phải chăng đây là sáng tạo của người Việt? Nguyễn Thiếu Dũng Tạp chí Xưa & Nay – Số 332 tháng 5/2009 Người Trung Hoa đã có 2000 năm để nói Kinh Dịch là của họ, có hơn vài ngàn tác giả với hơn mấy ngàn đầu sách luôn luôn khẳng định điều này khiến nó đã thành một sự thật hiển nhiên khó ai cãi lại được. Nhưng ngày nay đã có những chứng cứ cho chúng ta thấy rằng nguồn gốc của Kinh Dịch không thể tìm thấy ở Trung Hoa, mà Việt Nam mới chính là nơi khai sinh Kinh Dịch. Mặc dầu những người bày tỏ quan điểm này chỉ đếm được trên đầu ngón tay, quả là “mãnh hổ nan địch quần hồ”, nhưng chân lý không phải là dựa vào số đông. Một người làm khoa học chân chính chỉ nên đưa ý kiến phản biện sau khi đã đọc kỹ quan điểm đối lập, cân nhắc chính xác những bằng chứng họ đề ra xem chỗ nào mình đồng ý, chỗ nào không đồng ý, rồi chính mình phải trưng cho được những chứng cứ ngược lại để làm sáng tỏ vấn đề, không nên nói chung chung, nói theo cảm tính. Cho rằng Kinh Dịch là của Trung Quốc hay của Việt Nam là quyền của mỗi người, nhưng muốn bảo vệ niềm tin này phải dựa vào chứng lý. Người Trung Hoa nói về nguồn gốc Kinh Dịch dựa trên những chứng lý nào? 1/ Trước hết họ cho Phục Hy nhìn những hình đồ trên con long mã vẽ nên bát quái. Đây là chuyện hoang đường chỉ hợp với những người mê tín, ưa sự huyền hoặc, thế mà cũng được vô số người tin như thật. Nhưng Phục Hy dù là nhân vật huyền thoại vẫn không phải là thủy tổ chính thống của người Hoa hạ. Phục Hy là tổ của một tộc trong đại chủng Bách Việt phía Nam Trung Quốc, người Hoa mượn làm tổ của mình. Tư Mã Thiên không đồng ý nên đặt Hoàng Đế ở đầu Sử ký. Vậy nếu Phục Hy có làm ra Bát quái cũng không thể nói là của Trung nguyên. Thừa nhận Phục Hy chế ra Kinh Dịch là người Hoa đã nhận Kinh Dịch là của dân Bách Việt, vậy sao cứ nói mãi Kinh Dịch của Trung Hoa và gọi đó là niềm tin chính thống. Hoàng Tông Viêm (16161 0 1686) người ở cuối đời nhà Minh, đầu đời nhà Thanh đã cực lực phủ nhận vai trò của Phục Hy trong Kinh Dịch, sao người Việt Nam vẫn cứ tin! 2/ Sau Phục Hy, người Hoa tin là Văn Vương khi bị Trụ Vương cầm tù ở Dữu Lý đã nâng cấp 8 quẻ thành 64 quẻ và viết quái từ hào từ Kinh Dịch. Người đưa ra thuyết này Tư Mã Thiên, sử gia hàng đầu và uy tín của Trung Quốc. Chính vì Tư Mã Thiên có uy tín nên người ta đã theo đó mà tin không cần kiểm chứng. Từ Văn Vương đến Tư Mã Thiên cách nhau hơn nghìn năm trung gian có Khổng Tử cách mổi ông chừng 500 năm. Khổng Tử rất tôn sùng Văn Vương, thế mà chưa bao giờ nói với Văn Vương soạn Kinh Dịch. Ở đầu quyền Sử ký, lương tri Tư Mã Thiên còn ray rứt nên chỉ đưa ra giải thuyết “có lẽ Văn Vương diễn Dịch”, nhưng gần cuối sách thì lại xác định hẳn là Văn Vương diễn Dịch, và nhiều người hùa theo đó mà tin. Kinh Thi là sách đại tụng Văn Vương, kể rất nhiều công tích của văn Vương nhưng không hề đả động đến Kinh Dịch. Các con Văn Vương như Võ Vương,Chu Công dùng bói toán để cúng lễ Văn Vương nhưng chưa bao giờ nói Văn Vương bói Dịch chứ đừng nói đền chuyện Văn Vương soạn dịch. Chính nhóm Ngô Bá Côn đã xác định điều này: “Từ thời cận đại đến nay, cách nhìn nhận này đã bị các học giả phủ nhận” (Dịch học, Nxb Văn hóa – Thông Tin, Hà Nội, 2003, tr.90). Sách Tả truyện dẫn nhiều câu chuyện bói Dịch nhưng không hề nói Văn Vương soạn Dịch. Các nhà Dịch học Trung Quốc đầu thế kỷ XX đã có người muốn dứt bỏ Văn Vương khỏi vương quốc Kinh Dịch, nhưng có một số người nhiễu sự ưa chuyện huyễn hoặc cứ cố níu kéo Văn Vương, nhất là một số Dịch học người Việt. 3/ Sau khi loại bỏ Phục Hy và Văn Vương, một số nhàịch học Trung Quốc lại cho rằng Kinh Dịch có nguồn gốc từ các nhà Vu Hịch là các quan coi việc bói toán (Có Hiệt Cương, Lý Kính Trì), Kinh Dịch có các từ phán đoán giống các từ bói toán: cát, hung, hối lận, cữu, vô cữu, nhiều lời hào trùng hợp với lời bói, nhưng quan điểm này không mấy thuyết phục vì hai cơ cấu Dịch và bói khác nhau, bốc từ là những câu hỏi sẵn đưa ra để hỏi về một vấn đề mà người hỏi thắc mắc, câu trả lời là nhận hoặc phủ nhận, có hay không, còn hào từ phải tùy thuộc vị trí của hào, bản chất của hào, thời của quẻ. 4/ Phát hiện mới nhất là quan điểm của Trương Chính Lương khi cho rằng nguồn gốc của quẻ Dịch đến từ quẻ số khắc trên Giáp Cốt Văn và Kim Văn. Nhóm Chu Bá Côn cũng đã có ý kiến về vấn đề này “Song dùng các chữ số trong phép bói cỏ như 1,5,6,7,8 … không đủ chứng cứ để chứng minh tại sao trong Kinh Dịch lại chỉ có 8 kinh quái và 64 biiệt quái” (Dịch học, tr.63). Sau cùng nhóm Chu Bá Côn kết luận: “Tóm lại, đối với việc tìm hiểu nguồn gốc của quái, hào, tượng tuy đã có một số ý kiến có ảnh hưởng nhất định trong mấy năm gần đây, nhưng những điều được đề cập tới đầu không ngoài loại tượng và số, vẫn chưa thể nói là đã có một đáp án được gọi là công nhận. Có lẽ trong tương lai gần, theo đà phát hiện tư liệu ngày càng nhiều, chúng ta sẽ có được một đáp án xác đáng.” (Dịch học, tr.63). Còn Vương Ngọc Đức thì bi quan hơn: “Cuộc tranh luận kéo dài hai ngàn năm vẫn không có câu giải đáp chính xác. Nếu vẫn theo phương thức tư duy của các học giả thời xưa, thì hai ngàn năm nữa vẫn chưa làm rõ được vấn đề". (Bí ẩn của Bát Quái – Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội. 1996, tr.27). Như vậy, đối với vấn nạn nguồn gốc Kinh Dịch, các học giả Trung Quốc đành chịu “bó tay” không truy vấn được. Vậy thì người Việt Nam hà cớ gì cứ đi theo họ để xác nhận một điều họ đã phủ nhận, cứ trân trọng mãi cái họ đã ném đi. Vậy để xác định Kinh Dịch có nguồn gốc từ Việt Nam, chúng ta có những chứng cứ gì? Năm 1970, Giáo sư Kim Định đã tuyên bố “Kinh Dịch là của Việt Nam” trong tác phẩm Dịch Kinh linh thế, tiếp sau đã có nhiều người mạnh dạn đề xuất những chứng cứ như Nguyễn Xuân Quang, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Trần Quang Bình, Hà Văn Thùy, Nguyễn Quang Nhật, Nguyễn Việt Nho, Trúc Lâm … Riêng cá nhân tôi từ năm 1999, đến nay, tôi đã trình với công luận những chứng cứ khả dĩ chứng minh được Kinh Dịch là di sản của tổ tiên Việt Nam qua mấy điểm sau: Căn cứ vào những hoa văn trên đồ gốm Phùng Nguyên và đồ đồng Đông Sơn thì Việt tộc đã ghi khắc những quẻ Dịch trước Trung Quốc và sớm hơn chứng liệu của Trung Quốc (xin xem Phát hiện Kinh Dịch thời đại Hùng Vương – Thanhnienonline). Chứng liệu của Việt tộc trực tiếp từ tượng quẻ không phải qua suy luận từ số đến tượng như Trung Quốc. Có đầy đủ 8 quẻ đơn và một số quẻ kép trên đồ đồng Đông Sơn. Những quẻ này có thể đọc thành văn bản phản ánh tư tưởng quốc gia Văn Lang (Sứ giải Văn Lang – Anviettoancau.net). Quẻ Dịch trên đồ Phùng Nguyên và Đông Sơn chứng tỏ hào dương vạch liền và hào âm vạch đứt của Trung Quốc là biến thể của hào dương vạch liền và hào âm vạch chấm của Việt Nam, Trung Quốc đã nối những chấm âm lại thành vạch đứt để vạch cho nhanh (cải biên) (Chiếc gậy thần – dạng thức nguyên thủy của hào âm dương – thanhnienonline). Các từ Dịch/Diệc, Hào, Càn, Khôn, Cấn, Chấn, Khảm, Ly, Tốn, Đoài chỉ là từ ký âm tiếng Việt (Bàn về tên gọi tám quẻ cơ bản của Kinh Dịch – Dunglac.net). Quan trọng nhất theo tiêu chuẩn tam tài của Trung Quốc chỉ sử dụng Tiên Thiên đồ, Hậu Thiên đồ mà không có Trung Thiên Đồ, một đồ cốt yếu đã được tổ tiên Việt Tộc sử dụng đễ viết quái, hào từ Kinh Dịch. Đồ này được tổ tiên Việt tộc giấu trong truyền thuyết, trên trống đồng, nên có thể khẳng định Trung Quốc không thể nào là người khai sinh Kinh Dịch cũng như phân bố vị trí các quẻ. (Trung Quốc đã công bố hơn 4000 Dịch đồ nhưng không có đồ nào phù hợp với Trung Thiên Đồ) (Kinh Dịch di sản sáng tạo của Việt Nam – Thanhnienonline) Truyền thuyết Việt Nam một phần là những câu chuyện liên hệ với Kinh Dịch, như chuyện Con Rồng cháu tiên là chuyện của Trung thiên Đồ, chuyện Sơn tinh thủy tinh là chuyển kể lại từ những lời hảo quẻ Mông, người Trung Hoa chỉ cần thay đổi bộ thủy trong hai chữ “chất cốc” là đổi câu chuyện nói về lũ lụt thành chuyện dạy trẻ mông muội là xóa được gốc tích của Kinh. Truyền thuyết được lưu giữ chính là để báo tồn Kinh Dịch (Các bài trên Anviettoancau.net – cùng tác giả). Trong một bài báo ngắn, chúng tôi không thể trình bày hết mọi chứng cứ nhưng thiết tưởng bấy nhiêu đó cũng đủ để hy vọng các bậc đại thức giả Việt Nam nên xét lại vấn đề, cân nhắc phân minh trả lại sự công bằng cho tổ tiên. Thái độ thờ ơ của quí vị chỉ làm tăng thêm nỗi đắng cay chua xót của liệt tổ ở chốn u linh. Xin hãy chung tay làm sáng tỏ huyền án này.
  5. Phim tài liệu về cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, biểu tượng lớn, niềm tự hào lớn của dân tộc. http-~~-//www.youtube.com/watch?v=k7xtcUBLD1w
  6. Lời cảm ơn của gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp http-~~-//www.youtube.com/watch?v=7QSIse8lSjk
  7. Lễ Quốc tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội ngày 13/10/2013 http-~~-//www.youtube.com/watch?v=-e_I622kcBw
  8. Kenh14.vn - Thung lũng Vũng Chùa (nơi có Mũi Rồng, thuộc xã Quảng Đông, Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) là một địa danh theo người dân là rất thiêng, chỉ dành cho bậc khai quốc công thần an nghỉ vĩnh hằng để hộ vệ quốc gia. Vùng đất là nơi an nghỉ nghìn thu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Địa danh Vũng Chùa (thôn Minh Sơn, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) không hề tìm thấy trên bản đồ của cỗ máy tìm kiếm Google. Khu vực Vũng Chùa được bao bọc bởi 3 hòn đảo Hòn La, Hòn Gió và Hòn Nồm. Nhìn về phía đông nam là một phần của biển Đông và cách 1 hải lý là Đảo Yến án ngữ, sau lưng là núi Mũi Rồng hùng vĩ. Mạch đất ở đây rất đẹp, hướng đông nam chính trực tuyệt đối. T Tại đây có ngôi miếu và một mái chuông đã được dựng lên từ mấy năm trước. Ngoài ra, ở mảnh đất linh thiêng này còn có 2 ngôi mộ - là những người có công trạng với làng. Đường vào Vũng Chùa. Giữa thung lũng, có 3 con suối chảy về biển, mùa hè hạn hán nặng vẫn không hề hết nước. Trên vùng đất còn có một cái giếng cổ. Bãi biển Vũng Chùa có cấu tạo địa chất đặt biệt, những thớ đá xếp lên nhau như những chiếc vảy của con rồng đang ngơi nghỉ. Một tháp chuông trên đó có in tên của phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng gia đình cung tiến. Bốn chữ lớn đúc vào chuông: “Vũng Chùa Hồng Chung”. Địa danh Mũi Rồng trên bản đồ vẽ tay.
  9. Sự thất truyền và đồng hóa của văn hóa Việt cổ (Kienthuc.net.vn) - Theo các sử gia lớn thì dân Bách Việt đã cư trú trước khắp miền Nam Trung Hoa hiện nay. Trải qua hàng ngàn năm bị dân tộc Hoa - một dân tộc du mục thiện chiến phương Bắc - tràn xuống xâm chiếm lãnh thổ, tiếp theo là hàng ngàn năm bị đô hộ và "đồng hóa" nền văn hóa cổ của cả một dân tộc bị ra sức xóa bỏ cùng với chữ viết "Khoa Đẩu". Tìm lại nền văn minh bị thất truyền Tuy nhiên, cốt lõi của nền văn minh nông nghiệp phát triển rất sớm của dân tộc này cùng những "thuần phong mỹ tục" đi theo thì không thể xóa bỏ, nhưng đã bị "đồng hóa" vào nền văn hóa của kẻ chiến thắng, thành nền văn hóa Hán tộc, nhất là từ sau khi chữ Hán Nho được phổ biến. Kẻ chiến thắng thống trị đã biến chúng thành sản phẩm của chính mình sau khi đã cố gắng xóa bỏ mọi vết tích của nền văn hóa Âu Lạc cổ. Tuy nhiên, các học giả lỗi lạc sau này của chính nước Trung Hoa khi viết về Lịch Toán Can Chi cũng không rõ nguồn gốc lịch này có từ bao giờ và từ đâu lại. Họ chỉ đơn thuần căn cứ vào sự ghi chép đơn giản trong Sử Ký Tư Mã Thiên sau này. Họ vẫn thắc mắc về nguồn gốc hình thành Hệ Can Chi, không hiểu vì sao "con chuột hôi hám" lại có thể đứng đầu 12 Địa Chi! (vì Tý là con chuột). Còn con Rồng (Thìn) cao quý lại phải đứng hàng thứ năm? Đây không phải là sự phủ nhận nền văn hóa vĩ đại của nước Trung Hoa suốt quá trình lịch sử lâu dài, mà chỉ là để góp phần chứng minh sự đóng góp quan trọng của nền văn minh Việt cổ trong nền văn hóa rộng lớn của các nước Á Đông mà Trung Quốc là đại diện hiện nay. Chắc chắn còn nhiều thiếu sót, tác giả mong bạn đọc bổ cứu để làm sáng tỏ thêm nền văn minh Việt cổ của tổ tiên xưa đã bị thất truyền. Bốn chữ Quốc Tổ Hùng Vương được viết bằng chữ Khoa Đẩu. Sử chứng cho vùng đất rộng lớn của người Việt cổ Nhiều tài liệu cổ của Trung Quốc cũng đã công nhận, các vùng đất rộng lớn giữa lưu vực hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử vốn là địa bàn cư trú của dân tộc Bách Việt... Âu Việt, có chữ Âu, có thể là loại chim phổ biến trên vùng đồi núi, ven các triền sông xưa, gần giống như loài Hải Âu sau này. Lạc Việt, có chữ Lạc, là loại Ngỗng trời hay bay từng đàn lúc chiều tà để tìm nơi trú ẩn. Từ "Lạc" sau này lại đã biến thành từ "Hạc" và trở thành con "Hạc thờ" ở các Đền - Miếu khắp đất nước từ thời xưa đến nay. Lãnh thổ của Âu Việt và Lạc Việt: Nhiều tài liệu cổ của Trung Quốc cũng đã công nhận, các vùng đất rộng lớn giữa lưu vực hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử vốn là địa bàn cư trú của dân tộc Tam Miêu và Bách Việt, trong đó dân tộc Việt Thường ở phía Nam lưu vực sông Dương Tử, từ hồ Động Đình và Phiên Dương (thuộc tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc và Lưỡng Quảng ngày nay) trở xuống là đã có một nền văn minh lúa nước rất phát triển. Dựa theo nhiều công trình nghiên cứu về cổ sử và dân tộc học châu Á của nhiều học giả trên thế giới đều có kết luận chung rằng: Người Hoa xưa kia vốn là một bộ tộc du mục thiện chiến ở phía Tây Bắc Trung Quốc, đã sớm thôn tính các quốc gia lân cận thành lập một liên bang rộng lớn miền Bắc Trung Quốc, sau tràn xuống chiếm hết vùng Trung Nguyên và cả miền nam Trung Quốc hiện nay. Thời kỳ tiền sử xa xôi đó, ở lưu vực hai con sông lớn là Hoàng Hà và Dương Tử của Trung Quốc, vốn là địa bàn cư trú của các dân tộc gọi là Tam Miêu và Bách Việt. Gọi là Bách Việt không phải nhất thiết là có 100 giống Việt mà số 100 chỉ là để chỉ nhiều bộ tộc Việt khác nhau chuyên nghề chài lưới, đánh cá và trồng lúa nước, cùng chung sống ở khắp lưu vực các sông này khi xưa mà thôi. Ngay trên mảnh đất nhỏ hẹp còn lại là nước Việt Nam ngày nay, ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số còn tới hơn 50 dân tộc thiểu số anh em khác sinh sống. Như thế thì vào thời cổ đại từ "Bách Việt" chắc chắn là để chỉ vài trăm dân tộc chung sống trên một địa bàn rộng lớn và có nền văn hóa gần giống nhau. Dân Bách Việt xưa gồm: Âu Việt có Miến, Thái, Lào... Miêu Việt có Mèo, Mán, Lô Lô... Lạc Việt có Việt, Mường, Tày, Thổ... Tất cả các chủng Việt này gọi chung là Bách Việt. Sách Trung Quốc xưa còn gọi họ là Viêm Việt (vì họ tìm ra lửa đầu tiên, biết chế tác nhiều thứ từ "lửa" nên gọi là "viêm" - có nghĩa là nhiệt, nóng). Ảnh minh họa. Vì các dân tộc này chiếm cứ khắp vùng Trung Nguyên từ lâu đời, nên họ đã có một nền văn minh lúa nước rất phát triển. Để phục vụ cho nghề nông tất yếu họ phải hiểu biết khá tốt về thiên văn lịch toán và không thể không có chữ viết. Dân tộc Hán dưới thời vua Nghiêu gọi chữ của họ là chữ "Khoa Đẩu, (có lẽ vì chữ buổi sơ khai chỉ là những ký hiệu "chấm trắng" và "chấm đen" nối nhau cùng những vạch đứt và vạch liền, trông giống như những con nòng nọc (• ). Đây cũng chính là các chữ số ghi bằng các ký hiệu trên trong hai bảng Hà Đồ và Lạc Thư cổ. Sử gia Trung Quốc Chu Cốc Thành trong cuốn "Trung Quốc Thông Sử" của ông cũng viết rằng: "Viêm tộc (chỉ dân Tam Miêu và Bách Việt) đã bước vào nước Tàu trước theo sông Dương Tử. Thoạt đầu chiếm 7 tỉnh Trường Giang rồi tỏa lên phía Bắc chiếm 6 tỉnh Hoàng Hà, rồi lan xuống miền Nam chiếm 5 tỉnh Việt Giang, gồm tất cả 18 tỉnh. Vì thế, khi Hoa tộc vào thì Viêm Việt đã cư ngụ khắp nơi... Mãi sau Hoa tộc mới theo sông Hoàng Hà chiếm 6 tỉnh miền Bắc đẩy dân Tam Miêu đi, rồi mới tỏa xuống phía Nam đẩy lùi Viêm Việt"... Sự xâm lăng này của Hoa tộc kéo dài nhiều ngàn năm mới đồng hóa nổi các dân tộc phía Nam. Theo sử gia Mỹ Harald Wiens, tại Đại học Yale (Mỹ), trong cuốn "Chinese expansion in South China" cũng viết: "Viêm Việt đã vào nước Tàu theo ngọn sông Dương Tử miền nước Thục. Vì thế cũng gọi văn minh Viêm Việt là văn hóa Thục Sơn. Trong 600 sắc tộc được nghiên cứu thì nổi bật là Thái và Việt. Thái nổi về chính trị còn Việt nổi về văn hóa". Như vậy, theo các sử gia lớn trên thì dân Bách Việt đã cư trú trước khắp miền Nam Trung Hoa hiện nay. Trước thời đại Hạ Vũ, nước Tàu mới chỉ là một châu: Châu Đào Dương do vua Nghiêu cai trị, hiệu là Đào Đường. Từ Hạ Vũ về sau mới mở rộng đất đai ra vùng Hoa Hạ và nước Tàu xưa mới trở thành nước Trung Hoa rộng lớn. Trước nạn bành trướng của người Hán dân Văn Lang xưa luôn tìm cách "cống nạp" để mong bang giao và cầu hòa. Năm thứ 6 đời Thành Vương nhà Chu (tức năm Tân Mão - 1.110 trước CN), sử Trung Quốc cổ cũng chép: "Phía Nam Giao Chỉ có người Việt Thường sang dâng chim Trĩ, qua ba lần thông ngôn, nói rằng: Đường xá xa xôi, non sông cách trở, sợ rằng một lần thông sứ không hiểu tiếng nhau, cho nên phải qua ba lần thông ngôn để sang chầu... Chu Công nói: Đức trạch không khắp tới nơi, người quân tử không nhận lễ sơ kiến. Chính lệnh không khắp tới nơi, người quân tử không nhận người ấy xưng thần... Đến khi sứ giả về quên mất đường, Chu Công cho làm xe chỉ nam... sứ giả đi xe ấy theo đường biển... đầy năm trời mới về đến nước" (Ngự phê thông giám tập lãm - quyển 3 tờ 10).Như vậy, sứ giả Việt Thường trên phải đi đường biển gần một năm mới về đến nước, rất có thể là sứ thần của các bộ tộc Lạc Việt tận miền lưu vực đồng bằng Bắc bộ ngày nay. GS.TSKH Hoàng Tuấn (Giám đốc Trung tâm Unesco, chuyên gia nghiên cứu về văn hóa phương Đông)
  10. Ngày 19/6 vừa qua, thầy Thiên Sứ và một số thành viên trong lớp PTLV đã có buổi offline tại HN với mục đích gặp mặt và chia sẻ những kiến thức của PTLV. Dưới đây là một số hình ảnh của buổi offline.
  11. Đây là bài tiếp theo về chữ Việt Cổ của ông An Chi đăng trên Petrotimes. Link bài viết gốc: http://petrotimes.vn...yen-(tiep).html *** Chữ “Việt cổ” của ông Đỗ Văn Xuyền (tiếp) (Petrotimes) - Chữ Việt cổ của ông Xuyền là một thứ chữ ma, có ông cố đạo nào biết đến hoặc nhìn thấy! Nói bừa như ông Xuyền thì có khác gì chửi vào mặt các nhà nghiên cứu chân chính. (Tiếp theo và hết) Từ sự so sánh trên đây, ta có thể nghĩ rằng ông Xuyền đã lấy bảng chữ cái của người Thái Đen (hoặc Thái Trắng) mà “chế biến” thành “chữ Việt cổ” của ông sao cho thích hợp với đặc điểm của tiếng Việt. Việc này chẳng khó khăn gì vì tiếng Thái và tiếng Việt có nhiều âm tố giống nhau. Chính vì nó đã được chế biến như thế nên ông mới bạo mồm bạo miệng nói rằng bộ ký tự của ông có thể chép đầy đủ thơ Trần Nhân Tông, thơ Nguyễn Du, thậm chí là cả... thơ Nguyễn Bính nữa. Dĩ nhiên! Nhưng đâu có ai cần ông Xuyền làm chuyện ngược đời như thế. Cái người ta cần là chính ông phải tìm cho ra thật nhiều văn bản xưa viết bằng thứ chữ Việt cổ của ông (!) để ông còn đọc lên cho bàn dân thiên hạ nghe kia! Nhưng làm sao ông Xuyền có thể tìm được! Thế mà ông còn liều lĩnh nói: “Hiện tại khu vực Tây Bắc còn hàng ngàn văn bản sử dụng bộ ký tự này và được lưu trữ trong dân gian. (Thể thao & Văn hóa, 31/1/2013). Lời nói này chứng tỏ là ông chỉ nói càn. Cái mà ông gọi là “bộ ký tự này” trong hàng ngàn văn bản đó thực chất là bảng chữ cái của người Thái Đen (hoặc Thái Trắng) chứ đâu có phải là cái bảng chữ Việt cổ do ông chế biến. Chuyện này thì các nhà Thái học của Việt Nam đã rõ như lòng bàn tay. Theo Vietnam+ ngày 7/5/2013 trong bài “Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số tại Sơn La”, bà Vũ Thùy Linh, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Sơn La, cho biết: “Tại kho Bảo tàng Sơn La có bộ sưu tập chữ Thái cổ, chữ Dao cổ với hơn 1.000 cuốn thuộc các thể loại: sử thi, trường ca, truyện thơ dân gian, sưu tập bộ trống đồng và đồ đồng cổ có giá trị phục vụ nghiên cứu khoa học”. Hẳn hoi là chữ Thái cổ, chữ Dao cổ. Thế mà ông Xuyền vẫn huênh hoang với nhà báo rằng “các cuốn sách chữ Việt cổ hiện còn lưu giữ tại Bảo tàng Sơn La”. Và còn bậy bạ đến mức nói như trong mơ, rằng “từ thời Hùng Vương người Việt ta đã có chữ viết, được thể hiện trên Bản đồ giáo dục thời Hùng Vương, danh sách các thầy cô giáo thời Hùng Vương”, như Thái Phong đã ghi lại trong bài “Chữ Việt cổ đã được giải mã?” (VTC News, 29/1/2013). Ông Xuyền còn hù doạ: “Để khai thác được kho dữ liệu này cần tới công sức của hàng trăm nhà nghiên cứu trong thời gian tới”. (Thể thao & Văn hóa, 31/1/2013). Xin thưa với ông rằng, chẳng cần đến hàng trăm nhà nghiên cứu, người ta cũng đã bắt đầu khai thác những văn bản đó cách đây ít nhất là 40 năm rồi. Có điều là người ta đã không thể đọc nó bằng tiếng Việt như ông đã hoang tưởng, mà bằng tiếng Thái rồi mới dịch sang tiếng Việt cho người Kinh tìm hiểu hoặc thưởng thức, chẳng hạn: Truyện kể bản mường (Quám tô mương), Lai lịch dòng họ Hà Công, Lệ mường, Luật mường, Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu (Sơn La). 5 tác phẩm hoặc tư liệu này đã được in chung trong quyển Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái (NXB KHXH, Hà Nội, 1977). Hai tác phẩm Xống chụ xôn xao (Tiễn dặn người yêu) và Piết mương, cũng đã được in rồi nhiều văn bản, tư liệu khác cũng đã được giới thiệu. Phải nói thẳng ra rằng, ông Xuyền rất lơ mơ lờ mờ về nhiều khái niệm ngữ học sơ đẳng. Sau đây là ý kiến của ông mà Thái Phong đã ghi lại trong bài “Chữ Việt cổ đã được giải mã?” trên VTC News ngày 29/1/2013: “Theo công trình của nhà nghiên cứu người Pháp Haudricourt (…): Trước Công nguyên, người Việt nói không dấu, do không có dấu nên bộ chữ khoa đẩu phải dùng tới hai loại phụ âm: phụ âm cao và thấp để thể hiện các từ khác nhau”. Công trình chính của A.-G. Haudricourt về thanh điệu của tiếng Việt là bài “De l’origine des tons en vietnamien [1954]” (Về nguồn gốc của thanh điệu trong tiếng Việt [1954]), tại đây tác giả đã đoán định rằng, cho đến những thế kỷ đầu Công nguyên thì tiếng Việt cũng chưa có thanh điệu (ông Xuyền gọi là “nói không dấu”); đến thế kỷ VI thì xuất hiện ba thanh rồi từ thế kỷ XII trở đi nó mới có sáu thanh như ngày nay. Nhưng cái sai hết sức ngô nghê của ông Xuyền là ở chỗ ông đã dùng một cách diễn dạt chung (“nói không dấu” hoặc “không có dấu”) để chỉ hai hiện tượng hoàn toàn khác nhau. “Người Việt nói không dấu” có nghĩa là tiếng Việt không có thanh điệu còn “bộ chữ khoa đẩu không có dấu” thì lại có nghĩa là nó không có những ký hiệu (trên chữ viết) để ghi thanh điệu (nên phải dùng tới hai loại phụ âm: thấp và cao) nhưng bản thân cái ngôn ngữ mà nó ghi chép thì lại có thanh điệu. Cách diễn đạt của ông Xuyền tự nó đã cho thấy ông hoàn toàn không biết phân biệt khái niệm “thanh điệu” là hiện tượng ngữ âm với khái niệm “ký hiệu ghi thanh điệu” là hiện tượng văn tự. Thế mà ông còn nói nhảm để cho nhà báo Phạm Ngọc Dương ghi lại và tường thuật như sau: “Ông (Xuyền - AC) đã vô cùng ngạc nhiên khi đọc được một tài liệu cổ, mà nhà truyền giáo Alexandre de Rhodes đã viết: “Đối với tôi, người dạy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần, anh ta đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ” (…). Ông Xuyền tin rằng, thứ chữ mà người thanh niên đó dạy nhà truyền giáo Bồ Đào Nha là chữ Việt cổ! Điều đó có nghĩa, những nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt và có công Latin hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ” (“Người đọc thông viết thạo chữ Việt cổ”, VTC News, 16/4/2011). Ông Xuyền khéo kể chuyện hoang đường. Cậu thiếu niên người Đại Việt chỉ dạy nói, dạy tiếng cho A. de Rhodes chứ làm gì có dạy cho ông ta “bộ chữ cổ của người Việt”, một bộ chữ ma. “Tài liệu cổ” mà ông Xuyền khoe là mình đã đọc được chính là một tình tiết trong quyển Voyages et Missions, in tại Paris năm 1653. Quyển này đã được Hồng Nhuệ dịch sang tiếng Việt dưới nhan đề Hành trình và Truyền giáo do Ủy ban Đoàn kết Công giáo TP HCM ấn hành năm 1994. Còn ông Xuyền đã đọc được ở đâu thì chúng tôi không biết. Nhưng A. de Rhodes chỉ kể như sau: “Người giúp tôi đắc lực là một cậu bé người xứ này. Trong ba tuần lễ đã dạy tôi các dấu khác nhau và cách đọc hết các tiếng. Cậu không hiểu tiếng tôi mà tôi thì chưa biết tiếng cậu, thế nhưng cậu có trí thông minh biết những điều tôi muốn nói. Và thực thế, cũng trong ba tuần lễ, cậu học các chữ của chúng ta, học viết và học giúp lễ nữa” (Sđd, Hồng Nhuệ dịch, tr.56). Vậy chính cậu bé mới là người học chữ Tây chứ không phải dạy chữ ta cho A. de Rhodes (Chữ “nòng nọc” ở đâu mà dạy, ngoài chữ Nôm?). Nhưng theo ghi nhận của Phạm Ngọc Dương trong bài đã dẫn, ông Xuyền còn đi xa hơn: “Điều ngạc nhiên mà ông Xuyền nhận thấy, đó là nhiều ký tự mà các nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha sử dụng trong những buổi đầu tương đối giống với chữ Việt cổ. Càng về sau này, qua cả trăm lần cải tiến, thay đổi, những chữ tương đối giống chữ Việt cổ đã dần biến mất và mất hẳn bóng dáng trong các văn bản Quốc ngữ ngày nay”. Chữ Việt cổ của ông Xuyền là một thứ chữ ma, có ông cố đạo nào biết đến hoặc nhìn thấy! Nói bừa như ông Xuyền thì có khác gì chửi vào mặt các nhà nghiên cứu chân chính. Nhưng nhảm nhí nhất là chuyên sau đây cũng do Phạm Ngọc Dương ghi trong bài trên: “Sau 50 năm nghiên cứu chữ Việt cổ, thời đại Hùng Vương, ông giáo già Đỗ Văn Xuyền giờ đã đọc thông, viết thạo chữ Việt cổ. Ông có thể nói luôn cả tiếng của người Việt cổ xưa. Ông Xuyền nói vui rằng, nếu có phép thần thông quảng đại, hoặc cỗ máy vượt thời gian, đưa ông về thời Đông Sơn, ông có thể dễ dàng giao tiếp với người Việt thời kỳ đó”. Ngôn ngữ bình dân gọi đó là bốc phét. Ít nhất ông Xuyền cũng phải có một số văn bản, ít nữa là một vài, tối thiểu cũng là một, được các nhà khoa học, trước nhất là các nhà khảo cổ học và các nhà sử học xác nhận về tuổi thọ của nó; (những) tài liệu này phải được viết bằng thứ chữ giống y như những chữ trong cái bảng mà ông đã đưa ra. Đó là điều kiện tiên quyết. Đằng này, một tờ giấy lận lưng đúng theo điều kiện đó ông cũng không có… Ông chỉ có bảng chữ “Việt cổ” mà ông đã chế biến trong 50 năm từ những tư liệu bằng chữ Thái! Ấy thế nhưng ông Xuyền lại có nhiều “học trò”. Xin hãy nghe Phạm Ngọc Dương tường thuật và phát biểu cảm tưởng: “Tôi nhớ mãi cái buổi tại Trung tâm Văn hóa người cao tuổi ở phố Đặng Văn Ngữ (Đống Đa, Hà Nội), vào cuối năm 2007, ông giáo già người Phú Thọ (ông Xuyền - AC), đã thuyết trình cả buổi trước 40 nhà khoa học, toàn các giáo sư, tiến sĩ, các nhà sử học, ngôn ngữ học, văn học nước nhà. Lúc thì trên máy chiếu, lúc trên bảng đen, ông như thầy giáo của thời xưa cũ, và các nhà khoa học lớn của nước nhà, như những học trò, ngồi nghe ông thuyết giảng về một loại ký tự lạ. Loại ký tự lạ ấy không phải của người ngoài hành tinh, mà chính là của tổ tiên chúng ta!” (“Người 50 năm giải mã chữ của tổ tiên người Việt”, VTC News, 12/4/2011). Nhà báo Phạm Ngọc Dương đã lên đồng như thế còn chúng tôi thì nghĩ rằng cử tọa của ông Xuyền chỉ giữ thái độ lịch sự cần thiết trong khi ông thuyết trình mà thôi. Chứ nếu họ thực sự là những người học trò ngoan của ông thì - chúng tôi băn khoăn - không biết rồi đây học thuật của nước nhà sẽ đi về đâu! A.C
  12. Hi. Mấy hôm nay cưới xin bận quá giờ con mới online đọc tin nhắn của BB được. Đây là hình hôm ăn hỏi con - đúng ngày sau bão Sơn Tinh đổ bộ vào Nam Định: Trời nắng dịu vừa đẹp ^^ Cô dâu chú rể ạ :D Và hình tin nhắn của BB ^^
  13. Con cảm ơn Bố Béo đã "xủi quẻ" giúp con. Bố Béo xủi que như thần. Hôm ăn hỏi con trời hửng nắng nhẹ, gió phây phẩy rất dễ chịu. Không nóng quá mà cũng không lạnh quá.Lúc con nhắn tin cho Bố là Nam Định đang gió bão ầm ầm, nhà thép đã cắt điện. Bão Sơn Tinh như là đùa ấy ạ. Hôm trước nhà đài còn thông báo Ninh Bình chống lũ thời tiết Nam Định vẫn rất bình thường. Thế mà đến sáng 14 trời bắt đầu mưa dầm dề, rồi gió nổi lên ầm ầm. Đến 2h chiều bắtđầu cắt điện. Tầm chiều tối thì Sơn Tinh về đến Nam Định. Nghe nhà đài báo gió giật trên cấp 12,. Con nằm cả đêm chẳng ngủ được, nghe Bố trả lời tin nhắn mỗi 2 từ bảo "Mai tạnh" mà vẫn lo. Nhõ mai mà gió bão vẫn thế này thì có khi phải huỷ ăn hỏi. Thế mà sáng 15, 2h bão đã tan. Con dậy sớm đi trang điểm thì đường đã khô ráo. Nếu mà không có cảnh tan hoang cây cối đổ đầy đường thì không thể tin là bão vừa đi qua. Các cụ ở quê bảo, bão Sơn Tinh năm nay có 2 cái lạ. Một là, nếu tính cả tháng nhuận thì bây giờ là tháng 10 âm lịch, mọi năm tầm này là không bao giờ còn bão. Hai là, thường thì bão xong trời hay mưa dầm đền cây, thế mà ông Sơn Tinh năm nay đi qua xong chả mưa đền ngày nào. Thế nên hôm ăn hỏi con thời tiết đẹp trên cả tuyệt vời, ngoại trừ bị ông Sơn kéo đổ rách tươm cả rạp đêm hôm trước sáng hôm sau phải dựng lại rạp ra thì mọi sự đều vẹn toàn. Con bận quá. Ở quê lại bị cắt điện mấy ngày sau bão nên hôm nay mới lên cảm ơn BB được. Con sẽ chèn hình vào sau do đang dùng iPad ko biết đưa hình vào như thế nào cả ^^.
  14. Hình ảnh đối chiếu với email bài viết:
  15. *** (Tiếp theo) Tôi xin phép được đưa ra vài suy nghĩ của mình, ví như tôi trả lời ba hội viên kia vậy. Trong một số pho sách thuộc dạng văn hóa cổ có thể lấy nó làm căn bản hay chỗ dựa cho mọi suy luận hoặc suy đoán, (chứ không thể suy đoán tùy tiện từ một vài thông tin sô bồ, không đầy đủ tính minh chứng), có một thông tin khá đồng bộ mà mọi người có thể cảm nhận được đó là: Khi luận bàn về khí, một yêu cầu đặt ra là: người ta phải định dạng được khí cả tính về và về lượng, cùng với quy luật phát sinh, phát triển và tự vong của nó, và điều này người xưa đã làm được. Trong qua trình kiểm nghiệm thực tiễn có kết quả, mà người xưa đã đúc kết lại thành sách để lưu giữ và truyền thụ về sau mới có cái để chúng ta đọc, và người xưa họ cũng đã làm được điều này. Tính hệ thống của mảng văn hóa họ để lại đáng để chúng ta kế thừa và phát triển. Hoặc là chúng ta phát triển đúng hướng, hoặc là chúng ta phát triển lệch lạc. Một câu hỏi nghiêm túc cần đặt ra là: cái mà ta tưởng là ta đang phát kiến kia, người xưa họ không biết gì hay họ né tránh không muốn để lại thông tin đó với một nguyên do nào đó chăng, và tôi nghiêng về xu hướng thứ hai: Họ không muốn nói rõ về thông tin đó chứ không phải họ không biết, tôi cho rằng họ là những bậc kỳ tài mà chỉ ở thời điểm đó trời đất đã sinh ra họ để họ làm điều đó. Thử hỏi, chúng ta với trang thiết bị hiện đại và với nguồn tư liệu lớn tới mức nếu chỉ ngồi đọc thì nhiều đời sau còn chưa xong, sao đã vội đưa ra những suy tưởng thiếu chín chắn như thế ? Hệ thống sách cổ về học thuyết Âm Dương ngũ hành để lại hai hình đồ nổi tiếng, đó là hệ thống sắp xếp phân bổ khí Hà đồ. Mang tính phổ cập, Hà đồ - một quỹ tích bài liệt khí tiên thiên, và Lạc thư với hai biểu sắp xếp phân bổ khí hậu thiên theo hai chiều thuận nghịch mà chúng ta vẫn ứng dụng. Trong quá trình mô tả, diễn giải sự biến hóa của khí, họ đã dấu đi một nửa phát kiến của họ, nhưng họ vẫn để lại một manh mối cho ta lần tìm và phát triển. Đó là những câu: Hỏa tiên thiên và Hỏa hậu thiên, Kim tiên thiên và Kim hậu thiên. Học thuyết âm dương ngũ hành nổi tiếng của người xưa là ở quy tắc sinh khắc chế hóa của ngũ hành. Nó được ứng dụng mọi lúc mọi nơi cho mọi sự việc trên hành tinh này. Khi người ta đặt (1-6) ở Khảm (thủy) theo chiều thuận kim đồng hồ thì sinh (3-8) ở Chấn (mộc) tiếp tục sinh (4-9) ở Ly (hỏa); tuần tự sinh (5-10) ở Trung cung (thổ): sinh (2-7) ở Đoài (kim); khép kín sinh (1-6) ở Khảm (thủy) – Đó là thuận và khép kín một vòng sinh, còn vòng khắc thì sao, có sinh thì phải có khắc. Vẫn khởi đầu từ (1-6) ở Khảm (thủy), khắc thủy phải là thổ, (5- 10) thổ ở trung cung khắc thủy (1-6) ở Khảm, trật tự đồ hình trên được giữ nguyên; khắc thổ là mộc, (3-8) mộc ở Chấn khắc thổ (5-10) trung cung theo vòng, trật tự đồ hình trên vẫn được giữ nguyên, khắc mộc (3-8) chỉ có thể là kim (2-7) nhưng kim (2-7) nó lại nằm ở Đoài, không lý gì nó khắc xuyên (5-10) thổ ở trung cung, (nếu nó thấu trung cung thì nó Hợp thổ trung cung mà được sinh), và vì vậy người ta đành chuyền (2-7) kim vốn Đoài ở tới Ly vậy, (2-7) kim ở Ly (lúc này) khắc (3-8) mộc ở Chấn, theo vòng và thuận lý, không có gì để nghi ngờ nữa (4-9) bị (2-7) chiếm mất chỗ nên phải về thế chỗ còn lại ở Đoài, hỏa (4-9) lúc này ở Đoài khắc (2-7) kim ở Ly. Khép kín vòng khắc là thủy (1-6) ở khảm khắc hỏa (4-9) ở đoài. Mô tả như hình dưới. Ta nhận thấy số đại diện cho khí ở cung Khảm, Trung cung, cung Chấn được giữ nguyên chỉ có Ly Đoài là phải đổi chỗ nhau mà thôi. Vốn đời, Ly hỏa đã được đặt ở phương Nam theo vòng sinh, thể hiện phía trên tờ giấy (hình trái). Đoài kim đã được đặt ở phương Tây, thể hiện ở bên phải tờ giấy (cũng tức là nói về phương vị hay vị trí địa lý) nay lại phải hoán đổi cho nhau nên sinh ra câu hỏa (hoặc kim) tiên thiên, kim (hoặc hỏả) hậu thiên từ đó. Các bạn quan sát hai vòng sinh khắc này sẽ thấy nó hình thành một hình tựa đầu con cá, một con quay miệng về cung Cấn, một con quay miệng về cung Khôn. Sự khuyết hãm ở hai cung này lại là nơi xảy ra toàn bộ các cục tam ban xảo quái. Phải chăng sự phát hiện này đã bị lợi dụng, thêm bớt chút xíu gia vị (chứ thực ra chẳng xào nấu thêm gì) định biến nó thành của riêng, cho rằng ta phát kiến, với những lập luận không được kín kẽ không lẽ để lòe bịp thiên hạ sao. Tôi nghĩ, cổ nhân cho rằng kết quả ứng dụng của cái vòng khắc kía có thể tạo ra kỳ tích hoặc nghiệp chướng cho thiên hạ nên thận trọng hơn họ không phổ cập mà thôi. Chỉ có vài chữ bỏ lửng Hỏa (hoặc kim) tiên thiên và Hỏa (hoặc kim) hậu thiên họ khi không phát triển, họ đã cất kỹ cả một nửa kho tri thức của thiên tài. Họ không háo danh là vì nhân loại chứ không phải vì họ. Trong quá trình mô tả, bài kiệt khí để thể hiện sự thống nhất về khí giữa quả đất và vũ trụ, người xưa đã tạo ra hai vòng sinh khắc kia cũng không làm ta ngạc nhiên gì, và ta “phải” kết luận, vòng khí Hà đồ có hai hình đồ như trên là tất yếu. Và nếu ai đó muốn nói tới hai chữ “đổi chỗ” (thay đổi sự bài liệt số đại diện của khí) thì phải nói chính xác rằng ta đổi chỗ hai vị trí Ly Đoài của Hà đồ, và nếu ai đó cố tình nói đổi chỗ Khôn Tốn hoặc cả nói đổi chỗ Ly Đoài chung chung chả đáng buồn cười sao. Từ hai hình đổ trên, ta sẽ có 4 hệ quả là 4 nguyên đán bàn. Hình dưới. Thứ tự từ trái qua phải của 4 hình đồ nguyên đán bàn là: Quỹ tích thuận của vòng sinh – Quỹ tích ngược của vòng sinh Quỹ tích thuận của vòng khắc và Quỹ tích ngược của vòng khắc. Nếu chúng ta đồng thời gia tăng (hoặc giảm) trị số 9ô của mỗi nguyên đán bàn với cùng một trị số đơn vị nào đó thì ta được một quỹ tích mới. Và nếu ta chỉ đồng thời tăng hoặc giàm lần lượt một đơn vị thì ta được một trật tự 9 quỹ tích cơ bản và xếp thành 4 cột dưới: Cột một là 9 quỹ tích thuận vòng sinh – Cột hai là 9 quỹ tích ngược vòng sinh Cột ba là 9 quỹ tích thuận vòng khắc – Cột bốn là 9 quỹ tích ngược vòng khắc. ** Các bạn đừng băn khoăn một điều tại sao tôi sắp xếp hai vòng sinh khắc Hà đồ lại là vòng khắc ở bên trái, vòng sinh ở bên phải. Từ cách sắp xếp này nó gợi mở cho các bạn nhận ra sự khuyết lõm ở Cấn Khôn – Nơi xảy ra toàn bộ cục xảo quái. Khi 4 cột vòng quỹ tích thuận nghịch của Lạc thư lại được sắp hai cột quỹ tích thuận nghịch vòng sinh ở bên trái, còn hai vòng thuận nghịch của vòng khắc lại ở bên phải – Đó là tính tiện dụng mà thôi. Cửu khí vận hành mà người xưa bàn đến và để lại mang tính phổ cập, cho dù là hành thuận hay hành ngược đều lấy “trời”, hoặc “nam giới” làm chuẩn để thiết lập nên một mối quan hệ, ví như xác định một gốc tọa độ. Trời là dương, nam cũng là dương, nên thiết lập ra một sự vận hành cửu khí theo chiều dương. Tuy nhiên trong cửu khí ngoài khí dương, còn có cả khí âm, nhưng quỹ tích vận hành lại chỉ được thể hiện toàn là khí dương. Một quỹ tích Âm không lý do gì không tồn tại, nó đã được cất dấu đồng thời như việc người xưa cất dấu cái vòng khắc kia vậy. Việc đem phối hai quỹ tích thuận nghịch theo vòng quỹ tích Lạc thư của vòng sinh Hà đồ chúng ta vẫn thường làm, chúng ta tạm gác lại. Chúng ta cùng quan sát, đem hai quỹ tích thuận nghịch theo vòng quỹ tích Lạc thư của vòng khắc Hà đồ xem nó sẽ xảy ra như thế nào ? Khi cả hai sẽ xuất hiện một khái niệm mang tính ước lệ vẫn được sử dụng, đó là cụm từ: Chủ Khách Ta có thể kê các tình huống có thể: 1. Dương chủ - Dương khách 2. Dương chủ - Âm khách 3. Âm chủ - Âm khách 4. Âm chủ - Dương khách Điều này đều có thể xảy ra ở hai tổ hợp thuận nghịch theo vòng khắc và vòng sinh của Hà đồ. Về phong thủy, năm 2012, mọi người đều sử dụng thông tin Lục bạch nhập trung cung. Về lý thuyết khí, có hai tình huống xảy ra: Một, lục bạch là dương chủ và hai, lục bạch là âm chủ. Cái gì có thể xảy ra cho cả hai vòng sinh và khắc ? 1/ Lục bạch là (+) chủ a/ Chủ tinh (+) Lục phối với Khách tinh (+) Cửu b/ Chủ tinh (+) Lục phối với Khách tinh (--) Cửu 2/ Lục bạch là (--) chủ a/ Chủ tinh (--) Lục phối với khách tinh (+) Cửu b/ Chủ tinh (--) Lục Phối với khách tinh (--) Cửu Tinh đồ mà ông thiên sứ trình diễn: Nó được diễn giải là: hình đồ Lục bạch nhập trung cung phi nghịch, hình đồ Cửu tử nhập trung cung phi thuận (tương ứng giả định 2a). Hai quỹ tích phi tinh này xảy ra không giống với bất cứ trường hợp biến hóa nào từ hai vòng thuận nghịch Lạc thư theo vòng sinh của Hà đồ cả, nó chỉ có thể tồn tại ở hai vòng thuận nghịch của vòng khắc hà đồ. Hai tinh đồ này họ đặt vào mặt phẳng địa cầu là hoàn toàn chính xác về lý, vì cách thể hiện vị trí địa lý hiện nay, phương bắc ở phía trên tờ giấy. Nếu ta đặt lại chiều hướng hình đồ này theo cách sử dụng phổ thông của thuật phong thủy, phương nam ở phía trên tờ giấy, thì nó được mô tả như sau: Nhìn vào hai hình đồ, cả như khi giữ nguyên chiều hướng của họ và khi đã đổi chiều hướng để bạn đọc dễ quan sát hơn, ta dễ dàng nhận ra nó có chung một cước bộ (nếu phi thuận thì cùng thuận hoặc nếu phi ngược thì cùng ngược) chứ nó không thể từ hai cước bộ (một phi nghịch và một phi thuận) như họ trình diễn. Nó hoàn toàn trùng khớp với tinh đồ số 6 và số 9 (in nghiêng - đậm - đỏ) của quỹ tích thuận (Lạc thư) vòng khắc Hà đồ (cột 3). Nếu đây không phải là sự sai sót vô ý, thì nó thực sự là ghán ghép Vô Lý. Và vì vậy, tiêu đề họ trương ra là lời tiên tri cho năm 2012 được xây dựng từ dữ liệu này thì thật hơi quá lời, và khi họ gắn với một cụm thuật ngữ nhẹ nhàng hơn là: “lời dự báo” nó cũng đã không xứng danh. Hoặc giả đây là điều trung thực họ muốn nói thì họ quả là coi thường thiên hạ không biết gì. Dựa trên thông tin mà họ mô tả thì hai vòng quỹ tích đó được thể hiện như sau: Chủ tinh âm Lục và khách tinh dương Cửu nhập giữa, âm phi ngược và dương phi thuận. Và nếu ta lai ghép hai quỹ tích này thì được một tổ hợp dùng để cân đo đếm - định lượng khí cho năm 2012. Tôi năm nay tuy đã 61 tuổi, nhưng thời gian dành để nghiên cứu học thuyết âm dương ngũ hành của cổ nhân chưa được là bao, nên khi trao đổi với ông, có thể không thể hiện đầy đủ được ý niệm mình muốn bày tỏ. Có chi sai sót mong ông rộng lòng lượng thứ. Thanh oai ngày 22/10/2012 Xin kính thư Nguyễn Văn Nhuận Email: Origin.from.infinite@gmail.com
  16. Artemisia xin đăng lại chính xác toàn bộ nội dung bức email để các anh chị hội viên của diễn đàn được theo dõi. * Gửi ông Thiên sứ Vừa rồi tại dđ Văn hóa phương đông có ba hội viên là Yuguang, Thiên bồng và huybq36 có trích dẫn một số bài viết của ông và đường link từ trang lý học đông phương sang dđ VHPĐ, nêu một số băn khoăn khúc mắc mà họ không hiểu khi đọc các nội dung ấy, tôi cũng thấy rất là lạ. Nhưng khi đọc kỹ nội dung của họ trích dẫn thì thấy nỗi băn khoăn của họ là có cơ sở. Nên tôi định đăng ký làm hội viên của dđ Lý học phương đông và để viết bài trao đổi với ông và bạn đọc. Nhưng tôi nghĩ, tôi nên trao đổi qua email với ông thì hơn. Hội viên Yuguang trích dẫn: ... “Trong bài tường quí vị lần này, tôi muổn tỏ thêm rằng: cái lý của việc đổi chỗ Tốn Khôn trong Hậu thiên bát quái và liên hệ với Hà đồ, nó can hệ thế nào trong việc nghiên cứu lý dịch Đông phương. Nếu chẳng may nó đúng thì cơ may mở cái màn huyền bí sẽ chẳng phải là điều không tưởng. Theo cái sở ngộ của tôi thì một trong cái lẽ này đã được ứng dụng trong trận Xích Bích ở bên Tàu, vốn nổi tiếng Đông Tây kim cổ. Mặc dù người ứng dụng nó là Khổng Minh và Tào Tháo lại không hiểu cái lẽ Tốn Khôn đổi chỗ cho nhau và liên hệ tới Hà đồ. Điều này xin nói cái lẽ của nó như sau. Cuộc đối đầu Ngô Tào đã đến hồi căng thẳng. Chu Du muốn hạ thủ trước, nhưng ngặt vì không có gió Đông Nam. Khổng Minh bắt trúng bệnh của Chu Du, lập đàn cầu gió Đông Nam: hướng gió quyết định trận đánh lịch sử. Sau vài ngày đốt phù, niệm chú, gió Đông Nam nổi lên ầm ầm. Chu Du điều binh khiển tướng đánh Tào. Khi thuyền của tướng tiên phong Hoàng Cái đến gần thuỷ trại quân Tào. Một mưu sĩ của Tào Tháo nghi ngờ là thuyền chứa chất cháy, vả lại hôm nay lại có gió Đông nam, nên nói Tào Tháo cho chặn lại. Tào Tháo nói:"Hôm nay là ngày Đông chí, khí Nhất Dương sinh ra, nên có gió Đông Nam, điều đó không có gì là lạ!". Ngày Đông chí nên có gió Đông nam là một thực tế. Có thể cho rằng đó là một kinh nghiệm. Nhưng ở đây nó lại không chỉ có thế. Chính câu "khí Nhất dương sinh ra" đã cho thấy nó gắn với thuyết Âm Dương và được lý giải bằng lý thuyết này. Nếu ta tìm cái lẽ nào để Tào Tháo nói thế ở Hậu thiên Bát quái cũ can hệ với Lạc thư thì không lý giải được. Theo đồ hình Lạc thư và Hậu thiên bát quái cũ, nếu khiên cưỡng mà cho rằng vị trí quái Tốn (là gió) ở Đông nam của Lạc thư nên có gió ở Đông nam. Với cái lẽ này thì lại không hợp lẽ tại sao quái Ly lại ở vị trí thuộc hành Kim (có độ số 9) trên Lạc thư? Nếu thật tính của Tốn là gió thì ở Đông nam luôn có gió sao? Ngày Đông chí (Cực Âm theo lý Âm Dương) thì liên hệ gì với quái Tốn ở Đông nam? Thật khó lý giải cho hợp lẽ theo cái sở ngộ của tôi. Nhưng nếu ta đổi chỗ hai quái Tốn Khôn trong Hậu thiên và đặt lên Hà đồ thì quái Khôn sẽ nằm ở vị trí Đông nam. Lần trước tôi đã tường với quí vị về cái anh trục Địa cầu biểu kiến nó chia Bát quái hậu thiên đổi chỗ Tốn Khôn thành 2 phần Âm Dương là: phần Âm – tính từ Khảm đến Khôn là cực Âm; phần Dương – tính từ Ly đến Càn là cực Dương. Phải chăng: Cực Âm sinh Dương đó là cái lý của gió Đông nam sinh ở ngày Đông chí (Cực Âm). Nhân đây, tôi cũng xin tường thêm về cái anh văn hoá dân gian Việt cũng có nhiều cái lạ đáng để suy gẫm. Các quí vị nào có nghiên cứu văn hoá dân gian chắc đều biết có hai câu đối khá nổi tiếng liên can đến Bát quái hậu thiên là: Chó Khôn chớ cắn Càn. Đối với: Lợn Cấn ăn cám Tốn. Nếu cứ theo cái anh Hậu thiên bát quái đồn rằng của ông Chu Văn Vương mần ra thì hai câu đối này phải viết ngược nhau. Nhưng cứ theo cái anh Bát quái hậu thiên đổi chỗ hai quái Tốn Khôn thì đối nhau chan chát. Rồi, còn đôi câu đối này nữa ở trong truyện cổ Việt Nam. Câu ra: Chồng phương Đông, vợ phương Tây, hoà hợp cùng nhau, chớ lòng Nam Bắc. Câu đối: Trai phương Cấn, gái phương Tốn, không nên cãi lộn, trái đạo Càn Khôn. Nếu theo phương vị Hậu thiên bát quái Tàu thì câu đối này không chỉnh. Nhưng nếu sửa lại theo văn Việt thì nó lại đối nhau chan chát, không những cả về Âm Dương, mà còn cả về Ngũ hành sinh khắc”... Hội viên huybq36 trích dẫn: Dưới đây là bài viết bên lý học đông phương Kính thưa quí vị quan tâm. Trung thành với hệ thống luận điểm của mình, chúng tôi vẫn dự đoán tình hình thế giới trong năm 2012 trên cơ sở Huyền Không Lạc Việt - Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt. Chúng tôi trình bày hai đồ hình Huyền Không Lạc Việt phi tinh thuận nghịch cho năm 2012 như sau - để quy vị có thể tham khảo: Và đây là Hội viên Thiên bồng trích dẫn: Em trích luôn hai bài mới nhất bên trang LHĐP để các bác xem không lại mang tiếng là bịa đặt: 1- Mục tư vấn phong thủy: Tư Vấn Phong Thủy Cổ Thư Và Phong Thủy Lạc Việt #1 trunglg Mới gia nhập Nhóm:Hội viên mới Bài viết: 12 Gia nhập:20-Tháng hai 12 Cập nhật lúc Hôm qua, 12:02 PM em có một người anh năm nay xây nhà mượn tuổi 56 (Đinh dậu) để động thổ, theo phong thủy cổ thư thì tuổi anh ấy Nhâm tuất (1982) là họp vói hướng nhà là Đông, chấn, tốn, khảm, ly. nhưng theo phong thủy cổ thư thì ngược lại lai ko hợp mà lại hợp với 4 hướng nhà tây tứ trạch là Can, khôn, đoài, cấn. Vậy em nhờ các bác tư vấn hộ xem anh em nên làm theo hướng nhà nào là tốt nhất, và phong thủy cổ thư và phong thủy Lạc Việt thì nên dùng cái nào, em cảm ơn! 0 Trích dẫn Trả Lời #2 vusonganh Hội viên tích cực Nhóm:Hội viên tích cực Bài viết: 1.004 Gia nhập:30-Tháng ba 09 Cập nhật lúc Hôm qua, 08:05 PM Khẳng định luôn với bạn là tại đây chúng tôi chỉ tư vấn cho bạn theo Phong Thủy Lạc Việt. Trung Thành - Tận Tụy - Sáng Tạo !!! 0 Trích dẫn Trả Lời #3 Thiên Sứ Hội viên ưu tú Nhóm:@Tổng điều hành@ Bài viết: 19.951 Gia nhập:06-Tháng tư 08 Cập nhật lúc Hôm nay, 03:55 AM Có lẽ tôi trả lời với anh thế này hợp lý hơn: Phong thủy cổ thư chữ Hán xác định tuổi Nhâm Tuất sinh năm 82 phi cung Ly. Nhưng họ không thể chỉ ra vì sao tuổi Nhâm Tuất phi cung Ly chứ không phải cung Cấn, hoặc Đoài , Khảm....vv...mà các nhà phong thủy từ trước đến nay chỉ học thuộc lòng và ứng dung. Còn Phong Thủy Lạc Việt tìm hiểu cơ sở nào để có mệnh trạch cho các tuổi - trong đó có tuổi Nhâm Tuất phi cung Ly - và chúng tôi phát hiện ra rằng: Đó chính là nguyên lý phi tinh Huyền Không, lấy sao nhập trung trong năm làm mệnh trạch theo nguyên tắc Nữ phi thuận, Nam phi nghịch. Trên cơ sở này thì do phi tính trên Lạc Thư nên nên Nhâm Tuất theo cổ thư có mệnh trạch là Ly; còn Phong thủy Lạc Việt phi tính trên Hà Đồ nên có mệnh trạch là Đoài. Vậy phi tinh trên Lạc Thư và Hà Đồ cái nào đúng? Chúng tôi xác định phi tính trên Hà Đồ đúng vì hai luận cứ sau đây: 1/ Phù hợp với tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học được coi là đúng. 2/ Xét lịch sử phong thủy theo cổ thư chữ Hán thì cái gọi là "Trường phái" Huyền Không ra đời sớm nhất vào thế kỷ XV sau CN, trong khi đó cái gọi là "trường phái" Bát Trạch - để có vấn đề xác định mệnh trạch cho từng tuổi lại ra đời trước đó khoảng 700 năm - tức là khoảng thế kỷ thứ II trước CN. Tự anh trunglg và quí vị suy ngẫm và ứng dụng. Còn chúng tôi luôn xác định như Vusonganh nói. Ta về giữa cõi vô thường Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa Thiên Sứ 2- Mục : Tử Bình - Bát Tự - Lớp học tứ trụ .... cho mọi người : Thiên Sứ Hội viên ưu tú Nhóm:@Tổng điều hành@ Bài viết: 19.951 Gia nhập:06-Tháng tư 08 Cập nhật lúc Hôm nay, 03:09 AM Anh Rubi không nên vào lớp của anh Vu Long để làm việc đáng phiền trách như vậy. Đây là trang web học thuật. Không phải là nới để chỉ trích . Tôi xóa những bài không liên quan và sau đó xóa luôn bài này. Ta về giữa cõi vô thường Đào trong kỷ niệm tìm hương cuối mùa Thiên Sứ (Còn tiếp)
  17. Bổ di còn truyện trích tiên Có người họ Chử ở miền Khoái Châu. Ra vào nương náu hà châu, Phong trần đã trải mấy thâu cùng người. Tiên Dung gặp buổi đi chơi, Gió đưa đằng các, buồm xuôi Nhị Hà. Chử Đồng ẩn chốn bình sa Biết đâu gặp gỡ lại là túc duyên. Thừa lương nàng mới dừng thuyền , Vây màn tắm mát kề liền bên sông. Người thục nữ, kẻ tiên đồng, Tình cờ ai biết vợ chồng duyên ưa. Giận con ra thói mây mưa, Hùng Vương truyền lệnh thuyền đưa bắt về. Non sông đã trót lời thề, Hai người một phút hóa về bồng châu. Đông An ,Dạ Trạch đâu đâu, Khói hương nghi ngút truyền sau muôn đời. . . ( Trích Đại Nam quốc sử diễn ca) * Một nàng Mỵ Nương (tức Công chúa) không thích sống trong cảnh cung vàng điện ngọc, lầu son gác tía ở kinh đô mà lại thích du ngoạn để tìm hiểu đất nước. Một chàng trai nghèo đến nỗi không có một mảnh khố che thân, hàng ngày phải ngâm mình dưới nước để ăn xin. Một mối nhân duyên kỳ lạ nơi bờ lau, bãi cát. Một chiếc nón úp lên đầu gậy, qua đêm bỗng thành một tòa lâu đài. Cũng tòa lâu đài ấy, trong một đêm bỗng bay lên trời, để lại một cái đầm Nhất Dạ . . . Từ xưa, truyền thuyết Chử Đồng Tử- Tiên Dung vẫn lấp lánh trong tâm khảm chúng ta như một viên ngọc quý, với vẻ đẹp trinh nguyên buổi đầu lập quốc . . . Truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung là cái gạch nối địa lý, nối vùng đất tổ Phong Châu với vùng đồng bằng mới được khai phá này. Cái gạch nối về địa lýĐịa chỉ của Tiên Dung là kinh đô Phong Châu (Phú Thọ) . Đây là vùng trung du, hay nói theo danh từ của các nhà nghiên cứu Địa –lịch sử là miền “trước núi”, là đỉnh của tam giác châu Bắc Bộ, là điểm khởi đầu của cuộc thiên di thứ hai của dân tộc Việt (1). Quê hương của Chử Đồng Tử là thôn Chử Xá (nay thuộc xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội) là vùng trung châu thổ sông Hồng. . Nơi Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử là bãi Tự Nhiên bên sông Hồng, nay thuộc huyện Thường Tín Hà Tây- nay là Hà Nội). Nơi hai người cùng tòa lâu đài bay lên trời là đầm Nhất Dạ (Một Đêm) nay thuộc địa phận xã Dạ Trạch, Khoái Châu, Hưng Yên, là miền hạ châu thổ. Sự di chuyển của Tiên Dung- Chử Đồng Tử phản ánh sự thiên di, hay nói đúng hơn, đó chính là hình ảnh của cuộc thiên di của người Việt cổ từ thời Hùng Vương dựng nước để chiếm lĩnh dần vùng châu thổ sông Hồng. Chúng ta biết rằng việc khai phá vùng đồng bằng diễn ra muộn hơn so với vùng đồi núi trung du. Vùng đồng bằng là vùng lầy lội, chua mặn, về mùa mưa hay bị ngập nước. Đó là vùng nửa đất, nửa nước, với liên tiếp những chằm hồ, những vùng đất trũng, đi lại khó khăn. Muốn khai phá vùng đồng bằng phải cải tạo đất, đắp đê kè trị thủy, phải nắm được quy luật của lũ lụt, phải biết và lợi dụng được quy luật lên xuống của thủy triều . . . Để làm được những việc đó, cư dân phải có trình độ kiến thức nhất định. Việc khai phá vùng đồng bằng, vì vậy, diễn ra từng bước rất lâu dài, chứ không phải ngày một ngày hai. Việc khai thác này còn phụ thuộc vào tốc độ bồi lắng của phù sa lấn biển. Ngay như gần đây ( vào thế kỷ XI X),hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải ( Thái Bình) mới được khai phá bởi công lao của Nguyễn Công Trứ, ta càng thấy được bước đi lâu dài của ông cha ta trong việc mở mang , khai phá vùng đồng bằng. Truyền thuyết Chử Đồng Tử- Tiên Dung chính là hình ảnh bước đi đầu tiên trong công cuộc khai phá đó. Chử Đồng Tử- Tiên Dung đã “ mở bến chợ, lập phố xá” ( từ dùng của Lĩnh Nam chích quái), tạo lập nên một giang sơn mới ở miền châu thổ, đến nỗi vua Hùng hiểu nhầm- tưởng con gái và con rể làm phản chống lại triều đình- đã đem quân đi hỏi tội. “ Giang sơn” mà Chử Đồng Tử- Tiên Dung tạo lập ở hai bên bờ sông Hồng thuộc Châu Giang, Kim Thi, Phù Tiên ( Hưng Yên) bên tả ngạn. Thường Tín, Phú Xuyên ( Hà Tây) bên hữu ngạn. Truyền thuyết Chử Đồng Tử- Tiên Dung là cái gạch nối địa lý, nối vùng đất tổ Phong Châu với vùng đồng bằng mới được khai phá này. Gạch nối từ chế độ mẫu hệ chuyển sang chế độ phụ hệ Truyền thuyết Lạc Long Quân –Âu Cơ phản ánh thời kỳ mẫu quyền trên đất nước ta. Khi vua Hùng lên ngôi, đất nước chuyển sang thời kỳ chế độ phụ quyền. Tuy nhiên, ảnh hưởng của chế độ mẫu quyền vẫn còn rất lớn.Đó là hình ảnh của nàng Tiên Dung- con gái của vua Hùng, được tự do đi du ngoạn chơi bời khắp nước, thoát ra ngoài sự quản lý của Hùng Vương ( tượng trưng cho phụ quyền) . Tiên Dung tự chọn chồng cho mình, hoàn toàn ngoài ý muốn của vua cha. Truyền thuyết cũng cho ta thấy được quan hệ tự nhiên, hồn nhiên giữa nam nữ của người Việt cổ. Quan hệ đó được thể hiện trong cảnh Tiên Dung và Chử Đồng Tử ngẫu nhiên trần truồng gặp nhau trên bãi cát ven sông rồi thành vợ thành chồng. Quan hệ đó của người Việt cổ, ta còn gặp trong các di vật khảo cổ như trên nắp thạp đồng Đào Thịnh ( có niên đại cách nay khoảng 2.500-3.000 năm, tức cùng thời với truyền thuyết này) . Trên nắp thạp đồng Đào Thịnh có tượng bốn cặp nam nữ đang ân ái với nhau: Xin đừng nghĩ đây là khiêu dâm, bởi trong tâm thức người Việt cổ chưa có khái niệm này. Trong ý thức của người Việt cổ, nam nữ gặp nhau, hợp nhau là thành vợ thành chồng và được giải thích là do ý trời, họ không hề có ý niệm “ môn đăng hộ đối” hay sự phân biệt về địa vị khác nhau trong xã hội. Sự xung đột giữa Hùng Vương- Tiên Dung là sự xung đột giữa chế độ phụ quyền đã hình thành và chế độ mẫu quyền đang còn rơi rớt lại. Sự xung đột đó tất yếu sẽ làm tan rã chế độ mẫu quyền. Việc Chử Đồng Tử- Tiên Dung bay lên trời phản ánh kết cục nêu trên: Phụ quyền phải thắng vì đó là tất yếu của lịch sử. Truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung, vì vậy phản ánh một thời kỳ lịch sử rất dài lâu, chứ không phải một thời điểm nào đó. Chính vì thế mà có tài liệu chép chuyện này xẩy ra vào đời Hùng Vương ths 3 lại có sách chép vào đời Hùng Vương thứ 18. Thực ra,cả hai cách chép này đều không sai. Đoạn đầu của truyền thuyết xảy vào đầu thời kỳ Hùng Vương, khi ảnh hưởng của chế độ mẫu quyền còn mạnh. Còn đoạn cuối, việc Chử Đồng Tử – Tiên Dung bay lên trời lại xảy ra vào cuối thời kỳ Hùng Vương, khi chế độ phụ quyền đã được thiết lập vững chắc (đến đời An Dương Vương, chế độ phụ quyền đã hết sức vững chắc; người cha có thể giết con gái, khi người con vô tình làm hỏng việc nước). Như vậy truyền thuyết Chử Đồng Tử- Tiên Dung phản ánh cả một quá trình, chứ không phải một thời điểm cụ thể. Chúng ta có thể coi nó là cái gạch nối từ chế độ mẫu quyền qua chế độ phụ quyền. Gạch nối về giao lưu kinh tế Trong số các truyền thuyết về thời kỳ Hùng Vương dựng nước thì đây là truyền thuyết rất hiếm hoi đề cập một nghề mới mẻ trong đời sống kinh tế của cộng đồng người Việt cổ: Nghề buôn bán. Buôn bán là một nghề không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội, khi sức sản xuất đã phát triển. Có sản phẩm dư thừa thì phải có lưu thông buôn bán. Mà đã có buôn bán thì phải có vốn và lãi, tức là phải tính đến giá trị của hàng hóa. Như vậy, việc buôn bán, giá trị hàng hóa, cơ chế thị trường đã có manh nha từ thời kỳ Hùng Vương ( truyền thuyết Mai An Tiêm cũng đề cập việc trao đổi hàng hóa: An Tiêm đem dưa hấu bán đổi lấy gạo nuôi vợ con, nhưng đây là sự trao đổi tự phát chứ chưa có ý thức buôn bán làm giàu! ). Truyền thuyết Chử Đồng Tử- Tiên Dung thì lại khác. Chử Đồng Tử khi chưa lấy Tiên Dung, chỉ là một người ăn xin nghèo khổ đến mức không có nổi một cái khố. Ngày nay ở đền Dạ Trạch còn thờ một cây gậy và một chiếc nón úp trên gậy đó: Không nghi ngờ gì nữa, đây là biểu tượng của tầng lớp ăn mày. Ỏ vùng đất này ngày nay còn có tục kiêng không được úp nón lên cán cuốc dựng đứng ( gợi lên cuộc đời Chử Đồng Tử lúc còn nghèo khó, tức là nhạo báng thần! ). Truyền thuyết cũng kể rằngChử Đồng Tử- Tiên Dung được vị tiên ( hoặc nhà sư ? ) tặng cho một chiếc nón và một cây gậy có “ phép lạ” . Trên đường đi, gặp lúc đêm tối, hai vợ chồng đã dựng gậy, úp nón lên, ngồi tựa vào nhau mà nghỉ. Trong chốc lát, gậy và nón đã hóa thành tòa lâu đài. ‘’ Phép lạ” để từ gậy và nón biến thành lâu đài, ở đây không có gì khác ngoài việc buôn bán làm giàu “ một vốn mười lời”. Và sự thay đổi đó cũng không phải chỉ trong một đêm mà là cả một quá trình. Truyền thuyết còn cho biết Chử Đồng Tử còn cưỡi thuyền vượt biển đi buôn “ phương xa” mà danh từ ngày nay gọi là ngoại thương ( xét tốc độ bồi lắng phù sa của sông Hồng lấn ra biển thì lúc đó, bờ biển cách vùng này không xa mấy) . Không phải ngẫu nhiên mà những vùng chợ búa đô hội do Chử Đồng Tử- Tiên Dung tạo lập nên thì hàng ngàn năm sau này, cũng gần những địa điểm ấy lại xuất hiện một trung tâm buôn bán với nước ngoài vào loại lớn nhất nước ta vào thế kỷ 17 -18, đó là vùng Phố Hiến (Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến) . Phải chăng, vị trí đó, tiềm năng buôn bán giao lưu đó đã được manh nha từ thời kỳ Hùng Vương ?Không phải vô cớ mà truyền thuyết Chử Đồng Tử- Tiên Dung lại lấy con sông Hồng và các vùng đất hai bên làm bối cảnh. Như vậy, nếu truyền thuyết Thánh Gióng phản ánh cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm kỳ vĩ nhất trong thời kỳ Hùng Vương dựng nước và chỉ cho ta hướng chủ yếu thường có giặc xâm phạm là vùng Trâu Sơn, Lục Đầu, Phả Lại ngày nay thì truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung cho ta biết hướng mở mang bờ cõi, làm ăn buôn bán chủ yếu của người Việt cổ là tiến xuống phương Nam, dọc theo sông Hồng. Điều đó hoàn toàn phù hợp với kết quả khảo cổ học ngày nay về quá trình khai phá châu thổ sông Hồng của ông cha ta trong thời kỳ dựng nước. Truyền thuyết Chử Đồng Tử- Tiên Dung là một câu chuyện thần tiên nhưng rất hiện thực. Đó là vẻ đẹp lấp lánh của quan niệm tự do tình yêu, tự do hôn nhân; là ý chí vươn lên từ sự nghèo khổ; là sự manh nha về một nghề mới trong nền kinh tế quốc dân: nghề buôn bán. Đằng sau tất cả những cái đó là cốt lõi của một sự thật: Sự hình thành một vùng đất mới, một trung tâm định cư mới trên đất nước ta. Truyền thuyết Chử Đồng Tử- Tiên Dung , vì vậy có một vị trí đặc biệt trong kho tàng truyền thuyết của ta. Cùng với truyền thuyết Lạc Long Quân- Âu Cơ (nguồn gốc dân tộc), Sơn Tinh- Thủy Tinh (trị thủy) , Thánh Gióng (đánh giặc ngoại xâm) là những truyền thuyết cổ xưa, đẹp nhất, có giá trị nhất về thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Nghiên cứu những truyền thuyết này, “đọc” được chúng, giải mã được những ẩn ý mà cha ông đã gửi gắm, chúng ta sẽ tìm lại được diện mạo của tổ tiên, bộ mặt của đất nước ta buổi đầu lập quốc. Đó là trách nhiệm, là tình cảm, là khát vọng của chúng ta.
  18. Nhiều người cho rằng các tranh vẽ "không thuần Việt", chưa theo sát với bối cảnh lịch sử. Bộ tranh vẽ các anh hùng trong lịch sử Việt Nam được chia sẻ trên mạng cách đây không lâu đã gây ra nhiều tranh luận với hai luồng ý kiến: một bên cho rằng bộ tranh tuy chưa thực sự hoàn hảo nhưng mang nhiều tâm huyết, dày công nghiên cứu và có những sáng tạo phù hợp, thể hiện rõ khí chất dân tộc Việt Nam thời xưa; một bên cho rằng bộ tranh bị "ảnh hưởng", có nhiều sáng tạo "quá mới mẻ" và chưa thực sự "Việt Nam". Bộ tranh "Việt Nam anh hùng" khắc họa các nhân vật lịch sử có chiến tích lẫy lừng - những người đã viết nên trang sử vàng của dân tộc ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tranh được thực hiện với sự pha trộn lối vẽ truyện tranh hiện đại và digital art, mang tới hiệu ứng hình ảnh, màu sắc mới lạ và thú vị. Mặc dù vậy, có rất nhiều ý kiến cho rằng bộ tranh vẽ bị "ảnh hưởng" quá nhiều bởi các lí do như: trang phục, cách tạo hình nhân vật "không thuần Việt", một số tranh chưa theo sát với bối cảnh lịch sử... Tuy vậy, "dư luận mạng" lại không đưa ra được các dẫn chứng, lý giải cụ thể vì sao lại cho rằng bộ tranh vẽ này bị "ảnh hưởng". Cùng xem và tự mình cho cảm nhận về những bức vẽ anh hùng của dân tộc ta, bạn nhé! An Dương Vương - Thục Phán chém yêu tinh gà trắng xây thành Cổ Loa với sự trợ giúp của thần Kim Quy. Y phục của An Dương Vương phỏng tác theo hình ghi khắc trên trống đồng. Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận. Mặt trời là trống đồng dân tộc. Voi trận mang hình ảnh của "voi 9 ngà" trong huyền thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh. Y phục theo áo dài khăn đóng của Việt Nam pha cùng y phục Tây Nguyên. Lý Nam Đế - Lý Bí và Triệu Quang Phục. Y giáp được phỏng theo các tranh vẽ thường thấy của họa sĩ Việt Nam. Ngô Vương - Ngô Quyền và trận đánh đi vào lịch sử trên sông Bạch Đằng. Y giáp được dựa theo một số tranh cổ và sự tưởng tượng. Bàn tay vung ra nắm đấm với ý nói: sẽ đập tan mọi cuộc xâm lược. Đinh Tiên Hoàng - Đinh Bộ Lĩnh được biết đến với tài năng quân sự tài tình. Từ khi còn nhỏ tuổi, ông đã bày trò cưỡi trâu đánh trận. Tranh vẽ với ý tưởng đưa hình ảnh cưỡi trâu và cờ lau gắn bó với Đinh Bộ Lĩnh. Tranh cũng muốn đưa vào ý niệm thần thánh hóa những anh hùng lịch sử Việt Nam. Trần Quốc Toản tay bóp nát trái cam khi không được tham dự hội nghị quân sự cao cấp tại Bình Than. Đặng Dung dưới trăng mài gươm là một hình ảnh bi hùng trong lịch sử và thi ca (qua bài thơ Thuật Hoài nổi tiếng của ông). Hình ảnh thân thể Đặng Dung lực lưỡng tráng kiện không chỉ miêu tả ông thực vốn là người giỏi võ nghệ mà còn có ý kêu gọi người Việt Nam phải văn võ song toàn. Vua Lê Thái Tổ - Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh. Có thần Kim Quy dâng Thuận Thiên Kiếm, trên mai rùa có ký hiệu của Ngũ Hành Âm Dương: gợi ý về các khám phá hiện nay cho thấy thuyết này cũng có phần bắt nguồn từ Việt Nam. Trong tranh có hai chiếc lá với dòng chữ "Lê Lợi Vi Quân, Nguyễn Trãi Vi Thần" theo kế sách của Nguyễn Trãi. Quang Trung - Nguyễn Huệ đang tiến quân đánh phá giặc Thanh vào dịp Tết (có cành đào đất Bắc) cùng đội trống trận danh tiếng của nghĩa quân Tây Sơn. Hình ảnh Nguyễn Huệ được vẽ theo các di ảnh còn lưu lại.
  19. Sinh hạ được 7 người con, chịu bao đắng cay để nuôi nấng chúng nên người. Vậy mà, giờ đây chúng "báo hiếu" ông bà bằng những cú đấm thẳng mặt, những lời rủa sả... Đó là bi kịch của vợ chồng cụ Nguyễn Văn Quý (84 tuổi) và cụ Nguyễn Thị Chén (82 tuổi), ngụ thôn Đồng Lư, xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Tám năm bị con cái đẩy ra đường là tám cái Tết buồn của cặp vợ chồng bất hạnh. Những đứa con “trời đánh” Tìm đến thôn Đồng Lư hỏi thăm vào ngôi chùa có vợ chồng cụ già phải tá túc, mọi người đều biết chính xác: “Chắc cô chú tìm ông bà Quý hả? Tội nghiệp ông bà ấy lắm cô chú ạ, hiền lành, chịu thương chịu khó nhưng về già mất phúc. Con cái thì đông đúc, giàu có mà có đứa nào chịu nuôi bố mẹ đâu”. Rồi không kịp để khách hỏi thêm câu nào, mọi người tranh nhau kể tội mấy đứa con bất nhân của hai cụ: “Mấy hôm trước chúng nó lại vừa hành hung bố mẹ”. Chuyện buồn cặp vợ chồng già bị 7 đứa con đẩy ra ăn Tết ngoài đường cùng 6 miếng gỗ đóng quan tài Cụ bà Nguyễn Thị Chén đang cầm chổi quét sân chùa, tuổi già, mắt kém nên lẩy bẩy lia từng nhát chổi chậm chạp, cứ vài phút lại dừng tay đấm lưng. Trời Hà Nội những ngày cuối năm lạnh đến dưới 10 độ C nhưng bà cụ cho biết ông lão chồng mình từ sáng sớm đã ra đồng mò cua bắt ốc. Nghe có người muốn đến hỏi chuyện bi kịch của mình, khóe mắt nhăn nheo của bà cụ trào nước mắt: “Một đời chúng tôi vì con vì cái, nuôi nấng dựng vợ gả chồng cho chúng, không để nợ một đồng một cắc nào cho chúng. Vậy mà giờ chúng đối xử với vợ chồng tôi thế này đây”. Cách đây 60 năm, ông bà quen nhau trong một lần đi làm thuê ở miền sơn cước rồi nên duyên vợ chồng. Về sống với nhau, ông bà lập nghiệp từ đôi bàn tay trắng trong hoàn cảnh khó khăn nghèo túng. Lúc vợ chồng ra ở riêng tài sản chỉ có duy nhất 20 cây tre để dựng căn nhà làm nơi tá túc tránh mưa tránh nắng. Ông bà lần lượt sinh hạ được bảy người con, ba trai, bốn gái. Cuộc sống vốn dĩ đã khó khăn, khi bảy đứa con lần lượt chào đời thì cuộc sống càng túng quẫn hơn. Để nuôi được bảy người con thành người, ông bà đã phải chịu trăm ngàn cực nhục. Ông đi làm thuê làm mướn hùng hục suốt ngày, còn bà thì tối ngày cắm mặt trên mấy thửa ruộng kiếm miếng cơm manh áo nuôi con. Căn nhà nhỏ cũ nát đêm mưa không có chỗ nằm, ông bà nhường cho các con chỗ khô ráo, còn mình thì chịu trận giữa mưa gió. Bữa no bữa đói, nồi cơm độn sắn ngô không đủ cho đàn con đông đúc, có bữa ông bà phải nhịn ăn nhường con. Xã hội ngày càng càng phát triển, cuộc sống rồi cũng bớt khó khăn. Rồi ông bà dựng vợ gả chồng cho mấy đứa con lớn, mấy đứa nhỏ thì do cuộc sống khó khăn quá nên ông bà dắt lên vùng kinh tế mới ở Tiến Xuân thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội). Đến vùng kinh tế mới, do chịu khó làm ăn nên cuộc sống gia đình đã thoát khỏi cảnh túng quẫn. Lúc này ông bà dựng vợ gả chồng nốt cho mấy đứa nhỏ. Tuy không bằng ai nhưng ông bà vẫn cố gắng lo lắng cho con cái chu đáo, 3 người con trai thì cho mỗi anh một dinh cơ khi lấy vợ, không để nợ một xu một đồng cho đứa con nào. Khi người con trai thứ ba của ông bà lấy vợ xây nhà, đứa con xui ông bà bán đất ở vùng kinh tế mới để lấy tiền xây nhà cho mình, ông bà cũng nghe theo vì cha mẹ nào chẳng “cá đuối đắm đuối vì con”. Những bữa cơm chan nước mắt Bà cụ giơ tay gạt dòng nước mắt rồi tiếp tục câu chuyện. Sau khi dồn hết tiền làm nhà cho anh con trai thứ ba, ông bà về ở với người con trai cả khi trong tay ông bà không còn tiền. Người con cả khi đó đã hậm hực hắt hủi ông bà với lý do: “Bao nhiêu tiền cho thằng thứ ba hết, tôi không được gì”, trong khi chính anh ta thừa hưởng mảnh đất trước đó cha mẹ cho. Sống với người con cả, vợ chồng cụ phải làm như người đi ở. Hàng ngày hai cụ phải lấy bèo nuôi bảy con lợn, cày cấy gặt hái, đi làm sớm về muộn mới được miếng cơm để ăn. Đến mùa vụ, có khi cụ bà đi gặt được mấy gánh lúa thì con dâu mới ra đồng. Cực nhục là vậy nhưng với bản tính hiền lành chịu thương chịu khó, ông bà cắn răng không kêu nửa lời cho vừa lòng vợ chồng con cả. Nhưng cũng chẳng được bao lâu thì anh con cả tuyên bố thẳng thừng: “Ông bà cút khỏi nhà này, đi đâu thì đi”. Vợ chồng cụ đành lẳng lặng ôm quần áo tìm đến nhờ vả anh con trai thứ ba. Những tưởng trước đây mình đã lo lắng bán nhà đi lấy tiền cho nó xây nhà thì con sẽ tốt với mình, thế nhưng trái lại người con này cũng không kém phần tệ bạc với cha mẹ và tỏ rõ “quan điểm”: “Ông cả không tử tế với ông bà thì tôi việc gì phải tử tế?”. Ở đây, cảnh khổ không kém gì con cả khi đã không những phải làm lụng vất vả, họ còn năm lần bảy lượt bị con đuổi đi. Nhục nhã nhất là những bữa cơm chan nước mắt. Bữa ăn nào cũng vậy, người con trai bắt bố mẹ phải cung kính mời… vợ chồng con cái mình ăn cơm bằng câu: “Mời ông bà ăn cơm, mời các cháu ăn cơm”. Có những người làng xóm thấy vậy thì bực mình thay và phẫn nộ: “Ông bà hiền quá để nó bắt nạt, mình là bố mẹ đến bữa thì sao phải mời chúng nó”. Thử một lần “phạm thượng”, tối đó hai cụ không mời thì bị con trừng mắt nạt nộ: “À, cái nhà này ăn cơm không ai mời ai à”. Sợ ông “trời con”, ông bà run rẩy “trở về nếp cũ”: “Mời ông bà…”. Nhẫn nhịn bao lâu những mong yên thân nhưng “cây muốn lặng mà gió chẳng dừng”, đến một hôm gã con trai thứ ba giơ tay đấm vào mặt mẹ, vác dao kề cổ bố xua đuổi: “Bước mẹ chúng mày ra khỏi nhà, không tao cho nhát dao bây giờ” (Lời nguyên văn của cụ Chén - PV). Thấy bố mẹ lủi thủi ôm mớ quần áo rách bước đi, gã còn thẳng thừng tuyên bố: “Còn quay về đây thì đập chết”. Vẫn còn một niềm hi vọng nữa là người con trai thứ. Biết bố mẹ phải lang thang ngoài đường, anh này đón ông bà lên ở cùng nhưng cũng được vài hôm. Phải sống trong cảnh những lời nói móc máy của cô con dâu ra rả trong nhà suốt cả ngày, ông bà cảm thấy sống còn khổ hơn chết. Nước mắt lưng tròng, không còn nơi nương tựa vợ chồng cụ lang thang đây đó, đến khi không còn chỗ nào nữa đành phải vào ở nhờ nhà chùa. Tám mươi năm cuộc đời vất vả làm lụng, gia tài các cụ có trong tay là bảy đứa con bất hiếu và bất lực, sau miếng ván dùng để đóng áo quan khi chết cùng 3 bao tải đựng lá khô dùng đun nấu. Người làng thấy vậy liền thương tình người cho cái bát, người cho manh chiếu, người cho cái giường cũ để các cụ dựng thành cái “tổ ấm” cuối đời. Rơi lệ nghe những kỷ niệm buồn 3 người con trai thì vậy, những người con gái cũng không “khá khẩm” gì hơn. “Mấy đứa con gái thì một đứa lấy chồng ở Xuân Mai, một đứa lấy ở trại Bà Nhà, một đứa ở Cố Đụng (đều là những địa điểm gần nơi ông bà đang ở nhờ - PV), còn đứa út thì lấy chồng ở làng Đồng Lư này thôi”, bà lão nhẩm đếm. 3 đứa con gái của cụ theo lời kể của bà lão tội nghiệp thì kinh tế đều khá giả, chỉ có cô út lấy chồng ở làng thì nghèo “rớt mồng tơi”. Chẳng biết giàu sang cỡ nào nhưng mấy đứa con gái hàng năm không ngó ngàng tới bố mẹ, năm thì mười họa mới mua cho ông bà mấy viên thuốc, Tết nhất may ra cho được túi kẹo cái bánh. Riêng cô con út cùng làng thương cha mẹ già thì thỉnh thoảng ghé qua nhưng nghèo quá, nuôi còn chưa nổi nói gì lo cho cha mẹ già. Trở lại câu chuyện những người con trai. “Sòng phẳng” mà nói thì lúc ra nhà chùa ở, hai cụ vẫn chưa đến nỗi không còn “miếng đất cắm dùi” vì vẫn còn một sào ruộng để cấy lúa sinh nhai. Thế nhưng tài sản cuối cùng này cũng bị đứa con trai cả tranh cướp. Đã mấy lần cô út đi giúp bố mẹ già làm ruộng thì bị vợ chồng anh cả vác cuốc đuổi đánh, không cho làm hộ vì “đó là ruộng của tao, mày đừng có động vào”, Chưa hết, mấy năm trước hai cụ đến tuổi thượng thọ nên được hưởng chính sách của Nhà nước, theo quy định thì phải có sổ hộ khẩu, chính quyền mới có thể làm giấy tờ chúc mừng, làm chế độ. Vẫn đứng tên trong hộ khẩu gia đình con trai cả, ông bà lủi thủi về van vỉ con cho mượn cái sổ hộ khẩu để làm giấy tờ cũng bị đứa con từ chối thẳng thừng. Khi người cha về van vỉ: “Con cho bố mượn sổ hộ khẩu một lát, bố chỉ mang đi photocopy rồi trả ngay” thì đứa con nại ra lý do “Sổ đang ở nhà trưởng thôn”. Lóc cóc tìm đến nhà trưởng thôn thì được biết rằng con đã lừa mình, ông lão lại lộn trở lại nhịn nhục xin mượn lần nữa thì con trai – con dâu đùn đẩy nhau. Uất ức, người cha gạt nước mắt lủi thủi quay đi và thề “không bao giờ bước chân đến đây nữa”. Cũng có những lúc ông bà lão 80 này được những đứa con “đối xử tử tế” một cách bất thường. Đó là những lúc chúng cần các cụ làm “con ở”. Thằng con trai thứ ba của họ là một ví dụ, khi vợ sinh nở thì người này tới đón vợ chồng cụ vào. Đã “cảnh giác” sau nhiều lần bị lợi dụng nên cụ ông không đi vì nghĩ “nó chỉ đạo đức giả”, riêng cụ bà thương con thương cháu nên theo vào chăm sóc, giặt giũ, làm lụng “phục vụ” gia đình con. Lời ông cụ đã đúng khi đứa cháu đã cứng cáp, vợ chồng đứa con lại đuổi bà đi: “Bà đi làm lấy mà ăn, không được ở đây nữa”. Gần 10 năm nay thấy ông bà lão chui rúc trong căn lều rách, nhiều người hàng xóm khuyên: “Hai cụ đi ở nhờ đình chùa làm gì cho khổ, về làm một túp lều ở góc vườn nhà thằng con mà ở”. Phong phanh nghe thấy, đứa con ngang ngược nói bóng gió: “Về tao không cho làm, tao “băm” chết”. Với những “kinh nghiệm xương máu” từ những đứa con, bà cụ thành thật: “Chẳng biết rồi khi chúng tôi chết chúng có để ý đến bố mẹ không, hay lại phải nhờ cậy đến chính quyền, đến dân trong làng”. Những đứa con trai chưa từng một lần đến xem túp lều nơi cha mẹ trú thân, chưa từng một lần ngó ngàng để ý bố mẹ còn sống hay chết. Táng tận lương tâm hơn, chúng còn cấm tiệt các con không được chào hỏi, không được ra chơi với ông bà. Những đứa con dâu “rách giời rơi xuống” thì đã đành, nhưng những đứa cháu có lẽ đã được bố mẹ “huấn luyện” nên có gặp ông bà hay cô út ngoài đường chúng cũng “bơ” đi như người dưng nước lã. Một luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội cho biết, trong vụ việc này cơ quan công an thậm chí có thể khởi tố những đối tượng là con của ông bà về tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng. Theo Bộ luật Hình Sự, người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng nuôi dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật; mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng; hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 2 tháng đến 1 năm. Chúng tôi hỏi tại sao hai cụ không nhờ chính quyền địa phương can thiệp sự việc, ít nhất nếu con cái không nuôi cha mẹ thì cũng phải trả các cụ mảnh ruộng cho các cụ kiếm gạo chứ? Cụ bà nghẹn ngào: “Chính quyền cũng không làm gì được mấy thằng con tôi. Ở đây chúng nó chửi nhau hết với họ hàng rồi đến hàng xóm, sống một mình mà không chơi với ai cả”. Chị út khi đó vừa đến thăm mẹ cũng gục đầu nức nở: “Trước kia khi anh tôi kề dao vào cổ bố dọa chém, chính quyền và dân quân có đến bắt anh ta viết giấy cam đoan không được hành hung bố mẹ nữa nhưng chỉ hôm trước hôm sau lại đâu vào đấy. Tôi thì cũng đau lòng lắm nhưng “lực bất tòng tâm” các anh chị ạ, muốn nuôi bố mẹ mà sức không nổi vì nghèo, lại lấy chồng nên phải lo nhà chồng”. Sống khổ hơn chết Góc nhà nơi ông bà lão “trời đày” này trú ngụ rộng khoảng dăm m2, chiếc giường xin được ở đâu nên hai chân còn, hai chân phải lấy gạch kê lên. Người già đã khó ngủ, đêm mùa đông càng khó ngủ hơn khi gió cứ len lỏi qua cửa sổ thốc vào nhà dù hai cụ đã cẩn thận nhét đầy ni long, giẻ rách vào các khe hở. “Nghĩ cực lắm, chúng tôi có làm gì nên tội đâu mà lại bị đày đọa thế này. Nhưng vợ chồng tôi cũng kiên gan lắm đấy, nhiều khi cũng muốn phát điên hay cắn lưỡi mà chết, nhưng bây giờ mà chết thì chính quyền với làng xóm lại khổ nên sống được ngày nào cứ cố sống. Đêm nào cũng nước mắt chảy xuôi, cụ Chén nói. Đọc đến đây, nhiều người sẽ thắc mắc ông bà lão sinh sống bằng gì. Bà cụ cho biết ngoài việc ông lão ngày ngày đi mò cua bắt ốc, người trong làng còn mỗi người giúp một chút, hôm thì cho lon gạo, hôm thì cho ít muối, mà người già ăn ít, chẳng có nhu cầu mua sắm gì nên ông bà vẫn cầm cự được. “Năm nay là cái Tết thứ tám vợ chồng tôi ở đây rồi, Tết nhất chẳng có gì, cứ nhìn nhà người ta con cái sum vầy thì mình lại khóc. Mình có đến bảy đứa con, hàng chục đứa cháu mà lại khốn khổ khốn nạn nhất cái làng này”, cụ Chén khóc. Rồi cụ bà ngóng ra ngoài xem cụ ông đã về đi mò cua bắt ốc về chưa, chép miệng thương chồng: “Khổ thân ông ấy, tôi thì ốm đau nên mọi việc đều phải ông ấy làm. Sáng nay tôi bảo trời vẫn rét lắm, đừng đi ra đồng lặn lội nữa mà ông ấy vẫn gạt đi, bảo là Tết đến nơi rồi phải kiếm mớ ốc con tép bán kiếm tiền mua nén nhang cúng tổ tiên. Trời rét thế này tôm tép cũng trốn sạch, có khi mình còn chết rét ấy chứ”. Cụ bà kể lại cụ ông ngày may mắn thì cũng kiếm được vài con ốc bán lấy dăm ngàn, có ngày đi từ sáng đến tối mới về mà tay không vì “tay đưa thìa cháo lên miệng còn run, mắt kèm nhèm thì làm sao bắt được tôm tép. Có ngày bắt được nửa giỏ ốc về nhưng đổ ra tôi mới thấy quá nửa toàn là… vỏ ốc. Những ngày không có gì ăn hay gần hết cái ăn, hai cụ phải nấu cháo húp dằn lòng, hoặc cố đi nhặt nhạnh rau dại ăn trừ bữa. Chùa cũng không có nước, hàng ngày cụ ông lọc cọc kéo xe bò từ giếng làng về để dùng sinh hoạt. Ấy là mấy hôm trước ông lão vừa đi viện về, vậy mà vừa xuất viện hôm trước hôm sau lại đã lọ mọ ra đồng tìm cái ăn. Nhắc đến chuyện này, bà cụ lại rưng rưng nước mắt nhớ “bạn”. “Bạn” của bà là một con chó gầy giơ xương, tám năm nay lủi thủi quanh quẩn cùng ông bà, lúc ông đi kiếm ăn thì bầu bạn với bà, cho bà vỗ về. Vậy nhưng hôm ông lão ốm, nhà làm gì có đồng nào xu nào nên bà chạy nháo nhác khắp làng hết vay rồi xin cũng chỉ được vài chục ngàn. Bà lão đành gọi lái chó đến bán “bạn” mình đi. Bà vỗ về “bạn” trước khi người lái chó thòng dây vào cổ con chó ốm: “mày thông cảm, hoặc là chồng tao chết, hoặc là mày chết. Thôi “mày” đi thay ông ấy”. Không rõ con chó lẽ cũng hiểu tình cảm của bà lão, hay vì đói quá nên chẳng còn sức ăng ẳng kêu như những con chó khác khi bị bán, chỉ mắt long lanh nước nhìn bà chủ ngoảnh mặt đi. Trong cuộc đời này không nỗi buồn nào buồn bằng nỗi buồn con bất hiếu – cha mẹ bị hắt hủi. Ai cũng có mẹ có cha nên chạnh lòng trước thảm cảnh của hai cụ, chúng tôi cũng muốn khóc nhưng phải cố dằn lòng vì khóc không giúp được gì cho hai cuộc đời khổ sở cùng cực này, chỉ mong thông qua mặt báo chuyển tải đến hàng triệu bạn đọc trên cả nước lời khẩn cầu có một sự đóng góp nhỏ giúp đỡ hai cuộc đời này. Lẩn thẩn nghĩ lại thấy hai cụ ngày xưa đã nghèo, nay còn nghèo hơn nữa: 60 năm trước khi lấy nhau các cụ còn có mơ ước về những đứa con là “của để dành” và 20 cây tre làm nhà; nay cuối đời các cụ còn gì ngoài sự thất vọng về đạo lý làm người và 6 miếng gỗ mới chỉ đủ làm một chiếc áo quan, lại động chạm đến nỗi áy náy của bà cụ: “Hai người chết chung thì còn chôn một hòm được, nếu không chết cùng nhau thì chẳng lẽ một người lại… bó chiếu?”… Người Việt Nam vốn coi trọng các giá trị đạo đức truyền thống, coi các chuẩn bực đạo đức là thước đo nhân cách con người. Trong đó mối quan hệ trong gia đình đặc biệt được đề cao, bởi vì đó là nguồn gốc, rường cột là nền tảng cho các mối quan hệ khác. Trong quan hệ gia đình thì chữ hiếu lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Người Việt rất coi trọng đạo hiếu, vậy nên những bậc đại hiếu, chí hiếu trong thiên hạ đều rất được đề cao, coi trọng, được người đời ca tụng, là tấm gương cho đời sau. Ngược lại những kẻ làm con mà bất hiếu, bị xã hội chê trách, bị người đời lên án, và sẽ phải nhận một hậu quả tất yếu. Đạo hiếu không kể đó là người sang hay kẻ hèn, người ở địa vị xã hội cao hay thấp mà cốt ở sự thể hiện lòng hiếu thảo cua mình mà thôi. Trong lịch sử, trong dân gian hay trong văn học đều có rất nhiều những tấm gương như thế. Phúc Nguyên Mọi sự giúp đỡ xin gửi về: 1. 1. Ông Nguyễn Văn Quý và bà Nguyễn Thị Chén: thôn Đồng Lư, xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai (Hà Nội). 2. Hoặc gửi về Quỹ Tấm Lòng Việt Nam - Báo điện tử Giáo dục Việt Nam - Địa chỉ: số 147 Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội - Tel: 04.6261.0666 – 04.6261.0888 3. Qua Ngân hàng: - Tên Tài khoản: Báo điện tử Giáo dục Việt Nam - Tài khoản số: 1507201058249 tại Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, chi nhánh Cầu Giấy - Email: tamlongvietnam@giaoduc.net.vn Lưu ý: - Khi chuyển tiền ủng hộ cho một hoàn cảnh cụ thể, đề nghị Bạn đọc ghi rõ tên hoàn cảnh hoặc Mã số của hoàn cảnh. Pháp luật & Thời đại ===================== Xã hội có loại người không bằng cầm thú vầy sao?
  20. Artemisia ủng hộ 200.000 VNĐ cho trường hợp này. Tiền sẽ chuyển cho anh BW :). P/s: Các anh/chị/em/cô/chú hãy chia sẻ link topic này để nhận được nhiều sự ủng hộ từ bạn bè người quan tâm hơn nhé :).
  21. Chào các anh chị em cô chú trong diễn đàn, Đề tài này cũng cũ mèm cũ rích, không biết đã dụng hết bao nhiêu bút mực, mài giữa móng tay trên keyboard rồi. Nhưng sự tình đã nói đi thì lại phải nói lại. Hôm trước, ở công ty có một bạn trai làm việc cùng phòng. Trai sinh năm 86, quen gái cũng sinh năm 86, cả 2 cầm tinh con Hổ. Hai trẻ nghe bàn dân thiên hạ kháo nhau, trai gái cùng tuổi "cưới không cần nghĩ" mới yên tâm dắt nhau về chào cha mẹ đôi bên. Đến lúc này lại phát sinh ra sự tình. Bà nội của trai nhất quyết không chịu tác thành cho đôi trẻ với lý do "Gái không hợp tuổi". Theo ý nghĩ chủ quan cá nhân thì quá nửa nguyên nhân là không muốn rước con hổ cái về làm dâu trong nhà nên mới vẽ ra là "không hợp tuổi". Hồi trước ở tivi cũng chiếu qua phim về con gái tuổi Dần. . Nhìn qua nhìn lại, dù nhân vô thập toàn, nhưng gái trai tuổi Dần bao giờ cũng có cái ngạo khí riêng của nó. Nếu không muốn nói, gái tuổi Dần rất nhiều cô xinh đẹp, giỏi dang. Nhưng cái tiếng đã ám vào thân "gái tuổi Dần cao số", Nhìn lại bản thân mình cũng tuổi Dần Có lẽ nào cũng ướm vào mình không? :">
  22. Sợ cưới Dần về "ăn thịt cả nhà" đó anh ơi :))
  23. Cứ được mấy hôm, thấy sếp lại lật đật chạy vào bệnh viện với tin khi thì vợ ốm, khi thì con cấp cứu cũng không để ý nghĩ ngợi gì. Một ngày cuối tuần, nhận được mail sếp cả đám trực chỉ kéo đến nhà sếp ăn chơi. Đi từ Phạm Ngũ Lão vào một hẻm nhỏ, đang dáo dác ngó lơ tìm số nhà của sếp thì thấy đầu bù xù của ổng ló ra gọi. Lúc này mới nhìn kỹ thì hỡi ôi căn nhà ổng trống huơ trống hoắc, từ ngoài đường nhìn xuyên thấy vào trong. Ở góc chữ V của con hẻm cũng là cổng vào. Cánh cổng sắt cũng khá mới, sơn màu trắng, mấy thanh sắt ngang dọc tạo thành cái cửa nhìn cũng khá kiên cố. Bước qua khỏi cổng, nhìn vào trong nhà, thẳng trước mắt là kệ bếp, kế là tủ lạnh. Kế tới lại là bồn nước rửa chén, rồi tới bếp. Căn phòng bố trí theo không gian mở hết khu bếp thì có một gian phòng nhỏ bên cạnh dùng làm nhà Vệ sinh. Chậc lưỡi bảo "chả trách vợ con anh hay bệnh". "Ở nhà này hao tài tốn của, con nít thì hay quấy nhiễu khóc rối. Hay bị bệnh vặt ..." Thấy sếp có vẻ không tin. Cái gì mà phong thủy, cái gì mà phương hướng, cái gì mà hung quang, cát vị, cái gì mà phạm hung ... Lại chậc lưỡi, muốn nói nữa lại thôi. Lẳng lặng ăn xong đi về ...
  24. "DỊ NHÂN" GIEO QUẺ NĂM TÂN MÃO 2011 Gặp lại "Dị nhân đuổi mưa": Thiên hạ nói thế nào thì nói! Báo Gia Đình Xã Hội. Năm 2011, "dị nhân" Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Giám đốc Trung Tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương (Hội nghiên cứu phát triển Khoa học Việt Nam - Đông Nam Á) nổi đình đám với tuyên bố sẽ "đuổi mưa" suốt 10 ngày diễn ra Đại lễ Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Một ngày cuối năm, ông đã tâm sự với chúng tôi về chuyện này và tiếp tục đưa ra những dự báo trong năm 2011. Dự báo của "dị nhân" này chính xác bao nhiêu phần trăm, mời độc giả cùng chờ đợi và chiêm nghiệm ... Tôi không thanh minh Cho đến bây giờ, ông có khẳng định mình thành công trong chuyện "đuổi mưa" không? - Nếu tôi cho rằng mình thành công thì người ta sẽ cho tôi là vỗ ngực kiêu ngạo. Đối với tôi, đây là việc vẫn thường làm và không có gì đáng quan tâm lắm. Về câu hỏi này, quý vị có thể xem những bài báo sau lễ hội, trong đó có bài viết của tác giả Phan Chí Thắng trên Tuần Vietnamnet ngày 17/10/2010 với bài báo "Nếu yêu và hiểu vẫn thấy Hà Nội đẹp", đã nhận xét: Thời tiết đẹp đến nỗi có nhiều người nghi ngờ Nhà nước chi mấy tỉ USD đuổi mưa không dám công bố cho dân biết. "Kỳ lạ thời tiết suốt 10 ngày đại lễ đẹp như đặt hàng, không nắng không mưa, gió thổi vừa tầm để những lá cờ bay phần phật". Mọi người đều biết rằng tôi đã dự báo xác định việc này trước 2 tháng, cụ thể được lưu lại trong mục: Lý Học Đông Phương/Diễn đàn/Trao đổi học thuật/Lạc Việt Độn Toán/Dùng Lạc Việt độn toán dự báo thời tiết trong dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long. Trong diễn đàn, ngày 11/08/2010, tôi đã dự báo và xác định chuyện này. Bằng chứng là sang ngày thứ 11 - sau Đại lễ 1 ngày, mưa tràn ngập khắp Hà Nội. Trận mưa này chỉ cần sớm trước 8 tiếng đồng hồ thì chương trình pháo hoa nghệ thuật ở Mỹ Đình đã không thễ diễn ra. Tất nhiên, khi mọi chuyện chưa diễn ra, nhiều người cho rằng tôi quá lời, tự đánh bóng tên tuổi. Nhưng thực tế đã xác định tôi đúng. Còn nguyên nhân nào thì không dễ dàng giải thích. Có người cho ràng ông ăn may!!! - Không thể có chuyện gặp may như vậy. Nếu cho rằng tôi ăn may thì không thể ăn may trong suốt 10 ngày Đại lễ. Có những chi tiết tôi đã nói từ trước như các khu vực lân cận có thể có mưa, song khu vực diễn ra đại lễ thì không. Không thể nào có xác suất may đến vậy. Xác suất một phần triệu có người gặp may là trúng số độc đắc. Nhưng để có một trận mưa hay không mưa ở Hà Nội thì xác suất của nó phải là một phần nghìn tỷ. Vì nó có rất nhiều yếu tố tương tác trong suốt 10 ngày như vậy. Tôi không thanh minh và tùy thiên hạ nói thế nào thì nói, chỉ biết là kết quả của tôi là như vậy. Nếu bảo gặp may thì tôi cũng chịu. Nếu cho là trời thương, trời chiều lòng người chắc trời chỉ thương riêng Hà Nội trong đúng 10 ngày Đại lễ và thương tôi vì đã phát biểu như vậy?!!! Có người đặt câu hỏi vậy sao có những trận mưa bão gây ngập lụt mà ông không dùng khả năng để đẩy đi? - Trên thực tế, khả năng con người là có giới hạn. Không phải tất cả mọi chuyện con người muốn làm gì thì làm. Khả năng tuyệt đối đó là của Thượng Đế - nếu có thể dùng hình tượng của ngài - chứ không phải của tôi. Nhưng vì mọi người cứ nghĩ rằng, nếu đã làm được cái này thì sẽ làm được cái kia. Đứng trước một vấn đề mang tính Đại lễ của dân tộc, tôi cố gắng để làm được một cái gì đó. Tự nhiên là sức mạnh không thể can thiệp, mà chỉ có thể chuyển hóa. Chính tôi đã viết cuốn sách "Định mệnh có thật hay không". Quy luật của tự nhiên chỉ có thể tác động ở một mức độ nào đó thôi. Con người không thể thay Thượng Đế để điều hành được tự nhiên, nếu làm được điều đó, người ta đã thay đổi được định mệnh. Con người có thể thay đổi được định lượng ở mức độ nào đó, chứ không thể thay đổi định tính. Năm của Thiên tai (?) Xin ông cho biết dự báo chung của mình về năm Tân Mão 2011? - Trước tiên, tôi sẽ có đôi nét dự báo mang tính tổng thể về thế giới. Nếu năm 2010 của thế giới là năm thiên tai, lũ lụt với những hiện tượng nhân họa thì năm 2011, những vấn đề này sẽ tăng nặng hơn. Lý do là theo phương pháp luận của Lạc Việt độn toán (phương pháp dự báo thuộc công trình nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Lý học đông phương đã sự dụng để dự báo cho năm 2008, 2009, 2010 - PV) phối hợp với tri thực thiên văn cổ Đông phương thì sao Thái Tuế chiếu phương nào thì phương đó gặp biến động nhiều nhất. Năm nay sao Thái Thuế chiếu phương Đông, mà trục Đông-Tây là trục tuyệt mang - rất xấu (Theo lý học cổ điển có nguồn gốc từ Trung Hoa hoặc lý học được phục hồi từ Lạc Việt đều thống nhất quan điểm này). Cùng đó, năm nay theo Huyền Không Lạc Việt thì cặp sao Ngũ Hoàng, Nhị Hắc cũng nằm ở hai vị trí Đông Tay này. Chỉ riêng hai cặp sao này đã rất xấu lại cộng thêm các yếu tố nói trên thì năm nay, thế giới gặp rất nhiều thiên tai (động đất, lũ lụt, hạn hán, mưa bão, cháy nổ ..). Nếu năm ngoài, tôi dự báo bệnh dịnh phát sinh cục bộ không mang tính đại dịch thì năm nay, khả năng có thể xảy ra đại dịch toàn câu, các bệnh liên quan đến hô hấp, tiêu hóa. Đôi nét về tình hình kinh tế - xã hội của thế giới, ông sẽ nói gì? - Nền kinh tế thế giới sẽ bế tắc trong việc giải quyết hậu khủng hoảng. Người ta không tìm được tiếng nói chung để giải quyết hậu khủng hoảng này và nó sẽ ngày càng tăng nặng. Năm 2008 xảy ra khủng hoảng kinh tế thế giới, năm 2009 có đỡ hơn chút những là do người ta đã lấy tiền của tích lũy để ăn. Tích lũy đó đã giảm mà vẫn chưa tìm được giải pháp nào hữu hiệu. Năm 2011 sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế lần 2 với tính chất là căn bệnh tái phát trở lại, nguy cơ nặng hơn. Nguồn dự trữ cạn kiệt mà chưa có giải pháp, khủng hoảng này sẽ lan rộng và ảnh hưởng đến đời sống của dân chúng. Trước đây tôi đã dự báo, cuộc khủng hoảng 2008 kéo dài sang 2009 ảnh hưởng lớn ở thượng tần, là “cú choáng” ở phía trên thì nay nó đã là cú choáng ở phía dưới, ảnh hưởng đến dân chúng. Từ kinh tế bất ổn, mâu thuẩn xã hội nảy sinh tăng nặng, sẽ xuất hiện nhiều cuộc biểu tình trên thế giới. “Di bất biến, ứng vạn biến” Trong bối cảnh đó, dự báo của ông về vấn đề kinh tế của Việt Nam sẽ như thế nào? - Đối với Việt Nam, chúng ta phải rất bình tĩnh, có bản lĩnh, “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Năm 2011 theo phương pháp của Lạc Việt độn toán, quẻ chủ cho năm 2011 này là Thương Lưu Niên, kết hợp với Đỗ Tốc Hỷ. Bức tranh về nền kinh tế - xã hội Việt Nam là cuối một quẻ xấu, đầu một quẻ tốt. Từ cuối mùa xuân, bắt đầu sang mùa hạ, nền kinh tế có chuyển biến tốt. Hậu quả của các vấn đề như Vinashin có thể nhiều người nhìn cảm thấy bế tắc nhưng thực tế giải quyết được, sẽ xuất hiện nhiều giải pháp tốt nhất. An sinh xã hội của ta mới dừng ở mức độ xóa đói giảm nghèo, song Việt Nam sẽ có nhiều cải cách xã hội lớn, tương đối toàn diện. Về văn hóa, xã hội sẽ có những vấn đề gì? - Về mặt xã hội sẽ có nhiều tranh luận, phản biện xã hội song không gay gắt. Các nội dung liên quan đến tội phạm (các vụ vi phạm pháp luật) sẽ giảm đi nhiều. Vấn đề giáo dục vẫn là vấn đề lớn đặt ra, nhưng chưa giải quyết rốt ráo được. Nếu có những tư tưởng mạnh mẽ và táo bạo sẽ khắc phục được. Vấn đề bạo hành trẻ em chỉ là vấn đề mang tính chất hiện tượng, việc đáng lưu ý là các vụ xì căng đan liên quan đến những chuyện quan hệ thầy –trò. Đây là vấn đề đáng báo động, vì nó không đơn giản chỉ là quan hệ tình cảm, thân xác mà sẽ gây sụp đổ niềm tin với người thầy, ảnh hưởng lớn đến giáo dục. Người đầu tư nên biết điểm dừng Các kênh đầu tư vàng, chứng khoán trong năm nay sẽ như thế nào, ông có lời khuyên gì cho các nhà đầu tư? - Quẻ Khai Đại An có ảnh hưởng của Kinh Vô Vong: Đồng tiền có thể bị giảm giá, có sự lạm phát, nhưng không nguy hiểm, trong tầm kiểm soát. Xăng dầu ổn định, vàng có khả năng tăng giá, biến động bất thường, biên độ giao động rất lớn. Thời gian qua, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới là do sự toan tính của các nhóm quốc gia và các nhóm lợi ích vì quyền lợi của mình đã gây biến động giá, “quá đà” dẫn tới sự khủng hoảng này. Thời gian tới, để ngăn chặn thì phải “đón” được âm mưu quốc tế, tuy nhiên đây là điều rất khó vì đây là cuộc chơi của các “ông lớn”, các “đại gia”. Về chứng khoán, là quẻ Sinh Tốc Hỷ - biên độ lên xuống có khoảng cách rất lớn. Vì Sinh thuộc Mộc – lại mới mọc lên cho nên không đủ sức sinh ra “Tốc Hỷ” (Hỏa). Do đó, chứng khoán sẽ như ngọn lửa rơm, bùng phát mang tính giai đoạn. Đến cuối năm mới có xu hướng phục hồi đi lên. Còn bất động sản thì sao, thưa ông? Bất động sản nằm trong quẻ tốt nên năm nay có giải quyết được vấn đề nhà ở cho dân nghèo. Thị trường sẽ xuất hiện nhiều đại gia buôn bán bất động sản hạ giá, bán giá hợp lý để rút vốn ra. Sẽ không có đất cho kẻ “ăn dày”, “làm giá” dụng võ. Do đó, những người đầu cơ để buôn đi bán lại nếu không biết điểm dừng và không nhanh chân “rút ra” sẽ bị “chết nặng”. Ông có dự báo gì cho thời tiết, dịch bệnh? Cùng với thế giới, năm nay chúng ta sẽ gặp nhiều thiên tai, mức độ tăng nặng hơn năm trước. Nên hạn chế tác động, sống hòa nhập với thiên nhiên. Tránh các công trình nhân tạo gây ảnh hưởng nhiều tới thiên nhiên. Về dịch bệnh, đây là quẻ Hưu Lưu Niên, sẽ xuất hiện các hiện tượng lạ hoặc khó chữa. Cần lưu ý nhất là vào mùa mưa bão và nắng nhiệt. Lưu ý từ tháng 6 âm lịch sẽ phải đối phó với các dịch bệnh. Nên đề phòng hạn hán, những cây gỗ (café,…) có thể mất mùa, những cây thân mềm ít bị ảnh hưởng. Tai nạn về chăn nuôi, thú bốn chân và cá rất lớn (do cả thời tiết và yếu tố con người). Xin cảm ơn ông. Hà Thư (Theo: Gia Đình & Xã Hội Cuối Tháng Số 1 - 2011)
  25. Artemisia post lại bài này làm tư liệu cho các anh/chị có thể sẽ quan tâm :rolleyes: ============== Dị nhân đuổi mưa: Sẽ "tắt điện", lộ nguyên hình? GiadinhNet - Có được số điện thoại nhà riêng của Nguyễn Vũ Tuấn Anh, phóng viên GĐ&XH đã gặp trực tiếp được ông. Chỉ 1 ngày sau khi một tờ báo mạng đăng bài viết "Dị nhân thề đuổi mưa suốt 7 ngày Đại lễ", ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu lý học Đông phương - nhân vật chính đã thực sự gây rúng động giới khoa học và độc giả với nhiều cái nhìn, quan điểm trái chiều. GĐ&XH xin cung cấp một số thông tin để độc giả tham khảo và có một cái nhìn khách quan hơn về vấn đề này. Theo ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh, ông là một nhà nghiên cứu trên cơ sở khoa học nghiêm túc chứ không phải là một "dị nhân". Sẽ "tắt điện", lộ nguyên hình? Những ngày qua, giới truyền thông rùm beng chuyện một “dị nhân” thề đuổi mưa, ngăn bão trong dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long. Ngay sau khi một tờ báo điện tử đăng tin ông Tuấn Anh (bút danh Thiên Sứ) tuyên bố có thể "ngăn mưa" trong dịp 7 ngày diễn ra Đại lễ, nhà nghiên cứu lập tức nhận được vô vàn ý kiến. Phần lớn trong đó là sự phản hồi rất gay gắt, cho rằng đó là sự hoang tưởng, một hình thức PR đánh bóng tên tuổi. Theo một tờ báo điện tử, ông bị các nhà khoa học "đánh tơi tả", các chuyên gia khí tượng thủy văn "mổ" vì "phát ngôn gây sốc" quá ngạo mạn, hoang đường. Để minh chứng rằng tuyên bố kia đầy màu sắc hoang tưởng, các nhà khoa học đã vận dụng rất nhiều lý lẽ và không tiếc lời đả phá ông. "Tôi không tin một cá nhân có thể làm được. Cùng lắm họ chỉ biết được có nắng có mưa nhưng ngay cả việc dự báo này cũng không phải lúc nào cũng làm được" - ông Nguyễn Phúc Giác Hải, Chủ nhiệm bộ môn Thông tin dự báo, Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người nói. Theo chuyên gia phong thủy Nguyễn Tuấn Kiệt, Công ty Cổ phần Phong thủy Việt Nam thì "xét trên hai phương diện khoa học và tâm linh thì quan điểm ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh đưa ra có phần chủ quan và ngạo mạn. Lời cam kết của ông Tuấn Anh theo tôi cần phải xem xét lại và hoàn toàn không đáng tin cậy". GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ - nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn đặt ra sự nghi ngờ: "Nếu cho rằng ý thức con người quyết định được cơn bão, mưa hay nắng thì sao lại không "đuổi" được mấy cơn bão vừa rồi đi để cứu Việt Nam? Hay sao không "phá" trận mưa lớn tại Hà Nội ngày 13/7 vừa rồi?". Còn TS Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng UIA nói thẳng: "Chẳng cần biện pháp cao siêu gì, tôi chỉ cần sử dụng đúng chiêu đã thử nghiệm và lật mặt các nhà ngoại cảm rởm như đã nêu trong loạt bài đã đăng tải, là ông Tuấn Anh sẽ "tắt điện", lộ nguyên hình nếu ông ấy không có khả năng thực sự". Và biện pháp mà theo ông Khanh sẽ "lật mặt" được khả năng của Thiên Sứ là một yêu cầu rất nhỏ: Đợi lúc trời mưa, ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh ra đứng dưới mưa. Ông Tuấn Anh sẽ vận công, phát lực sao đó để đuổi mưa trong diện tích 1m² - ngay chỗ ông đứng. Theo đó, "nếu ông Tuấn Anh đuổi được mưa trong diện tích 1m² để ông không ướt, thì tôi đã thấy ông ấy quá siêu phàm, chứ chưa cần ông phải đuổi mưa trên diện tích hàng tỉ m2 cho cả Hà Nội trong 7 ngày" và ông Khanh cam đoan đến 95% là "ông ấy không dám gặp tôi để làm thử nghiệm này". Ý kiến trái chiều Bị các nhà khoa học "đánh tơi tả", nhiều độc giả cũng cho là hoang đường song tuyên ngôn của ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh cũng được khá nhiều người ủng hộ. Người đầu tiên nói về vấn đề này là Giáo sư, Viện sĩ Đào Vọng Đức - nguyên Viện trưởng Viện Vật lý, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người. Theo ông, cá nhân con người có thể làm ảnh hưởng tới tự nhiên, việc nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh tuyên bố có thể "ngăn mưa, bão" trong vòng 7 ngày dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội là có cơ sở. "Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã từng có những dự đoán rất đúng và rất hiệu quả. Không chỉ Tuấn Anh mà tôi biết có những người khác cũng có khả năng tiên đoán này. Đây là những phương pháp mang yếu tố tâm linh mà khoa học cũng không thể lý giải. Nhưng tôi tin là có những cá nhân có thể thực hiện được việc này", ông nói. Tiếp đó là ông Phan Thanh Hiền - Chủ nhiệm CLB Thiên văn Bách khoa - cho hay từ xưa con người đã từng lập đàn cầu mưa để bảo vệ mùa màng và ngăn ngừa hạn hán. Tuy nhiên chưa có cơ sở khoa học để khẳng định việc này có tác động đến thời tiết, song ông cũng cho rằng "Việc ngăn mưa là có thể làm được. Nhưng phải đầu tư nguồn vốn tương đối lớn và quan trọng hơn là phải có đánh giá cụ thể về tác động đến môi trường". Một lực lượng đông đảo trong số người ủng hộ quan điểm của Thiên Sứ là các "đệ tử" của ông trên trang web lyhocdongphuong.org. vn. Trước những chê bai, búa rìu dư luận chĩa vào sư phụ của mình, đa số họ đều bày tỏ sự ủng hộ hết lòng vì theo họ nói đã từng biết về cảm ứng ngăn mưa của ông. Bên cạnh đó, họ còn phân tích và phản bác lại các luận điểm của một số nhà khoa học là vội vàng, không đúng và mâu thuẫn. "Có vội vàng quá không khi những bình luận gia đã bức xúc dùng những lời lẽ thách thức chỉ trích nặng nề đến như vậy? Kết quả của lời tiên đoán này còn ở phía trước kia mà! Thời nay đang có quá nhiều hiện tượng mà các nhà khoa học dần công nhận và tìm cách giải mã" - thành viên với nickname Wildlavender viết. Ông Tuấn Anh khẳng định là không "thề ngăn mưa, đuổi mây" như một tờ báo đã nói. Vì đại lễ của dân tộc chứ không PR Gần 1 tuần ầm ĩ trên các trang web, báo mạng, có thông tin đưa ra là sau khi tuyên bố "ngăn mưa" và bị dư luận phản bác, "dị nhân ngăn mưa" đột nhiên biến mất. Các cuộc gọi đến di động của ông đều chỉ nghe thấy "tò te tí". Có được số điện thoại nhà riêng của ông, phóng viên GĐ&XH đã gặp trực tiếp được ông. Ông cho biết vì bây giờ mọi người mới hay gọi cho ông nên mới biết, chứ việc ông tắt điện thoại thường xuyên từ nhiều năm nay rồi. Đó là do ông quá bận, công việc cần tập trung cao độ và có quá nhiều cuộc gọi không thể lúc nào cũng trả lời được. Lý giải cho việc không có ý định “đánh bóng” tên tuổi cũng như tuyên bố việc "ngăn mưa" này, ông Tuấn Anh cho biết nguồn cơn được đưa lên phương tiện thông tin đại chúng gây xôn xao dư luận là rất tình cờ. Ông nói: "Thời tiết trong lễ hội 1.000 năm Thăng Long là một vấn đề nổi cộm, được nhiều người quan tâm. Tôi đã đưa vấn đề này trên trang web của mình và đề nghị bộ môn "Lạc Việt độn toán" dự đoán xem như thế nào". Trước thông tin cần 1 tỷ USD để bắn mây chặn mưa, một thành viên trên diễn đàn đã nhận xét là quá tốn kém và cho rằng, nếu đưa 100.000 USD về Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương sẽ nghiên cứu để ngăn mưa được”. Theo ông Tuấn Anh, việc đề nghị của thành viên này tất nhiên là do họ tin vào khả năng của ông - dù khả năng này đang ở tình trạng thí nghiệm đã ứng dụng nhiều lần nhưng chưa từng công bố mặc dù có những kết quả không phải là ngẫu nhiên. "Đây không phải là dịp để tôi công bố việc này, chỉ là việc nội bộ trên mạng, tôi khẳng định 100.000 USD thì rẻ quá, phải 7 tỉ. Thông tin đó được 1 phóng viên "chớp" lấy và hỏi tôi có đúng không, tôi đã trả lời là đúng. Trong cuộc trò chuyện thoải mái, cô ấy hỏi tôi có khả năng ngăn mưa không, tôi nói cái đó chúng tôi đang nghiên cứu và đã thực hiện nhiều lần rồi" - ông Tuấn Anh kể. Ông cho hay, mình là một nhà nghiên cứu trên cơ sở khoa học nghiêm túc chứ không phải là một "dị nhân". "Tôi cũng khẳng định là tôi không "thề ngăn mưa, đuổi mây" như tờ báo đó nói. Khi được hỏi nếu có mưa thì ông có thể ngăn mưa không, tôi đã từng nói trên diễn đàn nên tôi đã khẳng định điều mình nói là có và bằng phương pháp nghiên cứu của mình tôi có thể làm được - ngăn chặn từ lúc nó chưa xảy ra”. Tôi không làm để tranh khôn, tranh giỏi với ai Ông có thể cho biết về khả năng của con người có thể dùng dòng ý thức để tác động đến sự vật hiện tượng quanh mình đến đâu? - Tôi là người nghiên cứu về văn hóa và tri thức cổ. Trong dấu ấn của nền văn hóa cổ của thế giới và của Việt Nam, từ dân tộc chưa phát triển đến những dân tộc hùng cường, đều có nghi lễ cầu mưa, cầu nắng, ngăn mưa... Có nhiều truyền thuyết huyền thoại và những nền văn minh lớn đã từng cầu mưa ngăn lũ rồi. Triều Nguyễn có đàn tế Nam Giao; tất cả nghi lễ đó tập trung ý chí của một hoặc nhiều người để thực hiện mong muốn của mình. Hình thức là nghi lễ, cầu xin trời đất, thần thánh, còn nội dung là do tập trung ý thức để làm được điều đó. Có những nghi lễ do chính nhà vua đứng ra làm. Với cái nhìn của nhà nghiên cứu, thông qua hình thức đó, tôi tìm hiểu bản chất của vấn đề. Tôi đã nghiên cứu và từng thực nghiệm, tôi cho đó là phương pháp khoa học chứ không có gì là thần bí. Công việc hàng ngày trên trang web lyhocdongphuong.org.vn mà tôi phụ trách chúng tôi thường dự báo bằng những nghiên cứu mới nhất theo phương pháp của mình. Chính khí tượng thủy văn đã có dự báo là cuối tháng 7, đầu tháng 8 năm nay sẽ có hạn hán và mất mùa trên diện rộng cả nước. Ngày 5/8/2010, tôi đã đưa lên mạng lyhocdongphuong dự báo của mình là nhanh thì 3 ngày, chậm thì 5 ngày trên toàn quốc sẽ mưa và không có mất mùa. Thực tế đã diễn ra như vậy. Tôi đã đúng trong dự báo này. Ông đã “thề” sẽ đuổi mưa. Sự kiện đó chưa diễn ra nên chưa thể khẳng định đúng, sai. Vậy đó có phải là một sự ngạo mạn, một tuyên ngôn nhằm đánh bóng tên tuổi? - Tôi không có ý định chứng minh cho ai song do tôi đã viết những điều đó trên diễn đàn của mình nên vì danh dự tôi khẳng định và chấp nhận thực hiện điều mình đã nói. Tôi không từ chối là mình dùng phương pháp ngăn mưa và cũng nói rõ đây là phương pháp đang thí nghiệm, đã ứng dụng nhưng chưa có ý định công bố. Chuyện tôi nói ở trên mạng mang tính chất nội bộ. Tôi đã từng làm và không phải lần nào cũng thành công. Tôi không thách đố, thề thốt với ai nên thông tin tôi đưa ra mọi người có thể tin hoặc không tin, ủng hộ hoặc cho rằng hoang đường nhưng tôi nghĩ không nên xúc phạm. Tôi không làm để tranh khôn, tranh giỏi với ai. Nhưng vì đã đưa lên mạng nên khi báo chí hỏi, tôi nói tôi quyết tâm làm vấn đề này chứ không có "thề" như họ nói. Vì ý chí của tôi và vì lợi ích của đại lễ dân tộc nên có người đề nghị tôi sẽ làm luôn. Chỉ cần 1 cái ô Ông nghĩ sao về lời thách đố ông đuổi mưa trong diện tích 1m² - ngay chỗ ông đứng trong lúc trời mưa là đã quá siêu phàm, chưa cần ông phải đuổi mưa trên diện tích hàng tỉ m² cho cả Hà Nội trong 7 ngày? - Nếu ai làm thì đó là điều hoang đường nhất trong thí nghiệm khoa học. Trong trường hợp này tôi không cần tốn sức mà chỉ cần 1 cái ô. Hà Thư